Chủ trương

Lại Nguyên Ân

Liên hệ

email: timlaidisan@gmail.com

Phản hồi, bình luận mới

MỘT GHI CHÉP CỦA CHẾ LAN VIÊN 1951: VĂN NGHỆ SĨ CHÀO MỪNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

VĂN NGHỆ CHÀO MỪNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TẠI HỘI NGHỊ CHẤP HÀNH MỞ RỘNG (LẦN THỨ 5) 18 – 20.3.1951

Buổi sáng, thường vụ Hội Văn nghệ đã giới thiệu Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị đã chào mừng. Giới thiệu trân trọng tâm thành. Chào mừng còn chân thực thiết tha, sôi nổi. Ở trong ta, văn nghệ và chính trị không cái nào trước cái nào sau, cái nào trong cái nào ngoài. Thì ở hội trường, hai vấn đề ấy, hai con người ấy đã hòa lẫn với nhau làm một. Giới thiệu và chào mừng là một. Văn nghệ và chính trị là một.

Anh Thế Lữ nói: “…Trước kia thời Pháp thuộc, tôi cho người văn nghệ không cần tham gia cách mạng”. Bác Phan Khôi nói: “Lâu nay tôi nói chuyện với các bạn nhiều lần nhưng chưa nói chính trị bao giờ…”. Đó có phải đâu là lời Thế Lữ, bác Phan Khôi…? Ngày xưa, chúng ta, ít nhiều, ai không nghĩ thế.

Nhưng sáng hôm ấy thì chúng ta đã nói chính trị. Lời nói chân thành là một việc làm. Bác Phan đã nói những lời chân thành nhất:

– Đảng Lao động Việt Nam ra đời. Nó tiếp tục các đảng cách mạng khác, nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương. Thế thì chúng ta phải hoan nghênh… nhưng không phải hoan nghênh vu vơ đâu! Phải biết vì sao chúng ta hoan nghênh? Từ hồi kháng chiến đến giờ ai lãnh đạo kháng chiến? Có phải những người mác-xít không? Mặc dầu chiến tranh, mà ta vẫn thạnh trị, thái bình. Có người nói cái bắp cải năm trăm đồng. Năm trăm đồng nhưng ta cũng đủ tiền mua. Không ai đói! Không ai cực. Mà chúng ta lại thắng giặc. Lãnh đạo như thế, không biết có ai bất đồng ý kiến không? Cho dù bất đồng ý kiến cũng phải hoan nghênh Đảng…

Tôi không được dự cái buổi bác Phan đi chiến dịch năm nào. Nhưng xem tả trong báo, thì đó là một hình ảnh đẹp. Tôi tưởng hình ảnh bác Phan hôm nay ở giữa hội trường, râu dài, tóc trắng, nói lên những lời rung động cả tâm can hội nghị, tôi tưởng hình ảnh ấy có lẽ còn đẹp hơn. Và nó cho tôi thấy lại cả cái quắc thước của bác Phan đi chiến dịch hôm nào nữa. Bác Phan ơi, bác đã già nhưng đường bác còn dài lắm, cây gậy của bác còn phải khỏe mới chống nổi bác đấy chứ chẳng chơi đâu.

Bác Ngô Tất Tố, anh Đào Duy Anh, anh Thế Lữ… Cứ như thế chúng ta lần lượt đua nhau lên phát biểu ý kiến.

Cụ đầu xứ thời nho học, tác giả “Lều chõng” và “Tắt đèn”, đã so sánh cuộc đời viết báo của mình ngày trước và bây giờ để kết luận:

– Đảng đã nêu ra khẩu hiệu dân tộc, khoa học, đại chúng, văn nghệ nhân dân. Những chủ trương ấy đã soi sáng đường đi cho văn hóa và văn nghệ…

Họa sĩ Sỹ Ngọc, đôi mắt cháy sáng dằn từng lời: “Chúng tôi là những người đã nửa kiếp sống trong xã hội Pháp thuộc. Chính sách văn hóa của Đảng Cộng sản Đông Dương đã cởi mở cho tinh thần và nghệ thuật chúng tôi! Đảng Lao động tiếp tục chính sách văn hóa ấy. Tôi xin chào mừng, hoan nghênh sự lãnh đạo của Đảng…”

Anh Đào Duy Anh chậm rãi, hiền hòa:

– Tôi thấy ở Đảng hai điều. Cơ sở tinh thần hay chủ nghĩa Mác-Lênin, và thứ hai là tổ chức. Chủ nghĩa ấy đã giúp rất nhiều cho sự nghiên cứu các khoa học, và riêng tôi, đã nhờ ánh sáng Mác-Lênin mà đã thu được kết quả trong việc tự học về khoa lịch sử. Về tổ chức thì tôi thấy với Đảng Lao động người trí thức có cảm giác là đoàn thể của mình, gần mình, rất có lợi cho sự đoàn kết nhân dân, đẩy kháng chiến đến thành công, đầy đủ, triệt để.

Đại biểu miền núi, anh Nông Ích Đạt, nói những câu chất phác nhưng thấm thía biết bao:

– Dưới Pháp thuộc, toàn dân lẹt đẹt. Miền núi lại càng lẹt đẹt. Bây giờ Đảng Lao động ra đời, tôi cũng hoang mang. Nhưng sau biết nó tiếp tục sự nghiệp của các đảng cách mạng trước, trong đó có Đảng Cộng sản Đông Dương, chúng tôi càng tin tưởng.

Chị Bích Thuận, nhanh, tươi:

– Không còn ai bị áp bức! Phụ nữ là một nửa số dân tộc cũng không còn bị áp bức. Đảng bảo vệ quyền lợi phụ nữ. Phụ nữ hoan hô Đảng là lẽ dĩ nhiên…

Cứ như thế, say sưa, tha thiết. Đảng bảo vệ nhân dân, Tổ quốc. Đảng giúp ích cho văn hóa, văn nghệ hay sự học của mình. Đảng giải phóng cho dân tộc hay giới mình… Đảng đã cứu vớt đời mình ra khỏi ngục tù nô lệ…

Mỗi người thấy Đảng một cách khác. Nhưng sung sướng bao nhiêu khi chúng ta tìm thấy trong Đảng hình ảnh của Cha Già. Họa sĩ Tô Ngọc Vân bằng những lời nhỏ nhẹ, thiết tha, sẽ kể:

– Ngày toàn quốc kháng chiến, tôi nghĩ: Tây mạnh lắm, đánh được nó phải có sức mạnh. Những chiến sĩ mác-xít là sức mạnh đó. Quả thật, mấy năm nay, chúng ta đã thành công. Bây giờ thấy trong chính cương của Đảng Lao động có nói: Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tôi càng tin tưởng…

Anh khẽ thấp giọng, ấm áp hơn, ngọt ngào hơn:

– Nhất là thấy sự có mặt của Hồ Chủ tịch. Tôi càng vững dạ thêm.

Hoan hô anh Vân! Cái chân lý giản dị nhưng to lớn ấy anh đã tìm ra. Phải rồi, ở đâu có Hồ Chủ tịch, ở đó ta phải vững dạ, an tâm. Ở đâu có Hồ Chủ tịch, ở đó ta phải tin tưởng. Phòng họp vỗ tay ran ran… Không là một cuộc phát biểu ý kiến nữa! Mà là một cuộc tự sự. Chúng ta đã nhìn Đảng bằng nhiều cách. Giờ là cách nhìn Đảng bằng trái tim. Đảng ràng buộc với chúng ta bằng những giây liên hệ riêng. Càng lâu chúng ta càng thấy những giây liên hệ ấy buộc vào những cảm tình sâu kín nhất.

Hội trường hẳn không bao giờ quên những lời của kiến trúc sư Luyện: “Tôi không sáng tác được gì, tôi rất khổ tâm cho đến gần đây được biết rằng văn nghệ cũng là những người lao động trí óc, chúng tôi được yên tâm hơn ở giữa những nặng nề của kháng chiến… Tôi là lao động trí óc, tôi thấy tôi có bổn phận, có quyền lợi đối với Đảng Lao động Việt Nam. Tôi sung sướng hoan nghênh Đảng”.

Và Nguyên Hồng. Những chữ nói dồn dập xô bồ vào nhau. Nguyên Hồng đã làm xúc cảm mọi người. Mọi người cùng với anh như đụng phải máu thịt của chính cuộc sống, của nhân dân đương quyết liệt kháng chiến dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam.

Buổi họp là một buổi tự sự lớn lao. Hơn thế nữa, đó là một cuộc tự kiểm thảo sôi nổi. Trong khi nhìn Đảng, chúng ta nhìn thấy chúng ta.

Bác Phan Khôi nhắc đến thời…

–… Tôi cũng dự vào cách mạng. Thế rồi có vợ có con! Tôi xin với anh em cho tôi thôi… Vì sao? Vì tôi sợ chết chém, ở tù… Tôi sợ gian khổ.

Anh Thế Lữ nói: “…Tôi đã bỏ bao nhiêu năm để tìm tòi hoạt động cho một nền kịch không phục vụ cho ai. Tôi đã quan niệm sai lầm về nghệ thuật”.

Chị Phan Thị Nga nói: “Tôi cũng có tham gia cách mạng hồi còn con gái mười sáu, mười bảy tuổi. Rồi có gia đình… Rồi những ý nghĩ lo lắng về gia đình làm mình xa đoàn thể…”

Tôi tưởng như đây là một buổi kết nạp hay tự phê bình của các đoàn thể nhân dân trong đó các đoàn viên đưa lên xốc xổ cuộc đời mình và tư tưởng mình. Ở đây cũng là một sự xốc xổ thanh toán như vậy.

Chúng ta không những có cảm tình, chúng ta còn phải có trách nhiệm. Chúng ta không những nói lên những cảm tình đó, chúng ta còn phải đi đến những hành động gì ngày mai đây… Đảng là quần chúng, Đảng là nhân dân. Đảng là sự mất còn của đất nước, của chúng ta. Không một ai có thể dửng dưng trước nó…Cuộc xốc xổ này chỉ là để thanh toán những cái cũ, trước khi đi đến những hành động mới, đánh dấu một giai đoạn mới của mình…

Bác Phan nói: “…Trước kia tôi không nói mác-xít. Vì theo mác-xít, nói thì phải làm. Tôi không làm được, không dám chịu chết chém, ở tù, thì tôi không nói… Nhưng bây giờ thì tôi sẽ nói mác-xít đây”.

Chị Phan Thị Nga: Tôi mong muốn có ngày được đứng trong hàng ngũ.

Anh Thế Lữ nói: Tôi sẽ cố gắng học tập.

Anh Tô Ngọc Vân nói: Trong hoàn cảnh kháng chiến, chúng ta không nên khó tính, đòi hỏi nhiều. Dù một việc nhỏ giao cho chúng ta, chúng ta cũng hết sức làm! Đó là cách chúng ta tin tưởng Đảng, hợp tác với Đảng.

Chúng ta đã nói hết lòng tin tưởng của chúng ta, nói hết sự thống nhất ý chí của chúng ta.

Tôi nhìn ra anh em. Cảm giác như mực nước đã cao thêm. Chúng ta đã trưởng thành! Cảm giác như rừng đã dày. Chúng ta là một! Tôi cảm thấy có đông người vây bọc lấy chúng ta… Đảng là ngọn lửa… Chúng ta cầm tay nhau làm một vòng quanh Đảng… Nhân dân quần chúng là một vòng ngoài ôm ấp lấy chúng ta. Đó là cái hình ảnh đến với tôi khi tôi đứng dậy ra khỏi phòng họp…

CHẾ LAN VIÊN

Nguồn:

Văn nghệ  [Việt Bắc], s. 29 (15.8.1951)

[Rút từ Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, tập 4: 1951, tập 5: 1952, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 2003, tr. 17-20]

PHAN KHÔI VIẾT VỀ NGUYỄN DU VÀ “TRUYỆN KIỀU” (1955): PHÊ BÌNH “TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI” CỦA LÊ VĂN HÒE

PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI

CỦA LÊ VĂN HÒE

 

 

Ông Lê Văn Hòe có xuất bản cuốn Truyện Kiều chú giải ở Hà Nội từ năm 1953, sách khổ lớn, dày 772 trang, là một cuốn sách viết rất có công phu, kỹ càng và đầy đủ, so với loại sách ấy đã ra từ trước đến giờ. Muốn viết bài phê bình nó, tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới dám hạ bút, tức là bài này. Với sự thận trọng ấy, tưởng cũng đủ tỏ một độc giả là tôi, biết quý chuộng và không phụ công lao của tác giả.

Nhan sách là Truyện Kiều chú giải, nhưng mở đầu ra, người chú giải có đánh giá Truyện Kiều. Phần đánh giá chỉ có 2 trang mà thôi, nhưng tôi, tôi lại coi phần ấy là trọng yếu còn hơn 770 trang chú giải kia. Tôi chưa có thì giờ để thảo luận tỉ mỉ về phần chú giải vì nó khí bề bộn quá, cho nên trong bài phê bình này tôi chỉ mới nói trước về phần đánh giá.

***

Dưới cái phó đề Truyện Kiều ở đầu sách, ông Hòe nói Truyện Kiều lấy sự tích ở Phong tình lục, một tiểu thuyết Trung Hoa “chẳng có giá trị gì mấy”, mà nhờ “ngọn bút tài tình của cụ Nguyễn Du đã biến hóa … thành một áng văn chương kiệt tác”.

Ông Hòe nói phải. Tôi hồi trước từng đọc Phong tình lục sách in, và mới đây, năm 1948 lại được đọc bản sách ấy chép tay của một nhà ở Yên Bái, thì thấy quả thật không có giá trị. Có lẽ vì nó không có giá trị cho nên mấy trăm năm nay nó đã tuyệt bản ở Trung Quốc. Đọc cả hai sách đem đối chiếu nhau, thì thấy Truyện Kiều cắt xén xê dịch nguyên văn Phong tình lục rất nhiều. Có những tình tiết ở nguyên văn không có thì thêm vào, hay là ở nguyên văn có rất rườm rà mà bớt đi. Do đó, chúng ta có thể nói Truyện Kiều không phải một tiểu thuyết dịch, cũng không phải phóng tác, mà là hoàn toàn sáng tác. (1)

Tiếp theo đó, ông Hòe tổng luận tánh chất và giá trị Truyện Kiều bằng ba đoạn văn rất gọn nhưng rất dứt khoát mà tôi phải sao lục đúng từng chữ ra đây để làm căn cứ cho sự thảo luận của tôi. Ông viết:

“Tác giả (chỉ Nguyễn Du) hình như muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác.

Nhưng giá trị Truyện Kiều không ở tư tưởng đạo đức, luân lý hay triết học, cũng không ở cốt truyện hay bố cục, kết cấu, chi tiết. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả.

Người ta tán thưởng Truyện Kiều, người ta học tập Truyện Kiều, là tán thưởng và học tập văn chương Truyện Kiều. Chính phần văn chương đó đã làmTruyện Kiều bất hủ”.

Theo đó, có thể đặt ra ba câu hỏi: 1/ Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? 2/ Có phải cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là chỉ ở văn chương không? 3/ Có phải người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập ở văn chương Truyện Kiều mà thôi không? Ba câu hỏi ấy, tôi muốn đảo ngược thứ tự lên, từ thứ ba đến thứ nhất mà giải đáp, tự nhiên thấy sự đánh giá của người chú giải là có đúng được phần nào hay hoàn toàn không đúng.

***

Từ có Truyện Kiều gần một trăm rưởi năm nay, một số rất đông người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác đều ham đọc nó, đến nỗi có nhiều câu trong đó đã thành ra ca dao và nhất là người ta đã dùng nó làm sách bói. Một số rất đông ấy gồm người gọi là thượng lưu cả đến người đàn bà nông thôn, người biết chữ cả đến người không biết chữ. Nói rằng tán thưởng học tập về văn chương, đối với người thượng lưu biết chữ còn có lẽ, chứ đối với người đàn bà nông thôn thì – văn chương, theo ông Hòe là kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm – họ có biết đâu mà tán thưởng và họ có cần học tập làm gì? Thế mà tôi thấy chẳng những có người biết chữ đọc trầm từng đoạn Truyện Kiều, mà đàn bà nông thôn cũng có người đọc trầm được từng đoạn Truyện Kiều. Vậy thì chúng ta phải tìm cho thấy trong Truyện Kiều có cái gì đó đã nói được cái điều trong lòng mọi người muốn nói, có cái gì đó đã thông cảm với mọi người, nên họ mới ưa thích đến như vậy, chứ còn văn chương chỉ là một phần phụ, một phần nhỏ mà thôi.

Tôi tin quyết như thế. Một tác phẩm được truyền tụng là nhờ nội dung của nó có chỗ thông cảm với mọi người, nếu không, chỉ có văn chương suông mà thôi, không được truyền tụng.

Lấy ca dao làm ví dụ. Có những câu ca dao truyền khẩu từ đời xưa mà bây giờ người ta vẫn nhắc đến, lại có những câu ca dao của văn sĩ làm ra in vào sách mà cho đến nay vẫn không ai nhắc đến, nó không thể thành ra được là ca dao. Ngồi trong một đám đông, ta thử hỏi xem có ai biết câu này không, thì chắc có người biết:

Râu tôm nấu với ruột bầu

          Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon (2)

Nhưng, thử hỏi có ai biết câu này không, thì tôi dám quyết mười mươi rằng không có ai biết cả:

Cảnh trời ai bán ta mua

          Mua non non Thúy, mua chùa chùa Hương

          Mua hoa mới nở giữa vườn

          Mua trăng mới mọc trên sườn núi cao

Câu sau đó của Đoàn Như Khuê in trong tập Bể thảm của ông trước đây chừng hơn ba mươi năm. Văn chương của Đoàn Như Khuê cố nhiên là “kém” văn chương Nguyễn Du, nhưng cứ kể một câu ca dao này thì cái hay về văn chương của nó không kém câu nào trong Truyện Kiều hết, nhưng nó không được truyền tụng là vì nó không thông cảm với ai được hết. Với người giàu thì họ để tiền mua ruộng, với người nghèo thì họ đang ăn canh tôm nấu với ruột bầu, cả hai đều không thiết đến chuyện mua non Thúy, mà chùa Hương, mua hoa, mua trăng. Trái lại, câu trên có thể thông cảm với một số rất đông người Việt Nam là người nghèo, và thông cảm đến những người giàu mà biết nghĩ đến người nghèo nữa.

Theo kinh nghiệm và chứng cứ đưa ra đó, tôi dám quả quyết nói cái kết luận của ông Hòe bảo rằng người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập về mặt văn chương của nó là không đúng. Do đó, cũng lại quả quyết rằng Truyện Kiều sở dĩ bất hủ không phải chỉ cậy ở phần văn chương.

Đã thế thì câu hỏi thứ hai cũng phải bị phủ nhận. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều không phải ở văn chương. Một tác phẩm, không cứ tác phẩm gì, đều có hai phần: nội dung và hình thức. Nội dung là tư tưởng của tác phẩm, nó phải hợp với chân lý, có ích cho đời sống của mọi người, thì tác phẩm mới có giá trị. Còn hình thức, gồm thể tài, kỹ thuật của tác giả, tức ông Hòe gọi là văn chương, nó có giá trị chỉ khi nào nó đi đôi với cái nội dung lành mạnh làm cho tác phẩm đã có giá trị rồi. Nay tư tưởng của Truyện Kiều, theo ông Hòe thấy là tư tưởng triết học tôn giáo, đã bị ông chê là tầm thường, chưa đúng xác, thì chỉ một mình văn chương làm sao cho có được giá trị tuyệt đối? Chúng ta khi đọc một bài báo, một cuốn sách, dám bĩu môi chê rằng thứ đồ văn chương rỗng toách, thế là bởi nó không có nội dung, không có tư tưởng, thì cũng không có giá trị.

Câu hỏi thứ nhất phải đặt lại một cách ngay thật hơn: Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? Và tư tưởng ấy có phải cũng tầm thường và chưa đúng xác không? Nếu thế thì tôi xin nhận phần nửa dưới, chịu ông Hòe phán đoán là đúng, nhưng vẫn phủ nhận phần nửa trên.

Tôi rất đồng ý với lời phán đoán ấy của nhà chú giải. Trong Truyện Kiều, những cái triết lý “tài mạng ghét nhau”, “muôn sự tại trời”, rồi lại “quả kiếp nhân duyên”, “tu là cội phúc”, rồi lại “chữ tâm bằng ba chữ tài”, nhồi chung Nho, Phật với Đạo, thật là “lúng túng chẳng xong bề nào”. Cuối phần chú giải, ông Hòe có chỉ ra nhiều cái mâu thuẫn trong lý luận của Nguyễn Du, cho rằng lý luận ấy không đi đến đâu hết, không giải quyết được gì hết, thật là xác đáng.

Nhưng có phải Nguyễn Du định bụng chứng minh và truyền bá cái triết lý lúng túng vô giá trị ấy không? Điều này chúng ta nên xét lại.

Tôi thấy không phải thế. Cái mà Nguyễn Du muốn tuyên truyền là cái gì kia, nội dung tư tưởng của Truyện Kiều là ở chỗ nào kia, chứ không phải ở triết học tôn giáo muốn chứng minh và truyền bá như ông Hòe nói. Ông Hòe nói mà còn dè dặt bằng hai chữ  “hình như”, nghĩa là ông còn chưa dám chắc, thì hình như ông cũng đã rắp muốn hiểu như tôi hiểu.

Muốn biết Nguyễn Du tại sao vấp phải cái lúng túng ấy mà không gỡ mình ra được, thì phải biết Nguyễn Du là một nhà nho chánh tông, mà nhà nho thì thường mang trong mình một cái mâu thuẫn lớn, hễ gặp hồi khó xử thì đâm ra lúng túng. Cái mâu thuẫn ấy mang từ đời Khổng Tử thẳng đến hết thảy các nhà nho, đến Nguyễn Du, cho nên chúng ta cũng không thể trách Nguyễn Du. Về điểm này, tôi sẽ nói rõ ở một đoạn dưới.

Một tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều, được cả nước yêu chuộng từ xưa đến nay, tất nhiên là có cái nội dung cao quý của nó, ta phải tìm để hiểu. Còn cái điều ta thấy là tầm thường, chưa đúng xác, chưa phải là nội dung đâu, đó là những cái nhược điểm bởi tác giả bị thời đại hạn chế mà phải có, nên được khoan thứ. Ở Trung Quốc hiện nay, Thủy hử, Hồng lâu mộng được đề cao lắm, mà hai cái tiểu thuyết ấy đều có những chỗ lệch lạc chẳng khác gì Truyện Kiều.

***

Trước khi trình bày cái nội dung, cái tư tưởng tiến bộ dễ thông cảm của Truyện Kiều, tôi cần phải chỉ ra cái động cơ Nguyễn Du viết Truyện Kiều, để thấy rằng không phải vì muốn chứng minh và truyền bá một triết học tôn giáo nào, và cũng để thấy rằng cái nhược điểm trong Truyện Kiều là do bản chất của tác giả nó mà phải có.

Nguyễn Du thi đỗ làm quan từ hồi còn nhà Lê, và cha anh đều làm quan to thời Lê mạt, triều vua Cảnh Hưng. Nhà Lê từ trung hung đến triều Cảnh Hưng, bị họ Trịnh cướp cả chính quyền; cả gia đình Nguyễn Du tự nhận mình là làm tôi nhà Lê, chứ kỳ thực là làm tôi nhà Trịnh. Bản lãnh của nhà nho là trung và hiếu, đã nêu lên cái nguyên  tắc “trung thần bất sự nhị quân”, mà như thế, là đã phản nguyên tắc rồi, tự mình đã mâu thuẫn với mình rồi. Chúng ta muốn hiểu Nguyễn Du, muốn hiểu Truyện Kiều, trước hết phải nắm lấy chỗ đó, đó là cái thai đẻ ra mọi nhược điểm.

Nguyễn Huệ diệt Lê Trịnh, Nguyễn Du từng toan chống lại, nhưng bị thất bại. Lui về quê, tự xưng là “Hồng Sơn lạp hộ”, Nguyễn Du tỏ ý không chịu thần phục Tây Sơn. Tây Sơn thống trị nước Nam chỉ độ mươi năm, giá còn thống trị mãi thì Nguyễn Du có sẽ ra làm tôi Tây Sơn không, tôi không dám biết. Cái nghĩa lớn “tùy thời” và cái chí lớn “đắc quân hành đạo” của nhà nho ghê gớm lắm, không ai có thể đoán trước được.

Nguyễn Phúc Ánh, thế tổ Cao Hoàng đế triều Nguyễn diệt Tây Sơn, thống trị nước Nam, Nguyễn Du cực chẳng đã phải ra làm quan. Ấy, đừng ai tưởng tôi trách Nguyễn Du về chỗ đó, lúc bấy giờ những người gân guốc như Phạm Quý Thích, Võ Trinh, Phạm Đình Hổ đều phải ra làm quan, họ cũng đều vì cực chẳng đã cả.

Nguyễn Du thấy mình vốn là tôi nhà Lê mà bây giờ lại làm tôi nhà Nguyễn, như thế, khác nào một con đĩ “sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Ấy đó là động cơ viết Truyện Kiều. Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều vì cực chẳng đã mà phải làm đĩ, thì Nguyễn Du cũng vì cực chẳng đã mà phải làm đĩ, nghĩa là làm tôi nhà Nguyễn.

Ở “Truyện Nguyễn Du” trong sách Chánh biên liệt truyện, nói Nguyễn Du khi làm tham tri bộ Lễ ở triều Gia Long, mỗi lần triều hội, ít nói năng gì, không kiến minh điều gì, có vẻ “lừng khừng”, làm nhà vua phải giáng chỉ dụ “đả thông” đến mấy lần. Cái thái độ ấy y hệt như cái thái độ của cô Kiều: “Đuốc hoa để đỏ mặc nàng nằm trơ”; “Nỗi mình còn biết cái xuân là gì”.

Ngô Đức Kế, ông cụ này từng vì công kích Phạm Quỳnh mà công kích Truyện Kiều, chứ thực ra, ông cụ cũng là một người tán thưởng học tập Truyện Kiều như chúng ta. Ông cụ từng thuật lại một vài điều các bô lão ở Nghệ Tĩnh ngày xưa nói về Truyện Kiều cho tôi nghe: Cái câu “Giờ ra thay mặt đổi ngôi, dám xin gửi lại một lời cho minh” là Nguyễn Du muốn nói về Gia Long: Gia Long khi còn ở Gia Định truyền hịch ra Bắc Hà nói “phù Lê” mà về sau lại tự xưng hoàng đế. Còn câu “Phòng khi nước đã đến chân, dao này thì liệu với thân sau này”, chữ “sau” nguyên văn của Nguyễn Du là chữ “phận”. Lúc bấy giờ, Nguyễn Du vẫn còn sống, một ông bạn của Nguyễn Du, cũng tự nhận mình là di thần nhà Lê, chữa lại thành “sau”, có ý buộc Nguyễn Du cuối cùng phải tử tiết vì nhà Lê. Câu chuyện này chẳng biết có thật không, nếu thật thì cái ông bạn ấy cũng lại lôi thôi lắm nữa: sao tự mình không tử tiết mà lại buộc người khác phải tử tiết? Hỏi như thế để tỏ ra rằng hết thảy nhà nho một thời ấy, từ ông bạn ấy đến Phạm Quý Thích, Võ Trinh, Phạm Đình Hổ đều mang cái mâu thuẫn trong mình, đều lúng túng, chứ không phải một mình Nguyễn Du.

Bấy nhiêu đó đủ chứng tỏ rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều là muốn bộc bạch tâm sự của mình, làm đĩ là vì cực chẳng đã; nhưng có cái chứng cứ này do Nguyễn Du thân cung ra, còn chắc hơn nữa: Trong một bài thơ, Nguyễn Du có câu kết rằng: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như!”  Tố Như là tên tự Nguyễn Du. Ý câu ấy muốn nói: sau Thúy Kiều chết hơn ba trăm năm, có Tố Như bộc bạch cái tâm sự cực chẳng đã và khóc cho Thúy Kiều, chẳng biết sau hơn ba trăm năm nữa có ai biết tâm sự của Tố Như mà bộc bạch và khóc cho chăng? (3)  Nguyễn Du chưa hề nói cho ai biết động cơ mình viết Truyện Kiều là vì đâu, nhưng làm một cuộc khảo chứng như trên đây, chúng ta biết rõ và chắc rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều cốt muốn bộc bạch tâm sự, cái tâm sự cực chẳng đã phải làm tôi nhà Nguyễn. Nguyễn Du hẹn đến hơn ba trăm năm, không ngờ mới chưa đầy một trăm rưởi năm chúng ta đã biết mà còn biết hơn Nguyễn Du tự biết mình nữa, có biết như thế thì mới hiểu được tất cả Truyện Kiều.

Cái động cơ ấy chỉ có ngấm ngầm trong ý thức Nguyễn Du khi chưa viết Truyện Kiều, khi đã viết rồi thì Truyện Kiều lại phải làm nhiệm vụ của nó, hoàn thành sứ mạng của nó, động cơ của tác giả chỉ còn lộ ra trong đó một chút. Mỗi người chúng ta đọc Truyện Kiều thì cứ đọc, hiểu thế nào thì cứ hiểu, cũng không ai hề hỏi đến động cơ làm gì.

Nói thế, mới nghe, như là vô lý, nhưng sự thực là thế.

Một tác giả toan viết ra một tác phẩm, khi có chủ đề, có nhân vật, xây dựng đâu ra đó rồi thì viết, chứ không cần bởi có một động cơ nào. Nhưng ở trường hợp đặc biệt, có một động cơ như Nguyễn Du, thì khi viết, cũng lại phải xây dựng tác phẩm của mình bằng chủ đề và nhân vật, chứ không thể làm khác được. Chủ đề đã định rồi, còn có nhân vật, giữa nhân vật còn có sự kiện. Đối với nhân vật và sự kiện, thế nào tác giả cũng phải bằng ở quan niệm và nhận thức của mình hồi bình nhật mà biểu lộ ra ai là xấu, ai là tốt, ai là thiện, ai là ác, cái gì là hay, cái gì là dở, cái gì nên ủng hộ, cái gì nên phản đối. Chính chỗ đó là nội dung tư tưởng của tác phẩm, không có nó tức thì tác phẩm không có linh hồn.

Vai chính trong Truyện Kiều là Thúy Kiều, nhân vật mà Nguyễn Du đưa ra định làm cái bóng của mình. Nhưng một mình Thúy Kiều thì không thành chuyện được, chung quanh Thúy Kiều phải có người này người khác, do đó sinh ra việc này việc khác, câu chuyện thành ra câu chuyện xã hội. Đã là câu chuyện xã hội thì tác giả phải rút lui cái ý của động cơ ra đằng sau tác phẩm, nhường cho tác phẩm tiến hành nhiệm vụ và sứ mạng của nó, tức là quan niệm và nhận thức về xã hội của tác giả.

Tào Tuyết Cần, tác giả Hồng lâu mộng, là con cháu của một nhà thế gia sa sút, mà Hồng lâu mộng cũng kể chuyện một nhà thế gia sa sút, vì vậy có nhiều người nhận rằng Hồng lâu mộng là “tự truyện” của tác giả, nhắc lại chuyện mình và chuyện nhà mình. Nhận như thế, dầu đúng nữa cũng chỉ là cái động cơ của tác giả mà thôi; hiện nay chúng ta đọc Hồng lâu mộng chỉ thấy là một tiểu thuyết hiện thực xã hội, phản đối mọi lề thói của chế độ phong kiến. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng vậy.

***

Đến đây xin bắt đầu trình bày nôi dung tư tưởng chân chính của Truyện Kiều.

Truyện Kiều mở đầu ra, đã phải đả động đến vấn đề luyến ái, vấn đề hôn nhân, vấn đề phụ nữ, là những vấn đề xã hội làm người ta ngột thở dưới chế độ phong kiến hàng ngàn năm ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Xã hội Việt Nam đến thời đại Nguyễn Du, thời đại Lê Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, phong kiến đổ nát, mất lực lượng tập trung, bọn chúa phong kiến phải tăng cường guồng máy thống trị, gia khẩn sự áp bách. Theo lịch sử, dưới chính quyền lúc bấy giờ ở miền Nam và miền Bắc đều có vô số người được phong tước quận công, khiến dân chúng oán ghét đến khinh miệt bằng những câu thô tục, như là “Nhất quận công, nhì ỉa đồng”, “Ỉa đồng một bãi bằng vạn đại quạn công”, thì đủ biết họ bị áp bách mà thống khổ đến chừng nào.

Phụ nữ là hạng người ở từng lớp bét trong xã hội phong kiến, họ bị áp bách nặng nề hơn và chịu thống khổ nhiều hơn. Thuở đó ở miền Bắc thì ông Nghè bắt hiếp con gái đồng trinh:

Em là con gái đồng trinh

          Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè

          Ông Nghè sai lính ra ve

          Trăm lạy ông Nghè, tôi đã có con

          Có con thì mặc có con

          Thắt lưng cho giòn, theo võng cho mau

                                                          (ca dao)

Ở miền Nam thì quan Chánh (chánh cai bộ) cưỡng đoạt đàn bà có chồng có con:

Mẹ ơi quan Chánh đòi hầu

          Mua chanh mà gội cái đầu cho trơn

                                                          (ca dao)

Họ còn bị áp bách trong gia đình cũng khắc nghiệt nữa. Cha mẹ gả con lấy chồng tức là bán con, như đời xưa bán nô lệ, cho nên nói “gả bán”. Theo một cái nguyên tắc từ đời nào để lại không biết: “phụ mẫu sở sinh sở định”, đặt đâu ngồi đó, người con gái không được tự chủ việc trăm năm của mình. Bởi vậy mới có tiếng than:

Mẹ em tham thúng xôi rền

          Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

          Em đã bảo mẹ rằng đừng

          Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào

Bây giờ chồng thấp vợ cao

          Như đôi đũa lệch so sao cho bằng!

                                                (ca dao)

Khoan nói chưa hề yêu nhau, đến nỗi chưa hề thấy mặt nhau cũng bắt phải lấy nhau:

Lấy chồng chẳng biết mặt chồng

          Đêm nằm mơ tưởng nghĩ ông láng giềng.

                                                (ca dao)

Pháp luật cho đàn ông chết vợ, sau một năm được lấy vợ khác, mà đàn bà thì sau ba năm mới được lấy chồng. Họ phải kêu:

Gió đưa cành trúc ngã quỳ

          Ba năm trực tiết còn gì là xuân

                                                (ca dao)

Lại còn nêu lên “chữ trinh” bắt phụ nữ phải giữ trinh nữa. Đây là một giáo điều:

Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng

                                                                   (tục ngữ)

Ở dưới chế độ, lễ giáo, pháp luật vô lý và bất công như vậy, hết thảy phụ nữ phải cúi đầu mà chịu. Nếu có người không chịu, tháo cái ách tròng trên cổ, tự do yêu, là chết đấy. Cái đối tượng yêu là ai? Là người con trai. Thế thì sự yêu nhau đó nếu vỡ lở ra, hai bên cùng chịu trách nhiệm mới phải. Nhưng không, dư luận cứ đổ tội trên đầu người con gái: Tại chị bẩy nhà ta, không phải tại chi anh ba nhà người (tục ngữ), thậm chí nói: Con chó cái có ngoe nguẩy thì con chó đực mới vẫy đuôi          (tục ngữ).

Trong Hồng lâu mộng, Bảo Ngọc, con trai của bà Vương phu nhân, một hôm, nắm tay Kim Xuyến, con nhài của bà mà nói chuyện. Sau đó bà mắng Kim Xuyến là đồ đĩ thõa, làm hư con trai bà. Kim Xuyến không chịu nhục được, nhảy giếng mà chết. Tôi lại từng thấy ở làng quê tôi, một cô con gái “theo trai”, bị bố mẹ buộc phải chết, cô uống thuốc độc mà chết.

Đối với những vấn đề trên đó, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa hề giải quyết, nhưng đã tỏ thái độ của mình ra trong khi đối đãi với vấn đề. Cứ theo cái thái độ ấy mà suy luận ra, có thể nói Nguyễn Du đòi giải phóng phụ nữ, cho kết hôn tự do, luyến ái tự do. Về điểm này, chúng ta thấy Nguyễn Du đã bạo gan vượt ra ngoài lễ giáo của thánh hiền.

Thúy Kiều mới có mười lăm tuổi, cái tuổi mà các bà cụ ta ngày xưa thường nói, “Chúng tao hồi bằng ấy đang còn ở truồng”, thế mà ra đường thấy trai đã mắt măng mắt vược “nghé theo”, về nhà nằm đêm còn mơ tưởng “Người đâu gặp gỡ làm chi”. Nguyễn Du đã thản nhiên thuật lại những điều ấy, chẳng những không thấy ngượng ngập mà còn như lấy làm hể hả. Rồi hơn trăm năm nay những người đọc truyện hình như cũng đều hể hả theo. Nếu có người chê là “mất nết” (4) thì lại có những ông khoa bảng, quyền uy trong giới ngôn luận, như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh bênh vực cho. Cả đến ông Lê Văn Hòe, trong Truyện Kiều chú giải, ông mắng Kim Trọng là thằng con trai “hư sớm” (tr. 40) nhưng ông cũng không mắng Thúy Kiều là đứa con gái hư sớm. Thì ra “thiên lý tại nhân tâm”, Nguyễn Du muốn giải phóng phụ nữ, cho luyến ái tự do, là điều hợp với lẽ trời, cho nên cảm được lòng người.

Đến lúc hai trẻ giáp mặt nhau lần thứ nhất dưới cây đào, mới nói qua nói lại mấy câu với nhau, đã trao của tin cho nhau, ước hẹn lấy nhau. Ông tham tri bộ Lễ nức nở khen: “Cho hay là giống hữu tình”, bất chấp cả “phụ mẫu chi mạng, mai ước chi ngôn”, vứt mẹ nó cả lễ. (5)  

Nguyễn Du cho Thúy Kiều nói những câu ngộ nghĩnh đến buồn cười, mà cả nữ giới tiến bộ tự do ngày nay cũng không ai dám nói. Ở lần thứ nhất gặp nhau ấy, sau khi Kim Trọng tán mãi, Kiều đáp lại:

Rằng: trong buổi mới lạ lùng,

          Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang. 

Câu  nói thật chẳng lô-gic chút nào cả. Buổi mới lạ lùng thì việc quái gì mà phải nể lòng? Việc quái gì mà cầm lòng không đang? Nói thế, khác nào một người bán rau nói với một bạn hàng mới: Thôi lần thứ nhất tôi bán cho chị một mớ làm quen? Nhưng tình yêu có phải là thứ bán như bán rau? Thì hình như tác giả cố ý định làm dễ dãi, thúc giục cho cuộc luyến ái của hai người được thành công sớm ngày nào càng hay ngày ấy.

Cái hôm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng tự tình với nhau từ sáng sớm cho đến chiều tối, lúc đứng dậy ra về, có câu: “Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai”. Vả, ngồi từ sáng đến chiều, chẳng đã là dai rồi sao, mà đến lúc ra về mới thấy là chằng tiện? Ai thế nào không biết, chứ tôi, tôi phải cảm đội tấm lòng từ bi của tác giả bởi tác giả còn muốn chúng tôi ngồi dai hơn. Tấm lòng từ bi đó, tôi muốn nói tấm lòng từ bi của Phật. Phật thương xót con trai con gái chúng ta, nên đã dạy rằng đời người có ba cái khổ mà hai cái là: yêu nhau mà không được ở với nhau (ái tương ly khổ), và, ghét nhau mà phải ở với nhau (tăng tương hội khổ). Khi tôi chịu cái giáo dục ấy rồi, tôi muốn vứt Kinh Lễ của Nho giáo xuống ruộng khoai, vì trong đó dạy: “Người con yêu vợ mà cha mẹ không yêu nàng dâu thì người con phải rẫy vợ”. Ôi! Nó bất cận nhân tình là dường nào! Nó độc ác là dường nào! Không trách Nguyễn Du là nhà nho mà trong Truyện Kiều lại hay nói triết lý nhà Phật.

Nguyễn Du không chịu nhìn nhận cái quyền nam nữ kết hôn là quyền riêng của bố mẹ. Khi Thúy Kiều bị bán mình sắp đi khỏi nhà, dặn lại Thúy Vân phải lấy Kim Trọng thay cho mình, thì ông bà Viên ngoại nghe theo răm rắp như một việc cố nhiên và đương nhiên. Đó là tư tưởng lãng mạn cách mạng của tác giả, chứ xã hội đời Minh hay xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du cũng không có thể nào như thế được.

Nguyễn Du lại cố ý đặt Kim Trọng, tình nhân của Thúy Kiều trên lòng nàng ngang với cha mẹ nàng, có khi còn trỗi hơn. Trong mười năm lưu lạc, có sáu lần Thúy Kiều nhớ cha mẹ thì cũng nhớ Kim Trọng, mà đặc biệt có hai lần nói đến Kim Trọng trước rồi mới nói đến cha mẹ sau. Tức là lần đi đường từ Bắc Kinh xuống Lâm Tri:

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

          Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

          Rừng thu từng biếc chen hồng

          Nghe chim như giục tấm lòng thần hôn

Một lần nữa ở lầu Ngưng Bích:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

          Tin sương luống những rày trông mai chờ

          Bên trời góc biển bơ vơ

          Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

          Xót người tựa cửa hôm mai

          Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

          Sân Lai cách mấy nắng mưa

          Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Phụ nữ Việt Nam đã bày tỏ cái ẩn tình của mình ra trong câu ca dao:

Mẹ cha bú mớm nâng niu

          Tội trời thì chịu, không yêu bằng chồng

Kim Trọng thực ra không những tình nhân mà là chồng chưa cưới của Thúy Kiều. Nguyễn Du cho nàng nhớ Kim Trọng hơn nhớ cha mẹ là hợp với ẩn tình phụ nữ lắm.

Dưới chế độ phong kiến, luân lý Nho giáo, hết thảy nam nữ thanh niên, không luận con cái ông gì bà gì, đều bị áp bách về luyến ái hôn nhân. Truyện Kiều hé ra cho họ một tia sáng như trên đây, cho nên, chỉ trừ ra người nào không biết cái yêu là gì thì không kể, còn thì hết thảy đều mở lòng ra mà đón lấy ánh mặt trời chói lói ấm áp của tác giả. Nguyễn Du đã thành công trong tác phẩm của mình, đã đạt được mục đích của mình là bởi đó.

***

Chung quanh Truyện Kiều là chuyện xã hội. Đối với cái xã hội ấy, xã hội Gia Tĩnh triều Minh hay xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du cũng thế, Nguyễn Du đã tỏ ra rất chán ghét nó, đã tố cáo bao nhiêu tội ác của nó.

Cứ xem nhân vật trong Truyện Kiều thì đủ biết. Kể cả nhân vật không lấy gì làm nhiều lắm, nhưng hầu hết đều là người xấu; lấy những người ấy tổ chức xã hội thì làm sao cho xã hội tốt được?

Cái cốt cán của xã hội phong kiến là nhà nho, vì có người của Nho giáo thì mới duy trì được chế độ phong kiến. Mà hễ chế độ phong kiến thối nát thì ắt nhà nho thối nát trước, trước hơn từng lớp khác. Đó là sự thực lịch sử. Hẵng kể chuyện lịch sử phong kiến thoi thóp triều Nguyễn gần đây cho dễ thấy. Dưới hai triều Thành Thái và Duy Tân, những ông quan lớn ở triều ở tỉnh, đồng tình với thực dân Pháp ký giấy phế vua; đào mả vua, bắt bớ giết hại người cách mạng, toàn là nhà nho cả, chẳng ai vào đó. Đó còn chưa kể người thi đem tiền đút cho quan trường, quan trường ăn tiền lấy đậu, bị kiện, đưa ra xử trước mặt người Pháp mà không thấy xấu hổ, thật không còn một chút nào là lễ nghĩa liêm sỉ, chứ đừng nói đến trung hiếu.

Nhà nho trong Truyện Kiều cũng thế. Mã Giám sinh, theo cái danh ấy là sinh viên trường Quốc tử giám, ngang với đại học sinh ở trường đại học quốc lập thời sau này. Thế mà vì kiếm ăn đã chung lưng với một mụ dầu, cái cử chỉ từ đầu đến cuối toàn là vô liêm sỉ. Sở Khanh từng ứng khẩu họa thơ dưới lầu Ngưng Bích, phải nhận hắn là một tay học khá mặc dù hành vi của hắn là lưu manh. Thúc Sinh cũng lại là tay học khá, hay thơ, thì vác tiền của cha đi nằm nhà thổ, lại còn dám gây ra vụ cha con kiện nhau. Đến Kim Trọng, một văn nhân có tài danh, đã bị mắng là “hư sớm” rồi; Vương Quan cũng chẳng “nên” chi, lạ cho một thằng bé mới 12-13 tuổi mà sao đọc trầm được chuyện Đạm Tiên như người khác đọc trầm được sách Mạnh Tử.

Đó là những nhà nho thất thời hay chưa đắc thời; khi họ đắc thời ra làm quan thì là hai ông quan: một ông xử vụ bán tơ, một ông xử vụ cha con Thúc Sinh; khi họ làm to lên nữa thì là cụ lớn Hồ Tôn Hiến. Ông thứ nhất ăn tiền ra mặt; ông thứ nhì tùy ý phán đoán vụ tố tụng dân sự, coi như trò đùa; đến tổng đốc Hồ thì khiếp nhược, đểu giả, thêm cái vẻ có máu dê.

Tôi thấy chỉ có Mã Kiều và mụ Quản gia, hai người ở từng lớp bét trong xã hội, là có lòng nhân đạo, biết đồng tình với một nạn nhân xã hội là Thúy Kiều mà tùy cơ cứu giúp cho. Còn ngoài ra, đều là hùm sói cả. Tú Bà độc ác vì cái nghề của mụ; Hoạn Thư nham hiểm vì thường tình ghen tuông; hai thằng Ưng, Khuyển với một bầy côn quang, như thiên lôi sai đâu đánh đó, chẳng nói làm chi. Khả ố nhất là bà vợ Thiên quan Trủng tể, ngồi trên giường thất bảo giữa ban ngày sáp thắp hai bên mà ra oai với một thiếu phụ lưu ly thất sở, bị phù lỗ trong tay mình. Nhìn qua một bận hết thảy nhân vật ấy, Nguyễn Du không thể không khen Chung công là “từ tâm”, Giác Duyên là “lành lòng”, thật là vớt vát hết sức mà cũng mỉa mai hết sức. Thực ra, Chung công chỉ là một tên cò mồi, dẫn tang cho quan trên; Giác Duyên cũng có thể bị tình nghi là đồng lõa với Bạc Bà, Bạc Hạnh, thừa dịp đuổi Thúy Kiều đi để chiếm lấy chuông vàng khánh bạc. Bởi vì, theo Giác Duyên thì nhà họ Bạc quen với nhà chùa, lẽ đâu không biết nhà ấy là nhà bán thịt buôn người?

Những nhân vật vô nhân đạo ấy thế nào cũng sẽ tạo ra những sự kiện vô nhân đạo.

Thằng bán tơ, theo Phong tình lục, là một thằng kẻ trộm hay buôn lậu gì đó, nó chỉ gặp Vương ông trong quán rượu một lần, khi việc gian lậu của nó vỡ ra, bị quan xúi khai cho nhà giàu để làm tiền, nó tưởng Vương ông nhà giàu nên nó cung chiêu cho. Rồi Chung công là tay trong của quan đứng ra dàn xếp. Cái thủ đoạn tàn nhẫn ấy cũng chẳng lạ gì ở nước Việt Nam thời trước, nơi mà dân chúng đã kêu:

Sướng chi mà sống đời nay

          Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

                                                                   (ca dao)

Mã Giám sinh, Bạc Hạnh công nhiên đi làm cái nghề mua bán người mà pháp luật cứ để yên cho làm, chẳng hề hỏi đến, mặc dầu sự mua bán ấy đã bị pháp luật nghiêm cấm từ lâu rồi. Cũng như ở nước ta, luật Hồng Đức, luật Gia Long đều có điều cấm “mại nhân vi nô”, triều vua Cảnh Thống nhà Lê lại còn cấm nhân dân Quảng Nam không được bắt người Mọi bán làm con đòi đứa ở, nhưng mà cái nạn mẹ mìn cứ còn mãi cho đến cả thời Pháp thuộc.

Thúy Kiều bị đánh đòn bốn lần. Một lần ở sân phủ đường, chịu “cứ phép gia hình”, một lần ở nhà mẹ Hoạn Thơ, không chống lại nổi với cái “gia pháp” nhà quyền thế, chẳng nói làm chi. Hai lần ở nhà Tú Bà, bị đánh gần chết, lần trước Kiều tự lấy dao cắt cổ, gần xảy ra án mạng, thế mà không hề có một ai can thiệp. Nếu nói đó là việc riêng trong nhà Tú Bà, thì còn đang đêm mụ suất một đoàn gia nhân với gậy đuốc đuổi theo bắt người, làm náo động từ phố phường đến làng xóm, sao người ta cứ để mặc mụ làm tự do? Thì ra, cái thời bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng ấy, một con mẹ trùm đĩ vẫn được làm gió làm mưa trong cái vùng nó chiếm đóng.

Sau khi giấu Thúy Kiều một nơi, theo Phong tình lục, Thúc Sinh cho người đến bảo Tú Bà rằng hắn sẽ kiện mụ chiếu theo điều luật “dĩ lương vi xương” (lấy con gái lương gia làm đĩ), nếu mụ cho chuộc Thúy Kiều ra thì thôi không kiện. Ấy tức là trong Truyện Kiều nói hai bài chiến và hòa. Rốt cuộc Tú Bà phải cầu hòa, là vì mụ nghĩ tiền mụ không nhiều bằng nhà Thúc Sinh, thế mụ không mạnh bằng nhà vợ Thúc Sinh, nếu gặp tay khác thì với ông quan mặt sắt ấy, mụ thò ra một ít bạc cũng làm phi được điều luật. Ở dưới nhiều thứ áp lực nặng nề khó ngóc đầu ấy, Thúy Kiều phải nhận Thúc Sinh, anh chàng ngu ngốc bạc bẽo làm ân nhân mà đền đáp có hơi quá cũng không nên trách.

Khuyển, Ưng và một lũ côn quang đã vượt biển từ Vô Tích sang Lâm Tri đốt nhà bắt người, gây một vụ hành hung to như thế mà cũng không ai hỏi đến. “Sẵn thây vô chủ bên sông”, là thây nào? Sao lại sẵn? Không lấy gì làm lạ: nếu người ta hỏi đến vụ hành hung thì người ta đã hỏi đến cái thây này rồi. Thật đáng gọi là đời loạn, ai muốn phóng hỏa thì phóng hỏa, ai muốn sát nhân thì sát nhân.

Dưới ngòi bút mình đã vẽ ra một xã hội có những nhân vật và sự kiện như thế, người có tâm sự, có hoài bão như Nguyễn Du phải nghĩ thế nào chứ. Theo Nho giáo, gặp đời loạn, cái nguyện vọng cao nhất là “bát loạn phản chánh”; nhưng trước còn phải “đắc quân” rồi sau mới “hành đạo” được. Cái chuyện “đắc quân” thì từ đời Khổng Tử đã thấy khó, cho nên cái thuyết của Nho giáo không thể áp dụng cho trường hợp này mặc dầu Nguyễn Du là nhà nho.

“Trăm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy gươm làm sạch” (tục ngữ), ấy là một thứ triết học bình dân của bình dân Việt Nam. Trong cơn phẫn uất, tác giả Truyện Kiều không cần nghĩ đến nơi đến chốn, cứ tạm theo thứ triết học ấy mà cho lưỡi gươm của Từ Hải vung lên.

Tôi không nói Nguyễn Du muốn làm cách mạng. Bởi vì Nho giáo không chủ trương cách mạng. Khổng Tử từng tán dương vua Thang vua Vũ cách mạng, nhưng đó là vua cách cái mạng của vua, chứ Khổng Tử thì ngài chỉ mong làm tôi để phò vua, không hề dám có mộng tưởng cách cái mạng của vua. Khi không phò được vua thì ngài lại rắp toan cộng tác với mấy kẻ bạn thần như Công-sơn Phất-nựu, Bật-nật mà trong sách Luận ngữ có nói. “Rắp toan” thế thôi, rốt cuộc rồi ngài cũng không cộng tác. Chịu ảnh hưởng của thứ tư tưởng truyền thống, nói là trung dung mà thực là mâu thuẫn ấy, Nguyễn Du có vẻ lúng túng trong khi viết đoạn chuyện Từ Hải. Nhân vật Từ Hải đã được đặt trên một lập trường không minh bạch, vua không ra vua, giặc không ra giặc, thành thử làm đến Kiều cũng loạn trí, đã tự nhận mình giết chồng là có tội, nhưng lại tự nhận có công phần nào.

Mặc dầu Nguyễn Du cho Từ Hải làm kinh thiên động địa đến đâu, là thực sự, Từ Hải cũng không anh hùng bằng Nguyễn Huệ, con người có thật đứng trước mặt Nguyễn Du mười lăm năm. Thế sao Nguyễn Du đã chống vua Quang Trung mà lại hâm mộ và đề cao Từ Hải? Thì ra trong khi Nguyễn Du nhận Nguyễn Huệ là kẻ thù của nhà Lê, lại muốn cậy tay Từ Hải rửa sạch cái xã hội nhà Minh. Chỗ này thấy thêm một mâu thuẫn nữa.

Từ Hải phải thất bại, Nguyễn Du biết thế, nhưng cứ đề cao, hình như chỉ để khoái ý nhất thời. Mà giá phỏng Từ Hải có thành công, thì cái xã hội vạn ác kia cũng vẫn cứ vạn ác. Trong một cuộc đền ơn báo oán, tiêu đến ba ngàn cân vừa vàng vừa bạc, một trăm cuốn gấm, vẫn là của bóc lột dân nghèo; không đụng đến Hoạn phu nhân, tha bổng thủ phạm Hoạn Thư mà lại giết Khuyển Ưng, vẫn là cái thói “quan vị quan”, bênh vực kẻ cùng giai cấp, tàn sát kẻ khác giai cấp. Tư tưởng không triệt để thì nó phải thế; nhưng nói thế, không phải buộc Nguyễn Du phải có tư tưởng triệt để cách mạng xã hội.

Nói gì thì nói, chứ so sánh hết thảy tác phẩm cổ điển của ta, như những Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên, Lục Vân Tiên… về phương diện ý thức xã hội, ý thức chính trị, phải kể Truyện Kiều là tiến bộ hơn hết. Trong các truyện kia, nhân vật đều sống hiền lành ngoan ngoãn dưới chế độ áp bách, cắn răng bấm bụng để chờ một cuộc đại đoàn viên; duy Truyện Kiều còn có ý vươn lên, tuy vươn lên chưa đến đâu.

“Con giun bị xéo còn biết quậy” (tục ngữ), đó là cái tâm lý của người Việt Nam từ xưa đến nay, bởi đó mà trong lịch sử đã có bao nhiêu lần nông dân khởi nghĩa. Quậy, có khi chỉ để khoái ý nhất thời như Nguyễn Du, không hẳn có được việc gì, nhưng họ cứ quậy. Nguyễn Du cho Từ Hải vung gươm lên trong lúc xã hội bị giày xéo, cái đó hiệp với tâm lý mọi người lắm, cho nên người ta hoan nghênh Truyện Kiều không luận Từ Hải thành công hay không thành công. Đó lại là một khía tư tưởng dễ thông cảm của Truyện Kiều làm nó được truyền tụng.

Ngoài ra, Nguyễn Du còn xây dựng Truyện Kiều đúng với hiện thực, nhân vật nào cũng ra con người có xương có thịt, làm cho người đọc tin là thực nên dễ mê. Tức như vai chính Thúy Kiều, khi ở với Thúc Sinh, ở với Từ Hải thì không nhớ Kim Trọng nữa, lúc mới gặp Từ Hải mong Từ làm Đường Cao tổ mà đến lúc khuyên hàng lại ví Từ với Hoàng Sào. Đó thật là lòng dạ đàn bà (tôi nói đàn bà thời trước) mà Từ Hải đã gọi là “nữ nhi thường tình”. Thúy Kiều tuy hiếu nghĩa nhưng vẫn là một người đàn bà có lòng tự tư tự lợi như mọi đàn bà khác (tôi cũng nói đàn bà thời trước), Nguyễn Du không chịu làm nàng thành ra một tiết phụ hay một nữ hiệp sĩ xa cách với chúng ta nên dễ lấy được đồng tình của chúng ta. Điểm này thuộc về văn chương, kỹ thuật của tác giả, ông Hòe đã khẳng định rồi, không cần nói thêm; dưới đây xin nói đến chỗ ông Hòe bảo tư tưởng tầm thường và không đúng xác.

***

Trên kia đã nói rõ Nguyễn Du viết Truyện Kiều không phải để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo nào dù chỉ “hình như” như ông Hòe nói. Nếu gọi nó là tư tưởng thì cũng không phải phần tư tưởng chính, đại biểu nội dung của tác phẩm. Ở đây tôi muốn cắt nghĩa tại sao Nguyễn Du có thứ tư tưởng tầm thường, không đúng xác ấy, theo lời phán đoán của ông Hòe mà tôi đã đồng ý ở trên.

Đó không phải cái lỗi của Nguyễn Du mà là cái lỗi của Nho giáo, hầu hết nhà nho từ trước đến sau đều mắc phải.

Nho giáo không có gì khác hơn là một thứ lợi khí để duy trì chế độ phong kiến. Chung cho trật tự xã hội, nó dựng lên thuyết tam cương, riêng cho phụ nữ, nó lập ra luật tam tùng, thu quyền vào trong tay vua, cha, chồng, trong tay đàn ông, mà rốt cuộc lại là trong tay vua. Nó có những giáo điều nghiệt ngã nói là lý trí không phải lý trí mà bóp chết người ta về phương diện tình cảm. Sống trong cái vòng bị trói buộc về phần xác ấy, giá có nới cho về phần hồn, phần tư duy tưởng tượng thì còn khá. Nghiệt thay đức thánh Khổng lại không chịu nói đến thần (Luận ngữ: bất ngữ thần), không chịu nói đến cái chết (Luận ngữ: yên tri tử), bắt người ta sống chịu khổ trọn đời, dù chỉ muốn giải thoát nội tâm cũng không phương giải thoát. Nho giáo thật là một cái đạo khắc nghiệt, khô khan, bất cận nhân tình.

Ở trong Nho giáo thấy ngột thở, thấy thiếu thốn, tự nhiên người ta phải tin Phật giáo, Đạo giáo, mà có lẽ nhà nho tin trước hơn ai hết, tin sâu hơn ai hết. Đã tin như thế, sợ mang tiếng phản lại giáo của mình, người ta bèn làm hỗn hợp giáo nọ với giáo kia, kết cuộc là cái thuyết “tam giáo nhất lý” hay “tam giáo đồng nguyên”.

Lịch sử làm chứng rõ ràng điều đó. Nhà nho từ đời Đường về sau, hầu như đều thế cả. Hàn Dũ ban đầu chống Phật mà đến lúc bị đày đọa ghe phen rồi cũng phải vò vè muốn tin Phật. Các nhà nho đời Tống đời Minh còn trắng trợn hơn, công nhiên rút triết lý của Thiền tông làm học thuyết của mình, như hai họ Trình và Vương Dương Minh. Đến đời Mãn Thanh, thôi không còn dè dặt gì nữa, hết thảy nhà nho khi trong nhà có việc tang, đều rước hoà thượng, đạo sĩ đến cầu cúng, gọi là “tố pháp sự”. Ở Việt Nam cũng vậy, từ đời Trần đã thi tam giáo, đến Lê Nguyễn mới chuyên trọng một đạo Nho. Nhưng cứ kể trong khoảng bảy tám mươi năm trước đây, hai ông nhà nho được coi là người khá, được tôn là bậc thầy: tổng đốc Nguyễn Khoa Luận thì xuất gia và tịch ở chùa, đốc học Trần Viết Thọ thì tu tại gia và cuối cùng lên giàn hỏa.

Nhà nho, đàn ông còn như thế, huống chi phụ nữ. Từ nay giở về trước, nếu ai trách đàn bà Việt Nam hay mê tín, tin bói khoa, tướng số, đồng bóng, hay đi chùa lễ Phật, vái lạy tam phủ tứ phủ, cầu con cầu của, là người không biết điều.

Nguyễn Du là một nhà nho trong hạng nhà nho ấy, về ý kiến chính trị đã mâu thuẫn, về tín ngưỡng lại không đơn thuần. Giá như Nguyễn Du có tư tưởng triệt để thì Truyện Kiều đã thành ra một tác phẩm có ý nghĩa phản phong kiến rồi, bọn Hồ Tôn Hiến đã bị chửi cho tàn tệ rồi, luồng gió cách mạng đã thổi lên rồi; nhưng không có thể được, trước đây một trăm rưởi năm, ở nước Việt Nam không thể có cái tư tưởng ấy.

Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng mà bị giết là công hay tội, tác giả nói rất mập mờ. Chuyện là chuyện xã hội mà cuối cùng lại giải quyết bằng phương thức cá nhân: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, thì cũng như không giải quyết gì cả. Ông Hòe chê rằng tầm thường, không đúng xác là phải lắm. Nhưng đó không phải là cái lỗi riêng của Nguyễn Du; giá chúng ta ở thời đại Nguyễn Du viết Truyện Kiều thì cũng thế (nói thế, chứ chúng ta chưa chắc đã viết được bằng).

Cứ theo lẽ thẳng mà nói thì như thế, nhưng chúng ta cũng còn có chỗ đáng dè dặt phần nào. Ở phần chú giải, dưới câu “một niềm vì nước vì dân”, ông Hòe lấy làm lạ về Nguyễn Du trước đã tỏ mối thiện cảm với Từ Hải bao nhiêu, thì sao đến sau lại cho Tam Hợp, Đạm Tiên nói những câu rất khinh miệt, ác cảm với Từ Hải bấy nhiêu, rồi ông viết: “Có phải tác giả làm ra như vậy để đánh lạc dư luận về thái độ của ông đối với Từ Hải? Có phải tác giả cố ý làm ra như vậy để đánh loãng cái cảm tình nồng hậu của ông đối với nhân vật Từ Hải? Và tất nhiên là vì lý do tự vệ” (tr. 646).

Chỗ này, ông Hòe nói rất có lý. Theo như chứng cứ dưới đây thì sự nghi ngờ ấy chính đáng lắm.

Người ta phải lấy làm lạ, sao hầu hết văn chương cổ điển nước ta không lấy đề tài ở bản quốc mà đều lấy ở ngoại quốc: Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên, Truyện Kiều lấy ở Trung Quốc, Quan âm Thị Kính lấy ở Triều Tiên. Đến thơ phú, sĩ phu nhà Trần phản đối sự Huyền Trân gả về Chiêm Thành thì mượn chuyện Chiêu Quân cống Hồ; Nguyễn Hữu Chỉnh muốn tỏ tâm sự chí khí của mình thì làm “Hàn vương tôn phú”, Nguyễn Nghiễm muốn ngụ ý phò Lê thì làm “Khổng Tử mộng kiến Chu Công phú”. Chinh phụ ngâm, một tác phẩm phản đối chiến tranh Trịnh-Nguyễn thì tên người tên đất cũng đánh lạc đi đâu, những là Phục Ba, Giới Tử, Lũng Hải, Cam Tuyền, làm như việc đó không phải xảy ra ở xứ ta. Thậm chí không lấy đề tài ở người mà lấy ở thú vật, như Lục súc tranh công, Trinh thử truyện, Trê cóc. Tại sao vậy? Có phải tại cấm lệnh của nhà vua nghiêm ngặt quá, không ai dám đả động đến việc trong nước chăng?

Pháp luật phong kiến, như luật Đại Thanh, luật Hồng Đức, luật Gia Long, đều có điều “cấm yêu thư yêu ngôn”. Luật Gia Long về điều này: Kẻ tạo ra yêu thư yêu ngôn bị tội trảm giam hậu, chưa truyền bá thì bị lưu tam thiên lý, kẻ tàng trữ thì trượng nhất bách, đồ tam niên. Lúc bấy giờ không có cái gọi là quyền ngôn luận, chứ chưa nói tự do hay không tự do. Không cứ văn bài sách vở gì, hễ vua chúa thấy là xúc phạm quyền thống trị của mình, đều chiếu vào luật này trị tội. Tuy vậy, ở Trung Quốc, vào thời Kiền Long, Ưng Chánh, có phát ra nhiều cái án gọi là “văn tự ngục”, mỗi cái chết đến hàng trăm người. Nhưng nước ta, từ triều Lê về trước, trong sử hình như không có cái án nào như vậy cả. Có lẽ tại nước ta là nước nhỏ, quyền lực phong kiến càng phải giữ chặt chẽ hơn, sự đề phòng càng nghiệt ngã hơn, thành thử ai nấy khiếp sợ, có viết thì viết những chuyện Hàn Tín, Trương Lương hay là những chuyện con trâu, con gà, con chuột, con cóc, thì làm sao cho có “văn tự ngục” được?

“Văn tự ngục” ở nước ta, theo tôi biết, hình như bắt đầu có từ triều Gia Long, việc xảy ra ngay trước mắt Nguyễn Du. Lúc đó, con trai của Nguyễn Văn Thành, một đại thần có công đang tại triều, vì một bài thơ tám câu mà bị tội trảm quyết, còn liên lụy đến anh em khác nữa, cả đến Nguyễn Văn Thành cũng phải uống thuốc độc mà chết. Nguyễn Văn Thành thủy chung theo phò vua Gia Long mà con trai còn như vậy, huống chi Nguyễn Du đã là thần tử nhà Lê, lại vốn có thái độ “lừng khừng”, bảo sao không né mình trước cái thảm họa ấy? Ở Huế có lời truyền thuyết rằng về sau vua Tự Đức xem Truyện Kiều đến câu “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, ném sách xuống mà rằng: “Phải chi Nguyễn Du còn sống, nọc nó ra mà đánh ba chục”. Ngài nói nhũn mà chơi đấy, chứ nói thực thì nói “chặt đầu”. Có một bản Truyện Kiều gọi là “bản Kinh”, tức là bản Tự Đức bảo chữa lại.

Ông Hòe nói phải lắm. Rất có lẽ Nguyễn Du vì tự vệ mà cố ý nói những câu trái với bản tâm để đánh loãng cái tình cảm nồng hậu của mình đối với Từ Hải.

Những cây cỏ mọc dưới đống đá, tất nhiên nó không thể vươn thẳng lên được, nó phải lựa chiều, uốn mình trồi lên giữa kẽ đá, trồi lên được chút nào hay chút ấy. Tuy e dè tránh tránh ghé, Nguyễn Du cũng đã để cái thâm ý của mình trồi lên cho chúng ta thấy.

Kể công Thúy Kiều bốn lần hết thảy mà đều do từ miệng người khác: Hồ Tôn Hiến, Tam Hợp, Đạm Tiên và người Hàng Châu, chứ Thúy Kiều thì cũng biết nói: “Khéo khuyên kể lấy làm công…. Xét mình công ít tội nhiều”, thủy chung tác giả vẫn nghiêng lòng về Từ Hải một cách khúc chiết.

Có những điểm khác cũng tương tự như thế. Ở giữa một xã hội sặc mùi mê tín, hình như Nguyễn Du không tán thành mà cũng không phản đối ra mặt, chỉ biểu lộ vi ý của mình phớt qua một vài nét. Sau khi Thúy Kiều thuật lời đoán của tướng sĩ, Kim Trọng nói “Nhân định thắng thiên”; sau khi Thúy Kiều kể chuyện chiêm bao thấy Đạm Tiên, Vương Bà bảo “Mộng ảo cứ đâu”; hơi xẵng là câu “chẳng qua đồng cốt quàng xiên” nói về cuộc đánh đồng thiếp. Mà thực sự thì tác giả đã phô tự ba việc ấy theo với chứng cứ thấy có linh nghiệm hoàn toàn. Nguyễn Du đã muốn giải phóng phụ nữ thì tất nhiên cũng phản đối sự “giữ trinh đơn độc”, vì nó là vô lý, tại sao chồng không giữ trinh đối với vợ mà vợ lại phải giữ trinh đối với chồng? Tại sao Kim Trọng nghiễm nhiên lấy vợ đẻ con mà Thúy Kiều lại cứ phải áy náy về sự mình thất tiết? Tuy vậy, Nguyễn Du không táo tợn hỏi như thế mà cứ để cho Thúy Kiều áy náy, áy náy đến nhiều lần, rồi cuối cùng đặt vào miệng Kim Trọng một câu: “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường” là xí xóa tất cả, không còn áy náy nữa. Qua câu ấy và mấy câu tiếp theo, chúng ta phải hiểu rằng Thúy Kiều vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải làm đĩ là không mất trinh.

Lấy những điều đó án chứng cho nhau, thấy ngòi bút của tác giả vẫn trung thành với ý chí tình cảm của tác giả, chỉ vì lẽ này lẽ kia như trên đã nói làm cho phần kết thúc của Truyện Kiều không được sáng sủa cho lắm, thật đáng tiếc. Cái khổ tâm của tác giả thấy trong câu kết: “Mua vui cũng được một vài trống canh”, truyện từ đầu đến cuối đau đớn như thế mà lại nói “mua vui”, đại thi hào của Việt Nam chúng ta muốn đánh lừa chúng ta chăng!                               

                                                       Hà Nội, tháng Tư năm 1955   

PHAN KHÔI

Nguồn:

Tập san Đại học Sư phạm, Hà Nội, s. 3 (tháng 8, 9, 10/1955), tr. 53-77.

Chú thích:

(1) Chuyện Thúy Kiều có mấy thứ sách đã chép, có người đã cử ra, đây tôi không nói đến, chỉ nói riêng về Phong tình lục. Nó là một bộ tiểu thuyết hai cuốn, khổ lớn, đề tên tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân, viết bằng bạch thoại đá văn ngôn, xuất bản từ đời nào thì không rõ. Nhà ông đốc học Lương Văn Nhã ở làng tôi có bộ sách ấy mà đã cũ lắm, tôi đã được đọc nó trước đây 50 năm. Tôi có người bạn Hoa kiều ở Hội An, tên là La Doãn Khiêm, biết thưởng thức Truyện Kiều của Nguyễn Du lắm, muốn in chung nó với Phong tình lục làm một tập, bèn mượn sách của nhà Lương Văn Nhã đem về Trung Quốc, vì nói rằng đã tìm ở nhiều hàng sách cũ bên ấy mà không có. Việc ông La Doãn Khiêm định làm đây về sau cũng không thành.

Tên sách là Phong tình lục. Truyện Kiều mở đầu nói: “Phong tình có lục”, nó là chữ “có”, không phải chữ “cổ”. Chữ “có” ấy cũng như chữ “có” ở câu “Họ Chung có kẻ lại già” và câu “Họ Đô có kẻ lại già thưa lên” ở bổn truyện, và câu “Mị nương có ả tư phong khác thường” trong Nam sử diễn ca; chứ Nguyễn Du không có thể thêm vào một chữ trong cái tên sách sẵn có mà nói “Phong tình cổ lục” được. Vậy mà ở Truyện Kiều chú giải, ông Hòe chép là “Phong tình cổ lục” rồi chú rằng “Phong tình cổ lục là bộ sách chép chuyện phong tình đời cổ” thì thật là bướng.

Còn có một bản Truyện Kiều viết bằng chữ Hán (văn ngôn) chép tay, không thấy tên người viết, trước kia tôi ở Hà Nội có được đọc. Bản này văn dở lắm, tôi tưởng đó là do một người Việt Nam nào thuở trước không hay chữ lắm, đã do theo Truyện Kiều Nguyễn Du mà dịch ra, xin đừng ai nhận lầm đó là Phong tình lục.

Theo Phong tình lục, chỗ Thúc Sinh lập mưu chuộc Thúy Kiều ra, chỗ Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am, chỗ Hồ Tôn Hiến sai thuyết hàng Từ Hải, đều nói rất ngô nghê, tốn nhiều bút mực mà vô vị, những chỗ ấy Nguyễn Du đều bỏ hết mà chỉ nói phớt qua một vài lời. Còn những chỗ khác tả tình tả cảnh như chỗ Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, đều là tự tay Nguyễn Du viết ra.

Về gốc tích Truyện Kiều, ông Đào Duy Anh thấy biết nhiều hơn tôi, theo lời ông Đào thì: Bộ tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân hiện ông thấy có một bản nhan đề là Quán hoa đường bình luận Kim Vân Kiều truyện, trong số tập san này [Tập san Đại học sư phạm số 3 này là số chuyên đề kỷ niệm 150 năm sinh Nguyễn Du – L.N.A.] sẽ trích dịch nhiều đoạn. Còn quyển Truyện Kiều bằng chữ Hán tôi nói trên thì hiện ông Đào cũng thấy có bản in, nhan đề chỉ có hai chữ là Kim Vân.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(2) Câu này có nơi hát là “Râu tôm nấu với ruột /Chồng chan vợ húp gậtkhen ngon”. Quả bầu, hình như ở miền Nghệ Tĩnh gọi là , cho nên lấy vần với . Chua thêm vào đây để thấy câu ca dao ấy truyền bá phổ biến lắm, đến mỗi nơi theo ngữ âm mà đổi khác. (nguyên chú của Phan Khôi)

(3) Câu thơ này ở bài “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du. Tiểu Thanh cũng là một người con gái đời Minh, có tài nghệ, làm vợ lẽ Phùng sinh ở Hàng Châu, bị vợ cả đày đọa mà chết lúc mới 18 tuổi. Đây tôi đem dùng vào chuyện Nguyễn Du đối với Thúy Kiều, tuy có hơi ép, song chắc Nguyễn Du không trách tôi, vì hai người ấy đều là con gái đời Minh, đều là bạc mạng, đều được Nguyễn Du thương tiếc mà gợi ra động cơ sáng tác.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(4) Năm 1907, ông Từ Đạm làm án sát Nam Định, bắt giam một người tình nghi về chính trị; trong chuồng giam, người ấy hay kể Kiều, ông đòi ra, bắt làm một bài thơ vịnh Kiều, người ấy làm:

Khép cửa buồng xuân để đợi chờ,

                        Mà em mất nết tự bao giờ

                        Chàng Kim mê gái công đeo đẳng

                        Viên ngoại chiều con chết ngất ngơ

                        Nợ trước hẹn hò con đĩ Đạm

                        Duyên sau gặp gỡ bố cu Từ

                        Mười lăm năm ấy bao nhiêu sướng

                        Còn trách làm chi đứa bán tơ.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(5) Theo ông Đào Duy Anh, Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi làm tham tri bộ Lễ. Song ở đây tôi làm văn chứ không làm việc khảo cứu.  (nguyên chú của Phan Khôi)

 

Truyện ngắn Thụy An: TRƯỜNG HỢP TÒNG QUÂN CỦA THIẾU ÚY NGUYỄN LÂM

TRƯỜNG HỢP TÒNG QUÂN CỦA THIẾU ÚY NGUYỄN LÂM

Truyện ngắn của Thụy An

Thế là hắn tỉnh dậy, bất chợt miệng hắn đang lắp bắp: “Je suis fier … je suis fier…” (1) Hình như trong mơ, hắn nhớ mãi không ra câu nói tiếp, nên vừa tỉnh, hắn vội đọc trơn tru: “Je suis fier d’ avoir offer ten holocauste à ma patrie et la France un de mes fils” (2) Bài đáp từ hắn mới đọc hồi chiều trước mộ con hắn, hắn đã quên thế nào được. Rồi làm như thức dậy chỉ cốt khảo trí nhớ, thấy không suy suyển gì, hắn yên tâm ngủ lại.

Chưa thiếp hẳn mà tiếng ngáy của hắn đã nổi lên, khò khò khoan nhặt, tai hắn vẫn thấp thoáng nghe, và óc hắn lang bang nghĩ đến con nhân tình pa-ri-diên bé bỏng từng ví tiếng ngáy của hắn du dương như tiếng thủy triều lên xuống. Con bé có đôi môi cong. Đôi vú cũng cong lên theo chiều môi. Tiếng ngáy của hắn dộ cao gừ gừ như tiếng thở dài. Mắt díp chặt.

Bỗng cả người hắn giật nẩy lên, mắt mở choàng. Rõ ràng có ngón tay vừa búng vào mí mắt hắn. Thế là nghĩa lý gì? Trong gian phòng và chiếc giường rộng chỉ có độc mình hắn, không lẽ hồn con hắn hiện về trêu cợt. Hắn không tin có ma, mà ví phỏng có thực, con hắn cũng không dám tinhg nghịch đến thế. Hắn là người cha nghiêm khắc, thằng Lâm mới chết có hai ngày, hắn chưa quên điều đó.

Hắn xoay người, tìm một chiều nằm thuận tiện hơn. Đầu hắn đang rức như búa bổ. Hắn cần ngủ. Luôn hai hôm nay, hắn đã nhược người vì những bổn phận của một tang chủ thuộc giới cầm đầu Bắc Việt, con lại chết trên bãi chiến trường “chống cộng sản Việt Minh”. Thằng bé đã mồ yên mả đẹp. Còn hắn bảy giờ sáng mai phải có mặt ở sân bay Bạch Mai, cùng với bọn tướng tá Pháp đi kinh lý mặt trận Nam Định, chính nơi con hắn tử nạn. Hắn cần lấy lại sức để lúc ấy trước mặt mọi người, giữ được cái vẻ “mang nỗi đau đớn vĩ đại một cách uy nghi và gan dạ”, đúng như lời viên sĩ quan đại diện quân đội viễn chinh đã ca tụng hắn trong bài điếu văn đọc trươc mộ con hắn.

Cái vẻ ấy hắn đã học được ở nhiều sĩ quan cao cấp Pháp có con bị đạn Việt Minh bắn gục ngay trong trận do bố chỉ huy. Nghĩa là có vẻ buồn nghiêm trang, giọng nói hơi trễ nải, khóe mắt ngùi ngùi, nhận những lời phân ưu một cách kẻ cả, cám ơn phớt qua rồi lảng sang chuyện khác. Hắn phân vân không biết có nên bắt chước bọn quan thầy ấy, cả việc cầm chiếc ba-toong không… Trong trường hợp tang tóc này, chiếc ba-toong thật là đắc vị. Ra điều tâm hồn đau đớn lắm, gục rũ xuống phải có chiếc ba-toong vực đỡ mới giữ được vẻ uy nghi, gan dạ. “Con người” biết bao! Thiên hạ nhìn vào sẽ ái ngại, thương cảm. Thuật câu nhân tâm, hắn tự phụ không kém Carnégie bên Mỹ. (3)

Những ý nghĩ như đàn kiến bò miên man trong đầu óc làm đôi mắt hắn gờ gờ. Chợt ngón tay lại búng nẩy ra. Lần này trống ngực hắn đổ hồi, gân thái dương giật mạnh. Hắn linh cảm có sự khác thường. Kẻ thù thừa dịp tang tóc, dinh cơ trễ nải canh phòng, định ám hại hắn cũng nên. Nhưng vào được phòng hắn, phải bước qua hai vệ sĩ, trung thành với hắn hơn hai con béc-giê đêm đêm nằm canh trước phòng ngủ của hắn. Mắt hắn đảo khắp gian phòng sáng ánh trăng thượng tuần rõ từng góc tường kẹt tủ. Đảo đến những khuôn cửa kính chạy dài suốt bề mặt gian phòng hắn há miệng suýt kêu… Bên ngoài áp vào cửa kính những con mắt dài có đuôi đen đặc những đồng tử đang nghiêng nghé chớp nháy, động cửa đòi vào. Tay hắn lẩy bẩy tìm bấm điện. Đèn bật sáng choang. Những con mắt chỉ là những lá cây ngọc lan hắt bóng lên mặt kính. Ánh sáng lại đánh thức, khua to những âm thanh thiêm thiếp trong bóng tối, đưa lọt vào tai hắn tiếng khóc rền rĩ. Nghe tưởng từ đâu xa vẳng tới, thoắt lại quanh quất ngay bên. Mang máng giống tiếng thằng Lâm. Hắn rợn người nhận ra chính tiếng khóc ấy đã xói vào giấc ngủ của hắn, búng nẩy mi mắt hắn.

Hắn ngồi nhỏm dậy, mở tủ đầu giường lấy chai cô-nhắc rót luôn mấy cốc uống. Rượu vào, đầu càng rức, nhưng người hắn trấn tĩnh hơn, sống lưng bớt ớn lạnh, và miệng lưỡi thuần lại. Hắn nghiêm nghị gọi: “Lâm ơi! Đêm hôm mày về quấy cậu làm gì! Mai cậu kinh lý chỗ mày bị nạn, mày hãy về đấy trước mà đón cậu”.

Hắn đi lại mở tung cửa sổ, như để hồn con hắn lấy lối ra. Tiếng khóc liền ùa vào, to dội. Tiếng của vợ hắn khóc con từ dưới phòng khách vẳng lên. Hắn cau mày. Ngót ba chục năm hắn luôn luôn nghe tiếng vợ khóc. Người đàn bà ấy từ khi lấy hắn, hình như không làm việc gì ngoài việc khóc. Khóc vì mẹ chồng cay nghiệt, khóc vì chồng chơi bời. Bây giờ tiếng khóc cũng không làm cho thần kinh hắn bớt dấm dứt.

Dưới đường, ngoài cửa dinh, tên lính gác bồng súng đang dòm vào trong tò mò nghe. Hắn càng bực mình như hồi chiều hắn đã bực mình vì vợ hắn cứ lăn lộn kêu gào bên mộ con, giữa lúc bài điếu văn tới đoạn: “mang nỗi đau đớn vĩ đại một cách uy nghi gan dạ”.

Hắn đóng sạp cửa sổ. Người lính gác nhìn lên, thấy hắn, vội quay lưng, lủi vào vọng canh. Hắn xăm xăm xuống phòng khách. Mỗi bước chân động lên thái dương nhức buốt. Nếu vợ hắn không im, hắn sẽ không tài nào ngủ được. Mai đến quỵ.

Hai tay ôm đầu, hắn đứng cửa phòng bảo vợ đang ngồi phục trước bàn thờ con:

– Mợ! Người chết rồi, không lấy lại được. Mợ nên về buồng nghỉ đi.

Vợ nghe tiếng chồng, nín bặt, nhưng vẫn ngồi nguyên chỗ, tóc xõa che kín lưng. Buồng nực mùi hoa úa bày la liệt trên bàn thờ, chồng chất cả dưới đất. Hoa, bọn thuộc hạ các nơi xa không về kịp đám, mới đem phúng hồi tối. Hắn nói them:

– Mợ cũng nên an ủi là thằng Lâm chết danh chết giá. Quốc ca, quốc kỳ, đủ cả. Lại truy tặng huân chương. Bố tôi xưa tứ trụ triều đình cũng chả được thế. Mợ còn nhớ đấy chứ…

Hắn đến gần bàn thờ, nhìn bức ảnh thằng con mặt non măng, người bé nhỏ, bộ quân phục thiếu úy mặc trên người trông loạc choạc như bộ quần áo đi mượn để chụp ảnh chơi, hay để hóa trang làm trò trong một cuộc thi trá hình. Hắn sửa ngay ngắn lại tấm huân chương treo dưới bức ảnh, thở dài:

– Thằng bé này không có phúc tướng. Tử vi của nó, mẹ mượn thày tướng nào xem cũng bảo nó phi bần tắc yểu…

– Câm ngay! Đừng nhắc đến mẹ mày nữa. Mẹ con mày giết con tao!

Hắn trố mắt kinh ngạc nhìn người vợ vụt đứng phắt dậy, xông đến trước mặt hắn, hàm răng nghiến chặt như đã ngoạm vào da thịt hắn. Hắn tỉnh ngay cơn kinh ngạc, một tay vội giơ ra đề phòng cử chỉ bạo động của vợ, một tay quơ chiếc chân nến trên bàn thờ, ra tay trước. Vợ hắn kêu thất thanh “Lâm ơi!” Hắn cười gằm trong bụng: “Mày gọi nó để dọa ông à! Ông cho mày xuống âm phủ mẹ con gặp nhau một thể”. Mắt hắn ngước lên, chợt gặp mắt thằng Lâm trong ảnh, lừ lừ nhìn hắn. Cái nhìn thản nhiên mặc kệ của đứa trẻ không hiểu những việc mình chứng kiến, hay tự biết mình không thể can thiệp được, nhưng vẫn chăm chăm theo dõi, không bỏ sót một chi tiết nhỏ, như ghi giữ để dành lại, ngẫm nghĩ về sau. Hắn bàng hoàng. Con mắt ấy, thằng Lâm vẫn có từ ngày bé, có cả trong những lúc đứng nhìn bố hành hạ mẹ; con mắt thường làm hắn điên tiết dừng tay đánh vợ, quát đuổi nó đi nơi khác.

Nhưng dù nó đã chạy trốn rồi, hắn biết một lát nó sẽ mon men trở lại, và cứ con mắt ấy, nhìn nữa… Lớn lên nó vẫn nhìn hắn như thế, có hắn, có nó, hắn đang làm gì, quay lại, thế nào cũng bất chợt nó nhìn hắn… Cho đến bây giờ lại cái nhìn ấy, người thợ ảnh ghi vĩnh viễn trên bức ảnh sau trót của nó dùng làm ảnh thờ, để nó lại tiếp tục chứng kiến bố mẹ xung đột nhau.

Hắn ngồi phịch xuống ghế trước bàn thờ:

– Nhà đang có việc tôi để tội đấy cho mợ.

Vợ hắn chồm lên:

– Để tội cho tao? Còn tao thì tao không để yên cho cái tội mẹ con mày giết con, giết cháu.

A, thế này thì quá lắm. Chưa bao giờ vợ hắn dám xưng mày tao với hắn, dám nói nặng lời với mẹ chồng. Thị điên rồi chắc. Hắn đứng dậy… Dầu sao cũng phải giữ nếp nhà. Đôi mắt thằng Lâm liền dõi theo hắn lăm lăm như đôi ống kính ảnh giơ sẵn để chụp. Hắn nhích phía nào ống ảnh chuyển theo phía ấy… Hắn biết hắn đang bị hãm trong vòng nhỡn giới của ống ảnh, không thể nào lánh lên gác được. Phải để nó thu những hình những nét nào đấy của hắn đã, y như bọn phóng viên nhiếp ảnh bám sát hắn, chụp hắn, trong mỗi cuộc kinh lý. Chỉ khác, hắn biết bọn phóng viên nhiếp ảnh ghi những dáng điệu cử chỉ nào đẹp nhất của hắn và họ chụp để đăng báo, tuyên truyền, toàn những việc có lợi cho uy tín của hắn. Còn đôi ống ảnh câm lặng này, hắn cảm thấy nó bất chấp hắn, dấu kín những cái nó ghi được để đe dọa về sau, bắt hắn phải e dè nơm nớp. Tự dưng hắn phân tích được rõ ràng cái cảm giác từ bé đến lớn, thằng Lâm với con mắt nhìn kỳ lạ, đã gieo cho hắn như một ám ảnh.

Hắn ngó ảnh con, giận giữ:

– Tại sao mày cứ nhìn cậu thế? Mày nhìn để làm gì?

Câu hỏi chỉ thốt trong cuống họng mà hắn nghe oang oang khắp phòng đập vào tai hắn nhức nhối. Miệng thằng Lâm mím chặt không trả lời hắn. Lúc nó còn sống, hắn đã không căn vặn. Giờ, nó đem điều bí mật ấy xuống mộ. Cái chết che chở cho nó những cơn lôi đình thịnh nộ của bố. nó thản nhiên đứng trên bàn thờ ngó thẳng mặt bố.

Hắn lại nói thầm:

– Mày có biết cậu ghét mày cũng vì cái nhìn của mày không?

Hắn gai người, rõ ràng thằng Lâm đang trả lời hắn qua tiếng nói hằn học của mẹ nó:

– Cậu ghét thằng Lâm bắt nó tòng quân vì nó xấu xí nhất nhà, học kém nhất nhà, vì hồi đẻ nó cậu đang muốn bỏ mẹ con nó. Để lấy con nhân tình trên Hà Nội. Lấy không được lại bị con đĩ theo thằng khác đi Sài Gòn cuỗm của cậu hết tiền bán nhà, tiền bán ô tô. Cậu ghét tôi, cậu ghét lây nó…

Hắn đứng phắt dậy, mắt thằng Lâm lại trì hắn xuống… Hắn lẩm bẩm:

– Không phải… không phải, nó cũng là một đầu con.

– Một đầu con à! Có vong linh nó kia cậu còn dám nói thế à? Cậu có nhớ cái tối hôm hai nhăm tháng ba không? Hôm giỗ bố cậu ấy, mẹ con cậu bàn gì với nhau không? Bàn xem trong năm thằng con, biết thằng nào vào quân đội quốc gia. Cậu bảo giá không làm chính trị thì thôi có thể rẫy tiền chạy cho cả năm đứa khỏi động viên, nhưng cậu là chính khách cao cấp, không có một đứa tòng quân không xong, sợ phe đảng khác có cớ gièm pha và còn để bọn Pháp trông vào. Mẹ con cậu bàn nhau, cân nhắc…

Đầu hắn nhức như sắp vỡ đôi. Hắn bưng lấy trán mà nói:

– Nhức đầu lắm. Im đi. Lính gác ngoài kia nghe thấy…

Thằng Lâm không im. Hắn đang sống, tiếng nói của hắn chỉ tắc ở cuống họng. Thằng Lâm đã chết, bất động trong bức ảnh mà nó vẫn nói dẽo dọt:

– Mẹ con cậu không chọn thằng Phan vì nó đã đỗ cử nhân, nó đang ở Pháp, mẹ con cậu cần nó để vận động, giao thiệp bên ấy, nó có thớ người. Mẹ cậu bảo thêm, thằng Phan là cháu đích tôn nối dõi tông đường họ Nguyễn. Nuôi nó nên tấm nên món như thế rồi, không mỗi chốc…

Hắn ngẩng nhìn thằng Lâm, hoảng hốt. Từ ngày nó bé, hắn vẫn sợ con mắt nó là đúng lắm. Con mắt ống ảnh của nó theo dõi, rình mò hắn khắp nơi, không những chỉ ghi cử động, còn thu cả lời nói của hắn. Bây giờ ống ảnh đang phóng Ra những hình những tiếng nó đã thu được, thành cuốn phim nói, bắt tai hắn nghe, bắt cả mắt hắn nhìn.

Đúng rồi, tối hôm hai nhăm tháng ba, mẹ hắn ngồi góc kia, hắn ngồi đối diện. Mẹ hắn minh mẫn sáng suốt hơn bao giờ, hắn vừa ngỏ câu chuyện chọn một đứa tòng quân, mẹ hắn đã bàn đâu ra đấy. Bảy mươi tuổi mà mẹ hắn vẫn sắc sảo như ngày bốn, năm mươi, một tay làm quan cho chồng, trông coi năm bảy ấp, điều khiển mấy dinh cơ. Về già thoát khỏi cuộc cách mạng tháng Tám, thoát khỏi vùng kháng chiến, mẹ hắn giống một cây cổ thụ đã thành tinh, tự bật gốc rễ khỏi cái tỉnh sinh cơ lập nghiệp hàng ngót thế kỷ để bốc lên Hà Nội. Tại đấy, một lớp thực dân mới đang tụ tập lớp quan lại phong kiến do bọn thực dân cũ, toàn quyền, thống sứ, công sứ tạo nên, để thếp lại vàng son dùng làm tay chân cho chắc ý. Mẹ hắn lợi dụng ngay cơ hội, mau chóng gây được một thế lực cho hắn. Có thế bên trong rồi, mẹ ở lại vun quén, con sang Pháp cầu viện vây cánh. Ở Pháp hơn một năm về, hắn đã nghiễm nhiên thành một chính khách dự vào công việc cầm đầu Bắc Việt. Cho nên mỗi việc nhỏ to, hắn đều bàn với mẹ. Hắn chỉ tin tài cố vấn của mẹ. Cũng lại mẹ hắn duyệt đến thằng thứ hai, thằng Thường:

– Nó đang học luật, được miễn động viên. Dại gì lại ngửa tay xin việc. Tao xem ý con gái ông tổng trưởng Thanh tháng trước theo bố ra đây, có vẻ mê cậu chàng lắm, về vẫn viết thư ra. Ông tổng trưởng Thanh là chủ đồn điền lớn, có hàng dẫy nhà ở Sài Gòn. Nội các kỳ này thay đổi, ông ta có cơ làm thủ tướng không chừng. Cậu phải dành cho tôi thằng Thường vào cái đám ấy.

Hắn phục mẹ, không việc gì không biết. Còn hơn cả đám thám tử riêng của hắn.

– Thế còn thằng Quý, thằng Vũ…

Mẹ hắn cười xòa, nhe hai hàm răng còn cắm nguyên trên lợi:

– Đứa nào động đến hai thằng cháu vàng cháu bạc của tao đấy. Thằng Quý tử vi “tam hỏa liên châu” (3) đấy nhé, đủ quyền đủ lộc, gọi là sau này cậu có thua mạt chược, ru-lét (4)  ức triệu nó cũng giả cho cậu như bay. Còn thằng Vũ có cái sống trâu giữa trán là có tất, phú, quý, thọ, khang. Cơ đồ họ Nguyễn sau này phát ở nó đấy…

Hắn cúi xuống dấu cái mỉm cười hoài nghi. Mẹ hắn có sáng suốt cũng chỉ tới chừng mực nào. Riêng hắn không tin lắm vào cơ đồ họ Nguyễn mai sau. Cái túi đồng bằng Bắc Bộ, Việt Minh ngày càng thắt, họ Nguyễn sẽ như một thứ đựng trong đó, bắn phọt đi nơi khác. Pháp, Mỹ, Phi châu… Con đường phiêu lưu… Hắn khó lòng tưởng tượng cơ đồ họ Nguyễn lại có thể phát được ở những nơi ấy. Cầu sống ung dung là may… Và muốn thế, bây giờ phải biết nhân cơ hội làm giàu, làm giàu… không từ một thủ đoạn, một hy sinh nào. Mặt hắn co lại, môi mím chặt. Hắn nhìn lên và thấy tất cả những ý nghĩ quyết liệt thầm kín của hắn đang soi trên nét mặt của mẹ hắn… Quai hàm mẹ hắn bạnh ra nhai trầu nhóp nhép như đang ngốn ngấu một mưu đồ ghê gớm… Hắn bỗng hồi hộp, biết rằng mẹ hắn ngừng nhai, là mưu kia cũng vừa chín nục. Quả nhiên nhả miếng bã trầu ra, mẹ hắn nói:

– Nhà này có một đứa xoay sang võ cũng hay. Thằng Lâm không có khiếu học, cho theo học nữa chỉ tổ vất vả…

Hắn không nói gì… Nghĩa là hắn đồng tình với mẹ để thằng Lâm tòng quân.

Cuốn phim bỗng ngừng lại giữa sự yên lặng ghê rợn của phiên tòa vừa tuyên xong án tử hình.

Vợ hắn không khóc được nữa. Nỗi phẫn uất tung ra cặn lại sự chua xót làm giọng người đàn bà chìm hẳn xuống:

– Tôi ở bên ngoài, tôi nghe thấy hết. Tôi đẻ ra cả năm thằng: Phan, Thường, Lâm, Quý, Vũ mà mẹ con người ta bàn bạc tính mạng của chúng nó không thèm hỏi đến tôi một lời… Đợi còn mình cậu, tôi vào van xin cậu đừng bắt thằng Lâm động viên, tôi chỉ còn có mình nó, mẹ con có gì than thở với nhau. Mấy thằng kia, thằng thì cậu tống đi Pháp, thằng thì mẹ cậu dậy khinh tôi… Chỉ còn mỗi thằng Lâm nó xót tôi… Thế mà cậu không nghe, cậu bảo: “Có đi lính thay được nó thì đi”. Giời ơi! Nếu tôi thay được các con tôi, tôi không đợi ai bảo…

Cơn rức đầu kinh niên đã tới mực độ không chịu được. Hắn gục xuống tay ghế. Vợ hắn đã thôi không xưng mày tao với hắn nữa, nhưng giọng vợ hắn dịu đi càng sắc nhọn như những mũi dùi xiên vào tai hắn. Hắn nói:

– Thằng Lâm nó cũng thích tòng quân. Bảo nó đi, nó có nói gì đâu!

– Vì nó sợ cậu, vì cậu bảo nó vào Thủ Đức học ra, cậu sẽ xin cho nó giải ngũ hay làm việc văn phòng, không phải đi trận…

– Tôi… tôi cũng đang vận động.

Hắn cố ngẩng đầu lên nói với thằng Lâm. Hai mắt thằng Lâm vẫn giữ cái nhìn cũ, thản nhiên và lăm lăm, lời chống chế của hắn dù thật dù dối cũng không hề động được tới… Hắn bỗng lúng túng như người ném ra một món đồ mà không ai thèm nhận, bỏ lửng, trơ trẽn…

Hắn gượng cãi:

– Nó không thích đánh nhau mà tháng trước nó lại được tuyên dương vì dám anh dũng một mình một xe jeep xông vào vùng Việt Minh sâu sáu bảy cây số…

Vợ hắn nhìn chòng chọc vào mặt hắn, khinh bỉ:

– Anh dũng! Nó không biết anh dũng! Lần ấy nó tìm đường ra với Việt Minh… Nó không muốn đem thân hứng đỡ đạn cho cả nhà… cho… cho…

Vợ hắn đứng lên, giật phắt tấm bội tinh xuống:

– Để làm gì cho ức vong hồn nó.

Hắn nhỏm người lên… Cơn đau nhức lại chúi hắn xuống… Hắn không còn cả sức để tỏ sự ngạc nhiên việc đứa con trai đã có lần suýt làm hại hắn. Hắn không còn cả sức để nhặt tấm bội tinh lên. Cơ thể hắn cực kỳ mỏi mệt. Giá có chiếc ba-toong vực đỡ, hắn cũng không đứng lên nổi… Mắt hắn mờ đi hay sao mà trông ra mọi sự vật chung quanh hắn đều lềnh bềnh mờ xám như làn khói hương tỏa trên đám hoa úa.

Chỉ hai con mắt thằng Lâm sao cứ bám riết lấy hắn, sao tiếng nói của vợ hắn không buông tha hắn. Nhưng chính hắn cũng đang cần hai thứ ám ảnh đó. Mắt thằng Lâm biến đi, tiếng nói vợ hắn im đi… Cái gì sẽ còn lại với hắn?

“Nói đi? Nói nữa về thằng Lâm đi, mợ”. Hắn giục thầm trong lòng… Hắn đang đuổi theo một người khách qua chơi nhà hắn. Người ấy bỏ đi rồi, mới có người giới thiệu với hắn, hắn mới nhớ còn có rất nhiều chuyện phải nói với khách. Chẳng hạn, khách đến nhà hắn làm gì? Chẳng hạn, nếu đuổi kịp, hắn cần vạch lại áo thằng Lâm, người khách ấy, xem có phải đúng nó có một nốt ruồi to ở mạng sườn tay phải như hắn không… Nhưng đường dài vun vút… Lại có người lính bồng súng ngăn chặn hắn. Chân hắn thì bủn nhủn như đã rút hết xương sống.

Mấy cốc rượu bây giờ mới thật ngấm hay sao. Hắn đang lảo đảo trên những con sóng ngầm với cảm giác sắp chết đuối. Cả vợ hắn ngồi nép dưới góc bàn thờ kia cũng sắp lún xuống nước. Hắn thương lắm. Nhưng hắn không giơ tay cứu được. Tiếng nói của vợ hắn vọng lên chới với nghẹn sặc:

– Mìn nào Việt Minh đặt. Chính bà, chính bố đặt để giết cháu, giết con đấy. Thế mà con tôi vẫn hiếu hạnh… Con tôi sợ đào ngũ ra ngoài kia thì bố bị liên lụy, bố ghét bỏ thêm… Nó vẫn biết từ bé nó không được bố thương yêu, nên cố chiều bố.

Hắn đã gần ngụp… Câu nói cuối cùng của vợ hắn bỗng như một tiếng gọi làm hắn lại cựa quậy đầu ngẩng lên, cố ngoi khỏi mặt nước… Hắn vừa chợt hiểu một điều rất lạ lùng. Mắt hắn liền bám lấy mắt thằng Lâm như bám neo bờ.

Thằng Lâm từ trong ảnh bước ra càng đến gần hắn càng bé lại dần dần, bộ binh phục thiếu úy trút đi đâu mất, mặc mỗi chiếc quần yếm, mẹ nó cẩn thận còn may hổng đít, dù nó đã lên sáu lên bảy. Nó đứng nép chỗ bậc cửa nhìn hắn, vẫn cái nhìn hắn ghét nhưng tay nó cầm chặt đôi guốc của hắn. Hắn vừa cởi giầy ra, nhanh như cắt, nó chạy vào đặt đôi guốc dưới chân hắn, rồi lại chạy vút ra nấp bậc cửa nhìn hắn như cũ.

Có một hôm – sao tự dưng hắn nhớ lại rõ rệt như đang diễn ra trước mắt – thằng Lâm vừa đặt guốc xuống, hắn nắm ngay nó, bế nó lên ống chân, đu đưa. Thằng Lâm cười khanh khách, nó ngửa mặt ra đằng sau nhìn hắn, đôi mắt long lanh ngời sáng. Cái vẻ ngạc nhiên rình mò biến đâu mất.

Nhưng chỉ có một lần ấy thôi, hắn âu yếm thằng Lâm. Rồi sau đó, đôi mắt thằng Lâm lại trở lại vẻ thản nhiên rình mò, đúng như trên ảnh kia. Bây giờ thì hắn vụt hiểu, vẻ rình mò của cái nhìn từ ngày bé, rình đúng lúc đặt đôi guốc vào chân bố, rình một dịp nữa để bố đu đưa trên ống chân.

Hắn khóc nấc lên. Con hắn chết đã hai ngày, lúc ấy hắn mới khóc…

THỤY AN

Nguồn:

Văn, tuần báo của Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, s. 26 (1.11.1957), tr. 4-5.

Chú thích:

(1) “Je suis fier … je suis fier…” (chữ Pháp): Tôi tự hào… tôi tự hào…

(2) “Je suis fier d’ avoir offer ten holocauste à ma patrie et la France un de mes fils” (chữ Pháp): Tôi tự hào đã hiến làm vật hy sinh cho nước Pháp và cho tổ quốc tôi một đứa con.

(3) Một tướng quý nhất trong tử vi.

(4) Một môn cờ bạc 1 ăn 35.

BICH-XU-RA, truyện ngắn Thụy An

BICH-XU-RA

Truyện ngắn của Thụy An

Tôi không biết chị ta vào bệnh viện đã bao lâu. Chiều kia, sau một trận ốm dài, được phép ra hóng mát ngoài hành lang tầng gác trên bệnh viện, nhìn xuống dưới sân, tôi đã thấy chị ngồi trên chiếc ghế đá, ngảnh mặt về phía tây mặt trời đang lặn.

Lúc ấy, những người cuối cùng vào thăm thân thích ốm đã ngảnh lưng lại cổng bệnh viện, các bác sĩ y tá lục tục ra về, bộ thường phục thay cho chiếc ao bờ-lu trắng, làm họ thốt nhiên thành xa lạ với bệnh nhân.

Không khí tĩnh mịch thường lệ của bệnh viện càng lắng xuống, chìm sâu trong cô quạnh hoàn toàn. Người bệnh trở về riêng mình với bệnh não của mình thấy buồn tủi như bị bỏ quên, đồng thời cũng kiêu hãnh được đối mặt với cái chết, kẻ thù tối hậu. Kẻ thù bỗng không còn đáng khiếp hãi nữa. Người bệnh thuận nhận cuộc chiến đấu, liền vận vào bên trong vẻ thản nhiên ê ẩm của mình, tất cả nghị lực để ghìm giữ cái chết không cho nó mượn bóng tối, thừa dịp mình cô quạnh mà sà xuống vừng trán, con tim.

Không biết bao nhiêu buổi chiều, tôi đã trải qua cuộc chiến đấu như thế. Bây giờ nhìn chị ta, trong cái khoái cảm mình đã thoát vòng, tôi càng rộn rịp niềm hồi hộp xót xa cho con người đang đương diện với cái chết, đang nghe luồng hơi tun hút, lạnh ngăn ngắt của nó phả gần mãi vào mặt mình. Một cái gì trong dáng ngồi của chị ta, trong cách chị ta nhìn mặt trời chiều, thổ lộ với tâm linh tôi chị ốm nặng, rất nặng.

Tôi quên chưa nói chị là người da đen. Nhưng giữa lúc Hà Nội tạm chiếm, nhan nhản những quân lính đủ các sắc da vàng, đen, trắng bị dụ đến Việt Nam đánh nhau thuê và chết thay cho quân đội viễn chinh Pháp, thì sự có mặt một phụ nữ da đen trong một bệnh viện không gợi chi tò mò, ngạc nhiên. Chị là ai? Từ miền nào ở Phi châu hay ở Ấn-độ đến? Đến để làm gì? Tôi chưa tự hỏi. Tôi chỉ chú ý tình trạng hiện giờ của chị ta. Ai đã ốm lâu tất đôi khi chợt thấy đời người quan hệ nhất, có ý nghĩa nhất, chỉ ở những phút giây mình tự giành với cái chết từng vi ti tế bào của mình.

Chị ta ngồi như vậy, xếp bằng tròn trên tấm ghế, thân mình quấn chằng chịt trong những lớp vải trắng toát, kéo lên phủ kín cả đầu, chỉ để hở mỗi khuôn mặt. Da mặt không đen cháy, đen nâu, mà xám màu chì, vầng trán còn bôi thêm một thứ phẩm hay phấn lam đục, làm khuôn mặt chị càng giống một phiến đá lầm lì nguội lạnh, không gợn một ý tình. Chỉ hai con mắt sâu thăm thẳm viền hàng mi rất cong, mở to như bám sát lấy cảnh vật, không muốn rời, không muốn khép lại là biểu lộ bên trong cơ thể cuộc chiến đấu với cái chết đang khốc liệt.

Nắng quái chiều hôm như một bó đuốc lớn, chúc xuống mà soi cuộc chiến đấu ấy giữa người với cái chết.

Lửa đuốc mòn dần, mặt trời tụt xuống thấp, xối lên mặt đất một thứ ánh sáng đỏ úa. Toàn thân người nữ bệnh nhân da đen cũng ánh lên sắc đỏ. Sắc đỏ tráng lên sắc da xám xanh, tráng đầy đôi mắt vẫn ngước nhìn không chớp vầng mặt trời lúc đó chỉ còn là một vệt đỏ trát lem nhem trên da trời. Hàng mi dài vun vút chạm sát chân mày tô thành vòng cong đậm nét, tối sẫm quanh mắt, cái nhìn càng nồng nhiệt càng gợi một vẻ gì thần bí, man rợ. Người như đang gằm gằm khoán ước với mặt trời một điều dữ dội.

Thình lình người rú lên một tiếng, một tiếng ngắn thảng thốt, rụng rời của kẻ sểnh tay đánh xổng con mồi. Bóng tối vừa nuốt nhanh xong những tia sáng cuối. Mặt trời đã tắt hẳn, nhưng không gian còn ngân dư âm tiếng rú của chị da đen, tiếp hơi cho tiếng rú của tổ tiên từ ngàn vạn đời xưa khiếp hãi trước cảnh mặt trời tắt trên sa mạc.

Một vài bệnh nhân yếu bóng vía nghe ra điềm gở lạ, khép vội cửa buồng.

***

Tôi đã biết rõ lý lịch của chị da đen. Không phải lý lịch nàng công chúa một ngàn một đêm lẻ, nhưng cũng là lý lịch của một phụ nữ từ tấm bé đầu đã quen gối trên võng cát sa mạc mà mơ những giấc mơ cũng mênh mông như sa mạc, cát rợn đẩy lùi xa mãi chân trời, rồi chợt giấc mơ bị hung thần ác quỷ bắt cóc mang đi.

“Nhà binh Pháp mang nó sang đây nó sang đây để…” – Bà Phước, người cho tôi biết về chị da đen, nói đến chỗ ấy, lúng túng, ngập ngừng. Bà chợt xấu hổ cho hành động dã man của những người mà dù đã tự coi như đứng ngoài đời, bà vẫn không thể không nhận là đồng bào, đồng chủng, hay bà chỉ có cái hổ ngươi của người phụ nữ phải nói đến một việc gì nhơ nhớp? Bà nói tiếp, giọng khấp khởi đã tìm ra được một cách tả bớt thô tục hơn cái công việc nhà binh bắt chị da đen phải làm: “Trong quân đội viễn chinh có lính Phi châu, đưa nó với chị em nó sang đây là dành riêng cho bọn ấy. Con bé này bị bệnh đau tim và mất máu đỏ, nhà binh mới gởi nó từ bên Gia Lâm sang đây chữa… nhưng bệnh trầm trọng lắm, không có hy vọng gì… Chỉ còn trông nhờ Chúa”. Bà làm dấu câu rút, mặt nghiêm lại, băn khoăn: “Nhưng làm thế nào cho nó nghe được tiếng Chúa? Nó không hiểu một tiếng ngoại quốc nào cả, và cũng không ai ở đây hiểu tiếng nó… Đến săn sóc cho nó cũng khó… Nó không chịu cho bác sĩ mó vào người. Tôi, nó cũng không cho mó… Nó thuộc một giống dân Phi châu nào đó rất kỵ người da trắng…”

Chuyện chị da đen, ở miệng bà Phước đến đấy là hết. Nhưng ra đến cửa, bà còn ngoái lại, dặn tôi: “Cầu nguyện cho nó nhé”.

Tôi suýt bật cười. Tiếng cười ắng trong cổ. Tôi cũng chợt thấy tôi phải làm một cái gì cho chị da đen, dẫu không phải là những lời cầu nguyện đi nữa. Làm gì? Nước mắt tôi chầm chậm ứa. Tôi muốn đến ngay phòng chị da đen, nắm tay chị, cám ơn chị từ phương nào lạc đến đây, chia sẻ đau thương chung của dân tộc tôi đương quằn quại dằng xé với nanh vuốt bọn ác quỷ… Tôi lại thấy như chính tôi có trách nhiệm với số phận chị, nó ràng buộc mật thiết lạ lùng với số phận của dân tộc tôi, của tôi… Tôi phải làm một cái gì? Tôi không hiểu từ đâu, tôi có cái ý nghĩ đột ngột ấy, nó day dứt tôi xa xót như vết thương bị lưỡi dao lia đi lia lại.

Trong bóng tối, những tầng gác bệnh viện đùn lên cao ngất, sừng sững án nền trời làm thành những tường lũy vây vây hãm lấy tôi. Ngoài hành lang, lũ ngoại nhân to lớn qua lại hung hãn như bọn lính canh, tiếng nói xi xô ồm ồm, rồi âm nhạc từ các tiệm khiêu vũ ngoài phố đổ vào dậm dật, cuồng khấu: rõ ràng tôi cũng như chị da đen bị bắt cóc lạc đến nơi này, ở giữa quê hương tôi mà thấy không còn phải quê hương tôi nữa. Chị da đen, chúng đã dùng vào những việc ô nhục, còn tôi, những mũi hàn nung đỏ của chúng cũng đã áp vào tâm hồn tôi những vết bỏng cháy rát, vết những con dấu từ ngàn xưa bọn chủ nô lệ vẫn đóng lên da thịt người nô lệ.

Không một đêm nào tôi lại mơ hoảng nặng nề như đêm ấy. Tôi mơ thấy tôi và chị da đen cố vần hòn đá tảng đè trên ngực chúng tôi. Máu đỏ từ miệng chị da đen tuôn ra như suối, thấm hết cổ hết vai tôi.

***

Những chiều sau, chị da đen vẫn ngồi trên ghế đá mà vọng mặt trời. Khôn mặt chị càng mảnh đi, sắc da bớt đen, xanh xạm thêm, thì đôi mắt càng sâu, cái nhìn càng xa vời vợi, tưởng chừng quyện sát lấy mặt trời. Chị nhìn thấy những gì trong trong ánh mặt trời tà, mà nhìn mãi chiều này qua chiều khác? Nhìn như từ ở đấy sẽ nhỏ xuống cho chị những giọt máu đỏ, như từ đấy sẽ phóng ra một sự xuất hiện nhấc bổng chị khỏi nơi đây, đưa về sa mạc sáng ngời cát trắng…

Tôi bỗng thấy chị giống nàng thiếu nữ trong câu chuyện thần thoại Tây phương, sắp bị Yêu Râu Xanh đem cắt cổ, hy vọng thoát chết trông cả ở người anh từ xa đến cứu, nên lát lát lại hỏi cô chị đứng trên cồn cát ngóng bóng người anh trong ánh chiều tà. “Chị An ơi, chị An ! (1) Chị có thấy gì không?” Đôi môi tôi bất giác thốt lên se sẽ câu hỏi tự thuở nào vẫn là câu hỏi của nhân loại, của những con người trong vòng tù hãm tâm hồn, tù hãm thể chất, khắc khoải thăm tìm phương giải cứu…

Giấc mơ đêm nọ thêm ám ảnh tôi, chị da đen và tôi cùng vần hòn đá tảng đè trên ngực… Bây giờ chị nhìn mặt trời và tôi nhìn chị, cùng vang vang trong tâm hồn câu hỏi: “Chị An ơi! Chị An! Chị có thấy gì không?”

***

Một hôm từ phía mặt trời chị vẫn kiên nhẫn nhìn mỗi chiều, xuất hiện một người lính da đen, từ từ đi vào sân bệnh viện, mắt dớn dác kiếm tìm. Anh nhìn thấy chị. Họ lăn sả vào tay nhau cùng rú lên tràng tiếng rú. Bệnh viện, người xung quanh, tất cả đối với họ đều như không có. Anh buông tay chị. Tôi tưởng sau phút giây tỏ tình sôi nổi, họ sắp nói với nhau những chuyện thương nhớ êm đềm. Nhưng không, họ buông tay nhau để dễ vật vã, kêu gào. Thân mình khổng lồ của anh da đen đứng trước mặt chị, quay đảo như bị ốp đồng, hai tay lúc vò đầu bứt tóc, lúc đấm ngực thùm thụp, những tiếng từ miệng anh thốt ra vẫn là những tiếng rú liên hồi. Chị dãy dụa trên ghế, trán dập vào thành ghế, miệng cũng không ngớt the thé… Hai người như không ai nghe ai nói gì kêu gì. Tôi nhìn họ, có cảm tưởng họ là hai vai kịch, mỗi vai một góc sân khấu thở than kể lể nỗi riêng, những nỗi riêng tách ra từ cái thảm kịch chung của hai người.

Anh chắc đang nói nỗi thất vọng của mình một sống trăm chết, từ chỗ bọn chỉ huy chúng nó đưa đi đánh nhau, trở về tìm người yêu, không thấy người yêu ở chỗ cũ, nỗi vất vả thăm dò từ nhà thương này qua nhà thương khác, nỗi đau xót gặp được người yêu thì người yêu võ vàng ốm yếu, gần kề cái chết. Chị thở than những chiều dài gượng cầm hơi sống, đợi anh. Chị ngồi thẳng lên, tay trỏ mặt trời, mượn mặt trời chứng giám.

Người tình quân nào giữa nỗi đau thương nhất, nghe người yêu nhắc sự nhớ nhung mình, cũng nguôi dịu dịu… Giọng anh nhỏ lại… Tôi nghe luôn láy âm Bích-xu-ra… Tên chị da đen chắc là Bích-xu-ra… Âm hưởng róc rách như nước giếng giữa lòng sa mạc, nhẹ nhõm và long lanh như một hạt cát… Aanh ngồi xuống cạnh chị. Chị cúi đầu trong cái dáng e lệ phục tùng… Tôi mỉm cười. Như một khán giả thuộc lớp, tôi biết đoạn này người đàn ông sắp làm cái việc ngàn đời là tặng một vật chi cho người đàn bà, để tỏ khi xa nhau vẫn âu yếm ân cần nhau.

Anh da đen thò bàn tay to tướng vào tận túi áo áp ngực, lúng túng rút ra một đồ vật trắng loáng loáng mà đưa đi đưa lại trước mắt người yêu. Tôi không kịp nhìn vai nữ. Trọng tam vở kịch thốt rời hai vai chủ động, bắn sang tôi… Cổ họng tôi tắc nghẹn, mắt nghe có lửa cháy nóng bỏng. Món đồ người lính da đen cầm trên tay rỡn người yêu là một bộ xà-tích bạc, lồng quả đào, lồng mấy chiếc khoá đồng. Lửa trong mắt tôi bốc lên ngùn ngụt… ánh lửa chập chờn xác những bọn quỷ trắng quỷ đen lông lá xồm xoàm cúi xuống dằng nốt bộ xà-tích bạc còn vướng ở một mảnh quần sót trên xác chết. Có lẽ tôi đã không khóc nổi ra tiếng, mà chỉ ừng ực trong họng, trong tim.

Thế rồi… có ai đã gặp trạng thái đang độ tột cùng của sự đau đớn, chợt có cảm giác cuộc đời quanh mình đã biến đâu mất, chỉ còn độc trọi mình bơ vơ với nỗi đau đớn – cái bơ vơ so với đau đớn còn ghê rợn gấp vạn – vội vàng níu lấy bất kỳ ngoại cảnh nào của đời để chứng thực đời vẫn dính liền với mình, ai đó mới hiểu tại sao tôi lại còn nhìn lại cặp nhân tình người da đen, đúng hơn, nhìn Bich-xu-ra, Bich-xu-ra giữa lúc biểu hiện những tình cảm cực độ dằn vặt. Tay chị níu khít vai anh, khi tự dằng xé ngực, khi giơ tay lên trời chỉ trỏ tứ phía. Chị vừa thở dốc vừa nói, hối hả, nhanh biên biến như tranh cướp lời với chính ngay hơi thở của mình, kẻo sợ bất thình lình nó tắt mất. Đôi mắt chị không một ánh nước mắt, bỏ mặt trời không nhìn nữa, nhìn anh, khẩn thiết lạ lùng. Anh ngẩn mặt nghe, bàn tay thỉnh thoảng vò món tóc loăn xoăn, mắt cúi xuống, tránh mắt chị, nhìn đăm đăm dưới đất như dõi một vật gì. Tôi nhìn theo. Dưới đất chùm xà-tích bạc nằm đấy từ bao giờ.

Tôi thốt hiểu toàn vẹn lớp kịch tôi mới chỉ hiểu một nửa qua động tác bên ngoài của hai vai. Bich-xu-ra nhìn thấy bộ xà tích bạc, nghĩ liền ngay đến cuộc đời đánh nhau thuê của người yêu… Chị ném bộ xà tích xuống đất. Đã bao nhiêu người đàn ông đồng chủng của chị đêm nay còn gợi tình quê hương trong cánh tay chị, nhưng đêm mai và mãi mãi không bao giờ nữa còn trở lại bên gối chị… Họ chết giữa một trận đánh nhau thuê trên một đất nước có lẽ họ cũng không biết đến cả tên gọi. Thịt xương họ vùi dưới đất lạ và cũng vùi theo với họ, dưới đất lạ, từng mảnh hy vọng của chị… Bich-xu-ra… Tên chị là giếng nước sa mạc, là hột cát sa mạc, Bich-xu-ra phải về với sa mạc. Những người đàn ông kia, người nào cũng hứa với chị như thế, rằng họ sẽ đem chị về sa mạc. Chị hy vọng vào họ lắm, vì họ cũng nhớ thương sa mạc như chị. “Anh ôi! Nếu anh còn đi đánh nhau cho chúng nó anh sẽ lại chết như những người kia. Anh cũng biết chứ, tha hương đất lạ, chết mất của nhau một người đồng chủng, đồng hương, đau đớn xót xa tới độ nào. Huống nữa anh lại là người tôi yêu… Không, không, anh đừng đánh nhau nữa. Tôi không muốn đến lượt anh lại chết. Anh chết, ai đưa tôi về sa mạc?”

Bich-xu-ra đã nói như thế…, đã khẩn cầu người yêu như thế… Từng lời như giọt nước thấm tí tách trong lòng anh, tụ dần thành dòng nước mắt chảy chan hòa trên đôi má đen cháy… Chiếc giày đinh nhè nhẹ dẫm lên bộ xà tích… Mặt trời như một bọng máu đỏ lơ lửng sắp đổ tóc xuống đầu ai…

Cặp nhân tình ôm nhau khóc… Tay Bich-xu-ra dằng, bứt bộ quần áo nhà binh của tình nhân. Những tiếng nức nở của chị, tôi nghe thành điệp khúc láy đi láy lại: “Đừng đánh nhau cho chúng nó nữa! Đưa tôi về sa mạc! Đưa tôi về sa mạc!”

***

Bich-xu-ra chết ngay đêm ấy. Chết không một ai hay biết, chết trong cái dáng điệu truyền thống của những người sa mạc: tự kéo áo, liệm kín mặt. Hôm sau, bà Phước băn khoăn: “Tôi thật có tội với Chúa, làm mất một linh hồn của Chúa… Nếu tôi kịp biết lúc nó sinh thì mà rửa tội cách thiêng liêng cho nó…”

Bà chợt nhìn mặt tôi. Mặt tôi để lộ một vẻ gì khiến bà vội vã bỏ đi không kịp nói hết câu.

Tôi bỗng lắng nghe. Dưới sân vẳng lên những tiếng kêu rống. Tiếng anh da đen. Xác Bich-xu-ra người ta đã đưa đi đâu từ lúc trưa. Anh da đen đến không được nhìn thấy thi thể người yêu. Anh chạy vung khắp sân, kêu gào, đập đầu chan chát xuống ghế đá, đấm ngực, dằng xé áo quần. Con người to lớn hôm qua, giờ tọp lại bụng nhụng như một cái túi đã dốc hết chứa đựng bên trong… Anh bắt đầu đập phá, trước hết là những luống hoa. Bác sĩ, y tá ùa ra ngăn cản anh. Anh đứng vùng dậy lăm lăm lay nhổ tấm ghế đá…

Mặt trời lặn gần hết… Nền mây chỉ còn vương những vệt đỏ sẫm rời rạc, như những vệt máu ở một con vật bị thương nhễu ra… ròng ròng trên đường về ổ.

Đôi mắt tôi lạnh khô… Tôi phải làm một cái gì… Vần hòn đá tảng đè trên ngực. Lại một lần nữa tôi chiến đấu với cái chết.

THỤY AN

Nguồn:

Văn, tuần báo của Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, s. 2 (17.5.1957), tr. 8, 7.

Chú thích:

(1) Tên một nhân vật trong truyện Yêu Râu Xanh (nguyên chú của tác giả).

 

 

Một truyện ngắn cho thiếu nhi của THỤY AN: CHUYỆN BỐ, MẸ, BÉ VÀ CON BÚP BÊ

Bố chải tóc cho Bé xong, bèn ấy cái gương giơ trước mặt Bé: “Con gái của bố xem này, có xỉnh xình xinh không nào?” Bé nhìn vào gương, lắc đầu bên phải, lắc đầu bên trái, ngoe nguẩy hai cái đuôi sam tí teo, ngọn thót như đuôi chuột, có buộc hai chiếc nơ đỏ, giống như hai cánh hoa rất to, đóng khuôn lấy mặt Bé. Bé nhoẻn miệng cười, vẻ bằng lòng lắm.

Bố vẫn chịu khó lồng ngón tay vào cái móc sau chiếc gương, giữ cho Bé soi. Bé nghĩ: “Phải vẽ con bé trong gương này. Một khoanh tròn to là mặt, hai chấm tròn nhỏ là mắt, một vạch dài xuống là mũi, một khoanh tròn vừa là miệng. Con bé nó lại cười, mình phải vẽ cả mấy chiếc răng. Còn hai cái nơ đỏ nữa, lấy gì mà tô màu?” Thò hộp bút chì nào mẹ mua cho, Bé cũng làm cùn cụt. Bé nhớ ra rồi, Bé bỏ gương chạy tót đến bàn, vơ chiếc bút chì đỏ to gộc của bố, thủ luôn vào nách rồi mới quay ra hỏi bố: “Cho Bé mượn chiếc bút chì đỏ bố nhé”. Bố ngần ngừ: “Ừ, nhưng mà hãy để đấy, còn đi chơi với bố nữa kia mà”.

Lập tức Bé bỏ rơi cái bút chì và quên ngay cả con bé trong gương định vẽ. Bé nhảy cẫng lên: “Rồi bố mua kem cho Bé, bố nhớ!” Miệng Bé tắc lẻm, đánh lưỡi choẹt một cái: Kem thì còn phải kể. Cắn khấc một cục, buốt lạnh lưỡi, rụt cả đầu cả cổ, cục kem tan dần ngọt lự… Thật không có gì bằng kem, vừa được ăn lại vừa được chơi với nó. Bố cũng thích kem lắm nhớ! Hai bố con hai que kem ngồi ở ghế bờ hồ, nhẩn nha… Chao! Những lúc ấy sao mà Bé yêu bố thế. Bé không cần mẹ. Mẹ cứ việc đi công tác xa nhà bao nhiêu đêm Bé cũng không cần. Kem và Bố đủ rồi…

Mẹ thì ghét kem lắm. Mẹ bảo: “Bé ăn kem, chỉ tổ té re”. Nghĩ thế, mặt Bé đỏ đỏ. Thôi, thèm vào, chả nhớ chuyện xấu hổ ấy. Bé níu chặt bàn tay Bố, thỏ thẻ: “Hôm nay Bố mua kem xanh Bố nhé!” Bố trả lời: “Bố còn mua cho Bé một thứ thích hơn kem cơ. Đố Bé biết là cái gì nào?” Trí khôn ngắn ngủn của Bé đoán làm sao được. Bé bảo: “Con chỉ thích kem thôi”. Bố quệt vào má Bé: “Con nhà khờ dại quá”.

Hai bố con lại ngồi trên ghế trông ra hồ. Bố cũng mua kem cho Bé như mọi khi, chiếc kem xanh mà Bé đang ao ước. Nhưng khác mọi khi, hôm nay Bố không ăn. Bé nghĩ: Hay tại Bé chọn kem xanh, Bố không biết ăn chăng? Lập tức, Bé thẩy que kem giả chú bán kem: “Bé ăn kem “tắng” cơ, cho bố ăn mấy”. Bố hiểu lòng thảo của Bé, bố ấn lại que kem xanh vào tay Bé, hôn chụt má Bé, hít hà: “Con gái tôi, con gái tôi, khôn láu quá!” Bé chẳng hiểu ra sao nữa. Hồi nãy Bố vừa chê Bé dại khờ xong.

Bố ngồi bên cạnh Bé, không ngớt ngắm Bé, Bố tư lự lắm. Bé có vẻ rất bằng lòng, rất sung sướng với chiếc kem. Bé không còn một đòi hỏi nào, một ước mơ nào khác! Vậy thì Bố có nên cứ mua cho Bé cái mà Bố bảo là còn “hơn cả kem” không? Bố bỗng thấy những nét phả phê hớn hở trên mặt Bé mờ dần, nhường chỗ cho những nét phụng phịu thèm muốn hôm nào Bố và Mẹ dắt Bé đi xem búp-bê Tiệp-khắc ở cửa hàng mậu dịch Tràng Tiền.

Lần thứ nhất Bé nhìn thấy những búp-bê to và đẹp đến thế, biết thức biết ngủ. Bé thích nhất cái con bê có hai đuôi sam vắt vẻo như Bé. Nó cũng có áo mới váy mới bằng vải hoa như Bé. Bé bảo Mẹ mở tủ lấy bê cho Bé mang về. Mẹ sùy: “Phải có tiền mua chứ?” Bé trỏ vào túi tay của Mẹ: “Tiền trong ấy đấy thôi”. Bố bảo: “Ngần ấy không đủ, phải có nhiều hơn thế”. Bé đứng ngẩn người, gọi thầm bê: “Bê ơi! Bê ra với tôi… tôi cho ăn kem”. Bê bị nhốt trong tủ kính, không nhúc nhích. Bé thương bê quá, thèm bê nhiều hơn thèm kem. Nhưng phải nhiều tiền mới mua được bê thì… chịu thôi.

Những việc những lời xảy ra quanh Bé, lọt vào tai Bé đã làm Bé biết được rằng: những cái gì nhiều tiền thì Bố, Mẹ chưa mua được, còn đợi để chính phủ giàu đã, nhân dân giàu đã. Đến Bé muốn ăn hai chiếc kem, Bố cũng bảo: “Hạn quà của con chỉ có một trăm thôi, đợi chính phủ giàu, nhân dân giàu, con tha hồ ăn”. Bé quay lại hỏi Bố: “Bố ơi! Thế bao giờ chính phủ giàu, nhân dân giàu hả Bố?” Bố thuận miệng đáp: “Ít nữa thôi”.

Ít nữa đối với Bé là lâu lắm. Bé thì muốn có bê ngay bây giờ. Bé cứ đứng thần ra ngắm, Bố Mẹ giục không đi. Mẹ sốt ruột dọa: “Này người ta sắp đóng cửa hàng đấy. Hay Bé ở lại đây một mình với búp-bê”. Bé yêu bê thật, nhưng ở lại đây một mình với bao nhiêu cái lạ này, lỡ lại bị nhốt vào cái tủ như bê thì Bé chịu thôi, sợ lắm. Bé đành thui thủi theo Bố Mẹ đi. Chỗ lông mày giao nhau ửng đỏ, triệu chứng Bé chỉ chờ cơ hội là khóc.

Về nhà, Bé cũng còn ngơ ngẩn nhớ búp-bê, ôm cái gối dài của Bé nựng nịu. Tối đi ngủ Bé không rời con búp-bê tưởng tượng. Bố Mẹ suy nghĩ lắm. Mẹ chép miệng: “Tội nghiệp nó thèm con búp-bê quá. Chắc ngủ mê cũng thấy”. Vì chuyện con búp-bê, Bố Mẹ mới nhận ra một điều là lấy nhau chín năm rồi, đã có mụn con là Bé đấy, lên bảy tuổi, đã biết về nhau tất cả mọi nỗi cực khổ vất vả, nhất là từ trong cuộc phát động quần chúng hồi đầu năm ngoái ở quê nhà, cả Bố cũng được về phối hợp đấu tranh, thế mà vẫn còn một cái khổ Mẹ quên chưa nói với Bố.

Mẹ kể: “Chả phải bây giờ ra Hà Nội công tác, em mới được ngắm búp-bê to như thế đâu. Em nhìn thấy từ ngày xưa, em chỉ nhỉnh hơn cái Bé nhà ta một hai tuổi. Nhìn con búp-bê của con lão chủ đồn điền ấy mà. Bố con nó về chơi đồn điền, búp-bê để ngoài ô-tô hòm, cửa kính đóng kín. Em trèo lên bệ xe nhìn vào. Con búp-bê to như đứa bé mới đẻ. Em nghĩ giá được bế một cái, nhịn ăn cả tháng cũng được. Bất đồ, mải ngắm thì bố con thằng chủ điền ra, mở cửa xe đằng trước, leo lên. Em chỉ còn kịp ngồi thụp xuống bệ, chưa nhẩy được ra thì thằng chủ mở máy cho xe chạy, hất em ngã sóng soài xuống đường, đầu va vào đá toạc mảng to, còn cái sẹo đây này”.

Mẹ nhấc bàn tay Bố luồn qua tóc sau ót, sờ chiếc sẹo, tóc không bao giờ mọc lên nữa. Mẹ nghe thiếng ực ực, không biết có phải tiếng Bố khóc hay tiếng Bé thổn thức trong mơ. Kết quả câu chuyện là gần về sáng, Bố Mẹ bảo nhau: “Thôi, kỳ truy lĩnh này, hai vợ chồng thế nào cũng có hai phiếu mua hàng mậu dịch, sẽ nhịn một phần mua cho Bé con búp-bê. Con đã có áo hoa, giầy da, nơ buộc tóc. Con còn phải có búp-bê chơi”.

Bố Mẹ quyết định thì bên gối Bé thiêm thiếp giấc nồng. Nhưng càng gần ngày được nhận truy lĩnh, Bố thấy Mẹ hình như có vẻ giãn quyết định ra. Không hẳn là Mẹ bảo không mua búp-bê cho Bé nữa, Mẹ chỉ dáo lên những thứ cần phải mua với hai phiếu mua hàng, đại để như vải, ấm nhôm, thau chậu. Mẹ bảo: “Rồi sắp một cái thau cũ không đủ đâu”. Tính những thứ Mẹ muốn mua thì đến bốn phiếu cũng hết. Bố vốn cái tính tẩm ngẩm, cứ để cho Mẹ toan tính. Bố cũng không nhắc gì chuyện con búp-bê hai người đã ước hẹn thầm với Bé.

Cho đến chiều nay, Bố về nhà với tấm phiếu mua hàng trong túi. Bố chải đầu làm dáng cho con gái, dắt con gái đi, lén Mẹ. Thế nào Bố cũng mua cho con gái Bố con búp-bê. Bố không sợ người khác mua mất. Chị bán hàng đã bảo Bố: “Mậu dịch biết thế nào cũng có nhiều người bố mua búp-bê cho con nên mậu dịch đặt mua bên Tiệp-khắc về nhiều lắm”. Bố chợt mỉm cười: “Một nông dân Việt Nam mua búp-bê của Tiệp-khắc cho con chơi. Du thật. Chuyện ấy xưa kia có ai dám nghĩ đến không?” Bố bảo Bé: “Đi con!” Bé lơn tơn cạnh Bố. Ăn hết que kem rồi, nghe chân đi kém dẻo dang. Bố nhấc bổng Bé lên như nhấc bổng chiếc ba-lô. Hai bố con vào mậu dịch.

Bé nhẩy cẫng, trụt khỏi tay Bố. Con búp-bê của Bé vẫn ở trong tủ. Khác cái, lần này Bé đứng mãi chắc mỏi chân, đã ngồi xuống rồi, chân duỗi dài ra như đang chơi nu na nu nống. Bé dán mũi vào cửa kính, tìm chuyện nói với búp-bê. Chợt một bàn tay lạ kéo Bé lùi xa cửa kính, thò tay vào trong tủ, nhấc đúng bê của Bé ra và đặt vào tay Bé. Bé ôm lấy không chút ngỡ ngàng. Bé nhìn Bố khoe: “Bố ơi! Cô này cho con búp-bê”. Cô bán hàng cười: “Bố em mua cho em đấy!” Bé cuống quýt giục Bố: “Về bố, về bố, về khoe mẹ!”

Hai bàn tay Bé khư khư ôm búp-bê vào ngực. Có lúc Bé quên cả Bố đi bên cạnh. Bé còn mải nói chuyện với bê. Rằng: “Bê về nhà phải ngoan nhé, đừng quấy, mẹ hay mắng lắm. Khi nào mẹ mắng thì túm lấy quần bố. Mẹ đi công tác đã có bố ở nhà, bố đi công tác đã có mẹ, cả mẹ, bố cùng đi thì đã có các cô các chú, nhiều cô chú lắm”.

Bé mới nói chuyện đến đấy thì đã lại đến bờ hồ rồi. Bố nói: “Nghỉ một tí Bé ạ”. Bé đồng ý ngay, được dịp cho bê xem bờ hồ. Bê ở lâu trong tủ kính chắc nóng lắm. Bé đưa bê ra bờ cỏ sát hồ. Hai chị em ngồi giãi thẻ, ngoảnh mặt ra hồ ngắm cảnh.

Bố ngồi xuống thì lấy tay vỗ đùi, một cử chỉ đã thành thói quen từ khi thương tích ở đùi của Bố bị trong một cuộc xung kích ở đồn Tây được mổ ra lấy đạn đã lành. Vết thương đồng thời cũng đổi Bố từ một chiến sĩ chiến đấu thành ra một thương binh chuyển ngành và làm cho Bố đi một quãng đường lại thấy mỏi mỏi. Nhưng bây giờ Bố ngồi nghỉ, còn vì bỗng thấy ngại gặp Mẹ, ngại nghe Mẹ phê bình. Phê bình đúng hẳn chứ. Thực tế Bố Mẹ đã đến mức mua đồ chơi đắt tiền hàng vạn bạc cho con đâu. Kế hoạch 56 chưa xong, mọi người còn thắt lưng buộc bụng, nhà còn thiếu đồ thiết dụng… Một vạn bạc là … hai yến rưỡi gạo. Bố nhìn Bé đang cười rúc rich với búp-bê. Bố bèn nhẩm lại những lý lẽ đanh thép để tự bào chữa: cái sẹo trên đầu Mẹ, vết thương ở đầu gối Bố, tất cả để cho Bé được sung sướng. Bố không ngại gặp Mẹ nữa.

Bố vừa toan gọi Bé đi về, thì Mẹ từ đâu ùa tới, đặt phịch một gói lên lòng Bố, tíu tít:

–  Về nhà không thấy bố con đâu, biết ngay lại chỉ ra đây. Anh mở xem…

Chưa hết câu, lại gọi Bé:

–  Bé ơi! Lại đây! Lại đây!

Bé ôm búp-bê khệ nệ bước lại. Mẹ nhìn búp-bê trên tay Bé, đờ người, thốt tiếng: “Ơ hay!…” Bố mở gói ra thấy con búp-bê cũng “Ơ hay!” Duy có Bé không ngạc nhiên gì cả, reo một tràng dài: “A! Cả mẹ cũng mua búp-bê cho Bé nữa!” Bé điềm nhiên dang tay ôm nốt con búp-bê mẹ vừa mang lại, đi về chỗ cũ, đặt song song xuống cỏ. Con Bố bên này, con Mẹ bên này. Sao hai con giống nhau thế, Bé lầm rồi đây này. Bé thích con bê của Bố hơn. Nó đã thân với Bé trước. Bé phải làm thế nào để khỏi lẫn với con của Mẹ? Bé nghĩ nhạy lắm. Bé sẽ tháo nơ đỏ của Bé buộc sau lưng cho bê Bố làm khăn quàng đỏ. Bé bảo con bê Mẹ mua: “Còn mày đến sau phải quàng khăn đỏ sau nghe chưa?”

Bé liếc nhìn Mẹ, Mẹ mà biết thì Mẹ giận đấy. Mà Mẹ đang giận thật, có điều là đang giận Bố chứ không phải giận Bé. Mẹ nói lầm bầm. Bố cũng nói lầm bầm. Bé nghe loáng thoáng những lời gắt gưởi: lãng phí, đem giả đi, đừng trẻ con, mua rồi còn đem giả, chiều con lắm vào.

Nghe đến câu chiều con thì Bé chán quá, không nghe nữa. Vì Bé nghĩ mãi rồi. Lúc thì là Bố cự Mẹ thế, lúc thì là Mẹ cự Bố thế, nguy hiểm là có lúc cả hai cùng nhận lỗi với nhau đã chiều Bé. Thật làm Bé nghĩ phen này có dễ cả Bố cả Mẹ cùng sẽ ghét mình. Nhưng chỉ một lát, phi Bố tất Mẹ lại ôm Bé nựng nịu, quà quà bánh bánh cho Bé. Người lớn, chịu, không hiểu họ ra sao cả.

Bố Mẹ thôi không lầm bầm nữa, thì lại thừ ra, mặt Bố cau lại, mặt Mẹ đỏ phừng phừng. Hai bê của Bé mà cũng giống thế kia thì xấu quá. Bé không thích đâu. Bé nhìn hai bê thần người nghĩ ngợi: Nếu hai bê cãi nhau thì Bé làm thế nào nhỉ?

Bé nghĩ một lát, đứng phắt dậy ôm một con – bây giờ thì con của Bố hay của Mẹ cũng chẳng hề gì. Bé phăng phăng chạy lại trước mặt Mẹ, đặt vào lòng Mẹ nói một hơi:

– Hai con bê này nó cứ cãi nhau, con không dỗ được, con giả mẹ con này để mẹ cho em bé trong bụng.

Bố Mẹ nhìn nhau một giây rồi cùng phá lên cười.

Tiếng cười của Bố Mẹ làm xao gợn cả sóng Hồ Gươm. Mấy con chim trên cành vội cất cánh bay, đánh rơi lộp độp trên đầu Bé những đốm trắng trắng… Khách qua lại lây cái cười của Bố Mẹ cũng nhoẻn miệng cười theo.

THỤY AN

Nguồn:

Trăm Hoa, loại mới, Hà nội, s. 5 (25.11.1956), tr. 6-7.

NỮ TÁC GIẢ THỤY AN VIẾT VỀ ĐIỆN ẢNH TÂN HIỆN THỰC

NHÂN XEM PHIM “ANH GẮNG NUÔI CON”

ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ TÂN HIỆN THỰC

 

Cuốn phim Nhật Anh gắng nuôi con chiếu tại Hà Nội giữa lúc văn nghệ ta đang có hiện tượng sôi sục dòng nhựa sống để chuẩn bị kịp tiết “tram hoa đua nở”, đã gây khá nhiều dư luận.

Có bạn đọc ở báo Nhân dân cho rằng “cuốn phim dù thể hiện một thực trạng nào đó của xã hội Nhật cũng không có tác dụng giáo dục gì cả cho nhân dân ta”. Nhân đó tôi muốn đặt lại vấn đề chủ nghĩa tân hiện thực có còn tác dụng trong một nước đang quyết tâm tiến lên xã hội chủ nghĩa nữa không? Và nếu có còn thì do giá trị đặc trưng nào của nó? Nói một cách khác, trong trăm hoa đua nở của nền văn nghệ ta, tân hiện thực có còn là một bông hoa cần thiết, được ta bón sới trong trăm hoa đua nở kia không?

Anh Phan Vũ trong báo Nhân Văn số 2 quả quyết đặt phim Anh gắng nuôi con vào loại tân hiện thực vì nó “thể hiện tất cả thực trạng của một xã hội, tất cả khát vọng của một dân tộc thu vào một tấn kịch gia đình” và anh tìm thấy trong phim “một phương pháp thể hiện chủ đề, thể hiện tình cảm bằng cuộc sống, bằng con người, bằng chủ nghĩa tân hiện thực, bằng chủ nghĩa tượng trưng”.

Để tới nhận định của anh Phan Vũ, trước hết chúng ta hãy thỏa thuận lại cùng nhau về điểm: đã có một khuynh hướng tân hiện thực xuất hiện trên văn nghệ, phát sinh từ sau cuộc đại chiến thứ hai, và đặc biệt nảy nở phong phú nhất là ở các nước bại trận, vừa bị khổ nhục về vật chất, vừa bị khổ nhục về tinh thần, chồng thêm ách chiếm đóng Mỹ.

Tiên phong của khuynh hướng tân hiện thực là Ý với những cuốn phim Miếng cơm đau khổ, Kẻ cắp xe đạp, v.v. Cả một loạt phim thể hiện cảnh sống của nhân dân Ý dẫy dụa với miếng ăn hàng ngày, với ám ảnh món nợ Mỹ “lên tới 600 tỉ đồng lia, đổ đồng mỗi dân Ý nợ 15.000 lia, và phải trả lãi hàng năm 1.500 đồng lia” thêm ám ảnh “không biết tất cả sẽ phá sản lúc nào” (Kẻ cắp xe đạp). Thể hiện bằng cách thật tàn nhẫn, dùng đủ phương tiện kỹ thuật để làm nổi bật cái tàn nhẫn chua xót của hiện trạng xã hội, nhưng không đưa một đường lối nào thoát cả. Cho nên ngay hồi tân hiện thực Ý cực thịnh, nhiều dư luận văn nghệ thế giới phê bình nó chỉ là một sự đổi tên của hiện thực đơn thuần, hiện thực phê bình. Giới điện ảnh chuyên môn Mỹ sợ sự cạnh tranh của phim Ý chỉ công nhận phần tân hiện thực của điện ảnh Ý ở chỗ đã táo bạo dùng khung cảnh ngoài giời, dùng người hàng phố để dàn cảnh và đóng các vai các nhân vật trong phim.

Nói sao thì nói, chính cái cách thể hiện tàn nhẫn thực trạng xã hội, không nhân nhượng chút nào thần kinh của con người, đã tạo nên đặc tính của tân hiện thực Ý (phim Đồng lương khủng khiếp của Pháp có thể là một ví dụ, vì tuy là phim Pháp, nhưng mang sắc thái rất trung thực của tân hiện thực Ý) song lại cũng cái đặc tính ấy, như con dao hai lưỡi, đã đưa tân hiện thực Ý đến chỗ bế tắc: tới một lúc, ngay chính nhân dân Ý cũng không hoan nghênh những cuốn phim phản ánh đời sống day dứt của họ. Tâm lý đơn giản là: họ không muốn sống lại một lần thứ hai nữa với những nhân vật trên màn ảnh cuộc sống thực tế đã quá ư đau khổ của họ. Tâm hồn của họ muốn được nhẹ nhõm hơn. Họ không muốn như một nhà phê bình đã nói lên về cuốn tiểu thuyết trứ danh Chùm nho giận dữ : “Xem xong thì người xem chỉ còn ba con đường: đi tu, tự tử hay làm cách mạng”. Họ không muốn đem cuộc đời họ thử thách rủi ro như thế.

Giữa lúc đó, tân hiện thực của Nhật xuất hiện trên một loạt phim mà Anh gắng nuôi con là một; tân hiện thực Nhật khác với Ý ở điểm chủ chốt: tin tưởng ở tương lai, do đó tìm được một ý nghĩa cho những sự chịu đựng khốn khổ của hiện tại. Tiếng thở phào mà tân hiện thực Ý muốn có sau cơn dằn vặt, đã lên tiếng ở trong tân hiện thực Nhật. Đó là lời Mễ-thái-lang nằm bò trên đường tàu dặn con ngoan ngoãn cố gắng học hành. Đó là tiếng khóc oa oa của đứa trẻ thơ trước Lã Sinh Môn, sau khi những người núp mưa trong đền đã được nghe kể một câu chuyện kinh khủng chán chường… Nhưng tương lai đó được quan niệm như thế nào? Các cuốn phim Nhật in không nói và bởi thế nó mới còn trong tình trạng tân hiện thực. Tuy nhiên qua cuốn phim Anh gắng nuôi con, qua hành động Mễ-thái-lang từ chối viện trợ của Liễu-lang, ta cũng biết cái tương lai đó phải tự tay ta xây dựng, cái tương lai đó phải xây dựng bằng sự rút kinh nghiệm của những tang tóc đã qua, bằng một sự tha thứ lớn những lầm lỗi đã rồi của kẻ ruột thịt, bằng sự tự vệ chánh đáng đối với kẻ nào định xâm phạm lòng tự trọng tự hào của ta, hay như trong phim Lã Sinh Môn, bằng một lòng thương yêu vô bờ bến thể hiện trong cử chỉ kẻ tiều phu nghèo nhặt lấy đứa bé đẻ hoang. Khuynh hướng tân hiện thực của Nhật còn được lồng trong một đặc tính Á Đông hay dùng những sự việc để ngụ ý, để tượng trưng, nên địa hạt sử dụng của tân hiện thực Nhật rất phong phú, rộng rãi: không cứ phải tình tiết to lớn mới thể hiện được một tư tưởng quan hệ (Anh gắng nuôi con) và kho truyền thuyết cũ kỹ về thời gian về không gian vẫn ứng dụng cho những điều muốn nói lên của thời đại (Lã Sinh Môn, Tướng cướp và gái đẹp).

Cũng do đặc tính ngụ ý tượng trưng, tân hiện thực Nhật trở nên một vũ khí tấn công ngay kẻ địch đang chiếm đóng đất nước mình (trong phim Anh gắng nuôi con, Liễu-lang tiêu biểu cho Mỹ, một tên cờ bạc bịp nhảy lên làm nhà mô phạm đòi dạy Nhật dân chủ hóa kiểu Mỹ, lại lăm le đem viện trợ đặt lại tương lai Bình) từ nhiệm vụ tố cáo thảm thiết của tân hiện thực Nhật tiến lên một bước có giải quyết bằng hướng tin tưởng vào tương lai và trong quá trình đi tới sự tin tưởng đó đã có nhận thức kẻ thù chính, có tự biến thành công cụ đấu tranh trực tiếp với kẻ thù.

Một khuynh hướng tân hiện thực như vậy, tôi nghĩ, trong hoàn cảnh xã hội tiến lên xã hội chủ nghĩa như xã hội ta giá trị không phải chỉ ở điểm “thị chứng thời đại”, một giá trị “tĩnh”. Nó còn có vai trò động lực sinh hoạt xã hội của nó. Chúng ta vừa thoát khỏi một xã hội cũ mà những sự xấu xa chưa phải là chúng ta đã ý thức hết quả quyết rời bỏ, mà lẫn lộn trong những sự xấu xa đó còn những bản chất trường tồn của con người chúng ta phải lọc lại, thì tân hiện thực vẫn là một bông hoa chúng ta phải bón sới, trong vườn hoa trăm bông đua nở của chúng ta.

THỤY AN

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 142 (11.10.1956), tr. 4-5, 9.

MỘT BÀI THƠ CỦA NỮ TÁC GIẢ THỤY AN, 1957

NHÀ TIỀN, XUÂN ẤY

Nhà pha Hỏa Lò chật chỗ

Chúng đưa anh xuống Nhà Tiền

Giữa lúc năm tàn tháng lụi

Thời gian gợn sắc màu riêng.

Cánh cửa xà lim khóa chặt

Khôn ngăn đồng vọng tiếng đời

Tàu điện Hà Đông – Cầu Giấy

Leng keng chuông giục liên hồi

“Gánh nặng, khoan, chờ tôi mấy!”

Tàu đông chen vã mồ hôi

Chiếc mũ ông Công bẹp dúm

Vàng hồ xô xếch nhiều thoi

Bô già hơi men chuếnh choáng

Hầu bao tụt trễ bên sườn

Chú chích lăm le giở ngón

Phen này chắc bẫm mồi ngon…

Bô bỗng bổ choàng bổ choảng:

“Ơ này tay ải tay ai?”

Cùm sắt cựa mình loảng xoảng

Ròn tan theo tiếng anh cười…

Chú gác nhòm qua lỗ cáo:

“Đời tù còn hãy nhởn nhơ!”

Anh đáp: “Tôi vừa mơ dạo

Phố phường đẹp như bài thơ”

Chú vội lia viên giấy nhỏ

Vừa tầm anh vói bàn tay

Lảng bước, chú cười ngẫm nghĩ:

“Những người cộng sản đến hay!”

Tiếng cười ruổi theo miệng súng

Ruổi theo gót sắt giày đinh

Anh nuốt tròn viên giấy nhỏ

Ngon như nuốt chiếc hôn tình.

Đâu cũng nhân dân ta cả

Cũng trong đồng chí chúng mình

Thư báo: “Ngày mai anh thoát

Gông cùm. Ra khỏi xà lim

Rồi một bà con thành phố

Tặng quà các bạn tù binh

Trại dưới, trại trên đồng ý

Nhận quà, đại biểu là anh”.

 

Đang vui anh sầm nét mặt

Có gì gờn gợn nơi tim

Tưởng lúc quà trao, tay nhận

Nhìn nhau, mắt có nỡ nhìn?

Thủ đô mấy năm giặc đóng

Lòng người liệu có còn nguyên?

Các mẹ có còn đôn hậu?

Còn chăng em, nét dịu hiền?

Hay đã nhuốm màu khinh bạc

Ra trò làm phúc, làm duyên

Mưa bụi giăng mờ mắt sáng

Gió lùa hun hút trong tim…

Chiều nay bản nào Việt Bắc

Mẹ đi thăm các chiến binh

Quà chỉ sẵn đùm xôi bọc

Mà thơm, thơm ngát chân tình…

 

Chú gác lại nhòm lỗ cáo:

“Không nghêu ngao nữa à anh?”

Gió bỗng tạt về nẻo khác

Xà lim ấm lửa rừng xanh

Đâu cũng nhân dân ta cả

Cũng trong đồng chí chúng mình!

Tàu điện leng keng chuông giục

Giục tìm xuân khắp đô thành

 

Bạn có bao giờ thấy nhỉ

Lập xuân giữa lúc tàn đông

Cánh cửa Nhà Tiền rộng mở:

Đón xuân biếc lục xen hồng

Núi bánh, rừng cam, ụ mứt

Khuân vào đây cả Hàng Đường

Cả chợ Đồng Xuân, vẻ lịch

Màu thanh băm sáu phố phường

Tóc bạc mướt vành khăn vấn

Các già quần áo xênh xang

Trân trọng như đi trẩy hội

Như đi lễ Phật dâng hương:

“Vì nước, các anh các chị

Bị cầm bị hãm nơi đây…”

Lời nghẹn lời không hết ý

Cầm tay, mẹ nói bằng tay…

Mưa hắt, ướt tròng mắt mẹ

Mưa rơi thấm ướt tim anh.

Đâu cũng nhân dân ta cả

Cũng trong đồng chí chúng mình!

 

Bốn góc bánh chưng vuông vức

Thủy chung như lòng thủ đô

Đường bạch thấm từng thứ mứt

Keo sơn như tình thủ đô

Anh nhìn dáng cô em gái

Lìm lịm mà trôi vào mơ!

Người đấy hay hoa đào nhỉ?

Hoa đào hay má đào tơ?

Em là thiếu nữ thủ đô

Tặng anh cành đào đỏ thắm

Em là thiếu nữ thủ đô

Đọc nhỏ anh nghe bài thơ:

“Hoa đào mùa xuân Nguyễn Huệ

Khăng khăng tình đợi ý chờ

Nhụy vàng ủ trong cánh đỏ

Như sao nằm giữa lòng cờ”

 

Cánh cửa Nhà Tiền đóng sập

Em về, mộng khép hàng mi

Đêm ấy trại giam đốt nến

Soi hoa lên bóng quốc kỳ

Một sớm trại giam thoát hiểm

Hoa đào đỏ lối anh đi

Ngắt hoa dấu trong nếp áo

Thủ đô ý tạc tình ghi…

 

Đã về Mùa Xuân Giải Phóng

Thủ đô cờ đỏ phố phường

Anh đi giữa lòng Hà Nội

Hoa đào ngát ngát lên hương

Ngát ngát lên hương tưởng nhớ

Tìm em, nhựa thoáng mặt đường

Hắt bóng dòng người qua lại

Miên miên như nước trường giang

Em, giọt nước nào trong sông?

Thủ đô muôn tía ngàn hồng

Em là sắc màu nào nhỉ?

Em, giọt nước nào trong sông?

Cánh cửa nhà ai bỏ ngỏ

Cúc cu đôi mái đầu xanh

Thoáng nửa cánh tay khép nhẹ

Nghe như khép trái tim anh

Gió xuân ỡm ờ thóc mách

Thổi tung cánh cửa nhà ai

Anh vội thầm thì với gió:

“Đừng làm kinh mộng lứa đôi”

 

Tìm em hoa đào đỏ phố

Cánh đào rơi nhẹ trên vai.

THỤY AN

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 160 (15.2.1957), tr. 8.