Chủ trương

Lại Nguyên Ân

Liên hệ

email: timlaidisan@gmail.com

Phản hồi, bình luận mới

Bản dịch của Phan Khôi: CHỦ NGHĨA MÁC VỀ NGÔN NGỮ HỌC

CHỦ NGHĨA MÁC VỀ NGÔN NGỮ HỌC

XIT-TA-LIN

Phan Khôi dịch theo bản dịch bằng chữ Trung Hoa

Có một số đồng chí trẻ yêu cầu tôi phát biểu ý kiến trên báo về vấn đề ngôn ngữ học, nhất là ý kiến về vấn đề chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học, cố nhiên tôi không thể làm thỏa mãn hoàn toàn sự yêu cầu của các đồng chí ấy; song cái vấn đề chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học cũng như về các khoa học xã hội khác, nó đối với tôi có quan hệ trực tiếp, cho nên tôi vui lòng trả lời mấy câu hỏi các đồng chí ấy đã đề ra.

HỎI: Có người nói, ngôn ngữ là thượng tằng kiến trúc của cơ sở kinh tế, nói thế có đúng không?

ĐÁP: Không phải thế, không đúng.

Cơ sở là chế độ kinh tế của xã hội khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nào đó. Thượng tằng kiến trúc là những quan điểm xã hội đối với chính trị, pháp luật, tôn giáo, mỹ thuật,[a] triết học cho đến những chế độ về chính trị, pháp luật v.v… thích hợp với quan điểm ấy.

Mỗi một cơ sở kinh tế đều có thượng tằng kiến trúc riêng thích hợp với nó. Cơ sở của chế độ phong kiến có cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó, có những quan điểm về pháp luật, chính trị v.v… của chính mình nó cho đến những chế độ thích hợp với quan điểm ấy; cơ sở của chủ nghĩa tư bản có cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó; cơ sở của chủ nghĩa xã hội cũng có cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó. Khi một cơ sở biến hóa và bị tiêu diệt thì thượng tằng kiến trúc cũng biến hóa và bị tiêu diệt theo; khi sản sinh một cơ sở mới thì cũng theo đó mà sản sinh một thượng tằng kiến trúc mới thích hợp với cơ sở mới.

Về phương diện này, ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc không giống nhau tận gốc. Hãy xem xã hội nước Nga và ngôn ngữ nước Nga thì biết. Ba mươi năm gần nay, ở Nga, đã tiêu diệt cái cơ sở cũ của chủ nghĩa tư bản, kiến thiết cái cơ sở mới của chủ nghĩa xã hội. Cùng một lúc ấy cũng tiêu diệt cái thượng tằng kiến trúc của chủ nghĩa tư bản, và kiến thiết cái thượng tằng kiến trúc mới thích hợp với chủ nghĩa xã hội. Thế nghĩa là, những chế độ chính trị, pháp luật cũ đã bị những chế độ mới của chủ nghĩa xã hội thay thế cho. Nhưng dù thế nào mặc, ngôn ngữ nước Nga, về cơ bản, vẫn y nguyên như hồi Cách mạng tháng Mười về trước.

Ở trong thời kỳ ấy, ngôn ngữ Nga có sinh ra sự biến hóa nào chăng? Có, từ vị(1) của ngôn ngữ Nga đã có sự biến hóa đến một chừng mực nào, nghĩa là, bởi đã nẩy ra cách sinh sản [b] mới của chủ nghĩa xã hội, xuất hiện ra quốc gia mới, văn hóa mới của chủ nghĩa xã hội, tinh thần xã hội mới, đạo đức mới, và bởi sự phát triển về kỹ thuật và khoa học, làm cho tăng gia một mớ từ và ngữ (2) mới; lại có bao nhiêu từ và ngữ đổi ý nghĩa đi, hiểu bằng một ý nghĩa mới; lại có bao nhiêu từ cũ không còn có trong từ vị nữa, đến như từ vị cơ bản và cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ Nga là cái gây nền móng của ngôn ngữ thì, sau khi tiêu diệt cái cơ sở của chủ nghĩa tư bản rồi, chẳng những nó không bị tiêu diệt và bị từ vị cơ bản mới, cách cấu tạo ngữ pháp mới thay thế, mà trái lại, chúng nó đều được bảo tồn nguyên vẹn, chưa hề có sự biến hóa nghiêm trọng nào, nghĩa là còn giữ lại làm thành cái nền móng của ngôn ngữ Nga hiện đại.

Lại còn, thượng tằng kiến trúc bởi hạ tằng cơ sở mà sản sinh ra, nói thế không phải là nói thượng tằng kiến trúc chỉ là phản ảnh cơ sở, chỉ là tiêu cực bất can, nguội lạnh đối với vận mạng của cơ sở, đối với vận mạng của giai cấp, đối với tính chất chế độ của chính mình nó. Trái lại, sau khi thượng tằng kiến trúc xuất hiện rồi, nó bèn thành ra một lực lượng tích cực rất lớn, giúp một cách tích cực cho cơ sở thành hình và kiên cố, dùng mọi cách giúp cho chế độ mới để trừ tận gốc và tiêu diệt cơ sở cũ và giai cấp cũ.

Chẳng như thế thì cũng chẳng có thể được. Cái cơ sở sở dĩ gây dựng nên cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó là vì để cái thượng tằng kiến trúc phục vụ cho nó, để cái thượng tằng kiến trúc tích cực giúp nó thành hình và kiên cố hơn lên, để cái thượng tằng kiến trúc đấu tranh cách tích cực làm cho tiêu diệt hẳn cái cơ sở cũ cùng với thượng tằng kiến trúc của nó là cái đã quá thời rồi. Chỉ khi nào thượng tằng kiến trúc không chịu đóng vai tuồng phục vụ cho cơ sở, chỉ khi nào thượng tằng kiến trúc từ cái lập trường tích cực bảo vệ cho cơ sở mình chạy sang cái lập trường nguội lạnh đối với cơ sở mình, chạy sang cái lập trường coi các giai cấp như nhau, thì khi đó nó sẽ mất cái bản chất của nó đi, và không còn là thượng tằng kiến trúc nữa.

Về phương diện này, là chỗ ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc không giống nhau tận gốc. Ngôn ngữ không sản sinh bởi một cơ sở nào, này hoặc kia, cũ hoặc mới từ nội bộ của một xã hội, mà sản sinh bởi trên con đường tiến triển của toàn bộ lịch sử xã hội và toàn bộ lịch sử cơ sở hàng ngàn hàng trăm năm nay. Ngôn ngữ không phải bởi một giai cấp nào sáng tạo ra, mà là cả xã hội, mà là cả các giai cấp trong xã hội, dồn hàng trăm thế hệ đã nỗ lực ra mà sáng tạo. Ngôn ngữ được sáng tạo ra không phải để thỏa mãn sự cần dùng cho một giai cấp nào, mà để thỏa mãn sự cân dùng cho cả xã hội, cho hết thảy các giai cấp trong xã hội. Chính vì thế mà ngôn ngữ đã được sáng tạo ra là ngôn ngữ của toàn dân, nó đối với xã hội là thống nhất, đối với tổ thành viên của toàn thể xã hội là cộng đồng. Vì thế, ngôn ngữ là một thứ công cụ dùng để phục vụ cho sự giao tế giữa mọi người, không để phục vụ cho một giai cấp này làm tổn hại một giai cấp khác mà là phục vụ cho cả xã hội, phục vụ cho hết thảy các giai cấp trong xã hội bằng cách coi ai như nấy. Đó cũng là cái lẽ tại sao mà ngôn ngữ có thể phục vụ bằng cách coi ai như nấy, đã phục vụ cho cái chế độ cũ hầu hết lại phục vụ cho cái chế độ mới đương lên; có thể đã phục vụ cho cơ sở cũ, lại phục vụ cho cơ sở mới; có thể đã phục vụ cho kẻ bóc lột, lại phục vụ cho kẻ bị bóc lột.

Ai cũng biết rằng ngôn ngữ nước Nga từ cách mạng tháng Mười về trước đã phục vụ cho chủ nghĩa tư bản của xã hội Nga và cho văn hóa của giai cấp tư sản Nga, với bây giờ, nó đương phục vụ cho chế độ chủ nghĩa xã hội và văn hóa chủ nghĩa xã hội đều được việc như nhau cả.

Các thứ ngôn ngữ U-cơ-ren, Bạch Nga, U-béc, Ka-dắc, Giê-óc-gi, Ác-mê-ni, Ét-tô-ni, Lát-vi, Li-tu-a-ni, Môn-đa-vi, Tác-ta, A-déc-bai-gian, Bát-kia, Tuya-men, cho đến các thứ ngôn ngữ khác trong các dân tộc Liên Xô đều có thể nói chung rằng nó đã phục vụ rất được việc cho cái chế độ giai cấp tư sản cũ của các dân tộc ấy, nó cũng lại đang phục vụ rất được việc cho cái chế độ chủ nghĩa xã hội mới của các dân tộc ấy nữa.

Chẳng như thế thì cũng chẳng có thể được. Sự tồn tại của ngôn ngữ và sự sáng tạo ngôn ngữ chính để dùng làm công cụ giao tế giữa mọi người và phục vụ cho cả xã hội, chính để làm thành một vật cộng đồng đối với tất cả tổ-thành-viên [c] xã hội, làm thành một vật thống nhất đối với xã hội. Nó phải phục vụ cho tổ-thành-viên xã hội ai cũng như nấy mà không phân biệt địa vị giai cấp của những tổ-thành-viên ấy ra sao. Chỉ khi nào ngôn ngữ lìa bỏ cái lập trường toàn dân ấy, chỉ khi nào ngôn ngữ đứng lệch trên một lập trường, thiên vị và phù trì một tập đoàn xã hội nọ mà làm tổn hại những tập đoàn xã hội khác thì nó sẽ mất cái bản chất của chính mình, nó sẽ không còn làm công cụ giao tế giữa mọi người trong xã hội nữa, nó sẽ biến làm thứ tiếng lóng của một tập đoàn xã hội nọ mà thoái hóa hẳn đi, cuối cùng đến tiêu diệt đi.

Về phương diện này, ngôn ngữ và thượng tằng kiến trúc có sự khác nhau về nguyên tắc, song với công cụ sinh sản lại thường khác nhau. Ví như các đồ máy móc, đã phục vụ cho chế độ chủ nghĩa tư bản, cũng phục vụ cho chế độ chủ nghĩa xã hội.

Lại nữa, thượng tằng kiến trúc là sản vật của một thời đại mà trong đó cái cơ sở kinh tế của nó đương tồn tại và đương hoạt động. Vì đó, cái sinh mệnh của thượng tằng kiến trúc không lâu dài được, nó phải bị phá hủy và tiêu diệt cùng với sự phá hủy và tiêu diệt của cái cơ sở ấy.

Đến như ngôn ngữ, trái lại, nó là sản vật của bao nhiêu thời đại, trong bao nhiêu thời đại ấy, nó thành hình hơn lên, phong phú hơn lên, phát triển hơn lên, tinh luyện hơn lên. Cho nên sinh mệnh của ngôn ngữ phải tuyệt đối lâu dài hơn sinh mệnh của bất cứ một cơ sở nào, một thượng tằng kiến trúc nào. Ấy là cái lẽ vì sao mà, chẳng những trải qua sự sản sinh và tiêu diệt của một cái cơ sở cùng với thượng tằng kiến trúc của nó cũng không thể làm cho trên lịch sử tiêu diệt mất một thứ ngôn ngữ, tiêu diệt mất cách kết cấu ngôn ngữ, và sản sinh ra thứ ngôn ngữ mới có đủ từ vị mới và cách cấu tạo ngữ pháp mới.

Từ Pút-kin (3) qua đời đến nay có hơn một trăm năm rồi. Trong thời kỳ ấy, ở nước Nga đã từng tiêu diệt chế độ phong kiến, chế độ tư bản, và sản sinh ra chế độ thứ ba, chế độ chủ nghĩa xã hội, nghĩa là đã từng tiêu diệt hai cái cơ sở cùng với thượng tằng kiến trúc mới của nó, nhưng mà trong thời kỳ dài ấy, ngôn ngữ Nga tịnh không hề phát sinh ra sự phá hoại nào, vả lại ngôn ngữ Nga ngày nay, nói về cách kết cấu của nó, có khác rất ít với ngôn ngữ của Pút-kin.

Trong thời kỳ ấy, ngôn ngữ Nga đã phát sinh ra sự biến hóa gì? Trong thời kỳ ấy, ngôn ngữ Nga đã thêm rất nhiều từ vị, có một số lớn những từ cũ bị loại ra khỏi từ vị, có một số lớn những từ mà ý nghĩa nó thay đổi đi, và cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ được cải tiến. Đến như cách kết cấu ngôn ngữ, cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ và từ vị cơ bản của Pút-kin thì hầu như bảo tồn nguyên vẹn, làm nền móng của ngôn ngữ Nga hiện đại.

Đó là điều tất nhiên phải thế. Giá như sau mỗi một lần cách mạng, đều đem những cách kết cấu ngôn ngữ, cách cấu tạo ngữ pháp của nó cùng từ vị cơ bản mà tiêu diệt đi như là tiêu diệt thượng tằng kiến trúc và gây ra những cái mới để thay vào, thì có là cần thiết gì đâu? Ví dụ: những tiếng như “nước”, “đất”, “núi”, “rừng”, “cá”, “người”, “đi đường”, “làm việc”, “sinh sản”, “buôn bán”, v.v.(4), không gọi bằng “nước”, “đất”, “núi”, v.v. mà gọi bằng những tên khác, thì có là cần thiết gì đâu? Về sự biến hóa của từ trong ngôn ngữ, về sự tổ hợp của từ trong câu nói, không chiểu theo ngữ pháp hiện hữu mà lại chiểu theo một thứ ngữ pháp khác, thì có là cần thiết gì đâu? Sự cải cách ngôn ngữ dường ấy đối với cuộc cách mạng có ích gì? Theo lịch sử, khi không có một sự tất yếu đặc biệt nào, quyết nhiên không thể làm một việc cải cách quan trọng nào cả. Xin hỏi, nếu đã chứng tỏ rằng thứ ngôn ngữ hiện hữu cùng cách kết cấu nó, về cơ bản, có thể thích dụng hoàn toàn để thỏa mãn sự nhu cầu của chế độ mới, thì sự cải cách ngôn ngữ dường ấy có là cần thiết gì đâu? Sự tiêu diệt thượng tằng kiến trúc cũ và thay bằng thượng tằng kiến trúc mới, có thể vả lại cần phải hoàn thành trong một vài năm, hầu làm cho sức sinh sản của xã hội được tự do phát triển; nhưng mà trong một vài năm muốn tiêu diệt thứ ngôn ngữ hiện hữu, gây dựng một thứ ngôn ngữ mới thay vào, thì chẳng là có thể gây ra cái trạng thái vô chính phủ trong cuộc sinh hoạt xã hội và làm cho xã hội có cái nguy cơ tan rã sao? Nếu không phải Đông-Ki-sốt thì có ai lại chịu chác lấy cho mình cái nhiệm vụ ấy?

Sau hết, thượng tằng kiến trúc và ngôn ngữ còn có một sự khác nhau tận gốc nữa: Thượng tằng kiến trúc và sinh sản và hành vi sinh sản không có liên hệ trực tiếp với nhau. Thượng tằng kiến trúc chỉ là trải qua trung gian của kinh tế, trung gian của cơ sở mà liên hệ với sinh sản cách gián tiếp; bởi đó thượng tằng kiến trúc không phản ánh trực tiếp, không phản ánh tức khắc những sự thay đổi của sức sinh sản phát triển theo mực thủy bình, mà là sau khi cơ sở thay đổi rồi, nó mới lồng qua ánh sáng gẫy [d] của mọi sự thay đổi trong sinh sản, lồng qua mới sự thay đổi trong cơ sở mà phản ánh. Thế nghĩa là, cái phạm vi hoạt động của thượng tằng kiến trúc là chật hẹp và có chừng mực.

Đến như ngôn ngữ, trái lại, là liên hệ trực tiếp với hành vi sinh sản của người ta, vả lại chẳng những với hành vi sinh sản, mà còn liên hệ trực tiếp với hết thảy những hành vi khác ở mọi phương diện công tác (từ sinh sản đến cơ sở, từ cơ sở đến thượng tằng kiến trúc) của người ta nữa; bởi đó ngôn ngữ phản ánh trực tiếp phản ánh tức khắc những sự thay đổi trong sinh sản, mà không đợi cơ sở thay đổi; cho nên cái phạm vi hoạt động của ngôn ngữ là bao quát tất cả mọi phương diện hành vi của người ta, đối với phạm vi hoạt động của thượng tằng kiến trúc nó rộng hơn nhiều lắm, phức tạp hơn nhiều lắm, vả lại cái phạm vi hoạt động của nó còn là không có chừng mực nữa kia.

Điều đó trước tiên cắt nghĩa tại sao ngôn ngữ, chủ yếu là phần từ vị của nó, cứ ở trong cái trạng thái hầu như liên miên thay đổi. Công nghệ và nông nghiệp cứ phát triển mãi, nghề buôn bán và nghề vận tải cứ phát triển mãi, kỹ thuật và khoa học cứ phát triển mãi, chúng nó đòi hỏi ngôn ngữ phải đem những từ mới, những ngữ mới cần dùng trong công tác làm đầy đủ từ vị của chúng nó; và ngôn ngữ cũng phản ánh những cần dùng ấy cách trực tiếp bèn đem những từ mới làm đầy đủ từ vị của chính mình và cải tiến cách cấu tạo ngữ pháp của chính mình.

Nói tóm lại:

a/ Người mác-xít không thể nhận cho ngôn ngữ là một thượng tằng kiến trúc ở trên cơ sở;

b/ Lẫn ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc làm một, ấy là phạm một sai lầm lớn.

***

HỎI: Có người nói, ngôn ngữ từ xưa cho đến nay cũng vẫn là có tính giai cấp; hễ đã là thứ ngôn ngữ cộng đồng thống nhất của xã hội thì không phải là ngôn ngữ phi giai cấp, ngôn ngữ của toàn dân, nói thế có đúng không?

ĐÁP: Không phải thế, không đúng.

Một điều rất dễ hiểu là, ở trong một xã hội không có giai cấp thì dứt khoát không có thứ ngôn ngữ goi là có tính giai cấp. Xã hội cộng sản thị tộc nguyên thủy không hề có giai cấp, vì đó quyết không thể có thứ ngôn ngữ giai cấp lúc ấy, ngôn ngữ đối với mỗi một tập đoàn của hết thảy mọi người là cộng đồng, là thống nhất. Có người phản đối, nói rằng không cứ một tập đoàn nhân loại, kể cả tập đoàn cộng sản nguyên thủy nữa, hết thảy đều có giai cấp, lời nói ấy không kể được là phản đối, mà chỉ là chơi chữ, không đáng bẻ bác.

Nói về sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ, từ ngôn ngữ thị tộc đến ngôn ngữ bộ lạc, từ ngôn ngữ bộ lạc đến ngôn ngữ bộ tộc, từ ngôn ngữ bộ tộc đến ngôn ngữ dân tộc, trong cả các giai đoạn ấy, ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tế giữa mọi người trong xã hội, đối với cả xã hội là thống nhất, là cộng đồng và phục vụ cho mọi tổ-thành-viên xã hội ai cũng như nấy, mà không phân biệt địa vị xã hội của họ là thế nào.

Ở đây không phải tôi nói về thời đại nô lệ và các đế quốc của thời đại trung thế kỷ, như các đế quốc được dựng lên bởi Sy-tuýt, A-léc-xan Đại đế, Xê-da, Sác-lơ Đại đế, các đế quốc ấy chưa hề có cơ sở kinh tế của chính mình mà là những liên hiệp quân sự hành chính tạm thời, không vững chãi. Những đế quốc ấy chẳng những chưa từng có mà lại cũng không thể có thứ ngôn ngữ thống nhất của cả cái đế quốc, thứ ngôn ngữ mà hết thảy mọi tổ-thành-viên đế quốc đều hiểu được. Những đế quốc ấy là một tập-hiệp-thể gồm những bộ lạc và bộ tộc, mỗi một có cách sinh hoạt riêng, mỗi một có ngôn ngữ riêng. Vì đó, không phải tôi nói về những đế quốc ấy hay những đế quốc giống như thế, mà tôi nói về những bộ lạc và bộ tộc là tổ-thành-viên của những đế quốc ấy, những bộ lạc và bộ tộc này đều có cơ sở kinh tế của chính mình, đều có ngôn ngữ đã thành hình lâu rồi của chính mình. Lịch sử bảo cho chúng ta biết rằng ngôn ngữ của những bộ lạc và bộ tộc ấy chẳng phải có tính giai cấp mà có tính toàn dân, đối với mỗi bộ tộc mỗi bộ lạc là ngôn ngữ cộng đồng, ai ai cũng hiểu.

Cố nhiên, ngoài ngôn ngữ ra, còn có phương ngôn thổ ngữ, nhưng thứ ngôn ngữ thống nhất và cộng đồng đối với bộ lạc và bộ tộc thì chiếm lấy cái địa vị thống trị và làm cho những phương ngôn thổ ngữ ấy phục tùng nó.

Về sau, chủ nghĩa tư bản ra đời, tiêu diệt cuộc cát cứ của phong kiến, tổ chức nên thị trường dân tộc, rồi thì bộ tộc biến làm dân tộc và ngôn ngữ của bộ tộc biến làm ngôn ngữ của dân tộc. Lịch sử bảo cho ta biết rằng ngôn ngữ của dân tộc không phải có tính giai cấp, mà có tính toàn dân, là thứ ngôn ngữ đối với tổ-thành-viên dân tộc là cộng đồng đối với cả dân tộc là thống nhất.

Như trên đã nói, ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tế giữa xã hội cho mọi người thì nó phục vụ cho hết thảy mọi giai cấp của xã hội cũng thế. Về phương diện này, ngôn ngữ tỏ ra rằng nó đối với các giai cấp trong xã hội vẫn coi ai như nấy, nhưng giữa mọi người, từng tập đoàn xã hội riêng rẽ, từng giai cấp riêng rẽ, lại không nguội lạnh đối với ngôn ngữ đâu. Họ hết sức muốn lợi dụng ngôn ngữ phục vụ cho lợi ích chính mình, họ đem những từ vị đặc biệt, thuật ngữ (5) đặc biệt, thành ngữ đặc biệt của chính mình họ mà thêm càn vào trong ngôn ngữ. Về phương diện này, những từng lớp trên của giai cấp hữu sản là kẻ lìa bỏ nhân dân, thù ghét nhân dân như bọn quý tộc, bọn ở từng lớp trên của giai cấp tư sản, biểu hiện ra càng lợi hại lắm. Họ “sáng tạo” những tiếng quen dùng, tiếng lóng, tiếng lịch sự của giai cấp họ (6), trong ít nhiều thứ trứ thuật họ thường nhận lầm những tiếng quen dùng, những tiếng lóng ấy làm ngôn ngữ, như nói “ngôn ngữ quý tộc”, “ngôn ngữ giai cấp tư sản” –  mà đối lập với nó là “ngôn ngữ giai cấp tư sản”[e] hay là “ngôn ngữ nông dân”. Rất đáng lấy làm lạ là có ít nhiều đồng chí lại lấy đó làm căn cứ mà kết luận rằng không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ dân tộc, sự thực chỉ có ngôn ngữ giai cấp thôi.

Tôi tưởng kết luận như thế là hết sức sai lầm. Có thể nhận cho những tiếng quen dùng, những tiếng lóng ấy làm ngôn ngữ không? Rất không có thể được. Một là vì những tiếng quen dùng, những tiếng lóng ấy tự nó không có cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản mà phải mượn của ngôn ngữ dân tộc; hai là vì những tiếng quen dùng và tiếng lóng ấy chỉ thông dụng trong một phạm vi chật hẹp giữa bọn ở từng lớp trên của một giai cấp nào đó, hoàn toàn không dùng làm công cụ giao tế giữa mọi người trong cả xã hội được. Ở trong những tiếng quen dùng và tiếng lóng ấy có những gì? Chỉ có một số từ đặc biệt có thú vị riêng cho bọn ở từng lớp trên của giai cấp quý tộc hoặc tư sản, một số thành ngữ và từ cú (7) có vẻ nhã nhặn kiểu cách đặc biệt và tránh những thành ngữ và từ cú “quê kệch” trong ngôn ngữ dân tộc; nhưng hầu hết những từ và cách cấu tạo ngữ pháp đều mượn ở trong ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ của toàn dân, và ngoài ra còn có ít nhiều tiếng ngoại quốc xen vào(8). Cho nên, những tiếng địa phương, tiếng quen dùng, tiếng lóng chỉ là nhánh nhóc của ngôn ngữ dân tộc, chung cho toàn dân, không thành ra ngôn ngữ độc lập được vả lại nhất định không thể nào phát triển được. Nếu cho rằng tiếng địa phương, tiếng quen dùng và tiếng lóng có thể phát triển thành ra ngôn ngữ dân tộc và thay thế cho ngôn ngữ dân tộc, ấy là bít con đường tương lai của lịch sử và rời bỏ lập trường của chủ nghĩa Mác.

Có người dẫn lời của Mác trong bài “Saint Max” nói rằng bọn hữu sản có “ngôn ngữ của chính mình họ”, thứ ngôn ngữ ấy “là sản vật của giai cấp hữu sản”, thứ ngôn ngữ ấy chứa đầy đầu óc tham tiền và tinh thần con buôn. Có một số đồng chí toan lợi dụng sự dẫn chứng ấy để chứng tỏ rằng hình như Mác đã chủ trương ngôn ngữ có tính giai cấp, hình như Mác đã phủ nhận sự tồn tại của ngôn ngữ dân tộc thống nhất. Nếu như những đồng chí ấy biết lập luận một cách khách quan thì họ phải dẫn chứng một câu khác của Mác cùng trong bài ấy, khi Mác nói về bước đường thành hình của ngôn ngữ dân tộc thống nhất có nói rằng: “Những tiếng địa phương, tiếng quen dùng tập trung lại làm thành ngôn ngữ dân tộc thống nhất là do sự tập trung của kinh tế và chính trị quyết định”.

Thế đủ biết Mác thừa nhận rằng phải có ngôn ngữ dân tộc thống nhất làm hình thức tối cao, nó bắt những tiếng địa phương, tiếng quen dùng là hình thức thấp kém phục tùng chính mình nó.

Vậy thì, cái câu Mác nói rằng “ngôn ngữ của bọn hữu sản là sản vật của giai cấp tư sản” có nghĩa gì? Có phải nhận cho rằng thứ ngôn ngữ ấy cũng giống như ngôn ngữ dân tộc có cách kết cấu đặc biệt của chính mình nó chăng? Mác có thể hiểu vấn đề như vậy không? Thật là không thể. Mác chỉ muốn nói rằng bọn hữu sản đem những tiếng quen dùng kiểu con buôn của chính mình vào làm dơ bẩn ngôn ngữ dân tộc thống nhất, nghĩa là bọn hữu sản chỉ có những tiếng lóng kiểu con buôn của họ.

Thế đủ thấy rằng những đồng chí đó đã hiểu cong quẹo lập trường của Mác, mà sở dĩ họ có sự hiểu cong quẹo ấy là tại họ không lấy thái độ người mác-xít để dẫn chứng Mác mà lại lấy thái độ con mọt sách chỉ trông mặt chữ không cần hiểu đến nơi để dẫn chứng Mác.

Lại có người dẫn chứng lời Ăng-ghen nói trong sách “Tình hình giai cấp công nhân nước Anh” rằng: “Giai cấp công nhân nước Anh dần dần biến thành một thứ người khác hẳn với giai cấp tư sản nước Anh, không giống giai cấp tư sản, công nhân họ nói một thứ tiếng riêng, có một thứ tư tưởng, quan niệm, phong tục và nguyên tắc đạo đức riêng, có một thứ tông giáo và chính trị riêng”.

Có một số đồng chí căn cứ lời nói ấy, rồi kết luận rằng Ăng-ghen phủ nhận sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc, nghĩa là Ăng-ghen cũng chủ trương ngôn ngữ “có tính giai cấp”. Thực ra thì ở chỗ đó Ăng-ghen không nói về ngôn ngữ mà nói về tiếng địa phương và tiếng quen dùng, cố nhiên ông hiểu rằng tiếng địa phương và tiếng quen dùng là nhánh nhóc của ngôn ngữ dân tộc, không có thể nào thay thế cho ngôn ngữ dân tộc được. Nhưng mà những đồng chí ấy không chịu hiểu ngôn ngữ với tiếng địa phương và tiếng quen dùng có khác nhau như thế nào.

Rõ ràng là sự dẫn dụng một đoạn văn đó không được xác đáng, bởi vì ở đó Ăng-ghen không nói về “ngôn ngữ có tính giai cấp” mà cốt nói những tư tưởng, quan niệm, phong tục, nguyên tắc đạo đức, tông giáo và chính trị của giai cấp. Những tư tưởng, quan niệm, phong tục, nguyên tắc đạo đức, tông giáo và chính trị của bọn hữu sản và của bọn vô sản là đối lập nhau cách tuyệt đối, điều đó rất đúng. Nhưng cái đó với ngôn ngữ dân tộc hay “tính giai cấp” của ngôn ngữ có quan hệ gì đâu? Có thể nào vin lấy sự tồn tại của giai cấp đối lập trong xã hội làm luận chứng để binh vực cho ngôn ngữ là có “tính giai cấp”? hay phản đối sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc thống nhất? Chủ nghĩa Mác nói rằng cái tính cộng đồng của ngôn ngữ là một tiêu chí rất trọng yếu của dân tộc, đồng thời nó vẫn biết rằng trong nội bộ dân tộc có mâu thuẫn giai cấp, các đồng chí đó có thừa nhận cái lý thuyết này của chủ nghĩa Mác chăng?

Có người còn dẫn chứng lời của La-phác(9), nói rằng La-phác ở trong tập sách nhỏ “Ngôn ngữ và cách mạng”(10) đã thừa nhận ngôn ngữ “có tính giai cấp”, hình như cũng phủ nhận sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc toàn dân. Điều đó không đúng. La-phác quả có nói về “ngôn ngữ quý tộc” và “tiếng lóng của các tầng lớp xã hội, nhưng các đồng chí đó quên rằng không phải La-phác thảo luận về vấn đề ngôn ngữ và tiếng lóng khác nhau, có khi ông gọi tiếng quen dùng là “tiếng bịa đặt” có khi gọi là “tiếng lóng”(11). Ở trong tập sách nhỏ ấy ông nói hẳn rằng: “Thứ tiếng bịa đặt mà bọn quý tộc ưa dùng là lấy ở trong ngôn ngữ toàn dân ra, ngôn ngữ toàn dân là tiếng mà từ người hữu sản đến người thủ công, từ người thành thị đến người nhà quê đều dùng để nói”.

Thế đủ thấy rằng La-phác vẫn thừa nhận sự tồn tại và cần thiết của ngôn ngữ toàn dân, ông thừa hiểu rằng “ngôn ngữ quý tộc” và những tiếng quen dùng, tiếng lóng đều phụ thuộc và phục tùng ngôn ngữ toàn dân vậy.

Thế đủ thấy rằng sự dẫn chứng lời nói của La-phác là không đạt được mục đích gì cả.

Có người nói, có một thời kỳ trong mấy trăm năm, vua chúa phong kiến nước Anh nói “tiếng nước Pháp” mà trong lúc ấy người dân nước Anh lại cứ nói tiếng nước Anh, cái sự thực ấy hình như có thể làm luận chứng để binh vực cho ngôn ngữ “có tính giai cấp” và để phản đối sự cần thiết của ngôn ngữ toàn dân. Nhưng đó không phải một luận chứng mà chỉ là một truyện nói đùa. Một là, người nói tiếng Pháp lúc ấy không phải hết thảy vua chúa trong kiến mà là một số ít ở tầng lớp trên giữa bọn vua chúa phong kiến nói trong cung quốc vương và trong phủ quý tộc; hai là, không phải bọn họ nói một thứ ngôn ngữ “giai cấp” nào mà chỉ nói tiếng nước Pháp phổ thông của toàn dân; ba là, ai nấy đều biết rằng cái thói ưa nói tiếng Pháp đó về sau hoàn toàn mất đi mà nhường chỗ cho tiếng nói của toàn dân nước Anh. Có phải các đồng chí ấy nhận cho rằng trong thời kỳ mấy trăm năm đó khi vua chúa phong kiến nước Anh nói chuyện với nhân dân nước Anh phải dùng thông ngôn chăng? Có phải nhận cho rằng bọn họ hoàn toàn không nói tiếng Anh và lúc bấy giờ tiếng Anh hoàn toàn không tồn tại nữa, lúc bấy giờ tiếng Pháp ở nước Anh chẳng những là thứ tiếng lịch sự thông hành giữa một số ít tầng lớp trên của quý tộc nước Anh mà còn là thứ tiếng được xem trọng chăng? Làm sao lại có thể căn cứ ở cái luận chứng như câu chuyện đùa ấy để mà phủ nhận sự tồn tại và cần thiết của ngôn ngữ toàn dân được.

Có một lúc bọn quý tộc nước Nga cũng có thói ưa nói tiếng Pháp trong cung đình và khách thính. Họ tự cho rằng khi nói tiếng Nga mà biết chen tiếng Pháp vào, và dùng giọng tiếng Pháp để nói tiếng Nga là điều đắc ý, như thế có phải là hồi đó ở nước Nga không có ngôn ngữ toàn dân chăng? Có phải là hồi đó ngôn ngữ toàn dân chỉ là hư tưởng mà ngôn ngữ “giai cấp” mới là thực sự chăng?

Ở chỗ đó các đồng chí phạm rất ít là hai cái sai lầm.

Cái sai lầm thứ nhất là lẫn ngôn ngữ và thượng tằng kiến trúc làm một. Họ nhận cho rằng thượng tằng kiến trúc đã là có tính giai cấp thì ngôn ngữ cũng phải là “giai cấp” mà không là toàn dân. Nhưng mà trên kia tôi đã nói ngôn ngữ và thượng tằng kiến trúc hai cái khái niệm ấy không giống nhau, người Mác-xít không được phép nhận lẫn làm một.

Cái sai lầm thứ hai là các đồng chí ấy coi sự đối lập giữa lợi ích giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, có sự đấu tranh giai cấp khốc liệt giữa hai đằng là xã hội đã hoàn toàn chia xé và giữa hai cái giai cấp đối địch đã cắt đứt mọi sự liên hệ với nhau. Họ nhận cho rằng xã hội đã chia xé rồi, thì không còn có xã hội thống nhất nữa, có chăng chỉ là giai cấp, vậy thì không cần có thứ ngôn ngữ thống nhất đối với cả xã hội, không cần có ngôn ngữ dân tộc nữa. Xã hội đã hoàn toàn chia xé rồi, và không còn có ngôn ngữ toàn dân nữa, vậy thì còn sót lại cái gì. Còn sót lại chỉ là giai cấp và ngôn ngữ của giai cấp, tự nhiên mỗi ngôn ngữ “giai cấp” đều có ngữ pháp của “giai cấp” chính mình: Ngữ pháp của giai cấp vô sản và ngữ pháp của giai cấp tư sản. Thực ra thì cái thứ ngữ pháp ấy chẳng hề tồn tại trong thế giới này, nhưng điều đó cũng không làm cho các đồng chí ấy lấy làm khó nghĩ, họ cứ tin rằng thứ ngữ pháp ấy rồi sẽ xuất hiện.

Đã có lần, nước ta từng có “nhà Mác-xít” nói quyết rằng sau cách mạng tháng Mười, những đường sắt ở nước ta còn giữ lại là của giai cấp tư sản, người Mác-xít mà lợi dụng thứ đường sắt ấy là bẽ mặt lắm, cần phải giỡ bỏ đi, kiến trúc đường sắt mới của “giai cấp vô sản”. Bởi đó những “nhà Mác-xít” ấy đã được tặng cho cái huy hiệu là “người ở lỗ”.

Cái quan điểm hủ lậu và vô chính phủ chủ nghĩa đối với xã hội, giai cấp và ngôn ngữ như thế, rõ ràng là không giống nhau một chút nào với chủ nghĩa Mác cả, thế mà cái thứ quan điểm ấy thật nó vẫn còn cứ tồn tại trong đầu óc của một số đồng chí hiểu biết sai lầm.

Cho rằng trong xã hội có đấu tranh giai cấp gắt gao thì hình như là cái xã hội ấy đã chia xé ra thành hai giai cấp mà giữa hai đằng không có mảy may sự liên hệ lẫn nhau về kinh tế, rõ thật là không đúng. Trái lại, nếu chủ nghĩa tư bản còn sống một ngày thì giữa bọn hữu sản và bọn vô sản vẫn còn có muôn ngàn mối liên hệ lẫn nhau về kinh tế. Họ là hai bộ phận của xã hội theo chủ nghĩa tư bản. Bọn hữu sản, nếu ở dưới sức chi phối của mình mà không có công nhân để thuê mướn thì không thể sinh hoạt và phát tài nổi; bọn vô sản, nếu không bán sức lao động của mình cho nhà tư bản thì cũng không sống được nữa. Cắt đứt mọi mối liên hệ kinh tế giữa hai đằng ấy là đình chỉ tất cả mọi sự sinh sản, mà đình chỉ tất cả mọi sự sinh sản thì có thể làm cho xã hội diệt vong, chính mình giai cấp diệt vong. Lẽ cố nhiên là không có một giai cấp nào muốn cho chính mình diệt vong cả. Vì thế đấu tranh giai cấp mặc dầu nhọn bén đến đâu cũng không làm cho xã hội tan rã được. Chỉ có không hiểu một tí nào cả về lý luận chủ nghĩa Mác, chỉ có không biết mảy may nào về bản tính của ngôn ngữ thì mới làm cho các đồng chí ấy của chúng ta nói ra những câu bâng quơ như là xã hội chia xé, ngôn ngữ “giai cấp”, ngữ pháp “giai cấp” mà thôi.

Lại nữa, họ còn dẫn chứng lời của Lê-nin, nói Lê-nin nhận cho rằng ở dưới chủ nghĩa tư bản có hai thứ văn hóa, văn hóa của giai cấp tư sản và văn hóa của giai cấp vô sản; nói khẩu hiệu dân tộc văn hóa ở dưới chủ nghĩa tư bản tức là khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa. Hết thảy cái đó đều đúng. Lê-nin nói hoàn toàn đúng. Song le cái đó với ngôn ngữ “có tính giai cấp” có quan hệ gì đâu? Các đồng chí ấy dẫn chứng Lê-nin hai câu nói về văn hóa đó rõ ràng có ý kiến bạn đọc tin rằng ở trong xã hội đã tồn tại hai thứ văn hóa, văn hóa của giai cấp tư sản và văn hóa của giai cấp vô sản, vậy thì cũng phải có hai thứ ngôn ngữ, bởi vì ngôn ngữ với văn hóa liên hệ nhau, và từ đó lấy được cái kết luận rằng Lê-nin đã phủ định sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc thống nhất, từ đó thấy được Lê-nin cũng chủ trương ngôn ngữ “có tính giai cấp”. Chỗ sai lầm của các đồng chí ấy ở đây là bởi họ đã đánh lộn sòng ngôn ngữ với văn hóa làm một. Thực ra thì văn hóa và ngôn ngữ là hai vật không giống nhau. Văn hóa có thể của giai cấp tư sản và của chủ nghĩa xã hội. Còn ngôn ngữ là công cụ giao tế, vĩnh viễn có tính toàn dân, nó có thể phục vụ cho văn hóa của chủ nghĩa xã hội. Tức như ngôn ngữ Nga, ngôn ngữ Uy-cờ-ren, ngôn ngữ U-béc hiện giờ phục vụ cho văn hóa chủ nghĩa xã hội của các dân tộc ấy rất được việc, cũng như trước cách mạng tháng Mười nó đã phục vụ cho văn hóa giai cấp tư sản của các dân tộc ấy, đó chẳng phải là sự thực rành rành hay sao? Thế đủ thấy rằng các đồng chí ấy nói cách khẳng định rằng đã có hai thứ văn hóa thì phải đưa đến thành hình hai thứ ngôn ngữ, rồi do đó phủ định sự cần thiết của ngôn ngữ thống nhất, là hoàn toàn sai lầm.

Khi nói đến hai thứ văn hóa, Lê-nin chính đã đứng trên nguyên tắc này mà lập luận: dù có hai thứ văn hóa cũng không thể đưa đến phủ định ngôn ngữ thống nhất và thành hình hai thứ ngôn ngữ được, mà khẳng định ngôn ngữ là phải thống nhất. Phái Bun từng chỉ trách Lê-nin, nói ông đã phủ nhận sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc, và giải thích văn hóa là “không có tính dân tộc”. Ai nấy đều biết Lê-nin đã kiên quyết phản bác cái luận điệu ấy. Lê-nin nói rằng ông phản đối là phản đối cái văn hóa của giai cấp tư sản mà không phải phản đối ngôn ngữ dân tộc, ông nhận cho rằng cái sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc là không còn chối cãi gì. Thế mà lại có một số đồng chí chúng ta đi theo đuôi phái Bun, thật đáng lấy làm lạ lắm.

Còn như nói hình như Lê-nin đã phủ định sự cần thiết của ngôn ngữ thống nhất, thì hãy thử nghe lời Lê-nin nói như dưới đây:

“Ngôn ngữ là công cụ giao tế rất trọng yếu của loài người, sự thống nhất và phát triển ngôn ngữ không bị trở ngại là một điều kiện rất trọng yếu, làm cho thích hợp với sự lưu thông thương nghiệp của chủ nghĩa tư bản hiện đại được phát triển thật tự do và rộng rãi, làm cho hết thảy cư dân đâu đó có thể tự do và rộng rãi “tổ chức nên các giai cấp của chính mình”.

Đó đủ thấy rằng các đồng chí đáng yêu ấy của chúng ta đã giải thích cong quẹo quan điểm của Lê-nin.

Sau hết, họ còn dẫn chứng lời nói của Xít-ta-lin, nói Xít-ta-lin có nói rằng: “Giai cấp tư sản và các đảng dân tộc chủ nghĩa của nó từ trước là, mà ở thời kỳ này cũng vẫn là lực lượng lãnh đạo chủ yếu của những dân tộc ấy”. Điều đó hoàn toàn đúng. Giai cấp tư sản và các đảng dân tộc chủ nghĩa của nó quả thật đương lãnh đạo văn hóa giai cấp tư sản, cũng như giai cấp vô sản và các đảng quốc tế chủ nghĩa của nó đương lãnh đạo văn hóa giai cấp vô sản vậy. Nhưng mà điều đó với ngôn ngữ “có tính giai cấp” có dính líu gì nhau đâu? Có lẽ nào các đồng chí ấy không biết rằng ngôn ngữ dân tộc là hình thức của văn hóa dân tộc, ngôn ngữ dân tộc đã có thể phục vụ cho văn hóa của giai cấp tư sản, cũng có thể phục vụ cho văn hóa của chủ nghĩa xã hội hay sao? Có lẽ nào các đồng chí ấy không biết một cái công thức có tiếng của người Mác-xít đề ra nói rằng hiện nay văn hóa của Nga, của Uy-cờ-ren, của Bạch Nga và các văn hóa khác nữa, theo nội dung của nó là xã hội chủ nghĩa, mà theo hình thức của nó là dân tộc, tức là theo ngôn ngữ của nó là dân tộc vậy – các đồng chí đó có đồng ý với cái công thức ấy của chủ nghĩa Mác chăng?

Về chỗ này, sự sai lầm của các đồng chí ấy là, họ không thấy sự khác nhau giữa văn hóa và ngôn ngữ, lại cũng không hiểu rằng văn hóa, nói về nội dung của nó, là theo mỗi một thời kỳ mới của sự phát triển xã hội mà thay đổi, còn ngôn ngữ thì trong bao nhiêu thời kỳ về cơ bản vẫn không thay đổi, nó phục vụ cho văn hóa cũ thế nào thì cũng phục vụ cho văn hóa mới thế ấy.

Nói tóm lại:

a/ Ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tế, trước kia đã và hiện nay vẫn đối với xã hội là thống nhất, đối với tổ-thành-viên xã hội là cộng đồng.

b/ Sự tồn tại của tiếng địa phương, tiếng quen dùng và tiếng lóng không hề phủ định mà là khẳng định sự tồn tại của ngôn ngữ toàn dân, bởi vì tiếng địa phương, tiếng quen dùng và tiếng lóng là nhánh nhóc của ngôn ngữ toàn dân, vả lại phục tùng ngôn ngữ toàn dân.

c/ Cái công thức nêu lên rằng ngôn ngữ “có tính giai cấp” là một công thức sai lầm, không phải công thức của chủ nghĩa Mác.

***

HỎI: Những tiêu biểu đặc biệt của ngôn ngữ là gì?

ĐÁP: Ngôn ngữ là một trong những hiện tượng xã hội, từ khi bắt đầu có xã hội thì có ngôn ngữ. Ngôn ngữ theo xã hội sản sinh mà sản sinh, theo xã hội phát triển mà phát triển, đến lúc ngôn ngữ tử vong cũng sẽ theo xã hội tử vong mà tử vong. Ngoài xã hội ra, không có gì gọi là ngôn ngữ. Vì vậy, muốn hiểu một thứ ngôn ngữ nào và quy luật phát triển của nó, chỉ có theo cái lịch sử liên hệ mật thiết với sự phát triển xã hội, cái lịch sử liên hệ mật thiết với nhân dân đã sáng tạo ra thứ ngôn ngữ ấy, sử dụng thứ ngôn ngữ ấy mà nghiên cứu thì mới có thể được mà thôi.

Ngôn ngữ là công cụ, là lợi khí, mọi người lợi dụng nó để giao tế với nhau, trao đổi tư tưởng cho nhau, cho được hiểu biết lẫn nhau. Ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với tư duy, nó đem cái kết quả hoạt động của tư duy, cái thành quả hoạt động nhận thức của người ta dùng từ và cú do từ tổ chức nên mà ghi chép lấy, mà cố định lại, như thế, làm cho sự trao đổi tư tưởng giữa xã hội loài người mới có thể thực hiện được.

Trao đổi tư tưởng là sự luôn luôn rất cần thiết, bởi vì không có trao đổi tư tưởng thì không thể làm cho người ta điều hiệp sự hoạt động chung trong cuộc đấu tranh với sức tự nhiên, trong cuộc đấu tranh với của cải vật chất là cái cần thiết cho sinh sản, thì không thể thành công trong những hành vi sinh sản xã hội, nhân đó chính mình sự sinh sản xã hội cũng không thể còn có nữa. Thế đủ thấy rằng không có thứ ngôn ngữ cả xã hội đều hiểu được, không có thứ ngôn ngữ chung cho tổ-thành-viên xã hội, thì xã hội phải đình chỉ sinh sản, phải tan rã. Theo ý nghĩa này mà nói, ngôn ngữ đã là công cụ giao tế, đồng thời cũng là công cụ để đấu tranh và phát triển trong xã hội. Ai nấy vẫn biết hết thẩy những từ trong ngôn ngữ gây nên cái gọi là từ vị của ngôn ngữ. Cái vật chủ yếu trong từ vị của ngôn ngữ là từ vị cơ bản, trong đó bao quát hết thẩy những từ cơ bản làm thành cái cốt tử của từ vị cơ bản. Từ vị cơ bản so với từ vị ngôn ngữ hẹp nhỏ hơn nhiều, nhưng mà sinh mệnh của nó lâu dài lắm, nó sinh tồn trong thời kỳ dài hàng trăm ngàn năm và làm nền móng gây nên những từ mới cho ngôn ngữ. Từ vị phản ánh cái trạng thái phát triển của ngôn ngữ, từ vị càng phong phú, càng phân phiền thì ngôn ngữ cũng càng phong phú, càng phát triển.

Song le, chính mình từ vị còn chưa thành ra ngôn ngữ, nó chỉ là những tài liệu kiến trúc để dựng nên ngôn ngữ. Chẳng khác nào trong nghề kiến trúc, những tài liệu kiến trúc[g] không phải là nhà cửa, tuy rằng không có tài liệu kiến trúc thì cũng không làm nên nhà cửa được. Cùng một lẽ ấy, từ vị của ngôn ngữ không phải tức là ngôn ngữ, tuy rằng không có từ vị cũng không thể tưởng tượng được có một thứ ngôn ngữ nào. Nhưng khi từ vị của ngôn ngữ bị chi phối bởi ngữ pháp của ngôn ngữ thì nó sẽ có một ý nghĩa rất lớn. Ngữ pháp quy định các quy tắc biến hóa của từ và các quy tắc dùng từ đặt câu, điều ấy khiến cho ngôn ngữ có một thứ tính chất có điều lý và dễ hiểu. Ngữ pháp (phép biến hóa từ hình và phép đặt câu) là tổng hợp các quy tắc biến hóa của từ và các quy tắc dùng từ đặt câu, điều ấy khiến cho ngôn ngữ có một thứ tính chất có điều lý và dễ hiểu. Ngữ pháp (phép biến hóa từ hình và phép đặt câu) là tổng hợp các quy tắc biến hóa của từ và các quy tắc dùng từ đặt câu. Bởi đó thấy rằng nhờ có ngữ pháp khiến ngôn ngữ có thể cấp cho người ta cái vỏ ngoài bằng vật chất của tư tưởng tức là ngôn ngữ.

Cái đặc điểm của ngữ pháp ở chỗ nó cấp cho cái quy tắc biến hóa về từ, không phải là từ cụ thể mà là nói chung những từ không có tính cụ thể nào cả; nó cấp cho cái phương pháp đặt câu không phải một thứ câu cụ thể nào, như câu có chủ từ cụ thể, tân từ cụ thể (12) v.v. mà là nói chung những câu, không dính dấp với hình thức cụ thể của một câu nào, bởi đó ngữ pháp làm cho trừu tượng hóa từ và ngữ mà không kể đến nội dung cụ thể của nó. Ngữ pháp lấy những điểm cộng đồng về phép biến hóa về từ và điểm cơ bản dùng từ đặt câu rồi tổ chức nên quy tắc của ngữ pháp, luật của ngữ pháp. Ngữ pháp là thành quả của công tác tư duy nhân loại đã trừu tượng hóa lâu đời, là tiêu biểu của sự thành công lớn lao do tư duy nhân loại đã thu lượm được.

Về phương diện này, ngữ pháp rất giống hình học. Định lý của hình học là trừu tượng hóa những đối tượng cụ thể, coi các thứ đối tượng như những vật thể không có tính cụ thể, và khi quyết định sự quan hệ lẫn nhau giữa chúng nó không coi như những quan hệ cụ thể giữa những đối tượng cụ thể nào đó mà coi như những quan hệ lẫn nhau giữa những vật thể nói chung không có tính cụ thể nào đó.

Ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc không giống nhau. Thượng tằng kiến trúc không liên hệ trực tiếp với sinh sản, mà phải trải qua trung gian của kinh tế; còn ngôn ngữ thì liên hệ trực tiếp với hành vi sinh sản của người ta, vả lại liên hệ trực tiếp với mọi hành vi trong mọi phạm vi công tác của người ta nữa. Bởi đó từ vị của ngôn ngữ biến hóa rất nhanh nhẹn, hầu như nó ở trong sự biến động luôn luôn, vả lại về điểm này ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc không giống nhau, nó không đợi đến cơ sở tiêu diệt, ngay trước khi cơ sở tiêu diệt và cũng không kể trạng thái cơ sở ra sao, nó đã biến hóa trong những từ vị của chính mình nó rồi.

Song le, sự biến hóa của từ vị của ngôn ngữ không giống với của thượng tằng kiến trúc. Sự biến hóa của nó không thực hiện bằng phương pháp trừ bỏ cái cũ xây dựng cái mới, mà thực hiện bằng phương pháp lấy những từ mới làm đầy đủ từ vị hiện hành. Những từ mới này bởi sự thay đổi chế độ xã hội, bởi sự phát triển về sinh sản, văn hóa, khoa học v.v. mà sinh ra. Cùng một lúc ấy trong từ vị tuy có mất đi một ít từ cũ, nhưng cái số lượng từ mới tăng thêm rất nhiều. Đến như từ vị cơ bản thì phần lớn vẫn được giữ nguyên vẹn vả lại sử dụng nó làm nền móng từ vị của ngôn ngữ.

Điều đó rất dễ hiểu, từ vị cơ bản đã có thể sử dụng rất được việc trong bao nhiêu thời kỳ lịch sử thì không có sự cần thiết nào buộc phải tiêu diệt nó đi. Đó còn chưa nói đến rằng đem tiêu diệt những từ vị cơ bản đã dồn chứa hàng trăm ngàn năm mà không thể sáng tạo những từ vị cơ bản mới trong một thời kỳ rất ngắn, thì sẽ làm cho ngôn ngữ tê liệt đi, khiến mọi người mất trọn cái khả năng giao tế lẫn nhau.

Sự biến hóa cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ chậm hơn sự biến hóa từ vị của ngôn ngữ. Cách cấu tạo ngữ pháp đã thành hình ngàn trăm năm nay, nó đã thâm căn cố đế trong ngôn ngữ, cho nên nó biến hóa chậm hơn từ vị cơ bản, nó phải biến hóa dần dần, cải tiến dần dần, trau dồi và sửa chữa những quy tắc của mình, dùng những quy tắc mới làm đầy đủ hơn lên, nhưng nền móng của cách cấu tạo ngữ pháp thì trải qua những thời kỳ rất dài vẫn được giữ lại, vì lịch sử đã chứng tỏ rằng những nền móng ấy đủ sức phục vụ xã hội rất được việc trong bao nhiêu thời đại rồi.

Do đó thấy rằng cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ và từ vị cơ bản là nền móng của ngôn ngữ, là bản chất đặc điểm của ngôn ngữ vậy.

Lịch sử chứng tỏ rằng ngôn ngữ có tính vững chãi khác thường và tính cầm cự rất lớn chống lại sự cưỡng bách đồng hóa. Có những nhà sử học không cắt nghĩa cái hiện tượng ấy mà chỉ lấy cái hiện tượng ấy làm lạ. Nhưng mà trong đó không có cái gì căn cứ khiến cho người ta lấy làm lạ hết. Cái tính vững chãi của ngôn ngữ được tạo thành bởi cái tính vững chãi của cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của nó. Người Thổ-nhĩ-kỳ toan đồng hóa nhân dân Ban-căng, đã từng ra sức làm tổn hại, phá hoại và tiêu diệt ngôn ngữ của nhân dân các giống người Ban-căng trong mấy trăm năm. Trong thời kỳ ấy, từ vị của ngôn ngữ nhân dân các giống người Ban-căng đã phát sinh sự biến hóa lớn lao, đã tiếp nhận từ và ngữ của Thổ-nhĩ-kỳ không ít; từng có “hỗn hiệp” cũng từng có “phân ly”, nhưng mà ngôn ngữ của nhân dân các giống người Ban-căng vẫn cứ được duy trì bền vững và cứ sống. Thế là vì lẽ gì? Vì cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của những ngôn ngữ ấy phần lớn đã bảo tồn được vậy.

Do đó có thể kết luận rằng ngôn ngữ và sự kết cấu nó không thể coi là sản vật của một thời đại nào, sự kết cấu của ngôn ngữ, cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của nó là sản vật của bao nhiêu thời đại.

Có thể suy tưởng rằng những yếu tố của ngôn ngữ hiện đại vốn đã đặt nền móng ở thời kỳ thượng cổ trước thời đại nô lệ, ngôn ngữ thuở ấy không phức tạp, từ vị cơ bản còn nghèo nàn, nhưng có cách cấu tạo ngữ pháp của nó, dù rằng cách cấu tạo ấy rất sơ sài cũng kể được là cách cấu tạo ngữ pháp.

Sinh sản phát triển hơn lên, xuất hiện ra giai cấp, xuất hiện ra văn tự, xuất hiện ra mầm mống quốc gia, quốc gia tiến hành công việc quản lý cần phải có những văn thư trôi chảy, nghề buôn bán phát triển lại cần phải có những thư từ trôi chảy, thế rồi xuất hiện ra máy in, xuất hiện ra ấn loát phẩm, hết thảy những cái đó làm cho ngôn ngữ trong khi phát triển sinh ra sự biến hóa lớn lao. Trong thời kỳ ấy bao nhiêu bộ lạc và bộ tộc tách rời và tản mác ra, tụ họp và hỗn hiệp lại. Về sau xuất hiện ra ngôn ngữ dân tộc và quốc gia, phát sinh ra cách mạng, phát sinh ra cuộc thay đổi giữa chế độ xã hội cũ và chế độ xã hội mới, hết thảy những điều đó làm cho ngôn ngữ và sự phát triển của nó sinh ra sự biến hóa càng lớn.

Song le nếu cho rằng sự phát triển của ngôn ngữ cũng giống như của thượng tằng kiến trúc, là phát triển bằng phương pháp tiêu diệt cái hiện có, gây dựng cái mới, thì là lầm to. Sự thực, sự phát triển của ngôn ngữ không dùng cái phương pháp tiêu diệt ngôn ngữ hiện có, gây dựng ngôn ngữ mới, mà dùng phương pháp khuếch đại và cải tiến những yếu tố cơ bản của ngôn ngữ hiện có. Vả lại ngôn ngữ từ một chất này sang một chất khác không phải là đột biến, không phải là trải qua phương pháp tiêu diệt cái cũ gây dựng cái mới trong chốc lát mà là trái qua sự dồn chứa dần dần và lâu lai những yếu tố chất lượng mới và kết cấu mới của ngôn ngữ, trải qua sự suy vong dần dần của những yếu tố chất lượng cũ rồi mới thực hiện.

Có người nói, ngôn ngữ phát triển theo giai đoạn là lý luận của chủ nghĩa Mác, vì cái thuyết ngôn ngữ phát triển theo giai đoạn thừa nhận sự đột biến là cần thiết, ấy là điều kiện cho ngôn ngữ từ chất cũ sang qua chất mới. Nói như thế rõ thật là không đúng, bởi vì trong cái lý luận ấy rất khó tìm ra ít nhiều cái gì của chủ nghĩa Mác.

Nếu thuyết giai đoạn quả thật nhận cho rằng trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ có cái gọi là đột biến, thì lại càng bướng lắm. Chủ nghĩa Mác không thừa nhận có cái gì gọi là đột biến trong sự phát triển ngôn ngữ cả, có cái gì gọi là sự tử vong vụt chốc của ngôn ngữ hiện có và sự sáng tạo vụt chốc của ngôn ngữ mới cả. La-phác có nói, vào khoảng từ năm 1789 đến năm 1794 ở nước Pháp vụt chốc phát sinh ra cuộc cách mạng ngôn ngữ (xem bài “Ngôn ngữ và cách mạng” của La-phác), điều đó không đúng. Thuở ấy ở nước Pháp chưa từng có cuộc cách mạng ngôn ngữ nào thì lấy gì goi là vụt chốc? Quả như vậy, trong thời kỳ ấy từ vị của ngôn ngữ Pháp thêm nhiều từ mới và ngữ mới, mất một số từ vị (13) cũ kỹ, và có những từ đổi ý nghĩa đi, chỉ thế mà thôi. Nhưng sự thay đổi dường ấy chẳng có quyết định vận mạng của ngôn ngữ chút nào. Cái vật chủ yếu trong ngôn ngữ là cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của nó. Ở thời đại cách mạng tư sản Pháp, cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của ngôn ngữ Pháp chẳng những không tiêu mất đi mà còn được giữ gìn lại, chẳng có thay đổi gì lớn; chẳng những được giữ gìn lại, mà còn cứ tồn tại trong ngôn ngữ Pháp hiện đại cho đến ngày nay. Không cần nói nữa rằng muốn tiêu diệt ngôn ngữ hiện hữu, sáng lập ngôn ngữ dân tộc mới (“cách mạng ngôn ngữ vụt chốc”) chỉ trong khoảng thời gian năm sáu năm, thật ít ỏi đáng nực cười quá, muốn như thế, phải cần có thời gian mấy trăm năm mới được.

Chủ nghĩa Mác nhận rằng sự chuyển biến của ngôn ngữ từ chất cũ đến chất mới được thực hiện ra chẳng phải trải qua đột biến, chẳng phải trải qua sự tiêu diệt ngôn ngữ hiện có và sáng tạo ngôn ngữ mới mà là trải qua sự dồn chứa dần dần những yếu tố mới của chất mới, tức là trải qua sự tử vong dần dần của những yếu tố cũ.

Nói chung, cần bảo cho các đồng chí mê say thuyết đột biến ấy biết rằng cái phép tắc từ chất cũ sang chất mới phải trải qua đột biến chẳng những không thích dụng cho lịch sử phát triển ngôn ngữ, mà còn không thường thường thích dụng cho những hiện tượng xã hội khác thuộc về loại cơ sở hoặc thuộc về loại thượng tằng kiến trúc. Nói về một xã hội chia ra hai giai cấp đối địch nhau thì đột biến là cần có, nhưng nói về một xã hội không có giai cấp đối địch thì không cần có đột biến. Trong khoảng hai thời gian tám năm đến mười năm, chúng ta từng thực hiện nông nghiệp nước ta từ chế độ nông dân sinh sản cá nhân dưới giai cấp tư sản sang chế độ nông trường(14)  dưới chủ nghĩa xã hội, ấy là một cuộc cách mạng tiêu diệt cái chế độ kinh tế cũ trong hương thôn của giai cấp tư sản, kiến lập cái chế độ mới theo chủ nghĩa xã hội, nhưng mà sự thực hiện cải cách ấy không phải trải qua đột biến, nghĩa là, không trải qua sự đạp đổ chính quyền cũ gây dựng chính quyền mới để thực hiện, mà thực hiện bằng sự trải qua từ chế độ cũ trong hương thôn của giai cấp tư sản chuyển sang chế độ mới dần dần. Việc ấy sở dĩ thành công được là bởi đó là cuộc cách mạng từ trên xuống dưới, cái thứ cải cách ấy do chính quyền hiện tại chủ động tiến hành, được quần chúng cơ bản nông dân ủng hộ mà thực hiện ra.

Có người nói, trong lịch sử từng có bao nhiêu sự thực về các thứ ngôn ngữ phối hợp nhau, có thể căn cứ vào đó để giả định rằng sự phối hợp đó là trải qua đột biến, trải qua từ chất cũ sang chất mới cách vụt chốc mà làm thành hình một thứ ngôn ngữ mới. Nói như thế hoàn toàn không đúng.

Sự phối hợp của ngôn ngữ không thể coi là cái kết quả tạo thành bởi chỉ một hành động một vố quyết định trong khoảng một vài năm. Sự phối hợp ngôn ngữ là kéo dài cái quá trình trong thời kỳ lâu lai mấy trăm năm. Vì đó, ở đây không mảy may nào nói được là đột biến gì cả.

Lại nữa, nếu tưởng rằng kết quả của hai thứ ngôn ngữ phối hợp nhau có thể sinh ra một thứ ngôn ngữ thứ ba mới, khác với một thứ ngôn ngữ nào trong hai thứ ấy, và về chất lượng cũng không giống với một thứ nào, thì sự tưởng ấy quyết là không đúng. Thực sự, trong lúc hai thứ ngôn ngữ phối hợp, thì thường thường có một thứ trong đó chiếm phần thắng lợi, nó bảo tồn cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của chính mình nó và cứ tiếp tục phát triển theo quy luật phát triển nội bộ của nó; còn thứ ngôn ngữ kia thì dần dần mất cái chất của chính mình đi và dần dần đến suy vong.

Đủ thấy rằng sự phối hợp của hai thứ ngôn ngữ không hề sản sinh thứ ngôn ngữ thứ ba mới nào cả, mà là một thứ trong đó bảo tồn lại, bảo tồn cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của nó, làm cho nó cứ tiếp tục phát triển theo quy luật phát triển nội bộ của nó.

Quả thật ở dưới tình trạng ấy thứ ngôn ngữ thắng lợi nhờ lấy được một số từ trong thứ ngôn ngữ thất bại làm cho từ vị của chính mình phong phú hơn lên, nhưng điều đó không hề làm cho nó yếu, trái lại, làm cho nó mạnh. Tức như ngôn ngữ Nga là thế đấy, trong quá trình phát triển lịch sử, nó từng phối hợp với ngôn ngữ của mấy dân tộc khác và luôn luôn nó chiếm phần thắng lợi.

Cố nhiên từ vị của ngôn ngữ Nga đầy đủ hơn lên, bởi nó đã lấy được bao nhiêu từ trong mấy thứ ngôn ngữ khác, song le điều đó không làm cho ngôn ngữ Nga yếu đi, trái lại, làm cho nó giầu thêm và mạnh lên. Còn như cái đặc chất dân tộc của ngôn ngữ Nga không hề bị tổn hại mảy may nào bởi vì nó đã bảo tồn được cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản của chính mình nó mà cứ tiếp tục tiền tiến, tiếp tục phát triển theo quy luật phát triển nội bộ của chính mình nó.

Không còn nghi ngờ gì cả, cái thuyết phối hợp ngôn ngữ không thể đem lại điều gì có ích cho ngôn ngữ học Liên Xô. Cái nhiệm vụ chủ yếu của ngôn ngữ học ở sự nghiên cứu những quy luật phát triển nội bộ của ngôn ngữ, nếu lời này là đúng thì phải thừa nhận rằng cái thuyết phối hợp ngôn ngữ chẳng những không giải quyết được nhiệm vụ ấy, rất đỗi còn chưa hề đề khởi nhiệm vụ ấy, rất đỗi còn chưa hề đề khởi nhiệm vụ ấy, nói ngay rằng nó khinh thường nhiệm vụ ấy, hay là không hiểu nhiệm vụ ấy.

***

HỎI: Báo Chân lý [h] mở ra cuộc tự do thảo luận về vấn đề ngôn ngữ học, làm như thế có đúng không?

ĐÁP: Làm như thế là đúng.

Phải theo phương hướng nào để giải quyết vấn đề ngôn ngữ học, cái đó đợi đến khi cuộc thảo luận kết thúc rồi sẽ rõ; nhưng hiện nay đã có thể nói lần thảo luận này có ích lợi rất lớn.

Lần thảo luận này, trước hết phát giác ra rằng ở các cơ quan ngôn ngữ học của Trung ương cũng như của các nước cộng hòa hiện đương bị thống trị dưới một chế độ không thích hợp với khoa học và với phẩm chất người công tác khoa học. Cái tập đoàn lãnh đạo ngôn ngữ học đối với những người hơi hám phê bình tình trạng ngôn ngữ học Liên Xô, thậm chí những người dợm muốn phê bình cái gọi là “học thuyết mới” trong ngôn ngữ học, đương đè nén và ngăn cấm họ. Có một số công tác giả và nghiên cứu viên ưu tú về ngành ngôn ngữ học chỉ vì lấy thái độ phê bình đối với di nghiệp của N. Ma-rơ (15), chỉ vì đối với học thuyết của N. Ma-rơ[i] hơi tỏ ra không đồng ý, mà đã bị cách chức hay giáng cấp. Có những công tác giả về ngôn ngữ học được cất nhắc lên địa vị phụ trách chẳng phải bởi họ giỏi giang gì, mà chỉ bởi họ vâng theo học thuyết N. Ma-rơ một cách vô điều kiện.

Nếu không có tranh luận bởi bất đồng ý kiến, không có tự do phê bình, thì bất cứ khoa học nào cũng không thể phát triển được, không thể tiến bộ được, điều đó ai ai cũng phải thừa nhận. Thế nhưng cái quy luật được mọi người thừa nhận ấy đã bị xem khinh, đã bị cộc cằn giày đạp lên rồi. Trong ngôn ngữ học Liên Xô, một số người lãnh đạo tự nhận là mười phần đúng mực, họp nhau thành một nhóm thủ cựu, đã dẹp sạch mọi khả năng phê bình để tự mình ngồi cao và yên ổn, muốn làm gì thì làm.

Thử đưa ra một lệ chứng: Cái gọi bằng “giáo tài Ba-ku” (Những bài giảng nghĩa của N. Ma-rơ giảng ở Ba-ku) vốn đã bị chính mình trứ giả bỏ đi rồi, và cấm không được in lại. Thế mà đã do bọn học phiệt gánh phần lãnh đạo ấy (bọn mà đồng chí Mét-sa-ni-nốp gọi là học trò của N.  Ma-rơ) ra lệnh in lại, đem dùng làm sách tham khảo cho học sinh không hề có dè dặt một phần nào. Ấy là lừa dối học sinh, lấy những bài giảng nghĩa đã bị bỏ rồi đem làm sách tham khảo hoàn toàn có giá trị. Nếu tôi không tin vào sự thành thực của đồng chí Mét-sa-ni-nốp[k] và những người khác công tác về ngôn ngữ học thì tôi phải nói rằng những hành vi như thế cũng cầm bằng những hành vi nguy hại.

Những việc như thế sao lại có thể xảy ra? Ấy là vì lối thống trị theo kiểu quân phiệt trong ngành ngôn ngữ học đã dưỡng thành cái thói quen không chịu trách nhiệm, đã khuyến khích những hành vi ngang trái ấy.

Lần thảo luận này sở dĩ có ích lợi rất lớn, trước hết, vì nó đã phát giác ra cái thứ chế độ theo kiểu quân phiệt ấy và đập cho tan nát.

Sự ích lợi của lần thảo luận này chẳng những ở điều đó thôi đâu. Lần thảo luận này chẳng những đập nát cái chế độ cũ trong ngôn ngữ học, mà còn phơi bày ra được một thứ quan niệm hồ đồ không thể tưởng tượng được về những vấn đề trọng yếu trong ngôn ngữ học, cái quan niệm hồ đồ đó lại chiếm lấy địa vị thống trị trong tập đoàn lãnh đạo của ngành khoa học ấy. Trước khi bắt đầu lần thảo luận này, bọn họ che đậy cái tình hình xấu xa trong ngôn ngữ học, nhưng đến sau khi bắt đầu thảo luận, là khi không thể không nói chuyện, cực chẳng đã họ mới viết bài đăng trên báo. Họ viết những gì? Số là trong học thuyết N. Ma-rơ có những chỗ khiếm khuyết và mậu ngộ, có những vấn đề còn chưa nghiên cứu đâu ra đó và những nguyên tắc không tinh xác, xin hỏi “bọn học trò” của N. Ma-rơ sao lại đợi đến khi bắt đầu cuộc thảo luận rồi mới nói những điều ấy ra? Bọn họ trước kia sao lại không để ý tới những điều ấy? Bọn họ sao lại không lấy thái độ người công tác khoa học phải có, nói toang những điều ấy ra cách thật thà và kịp thời?

Sau khi “bọn học trò” của N. Ma-rơ thừa nhận rằng “một vài” chỗ sai lầm “nào đó” của N. Ma-rơ rồi, họ còn cho rằng chỉ có thể tiếp tục phát triển ngôn ngữ học Liên Xô bằng cách tựa theo nền móng lý luận của N. Ma-rơ “đã tu chính” mà họ coi là lý luận của chủ nghĩa Mác. Không được, chúng ta phải duồng bỏ cái “chủ nghĩa Mác” của N. Ma-rơ đi! Thật N. Ma-rơ từng muốn làm một người Mác-xít và cũng từng gắng sức làm, nhưng hắn không thể làm một người Mác-xít được, hắn chỉ giản đơn hóa và dung tục hóa chủ nghĩa Mác đi, một thứ với những phái “Văn hóa vô sản” và “Hiệp hội tác gia vô sản nước Nga”.[l]

  1. Ma-rơ coi ngôn ngữ như thượng tằng kiến trúc, ấy là gán cho ngôn ngữ hoc một công thức không đúng, phi Mác-xít, làm hỗn loạn cho chính mình, cũng làm hỗn loạn cho ngôn ngữ học. Ngôn ngữ học Liên Xô không thể phát triển được trên cái nền móng công thức không đúng ấy.
  2. Ma-rơ còn gán cho ngôn ngữ học một cái công thức không đúng, phi Mác-xit khác nữa, ấy là chủ trương ngôn ngữ “có tính giai cấp”, làm hỗn loạn cho chính mình, cũng làm hỗn loạn cho ngôn ngữ học. Ngôn ngữ học Liên Xô không thể phát triển được trên cái nền móng công thức không đúng, mâu thuẫn với bước đường đi tới của cả bộ lịch sử dân tộc và lịch sử ngôn ngữ ấy.
  3. Ma-rơ gán cho ngôn ngữ học một thứ giọng điệu không khiêm tốn, khoác lác, hợm hĩnh, không phù hợp với chủ nghĩa Mác, nhẹ dạ và dễ dàng phủ định hết thảy những thành tích trong ngôn ngữ học trước N. Ma-rơ.
  4. Ma-rơ la lối om sòm, chỉ trích phép lịch sử so sánh là “duy tâm chủ nghĩa”. Thực ra thì phải nói, phép lịch sử so sánh tuy có những khuyết điểm lớn, còn khá hơn phép phân tích bốn thứ yếu tố(16) đúng duy tâm chủ nghĩa của N. Ma-rơ, vì phép trước còn thúc đẩy công tác nghiên cứu ngôn ngữ, phép sau chỉ muốn cho người ta nằm nghiêng, mò mẫm và đoán phỏng một cách vô ý nghĩa về bốn thứ yếu tố nổi tiếng lừng lẫy ấy mà thôi.
  5. Ma-rơ hợm hĩnh chỉ xích bất cứ sự ướm thử nào về nghiên cứu loại biệt (hệ tộc) của ngôn ngữ, cho đó là một biểu hiện của lý luận “mẫu ngữ” (17) thực ra thì không thể phủ nhận được sự quan hệ bà con của ngôn ngữ, tức như sự quan hệ bà con của ngôn ngữ các dân tộc Xít-la(m): Quả thật, nghiên cứu sự quan hệ bà con của ngôn ngữ các dân tộc ấy có thể làm cho ngôn ngữ học rất có ích lợi về phương diện nghiên cứu các quy luật phát triển của ngôn ngữ. Cố nhiên lý luận “mẫu ngữ” (n)không có mảy may quan hệ gì với vấn đề này.

Nghe kiểu nói của N. Ma-rơ, nhất là của môn đồ hắn, có thể khiến người ta nhìn nhận rằng trước N. Ma-rơ chưa từng có ngôn ngữ học nào cả, ngôn ngữ học chỉ mới bắt đầu có sau khi học thuyết mới của N. Ma-rơ ra đời. Mác và Ăng-ghen còn khiêm tốn hơn nhiều, hai ông này nhận rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng của mình là sản vật của sự phát triển các khoa học kể cả triết học ở trong của các thời kỳ trước.

Đó đủ thấy rằng lần thảo luận này thật có giúp ích về phương diện phơi bày những tư tưởng sai lầm về ngôn ngữ học Liên Xô.

Tôi cho rằng ngôn ngữ học của chúng ta duồng bỏ được những sai lầm của N. Ma-rơ càng chóng thì càng chóng duồng bỏ được cái nguy cơ nó hiện đương có ngày nay.

Tôi cho rằng thủ tiêu cái chế độ quân sự thống trị trong ngôn ngữ học, vứt bỏ những sai lầm của N. Ma-rơ, đem chủ nghĩa Mác tưới vào trong ngôn ngữ học, đó mới là con đường phát triển kiện toàn của ngôn ngữ học Liên Xô.

XÍT-TA-LIN

LỜI PHỤ CỦA NGƯỜI DỊCH

Theo lời Lý Lập Tam,[o] người dịch bài đại luận này ra chữ Hán, thì trước đây không lâu, báo “Chân lý”, tờ báo cơ quan của đảng Cộng sản Liên Xô, có mở một cuộc thảo luận về vấn đề ngôn ngữ học Liên Xô, nhiều học giả chuyên môn tham gia cuộc thảo luận rất sôi nổi. Đồng thời có mấy hội viên Viện khoa học Uy-cờ-ren cũng phát biểu những bài chuyên luận về vấn đề ấy, thành ra cuộc thảo luận càng sôi nổi, ý kiến càng bất nhất. Giữa lúc ấy một số thanh niên trong đảng xin Xit-ta-lin phát biểu ý kiến mình trên báo về vấn đề ngôn ngữ học, nhất là về chủ nghĩa Mác đối với ngôn ngữ học. Xit-ta-lin bèn viết bài này đăng lên báo “Chân lý”, số ra ngày 20 tháng 6 năm 1950, trả lời cho một số thanh niên đã hỏi mình, mà cũng gián tiếp trả lời cho hết thảy những bài đăng trên báo “Chân lý” và những bài của hội viên Viện khoa học Uy-cờ-ren.

Đúng một tháng sau bài của Xít-ta-lin được dịch ra chữ Hán, do Lý Lập Tam, một nhân vật Trung Hoa có tiếng, đăng trên báo “Đại công” xuất bản tại Hương Cảng, số ra ngày 21 tháng 7 năm 1950.
Chúng tôi căn cứ bản dịch chữ Hán ấy chuyển dịch ra tiếng Việt, tức là tập sách nhỏ này.
Dịch xong, lại nhận được một bản dịch chữ Pháp đánh máy, không có tên người dịch. Chúng tôi bèn so sánh hai bản dịch xem có chỗ nào dị đồng thì trích ra, luôn với chỗ nào đáng chua thêm cho rõ thì chua ngay ở dưới.
Trong khi làm việc này, chúng tôi rất thận trọng và hết sức trung thành đối với nguyên văn. Chúng tôi không biết và không dám nói đến nguyên văn tiếng Nga, chỉ cầu không phản lại nguyên văn cả hai bản dịch chữ Hán và tiếng Pháp là đủ. Nếu còn có chỗ nào sai lầm, xin bạn đọc chỉ bảo cho.
Bài đại luận này tuy nêu ra chỉ có bốn câu vấn đáp mà thực thì bao hàm rất nhiều vấn đề. Trong bài có nhiều câu lắp đi lắp lại nhiều lần ở nhiều chỗ, mới đọc tưởng như trùng lời điệp ý. Nhưng sau khi đọc thật kỹ, thấy mỗi một chỗ lắp lại như thế là bởi một ý khác. Cũng vì thế mà báo “Đại công” khuyên độc giả của mình nên đọc kỹ, đừng thấy “dài” mà chán, lại nói rằng “sự thực, chỉ dùng ngoài một vạn chữ đã đủ phân tích và giải đáp ngần ấy vấn đề đâu ra đó là dón gọn lắm rồi”.
Nếu có khuyên bạn đọc thì chúng tôi cũng chỉ khuyên đọc thật kỹ, nhất là bạn nào để tâm về ngôn ngữ học nên đọc thật kỹ.
Người dịch
PHAN KHÔI
Nguồn:
Xít-ta-lin, Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học, /Phan Khôi dịch theo bản dịch chữ Trung Hoa/, Kđ. [Việt Bắc]: Bộ Quốc gia giáo dục – Ban Văn học Vụ văn học nghệ thuật xb., 1951, 61 tr. 19cm.
[a] Chỗ này sách gốc in là “nữ thuật”, hẳn là in sai, tạm sửa là “mỹ thuật”.
(1) Từ vị: Vocabulaire, lexique (nguyên chú). Lưu ý: các chú thích bằng số Arab là nguyên chú của dịch giả Phan Khôi; các chú thích bằng chữ cái Latin trong ngoặc vuông [a, b, c] là của người biên soạn.
[b] Sinh sản: sản xuất (đến những năm này Phan Khôi vẫn dùng một số thuật ngữ xuất hiện hồi đầu thế kỷ XX và đã có từ thay thế, ví dụ “sinh sản” đã được thay bằng “sản xuất”, “sự cần dùng” đã được thay bằng “nhu cầu”);
(2) Từ và ngữ khác nhau. Từ là một chữ hoặc mấy chữ hợp lại mà tỏ được một khái niệm, có một công dụng, tức là terme; ngữ là mấy từ hợp lại mà chưa biểu hiện được một động tác, một ý tưởng trọn vẹn, chưa thành câu, tức là phrase (chữ này là danh từ ngữ pháp tiếng Anh). Đây nói từ và ngữ là theo bản dịch chữ Hán, còn theo bản dịch tiếng Pháp thì lại nói mote et expresetons.
[c] “tổ-thành-viên”: đơn vị hợp thành.
(3) Pút-kin (Pouchkine, 1799-1837): thi nhân nước Nga, nổi tiếng là nhà văn học thế giới.
(4) Những tiếng này là tác giả cử ra một số từ vị cơ bản. Trong bài này, nên chú ý hai cái danh từ “từ vị” và “từ vị cơ bản” khác nhau. Theo tác giả, từ vị cơ bản là những từ gốc trong ngôn ngữ như những tiếng cử ra đây, không hề tiêu diệt đi; còn từ vị nói chung là những từ theo hành vi sinh sản, khoa học, chế độ xã hội mà thay đổi thì có thay đổi luôn luôn. Có phân biệt như thế thì mới khỏi tưởng lầm chỗ này với thượng văn nói “từ vị Nga có biến hóa” và hạn văn nói “từ vị liên miên thay đổi” là mâu thuẫn.
[d] “ánh sáng gẫy” tức là “khúc xạ”.
(5) Thuật ngữ là mots techniques. Theo bản dịch tiếng Pháp, không nói thuật ngữ đặc biệt mà lại nói termes particuliers.
(6) Tiếng quen dùng, bản dịch chữ Hán là “quán dụng ngữ”, tiếng lịch sự là “nhã ngữ”; nhưng theo bản dịch tiếng Pháp, cả ba danh từ này là: des dialectes et jargons de classe, des langues de salon.
[e] Chỗ này có thể dịch giả PK hoặc nhà in có sơ suất chăng, vì phải là “ngôn ngữ giai cấp vô sản” mới đối lập với “ngôn ngữ giai cấp tư sản”, chứ không thể “ngôn ngữ giai cấp tư sản” lại đối lập với chính “ngôn ngữ giai cấp tư sản”.
(7) Từ cú: Lời và câu, theo bản dịch chữ Hán; nhưng bản dịch tiếng Pháp, chỗ này chỉ dùng một từ tournures.
(8) Đây là theo đúng bản dịch chữ Hán; nhưng bản dịch tiếng Pháp, cả đoạn này như thế này: “Ở trong những tiếng quen dùng và tiếng lóng ấy có những gì? Chỉ có một số từ đặc biệt có thú vị riêng cho bọn ở từng lớp trên của giai cấp quý tộc hoặc tư sản; một số thành ngữ và từ cú có vẻ nhã nhặn kiểu cách đặc biệt và tránh những thành ngữ và từ cú “quê kệch” trong ngôn ngữ dân tộc; ngoài ra còn có ít nhiều tiếng ngoại quốc xen vào. Nhưng hầu hết những từ và cách cấu tạo ngữ pháp đều mượn ở trong ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ của toàn dân. Cho nên, những tiếng địa phương, tiếng quen dùng, tiếng lóng chỉ là nhánh nhóc v.v…”. Hai bản dịch trái nhau ở chỗ đảo câu trên xuống câu dưới, đảo câu dưới lên câu trên, nhưng theo mạch văn thì bản dịch tiếng Pháp như thế đúng hơn.
(9) La-phác (Lafague, 1842-1911), người Pháp, một nhà xã hội chủ nghĩa, con rể của Các Mác.
(10) Tập sách nhỏ “Ngôn ngữ và cách mạng”, theo bản dịch tiếng Pháp là: Tập sách nhỏ “Ngôn ngữ nước Pháp trước và sau cuộc Cách mạng” (La Langue franςaise avant et après la  Révolution).
(11) Tiếng bịa đặt, theo bản dịch chữ Hán là “nhân vi ngữ”. Theo bản dịch tiếng Pháp câu này là: “…et tant en qualifiant les dialectes soit de “langue artificielle”, soit de jargon”. Bao nhiêu danh từ “quán dụng ngữ” (tiếng quen dùng) trong bản dịch chữ Hán thì bản dịch chữ Pháp đều nói dialecte cả.
[g] “tài liệu kiến trúc”: nên hiểu là vật liệu kiến trúc.
(12) Chủ từ và tân từ, người Trung Hoa dịch hai chữ subjectobject của tiếng Anh ra. Chỗ này, trong bản dịch tiếng Pháp nói: Un sujet concret, un verbe concret…
(13) Theo bản dịch tiếng Pháp, chỗ này không nói “mất một số từ vị cũ kỹ” mà nói des mots surannés ont disparu, khác nhau với bản dịch chữ Hán ở chữ “từ vị” với mots. Theo văn nghĩa thì nói như bản dịch tiếng Pháp có lẽ đúng hơn, bởi vì có mất thì mất một số từ chứ không thể mất một số từ vị. Có thể ngờ rằng bản dịch chữ Hán in thừa một chữ “vị” chăng ?
(14) Theo bản dịch tiếng Pháp “chế độ nông dân sinh sản cá nhân” là régime de l’ exploitation paysanne individuelle”; “chế độ nông trường” là régime kolkhosien.
[h] Đây ý nói nhật báo “Pravda”, thường dịch là “Sự thật”.
(15) N. Ma-rơ (N. Marr), chưa tra ra được, có lẽ là nhà ngôn ngữ học Nga cận đại, quyết không phải E. Marre, nhà ngôn ngữ học Pháp, sống vào khoảng giữa hai thế kỷ 19-20.
[i] Nikolay Yakovlevich Marr (1864-1934) người Gruzia, nhà Đông phương học, Kavkaz-học, triết gia, sử gia, nhà dân tộc học, khảo cổ học, Viện sĩ Viện hàn lâm đế chế Nga (1912), sau là Viện sĩ, rồi Phó Viện trưởng Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.
[k] Ivan Ivanovich Meshchaninov (1883-1967) gốc quý tộc Nga, nhà dân tộc học, nhà ngữ học Liên Xô; vốn là học trò và người kế thừa “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr, về sau đi theo hướng gạt bỏ những luận điểm sai lầm của thầy. Sau bài này của Stalin, học thuyết ngôn ngữ của Marr sụp đổ, Meshchaninov bị mất các chức vụ lãnh đạo ở Viện Hàn lâm nhưng vẫn là viện sĩ.
[l] Phái “Văn hóa vô sản”: tức là “Tổ chức văn hóa giáo dục vô sản” gọi tắt là Proletkult, thành lập sau cách mạng tháng 2/1917, bị giải thể năm 1932. “Hiệp hội tác gia vô sản nước Nga”, gọi tắt là RAPP, hình thành năm 1925, bị giải thể năm 1932, theo chỉ thị “Về việc cải tổ các tổ chức văn học nghệ thuật”  của Ban chấp hành trung ương đảng CS Liên Xô ngày 23.4.1932.
(16) Phép phân tích “bốn thứ yếu tố”, theo bản dịch tiếng pháp là l’ anlyse à quatre éléments. [4 yếu tố: N. Marr cho rằng, mọi từ vựng của mọi ngôn ngữ đều chung nguồn gốc xuất xứ (monogenesis), đó chính là 4 yếu tố vốn là những tiếng kêu khởi đầu lao động: SAL, BER, ION, ROSH (thoạt tiên “không có bất cứ hàm nghĩa gì” và nhắm tới các mục đích ma thuật); bộ môn gọi là “cổ sinh học ngôn ngữ” có thể quy bất cứ từ vựng nào vào một trong số 4 yếu tố ấy. – L.N.Â.]
(17) Lý luận “mẫu ngữ”, theo bản dịch tiếng Pháp là Théorie de la “langue originaire”.
(m) Xít-la: ý nói Slave, tức là các dân tộc ở khu vực Trung và Âu.
(n) Mẫu ngữ: từ này được bản Hoa văn dùng để dịch từ “prajazyk” tiếng Nga, chỉ ngôn ngữ nguyên sơ.
[o] Lý Lập Tam (1899-1967) người Trung Hoa, một trong những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn đầu, nắm thực quyền lãnh đạo đảng này những năm 1928-1930. Bị khủng bố và chết trong cách mạng văn hóa. Ông có nhiều năm sống ở Liên Xô, vợ ông là người Nga.

Bản tiếng Nga: J. Stalin: Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học

И. В. Сталин

МАРКСИЗМ И ВОПРОСЫ ЯЗЫКОЗНАНИЯ. Относительно марксизма в языкознании

(Правда. – М., 1950, 20 июня)

 

Ко мне обратилась группа товарищей из молодежи с предложением высказать свое мнение в печати по вопросам языкознания, особенно в части, касающейся марксизма в языкознании. Я не языковед и, конечно, не могу полностью удовлетворить товарищей. Что касается марксизма в языкознании, как и в других общественных науках, то к этому я имею прямое отношение. Поэтому я согласился дать ответ на ряд вопросов, поставленных товарищами.

 

Вопрос. Верно ли, что язык есть надстройка над базисом?

 

Ответ. Нет, неверно.

Базис есть экономический строй общества на данном этапе его развития. Надстройка – это политические, правовые, религиозные, художественные, философские взгляды общества и соответствующие им политические, правовые и другие учреждения.

Всякий базис имеет свою, соответствующую ему надстройку. Базис феодального строя имеет свою надстройку, свои политические, правовые и иные взгляды и соответствующие им учреждения, капиталистический базис имеет свою надстройку, социалистический – свою. Если изменяется и ликвидируется базис, то вслед за ним изменяется и ликвидируется его надстройка, если рождается новый базис, то вслед за ним рождается соответствующая ему надстройка.

Язык в этом отношении коренным образом отличается от надстройки. Взять, например, русское общество и русский язык. На протяжении последних 30 лет в России был ликвидирован старый, капиталистический базис и построен новый, социалистический базис. Соответственно с этим была ликвидирована надстройка над капиталистическим базисом и создана новая надстройка, соответствующая социалистическому базису. Были, следовательно, заменены старые политические, правовые и иные учреждения новыми, социалистическими. Но, несмотря на это, русский язык остался в основном таким же, каким он был до Октябрьского переворота.

Что изменилось за этот период в русском языке? Изменился в известной мере словарный состав русского языка, изменился в том смысле, что пополнился значительным количеством новых слов и выражений, возникших в связи с возникновением нового, социалистического производства, появлением нового государства, новой, социалистической культуры, новой общественности, морали, наконец, в связи с ростом техники и науки; изменился смысл ряда слов и выражений, получивших новое смысловое значение; выпало из словаря некоторое количество устаревших слов. Что же касается основного словарного фонда и грамматического строя русского языка, составляющих основу языка, то они после ликвидации капиталистического базиса не только не были ликвидированы и заменены новым основным словарным фондом и новым грамматическим строем языка, а, наоборот, сохранились в целости и остались без каких-либо серьезных изменений, – сохранились именно как основа современного русского языка.

Далее. Надстройка порождается базисом, но это вовсе не значит, что она только отражает базис, что она пассивна, нейтральна, безразлично относится к судьбе своего базиса, к судьбе классов, к характеру строя. Наоборот, появившись на свет, она становится величайшей активной силой, активно содействует своему базису оформиться и укрепиться, принимает все меры к тому, чтобы помочь новому строю доконать и ликвидировать старый базис и старые классы.

Иначе и не может быть. Надстройка для того и создается базисом, чтобы она служила ему, чтобы она активно помогала ему оформиться и укрепиться, чтобы она активно боролась за ликвидацию старого, отживающего свой век базиса с его старой надстройкой. Стоит только отказаться от этой ее служебной роли, стоит только перейти надстройке от позиции активной защиты своего базиса на позицию безразличного отношения к нему, на позицию одинакового отношения к классам, чтобы она потеряла свое качество и перестала быть надстройкой.

Язык в этом отношении коренным образом отличается от надстройки. Язык порожден не тем или иным базисом, старым или новым базисом внутри данного общества, а всем ходом истории общества и истории базисов в течение веков. Он создан не одним каким-нибудь классом, а всем обществом, всеми классами общества, усилиями сотен поколений. Он создан для удовлетворения нужд не одного какого-либо класса, а всего общества, всех классов общества. Именно поэтому он создан как единый для общества и общий для всех членов общества общенародный язык. Ввиду этого служебная роль языка как средства общения людей состоит не в том, чтобы обслуживать один класс в ущерб другим классам, а в том, чтобы одинаково обслуживать все общество, все классы общества. Эти собственно и объясняется, что язык может одинаково обслуживать как старый, умирающий строй, так и новый, подымающийся строй, как старый базис, так и новый, как эксплуататоров, так и эксплуатируемых.

Ни для кого не составляет тайну тот факт, что русский язык так же хорошо обслуживал русский капитализм и русскую буржуазную культуру до Октябрьского переворота, как он обслуживает ныне социалистический строй и социалистическую культуру русского общества.

То же самое нужно сказать об украинском, белорусском, узбекском, казахском, грузинском, армянском, эстонском, латвийском, литовском, молдавским, татарском, азербайджанском, башкирском, туркменском и других языках советских наций, которые так же хорошо обслуживали старый, буржуазный строй этих наций, как обслуживают они новый, социалистический строй.

Иначе и не может быть. Язык для того и существует, он для того и создан, чтобы служить обществу как целому в качестве орудия общения людей, чтобы он был общим для членов общества и единым для общества, равно обслуживающим членов общества независимо от их классового положения. Стоит только сойти языку с этой общенародной позиции, стоит только стать языку на позицию предпочтения и поддержки какой-либо социальной группы в ущерб другим социальным группам общества, чтобы он потерял свое качество, чтобы он перестал быть средством общения людей в обществе, чтобы он превратился в жаргон какой-либо социальной группы, деградировал и обрек себя на исчезновение.

В этом отношении язык, принципиально отличаясь от надстройки, не отличается, однако, от орудий производства, скажем, от машин, которые так же одинаково могут обслуживать и капиталистический строй и социалистический.

Дальше. Надстройка есть продукт одной эпохи, в течение которой живет и действует данный экономический базис. Поэтому надстройка живет недолго, она ликвидируется и исчезает с ликвидацией и исчезновением данного базиса.

Язык же, наоборот, является продуктом целого ряда эпох, на протяжении которых он оформляется, обогащается, развивается, шлифуется. Поэтому язык живет несравненно дольше, чем любой базис и любая надстройка. Этим собственно и объясняется, что рождение и ликвидация не только одного базиса и его надстройки, но и нескольких базисов и соответствующих надстроек не ведет в истории к ликвидации данного языка, к ликвидации его структуры и рождению нового языка с новым словарным фондом и новым грамматическим строем.

Со времени смерти Пушкина прошло свыше ста лет. За то время были ликвидированы в России феодальный строй, капиталистический строй и возник третий, социалистический строй. Стало быть, были ликвидированы два базиса с их надстройками и возник новый, социалистический базис с его новой надстройкой. Однако если взять, например, русский язык, то он за этот большой промежуток времени не претерпел какой-либо ломки и современный русский язык по своей структуре мало чем отличается от языка Пушкина.

Что изменилось за это время в русском языке? Серьезно пополнился за это время словарный состав русского языка; выпало из словарного состава большое количество устаревших слов, изменилось смысловое значение значительного количества слов, улучшился грамматический строй языкасто касается структуры пушкинского языка с его грамматическим строем и основным словарным фондом, то она сохранилась во всем существенном как основа современного русского языка.

И это вполне понятно. В самом деле, для чего это нужно, чтобы после каждого переворота существующая структура языка, его грамматический строй и основной словарный фонд уничтожались и заменялись новыми, как это бывает обычно с надстройкой? Кому это нужно, чтобы “вода”, “земля”, “гора”, “лес”, “рыба”, “человек”, “ходить”, “делать”, “производить”, “торговать” и т. д. назывались не водой, землей, горой и т. д., а как-то иначе? Кому нужно, чтобы изменения слов в языке и сочетание слов в предложении происходили не по существующей грамматике, а по совершенно другой? Какая польза для революции от такого переворота в языке? История вообще не делает чего-либо существенного без особой на то необходимости. Спрашивается, какая необходимость в таком языковом перевороте, если доказано, что существующий язык с его структурой в основном вполне пригоден для удовлетворения нужд нового строя? Уничтожить старую надстройку и заменить ее новой можно и нужно в течение нескольких лет, чтобы дать простор развитию производительных сил общества, но как уничтожить существующий язык и построить вместо него новый язык в течение нескольких лет, не внося анархию в общественную жизнь, не создавая угрозы распада общества? Кто же, кроме донкихотов, могут ставить себе такую задачу?

Наконец, еще одно коренное отличие между надстройкой и языком. Надстройка не связана непосредственно с производством, с производственной деятельностью человека. Она связана с производством лишь косвенно, через посредство экономики, через посредство базиса. Поэтому надстройка отражает изменения в уровне развития производительных сил не сразу и не прямо, а после изменений в базисе, через преломление изменений в производстве в изменениях в базисе. Это значит, что сфера действия надстройки узка и ограничена.

Язык же, наоборот, связан с производственном деятельностью человека непосредственно, и не только с производственной деятельностью, но и со всякой иной деятельностью человека во всех сферах его работы – от производства до базиса, от базиса до надстройки. Поэтому язык отражает изменения в производстве сразу и непосредственно, не дожидаясь изменений в базисе. Поэтому сфера действия языка, охватывающего все области деятельности человека, гораздо шире и разностороннее, чем сфера действия надстройки. Более того, она почти безгранична.

Этим прежде всего и объясняется, что язык, собственно его словарный состав, находятся в состоянии почти непрерывного изменения. Непрерывный рост промышленности и сельского хозяйства, торговли и транспорта, техники и науки требует от языка пополнения его словаря новыми словами и выражениями, необходимыми для их работы. И язык, непосредственно отражая эти нужды, пополняет свой словарь новыми словами, совершенствует свой грамматический строй.

Итак:

а) марксист не может считать язык надстройкой над базисом;

б) смешивать язык с надстройкой – значит допустить серьезную ошибку.

 

Вопрос. Верно ли, что язык был всегда и остается классовым, что общего и единого для общества неклассового, общенародного языка не существует?

 

Ответ. Нет, неверно.

Нетрудно понять, что в обществе, где нет классов, не может быть и речи о классовом языке. Первобытно-общинный родовой строй не знал классов, следовательно, не могло быть там и классового языка, – язык был там общий, единый для всего коллектива. Возражение о том, что под классом надо понимать всякий человеческий коллектив, в том числе и первобытно-общинный коллектив, представляет не возражение, а игру слов, которая не заслуживает опровержения.

Что касается дальнейшего развития от языков родовых к языкам племенным, от языков племенных к языкам народностей и от языков народностей к языкам национальным, то везде на всех этапах развития язык как средство общения людей в обществе был общим и единым для общества, равно обслуживающим членов общества независимо от социального положения.

Я имею здесь в виду не империи рабского и средневекового периодов, скажем, империю Кира и Александра Великого или империю Цезаря и Карла Великого, которые не имели своей экономической базы и представляли временные и непрочные военно-административные объединения. Эти империи не только не имели, но и не могли иметь единого для империи и понятного для всех членов империи языка. Они представляли конгломерат племен и народностей, живших своей жизнью и имевших свои языки. Следовательно, я имею в виду не эти и подобные им империи, а те племена и народности, которые входили в состав империи, имели свою экономическую базу и имели свои издавна сложившиеся языки. История говорит, что языки у этих племен и народностей были не классовые, а общенародные, общие для племен и народностей и понятные для них.

Конечно, были наряду с этим диалекты, местные говоры, но над ними превалировал и их подчинял себе единый и общий язык племени или народности.

В дальнейшем, с появлением капитализма, с ликвидацией феодальной раздробленности и образованием национального рынка народности развились в нации, а языки народностей – в национальные языки. История говорит, что национальные языки являются не классовыми, а общенародными языками, общими для членов наций и едиными для нации.

Выше говорилось, что язык как средство общения людей в обществе одинаково обслуживает все классы общества и проявляет в этом отношении своего рода безразличие, к классам. Но люди, отдельные социальные группы, классы далеко не безразличны к языку, Они стараются использовать язык в своих интересах, навязать ему свой особый лексикон, свои особые термины, свои особые выражения. Особенно отличаются в этом отношении верхушечные слои имущих классов, оторвавшиеся от народа и ненавидящие его: дворянская аристократия, верхние слои буржуазии. Создаются “классовые” диалекты, жаргоны, салонные “языки”. В литературе нередко эти диалекты и жаргоны неправильно квалифицируются как языки: “дворянский язык”, “буржуазный язык”, – в противоположность “пролетарскому языку”, “крестьянскому языку”. На этом основании, как это ни странно, некоторые наши товарищи пришли к выводу, что национальный язык есть фикция, что реально существуют лишь классовые языки.

Я думаю, что нет ничего ошибочнее такого вывода. Можно ли считать эти диалекты и жаргоны языками? Безусловно нельзя. Нельзя, во-первых, потому, что у этих диалектов и жаргонов нет своего грамматического строя и основного словарного фонда, – они заимствуют их из национального языка Нельзя, во-вторых, потому, что диалекты и жаргоны имеют узкую сферу обращения среди членов верхушки того или иного класса и совершенно не годятся как средство общения людей для общества в целом. Что же у них имеется? У них есть: набор некоторых специфических слов, отражающих специфические вкусы аристократии или верхних слоев буржуазии; некоторое количество выражений и оборотов речи, отличающихся изысканностью, галантностью и свободных от “грубых” выражений и оборотов национального языка; наконец, некоторое количество иностранных слов. Все же основное, то есть подавляющее большинство слов и грамматический строй, взято из общенародного, национального языка. Следовательно, диалекты и жаргоны представляю? ответвления от общенародного национального языка, лишенные какой-либо языковой самостоятельности и обреченные на прозябание. Думать, что диалекты и жаргоны могут развиться в самостоятельные языки, способные вытеснить и заменить национальный язык, значит потерять историческую перспективу и сойти с позиции марксизма.

Ссылаются на Маркса, цитируют одно место из его статьи “Святой Макс”, где сказано, что у буржуа есть “свой язык”, что этот язык “есть продукт буржуазии”, что он проникнут духом меркантилизма и купли-продажи. Этой цитатой некоторые товарищи хотят доказать, что Маркс стоял будто бы за “классовость” языка, что он отрицал существование единого национального языка. Если бы эти товарищи отнеслись к делу объективно, они должны были бы привести и другую цитату из той же статьи “Святой Макс”, где Маркс, касаясь вопроса о путях образования единого национального языка, говорит о “концентрации диалектов в единый национальный язык, обусловленной экономической и политической концентрацией”.

Следовательно, Маркс признавал необходимость единого национального языка как высшей формы, которой подчинены диалекты как низшие формы.

Что же в таком случае может представлять язык буржуа, который, по словам Маркса, “есть продукт буржуазии”. Считал ли его Маркс таким же языком, как национальный язык, со своей особой языковой структурой? Мог ли он считать его таким языком? Конечно, нет! Маркс просто хотел сказать, что буржуа загадили единый национальный язык своим торгашеским лексиконом, что буржуа, стало быть, имеют свой торгашеский жаргон.

Выходит, что эти товарищи исказили позицию Маркса. А исказили ее потому, что цитировали Маркса не как марксисты, а как начетчики, не вникая в существо дела.

Ссылаются на Энгельса, цитируют из брошюры “Положение рабочего класса в Англии” слова Энгельса о том, что “английский рабочий класс с течением времени стал совсем другим народом, чем английская буржуазия”, что “рабочие говорят на другом диалекте, имеют другие идеи и представления, другие нравы и нравственные принципы, другую религию и политику, чем буржуазия”. На основании этой питать? некоторые товарищи делают вывод, что Энгельс отрицал необходимость общенародного, национального языка, что он стоял, стало быть, за “классовость” языка. Правда, Энгельс говорит здесь не об языке, а о диалекте, вполне понимая, что диалект как ответвление от национального языка не может заменить национального языка. Но эти товарищи, видимо, не очень сочувствуют наличию разницы между языком и диалектом…

Очевидно, что цитата приведена не к месту, так как Энгельс говорит здесь не о “классовых языках”, а главным образом о классовых идеях, представлениях, нравах, нравственных принципах, религии, политике. Совершенно правильно, что идеи, представления, нравы, нравственные принципы, религия, политика у буржуа и пролетариев прямо противоположны. Но причем здесь национальный язык или “классовость” языка? Разве наличие классовых противоречий в обществе может служить доводом в пользу “классовости” языка, или против необходимости единого национального языка? Марксизм говорит, что общность языка является одним из важнейших признаков нации, хорошо зная при этом, что внутри нации имеются классовые противоречия. Признают ли упомянутые товарищи этот марксистский тезис?

Ссылаются на Лафарга, указывая на то, что Лафарг в своей брошюре “Язык и революция” признает “классовость” языка, что он отрицает будто бы необходимость общенародного, национального языка. Это неверно. Лафарг действительно говорит о “дворянском” или “аристократическом языке” и о “жаргонах” различных слоев общества. Но эти товарищи забывают о том, что Лафарг, не интересуясь вопросом о разнице между языком и жаргоном и называя диалекты то “искусственной речью”, то “жаргоном”, определенно заявляет в своей брошюре, что “искусственная речь, отличающая аристократию… выделилась из языка общенародного, на котором говорили и буржуа, и ремесленники, город и деревня”.

Следовательно, Лафарг признает наличие и необходимость общенародного языка, вполне понимая подчиненный характер и зависимость “аристократического языка” и других диалектов и жаргонов от общенародного языка.

Выходит, что ссылка на Лафарга бьет мимо цели.

Ссылаются на то, что в одно время в Англии английские феодалы “в течение столетий” говорили на французском языке, тогда как английский народ говорил на английском языке, что это обстоятельство является будто бы доводом в пользу “классовости” языка и против необходимости общенародного языка. Но это не довод, а анекдот какой-то. Во-первых, на французском языке говорили тогда не все феодалы, а незначительная верхушка английских феодалов при королевском дворе и в графствах. Во-вторых, они говорили не на каком-то “классовом языке”, а на обыкновенном общенародном французском языке. В-третьих, как известно, это баловство французским языком исчезло потом бесследно, уступив место общенародному английскому языку. Думают ли эти товарищи, что английские феодалы “в течение столетий” объяснялись с английским народом через переводчиков, что они не пользовались английским языком, что общенародного английского языка не существовало тогда, что французский язык представлял тогда в Англии что-нибудь более серьезное, чем салонный язык, имеющий хождение лишь в узком кругу верхушки английской аристократии? Как можно на основании таких анекдотических “доводов” отрицать наличие и необходимость общенародного языка?

Русские аристократы одно время тоже баловались французским языком при царском дворе и в салонах. Они кичились тем, что, говоря по-русски, заикаются по-французски, что они умеют говорить по-русски лишь с французским акцентом. Значит ли это, что в России не было тогда общенародного русского языка, что общенародный язык был тогда фикцией, а “классовые языки” – реальностью?

Наши товарищи допускают здесь по крайней мере две ошибки.

Первая ошибка состоит в том, что они смешивают язык с надстройкой. Они думают, что если надстройка имеет классовый характер, то и язык должен быть не общенародным, а классовым. Но я уже говорил выше, что язык и надстройка представляют два различных понятия, что марксист не может допускать их смешения.

Вторая ошибка состоит в том, что эти товарищи воспринимают противоположность интересов буржуазии и пролетариата, их ожесточенную классовую борьбу как распад общества, как разрыв всяких связей между враждебными классами. Они считают, что поскольку общество распалось и нет больше единого общества, а есть только классы, то не нужно и единого для общества языка, не нужно национального языка. Что же остается, если общество распалось и нет больше общенародного, национального языка? Остаются классы и “классовые языки”. Понятно, что у каждого “классового языка” будет своя “классовая” грамматика – “пролетарская” грамматика, “буржуазная” грамматика. Правда, таких грамматик не существует в природе, но это не смущает этих товарищей: они верят, что такие грамматики появятся.

У нас были одно время “марксисты”, которые утверждали, что железные дороги, оставшиеся в нашей стране после Октябрьского переворота, являются буржуазными, что не пристало нам, марксистам, пользоваться ими, что нужно их срыть и построить новые, “пролетарские” дороги. Они получили за это прозвище “троглодитов”…

Понятно, что такой примитивно-анархический взгляд на общество, классы, язык не имеет ничего общего с марксизмом. Но он безусловно существует и продолжает жить в головах некоторых наших запутавшихся товарищей.

Конечно, неверно, что ввиду наличия ожесточенной классовой борьбы общество якобы распалось на классы, не связанные больше друг с другом экономически в одном обществе. Наоборот. Пока существует капитализм, буржуа и пролетарии будут связаны между собой всеми нитями экономики как части единого капиталистического общества. Буржуа не могут жить и *обогащаться, не имея в своем распоряжении наемных рабочих, – пролетарии не могут продолжать свое существование, не нанимаясь к капиталистам. Прекращение всяких экономических связей между ними означает прекращение всякого производства, прекращение же всякого производства ведет к гибели общества, к гибели самих классов. Понятно, что ни один класс не захочет подвергнуть себя уничтожению. Поэтому классовая борьба, какая бы она ни была острая, не может привести к распаду общества. Только невежество в вопросах марксизма и полное непонимание природы языка могли подсказать некоторым нашим товарищам сказку о распаде общества, о “классовых” языках, о “классовых” грамматиках.

Ссылаются, далее, на Ленина и напоминают о том, что Ленин признавал наличие двух культур при капитализме – буржуазной и пролетарской, что лозунг национальной культуры при капитализме есть националистический лозунг. Все это верно, и Ленин здесь абсолютно прав. Но причем тут “классовость” языка? Ссылаясь на слова Ленина о двух культурах при капитализме, эти товарищи, как видно, хотят внушить читателю, что наличие двух культур в обществе – буржуазной и пролетарской – означает, что языков тоже должно быть два, так как язык связан с культурой, – следовательно, Ленин отрицает необходимость единого национального языка, следовательно, Ленин стоит за “классовые” языки. Ошибка этих товарищей состоит здесь в том, что они отождествляют и смешивают язык с культурой. Между тем культура и язык – две разные вещи. Культура может быть и буржуазной и социалистической, язык же как средство общения является всегда общенародным языком, и он может обслуживать и буржуазную и социалистическую культуру. Разве это не факт, что русский, украинский, узбекский языки обслуживают ныне социалистическую культуру этих наций так же неплохо, как обслуживали они перед Октябрьским переворотом их буржуазные культуры? Значит глубоко ошибаются эти товарищи, утверждая, что наличие двух разных культур ведет к образованию двух разных языков и к отрицанию необходимости единого языка.

Говоря о двух культурах, Ленин исходил из того именно положения, что наличие двух культур не может вести к отрицанию единого языка и образованию двух языков, что язык должен быть единый. Когда бундовцы стали обвинять Ленина в том, что он отрицает необходимость национального языка и трактует культуру как “безнациональную”, Ленин, как известно, резко протестовал против этого, заявив, что он воюет против буржуазной культуры, а не против национального языка, необходимость которого он считает бесспорной. Странно, что некоторые наши товарищи поплелись по стопам бундовцев.

Что касается единого языка, необходимость которого будто бы отрицает Ленин, то следовало бы заслушать следующие слова Ленина:

“Язык есть важнейшее средство человеческого общения; единство языка и беспрепятственное его развитие есть одно из важнейших условий действительно свободного и широкого, соответствующего современному капитализму, торгового оборота, свободной и широкой группировки населения по всем отдельным классам”.

Выходит, что уважаемые товарищи исказили взгляды Ленина.

Ссылаются, наконец, на Сталина. Приводят цитату из Сталина о том, что “буржуазия и ее националистические партии были и остаются в этот период главной руководящей силой таких наций”. Это все правильно. Буржуазия и ее националистическая партия действительно руководят буржуазной культурой, так же как пролетариат и его интернационалистическая партия руководят пролетарской культурой. Но причем тут “классовость” языка? Разве этим товарищам не известно, что национальный язык есть форма национальной культуры, что национальный язык может обслуживать и буржуазную и социалистическую культуру? Неужели наши товарищи не знакомы с известной формулой марксистов о том, что нынешняя русская, украинская, белорусская и другие культуры являются социалистическими по содержанию и национальными по форме, то есть по языку? Согласны ли они с этой марксистской формулой?

Ошибка наших товарищей состоит здесь в том, что они не видят разницы между культурой и языком и не понимают, что культура по своему содержанию меняется с каждым новым периодом развития общества, тогда как язык остается в основном тем же языком в течение нескольких периодов, одинаково обслуживая как новую культуру, так и старую.

Итак:

а) язык как средство общения всегда был и остается единым для общества и общим для его членов языком;

б) наличие диалектов и жаргонов не отрицает, а подтверждает наличие общенародного языка, ответвлениями которого они являются и которому они подчинены;

в) формула о “классовости” языка есть ошибочная, немарксистская формула.

 

Вопрос. Каковы характерные признаки языка?

 

Ответ. Язык относится к числу общественных явлений, действующих за все время существования общества. Он рождается и развивается с рождением и развитием общества. Он умирает вместе со смертью общества. Вне общества нет языка. Поэтому язык и законы его развития можно понять лишь в том случае, если он изучается в неразрывной связи с историей общества, с историей народа, которому принадлежит изучаемый язык и который является творцом и носителем этого языка.

Язык есть средство, орудие, при помощи которого люди общаются друг с другом, обмениваются мыслями и добиваются взаимного понимания. Будучи непосредственно связан с мышлением, язык регистрирует и закрепляет в словах и в соединении слов в предложениях результаты работы мышления, успехи познавательной работы человека и, таким образом, делает возможным обмен мыслями в человеческом обществе.

Обмен мыслями является постоянной и жизненной необходимостью, так как без него невозможно наладить совместные действия людей в борьбе с силами природы, в борьбе за производство необходимых материальных благ, невозможно добиться успехов в производственной деятельности общества, следовательно, невозможно само существование общественного производства. Следовательно, без языка, понятного для общества и общего для его членов, общество прекращает производство, распадается и перестает существовать как общество. В этом смысле язык, будучи орудием общения, является вместе с тем орудием борьбы и развития общества.

Как известно, все слова, имеющиеся в языке, составляют вместе так называемый словарный состав языка. Главное в словарном составе языка – основной словарный фонд, куда входят и все корневые слова как его ядро. Он гораздо менее обширен, чем словарный состав языка, но он живет очень долго, в продолжение веков и дает языку базу для образования новых слов. Словарный состав отражает картину состояния языка: чем богаче и разностороннее словарный состав, тем богаче и развитее язык.

Однако словарный состав, взятый сам по себе, не составляет еще языка, – он скорее всего является строительным материалом для языка. Подобно тому, как строительные материалы в строительном деле не составляют здания, хотя без них и невозможно построить здание, так же и словарный состав языка не составляет самого языка, хотя без него и немыслим никакой язык. Но словарный состав языка получает величайшее значение, когда он поступает в распоряжение грамматики языка, которая определяет правила изменения слова, правила соединения слов в предложения и, таким образом, придает языку стройный, осмысленный характер. Грамматика (морфология, синтаксис) является собранием правил об изменении слов и сочетании слов в предложении. Следовательно, именно благодаря грамматике язык получает возможность облечь человеческие мысли в материальную языковую оболочку.

Отличительная черта грамматики состоит в том, что она дает правила об изменении слов, имея в виду не конкретные слова, а вообще слова без какой-либо конкретности, она дает правила для составления предложений, имея в виду не какие-либо конкретные предложения, скажем, конкретное подлежащее, конкретное сказуемое и т. п., а вообще всякие предложения, безотносительно к конкретной форме того или иного предложения. Следовательно, абстрагируясь от частного и конкретного как в словах, так и в предложениях, грамматика берет то общее, что лежит в основе изменений слов и сочетании слов в предложениях, и строит из него грамматические правила, грамматические законы. Грамматика есть результат длительной абстрагирующей работы человеческого мышления, показатель громадных успехов мышления.

В этом отношении грамматика напоминает геометрию, которая дает свои законы, абстрагируясь от конкретных предметов, рассматривая предметы как тела, лишенные конкретности, и определяя отношения между ними не как конкретные отношения таких- то конкретных предметов, а как отношения тел вообще, лишенные всякой конкретности.

В отличие от надстройки, которая связана с производством не прямо, а через посредство экономики, язык непосредственно связан с производственной деятельностью человека так же, как и со всякой иной деятельностью во всех без исключения сферах его работы. Поэтому словарный состав языка как наиболее чувствительный к изменениям находится в состоянии почти непрерывного изменения, при этом языку в отличие от надстройки не приходится дожидаться ликвидации базиса, он вносит изменения в свой словарный состав до ликвидации базиса и безотносительно к состоянию базиса.

Однако словарный состав языка изменяется не как надстройка, не путем отмены старого и постройки нового, а путем пополнения существующего словаря новыми словами, возникшими в связи с изменениями социального строя, с развитием производства, с развитием культуры, науки и т. п. При этом, несмотря на то, что из словарного состава языка выпадает обычно некоторое количество устаревших слов, к нему прибавляется гораздо большее количество новых слов. Что же касается основного словарного фонда, то он сохраняется во всем основном и используется как основа словарного состава языка.

Это и понятно. Нет никакой необходимости уничтожать основной словарный фонд, если он может быть с успехом использован в течение ряда исторических периодов, не говоря уже о том, что уничтожение основного словарного фонда, накопленного в течение веков, при невозможности создать новый основной словарный фонд в течение короткого срока привело бы к параличу языка, к полному расстройству дела общения людей между собой.

Грамматический строй языка изменяется еще более медленно, чем его основной словарный фонд. Выработанный в течение эпох и вошедший в плоть и кровь языка, грамматический строй изменяется еще медленнее, чем основной словарный фонд. Он, конечно, претерпевает с течением времени изменения, он совершенствуется, улучшает и уточняет свои правила, обогащается новыми правилами, но основы грамматического строя сохраняются в течение очень долгого времени, так как они, как показывает история, могут с успехом обслуживать общество в течение ряда эпох.

Таким образом, грамматический строй языка и его основной словарный фонд составляют основу языка, сущность его специфики.

История отмечает большую устойчивость и колоссальную сопротивляемость языка насильственной ассимиляции. Некоторые историки вместо того, чтобы объяснить это явление, ограничиваются удивлением. Но для удивления нет здесь каких-либо оснований. Устойчивость языка объясняется устойчивостью его грамматического строя и основного словарного фонда. Сотни лет турецкие ассимиляторы старались искалечить, разрушить и уничтожить языки балканских народов. За этот период словарный состав балканских языков претерпел серьезные изменения, было воспринято немало турецких слов и выражений, были и “схождения” и “расхождения”, однако балканские языки выстояли и выжили. Почему? Потому, что грамматический строй и основной словарный фонд этих языков в основном сохранились.

Из всего этого следует, что язык, его структуру нельзя рассматривать как продукт одной какой-либо эпохи. Структура языка, его грамматический строй и основной словарный фонд есть продукта ряда эпох.

Надо полагать, что элементы современного языка были заложены еще в глубокой древности, до эпохи рабства. Это был язык несложный, е очень скудным словарным фондом, но со своим грамматическим строем, правда, примитивным, но все же грамматическим строем.

Дальнейшее развитие производства, появление классов, появление письменности, зарождение государства, нуждающегося для управления в более или менее упорядоченной переписке, развитие торговли, еще более нуждавшейся в упорядоченной переписке, появление печатного станка, развитие литературы – все это внесло большие изменения в развитие языка. За это время племена и народности дробились и расходились, смешивались и скрещивались, а в дальнейшем появились национальные языки и государства, произошли революционные перевороты, сменились старые общественные строи новыми. Все это внесло еще больше изменений в язык и его развитие.

Однако было бы глубоко ошибочно думать, что развитие языка происходило так же, как развитие надстройки: путем уничтожения существующего и построения нового. На самом деле развитие языка происходило не путем уничтожения существующего языка и построения нового, а путем развертывания и совершенствования основных элементов существующего языка. При этом переход от одного качества языка к другому качеству происходил не путем взрыва, не путем разового уничтожения старого и построения нового, а путем постепенного и длительного накопления элементов нового качества, новой структуры языка, путем постепенного отмирания элементов старого качества.

Говорят, что теория стадиального развития языка является марксистской теорией, так как она признает необходимость внезапных взрывов как условия перехода языка от старого качества к новому. Это, конечно, неверно, ибо трудно найти что-либо марксистское в этой теории. И если теория стадиальности действительно признает внезапные взрывы в истории развития языка, то тем хуже для нее. Марксизм не признает внезапных взрывов в развитии языка, внезапной смерти существующего языка и внезапного построения нового языка. Лафарг был не прав, когда он говорил о “внезапной языковой революции, совершившейся между 1789 и 1794 годами” во Франции (см. брошюру Лафарга “Язык и революция”). Никакой языковой революции, да еще внезапной, не было тогда во Франции. Конечно, за этот период словарный состав французского языка пополнился новыми словами и выражениями, выпало некоторое количество устаревших слов, изменилось смысловое значение некоторых слов – и только. Но такие изменения ни в какой мере не решают судьбу языка. Главное в языке – его грамматический строй и основной словарный фонд. Но грамматический строй и основной словарный фонд французского языка не только не исчезли в период Французской революции, а сохранились без существенных изменений, и не только сохранились, а продолжают жить и поныне в современном французском языке. Я уже не говорю о том, что для ликвидации существующего языка и построения нового национального языка (“внезапная языковая революция”!) до смешного мал пяти-шестилетний срок, – для этого нужны столетия.

Марксизм считает, что переход языка от старого качества к новому происходит не путем взрыва, не путем уничтожения существующего языка и создания нового, а путем постепенного накопления элементов нового качества, следовательно, путем постепенного отмирания элементов старого качества.

Вообще нужно сказать к сведению товарищей, увлекающихся взрывами, что закон перехода от старого качества к новому путем взрыва неприменим не только к истории развития языка, – он не всегда применим также и к другим общественным явлениям базисного или надстроечного порядка. Он обязателен для общества, разделенного на враждебные классы. Но он вовсе не обязателен для общества, не имеющего враждебных классов. В течение 8-10 лет мы осуществили в сельском хозяйстве нашей страны переход от буржуазного индивидуально-крестьянского строя к социалистическому, колхозному строю. Это была революция, ликвидировавшая старый буржуазный хозяйственный строй в деревне и создавшая новый, социалистический строй. Однако этот переворот совершился не путем взрыва, то есть не путем свержения существующей власти и создания новой власти, а путем постепенного перехода от старого, буржуазного строя в деревне к новому. А удалось это проделать потому, что это была революция сверху, что переворот был совершен по инициативе существующей власти при поддержке основных масс крестьянства.

Говорят, что многочисленные факты скрещивания языков, имевшие место в истории, дают основание предполагать, что при скрещивании происходит образование нового языка путем взрыва, путем внезапного перехода от старого качества к новому качеству. Это совершенно неверно.

Скрещивание языков нельзя рассматривать как единичный акт решающего удара, дающий свои результаты в течение нескольких лет. Скрещивание языков есть длительный процесс, продолжающийся сотни лет. Поэтому ни о каких взрывах не может быть здесь речи.

Далее. Совершенно неправильно было бы думать, что в результате скрещивания, скажем, двух языков получается новый, третий язык, не похожий ни на один из скрещенных языков и качественно отличающийся от каждого из них. На самом деле при скрещивании один из языков обычно выходит победителем, сохраняет свой грамматический строй, сохраняет свой основной словарный фонд и продолжает развиваться по внутренним законам своего развития, а другой язык теряет постепенно свое качество и постепенно отмирает.

Следовательно, скрещивание дает не какой-то новый, третий язык, а сохраняет один из языков, сохраняет его грамматический строй и основной словарный фонд и дает ему возможность развиваться по внутренним законам своего развития.

Правда, при этом происходит некоторое обогащение словарного состава победившего языка за счет побежденного языка, но это не ослабляет, а, наоборот, усиливает его.

Так было, например, с русским языком, с которым скрещивались в ходе исторического развития языки ряда других народов и который выходил всегда победителем.

Конечно, словарный состав русского языка пополнялся при этом за счет словарного состава других языков, но это не только не ослабило, а, наоборот, обогатило и усилило русский язык.

Что касается национальной самобытности русского языка, то она не испытала ни малейшего ущерба, ибо, сохранив свой грамматический строй и основной словарный фонд, русский язык продолжал продвигаться вперед и совершенствоваться по внутренним законам своего развития.

Не может быть сомнения, что теория скрещивания не может дать чего-либо серьезного советскому языкознанию. Если верно, что главной задачей языкознания является изучение внутренних законов развития языка, то нужно признать, что теория скрещивания не только не решает этой задачи, но даже не ставит ее, – она просто не замечает или не понимает ее.

 

Вопрос. Правильно ли поступила “Правда”, открыв свободную дискуссию по вопросам языкознания?

 

Ответ. Правильно поступила.

В каком направлении будут решены вопросы языкознания, – это станет ясно в конце дискуссии. Но уже теперь можно сказать, что дискуссия принесла большую пользу.

Дискуссия выяснила прежде всего, что в органах языкознания как в центре, так и в республиках господствовал режим, не свойственный науке и людям науки. Малейшая критика положения дел в советском языкознании, даже самые робкие попытки критики так называемого “нового учения” в языкознании преследовались и пресекались со стороны руководящих кругов языкознания. За критическое отношение к наследству Н. Я. Марра, за малейшее неодобрение учения Н. Я. Марра снимались с должностей или снижались по должности ценные работники и исследователи в области языкознания. Деятели языкознания выдвигались на ответственные должности не по деловому признаку, а по признаку безоговорочного признания учения Н. Я. Марра.

Общепризнано, что никакая наука не может развиваться и преуспевать без борьбы мнений, без свободы критики. Но это общепризнанное правило игнорировалось и попиралось самым бесцеремонным образом. Создалась замкнутая группа непогрешимых руководителей, которая, обезопасив себя от всякой возможной критики, стала самовольничать и бесчинствовать.

Один из примеров: так называемый “Бакинский курс” (лекции Н. Я. Марра, читанные в Баку), забракованный и запрещенный к переизданию самим автором, был, однако, по распоряжению касты руководителей (товарищ Мещанинов называет их “учениками” Н. Я. Марра) переиздан и включен в число рекомендуемых студентам пособий без всяких оговорок. Это значит, что студентов обманули, выдав им забракованный “Курс” за полноценное пособие. Если бы я не был убежден в честности товарища Мещанинова и других деятелей языкознания, я бы сказал, что подобное поведение равносильно вредительству.

Как могло это случиться? А случилось это потому, что аракчеевский режим, созданный в языкознании, культивирует безответственность и поощряет такие бесчинства.

Дискуссия оказалась весьма полезной прежде всего потому, что она выставила на свет божий этот аракчеевский режим и разбила его вдребезги.

Но польза дискуссии этим не исчерпывается. Дискуссия не только разбила старый режим в языкознании, но она выявила еще ту невероятную путаницу взглядов по самым важным вопросам языкознания, которая царит среди руководящих кругов этой отрасли науки. До начала дискуссии они молчали и замалчивали неблагополучное положение в языкознании. Но после начала дискуссии стало уже невозможным молчать, – они были вынуждены выступить на страницах печати. И что же? Оказалось, что в учении Н. Я. Марра имеется целый ряд прорех, ошибок, неуточненных проблем, неразработанных положений. Спрашивается, почему об этом заговорили “ученики” Н. Я. Марра только теперь, после открытия дискуссии? Почему они не позаботились об этом раньше? Почему они в свое время не сказали об этом открыто и честно, как это подобает деятелям науки?

Признав “некоторые” ошибки Н. Я. Марра, “ученики” Н. Я. Марра, оказывается, думают, что развивать дальше языкознание можно лишь на базе “уточненной” теории Н. Я. Марра, которую они считают марксистской. Нет уж, избавьте нас от “марксизма” Н. Я. Марра. Н. Я. Марр действительно хотел быть и старался быть марксистом, но он не сумел стать марксистом. Он был всего лишь упростителем и вульгаризатором марксизма, вроде “пролеткультовцев” или “рапповцов”.

Н. Я. Марр внес в языкознание неправильную, немарксистскую формулу насчет языка как надстройки и запутал себя, запутал языкознание. Невозможно на базе неправильной формулы развивать советское языкознание.

Н. Я. Марр внес в языкознание другую, тоже неправильную и немарксистскую формулу насчет “классовости” языка и запутал себя, запутал языкознание. Невозможно на базе неправильной формулы, противоречащей всему ходу истории народов и языков, развивать советское языкознание.

Н. Я. Марр внес в языкознание не свойственный марксизму нескромный, кичливый, высокомерный тон, ведущий к голому и легкомысленному отрицанию всего того, что было в языкознании до Н. Я. Марра.

Н. Я. Марр крикливо шельмует сравнительно-исторический метод как “идеалистический”. А между тем нужно сказать, что сравнительно-исторический метод, несмотря на его серьезные недостатки, все же лучше, чем действительно идеалистический четырех – элементный анализ Н. Я. Марра, ибо первый толкает к работе, к изучению языков, а второй толкает лишь к тому, чтобы лежать на печке и гадать на кофейной гуще вокруг пресловутых четырех элементов.

Н. Я. Марр высокомерно третирует всякую попытку изучения групп (семей) языков как проявление теории “праязыка”. А между тем нельзя отрицать, что языковое родство, например, таких наций, как славянские, не подлежит сомнению, что изучение языкового родства этих наций могло бы принести языкознанию большую пользу в деле изучения законов развития языка. Понятно, что теория “праязыка” не имеет к этому делу никакого отношения.

Послушать Н. Я. Марра и особенно его “учеников” – можно подумать, что до Н. Я. Марра не было никакого языкознания, что языкознание началось с появлением “нового учения” Н. Я. Марра. Маркс и Энгельс были куда скромнее: они считали, что их диалектический материализм является продуктом развития наук, в том числе философии, за предыдущие периоды.

Таким образом, дискуссия помогла делу также и в том отношении, что она вскрыла идеологические прорехи в советском языкознании.

Я думаю, что чем скорее освободится наше языкознание от ошибок Н. Я. Марра, тем скорее можно вывести его из кризиса, который оно переживает теперь.

Ликвидация аракчеевского режима в языкознании, отказ от ошибок Н. Я. Марра, внедрение марксизма в языкознание – таков, по-моему, путь, на котором можно было бы оздоровить советское языкознание.

 

ĐỀ XUẤT TÔN VINH DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI: PHAN KHÔI

 

 

 

Tác gia Phan Khôi (1887-1959) là một tên tuổi lớn trong hoạt động báo chí, văn học, tư tưởng Việt Nam ở thời hiện đại.

Quê tại Quảng Nam, sinh trưởng trong gia đình nhà nho, đời ông và đời cha đều đỗ đạt, làm quan, Phan Khôi theo Nho học từ nhỏ. Năm 1906 dự thi hương, đỗ Tú tài. Cũng từ cuối năm 1906, Phan Khôi tham gia phong trào duy tân, vận động cát tóc ngắn, đi quyên tiền và chọn người cho “Đông du”; đầu năm 1908 Phan Khôi là một trong số những thành viên trẻ được phong trào duy tân Quảng Nam cử ra Hà Nội học tiếng Pháp. Cũng thời gian đó tại Quảng Nam nổ ra vụ “xin xâu”, chính quyền Pháp ra tay đàn áp. Phan Khôi bị bắt đưa về Quảng Nam, bị kết án tù 3 năm; 1911 ra tù, Phan Khôi còn tiếp tục hoạt động trong “ám xã” thêm vài năm nữa; sau đó, ông xin ra khỏi tổ chức bí mật, để chuyển hướng đời mình sang “phụng sự Tổ quốc về mặt văn hóa″.

Từ bỏ con đường của chí sĩ, Phan Khôi bắt đầu tìm kiếm cho mình một phương hướng sống mới. Ông tìm học chữ Quốc ngữ, học tiếng Pháp, lại cũng tìm tòi học hỏi từ các nguồn sách báo từ Trung Hoa, từ Pháp đưa đến xứ ta.

Về nghề nghiệp mưu sinh, sau thời gian dạy học tại nhà, Phan Khôi bắt đầu viết báo (chữ Hán và chữ Việt) từ năm 1917 cho tạp chí Nam Phong ở Hà Nội với bút danh Chương Dân . Đầu 1918 ông ra Hà Nội làm việc trong tòa soạn báo này, song chỉ một năm sau, ông thôi việc về nhà. Năm 1919, ông vào Sài Gòn, viết cho tờ Quốc dân diễn đàn, và sau đó, cho tờ Lục tỉnh tân văn. Được vài tháng, lại bị buộc thôi việc.

Năm 1920, ông ra Hải Phòng, vào làm thư ký cho hãng tàu Bạch Thái. Đầu năm 1921 thôi việc ở đấy, lên Hà Nội, cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu thanh. Nhưng phần lớn thời gian suốt 5 năm (1921-1925) Phan Khôi cộng tác với Hội thánh Tin Lành ở Hà Nội (tức là Hội truyền giáo Phúc âm liên hiệp /Christian and Missionary Aliance; C&MA/, từ Hoa Kỳ vào Việt Nam) dịch Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, dưới sự chủ trì của bà mục sư Grace Hazenberg Cadman. Đây là dịp rất may mắn để Phan Khôi được mở rộng tầm mắt, hiểu biết văn hóa Thiên Chúa giáo phương Tây, nhất là nhánh tôn giáo cải cách Tin Lành.

Đầu năm 1926, Phan Khôi đến Huế, mục đích là gặp Khâm sứ Pasquier để xin giấy phép ra một tờ báo nhưng việc không thành; ông ở nhờ nhà riêng Nguyễn Bá Trác, khi ấy vừa được bổ chức Tán lý bộ Học, đúng lúc Phan Bội Châu bị chính quyền Pháp, vì định bỏ tù cụ không được, bèn buộc cụ phải an trí tại Huế, cũng đang ở nhà Nguyễn Bá Trác; sự việc này sẽ gây nhiều rắc rối về sau. Cũng dịp đầu năm 1926, Phan Khôi vào Sài Gòn theo lời nhắn của chí sĩ Phan Châu Trinh, đã từ Pháp về Sài Gòn, và đang bị đau nặng, nằm tại nhà thầy thuốc Nguyễn An Cư (chú ruột Nguyễn An Ninh)  rồi chết (24.3.1926). Phan Khôi ở trong nhóm những người chuẩn bị đám tang cụ Phan, được giao viết tiểu sử Phan Châu Trinh. Thế nhưng trong dư luận sĩ phu hai xứ Quảng lại có những đồn thổi rằng dường như Phan Khôi đồng mưu cùng Nguyễn Bá Trác dụ dỗ cụ Sào Nam về hàng Pháp, rằng dường như Phan Khôi được Khâm sứ Trung Kỳ đưa vô Nam ám sát cụ Tây Hồ! Phan Khôi bị ngờ vực, xua đuổi, phải rời Sài Gòn xuống Cà Mau, đến khoảng cuối năm 1927 mới trở lại Sài Gòn.

Từ đầu năm 1928 Phan Khôi bắt đầu viết dưới bút danh C.D. (ký tắt bút hiệu Chương Dân) cho tờ Đông Pháp Thời Báo, khi đó đã thuộc về chủ nhiệm Diệp Văn Kỳ (ông này mua lại tờ báo từ tay chủ nhiệm Nguyễn Kim Đính). Sang năm 1929, Đông Pháp Thời Báo đổi tên thành Thần Chung; Phan Khôi tiếp tục viết cho tờ này. Đôi khi ông cũng viết cho báo chữ Hán, tờ Quần Báo (hoặc Hoa Kiều Nhật Báo) của người Hoa ở Chợ Lớn. Từ tháng 5/1929, Phan Khôi và Đào Trinh Nhất cộng tác biên tập và viết bài cho tuần báo Phụ Nữ Tân Văn của chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận. Tháng 3/1930, nhật báo Thần Chung bị đóng cửa, Phan Khôi chuyển sang viết cho nhật báo Trung Lập của chủ nhiệm Trần Thiện Quý, khi Bùi Thế Mỹ cũng từ Thần Chung chuyển sang làm chủ bút cho Trung Lập. Ngoài mấy tờ báo tại Sài Gòn, Phan Khôi đôi khi còn cộng tác với một số tờ báo ở Hà Nội như Phổ Thông (1930), Đông Tây (1931-32).

Hoạt động báo chí những năm 1928-1933 đã khiến tên tuổi Phan Khôi trở nên nổi bật trên trường dư luận văn chương báo chí tiếng Việt khắp cả ba miền.

Giữa năm 1933 ông ra Hà Nội, viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo ít lâu rồi nhận lời của chủ nhân Nguyễn Văn Đa làm chủ bút tờ Phụ Nữ Thời Đàm, đổi tờ này từ nhật báo sang tuần báo (1933-34), duy trì tờ báo suốt 22 tuần, trước khi chuyển chức danh chủ bút cho Nguyễn Triệu Luật.

Đầu năm 1934 Phan Khôi về quê chịu tang cha, lại gửi bài cộng tác với các báo ở Sài Gòn như Công Luận (1934), Phụ Nữ Tân Văn (1934).

Đầu năm 1935, Phan Khôi tới Huế, làm chủ bút tờ nhật báo Tràng An của chủ nhiệm Bùi Huy Tín. Đầu năm 1936 ông thôi chủ bút tờ này, chuyển sang cộng tác viết bài cho tuần san Hà Nội Báo ở Hà Nội. Sau khi cho in cuốn sách Chương Dân Thi Thoại (nhà in Đắc Lập, Huế, 1936), Phan Khôi đứng ra sáng lập báo Sông Hương, một tờ tuần báo thiên về học thuật, nhất là sử học, văn học, ngôn ngữ, v.v., tuy vậy ông và tờ báo này vẫn tham dự nhiều hoạt động của báo giới giữa lúc phong trào Đông Dương đại hội đang lên cao. Do báo thất thu, Phan Khôi phải ngừng xuất bản Sông Hương sau 32 số, trước khi bán lại giấy phép Sông Hương cho nhóm cộng sản Nguyễn Cửu Thạnh, Phan Đăng Lưu. Những năm 1938-1940, Phan Khôi lúc ở Huế, lúc ở Sài Gòn, lúc ở quê Quảng Nam, vừa dạy học, vừa viết bài cho các tờ báo ở Hà Nội như Đông Dương Tạp Chí (tục bản), Thời Vụ, Dư Luận, Ngày Nay, Tao Đàn, Phổ Thông Bán Nguyệt San. Từ 1940 ông hầu như ở Sài Gòn, viết cho tờ Dân Báo của Bùi Thế Mỹ. Khoảng cuối 1941 đầu 1942, ông ngừng viết báo, từ Sài Gòn về quê Quảng Nam.

Đến đấy cũng chấm dứt hoạt động báo chí của Phan Khôi thời kỳ trước 1945.

***

Như đã nói trên, chính hoạt động báo chí tại Nam Kỳ, tại Sài Gòn đã làm nên tên tuổi nhà văn, nhà báo, học giả Phan Khôi. Ông xứng đáng được coi như một trong những tên tuổi hàng đầu của văn học và báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Phan Khôi có lúc nói ông tự xem mình là “viên tiểu tưởng của đạo quân bình dân tư tưởng”. Đây là sự tự xác định chính xác, giàu tự trọng tự khiêm của ông. Vốn là nhà nho nhưng đã không còn đi tiếp con đường thi đỗ làm quan, không thể can dự thế sự từ vai trò quan chức nhà nước. Ông không có cái may mắn được đào tạo chính quy trong nền học thuật Pháp-Việt mới, như một số người Việt cùng thế hệ. Ông phải tìm và đi con đường khác, tựu trung là con đường của người làm dân, người trong dân chúng. Bút danh Chương Dân được sử dụng từ 1917 nói khá rõ sự tự xác định ấy của ông. Ngay khi bằng tự học và tự trang bị nhiều nguồn kiến văn mới, ông cũng hiểu rõ mình đã ở trong hàng ngũ kẻ sĩ bình dân, trí giả bình dân. Do vậy, trong tranh biện tư tưởng học thuật, ông không đặt mục tiêu hay tham vọng thay thế những Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, những đại diện của một học vấn dù sao cũng chính quy hơn ông. Ông đặt mục tiêu đối thoại, phản biện lại các đại diện ấy với một sự chân thành lành mạnh.

1/ Phan Khôi và công việc xây dựng nền Quốc văn mới

Thời kỳ từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ đầu thế kỷ XX là một giai đoạn phát triển mới của văn học tiếng Việt, gắn với việc sử dụng chữ Quốc ngữ. Nếu văn chương tiếng Việt, ở các thời kỳ trước đó, được ghi dưới dạng chữ Nôm, chỉ là một trong các bộ phận của văn học Việt Nam (bên cạnh bộ phận viết bằng chữ Hán), thì từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi, bộ phận này dần dần trở thành bộ phận chủ yếu. Người ta biết, thời kỳ ấy, ở Nam Kỳ và sau đó trong toàn quốc, chữ Quốc ngữ được chính quyền thực dân Pháp đưa vào sử dụng như một trong các văn tự chính quy cho các giao tiếp hành chính công cộng, như một trong hai ngôn ngữ chính quy của nhà trường phổ thông ở Nam Kỳ, sau đó trong cả ba miền (nhà trường Pháp-Việt từ Tiểu học đến Trung học).

Hoạt động trong giới viết báo viết văn, Phan Khôi hiểu khá sâu sắc những chuyển biến đã, đang và sẽ xảy ra cho các diễn ngôn tiếng Việt ở thời đại mới. Ông biết khá rõ về những gì diễn ra trong văn hóa văn học ở nước láng giềng Trung Hoa: “Độ Dân Quốc gây dựng được năm bảy năm chi đó, Hồ Thích bắt đầu xướng ra cái thuyết dùng bạch thoại thế cho văn ngôn, làm cho văn thể nước Tàu biến đổi ngay và từ đó tư tưởng người Tàu cũng phát đạt rất mau”.(1) Ông biết, tiếng Việt dưới dạng các văn bản tác phẩm chữ Nôm của các thời đại trước hầu như chỉ nổi bật ở các thể thơ và văn vần, hầu như đạt tới trạng thái cổ điển, nhưng ở dạng tản văn, văn xuôi thì hầu như có quá ít trứ tác, không có những mẫu mực đủ để hậu thế thời ông có thể sử dụng vào viết văn viết báo. “…chữ Quốc ngữ của chúng ta ngày nay còn phân vân, chưa nhứt định, chưa có sách mẹo cùng các sách khác thuộc về phép làm văn, thì bước thứ nhứt là phải do chúng ta lập cái nền quốc văn cho vững chãi đã, rồi mới nói đến cái hay cái đẹp được; nghĩa là trước hết chúng ta phải tập viết văn cho đúng mẹo, cho thông. Hễ đã đúng mẹo, đã thông, rồi mới nhơn đó mà lập thành sách mẹo tiếng Việt Nam và lại nhơn đó lần lần làm ra các sách dạy phép làm văn, luyện đến cái hay cái đẹp, mà thành ra một nền văn chương Việt Nam vậy”. (2)

Ý thức về nhiệm vụ chung của các giới làm văn làm báo là xây dựng nền quốc văn mới, đã thúc đẩy Phan Khôi bắt tay vào một loạt công việc, một loạt đề tài về ngữ học, khởi đầu là vận động công chúng viết đúng chuẩn chữ Quốc ngữ.(3) Ông nhận thấy “người Bắc, người Trung, người Nam, mỗi nơi đều có sai lầm theo thói quen riêng của mình; chúng tôi hết sức công kích mà khuyên người ta phải viết cho đúng. Đúng gì? Đúng tiếng Việt Nam, đúng tiếng mẹ đẻ, đúng với tự vị Trương Vĩnh Ký và Paulus Của”. (4)

Tiếp đó là việc khởi thảo “Phép làm văn” tiếng Việt, một đề tài mà Phan Khôi đã viết và cho đăng từ 1930 trên tuần báo Phụ Nữ Tân Văn và về sau ông cổ vũ nhiều tác giả khác cùng làm, trên tuần báo Sông Hương ở Huế (1936-37) hoặc trên tạp chí Tao Đàn ở Hà Nội (1939). Phan Khôi quan niệm “phép làm văn” gồm các bộ phận chính là: 1/ “văn pháp” (grammaire), 2/ “luận lý học” (logique), 3/ “tu từ học” (rhétorique),(5) bởi vậy ông vừa viết những bài phân tích trong phạm vi ngữ pháp tiếng Việt, song ông cũng vượt ra ngoài phạm vi đó, bàn tới “cách xưng tên của người Việt Nam”,(6) “cách ngôn luận của người Á Đông”,(7) tới bộ môn “danh học” mà theo ông cần tôn vinh người mở đầu chính là Khổng Tử với thuyết “chính danh”, (8) tới tính chất của hành vi phát ngôn trên trang báo như là sự giao tiếp vắng mặt và các hệ lụy của nó. (9)  Phan Khôi cũng bắt tay vào những công việc thiết thực như mở mục “Vai ngự sử trên đàn văn” để góp ý sửa sai về dùng từ, diễn ý, cho các đồng nghiệp cầm bút trong viết văn viết báo. (10)

Sống bằng nghề viết, chính Phan Khôi phải tự tìm tòi để tạo ra những lối viết hợp lý. Kinh nghiệm Trung Hoa “dùng bạch thoại” của Hồ Thích cho Phan Khôi thấy phải dựa vào thứ tiếng Việt sống động mà người Việt thời mình đang nói hàng ngày để tạo ra những lối viết hiện đại, thích hợp với đương thời. Thành công đầu tiên của ông là tạo được lối viết nghị luận, lối viết “không lấy văn làm mục đích mà lấy việc làm làm mục đích”, “khi nghị luận thì cứ băm vào việc mà nói, việc nên làm thế nào, nói hẳn ra thế ấy”. (11)  Đương thời, lối viết nghị luận của Phan Khôi có những khác biệt rõ rệt so với lối viết nghị luận của Phạm Quỳnh, cũng khác biệt rõ rệt so với lối viết nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh.

Nếu lối viết nghị luận của Phan Khôi dựa chủ yếu trên bảng từ vựng tiếng Việt thông dụng ở cả hai miền Nam Bắc, thì khi viết “lối văn hàng ngày”, lối của một tay bút chủ trì cột báo (columnist), chủ trì các mục báo, các bài hài đàm, Phan Khôi đã chú trọng khai thác phương ngữ miền Nam, với khá nhiều từ vựng và mệnh đề khẩu ngữ thông dụng ở các vùng từ Quảng Nam vào đến Nam Kỳ. Đối với ông, đây là một văn phong của một tác giả dựa vào thứ phương ngữ quen thuộc với mình, nó cũng có giá trị ngang như một văn phong khác, ví dụ lối viết của Hoàng Tích Chu, vốn tận dụng nhiều hơn các đặc tính phương ngữ Bắc Kỳ.

Cả hai lối viết văn xuôi đều thiên về thể luận này của Phan Khôi đã là thành tựu được thừa nhận trong công chúng và đồng nghiệp ngay từ những năm 1930:

“Ông đã ở trong việc viết, dịch văn quốc ngữ nhiều năm; trong vài ba năm nay tên ông đã lừng lẫy trong báo giới, văn ông lại càng rõ ràng, khúc chiết, sáng sủa, dễ hiểu, thỉnh thoảng lại đưa cái hơi trào phúng mát mẻ mà khó chịu. Hiện nay văn viết báo của ông, trừ lối văn luận thuyết mà ông cũng là một tay đàn anh trong trường ngôn luận, ông còn một lối văn đặc biệt, là lối văn hàng ngày, nó hay, nó có duyên và vui vẻ làm sao, nó khéo đến cả trong lối sắp đặt từng câu từng chữ của ông, nó mặn mà thấm thía đến tinh thần người đọc. Đọc lên mà vui, mà mừng, mà thích, mà đắc ý; lại đọc lên mà ké né, mà xính vính, mà sợ, mà lo, mà tức giận, cấu đầu gãi tai, cũng trong câu văn ấy. Các nhà viết báo thiện nghệ ngày nay chưa chắc đã có một tay nào có được lối văn ấy, đủ ứng dụng hàng ngày trong một cơ quan ngôn luận. Thực vậy, lối văn hàng ngày trên báo của ông Phan Khôi có thể đem ra so sánh với lối văn hàng ngày của ông De la Fouchardière ở báo Œuvre bên Paris”. (12)

2/ Phan Khôi và công cuộc đổi mới tư tưởng

Phan Khôi có lúc đã tự coi mình “là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng, đi trước dẹp đường”, (1)  của một nền học vấn bình dân, phổ cập, sẵn sàng chịu chất vấn và truy cầu chân lý. Sống trong một thời đại chuyển đổi, Phan Khôi ý thức rõ rệt về tình thế thay đổi hệ hình văn hóa khi xã hội Khổng giáo Á châu tiếp nhận các luồng sóng “Âu hóa”. Ông nhìn rõ khác biệt Đông-Tây không phải chủ yếu là khác biệt về bản sắc dân tộc hay vùng đất mà chính là khác biệt về trình độ phát triển; văn minh Âu Mỹ chính là văn minh mới mẻ nhất của nhân loại đương thời, với các đặc tính khoa học, dân chủ, tự do, là tiêu biểu cho xu thế tiến bộ của thời hiện đại. (2)  Do vậy, hoạt động cải cách, đổi mới, “Âu hóa”, học theo văn minh Tây phương, chính là chuyển mình sang thời hiện đại.

Phan Khôi rất chú trọng làm rõ hàm nghĩa các phạm trù xã hội của văn minh phương Tây như chủ nghĩa cá nhân, nền dân chủ (cũng gọi là dân trị). Trong khi không ít cây bút nghị luận đương thời khó tránh khỏi tâm thế mô tả xuyên tạc chủ nghĩa cá nhân (individualisme) thành thái độ vị kỷ (égoisme), thì Phan Khôi trình bày cách hiểu chủ nghĩa cá nhân Âu Tây trước hết như là sự tự chủ của mỗi con người trưởng thành trước xã hội. “Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. Ở phương Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia”,… “Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật”. (3)

Phan Khôi hiểu rằng sự phát triển con người cá nhân ấy chính là điều kiện để có xã hội dân trị tức xã hội dân chủ. “Muốn thực hành cái chủ nghĩa dân trị trong một nước nào thì người làm dân trong nước ấy trước phải thực hành cái cá nhân chủ nghĩa (individualisme) mới được”… “Cá nhân chủ nghĩa là hết thảy người trong nước, mỗi người đều độc lập về phần mình; mà độc lập cả hai đường: về tinh thần và về vật chất vậy. Độc lập về tinh thần, tức là mỗi người đều biết tự suy nghĩ lấy, tự phán đoán lấy, nhắm lẽ phải ở đâu thì theo đó, chớ không làm nô lệ cho ý kiến của người nào hay đảng phái nào. Độc lập về vật chất tức là độc lập về kinh tế, mỗi người đều làm lấy mà nuôi sự sống mình, chớ không chịu nhờ vả ai, dầu con cũng không nhờ cha, vợ cũng không nhờ chồng. Có độc lập như vậy rồi mới nói chuyện hiệp quần được”. (4) 

Phân tích trạng thái tinh thần của xã hội Việt Nam, Phan Khôi chỉ ra ảnh hưởng rất nặng của ý thức hệ Khổng giáo, từ Trung Hoa truyền vào nước ta thời kỳ bị nội thuộc, trở thành công cụ của chế độ quân chủ chuyên chế ngoại bang, và sau đó, của chế độ quân chủ chuyên chế độc lập, tạo ra con người chức năng, con người công cụ, trói buộc con người vào trật tự quân chủ bằng những quy phạm đạo đức hà khắc.

Phan Khôi vạch rõ, Nho giáo đã được thể chế hóa vào cấu trúc chế độ quân chủ. “Trong Khổng giáo không có đặt riêng ra người cầm quyền chủ giáo như Giáo hoàng của đạo Thiên Chúa; mà ông vua tức là người chủ giáo đó, vì ông vua là chức “Quân” mà thêm cả chức “Sư”. Bởi vậy, người trong nước theo Khổng giáo, làm tín đồ Khổng Tử, đã đành, nhưng trong sự theo ấy lại còn phải ở dưới quyền vua nữa.” (5)  Nho giáo chính là học thuyết biện hộ chế độ quân chủ chuyên chế, Nho học là nơi đào tạo các môn đồ – các nhà nho – theo mẫu hình người “quân tử”, có trách nhiệm phò tá, trợ giúp vị giáo chủ ( = ông vua) cai quản dân chúng ở đất nước mình; chế độ quân chủ lựa chọn quan chức chủ yếu từ giới nhà nho, thông qua các kỳ thi Nho học. Đây là điểm vừa khác biệt lại vừa tương đồng của Đông Á thời trung đại dưới các nền chuyên chế Nho giáo so với châu Âu trung đại dưới sự cai trị của nền quân chủ thần quyền theo Thiên Chúa giáo, mà Phan Khôi đã nhận ra. Nhà nho trong xã hội theo Nho giáo cũng giống như các giáo sĩ trong các xã hội theo Thiên Chúa giáo. Bằng hiểu biết và bằng trải nghiệm cá nhân, Phan Khôi khẳng định thuộc tính của nhà nho, sản phẩm của Khổng giáo, là: nhà nho bao giờ cũng phụng sự chế độ quân chủ, và nhà nho không bao giờ đứng về phía dân chủ! (6)

Sang thời cận hiện đại, khi các xã hội vùng Đông Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, v.v.) chịu ảnh hưởng Tây phương, thì Khổng giáo phải đối đầu với làn sóng “Âu hóa”; các cuộc vận động “tân văn hóa” đều nhằm xây dựng tinh thần khoa học và dân chủ, tức là phải vượt qua những ảnh hưởng vốn đã thâm căn cố đế của Khổng giáo. Trên đất Việt Nam, các thiết chế xã hội gắn với Nho giáo bị xóa bỏ từng phần, không phải bởi chính người Việt mà là bởi thế lực thực dân từ phương Tây đến. Tuy vậy, việc hóa giải ý thức hệ Nho giáo và những ảnh hưởng sâu rộng của nó trong xã hội người Việt vẫn cần phải do người Việt thực hiện. Phan Khôi hình dung sự hóa giải ấy cần diễn ra trên một phổ rộng; về học thuyết, cần biến Nho giáo từ chỗ là những tôn chỉ “thiên kinh địa nghĩa” mà người ta phải tuân thủ trở thành đối tượng của nghiên cứu, phân tích, phê phán. Một số nét tinh túy mà Nho giáo tạo nên ở cư dân Việt như lòng ái quốc, đức chính trực, vai trò Nho học trong việc hình thành nhân cách, v.v., thì cần giữ lại, kế thừa. Những lề thói phi nhân, kỳ thị giữa người với người trong cộng đồng, do Nho giáo tạo ra hoặc dung dưỡng, thì cần nêu ra và tạo dư luận phản kháng, lên án, bài trừ.

Nhìn sâu hơn vào xã hội Việt Nam thời quân chủ, Phan Khôi vạch ra đặc tính của nó chẳng những chỉ là xã hội đẳng cấp, mà còn là một xã hội nam quyền, trọng nam khinh nữ, với những quy phạm và định kiến phi nhân, được nho giáo bênh vực và hợp pháp hoa, ví dụ chuẩn mực chữ “trinh” của Tống nho,(7) hoặc những tập quán về chế độ đại gia đình đã hình thành dưới ảnh hưởng Khổng giáo theo đó người gia trưởng có quyền áp chế các thành viên là con cháu, mẹ chồng được quyền áp chế nàng dâu, gây ra vô vàn thảm kịch không đáng có. (8)

Trong thời gian chủ trì các tờ báo chuyên về giới phụ nữ (từ tháng 5/1929 đến 1932 với tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, từ tháng 9/1933 đến tháng 2/1934 với tờ Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội), Phan Khôi đã có hàng loạt bài viết nhiều loại, từ nghị luận đến khảo cứu, dịch thuật, tạp văn, nêu ra “vấn đề phụ nữ” trước xã hội Việt Nam, cho thấy một xã hội Việt Nam bước vào thời hiện đại không thể không từng bước khắc phục tình trạng bất bình đẳng nam nữ. Đây không chỉ là hoạt động có ý nghĩa tạo thêm nguồn lực lao động cho một nền công nghiệp, thương mại và dịch vụ đang mở ra, mà điều chủ yếu ở đây là ý nghĩa tranh đấu đòi quyền làm người cho một nửa dân cư vốn vẫn còn bị xã hội nam quyền kỳ thị, áp chế, tước đoạt. Các tờ báo phụ nữ do Phan Khôi chủ trì đã làm dấy lên phong trào phụ nữ bằng một loạt hoạt động xã hội, văn hóa, cổ vũ và hướng dẫn người phụ nữ tự trang bị thêm những hiểu biết và kỹ năng sống cần thiết cho bản thân và cho chức năng làm vợ, làm mẹ, làm người. Phan Khôi xứng đáng được thừa nhận như một trong những nhà hoạt động nữ quyền năng động nhất của Việt Nam những năm 1930s, một trong những tác gia Việt Nam tập hợp được một lượng tri thức về giới nữ thuộc loại đa dạng nhất, phong phú nhất.

3/ Phan Khôi, nhà sử học

Khả năng đọc nhiều biết rộng đã khiến ở Phan Khôi sớm hình thành con mắt sử học, quan tâm đến các tiến trình lịch sử.

Năm 1928, trên tờ Đông Pháp Thời Báo ở Sài Gòn, Phan Khôi, dưới bút danh C.D. đã khởi ra một cuộc thảo luận về việc có hay không sự kiện “nước Pháp giúp nước Nam”, tức là nhà nước Pháp giúp quân cụ và binh lính cho chúa Nguyễn Ánh trong nội chiến chống Tây Sơn, như một số tờ báo chữ Pháp ở Đông Dương đương thời rao truyền, khiến một vài tờ báo chữ Việt lặp lại. Bằng vào các nguồn sử liệu khác nhau, Phan Khôi vạch rõ: tuy giao ước Pháp-Việt 1787 được ký kết nhưng trước sau chính phủ Pháp đã không thực thi, họ không hề đưa quân lính hay tàu binh đến giúp Nguyễn Ánh, rốt cuộc cha Bá-đa-lộc dùng tiền của Nguyễn Ánh gửi mua được hai tàu binh và mộ được vài chục người Pháp, trong đó có một số võ quan Pháp bỏ ngũ đi với Bá-đa-lộc sang đầu quân giúp Nguyễn Ánh. Biện luận của Phan Khôi cho độc giả thấy, mấy chục người Pháp có mặt trong đội quân của Nguyễn Ánh chỉ là những lính đánh thuê nước ngoài, không phải người do chính phủ Pháp cử đến giúp. Tuy nhiên, Phan Khôi cảnh báo, những luận điệu tương tự thuyết “nước Pháp giúp nước Nam” có thể đã thâm nhập vào các bộ sử do người Tàu soạn, và ông kêu đòi các sử gia truyền Nguyễn phải làm sách để biện giải rõ về các sự kiện lịch sử Việt Nam cận đại. (1)

Năm 1929, Phan Khôi đã đóng vai trò chính tổ chức Cuộc thi quốc sử trên báo Thần Chung, đưa ra 30 bản sự tích các nhân vật lịch sử Việt Nam để bạn đọc bình chọn ra 10 nhân vật mà mình cho là tiêu biểu; một đề thi nữa là yêu cầu bạn độc chọn ra trong đó một nhân vật và viết một bài dài 3 trang cắt nghĩa vì sao mình cho đó là bậc nhất trong sử Việt. Tuy cuộc thi đã không có tổng kết trao giải, có thể vì nhật báo Thần Chung bị đóng cửa đột ngột (vào cuối tháng 3/1930), song những gì đã đưa lên báo trong suốt thời gian từ khi mở ra cuộc thi (đầu tháng 7/1929) đến hết năm 1929, đã là một cuộc phổ thông sử Việt khá hiếm hoi trên báo chí đương thời. Bằng việc đưa công chúng vào một cuộc thi bình chọn nhân vật “bực nhất″ trong quốc sử, Phan Khôi và những người tổ chức cuộc thi đã kích thích tinh thần tự do bình chọn của người tham dự, cũng tức là kích thích óc phê bình — chứ không chỉ vinh danh — nhân vật lịch sử. (2)

Năm 1935, khi làm chủ bút tờ Tràng An ở Huế, Phan Khôi đã tổ chức một số chuyên đề nhân 50 năm sự kiện kinh thành thất thủ (ngày 23/5 năm Hàm Nghi Ất Dậu 1885) với các bài viết của ông và của Hoài Thanh.

Năm 1936-37, với tuần báo Sông Hương do chính ông sáng lập, ông đã biến một phần tờ báo thành diễn đàn sử học với sự góp mặt của nhiều nhà văn và học giả; ông cũng đã đưa lên báo này những sử liệu do chính ông thâu nhặt được, như xác định vị trí của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong khởi nghĩa Duy Tân (1916); sự kiện Nghĩa Hội chiếm tỉnh Quảng Nam hồi những năm 1880s được phản ánh trong vè Khâm sai; về lệ cống nạp người vàng sang Tàu; về lai lịch nhân vật là Bạch Xỉ từng xưng vua, v.v.

Đấy là ta chưa kể hàng loạt bài viết, dài ngắn khác nhau, về các nhân vật và sự kiện lịch sử Trung Hoa mà Phan Khôi tỏ rõ một sự theo rõi khá sát sao, từ hành tung các viên tướng quân phiệt đến ứng xử của các yếu nhân thời kỳ sau các mạng Tân Hợi. Đối với đời sống chính trị ở nước Trung Hoa Dân Quốc đương thời, Phan Khôi có cái nhìn khá tinh tường; ông thấy rõ cái bi kịch của một quốc gia từng tồn tại dưới ách quân chủ chuyên chế suốt hàng ngàn năm, sau cuộc cách mạng lật đổ nền quân chủ, đã không hình thành nổi một hiến pháp cộng hòa, đành theo phương án “dĩ đảng trị quốc”, thay ngôi vua thuộc một dòng họ bằng ngôi vua tập thể của nhóm đứng đầu đảng cầm quyền. Tình trạng “dĩ đảng trị quốc” này chỉ có hướng xử lý khi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc chuyển dần sang nền chính trị đa nguyên, đa đảng, theo mô hình các quốc gia dân chủ phát triển; trong khi đó, những quốc gia do đảng cộng sản cầm quyền thì trong thực chất lại trở về với mô hình chế độ chuyên chế.

4/ Phan Khôi, nhà báo, cây bút chính luận  

Viết văn nghị luận là một trong những sở trường của Phan Khôi. Văn nghị luận của ông không chỉ đề cập đến các vấn đề tư tưởng hay văn chương, mà cũng đề cập đến thời sự xã hội chính trị.

Ngay năm 1919, ông đã có bài viết (trên Lục Tỉnh Tân Văn, Sài Gòn) vạch mặt trò mỵ dân của Toàn quyền Alber Sarraut đằng sau việc ông này đưa ra yêu cầu chính quốc cho Đông Dương nhiều quyền tự chủ hơn trong một dịp diễn thuyết.

Năm 1929, trên báo Thần Chung ở Sài Gòn, Phan Khôi viết khá nhiều bài xã thuyết ký tên tòa soạn, bênh vực những người hoạt động chống Pháp trong các tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, Tân Việt đảng, bênh vực Nguyễn An Ninh, đòi cho những thành viên các tổ chức chống đối bị chính quyền bắt phải được xét xử tại tòa án của chính quyền Pháp chứ không được giao họ cho các quan chức của triều đình Huế xét xử, vốn áp dụng khung hình phạt rất nặng theo luật Gia Long.

Năm 1930, khi xảy ra các vụ biểu tình ở Nam Kỳ, Phan Khôi đã có những bài viết ký tên tòa soạn tờ Trung Lập Báo, yêu cầu những thành viên đảng Lập hiến Nam Kỳ có chân trong Hội đồng quản hạt hoặc Hội đồng thành phố Sài Gòn phải lên tiếng trước việc chính quyền thuộc địa dùng vũ lực đàn áp người biểu tình không tấc sắt trong tay. Nhân danh tòa soạn, Phan Khôi đã bút chiến với tờ Đuốc Nhà Nam xung quanh trách nhiệm của những người tự nhận là hoạt động chính trị, như các đảng viên Lập hiến Nam Kỳ, mà lại thiếu khá nhiều năng lực và chuẩn hành vi cần thiết để đối phó với các tình huống chính trị. Cuộc bút chiến này chỉ lộ rõ do một ngòi bút Phan Khôi chủ trì, khi chủ bút Đuốc Nhà Nam là Nguyễn Phan Long lâm thế bí, giở trò nói xấu cá nhân Phan Khôi. Những loạt bài đối thoại với đảng Lập hiến (Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi; Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, v.v.) cho thấy một thái độ phê phán rất xây dựng đối với tổ chức chính trị này, được lập ra dường như chỉ để đối đáp với chính quyền Pháp ở thuộc địa, nhưng lại hầu như không có liên lạc gì với quần chúng cư dân Nam Kỳ, các vấn đề về tổ chức của đảng cũng còn nhiều bất ổn.

Năm 1935, khi được Bùi Huy Tín mời làm chủ bút đầu tiên của Tràng An Báo tại Huế, Phan Khôi đã hướng trang thời sự của tờ báo vào việc đối thoại với nền cai trị quân chủ đang đưa ra một vài tín hiệu thay đổi (khi vua Bảo Đại về nước trực tiếp chấp chính), kiểm định hiệu năng hoạt động của một số cơ quan, cơ chế trong bộ máy của nó, đôi khi cũng nêu một vài đề xuất mang tính bổ sung, chỉnh sửa hệ thống, cơ cấu. Tất nhiên, hoạt động thường xuyên của báo Tràng An thời kỳ Phan Khôi làm chủ bút là vạch ra những sự lạc hậu, non kém, bất cập, thiểu năng của bộ máy triều Nguyễn, từ những cơ quan tại triều đến những cơ quan cấp tỉnh cấp huyện.

Bên cạnh những vấn đề thuộc “lỗi hệ thống” trong cơ chế một nền quân chủ già cỗi lại bị đặt dưới ách “bảo hộ” của ngoại bang, một phương diện khác nữa mà Phan Khôi và báo Tràng An thường tập trung nhấn mạnh là vấn đề phẩm chất của quan lại. Mỗi dịp có sự cố liên quan đến những quan chức nhất định, ví dụ việc cách chức và khai phục Ngô Đình Diệm, lễ tang Nguyễn Hữu Bài với những lời xưng tụng quá đáng, hay một viên quan tại triều quá tham lam nhũng nhiễu chỉ bị trừng phạt nhẹ bằng cách đưa đi “trấn thủ” tỉnh ngoài, v.v. – đều là dịp để Phan Khôi và các cộng sự của ông trên Tràng An lên tiếng tố giác và nhân đó nhắc lại những tâm niệm lý tưởng muôn thuở của giới quan trường xuất thân Nho học: “người bất học không đáng ở ngôi cao”, “sự hệ trọng nhất trong phong hóa là cái đức liêm sỉ”, v.v.

Trong các loạt bài về các vụ việc kiện tụng, báo Tràng An thời Phan Khôi làm chủ bút luôn luôn vạch rõ những xử lý sai trái do những quan lại liên can được hối lộ hoặc câu kết nhau để moi tiền dân. Tờ báo rất chú trọng đến người dân, nhất là những trường hợp người dân là nạn nhân sự chà đạp, cướp bóc của hệ thống quan chức, nha lại. Những phóng sự đăng nhiều kỳ về vụ án điền thổ ở Phú Yên, về xét xử ly hôn của vợ chồng Tham Ân ở Hội An, về vụ kiện bị lấn chiếm mặt nước của dân làng chài Thủy Tú ngay “bên chân đền vua” đương thời, tức thành Huế, v.v. – thường không chỉ giản đơn là những loạt bài báo mà thực sự là những vụ việc sát cánh hỗ trợ dân oan trong các cuộc khiếu kiện dài ngày của họ. Những trường hợp nạn nhân như “người đàn bà bị bỏ đỉa vào tai”, người hành khách xe lửa bị nhà đoan bắt giam vì tình nghi buôn lậu thuốc phiện, hay ông cử họ Hồ bị viên tri phủ Quỳnh Lưu hành hung, v.v. – thường được Tràng An đề cập như những hồ sơ để ngỏ, lâu lâu lại bổ sung những tình tiết mới, cho thấy những khía cạnh xã hội phức tạp liên quan đến mỗi vụ việc, đồng thời cho thấy khả năng xử lý mỗi vụ việc trong những tương quan đương thời.

Với sự nỗ lực quyết liệt như thế, không có gì ngạc nhiên khi Phan Khôi sớm rời vị trí chủ bút nhật báo Tràng An, sau chưa đầy một năm làm việc.       

5/ Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại

Sự kiện rất nổi tiếng, gắn với tên tuổi Phan Khôi là việc đầu năm 1932 bài báo “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” được ông công bố ở cả hai trung tâm dư luận lớn nhất đương thời: Hà Nội và Sài Gòn. (1)  Giới làm thơ trẻ tuổi, hầu hết xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt, đã hưởng ứng, tạo nên phong trào thơ mới, một cuộc cải cách thơ tiếng Việt, đưa thơ của người Việt thật sự bước sang thời hiện đại. Tên tuổi Phan Khôi được mang cái vinh dự là người phát động phong trào đổi mới thơ ca kể trên. Tuy nhiên, đấy chỉ là một trong khá nhiều công việc mà Phan Khôi đã làm theo hướng tác động, khích lệ sự sáng tạo những hình thức mới, thể tài, thể loại văn học mới.

Ông sớm nhận ra một chiều hướng vận động mới về mặt thể loại: “Bây giờ cả văn học của Á Đông đã day chiều và khuynh hướng theo văn học Thái Tây, nhắc tiểu thuyết và kịch bổn lên ngồi kề thánh kinh hiền truyện, thì ta cũng đã mô phỏng mà sáng tạo ra tiểu thuyết, kịch bổn rồi”. (2)

Ông chăm chú theo rõi sự phát triển của thơ và tiểu thuyết Việt Nam và đến năm 1933, khi đã xuất hiện thơ mới, trong văn xuôi tiểu thuyết đã xuất hiện Người sơn nhân (truyện ngắn của Lưu Trọng Lư) và Hồn bướm mơ tiên (tiểu thuyết của Khái Hưng) thì ông reo lên: đã bắt đầu kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết Việt Nam. (3)

Chính Phan Khôi đã viết bài mô tả khá chi tiết về bút chiến, một thể tài và một hoạt động báo chí,(4) loại hoạt động mà ông can dự không ít lần, suốt thời gian hiện diện trong trường ngôn luận.

“Lâu nay tôi đã nhận biết rằng trong nghề văn học rất cần có sự phê bình. Nhưng trong làng văn ta dường như chưa có chỗ dung được sự ấy”; bởi vậy, năm 1929, ông đã nhân dịp bàn về một bản dịch kinh Phật “để đổ chén thuốc đắng phê bình vào trong miệng người An Nam”,(5) tức là thực sự bắt tay vào làm công việc phê bình. Hoạt động phê bình, trong quan niệm của Phan Khôi, là rất rộng: “Hai chữ “phê bình”, ta không nên hiểu hẹp nghĩa nó. Nói về sự viết báo, không cứ phê bình một bài thi, một cuốn tiểu thuyết, một tác phẩm gì về mỹ thuật mới gọi là phê bình; mà cho đến khen hay chê một vị quan lại, biểu đồng tình hay phản đối một cuộc bãi công, cả đến nhân một cái thời sự rất tầm thường mà phát ra nghị luận, cũng đều gọi là phê bình được hết. Chẳng những viết ra trên giấy, mà ngày thường, giữa xã hội, ai nấy được lấy tư tưởng ý kiến mình mà bình luận mọi sự mọi vật, cũng gọi là phê bình. Bởi vậy, ở xã hội nào mà người ta ngôn luận được tự do, thì xã hội ấy, ta muốn kêu nó bằng “cái xã hội phê bình” cũng có nghĩa vậy”. (6)

Ông đã viết giới thiệu lối văn phê bình nhân vật, một thể tài của báo chí và của văn học, do nhà văn trẻ Thiếu Sơn đề xuất, (7) lối văn mà chính Phan Khôi cũng sẽ dùng để viết khá nhiều tác phẩm đặc sắc, dưới các tiểu mục như “tiểu phê bình về nhân vật, cả đàn bà lẫn đàn ông”, “tiểu phê bình về phong tục”, “tiểu phê bình về báo chí”, “tiểu phê bình về sách vở”, v.v. (8)  

Ông rất quan tâm giới thiệu các thể trào phúng, khôi hài.(9) Thậm chí, một thể tài, một loại hình ghi chép trong đời sống thông tục mà xưa kia người Việt chưa có, là thể nhật ký, cũng được Phan Khôi quan tâm giới thiệu.(10) Ông được đọc giả và đồng nghiệp tin cậy để có thể nhờ giải đáp nhiều vấn đề, nhiều câu hỏi về chữ nghĩa, về văn chương và đời sống, kể cả những khái niệm như “đạo văn”. (11)

6/ Phan Khôi, một tác gia đa dạng

Phan Khôi tham dự văn học trong khá nhiều thể tài.

Trước hết Phan Khôi đã hoạt động như một nhà phê bình văn học, là tác giả những bài điểm bình các tác phẩm cụ thể, là người viết ra cuốn “thi thoại” đầu tiên ở Việt Nam, lại cũng là tác giả những bài báo tác động rõ rệt đến tiến trình văn học chung.

Phan Khôi cũng hoạt động như một nhà nghiên cứu văn học, thường xuyên nêu lên các vấn đề nảy sinh trên tiến trình văn học Việt Nam. Phan Khôi viết về khá nhiều tác gia, tác phẩm văn học Trung Hoa, từ các nhà tư tưởng cổ đại, trung đại, đến cận hiện đại. Nhiều tác giả được ông nhấn mạnh ở khía cạnh chống chuyên chế (ví dụ dịch Tư Mã Thiên: thư gửi Nhiệm An, “Thích khách liệt truyện”… ); những tác gia hiếu cổ như Cô Hồng Minh được ông tiếp cận theo lối châm biếm; những tác gia có chất đổi mới, “nổi loạn” như Hoàng Lư Ẩn, được ông trân trọng. Thời kỳ 1945-58: Phan Khôi vẫn theo dõi sát tình hình văn hóa Trung Hoa, từ thơ kiểu mới, di sản Lỗ Tấn, lý luận và sáng tác văn học Diên An, cho đến 1956 vẫn theo dõi các hiện tượng từ Hồ Phong đến phong trào chống phái hữu, tuy không có điều kiện viết về các hiện tượng ấy.

Phan Khôi là nhà thơ, là con người đã “chín” trong truyền thống thơ Hán-Việt lại có khát vọng bước ra khỏi quỹ đạo thơ cũ; thơ cũ của ông không nhiều và cũng không lưu lại sưu tập, chỉ có ít bài in báo; thơ mới Phan Khôi cũng có một số bài được ông đưa ra làm ví dụ cho “một lối thơ mới”; PK không là tác giả xuất sắc của thơ mới những lại được nhất trí ghi nhận là người khởi xướng; một số bài thơ Phan Khôi cho thấy lối thơ của kiểu người “lão thực”: tín hiệu hàng đầu là tín hiệu về giá trị của hồn thơ, tứ thơ, dù hình thức khô, đanh, mộc… chứ tuyệt nhiên không đèm đẹp…

Phan Khôi cũng là một tác giả văn xuôi tự sự. Ông đã từng viết truyện hư cấu, bằng chữ Hán (đăng Nam Phong) hoặc bằng chữ Quốc ngữ, tiêu biểu trong số đó là truyện dài Trở vỏ lửa ra (Phổ thông bán nguyệt san, 1939). Nếu mạch truyện hư cấu này không mấy thành công, do tác giả mạnh ở suy lý, logic, nhưng hơi thiếu linh hoạt, thiếu sinh động và chất sống trong mô tả, dựng người dựng cảnh, thì ở mảng hồi ức, tự truyện, như Đi học đi thi (đăng Sông Hương, 1937), các đoạn Phan Khôi tự truyện (đăng một số kỳ ở các báo khác nhau, 1939, 1940, 1941), các mẩu giai thoại trong tập Độc tại lâu bút ký (đăng Sông Hương, 1937) lại thành công rất rõ rệt.

Phan Khôi cũng là tác giả xuất sắc của văn tiểu phẩm, hoạt kê, châm biếm. Từ 1928, với Đông Pháp Thời Báo, qua Thần Chung 1929-30, Trung Lập, 1930-33, Thực Nghiệp Dân Báo, 1933; Phụ Nữ Thời Đàm, 1933-34, Tràng An, 1935-36, Sông Hương, 1936-37, đến tận 1941 trên Dân Báo, Phan Khôi trước sau đã viết ngót ngàn bài tiểu phẩm. Đặc tính thẩm mỹ của thể tài này còn chưa được nghiên cứu kỹ; nó rất mực văn chương, nhưng lại gắn với báo chí; trên trang báo bên cạnh các bài viết theo lối “thuật”, “luận”, “chứng” bao giờ cũng phải có các bài viết theo lối “biếm”, “hài”, “nhại”, “diễu”; nó có bản chất thẩm mỹ ra sao mà lại hầu như không thể thiếu trên các báo, dù nhật báo, tuần báo hay nguyệt san? Và vì sao nó dường như nhất thiết cần “mặt nạ tác giả”? Mức đa dạng trong các kiểu tiểu phẩm Phan Khôi, mức độ ảnh hưởng từ những mẫu mực ở Pháp (G. Fouchardière, C. Vautel) và ảnh hưởng truyền thống trào lộng trong văn hóa Việt? So sánh văn tiểu phẩm Phan Khôi với những người có viết tiểu phẩm đương thời: Hoàng Tích Chu, Ngô Tất Tố, Bùi Thế Mỹ, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, v.v… Từ đây nên chăng khảo sát phát hiện lại dòng văn tiểu phẩm của tác gia Việt Nam từ khi có báo in? — là những nhiệm vụ văn học sử chưa hề được đề xuất và giải quyết.

Phan Khôi cũng là một dịch giả. Trên báo chí trước 1945 ta thấy Phan Khôi dịch nhiều tác gia Trung Hoa: Tư Mã Thiên, Viên Mai, Lỗ Tấn, v.v.; dịch Kinh Thánh (đạo Thiên Chúa), chủ yếu là Tân Ước. Sau 1945 ông dịch một số tác gia văn học Diên An, dịch quan điểm ngôn ngữ của J. Stalin, dịch tác phẩm M. Gorki, dịch bài viết Chu Dương thể hiện tư tưởng văn nghệ Diên An, v.v.

Vượt ra ngoài phạm vi văn học, người ta không quên Phan Khôi còn hoạt động như một nhà ngôn ngữ học. Ngay từ khi tìm học chữ Quốc ngữ để viết văn viết báo (từ 1907), ông đã bắt đầu tiếp cận tiếng Việt như một đối tượng nghiên cứu. Phan Khôi đã lên tiếng hô hào đồng bào Nam Kỳ dùng tiếng Việt theo đúng các chuẩn mực đã được Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đưa vào sách từ điển. Ông đã tiến hành so sánh ngữ pháp tiếng Việt với tiếng Pháp và chữ Hán, khi soạn sách “Hán văn độc tu” (đăng Phụ nữ tân văn, 1932, đăng lại có sửa trên Sông Hương, 1936-37). Trên tuần báo Sông Hương ông đã tập hợp được một số tác giả tham gia mục “Quốc văn nghiên cứu”. Sau này, trong thời gian tham gia khánh chiến tại Việt Bắc, ông đã thực hiện thêm những khảo sát về ngữ pháp tiếng Việt, được các nhà soạn sách dạy tiếng Việt tham khảo; những nghiên cứu này được ông xuất bản thành sách  “Việt ngữ nghiên cứu” (1955).  

7/ Phan Khôi dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

 Từ khoảng 1941-42, Phan Khôi ngừng cả việc dạy học lẫn việc viết báo, đưa gia đình từ Sài Gòn trở về quê Quảng Nam.

Nguồn tư liệu hồi ức gia đình cho biết: khi Nguyễn Bá Trác đến vận động ông tham gia chính phủ Trần Trọng Kim (1945), ông đã tỏ rõ thái độ cự tuyệt, với lý do: từ lâu, ông đã tự xác định không làm chính trị. (1)

Khi Việt Minh tổ chức cướp chính quyền tại địa phương ông cư trú, Phan Khôi giữ thái độ quan sát bình tĩnh, dần dần đi đến chấp nhận chính thể Việt Nam Dân chú Cộng hòa, song cũng phản ứng trước một số hành động cực đoan của chính quyền địa phương, ví dụ việc họ định phá đền thờ Hoàng Diệu, vị Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị thất thủ (1882). Phan Khôi giữ lập trường yêu nước, không tán thành hiệp định sơ bộ (6.3.1946) mà chính phủ Hồ Chí Minh ký với Pháp.

Cũng theo nguồn tư liệu hồi ức gia đình thì khoảng tháng 6/1946, tiếp một nhóm trí thức từ Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nghĩa tới nhà mình và được họ mời làm Chủ nhiệm Chi bộ Việt Nam Quốc Dân đảng vùng Nam-Ngãi, Phan Khôi đã tạm thời gác ý chí “không làm chính trị” để nhận lời, dù chỉ là cử chỉ đứng tên tượng trưng. (2)

Khoảng tháng 7/1946, ông nhận được giấy mời của Bộ Nội vụ do Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng ký, mời ông ra Hà Nội dự Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, sẽ khai mạc vào ngày 01/8/1946.

Phan Khôi tới Hà Nội vào ngày 6/7/1946, ở trọ tại nhà riêng ông Lê Dư. Ông được Lê Dư cho hay: Huỳnh Thúc Kháng nhắn Phan Khôi đừng tới gặp, vì có thể gây nghi ngờ (?).

Ngày 12/7/1946, Phan Khôi đến trụ sở Quốc Dân Đảng (80 Quán Thánh, Hà Nội) tại tòa soạn báo Việt Nam có Khái Hưng và một số người khác; ngay hôm đó nhà này bị công an ập đến triệt phá, bắt đi một số người, trong đó có Phan Khôi, nhưng tại trụ sở công an Phan Khôi được thả ngay. (3)

Phan Khôi dự Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/1946). Sau đó, vào ngày bùng nổ Toàn quốc kháng chiến, ông thấy rõ chính phủ Việt Minh quyết tâm chống Pháp, hợp với chủ ý của mình, ông ở lại Hà Nội.

Khoảng 29 Tết Đinh Hợi 1947, Phan Khôi theo dòng người tản cư rời Hà Nội, đi Yên Hạ, Hà Đông, rồi lại theo dòng người quay lên vượt sông Hồng định đi Bắc Giang, bị công an giữ lại, đưa về Hà Đông, rồi ông đề nghị để ông đi Vân Đình, tới đây ông gặp gia đình Thế Lữ tại Hòa Xá. Từ đó ông và những người này gia nhập Đoàn văn hóa kháng chiến do Nguyễn Huy Tưởng phụ trách, tản cư lên Việt Bắc. (4)

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (16 – 20.7.1948, tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú Thọ) Phan Khôi đọc tham luận “Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta”, sau đó được cử làm trưởng ban Ngôn ngữ-Văn tự của Hội văn hóa Việt Nam. Ông cũng tham dự Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (23-25.7.1948, tại Yên Kỳ, Hạ Hòa, Phú Thọ) thành lập Hội văn nghệ Việt Nam, cộng tác thường xuyên với tạp chí Văn Nghệ của Hội.

Ông tham gia nhiều hoạt động cúa Hội văn nghệ, dự hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (25 — 28.9.1949), tham gia đoàn văn nghệ đi chiến dịch ngay sau hội nghị kể trên. (5)

Khi Hội văn nghệ Việt Nam đặt ra giải thưởng và xét trao giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952, Phan Khôi đã được trao giải nhì cho tất cả các bản dịch ông thực hiện tại Việt Bắc. (6)

Sau ngày phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản thủ đô, Phan Khôi trở về Hà Nội (giữa tháng 10/1954) trong tư cách một nhân sĩ, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam.

Năm 1955, ông được cử tham gia Phái đoàn Chính phủ vào thăm Liên khu Năm, nói chuyện về thắng lợi của cuộc kháng chiến tại hai cuộc mít tinh ở Quảng Ngãi và Bình Định.

Cũng trong năm 1955, hầu hết các thành viên gia đình ông, bằng các con đường khác nhau, đều tập kết ra miền Bắc.

Phan Khôi (và Tế Hanh) được cử đại diện Hội văn nghệ Việt Nam đi dự kỷ niệm 20 năm mất nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (từ 16.10.1956); ông đọc tham luận tại lễ kỷ niệm này. Phan Khôi được kết nạp Hội nhà văn Việt Nam từ 1957.

Tại Hà Nội ông đưa in một số cuốn sách nghiên cứu (Việt ngữ nghiên cứu) dịch thuật (Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập I, tập II; Ánh lửa đằng trước; Anh Hai Đen lấy vợ), viết bài cho các tạp chí Văn Sử Địa, Tập san Đại học Sư Phạm, các báo Nhân dân, Văn nghệ, Văn, Tiền phong, v.v. Ông cộng tác với Ban Văn Sử Địa để viết những bài cung cấp tài liệu cho bộ sách “Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng Việt Nam”, cụ thể là viết về phong trào “Vụ xin xâu ở Quảng Nam” 1908 và “Duy Tân khởi nghĩa” 1916.

Những năm 1955-1956, cuộc cải cách ruộng đất (1953-56) gây ra những khủng hoảng xã hội trầm trọng, khiến chính phủ và đảng cầm quyền phải xin lỗi dân và tiến hành sửa sai. Trong văn nghệ cũng bộc lộ nhiều vấn đề do việc quản lý tập trung quan liêu gây ra. Phan Khôi viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” nêu ra những cách làm việc thiếu minh bạch, như người trong ban chấm giải (giải thưởng văn nghệ 1954-55) lại có tác phẩm dự xét giải; sự về hùa, ngầm ủng hộ tác giả này hơn hẳn các tác giả khác, thực chất là đã xuất hiện các nhóm lợi ích trong nền văn nghệ nhà nước hóa, v.v. Bài của ông được đăng trong tập Giai Phẩm Mùa Thu (tập 1, 1956) gây dư luận khá mạnh. Tháng 9/1956, Phan Khôi nhận lời với một nhóm nhà báo và văn nghệ sĩ đứng tên làm chủ nhiệm tờ báo tư nhân Nhân Văn (xuất bản tại Hà Nội từ 20/9/1956 đến 20/11/1956); tờ báo đăng tải những tác phẩm có những yếu tố táo bạo về sáng tạo hoặc có đề tài không phù hợp với phạm vi các chủ đề của văn nghệ chính thống; đồng thời đăng những ý kiến của văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, những ý kiến của nhân sĩ trí thức đòi mở rộng dân chủ trong chế độ do đảng cộng sản cầm quyền.

Năm 1958, trong cao trào đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm do đảng cầm quyền phát động và tổ chức, chỉ huy, Phan Khôi bị liệt vào một trong những “phần tử” hàng đầu (Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, v.v.), bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội nhà văn Việt Nam.

Ngày 16/1/1959, ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội, sau thời gian bệnh nặng. Gia đình ông làm bản khai tử cho ông bằng bút danh Chương Dân; trong khi vợ, con, các cháu ông tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng thì những lời phê phán nặng nề trên báo chí vẫn liên tục nhắm vào con người tác giả mang họ tên Phan Khôi.

***

Tôi ghi lại tài liệu hơi dài như trên (có lúc sẽ sửa lại) để đi tới một vài nhận xét về Phan Khôi thời kỳ dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Công Hòa.

Ông vốn không tán thành chủ nghĩa cộng sản, và công khai thái độ này, tương tự một số người xuất thân nho học như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố. Những năm trước tháng 8/1945, khi con cháu ông tham gia hoạt động bí mật của tổ chức cộng sản, ông không tán thành nhưng không cấm đoán.

Ngay trong những ngày tháng đang diễn ra cướp chính quyền ở địa phương, ông im lặng theo dõi, và chỉ phản ứng khi có những việc như đập phá đền thờ Hoàng Diệu, hoặc khi nghe nội dung hiệp định sơ bộ (6/3/1946) thấy lập trường chính phủ lâm thời có phần không dám chống Pháp. Tức là khi ấy, con người yêu nước chống Pháp khi xưa trong ông thức dậy, đòi chính phủ mới chọn giải pháp quyết liệt.

Chính thái độ đó đã khiến ông tự nguyện đi lên Việt Bắc tham gia hàng ngũ kháng chiến.

Tại Việt Bắc, đến 1951, khi đảng Lao động Việt Nam ra công khai, thái độ Phan Khôi là chấp nhận. Có lẽ ông đã nghĩ rằng một trí thức cũ đã già, vẫn còn có thể làm những việc có ích ít nhiều cho dân tộc, ngay dưới nền cai trị cộng sản.

Tuy vậy, sống trong các vùng do những người cộng sản cai trị, sống trong “đoàn thể văn nghệ” của người cộng sản, có thể ông đã dần dần nhận ra những điều mà dư luận báo chí thế giới đã cảnh báo khi xưa, nhất là khi ông chứng kiến và trải nghiệm những việc như chỉnh huấn, rồi cải cách ruộng đất, rồi quản lý thành phố theo kiểu quân quản, thực hiện chế độ hộ khẩu khắc nghiệt, v.v. Từ đây bên trong những người trí thức từng trải qua hai chế độ sẽ hình thành thế ứng xử lưỡng phân đối với chế độ hiện hành do người cộng sản cai trị: một mặt là buộc lòng thích nghi, mặt khác là gia tăng ngấm ngầm tâm lý giữ khoảng cách, thậm chí trở nên chán ghét.

Vì đây là cả một điều kiện sống mà người ta không thể thoát ra ngoài, nên buộc phải thích nghi. Kể cả về tư tưởng, tinh thần, ở những mức nhất định. Một ví dụ nhỏ là Phan Khôi từng bác bỏ khái niệm “chế độ phong kiến” (ở Việt Nam) nhưng sau này, từ những năm 1950s, ông dường như từ bỏ thái độ học thuật ấy, ít ra là khi dịch và chú giải văn Lỗ Tấn, dịch văn xuôi tự sự và nghị luận của các tác giả văn nghệ Diên An.

Chính thái độ lưỡng phân ấy sẽ khiến những người như ông sẵn sàng lên tiếng phản ứng khi có điều kiện.

Điều kiện ấy ở Việt Nam là khi có những dấu hiệu khủng hoảng bên trong hệ thống xã hội do đảng cầm quyền cai trị tạo ra. Đại hội 20 ĐCS Liên Xô đặt  ra nhiệm vụ chống sùng bái cá nhân Stalin, ở Việt Nam cải cách ruộng đất gây hậu quả nghiêm trọng. Trong văn nghệ, các văn nghệ sĩ từ các địa phương tập kết về miền Bắc, tập trung tại Hà Nội, ứng xử thiên lệch của nền báo chí xuất bản tập trung quan liêu kiểu bao cấp khiến nhiều thành viên ít vai vế chịu thiệt thòi. Trong sinh hoạt cơ quan đoàn thể lộ ra những biểu hiện thiếu tôn trọng quyền tự do sáng tác, tự do biểu đạt, v.v.

Phan Khôi lên tiếng với hai biểu hiện rõ rệt nhất: viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” và nhận đứng tên chủ nhiệm báo Nhân Văn. Ông có tư cách của một nhân sĩ trí thức đã có thành tựu lớn, uy tín lớn, nên tiếng nói của ông càng gây hiệu quả lớn.

Phía lãnh đạo cộng sản đã thay đổi cách nhìn về ông, từ đây xem ông như kẻ thù tư tưởng.

Thế nhưng, các biểu hiện của văn nghệ sĩ trí thức ở miền Bắc Việt Nam hồi 1956 chỉ là loại biểu hiện tương đối yếu ớt của sự phản kháng bên trong các nước thuộc phe XHCN đương thời, đến nỗi những diễn ngôn của các trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Tửu… mới chỉ hiện diện như diễn ngôn yêu cầu xét lại (mở rộng, chấp nhận ngoại lệ, v.v., chứ không chống lại) các nguyên lý cơ bản (của giáo điều Mác-Lê, mà thật ra là  mang dấu ấn Stalin và Mao Trạch Đông).

Dưới ánh sáng lịch sử, sau khi phe XHCN đã sụp đổ, tan rã (1991), các nước thuộc khối này đã tiến hành cải tổ, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, một số nước chỉ níu giữ nền cai trị độc đảng, độc tài về chính trị, thì sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm cần được xem như sự phản kháng chính đáng của trí thức văn nghệ sĩ, những người nhạy cảm hơn các thành phần khác trong nhân dân, trước những nguy cơ mất tự do, dân chủ, trước nguy cơ bị áp đặt một hệ thống cai trị phản xã hội, phi nhân bản. Tiếng nói của họ có ý nghĩa cảnh báo các nguy cơ xã hội do nền độc tài chuyên chế gây ra.

Thật ra, đối với  những người mà ngay trong thời thực dân Pháp cai trị đã có thể thành đạt, dù chỉ do nỗ lực riêng, và cũng chỉ ở môi trường xã hội dân sự dân gian như Phan Khôi, – thì cái chết đã có thể đến với ông ngay sau thắng lợi của Việt Minh hồi tháng 8/1945, chứng cứ là số phận những trí thức danh tiếng như Phạm Quỳnh, những nhà văn từ Khái Hưng đến Lan Khai và rất nhiều trường hợp khác. Xác tín truy diệt “trí phú địa hào” của người cộng sản Việt Nam bộc lộ từ 1930 đã hứa hẹn cái chết đối với Phan Khôi ngay tại Quảng Nam 1945 khi ông dám ngăn phá dỡ đền thờ Hoàng Diệu, hoặc tại Hà Nội 1946 khi ông bị bắt cùng Khái Hưng tại trụ sở Việt Nam Quốc dân đảng. Chỗ may mắn riêng là Phan Khôi có khá nhiều người thân trong hàng ngũ cộng sản cầm quyền. Đó là những người như các người em họ là Phan Nhụy, Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), người em dâu là Lê Thị Xuyến, các người con trai là Phan Thao, Phan Cừ, v.v.

Tóm lại, trong thời kỳ khủng bố sự mọi chống đối ngay sau thắng lợi giành chính quyền của Việt Minh hồi tháng 8/1945, Phan Khôi đã may mắn thoát chết chỉ vì tình cờ có một loạt người thân trong hàng ngũ bên thắng cuộc.

Song rốt cuộc ông cũng vẫn bị thanh trừng, do bộc lộ sự vi phạm các chuẩn mực ý thức hệ cộng sản của giới cầm quyền, khi chế độ của họ đã làm chủ miền Bắc, đang đưa miền Bắc vào quỹ đạo chung của toàn phe XHCN.

Phan Khôi là một trong một số ít trí thức sống qua hai chế độ, đã từng có vinh dự là chí sĩ của phong trào duy tân, bị thực dân Pháp ra lệnh cho triều Nguyễn kết án tù, lại có vinh dự dấn thân tranh đấu chống độc tài chuyên chế, nhất là ở lĩnh vực tư tưởng văn nghệ. Sự khốn khó cuối cùng ông gánh chịu có thể nên được xem như là thêm một khổ nạn đối với cá nhân ông, nhưng cũng là thêm một công tích của ông đối với xã hội Việt và văn hóa Việt.

Phan Khôi xứng đáng để được vinh danh như một danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Hà Nội, 16/11/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN   

 

CHÚ THÍCH:  

1/ Phan Khôi và công việc xây dựng nền Quốc văn mới

(1) C.D. (1928): “Lý với thế: Hồ Thích với Quốc Dân đảng”, Đông Pháp Thời Báo, Sài Gòn, s. 807 (18.12.1928).

(2) T.V.(1928): “Văn chương và văn chương của nhà báo. (Đáp lại Đuốc nhà Nam)”.  Đông Pháp Thời Báo, Sài Gòn, s. 787 (27.10.1928).

(3) Ví dụ một số bài báo do Phan Khôi viết: Thần chung (1929): “Trả lời cho một vị độc giả hỏi về chữ quốc ngữ”, Thần chung, SG., s. 115 (7.6) ;  Tòa soạn Thần chung (1929): “Lại trả lời cho một bức thơ hỏi vè chữ quốc ngữ”, Thần chung, SG., s. 118 (11.6) ; Phan Khôi (1929): “Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ với thế lực của phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 28 (7.11) ;  Phan Khôi (1929): “Viết chữ quốc ngữ phải viết đúng”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 31 (5.12) ; Phan Khôi (1929):  “Nói chuyện viết quốc ngữ: Hai dấu hỏi ngã cũng phải phân biệt”, Thần chung, SG., s. 273 (17.12), Trung lập, SG., s. 6038 (27.12); Phan Khôi (1930):  “Bàn cùng ông Hồ Duy Kiên: Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ quốc ngữ và phải viết cho đúng?” Thần chung, SG., s 341 (20.3) ; Trung lập, SG., s. 6105 (22.3).

(4) Phan Khôi (1930): “Cuốn sách Nho giáo gợi ý cho chúng tôi”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 56 (12.6).

(5) Phan Khôi (1930): “Phép làm văn. Lời nói đầu”,  Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.71 (25.9). Mục “Phép làm văn”  đăng  Phụ nữ tân văn  được khoảng 4 kỳ, gồm 5 bài, từ tháng 9 đến tháng 11/1930. Sau đó, Phan Khôi viết một số bài trao đổi với Huỳnh Thúc Kháng về “Phép đặt đầu đề”.

(6) Phan Khôi (1930): “Theo thuyết chánh danh, đính chánh lại cách xưng tên của người Việt Nam”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. 58 (26.6.1930), s. 59 (3.7.1930) ; Phan Khôi (1930): “Theo thuyết chánh danh, soát lại mấy cái danh từ người mình thường dùng”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. 69 (11.9.1930).   

(7) Phan Khôi (1930): “Cách ngôn luận của người Á Đông”, Trung lập, S.G., s. 6168 (11.6.1930), s. 61670 (13.6.1930)

(8) Phan Khôi (1930): “Người mở đường cho luận lý học Á Đông. Khổng Tử và cái thuyết “chánh danh” của ngài”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.57 (19.6.1930)

(9) Phan Khôi (1930): “Con người với lời nói”, Phụ trương văn chương s. 22. Trung lập, S.G., s. 6550 (26.9.1931)

(10) C.D.(1931): “Vai ngự sử trên đàn văn”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. s.89 (2.7.1931); s.91 (16.7.1931); s.96 (20.8.1931); s.99 (10.9.1931); s.124 (24.3.1932)

(11) Phan Khôi (1931): “Văn nghị luận phải viết thế nào ? ”, Phụ trương văn chương s. 12. Trung lập, S.G., s. 6491 (18.7.1931)

(12) Tr.Th. (1933): “Ông Phan Khôi”, trong sách Những áng văn hay, và Thử phê bình nhơn vật và văn thơ cổ kim (1933), Nam Ký thư quán, Hà Nội, tr. 42.

2/ Phan Khôi và công cuộc đổi mới tư tưởng  

(1) Phan Khôi (1930): “Cảnh cáo các nhà học phiệt”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 62 (24.7).

(2) C.D. (1928): “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương”, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.774 (27.9) ; s.776 (2.10) ; C.D. (1928): “Bác cái thuyết tân cựu điều hòa”, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.780 (11.10)

(3) C.D.(1928): “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương”, Bđd.

(4) P.K. (1931): “Cá nhơn chủ nghĩa. (Một bài học của quan Tổng trưởng Paul Reynaud cho người Việt Nam) ”, Trung lập, S.G., 28.11).

(7) Phan Khôi (1931): “Tống nho với phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 96 (20.8.1931)

(8) Phan Khôi (1931): “Gia đình ở xứ ta, nay cũng đã thành ra vấn đề rồi”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 83 (21.5) ; Phan Khôi (1931):  “Cái chế độ gia đình nước ta, đem gióng với luan lý Khổng Mạnh”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 85 (4.6)

3/ Phan Khôi, nhà sử học

(1) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2003), “Phan Khôi và cuộc thảo luận sử học năm 1928 trên Đông Pháp Thời Báo”, trong sách Mênh Mông Chật Chội, tiểu luận phê bình văn học của Lại Nguyên Ân, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2009, tr. 391-401.

(2) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2008): “Phan Khôi và cuộc thi quốc sử của báo Thần Chung, Sài gòn, 1929”, trong sách Tìm lại di sản, tiểu luận phê bình của Lại Nguyên Ân, Tp.HCM., 2013, tr. 83-114.

5/ Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại

(1) Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây xb., Hà Nội, tết Nhâm Thân 1932; Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 122 (10.3).

(2) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)

(3) Chương Dân (1934): “Văn nghệ xứ ta năm 1933 và trước năm ấy. Cái kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết”, Công luận, Sài Gòn, số Tết (14.2)

(4) (không ghi tác giả, 1929) : “Bàn thêm về bút chiến”, Thần chung, s. 106 (28.5), s. 108 (30.5),

  1. 111 (2&3.6), s. 114 (6.6).

(5) Phan Khôi (1929): “Cùng sư Thiện Chiếu bànvề lối dịch sách, hay là phê bình lối dịch của sách Phật học tổng yếu”, Thần chung, Sài Gòn, s. 279 (24.12).

(6) Phan Khôi (1937): “Một xã hội cũng như một tờ báo, phải có cái thái độ phê bình và tiến bộ”, Đông Dương tạp chí, Hà Nội, s. 29 (27.11).

(7) Phan Khôi (1931): “Giới thiệu lối văn phê bình nhân vật”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 93 (30.7)

(8) Các bài này ký bút danh Hồng Ngâm hoặc Chương Dân, đăng Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội, từ số 1 (17.9.1933) đến s. 22 (11.2.1934), có in lại trong sưu tập: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1933-1934, /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội 2013: Nxb. Tri Thức, tr. 278-360.

(9) Phan Khôi (1931): “Cái địa vị khôi hài trên đàn văn học”, Phụ trương văn chương s. 10. Trung lập, S.G., s. 6481 (4.7).

(10) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)

(11) Phan Khôi (1932): “Làm vậy không phải là đạo văn. Trả lời cho ông Mai Lan Quế”, Phụ trương văn chương s. 48. Trung lập, S.G., s. 6695 (2.4)

7/ Phan Khôi dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

(1) Xem: Phan An Sa (2013): Nắng được thì cứ nắng, Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2013, tr. 265-266.

(2) Xem sách đã dẫn, tr. 288-294.     

(3) Xem sách đã dẫn, tr. 300-312.

(4) Xem sách đã dẫn, tr. 312-315.

(5) Thao Trường (Nguyễn Huy Tưởng, 1949): “Văn nghệ sĩ xuất phát đi mặt trận”, Văn Nghệ, [Việt Bắc], s. 17&18, số Tranh luận (tháng 11&12/1949).

(6) “Kết quả giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952”, Văn Nghệ [Việt Bắc], s. 39 (tháng 2/1953)

       

 

 

 

 

PHAN KHÔI, NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN ĐƯA TIN SỰ SỤP ĐỔ MỘT THUYẾT LYSENKO TRONG NGỮ HỌC XÔ VIẾT

Đây là có lẽ là cả một sự kiện rất hiếm có ở thời kháng chiến chín năm (1946-54) tại chiến khu Việt Bắc, nhưng đương thời ít ai ý thức được. Không phải sự kiện quân sự hay chính trị, chỉ là chuyện văn hóa, thậm chí hẹp hơn, chuyện chỉ liên can đến lý thuyết ngữ học, nhưng lại là sự kiện có quy mô quốc tế, hay ít nhất, quy mô phe dân chủ nhân dân (về sau sẽ gọi là phe XHCN), hoặc hẹp hơn nữa: quy mô Việt-Trung-Xô!
Nguyên là vào ngày 20.6.1950 báo “Pravda” tại Moskva đăng bài báo của Stalin nhan đề “Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học”, được coi là động thái của nhà lãnh đạo tối cao Liên bang Sô viết và đảng Cộng sản Liên Xô trợ giúp một số nhà ngôn ngữ học trẻ nhằm lật đổ “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Viện sĩ đã quá cố Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934) mà một trong những nội dung chính của thuyết này là khẳng định “bản chất giai cấp” của ngôn ngữ, do vậy đã dành được sự ủng hộ chính thống tại Liên Xô suốt từ khi được đề xuất (1923) đến thời điểm đó (1950).
Chỉ một tháng sau, bài của Stalin đã có bản dịch Hoa văn đăng báo “Đại Công” (số ra ngày 21.7.1950) ở Hương Cảng, khi đó đang thuộc quyền quản lý của Anh quốc, nhưng dịch giả là một cán bộ cấp cao Trung Quốc lục địa, Lý Lập Tam (1899-1967).
Ở Việt Nam, tại “thủ đô gió ngàn” Việt Bắc, ngay trong năm ấy, thường trực Ban ngôn ngữ văn tự của Hội Văn hóa Việt Nam đã nhận được số báo “Đại Công” Hương Cảng kể trên. Người phụ trách Ban ngôn ngữ văn tự lúc ấy là Phan Khôi đã bắt tay dịch ngay bài báo trên của Stalin ra tiếng Việt. Vừa lúc dịch xong, ông lại nhận được một bản dịch chữ Pháp đã đánh máy bài kể trên của Stalin, không ghi tên người dịch; ông đã đối chiếu một số điểm và thêm một vài chú thích vào bản dịch của mình.
Bản dịch của Phan Khôi được công bố dưới dạng sách in, đứng tên xuất bản là Ban Văn học Vụ Văn học nghệ thuật, Bộ Quốc gia Giáo dục. Sách in xong và phát hành ngay trong năm 1951 tại Việt Bắc.
Một thông tin học thuật về một lĩnh vực tri thức tương đối hẹp là ngữ học, mà được lan truyền từ Moskva qua Hồng Kông đến một vùng rừng núi Việt Bắc trong thời gian ngắn như trên, quả là việc hiếm thấy.
Tất nhiên, người ta biết, đương thời, uy danh của nhà lãnh đạo tối cao Liên Xô là cực lớn, hầu như mọi động thái phát ngôn của ông đều được truyền tin khắp Liên Xô và “phe” XHCN, lại cũng được các giới báo chí, truyền thông các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa chú ý khai thác, đưa tin, bình luận. Bởi thế, có thể đoan chắc rằng tài liệu về phát ngôn này của Stalin cũng được các phái viên hải ngoại của nước Việt Nam kháng chiến ở Hồng Kông nhanh chóng phát hiện và gửi về trung ương.
Học giả Phan Khôi biết và được can dự công việc dịch thuật bài báo này của Stalin, chỉ vì khi đó ông đang làm việc tại Ban Ngôn ngữ văn tự Hội Văn hóa Việt Nam, đóng tại Việt Bắc.
***
Đến đây buộc phải tìm hiểu đôi nét tình hình học thuật Nga và Liên Xô liên quan đến việc Stalin đưa ra bài báo về ngữ học nói trên.
Có thể nói sự việc chủ yếu liên quan đến tên tuổi và hoạt động của một người cũng xuất thân từ nước Gruzia (như Josef Stalin), đó là Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934).
Đây là con trai của một người đàn ông Scottland già tên là James (hoặc Jamescob) Marr, sống ở vùng Kapkaz và lập ra vườn thực vật Kutaisi, với một phụ nữ Gruzia trẻ là Agafia Magularia.
Tốt nghiệp trung học tại Kutaisi, Nikolay Marr đến kinh đô Petersburg của đế chế Nga và sống đến tận cuối đời ở đấy.
Tại đại học Petersburg, N. Marr học đồng thời tất cả các ngành của khoa Đông phương học, cũng học tất cả các ngôn ngữ được dạy tại khoa này. Năm 1888 ông tốt nghiệp và trở thành một trong những nhà Đông phương học của Nga ở thời gian chuyển tiếp giữa hai thế kỷ, có những đóng góp được coi là đáng kể vào các ngành sử học, khảo cổ, dân tộc học về Gruzia, Armenia và vùng Kapkaz, đào tạo nhiều chuyên gia Đông phương học, trong đó có những người xuất sắc.
Tại Đại học Petersbug, N. Marr được bầu làm giáo sư (1902), trưởng ngành (1911) của Khoa Đông phương học. Tại Viện Hàn lâm Đế chế Nga ở Petersburg, N. Marr từ vị trí trợ tá ngành lịch sử ngữ văn (từ 1909), được bầu làm Viện sĩ đặc cách (14.1.1912), rồi Viện sĩ bình thường (từ 1.7.1912). Ông còn là trưởng xứ đạo; tham gia khối giáo sư cánh tả. Từ năm 1914 ông là cố vấn nhà nước thực thụ.
Sau cách mạng tháng 10.1917, N. Marr tiếp tục là giáo sư đại học, viện sĩ Viện Hàn lâm Nga. Những năm 1920-1930, N. Marr có uy tín lớn trong giới trí thức Liên Xô; ông sáng lập Viện nghiên cứu Japhetic tại Petrograd (sau là Viện ngôn ngữ và tư duy mang tên ông); tháng 3.1930 ông được bầu làm Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; ông là chủ tịch hội hữu nghị Nga-Palestin (1929-1934); được tặng huân chương Lenin nhân 45 năm hoạt động khoa học (1933).
Trong di sản học thuật của N. Marr có một bộ phận mà nội dung và giá trị bị tranh luận kịch liệt, đó là “học thuyết mới về ngôn ngữ” do ông đề xuất ở thời kỳ hoạt động khoa học sau cách mạng 1917.
Vốn dĩ từ những năm đầu hoạt động khoa học, N. Marr đã quan tâm đến vấn đề liên hệ nguồn gốc giữa các ngôn ngữ vùng Kapkaz và đề xuất một loạt giả thuyết về sự thân thuộc giữa chúng về ngữ nghĩa, từ vựng. Ông đặt cho “gia đình ngôn ngữ” này một cái nhãn là thuật ngữ “những ngôn ngữ Japhet”, theo tên Japhet, con trai thứ ba của Noah, người mà, theo Kinh Thánh đạo Thiên Chúa, đã được chúa trời chỉ bảo nên đã cùng cả gia đình thoát khỏi nạn đại hồng thủy, cứu thoát loài người và phục sinh muôn loài trên mặt đất.
Người ta cho rằng, thế chiến thứ nhất (1914-18) và cách mạng (1917) đã tách N. Marr khỏi công việc khảo cổ thực địa ở Kapkaz, khiến ông chuyển trọng tâm sang hoạt động lý thuyết. Tháng 11.1923, ông công bố “học thuyết mới về ngôn ngữ”; thuyết này sẽ được N. Marr và một số học trò đồng thời là môn đồ của “chủ nghĩa Marr” (Marrizm) trình bày và diễn giải suốt nhiều năm sau, kể cả sau khi N. Marr đã qua đời (20.12.1934). Thuyết này còn được nhắc đến với những tên gọi: “thuyết Japhetic”, “Japhetologia”, “Marrizm”, “thuyết về tính giai đoạn”; nói gọn lại thì đó là lý thuyết về nguồn gốc, lịch sử và “bản chất giai cấp” của ngôn ngữ.
Xin nêu mấy nội dung chính của thuyết này, theo những lược thuật của một số nhà nghiên cứu Nga.
1/ Các ngôn ngữ Japhetic. Marr cho rằng có tồn tại cái mà ông gọi là “những ngôn ngữ Japhetic” (đặt theo tên Japhet, con trai thứ ba của Noah như nói trên); ông xếp và đây những thứ tiếng như tiếng Gruzia (là bản ngữ của ông và ông buộc học trò phải học) cùng với các ngôn ngữ Kartvelian vùng nam Kapkaz, rồi một số ngôn ngữ như Burushaki, Basque, v.v. Các ngôn ngữ Japhetic được Marr lý giải như một giai đoạn phát triển ngôn ngữ, hiện diện trên toàn thế giới, gắn với cấu trúc giai cấp của xã hội.
2/ Bản chất giai cấp của ngôn ngữ. Thuyết này khẳng định, ngôn ngữ có bản chất giai cấp, do nó là “thượng tầng” bên trên “hạ tầng” là các quan hệ kinh tế xã hội. Có thể phân chia ra các giai đoạn ngôn ngữ gắn với các giai đoạn phát triển xã hội theo chủ nghĩa Mác: xã hội tiền giai cấp, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ quân chủ phong kiến, chủ nghĩa tư bản; và do vậy, sẽ cần phải nảy sinh một ngôn ngữ mới của xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó sẽ là “ngôn ngữ mới và duy nhất, ở đó cái đẹp đẽ cao nhất được hòa quyện với sự phát triển trí tuệ cao nhất”. Những ngôn ngữ đơn lập được cho là thuộc những giai đoạn sơ khai, những ngôn ngữ có biến hình là thuộc những giai đoạn cao hơn; trong quá trình chuyển giai đoạn này sang giai đoạn khác sẽ hình thành các bộ phận của ngôn từ và các phạm trù ngữ pháp. Các môn đồ học thuyết Marrizm còn muốn xác lập một biên niên về sự nảy sinh các bộ phận từ vựng (danh từ, sau đó là đại từ, sau đó là động từ, v.v.).
3/ Nguồn gốc của ngôn ngữ. Các ngôn ngữ đều có nguồn từ “những tiếng kêu trong lao động”, do “cách mạng âm thanh” và gắn với ngọn nguồn hoạt động lao động của con người. Nó có trước ngôn ngữ ra hiệu (ngôn ngữ cử chỉ). Mọi từ vựng của mọi ngôn ngữ đều chung nguồn gốc xuất xứ (monogenesis), đó chính là 4 yếu tố vốn là những tiếng kêu khởi đầu lao động: SAL, BER, ION, ROSH (thoạt tiên “không có bất cứ hàm nghĩa gì” và nhắm tới các mục đích ma thuật); bộ môn gọi là “cổ sinh học ngôn ngữ” có thể quy bất cứ từ vựng nào vào một trong số 4 yếu tố ấy.
Trái ngược hoàn toàn với những quan niệm thông thường về lịch sử ngôn ngữ, theo đó, một ngôn ngữ nguyên sơ (proto-language) duy nhất phân rã dần dần thành những ngôn ngữ đơn lẻ nhưng có liên hệ thân thuộc nhau về nguồn gốc; Marr cho rằng sự phát triển ngôn ngữ đi theo hướng ngược hẳn lại: từ đa dạng, đa bội đến thống nhất, duy nhất. Theo ông, các ngôn ngữ nảy sinh độc lập nhau: chẳng những tiếng Ukraina và tiếng Nga từ xa xưa không hề thân thuộc họ hàng với nhau, mà đến mỗi phương ngữ, biệt ngữ tiếng Nga trong quá khứ cũng đều là những ngôn ngữ nảy sinh độc lập. Về sau sẽ diễn ra quá trình gặp gỡ, giao cắt, lai ghép nhau, khi hai ngôn ngữ do những tương tác lẫn nhau mà biến thành một ngôn ngữ thứ ba, mới, là con cháu của hai ngôn ngữ kia; ví dụ tiếng Pháp là do ngôn ngữ Japhetic và ngôn ngữ Latin lai ghép nhau. Do nhiều giao cắt, lai ghép mà số lượng ngôn ngữ giảm dần xuống và đến xã hội cộng sản thì quá trình này hoàn tất bằng việc tạo ra một ngôn ngữ toàn thế giới, khác với mọi ngôn ngữ đã tồn tại. (1)
Trong học thuyết của Marr còn nhiều nội dung khác nữa, ở đây tạm không đề cập.
Các luận điểm do N. Marr đề xuất, hoặc đã không được củng cố bằng các luận chứng, hoặc chỉ dựa vào những sự khẳng định khó đứng vững trước sự phê bình; khối tài liệu rộng lớn các ngôn ngữ xứ lạ, tuy gây ấn tượng mạnh cho người không phải chuyên gia, song thực ra lại chứa đựng rất nhiều sai lầm, gượng gạo, thậm chí là hư ngụy. Các công trình của Marr thường có lối trình bày rối rắm, lại hay lướt từ đề tài này qua đề tài kia. Đôi khi những điều đó lại còn gắn với bệnh trạng tâm lý của Marr nữa. Thế nhưng cùng với những cái đó, trong các công trình của ông cũng bộc lộ những tư tưởng về tầm quan trọng cuả nghiên cứu đồng đại đối với ngôn ngữ, về loại hình học ngôn ngữ, xã hội học ngôn ngữ, v.v.
Tuy vậy, nhìn chung, “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr hoàn toàn không xác đáng, xét theo quan điểm khoa học. Vậy mà trong nhiều năm nó đã dành được sự ủng hộ mang tính nhà nước, trở thành học thuyết chính thống.
Ngay sau khi học thuyết này xuất hiện (1923), nó lập tức thu được sự chú ý đặc biệt của nhiều quan chức cấp cao các ngành khoa học và giáo dục Liên Xô. Trong số những quan chức đã lên tiếng ủng hộ lý thuyết này ngay trong những năm 1920s có: A. Lunacharsky, M. Pokrovsky, P. Lebedev-Polyansky, V. Friche, V. Bryusov, v.v. Dân ủy (bộ trưởng) giáo dục A. Lunacharsky viết rằng, “bộ óc sáng tạo hiệu quả của nhà ngữ văn vĩ đại nhất Liên bang chúng ta và có lẽ là vĩ đại nhất trong số những nhà ngữ văn đang còn sống” chính là N. Marr. Nhà vật lý, viện sĩ hàn lâm Abram Ioffe thì truyền bá giai thoại rằng N. Marr có thể, trong một ngày, học xong một ngôn ngữ trước đó ông chưa biết. Chính giám đốc đại học MGU khi đó là A. Vyshinsky đã yêu cầu đưa học thuyết của Marr vào giảng dạy.
Đáp lại sự quan tâm của giới chức đầu ngành, từ cuối những năm 1920s, N. Marr bắt đầu đưa các trích dẫn Marx và Engels vào các bài viết của mình; sau đó, N. Marr đi đến chỗ khẳng định học thuyết của mình chính là “ngôn ngữ học Mác-xít”, quay lại lên án các bộ môn ngữ học đang có ở Tây Âu (mà chính N. Marr từng chịu ảnh hưởng), ví dụ, ngữ học so sánh lịch sử là “khoa học tư sản”, học thuyết về ngữ hệ Ấn-Âu là “sự hỗ trợ về tư tưởng cho chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa chủng tộc”. Trước những ý kiến phản đối, Marr và những môn đồ phái này thường đáp trả bằng sự đả kích thô bỉ, dùng lời lẽ quy kết chính trị, hơn là biện giải khoa học.
Năm 1930, N. Marr lên đọc báo cáo tại Đại hội 16 Đảng CSLX và ngay sau đó vào đảng; ông là viện sĩ duy nhất trong số các viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học đế chế cũ gia nhập đảng cộng sản, lại là trường hợp rất hiếm, được miễn thời gian là đảng viên dự bị. Kể từ đó, “học thuyết mới về ngôn ngữ” chẳng những được ủng hộ bởi những cá nhân lãnh đạo cấp cao mà còn được tuyên truyền tích cực khắp Liên Xô và được vận dụng như “một lý thuyết duy nhất đúng đắn về mặt giai cấp”. Cũng có những nhà khoa học tỏ ra xem thường thuyết này, hoặc tìm cách hạn chế trích dẫn thuyết này. Học giả N.S. Trubetzkoy từ nơi lưu vong lên tiếng đả kích kịch liệt lý thuyết này, nhưng nói chung giới khoa học châu Âu hoàn toàn im lặng lảng tránh nó, mặc dù N. Marr có một vài chuyến sang Tây Âu. Trong lúc đó, xung quanh N. Marr hình thành “trường phái” những người tuyên truyền học thuyết này, hay đúng hơn là tuyên truyền những khẩu hiệu giả danh Mác-xít. Các thành viên này hầu hết là những kẻ háo danh, những “chuyên gia trẻ” xuất thân công nhân, hoặc đến từ các vùng biên xa xôi; họ đôi khi không có chút học vấn nào về ngữ học, họ cũng không làm nghiên cứu mà chỉ chú trọng viết phỉ báng những ai phản đối lý thuyết của Marr bằng những quy chụp chính trị (“bọn theo Trotzkist”, “tư sản buôn lậu”, v.v.). Tiếc rằng vẫn có một số nhà khoa học có trình độ cao tỏ ra đồng tình với đám tuyên truyền viên này.
Cuối năm 1929 xuất hiện một bản báo cáo kịch liệt phê phán học thuyết ngữ học của N. Marr, do một học giả Nga, E.D. Polivanov viết, nhưng không được đồng nghiệp ủng hộ, hơn nữa, vì báo cáo này, ông bị phái đi Trung Á rồi tại đấy ông bị bắt, bị xử bắn (1938). Vụ hãm hại này là dấu hiệu đầu tiên cho thấy học thuyết của N. Marr trở thành một học thuyết bị áp đặt từ trên xuống. Một ý đồ nữa chống học thuyết của N. Marr là của nhóm “Mặt trận ngôn ngữ” (của T. Lomtev, P. Kuznetzov) nhưng đến đầu 1932 thì bị các môn đồ học thuyết Marr đè bẹp.
Những năm 1937-38, cả những người phê phán học thuyết Marrizm (E. Polivanov, N. Durnovo, G. Ilinsky, G. Danolov) lẫn những người tích cực “truyền bá” học thuyết này (V. Aptekar, S. Bykovsky, L. Bashindzhagian) đều trở thành nạn nhân các vụ thanh trừng.
Sau khi Marr qua đời (20.12.1934), và nhất là vào những năm 1940s, những người tự coi là học trò và kế tục Marr (I. Meshchaninov, S. Katznelson, M. Gukhman, v.v.) trên thực tế đã vứt bỏ những nét khả ố ở “học thuyết mới về ngôn ngữ” của ông thầy, từ bỏ việc dán nhãn chính trị, và trong phạm vi khoa học, đã phát triển các nghiên cứu loại hình ngôn ngữ, lý thuyết cú pháp, mô tả các ngôn ngữ thiểu số các dân tộc trong Liên bang. Một số luận điểm được cho là “diễn giải chưa hoàn chỉnh” của Marr, được họ tuyên bố bảo lưu; một số luận điểm đã lộ rõ là hoang tưởng thì họ đem gán cho không phải Marr mà là một số “kẻ dung tục” vô danh. Trong việc biên tập cho in lại các công trình của N. Marr, tuy những người kế tục không dám vi phạm các luận điểm của Marr, nhưng họ cũng bớt đi khá nhiều trích dẫn.
Trong phạm vi cuộc đấu tranh gọi là “chống chủ nghĩa thế giới” (“Kosmopolitizm”, chiến dịch chính trị diễn ra những năm 1948-1953, nhắm vào lớp trung lưu trí thức, bị coi là đại diện xu hướng hoài nghi và thân phương Tây), khá đông tuyên truyền viên của học thuyết Marrizm (như F. Filin, G. Serduchenko) đã mở chiến dịch chống “những kẻ giả danh của lý thuyết tư sản” trong ngữ học, trên thực tế, đây là đòn tấn công nhắm vào tất cả các nhà ngữ học lớn (V. Vinogradov, D. Bubrikh, thậm chí cả những người kế tục học thuyết của Marr). Lúc này, học thuyết Marrizm được coi như một lý thuyết “yêu nước”, các công trình của Marr được đưa vào dạy ở bậc đại học, thậm chí cả ở trường phổ thông.
Đầu năm 1950, Viện HLKHLX lập ra một ban trù bị cho việc kỷ niệm 15 năm mất N. Marr; một số người phản đối học thuyết của Marr bị buộc thôi việc (S. Bernstein, B. Serebrenikov, v.v.). Nhưng chiến dịch này bất ngờ bị đình chỉ “từ trên xuống” và chuyển hướng ngược lại.
Trong hai tháng 5 và 6.1950, nhật báo “Pravda” mở cuộc thảo luận công khai về “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr. Mở đầu cuộc thảo luận là bài của A. Chikobava (lúc đó đang phụ trách khoa nghiên cứu Kapkaz, đại học Tbilisi), kịch liệt phê phán học thuyết Marrizm; cùng theo hướng đó là các ý kiến của L. Bulakhovsky, G. Kapantzyan, B. Serebrenikov. Báo cũng đăng các ý kiến bảo vệ học thuyết ấy (I. Meshchaninov, N. Chemodanov, F. Filin, V. Kudryavtzev), và những ý kiến nhân nhượng, điều hòa (V. Vinogradov, G. Sanzheev, A. Popov, S. Nikiforov).
Vào gần lúc kết thúc cuộc thảo luận thì xuất hiện bài báo của người đứng đầu đảng và nhà nước Liên Xô, J. Stalin. Ngày 20.6.1950 báo đăng bài có nhan đề “Về chủ nghĩa Mác trong ngữ học”; cuộc thảo luận thực ra đã kết thúc ngay từ hôm đó, mặc dù còn kéo dài vài tuần nữa. Ngày 4.6 báo đăng đoạn văn Stalin trả lời nữ phóng viên E. Krasheninnikova; ngày 2.8 báo đăng đoạn văn Stalin trả lời thư một bạn đọc. Sau đó, tất cả các phần đăng tải này được soạn thành một văn bản dưới nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngữ học”, được xuất bản với số lượng in lớn và được tuyên bố là “tác phẩm thiên tài”.
Trong bài báo của Stalin, ý tưởng xem ngôn ngữ là “kiến trúc thượng tầng”, “tính giai cấp của ngôn ngữ” do N. Marr đề xuất, đều bị bác bỏ; ngôn ngữ được xem như công cụ giao tiếp toàn dân; “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr được khẳng định “không phải là ngữ học Mác-xít”.
Người ta nhận ra rằng, từ 20 năm trước, việc để cho N. Marr trực tiếp đọc báo cáo trước đại hội 16 ĐCSLX, sau đó J. Stalin trong phát biểu tại đó có trích một số luận điểm của N. Marr (“…ngôn ngữ mới sẽ không phải tiếng Đại Nga, không phải tiếng Đức, mà là một ngôn ngữ hoàn toàn khác…”), – là sự kiện đã đóng vai trò chính thống hóa học thuyết này trong khoa học trên toàn Liên Xô. Đến lúc này, J. Stalin (có sự tư vấn của Chikobava) đã phê phán gay gắt “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr, chỉ ra tính chất phản khoa học ở các luận điểm của nó, chỉ ra sự liên hệ máy móc giản đơn của nó với chủ nghĩa Mác.
Người ta cho rằng, cuộc thảo luận là do Stalin trù định như đoạn dạo đầu để ông phát biểu ý kiến của mình. Chikobava sau này kể lại rằng bài của ông đăng báo “Pravda” là do Stalin chỉ thị cho ông viết.(2) Trước đó Chikobava có thư gửi Stalin khi ông bị một số môn đồ học thuyết Marrizm săn đuổi. Sau nữa lại rõ ra rằng chính bức thư ấy là đề xuất của Bí thư thứ nhất BCH ĐCS Gruzia Kandid Nesterovich Charkviani (1907-1994) và qua ông ta được gửi cho Stalin. Vậy có thể đây là sáng kiến của Charkviani, người che chở nhà ngữ học Chikobava; trong trường hợp này, Chikobava chỉ thực hiện vai trò một chuyên gia.
Về lý do Stalin can thiệp sâu vào ngữ học như vụ này, người ta nêu ra vài giả thuyết. Một là với việc này ông có thể củng cố vinh dự một lý thuyết gia của chủ nghĩa Mác. Hai là tư tưởng của Marr vốn nhắm vào tâm trạng những năm 1920s, đã không còn tương thích với đường lối chính trị của Stalin thời hậu thế chiến.
Từ sau lúc xuất hiện bài báo của J. Stalin, hầu như mọi công trình ngữ học ở Liên Xô đều buộc phải trích dẫn bài báo này, đồng thời “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr chính thức bị coi là phản khoa học và lập tức biến khỏi vũ đài. Những người là môn đồ của thuyết Marrizm tuy cũng bị đả kích đôi lúc quá đà, có người bị buộc thôi việc, hoặc buộc phải đi tỉnh lẻ tìm việc, nhưng nhìn chung không có sự trừng phạt nặng nề.
Hàng loạt nhà ngữ học theo các khuynh hướng khác nhau, tại Liên Xô và cả nước ngoài, trong đó có cả những người vốn không có thiện cảm với chế độ Liên Xô thời Stalin, đều đánh giá sự kiện này như sự giải cứu ngành ngữ học Xô-viết khỏi cái ách những lý thuyết ý thức hệ hóa phi lý. Song sự kiện này vẫn chưa làm cho ngành ngữ học Xô-viết được lành mạnh hóa một cách bình thường. Tạp chí “Language” của Mỹ nhận định rằng, với vụ việc này, “ngành ngữ học Xô-viết đã bước được một bước theo hướng đúng, nhưng vẫn còn chưa bước khỏi bóng tối để ra ánh sáng, bởi vì tư tưởng Stalin, bất kể nội dung nào của nó, vẫn là giáo điều được tuyên ngôn bằng văn kiện chính thống”.(3)
Một mặt, cái huyền thoại đang thống trị đã bị tan tành chỉ trong một ngày, phương pháp nghiên cứu so sánh lịch sử thôi bị coi là “phản động”, nhưng đồng thời, tính chất của mối quan hệ giữa chính quyền và khoa học vẫn không thay đổi. Mặc dù Stalin nói trong khoa học cần có tự do ý kiến, nhưng hệt như trước, từ phía chính thống vẫn áp dụng sự phân giới giữa khoa học “đúng đắn”, “mác-xít” với mọi khuynh hướng còn lại, bị coi là “tư sản”, “lệch lạc về tư tưởng”. Đến khi đó hầu như mới chỉ khôi phục quyền cho ngữ học thế kỷ XIX, chủ yếu là nghiên cứu so sánh lịch sử, trước hết là khoa học Nga trước cách mạng. Còn lại, khoa học tiên tiến phương Tây, nơi ngự trị các khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa cấu trúc, đều bị cự tuyệt, chính trong những năm 1948-1950 ấy. Tất nhiên điều này còn liên quan đến tình trạng “chiến tranh lạnh” chia thế giới làm hai phe đối đầu nhau về rất nhiều mặt, từ chính trị, quân sự, kinh tế đến tư tưởng, văn hóa, khoa học.
Từ sau đại hội 20 ĐCSLX (1956), việc bàn luận về học thuyết Marrizm mất hẳn tính thời sự. Vào những năm 1960s, liên quan đến việc phê phán Stalin cũng xuất hiện một số ý đồ phục hồi học thuyết Marrizm, nhưng không có kết quả gì. Người ta càng thấy rõ, khi không còn sự ủng hộ từ phía chính thống, học thuyết này sẽ biến mất khỏi chân trời khoa học. Một số môn đồ cũ của học thuyết Marrizm mau chóng thích ứng với hoàn cảnh mới (như Filin, những năm 1960 trở thành viện sĩ thông tấn, rồi đứng đầu Viện nghiên cứu tiếng Nga và tạp chí “Vấn đề ngữ học” đến tận khi mất, 1982).
Nói gọn lại, “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr hoàn toàn không xác đáng về khoa học, nhưng chính nó lại khiến giới nghiên cứu ngữ học đương thời thấy không thể thỏa mãn với bộ môn nghiên cứu so sánh lịch sử, và thấy cần nghiên cứu tính quy luật đồng đại của ngôn ngữ, xã hội học ngôn ngữ, loại hình học ngôn ngữ.
Chính sự ủng hộ mang tính nhà nước đối với học thuyết này đã cản trở sự phát triển của khoa ngữ học Xô-viết. Có thể so sánh tác hại của thuyết này với tác hại của thuyết Lysenko trong sinh học và nông học Liên Xô.
***
Trở lại câu chuyện Phan Khôi dịch bài báo của Stalin tại Việt Bắc hồi 1950-51.
Có thể thấy, như Phan Khôi đã bộc lộ ít nhiều trong lời phụ thêm cuối bản dịch, ông không có thông tin nào khác ngoài bản dịch chữ Hán và một vài lời dẫn của Lý Lập Tam cũng ở bản dịch Hán ngữ ấy. Theo đó, người ta biết có cuộc thảo luận về vấn đề ngôn ngữ học trên báo “Pravda” (mà Phan Khôi dịch từ chữ Hán là báo “Chân lý”), về một vài vấn đề lý luận dường như cốt yếu, như có thể coi ngôn ngữ như “thượng tầng kiến trúc” bên trên “hạ tầng cơ sở” hay không? Ngôn ngữ có “bản chất giai cấp” hay không?
Thời gian đó, vùng Việt Bắc do phía Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm soát, tức là do đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo (tuy đã rút vào bí mật). Song trong điều kiện kháng chiến, các nội dung hệ tư tưởng cộng sản còn chưa được thiết lập đầy đủ.
Bản thân Phan Khôi, trong hoạt động viết báo và dạy học từ những năm 1910s cũng đã có những nghiên cứu cụ thể, so sánh một số nội dung ngữ pháp của tiếng Việt với chữ Hán, tiếng Pháp (ví dụ những bài giảng “Hán văn độc tu”, 1932, 1936-37, mục “Quốc văn nghiên cứu” trên báo “Sông Hương” 1936-37, v.v.) song, nghiên cứu ở phạm vi các quy luật khái quát về lịch sử ngôn ngữ, thì hầu như ông vẫn còn chưa quen biết. Về đôi nét xã hội Liên Xô thì qua báo chí dư luận trước 1945, Phan Khôi cũng có ít nhiều thông tin. Song đến đầu những năm 1950s, sống tại vùng mà chính quyền có liên lạc mật thiết với nước Trung Hoa mới và thông qua đó với Liên Xô, những học giả có “vốn sống” cũ như ông cố nhiên phải tự điều chỉnh các quan niệm của mình.
Quả thật, thái độ nhất quán của Phan Khôi trong và sau khi dịch bài này là cần rất mực thận trọng, rất mực dè dặt. Ông nhắc lại điều này ở lời ghi thêm cuối tập sách: “nhất là bạn nào để tâm về ngôn ngữ học nên đọc thật kỹ”.
Báo chí ở vùng kháng chiến thường chú trọng nhiều sự kiện và vấn đề khác, quan thiết hơn các chuyện học thuật, nên ta khó tìm thấy phản hồi nào về tập sách dịch này. Dù sao, Phan Khôi cũng đã thực hiện được một thông tin về một sự kiện hệ trọng đời sống học thuật mà khá lâu về sau người ta mới biết đến.
28/2/2017
LẠI NGUYÊN ÂN
Chú thích:
(1) Xem: V.M. Alpatov, Marr, Marrizm, Stalinism [Marr, học thuyết Marr, chủ nghĩa Stalin] // Filosofskiye Issledovahiya [Nghiên cứu triết học], 1993, № 4, tr. 271-288 [chữ Nga]
(2) Chikobava, A.S., Điều đó xảy ra lúc nào và như thế nào. // Niên giám Ngữ học Iberiisk-Kapkaz, XII, Tbilisi, 1985. [chữ Nga]; theo Alpatov, bài đã dẫn.
(3) Rubinstein H. The Recent Conflict in Soviet Linguistics.// Language. V.27, 1951, № 3. [chữ Anh]; theo Alpatov, bài đã dẫn.

NGUYỄN BÍNH VÀ TUẦN BÁO “TRĂM HOA”

NGUYỄN  BÍNH VÀ TUẦN BÁO TRĂM HOA (1955-1957)

Hai mươi năm sau cái chết của Nguyễn Bính (20/1/1966), tác phẩm của nhà thơ này mới thoát khỏi cõi “im lặng đáng sợ” của sự quên lãng chẳng biết vô tình hay cố ý của những ai ai, trở lại được in ấn, đăng tải, bàn luận. Từ 1986, những sưu tập, tuyển tập thơ Nguyễn Bính liên tục được in ra, liên tục có mặt trên giá các quầy sách các hiệu sách. Tiếp đó cũng đã thấy xuất hiện nhiều cuốn sách nói về con người, cuộc đời và đặc sắc sáng tạo của nhà thơ này. Khá nhiều đoạn đời Nguyễn Bính đã được phác hoạ, dù có khi chỉ thông qua những giai thoại. Tuy vậy, có một loạt sự việc về hoạt động của Nguyễn Bính những năm 1955-57, tức là khi Nguyễn Bính từ miền Nam tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội, làm báo Trăm hoa, rồi  sau chừng như là bị an trí, nghĩa là bị buộc phải về sống ở Nam Định, thì hầu như ít thấy ai nhắc đến. Những bài viết được gom vào các cuốn sách Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương ; Nguyễn Bính, đời và thơ ; Thơ và giai thoại Nguyễn Bính ; Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê, v.v… không nhắc gì đến sự việc này; những người được xem là từng có xúc tiếp, thậm chí cùng làm việc với Nguyễn Bính thời gian nói trên như Trần Lê Văn, Hoài Việt,…nếu nhắc đến cũng chỉ bất đắc dĩ xác nhận “Nguyễn Bính làm báo Trăm hoa“, thế thôi.

Có lẽ, Tô Hoài là người trong cuộc duy nhất tính đến nay có hé ra đôi dòng hồi ức về hoạt động nói trên của Nguyễn Bính. Rải rác trong hai cuốn  Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999), người đọc có thể nhặt được đôi chi tiết về Nguyễn Bính thời làm báo Trăm hoa, tất nhiên là được trình bày hoàn toàn theo cách nhìn của người kể chuyện.

Theo hồi ức của Tô Hoài : “không biết ai đã giúp tiền cho Nguyễn Bính ra những số báo Trăm hoa đầu tiên”, thế rồi “cấp trên” của Tô Hoài “có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà xuất bản giúp Trăm hoa” (khi đó Tô Hoài làm việc ở Nhà xuất bản Văn nghệ, vậy nói “nhà xuất bản” đây có lẽ là NXB ấy − người viết bài này ghi chú), và chính Tô Hoài được giao nhiệm vụ “thuyết phục một tờ báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn“. Theo Tô Hoài, do sự can thiệp này, “tờ Trăm hoa rõ ra một vẻ khác. Không về bè với Nhân văn, như chẳng đi với ai”. Cấp trên của Tô Hoài  nhận xét từng số từng bài, “cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”. Tô Hoài đem nhận xét ấy bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính bảo Tô Hoài : “Trăm hoa phải thế mới là báo của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong !”. Sáng kiến “đầu tư” cho Trăm hoa kết thúc ở đấy. Một buổi tối , Nguyễn Bính rủ Tô Hoài đến ăn ở nhà hàng Lục Quốc. Nguyễn Bính bảo: “Hôm nay ăn cỗ đám ma Trăm hoa !” (Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Hà Nội: Nxb Hội nhà văn, 1992, tr.56 ).

[Ông Hoài Việt, người mà nhà riêng ở gần toà soạn Trăm hoa và đương thời là một trong những cộng tác viên thường xuyên gặp gỡ Trúc Ðường và Nguyễn Bính ở toà soạn báo này, vừa sáng nay 23/12/2005 đã cho tôi biết 2 việc: 1) chính Nguyễn Bính kể với Hoài Việt rằng người khuyến khích Nguyễn Bính tục bản Trăm hoa là Tố Hữu với cái lý: cần tiếng nói của báo chí bên ngoài (tức là không phải báo chí nhà nước) cự lại giọng điệu Nhân văn; như vậy người “cấp trên” mà hồi ký Tô Hoài nói đến chính là “anh Lành” của chàng Tô; 2) nguồn tiền mua giấy để làm hầu hết các số Trăm hoa tục bản là Nguyễn Bính vay của ông Quách Phác ở phố Hàng Khoai; đây mới là nguồn chính, còn lại, nguồn giấy do Tô Hoài  đưa tới, nếu có, cũng là về sau và vì là nguồn trợ giúp có điều kiện nên cũng rất ít và sớm bị cắt như chính Tô Hoài đã nói trong hồi ký của ông. − người viết bổ sung ngày 23/12/2005]

Phải chăng sự việc Nguyễn Bính với tờ Trăm hoa như trên đã dẫn tới những sự việc tiếp theo: do “không về bè với Nhân văn” nên Nguyễn Bính đã không trở thành đối tượng phê phán trong vụ Nhân văn-Giai phẩm; tuy vậy, do tỏ ra “chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết” trước yêu cầu “chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn” nên tựu trung Nguyễn Bính vẫn bị đẩy khỏi Hà Nội, tức là vẫn bị trừng phạt, nhưng hình thức trừng phạt nhẹ hơn ?

Tô Hoài cho rằng chỉ là giai thoại (lời đồn đại chứ không phải sự thật) những chuyện “Nguyễn Bính bị đầy phải xuống xin việc dưới quê, Nguyễn Bính chỉ được biên tập ca dao hò vè”. Theo Tô Hoài thì giản dị là “Nguyễn Bính về Nam Định rồi quyết định ở hẳn dưới ấy chỉ vì Nguyễn Bính đã sắp nên vợ nên chồng với cô hàng cà phê thành Nam. Nguyễn Bính đã bỏ không ở nhà xuất bản Hội Nhà Văn với tôi (tức Tô Hoài − người viết chú) để xin ra làm báo Trăm hoa. Khi Trăm hoa hết tiền phải đình bản, Nguyễn Bính không còn ở biên chế nào thì Hội Nhà văn đã giới thiệu Nguyễn Bính về Nam Định”; “thời kỳ ở Nam Định, Nguyễn Bính đã in nhiều sách trên nhà xuất bản Phổ Thông ở Hà Nội. Trường ca Tiếng trống đêm xuân, lại vở chèo Cô Son đương công diễn. Mỗi lần  lên lấy nhuận bút kha khá, tôi được Nguyễn Bính và Trúc Đường rủ đi đánh chén” (Tô Hoài, Chiều chiều, Hà Nội: Nxb Hội  Nhà Văn,1999, tr.228).

Thật ra, nếu đối chiếu thời gian thì người ta sẽ không dám tin hẳn lời Tô Hoài, là vì Nhà xuất bản Hội Nhà Văn được lập ra sau Đại hội thành lập Hội nhà văn (từ 01/4/1957 đến  04/4/1957), khi đó tờ Trăm hoa do Nguyễn Bính đứng tên tục bản cũng đã chấm dứt hoạt động vài tháng rồi. Thời điểm mà Nguyễn Bính tham gia làm Trăm hoa có thể là giữa tháng 11/1955 (khi tên Nguyễn Bính xuất hiện với chức danh Chủ bút trên bìa tờ Trăm hoa cũ do Nguyễn Mạnh Phác làm Chủ nhiệm) hoặc muộn nhất là tháng 10/1956 (khi ra mắt số 1 tờ Trăm hoa tục bản do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm). Có lẽ đúng ra cơ quan mà Nguyễn Bính đã rời bỏ để đi ra ngoài làm báo Trăm hoa là nhà xuất bản Văn nghệ. Còn chuyện Nguyễn Bính về Nam Định để tìm một công việc làm,  nếu không do Hội Văn nghệ Việt Nam thì cũng do Hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu, − điều này thì có thể suy ra từ (và tin được) hồi ức Tô Hoài .

 

Trên thực tế, Nguyễn Bính về Nam Định trước sau chỉ làm một nhân viên ngoài biên chế của ty văn hoá tỉnh, và ông trưởng ty Chu Văn dường như được giao đặc trách “chăm sóc” Nguyễn Bính, như Tô Hoài viết: “Những ai đã công tác cùng Nguyễn Bính ở ty văn hoá Nam Định có thể biết Chu Văn đã quần Nguyễn đến điều thế nào” ( Chiều chiều, sđd, tr.228 ). Tô Hoài nói điều này trong Chiều chiều chứ không phải trong Cát bụi chân ai (1992), khi Chu Văn (1922-1994) còn sống; hãy nhớ rằng trước đó nữa, cả hai ông, Tô Hoài và Chu Văn, người đề tựa, kẻ viết lời bạt cho Tuyển tập Nguyễn Bính (1986), giọng điệu rất hoà hợp nhau, như đều là hai “cố nhân” của Nguyễn Bính.

Dù có thể là đáng tin cậy đến mức nào, “chứng từ ” của Tô Hoài về Nguyễn Bính như trên vẫn là quá ít ỏi. Trong khi đó, những nhân vật chính từng chịu nạn Nhân văn-Giai phẩm, trong một vài cuộc trò chuyện tương đối cởi mở gần đây, khi được hỏi về trường hợp Nguyễn Bính thì dường như lại  không còn giữ được thông tin nào đáng kể.

Bởi vậy, cần tìm hiểu lại Trăm hoa.

 

***

Nếu ai quá tin vào những chỉ dẫn có sẵn hẳn sẽ nhận được thông tin sai lạc, ví dụ nếu tra trong Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam (Hà Nội: Nxb Văn hoá thông tin, 2001, tr. 652) của soạn giả Nguyễn Thành, sẽ chỉ biết có một tờ Trăm hoa của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nguyễn Bính, ra từ tháng 10/1956.

 

Trên thực tế có hai tờ Trăm hoa :

1/ Đầu tiên là tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Mạnh Phác làm Chủ nhiệm, ngoài tên gọi Trăm hoa ( đặt theo tinh thần “trăm hoa đua nở” đang là khẩu hiệu đương thời ở Trung Quốc, tinh thần này được nói rõ ở lời mở đầu số 1 của toà soạn) còn có phụ đề là “tuần báo tiểu thuyết”, toà soạn  đặt tại 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội, gọi là tuần báo nhưng khuôn khổ lại có vẻ “tạp chí” nhiều hơn. Số 1 ra ngày 2/9/1955 (xin mở ngoặc nói thêm, ở bìa 1 số 1 , dưới chỗ ghi “số 1” có in thêm chữ nhỏ: “tái bản”; chưa rõ liệu có phải Trăm hoa còn có một tiền sử xa hơn chăng? và điều đó hẳn có liên quan với việc chính toà soạn Trăm hoa loại mới, − tức là tờ tục bản sau này, − một vài lần viết rằng tờ báo của mình  ra mắt từ tháng 7/1955?). Tờ Trăm hoa  loại cũ cỡ nhỏ này ra được cả thảy 31 số, tồn tại từ tháng 9/1955 đến giữa tháng 5/1956; mỗi số thường có 26 trang ruột và 4 trang bìa, khổ báo 18×26 cm; ban đầu trang bìa chỉ ghi chức danh Chủ nhiệm Nguyễn Mạnh Phác; từ số 11 (19/11/1955) trên tiêu đề mới xuất hiện thêm chức danh Chủ bút Nguyễn Bính.

 

2/ Tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là Trăm hoa loại mới, toà soạn đặt tại 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; số 1 loại mới ra ngày thứ bảy 20/10/1956; sau số 11 (chủ nhật 6/1/1957) là hai số cuối cùng, đều không đánh số: Trăm hoa  Xuân, và Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, đều phát hành trước và sau Tết Đinh Tỵ. Trăm hoa số thường gồm 8 trang in typo 28x40cm giá bán 300đ; hai số cuối là hai đặc san: Trăm hoa  Xuân gồm 24 trang giá bán 1000 đ, phát hành từ 23 Tết; Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân gồm 16 trang giá bán 600 đ, phát hành đầu xuân Đinh Tỵ.

Cả hai tờ Trăm hoaTrăm hoa loại mới đều là báo tư nhân. Trăm hoa của ông anh là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường) bị “chết” vì lỗ vốn, thì ít lâu sau ông  em là Nguyễn Bính tục bản thành Trăm hoa loại mới, và tờ này cũng lại “chết” vì lỗ vốn .  Ở miền Bắc khi đó báo chí và xuất bản tư nhân còn được phép tồn tại, nhưng phải chịu nhiều thiệt thòi và bị chèn ép mạnh: phải bán với giá cao vì phải mua giấy giá cao hơn so với  giá cung cấp dành cho các báo nhà nước và đoàn thể; các cơ sở phát hành lớn của hệ thống “hiệu sách nhân dân” không nhận bán các báo tư nhân; ngoài ra còn một trở ngại đáng kể là cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương thường gây trở ngại cho phóng viên và người phát hành các báo tư nhân.

 

Đặt trong tình thế toàn bộ nền kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và nông nghiệp tư hữu lớn và nhỏ ở miền Bắc lúc đó đang bước vào “đêm trước” của sự giải thể tư doanh để công hữu hoá, công tư hợp doanh, tập thể hoá, hợp tác hoá, thì thất bại của cả hai tờ Trăm hoa cũng như của tất cả các tờ báo tư nhân ở miền Bắc lúc ấy là không thể tránh khỏi. Tất nhiên Trăm hoa đã “chết” khá lâu, có lẽ vì không chịu đựng nổi tình trạng báo chí tư nhân bị phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, trước khi người ta thực hiện chủ trương xoá sổ toàn bộ báo chí và xuất bản tư nhân trên miền Bắc.

***

Có một điều hơi khác lạ là một mặt thì Nguyễn Bính bỏ cơ quan (nhà xuất bản Văn nghệ hồi 1955 hoặc nhà xuất bản Hội nhà văn từ 1957, đều là đơn vị của đoàn thể, có thể xem là thành phần kinh tế nhà nước) để đi làm báo tư nhân (tờ Trăm hoa của anh ruột và về sau là của chính Nguyễn Bính) nhưng mặt khác ngòi bút Nguyễn Bính bộc lộ ra hồi này lại rất đậm chất cán bộ: các sáng tác đưa in lại hoặc viết mới thời kỳ này thường mang tình cảm chính trị của một chủ thể  “ta-dân-tộc” chung. Ít ra điều này là nhất quán ở Nguyễn Bính tính đến hết năm 1955.

 

Trên tờ Trăm hoa (cũ) đăng một loạt sáng tác mới và sáng tác trong kháng chiến của ông. Đó là các bài thơ Nổi dậy (viết 1948 ở Nam Bộ; đăng TH s.3 ngày 17/9/1955), Máu chảy trên đường phố (viết  ngay sau cuộc biểu tình của học sinh Sài Gòn-Chợ Lớn 19/1/1950; đăng TH s.7 ngày 22/10/1955) với giọng điệu hào hùng tương tự  bài ca Tiểu đoàn 307.

Hai bài thơ viết tháng 10/1954 khi Nguyễn Bính còn ở Nam Bộ: Thao thức (đăng TH s.6 ngày 15/10/1955) là tưởng tượng của tác giả về không khí tưng bừng của những đoàn quân tiến về tiếp quản thủ đô.

Từng lớp người vĩ đại

                 Cuồn cuộn đi trong một biển cờ

                 Đi giữa lòng ngưỡng mộ

                 Đi giữa tiếng hoan hô

                 Những bước chân chiến thắng

                 Rầm rập vang rền nẻo cố đô

                 Người Hà Nội vỗ tay trào nước mắt

                 Ôi ! Tám năm đằng đẵng mong chờ

 

Bài thơ Hẹn hò làm lời một người ở lại miền Nam tiễn bạn tập kết  ra Bắc, cùng tin rằng nay xa nhau để mai gặp lại. Hai bài thơ viết tháng 11/1954 Thương nhauChiếc giường gỗ thông (đăng TH s. 2, ngày 10/9/1955) trên tàu thuỷ từ Nam ra Bắc, nói lòng biết ơn bạn bầu quốc tế  “…Đường dài nghĩa nặng tình sâu / Ăn cơm Trung Quốc đi tàu Liên Xô…”

 

Ngay khi đã sống trong đời thường trên đất Bắc, nhà thơ vẫn sẵn sàng phổ dòng tình cảm chính trị sẵn có như trên vào những sự kiện như đón đoàn nghệ thuật Triều Tiên (bài Thông cảm, đăng TH s.1, ngày 2/9/1955).

 

Thời gian này bài thơ dài Gửi người vợ miền Nam của Nguyễn Bính đã nhanh chóng được in thành sách riêng và ông trở thành một trong những tác giả nổi bật ngay từ đầu của mảng đề tài “thơ đấu tranh thống nhất”. Nhưng có vẻ như ông còn sẵn sàng nhúng bút vào nhiều đề tài thời sự khác của đời sống miền Bắc, ví dụ đề tài cải cách ruộng đất. Truyện ngắn Bức thư tuyệt mệnh (TH, s.13, ngày 3/12/1955), bài thơ Hình ảnh chị (TH, s.14, ngày 10/12/1955) đều có chung mô-tip tố cáo tội ác địa chủ.

 

Tuy nhiên, sang năm 1956, dường như ở Nguyễn Bính có những biến chuyển nào đó, − điều này bộc lộ rõ nhất ở những số đầu của tờ Trăm hoa loại mới do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm; thậm chí cũng đã bộc lộ ở một số bài  đăng ở những số Trăm hoa cũ ra đầu năm 1956 (Xin mở ngoặc để nói rõ rằng, thử tìm trong các nguồn lưu trữ Trăm hoa hiện có của Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội, Thư viện Viện Văn học ở Hà Nội, phối hợp lại vẫn chưa đủ một bộ sưu tập Trăm hoa, cụ thể là vẫn thiếu 14 số Trăm hoa loại cũ từ số 18 đến số 31, tức từ đầu tháng 1/1956 đến tháng 5/1956).

 

Có thể tin rằng một trong những lý do đưa tới biến chuyển ấy là việc Giải thưởng văn học 1954-55 được Hội Văn nghệ Việt Nam công bố (15/3/1956), gây phản ứng mạnh trong giới văn nghệ sĩ. Tất nhiên sẽ khó thấy điều đó thể hiện trên báo chí chính thống, ví dụ trên tờ Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam. Chỉ trên báo hoặc ấn phẩm tư nhân mới thấy rõ sự phản ứng ấy mà rõ nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu (tập I)(1956). Theo bài mở đầu Trăm hoa loại mới (20/10/1956) thì Trăm hoaloại cũ cũng đã từng động đến giải thưởng này, cụ thể là đã đăng 3 bài phê thơ Xuân Diệu, hẳn là phê tập Ngôi sao, nêu nhận xét rằng tuy chất lượng kém nhưng Ngôi sao lại được trao giải nhì (3 bài phê bình này có lẽ Trăm hoa (cũ) đăng khoảng tháng 4 hoặc tháng 5/1956, không nằm trong các số Trăm hoa hiện còn trong các sưu tập ở Hà Nội). Đọc một đoạn bài mở đầu ấy mang tên Hoa lại nở ở trang đầu số 1 Trăm hoa loại mới (tục bản) cũng thấy một giọng điệu khác hẳn Trăm hoa cũ :

 

“Tuần báo văn nghệ Trăm hoa ra đời từ tháng bảy năm 1955. Nó ra đến số 31, sống gần một năm thì nó tạm đình bản. Nói cho văn hoa thì “Trăm hoa chết vì phương diện tài chính khó khăn”. Còn nói nôm na vắn tắt thì “Nó chết vì nó lỗ vốn quá!” Nó chết vì hết tiền. Than ôi ! sớm nở tối tàn, thân Hoa thầm trách số phận mình sao lại sinh vào cửa tư nhân ! Sung sướng thay những bạn đồng nghiệp cơ quan ngôn luận của đoàn thể! có bao giờ chịu cái số phận nửa chừng xuân như số phận Trăm hoa.(…) Một lần nữa xin nhắc lại, sở dĩ Trăm hoa chết là vì hết tiền, chứ không phải vì đã “ngạo mạn” dám đăng ba bài phê bình thơ Xuân Diệu, mà Xuân Diệu vốn là bạn thân của ông Huy Cận thứ trưởng bộ văn hoá, và ông Hoài Thanh trong Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam như một vài dư luận…”

 

Nguyễn Bính đã dành trang phê bình của 2 số đầu Trăm hoa loại mới cho bài viết của chính mình về giải thưởng văn học 1954-55,  nhan đề: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955; dưới nhan đề là mấy dòng chapeaux in đậm: “Đề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng. Bổ sung một số tác phẩm khác“. Đây là bài tiểu luận vào loại khá hiếm hoi trong đời văn Nguyễn Bính, trong đó tác giả đã trình bày thẳng thắn ý kiến của mình về một sự kiện đang chia rẽ giới nhà văn vừa tập hợp về Hà Nội sau kháng chiến chín năm.

Xin dừng lại kỹ hơn ở bài này của Nguyễn Bính.

 

“Kết quả giải thưởng văn học 1954-55 đã gây nên rất nhiều dư luận, nhiều thắc mắc trong giới văn nghệ và yêu văn nghệ. Những dư luận và thắc mắc ấy đã kéo dài đến nửa năm nay. Dư luận càng sôi nổi từ sau lớp học tập lý luận văn nghệ 18 ngày và nhất là sau bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của ông Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu tập I.

Tại sao lại có nhiều dư luận thắc mắc? Chính vì căn cứ vào những tác phẩm trúng giải, người ta thấy có nhiều quyển không xứng đáng, nhiều quyển cần phải xét lại thứ bậc, nhiều quyển tại sao không trúng giải? Thành phần ban giám khảo cũng như lề lối làm việc độc đoán, hẹp hòi, xa rời quần chúng, bè phái, và có cả cái tệ sùng bái cá nhân nữa.

Nhờ có dư luận ấy mà ban giám khảo và Thường vụ Hội Văn nghệ đã kiểm điểm lại vấn đề giải thưởng. Mới đây Hội Văn nghệ có ra một thông báo và ông Nguyễn Tuân (vừa là trưởng ban giám khảo vừa là tổng thư ký) có viết một bài về giải thưởng văn học 1954-55. Theo tinh thần hai văn kiện ấy ta có thể kết luận là ban giám khảo và thường vụ Hội có nhận một số khuyết điểm về quan niệm, tổ chức và lề lối làm việc của giải thưởng”.

 

Sau khi trích dẫn một đoạn trong bài nói trên của Tổng thư ký Nguyễn Tuân và tóm tắt một số điểm trong thông báo của thường vụ Hội Văn nghệ, lưu ý đến một vài đề xuất sửa đổi (đưa tập Ngôi sao từ giải nhì xuống giải ba, sẽ cân nhắc trường hợp quyển Người người lớp lớp), Nguyễn Bính cho rằng các đề xuất đó là quá ít, trong khi những khuyết điểm về nhận thức và tổ chức xét giải đã khiến toàn bộ giải thưởng “mất đi rất nhiều giá trị và tác dụng”. Nguyễn Bính viết tiếp :

 

“Đã đến lúc rất cần và đến mức đòi hỏi phải xét lại toàn bộ giải thưởng, chứ không chỉ hạ xuống hoặc thêm vào một vài tác phẩm là đã đủ cứu vãn được giá trị và tác dụng của nó. Ông Nguyễn Tuân cũng đã nhận rằng “đã có những sai lầm nghiêm trọng”. Vậy thì những sai lầm nghiêm trọng ấy nó có tác hại đến việc chấm giải, cụ thể ra bằng việc cho giải các tác phẩm như thế nào? Không lẽ lại chỉ sai lầm vẻn vẹn ở mấy quyển Ngôi sao, quyển Nam Bộ mến yêu, truyện Cái lu mà thôi? Như vậy sao lại gọi là sai lầm nghiêm trọng? Chúng tôi tưởng đã luộm thuộm thì phải luộm thuộm hết chứ không lẽ chỉ luộm thuộm riêng khi nhận xét quyển Ngôi sao mà không luộm thuộm khi nhận xét các quyển Thơ chiến sĩ, thơ Việt Bắc, Chú Hai Neo. Chúng tôi tưởng đã thiếu trình độ nhận thức thì không lẽ chỉ thiếu khi nhận xét quyển Cái lu mà lại đầy đủ nhận thức khi nhận xét những quyển khác. Chúng tôi tưởng đã nể nang thì không lẽ chỉ nể nang khi muốn giữ địa vị cho quyển Nam Bộ mến yêu mà lại rất nghiêm khắc trong khi chấm quyển Anh Lục hay cái kịch Việt ơi! Hơn nữa biết đâu chẳng có những tác phẩm còn trong bản thảo, gửi dự thi, có giá trị, mà đã phải vùi dập đi vì cái trình độ nhận thức kém, cái tính nể nang, thiếu tập trung, thiếu nghiêm chỉnh, cái lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, cái gò ép, cái gượng gạo, cả cái không lắng nghe ý kiến quần chúng và văn nghệ sĩ của ban giám khảo? Huống chi Thường vụ Hội lại thiếu kiểm tra đôn đốc, thì sao mà biết được rằng giải thưởng có chu đáo hay không? Hay đã bỏ rơi một cách không thương tiếc những tác phẩm dự thi có giá trị? Do đó, vàng thau lẫn lộn, mà đã làm chết yểu đi một số mần non văn nghệ chăng?”

 

Tiếp đó Nguyễn Bính nói riêng về phần giải thưởng thơ mà ông lấy làm trọng điểm ý kiến của mình:

 

“…Khi bắt đầu đặt giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55, anh chị em văn nghệ gặp nhau thường hay nói đùa một câu: “Giải thưởng này, cái gì thì không biết, chứ tập thơ Việt Bắc thì chém chết cũng được giải nhất rồi!” Tất nhiên chúng ta cũng đều hiểu rằng câu nói đó không phải là một câu tán dương. Anh em còn nhớ mãi cái cuộc tranh luận về quyển thơ Việt Bắc, chưa ngã ngũ ra sao thì các ông lãnh đạo Hội đã vội vàng đưa ra mấy bài “bịt lỗ châu mai” lại. Anh em không thể nào quên cái câu ông Hoài Thanh phát biểu: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu. Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung uỷ, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng. Trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất (không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?). Sở dĩ anh em biết trước thế nào tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu cũng được giải nhất là bởi anh em không còn lạ gì cái tệ sùng bái cá nhân của một số cá nhân lãnh đạo Hội Văn nghệ.”

 

Nguyễn Bính nói tiếp về tập Ngôi sao của Xuân Diệu :

 

“Bản thảo tập thơ Ngôi sao đã đưa cho nhà xuất bản Văn nghệ xem. Toàn thể anh  em văn nghệ công tác ở nhà xuất bản đều thấy là dở quá (Tô Hoài, Kim Lân, Phùng Cung, Nguyễn Bính, v.v…), không đồng ý cho in; quyển đó cứ bỏ lay lắt mãi 4 – 5 tháng. Nhưng cấp trên cứ giục phải in. Túng thế, anh em đành lựa một số bài không đến nỗi tồi lắm đưa sang nhà in Quốc gia ( lúc ấy còn coi cả việc phát hành sách báo) thì bên đó cũng không chịu in. Vì lẽ “thơ Xuân Diệu không có độc giả”. Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển. Khi in ra, tập Ngôi sao đã bị dư luận chỉ trích rất nhiều. Điều đó thiết tưởng Thường vụ Hội phải biết rõ hơn ai hết. Xin nói thêm rằng hồi cho in tập Ngôi sao là hồi mà nhà xuất bản Văn nghệ cùng đóng chung một căn nhà với Thường vụ Hội (51 Trần Hưng Đạo), Thường vụ Hội mặc dầu có bưng tai bịt mắt đến đâu chăng nữa chắc cũng  phải nghe dư luận ở những anh em cùng chung một nhà ở, cùng chung một bàn ăn, đối với tập Ngôi sao. Vậy mà đến lúc chấm giải vẫn cứ để cho nó được giải. Mà lại giải nhì! Như thế thì hiền như bụt cũng phải thắc mắc.

Tập thơ Việt Bắc được giải nhất thì không ai lấy làm lạ (như đã trình bày) chứ đến như tập Ngôi sao mà đứng giải nhì thì anh em lấy làm lạ quá! Anh em lạ quá là vì anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn vào văn nghệ như thế ? Anh  em lạ quá là vì anh em không thể ngờ ban giám khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy. Anh em cho đó là một cái nhục. Nhục cho anh em. Nhục cho văn nghệ. Nhục cho cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55. Anh em thắc mắc cao độ và thấy rằng cần phải đấu tranh. Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập Ngôi sao“(lời ông Nguyễn Tuân). Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hoá, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực ? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không? Theo ý chúng tôi, cái chuyện đó là bè phái rõ ràng chứ không phải nể nang luộm thuộm. Chúng tôi kết luận rằng: ở bộ môn nào thì chưa biết chứ trong việc chấm giải thơ thì nhất định là có bè phái.”

 

 

 

Cuối cùng, Nguyễn Bính nêu những đề nghị cụ thể.

 

“Muốn cho cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55 có giá trị toàn vẹn, chúng tôi có ý kiến đề nghị cụ thể như sau :

Về giải thơ: Nên đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì; tập thơ ấy tuy có giá trị thật, nhưng chưa xứng đáng được giải nhất, vì lẽ nó chưa hẳn là một tập thơ tiêu biểu. Loại tập thơ Ngôi sao và tập Thơ chiến sĩ ra khỏi giải thưởng. Tập thơ Chú Hai Neo và tập thơ của Tú Mỡ nên để xuống giải khuyến khích. Cả tập ca dao của Nguyễn Hiêm cũng nên loại ra khỏi giải thưởng.

Về giải bút ký và kịch : Nên loại tập bút ký Nam Bộ mến yêu và cái kịch Việt ơi! ra khỏi giải thưởng.

Về giải tiểu thuyết : Nên loại tập truyện Cái lu ra khỏi giải thưởng. Xét lại tập truyện Đất nước đứng lên xem nên để giải nhất hay nên cho xuống giải nhì, vì tập truyện ấy chưa đúng nội dung một quyển tiểu thuyết. Xét lại thứ bậc quyển tiểu thuyết Anh Lục.

Về ngành nhạc xin nhường ý kiến cho các nhạc sĩ. Tôi vốn không rành về nhạc nên không dám có ý kiến. Và nên bổ sung một số tác phẩm có giá trị, cụ thể như những quyển tiểu thuyết Người người lớp lớp, tập thơ Hoàng Cầm, Lê Đạt, v.v…”

 

Tờ Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính còn theo đuổi việc thảo luận về giải thưởng văn học này ở những số sau, chẳng hạn số 3 (4/11/1956) đăng ý kiến một cây bút miền Nam tập kết là Phạm Tường Hạnh, cho rằng bài nói lại của Nguyễn Tuân (tổng thư ký Hội Văn nghệ và trưởng ban giám khảo) bênh vực hai cuốn Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh và Ngôi sao của Xuân Diệu, “vô hình trung đã phủ nhận dư luận của anh chị em văn nghệ sĩ” về hai cuốn đó. Đến cuối năm 1956, có lẽ nhận thấy những hứa hẹn sửa lại giải thưởng đã gần như trở thành lời hứa hão, số 6(2/12/1956) trong mục “Chuyện làng ta”,Tường Vi nhắc lại câu hỏi: sau góp ý của văn nghệ sĩ và của dư luận, số phận giải thưởng văn học 1954-55 có gì thay đổi không, nhất là đối với cuốn bút ký Nam Bộ mến yêu và tập thơ Ngôi sao ?

Nói chung, đọc lại tờ Trăm hoa, nhất là Trăm hoa loại mới, người nghiên cứu thời nay sẽ thấy rõ tờ báo này có vai trò bổ sung đáng kể cho một đời sống văn học đang bị độc tôn hoá, chính thống hoá, phiến diện hoá, với cách làm sẽ trở nên phổ biến về sau là trong khi một số thông tin được tập trung tô đậm làm nổi bật thì  khá nhiều thông tin khác bị cố tình ém nhẹm vào bóng tối. Vai trò bổ sung này thể hiện ở nhiều bài mục, từ đưa tin và điểm tin văn nghệ, đăng bài điểm sách hoặc phê bình, đăng sáng tác mới, đến “nhặt sâu hoa”,− tên đề mục khá hay, lại gắn với tên ký giả Trại Hàng Hoa (hẳn vẫn là Nguyễn Bính?) dành riêng cho mục này. Không có tờ báo loại này hẳn hậu thế không thể hình dung được rằng Tú Mỡ cũng bị phê phán đích đáng vì những chữ dùng “kém cỏi, tối tăm” trong thơ trào phúng (số 4, 11/11/1956). Không có loại báo này sẽ ít ai biết là hồi ấy đã xuất hiện lối xin-cho sẽ rất phổ biến những năm về sau: Hội Văn nghệ định cử Hoàng Cầm vào đoàn văn nghệ sĩ đi thăm Liên Xô, nhưng lại thôi, “chắc tại Hoàng Cầm còn bận việc viết báo Nhân văn“, lại định cử Hồ Dzếnh và Mộng Sơn đi thay, rồi lại thôi, “chắc tại Hội đã trả hai người lại cho văn nghệ sĩ Hà Nội rồi”, nghe nói sẽ cử Nguyễn Văn Bổng và Anh Thơ đi, vì hai người này “không bận viết báo như Hoàng Cầm” (bài của Tần Hoài trong mục “Việc làng việc nước”, số 5, 25/11/1956). Không có loại báo này sẽ ít ai biết chuyện hồi ấy một ty văn hoá nọ cố tình trao giải nhất một cuộc thi thơ cho một bài thơ kém cỏi chỉ vì tác giả của nó là một công nhân (bài của bạn đọc Bích Lục từ Nam Định, đăng TH số 4). Trước sự kiện một Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956 ra mắt, nếu không có loại báo này hẳn sẽ rất khó lọt đến tay bạn đọc những bài điểm sách như bài của Lưu Thuỷ (số 7, 9/12/1956, Lưu Thuỷ có lẽ cũng là một bút danh khác của chủ nhiệm Trăm hoa?), cho biết dư luận trong giới thấy tuyển tập này thể hiện tinh thần “thiếu đoàn kết”, hầu như chỉ có bài của những ai từ kháng chiến về, những ai ở trong biên chế; và không thể biết có bao nhiêu bài thơ hay bị bỏ quên, bao nhiêu bài thơ dở choán chỗ không hợp lý trong tuyển tập này, một tuyển tập mà “cái dở của một số thơ cũng như số lượng thơ dở trong tuyển tập rõ rệt quá”!

 

Vai trò bổ sung nói trên bộc lộ rất rõ ở việc báo Trăm hoa của Nguyễn Bính lên tiếng về trường hợp bài thơ dài Chiếc lược của Thụy An. Bài thơ kể chuyện một cô gái nghèo đi ở cho địa chủ, chỉ ước có cái lược chải tóc mà không thể có ; một bữa nọ cô mượn trộm chiếc lược của mụ chủ chải tóc để đi dự hội làng, bị mụ bắt được, lấy dao cau gọt sạch tóc mai cô khiến cô không dám đi hội, cũng không dám đến chỗ hẹn gặp người yêu ; khi cải cách ruộng đất thắng lợi, mụ chủ bị đấu tố, cô gái được người yêu tặng chiếc lược mà anh ta lấy được ở chỗ chia quả thực. Trăm hoa in toàn bộ bài thơ này (số 3, 4/11/1956) với phụ đề “Một bài thơ bị vùi dập” và sau đó có các bài nói rõ thêm. Nguyên tại lớp học chính trị cho một số văn nghệ sĩ, một cán bộ của Uỷ ban CCRĐ TƯ đến nói chuyện, có kể câu chuyện một chị cố nông lúc chia quả thực nói chỉ ước ao được một cái lược chải đầu vì từ bé tới giờ chị chưa hề có; cán bộ ấy nói thêm: câu chuyện này khiến Hồ Chủ tịch xúc động và tỏ ý nhắc văn nghệ sĩ khai thác đề tài này. Thuỵ An dự nghe buổi ấy, xúc động với câu chuyện, hăm hở ngày đêm viết xong bài thơ này, nhưng đưa đến Hội Văn nghệ chỉ được khen là khá rồi giới thiệu cho phòng văn nghệ quần chúng của vụ nghệ thuật, cơ quan ấy lại bảo rằng loại thơ này ở đây vô thiên lủng và trả lại, rốt cuộc bài thơ để lay lắt gần một năm không được đăng. Lưu Thuỷ không bảo đây là tuyệt tác, là toàn bích, “nhưng ít nữa nó vẫn cứ hơn, hơn hẳn những loại thơ “tình Bắc Nam” của ông vụ trưởng Đào Duy Kỳ mà vụ văn hoá đại chúng đã cho in hàng vạn cuốn”; Lưu Thuỷ bảo rằng bài như thế của Thụy An thì bị hết cửa nọ đến cửa kia từ chối in, kể cả Hội Văn nghệ, thế mà “biết bao nhiêu bài thơ, chưa nói đến văn, dở òm và nhạt phèo của Xuân Diệu, của Nguyễn Đình Thi, của Huy Cận, vẫn được in ra một cách vô tội vạ”;

 

“Chẳng cứ gì một bông hoa của chị Thụy An bị vùi dập. Vì cái tinh thần bè phái đương ngự trị trong đầu óc một số ông phụ trách báo và sách văn nghệ và văn hoá đại chúng, và trên hết là vì cái tinh thần bè phái ở ngay trong cơ quan lãnh đạo Hội. Tất cả rắc rối (hạn chế tài năng của cá nhân, kìm hãm sự tiến triển của phong trào, thiếu đoàn kết, gây phản ứng…) do đó mà ra cả”( bài của Lưu Thủy, TH số 4, 11/11/1956).

 

Trăm hoa ( số 6, 2/12/1956) còn cho biết, lúc bài thơ nằm mãi không được phổ biến, “chị Thụy An lấy làm ức lắm. Chị có làm ngay một bài thơ khiếu nại lên Hồ Chủ tịch, vì lẽ cái đề tài này Hồ Chủ tịch có nhắn nhủ anh chị em văn nghệ nên sáng tác”. Tiếp đó báo đăng toàn bộ bài thơ kiêm thư khiếu nại ấy, ký Thụy An tức Phương Thao, mà thực ra tác giả còn chưa gửi đi vì sợ làm phiền cụ Hồ. Đây là đoạn cuối :

 

“Chuyện chiếc lược này đây 

Viết thi đua sáng tác 

Đợt đầu tiên chín ngày

Sau đó sẽ liên tục 

Làng văn nhiều chuyện hay

Bảo nhau bỏ cả Tết 

Hăm hở viết mê say  

Vâng lời Bác căn dặn

                        Viết chuyện chiếc lược này

Ít lâu Hội trả lại

Với lời phê : Khá hay  

Nhưng ý Vụ văn hoá:

Hay gì mà kêu hay

 Loại này vô thiên lủng  

Đem trả tác giả ngay  

Nghe phê bình chẳng chuộc  

Tác giả đâm ngẩn ngây  

Lược đẹp hay không đẹp ?

 Vứt bỏ hay dùng đây ?

Luống thương công chuốt lược 

Mà chẳng lọt đến tay

 Sự tình kiện lên Bác

 Hoạ có vơi hận này”.

 

Chuyện tờ Trăm hoa của Nguyễn Bính đưa ra ánh sáng một bài thơ không được đăng dù rất thích hợp về nội dung tuyên truyền đương thời, đã hé ra những phương diện khác của một cơ chế văn nghệ lúc ấy đang đi trên hướng nhà nước hoá, quan liêu hoá, với sự thao túng của những cá nhân nhất định, vốn là nhà văn nhưng đã trở thành quan chức cai quản guồng máy văn nghệ, hành xử theo lối ban phát, cho đăng hoặc không cho đăng, không chỉ căn cứ vào nội dung tác phẩm mà còn căn cứ vào “thành phần” tác giả (ví dụ Thụy An, Hồ Dzếnh, Ngân Giang… là nhà văn ở trong thành thời tạm chiếm, không được đối xử ngang bằng với nhà văn đi kháng chiến trở về) hoặc tuỳ thuộc những  ác cảm, thiện cảm và định kiến cá nhân.

 

Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính chủ yếu là tờ báo về văn nghệ, diện tích trang in dành cho đề tài đời sống xã hội không nhiều, tuy vậy vẫn thấy khá rõ xu hướng bảo vệ cái không gian tự do của sinh hoạt dân sự bình thường khi ấy hoặc đang bị thu hẹp dần hoặc lúc thắt lúc nới. Chẳng hạn, báo đăng ý kiến “Chúng tôi đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu“(số 1); báo nêu chuyện báo bạn đã nêu: tố cáo một vị thủ trưởng cấm một đôi trẻ ở cơ quan mình kết hôn với nhau với lý lẽ: “anh” xuất thân nông dân, “chị” là con một tiểu chủ; hoặc báo tố cáo một thủ trưởng khác đòi kiểm thảo một đôi trẻ tìm hiểu nhau bằng thư từ lại còn gửi kèm những bưu ảnh Tháp Rùa tặng nhau, cho thế là tiểu tư sản!(số 2); báo đăng bài vè của bạn đọc trách mấy ông cán bộ dân phố cứ khuyên người ta đừng mua báo tư nhân (số 4), v.v… Báo cũng thường đăng ý kiến bạn đọc kêu ca tình trạng cửa quyền của mậu dịch quốc doanh. Tranh biếm hoạ thường nhắm vào đề tài này: diễu thói “chụp mũ”(Bùi Xuân Phái vẽ, số 2); diễu kẻ tự xưng cán bộ khi đòi mua 2 gói Đại Tiền Môn ở quầy bách hoá nhưng lúc xông vào nhà dân hành hung người ta lại chỉ “lấy tư cách cá nhân” (Bùi Xuân Phái vẽ, số 3); tả nỗi mừng của các bà nội trợ từ nay khỏi phải dấu con gà con vịt mua được xuống đáy rổ tránh con mắt dò xét của cán bộ thuế và hộ khẩu như trước (Bùi Xuân Phái vẽ, số 4); nỗi mừng của người đàn ông từ nay tối về ngủ chỗ vợ khỏi lo trình báo hộ khẩu (Tê Hát vẽ, số 5), tả anh chàng lảo đảo như trúng gió khi vừa chen mua hàng mậu dịch (Văn Tôn vẽ, số 7), mô tả “quái vật hai đầu”, một đầu nịnh trên, một đầu nạt dưới (Trần Hưởng và Văn Tôn vẽ, số 10), v.v…Mục “Hoa cười” ở các số Trăm hoa cũng thường có các mẩu chuyện cười tương tự như vậy.

 

Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính chỉ tham gia một số ít chủ đề chính trị, ví dụ rõ nhất là đưa tin Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại hội nghị lần thứ 10 ra 3 bản thông cáo (1/ nhận định kết quả và nghiêm khắc kiểm điểm sai lầm trong công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức; 2/ cử lại Tổng bí thư sau khi cựu tổng bí thư Trường Chinh tự kiểm thảo và xin từ chức; 3/ thi hành kỷ luật 2 uỷ viên TƯ là Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương), bày tỏ sự hoan nghênh nhiệt liệt trước “thái độ dũng cảm và chân chính cách mạng” của TƯ Đảng LĐVN “đã công khai tự kiểm điểm và đề ra những biện pháp cụ thể” để sửa chữa những sai lầm đã mắc phải, bày tỏ nhiệt liệt tin tưởng tài đức của Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ mới: Chủ tịch Đảng kiêm Tổng bí thư (bài của Trần Nguyên, số 3 và số 4). Tiếp tục chủ đề này, Trăm hoa có những bài khẳng định Toàn đảng toàn dân đoàn kết là yếu tố quyết định sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. “Phải nói rằng một trong những nguyên nhân mắc phải sai lầm là mũi nhọn chuyên chính đã chĩa cả vào ta và bạn” … “Máu và nước mắt đã chảy nhiều trong cuộc chiến tranh cách mạng. Máu và nước mắt của một số người lại chảy trong cải cách ruộng đất. Nỗi đau khổ của một số đồng bào nông dân, của một số đảng viên bị xử trí oan không phải là không chính đáng” … “Những hiện tượng rạch mồm, chửi bới, đánh xé, doạ nạt, những hiềm khích giữa nông dân và cốt cán, giữa nông dân với nhau, những mâu thuẫn ở trong Đảng ngoài Đảng lúc này đều không lợi cho việc sửa sai, cho việc củng cố miền Bắc, đấu tranh giành thống nhất”(bài ký Trăm Hoa, số 5). Cũng trên chủ đề này còn có bài báo dài 2 kỳ (số 6 và số 7) của Trăm Hoa (ký tên toà soạn nhưng chưa rõ ai viết) Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của Nhà nước, không những đặt vấn đề tiếp tục sửa sai trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, trong công tác kinh tế tài chính, mà còn nêu vấn đề “xây dựng một chế độ pháp trị dân chủ”.

 

Nếu nói riêng về thái độ của Trăm hoa đối với báo Nhân văn và các cuốn Giai phẩm của nhà xuất bản Minh Đức, thì ngay từ số đầu Trăm hoa loại mới đã có bài, không cổ vũ cũng không đả kích mà chỉ trêu chọc, cười cợt. Chẳng hạn số 1 đã có hí họa của Tê Hát “minh hoạ bài của Trương Tửu trong Giai phẩm mùa Thu tập II”, vẽ Trương Tửu quỳ khấn trước 5 thần tượng (1/ Mác-Lênin, 2/ Khơrutsốp, 3/ Đảng Lao động VN, 4/ Đại hội 20 ĐCS Liên Xô, 5/ Lục Định Nhất với khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”) xin được chư vị “phù hộ” để mình “choảng” bọn họ một trận cho mất cái thói sùng bái cá nhân! Cũng ở số 1 trong mục “Việc làng việc nước”, Trăm Hoa đùa Phan Khôi: trong bài Ông bình vôi đăng trên Nhân văn, ông bảo cái gì người ta sợ thì người ta gọi bằng ông, vậy gặp ông  (Phan Khôi) bây giờ biết gọi bằng gì? Ngay khi thử đặt ra để giải đáp nghiêm túc câu hỏi :  “trong bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, ông Phan có nói xấu chế độ không?” Hàm Tiếu (mục “Việc làng việc nước“, số 2) đem dư luận đang ồn ào về bài ấy so sánh với những lời bình “bách nhân bách khẩu” của hàng phố khi đứng xem cặp vợ chồng già nhà nọ cãi nhau. “Vậy thì ông Phan Khôi có nói xấu chế độ không? Có. Ông ví von chế độ dân chủ cộng hoà của chúng ta với chế độ triều Gia Long Tự Đức gì gì đó, thế là quả nhiên nói xấu chế độ rồi. Giấy trắng mực đen còn rành rành, ai mà cãi cho ông được! Nhưng nếu gán ghép cho ông tội này tội khác, thì cũng chẳng khác mấy người đứng xem cãi nhau lúc nãy lên án bà hàng xóm của tôi là đa ngôn đa quá, cố tình phá phách gia đình ruồng rẫy chồng con! Và có kẻ còn toan gieo tiếng cho bà là có cả chuyện ngoại tình (!) Không tin xin cứ đợi ông Phan Khôi đi Trung Quốc về mà hỏi, hay hỏi bà láng giềng tôi xem có phải mặc dầu có quá lời có mỉa mai soi móc chồng nhưng rồi lại mỉm cười với chồng, lại lọm khọm đi chợ xa mua sắm lại những thứ chính tay mình đã trót đập vỡ để bày biện lại cửa nhà cho đẹp? Hay, nói mới lạ làm sao chớ? Quên nhau làm sao cho nỡ! Ai bảo họ quên nhau được nào?”   Những tin tức về việc báo Nhân văn bị cảnh cáo được Trăm hoa (số 4, 11/11/1956) nói rõ với bạn đọc của mình: đó là vì nhân viên của báo này quên nộp lưu chiểu 3 số liền “chứ không phải tại báo Nhân văn nói mạnh quá, chứ không phải tại báo Nhân văn dám “xúc phạm” Nguyễn Chương tiên sinh của báo Nhân dân. Và cũng không phải tại sở Báo chí có thành kiến với báo Nhân văn đâu !”

 

Một thái độ khác hẳn, ngược hẳn thái độ trên đây, đối với báo Nhân văn và  các cuốn Giai phẩmĐất mới, đã xuất hiện trên Trăm hoa từ số 8 (16/12/1956). Điều này thật ra là hơi muộn nếu so với thời điểm báo Nhân văn ra số 5 (20/11/1956), số cuối cùng được phát hành, và ngay sau đó một chiến dịch phê phán Nhân văn được phát động mà cả giới báo chí phải hưởng ứng.

 

Chỉ có 3 số Trăm hoa có bài phê phán Nhân văn, Giai phẩm, Đất mới. Đó là bài của Thạch Lựu: Báo “Nhân văn” nên thành khẩn tự phê (TH số 8); bài điểm sách của Trần Nguyên: Phê bình “Đất mới” tập I (số 9); thư của bạn đọc Hoàng Đình Kính ở Hải Phòng phê bình Đất mới tập I: Độc giả vui lòng hoan nghênh các bạn nếu các bạn thành thực nhận khuyết điểm (số 10). Bên cạnh đó Trăm hoa đăng tải những thư từ kiến nghị của nhiều nhóm cán bộ các ngành, của một số tập thể văn nghệ sĩ, tố cáo báo Nhân văn (“gieo rắc tư tưởng lạc hậu, gây bi quan hoài nghi chế độ ta, khuyến khích những hành động tự do vô kỷ luật; lợi dụng chủ trương mở rộng dân chủ, bịa đặt một số việc không có thật, xuyên tạc một số sự việc khác, thổi phồng một số khuyết điểm nhỏ để đả kích vu cáo các cơ quan lành đạo của Đảng, chính quyền, quân đội, văn nghệ, công an, mậu dịch”, v.v…), kiến nghị đình chỉ cho phép xuất bản báo Nhân văn, đưa báo này ra trước pháp luật để trừng trị thích đáng, v.v…

Sau 3 số trên, Trăm hoa số 11 (6/1/1957) dành trang đăng văn kiện kỳ họp Quốc hội thứ 6 và không nhắc gì đến chuyện phê phán như đã làm ở 3 số trước nữa.

 

Như thế, câu chuyện Tô Hoài kể trong Cát bụi chân ai (1992) về việc báo Trăm hoa của Nguyễn Bính nhận tiền tài trợ (bằng giấy in báo) để viết và đăng bài phê phán báo Nhân văn,− nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì ngày nay người nghiên cứu đối chiếu sẽ thấy rằng, báo Trăm hoa của Nguyễn Bính thực hiện việc được giao ấy khá muộn, hầu như chỉ thực hiện vào lúc phong trào phê phán đã được phát động, khi hầu hết báo chí nhà nước và đoàn thể đã lên tiếng hưởng ứng. Và quả thật Trăm hoa đã làm việc đó một cách khá tắc trách, ít hiệu quả, “chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”, như cấp trên của Tô Hoài nhận xét.

 

Sau 3 số báo kể trên, Trăm hoa không còn được hỗ trợ giấy in, nhưng Chủ nhiệm Nguyễn Bính vẫn gắng tìm đường sống cho tờ báo. Số Tết đinh dậu (tức Trăm hoa Xuân) gộp 3 số thường lại (12, 13, 14) như một đặc san, một món quà Tết cho độc giả, với các sáng tác của Nguyễn Bính, Đoàn Giỏi, Yến Lan, Tô Hoài, Trúc Đường,…đồng thời thông báo dự định cải tiến tờ báo: sẽ đăng đều kỳ bản dịch tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa Hồng lâu mộng. Bài của Đặng Thai Mai (rút từ Tập san Đại học sư phạm số 2, tháng 6&7/1956) nói về những tranh cãi mới diễn ra cách đó ít lâu ở Trung Quốc xung quanh tác phẩm này, được Trăm hoa Xuân in lại, khởi động cho dự định ấy. Nhưng dự định đã không thành sự thật. Số tiếp theo, tức là số 15 và 16, được gọi là Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, cũng là một đặc san với các sáng tác của Nguyễn Bính, Phùng Cung, Tạ Hữu Thiện, Yến Lan, Trúc Đường…, đồng thời gửi đến bạn đọc thông tin không vui: ý định cải tiến nội dung và hình thức báo đã không thể làm được; nhiều khó khăn mới cộng vào những khó khăn cũ (giá giấy cao, công in tăng, giá sinh hoạt đắt đỏ, các nhà in đều bận những việc được đặt trước, Trăm hoa không có nhà in riêng, không tìm được nơi nào in báo hằng tuần, việc phát hành lại khó hơn trước…); toà soạn công bố dự định khác: chuyển Trăm hoa thành tạp chí ra hằng tháng. Tất nhiên đây chỉ là dự kiến thuần tuý, cũng tương tự một vài dự định khác, bộc lộ qua những khung chữ thông tin trên các trang báo này, ví dụ dự định lập nhà xuất bản Trăm Hoa! Trên thực tế, Trăm hoa kết thúc ở đấy.

 

Trước đó, Chủ nhiệm Nguyễn Bính như đã đã dự cảm được cái kết thúc của Trăm hoa đang đến gần. Ông dường như tập trung vào một vài quan tâm cuối cùng: tìm lại những tập thơ trước 1945 của mình để chuẩn bị cho việc tự soạn những tuyển thơ. Từ số 11 trên  Trăm hoaluôn đăng lời rao cần mua lại bản in các tập thơ Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ. Đồng thời Nguyễn Bính cũng gắng để  lại nét chữ của mình trên một số trang báo in (điều này kỹ thuật dùng bản khắc gỗ xen giữa khuôn in chữ chì xếp rời thời đó cho phép thực hiện được), ví dụ nhan đề hoặc chữ ký tên tác giả ở các bài thơ Tỉnh giấc chiêm bao (số 7), Tình quê (Trăm hoa Xuân),− kiểu cách làm thay hoạ sĩ trình bày như vậy chưa hề thấy ở nhiều số Trăm hoa trước. Có thể nói Nguyễn Bính đã có những động tác chuẩn bị cho “cái chết được báo trước” của tờ Trăm hoa.

 

 

Trong đời ông, đây có lẽ là dịp duy nhất ông là chủ báo. Một tờ báo tư nhân. Ngay trước lúc báo chí tư nhân bị xoá sổ lâu dài trên miền Bắc.

 

 

                                                                                                  Hà Nội, tháng Tám 2005

LẠI NGUYÊN ÂN

Rút từ cuốn MÊNH MÔNG CHẬT CHỘI, Tiểu luận-phê bình của Lại Nguyên Ân, Nxb. Tri Thức, 2009, tr. 179-204

CHÚ THÍCH 

Giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-55 :

Thơ

− nhất :              Việt Bắc của Tố Hữu ;

− nhì :         Đồng tháng TámDặn con của Trần Hữu Thung;  Ngôi sao của Xuân Diệu;  Nụ cười chính nghĩa của Tú Mỡ .

− ba :                  Thơ chiến sĩ của Hồ Khải Đại ;

− khuyến khích : thơ và ca dao về Nam Bộ kháng chiến của Nguyễn Hiêm ; Chú Hai Neo của Nguyễn Hải Trừng; Chiếc vai cày của Việt Dung ; Anh Ba Thắng của Việt Ánh.

Tiểu thuyết

− nhất:  Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.

− nhì :  Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng; Con trâu của Nguyễn Văn Bổng.

− ba :    Vượt Côn Đảo của Phùng Quán ; Cái lu của Trần Kim Trắc.

− khuyến khích: Đồng quê hoa nở của Hoàng                                                                  Trung Nho; Gặp gỡ của Bùi Hiển; Cá bống mú của Đoàn Giỏi.

Ký sự, phóng sự

− nhất : không có

− nhì : không có

− ba : Lên công trường của Hồng Hà ; Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh.

− khuyến khích : Đường lên châu Thuận của Quang Dũng; Trại di cư Pa-gốt Hải Phòng của Sao Mai ; Lòng mẹ của Bích Thuận.

Kịch nói

−  nhất : không có

− nhì : Lửa cháy lên rồi của Phan Vũ

− ba :  Mở nông giang của Nguyễn Khắc Dực; Chị Hoà của Học Phi; Lòng dân của Nguyễn Văn Xe; Ánh sáng Hà Nội của Hoàng Tích Linh; Việt ơi! của Bửu Tiến.

− khuyến khích: Chiến đấu trong lòng địch của Lộng Chương; Hai thái độ của Bàng Sĩ Nguyên; Cai Tô của Nguyễn Văn Thương.

Dịch văn học

−  nhất : không có

−  nhì : Chiến sĩ chân chính Đổng Tồn Thụy (tác giả Trung Quốc Đinh Hồng và Triệu Hoàn) của Lê Văn Cơ; Chiến sĩ và Tổ quốc ( tác giả Trung Quốc Ngụy Nguy) của Đào Vũ;  Truyện vè Lý Hữu Tài (tác giả Trung Quốc Triệu Thụ Lý) của Đào Vũ; Lưu Hồ Lan (tác giả Trung Quốc Lương Tinh) của Phan Sinh.

− ba: Bản thoại Lý Hữu Tài (tác giả Trung Quốc Triệu Thụ Lý) của Xích Liên; Vi-chi-a Ma-lê-ép (tác giả Liên Xô Ni-cô-lai Nô-xốp) của Hiệu đoàn trường Sư phạm; Vương Quý và Lý Hương Hương ( tác giả Trung Quốc Lý Quý) của Hoàng Trung Thông.

(theo cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại do Hội Nhà văn Việt Nam biên soạn và xuất bản, Hà Nội, 1992, tr. 228-230).

NHẬT TUẤN viết về Nguyên Ngọc — Đất nước đứng lên — Tây Nguyên ngày ấy

ĐẤT NƯỚC ĐỨNG LÊN – TÂY NGUYÊN NGÀY ẤY …

                 

                             “Mấy lần “Đất nước đứng lên”…

                             Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải  nằm…”

Giới cầm bút trong nước ít ai không biết “Đất nước  đứng lên” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyên Ngọc, còn các sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm không ai là không biết truyện ngắn “Trao kiếm” cũng của nhà văn này bởi lẽ nó đã được đưa vào giáo trình giảng dạy.

“Trao kiếm” viết vào những năm đầu thập kỷ 50 vào lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang loang rộng. “Cụ Cư, 58 tuổi, nghèo xơ xác, chân lại có tật ở một thôn đất cát…” . Vì nhà nghèo, cụ được coi là nòng cốt cách mạng, nhà cụ được chọn để du kích dùng làm nơi “thảo luận tổ” trong khoá học “du kích gương mẫu của Tỉnh mở”. Từ lúc đó, “cụ ngồi nép một bên phản nghe anh em thảo luận”, rồi mải mê quá, lúc đầu cụ còn ngồi một góc phản, lần lần anh em thảo luận hăng quá, cụ rút một chân lên, rồi rút cả hai chân lên ngồi nghe…”. Cứ như thế, cụ tự biến thành học viên và cũng giơ tay “Tui xin có ý kiến”. Cụ kể rằng năm 1949 giặc đổ bộ lên Tam Quan, cụ nằm dưới hầm nhìn thấy “4, 5 thằng đi qua, xí lô xí là lia bừa cả súng, giựt nhau  một miếng dừa mà ăn…giành nhau trã cá…ngủ bỏ cả súng …tui xin ý kiến là giặc sở hở lắm…”.

Lính Tây mà giựt nhau cả một miếng dừa, tranh nhau ăn trã cá thì không hiểu “khẩu phần lê dương” của nước Cộng Hoà Pháp thằng nào ăn mất, các vị du kích chẳng cần đánh đấm, cứ ho một cái là địch bỏ chạy, khỏi cần tiến lên chính quy hiện đại. Từ đó cụ Cư biến thành học viên của khoá đào tạo “du kích gương mẫu”, lên lớp cho tất cả mọi người:  “Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, nghèo giàu gì cũng kháng chiến cả, chỉ có số ít nhà giàu chưa giác ngộ …”  làm anh em du kích cứ há cả mồm ra nghe. Nắm vững sách lược “đoàn kết toàn dân “vậy, không khéo ông cụ Cư là bác Hồ cải trang chăng?  Nhưng mà không, hàng ngày cụ vẫn đi cuốc đất, luộc khoai, bưng nước cho anh em, chỉ có buổi tối cụ mới tham gia “có ý kiến”. Thế rồi hôm kết thúc lớp học, thật bất ngờ, cụ vào buồng lấy ra một thanh kiếm trao cho một anh du kích:

“Ai ? Ai nói không có kiếm giết Tây ?…Cây kiếm này, lần trước nó vô đổ bộ Chợ Cát, sau tôi mới sắm đây. Tôi giữ rất kỹ, thường ngày lau chùi luôn, định chờ địch đổ bộ lên đây lần thứ hai, chặt đứt đầu nó…”.

Cụ Cư trao kiếm cho du kích còn căn dặn :

“Tôi nghèo chớ giàu thì mua cho anh khẩu súng. Anh cứ về, nếu địch lên anh chặt đầu nó cho tôi. Nếu thắng tôi sẽ thưởng anh, nếu đánh không được tôi cũng xuống coi tại sao anh đánh không được ?”.

Ông lão nhà quê mà ghê chưa, thật đúng là nhân dân ta rất anh hùng? Nhà nghèo toàn ăn khoai, ngủ đất  chẳng hiểu cụ già lấy tiền đâu ra mà sắm hẳn một cây kiếm để chặt đầu Tây?

Trong chuyện cổ nước ta, có một anh bốc phét rằng:  “tôi nhìn thấy một con trâu khổng lồ, liếm một cái hết ba sào mạ…” làm người nghe phải kêu lên: “Không nhẽ lại có thế ?”. Đọc truyện ngắn “Trao kiếm” nghe nhà văn Nguyên Ngọc  tả lính Tây, cụ lão nông bỏ tiền mua kiếm, người ta cũng phải tự hỏi: “Không nhẽ lại có thế ?”

Trong kho tàng văn học cách mạng chống Pháp của Việt Nam, như GS Phong Lê nhìn lại, “tới “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc thì bức tranh kháng chiến mới thực sự được mở rộng trong một cảnh quan vừa có chuyện vừa có người, có quê hương và đất nước, có gắn nối giữa chất trữ tình và sử thi, có hài hoà giữa chủ thể và khách thể…”. Vậy là trong văn học kháng chiến chống Pháp, tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc đứng đầu sổ. Cuốn truyện viết về Tây Nguyên thời chống Pháp, thời đất nước đang đứng lên, còn bây giờ “đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm” như hồi tháng Tư  vừa rồi hàng ngàn người Ba Na, Ê Đê… “đứng lên” đập phá trụ sở Uỷ ban xã, phường… thì hiển nhiên hoàn toàn không có ngay cả trong tưởng tượng của nhà văn Nguyên Ngọc.

Thời đó, ở làng Kông Hoa gần An Khê có anh chàng Núp cùng đám thanh niên trong buôn nghe già làng bok Sung kể chuyện. Bok kể rằng ngày trước có một ông tên là “Tú người to lớn, râu lưa thưa, con mắt ướt mà ngó thẳng , trên khố giắt một cái gươm dài. Đất nước mình không có ai có cái gươm đó. Gươm ông Tú không phải gươm thường, đó là một cái gươm giàng, đem ra đánh Pháp, Pháp thua chạy hết. Nhưng có một bữa, trời mưa to gió lớn sấm sét…nước sông Ba lên to, chút nữa ngập hết làng. Ông Tú đem gươm ra múa, đánh mưa gió cứu dân…”  Thế rồi ông Tú cao hứng, múa gươm vung mạng, chẳng may lưỡi  gươm bị văng ra rơi xuống sống, trôi tuột về xuôi, lọt vào tay người Kinh. Từ đó “người Kinh giữ cái lưỡi, người Thượng giữ cái cán, hai người ở xa nhau , Pháp tới không có cái gì đánh nên phải thua…Bởi vậy muốn đánh Pháp phải đi tìm người Kinh, chắp lại cái gươm mới đánh thắng…”

Bài học về đoàn kết Kinh với Thượng như vậy kể cũng ghê, nhưng với đám thanh niên trong buôn nghe xong  xem ra lại  phản tác dụng vì thằng Pháp là ma là Giàng, không có gươm của Giàng đánh sao được nó ?  “Không khí nhà rông trở nên ồn ào. Người  nói Pháp như hòn đá, như cái cây, nó là Giàng. Trên trời nó đi cũng được, dưới nước nó đi cũng được, đánh trúng nó, nó không chảy máu… Ngày trước bok Klăng đánh, nó đem máy bay tới bay trên làng, bok Klăng lấy ná bắn trúng máy bay, cũng không thấy chảy máu, cũng không thấy chết…” . Mang tên mà bắn trúng máy bay thì đúng là “thần diệu” hơn cả súng trường hạ máy bay Mỹ sau này. “Không nhẽ lại có thế ?”

Nghe chuyện, anh chàng Núp tức trong bụng lắm, có thiệt thằng Pháp bắn không chảy máu không? Phải đi “điều nghiên” coi sao. Anh bèn nói dối mẹ xuống thị trấn An Khê mua muối, nhưng chính là để “Tao đi coi mày cho kỹ, mai mốt phải đánh mày chảy máu mới được…”.  Thế rồi đi mấy ngày mới tới An Khê,  không thấy ông nhà văn kể Núp làm những chuyện gì, chỉ thấy anh về kể với mẹ: “Con đi coi Pháp cho biết, bữa sau đánh Pháp. Con coi nó kỹ rồi, cái súng nó, cái xe nó, cái tàu bay nó giỏi thật, nhưng con người nó cũng giống con người mình thôi, không phải ông trời. Mai mốt con bắn thử xem có chảy máu không ?”

Hoá ra  chàng Núp mới chỉ xuống phố … đứng coi coi súng ống, tàu bay tàu bò thôi, người ngợm Tây ra sao cũng chưa biết, vẫn còn phải chờ coi bắn nó có chảy máu không?  Vậy thì nhà văn bắt nhân vật lặn lội từ trên núi cao xuống mãi tận  nơi  “ngó lên thấy ông trời đất rộng, núi bốn phía thấp xuống”  để làm gì? Nắm tình hình địch tơ lơ mơ như vậy mà về buôn vẫn hạ quyết tâm tiêu diệt Pháp.

Thế rồi một hôm “Buổi sáng đi rẫy, bỗng nghe tiếng súng nổ. Thôi, khổ rồi. Pháp đánh tới rồi. Súng nổ xa. Súng nổ gần. Súng nổ nhỏ, rồi súng nổ to… Không còn kịp dọn cái nhà, không kịp bắt con heo, con trâu, không kịp lấy cái áo, cái khố…”. Thế là tất cả buôn chạy dạt lên rừng. Mẹ Núp già nua, yếu đuối vẫn phải cõng em Núp trên lưng, giao cho Núp cõng gùi gạo. Ở gia đình người Thượng, gùi gạo nặng phải trên 50 kí lô, là thực phẩm sống còn, là sinh mạng của cả gia đình. Người con trai trụ cột trong nhà như Núp, khi có biến lẽ ra phải cõng em, gùi gạo, dắt mẹ chạy lên rừng. Nhưng không, anh ta mang gùi gạo… gửi hàng xóm cõng đi, làm “mẹ ra tới đầu làng, quay lại không thấy Núp đâu , vừa kêu vừa khóc: “Ới Núp ơi, Núp ơi…”

Núp chạy đến: “Mẹ đi đi, con gởi gùi gạo cho Xíp mang vô núi trước rồi. Con không đi đâu, con ở lại đánh Pháp thử đã. Mẹ đi trước, đánh Pháp chảy máu rồi con đi theo sau…”

Than ôi, giữa cảnh nhà cháy, người chết, súng ống nổ ầm ầm, thật tội nghiệp cho bà mẹ Núp, có con trai lớn lại bỏ em nhỏ, bỏ mẹ già, bỏ cả miếng ăn  của cả nhà để ở lại đánh Pháp. Người anh hùng bất hiếu hay là nhà văn cố tình quên không nhắc tới? Có thằng con cột trụ trong nhà, lúc biến lại xử sự như thế, nhưng người mẹ vẫn không oán trách, vẫn  lo cho nó:

“Ố ố…một mình con đánh nó không được đâu…”

Vậy nhưng ông con vẫn bướng bỉnh vẫn như bị “ma ám”:

“Được mẹ ạ. Con đánh thử trước, lũ làng bắt chước sau…”

Bà mẹ nhìn Núp.  Bà biết rằng “cái miệng người già không nói được thanh niên đâu. ..”.  Thế là bà đành chùi nước mắt đi theo lũ làng để con ở lại. Chẳng biết cái anh chàng Núp này căm thù giặc Pháp tới đâu, trong tay chỉ có mỗi cái ná, mà dám một mình ở lại đối chọi với cả đại đội lính Pháp có đầy đủ cả súng ống, mọoc-chi-ê…

“Chẳng nhẽ lại có thế ?”

Dường như đãng trí, mau quên là cố tật của mấy ông nhà văn lớn. Mới vài trang trước, Nguyên Ngọc kể Núp xuống An Khê gặp cách mạng ““ Đi một ngày, ở một đêm, về một ngày…”, trang  sau Nguyên Ngọc đã lại cho Núp lang thang cả ban ngày giữa phố An Khê sạch bóng quân thù: “người nào cũng đổ về chật ních. Núp chỉ thấy toàn đầu tóc đen lố nhố và cờ đỏ. Người Kinh cũng đông, người Thượng cũng đông, lần đầu tiên Núp thấy người Kinh, người Thượng đi chung với nhau, nắm tay nhau , ào ào như nước sông Ba chảy qua thác, người nào cũng nói, nghe không hiểu gì cả, nhưng vui lắm, thích lắm…”

Ngày hội cách mạng trong con mắt Núp chỉ có nhiêu đó, riêng bok Hồ thì …chưa có gì. “Núp cứ nghĩ mãi: bok Hồ là người thế nào? Sao bok Hồ giỏi thế ?”. Rồi  ông nhà văn cho chàng Núp ví von:  “Bữa nay nhờ có bok Hồ mới biết đất nước mình rộng quá (rõ khổ, chàng mới về tới phố An Khê thôi, đã đi được  tới đâu!) có nhiều con suối quá, nhiều con suối nhỏ, được bok Hồ khơi dòng cho, bây giờ đã chảy chung lại thành con suối lớn, càng ngày càng lớn. Pháp có như một trăm hòn đá lớn giữa dòng sông cũng cứ chảy qua hết…”.

Hình ảnh rất hay, rất đẹp, chỉ tiếc ông nhà văn quên mất rằng suối nhỏ nào rồi cũng chảy vào suối lớn rồi suối lớn nào cũng phải chảy vào sông mà chẳng cần tới…bok Hồ khơi dòng.

Từ một anh dân tộc  Ba Na đầu óc hoang sơ, lo lắng ngớ ngẩn “sợ bắn thằng Pháp không chảy máu” bỗng chốc chỉ sau một đêm gặp cách mạng, trí tuệ đã được khai sáng có ngay khả năng trừu tượng hoá, ví von “trước kia làng Núp chống Pháp như dòng suối chảy giữa rừng, nay nhờ bok Hồ khơi dòng…”  thì quả thực “có nhẽ đâu lại thế?”.

Vậy “bok Hồ là người thế nào? Sao bok Hồ giỏi thế ?

Anh chàng Núp nghĩ mãi không ra, sau rồi nhớ tới câu chuyện già làng kể chuyện ông Tú, anh đắc ý: “Chắc bok Hồ cũng như  ông Tú vậy …”. Ông Tú theo già làng là người “to lớn, râu lưa thưa…” thì đúng là bok Hồ rồi. “Khi giặc Pháp tới, ông Tú đem gươm ra đánh Pháp, Pháp thua chạy hết cả…”  thì lại càng giống bok Hồ. Nhưng khi mưa gió sấm sét, ông Tú lại mang gươm ra múa, “múa mạnh quá, rớt mất cái lưỡi gươm xuống sông Ba, trong tay chỉ còn cái cán, còn cái lưỡi trôi về dưới  xuôi, người Kinh lấy được…”  thì lại không được phép giống bok Hồ. Bởi lẽ bok Hồ bao giờ cũng sáng suốt, cẩn thận không khi nào bốc đồng múa gươm mạnh đến văng cả lưỡi xuống sông. Mà nếu có lỡ tay, nhất định bok Hồ sẽ đi tìm bằng được lưỡi gươm trả về cho người Ba Na chứ chẳng bao giờ chịu để lọt vào tay người Kinh. Ấy là chưa kể không biết lưỡi gươm nặng vầy có trôi được theo sông vượt cả trăm kilômét thác ghềnh để về tới tận dưới xuôi không, hay là vẫn còn mắc dưới đáy sông trên núi. Tuy nhiên đó không phải lỗi của anh chàng Núp, chẳng qua tại nhà văn quên mất tinh thần trách nhiệm cao cả của bok Hồ cũng như quên mất thanh gươm bằng sắt chứ không phải bằng gỗ để có thể nổi lềnh bềnh trên sông đó thôi.

Sau cùng chàng Núp và dân làng Kông Hoa cũng được gặp bok Hồ, nhưng không phải… “người thiệt , chỉ thấy người trên tờ giấy…”. Đó là vật thể vật chất duy nhất mà cách mạng mang tới cho người dân Ba Na. Vậy mà ông nhà văn cũng để cho lũ làng “tưng bừng chào đón như chào đón mặt trời…”. Cái chỗ này cũng là lỗi của ông nhà văn, bởi lẽ dân Ba Na đang đói gạo đói muối đến thế, cách mạng tiếc gì không gửi kèm vài chục ký-lô theo ảnh bok Hồ làm quà cho dân hồ hởi phấn khởi mà cứ để cán bộ tay không trèo lên bản như thế ? Đã không cho dân được ký lúa, lại hứa lèo “bộ đội bok Hồ sắp lên” làm dân mỏi mắt “đợi mãi, đợi, mãi vẫn không thấy bộ đội đâu cả. Đê cán bộ cũng không thấy nữa”.

Thế rồi cũng tới lúc bộ đội về làng thật, nhưng không phải đoàn quân chiến thắng mang quả thực về cho lũ làng mà là toán người  “có khiêng người trúng đạn …Gặp lúc lúa chưa chín không có chi ăn cả. Núp đem cho bộ đội một rổ bắp. Lũ làng bắt chước đem cho rất nhiều. Bộ đội không ai biết nói tiếng Ba Na. Chỉ chào rồi đi ngay…”. Chưa giúp được dân cái gì mà đã nhiễu dân đang túng đói thế này, bok Hồ mà biết tất các chú bộ đội phải kỷ luật. Buồn cười nhất là ông nhà văn tả tình quân dân “có bộ đội bị trúng đạn phải khiêng. Người đó không nói được, nhưng không khóc. Chỉ có các bà mẹ Kông Hoa khóc, sợ người đó đau…”. Hi hi, chồng chả phải, con trai thì không, thấy người lạ hoắc, lần đầu tiên khiêng qua làng mà các mẹ lại…khóc được mới tài!

Pháp chiếm An Khê và các vùng xung quanh. Cán bộ cũng trốn mất hút luôn. Dân Kông Hoa lại “chờ hết một mùa lúa nữa mới có đê cán bộ của bok Hồ lên”. Anh cán bộ người kinh tên Cầm này cũng tay không lên bản và… kể chuyện bok Hồ: “Bok Hồ chống Pháp từ khi còn nhỏ, cũng bị Pháp bỏ tù. Sau trốn ra được, đi khắp đất nước bày đất nước đứng lên chống Pháp, chống Nhật…”.

Í trời, chỗ này ông nhà văn quên cả tiểu sử Hồ Chủ tịch. Chẳng lẽ hồi đó Pháp bỏ tù bác ở…ngõ Compoint, thủ đô Paris bắt làm nghề thợ ảnh? Rồi lại từ đó trốn ra bày cho dân “chống Pháp, chống Nhật”. “Đất nước đứng lên” là tiểu thuyết lớn nhất thời chống Pháp, lầm lẫn lớn thế mà bao năm Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng không phát hiện ra để cải chính thì thật đúng là “cơm chúa múa tối ngày”.

Từ ngày có cán bộ Cầm ở bản, tinh thần chống Pháp của lũ làng lên cao hẳn, cao nhất phải kể đến…bà mẹ của Núp. Một hôm Núp dẫn bộ đội đi đánh đồn Pháp, chạy về khoe mẹ:

“Mẹ ơi, Pháp chết mười lăm đứa…”

Thế là Mẹ Núp, giận luôn trong hai ngày! Vì sao thế? Nghe tin Pháp chết phải vui mừng chớ sao lại giận Núp? Sau này Mẹ mới giải thích:

“Mày thương Pháp lắm sao? Mẹ có hỏi mày Pháp chết mấy đâu. Chết mấy đứa kệ Pháp, nó chết hết cũng được…Sao bộ đội chết mấy người mày không nói, mày thương Pháp hơn bộ đội rồi…”

Oái trời, Mẹ thương bộ đội thì Mẹ chỉ cần hỏi: “Thế ta chết mấy người ?”  là…xong. Ép uổng mẹ giận con những…hai ngày liền làm gì cho rắc rối cuộc đời? Chắc ông nhà văn muốn xây dựng tính cách nhân vật cho “phong phú và đa dạng” đây mà. Chỉ tiếc, cảm hứng ca ngợi người dân tộc quá đà gây nên những cái “lỗi chính tả” như thế nhan nhản trong truyện làm người đọc cứ ngờ ngợ: “Có nhẽ đâu thế?” .

Anh cán bộ Cầm và bộ đội ở bản ít ngày rồi lại rút đi, để Kông Hoa lại rơi vào thảm cảnh. “Nắng như cầm lửa đổ xuống. Dưới suối nước trốn gần hết, dân phải dỡ từng hòn đá ra mới tìm được nước. Rẫy muốn cháy. Cây lúa thấp lè tè, hột cứng ít, lép nhiều…”.

Kinh hoàng hơn cả là cái đói ….muối.

“Con nít khóc kêu mẹ: Mẹ ơi, mẹ ơi, cho con cái mặn…. Nước da người nào cũng tái lét , bủng rẹt. Hai ông già không có muối ăn, thở không nổi, rồi chết…”

Trong cơn hoạn nạn, ông Chủ tịch Pok Pa và chỉ huy Núp muốn cứu dân thì chỉ việc cho phép lũ làng xuống phố An Khê làm thuê lấy tiền mua muối, đong gạo là vượt qua được mọi chuyện. Nhưng không, Núp khăng khăng ngăn không cho về: “Không được đâu.. Về càng chết…Thà chết thôi…”. Ấy đấy, mới nho nhoe lên làm lãnh đạo,  anh hùng Núp đã coi mạng người như cỏ rác? Viết tới đây chắc ông nhà văn cũng cảm thấy cái lý do “không cho dân xuống phố An Khê mua muối” là không được…chính đáng lắm, ông bèn cho mấy người trốn xuống núi và vài hôm sau họ trở về khóc to:

“ Pháp lấy dao cắt lỗ mũi, cắt lỗ tai, chặt tay, chết hết bốn người rồi, ba người sợ quá trốn về đây…”

Ôi chao ôi, Pháp nào mà ngu quá, bỏ công bỏ sức ra vận động người Thượng về với mình, khi dân trở về lẽ ra phải mở rộng cửa mà đón vào, tặng gạo muối chớ ai lại đi cắt tai, xẻo mũi, chặt chân … thì thực là chuyện chỉ có trong… tưởng tượng của ông nhà văn. Bịa ra cái lý do “đầy thuyết phục”  ấy rồi, từ nay tác giả tha hồ “nhốt”  dân Ba Na trên làng Kông Hoa để “xây căn cứ địa” chống Pháp bất chấp nạn đói đủ thứ. Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người xem ra cũng còn có giới hạn, khi chỉ huy Núp kêu gọi mọi người bỏ làng lên núi cao lập làng mới để chống Pháp cho chắc ăn bị bà con phản đối:

“Không có muối ăn làm sao? Chân Núp thanh niên khoẻ, Núp leo núi được. Chân tôi không có muối, không biết leo núi đâu… Ở đây không đi đâu cả. Đấy con nít đấy, đem nó lên núi, chết trên đó, chôn trên đó à…”.

Phản đối thì phản đối, nhưng Núp nhớ lời anh Cầm dạy: “Mình phải đứng dậy cầm giáo mác, cung tên đánh lại Pháp mới lấy lại đất nước được…”. Bởi vậy dân đói cơm đói muối, con nít chết…mặc kệ, cứ phải là “lấy lại đất nước cái đã”, Núp quyết định cứ chuyển hết làng lên núi bất chấp “bốn phía tiếng con nít đòi muối khóc ồn ào, tiếng bà già ông già chửi người xui bậy, tiếng thanh niên phản đối Núp nói to. Giải tán hết. Mỗi người đi một ngả…”

Lúc này mới thấy cái bản tính sắt đá, kiên quyết mục tiêu cách mạng dẫu hy sinh tính mạng của dân cũng cứ mặc kệ mà đê cán bộ Cầm gieo vào tâm hồn anh thanh niên người Thượng nay đã sớm đơm hoa kết trái, bám chắc vào cái đầu vốn nguyên sơ trong trẻo như nước suối đầu nguồn của anh ta. Thế là anh quyết không chịu nhân nhượng dân làng mà đi từng nhà vận động:

“Ăn tro tranh thay muối khổ lắm. Tôi cũng biết khổ. Nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi. Còn ăn muối của Pháp khổ hết đời mình, đời con mình khổ nữa, đời cháu mình khổ nữa…”

Kỳ lạ thay, cái triết lý “sống cho tương lai”, “sống là để sửa soạn sống cho mai sau ” – cốt lõi của nhân sinh quan cộng sản –chẳng hiểu đã thấm sâu vào anh thanh niên Thượng này từ bao giờ mà anh “vận dụng” xuất sắc đến như vậy ?

 

Ngay khi cán bộ còn chưa mang “cái ánh sáng của Đảng”  tới cho lũ làng, chẳng hiểu sao, anh chàng Núp đã đứng lên kêu gọi vanh vách: “Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi. Đánh đời mình chưa xong, thì đánh đến đời con đời cháu mình nữa…”.  Ôi chao, cán bộ cao cấp cỡ Uỷ viên Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn dân trường kỳ kháng chiến chắc cũng chỉ hùng hồn bằng anh thanh niên người Thượng này. Với tinh thần đó, quyết không chịu sống trong vùng tạm chiếm, Núp kéo luôn cả bản Kông Hoa chạy tuốt lên núi cao lập làng “tự do”, thiếu gạo, ăn tro thay muối, khoác vỏ cây thay quần áo, thiếu cả rìu dựa bằng sắt phải thay bằng đá để chặt cây, phá rừng dựng nhà làm rẫy.

Có ai chặt được cây lớn bằng đá không? Có đấy, ông nhà văn kể:

“Đêm nay Núp phải ngả cho được cây này. Núp lại ôm hòn đá, lấy sức bửa vào gốc cây, hai cái, ba cái … làm mãi, làm mãi không nghỉ . Cho đến khi con gà thức giấc kêu ò ó o. Núp leo lên ngọn cây, cột một sợi dây rừng rồi ra sức kéo. Cây gẫy răng rắc, đổ ào xuống…”.

Ngày nay nếu trở lại Tây Nguyên, ông Nguyên Ngọc thử treo giải thưởng trăm triệu đồng cho anh thanh niên nào khoẻ nhất làng dùng hòn đá trong có một đêm mà chặt  được  cây lớn “gẫy răng rắc” thì mới thật là không…bốc phét.

Suốt ba năm 90 con người làng Kông Hoa sống trong khổ cực vậy để làm gì ?

Xin thưa rằng chỉ là để… “chờ bộ đội Bok Hồ, chờ anh Cầm, dài không biết bao nhiêu. Hòn đá dưới suối Đất Hoa trước kia nhọn, bây giờ nước đã mài tròn cả đầu nó rồi. Chín mươi người vẫn lầm lì đi theo Núp”.

Sống cả ngàn ngày như trong thời đại đồ đá vậy mà không mong ăn no, không cầu mặc ấm mà lại chỉ “mong mãi lưỡi gươm ông Tú, mong mãi người Kinh, người của Bok Hồ lên” thì lũ làng Kông Hoa quả thực là mắc bệnh tâm thần cả rồi. Ấy thế nhưng chờ đợi trong khổ cực, mỏi mòn vậy mà cách mạng cũng vẫn chưa chịu lên cho, sau cùng anh chàng Núp đành phải tự mình đi tới rừng Ba Lang tìm gặp cán bộ chứ còn biết chờ tới bao giờ?

Không thấy tác giả kể cuộc gặp gỡ ấy ra sao, chỉ thấy Núp “đi gặp người Kinh” về khoe với cả làng:

“Ô…người Kinh này tốt lắm. Con mắt hiền lành đen  lắm. Ít nói… Cái áo màu đen, thường thôi, không đẹp đâu. Đi dép làm bằng bánh xe lấy được của Pháp…”.

Cũng giống như lần trước đi gặp cách mạng về, Núp chẳng mang được nắm gạo, hạt muối nào về, lại vẫn chỉ những câu chuyện về bok Hồ.

“Thế bok Hồ ở đâu ? − lũ làng hỏi.

Núp nhìn quanh, suy nghĩ, rồi đứng dậy đi ra cửa quay về phía ông sao giống cái bánh lái của người Kinh , đưa tay chỉ vào đêm tối mờ mịt:

“ Bok Hồ ở phía này…”

Tất cả đều ra cửa nhìn. Ông sao bảy cái nhấp nhánh và rất sáng.

“ Bok Hồ ở phía này”

“ Phía này có một ông sao quanh năm không bao giờ thay đổi chỗ ở. Sáu ông sao lớn chạy quanh ông sao đó…”

Ông sao đó chính là bok Hồ “không bao giờ lặn nữa trong lòng đồng bào Kông Hoa”. Ghê chưa, một phát hiện thiên văn học vĩ đại, “ông sao 7 cái” thì đúng là “đại hùng tinh rồi”, nhưng tìm đâu ra “một ông sao quanh năm không đổi chỗ” và lại có những “sáu ông sao lớn chạy quanh” để tượng trưng cho bok Hồ?  Lỗi kiến thức này không thuộc anh thanh niên người Thượng mà chính do tác giả đã nhét vào đầu anh ta. Vả lại, hình ảnh “ngôi sao dẫn đường” chỉ dành nói về Đảng thôi, còn nói về bác thì phải dùng hình ảnh “cha già dân tộc” kìa, vậy mới đúng là kiểu nói chính thống.

Nói chuyện bok Hồ xong rồi, tất nhiên phải nói tới chuyện… Đảng. Chuyện này “trừu tượng” chứ không cụ thể như chuyện bok Hồ, làm sao nhét được vào đầu anh thanh niên “bán khai” đây ? Cái sự “giác ngộ về Đảng” cho người dân tộc này xem ra khó quá, nên tác giả đành lờ đi cái quá trình mà chỉ trình bầy cái kết quả.

Anh cán bộ Thế nói:

“Người  mình đánh Pháp cứ thua mãi, thua mãi. Cho đến khi có Đảng chỉ huy mới thắng được tới bây giờ. Đánh Pháp ngày nay là do Đảng chỉ cho đấy…”

“ Ô…thế Đảng là Bok Hồ phải không ?”

“ Bok Hồ cũng là người Đảng đấy. Nhưng còn nhiều người Đảng khác… Ai người nghèo khổ, căm thù Pháp, căm thù người bóc lột , làm ăn tốt…người đó là người Đảng…”

Chỉ có thế thôi, anh chàng Núp đã “giác ngộ Đảng” rồi.

“ Suốt đêm đó Núp không ngủ. Chung quanh thấy toàn sao là sao…”.

Vậy là “mặt trời chân lý”  đã “chói qua tim” anh người Thượng, thức trắng đêm là phải rồi, thật chẳng bù cho mấy anh trí thức, học đi học lại mãi mấy kỳ chỉnh huấn mà vẫn tơ lơ mơ chưa hiểu Đảng là gì.

Thế rồi sau “gần bốn năm sương mặn của núi Chư Lây đã làm đen sạm hết chín mươi khuôn mặt lũ làng. Gần bốn năm nay, chưa một ngày nào chín mươi người đó được ăn đủ no, đủ mặn. Thịt trong người teo lại. Má hóp xuống…”, sau cùng anh Thế, người của Đảng cũng đã trèo lên bản mang theo…9 cái rìu rựa để tặng  lũ làng. Ôi chao ôi, quà của bok Hồ chỉ có bấy nhiêu thôi, mà già làng đã “múa tay, trợn tròn hai con mắt”:

“Bok Hồ gửi anh Thế mang lên cho bốn cái rựa, năm cái rìu …ô cái nào cũng mới tinh cả, sáng như là ông trăng, như thế cũng bằng cho người Kông Hoa…mấy cái? Hai cái à…cũng chưa phải đâu…ba bốn năm sáu bảy…một trăm cái tay đấy…hà hà hà…”

Anh chàng Núp cũng cầm cả 9 cái rìu rựa đưa lên cao mà rằng:

“Bây giờ có anh Thế mang rìu rựa của người Kinh, của bok Hồ gửi cho mình đây, mình càng làm rẫy giỏi nữa, ăn no nữa, nhất định thằng Pháp phải chết trước mình…”

Chỉ mất có 4 con dao và 5 cái rìu mà đã lôi kéo được cả làng người Thượng đi theo cách mạng, đánh Pháp đến cùng thì “công tác vận đồng quần chúng trong các dân tộc ít người” quả thực là quá…dễ dàng. Viết như thế, người Pháp đọc được chắc phải tiếc hùi hụi vì đã bỏ ra biết bao tiền của cho các sắc tộc Tây Nguyên mà vẫn bị họ căm thù, đánh cho tơi tả thì là sao? Ở đây ông nhà văn không muốn vạch ra cái “bí kíp” của cách mạng đó, chắc là sợ người Pháp học được dùng nó lôi kéo lại người Thượng thì rầy rà hay là trong thực tế chuyện giác ngộ Đảng cho anh thanh niên dân tộc không diễn ra xuôi xẻ như ông nhà văn tưởng tượng khiến ông phải làm qua loa chiếu lệ vậy thôi.

Cảm hứng ca ngợi quá đà tình cảm “Kinh -Thượng” cũng đã đưa ngòi bút Nguyên Ngọc diễn tả một thằng bé người Thượng lưu luyến anh cán bộ người Kinh chỉ về huyện họp có dăm ngày đến mức… lố bịch:

“Bữa nay anh Thế về huyện. Nó ngồi trông mãi. Tay nó cầm sợi dây có cột nhiều gút. Anh Thế hẹn đi về huyện năm ngày thì trở lên. Mỗi ngày thằng Ngứt thắt một gút trên sợi dây. Sáng nay ngủ dậy, nó đem ra đếm, thấy đã đủ năm gút, nó ra ngồi chờ mãi, sao anh Thế không thấy lên ? Nó ngồi trên ngưỡng cửa, ai hỏi gì cũng không nói, chị Liêu đi ra rẫy cũng không đi theo, con mắt cứ ngó chăm chăm phía suối Đất Hoa…”

Ôi chao, cái thứ nhớ nhung “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi đống rơm “ thế này là thứ tình cảm trai gái đang yêu, ông nhà văn nỡ lòng nào nhồi nhét cho một thằng con nít người Thượng đang tuổi ham chơi?

Cứ  phải chịu đựng một thứ cảm hứng “ca ngợi quá đà” như thế, người đọc phải kiên nhẫn lắm mới theo được Nguyên Ngọc dẫn dắt câu chuyện anh chàng Núp đi vận động các làng xung quanh: Đê ta, Đê ô, Đê mô, Đê lanh, Kông giàng…đi theo cái làng Kông Hoa của anh đứng dậy đánh Pháp. Rồi Núp vào Đảng, Núp thành cán bộ xã, cán bộ huyện, thành Chiến sĩ thi đua, thành Anh hùng Quân đội…và đi ra Bắc tập kết để tiếp tục đánh Mỹ-Diệm và được gặp bok Hồ.

Anh chàng Núp và mọi nhân vật trong “Đất nước đứng lên” được vẽ bằng toàn một mầu hồng đỏ chói không mảy may gợn một chút bụi trần của con người phàm tục. Đó toàn là những  con người “nghe theo người Kinh” cam chịu đóng đanh trên cây thập giá của chiến tranh với nỗi ham muốn tột bực chỉ là đánh Pháp. Nguyên Ngọc đã nhào nặn tuốt luốt những con người Thượng nhỏ bé, đầu óc giản đơn, chất phác, sống hoà hợp với thiên nhiên thành những kẻ say máu, chém giết bằng những vũ khí dã man như tên độc, chông đất, chông trời…và đưa họ vào bảng phong thần thành những thánh nhân của cách mạng.

Tại sao vậy? Đó là vì:

“Tháng 8-1955, tôi được triệu tập về trại sáng tác về Anh hùng Quân đội, ở đây tôi được phân công viết về đồng chí Núp. Tôi viết “Đất nước đứng lên” trong dịp ấy, trong sách đó, tôi gửi tất cả những mong ước ca ngợi những người anh hùng Tây Nguyên mà từ trước đến nay tôi chưa thực hiện được  qua mấy lần thất bại…”

                                              (Nguyên Ngọc: Thư gửi ngày 9-11-1960 cho Tổ văn học hiện đại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội)

Vậy là đã rõ, “Đất nước đứng lên” được viết trong “trại sáng tác về anh hùng quân đội”, chỉ nhằm ca ngợi những người anh hùng chứ không nhằm phản ánh hiện thực các sắc tộc Tây Nguyên trong những năm chiến tranh của thập kỷ 1950. Và bởi  mục tiêu rõ ràng và rành mạch như vậy nên bức tranh mà Nguyên Ngọc dựng lên trong suốt hơn 200 trang giấy còn lâu lắm mới tiếp cận tới những sự thực dữ dội của đời sống người Thượng trên cao nguyên.

Và như vậy, suy cho cùng, “Đất nước đứng lên” cũng chỉ thuộc loại sách “Người tốt việc tốt” dùng để giáo dục chính trị tư tưởng trong một thời kỳ lịch sử đã qua.

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Khải — “Con lươn tiết chất nhờn… để đi xa hơn nữa”


“CON LƯƠN TIẾT CHẤT NHỜN ĐỂ … ĐI XA HƠN NỮA”

 

1

 

 

“Cha và con và…” họ hàng và…

Hết bay mùa thóc đến “mùa lạc”

Cho nên “chiến sĩ” thiếu lương ăn

“Họ sống chiến đấu” càng khó khăn

“Tháng ba Tây Nguyên” đỏ lửa

Tháng Tư lại “Đi xa hơn nữa”

“Đường đi ra đảo” – “Đường trong mây”

Những “người trở về” mấy ai hay

“Xung đột” mỗi ngày thêm gay gắt

Muốn làm “cách mạng” nhưng lại….nhát…

( thơ Xuân Sách)

 

Trong đoàn “lực sĩ” chạy marathon trên “đường cách mệnh” để đến được cái đich xa vời là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học cách mạng: Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Nguyễn Văn Bổng,  Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Nguyễn  Minh Châu, Anh Đức, v.v., có một “đại kiện tướng” vừa bền bỉ không mệt mỏi vừa khôn ngoan luồn lách qua mọi chướng ngại vật, vừa “nhát sợ” phòng thân để về đích lĩnh ân sủng của Đảng:  Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, – đó là nhà văn Nguyễn Khải, mà nhà thơ Xuân Sách đã “khái quát” về ông qua mấy câu thơ chân dung nêu trên.

Nguyễn Khải, sinh 1930 ở Hà Nội, cha là tri huyện, mẹ là vợ bé, thủa nhỏ sống nhiều với mẹ ở quê ngoại tỉnh Hưng Yên. 17 tuổi làm y tá cho một đơn vị bộ đội địa phương. 19 tuổi làm phóng viên báo tỉnh Hưng Yên. 21 tuổi làm báo “Chiến sĩ” Quân khu 3. Sau hoà bình, 26 tuổi về công tác ở tạp chí “Văn nghệ Quân đội”. Nhiều năm là Uỷ viên chấp hành Hội nhà văn.

Cứ xem quá trình “công tác” của Nguyễn Khải đủ thấy suốt đời ông là một thư lại, lính văn phòng, đeo chữ thọ sau đít, chưa một ngày đặt chân vào chiến trường khiến ông trở nên nổi tiếng trong hai câu thơ dân gian khi ông viết bút ký “Hoà Vang” lấy tài liệu từ các bản thành tích thi đua từ trong Nam gửi ra:

“Hoà Vang nào ở đâu xa

Hoà Vang là ở ngay nhà đó em…”

Truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Khải là “Ra ngoài”, “Xây dựng” chẳng có giá trị gì. Năm 1956 viết tiểu thuyết “Người con gái quang vinh” về nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi nhưng bị chìm nghỉm ngay khi mới xuất bản. Chỉ đến tiểu thuyết “Xung đột”  – phần 1 năm 1956 và phần 2 năm 1960, danh tiếng Nguyễn Khải mới nổi lên rầm rĩ  trên bầu trời văn học cách mạng vốn còn rất thưa thớt sao. Sau “Xung đột”, Nguyễn Khải  viết chừng hơn 20 đầu sách  khác nữa, nhưng nhắc tới ông người ta vẫn chỉ nhắc tới “Xung đột” như là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp không lấy gì làm vẻ vang của ông, cho dù nhà phê bình chính thống “gạo cội”, Giáo sư Phan Cự Đệ tâng bốc hết lời:

“Từ nhiều năm nay, với tư cách là một nhà văn quân đội, Nguyễn Khải luôn luôn có mặt ở những vị trí hàng đầu của cuộc sống. Tác phẩm của anh phản ánh những mảng hiện thực mang tính thời sự nóng bỏng, đồng thời vẫn nêu lên được những vấn đề triết học, đạo đức có tầm khái quát cao. Tài năng và phong  cách Nguyễn Khải bắt đầu hình thành và khẳng định từ khi “Xung đột” tập I được giới thiệu lần đầu tiên trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1957…”

“ Xung đột” tập 1 viết về cải cách ruộng đất và sửa sai  tại một làng công giáo toàn tòng – thôn Hỗ thuộc giáo phận Bùi Chu. Xưa nay viết về đề tài cải cách ruộng đất, thông thường các nhà văn miền Bắc có hai chọn lựa:

– hoặc diễn tả nó như là một cuộc đấu tranh giai cấp với mâu thuẫn đối kháng, địch ta: một bên là nông dân, một bên là địa chủ, cường hào đại gian đại ác. Cuộc đấu tranh này là “một mất một còn”, ranh giới địch – ta rõ ràng và tuyệt đối. Viết theo lối này các nhà văn được đeo chữ thọ sau lưng, rất an toàn và được “bảo hiểm” bởi lẽ họ thả sức bôi xấu phe địch – tức địa chủ, và thoải mái ca ngợi phe ta – tức nông dân được Đảng phóng tay phát động. Tuyệt đại đa số các nhà văn cây đa cây đề đều theo lối viết này: “ Nông dân với địa chủ” của Nguyễn Công Hoan, “Con trâu” của Nguyễn Văn Bổng, “Mẹ con đồng chí Chanh” của Nguyễn Đình Thi. Mặc dù được báo chí của Đảng khen “kịp thời, kịp thời” nhưng tất cả đều vứt sọt rác chỉ vài tháng sau khi xuất bản.

– hoặc diễn tả nó như là một cuộc đấu tranh trong “nội bộ nhân dân” – tức đi sâu vào chuyện “nhất đội nhì trời”, chuyện “con tố cha, vợ tố chồng”, chuyện án oan biết oán ai ….Viết theo lối này nhất định dễ “ăn đòn” bởi tội “nói xấu cách mạng”, chê Đảng lúc nào cũng tự nhận sáng suốt mà sai be sai bét… Đi theo con đường dễ vỡ nồi cơm này có rất ít người và thường là “thân tàn ma dại” như Vũ Bão với “Sắp cưới”, Hoàng Tích Linh với “Cơm mới”, Nguyễn Khắc Dực với “Chuyến tàu xuôi”. Gần đây có cởi mở hơn, viết về cải cách ruộng đất theo kiểu “mâu thuẫn nội bộ” như “ Dòng sông mía” của của Đào Thắng còn được tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2005.

Tất nhiên khôn lõi đời như Nguyễn Khải chẳng dại gì chọn kiểu viết thứ hai – tức diễn tả  cải cách ruộng đất  như là cuộc đấu tranh “nội bộ” nhân dân – tức mâu thuẫn để đi tới  thống nhất – dễ bị quy chụp, dễ bị ăn đòn, là những thứ Nguyễn Khải cứ muốn tránh cho thật xa. Vậy thì tốt nhất chọn lối viết thứ nhất tức diễn tả mâu thuẫn đối kháng, có tao không có mày, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, và để an toàn hơn thế nữa, Nguyễn Khải không chọn chiến tuyến đối lập địa chủ với nông dân như các nhà văn cây đa cây đề mà chọn tuyến đối lập có tính đối kháng: một bên là bọn phản động đội lốt tôn giáo với bên kia là những nông dân nòng cốt cách mạng, trung kiên, một lòng theo Đảng. Bởi thế tiểu thuyết “Xung đột” tập 1 của Nguyễn Khải thực ra là chuyện đấu tranh “địch ta” kiểu như một “câu chuyện cảnh giác” được vẽ vời công phu bằng văn chương đánh lừa độc giả.

Câu chuyện trong “Xung đột” tập 1 xảy ra vào năm 1956, cuộc cải cách ruộng đất vừa hoàn thành với bao sai lầm và làng thôn bắt đầu vào sửa sai theo hướng dẫn của cấp trên. Tuy nhiên cái sai lầm cải cách ruộng đất ở đây không phải do Đảng nhắm mắt học theo kinh nghiệm Trung Quốc, quy định tỷ lệ địa chủ để cố ép tìm ra cho đủ số – viết như vậy dễ “vỡ nồi cơm”, Nguyễn Khải lái thủ phạm gây nên bao sai lầm trong cải cách  sang các … cha cố. Ông lu loa rằng khi Đội cải cách về làng, cha xứ đã ngầm gài người để cho đội “bắt rễ” và trở thành chỗ dựa cho Đội, từ đó tố oan cho những cán bộ cốt cán của Đảng để đến nỗi họ bị xử trí như Môn, xã đội trưởng, Thụy, cán bộ xã… có người còn bị xử tử như Rỹ, Bí thư Chi bộ… Bao nhiêu tội lỗi đều do…nhà thờ gây ra cả, cách mạng chỉ có… mất cảnh giác đôi chút thôi. Thực chất trong “Xung đột”  tập 1 Nguyễn Khải đã bẻ queo sự thực lịch sử, chạy tội cho Đảng trong việc bắn giết cả những đồng chí của mình, trút tội giết người đó sang… âm mưu thâm độc của Nhà thờ chứ không phải do sự ngu dốt sai lầm trong đường lối cải cách ruộng đất.

Từ trên cái “bệ đỡ an toàn” đó, Nguyễn Khải tha hồ phóng bút, trách gì nhà phê bình Phan Cự Đệ chẳng tấm tắc khen:

 “người đọc như bị hút vào những sự kiện nóng bỏng trong những năm khôi phục và cải tạo kinh tế: cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh trong nội bộ nhân dân diễn ra căng thẳng, ác liệt và vô cùng phức tạp vào khoảng cuối năm 1956 ở một số vùng đạo gốc tỉnh Nam Định, khi Đảng ta tiến hành sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất và bắt đầu cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp”.

Chơi trò lập lờ đánh lận con đen, xuý xoá tội lỗi của Đảng trong cải cách ruộng đất, trách gì “Xung đột” tập 1 chẳng được cả một hệ thống tuyên truyền của Đảng kéo lên mây xanh ngay trong thời gian  Đảng đàn áp văn nghệ sĩ khét lẹt nhất qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Trong khi những tác phẩm  phản ánh được chút ít hiện thực khách quan như những truyện ngắn và thơ trong nhóm Nhân văn Giai phẩm , tiểu thuyết “Vào đời” (1962) của Hà Minh Tuân, “ Phá vây” (1963) của Phù Thăng, kịch của Hoàng Tích Linh, Nguyễn Khắc Dự, v.v. bị đòn vọt, thì hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Khải cứ nối đuôi nhau ra đời trong sự reo mừng, tâng bốc của cả một bộ máy bồi bút trong các nhà phê bình văn học của Đảng.

 

Mở đầu “Xung đột” tập 1, Nguyễn Khải chơi trò “giật gân” miêu tả một “sự kiện động trời” ngay khi làng xã mới bước vào đợt “sửa sai” sau cải cách ruộng đất. Đó là “Đại hội công giáo tám xứ toàn miền” với đủ các gương mặt của “phe đối nghịch” tức toàn bộ các gương mặt “phản động” của nhà thờ cũng các con chiên bị dụ dỗ và mê hoặc họp thành một mặt trận, một chiến tuyến chống lại chính quyền cách mạng. Đánh vào trí tò mò của độc giả vậy, trách gì cuốn sách không hấp dẫn?

Bộ chỉ huy của lực lượng chống đối này bao gồm toàn những người khoác áo choàng thâm. Trước hết là tu sĩ Thịnh, “hoạt động phần đời nhiều hơn là phần đạo…Thầy không phải là người tu tầm thường mà là một người hoạt động chính trị xuất sắc. Năm nay thầy mới hai mươi tám mà năm hai mươi bốn đã làm tới trưởng khu Cao Mại, một tay xây dựng hai mươi bảy ban xã uỷ, lãnh tụ liên tôn diệt cộng toàn khu…”.

Rồi đến cha Vinh là người đã “mang quân từ Phát Diệm về đốt trụi xóm, lấy thóc của nhà xứ, thóc của dân đổ đầy hàng trăm chiếc thuyền đậu kín như lá tre ở cống Cả, đã quay điện con ông Thiềm bây giờ nửa sống nửa chết, đã ngủ với cô Mến có thai ba tháng, thuốc độc chết ông trùm Thuý…

Rồi thì cha Thịnh dẫu được “đi Hà Nội họp, ăn một ngày bảy tám cân, được  gặp cả Hồ Chủ tịch”,  ấy vậy mà khi trở về giáo xứ lại dấu mặt tổ chức đại hội công giáo, xui con chiên: “Bây giờ các nơi công giáo đều nổi dậy cả rồi, chúng ta phải đòi công giáo tự trị… chiến tranh tàn khốc, chế độ đổi thay, chỉ có đạo Chúa là không gì diệt nổi…”. Tóm lại các tu sĩ trong nhà thờ đều là loại núp áo choàng thâm để làm việc xấu xa, bỉ ổi, gây hoạ cho dân cả. Chẳng hiểu khi bôi bác nhà thờ như vậy, Nguyễn Khải có khi nào nghĩ một thời mình cũng từ đó mà ra không?

Trong đám tay chân đắc lực của các cha phải kể đến cô Lý, đẹp  nhất nhì trong làng, nhưng lại “làm ruộng không biết, đi buôn không vốn, hoạt động đoàn thể cũng không nốt, nào ai biết cô ả làm gì, chỉ thấy đi suốt ngày đi cả đêm. Thời  tạm chiếm Lý là tay đưa tin đắc lực của đại đội cha Báu, từ ngày cha Vinh về thì lại là tay chân thân cận của ông Vinh… đặc biệt có cảm tình với tu sĩ Thịnh…”.

Tay chân đắc lực cho các cha còn có anh Quảng, con trai phó trương xứ “mười bảy tuổi đã sung vào đội quân của cha Báu, mười tám tuổi chuyển qua đội quân com-măng-đô, ít lâu sau được cử làm người hộ thân cho viên quan năm chỉ huy quân sự miền hạ Nghĩa Hưng…”

Khi bàn đến việc đánh cán bộ, Quảng hăng hái: “Nó có dao sắc mình cũng có dùi bén. Một trăm người không đánh nổi vài đứa à? Có cần tử vì đạo tôi cũng xin dâng mình…”.

Tóm lại, phe “phản cách mạng” nhân danh Chúa đều gồm những con người ghê gớm, dạn dầy kinh nghiệm chống nhà nước cộng sản.

Bên phía cách mạng có Thụy là đội trưởng du kích, mặc dù bị truy ép tàn khốc trong cải cách ruộng đất vẫn khăng khăng: “Làm việc vì Đảng, đừng làm cho người ta khen. Những kẻ có ác ý không biết nhưng Đảng tối cao, thiêng liêng sẽ biết , sẽ dành phần thưởng sau này…”. Có Môn, xã đội phó, là một trong bốn người bị giáo Thịnh bố trí “kích” lên thành đầu sỏ Quốc dân đảng ở xã. Sau khi hai trong bốn người đó, một bị xử bắn, một tự tử, Thụy và Môn mới được tha bổng và phục chức cũ. Chính quyền xã lúc này đang “non yếu”, dân quân du kích phần lớn là giáo dân tin theo nhà thờ, xã đội trưởng thì mải đi buôn, Chủ tịch xã là chị Nhàn thì lại hay bận đi…họp huyện. Thế là sau vài ngày họp trù bị, bầu không khí thù ghét cải cách ruộng đất, thù ghét Đảng và Nhà nước trong đại hội công giáo đã dâng tới mức các giáo dân hô khẩu hiệu chống cộng :

“ Đả đảo đội cải cách ruộng đất “

“ Đả đảo”

“ Đả đảo chính sách của Đảng Lao Động…”

“ Đả đảo”…

Tới lúc đó cha Thuyết mới chính thức ra mặt chủ trì “đại hội công giáo toàn miền” đòi lôi cổ những người đã tố cha Vinh ra đại hội để hỏi tội. Nực cười thay, đứng giữa đại hội, anh nông dân tên Hạ đã không thanh minh cho cha Vinh thì chớ, ngược lại còn tố cáo cha:

“ngưỡng cửa buồng cha lẽ ra phải rất trong sạch, đàn bà bước qua phải thay ngay ngưỡng cửa ấy, tại sao có người ngày nào cũng bước qua mà ông Vinh vẫn không thay… tại sao ông Vinh lại đeo lon quan ba dẫn quân bốt Thạch đi càn quét…”

Người thứ hai được bố trí lên “minh oan” cho cha Vinh cũng “phản cung” như Hạ, thế là “màn kịch” của “phe nhà thờ” dầy công dựng lên bị đổ bể ngay từ đầu. Người ta phải đặt câu hỏi với nhà văn Nguyễn Khải tại sao “nhà thờ” vốn được  ông mô tả vô cùng gian ngoan xảo quyệt, mưu sâu đòn độc vậy, sao lại dựng lên một màn kịch vụng về vậy ? Phải chăng họ ngờ nghệch đến thế ? Không phải, đó chỉ là vì mấy ông nhà văn cách mạng đã quá quen với cái thói nhiễm sâu vào trong máu “ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, “ta là thiện, là tốt đẹp, giỏi giang” – “địch là ác, là xấu xa, ngu dốt” nên mấy ông cha cố mới bị bôi bác xấu xa và ngờ nghệch đến thế.

Sau khi thất bại trong việc bố trí người lên “minh oan” cho cha Vinh trong cải cách ruộng đất, đại hội cử ngay ra một đoàn đi bắt “hai con quỷ dữ” là Môn và Thụy – cốt cán của cách mạng –  tới đại hội để giáo dân hỏi tội. Hai ông này thân cô thế cô nên đành phải mài sắc hai con dao chờ sẵn ở nhà. Mặc dầu ở nhà Thụy có một tiểu đội bộ đội đóng quân nhưng cũng không dám can thiệp cứ đứng nhìn “người của đại hội” tới bắt Thụy và Môn. Đến khi Lý và Quảng hai người tích cực nhất xông vào đánh Thụy, tiểu đội trưởng bộ đội mới xông vào can ngăn. Chỉ chờ có thế, Quảng va chạm vào người anh bộ đội rồi “tự thọc ngón tay cào rách màng lỗ mũi, máu rỉ ra một dòng nhỏ, hai tay hắn đưa lên quẹt khắp mặt, mặt lem nhem máu” rồi lăn ra giả vờ chết. Thế là “tin dữ” bộ đội giết dân loang ra khắp làng khắp xóm:

“Chuông bắt đầu đánh chính thức loan báo “tin nổi dậy” cho toàn xứ, cho các xứ khác. Trống thôi thúc từng nhịp. Người từ các dòng xóm vì tò mò lặng lẽ kéo đến mỗi lúc mỗi đông…”

Anh bộ đội tên Nẫm bị giáo dân lôi ra đánh đập, hành hạ với những lời chửi bới: “thằng bộ đội khốn nạn đánh cả dân, ai đóng thuế nông nghiệp nuôi cho nó ăn béo, ai dệt vải cho nó mặc để nó vô ơn bạc nghĩa đi bênh mấy thằng quỷ ở xứ này. Có người đòi phải lấy đanh đóng vào tay chân nó phơi mưa…”

Cha xứ bấy lâu nay vẫn dấu mặt đến lúc này thấy cần phải chường ra để  “chăn dắt con chiên”, bởi vậy cha Thuyết thân chinh đi tới chỗ quàn “cái xác” Quảng “lật chiếu nhìn mặt Quảng. Ôi có lẽ nó đã qua đời rồi, nó không còn thở nữa. Cha mở hộp dầu thơm nức dúng tay làm dấu vào trán Quảng, vào hai lòng bàn tay, hai gan bàn chân, vừa nguyện bằng tiếng la tinh. Tiếng đọc kinh nổi lên rền rĩ: “Lạy Chúa Ki-ri-xi-tô thương xót chúng tôi, xin Chúa thương xót chúng tôi…”

Tiếng chuông đánh nhịp hai tiếng một điểm hồi dài, báo tin một linh hồn kẻ lành được lên nước thiên đàng hưởng phúc thanh nhàn đời đời. Xác Quảng được liệm bằng chăn khiêng vào trong nhà để chính gian giữa…”

Vậy là nhà thờ đã tạo ra cái cớ “bộ đội giết dân” để kêu gọi giáo dân toàn miền vùng dậy lật đổ nhà cầm quyền cộng sản. Tiếc thay, cái quả bom nổ chậm ấy, cái căn nguyên để khởi nghịch đó lại vỏn vẹn chỉ là cái chết giả vờ của một anh chàng ngờ nghệch chỉ có mỗi cái máu “chống cộng” hăng tiết vịt. Liệu các cha Thiên chúa giáo của cả một giáo xứ có ngây thơ, ngớ ngẩn như vậy chăng, hay là do nhà văn Nguyễn Khải “vu” cho họ?

Quả nhiên cái vụ Quảng giả chết để vu vạ cho bộ đội lập tức bị lật tẩy một cách dễ dàng khi chị Nhàn, Phó Chủ tịch xã đi họp huyện về yêu cầu “phải khám nghiệm tử thi làm biên bản rồi cho chôn luôn”. Vợ “người chết” sợ quá ôm chặt lấy “xác chồng” không cho động tới và ngay tối  đó  “hai mẹ con Quảng đem võng đến cáng hắn về. Khiêng qua cầu sang xóm bên kia, đường vắng lặng, Quảng thò cổ ra nhìn quanh không có ai, y nhỏm dậy nhảy ngay xuống đất rồi chạy vụt vào một cái ngõ sâu thẳm…”.

Vậy là “âm mưu” của nhà thờ vu cáo bộ đội giết dân để làm ngòi nổ cho cả phong trào “giáo dân nổi dậy” chống chính quyền bị phá vỡ một cách quá dễ dàng và… lãng xẹt. Cuộc XUNG ĐỘT giữa nhà thờ và chính quyền cộng sản tưởng là ghê gớm lắm, rút cuộc chỉ một chị Phó Chủ tịch xã ra một cái lệnh là “âm mưu của  nhà thờ” bị tiêu tan.

Tất nhiên vụ “Đại hội giáo dân” kích động dân làm loạn tuy có qua đi nhưng xung đột  giữa “nhà thờ” và “cách mạng” vẫn còn đó. Nó len lỏi vào các gia đình gây nên những “bi kịch” mà gia đình anh bộ đội Tường là một thí dụ tiêu biểu. Sau mấy năm xa nhà, nhân dịp tết  được nghỉ phép, Tường tưởng sẽ được hưởng không khí gia đình đầm ấm sau những năm tháng xa nhà, ngờ đâu vừa đặt chân về nhà anh đã va ngay phải cuộc xung đột giữa “nhà thờ” và “cách mạng”. Trước hết  là cái Khoai, đứa con gái của Tường “nó không vồ vập, không cười, đứng né sang một bên cho bố nó dắt xe đạp vào, mắt ngước lên lấm lét như nhìn người lạ luồn ngay ra đằng sau lủi chạy mất”… Con đã xa cách thế, đến bố cũng vậy: “Bố thấy con trai lần  đầu về ăn tết với gia đình từ ngày đi bộ đội cũng không vui, cũng có vẻ hậm hực …”. Tại sao vậy nhỉ ? Hoá ra vẫn là “xung đột” giữa “nhà thờ” và “cách mạng”. Bố anh trách :

“Dạo đầu năm vợ mày lên thăm, mày định giật ảnh tượng của vợ mày, bảo những cái ấy là vô tích sự phải không ?…Dù mày có là bộ đội nhưng trước hết vẫn là bầy tôi của Chúa, vẫn là con tao. Mày không được ăn nói bậy, nghe không?”

Rồi mặc cho anh con trai thanh minh, ông vẫn kể tội:

“Hôm ấy vợ mày nói với mày xin đánh tượng vàng đeo, mày bảo: Chẳng đạo gì bằng đạo ăn, để tiền mà đong thóc, với lại: có người lạc hậu mới tin đạo…Tao nghe chuyện ấy đã định viết thư lên bảo thẳng với các cấp chỉ huy của mày là không biết dạy con tao để con tao thành kẻ vô loài, rồi tao sẽ từ mày, hiểu chưa ?”

Cứ như  thế những ngày Tường về phép ở nhà là những ngày “chiến tranh ý thức hệ” – tình cảm thiên nhiên của vợ chồng, của cha con dường như đã bị vót nhọn trơ lại có mỗi “xung đột” giữa “chúa và bộ đội”. Ngày Tết họ hàng tới thăm nhau, trò chuyện cũng toàn mùi “chính trị”. Quảng, cháu của Tường vừa gặp lại chú đã lên giọng khiêu kích:

“Độ này chú tiến bộ làm đến cấp gì rồi? Gớm, các ông bộ đội chính trị bỏ mẹ…À…à… bốn túi đây mà, đại đội hay tiểu đoàn? Áo vải chắc là đại đội …chú đi bộ đội lâu thế vẫn là đại đội thôi à ?”

Rồi Quảng xoay sang chuyện chính trị thật:

“Chú đi xa không rõ. Ở nhà vừa rắc rối lắm. Bộ đội đánh dân nhưng uỷ ban lật lọng thế nào lại hoá ra nhân dân đánh bộ đội…Mấy thằng phản Chúa hại dân lại ra làm việc rồi. …Chú xem, chúng nó ra nhận việc hôm trước hôm sau hạ lệnh bắt người ngay, không hiểu đem đi buộc đá bỏ biển hay tù đày mãi đâu chẳng thấy tin về. Cứ như tình hình này có lẽ chính phủ muốn tiêu diệt công giáo chắc…”

Thế rồi khi hết phép, vào lúc chia tay, Tường thưa chuyện cùng bố mẹ lại cũng là chuyện…chính trị:

“Cách mạng nổi lên hai anh em con mới ra khỏi nhà mụ Bao, từ bấy đến nay con ăn cơm bộ đội, mặc áo bộ đội, được bộ đội dậy dỗ thì sống chết với bộ đội. Còn bố mẹ sợ luỵ vì con, không muốn nhận con nữa thì cứ việc làm giấy lên uỷ ban mà từ. Con xin chịu…”

Cứ như vậy, ông con trai bộ đội về phép chẳng bàn bạc gì được chuyện làm ăn kinh tế sao cho bố mẹ, vợ con  ăn sung mặc sướng lại sa đà vào toàn chuyện “chúa” với “cách mạng”. Sự thực quan hệ gia đình, họ hàng khi đứa con phương xa trở về trong những ngày tết thiêng liêng của dân tộc có đến nỗi rặt một mầu chính trị như thế không. Hay là từ cái nhan đề “xung đột” của tiểu thuyết và bài học nằm lòng của chủ nghĩa Mác đã ăn sâu vào tác giả: “tiến hoá là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập” khiến ông nhà văn nhìn vào đâu cũng chỉ thấy có xung đột chính trị.

Ngay cả trong gia đình Nhàn, Phó Chủ tịch xã, chỉ có hai mẹ con mà xem ra trò chuyện hàng ngày giống như “hai phe” đối lập nhau. Hồi cải cách, cha Vinh bị mang ra đấu. Bà mẹ của Nhàn bênh cha:

“Đấu cha là đấu Chúa đấy… Mày phải biết đỗ được đến chức cụ là trải qua trăm nghìn khó khăn thử thách đấy. Nếu người không có nhân đức thì ngay khi chịu phép cắt tóc không hộc máu cũng phát ung nhọt, bệnh tật rồi..”

Cô con gái thì cãi lại:

“Mẹ còn nhớ nhân dân bên Thạch Bi xứ cũ của ông ấy, cơm nắm cơm gói đến chầu chực ở đây hàng tuần chỉ xin được lột da ông ấy căng mặt trống không? Chính phủ không xử bắn là may chứ còn tiếng tốt gì ?”

Bà mẹ lại kể lể:

“Nếu mày không nghe lời tao, tao không dậy được mày thì cả nhà này sẽ mắc vạ tuyệt thông, bị khai trừ ra khỏi hội thánh. Nếu thế thì mẹ chết mất… Con ơi, mẹ run sợ lắm. Mẹ già rồi, ngày linh hồn lìa khỏi phần xác cũng chẳng bao xa… lúc đó hai con khiêng được mẹ ra đồng hay sao, hay là buộc rợ vào chân mẹ cho trâu kéo hở con…con nghĩ lại cho mẹ nhờ …”

Ngày này qua ngày khác, bất kể ngày hay đêm, cứ hai mẹ con ngồi với nhau là y như rằng nổ ra “xung đột” như thế. Ông nhà văn liệu có nói quá đi không?

Trong gia đình, họ hàng nhà Thụy – đội trưởng  du kích,  “xung đột” và chia thành hai phe “cách mạng” và “phản cách mạng” còn dữ dội hơn. Chú ruột của Thụy là cha Thuyết, bố đẻ của Thụy là ông trùm Nhạc. Ngày nọ cha cho gọi các cháu trong nhà gồm có Thụy, Toán và Quyên tới để cha cho tiền làm nhà. Trước khi đưa tiền, cha lại nói chuyện “chính trị”:

“Nói đến cải cách tao lại nhớ hồi ấy du kích chúng nó làm bùi nhùi cụ Ngô rồi đâm chém hò hét. Thật trò hề. Cụ Ngô là người rất sùng đạo. Cụ là em đức Cha Ngô Đình Thục đấy. Nghe nói sáng nào cụ cũng đánh ô tô đến nhà thờ xem lễ rồi mới về làm việc. Trong Nam người ta yêu quý cụ lắm…”

Nghe ông chú tuyên truyền “phản động”, dẫu ông là cha đạo đi chăng nữa, Thụy cũng chặn họng ngay:

“ Thưa cha…cha cho gọi chúng con lên để nói chuyện trong nhà hay chuyện chính trị ?”

Cứ như thế, chú cháu bốp chát nhau, sau cùng cha Thuyết  chỉ cho tiền Toán và Quyên, còn  Thụy nhất định không nhận. Bởi thế ông Nhạc, bố của Thụy chì chiết con:

“Khí khái rởm. Tiền đưa tận tay mà không thèm cầm. Bốn năm chục vạn chứ có ít đâu, mày thử xem đến bao giờ mới dành dụm được chục vạn mà dựng nhà? Mày cứ bảo cha không tốt, không tốt thì cũng là cha linh hồn, cũng là em tao, chú mày. Mày đừng đâm bị thóc chọc bị gạo để anh em tao lủng củng với nhau. Không tin người ruột thịt thì tin ai ? Mày không thèm lấy tiền của cha thì tao sẽ xin cha, ăn mày cha chẳng ai cười …”

Thế là quan hệ cha con của  Thụy – đội trưởng du kích  cũng căng thẳng chẳng thua gì quan hệ mẹ con của cô Nhàn – Phó Chủ tịch xã. Liệu có phải “vẽ” ra xung đột trong những người ruột thịt với nhau là sở trường của nhà văn Nguyễn Khải không?

 

 

Trong một số không nhiều các nhà văn miền Bắc viết về Thiên Chúa giáo như Nguyễn Thế Phương với tiểu thuyết “Nắng” (1972), Chu Văn với tiểu thuyết  “Bão biển” (1969) …có thể nói Nguyễn Khải là nhà văn bám sát nhất quan điểm Mác Lênin “tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”. Chẳng hiểu ông có xác tín điều đó không hay là chỉ vờ vịt làm vui lòng các lãnh tụ văn hoá văn nghệ của Đảng; song trên các trang viết của ông nhan nhản những tình tiết, những nhân vật được ông mô tả chỉ nhằm bỡn cợt Chúa.

Đám rước kiệu “tượng Đức Giê-su vác câu rút” trong ngày lễ Phục sinh được mô tả với giọng dè bỉu: “Thỉnh thoảng xé lên lanh lảnh một vài tiếng kèn đồng te té te té…chói tai, lạc lõng, chìm nghỉm ngay trong cái hỗn độn của tiếng trống, tiếng  trắc gỗ, tiếng đọc kinh ngắm đàng thánh giá, tiếng gọi nhau í ới…”.

Trung thành với quan điểm “Thiên chúa giáo là tay sai quân xâm lược, là bọn bán nước”, “nhà thờ đồng nghĩa với phản động” – Nguyễn Khải nhìn đám người tổ chức đám rước toàn là quân phản động. Đánh nhịp cho đội trống là Quảng và Liêu. Quảng là “con trai phó trương xứ, mười bảy tuổi đã sung vào đội quân của cha Báu, mười tám tuổi chuyển qua đội quân com-măng-đô, ít lâu sau được  cử làm người hộ thân cho viên quan năm chỉ huy quân sự miền hạ Nghĩa Hưng ”, mới đây lại giả chết để vu vạ cho bộ đội giết dân.  Còn Liêu bị “tình nghi ở trong đảng phái phản động, truy bức vợ chồng hắn về võ khí trong nhà xứ. Từ ngày ấy hắn quan niệm về phần đời, phần đạo hoàn toàn khác. Thày Thịnh mời hắn ra đứng trong ban thành lập hội trống nhà xứ”.  Khi hộ trống đã được thành lập với ba mươi cái trống và bốn mươi bạn hữu, Liêu lộ mặt phản động “Lý tưởng của người ta không phải là xã hội chủ nghĩa mà chính là hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng…”

Sau đội trống thì đến nghĩa binh nam và nữ. Ông nhà văn mượn một con bé con để diễn tả sự thờ ơ của con chiên đối với “nỗi đau của Chúa”. Nó “còn bé lắm, chừng như mới chịu lễ lần đầu, hai  đầu mào trắng chấm xuống gần khoeo chân…”. Nó mếu máo đọc kinh: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc… bà có phúc lạ hơn người nữ… và Giê-su con bà…”, nhưng mắt nó lại nhìn“một con chuồn chuồn mình đỏ đậu rún rẩy trên bụi rơi gai ở vệ sông. Ôi con chuồn chuồn đẹp quá, đậu ngờ nghệch quá…”.

Trong khi đầu óc con bé gái chẳng nghĩ gì tới Chúa thì ngay cả bà quản giáo  trong đám rước cũng vậy. “bà không đọc kinh, bà còn mải trông hơn sáu mươi em nữ nghĩa binh, học trò của bà, nếu rời mắt là chúng nó lại xô đẩy nhau, cấu véo nhau…”  và bà quản giáo được mô tả đầy ác cảm “trên khuôn mặt bà không có lấy một nét nào hiền dịu, tha thứ, cởi mở của người mẹ; nó ảm đạm như người có nỗi buồn sâu kín; nó khắc khổ vì bà là người tu hành; khi bà đánh trẻ con thì rõ là người khó tính khắc nghiệt …”

Sau đó các con chiên lần lượt vào nhà thờ nghe đọc đoạn đóng đanh tưởng nhớ đến những sự thương khó Chúa Giê-su đã chịu trên cây thánh giá. Ông nhà văn lại tiếp tục bôi bác nhà thờ khi cha xứ khó kiếm ra được một người đọc đoạn kinh đó. “Ông Đông phó trương xứ chữ quốc ngữ không biết, chữ nho cũng không nốt nên sự  hiểu biết đạo lý kinh sách chẳng hơn gì người bổn đạo. Còn ông trùm Hoà, trùm đạo thôn Hỗ lại càng…dốt hơn.” . Có thực là trong các ông trùm đạo lại nhiều người mù chữ đến như thế chăng?

Và rồi với giọng riễu cợt, ông nhà văn tả nỗi đau của một bà già thương xót chúa Giê-su:

“Bà Nhàn ngồi vào một góc, cái mào đen rủ xuống hai bên má che gần hết khuôn mặt ảm đạm của bà. Bà cố bày ra trong trí khôn như xem thấy chúa Giê-su  bị quân dữ đóng đanh trên cây thánh giá thật. Những cái đanh sắt mà đóng xiên qua bàn tay Chúa mình như thế thì đau đớn biết chừng nào, chỉ vì tội mình và tội tổ tông truyền. Ôi, cái mão gai, có những bảy mươi hai cái gai lọt vào óc Chúa tôi, buốt nhức biết bao nhiêu, máu chảy đầy mặt ròng ròng. Bà cứ tự vật vã với mình, trách móc mình sao đã vội vã quên đi sự thương khó mà Chúa đã phải chịu…”

Thật là một đoạn văn tiêu biểu minh chứng cho quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện” của Mác. Đó, cái thứ “thuốc phiện” đó đã làm một bà già trở thành mê mụ, mù quáng đến dở hơi như thế đó!

“Chúa lấy hai cây gỗ cứng thay giường nằm, lấy mão gai nhọn thay gối còn bà thì giường cao, chiếu sạch, chăn đắp, màn che, bà còn phàn nàn gì nữa, kêu xin gì nữa. Bà không bao giờ ao ước được sướng hơn mà chỉ muốn mình sẽ khổ đi, chịu đựng thêm vì con đường lên thiên đàng là con đường hẹp…”

Riêng đoạn văn “tôn giáo là thuốc phiện” trên đây cũng đáng để cho Ban tôn giáo Chính phủ tặng  bằng khen cho nhà văn Nguyễn Khải.

Lực lượng bên phía “nhà thờ” đông đảo như vậy nhưng thật ra chẳng là cái gì với chính quyền cách mạng mà tiêu biểu nhất là Môn – Chủ tịch xã.  Khi dựng mối quan hệ đối lập giữa “nhà thờ” và “nhà nước”, Nguyễn Khải huỵch toẹt: “Một trong những địch thủ nguy hiểm nhất của nhà xứ là Môn, xã đội trưởng ngày trước và nay là chủ tịch xã …”

Trong cải cách, do “âm mưu của nhà thờ”, Môn đang là xã đội trưởng bị kích lên “thành phần phản động” suýt nữa thì bị bắn như Rỹ. Lúc sửa sai, Môn được phục chức và trở thành một đảng viên trung kiên của Đảng, lập trường còn vững hơn cả cấp trên. Anh ta thường xuyên theo dõi các các hoạt động trong nhà thơ và bắt ne bắt nẹt từng ly từng tý. “Một hôm trên toà giảng, cha Vinh cao hứng nên có giảng chệch ra ngoài kinh sách E-van đôi chút: Vinh đây dẫu đầu rơi máu chảy cũng không chịu lui đâu. Nó có vả ta má bên hữu ta còn giơ má bên tả cho nó vả nữa kia. Ai chịu bắt bớ vì sự công chính thì có phúc thật vì nước trên lời là của kẻ ấy…”

Cha chỉ giảng “ngoài”  kinh sách có thế thôi, vậy mà lập tức có kẻ mật báo, ngay sau buổi giảng, “Môn nhân danh chính quyền mời cha Vinh đến trụ sở nói chuyện”. Khi cha tới, “cha đưa tay ra nhưng không ai bắt nên lại rụt tay về”, Môn trấn áp ngay:

“Linh mục làm phản động, chính phủ bắt giữ để tự hối cải lại còn nói không lùi bước. Ý chừng linh mục muốn chống đối với chúng tôi mãi chăng? Muốn làm phản động lần nữa hay sao? Nếu vậy chúng tôi sẽ có cách…”

Tất nhiên cha sợ vã mồ hôi, lần sau cạch đến già có giảng kinh thì cũng phải “uốn lưỡi bảy lần” mới dám nói. Nguyễn Khải muốn đề cao “uy thế của cách mạng” nhưng lại vô tình tố cáo việc đàn áp tôn giáo của Nhà nước. Trắng trợn hơn nữa, Ban chánh trương  cùng các trùm họ mở một buổi tiệc mổ trâu để bầu Quý là địa chủ vào Ban chánh trương xứ. Tất nhiên Môn được mật báo và tuy không được mời cũng lừng lững đi vào bữa tiệc như chỗ không người rồi lên giọng chủ tịch xã: “Muốn đạo gì thì đạo, đã là công dân thì phải theo đúng pháp luật của Nhà nước. Nếu ai làm trái thì dù bố mẹ đẻ ra cũng không bênh được …”

Thật đúng là giọng một con sói nhảy vào giữa bầy cừu. Uy thế cách mạng thì có cao thật nhưng cái lá chắn “tự do tôn giáo” giả hiệu lại bị phơi bầy khi ông Chủ tịch xã can thiệp cả vào việc bầu bán của nhà thờ: “Tôi lấy một ví dụ: đã là địa chủ thì nhất thiết phải tước hết quyền công dân, không được tham gia bất cứ một tổ chức nào cả. Thấy ban chánh trương cũ bất lực cần bầu lại thì cứ bầu, giáo dân chúng tôi hoan nghênh mà uỷ ban cũng hoan nghênh, nhưng bầu địa chủ là sai, địa chủ lãnh đạo nông dân là chuyện ngược đời, là trái chính sách , trái cả lẽ đạo…”

Ghê gớm chưa? “Xung đột” giữa Nhà thờ và nhà nước tưởng  nổ ra dữ dội trong cuộc đấu tranh “một mất một còn” mà rút cuộc nắm chính quyền trong tay thì một anh nông dân hạng bét như Môn cũng có thể quát tháo, đe nẹt được tất cả giới chức phẩm của cả một xứ đạo.

Và chỉ vài ngày sau khi chánh trương xứ Quý đi Hà Nội về, “Môn cho hai du kích đến áp giải Quý lại trụ sở, bắt ngồi xuống đất. Môn hỏi:

“Quý ! Mày hãy nhắc lại tám điều quy định cho địa chủ sau cải cách ruộng đất để uỷ ban nghe !”

Lâu lắm ông chánh trương xứ mới lại bị nghe một người khác nói đến tên mình một cách láo xược vậy. Nhưng người đó lại là …đại diện chính quyền. Bởi vậy “Môn bảo sao hắn cũng vâng dạ ngoan ngoãn lắm như người bị mê muội từ lâu nay mới có dịp thức tỉnh”.

Môn kết luận :

“Mày đi Hà Nội không xin phép ai, đáng lý phải trị thẳng tay làm gương cho đứa khác nhưng Uỷ ban tha thứ lần đầu. Còn mày làm những gì thì trong này đã có hồ sơ cả. Đời mày do mày định đoạt lấy. Muốn ăn cơm nóng, ở nhà với mẹ với vợ cũng được mà muốn ăn cơm mắm, ngồi xà lim cũng được …”

Ngày nay đọc lại đoạn văn này vẫn thấy “sởn gai ốc” về cung cách đối xử của Nhà nước đối với một đại diện của con chiên trong một xứ.

Chủ tịch xã Môn là một người có “đạo gốc” nhưng được cách mạng giác ngộ nên đã trở thành “con sói dữ”, “một trong những địch thủ nguy hiểm nhất của nhà xứ, “không thích làm những việc vụn vặt, tầm thường, bao giờ cũng đảm đương những nhiệm vụ khó nhất, phức tạp nhất người khác không làm nổi”, là một người “ốm cũng không dám nằm thật, bị cảm đã mấy hôm vẫn ra trụ sở, hay ngồi nhà nhưng vẫn giải quyết công việc …vui lòng hy sinh đời mình cho công tác” .

Nguyễn Khải chọn một người thay mặt chính quyền “bảo hoàng hơn cả nhà vua, mác-xít hơn cả những người cộng sản”  như vậy thì tất nhiên cán cân phải lệch hẳn về phía cách mạng trong cuộc đấu tranh “quyết liệt” “ai thắng ai” diễn ra trên mọi mặt của đời sống miền Bắc. Thực ra “ai thắng” thì đã quá rõ rồi, và thực ra đó không phải là cuộc “đấu tranh một mất một còn” như nhà nước vẫn tuyên truyền mà chính là một cuộc trấn áp tất cả những gì có thể gây nguy hại tới việc cầm quyền của Đảng. Bởi thế người ta thấy mối quan tâm duy nhất của ông Chủ tịch xã Môn chẳng phải nhằm tới phát triển sản xuất nâng cao mức  sống cho dân mà chỉ nhăm nhăm để ý coi nhà thờ có những biểu hiện gì xâm phạm tới “đường lối của Đảng và Chính phủ”. Từ việc nhỏ như xứ đạo mổ trâu để ăn mừng Ban chánh trương mới ra mắt cũng phải xin phép tới việc thành lập hội kèn để phục vụ lễ rước cũng trở thành chuyện “trọng đại” Uỷ ban cần phải xét bên trong có âm mưu chống phá gì không? Khi “duyệt” cho nhà xứ thành lập đội kèn, ông Chủ tịch Môn còn đặt điều kiện:

“Người trong hội kèn chỉ biết có thổi kèn thôi, ngoài ra không được  làm những việc gì khác, nói rõ ra là không được làm chính trị. Nếu có thế nào thì ban chánh trương phải chịu trách nhiệm. Còn nếu bằng lòng đặt dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban thì cụ thể phải nằm trong khối văn xã…”

Cán bộ nhà nước thì được Nguyễn Khải ca ngợi một tấc lên trời, nào tinh thần làm việc tận tụy, nào ý thức cảnh giác rất cao, nào lập trường cách mạng rất vững, ngược lại với các cha đạo thì bị nhà văn bôi bác hết chỗ nói. Hình như các cha nếu không “hám gái” thì cũng “hám tiền”.

Ở xứ đạo có một bà goá mới ngoài 40, “nhưng còn tươi tắn khoẻ mạnh lắm, khi ông bõ ở nhà xứ chết thì ban chánh trương cắt cử bà vào thay”.  Bà goá này “ngày hai bữa cơm dâng cha và các chú ăn, giặt giũ quần áo, chăn lợn, làm vườn, dần dần cai quản cả thóc lúa và việc chi tiêu trong nhà xứ. Đêm bà cũng không về nhà cứ ngủ trong cái buồng kho”.  Có người đàn bà phây phây bên cạnh, làm sao mà cha không nổi lòng trần tục. “Khi thì bà lên buồng cha Vinh bưng cơm rót nước, khi cha Vinh xuống buồng bà hỏi han công việc. Có một buổi trưa cha đang ngủ bà sai cháu lên buồng cha gọi: Cha ơi cha, bà con bảo cha cởi áo cho bà con vá…”

Ngoài chuyện “gái gủng” ra, các cha còn tìm mọi cách moi tiền của giáo dân … Ông Bính, một con chiên ngoan đạo nhận xét:

“Các cha xứ từ trước đã ăn mười phần thì nay nên thương con chiên mà ăn năm thôi. Các cha tải của về quê có nhiều chứ ăn là mấy. Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng, các cha không có vợ thì cho bố mẹ, anh em, bà con…”

Còn cha Thuyết thì thu tiền của giáo dân theo giá “cắt” cổ:

“Ông kể lại một hôm ngồi hầu cơm cha Thuyết, được nửa bữa có người đến hỏi: “Lễ sáng nay làm cho linh hồn vừa mới qua đời hết bao nhiêu ?” Cha vừa ăn vừa trả lời: “Hai vạn”. Người kia móc tiền để vào đĩa, bốn tờ giấy năm nghìn còn mới. Bữa cơm chưa xong đã có tốp đến mười bà dòng vào cũng để tiền vào đĩa dâng lên. Cha ngưng đũa hỏi: “Tiền gì?” − “Trình cha tiền tứ kỳ”  [*]− “Mấy vạn” − “Trình cha ba vạn mốt…”. Cha lại cuộn tiền cho vào túi. Cha ăn chưa hết bát cơm mà được món bổng những hơn năm vạn, mình vai vác cầy, tay dong trâu, làm hang đá, dựng đèn đại khó nhọc hàng tháng chẳng được xu nào…”

[* tiền tứ kỳ: tiền dùng để cầu nguyện cho linh hồn các người đã qua đời]

 

Thật là một sự bôi bác trắng trợn và “vơ đũa cả nắm” các cha đạo của ông nhà văn. Đã “ấn định” là viết tiểu thuyết với chủ đề “xung đột” nên chẳng riêng gì các cán bộ cốt cán của chính quyền xã như Môn, Nhàn, Thụy… mà ngay chính bản thân nhà văn Nguyễn Khải nhìn đâu cũng thấy “xung đột”, nhìn cái gì cũng thấy “địch phá hoại”.

Năm ấy thôn Hỗ được mùa, “no ăn cho nên thanh niên đua nhau chơi diều sáo….Thanh niên chơi, cán bộ chơi, cả cụ già cũng thả diều…Ông trùm Hoà nói chuyện với Môn, với Nhàn, với các cán bộ của xã: Đấy, nhờ sự lãnh đạo của Uỷ ban, năm nay thôn nhà vui vẻ quá, đàn sáo suốt đêm…”

Chơi diều ở nông thôn là chuyện bình thường, nhưng tác giả cũng có gài cho nó một ẩn ý “chính trị” :

“Thôn xóm đương sầm uất vì việc đạo, vui vẻ phần đời thì vợ Liêu ngồi bán hàng ở chợ Hỗ rỗi mồm kháo chuyện: bây giờ ở dưới đất các ông cán bộ tranh hết phần nói nên dân lại phải làm mồm ở trên giời…”

Thế là lập tức nhiều người phụ hoạ: “Đấy, nghe kỹ mà xem, cái sáo nó cứ kêu: cha ơi…cha ơi…cha ơi….”. Thế rồi một số người xì xào to nhỏ với nhau: “Bây giờ họa cộng sản dâng lên như nước thuỷ triều, không thể đối địch với chúng được, càng cựa càng bị giây pháp luật thít chặt , đành phải nhờ tiếng sáo nó kêu khắp bốn phương may ra có thấu đến Chúa, đến đức Mẹ, đến các cha ở miền Nam không?”

Vậy là giống như đội cải cách trong những đợt “phóng tay phát động quần chúng” vùng lên phát hiện địch và diệt địch, ông nhà văn cũng nghe thấy tiếng nói của bọn “phản động” qua tiếng sáo diều của dân quê.

Sau vụ “sáo diều” rồi  đến vụ làm “nhà nguyện”.

“Cũng nhân dịp năm nay làm ăn xởi lởi nên một vài xóm rục rịch dựng nhà nguyện để sớm tối giáo hữu đến đọc kinh, đỡ phải lên mãi nhà thờ xứ…”. Thông thường, chuyện dựng nhà nguyện chẳng có gì ghê gớm, nhưng ông nhà văn cũng lồng vào đó “âm mưu phá hoại của nhà thờ”.  Thế là nhân dịp ông Chủ tịch xã Môn đi vắng nửa tháng, ông trùm Hoà xin phép bà Phó Chủ tịch Nhàn dựng nhà nguyện. Bà này lý luận:

“Đứng về phía chính quyền mà xét thì việc dựng thêm nhà thờ họ lẻ rất phù hợp với chính sách bảo vệ tín ngưỡng của chính phủ, đứng về mặt đạo thì lại càng nên khuyến khích hơn, nước Chúa có được mở rộng thì mới có thêm nhiều linh hồn được cứu chuộc…”

Thế là bà Phó Chủ tịch Uỷ ban cho phép luôn. “Uỷ ban đồng ý buổi sáng thì buổi chiều họ xóm trại khởi công xây dựng nhà thờ ngay….Văn phòng của ông chánh đốc công xây nhà thờ họ chật ních người đến làm việc phúc đức. Giá thóc chợ Hỗ xuống hẳn vì xóm trại đem thóc đi bán nhiều quá…:”.

Như vậy chứng tỏ việc xây nhà nguyện rất được dân đồng tình và tự nguyện đóng góp. Nhưng rủi cho mấy ông trùm đạo, khi nhà nguyện cất xong, sắp sửa làm lễ khánh thành thì ông Môn, Chủ tịch xã đi công tác về.

Và thế là lại nổ ra một cuộc “xung đột” và được  ông nhà văn mô tả rầm rộ theo tinh thần “một mất một còn”.

Ông Chủ tịch xã Môn đi họp về thì ngôi nhà nguyện đã xây xong rồi không ngăn cản được nữa, nhưng ông gây chuyện bằng cách không cho tổ chức ăn mừng khánh thành và bắt mấy ông trùm đạo mang hết sổ sách lên để ông… kiểm tra.

Rõ ra là ông muốn làm cha thiên hạ, cai quản luôn cả việc đời lẫn “sự đạo”. Trong cuộc họp Uỷ ban, ông thẳng thừng phê bình bà Phó Chủ tịch Nhàn “hữu khuynh” đã cho phép dân xây nhà nguyện:

“Tôi thử hỏi các đồng chí chỉ riêng có một xóm trại xin làm nhà thờ hay là cả miền này, cả tỉnh này đang rục rịch yêu cầu thế? Có phải chỉ sau khi ông Lân nhân danh đức Cha đi kinh lý các xứ mới sinh ra cái chuyện này không? Tại sao các xóm phàn nàn là hồi  này gọi đi họp rất khó. Bây giờ chưa khó lắm đâu, nay mai mà để mỗi xóm lẻ mọc lên một cái nhà thờ hoặc một cái nhà nguyện thì tối đến chỉ đánh chuông đến boong một tiếng là cán bộ ngồi trơ một mình khai hội với bức vách. Đồng chí Nhàn bảo tôi tả, nhưng tôi lại nhận xét đồng chí giải quyết các việc thuộc về tôn giáo rát khờ dại. Cứ giải quyết theo hướng đó thì có ngày uỷ ban đem vợ con lên núi ở…”

Nhưng giải quyết theo hướng của ông Chủ tịch Môn thì chỉ có nước… dẹp đạo. Cấm đoán từ thả diều vì sợ nghe tiếng diều sẽ thành tiếng “cha ơi, cha ơi” đến cấm làm nhà nguyện sợ không còn ai thiết đi họp với cán bộ, không cho ăn mừng khánh thành sợ dân đóng góp cho nhà thờ nhiều quá, cấm đoán vậy cũng chưa thoả lòng, ông Chủ tịch xã còn nhảy xổ vào cầm tay chỉ việc cho nhà thờ sát sạt đến tận từng con cá từng lá rau. Thật không hiểu đức Giáo hoàng Phao-lồ ở Vatican nghĩ sao khi trên đất nước Việt Nam  “độc lập – tự do – hạnh phúc”, ông Chủ tịch xã – chính quyền cơ sở của Nhà nước lại “chỉ đạo” cho nhà thờ:

“…vôi nhà xứ đã có sẵn mười tạ, nay mua thêm hai mươi tạ nữa là vừa đủ, xây hai cổng, xây tường hoa, quét vôi trong nhà thờ. Nhà thương phía sau nhà cô mụ quá dột nát thì sẽ vận động các xóm góp rạ, góp tre lợp độ dăm buổi. Ghế gãy đóng lại, nếu còn thiếu thì đóng thêm. Không nên mua chiếu ngoài rất tốn, chỉ cần mua ít đay ít cói rồi triệu tập thanh nữ, bà già lại đánh đay, đem bàn dệt vào dệt…”

Theo kiểu “tư duy của nhà văn Nguyễn Khải”, ông Chủ tịch xã “thò tay chỉ việc” cho nhà thờ như vậy là Nhà nước “quan tâm” “ưu ái” đối đãi với tôn giáo lắm lắm, thể hiện rõ ràng “chính sách tự do tín ngưỡng” sáng ngời ngời của Đảng và Nhà nước ta!

Than ôi, ông nhà văn đâu có biết một khi nhà thờ bị Nhà nước “quản lý” tới từng “cân vôi”, từng chiếc chiếu, chiếc chân ghế gãy … thì thử hỏi còn đâu là …tự do. Nguy hiểm thay, nếu tiểu thuyết “Xung đột” của nhà văn Nguyễn Khải chẳng may lọt vào tay một chuyên viên phân tích của Toà Thánh La Mã thì bao nhiêu “lời hay ý đẹp” về tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta từ xưa tới nay sẽ vỡ tan tành như bong bóng xà phòng!

Chị Phó Chủ tịch Nhàn là người “mâu thuẫn ý kiến” với Chủ tịch Môn, chị chủ trường cho dân xây nhà nguyện, cho dân “ăn mừng khai trương nhà nguyện”, cứ ngỡ chị đứng về phía bà con giáo dân, ngờ đâu khi bị động chạm tới quyền lực, chị ta cũng nhảy nhổm lên, lộ mặt là kẻ bạo quyền. Nguyên ông trùm đạo mơ hồ về chính trị, phát biểu “ý kiến” theo kiểu “ý thức công dân” trong một đất nước có luật pháp:

“Nói thẳng ra, cứ thế này mãi thì khó ai tin được lời chị nói, khó ai tin được cái uỷ ban này nữa. Dân bầu lên thì dân cũng có quyền truất đi. Không dễ mỗi lúc bỏ tù nhau…”

Đây là niềm tin ngây thơ về thứ quyền công dân hồi Đảng và Chính phủ ta mới “giải phóng hoàn toàn miền Bắc”, họ chưa biết cán bộ chính quyền là do Đảng cử ra, “dân bầu” chỉ là trò giả hiệu và chẳng bao giờ dân có quyền “truất đi” như ông trùm đạo tin tưởng. Bởi vậy mới nghe ông trùm đạo động chạm tới cái ghế của mình, chị Phó Chủ tịch xã đã cảnh giác:

“Bây giờ ông định bàn với tôi về làm nhà thờ họ hay muốn phê bình uỷ ban ?”

Ông trùm họ vẫn “ngây thơ về chính trị” vẫn tưởng mình còn có cái gọi là “quyền công dân” nên vẫn cứng cỏi:

“Chúng tôi là dân, chúng tôi không biết đâu đến sự làm việc của uỷ ban mà phê bình, uỷ ban làm đúng hay sai thì tự xét lấy…”

Thực ra cán bộ công quyền là do dân bầu ra, dân có quyền “phán xét”, có quyền “phê bình”  là chuyện bình thường trong một xã hội dân chủ. Tuy nhiên ở nước Việt Nam những năm 1960 và ngay cả thời Nhà nước đang “hiện đại hoá, công nghiệp hoá” hiện nay thì  chuyện “phê bình”, “nhận xét” cán bộ vẫn là chuyện “mó dế ngựa” bị nó đá tan xác có ngày. Bởi thế khi nghe ông trùm đạo cả gan “phê bình” uỷ ban,  chị Phó Chủ tịch Nhàn vẫn được tiếng là đứng về phía nhân dân cũng trở mặt, nổi xung:

“Từ nay nếu ông bàn với tôi về việc làm nhà thờ họ thì tôi vẫn hết sức nghe ông, nhưng ông lại nói lếu láo, bậy bạ về uỷ ban, gây dư luận không tốt trong nhân dân thì uỷ ban sẽ chiếu theo pháp luật mà giữ ông lại. Ngày xưa cũng thế, bây giờ cũng vẫn thế, đã làm bậy thì dù là cha cụ, là chánh trương, trùm trưởng hay con chiên thường cũng đều phải chịu xét xử như nhau, chẳng nể mặt một ai. Toà Giám mục cũng không can thiệp được vào công việc của chúng tôi, toà thánh La mã cũng không dúng vào được công việc của Uỷ ban. Ông đừng có dọa, tôi phụ trách về tư pháp tôi biết hơn rõ ông ….”

Ghê gớm chưa, “thằng dân” vừa mới lắp bắp định mở miệng “phê bình chính quyền” thì bà Phó Chủ tịch xã đã đao to búa lớn, tới tấp ra đòn đánh dập đầu, đánh “tiêu diệt”, đánh cho đối thủ không kịp trở tay, mang cả Toà Thánh La Mã ra đe nẹt khiến cho “mặt ông trùm đờ ra , môi nhợt trắng như người phạm lỗi bị bắt quả tang…”..

Thế mới biết, quyền lực là thứ “thiêng liêng tối thượng” của Đảng và Nhà nước, xưa đã thế mà nay cũng thế, sau này càng thế,  bất kỳ ai động chạm tới cái món “quốc bảo” đó hãy coi chừng hộc máu mồm. Trong khi khắc hoạ chân dung bà Phó Chủ tịch xã Nhàn ‘trung với Đảng”, hết lòng bảo vệ chính quyền, ông nhà văn Nguyễn Khải vô tình đã làm rớt bộ mặt dân chủ giả hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà cả một bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Đảng và Nhà nước vẫn ra rả cổ động cho nó năm này qua năm khác.

Sau khi đã nạt nộ người dân bằng những lời lẽ hách dịch sặc mùi cảnh sát như vậy, chị Phó Chủ tịch Nhàn lại tỏ vẻ “nhân đức bà Tú Đễ”, trong cuộc họp Uỷ ban, rỏ những giọt nước mắt cá sấu tâm sự với ông Chủ tịch:

“Lạy Chúa, sao tôi lại sinh ra ở cái đất  này! Sao tôi lại là con chiên của Chúa! Tôi không bỏ đạo được mà tôi cũng không thể bỏ hoạt động được. Tôi muốn làm cả hai nhưng không ai để cho tôi được yên thân…”

Đây là những giọt nước mắt, những lời than thở ông nhà văn bịa tạc đặt vào mắt vào miệng nhân vật cho nó có vẻ “phong phú và đa dạng” vậy thôi. Thực chất những cán bộ ‘trung kiên của Đảng” như Môn, như Nhàn…đều là những con chiên ghẻ, bán Chúa theo cộng sản, họ còn chưa bỏ đạo chính là vì muốn ở lại đạo để làm một thứ mật vụ theo dõi nhất cử nhất động của nhà thờ để mà tăng cường các biện pháp quản lý đó thôi chứ chẳng “sụt sùi nghĩ ngợi” như ông nhà văn cài đặt vào tính cách bà Phó Chủ tịch xã một cách sống sượng thế đâu. Ông lại còn cho bà Phó Chủ tịch bật khóc:

“Rồi Nhàn bật khóc thành tiếng:

“Tôi theo Chúa, tôi theo Chính phủ, tôi theo cả hai mà không được sao? Ôi, lạy chúa. Con cho họ miếng bánh nhưng họ đã ném đá trả lại, con đến với họ với tấm lòng nhân từ của mẹ, nhưng họ lại đối đãi với con như kẻ thù…”

Kìm kẹp, thắt buộc, bắt giữ người dân như thế mà dám bảo là “cho họ miếng bánh”, là “đến với họ với tấm lòng nhân từ của mẹ”, còn thằng dân mới chỉ “em xin phê bình cán bộ” vậy mà đã la làng lên “họ ném đá trả lại” thì  rõ thật là “gái đĩ già mồm” theo lối nói của các cụ ta ngày xưa…

Nếu như “Xung đột” phần 1 (viết năm 1956) khép lại những cuộc “xung đột” giữa chính quyền và giáo hội thì “Xung đột” phần 2 (viết năm 1961) mở ra những “xung đột” giữa con người với “lợi ích vật chất”, tiền bạc.

Trước hết là cha Thuyết, người cha linh hồn của cả giáo phận, được Nhà nước “quan tâm” cho đi mổ lấy sỏi mật, bỗng dưng biến thành một người ca ngợi “miếng ăn, miếng uống” sặc mùi “ơn Đảng, ơn cụ Hồ”.

Ta hãy nghe đấng chăn chiên “hồ hởi  phấn khởi” bốc thơm bệnh viện Nhà nước:

“Ôi chao, quý hoá quá sức mình, cao trọng quá đỗi. Cái nhà thương rộng dễ đến một xóm của ta, cao ngân ngất như đền thánh đức Mẹ ở Phú Nhai vậy …”

Rồi cha khoe cha được “ưu tiên” hơn cả cán bộ xã:

“Này, thằng Thụy, con  Nhàn có ốm cũng chưa dễ đã được vào chỗ tôi nằm đâu. Lúc đầu tao cũng chẳng tin gì vào cái khoa mổ xẻ, còn chần chừ lắm. Nhưng chính phủ đã bỏ công, bỏ tiền xây dựng một toà nhà to như vậy, nuôi hàng trăm ông bác sĩ thì tao chắc họ làm phải giỏi…”

Mổ bụng vậy mà cha …không được đánh thuốc mê hay sao mà cha một tấc đến trời:

“Lưỡi dao họ lách vào đến đâu tai tao nghe rõ đến đó, nhưng chẳng đau đớn gì sốt. Để tôi lấy bà lão xem cái vật quý này. – Cha chạy vào mở tráp cầm ra một cái gạc bông . Bà đã thấy chưa, lúc họ mới đưa tôi để làm kỷ niệm nó to bằng ngón tay cái sờ rắn như đá sỏi. Nó nằm trong bầu mật dễ đã hàng chục năm nay, cái cơn đau vừa rồi mà ở nhà quê chắc là chết….”

Rồi cha bầy tỏ tình cảm của mình với cái nhà thương mà Nhà nước đã cho cha nằm:

“Một tháng ở đấy thanh nhàn vui sướng chẳng nói được, toại lòng phỉ chí đến không muốn ra về nữa…”

Đến cái cách cha ca ngợi “miếng ăn hàng ngày” mới thật thảm hại:

“Cha cười  ầm ầm:

“Min ăn suốt ngày, thật như con trẻ, bốn bữa, năm bữa, mỗi bữa ăn một vực cơm đầy. Bây giờ thì min có thể sống thêm được vài chục năm nữa…”

Được Nhà nước cho chút “bổng  lộc”, cha trở giọng chửi bới cha Lân ở Toà Giám mục vốn là người đang bị chính quyền nghi ngờ kích động giáo dân:

“Tao cứ trông thấy thằng Lân ở đâu là chỉ muốn lánh mặt. Nó chỉ đem phiền muộn đến cho mình. Muốn an nhàn một chút cũng chẳng được. Cái thứ ấy chẳng liên quan gì tới tao, tao là đấng chăn chiên thì chỉ biết vâng theo lệnh bề trên thôi…”

Cha nói vậy thôi, ngay với đức bề trên trực tiếp là cha Tuệ, giám quản địa phận Bái, cha cũng giở giọng bóng gió độc ác nói với ông Thường trực Uỷ ban xã:

“Tao thấy ở đời này lắm  người có đạo mà lại hay bỏ vạ cáo  gian, đức hạnh nết na chả có, lòng đầy rẫy những sự ghen tuông, hờn giận, oán thù. Mặc áo thầy tu mà trong lòng thì dữ tợn quá con quỷ…”

Sau khi đặt vào miệng cha những lời bôi xấu cha bề trên cay độc đến mức độ khó tin, nhà văn Nguyễn Khải lại khoác thêm cho cha cái tội “tố giác” cha giám quản  Phạm Ngọc Tuệ hoạt động chống Nhà nước:

“Ông Tuệ có ý mời các cha trong địa phận về Bái họp, áng chừng muốn dùng số đông khiếu nại lên chính phủ…”

Và cha bầy tỏ lòng quy thuận với nhà cầm quyền:

“Nhưng bây giờ thì tao mặc, tao cũng có nói với lão Lân rằng: ở Toà Giám đã có đức giám quản sáng suốt khôn cùng, đã có cha chánh xứ, cha cố vấn, hội đồng tư vấn gồm toàn những con người khôn ngoan rất mực thì còn cần gì đến những thằng già lẩm cẩm chỉ biết giảng kinh, giải tội cho con chiên, chỉ biết chú mục làm việc Chúa cho danh Cha cả sáng…”

Rồi cha còn làm cái việc phản phúc là nộp cho nhà cầm quyền cái thư của cha Giám quản gửi cho cha trong đó đầy những lời bóng gió:

“Trong cuộc giao tranh thiêng liêng để chiếm nước thiên đàng, đạo binh hùng dũng nhất là đạo binh cầm tràng hạt Mân Côi chứ không phải là khí giới cầm tay…”

Than ôi, chẳng lẽ Nhà nước mới chỉ bố thí cho chút lộc đi chữa bệnh một chuyến mà cha đã bán linh hồn cho quỷ dữ, ca ngợi kẻ cầm quyền và tố cáo cả người trong giáo hội mình sao?

Quả thực, trong việc vu cáo và bôi xấu linh mục, giải nhất “cây bút vàng” phải giành cho nhà văn Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Xung đột 2.

Sau cha Thuyết, đến lượt chính “đồng chí” Thụy, thường trực Uỷ ban xã sa ngã vì bả vật chất. Bị cha Thuyết mồi chài, thuyết phục, ông Uỷ viên thường trực xã lao vào xây dựng nghĩa trang bằng tiền của nhà thờ và tất nhiên qua đó ông cũng làm cái việc ăn bớt ăn xén,  “moi ruột công trình” như thời bây giờ.

“ Rồi cha móc túi lấy ra một cuộn bạc chẳng cần đếm là bao nhiêu đưa cho Thụy. Từ đấy Thụy là người cai quản hết thảy mọi việc… qua mỗi việc Thụy lại lên trình bẩm với cha và lần nào về cũng đưa cho vợ hàng gói bạc…”

Thế là ông cán bộ uỷ ban bắt đầu dấn sâu vào việc “ăn tiền” của nhà thờ:

“Mấy lần đầu do còn ngượng ngập, chưa quen cái việc cầm tiền của  người khác nên Thụy tỏ ra hết sức sòng phẳng vừa để cho ông cha biết anh vẫn giữ được  tấm lòng trong sạch của một cán bộ vừa để an ủi lương tâm mình không bị đồng tiền trói buộc. …”

Nhưng cái việc “giữ tấm lòng trong sạch của cán bộ” chẳng kéo dài được bao lâu. “Đáng lý chỉ cần một trăm thì cha lại vứt ra một trăm rưởi. Cái con số lẻ ấy mới đầu như chênh vênh nhưng dần dần nó đã tìm được  chỗ đứng vững chắc…”. Thế là  ông cán bộ thường trực Uỷ ban dần dà bị mua đứt. Từ nay hàng ngày, trên mâm cơm nhà ông không chỉ là “rau muống luộc chấm nước cáy” nữa, “vợ Thụy đã phải lăn xuống bếp: hôm giết con gà, hôm đánh bát tiết canh vịt, rồi nào lòng xào, lòng nấu miến, khúc cá rán, khúc nấu riêu, rau muống cũng phải xào đẫm mỡ…”

Từ đó cách sống nhà ông thường trực uỷ ban thay đổi hẳn, “toàn một giọng hỉ hả, đài các, toàn những chuyện may sắm, lựa chọn cái này cái nọ, tính toán giá gỗ đóng giường, giá vải hoa làm màn che, cái phích đựng nước nóng, bộ ấm pha trà…”

Kể ra so với các quan tham bây giờ, cái “sự ăn” của Thụy, thường trực Uỷ ban thấy quả thực là…tội nghiệp, không bằng một anh phó thường dân ngày nay, nhưng đối với thời đó, mức sống như Thụy đã là “tư sản hoá” rồi. Từ chỗ thay đổi mức sống, Thụy dần dà biến đổi cả tính cách:

“Cái không khí tâng bốc, phỉnh nịnh càng bao vây anh thì tính kiêu ngạo, tự mãn càng choán mọi hành động, ý nghĩ của anh. Anh độc đoán trong mọi ý kiến, người khác chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối. Và nếu kẻ nào tỏ vẻ ngang bướng, cứng cổ thì không ngần ngại gì  anh tìm cách ghép họ là chân tay của bọn phản động đã bị đánh gục trong sửa sai nay lại muốn ngóc đầu trỗi dậy…”

Hoá ra từ thời đó đã manh nha một loại người mới xuất hiện sau cách mạng: “cán bộ”. Tham lam tiền bạc, khăng khăng giữ ghế và sẵn sàng hạ độc thủ với bất kỳ ai động chạm tới cái ghế của họ. Hình ảnh ông Thường trực Uỷ ban xã đúng là chân dung bậc tiền bối của quan chức các cấp thời bây giờ. Có điều, ông nhà văn chỉ dám dựng nhân vật đó như một trường hợp cá biệt, một “con sâu làm rầu nồi canh”,  còn tuyệt đại đa số cán bộ ta vẫn chí công vô tư, hết lòng vì nước vì dân! Và ông nhà văn tin tưởng sắt  đá rằng loại “cán bộ tiêu cực” như Thụy nhất định sẽ bị đào thải:

“Hơn nửa năm nay …Thụy không còn được đảng viên trong chi bộ tín nhiệm nữa. Kỳ bầu ban chi uỷ vừa qua, Thụy chỉ được vỏn vẹn có hai phiếu, một lá của Môn và một nữa chắc do Thụy viết…”

Ông nhà văn tuyệt nhiên không dám lộ hé rằng loại cán bộ như Thụy mới chính là “nhân vật thời đại” của Đảng ta. Nó như một thứ ký sinh trùng ngày càng sinh sôi nảy nở, hằng hà sa số, sống bám trên cơ thể dân tộc, đục khoét, ăn cắp từ tiền bạc, địa vị xã hội tới tài nguyên, môi trường, phá hoại những di sản quá khứ và làm băng hoại những giá trị tinh thần và đạo đức xã hội.

 

Sau khi tiến hành xong công cuộc cải cách ruộng đất, phá tan hoang nền tảng đạo lý cổ truyền ở làng quê Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 1960, Đảng và Nhà nước lại rầm rộ phát động một cuộc cách mạng tiếp theo: công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp mà hơn 20 năm sau đó nó đã phá huỷ gần hết năng lực canh tác trên ruộng đồng.

Tuy nhiên phải đợi tới năm 1986, tính chất phá hoại của nó đã rõ rành rành, cái chết do nó gây ra đã tới sau lưng, Đảng mới ngấm ngầm xoá bỏ nó bằng việc trả lại ruộng đất cho dân và giải tán các hợp tác xã nông nghiệp.

Sự sụp đổ của công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp đã kéo theo cái chết hàng loạt những tác phẩm của các nhà văn lừng lẫy một thời: “Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm” của Đào Vũ, “Đất làng” của Nguyễn Thị Ngọc Tú và cả “Xung đột” ( tập 2) của Nguyễn Khải…. Bao nhiêu thành tích, bao nhiêu tính ưu việt, bao nhiêu sự đổi thay tích cực của bộ mặt nông thôn, bao nhiêu sự đổi đời sung sướng  của người nông dân được các nhà văn tô vẽ, tâng bốc lên mây xanh bỗng chốc tan tành ra sương khói bới cái nghị quyết “khoán sản phẩm” của Đảng − thực chất là sự cáo chung cho “lề lối làm ăn tập thể”, cho “hợp tác xã nông nghiệp” mà suốt mấy chục năm đám bồi bút ra sức tô vẽ.

Trong “Xung đột” phần II, “vào ngày lễ mở đầu tháng đức Mẹ  cũng là ngày thứ ba của cuộc “vận động hợp tác hoá” sôi nổi, rầm rộ suốt tám xóm trong xã. Mỗi xóm thành lập một ban vận động gồm những người trong ban quản trị hợp tác xã cũ, đội trưởng đội sản xuất và một vài người mới nữa. Tiếng trống, tiếng loa nổi lên từ lúc chuông nhất và chỉ tắt đi vào khoảng gần nửa đêm…”

Chống đối lại cuộc vận động đó, theo ông nhà văn, tất nhiên chỉ có…nhà thờ:

“Tiếng loa của đức chúa Trời và lời giảng hùng hồn của cha Lân” đối lập với “tiếng trống của người thế gian và lời lẽ vận động đầy sức thuyết phục của cán bộ xã” làm cho “cuộc sống ở thôn Hỗ cứ náo động suốt đêm ngày. Không có tiếng súng nổ nhưng tâm trạng con người thì giống hệt như trong một trận chiến đấu. Cũng có những người kiên quyết và những kẻ dao động, tin tưởng và bi quan, phẫn nộ và bình tĩnh…”

Đó là cuộc chiến tranh được ông nhà văn “tô vẽ” giữa “nhà thờ” và chính quyền cộng sản đại diện là mấy ông cán bộ xã. “Tiếng loa của đức chúa trời” chẳng thấy đâu nhưng đây là lời giảng của cha:

“Hiện nay ma quỷ đang dùng thóc gạo làm chước độc để mê hoặc linh hồn các con. Song các con hãy nhớ lời Chúa đã từng phán tỏ tường rằng: bay lo ngày mai mà làm chi, đến ngày mai sẽ hay, bởi chưng sự khốn khó ngày nào đã đủ cho ngày ấy…”

không những chẳng lọt  được vào tai giáo dân :

“không nói đâu xa xem như vợ chống thằng Quảng kìa, chồng vay hợp tác xã được mấy chục cân thóc gánh về, vợ đã mặc áo ra nhà thờ thấy thóc cởi cả áo ra, chồng xay vợ sàng hì hụi từ chập tối đến nửa đêm, vừa làm vừa đùa bỡn nhau dễ còn vui hơn cả lễ Phục Sinh…”

mà còn bị bôi bác :

“Ấy vậy mà cha mới nói là ma quỷ dùng thóc gạo cám dỗ nên người thế gian mới bỏ cả đức tin, bỏ cả Chúa…”

Vậy là “cha” thua một cách dễ dàng, nông dân ào ào nộp đơn vào hợp tác xã. Ông nhà văn diễn tả một ông bố sai con viết đơn với nhiệt tình và lòng thành kính  như viết đơn cho Chúa Giê-xu xin lên … thiên đàng:

“Vui, này lấy giấy bút ra đây tao muốn nhờ mày một việc…”

Cô con gái lấy ra tờ giấy có vệt mực lem luốc, lập tức bị ông bố mắng:

“Mày coi khinh bố mày thế hả con, không nỡ cho bố một tờ giấy đẹp đẽ ư? Đã dùng vào việc cao trọng thì chớ lấy những thứ dơ dáy…”

Rồi ông quay sang vợ:

“Cả đời chỉ có một lần. Bà hiểu cái việc tôi nói là việc gì rồi chứ?”

và lệnh cho con:

“Lấy vạt áo lau sạch cái ngòi bút đi thì nét nó mới thanh được. Bắt đầu như thế nào nhỉ? Việt Nam dân chủ cộng hoà… năm thứ mười lăm…”

Trong thực tế, lùa được nông dân vào hợp tác xã là một việc phải thúc ép, cưỡng chế; vậy mà ông nhà văn “tâng” lên thành một thứ ý nguyện thiết tha của người dân làng thì đủ hiểu ông đã bồi bút đến mức nào. Ông còn “mượn mồm” một bà nhà quê để ca ngợi cái ưu việt của lề lối “làm ăn tập thể”:

“ Như nhà tôi chỉ riêng khoán cày khoán bừa hai mẫu cũng mất đứt hai chục thóc rồi. Cái trò đem trâu cày ruộng nhà người đến mùa lấy thóc thì làm kỹ sao được… Còn vụ vừa rồi ai cày ai bừa mặc ai, chị em chúng tôi cứ ra công cấy, làm chung ăn chung, anh làm dối thì cái cót thóc của anh cũng ít…”

Ca ngợi “làm chung ăn chung” như vậy, ông nhà văn đâu có biết  cái kiểu “tập thể hoá” đó khác gì “cha chung không ai khóc” khiến đồng ruộng bỏ hoang, mùa màng thất bát, rốt cuộc khiến Đảng lại phải giải tán “làm chung” trả ruộng đất về cho ai nấy làm. Ngày đó chắc ông nhà văn chưa nhận ra điều đó hoặc đã nhận ra rồi mà ông vẫn giả ngu, vẫn ca ngợi nhiệt tình xin vào hợp tác xã của bà nông dân này:

“Tôi chẳng gì cũng nhiều tuổi hơn các chị, cái khổ cái sướng đã trải qua, trước khi vào hợp tác xã tôi cũng tính toán chán, nếu không có lợi thì tôi vào đầu làm gì… Lạy Chúa, từ ngày biết làm người tới giò, chỉ có mỗi vụ chiêm vừa rồi vào hợp tác tôi mới nhàn nhàn cái thân chút ít…”

Tất nhiên không phải ai cũng hồ hởi phấn khởi xin vào hợp tác xã như vậy, cũng có người lừng khừng, đắn  đo để rồi đến lúc:

“Không vào cũng chẳng được, họ vác trống vác loa đến tận đầu nhà kể lể, than vãn nghe nẫu cả ruột chứ dễ được yên ư ? Hết tốp cán bộ này ra, lại đến tốp khác nối chân vào. Ngồi tiếp chuyện các ông ấy thì mất ngày mất buổi, lánh mặt lại sợ họ bảo mình có ý tứ gì…”

Vậy là cả làng cả tổng đều “tiến bộ”, đều trở thành xã viên hợp tác xã cả chỉ trừ ra có mỗi … ông linh mục, người chăn dắt con chiên  khiến bà con phải phàn nàn:

“Ông Tam ạ, tôi xem ra các cha mà tiến bộ được như mình thật là khó. Mình theo chế độ mới nào có mất gì, chỉ được thôi, còn các ông ấy mà theo ta thì túi tiền vơi đi quá nửa…”

Thế rồi ông nhà văn “lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử”, lấy “cái tâm lúc nào cũng lo ăn” để phân tích các cha tinh thần:

“Tôi tính cho các ông các bà nghe nhá. Trước kia ở tổng này có ba chục thằng địa chủ, đứa nào hàng năm chẳng có mấy ngày giỗ kỵ cha mẹ, tổ tiên, lại sửa một mâm chén, tiền lễ đưa cha để cha cầu nguyện cho. Vậy là một món. Nhà nào có cha già mẹ héo cũng phải cố thu xếp mời bằng được cha đến làm phúc, cơm ăn rồi còn tiền đưa tận tay cho cha cầm về. Một năm một lần làm lễ kỳ hồn cho cả xứ, gia đình nào cũng phải đưa tiền, neo túng thì hai ba đồng, sang trọng thì từ một trăm trở lên. Ba món nhé !…Chả trách người ta đồn vàng ở Toà thánh còn nhiều hơn cả thế gian gộp lại…”

Nhìn nhận về Thiên chúa giáo như vậy, quả thực ông nhà văn Nguyễn Khải xứng đáng là người… “duy vật”. Chỉ có điều tới ngày nay nếu có dịp đọc lại tác phẩm của mình, hẳn ông nhà văn phải cay đắng thừa nhận rằng cái “hợp tác xã nông nghiệp” mà ông hết lòng ca ngợi nhiệt liệt đã sụp đổ từ tám đời, nay chỉ còn là cái “bia miệng” cho thiên hạ chê cười, còn cái nhà thờ thiên chúa mà ông ra sức bôi bác, xỏ xiên vẫn cứ đứng lừng lững mà xem ra mỗi ngày cái “sự đạo” lại càng thêm tưng bừng náo nhiệt.

 

Tuy mang nặng thiên kiến do những cặp kính “tính Đảng”,“tính dân tộc” che kín mắt, nhưng đọc kỹ “Xung đột” của Nguyễn Khải người ta cũng có thể lọc ra ít nhiều chi tiết mang dấu ấn của cái thời đại “hợp tác hoá nông nghiệp” kinh hoàng đó. Vợ chồng nhà Lận trong làng có con trâu sẽ phải đưa vào hợp tác xã nhưng được hoá giá quá rẻ nên tự mổ thịt bán cho bà con trong xóm.

Ở một nước dân chủ, quyền tư hữu được bảo hộ thì đó là chuyện quá thường tình. Nhưng trong thời hợp tác hoá thì đó là tội ác tày đình và chỉ tiến hành được một cách lén lút ngoài bờ đê trong lúc ông Môn, Chủ tịch xã đi vắng. Trong số những người chạy ra đám mổ trâu mua về xâu thịt có ông Phó Chủ nhiệm Tam mà vì “đến mấy tháng nay mâm cơm không có được miếng thịt “ nên “đụng vài cân cho trẻ nó xởi lởi”.

Thịt trâu ăn vào bụng cả nhà rồi chẳng ngờ ông Môn, Chủ tịch xã đi họp về biết chuyện, mắng xa xả:

“Con trâu khoẻ mạnh thế mà nỡ giật ngửa ra ở rìa đê mổ thịt. Thàng Minh gộc pha thịt, thằng Long chọc tiết. Phen này ông cho cả lũ đi tù, chúng nó định làm loạn à ?”

Ghê gớm chưa? Người  dân ăn có miếng thịt trâu của chính mình mà ông Chủ tịch xã đã doạ “cho cả lũ đi tù” thì hoá ra ở cái xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt này, con người ta lúc nào cũng sẵn sàng…đi tù. Riêng ông Phó Chủ nhiệm Tam, là cán bộ, trót dại vì thương con cái thèm thịt mua về một xâu, ông vừa lo bị Chủ tịch xã dằn vặt, vừa lo “mất uy tín” “hàng trăm cặp mắt chế giễu, căm giận, hàng nghìn lời nói đay nghiến, chì chiết sẽ bao vây lấy anh, tấn công anh và kẻ bị hành hình đã đành không thể sống nổi cũng không chết ngay được …”.

Ôi chao ôi, xã hội gì kỳ quặc, ăn có miếng thịt trâu mua bằng chính đồng tiền của mình mà ông Phó Chủ nhiệm Tam phải điêu đứng thế đến nỗi ông phải than trời :

” Ôi, tủi nhục quá, cay chua quá và dại dột không biết chừng nào… Đằng nào thì trong ngày hôm nay địa vị của anh cũng sẽ thay đổi. Anh sẽ được nghe những tiếng hò reo gian ác, khoái trá của Đoàn và đồng bọn: Tưởng gì, hoá ra cũng là một anh đạo đức giả.

Và Tam quay mặt đi khóc nức nở…”

Muốn khóc gì thì khóc, trót ăn miếng thịt trâu rồi, ông Phó Chủ nhiệm sẽ bị đưa ra đại hội xã viên xem xét và bị Chủ tịch xã Môn chửi xơi xơi vào mặt:

“Anh không xứng đáng, anh phụ lòng tin cậy của tôi, của cả chi bộ. Thằng địch có đâm tôi một nhát dao vào giữa ngực cũng không đau đớn bằng cướp đi của tôi một người bạn. Thế là anh đã chết rồi, phải coi như là anh đã chết rồi. Biết vậy mà không sao cứu được  nữa…”

Ôi chao ôi, từ cổ chí kim, trên khắp mặt địa cầu này, có lẽ chẳng ở đâu chỉ vì bỏ tiền túi ra mua một miếng thịt trâu bỏ miệng mà bị rủa xả nhục nhã, coi như đã chết rồi đến như vậy. Chỉ nguyên cái chuyện “thịt trâu mổ lậu” này, Nguyễn Khải đã “vô tình” lột trần cái tính chất phi nhân văn trong quan hệ giữa các đồng chí cán bộ đảng viên với nhau. Bởi vậy dân gian thường nói không phải vì “thân yêu nhau chúng ta gọi đồng chí”, mà chính là khi sắp sửa sát phạt nhau nảy lửa trong hội nghị, các cán bộ đảng viên mới dùng hai chữ “đồng chí” để đưa nhau lên thớt mà thôi.

Phó Chủ nhiệm ăn thịt trâu bị xử nặng thế, tất nhiên vợ chồng Lận, thủ phạm chính trong vụ giết trâu của mình, tội còn lớn gấp bội.  Từ sáng sớm còn nhọ mặt người, ông Chủ tịch xã Môn đã cho đánh trống họp ban quản trị và kế toán trưởng hợp tác để xử vụ giết trâu. Vợ chồng Lận được kêu đến. Người đàn bà khốn khổ không dám đứng chỉ “lom khom nhìn ngó xung quanh rồi lại thụp xuống ngay” rồi  thưa gửi :

“Thưa với chư ông trong nhà túng bấn quá nên tôi cũng có chót bán đi lấy ít tiền để trang trải công nợ ạ….”

“ Bà bán trâu, tậu nghé, mưu mẹo lắm …”

Và cuộc hỏi cung diễn ra với những câu hỏi như quan toà với tội phạm: “bán cho nhà ai ? ở đâu ? Trong việc bán trâu này ông bà có bàn tính với nhau không …?”

Hỏi xong vợ rồi hỏi đến chồng. Anh chồng bí quá đổ thừa cho vợ tự ý bán trâu làm bà vợ ông Chủ tịch xã phải nói chen:

“Thế ra quyền bà ấy lại to hơn cả ông à ?”

Vậy là bà vợ ông Chủ tịch xã không chỉ “dắt mũi” ông chồng khi ở nhà mà còn ra cả “công đường” phụ với chồng xử tội người khác. Sau cùng ông Chủ tịch xã luận tội “bán trâu” :

“ Việc bán con trâu nhà ông, dù có vợ bán hay chồng bán cũng mặc, dứt khoát là phạm pháp. Tư pháp sẽ có trách nhiệm xét xử việc này…”

Và chẳng cần chờ tới khi “tư pháp” xét xử, ông Chủ tịch Uỷ ban xã quyết định luôn:

“Còn con nghé hiện nay ông mới mua uỷ ban sẽ quản lý…”

Gọi là “quản lý” nhưng thực chất Uỷ ban đã cướp trắng tài sản của thằng dân đen khiến nó phẫn uất:

“Cứ việc. Chính quyền có tịch thu tôi cũng không dám kêu ca gì. Xưa nay bị cướp bóc đã nhiều chứ chẳng phải mới có lần này…Đ…mẹ cả đứa mua lẫn đứa bán đều là dại cả. Xin chào chư ông thôi ạ. Thế bao giờ ông Chủ tịch cho người sang dắt nghé tôi đây ?”

Một phiên “xử án” tịch thu tài sản của đương sự còn tệ hại hơn lý trưởng,  chánh tổng ngày xưa trong đó “phu nhân của quan lớn” cũng nhảy bổ vào để kết án thằng dân.

Vậy là trong một xã mọi quyền sinh sát, mọi việc lớn nhỏ từ miếng ăn cho tới việc làm, mọi số phận người dân  đều nằm trong tay duy nhất một người: ông Chủ tịch xã. Để thực thi cái trách nhiệm quá nặng nề ảnh hưởng trực tiếp tới cả mấy ngàn con người như thế, ông Chủ Chủ tịch xã Môn là người thế nào?

Thật đáng lo ngại làm sao, ngoài lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, nắm thật vững và thi hành thật mù quáng mọi chủ trương đường lối của Nhà nước, ông Chủ tịch này mù tịt về mọi kiến thức khiến có lúc ông có những câu hỏi thật ẩm ương khi nghe nói chuyện về tên lửa của Liên Xô đã được phóng lên trời:

“Tôi còn thắc mắc một điều là ví như cái tên lửa nếu nó bay được cao nữa thì có chạm phải nền trời không ?”

Khi được giải thích cặn kẽ, ông vẫn còn chưa thông:

“Vậy cái tên lửa nó bay mãi như thế mà không vướng núi ư? Đến một đoạn nào đó tất cũng phải rơi xuống chứ ?”

Khi được nghe giải thích: “trái đất mình ở nó tròn như quả cam, quả bưởi lơ lơ lửng lửng giữa không gian chứ có bám víu vào đâu đâu. Còn tên lửa là bay vòng bên ngoài kia…”

Vậy mà ông Chủ tịch xã vẫn chưa hiểu:

“Rắc rối nhỉ. Mỗi tuổi mỗi nghe thêm nhiều chuyện lạ. Kể cũng hay…”

Hoá ra trình độ hiểu biết của ông Chủ tịch xã vẫn thuộc vào thời… ông Copernic phải lên giàn hoả vì ông cho rằng “trái đất nó quay”. Với trình độ như vậy người ta thấy rõ các ông cán bộ cách mạng có thể quản lý và bóp nghẹt mọi hoạt động tâm linh của nhà thờ, có thể cướp ruộng, cướp nghé của người dân vô tội, có thể đưa ra Toà kết án kẻ làm thịt trâu của chính mình. Những việc đó họ làm thật xuất sắc vì chẳng cần dùng gì tới những kiến thức phổ thông của nhân loại.

Tuy nhiên họ không thể làm cho cánh đồng tăng năng suất lúa, đàn gia súc tăng trưởng nhanh bởi lẽ họ mù tịt về khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại. Trong lúc thế giới đang phát triển như vũ bão về phát minh, phát kiến, về cuộc cách mạng xanh, thay vì mở toang cửa đón nhận mọi thành tựu nhằm nâng cao phúc lợi, cải thiện đời sống người dân, họ lại đóng cửa xua mọi người vào cuộc tranh giành, đấu tranh  giai cấp gây nên những tổn hại không sao kể xiết. Sau khi giành chính quyền, họ giỏi chia chác lại phần bánh trong đó giành cho người cầm cày phần tối thiểu khỏi chết đói chứ tuyệt nhiên họ không đủ đầu óc và nhiệt tình động viên tất cả mọi người làm cho miếng bánh ấy lớn thêm để phần bánh của mỗi người được to ra. Đó quả thực là cái thông điệp toát ra một cách khách quan, ngoài ý muốn của nhà văn Nguyễn Khải qua tiểu thuyết “Xung đột”.

 

Với bà con xã viên trong làng, mấy ông chính quyền còn thắt buộc thế, vậy  đối với “nhà thờ”, tất nhiên phải coi như…kẻ thù của nhân dân, luôn luôn âm mưu phá hoại chính quyền. Ông Môn, Chủ tịch xã, coi  cha xứ Thuyết là “tinh khôn quá kẻ cướp”  và lên mặt:

“Tôi biết thừa mấy tay linh mục chỉ hay mè nheo với cấp tỉnh vì các ông ấy phải giữ đúng chính sách mà, còn ở xã ấy à, một phép…”

Vậy là tay Chủ tịch xã này vô tình đã lật tẩy cái tự do tín ngưỡng giả hiệu của Nhà nước – chỉ cần tỏ vẻ “tôn trọng” tôn giáo ở cấp tỉnh thôi, còn ở dưới cấp xã thì tha hồ chèn ép. Chính vì thế gã mới khoe khoang:

“Ngay như tay Vinh tự xưng là thánh Tô-ma thời nay vậy mà mỗi lần gọi ra uỷ ban mặt cắt không còn hột máu …”

Chính phủ trung ương chỉ đạo chính quyền cấp xã thế nào mà các linh mục mỗi lần bị gọi ra Uỷ ban đều phải  run sợ thế ? Một tay chót bét trong bộ máy chính quyền cũng có thể mắng sa sả vào mặt các nhà tu hành về chuyện chủng viện đào tạo thầy dòng:

“Tôi có lần đã nói thẳng với ông Thuyết ở đây: các ông đừng có lập lờ, chỉ bịp được các con chiên ngu dốt chứ cán bộ chúng tôi thì nhìn thấy tận cuống ruột các ông, chủng viện gì, trường đào tạo gián điệp đấy thôi…” 

Tất nhiên cấp trên phải rỉ tai về chính sách ngầm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo thế nào nên tay cán bộ cấp xã mới dám “công xúc tu sĩ” ngay giữa công đường:

“Trường gián điệp (tức chủng viện) ngay giữa miền Bắc này, chẳng những không ai dám đả động đến nó mà còn phải cấp cả gạo ăn, than đốt, giấy bút học, thỉnh thoảng lại còn văn công, xi-nê để giải trí nữa…”

Nếu “chủng viện” đúng như vậy thì chắc chắn đó là “trường quốc doanh đào tạo cán bộ tôn giáo vận” đội lốt chủng viện. Chắc ông Chủ tịch xã “ngây thơ” không hiểu được điều cơ mật đó, nên cứ ra rả mắng mỏ học sinh chủng viện:

“Mấy đứa người  xã này đi học ở Bái tôi biết, khi đi chúng nó nết na, hiền lành thế, học được một  hai năm về thăm nhà mặt mũi đã nhâng nháo như kẻ cướp, ăn nói hỗn xược, toàn xui gia đình phá chính sách, có đứa mang cả tài liệu chống cộng về phân phát trong xóm…”

Sự thực trong lòng xã hội miền Bắc những năm 1960 không khí khủng bố khét lẹt, làm gì có chuyện mấy đứa học sinh dám mang “tài liệu chống cộng về phân phát trong xóm”. Trong thời kỳ này, một anh cán bộ Đài phát thanh trung ương chỉ mới làm đùa hai câu thơ vui :

“Tiến lên ta quyết tiến lên

Tiến lên ta gọi cấp trên bằng…thằng”

Chỉ mới “đùa vui” vậy thôi mà đã bị công an xích tay đưa đi cải tạo liền, huống hồ “phân phát tài liệu chống cộng trong xóm” thì tội đáng… lăng trì, xử trảm, ai mà dám to gan thế? Xem vậy đủ biết Chủ tịch xã Môn đã vu cáo cho nhà thờ trắng trợn đến đâu. Gã còn trắng trợn quy kết:

“Mình là hàng cha chú chúng nó, có đến chơi thì giương mắt đứng nhìn, hằn thù cán bộ còn hơn cả quân Pháp ngày xưa. Mới mười bốn mười lăm tuổi đã thành phản động con cả, nữa là để chúng nó dạy dỗ nhau năm mười năm nữa…”

Một ông cán bộ mặt trận tỉnh tên Mẫn được phái về tăng cường cho xã lẽ ra phải uốn nắn cho Chủ tịch xã thái độ ứng phó với nhà thờ sao cho kín đáo uyển chuyển hơn, đằng này lại phụ hoạ với Chủ tịch xã Môn, hung hăng  không  kém trong thái độ thù ghét  nhà thờ. Ông cán bộ tỉnh nhận xét về các linh mục thật coi người bằng nửa con mắt:

“Bọn ấy tuy chẳng tài ba gì, trước sau vẫn một ngón võ nấp sau lưng con chiên thôi, nhưng đừng tưởng họ ít thủ đoạn đâu nhé. Đức Giám quản vừa cho cánh mình một vố khá ngọt đây…”

Tưởng “vố” gì ghê gớm, hoá ra chỉ là lời  đùa bỡn của linh mục Tuệ với cán bộ Mẫn:

“Tôi sinh đúng vào năm cách mạng tháng Mười, đến cách mạng tháng Tám thì được  truyền chức linh mục, hoà bình lập lại làm Giám quản địa phận. Đời tôi thế là dính liền với cách mạng đấy  nhé…”

Cán bộ rủa xả, nhục  mạ linh mục thì không sao, ngược lại linh mục chỉ nói giỡn vài câu với cán bộ đã bị coi là … khiêu khích cách mạng!

Thực ra cái số cán bộ thù ghét nhà thờ “ghi xương khắc cốt” kiểu như Chủ tịch xã Môn với cán bộ Mặt trận Mẫn là hiếm có; bởi lẽ chính họ cũng từ giáo dân mà ra, vợ con, bố mẹ họ vẫn là những con chiên ngoan đạo, hà cớ gì họ phải “báng bổ” nhà thờ đến như vậy? Trong khi đó họ vẫn được Đảng và Nhà nước huấn luyện về “tôn  giáo vận”, vẫn được dặn dò cần phải có sách lược mềm dẻo, linh hoạt để “tỏ rõ” chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng chính phủ kia mà?

Thì ra ông nhà văn Nguyễn Khải đã “vẽ rắn thêm chân”, đã phóng đại cái lòng “căm ghét nhà thờ” trong giới cán bộ xã và tỉnh để chính ông bày tỏ với Đảng sự dứt khoát từ bỏ gốc gác thầy dòng của ông, từ bỏ theo kiểu chặt cầu và không khoan nhượng để được Đảng tin cậy. Và có lớn tiếng mượn mồm người khác mạt sát nhà thờ như vậy, ông nhà văn mới tỏ rõ được lập trường giác ngộ giai cấp, giác ngộ Đảng một cách quyết liệt, từ trong tim, trong máu chứ không phải chỉ là ở đầu môi chót lưỡi. Lập trường này của ông lại càng được củng cố khi sau 1975 gặp lại gia đình đã di cư vào Nam, ông vẫn quyết liệt lên án họ trong tập “Gặp gỡ cuối năm”  để làm yên lòng Đảng. Chính vì cái gốc gác “xuất thân thầy dòng” nên Nguyễn Khải phải “giữ gìn”, phải luôn luôn “bày tỏ lòng trung thành” với Đảng chứ tuyệt nhiên không bao giờ dám láo như cái đám Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm…. ỷ y  xuất thân cán bộ cốt cán của Đảng,  hung hăng chống lại Đảng trong vụ Nhân văn Giai phẩm. Bởi vậy trong thời kỳ văn nghệ sĩ miền Bắc bị khủng bố gắt gao nhất, Nguyễn Khải vẫn luôn luôn là đứa con cưng của Đảng, được bao bọc và ấp ủ trong vòng tay của “văn nghệ quân đội”.

Công lớn của Nguyên Khải trong hai tập tiểu thuyết “Xung đột” không những chỉ là bôi xấu, vu cáo nhà thờ mà còn tô vẽ cho hợp tác xã một bộ mặt thật tốt đẹp để chứng minh chủ trương tập thể hoá nông nghiệp của Đảng là cực kỳ ưu việt và sáng suốt. Cái sự “tô vẽ” ấy đôi khi quá đà tới mức lố bịch, khó nghe. Chẳng hạn đây là lời một anh nông dân tên Điệp bênh che cho việc Nhà nước cướp ruộng, cướp trâu của  nông dân:

“Sống ở xã này mỗi năm một thấy khác. Có hai bác tôi xin nói thật, nhân dân ở đây họ có tin ở chính phủ lắm mới trao ruộng, trao trâu cho hợp tác xã, cơ nghiệp hàng mấy đời người chứ đâu phải chuyện bỡn…”

Sự thực vì áp lực đè lên đủ các mặt, người nông dân đành nuốt nước mắt  chịu cho hợp tác xã cướp ngày cả ruộng lẫn trâu chứ đâu có chuyện tự nguyện như ông nhà văn tô vẽ? Rồi cũng chính anh nông dân này “ca ngợi” Nhà nước đã “cướp thóc của dân”:

“Cứ lấy việc thu thóc nghĩa thương vụ mùa năm ngoái mà suy thì ai cũng phải phục cái sáng suốt của huyện của tỉnh. Ngày ấy không kiên quyết thu thì bây giờ lấy đâu ra thóc cứu đói…”

Hoá ra “thuế nghĩa thương” là thuế  thóc dự trữ để khi nào có thiên tai đói kém thì Nhà nước khỏi phải lấy quỹ thóc quốc gia ra cứu trợ mà bắt người dân đóng góp từ trước phòng hờ thiên tai. Thật là một thứ thuế độc nhất vô nhị trên thế giới, chứng tỏ sự sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Đảng ta!

Mượn mồm anh nông dân, ông nhà văn tiếp tục “tô vẽ”:

“Năm Ất Dậu ngoài chợ Hỗ thóc bán có năm đồng một thùng mà người chết đầy đường, năm nay thóc bán tám chín đồng, mười đồng cũng là, vậy mà không nhà nào đến nỗi phải nhịn cơm hai bữa…”

So sánh giá thóc năm 1945 theo tiền Đông Dương với giá thóc năm 1960 ông nhà văn quên bẵng mất là lúc này cách mạng đã có Ngân hàng Nhà nước, làm gì ra tiền Đông Dương như hồi Pháp thuộc? Và rồi ông xuýt xoa:

“(thóc cao vậy mà…) vẫn họp hành, vẫn sản xuất, con gà con vịt , buồng chuối lá rau tịnh không một ai lấm lét, tơ hào. Thời Nghiêu Thuấn cũng đến vậy chứ gì ?”

Ôi trời ôi, cái thời “mỗi người làm việc bằng hai, để cho chủ nhiệm mua đài mua xe” mà ông nhà văn coi là ‘thời Nghiêu Thuấn” thì nghề “bốc thơm”, “bồi bút” phải lấy ông Nguyễn Khải làm… tiên sư!

 

Chẳng riêng gì nông dân, bản chất con người ta là “tư hữu” tức gìn giữ những gì mình có trong tay. Tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, Đảng phát động thu gom ruộng đất, trâu bò, nông cụ vào hợp tác xã, thực chất là một cuộc cướp bóc trắng trợn. Người nông dân chẳng qua vì áp lực chính trị, vì súng kề cổ nên phải ngậm đắng nuốt cay mà giao sản nghiệp cho hợp tác xã thôi.

Đó là một sự thực hiển nhiên ở nông thôn không ai là không biết.

Ấy thế mà ông nhà văn Nguyễn Khải tô vẽ cho sự giao nộp ấy như một tự nguyện “cao đẹp”, như  ý nguyện thiêng liêng của người nông dân đối với cuộc vận động của Đảng.

Ông Điệp mới được vào hợp tác xã, làm ngay một mâm cơm gà, cá kho mời bằng được cán bộ xã tới ăn mừng:

“Hôm qua chúng tôi vừa tổ chức liên hoan vào hợp tác xã, hôm nay làm bữa cơm nhạt mời hai bác sang uống chén rượu gọi là mừng cho anh em chúng tôi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa…”

Không hiểu ngày nay, đọc lại cái câu “đi theo con đường xã hội chủ nghĩa” mà mình đã ấn vào mồm anh nhà quê, ông nhà văn Nguyễn Khải có thấy “hài hước” chăng? Chắc bây giờ ông đã nhận ra cái “con đường xã hội chủ nghĩa”  ấy càng đi càng mù mịt, càng phá tanh bành cả cái hợp tác xã mà Đảng và Nhà nước vẫn cứ bắt dân “kiên trì” đi theo nó.

Trong tiểu thuyết “Xung đột” công cuộc vận động nông dân góp ruộng, góp trâu bò vào hợp tác xã xem ra rất xuôi chèo mát mái; bà con nông dân cứ là tranh nhau làm đơn xin gia nhập. Thực tế hoàn toàn không phải vậy? Mảnh ruộng, con trâu, cái cầy, ao cá là tài sản bất ly thân của người nông dân, không dễ gì họ để cho bị cướp trắng. Mặc dầu Đảng và Nhà nước đã dùng cả một bộ máy toàn trị để bao vây, cưỡng bách nhưng công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp không phải là không vấp phải sự chống đối của nông dân. Những phản ứng của nông dân như giết trâu bò, phá huỷ nông cụ, chây lì không chịu ký đơn… chắc chắn phải nổ ra. Tuy nhiên tất cả những chuyện đó bị bịt đi và ngược lại việc cưỡng chế nông dân vào hợp tác xã được cả một bộ máy tuyên truyền báo chí của Đảng tô vẽ như một cuộc đổi đời tự nguyện của người nông dân.

Nguyễn Khải cũng không đứng ngoài được “sự nghiệp tuyên truyền vận động hợp tác hoá” đó. Chẳng những ông không dám đi sâu vào khai thác và phản ánh cuộc đấu tranh ngấm ngầm cũng như ra mặt của nông dân chống lại việc cưỡng bức vào hợp tác, ngược lại ông còn tô hồng cho nó đúng như một tên bồi bút có hạng. Chính vì thế cái phần “xung đột” giữa Đảng và nông dân trong tiểu thuyết “Xung đột” rất mờ nhạt. Chỉ có mỗi vụ Quảng “giả chết” ở đầu truyện để vu vạ cán bộ xem ra còn có vẻ xung đột gay gắt, còn sau đó chỉ thấy toàn thấy nông dân “ơn Đảng, ơn chính phủ” được vào hợp tác hoá để đổi đời. Phản ánh hiện thực nông thôn thời kỳ này, Nguyễn Khải đã thực hiện đúng theo lý luận kinh điển của Đảng: “mâu thuẫn trong nhân dân” là mâu thuẫn “nội bộ”, mâu thuẫn “thống nhất”, mâu thuẫn để …cùng đi lên.

Trong lúc cố xoá mờ, giảm nhẹ xung đột giữa dân và Đảng, Nguyễn Khải lại tô đậm mối xung đột giữa “nhà thờ” với chính quyền, vừa dễ viết cho sinh động vừa đúng đường lối của Đảng, coi đó là mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn “địch – ta”.  Bởi thế, phần lớn “Xung đột” phần II xoay quanh chuyện Nhà nước o ép nhà thờ. “Gậy ông lại đập lưng ông”, ngày nay chính những điều Nguyễn Khải mô tả trong tiểu thuyết vô tình đã vạch trần bản chất lừa bịp trong chính sách “tự do tín ngưỡng”, “tốt đạo đẹp đời” mà Đảng và Nhà nước xưa nay vẫn tuyên truyền.

Một trong những vũ khí chống lại Thiên Chúa giáo  của nhà văn Nguyễn Khải là dựng  nên những bi kịch cá nhân do nhà thờ gây ra. Cô Huệ, con gái ông Bốn sau 10 năm đi tu đã tố cáo tội ác của nhà thờ với bố đẻ:

“Bố ơi, khi con ở nhà đức tin con mạnh, con vào ở đây đức tin con chẳng còn nữa, tất cả mọi người lừa dối con. Bà Nhất thì cay nghiệt hơn dì ghẻ, đuối tay đuối sức một chút là bị phạt rồi. Mỗi lần con nằm chực ở ngưỡng cửa cho bạn bè bước qua, cúi mặt xuống hôn đất để tạ lỗi, con lại nhớ đến ngày ở nhà được bố mẹ nuông chiều. Sao con lại tự đưa mình vào chốn khổ, khổ mà chẳng được ơn ích gì. Họ mặc áo bà dòng khấn khứa từ sáng đến tối mà vẫn tằng tịu với người khác giới, có người uống thuốc thôi thai, có người đi đẻ giấu, có người còn đang tay bóp chết con nhỏ. Mẹ Nhất cũng có nhân tình. Con chẳng tin vào ai cả. Con chẳng tin có cái gì khác ngoài những điều mắt con trông thấy, đời con thế là hết rồi…”

Chỉ một năm sau gặp bố, nữ tu Huệ chết trong một cơn “giãy giụa đau đớn”.  Một nơi địa ngục trần gian, đầy xấu xa và tội lỗi như vậy mà lại là một nhà nữ tu thì quả thực liệu người ta có thể tin vào sự trung thực của ông Nguyễn Khải chăng? Điều đó hoàn toàn có thể kiểm chứng được bởi lẽ nơi cô nữ tu bị đầy đọa trong suốt hơn mười năm trời là một địa chỉ cụ thể, theo như tác giả là thôn Bái thuộc Bùi Chu. Nếu một cuộc điều tra chính thức được mở ra, ông nhà văn rất có thể ra Toà về tội vu cáo.

Sau nữ tu, đến lượt các đấng chăn chiên bị bôi bác. Trước hết ông nhà văn giễu Toà thánh:

“Người ở thôn Hỗ vẫn coi cái địa phương xa lắc ấy còn ruột thịt hơn cả quê hương mình, còn thiêng liêng hơn chính linh hồn mình và ràng buộc mình bằng trăm ngàn sợi dây bền chắc”.

Thậm chí ông nhà văn còn giở giọng xỏ xiên:

“Hầu như đức Giám ở Bái kêu khát, con chiên ở Hỗ đã thấy cổ mình se lại; đức Giám mục đi vấp, con chiên ở đây đã thấy đầu ngón chân mình rớm máu; đức Giám mục se mình, người ta đã đồn đại nhau với nét mặt lo âu. Ngay đến những quyết định hệ trọng nhất của đời người như nên sống thế nào, nên đi theo đường nào, họ cũng tuỳ thuộc vào cái đầu đội mũ hàm ếch lắc hoặc gật. Hình như cái gậy vàng của Giám mục đối với xứ Hỗ còn có hiệu lực sai khiến hơn cả chính con chiên ở Bái”.

Và rồi ông nhà văn vẽ nên “chân dung biếm họa” của Đức Giám mục:

“Người xứ Hỗ chỉ được nom dung nhan đức Giám khi người xuất hiện ở bàn độc, trịnh trọng trong bộ áo lễ rực rỡ, chỉ được nghe lời nói dịu ngọt và đầy sức quyến rũ của người qua những bức thư luân lưu, còn ở Bái thì người ta lại kháo nhau về những tính tình quá trần tục của từng cha một. Rằng cha giám quản thích ăn trứng trụng sôi, mỗi sáng có thể mút hàng chục quả với muối. Rằng không những đức Cha chỉ biết đưa bàn tay cao quý cho kẻ khác hôn vào mặt nhẫn, mà cũng những ngón tay nuột nà ấy còn biết xấp nước bọt đếm tiền nhanh như nhân viên ngân hàng…”

Quả thực người ta thật khó hiểu vì sao nhà văn Nguyễn Khải lại “ngậm một khối hờn căm” đối với Thiên Chúa giáo đến vậy. Người ta cho rằng chính vì ông là thầy tu xuất đi theo Đảng nên phải luôn luôn tỏ ra khinh ghét Thiên Chúa giáo để bày tỏ sự dứt khoát “chia tay ý thức hệ” của mình, sự trung thành một lòng theo Đảng của một con chiên đã từ bỏ Chúa.

Một nơi của nhà thờ làm ông nhà văn “ngứa mắt” không thua gì Toà Giám mục chính là chủng viện. Ta hãy coi ông tả:

“Ở cái trường đạo nổi tiếng ấy anh sẽ được thăm những dẫy nhà ăn hôi mốc, tanh tưởi như mùi chiếc đũa tre lâu ngày không rửa, những đứa bé đứng ngồi, ăn húp, cười đùa gõ bát gõ đũa như những kẻ mất dạy…”

Than ôi, chủng viện là nơi nhà thờ đào tạo tu sĩ đâu đến nỗi như  trại tạm giam trẻ móc túi ở Chí Hoà vậy?

Và đây là nhà ngủ của các học sinh chủng viện:

“Những dẫy nhà ngủ chiếu cuộn lại từng đống trên giường, dưới đất, hoặc nửa ở trên giường, nửa ở dưới đất, những cái gối gỗ bong sơn, những chiếc thập giá nằm dài ở đầu giường mệt mỏi…”

Giường chiếu đã như thế, sách vở còn tệ hơn:

“… những kinh sách do chính toà giám biên soạn truyền bá đạo lý của nhà Chúa và những sự vô luân của quân cộng sản, những truyện trinh thám, kiếm hiệp, ái tình từ cái đời thủa nào vẫn được lưu lại…”

Đi sâu vào chủng viện còn kinh hãi hơn:

“Sau những dãy nhà lắm ngách lắm cửa tối hun hút và bí hiểm kia, còn những lớp nhà phía sau nữa, những lớp nhà dài dằng dặc và trống rỗng đặc biệt vẫn có cái mùi hôi mốc quen thuộc, thứ mùi của sự ngưng trệ, lười biếng. Ở tận một xó, một xó bị bỏ quên trong vùng tối bùng nhùng ngay giữa cả lúc trời nắng vang lên những tiếng cười lạc lõng: hai ông bõ già đang ngồi ăn cơm, một người to béo mặt mùi sần sùi vừa câm vừa điếc lúc nào cũng nhìn người  khác với nụ cười khó hiểu và một người tay bưng bát cơm cứ run rẩy như trong cơn sốt, vừa ăn vừa ho vung vãi…”

Người của chủng viện đã tật nguyền và tâm thần vậy, đến con chó của chủng viện cũng không ra hồn…con chó:

“Dưới chân họ một con chó đen đã gần trụi hết lông, trơ ra những đám thịt héo hon đen tím, mắt đầy nhử, quanh ra quanh vào chậm chạp, thấy người lạ nó cũng chỉ đưa được đôi mắt kèm nhèm như van vỉ nhìn lên một thoáng rồi lại cúi xuống tha thẩn như cũ, đụng đầu vào cột, vào bậu cửa như một người đã lẫn cẫn…”

Con chó chủng viện đã như chó hoang vậy, tu sĩ trong chủng viện cũng chẳng hơn gì những kẻ tâm thần:

“Nhưng đêm đến, cái xác chết tưởng như sắp thối rữa kia khi đã ngửi thấy mùi ẩm ướt của bóng đêm lập tức hồi sinh lại một cách nhanh chóng. Những khung cửa tối om bỗng đỏ rực lên như hàng trăm con mắt lóng lánh. Ở nhà họp công cộng trên tầng gác, bàn ghế đã được kê lại ngay ngắn, học sinh ngồi nghiêm chỉnh trên các ghế. Và cái anh tu sĩ tầm thường của ban ngày, cái anh gầy gò, nhai trầu bỏm bẻm lúc nào cũng có cái điệu bộ ngớ ngẩn, ngu dại nói lắp bắp, dưới  ánh đèn của ban đêm đã thay đổi hình dạng. Anh ta nhìn từng dãy ghế xoi mói, thuật lại một cách hoạt bát những việc xảy ra trong ngày…”

Thầy đã thế còn trò cũng xấu xa không kém:

“Quả thực cái bọn học trò đã trở thành một lũ lưu manh ấy không thích về với bố mẹ chúng thật. Bây giờ học làm thầy chúng cũng không thích, học văn hoá lại càng đáng chán hơn. Phải học, dù học gì cũng là gò bó, trói buộc rồi. Chúng chỉ ao ước cái thời kỳ giằng co với cộng sản sẽ kéo dài nữa. Chỉ mong được sống mãi mãi như thế này: ăn thoả thích, chơi bời thoả thích, nói năng bậy bạ, tục tĩu thoả thích và đêm đêm lại tập hợp nhau làm những chuyện ly kỳ…”

Than ôi, trường đào tạo linh mục của nhà thờ sao mà tăm tối, bệ rạc và chủng sinh thì lưu manh quá vậy? Bôi đen chủng viện đến như thế thì phải nói ngòi bút của Nguyễn Khải là đệ nhất thiên hạ.

Cái nhà trường của giáo xứ bị Nguyễn Khải mô tả “dơ dáy, xấu xa và vô tích sự” đến thế nhưng mà lo lắng nó “đào tạo gián điệp, phản động” nên Nhà nước vẫn cứ khăng khăng giải tán nó. Trước hết “uỷ ban triệu tập những gia đình trong xã có con đi học ở chủng viện Bái đến thảo luận và thi hành quyết định của tỉnh.”

Cứ căn cứ vào chế độ chính sách tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ thì việc giáo dân cho con em mình đi học tại chủng viện là chuyện bình thường, vậy mà khi bị triệu tập, họ vẫn phải tới trong tâm trạng lo sợ.

“Thời gian chờ đợi cũng lâu, những người đến trước không trò chuyện, đùa bỡn như ở các cuộc họp khác. Họ chỉ lặng lẽ nhìn nhau như những kẻ mất hồn, làm ra vẻ đờ đẫn, ngây dại… Người ta dò hỏi nhau bằng con mắt, nghe ngóng một cách lo âu những việc sẽ xảy ra và dành sự suy nghĩ cho những mưu mô sắp đem đối phó…”

Nguyễn Khải đã mô tả chính xác tâm trạng người dân khi phải tới “cửa quyền” theo lệnh triệu tập của Uỷ ban. Họ lo lắng, khép nép, rúm vào nhau chứ làm gì có tinh thần “làm chủ” như sách báo vẫn tuyên truyền:

“Môn, Chủ tịch xã mở đầu, nét mặt đã cau có:

“Chúng tôi đã cử người đi mời từ chiều hôm qua, vậy mà chỉ có – Môn ngừng lại đưa mắt đếm một lượt – hơn 10 gia đình…Sao các bà lại ngồi túm vào một góc thế? Ghế đây! Rộng rãi bao nhiêu. Đã đi họp thì phải ngồi cho đàng hoàng thì nghe mới lọt vào tai chứ. Nào, mời các bà ngồi dịch lại đằng này…”

Vậy là giữa dân và chính quyền đã có một bức tường ngăn cách, một đằng cố tránh ra xa, một đằng cố kéo lại, không phải vì sự thông cảm mà là để “làm việc”. Thấy dân tránh xa mình như tránh dịch, viên Chủ tịch xã càng nóng nảy:

“Các bà cứ đi nghe những chuyện nhảm nhí đâu đâu rồi lại thắc mắc với Chính phủ, với Uỷ ban. Uỷ ban cho người đến tận nhà mời lại nói chuyện thì viện cớ từ chối. Chính quyền là công bộc của nhân dân, nhưng nhân dân cũng phải biết vâng lời chính quyền chứ …”

Nhà nước rất giỏi trong giáo dục đào tạo cán bộ. Một mặt cán bộ răm rắp phục tùng cấp trên thực hiện đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng tức là vắt kiệt sức lực nông dân trên đồng ruộng và tước đoạt mọi của cải vật chất, chỉ để lại vừa đủ sống lay lắt, mặt khác miệng lúc nào cũng leo lẻo “vì nhân dân phục vụ”, “cán bộ là đầy tớ dân” một cách rất … thành thực. Bởi thế ông Chủ tịch xã Môn rất cáu kỉnh vì sao “chính quyền là công bộc của dân” vậy mà dân lại cứ…sợ, cứ né tránh chính quyền như thế ? Và thế là ông ta thò ngay cái bộ mặt trấn áp ra:

“Được, những gia đình nào không cử người đến chúng tôi sẽ có cách, phải cảnh cáo. Trên không ra trên, dưới không ra dưới thì còn thành thể thống gì nữa. Dân chủ nhưng phải có kỷ luật…”

Vậy là bản chất “chuyên chính vô sản” bên trong con người cán bộ đã bộc lộ ra hết. “Dân chủ nhưng phải có kỷ luật” – đó chính là dân chủ tập trung, dân chủ xã hội chủ nghĩa bao năm nay Đảng đã áp đặt lên đầu lên cổ dân. Sau cùng, ông Mẫn, cán bộ trên huyện cử xuống cũng huỵch toẹt ra rằng “trong khi nhà trường chuẩn bị một chương trình dạy văn hoá đầy đủ thì phải giải tán số học sinh hiện nay.”

Và ra lệnh cho phụ huynh học sinh:

“Vậy như ở xã ta đây, các ông các bà đã cho gọi các em dưới ấy về chưa ? Chẳng lẽ cứ để chúng nó chơi bời dông dài mãi. Về nhà học thêm được ngày nào lợi ngày ấy.”

Như thế là “ý đồ” của cán bộ huyện đã rõ: khi chưa dám công khai giải tán chủng viện thì chơi trò lén lút áp lực với dân rút con em về không cho học nữa. Ông ta còn giở giọng đểu cáng:

“Chúa gọi thì nhiều Chúa chọn có mấy, trăm người may đỗ cụ được vài người…”

Một bà là phụ huynh của học sinh chủng viện nghe ngứa tai quá, phản ứng lại:

“Thưa với chư ông, cho con đi tu cũng chẳng mong gì con đỗ cụ để làm bà cố đâu ạ. Số mệnh nó đã do Chúa định thì giao phó cho nhà Chúa. Chúng tôi là kẻ làm cha mẹ chẳng dám ân hận điều gì…”.

Đó thật là một cái tát vào mặt cán bộ, bởi suy bụng ta ra bụng người, cán bộ cứ cho rằng bà con cho con cái đi học chủng viện là sau này “đỗ cụ”, làm “ông nọ bà kia” mà thực ra bà con chỉ mong giao phó con cho nhà Chúa vậy thôi.

 

Tuy nhiên câu nói như cái tát tai của người dân hoàn toàn “nằm ngoài vùng phủù sóng” của ông Chủ tịch xã, chuyện “giao con cho Chúa” với ông là chuyện tầm phào, bởi vậy ông lại tiếp tục lên giọng mạt sát cái đám học sinh chủng viện:

“Các bà tưởng cái trường ấy chỉ có đào tạo người đi truyền giáo hẳn. Học đạo một phần, học làm kẻ thù của cách mạng chín phần…”

Trong thâm tâm phần lớn cán bộ Nhà nước thấm nhuần “chủ trương chính sách của Đảng” , tất cả những ai theo đạo Thiên Chúa đều là kẻ thù, là phản động, là gián điệp, nhất thiết phải có ranh giới “bạn thù” dứt khoát:

“Thử hỏi những đứa do công an tóm được đi kẻ khẩu hiệu, dán truyền đơn chống cộng là ai, toàn học sinh chủng viện cả ”.

Rồi ông Chủ tịch xã giở giọng xuyên tạc, doạ nạt bà con:

“Khi đi chúng là người tử tế lúc về hoá ra thằng ma cà bông. Các bà có muốn con các bà đi một bước công an phải theo dõi một bước không ?”

Đám quần chúng ngoan ngoãn và cam chịu nhưng khi nghe cán bộ mạt sát con cái họ cũng phải ngẩng mặt dậy.

“Một bà gầy gò, vấn khăn trắng ngồi gần mé đèn lên tiếng:

“Ông nói như thế chúng tôi không được đồng ý. Lúc nó ở nhà có một, đi học về lại gấp năm gấp mười, hẳn hoi, tử tế. Thực thà là không thấy nó ăn nói cấc lấc điều gì, bố mẹ cũng phải nể con chứ không nói  khác…”

Như vậy lại thêm một cái tát nữa vào cái miệng nói láo của ông Chủ tịch. Giá như còn chút liêm sỉ, hẳn ông sẽ phải thấy xấu hổ vì sự vu cáo của mình bị lật tẩy. Đằng này đuối lý, ông Chủ tịch giở giọng “chính quyền” với kẻ vừa cả gan cãi hắn:

“Bà Đỗ có định gọi cháu nó về nhà không? Niên học mới thì chưa đến, nhà trường chưa khai giảng vậy còn để con nó ở đấy làm gì ?”

Đứng trước cường quyền, người đàn bà vẫn không chịu khuất phục nhưng đành phải mềm dẻo:

“Thưa với ông, cháu đã nhất quyết đi tu, không gánh vác phần đời, không màng chuyện thế gian, là tự do tín ngưỡng của nó, tôi nào nỡ gọi nó về, phải tội chết…”

Nghe mấy chữ “tự do tín ngưỡng”, ông Chủ tịch giật mình vì nó nằm trong “chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước”, hắn vội ngắt lời và chuyển câu hỏi sang hướng khác:

“Bà có chắc rằng cậu ấy chỉ đi tu chứ không làm việc gì khác?”

Ông Chủ tịch hỏi một câu rất khôn, gạt ngay chuyện “tự do tín ngưỡng” đi cho khỏi vi phạm “chính sách tôn giáo” của Đảng để chuyển ngay sang chuyện “truy tìm phản động”. Hắn cười  gằn, giở giọng đe doạ:

“Bà có biết những người có trách nhiệm ở đây đã dùng con bà vào việc gì không? làm liên lạc đưa tài liệu tin tức chống cộng đấy. Vụ hè vừa rồi con bà về mang cả một bản kinh “cầu cho giáo hội im lặng” đút vào trong giầy ống. Nó mới mười lăm tuổi đầu, còn ngây thơ lắm. Chớ để nó đi sâu vào con đường lầm lạc rồi sau này nó oán trách bố mẹ đấy…”

Thấy chính quyền chụp cho con tội “phản động” tầy trời, bà mẹ hoảng sợ không còn dám cãi nhau tay đôi với ông Chủ tịch xã nữa, “đành chỉ thở dài uất ức rồi lại ngồi nén mình như cũ”. Ông Chủ tịch ép đến tận cùng:

“Nếu các bà không đi được thì cứ viết thư cho các cháu, uỷ ban chúng tôi sẽ cử cán bộ đi đón về…”

Đây là một thủ đoạn rất nham hiểm, một khi nắm được những lá thư gọi con về của bố mẹ, Uỷ ban sẽ có cớ để dẹp bỏ cái trường chủng viện kia một cách êm thấm mà vẫn không phạm vào chính sách “tự do tín ngưỡng của Đảng và chính phủ”. Chắc hiểu rõ dã tâm của tên Chủ tịch xã, người mẹ chối phắt:

“Dạ không dám ạ, cháu nó bé còn phải mang xống áo cho cháu …thật tình không dám phiền đến Uỷ ban…sợ cháu nó không chịu về lại thêm mất  thời gian”.

Vậy nhưng ông Chủ tịch vẫn dai như đỉa, giở giọng nhân nghĩa:

“Uỷ ban chịu phiền cũng được, miễn là phục vụ được nhân dân… Mất đến nửa tháng cũng chẳng sao. Nếu bà đồng ý mai chúng tôi sẽ cho người đi…”

Nhưng người dân đời nào chịu “gửi trứng cho ác”, giao con cho uỷ ban với du kích, người mẹ bị dồn vào chân tường, sau cùng cũng đành phải chống lệnh của chính quyền:

“Thưa với các ông, tôi xin thưa thực là tôi không có quyền phép gì gọi cháu nó về. Trước đây nó là con tôi đẻ ra, nhưng  bây giờ thì nó là quân lính nhà Chúa. Nếu nhà có ơn phúc thì nó cứ đàng ngay lối thẳng mà đi, nhược bằng phận mỏng đức bạc, làm chuyện bậy bạ thì Chính phủ cứ việc bắt bớ bỏ tù, vợ chồng tôi không dám thắc mắc…”

Do đã quá nhiều kinh nghiệm xương máu với chính quyền, do đức tin với Chúa, người dân đã mềm mỏng bẻ gẫy được âm mưu thâm độc giải tán chủng viện của Đảng và Nhà nước.

Sau khi giở giọng“chính quyền” ra lệnh, vu cáo, doạ nạt, vẫn thất bại, ông Chủ tịch xã thay đổi chiến thuật, giở giọng mẹ mìn, “đồng chủng đồng bào” để cố lay chuyển bà con:

“Tôi với các bà tuy không cùng máu mủ, ruột thịt nhưng dù sao vẫn là người làng… Bây giờ các bà chỉ nhìn tôi là anh chủ tịch hay gây gổ, cái thằng khô đạo nhưng một ngày kia nếu tôi và các bà gặp nhau ở một nơi nào thật xa, như trong Nam chẳng hạn thì chắc là lúc ấy chẳng ai còn nghĩ đến những điều nghi kỵ bực dọc ngày hôm nay mà chỉ thấy quý mến nhau, tin cậy nhau vì là người làng, cùng quê…”

Không đầy hai chục năm sau, câu nói trên đã được “chứng nghiệm” khi những ông Chủ tịch kiểu như Môn theo chân “giải phóng miền Nam” vào làm quân quản ở những xã công giáo như huyện Thống Nhất, Đồng Nai, lúc đó chẳng những “nghi kỵ, bực dọc” nhân lên gấp bội mà còn ra sức đầy đoạ, hành hạ  người dân khiến làng đạo lại phải tìm cách vượt biên để một lần nữa chạy trốn cộng sản.

Hòng lung lạc người dân, ông Chủ tịch lại tiếp tục thở ra giọng mẹ mìn:

“Cái tình quê hương đối với con người ta thắm thiết lắm, chứ không thờ ơ được đâu. Nếu tôi không nghĩ đến quê hương thì đã sinh cơ lập nghiệp tận đẩu tận đâu chứ còn mò về cái làng này làm gì để chịu khổ sở đói khát. Nếu không nghĩ tới làng xóm thì tôi cũng đã xin rút lui công tác từ năm nọ kia chứ chẳng phải đợi ai đánh đổ. Tôi năm nay bốn mươi chín rồi. Ở đây tôi chỉ kém tuổi có bà Bân thôi, đâu cách nhau gần một giáp thì phải. Đời tôi lăn lộn nhiều, đã từng nếm đủ mùi cay đắng cơ cực, cái cao xa chẳng nói làm gì, còn cái trước mắt thì tôi không thể lầm được… Các bà hãy tin ở lời khuyên của tôi …”

Sau khi đã “nam mô” lâm li một hồi như vậy, ông Chủ tịch xã lại giở giọng phù thuỷ:

“Các bà hãy tin vào lời khuyên của tôi. Đã đành chúng nó không phải là con tôi nhưng chúng là người của xã này, là người của làng tôi, làm ngơ thế nào được khi biết chúng đi vào con đường tồi tệ… Mình giác ngộ hơn nó mà không bày vẽ chỉ bảo cho chúng nó thì cái tội của nó chính là cái tội của mình, tôi sẽ có lỗi trước bà con…”

Cái khó của ông Chủ tịch xã là làm sao vừa kết án được chuyện “đi tu” để ông có cớ giải tán chủng viện, nhà tu mà lại vẫn không phạm vào chính sách “tự do tín ngưỡng của Đảng”. Ông lý luận:

“Đi tu, ừ, đã đành chính sách không cấm, quyền tự do của mỗi người. Nhưng vì lẽ gì mà phải tu, chán đời ư, không kiếm được cơm ăn áo mặc ư, thiếu gì việc. Con trai bằng lứa tuổi chúng nó người ta đeo huy hiệu Đoàn, ao ước được thành bác sĩ, kỹ sư, ao ước được bay nhảy đây đó, còn chúng nó co lại trong chiếc áo dài thâm, sáng khấn, tối khấn, có bố mẹ mà không được nuôi nấng, có quê hương không dám nghĩ đến ngày về, có thể lấy vợ đẻ con thì lại làm tội mình cho đến chết…”

Say sưa bài bác cái áo thầy tu đến thế này không hiểu là tâm tư của nhân vật Chủ tịch xã hay là của chính ông nhà văn Nguyễn Khải?

Kết thúc bài “diễn văn” lên án đám học sinh chủng viện, ông Chủ tịch xã cao giọng:

“Chỉ đọc kinh mà sống được ư? Ai cho nó ăn, ai cho nó mặc, vẫn là nhân dân. Còn chúng nó thì làm gì cho nhân dân? Chẳng làm gì cả, một bọn ăn bám, cái lưng dài thườn thượt, cái chân cái tay bủng beo vì bệnh lười…”

Lời mạt sát của ông Chủ tịch bộc lộ một điều: Nhà nước toàn trị không cho trẻ con đến tuổi cắp sách đến trường nằm ngoài sự “quản lý của Đảng”. Dẫu rằng nó vẫn ăn cơm của bố mẹ nhưng nó phải vào Đoàn, phải đi học dưới “mái trường xã hội chủ nghĩa”, nếu không nó sẽ bị coi là “ăn bám” − ăn của bố mẹ thì vẫn bị coi là “của nhân dân”.

Sau khi dùng chán chê “lý lẽ của đời” để doạ nạt, lung lạc nhưng người mẹ vẫn không chịu gọi con về, ông Chủ tịch xã chuyển sang bài bác “lý lẽ của đạo” mong “cắt cơn nghiện của nhân dân” (ông Mác chẳng đã nói “tôn giáo là thuốc phiện” mà!):

“Tôi cũng là người công giáo đấy, nhưng nói thất lỗi với các bà, các ông, tôi không bao giờ tin được là có Chúa thật. Nếu bảo bất cứ việc gì đều được  lên trời thì tại sao vệ tinh của Liên Xô lại bay được lên trời, vậy ra Chúa ủng hộ cộng sản ư? Chúa ủng hộ vô thần ư? Tại sao Toà Thánh là đất Chúa ngự không phóng một vệ tinh bằng quyền phép thiêng liêng của Chúa cho thiên hạ thêm lòng tin cậy. Chẳng có gì cả đâu…”

Đúng là chỉ có một đầu óc tăm tối, vô thần, tư duy không vượt qua các “chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ” như của tên Chủ tịch xã này mới đẻ ra một lý lẽ “bài bác Chúa” ngu muội đến như vậy. Và đây là sản phẩm của “chủ nghĩa duy vật thô sơ” đã được cài đặt vào đầu cán bộ:

“Ai có trình độ khoa học cao, ai lao động giỏi thì kẻ ấy làm được việc kỳ lạ. Cha Thuyết bị sưng gan chín phần chết, một phần sống, vậy ai cứu được mạng của cha? Chính phủ ta, các bác sĩ Liên Xô, toàn những người vô thần cả. Chính cha cũng đã từng nói với tôi: Bố mẹ sinh ra lần thứ nhất, các bác sĩ Liên Xô sinh ra lần thứ hai…”

“Cha tuyên uý” của chủ nghĩa “duy vật biện chứng”, chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng, tín đồ trung thành của chủ nghĩa maoít-stalinnít − Chủ tịch xã Môn cứ thế “giác ngộ” cho đám quần chúng đang bị “tôn giáo ru ngủ”:

“Ngay đến các cụ đạo ngày ngày đứng trên toà giảng vị tất các ông ấy đã tin chắc là có Chúa thật, nếu họ tin sẽ có ngày phán xét chung thì vía cũng chẳng dám làm bậy, chẳng dám nằm với người nữ, chẳng dám cầm súng bắn giết con chiên, moi tiền của kẻ khó…”

Để kết thúc bài diễn văn hùng hồn kích động con chiên bỏ đạo, công kích nhà thờ, ông Chủ tịch xã sổ toẹt:

“Bịp bợm cả. Các bà tin được tôi thì tin, không thì thôi, nhưng sau này các bà sẽ thấy lời tôi nói hôm nay là đúng. Xã hội người ta cứ tiến chứ có ai chờ con các bà giác ngộ rồi người ta mới cất bước đâu…”

Than ôi, đã gần nửa thế kỷ trôi qua, “xã hội người ta cứ tiến” – người ta đây có thể hiểu rộng ra là thế giới, mà các “đồng chí” kiểu như Chủ tịch xã Môn vẫn còn u mê với các chủ thuyết “đấu tranh giai cấp” và “xây dựng chủ nghĩa xã hội” là ba cái thứ rác rưởi loài người đã loại bỏ.

Và cái lối “giáo dục cưỡng ép” ấy, tất nhiên không bao giờ chinh phục được con tim và khối óc của người dân:

“Trong các cuộc họp người ta đến miễn cưỡng, uể oải, cái xác ngồi đấy, nhưng tâm thần để tận đâu đâu. Họ không cần nghe cán bộ giải thích, đằng nào cũng thế, thuế vẫn phải đóng, đi dân công vẫn phải đi, nghe nhiều nào có lợi ích gì. Họ cứ sống như xưa kia họ sống…”

Giáo dân với Đảng và Nhà nước còn như vậy, linh mục với chính quyền tất nhiên là “xung đột” còn dữ dội hơn. Tuy nhiên, Nguyễn Khải chưa phơi bầy cho người đọc hết cái ác liệt của cuộc chiến giữa Toà thánh và Nhà nước, ông lại chỉ sử dụng ngón nghề quen thuộc: “vu cáo “ và “bôi  xấu”.

Một lần có hẳn một phái  đoàn 5 người gồm bốn linh mục và một tu sĩ ghé thăm xứ Hỗ. Đây là dịp ông nhà văn xây dựng chân dung các nhà tu hành. Trước hết là cha Thuyết, cha chủ nhà được một cha trong đoàn giới thiệu:

“Ông ấy vừa đi nằm nhà thương ở Hà Nội về. Phải mổ gan lọc mật mới sống sót đấy. Tôi thì cho rằng chỉ tại cái món thịt chó cả thôi. Ăn nhiều thịt chó dễ bị tích kén lắm. Cái giống ấy nó chẳng nhiệt quá mà…”

Vậy là một đấng chăn dắt linh hồn con chiên suýt chết vì… xơi thịt chó thường xuyên. Rồi đến một cha khác, cha Lân, khi ngồi vào mâm cơm thì mắt sáng lên:

“Ở đây cha cũng cho thả cá rô phi à. Cái giống cá ấy sinh sôi nảy nở đến nhanh. Nhưng cá này phải hầm hoặc om kỹ mới ngon, còn rán thì xương khí rắn… Bày vẽ quá lắm, biết thế chẳng báo trước; làm phiền cha chủ sự…”

Rồi lần lượt  cha giới thiệu “tâm hồn ăn uống” của các cha:

“Xin các cha cứ tự nhiên cho… Mỗi người một ý thích một tâm tính… Như đức cha người chỉ thích ăn trứng luộc, một lúc ăn hàng chục quả vẫn ngon lành. Tôi xin chịu. Cha Giản đi kiết thì chỉ nghiện chè bột sắn, cứ nấu một soong to, cha đủng đỉnh ăn cả ngày cũng hết. Cha Thụy ở trên tỉnh lại ưa món chim câu hầm, nhưng ông cụ không có răng, cứ nhấm nháp qua loa rồi nhè ra đĩa, lão bõ ở đấy chỉ ăn bã nhả ra mà béo trắng… Còn tôi thì được cái bình dân, toàn nghiện những món rẻ tiền như bánh đa mật chẳng hạn”.

Quả thực không biết ở cái xứ đạo nào mà ông bõ trong nhà thờ chỉ ăn bã do cha nhả ra mà… béo trắng thì thật nghề bôi xấu phải trao giải nhất cho ông nhà văn. Kinh hoàng hơn nữa là khi các cha bàn về món… tiết canh gà:

“Xin lỗi, các cha đã được ăn tiết canh gà bao giờ chưa ?”

Cha râu dài vừa nhai nhồm nhoàm vừa nói:

“Mới nghe lần đầu đấy. Chắc là tanh lắm hả ?”

“Lậy cha, cha lạc hậu quá. Thật tình rất thơm ngon…Rắn sần sật mà bùi lắm. Cái dân Hà Nội họ làm món ăn thì người khó tính đến đâu cũng phải vừa lòng…”

Hết món ăn rồi đến món uống. Cha sở tại, “sau vài hớp rượu da mặt ông càng đỏ rực mãi lên một cách đáng sợ, tưởng như bật được  máu tươi:

“Chính thế, nấu rượu được nếp thầu dầu thì quý hoá nhất – cha Thuyết đưa con mắt nhỏ tí, lóng lánh sáng nhìn mọi người – Vâng thưa các cha, ngon nhất đấy ạ, càng để lâu càng  đượm, càng thơm mà nước rượu cứ trong vắt như nước mưa. Còn nếp bắc thì chóng nhạt rượu lắm, nước rượu cũng đục…”

Than ôi, nếu các đấng chăn chiên, các đức cha linh hồn của mấy chục vạn giáo dân Bùi Chu – Phát Diệm mà tham ăn tục uống như trên thì đúng là cha …“quốc doanh”; tức các cán bộ tuyên giáo, công an chìm Đảng đưa vào trường của nhà thờ để học thành linh mục trà trộn vào hàng ngũ giáo phẩm “nắm tình hình”.

Tất nhiên năm ông linh mục này không phải “cha quốc doanh”, sau khi bàn chuyện ăn uống chán chê rồi họ mới bàn chuyện ứng phó của giáo hội trong xã hội cộng sản. Dưới ngòi bút Nguyễn Khải, họ đích thị là những tên biệt kích,  đám người phản động, đối tượng của cách mạng:

“Cha Lân ném một cái nhìn nảy lửa, đôi lông mày rậm trở nên dữ tợn, giọng ông ta đanh lại, độc ác, tàn nhẫn:

“Trong tay chúng ta còn những gì ? Chỉ còn lại mỗi cây thánh giá. Chúng ta chỉ trông cậy được vào Chúa và các đấng thánh thần. Còn quần chúng của ta, cái lực lượng mười vạn con người của chúng ta đâu rồi, vắng lặng bốn bề như tiếng gọi giữa sa mạc. May thay chúng ta còn một vũ khí sắc bén mà không một kẻ nào tước nổi, đó là cái lưỡi của chúng ta. Chúng ta hãy còn một khu vực tranh chấp mà không một kẻ nào dám đoạt lại: đó là Toà giảng của nhà thờ. Từ đấy chúng ta sẽ tiến công ra, sẽ chiếm đoạt lại tất cả…”

Như vậy nhà văn Nguyễn Khải đã vạch một chiến tuyến dứt khoát giữa giáo hội và Nhà nước – đó là một cuộc đối đầu “ai thắng ai”, “một mất một còn”. Mặc dầu xuất thân nhà dòng nhưng xem ra ông nhà văn hiểu biết về tôn giáo, nhất là Thiên Chúa giáo cũng chỉ ngang một anh cán bộ tuyên huấn nằm trong Ban tôn giáo Chính phủ mà thôi.

Cuộc đối đầu giữa “giáo hội” và “Nhà nước” bộc lộ ngay sau đó khi các cha vừa dùng cơm xong, ông bõ vừa bưng trà lên thì ông Chủ tịch xã Môn và ông cán bộ huyện Mẫn ập vào. Đã không xin phép được gặp, đã không báo trước sẽ tới, ông đại diện chính quyền xông vào phòng khách của Toà thánh khơi khơi như vào trụ sở Uỷ ban và lại còn hậm hực:

“Ghê thật, hội họp với nhau mà không thèm báo một lời cho uỷ ban biết. Có chứng cớ ông thử tóm cổ một lượt xem có trắng mắt ra không ?”

Vậy là trong “tim đen” nhà cầm quyền luôn luôn chỉ muốn “bắt” với “tóm cổ” sạch các cha để nhân dân khỏi bị “tôn giáo đầu độc”. Chưa có cớ gì để “bắt”, hai ông chính quyền mới chỉ đưa ra được yêu sách chủng viện phải dạy văn hoá cho chủng sinh, tất nhiên là cái thứ văn hoá “phổ thông trung học” của Nhà nước cộng sản, trong đó các môn học đều nặng mùi bài bác “tôn giáo là thuốc phiện” của chủ nghĩa Mác Lênin vô thần. Đòi chủng viện dạy văn hoá tức là phải dạy theo chương trình phổ thông của Nhà nước, do giáo viên Nhà nước vào dạy, tức muốn “nhuộm đỏ” cả trường học của nhà thờ. Một đòi hỏi thật ngang ngược.  Ông Mẫn, cán bộ huyện nói thẳng:

“Trước đây khi toà Giám mục xin mở trường cũng có đề ra chương trình một ngày học sáu tiếng giáo lý và hai tiếng văn hoá… Là đấng chăn chiên mà hiểu biết ít thì rao giảng cũng khó khăn…”

Cha Lân, đại diện cho Toà Giám mục phải “nói nhẽ nhọt”:

“Nhưng ông rõ cho, theo luật lệ toà thánh thì nhà trường không phải phục quyền các vua chúa phần đời, không để cho nhiễm thói tục phần đời. Trường đạo chỉ chịu quyền ở Toà Giám mục. Toà Giám mục lại chịu quyền ở Toà Thánh, không thể muốn thế nào cũng được… Ngay đến chương trình học từng năm kẻ làm thầy phải giảng giải những gì, đứa học trò phải đọc những sách gì đều do sự định liệu trước của Toà Thánh cả. Nói nôm na Toà Thánh cũng như chính phủ trung ương bên tôi ấy mà…”

Trước lý lẽ của linh mục, chặn bàn tay lông lá của Nhà nước vào chủng viện, ông Chủ tịch xã trở mặt, giở ngay ra cái chiêu bài chụp mũ “phản động” doạ nạt:

“Tôi xin hỏi cha, vậy như trước kia các ông cụ đạo đi làm tuyên uý trong quân đội Pháp hay làm sĩ quan có phải đợi lệnh của Toà Thánh cho phép không ?”

Doạ chán rồi, ông Chủ tịch xã nổi cáu: “Nói chuyện với bọn này cứ như người đấm bị bông, mất thì giờ mà chẳng đâu vào đâu…”. Ông cán bộ huyện Mẫn cũng vứt bỏ những lời đường mật thường dùng để giở giọng đe nẹt:

“Nếu như Toà Giám đặt mục tiêu cho cái trường ấy là nơi đào tạo những phần tử chống đối lại cộng sản thi tôi xin nói trước sẽ không bao giờ cụ giám quản đạt được ý nguyện đâu, mà có khi còn mang vạ vào thân là khác. Vì các cụ cũng biết đấy, pháp luật thì rất vô tư… nhà trường ngày nào cũng bắt các em làm bài chửi cộng sản, chửi các cơ quan nhà nước thì chúng tôi khó chịu đến đâu…”

Rõ thật là ngang ngược, trắng trợn đòi xâm phạm vào trường học của nhà thờ không được lại vu vạ là chủng viện “đào tạo phần tử chống đối cộng sản”. Ở một đất nước do Đảng toàn trị một khi đã bị nhà cầm quyền mang con ngoáo ộp “tội chống đối” ra doạ thì chỉ có nước bán xới khỏi xứ sở, bởi vậy ngay đến cha cố cũng phải xuống nước:

“Chúng tôi biết địa vị của chúng tôi lắm chứ. Chính phủ thì có trong tay nào quân đội, nào công an, còn chúng tôi thì chỉ có tượng thánh thôi. Chỉ mong đừng ai đụng chạm đến mình là mừng chứ còn chống đối gì.”

Rồi biết rằng nếu nhún nhường sẽ bị “nhà cầm quyền” lấn tới, cha đánh bạo:

“Chúng tôi thì cho rằng bắt trường đạo phải dạy văn hoá đó là một bước lấn của ông vào quyền hành giáo hội của chúng tôi…”

Và cha vạch trần “tim đen” của nhà cầm quyền:

“Đã dạy văn hoá thì ắt phải có giáo viên chứ gì. Tu sĩ của Trường thì lại không có bằng cấp, chẳng qua kẻ lớn dạy kẻ bé. Mà cử giáo viên ngoài giờ chúng tôi lấy làm e ngại … Nếu ông giáo viên theo đạo Thích-ca chẳng hạn, tất nhiên ông ta sẽ quan niệm về thế giới, về vũ trụ theo cái cách của ông ta. Hay nói cho rõ ràng hơn nếu ông ta là vô thần thì lại càng rắc rối. Vì ông ta có thể nói với học trò rằng thế giới này là do bàn tay lao động làm ra chứ không phải là do một đấng sáng tạo nên… ”

Lý lẽ của cha đưa ra làm ông cán bộ huyện cứng họng. Chính bản thân anh ta cũng thấy đòi hỏi đưa giáo viên vào dạy trong trường của nhà thờ là vô lý. Anh ta cho rằng:

“Tôn giáo và văn hoá quả thực có điều điều không thể đứng cạnh nhau. Chẳng lẽ lại giảng là trái đất vuông, qua lớp mây xanh kia là thiên đàng… Chẳng lẽ nói cây lúa mọc lên là do ý Chúa chứ không phải do phát triển biện chứng của nó. Chẳng lẽ nói con người là đất bụi hèn hạ chứ không phải là sinh vật cao quý…Một đằng dìm con người xuống, một đằng làm cho con người trở nên sáng suốt biết sống một cách có ý thức. Và có thể lấy thêm hàng nghìn thí dụ khác về sự đối lập không sao dung hoà được…”

Vậy là hiểu biết của “nhà cầm quyền” về tôn giáo mới chỉ dừng ở mức độ coi nó như một thứ “mê tín dị đoan” đúng là “thuốc phiện đầu độc nhân dân” đúng như ông thánh Mác-Lênin đã dậy. Chính vì vậy ông cán bộ nhìn các linh mục như quân thù:

“Có thể nói những người ngồi quanh cái bàn này đã tượng trưng được phần nào cho cái thế giới cha cụ hết sức phức tạp của địa phận Bái. Có những tên chống đối cách mạng đến điên cuồng; có những người còn bán tin bán nghi… nhưng giữa cái đám hùm sói ấy họ cũng không dám lên tiếng, vì lòng dũng cảm của họ còn ít quá, họ còn cân nhắc quá nhiều đến cái địa vị và uy tín giả dối của mình…”

Sau cùng vì sợ lộ mặt đàn áp tôn giáo nên chính nhà văn Nguyễn Khải cũng bỏ lửng không dám nói rõ liệu nhà cầm quyền có ép được chịu cho nhà nước đưa giáo viên vào dạy văn hoá hay không?

Cả 2 tập tiểu thuyết “Xung đột” đại khái cứ xoay quanh chủ yếu những “xung đột” mà ông nhà văn tưởng tượng ra như thế. Những xung đột vặt vãnh không hàm chứa được một tư tưởng gì cao siêu hơn là chê bai, mạt sát Thiên Chúa giáo ở tầm cảm hứng của một anh cán bộ tuyên truyền thực hiện đúng giáo huấn của Đảng “tôn giáo là thuốc phiện”. Nhân vật của tiểu thuyết chia làm hai “phe” địch – ta rõ ràng. Một bên là các cha Thuyết, cha Lân, cha Bản…tham ăn tục uống và đều là những kẻ nhát sợ trước cường quyền. Một bên là Môn, Chủ tịch xã, Nhàn, Phó Chủ tịch, Mẫn… cán bộ huyện… người nào người nấy ngùn ngụt ngọn lửa cách mạng muốn xông lên xoá sạch nhà thờ để… xây dựng hợp tác xã. Dù là ở bên này, hay bên kia, mỗi nhân vật “tiểu thuyết” của Nguyễn Khải đều chỉ là cái loa phát thanh tư tưởng “cách mạng hơn cả ông Các Mác” của ông. Thay vì ông cho nhân vật sống như một con người trong cõi nhân sinh trong tất cả những buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh của nó, ông lại chỉ cho nó nói ra đằng mồm cái tinh thần cách mạng mà Đảng đòi hỏi ở các cán bộ.

Nhân vật chính được chăm chút nhất trong truyện là Chủ tịch xã Môn. Ông ta như một cái đầu máy xe lửa lúc nào cũng sôi sùng sục những… “chủ trương, chính sách” của Đảng: “Tôi không có cái lối xã giao lịch thiệp cha cha tôi tôi tay bắt mặt mừng rồi. Dứt khoát coi các anh là đối tượng phải trấn áp. Gọi anh đến trụ sở uỷ ban ra điều kiện. Một: có chịu dạy văn hoá cho các em học sinh không? Thứ hai: có chịu giải tán số học sinh hiện nay không? Toàn con cái địa chủ, phú nông, việt gian, ngụy quân ngụy quyền cả…”.

Nhân vật thứ hai cũng được “khắc hoạ công phu” là chị Phó Chủ tịch Nhàn. Chị này lấy “công tác cách mạng” làm lẽ sống ở đời: “Vậy mình là gì? Là cán bộ xã, cán bộ huyện, là chính phủ của địa phương mình… Bây giờ công tác là niềm vui của em…”

“Xung đột” tập 1 và 2 của Nguyễn Khải một thời được giới phê bình trong nước kéo lên mây xanh, được nhắc tới như một thành tựu văn học cách mạng, được coi như một tiểu thuyết sáng giá được đưa cả vào sách giáo khoa dạy trong trường phổ thông và đại học.

 

2

 

 

Sau “Xung đột”, Nguyễn Khải viết tiếp một cuốn tiểu thuyết khác, khá nổi tiếng cũng về thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp: “Chủ tịch huyện” (1972).

Mặc dầu tên tiểu thuyết là “Chủ tịch huyện” nhưng chương một mở đầu lại chuyên viết về “Chủ tịch xã”. Đó là một “chủ tịch xã trẻ và tính toán giỏi nhất huyện…Con người tài giỏi đã bắt đầu nghĩ: vắng tôi mọi việc đều không ra gì …”

Trước hết cái “tài giỏi” của anh Chủ tịch xã tên An chỉ “áp dụng” được vào việc công, việc trong xã thôi, còn việc nhà thì anh ta lại rất dở. Hai vợ chồng anh có cái ao thả cá, khi bắt đầu tát, anh  tính toán chắc phải được hơn vạn con, nào ngờ tát lên chỉ được khoảng hai ngàn. Ông Chủ tịch xã làm kinh tế gia đình thế là lỗ nặng. Vậy nhưng ngược lại, khi làm “kinh tế” cho toàn xã, ông Chủ tịch này lại rất tài giỏi. Cái kiểu “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” theo nhà văn đó cũng là phẩm  chất “cộng sản” của anh cán bộ.

Vậy Chủ tịch xã được nhà văn Nguyễn Khải khen và ca ngợi đó sự thực “tài giỏi” ra sao? Trước hết ông ta xắn quần lội ruộng để kiểm tra và một lần bắt gặp “hai sào ở đồng Con Cú của đội hai, cày còn dối lắm, chỉ vài xá vòng quanh”, lập tức Chủ tịch xộc ngay đến nhà ông Chủ nhiệm hợp tác xã để vạch tội. Ông Chủ nhiệm lại cho gọi thợ cày đến. Anh thợ cày đành phải thú nhận đã cày dối làm mọi người phục lăn ông Chủ tịch xã đi sâu đi sát.

Lần khác, ông Chủ tịch xã sau 3 tháng nằm viện về, nghe tin mức bán thóc thuế nghĩa vụ của các hợp tác xã trong xã còn thấp, lập tức ông ta cùng kế toán lặn lội tới từng hợp tác xã để tính toán lại mức thu nhập và quả nhiên họ đều phải nâng cao mức bán thóc nghĩa vụ cho Nhà nước.

Cũng trong thời gian ông Chủ tịch xã nằm viện, ở nhà ông Phó Chủ tịch đã “ngã giá mua năm gian nhà ngói của ông Cẩm với giá bốn nghìn đồng để rỡ ra làm trường học”. Chủ tịch xã An đi viện trở về nhất định không chịu giá đó và quyết định chỉ mua với giá… hai nghìn đồng mà gia chủ cũng đành phải bán.

Một lần chủ nhiệm hợp tác xã An Lạc Hạ “lên xin uỷ ban cho phép mổ con lợn năm chục cân lấy thịt cho xa viên ăn”. Mặc dầu ông Phó Chủ tịch xã tên Như đã đồng ý cho phép mổ, nhưng ông Chủ tịch xã An đi công tác về khăng khăng không cho mổ là vì “mổ rồi, nuốt vào bụng rồi mà không thu được đủ phiếu thì cũng đến cười xoà với nhau…”. Vậy có nghĩa là muốn mổ lợn, ông Chủ nhiệm phải được duyệt “phương án chia hoa lợi” cái đã.

Một lần khác, ông Trưởng phòng lương thực xuống xã đề nghị ký hợp đồng xay thóc kho. Lại một lần nữa ông Chủ tịch xã trẻ tuổi lại tỏ ra xuất sắc vì biết tính toán tới cả “chín xu một cân điện, vị chi là chín hào. Lại còn tiền dầu luyn. Ba ngày phải thay một lần dây cua-roa bốn mét, mỗi mét mười hai đồng. Lời lãi đâu mà nhiều…”. Mặc dầu “tài năng tính toán” của ông Chủ tịch xã chỉ có “nhiêu đó”, nhưng ông Chủ tịch huyện đã như mở cờ trong bụng: “Đấy! Cán bộ xã của huyện này như thế đấy! Thật là hiện đại nhé! Mặc dù máy xay chưa về đến xã, mà hắn ta đã biết lui tới như một ông Giám đốc thực thụ vậy…”

Ngày nay coi lại chân dung ông Chủ tịch xã được coi là xuất sắc tài giỏi này, người đọc phải bật cười. Hoá ra tài năng của ông đứng đầu chính quyền một xã chỉ là đi xét nét thợ cày, tính toán sao cho Nhà nước bóc lột dân được  nhiều hơn nữa, xét duyệt cho hợp tác xã mổ trâu, tính toán giá công xay thóc… Nếu chỉ bằng vào những khả năng đó thì trình độ ông Chủ tịch xã “xuất sắc và tài giỏi” cũng chỉ ngang với một anh nông dân hạng bét. Người ta không thấy ông có mảy may ý thức mình là người đứng đầu chính quyền một xã để có những ý tưởng mới trong tổ chức sản xuất, trong việc thực thi pháp luật của nhân dân trong xã mà chỉ loanh quanh những việc vụn vặt, con cá lá rau bất kỳ anh nhà quê ngớ ngẩn nào cũng làm được.

Chân dung “chủ tịch xã” đã méo mó vậy, còn Chủ tịch huyện ra sao? Đó mới là phần chính trong tiểu thuyết “Chủ tịch huyện” của Nguyễn Khải.

Cái “ông Chủ tịch huyện” này chắc chắn phải là một anh “nhà quê” đặc sệt bởi lẽ:

“Buổi sáng vừa ngủ dậy, ông Chủ tịch huyện hãy còn cầm trong tay chiếc bàn chải đánh răng đã có thể gọi phóng lên dãy nhà trên: Các cậu ở nông lâm ơi, sáng nay An Trạch nó gieo đay thí nghiệm đấy đã cử người xuống chưa ?”

Một ông quan đầu huyện mà làm việc theo kiểu “xó bếp” vậy, đủ hiểu cái công việc ở Uỷ ban tẹp nhẹp và “tạp pí lù” đến chừng nào. Thời đó chưa có các dự án, chưa có các nguồn vốn ODA, WB, chưa có nước ngoài vào đầu tư xây dựng các khu công nghiệp…nên các cấp chính quyền trong huyện, ngay cả ông Chủ tịch huyện cũng chẳng có gì mà “ăn chia phần trăm” hay là “rút ruột công trình”…Bởi thế trụ sở Uỷ ban huyện chưa nguy nga, bề thế như hiện nay mà chỉ là cái nhà dài, tập thể, ở đó “người ta sống như trong một gia đình”. Đó là “một dãy nhà ngang thấp tối ở khuất hẳn phía trong, vẫn lợp rạ, trát vách… Gian đầu là chỗ ở của Chủ tịch huyện, gian thứ hai là chỗ ở của Chánh văn phòng Uỷ ban và anh thư ký đánh máy, gian thứ ba là của bà nấu cơm và chị phụ trách lớp mẫu giáo, vỡ lòng trong toàn huyện, còn hai gian ngoài cũng giành riêng cho gia đình bà Phó Chủ tịch huyện…”

Thật không thể tưởng tượng nổi một ông quan đầu huyện lại ăn ở  kiểu “lán trại” như công nhân trên công trường:

“Ông Chủ tịch nằm duỗi thẳng trên giường, cảm thấy rất rõ rệt các đầu xương đang rời ra vừa khoan khoái, vừa mỏi mệt. Nhạn, chánh văn phòng uỷ ban đã ngáy đều đều bên kia vách tường. Khi Nhạn thôi ngáy một lúc nào đó lại đến tiếng nghiến răng của bà nấu cơm ở buồng bên kia nữa…”

Uỷ ban huyện “ăn ở” lúi sùi và bệ rạc như vậy trách gì công việc hàng ngày của ông Chủ tịch huyện cũng chỉ toàn chuyện “bếp núc”. Trước hết ông Chủ tịch huyện làm việc không có giờ giấc gì hết:

“Ở huyện người ta không thể làm việc đúng giờ giấc được, và cũng khó có thể chủ động dành một khoảng thời gian hoàn toàn cho riêng mình, kể cả khi anh ốm nhưng không đi nằm bệnh viện, anh về nhà vui chơi với vợ con hoặc ngay sau khi anh đang ngủ say sưa sau một ngày làm việc mệt…”

Vậy nhưng công việc của ông Chủ tịch huyện bao gồm những gì mà ông phải làm việc suốt 24/24 vậy? Hoá ra nó chẳng có gì ghê gớm mà toàn là những việc hành chính, lặt vặt. Trước hết một ngày ông phải “ký hàng trăm tờ công văn ( tuy chính người ký cũng không thể biết hết nội dung của nó) vì huyện có những hăm nhăm xã và hăm hai phòng, ngành, mặc dầu các phòng ngành đều ăn chung một bếp, ra vào đều chạm mặt nhau nhưng vẫn cứ phải đọc công văn của nhau”. Công văn gì mà lắm thế, thì đại loại toàn những chuyện “gieo đay của các xã”, “tình hình đào đắp của các đội thuỷ lợi và số mét phải hoàn thành”,”tình hình dồn ấp trại về làng để khoanh vùng cơ giới”…

Ta hãy coi công việc hàng ngày của Chủ tịch huyện. Trước hết một ông chủ nhiệm hợp tác xã  trồng đay đến kiện anh phụ trách chi điếm ngân hàng huyện không cho vay tiền. Anh này bị ông chủ nhiệm tố cáo đã nhận ba sào đất của một ông chủ nhiệm khác nên đã cho vay dễ dàng còn ông không có gì lót tay nên bị gây khó dễ. Thế là ông Chủ tịch huyện chẳng biết nếp tẻ ra sao, chẳng “điều tra điều nghiên” gì hết ra ngay cái lệnh cách chức anh ngân hàng dễ dàng như ông bố trong nhà phạt con cái. Rồi đến cuối buổi có một ông lão chạy vào Uỷ ban đề nghị ông Chủ tịch huyện can thiệp để xe ô tô khách chở cho “mấy chục cân rau của hợp tác xã đưa lên cho anh em trên công trường, trên ấy hiếm rau lắm…”. Tất nhiên là ông Chủ tịch huyện tức khắc chạy ra bến xe ra lệnh cho nhà xe phải chở cả ông lão với bao tải rau của ông.

Đại khái công việc hàng ngày của ông Chủ tịch huyện toàn những việc chẳng ra ngô ra khoai như vậy, chẳng cần tới hiểu biết về khoa học quản lý cũng như những kiến thức tối thiểu về khoa học kỹ thuật. Cứ theo nội dung công việc của ông thì bất kỳ anh nhà quê thất học nào cũng làm được “chủ tịch huyện”, miễn là nắm vững đường lối chính sách của Nhà nước và tuyệt đối trung thành với Đảng.

 

Trong “công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc ngày xưa, đúng với bản chất nông dân của cuộc cách mạng, ý thức lao động gân bắp được coi là “phẩm chất số một” của việc đánh giá và đề bạt cán bộ. Bởi vậy người ta không  lấy làm lạ vì sao trong tiểu  thuyết “Chủ tịch huyện” của Nguyễn Khải, các ông Chủ tịch xã, Chủ tịch huyện và Bí thư tỉnh uỷ ông nào ông nấy đều mở đầu việc lãnh đạo nông dân bằng…”xắn quần móng lợn đi thăm đồng ruộng”.

Ông Quang, Bí thư tỉnh uỷ, vừa đánh xe con xuống huyện đã lôi ngay ông Chủ tịch huyện Hiệp lên xe, kéo nhau ra đồng coi tình hình sâu phá ngô ra sao? Và ông Bí thư chỉ thị cho ông Chủ tịch huyện cái việc mà lẽ ra cấp xã cũng có thể quyết định được:

“Nơi nào nhiều sâu quá nên bán chịu thuốc trừ sâu cho họ  hoặc ứng một khoản tiền nào đó cho họ vay mua thuốc. Chú ý đấy, không thì hỏng ăn cả…”

Liền đó ông Bí thư lại khuyến cáo ông Chủ tịch huyện nên đi thăm các cán bộ xã đội ở 25 xã trong huyện là vì “Khi họ mổ lợn, ăn cơm liên hoan mình không đến cũng được, nhưng khi họ túng thiếu, ốm đau, gặp khó khăn thì phải tìm mọi cách chia sẻ với người ta. Dân mình có câu: “lời chào cao hơn mâm cỗ” là có ý nghĩa sâu sắc lắm đấy…”

Trong một xã hội toàn bộ nông dân đều bị nhốt trong hợp tác xã với kỹ thuật canh tác lạc hậu “con trâu đi trước, cái cày theo sau” từ ngàn năm trước thì đời sống con người hết sức đơn giản – không du lịch, không tài sản, không luật sư, không phương tiện di chuyển, không máy móc phục vụ sinh hoạt và giải trí, không cả hàng hoá và chợ búa, con người chỉ nhăm nhăm lo sao cho “ăn đủ no, mặc đủ ấm”, vậy thôi; việc quản lý xã hội bởi thế mà trở nên hết sức đơn giản và dễ dàng. Nhà nước công nông thực ra chỉ lo “quản lý” sao cho nông dân và công nhân đổ hết lao động gân bắp ra để thu thóc và sản phẩm công nghiệp. Chính vì vậy ông “quan đầu tỉnh” chẳng cần có đầu óc nảy sinh ý tưởng mới, chẳng cần có kiến thức khoa học quản lý và khoa học kỹ thuật, ông chỉ “đòi hỏi được biết cái tình hình thực, cái tình hình tự nhiên nhất, không bị tô vẽ, không bị che lấp bởi bất cứ một thứ sắp xếp giả tạo nào”. Cái tình hình thực đó thực ra rất đơn giản, xoay quanh có mỗi chuyện “nước, phân, cần, giống” mà bất kỳ một anh cán bộ cấp xã nào cũng có thể điều hành được, chẳng cần tới một ông “quan đầu tỉnh”. Bởi vậy khi xuống huyện, ông bí thư tỉnh uỷ “sẵn sàng kiếm ngay một cái buồng riêng chui vào đó làm việc một mình như ở nhà, hoặc đọc báo hoặc ngủ một giấc nếu như đêm trước anh không được ngủ….”

Để tô vẽ cho ông “bí thư tỉnh uỷ” đi sâu đi sát quần chúng, ông nhà văn “bắt” ông xộc cả vào phòng ngủ vợ chồng người ta, làm cái  việc rất kỳ cục là dạy chủ nhà … sắp xếp quần áo:

“Này, đừng có thu dọn theo cái cách ấy. Anh hãy để thứ nào vào thứ ấy, đúng với cái chỗ của nó, xem nào !”

Miệng nói , tay Quang (bí thư tỉnh uỷ) đã giũ tung cái đống quần áo lẫn lộn cái bẩn, cái sạch, cái khô, cái ướt, rồi lượm lại từng cái một: cái này của chị ấy thì để riêng ra, của chúng nó cũng xếp riêng ra. Cái quần này của cậu phải không? đã giặt chưa đấy? Thôi, chốc nữa đem giặt đi, đói cho sạch rách cho thơm…”

Chưa hết, để tỏ ra đi sâu đi sát quần chúng, ông bí thư tỉnh uỷ còn “thọc sâu” vào việc gia đình người ta:

“Đồng chí Bí thư tỉnh uỷ liền tính toán với ông chủ gia đình về công việc của tùng đứa, buổi sáng chúng làm gì? Trưa chiều nên giao cho chúng những việc gì? Rồi Quang bày cách thu dọn lại nơi ăn chốn ở, từ chỗ xếp quần áo, đến sách vở, guốc dép, đồ dùng thức đựng trong gia đình…”

Cứ xem cái cách ông “bí thư tỉnh” dạy bảo ông “bí thư xã” người ta phải bật cười về sự lố bịch của ông quan đầu tỉnh, chẳng rõ bà chủ nhà – tức vợ ông “bí thư xã” sẽ phản ứng ra sao khi chứng kiến cái cảnh một thằng cha căng chú kiết nhảy vào giữa chỗ riêng tư nhất trong tổ ấm của chị, “xía vô” tới cả những việc lẽ ra chỉ có vợ chồng chị biết với nhau. Ngược đời thay, thời đó con người ta lại lấy thế làm “vinh dự” và cảm động vì được “đồng chí bí thư tỉnh uỷ” quan tâm, săn sóc đến cả những việc nhỏ nhất. Văn hoá ứng xử xã hội chủ nghĩa nặng mùi “nô lệ”, “tôi tớ” như vậy đó. Con người ta sẵn sàng tự tước bỏ những quyền con người tối thiểu nhất là quyền riêng tư trong  gia đình khi được nhận ơn mưa móc của cấp trên dù chỉ là những lời quan tâm tào lao. Quả nhiên sau khi “dạy dỗ bảo ban” gia chủ chi li cặn kẽ, ông “bí thư tỉnh uỷ” liền  ban phát ân huệ, ra lệnh cho ông Chủ tịch huyện trích quỹ cho ông này vay “hai trăm mua một con nghé, chăn dắt một năm bán đi cũng được ba bốn trăm, có thêm một khoản tiền…”.

Đảng “lãnh đạo” ở cấp tỉnh là như thế đấy, nổi hứng cá nhân lên là một ông bí thư tỉnh uỷ có quyền tuỳ tiện móc công quỹ ra ban phát cho kẻ này kẻ khác bất chấp luật lệ về thu chi tài chính của Nhà nước. Xuống xã lần này, ông Bí thư tỉnh uỷ cũng được  chứng kiến một ông Chủ tịch xã tham ô. Ông này lợi dụng chức vụ “viết giấy giới thiệu lên huyện xin mua những… hai chục tạ phân đạm rồi bán ra ngoài theo giá tự do”,

 Rồi thì “một năm trời làm ngơ cho thằng Kim ở Đại Lâm mổ lậu mười lăm con lợn, mổ mỗi con lại mời ông chủ tịch một bữa chén, nếu không ăn thì hắn cho con đưa sang một nửa cỗ lòng”.

Rồi thì “chỉ riêng số gạo cứu đói cho Du Lâm tháng ba năm ngoái, ông Chủ tịch cũng để riêng cho gia đình mình hơn hai tạ…”.

Mua bán chênh lệch hai tấn phân đạm, ăn của đút “nửa cỗ lòng heo”, “một bữa chén”, ăn chặn hai tạ gạo… chỉ có thế thôi mà ông Chủ tịch xã vẫn phải đi tù. Đó là tình hình tham nhũng vào những năm đầu thập kỷ 1970. Hơn 30 năm sau, tốc độ ăn cắp của cán bộ Đảng ta đã gia tăng đến khủng khiếp nếu ta tính được số tiền và của cải bọn Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng… moi móc của Nhà nước. Từ “nửa cỗ lòng heo” ngày xưa đến biệt thự, trang trại ngày nay −  cán bộ Đảng ta quả thực đã tạo được một bước nhảy vọt vĩ đại, có tính cách lịch sử trong sự nghiệp…tham nhũng, nâng nghề ăn cắp thành chuyên nghiệp, thành một phần máu thịt trong cơ thể “Đảng ta”.

Tại sao một Đảng “anh hùng” và “vĩ đại” như Đảng cộng sản lại để căn bệnh ăn cắp phát triển thành trọng bệnh vô phương cứu chữa như ngày nay ? Đó là vì họ không dám nhìn vào cốt lõi, vào chính sự “độc quyền lãnh đạo” đã dẫn tới tình trạng “siêu quyền lực” ở các cấp tạo điều kiện cho cán bộ Đảng ăn cắp thoải mái. Họ vẫn khăng khăng chỉ thừa nhận đó là do sự “suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ”… Ông bí thư đã nhận xét về ông Chủ tịch xã tham ô “là một cán bộ đã được rèn luyện, một con người tốt, có năng lực làm việc. ..” , sở dĩ mắc tội  tham ô là vì “những sai lầm của anh ấy chúng tôi biết cả, biết ngay từ đầu.. Chỉ vì trong Đảng uỷ nể nả nhau quá, nhân nhượng nhau nhiều lần quá thành thử lỗi nhỏ thành lỗi lớn…”

Ngày xưa đã thế và ngày nay vẫn nguyên xi vậy. “Các đồng chí chưa bị lộ” thừa biết đang cùng nhau đồng lòng móc túi nhà nước nhưng “nể nang, nhân nhượng nhau”, bưng tai bịt mắt, ngó lơ, ngậm miệng ăn tiền, chỉ đến lúc tranh ăn, đấu đá nhau để trở thành các đồng chí “bị lộ” mới lăn xả vào tố cáo nhau, sủa ăng ẳng như bầy chó đói tranh ăn. Đó là căn nguyên vì sao “các cơ sở Đảng bị tê liệt” như những vụ tham nhũng đã và đang xảy ra ở Bộ Giao thông vận tải, Tổng công ty điện lực, dầu khí, thiết bị viễn thông…. và khắp nơi nơi trong nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, thời kinh tế hợp tác xã trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bổng lộc chưa có bao nhiêu, các cán bộ chưa cắn xé nhau tranh miếng mồi lớn như ngày nay nên ông Bí thư  vẫn còn cao giọng rao giảng đạo đức cách mạng cho cấp dưới:

“Hoặc là chúng ta phải nghĩ tới nhân dân, tới phong trào; hoặc là chúng ta chỉ lo lắng cho riêng mình…” 

Ngày nay các đồng chí “bí thư tỉnh uỷ” chẳng còn nói năng theo kiểu “chống chủ nghĩa cá nhân” thời “bác Hồ” được nữa, một là vì “ngượng mồm”, hai là sợ cấp dưới nó cười cho thối ruột.

 

Khác với tiểu thuyết “Xung đột” còn có “mâu thuẫn địch – ta”, còn có chuyện đấu đá giữa “nhà nước” và “ nhà thờ” nên câu chuyện còn có chút phong phú, ly kỳ, trong “Chủ tịch huyện”, Nguyễn Khải chỉ mô tả quan hệ giữa các cán bộ và bà con xã viên với nhau, tức “mâu thuẫn nội bộ” nên ít có “pha gay cấn”, đấu đá “một  mất một còn” như cán bộ Nhà nước và linh mục nên chuyện dễ rơi vào nhàm chán, tẻ nhạt. Bởi vậy để lôi cuốn độc giả, ông nhà văn đã phải “làm động tác giả”, tạo ra những “xung đột” tưởng như ác liệt mà thực chất lại là hoà hợp vui vẻ.

Chuyện là ở hợp tác xã Nam Hoà, “sau khi rỡ khoai mùa xong, có hai  chục hộ gửi đơn thẳng lên trung ương khiếu nại về đời sống khó khăn, thu hoạch quá thấp, xin được ra ngoài làm ăn, nhưng vẫn “trung thành với Đảng, với chủ nghĩa xã hội”.

Thời nay, bà con nông dân làm đơn khiếu kiện lên trung ương là chuyện cơm bữa, là chuyện thường ngày ở nông thôn, nhưng vào thời đó – thời đang xây dựng hợp tác xã thì việc dân làm đơn lên thẳng trung ương xin ra khỏi hợp tác xã là một chuyện ghê gớm, kinh khủng, chắc phải có phản động ở bên trong xúi giục.

Bởi vậy ngay lập tức, chủ nhiệm hợp tác xã triệu tập cuộc họp gồm Ban quản trị và các hộ đã nộp đơn xin ra khỏi hợp tác. Người đọc chờ đợi ông nhà văn qua sự kiện này vạch mặt bọn cường hào mới ở nông thôn, ăn cắp tài sản hợp tác xã, chèn ép và bóc lột sức lao động, đẩy người dân vào nghèo đói cùng cực  khiến họ phải vùng dậy phản kháng, qua đó chứng minh đường lối xây dựng kinh tế hợp tác xã của Đảng là một sai lầm nghiêm trọng.

Lẽ ra một nhà văn trung thực nhất thiết phải làm được chuyện đó. Tiếc thay, ông Nguyễn Khải đã làm cái việc ngược lại. Ông bôi xấu những người khiếu kiện, ông mô tả một trong những người đầu đơn xin ra hợp tác đó lại là một tên “ăn mặc kỳ quái. Hắn ta khoác lên người không phải cái áo mà là những mảnh giẻ, một cái quần không ra chùng, không ra cộc vá víu hàng chục mụn, và cái thằng vô giáo dục đã không biết giữ liêm sỉ, khi cái phần đáng lẽ ra phải giấu kín thì nó lại phơi bầy ra trước mắt mọi người…”

Ông nhà văn đã dựng chân dung một người phản kháng, xin ra khỏi hợp tác là một thằng lưu manh, chày cối như vậy đấy. Tệ hại hơn nữa, hắn nghèo đói nhưng không phải do hợp tác xã gây ra mà chính là hắn …cờ bạc. Ta hãy nghe bà chủ nhiệm kể tội hắn:

“Chúng tôi còn có khuyết điểm là đã để anh thua bạc phải gán nợ hàng tạ thóc đến nỗi vợ con anh phải đói. Lại không biết khuyên anh thôi rượu, thôi chè chén, thành thử trong lưng anh bây giờ không còn lấy được  vài đồng đong gạo cứu đói…”

Như vậy đó, Nguyễn Khải coi những kẻ làm mất trật tự trong hàng ngũ đó chẳng qua là đám “giòi bọ”. Ông thừa nhận tuy có những người đi ngược lại chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước xin ra khỏi hợp tác xã nhưng đó là bọn cờ bạc, lưu manh ở nông thôn chứ không phải nông dân làm ăn lương thiện. Cái cách Nguyễn Khải bênh vực chủ trương xây dựng hợp tác xã nông  nghiêp  như vậy thật vụng về và lố bịch.

Tuy nhiên, dẫu là “nông dân lạc hậu” hay “nông dân tiên tiến” một khi đã xin ra khỏi hợp tác xã thì là một chuyện tầy đình không khác gì có bọn “phản động chui vào phá hoại hợp tác xã”. Bởi thế ông Chủ tịch huyện có lần  đi công tác mấy ngày liền, trở về cơ quan, đã  định nghỉ ngơi, “tự pha một ấm chè thật đặc, rồi ngồi co cả hai chân hớp từng ngụm nước nóng chát, thoáng ngọt và rít thong thả từng hơi thuốc…”, nhưng nghe tin ở dưới xã có cả chục hộ viết đơn xin ra hợp tác, lập tức cái “hạnh phúc nhỏ nhoi” được nghỉ ngơi đó biến mất,  cho dù đang nửa đêm ông cũng lặn lội đạp xe xuống tận nơi để giải quyết làm như trời sắp sập đến nơi.

Đau đớn cho ông Chủ tịch huyện cái người cầm đầu nhóm người nộp đơn xin ra khỏi hợp tác ấy lại là ông lão Hoá – một nông dân cách mạng nòi, ngày xưa đã từng đào hầm cứu sống ông Chủ tịch huyện hồi còn kháng chiến chống Pháp. Nghe chính miệng ông Hoá tự nhận đã viết đơn xin ra khỏi hợp tác, ông Chủ tịch huyện sững sờ:

“Ô hay sao lại là ông ?”

Thật là không tưởng tượng nổi, thà những đứa cờ bạc, rượu chè, lười lao động xin ra hợp tác vì ngại đi làm còn hiểu được, đằng này “lão thành có công với cách mạng” như ông cụ Hoá cũng đòi ra là làm sao? Oâng Chủ tịch huyện nổi giận:

“Ai mà hiểu tại sao ông lại hành động nông nổi đến thế? …Ông đã nghĩ kỹ chưa mà lại làm ăn như thế ?”

Đúng là chuyện không thể hiểu nổi. Đảng đề ra chính sách hợp tác hoá là để “giải phóng sức lao động”, nâng cao đời sống, “đổi đời cho nông dân” vì sao họ lại xin ra khỏi hợp tác xã ?

Người ta cứ tưởng nhà văn Nguyễn Khải phát hiện ra một “lỗ hổng” trong chính sách hợp tác hoá buộc xã viên phải nộp đơn xin ra sẽ dẫn tới nguy cơ tan vỡ hợp tác xã. Nhưng không phải vậy, ông nhà văn đã “làm động tác giả” để kích thích trí tò mò độc giả, tăng phần hấp dẫn cho cuốn sách đó thôi.

Hoá ra ông già Hoá và một số xã viên làm đơn xin ra khỏi hợp tác xã không phải vì “bất mãn chế độ” mà ngược lại, chính là để đòi cán bộ hợp tác xã thực hiện đúng …chủ trương chính sách của Nhà nước.

Nguyên là ở vùng này có nhiều đất vườn mà đất vườn có thể gieo trồng, chăn nuôi nhiều thứ, giá trị hơn cả ruộng khiến “người ta có thể trao cho hợp tác xã tất cả đất ruộng của mình, nhưng cốt tử phải giữ lấy mấy sào vườn…”. Bởi vậy trong hợp tác xã có tình trạng xã viên chỉ chăm chút vào mảnh vườn riêng của mình mà lơ là ruộng của chung. Rồi thì phân bón của hợp tác xã cũng có nguy cơ chạy vào mảnh vườn riêng.

Đứng trước tình trạng “mầm mống tư hữu” có nguy cơ trỗi dậy đó, ông lão Hoá và một số xã viên “tiên tiến” đã đấu tranh với cán bộ đòi uốn nắn tư tưởng cho xã viên, yêu cầu họ phải coi trọng ruộng đất chung trong hợp tác quan trọng hoá hơn mảnh vườn riêng của họ. Tuy nhiên do cán bộ cũng có “mảnh vườn riêng” nên yêu cầu đó không được thực hiện, bởi vậy họ bày mưu  làm đơn ra khỏi hợp tác xã để gây áp lực buộc cán bộ thực hiện đúng chủ trương của Đảng và chính phủ mà thôi.

Trong tiểu thuyết “Chủ tịch huyện”, Nguyễn Khải đã bịa đặt ra một loạt nhân vật giả, xã viên hợp tác xã “cách mạng hơn cả Đảng”, “bảo hoàng hơn cả nhà vua”, “mác xít hơn cả người cộng sản”.

Thực ra tại các hợp tác xã, các địa phương, do Đảng nắm độc quyền lãnh đạo nên các cán bộ của Đảng không hề bị kiểm tra, kiểm soát bởi báo chí hoặc bất kỳ cơ chế quyền lực nào khác nên bọn họ ra sức tự tư tự lợi, ăn chặn ăn bớt của xã viên, ăn cắp công quỹ. Sự sa đoạ, xuống cấp của hàng ngũ cán bộ đã xảy ra từ rất lâu, từ thời bắt đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở nông thôn. Tuy nhiên trong các tiểu thuyết của Nguyễn Khải, các cán bộ từ tỉnh, huyện, xã, thôn xóm đều là những người “đầy tớ tận tuỵ của dân”, lặn lội ngoài đồng ruộng giúp nông dân nâng cao nâng cao năng suất. Như ông “bí thư tỉnh uỷ” đi sâu đi sát nhân dân, vào tận buồng riêng nhà người ta mà cắt đặt việc gia đình, ông Chủ tịch huyện ăn ở lẫn lộn với cán bộ, nghe tin ở đâu có hiện tượng xã viên xin ra khỏi hợp tác xã là ông phóng xe xuống giải quyết bất kể ngày đêm. Cán bộ xã thì “từ mờ sáng tới nửa đêm: mồm nói, chân chạy, xem xét, hỏi han, tranh cãi, la hét, cáu giận, ngọt ngào, thôi thì đủ…”. Mô tả cán bộ từ tỉnh xuống xã đều tận tụy với dân, không tham ô, tham nhũng − là hết sức sai lệch so với thực tế đời sống. Càng đọc “Chủ tịch huyện” người ta càng nhận rõ cái cảm hứng chủ đạo của nhà văn là “ca ngợi một chiều”, là thực hiện đúng nhiệm vụ “tuyên truyền cho đường lối chính sách của Đảng” của nhà văn “cách mạng”. Bởi thế tác phẩm của họ cũng nhanh chóng rơi vào quên lãng. Khi nhiệm vụ chính trị qua đi, tác phẩm văn học “phục vụ kịp thời” cho nhiệm vụ chính trị đó cũng chết theo. Đó là “số phận” của những tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam của Nguyễn Khải.

 

 

Suốt cả cuốn tiểu thuyết “Chủ tịch huyện”, người ta thấy cán bộ từ thôn xã lên tới huyện tỉnh, anh nào anh nấy hai bàn tay đều sạch bong như tờ giấy trắng, nhất mực chỉ “vì Đảng vì dân” không mảy may tơ hào công quỹ lấy một cân gạo, không nhũng  nhiễu ăn tiền của dân lấy một  đồng bạc. Có lẽ “tô hồng” quá đáng vậy sợ bạn đọc cười, Nguyễn Khải “liều mình” dựng lên một ông Chủ tịch xã  tự tư tư lợi, lợi dụng chức quyền ăn tiền của dân.

Nguyên ở xã Hoà Trung có anh chủ tịch xã tên An làm ăn rất giỏi khiến cấp phó của anh là Như ghen ghét rắp tâm làm hại. Anh này xúi ông chú họ tên Đào làm nghề buôn chuyến đến mua lại hai nghìn ngói của  ông chủ tịch xã với giá cao hơn giá mua của Nhà nước tám chục nghìn. Mua bán xong xuôi, ông Đào lại biếu ông Chủ tịch hai ngàn lá cọ và đề nghị ông mua giúp cái dầm cầu xã bỏ đi để làm cột nhà giá có 200 ngàn nhưng lại đưa những 300 ngàn, coi như “biếu” Chủ tịch xã chỗ chênh lệch.

Chuyện “tham ô” của Chủ tịch xã hoá ra chỉ có thế, chẳng qua là ông vô tình tưởng chuyện nhỏ, ai ngờ tay Phó Chủ tịch thổi lên thành chuyện lớn. Rất may, “đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã” đã có mặt kịp thời, phân tích cho Chủ tịch xã “nhận ra sai lầm” của mình, trả lại tiền cho lái buôn, nhờ vậy vẫn giữ được phẩm chất của một cán bộ cộng sản.

Hoá ra lại một lần nữa Nguyễn Khải “làm động tác giả” khi mon men tiến gần tới cái cốt lõi của đám cán bộ Đảng ở nông thôn: máu tham ô, bòn rút của công. Tiếc thay, tiểu thuyết “Chủ tịch huyện” hoàn thành vào tháng 2 năm 1971 khi bộ mặt của “cán bộ mua đài mua xe” đã lộ ra gớm ghiếc, khi bất công xã hội đã trở nên vô cùng sâu sắc, khi “chợ vua quan” và “chợ của nhân dân anh hùng” mỗi ngày một cách biệt, vậy nhưng ông nhà văn vẫn nhắm mắt bưng tai không dám nhìn, không dám nghe những xấu xa, đồi trụy của đám quan lại cán bộ này, vẫn hết lời “bốc thơm” chúng.

Kết thúc cuốn tiểu thuyết, ông nhà văn đặt vào mồm Chủ tịch xã trẻ và Chủ tịch huyện già những đối thoại qua đó “ca ngợi “ không còn biết xấu hổ về phẩm chất của thế hệ cán bộ mới này.

Chủ tịch xã:

“ …khó khăn mấy rồi cũng vượt qua được cả  thôi. Thế hệ cha anh đã đánh thắng bọn xâm lược Pháp, thì thế hệ chúng em sẽ đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Chắc chắn là như thế…”.

Chủ tịch huyện :

“Chắc chắn phải là như thế…”

Chủ tịch xã :

“…cái khó nhất là đoàn kết được với nhau, không có gì phải ngờ nhau, phải đối phó với nhau thì việc gì cũng làm được, làm được hết…”

Anh Chủ tịch xã này nói năng y như … bác Hồ kêu gọi toàn dân “đoàn kết, đại đoàn kết” vậy. Nhưng cán bộ làm sao mà đoàn kết được khi họ phải bon chen, chèn lấn, đẫm đạp lên nhau giành ghế để tồn tại? Người bộ trong bộ máy Đảng và Nhà nước thì đông như quân Nguyên, ghế ngồi thì có hạn, càng lên cao, ghế càng ít, cuộc đấu đá giành giật càng khốc liệt. Kêu gọi đoàn kết trong đám tranh ăn, một mất một còn rõ ra là trò ảo tưởng, bịp bợm, hài hước.

Để kết thúc cuốn tiểu thuyết, ông nhà  văn còn cho Chủ  tịch huyện phát biểu một câu thật “lãng mạn”…cách mạng :

“Nói cho cùng, cái thử thách lớn nhất, phức tạp nhất vẫn là tự mình vượt qua mình. Ngoài ra những khó khăn khác, những thử thách khác đều không đáng sợ, có phải không, đều không có gì đáng sợ…”

Tuy nhiên, thử thách lớn nhất, phức tạp nhất đối với các cán bộ chẳng phải là vượt qua mình mà chính là vượt qua…cái ghế của mình. Bởi thế họ phải trui rèn cho mình một phẩm chất … bất nhân, gian manh và đểu cáng để giẫm đạp lên đồng chí, đồng đội mà leo cao. Ngoài ra cái khó vượt nhất trong con người cán bộ chính là máu tham, nhu cầu hưởng thụ và đòi hỏi lớp cán bộ như Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng…vượt  qua được cái “máu” đó thì quả thật còn khó hơn con voi mượn cánh con bướm mà bay qua đại dương.

Bởi thế tiểu thuyết “Chủ tịch huyện” cũng giống như “Xung đột”  của Nguyễn Khải  đã “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” của nó chỉ sau vài năm ra mắt bạn đọc và hiện giờ nó chỉ còn được nhắc tới bởi các nhà phê bình lý luận văn học ăn bổng lộc Nhà nước.

 

 

 

3

Hồi tháng 2 năm 2006, nhà văn Nguyễn Khải có trả lời phỏng vấn  báo Tuổi Trẻ .

Khi được hỏi: “Nếu người ta gọi ông là nhà văn thời sự thì ông buồn hay vui?”  và “thời sự hình như không mấy tương đồng với sức sống lâu dài của một tác phẩm. Chủ quan mình, ông nghĩ  tác phẩm nào của mình sẽ có được  cái lâu dài ấy ?”

Nhà văn Nguyễn Khải sốt sắng trả lời:

“Nhiều tác phẩm hay đã được bắt đầu từ những bức xúc rất nhỏ của một “chuyện hôm nay”, của cái “bây giờ” nhưng vẫn làm nhiều thế hệ bạn đọc xúc động… Phần mình, tôi nghĩ “Một cõi nhân gian bé tí”, “ Cha và con và…”, “ Điều tra về một cái chết “ cùng một số truyện ngắn của tôi có được cái thân phận ấy của con người…”

Vậy là trong vài chục tác phẩm, Nguyễn Khải đã chọn “Cha và con và…”  là một trong vài tác phẩm ông cho rằng có thế để đời, còn lại mãi với thời gian. Viết xong vào tháng 8 năm 1978, xuất bản trong năm 1979, dày vỏn vẹn chừng 200 trang và sách vừa in ra đã được “phê bình gia” Lại Nguyên Ân tung hô trên báo Văn Nghệ với cái tựa bài to tát: “Cha và con và…hay là: triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội…” (Văn nghệ, s. 13, ngày 29/3/1980)

Ghê gớm chưa?

Vậy giá trị thực của cuốn truyện này ra sao?

Như trên đã nói, viết về “nhà thờ” luôn là mặt mạnh của Nguyễn Khải vì ông luôn coi quan hệ giữa nó và Nhà nước là “đối kháng” nên viết dễ sinh động lôi cuốn, gay cấn hơn là viết về “dân” với “cán bộ”, vốn là mâu thuẫn ông coi là “nội bộ” đơn giản và tẻ nhạt.

“Cha và con và…” lại cũng xoay quanh chủ đề “bôi bác nhà thờ” như hai tập tiểu thuyết “Xung đột”.

Đó là câu chuyện về một linh mục trẻ, mới ngoài ba mươi, tên là Thư, được Toà Giám mục cử về “nhậm chức thầy cả” ở xứ Nhất. Về địa phương, trước hết cha phải tới trình diện chính quyền xã. Cái cách đối xử của cán bộ uỷ ban làm cha không được vui, phàn nàn với ông chánh trương:

“Cả cái uỷ ban của các ông nữa. Họ để tôi leo cả mấy bậc thềm, tự bước vào trong nhà, tự đến trước bàn giấy của bà Chủ tịch ngả mũ chào, rồi bà ta mới đứng lên chào lại. Bà ta là Chủ tịch thật nhưng còn là con chiên của Chúa. Chúa chiên đến mà con chiên dám xử sự vậy sao ?”

Tuy nhiên, đó mới chỉ là nỗi phiền lòng đầu tiên ông cha trẻ gặp phải khi tới nhậm chức ở vùng đất mới. Chờ đợi ông ta ở phía  trước còn vô số những “chọc phá”, những “đòn phép” bổ vào đầu ông mà đau đớn thay không phải từ phía chính quyền vốn “thù địch” với nhà thờ, mà lại từ phía những con người thuộc phe ông – những  linh mục già, chánh trương, trùm trưởng, con chiên … luôn luôn giăng bẫy trên đường đi tới của cha linh mục trẻ mới nhậm chức.

Trước tiên, cha linh mục trẻ phải tới gặp cha linh mục già để nhận “bàn giao”. Mới qua vài ba câu chuyện, cha trẻ đã nhận ra tính cách xỏ xiên của cha già:

“Lạy Chúa ! Tại sao ông già này lại nói nhiều về sự yếu lẫn của mình. Ông già ấy định giăng cái bẫy nào đây? Lời nói như gan ruột, nhưng cái miệng thì bỡn cợt, con mắt thì hấp háy, biến ảo quá chừng.

Cha trẻ cúi mặt thở dài rất nhỏ, lái câu chuyện sang hướng khác…”

Một cha trẻ mới ngoài 30 tới nhậm chức, một cha già ngoài 80 sắp về với Chúa phải rời chức. Hai cha đối xử với nhau thật chẳng khác gì hai quan cán bộ trẻ già hằm hè nhau khi bàn giao ghế. Quả thực Ban tôn giáo chính phủ cần cấp bằng khen cho nhà văn Nguyễn Khải về thành tích “bôi xấu Thiên Chúa giáo”.

Hành hạ “cha trẻ” vậy nhưng “cha già” vẫn chưa chịu buông tha. Tới bữa ăn “cha già” còn “quay” một hồi nữa khiến “cha trẻ” cảm giác “bữa cơm kéo dài như một hình phạt. Chẳng phải vì một già một trẻ, một cũ một mới, một cha quản hạt và một cha mới nhậm chức, mà còn vì một cái gì khác nữa, chưa rõ rệt, rất khó dò tìm đã khiến vị linh mục trẻ mất hẳn phương hướng đối đáp trong những mẩu chuyện vặt vãnh không đầu không đuôi…”

Thoát được “cha già”, “cha trẻ” được phái về xứ Nhất nơi còn biết bao nhiêu điều phiền tạp chờ đợi cha. Trước hết, “lễ nghênh tiếp vị chủ chiên của ban hành giáo hàng xứ rất đúng phép tắc, nhưng gượng gạo, vênh váo…”. Lẽ ra theo thông lệ, cuộc tiếp rước phải “cờ phướn, có chè chén, tối có đánh bạc”  nhưng chính quyền không cho phép. Chỉ còn lại “những trình bẩm, ban truyền, những ân sủng, kính cáo , toàn những chữ nghĩa đã chôn đi, đã quên đi từ đời kiếp nào, nay phải móc lên cả lượt”.

Cái cảnh các ông già bà cả cung kính chào cha chăn dắt linh hồn được ông nhà văn riễu là “ông già cúi người trước một chàng trai trẻ, xưa là thế, vì nó còn là con vua cháu chúa, còn nay mà thế tự nghĩ cũng ngược lẽ, cũng nực cười…”

Trong đám đón rước cha, có ông trùm họ An Cựu, “đội khăn xếp, áo thâm dài, đi giày mũi nhọn, lại cắp cả ô nữa mà trời vẫn nắng ráo”  liền bị chê cười “Ông trưởng khu lên hầu cụ lớn đấy à?” Để biến việc đón rước cha thành một vở hài kịch, ông nhà văn còn cho ông trùm An Cựu đi tới trước mặt cha “quỳ hẳn gối vái một vái, ông hổn hển đứng dậy vái thêm một vái nữa và cứ bước giật lùi”, chẳng ngờ “gót giày lại dẫm ngay vào bàn chân bà trưởng hội khấn… khiến bà đang véo von chúc thày cả liền kêu thét như bị ai cấu, dùng cả hai tay ấn mạnh ông trùm ra một bên, miệng nói the thé: Mắt mù hay sao mà giẫm nát cả chân tôi”.

Thật là bôi bác nhà thờ một cách hết sức thô thiển và tiểu nhân. Chẳng hiểu Thiên Chúa giáo có ân oán gì với ông Nguyễn Khải mà ông thù ghét thâm căn cố đế đến vậy? Chưa hết, khi con chiên còn đang xúm xít đón cha thì “một tiếng gọi hết sức bất ngờ, hết sức rành rõ: “Anh Thư”. Cả mọi người chết lặng vì tiếng gọi quá sức láo xược của một đứa nữ nào đó…”. Gọi tên cúng cơm của cha ngay giữa lễ đón tiếp, mà lại do một giọng nữ rất âu yếm thì quả bằng trát bùn vào mặt cha giữa lúc linh thiêng, long trọng nhất. Thế là cả đám rước biến thành một đám trò . “Trong nháy mắt, những tiếng cười bị dồn nén luồn lỏi khắp các nhóm người, đến nỗi các chức dịch hàng xứ đứng hầu cha cũng không dám ngước nhìn vị chủ chiên, e rằng chính mình cũng khó giữ được sự kính cẩn cần phải có. …”

Dùng chuyện “trai gái” để bôi bác linh mục là một trong những “sở trường” của Nguyễn Khải. Khi có tiếng người nữ gọi tên cha âu yếm như vậy, lập tức ông trùm An Cựu “làm ra vẻ bầy tôi sốt sắng” hò hét:

“Các người bị ma ám quỷ xui cả sao dám hỗn láo thế? Đứa nào gọi tên cha trước? Đứa nào? Là con cái nhà ai để tôi thưa với cha phạt nó. Nó là đứa nào?”

Thật chẳng ngờ đứa con gái đó lại là thị Thảo, con gái của chính ông làm “đám đông cười vỡ ra. Họ không dám cười linh mục mà chỉ cười cha con ông trùm An Cựu nên có thể cười thật thoả thuê” làm ông trùm trợn mắt:

“Chúng bay đừng có bỏ vạ cáo gian mà sa xuống hoả ngục đời đời. Nhà tao mấy đời thờ phượng Chúa…”

Lại cười  cười như thể đang xem vở tuồng, vở chèo gặp một vai đắc ý. Rồi họ nói chen vào như nói đế:

“Đời ông chỉ biết thờ Chúa, chứ con gái ông chỉ biết thờ các cha thôi…” Đám đông vỗ tay tán thưởng màn kịch cương, lời lẽ đã hay mà vai diễn cũng hay…”

Than ôi, cái cảnh con chiên đón tiếp đức cha linh hồn về xứ mình hỗn xược như vậy ở một xứ công giáo toàn tòng như Bùi Chu, Phát Diệm làm gì có cảnh đó. Ông nhà  văn Nguyễn Khải quả đã xuyên tạc, bôi xấu nhà thờ một cách trắng trợn và hèn nhát.

Cô Thảo, con gái ông trùm An Cựu đã cả gan gọi tên cúng cơm của cha giữa đám đón rước, về nhà  còn chớt nhả với bố:

“Ông cụ mới tới nom trẻ đẹp quá, bố ạ… chúng con chỉ thích xem người chứ không xem lễ…”

Ông bố chửi:

“Con nhà vô phúc, rồi mày kéo cả bố mẹ xuống hoả ngục với mày thôi…”

Nó toét miệng cười:

“Xin mời các cụ lên thiên đàng hầu Chúa, còn con xin đi theo cha xuống hoả ngục!”

Bịa ra chuyện con gái một ông trùm đạo cả gan mang đấng chăn chiên ra bỡn cợt ngay cả với bố mình như vậy, quả thật ông nhà văn đã tìm ra một hình ảnh thật sinh động để dựng nên sự suy đồi của đạo tại một xứ toàn tòng.

Công việc đầu tiên của cha mới là xem xét “bình Mình Thánh, chén đĩa, chân đèn, ảnh tượng, khăn bàn, khăn thánh…”. Buồn cho cha, chẳng có vật gì ưng ý, “tất cả đều cũ kỹ, sứt vỡ, hôi mốc, khập khiễng như nhà vắng chủ đã lâu ngày…”. Tâm sự cha trẻ lúc này thật ngao ngán “một ông linh mục quá già, một đàn chiên quá đông, thế tất việc chăm sóc phải biếng, sự giảng dạy phải nhác…Công lao vun trồng vườn nho của Chúa suốt mấy chục năm của các đấng bậc đi trước, rút lại tay không?”.

Vậy là cái gia sản “cha già” để lại cho “cha trẻ” quá èo uột, cái trách nhiệm gây dựng lại việc đạo cha trẻ phải gánh vác quá nặng nề. “Gai góc lại mọc đầy như thủa ban đầu và dây leo đã sắp bò kín cả ảnh tượng. Người kế nghiệp trẻ tuổi sẽ bắt đầu công việc khai phá từ đâu?”

Và ông nhà văn cảnh báo ông linh mục:

“Nhân nhượng với đời hay hay đối mặt với đời? Hoặc giả có việc phải đối mặt và cũng có việc phải nhân nhượng? Là người anh em tốt mà vẫn là người chăn dắt tốt. Cười vui với tất cả mà vẫn chỉ huy được tất cả. Đã có giáo sĩ nào trong địa phận biết dung hoà lề luật của nhà Chúa với lề luật của thế tục chưa? Chưa một ai thì phải. Người được Toà Giám mục hài lòng thì chính quyền căm ghét. Người được chính quyền chiều chuộng thì Toà Giám mục phải đề phòng. Hoặc là đầu này hoặc là đầu nọ, tìm được một chỗ đứng vững chắc ở quãng giữa thật khó lắm thay…”

Lo lắng cho cha trẻ như vậy khác nào “lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử”, ông Nguyễn Khải coi mối quan tâm lớn nhất của linh mục là làm sao dung hoà giữa Toà thánh và Nhà nước để giữ vững cái ghế linh mục của chính ông chứ không phải là chăm lo phần hồn cho con chiên. Ông nhà văn quả đã mô tả cha xứ theo kiểu mô tả một  Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện.

Ngày làm việc đầu tiên, cha Thư đã như bị dội cả một thùng nước lạnh khi gặp người giúp việc thân cận nhất của mình: ông chánh trương xứ vì “ông ta già quá, ốm yếu quá, kèm nhèm và ngu tối thế nào ?”. Và lạ chưa, câu chuyện đầu tiên giữa hai người lại là … tranh luận về cải cách ruộng đất xoay quanh chuyện cụ Thượng người trong làng, bỏ tiền xây cất liền mấy cái nhà thờ sau bị cách mạng xử lý. Ông linh mục nói:

“Địa phận ta còn mắc nợ với Ngài nhiều lắm…”

Ông chánh trương cãi:

“Thưa cha ông ấy còn mắc nợ chúng con rất nhiều…”

Ông cha trẻ gườm gườm nhìn người giúp việc:

“Ruộng đất của người ta, cơ nghiệp một đời của người ta một sớm một chiều mất sạch. Thế còn chưa đủ khổ sở ư ?”

Ông chánh trương nói nhỏ nhưng bướng bỉnh:

“Cái khổ cả trăm gia đình chẳng ai biết đấy là đâu. Cái khổ của một nhà lại như chiều ai oán. Cũng là tôi tớ của Chúa mà…”

Người đọc không khỏi buồn cười vì cái nhân vật “chánh trương” này nói năng chẳng khác gì ông bí thư xã. Vậy chắc ông là “chánh trương quốc doanh” do Nhà nước cài vào để theo dõi Nhà thờ?

Mang tiếng là “cánh tay phải”, là người giúp việc thân cận cho cha, không hiểu sao vừa mới gặp, ông chánh trương đã giở giọng khủng bố tinh thần:

“Thưa cha, năm nay con đã bảy chục tuổi, đã hầu hạ cha già trọn bốn mươi năm… Mắt con đã nhìn nhiều sự đổi thay, người ta hợp nhau rồi người ta lại chia nhau ra. Hôm qua là cha là con, hôm sau có tao không mày. Hôm qua chén chú chén anh, hôm sau nhét rọ buông sông. Đời người biến ảo khôn lường, một sớm một chiều chưa thể biết được…”

Ông cha trẻ chân ướt chân ráo về giáo phận đã bị cha già răn đe cho một buổi muốn điên đầu, nay lại gặp ông chánh trương buông giọng bí hiểm, nửa kín nửa hở doạ nạt về cái sự khó ở đời. Những tưởng ra trường sẽ cùng người nhà Chúa xắn tay áo làm việc đạo, ai ngờ như lạc vào trận đồ bát quái, xung quanh là cả một rừng  gươm giáo.

“Cha trẻ đưa tay lên che mặt, đầu óc quay cuồng, ông rên rỉ :

“Khó  hiểu quá! Các ông nói gì với tôi mà khó hiểu vậy? Tôi chỉ xin các ông một điều: nếu xứ này còn cần linh mục thì tôi ở lại, dẫu khổ hạnh thế nào tôi vẫn cứ ở. Bằng không thì trả tôi về Toà Giám, dừng dùng mưu mẹo làm nhục tôi, bức hại tôi…”.

Ông nhà văn diễn tả cái tâm trạng đau buồn, bế tắc của cha “mùi mẫn” chẳng khác gì một chàng trai si tình bị người yêu ruồng rẫy:

“Và, lạy Chúa, con chỉ ước nguyện sẽ được nằm ở cái giường đơn sơ kia mà trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay âu yếm của Chúa”… Cha xứ đã cởi áo, buông màn và nằm xuống, hai tay chắp ngang bụng, thổn thức vì những ý nghĩ thương cảm xa xôi, miệng khẽ gọi những tên cực thánh: Giêsu – Maria – Giuse…”

Liệu một đấng chăn dắt linh hồn của cả một giáo phận hàng chục ngàn con chiên, có dễ “tủi phận mình”, thổn thức như một anh đồng cô ẽo uột vậy chăng?

Xây dựng nhân vật cha Thư  ngây ngô, ngớ ngẩn như vậy trách gì các “sự khó” cứ ùn ùn kéo tới  với cha. Trước tiên là thị Thảo, cô gái cả gan gọi tên cúng cơm của cha ra trong buổi tiếp rước hôm trước, xin gặp riêng cha với tư cách là trưởng hội hát. Ông cha trẻ chưa trải đời chấp thuận để cô cùng hội hát quyên góp may áo lễ mới cho cha vì cái cũ đã sờn rách. Mặc dầu các cô đã dặn nhau  “Không được nói lại với ai đấy nhá! Cấm đấy nhá…” nhưng chỉ một thời gian sau cả xã đã biết chuyện, gây ra bao tai tiếng làm ông Chủ tịch mặt trận xã phải tìm tới tận nhà ông chánh trương phàn nàn:

“Tôi nghe con mẹ Tộ vừa la vừa khóc: vậy là mày giết tao. Đứa nào xui mày? Thằng nào con nào xui mày để tao băm vằm nó ra?… Chúng nó chim chuột dăng dện nhau thì mặc mẹ nó chứ, hà cớ gì lại khi dỗ mày. Mày ăn cơm hay ăn cứt mà dại dột thế ?”

Hoá ra con gái bà Tộ lấy đôi bông tai để quyên góp may áo mới cho cha làm bà ta chửi toáng: “đã có ông linh mục nào đến xứ này mà chê tiền không? Mà chê gái không? Tôi cũng là người có đạo tôi không nói vu cho ai bao giờ…”  Cha quản hạt thì sao? “Rụng hết răng thì còn ăn gì được, giả thử còn đủ cả hai hàm chắc cũng chẳng  từ…”.

Ở giữa một xứ đạo toàn tòng, sao lại nảy nòi ra một mụ đàn bà oang oang chửi cả cha trẻ lẫn cha già như một mụ đàn bà mất gà mà kẻ cắp lại chính là… các cha. Chắc chẳng con chiên nào hỗn xược, phai nhạt đức tin đến mức chửi cha quá quắt như thế mà chỉ có ông nhà văn Nguyễn Khải mượn mồm đàn bà bôi xấu linh mục thôi.

Ông chánh trương nghe ông Chủ tịch hạch tội cha vậy chẳng những không thanh minh, bênh vực, bảo vệ lại còn tố cáo cha:

“Cái ông ấy ( tức cha Thư) đến là dại. Lại còn không biết nó (thị Thảo) là ai mà dính vào… Lần đầu nó xin gặp cha còn nài tôi cùng ngồi. Mấy lần sau chả thấy ông ấy lý gì tới mình nữa. Không biết đâm mù con mắt xác thịt thì có ngày hỏng…”

Lão Chủ tịch Mặt trận nhân đó riễu  cha:

“Da thịt nó như thế, môi mắt nó như thế, thánh năng ngồi gần còn có khi cháy huống hồ là cha…”  

Cứ như thế kẻ tung người hứng, một bên là đại diện nhà thờ, một bên là đại diện chính quyền ra sức bôi bác cha. Vậy là đang ở bên phía nhà thờ, trợ giúp linh mục, chẳng hiểu sao ông chánh trương lại trở mặt, hùa theo chính quyền, đánh đằng sau lưng cha hiểm độc như vậy? Ông ta là “chánh trương xứ” hay là người của Ban tôn giáo vận cài vào nhà thờ để phá đạo? Ông nhà văn lập lờ không nói rõ ra để mượn mồm “chánh trương xứ” vốn là đại diện cho con chiên của cả một xã chửi bới linh mục và cũng tức là chửi bới Thiên Chúa giáo.

Tất nhiên việc mấy cô hội hát quyên góp may áo cho cha như vậy là tan, “thị Thảo phải hoàn lại đôi hoa cho mẹ con bà Tộ. Các nhà góp tiền mua áo lễ cũng lần lượt kéo tới đòi tiền về…”. Mọi lời đàm tiếu tất nhiên chĩa cả vào cha xứ làm “cha Thư khi được  hay mọi chuyện liền đóng cửa buồng ở lì trong đó cả tuần lấy cớ cảm cúm.”. Và cũng từ đó, mỗi làn buộc phải làm việc với chánh trương, cha xứ đều gọi thêm người trong ban hành giáo tới dự để “khỏi mặt đối mặt với ông già nham hiểm quỷ quái…”  Và khi cha “ló mặt làm lễ sáng chúa nhật nước da khô tái như vừa qua khỏi một cơn trọng bệnh…”

Cái “sự khó” dường như luôn luôn đuổi theo cha Thư. Cơn ông chưa qua cơn bà đã tới, vụ quyên góp làm cha mất mặt hãy còn râm ran trong xứ đạo thì một chuyện đau đầu khác cũng lại  tới. Nguyên là cha Thư một hôm nhận được  thông tư của Toà Giám mục chỉ thị cho các xứ đạo tổ chức “bách chu niên đức cha Phước dâng địa phận Tây Đàng ngoài trong tay Đức Mẹ”. Cha Thư tìm tới cha già quản hạt để bàn việc tổ chức, không ngờ ông này lại giở giọng … bàn lùi:

“Đức cha Phước  là tên gọi Việt Nam, còn tên chính của ngài là Puginier. Ngài coi sóc địa phận Kẻ Sặt kế vị đức cha Theurel ..”

Cha trẻ còn chưa hiểu sao, cha già quản hạt lại lên giọng giảng giải:

“Với người có đạo thì đức cha có công lớn lắm. Ngài đã giữ trọn lành một giáo phận giữa lúc hiểm nguy. Nhưng là người Việt Nam thì tên tuổi của ngài lại gợi lên cái năm bị mất thành Hà Nội. Chả là năm ấy, đức cha lại nhận lời ông Ngạc Nhi [*] đi làm thông ngôn cho ông ta trong cuộc đàm phán giữa người Pháp với các quan giữ thành. Đầu  tháng đàm phán, giữa tháng chúng đã nổ súng thần công giết chết cha con người ta, chiếm lấy thành rồi…”

Hoá ra cha già quản hạt lại là “người yêu nước”, ông kết tội cha đã làm thông ngôn cho “Ngạc Nhi” [võ quan Pháp Fransis Garnier, − B.T.] tiếp tay cho Pháp để chiếm thành Hà Nội. Bởi vậy thật bất ngờ, cha già thở ra giọng “địch vận” lôi kéo cha trẻ về “tình yêu  nước”:

“Mình là người có đạo thì phải nghĩ theo cách nghĩ của hội thánh. Nhưng mình còn là người Việt Nam nữa nên khó…”

Nghe tuyên truyền chính trị lại nói ra từ chính miệng cha già quản hạt, lẽ ra cha trẻ phải phản ứng, vùng lên bảo vệ đức tin, không ngờ cha lại quá thụ động, chỉ than thầm. “Cha trẻ cúi đầu, thầm nghĩ đau đớn: Vâng, đúng thế, đúng là thế. Người có đạo là người có tội, tội truyền kiếp, tội của tổ tiên…”

Thái độ khiếp nhược của cha trẻ làm cha già dấn tới:

“Đạo của Chúa đến cùng một lúc với giặc giã kéo đến. Các cố đứng trong đám giặc mà truyền đạo. Người theo đạo thì không thể nghĩ đến nước. Đã nghĩ đến nước thì rất khó theo được đạo…”

Một câu nói sặc  mùi “kính chúa  yêu nước”, ai dám tin được lại là lời lẽ của một linh mục già  quản hạt. Choáng váng vì những lời lẽ “báng bổ” thật không ngờ lại phát ra từ miệng cha quản hạt, ông cha trẻ phải thốt lên:

“Lậy Chúa, vậy chúng con phải làm gì ? Bất tuân toà giám cũng cũng có tội như bất tuân chính quyền…”

Cha già quản hạt không những không động viên cha trẻ giữ lấy đức tin giữa hai lằn đạn mà còn cả gan “chửi xéo” đức Thánh Cha:

“Đức Thánh Cha ở chỗ cao xa, Ngài không thể biết hết được  những khổ đau của người dân ở xứ này. Ngài chưa thể biết hết lịch sử truyền giáo ở xứ này …”

Coi thường “Đức Thánh Cha” đến mức khó tin như vậy chắc không phải cha già quản hạt mà chính là ông … nhà văn Nguyễn Khải.

Những lễ nghi của nhà thờ thường được quy định chi tiết và được chấp hành một cách tôn nghiêm. Ấy thế mà ông nhà văn Nguyễn Khải cũng biến chuyện đó thành… trò hề. Nguyên là cha tổng quản địa phận gửi giấy về các xứ nhắc lại lễ nghi chầu phép lành quy định: “ra đền thờ bái một lần, lên trải khăn thánh, mở cửa nhà chầu bái lần nữa. …”. Cha trẻ hỏi cha già đã đọc giấy quy định chưa, cha lắc đầu bảo chưa rồi lên giọng khinh khỉnh, coi như chuyện tào lao: “Bái bốn lần hả? Ừ thì là bốn lần. Chắc là mọi khi cũng bái đủ cả bốn lần…”

Thái độ vừa báng bổ vừa coi thường phép tắc nhà Chúa của cha già làm cha trẻ phải coi ông ta là “Một ông già đã quá tuổi làm lễ, đã rất hay quên, đã chẳng còn hiểu mình nói gì và sẽ nói những gì…”. Tuy nhiên cha trẻ nhận ngay ra nhận xét thế là sai “Nhưng… hình như không phải là thế, hoàn toàn không phải là như thế…”

Không phải thế thì hẳn là một lão già quỷ quyệt, nham hiểm không thể coi thường. Dưới ngòi bút của Nguyễn Khải, hai linh mục −  cha già và cha trẻ hiện ra như hai địch thủ luôn luôn rình rập triệt nhau chứ chẳng phải cùng là “con cái Chúa” hoặc hơn nữa cùng là đấng chăn chiên. Dã tâm bôi xấu đạo Thiên Chúa của Nguyễn Khải bộc lộ rõ nhất ở xung đột giữa hai ông cha này.

Quả đắng tiếp theo ông cha trẻ phải nhận là ông trùm đạo An Thuận nhân việc Toà Giám mục cấp sắc cho lập xứ đạo riêng đã tổ chức quyên góp để chè chén linh đình và đổ hết trách nhiệm cho cha trẻ. Rất may được ông chánh trương mật báo, ông cha trẻ đã kịp thời ngăn được việc đầy tai tiếng đo và than trời:  “Ai cũng xấu cả thì tôi biết  san sẻ công việc với ai? …Cái miệng lưỡi con người ta gian ngoan thật…”

Tuy nhiên bản lĩnh linh mục của cha trẻ thực sự bị thử thách là trong việc thay mặt nhà thờ làm chứng cho một cặp vợ chồng trẻ. Anh chồng là bộ đội  ở mãi “vùng ngoại vi Sài Gòn. Bị thương rồi mới chuyển ra đây…”, chị vợ cũng là cán bộ. Anh bộ đội được nghỉ phép 15 ngày để lấy vợ, khi tới xin cha làm chứng thì đã qua mất 5 ngày, bởi vậy anh rất muốn cha viết giấy “làm chứng” ngay để hôm sau tổ chức lễ cưới tại nhà thờ. Tuy nhiên, theo luật của hội  thánh, cha vẫn phải hỏi:

“Hai người đã chịu phép rửa tội tại xứ họ nào ?”

“ Gia đình con vốn ở Lạc Hải, mới về xã được có mươi năm…”

Cha Thư hắng giọng:

“ Vậy chị phải xin với cha chánh xứ ở bên đó tờ chứng đã làm phép rửa tội… Phải đã chịu đủ các phép bí tích từ khi lọt lòng tới tuổi lớn khôn mới có thể cho chịu phép cưới. Luật lệ của Hội Thánh đã định thế …”

Vậy vẫn còn chưa xong, sau khi đã có hai cái giấy chứng đó rồi thì còn phải dự… khảo kinh nữa. Lúc này “anh bộ đội” mới lên tiếng:

“Xin thú thật với cha, cả hai chúng tôi  đều đi công tác đã lâu, kinh bổn chắc là không còn thuộc…”

Cha xứ nói điềm nhiên:

“Nên học lại, vốn đã thuộc thì học lại cũng mau chứ ?”

“Chúng tôi chỉ còn ít ngày phép. Một trăm thứ việc đồn lại trong mấy ngày, xin cha thông cảm cho…” 

Cha xứ vẫn quyết liệt:

“Nếu không theo đúng những luật Hội Thánh đã buộc, dẫu làm phép cũng không thành…”

Đã là cha xứ thì phải giữ lề luật của nhà thờ, xử sự như cha Thư là rất đúng. Nhưng anh bộ đội lại quen thói ngạo mạn, ta ở chiến trường ra, phải châm chước cho ta mọi chuyện, bởi thế “anh bộ đội đưa cặp mắt nhọn nhìn soi mói ông cha đạo từ đầu tới chân như nhìn một giống người xa lạ, trong giọng nói đã có sự thách đố ngấm ngầm. Anh lên giọng: “Chúng tôi đi chiến đấu không dám kể công với những người ở hậu phương, nhưng ở nơi sống chết mới biết bỏ qua những chuyện vặt vãnh…”

Cha xứ cũng giương mắt nhìn lại:

“Đối với người có đạo thì hàng ngày xin ơn Chúa, tỏ lòng tin, cậy, mến Chúa là việc hệ trọng nhất…”

Hai người nhìn nhau gằm ghè…

Thật không ở đâu, ngày giữa nhà thờ, lại có thứ con chiên hỗn hào với cha xứ đến vậy. Tệ hơn nữa, anh bộ đội lên giọng riễu cợt:

“Giả thử chúng tôi đều trúng tuyển qua kỳ khảo thi của cha thì điều kiện tiếp theo có phải là bỏ quân ngũ không ?”

Vậy là anh con chiên mặc áo bộ đội đã không ngần ngại úp lên đầu cha xứ một cái nón cối tổ bố: ép tín đồ đào ngũ, bỏ bộ đội. Và sau cùng, “anh ta vẫn không rời mắt nhìn ông thầy tu, vành môi trên hơi nhếch lên, cái nhếch môi mới kiêu hãnh làm sao:

“Chúng tôi vẫn tự hỏi: Sự có mặt của các cha có cho thêm chúng tôi được cái gì không? Một câu hỏi đứng đắn đấy. Cha còn trẻ, tôi tin rằng cha có đủ thời gian trả lời…”

Đúng là một thằng khiêu khích, phá hoại “chính sách tín ngưỡng của Đảng, Chính phủ”, vậy mà ông nhà văn lại hạ bút khen: “cái nhếch môi mới kiêu hãnh làm sao…”. Hoá ra không những đồng tình, ông nhà văn còn ca ngợi cái hành động “khiêu khích” đó nữa. Tuy nhiên, mải mê bôi bác, trách móc nhà  thờ, ông nhà văn quên béng một điều là bất kỳ “cuộc chơi” nào cũng có luật của nó. Nếu bài xích nhà thờ dữ dội vậy, thì anh bộ đội với chị cán bộ cứ ra Uỷ ban mà tổ chức đám cưới theo đời sống mới, hà cớ gì phải vào nhà thờ khẩn khoản cha cố “linh động giải quyết” và khi không được thì lập tức giở mặt buông lời riễu cợt mang đầy tính đe doạ, lộ ra bộ mặt giả dối khi muốn nên vợ nên chồng trước mặt đức Chúa Giêsu.

Vênh váo và phách lối vậy, anh bộ đội đã theo “đạo” cộng sản vô thần lại còn muốn cưới vợ trong nhà thờ đâu có biết rằng “Sự có mặt của các cha” sẽ còn kéo dài mãi mãi, còn sự nghiệp của mấy anh bộ đội thì chỉ trong mươi năm nữa là Đảng và Nhà nước “đá” mấy anh về “mất sức”, trả về địa phương, tự bươn chải, kiếm sống. Lúc đó biết đâu, anh bộ đội “đòi cưới vợ trong nhà thờ” thân tàn ma dại, gặp lại cha xứ để nghe cha trả lời: “dù không thêm cho mấy anh được cái gì, nhưng chúng tôi vẫn tồn tại và chắc chắn nhà thờ sẽ tồn tại lâu hơn là trường Đảng của mấy anh…”. Phải chẳng đó là một khía cạnh “triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội” mà Lại Nguyên Ân tung hô tác phẩm của Nguyễn Khải lên mây xanh trên báo Văn Nghệ?

Sau cha già và cha trẻ, ông Nguyễn Khải cho thêm một cha thứ ba nữa “ra sân khấu”. Đó là cha Hoè, người “đi làm phúc, đi thăm kẻ liệt” bằng xe máy. Một lần cha phóng xe, chẳng may đâm vào một bà lão, cha phải chở bà vào bệnh viện, phải trả “mười đồng năm hào” tiền thuốc tiền ăn, lại biếu cụ năm chục để cụ bồi dưỡng, ấy thế mà con gái cụ vẫn mò đến tận nhà xứ − mà theo lời cha  − “cái con quỷ cái ấy nó vừa khóc lóc vòi tiền, lại vừa hăm doạ xa xôi rút lại cha đành phải đưa thêm cho nó năm chục nữa. Vị chi là một trăm mười đồng năm hào. Ấy là chưa kể tiền xăng đi đi về về thăm nom bà lão suốt mười ngày điều trị…”

Quả thực Nguyễn Khải vẽ ra một thằng chạy mánh đâm phải một bà cụ rồi xuýt xoa tính toán chi li số tiền phải móc túi ra đền, chứ chẳng phải một cha xứ gây tai nạn cho con chiên sau đó săn sóc họ với tình thương bao dong.

Thế rồi, một hôm cha Hoè tới thăm cha Thư, dùng cơm trưa xong, “khách quý hớp một ngụm nước to, súc nhổ ầm ầm, lấy tăm gẩy giòn giã cả hai hàm răng vừa to vừa khoẻ rồi lại tiếp tục nói ào ào…”

Cứ hình dung theo cách mô tả của ông nhà văn, người đọc dễ thấy hình ảnh một anh lái trâu chứ không hề là một linh mục, chăm sóc phần hồn của con chiên…

Tuy nhiên đọc tiếp nữa, người ta lại thấy cái ông linh mục Hoè này ngoài cái hình hài rất giống anh lái trâu ra, cái bên trong, lại đúng là một anh cha cố “quốc doanh” được Nhà nước cài vào giáo hội để khủng bố tinh thần các linh mục khác.

Cơm nước xong, cha Hoè doạ cha Thư:

“Chắc là cha biết chuyện Uỷ ban xã Lạc Hồng mời cụ Vịnh (linh mục) lên chất vấn chứ ?”

Rồi cha Hoè kể tội:

“Thật không ai dại như cụ Vịnh. Người ta vừa bế mạc hội nghị Thiên Chúa Giáo chiều thứ bảy, sáng chúa nhật là ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, cụ dám lên Toà giảng nói xưng xưng: « Chúa Thánh thần lấy hình lưỡi lửa hiện xuống, cho nên người bổn đạo phải chú ý sửa lưỡi, phải nói ngay nói thật kẻo lỗi giới răn thứ tám…”. Nói thế bằng tuyên  chiến công khai với mặt trận còn gì…”

Và cha Hòe rủa cha Vịnh:

“Mà ông ta đâu đã trọn, cũng gian dối, cũng mưu mẹo còn hơn kẻ khác…”

Nghe cha Thư nói cha không làm gì cha đâu có sợ, cha Hoè lại doạ:

“Cha không làm gì nhưng kẻ khác làm người ta vẫn cứ lôi cha vào. Một thằng áo chùng làm láo thì cả bọn áo chùng phải mang tội mang vạ. Biết để còn kịp ngăn nhau chứ …”

Rồi cha giở trò “tâm lý chiến”:

“ ……chỉ những tội trọng mà cụ Vịnh đã chủ mưu, đã nhúng tay trong thời kỳ sửa sai cải cách ruộng đất cũng đủ để chính phủ họ xử bắn rồi, không phải chỉ bắn một lần mà phải bắn đủ mười lần. Mấy năm nay con đi hầu cụ Vĩnh tại xứ Nhất này, nên con biết…”

Khủng bố tinh thần cha Thư chán chê, cha Hoè mới lộ ra ý đồ bêu xấu, báng bổ đạo Chúa mà chính ông ta đang làm cha cố:

“Con được cử ra coi sóc xứ đạo trước cha vài năm, con xin thưa với cha một sự thật đau đớn. Nơi nào phần đời thịnh thì giáo hữu còn làm được việc này việc khác, yên ấm nhiều bề. Nơi nào phần đạo thịnh thì cờ bạc, rượu chè, kiện cáo, đôi khi còn đánh chém nhau ngay cả trong nhà xứ. Mắt con nhìn thấy, tự con là người trong cuộc, bảo rằng không nên tin thì chỉ còn cách đâm thủng cả hai tai, chọc mù hai mắt…”

Sau khi mượn mồm giáo dân, chánh trương, trùm họ với cả cán bộ Đảng và Nhà nước để chửi bới đạo chưa thoả lòng mong ước, ông nhà văn Nguyễn Khải chui cả vào linh mục, mượn mồm cha để mà chửi rủa cho bõ tức. Thật không hiểu, ngoài lý do lấy điểm với Đảng và Nhà nước, còn một lý do nào khác làm ông nhà văn này  thâm thù đạo Thiên Chúa đến tận xương tuỷ như vậy?

Cứ theo đúng như lời ông cha Hoè thì giải tán nhà thờ, buông bỏ mọi việc đạo xã hội sẽ “yên ấm” nhiều bề, còn không thì sẽ biến hết thành ma quỷ, xúm vào đâm chém nhau. Vốn là linh mục mới ra trường, đức tin còn rất nặng, cha Thư không sao lọt tai được  những lời lẽ của tên phản Chúa, ông “cười nhợt nhạt”:

“Nếu tôi hiểu được lời cha nói thì cha đang làm lại giáo lý?”

Đây thật là một lời kết tội nặng nề đối với một đấng “chăn chiên”, nhưng với cha Hoè, nó không là cái gì đáng để cha phải nghĩ ngợi, cha vẫn thở ra cái “triết lý sống” vô thần và thực dụng sặc mùi cộng sản:

“nếu con làm theo ý muốn của đức Giám mục thì thân con phải ngồi tù, xứ đạo sẽ khô héo. Con làm theo cách hiểu của con thì việc đời sẽ vui vẻ mà sự đạo cũng trọn lành.”

Cái cách của cha là cam chịu trở thành cái đuôi cho chính quyền, muốn vẫy ngược vẫy xuôi sao cũng được, nhà thờ và giáo hội chỉ còn là một tổ chức quần chúng của Đảng, “kính Chúa và yêu nước tức là yêu chủ nghĩa xã hội…” – chính là con đường Đảng mà Nhà nước muốn xỏ mũi các tổ chức tôn giáo để dẫn dắt họ vào chỗ tự tiêu diệt.

Vài ngày sau, trên đường “kiệu mình Thánh” ở các xã, cha Hoè lại ghé vào thăm cha Thư. Lần này cha Thư còn kinh ngạc hơn nữa vì cha Hoè “không mặc áo nhà tu mà vận sơ mi ngắn tay màu vàng nhạt, quần mầu sẫm, đi giày da nâu, đầu trần, lại cả kính râm nữa. Với bộ quần áo ấy nom cha trẻ đẹp hẳn, mà tự nhiên, thoải mái hết sức…”

Thật hệt chân dung một gã làng chơi đàng điếm chứ chẳng ai ngờ đó lại là cha xứ. Không hiểu Toà Giám mục có còn tồn tại nữa không mà lại để một cha xứ ăn mặc ngông nghênh, nói năng càn rỡ như cái ông cha Hoè này. Đã vậy ông ta còn chọc tức người đồng đạo:

“Con mang cái vỏ của thế gian nom có nghịch mắt quá không?”

Cha Thư kêu lên:

“Đi kiệu MìnhThánh mà mặc xống áo này?”

Rồi cha giảng giải:

“Tôi đi kiệu Mình Thánh phải đi từ sớm mai, túi Mình Thánh đeo trước ngực, áo phép phủ ngoài, dọc đường chỉ nghĩ tới những sự khốn khó Chúa phải chịu, ai hỏi không nói, ai gọi không thưa, mà còn hãi chưa được sùng kính…”

Cha Hoè không những phớt lờ cả luật lệ nhà thờ mà còn trâng tráo, báng bổ:

“Con thì khác. Đã hỏi là con phải thưa, phải chào. Còn nghiêm mặt đi thẳng họ lại nghĩ mình hờn giận việc gì, bực tức gì sinh hiểu nhầm nhau rồi khổ…”

Các nghi thức tế lễ của bất kỳ tôn giáo nào cũng đều  là những quy định hết sức ngặt nghèo và chi tiết để đảm bảo tinh chất tâm linh thiêng liêng là cốt tuỷ của đạo. Ấy vậy mà ông cha Hoè này phớt lờ, tự ý thay đổi coi như chuyện đùa giỡn thì chẳng nói gì tới chức cha xứ mà nếu là con chiên cũng phải chịu hình phạt rút phép thông công. Ông cha này tới chở cha Thư về giáo phận của mình để tham dự “tuần chầu lượt thay địa phận”. Cha Thư từ chối chẳng được đành ngồi rúm sau xe máy cho cha Thư chở đi. Lúc xe máy chạy qua chợ, thấy hai linh mục chở nhau, các cô bỡn cợt, “hét lanh lảnh”:

“Anh ơi… anh cho em đi cùng với…”

Cha Hoè ngồi nhún nhảy, miệng trả lời, đầu vẫn không ngoảnh lại : Lần sau, lần sau tôi sẽ cho ngồi cùng…”

Cái cảnh “cha và con” chim chuột, bỡn cợt nhau ngay giữa ban ngày ban mặt ở chính giữa chợ liệu có thể xảy ra ở một xứ công giáo toàn tòng như Bùi Chu- Phát Diệm được chăng? Ông nhà văn thật khéo bịa đặt bôi xấu Thiên Chúa giáo. Thời bấy giờ, cả nước đang đói, nông dân vắt mình trên đồng ruộng hợp tác mỗi công tính ra cũng chỉ được vài lạng thóc, ngày hai bữa ngô sắn, rau muối là chính, vậy mà ông nhà văn tả bữa ăn của các cha xứ thật không thua gì mấy ông Uỷ viên Bộ chính trị: “Thịt gà rán, miến xáo lòng, lại thêm bát riêu cá thật cay, ăn với rau ghém …”. Hai cha lại còn có cả rượu thuốc đưa cay. Cha xứ sống “sướng” như vậy, ai chẳng muốn đi tu!

Sau bữa cơm có một cặp trai gái đến xin làm phép cưới. Khác với cái lần “anh bộ đội và chị cán bộ” bị cha Thư cương quyết từ chối vì không thuộc kinh; lần này đến với cha Hoè, hai “anh chị cán bộ” này cũng “xin không phải khảo kinh”. Nhưng cha Hoè khôn hơn, không máy móc như cha Thư, cha gà cho hai con chiên:

“Hỏng, hỏng, các anh các chị đi làm cán bộ rồi thì bỏ đạo hết. Hội Thánh đã dậy: đi đâu thì đi, ở đâu thì ở, sớm tối vẫn phải nhớ đọc kinh… Thế nào, không thuộc được một câu nào hả? Chỉ cần thuộc một câu là tôi làm tờ chứng cho ngay. Vậy kinh Tạ ơn Đức bà có thuộc không? “ Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Đức Chúa Lời  ở cùng bà…”

Cặp thanh niên đã ngồi lại rất nghiêm ngắn lẩm nhẩm đọc theo…”

Vậy là xong, “thủ tục” làm lễ cưới tại nhà thờ được đơn giản hoá tới mức độ hài hước, ngay đến người chứng cũng chỉ là ông trùm, chốc lát đã xong, cha xứ dặn dò:

“Vậy là được, sáng mai tôi sẽ viết tờ chứng là cặp này không có mắc trở gì? Ngày mốt sẽ làm lễ hả? Cũng được, cô cậu chỉ phải chi phí ít tiền dầu nến, ít thôi, ít thôi, dăm mười đồng gì đó, cứ đưa cho thầy Tín, ông ấy mua bán thế nào sẽ tính toán lại sau. Nào còn có lo lắng gì nữa ?”

Cả mấy người đều đứng lên mặt tươi rói, riêng có cha Thư bụng thắc mắc:

“Họ làm những công việc thiêng liêng ấy một cách trần tục vậy sao?”

Khi còn lại có hai cha với nhau, cha Hoè mới “truy vấn” cha Thư, dồn cha vào cái bẫy để kết tội cha “lẹo tẹo” với con chiên:

“Con lạy cha, cha đừng diễn trò cả với con nữa. Cô ấy đã thú nhận với cả con rồi… cha đã lợi dụng lòng sùng kính thiêng liêng của những cô gái thơ ngây để mưu lợi lộc cho riêng mình….”

Cha Thư choáng váng trước đòn vu cáo trắng trợn. Cha như “người bị bóng đè, muốn kêu cứu thật to nhưng tiếng kêu không lọt qua được kẽ răng, muốn vùng  chạy ra ngoài nhưng chân tay đã bị trói chặt. Còn cái mặt quỷ thì cứ sát gần lại mãi, đã nhìn rõ cả vè mắt của nó, chóp mũi của nó, chân răng của nó. Và cả cái giọng nói của quỷ, nhẽo nhợt, tanh tưởi, cứ bò bám lần lần lên khắp da thịt…”.

Ông nhà văn viết về hai linh mục mà người đọc có cảm giác ông viết về hai cán bộ Đảng. Họ cũng moi móc, sát phạt nhau, nhìn nhau như quỷ dữ chẳng khác gì cán bộ trong “đấu tố”. Phải chăng do đi sâu đi sát cán bộ, ấn tượng về họ quá chi tiết, quá sinh động đã ăn sâu vào tâm khảm ông nhà văn nhưng không dám viết ra nên dồn nó vào hình tượng linh mục? Cái lối lột trần nhau ra một cách trắng trợn không phải của các nhà tu hành mà chính là của cán bộ Đảng:

“Cha phàn nàn kêu ca rằng diềm ren áo lễ của cha rách, rằng giây thắt lưng của cha ngắn, rằng vải may áo chùng thâm vừa thô vừa dày. Cha đã kêu than thì bọn họ phải góp sức mà lo liệu… Đến khi việc vỡ lở, chính quyền can thiệp, lập tức cha nhắm mắt, sõng tay, coi như kẻ đứng ngoài. “Nào tôi được biết gì đâu. Họ đã lợi dụng danh nghĩa tôi để làm bậy đấy chứ!” Hèn lắm cha ơi !…”

Cái lối nói lóc thịt lóc xương, chỉ trong các buổi họp kiểm điểm, “đấu tố”, các cán bộ mới moi gan móc ruột nhau như thế. Chẳng hiểu có phải “suy bụng ta ra bụng người”, ông nhà văn dựng lên một linh mục tên Hòe quay quắt, nham hiểm, cơ hội chủ nghĩa không khác một tên cán bộ gian manh. Tên cha cố này chẳng còn “niềm tin nơi đức chúa Giêsu”  mà đối với đức cha bề trên y cũng đầy tức tối:

“Quay mặt về Toà Giám thì đấng bề trên chỉ một mực hò hét chống cộng, bất hợp tác với chính quyền. Ấy là ngài xui bề tôi làm, còn chính ngài lại nhỏn nhẻn, nhũn nhẽo như kẻ biết vâng phục nhất. Rủi khi mình bị tóm gáy, còng tay thì ngài mới sửng sốt kêu lên: Ơ, cái thằng ngu thế, Chúa nào bảo nó chống lại người cầm quyền. Nó có ngồi rục xương trong tù cũng là phải…”

Liệu có một đấng Giám mục nào “chỉ một mực hò hét bất hợp tác với chính quyền” khi tu sĩ bên dưới bị tóm gáy lại trở mặt “Chúa có bảo chống lại người cầm quyền đâu?”. Số các cha Giám mục ở miền Bắc không nhiều, liệu ông Nguyễn Khải có dám dẫn chứng một đức Cha “lá mặt, lá trái” như vậy không?

Cha bề trên đã vậy, đến các linh mục chăn chiên ở bên dưới cũng ma lanh không kém:

“Nhưng, thưa cha kính mến, chúng con cũng khôn lắm, chúng con đã liếc mắt, cười duyên với nhà cầm quyền từ lâu rồi. Hẳn là họ phải tin chúng con hơn, dẫu sao chúng con cũng được lớn khôn dưới chế độ mới. Còn cha quản hạt, người coi sóc giáo lý và tu đức của chúng ta? Ông ấy mặc kệ, ai muốn làm gì thì làm miễn là đừng có lôi ông ta vào cùng một rọ…”

Từ đầu truyện, ông Nguyễn Khải đã đặt nhà thờ trong tương quan đối đầu với Nhà nước, tới đây ông lại tưởng tượng ra những “con ngựa thành Troie”, những cha cố phản Chúa “đi đêm với cộng sản”. Phải chăng đây là khía cạnh “triết luận” giữa “công giáo” và “chủ nghĩa xã hội” mà phê bình gia Lại Nguyên Ân đã tâng bốc tác phẩm của Nguyễn Khải ngay khi nó mới được xuất bản?

Sau vố bị cha Hoè truy vấn và mạt sát, cha Thư rút ẩn vào chính mình, “đã hoá ra con người trầm lặng và buồn bã”. Trong số người giúp việc, cha chỉ quý mến có mỗi  mình một cậu bé giúp lễ tên Tú với một tình cảm đặc biệt:

“Cậu bé chỉ đứng nhìn ông cha trẻ bằng cặp mắt trong suốt, nghiêm nghị và miệng hơi mỉm cười là bao nhiêu bực giận đã lập tức tiêu tan, là đã muốn mỉm cười đáp lại và thăm hỏi một câu thật dịu dàng”.

Tình cảm giữa ông cha trẻ và cậu bé giúp lễ được đẩy xa tới mức như tình cảm …cha con, anh em lại phảng phất mầu “bồ bịch”:

“Vả lại cậu ta còn biết cách săn sóc người chủ vừa tỉ mỉ vừa âu yếm, đem lại cái vị mặn của trần tục vào cuộc sống nhạt nhẽo thiêng liêng. Chính là cái vị muối của thế gian đã gắn bó họ lại như anh em, như cha con, và nếu họ phải xa nhau thì nỗi đau đớn chia ly cũng sẽ rất xác thịt…”

Rất có thể có sự gắn bó thân mật giữa một cha linh mục và một phụ lễ trong hoàn cảnh vắng vẻ của nhà thờ, nhưng ông nhà văn lại để cho ông cha dạy cậu bé  giúp lễ những điều lọc lõi, gian ngoan thì chẳng đúng với tâm hồn nhà tu hành chút nào. Ta hãy nghe đức cha dạy bảo cậu bé con:

“Người lớn hay nghi ngờ, hay cứng cỏi, còn trẻ con thì tin tưởng và phó thác. Người lớn thì kiêu ngạo, tham lam, còn trẻ nhỏ thì hiền hoà, nhường nhịn. Người lớn gian xảo, dối trá, còn trẻ nhỏ chỉ nói có nếu là có, nói không nếu là không. Người lớn là con rắn, trẻ nhỏ là bồ câu. Chúa đã từng vẫy gọi: Hãy để trẻ thơ đến cùng ta, đừng có cản chúng. Bởi chưng nước Trời  thuộc về những kẻ giống như chúng…”

Ông cha có thể ca ngợi trẻ con với trẻ con, nhưng sao lại gây cho trẻ con lòng thù ghét, ngờ vực người lớn đến thế này:

“Con ơi! Thầy ghê sợ mọi người, trừ trẻ nhỏ. Ai ai cũng có thể hãm hại được thầy, trừ những kẻ trong trắng, ngây thơ như các con. Thầy nói bằng thật vì thầy đã từng  biết. Lời nói ngọt ngào nhưng lại đọng vị đắng cay; mời chào và cởi mở là bẫy vô hình: gương mặt thánh thiện che đậy những mưu mô hiểm độc. Thầy đã bị khốn mấy lần rồi. Con nên tin lời thầy dặn…”

Thật vô lý hết sức, ông cha Thư mới chỉ va chạm với cha Hoè, với một số chánh trương, trùm trưởng vài ba chuyện lặt vặt nhỏ bằng con kiến mà trong đầu cha đã hằn lên lòng căm thù và mất tin tưởng với người lớn, tức giận với con người thì ông còn tu ra làm sao? Đã vậy, ông còn xui bậy con nít:

“ …phải biết ngờ vực những cảm tưởng tốt đẹp ban đầu, phải biết tránh xa những cám dỗ có tính xác thịt. Mắt thấy đẹp tức là không đẹp, tai nghe hay tức là không hay, lưỡi nếm ngon tức là không ngon…”

Linh mục là đấng chăn dắt linh hồn cho con chiên. Con chiên gần gũi linh mục ắt phải được học hỏi, trau dồi tâm hồn trong sáng và cao thượng. Vậy mà cậu bé phụ lễ  gần gũi cha Thư, suốt ngày bị cha nhồi nhét tư tưởng thù hằn và mất lòng tin vào người, nhà thờ đã biến thành nơi đầu độc con người nguy hiểm như vậy, liệu có  đáng tồn tại?

Hoá ra “triết luận” về đạo Thiên Chúa giáo và “chủ nghĩa xã hội” của Nguyễn Khải là như thế đó?!

Cậu Tú phụ lễ cho cha sống trong nhà đạo cũng không yên, cậu phải đi lao động công ích với thanh niên nam nữ trong xóm. Ra ngoài, tiếp xúc với đời, lại nghe lời khích bác rủ rê của một ông nguyên trưởng đội kèn:

“Giả sử chúng tôi lại có một người con trai như cậu, nói cậu bỏ lỗi nhá, thì tôi chẳng còn ước ao cái nước thiên đàng nào khác. Cậu đưa bàn tay tôi xem, bàn tay đẹp quá, vừa mỏng vừa mềm, tay này có học nghề gì cũng mau giỏi, mau khéo…”

Ra ngoài đời được vui vẻ, thoải mái, được tâng bốc rủ rê, trở về nhà đạo, cậu Tú lại nghe ngập tai những chuyện bê bối xấu xa trong các thầy dòng, các cha cố. Nào chuyện khai gian tiền chợ để tư lợi, nào chuyên trai gái của các cha đời trước… Cứ một đằng “đời” thì kéo, một đằng “đạo” thì đẩy như vậy, trước sau cậu Tú phụ lễ cũng phải bỏ đạo mà về với đời. Bàn tay dàn xếp của ông nhà văn quá lộ liễu tới mức lòi cả cái động cơ bôi xấu nhà thờ của ông ra. Cuốn sách vì thế mà mất hẳn đi phần chân thực là cái cốt lõi, không thể thiếu  cho một tác phẩm văn chương.

 

“Cái xấu” của nhà thờ, từ miệng những người ngoại đạo nói ra đã ghê, nay lại từ miệng một cậu phụ lễ nói ra thì “độ tin cậy” lại càng tăng lên gấp bội, nhất là cậu lại nói với cha xứ:

“Thưa thầy, ngày hôm nay con được nghe nhiều chuyện đến nhơ nhớp, chưa bao giờ con được nghe người ta nói với con, nói với nhau những chuyện lạ lùng đến thế …”

Lẽ ra cha xứ là linh hồn của nhà thờ, phải bảo vệ uy tín cho đạo, phải tìm cho ra thực hư trong “những câu chuyện nhơ nhớp” mà cậu phụ lễ “buôn chuyện” ở đâu về nói với cha, đằng này không những không răn đe đệ tử, cha Thư lại còn phụ hoạ với cậu, bôi thêm tiếng xấu, kể tội nhà thờ mà chính cha  là đại diện:

“Một cặp kết bạn đến đưa cho đấng chăn chiên tám chục đồng, đấy là tiền biếu riêng, còn phí tổn dầu nến người ta đã chi một món khác rồi. Đấng chăn chiên đưa trả lại năm đồng, chỉ cầm có bảy mươi nhăm đồng, rồi bảo: Cha chỉ lấy một nửa, còn cha cho con một nửa. Vậy là cha đã nâng giá lễ xin phép cưới từ tám chục lên trăm rưởi…”

Vào những năm của thập kỷ 60, nền kinh tế thị trường còn hoàn toàn xa lạ với “miền Bắc xã hội chủ nghĩa”, thì chuyện lấy tiền “làm lễ cưới” như một thứ dịch vụ là một “tội lỗi xấu xa” làm hai thầy trò cha xứ và cậu phụ lễ rất ghê tởm. Cha lại tố cáo tiếp:

“Có bảy cặp làm lễ vào tối thứ bảy. Sáng chúa nhật linh mục rao ở nhà thờ chỉ hoan hô có ba đôi sáu anh chị em đã có tinh thần ngoan đạo. Đấy là ba đôi có tiền xin lễ cưới, còn bốn cặp kia chỉ làm phép cưới suông thì coi như không có. Có tin được không? Không thể tin được! Không thể tin như vậy được! Lạy Chúa…”

Cha kêu lên vì phẫn nộ, cha không còn biết chia sẻ với ai cái nỗi ghê tởm đó ngoài cậu phụ lễ mà cha coi như người đồng tâm ý hợp, như một đứa con tinh thần. Cha đứa chén nước cho cậu phụ lễ, ân cần:

“Con uống với thầy một chén. Cả hai chúng ta đều phải nghe những chuyện quá đỗi tồi tệ trong ngày, uống một chén trà để thanh tẩy chúng ra khỏi tai ta, ra khỏi mắt ta, ra khỏi miệng ta…”

Vậy là cha linh mục và thầy phụ lễ đã ngầm với nhau họp thành một khối tách khỏi sự dơ bẩn của nhà thờ. Tất nhiên ông nhà văn không dừng lại ở chỗ đó, ông sẽ còn đẩy cha cố và thầy phụ lễ đi xa hơn nữa về phía… cách mạng để cho trong cái cuộc gọi là “triết luận về Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa xã hội”, phần toàn thắng phải thuộc về “sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân”, minh hoạ cho “luận thuyết” “ai thắng ai” một thời bao trùm lên đời sống tinh thần của nhân dân miền Bắc.

Mang sẵn trong lòng những ám ảnh ghê tởm nhà thờ, cha Thư  không còn con đường nào khác ngoài … đi về phía nhân dân lao động. Và một ngày nọ, ông chánh trương trố mắt nhìn cha linh mục ăn mặc như một anh nông dân: “cha mặc chiếc quần xanh đã cũ, một cái áo cộc tay nhuộm nâu, chân đi dép cao su, đầu đội mũ lá như …một anh cán bộ”, khiến ông chánh trương phải kêu lên:

“ Lạy Chúa ! cha đi đâu sớm vậy, mà lại ăn mặc như vầy ?”

Hoá ra cha đi thăm… bà con đang lao động sản xuất, hơn thế nữa, cha muốn cùng lao động với bà con:

“Ông chánh giới thiệu tôi với ông phụ trách tổ làm màu nhá. Tôi muốn hàng ngày tới đó làm một buổi. Còn việc nhà Chúa chỉ cần làm một buổi là đủ…”

Quả ông nhà văn thật “to gan”, ông gán ghép cho cả cha cố “giác ngộ ý thức lao động”, coi “lao động là vinh quang”, từ bỏ vị trí “đạo cao đức trọng” để đòi “ba cùng” với nông dân không khác gì cán bộ cải cách ruộng đất. Tất nhiên ông chánh trương không đời nào để cha  phá vỡ lề luật của nhà thờ như vậy. Ông nhắc nhở cha:

“Chúa đã phân mỗi người một việc. Việc của cha trọng hơn việc chúng con, sao lại bỏ việc trọng để làm những việc khác…”

Cha chẳng những không nghe theo ông chánh trương mà còn tỏ vẻ thích thú được thoát cái vỏ làm cha:

“Tôi ra cùng làm với bà con chứ thăm thú gì ….”

Ra đến đường, cha Thư lấy kính râm đeo rồi hỏi nhỏ:

“Nom tôi đã ra anh cán bộ chưa ?”

Ôi trời ôi, làm cha cố mà lại muốn… giống cán bộ, muốn học theo bác Hồ “đi sâu đi sát”, cùng lao động với nhân dân. Ông “cha cố” của Nguyễn Khải đúng là cha dở người, sắp bỏ áo chùng thâm để xin vào Đảng thật rồi. Quả nhiên ông chánh trương nghĩ thầm về cha: “Ông này đã ra dở thật. Mặt mũi thì võ vàng, quầng mắt thì thâm đen, ăn nói lúc khôn lúc dại. Đến tội nghiệp!”  và cố khuyên giải cha:

“Cán bộ họ không vận áo thâm chùng, thì người mặc áo thâm chùng không nên vận quần áo của cán bộ, ăn mặc phải cho nó phân minh…”

Thấy cha xứ khăng khăng không chịu nghe theo, ông chánh trương đoán già đoán non:

“Không khéo ông này đã có ý định bỏ xứ về gánh vác việc đời hẳn. Người còn trẻ lại đẹp đẽ thế kia, có đi tu cũng khó…”

Tất nhiên, cha Thư không hề có ý định bỏ đạo, ông chỉ muốn làm một thứ “linh mục đời mới” một chân trong nhà thờ, một chân thò ra ngoài xã hội, thực hiện đúng phương châm Nhà nước đề ra cho các nhà tu hành sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa: “tốt đời đẹp đạo”. Bởi thế, cha Thư mới tuyên  bố:

“Tôi vẫn dâng trọn đời tôi để rao giảng Tin Mừng, nhưng không ở nhà tu, không mặc áo chức. Tôi sẽ sống như mọi người…”

Đó chính là cái hình mẫu “linh mục” “tốt đời đẹp đạo” mà Đảng và Nhà nước bấy lâu nay vẫn đưa ra làm mẫu mực cho các linh mục trong Hội những “người công giáo yêu nước”. Vậy thực chất của cái gọi là “triết luận về Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa xã hội” mà nhà phê bình văn học gán cho “Cha và con và…” của Nguyễn Khải thực ra chẳng có gì là ghê gớm mà chỉ “minh hoạ” cho cái chủ trương “tôn giáo vận” của Đảng và Nhà nước đẻ ra cái hình mẫu quái thai “cha cố tốt đời đẹp đạo” mà thôi. Cái hình mẫu “quái thai” ấy nhất định vấp phải sự phản đối của con chiên. Bởi thế khi cha Thư xin một chân “lao động sản xuất” ở trại rau để “tự nuôi mình”:

“…tôi không muốn ai nuôi tôi cả. Tôi còn khoẻ mạnh, tôi có thể làm lấy mà ăn được…”

lập tức bị ông Tài, con chiên, phản đối:

“Thưa cha không được đâu ạ, không thể làm thế được ạ, rồi cái đứa xấu bụng nó nói này nói nọ, chúng con sẽ giải thích ra làm sao …. Lạy cha, cha mà làm thế bằng trát bùn vào mặt chúng con còn gì. Xứ đạo này đâu đã đến nỗi túng thiếu ?”

Ông linh mục trẻ vẫn khăng khăng đòi đi “lao động sản xuất”:

“Họ nghĩ sao mặc họ, miễn là mình làm không sai…”

Đến nước này, ông Tài đành phải viện dẫn “cha bề trên” ra:

“Xin cha cứ theo gương cha quản hạt mà xử sự. Ngài chẳng phải làm gì  mà việc đời cũng tốt, việc đạo cũng hay…”

Thật không ngờ, câu nói đó lại làm ông linh mục trẻ nổi cáu, ông phẫn nộ “chê trách” cả đấng cha bề trên:

“Tôi khác, tôi còn trẻ, tôi không thể sống giống như một ông già đã chín chục tuổi đầu. Cụ ấy có thể giơ bàn tay ngồi ngắm cả giờ không chán, chứ tôi mà ngồi thế thì phải nổi điên…”

Quả thực người ta không hiểu ông nhà văn đang viết về một linh mục hay là một thanh niên “tích cực lao động xã hội chủ nghĩa” đây? Cứ cái đà nhiệt thành “cải tạo đạo Thiên Chúa” này chắc hẳn nhà văn Nguyễn Khải phải viết hẳn một cuốn “Cha và con và…” phần 2 để cho linh mục Thư cởi bỏ áo choàng thâm, giác ngộ Đảng, giác ngộ giai cấp, phấn đấu thành một cán bộ tuyên huấn mất! Chẳng thế mà ông nhà văn cho ông linh mục hăng máu lên, mạt sát nhà thờ:

“Tôi không muốn sống như các linh mục khác, sống như thế nhơ nhớp lắm, mỗi người nhơ nhớp mỗi cách. Tôi còn trẻ, tôi còn đủ thời giờ để lại chút ít tiếng tốt cho xứ đạo. Bằng không làm được gì hơn thì trả lại áo chức mà về. Sống như kẻ có tội đã đau đớn, lại không được phép cứu chuộc mới thật là đau đớn hoàn toàn …”

Trải qua mấy thập kỷ, ông nhà văn hẳn đã thấy rõ, ai là người sống nhơ nhớp? Các linh mục trong nhà thờ hay các quan chức cán bộ ở ngoài đời?

Có lẽ trong đời chưa một lần chứng kiến cảnh linh mục lại mạt sát cha cố tàn bạo thế, bởi vậy ông Chánh trương Tùng và Tổ trưởng sản xuất Tài cứ trợn cả mắt há cả mồm.

“Ông Tùng đưa mắt nhìn ông Tài, có ý hỏi: Cái ông này bữa nay làm sao vậy ?. Ông Tùng cũng nhìn lại, buồn bã: Thì đã bảo ông ta ra dở rồi mà…”

Đúng là chỉ có một cách giải thích duy nhất là cha Thư bị …điên thì mới hành xử ngược đời ngược đạo đến vậy. Càng ngày cha càng biến đổi, càng ngày cha càng xa rời “linh mục” để biến dần thành anh “cán bộ”.

Trước hết, về y phục, cha “bình dân hoá” bằng cách “Có hai bộ quần áo trắng mặc trong cha đem dấn nâu tất. Ở trong nhà xứ thì mặc quần áo nâu, ra ngoài nhà xứ chùm lên cái áo chùng thâm và đi đôi dép cao su. Có bận lại thắt ngoài một sợi  dây vải nữa…”.

Còn về ăn uống, cha chỉ dùng “mỗi ngày một bữa cơm vào giữa trưa, còn bữa tối chỉ húp lưng cháo hoặc ăn vài củ khoai riềng….”

Ban chánh trương không cho cha “tham gia lao động sản xuất” sợ mang tiếng, thì “cha đi lang thang khắp các xóm, vào nhiều nhà, hỏi han đủ chuyện và nếu chủ nhà giữ lại mời cơm thì cha trả lời rất nhũn nhặn: Tôi đã ăn rồi, tôi không ăn được nhiều, đừng có ép tôi…”.

Xưa nay, các xóm đạo được cha tới thăm là một vinh dự hiếm có, cả làng cả xóm, rục rịch chuẩn bị đón cha từ mấy ngày trước. Riêng đối với cha Thư thì ngược lại, vì cha cứ tới luôn xoành xoạch “ngồi tiếp thì mất việc mà bỏ đi làm cũng không đành, nên vừa thấy sứ giả của Chúa lò dò vào cổng là trẻ con được bảo trước đã chạy vội ra nói dối bố mẹ hay ông bà nó vắng nhà…”

Thật chưa có ông linh mục nào lại giảm sút uy tín trong con mắt giáo dân như cha Thư cho dù đang cố gắng thực hiện phương châm “tốt đạo đẹp đời” mà Đảng và Nhà nước cho kẻ thành khẩu hiệu dán đầy ở các xóm đạo.

Đi xuống dân bị dân tránh mặt, cha Thư đành “đóng cửa ngồi lì trong phòng riêng đọc sách từ sáng đến tối, không tiếp một ai…”. Ngồi trong buồng chán rồi, cha Thư  mang sách ra ngoài trời đọc. Hôm đó cha tìm được “một cụm tre ngay sát một cái cầu đá”, rất yên ắng và mát mẻ để ngồi đọc sách. Dân làng dường như đã quen với những hành vi khác thường của cha xứ nên khi cha vừa đi qua “họ  liền ngoái cổ nhìn theo, cái nhìn bần thần xót tiếc: Khốn nạn! Con người khoẻ mạnh đẹp đẽ thế mà ra dở ?”.

Cha xứ đã muốn “lìa đạo” rồi, ai ngờ ngồi đọc sách ở cái “cụm tre bên cái cầu đá” ấy lại cũng gặp một anh… tu xuất, bỏ đạo về đời.  Anh này đã học ở “tràng lý đoán” – tức trường học ra làm cha xứ được vài năm, đã được “chịu phép cắt tóc là đã được vào sổ các thầy tư giáo”, trong Hội thánh có 7 chức  thì anh ta đã “được chịu chức cầm nến” tức là chức thứ tư rồi, chỉ còn hai năm nữa là anh ta đã thành linh mục năm mới 24 tuổi. Tu sắp thành “chính quả” vậy mà anh chàng ngang xương bỏ về bởi lẽ những người thầy dậy anh trong hội thánh đều là bọn mà anh ta cho là “học vấn thì tầm thường, mọi quan niệm đều lạc hậu, tư cách lại hèn kém, nói cho thật họ không được  phép rao giảng những lời cao đẹp…”

Vậy là dựng nên nhân vật cha Thư chửi đạo dường như chưa thoả lòng căm giận Thiên Chúa giáo, ông nhà văn Nguyễn Khải phải đẻ thêm một chàng “tu xuất” nữa để mượn mồm chàng chửi tiếp cho hả dạ. Anh này đưa ra cái lý do bỏ tu thật là “cao quý”:

“Con chỉ không muốn bị dắt kéo bởi những người mù. Theo chân họ rồi có ngày bị sa hố…”

Ta hãy thử tưởng tượng một chàng thanh niên tuổi hãy còn măng tơ, vào học trường dòng từ nhỏ, sắp sửa tốt nghiệp thành cha, vậy mà dám chê bai những người thày của mình là hèn kém, là dốt là mù…. thì anh ta nếu không phải là phường vô ơn bạc nghĩa cũng là quân đầu đường xó chợ, trốn học đi bụi đời.

Sau lần cha Thư gặp thày “tu xuất” nghe thày báng bổ đạo được vài ngày thì lại tiếp thêm một ông cha Hoè hăng hái bôi đen cái áo choàng thâm nữa. Ông này kể chuyện về một “chiến sĩ đầy lòng quả cảm của Hội thánh, một nhà lãnh đạo và tổ chức hết sức khôn ngoan của địa phận”, người đó là “cha Vinh” vừa mới bị “đuổi khỏi hàng ngũ giáo sĩ hết sức đột ngột” vì tội …hủ hoá.

Bằng một giọng vô cùng khoái trá của kẻ tiểu nhân, cha  Hoè kể lại vụ việc “ngã ngựa” của người đồng liêu. Trước  hết cha lên giọng mạt sát:

“Ông Vinh được chết lành thì còn ai muốn giữ mình cho nên. Một đời mưu chước hại người, nay mới bị người hại lại. Mà dơ dáy vô cùng, dẫu người thân cũng phải che mặt mà tránh…”

Chửi bới chán chê rồi cha mới đi vào tường thuật chi li bằng thứ ngôn ngữ chẳng phải  của nhà tu hành chút nào:

“Cái đứa nữ ấy cũng đã ngoài ba chục tuổi, vốn có tính huê nguyệt, người mỡ màng phốp pháp, ăn nói cũng khôn khéo, ngọt ngào… Cha đã có tuổi hay đau ốm vặt nên cái đứa kia mới có dịp bưng cơm lên dọn cơm xuống, rồi hầu nước hầu thuốc, lâu dần thành cô hầu phòng, ngày nào không thấy đến, ông già lại có ý giận, có ý ghen…”

Lẽ ra nói về “cái sự trượt ngã của người khác”, nhất là của đức cha Tổng Giám mục, nếu là người có đôi chút tự trọng, ắt chỉ nói qua loa, vắn tắt, bóng gió, ngờ đâu, cha Hoè càng kể càng chi li, thích chí:

“Mà chuyện cũng đã dăm sáu năm nay rồi, chứ chẳng phải mới có ngày hôm qua… Mãi đến đêm hôm vừa rồi, cái chuyện mờ ám giữa hai người mới hoàn toàn bị vỡ lở. Ai đời ngủ với nhau lại không cài then cửa bao giờ. Ờ thì cái chuyện ăn vụng bị bắt quả tang tiếng là xấu nhưng thế gian cũng đã thường. Cái tâm lý con người mình có thể hiểu được …”

Rào đón kỹ càng rồi, cha mới hạ nhục đồng liêu xuống đất đen:

“Nhưng cái ông già ấy lại quỳ sụp xuống mà xưng con xưng cháu, khóc lóc kêu van những kẻ đối địch hãy tha thứ, hãy làm ngơ, cần gì sẽ dâng hiến bằng hết thì tôi không thể nào hiểu nổi. Cái tâm lý ấy nó kỳ quái quá, làm sao mà hiểu được …”

Cái giọng bôi bác “thày cả” độc địa này không một chút tình cảm thông, đập một nhát cho chết, rõ là không phải giọng của linh mục “đồng liêu” mà là của … nhà văn Nguyễn Khải ra sức bôi bác nhà thờ để lấy điểm với Đảng và Nhà nước:

“Cấy ác thì gặp ác, dẫu là tôi tớ của Chúa cũng chẳng thể bênh. Chúa chẳng có tội gì còn bị đẩy lên khổ giá huống hồ một kẻ tội lỗi chất chồng. Rồi còn nhục nhã hơn nữa kia, chưa hết đâu…”

Thật khó hiểu vì sao, cha Hoè sau khi đã thoả thuê mạt sát đức cha Vinh tội hủ hoá, tiếp đó lại còn lớn tiếng chửi bới suốt lượt cả giới linh mục nhà Chúa mà chính ông ta cũng là một thành viên:

“Có nhiều cha hễ mở miệng nói rặt điều nhân đức nhưng cách sống lại rất đáng phàn nàn. Chuyện ông Vinh chỉ là một chuyện vặt được  lôi ra trước công luận. Còn lắm chuyện hệ trọng hơn vẫn được nhiều đấng bậc ở toà Giám giữ kín trong bóng tối, con là cái thằng hay thóc mách nên cũng biết được ít nhiều. Vì được biết ít nhiều nên con mới dám nói này nói nọ mà không sợ bị phạt vạ treo chén. Họ làm bậy còn được quyền  tế lễ Chúa, huống là con…”

Thực là một lời tố cáo hết sức đanh thép sự thối nát của Toà Giám mục, nhất là lại từ miệng một đức cha sống ngay trong nhà Chúa đưa ra, thử hỏi ai mà còn dám nghi ngờ. Ông nhà văn Nguyễn Khải quả là rất ranh ma khi mượn lời toàn của người nhà Chúa để mạt sát các đấng chăn dắt con chiên của Chúa. Cuốn sách gọi là tiểu thuyết “Cha và con và…” thực ra là một bản án hết sức nặng nề đối với Thiên Chúa giáo tại Việt Nam mà lạ thay gần 40 năm sau khi nó ra đời vẫn chưa có một ý kiến phản biện nào thuộc phía những người bị bôi xấu. Cuốn sách vẫn nghiễm nhiên là một “thành tựu” trong kho tàng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bôi đen đạo thiên chúa là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt cuốn truyện “Cha và con và…” của Nguyễn Khải cho tới tận chương cuối cùng. Ông cha Vinh sau khi bị bắt quả tang ngủ với cô hầu phòng đã “cướp  quyền của Đức  Chúa Trời, tự huỷ hoại cuộc sống của mình. Khi người nhà xứ phá cửa vào đã thấy xác treo lủng lẳng. Mà phải chết từ đêm vì chân tay đã cứng”. Sau khi cha Vinh chết, cha quản hạt cho gọi cha Thư – ông linh mục đang “chán đạo muốn về đời”, tra vấn:

Xin cha tha lỗi cho tôi nếu tò mò muốn hỏi một câu này: cha còn điều gì chưa được  hoàn toàn hài lòng về những người  cộng sản?”  

Đó là một câu hỏi xúc phạm đối với cha Thư – một người rất có cảm tình với cách mạng, bởi vậy cha nghiêm mặt:

“Thưa cha, sao cha lại hỏi con chuyện đó ?”

Rồi cha bầy tỏ “lập trường cách mạng”:

“Con cảm phục cuộc cách mạng nói chung, có cách mạng chúng con mới được  làm người tự do, làm một giáo sĩ tự do. Nhưng con chưa thể hoàn toàn bằng lòng những cán bộ cách mạng nói riêng. Đến là mâu thuẫn. Nhưng …thưa cha, con có thể sống được  lâu dài với cái mâu thuẫn ấy. Vì con biết vâng lời người cầm quyền..”

Ngày nay nếu ông Nguyễn Khải nói với cha Nguyễn Văn Lý rằng “có cách mạng mới được  làm một giáo sĩ tự do” chắc hẳn cha sẽ tưởng ông nhà văn này giễu cợt, bởi lẽ bằng vào đối xử của Đảng với các tôn giáo trong mấy chục năm qua, ngay đến cán bộ tôn giáo vận của Đảng cũng không dám nói những điều “ngượng mồm” như vậy . Ấy thế mà ông Nguyễn Khải lại đưa nó vào tác phẩm văn học thì đủ hiểu ông ta bồi bút đến cỡ nào. Ông cha trẻ nói năng đã “lập trường” vậy, đến ông cha già quản hạt lại còn “cách mạng” hơn. Ông “chỉnh” câu trả lời của cha Thư:

“Vâng lời chưa đủ, còn phải hiệp tác. Có hoan hỉ thật lòng thì mới hợp tác được.”

Vậy là cha quản hạt muốn cha Thư phải ngoan ngoãn vâng lời  nhà cầm quyền một cách tự nguyện chứ không phải miễn cưỡng, tức phải “hoan hỉ mà vâng lời” kia. Sau khi gặp cha quản hạt trở về, cha Thư vui vẻ cho phép cậu giúp lễ tham gia vào… đội gặt của hợp tác xã. Khi cậu ta đi rồi, cha càng thấy chán đạo, càng cảm thấy nhà thờ ngày càng giống như nhà tù:

“Rồi trong cái nhà tù này chỉ còn có ta thôi, một ông cha xứ đã lẩn thẩn, và mấy người hầu việc đã quá già. Nhà tu, nhà nguyện, nhà dòng, nơi chỉ chăm lo có sự cứu rỗi thì bóng tối và cái chết là ơn ích của nó…”

Không hiểu ông nhà văn còn đòi hỏi ở nhà thờ những gì ngoài “chăm lo sự cứu rỗi”? không lẽ ông muốn thành lập hợp tác xã thủ công sản xuất quạt nan hoặc đậu phụ thì mới xua được “bóng tối và cái chết”? Nhìn nhận về tôn giáo nông cạn thế mà ông nhà văn muốn nhân danh “chủ nghĩa xã hội” để “triết luận” với Thiên Chúa giáo thì thật là mù quáng đến tội nghiệp.

Cái nỗi buồn chán đạo đẩy ông cha trẻ đến chỗ muốn đào nhiệm khỏi cái áo chùng thâm:

“Còn luyến tiếc làm gì, còn tìm cách lại gần làm gì cái thế gian  của những bổn phận, những mưu trá, những khổ đau. Nhưng… ngay trong toà nhà của ông thánh Phêrô vẫn có đầy đủ mọi tấn bi kịch đã từng xảy ra ở ngoài đời.”

Nếu “ngoài đời” cũng đầy rẫy những thối tha như trong “nhà thờ” thì đức cha cứ ở yên trong nhà Chúa tội gì về với đời? Tuy nhiên, ông cha trẻ còn cho rằng “nhà thờ” còn thua cả “ngoài đời” ở chỗ:

“Ngoài đời còn có sự sống và ánh sáng, chứ còn ở đây thì chỉ có mùi ẩm mốc và cái chết…”

Thật là một câu chửi đạo Thiên Chúa mang đầy tính khái quát.

Ông linh mục trẻ tên Thư ấy đã chất chứa trong tâm can biết bao sự phiền muộn và khinh ghét giáo hội, khi cùng mẹ đẻ tới thăm gia đình ông chánh trương lại được bà vợ ông này “tố khổ” tội lỗi của các linh mục trước kia nữa:

“Trình cha với cố, mấy năm Pháp nó đóng đồn ở đây, cha Hoàng Quỳnh từ Phát Diệm sang coi sóc xứ đạo này, chúng con đã tưởng tới ngày mạt thế. Cha đòi lại ruộng đất được chính phủ chia cho năm trước, rồi truy tô các chủ ruộng, thiếu một đồng cũng không được. Kẻ nào chậm chạp lập tức bị nhốt hầm ngay. Ông lão nhà con cũng bị nằm hầm cả mấy tháng. Kẻ có đạo chỉ biết kêu xin có Chúa, nhưng đấng thay mặt Chúa lại bịt chặt cả mọi đường. May mà anh em bộ đội về giải phóng sớm, chậm chút nữa không khéo các cụ ấy giết chết hết con chiên…”

Đến vợ ông chánh trương tức phu nhân của ông đứng đầu các con chiên mà còn thở ra những lời lẽ “căm thù” các đấng chăn chiên như thế, thử hỏi cái xứ đạo này có đáng “giải tán” không? Ông cha trẻ nghe chuyện không tin, hỏi lại:

“Trong nhà xứ có hầm nhốt người à ?”

Ông chánh trương xác nhận:

“Thưa, nó vốn là cái hầm chứa đồ thánh, cha Quỳnh về mới cho xây rộng ra để nhốt người… Năm anh em bộ đội về đánh bốt chúng con cho xây bịt lại luôn…”

Chỉ tưởng tượng thêm chút nữa, ông nhà văn sẽ biến nhà thờ thành cái bốt Tây có súng lớn, có bãi mìn chống lại cách mạng. Bà vợ ông chánh trương lại tố cáo tội ác của các cha nữa:

“Trình cha  con cứ nghĩ cái năm thằng cháu trai đậy chiếu nằm đấy mà không có tiền mua áo. Chồng chạy vào cha Hiển, vợ chạy sang ông bà Tư van vỉ khóc lóc cả buổi, rút lại vợ về tay không, chồng cũng về tay không, mà là chánh trương với cha xứ cả đấy. Vậy là phải bó cháu bằng bao tải, bằng chiếu, chồng gánh một đầu. Vợ gánh một đầu, trời lại mưa tầm tã…”

Rõ ra là một màn con chiên đấu tố “linh mục”, tự nguyện mà đấu tố chứ chẳng phải do Đảng “phóng tay phát động”. Ông nhà văn quả là khéo bịa đặt quy tội cho nhà thờ. Bà vợ ông chánh trương khóc sụt sùi:

“Một đời người ngoảnh đi ngoảnh lại chỉ những khổ là khổ. Kêu Chúa, Chúa cao xa quá nên nghe không thấu, đến với cha, cha xua tay bảo: Vậy cái khó của tôi thì tôi kêu ai ? Gắng mà chịu chứ !”

Những lời “tố đạo” của con chiên làm  ông linh mục trẻ như bừng tỉnh. Ông ngộ ra rằng: “Nếu các đấng bậc ấy tin là có một Thiên Chúa thật, có hoả ngục và thiên đàng thật, có sự xét xử tối hậu thật, lẽ đâu họ dám hành động càn rỡ đến thế? Hình như họ đã không còn tin ở những điều thiêng liêng đó nữa…”

Thế là ông linh mục xét lại “đức tin” của các cha. Ông cho rằng “đức tin” ấy là không có thực, là vờ vịt, giả vờ để các cha “hành nghề” linh mục:

“Với họ đi tu là một nghề nghiệp, Hội Thánh là một tổ chức xã hội, danh vị và tiền bạc vẫn có sức mạnh vạn năng, mọi tội lỗi và đam mê chỉ khác đi là đã được thánh hoá… Các đấng bậc tự cho phép thoả mãn mọi dục vọng, còn giáo hữu thì è vai gánh vác mọi khó khăn thì vừa cuồng ngạo vừa ngu ngốc, bọn áo chùng chúng ta ở giáo phận này là sứ thần của quỷ chứ đâu phải của Chúa ?”

Than ôi, một khi linh mục Thư đã báng bổ đạo của chính ông như thế, đã vứt bỏ đức tin như vậy, con đường tất yếu dẫn ông tới là “bỏ đạo” về với “chính quyền”. Quả nhiên một tối cha Thư mặc ra ngoài chiếc áo chùng thâm một cái áo dài trắng – biểu tượng của sự từ chối chức linh mục và cho mời ông chủ tịch mặt trận và ông chánh trương xứ tới trịnh trọng đề nghị:

“Thưa hai cụ, hai cụ là đại diện có thẩm quyền của giáo dân xứ nhà… tôi cúi mình cầu xin hai cụ hãy rửa tội cho tôi lần nữa…  vì từ nay tôi là tôi tớ trung thành của các người…”

Như vậy ông cha Thư không còn là “con cái Chúa” nữa mà là tôi tớ của giáo dân, tức “đầy tớ của nhân dân”. Thế là ông Chủ tịch mặt trận làm lễ “rửa tội” cho ông linh mục theo kiểu ngược lại với nhà nhà thờ:

“Ông vục nước đổ lên đầu cha xứ lần nữa, miệng đọc to:

“Tao rửa  mày nhân danh Cha và Con và Giáo hữu xứ Nhất…”

Như vậy, lẽ ra “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, ông nhà văn Nguyễn Khải đã để cho ông Chủ tịch mặt trận sửa “thánh thần” thành “giáo hữu” – tức là từ nay, ông linh mục sẽ từ bỏ “thánh thần” mà trở về với “nhân dân”.

Thật là một hư cấu vừa ngược ngạo vừa ấu trĩ tới mức dở hơi, thế mà cuốn “tiểu thuyết” “Cha và con và…” của nhà văn Nguyễn Khải” lại được phê bình gia Lại Nguyên Ân tôn vinh là “triết luận về chủ nghĩa xã hội và tôn giáo”!

Sinh thời Nguyễn Khải hay “khoe rằng” tớ là người theo triết lý “con lươn” hễ gắp khó khăn rắc rối là tớ tiết chất chờn lủi mất. Vụ “đề dẫn” của Nguyên Ngọc bị ăn đòn và Nguyễn Khải lủi mất tiêu vào Sài Gòn là một dẫn chứng sinh động nhất. Tuy nhiên, cả đời ông cứ tiết chất nhờn để mà “lủi” như vậy thì làm sao mà có được tác phẩm để đời?

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)