Chủ trương

Lại Nguyên Ân

Liên hệ

email: timlaidisan@gmail.com

Phản hồi, bình luận mới

MỘT BÀI VIẾT 1956 CỦA TRƯƠNG CHÍNH VỀ TIỂU THUYẾT “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Đây chính là tài liệu mà hồi làm cuốn NGHIÊN CỨU VĂN BẢN “GIÔNG TỐ” tôi đã tìm để đưa vào phụ lục những bài phê bình đáng lưu ý nhất xung quanh tác phẩm. Nhưng hồi ấy chưa tìm được. Bài này đăng báo “ĐỘC LẬP” của Đảng Dân chủ Việt Nam, nhưng sưu tập báo này tại Thư viện Quốc gia lại bị thiếu khá nhiều số, như số này. Tôi thấy bài này khi tìm sưu tập báo ấy tại Thư viện Khoa học xã hội ở 26 Lý Thường Kiệt (bây giờ đã chuyển lên phố Liễu Giai). Nhân thể nói thêm, báo này hồi 1956 có những bài rất … gắt, như 3 bài xã luận của chủ bút Đỗ Đức Dục, hay bài của Trương Chánh Hân yêu cầu xã hội miền Bắc phải có tự do đảng phái, v.v., mà báo Nhân Dân của ĐLĐVN phải phê phán đích danh.

Trở lại bài viết của Trương Chính về tiểu thuyết GIÔNG TỐ; nó được viết và đăng nhân tiểu thuyết “Giông tố” được tái bản (Nxb. Văn Nghệ, 1956). Hình như nhà phê bình Trương Chính đã viết về tác phẩm này ngay khi nó xuất hiện (Nxb. Văn Thanh, 1937). Nếu vậy bài trước của ông hẳn đã in trong các cuốn phê bình của ông trước kia (“Dưới mắt tôi”, 1939; “Những bông hoa dại”, 1941). Tôi chưa có dịp thấy bản in hai cuốn đó nên không rõ ra sao.

Còn bài viết này, nó lưu ý ta quan sát xem nhà phê bình từng sống qua hai chế độ, từng viết ở hai giai đoạn văn nghệ, lúc này viết phê bình ra sao? Hệ quan điểm mới đương thời – nhất là quan điểm giai cấp, thâm nhập cái nhìn tác phẩm của ông ra sao? Và, đâu là chỗ ông buộc phải nói theo thời, đâu là chỗ ông vẫn nói được ý mình?    

Xin nói thêm, tôi theo bản chụp và đánh máy hơi vội, có thể có sai sót. Bạn nào sử dụng nên đối chiếu với báo gốc.

03/9/2016

LẠI NGUYÊN ÂN

————————————–

 

 

 

ĐỌC SÁCH:

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

TRƯƠNG CHÍNH, báo “Độc Lập”, Hanoi, s.228 (13.10.1956), tr. 6-7.

 

Tôi đang đi tìm trong văn chương hiện thực phê bình của ta trước Cách mạng xem có một cuốn tiểu thuyết nào trong đó tác giả đã dồn lại được bấy nhiêu tội lỗi, bấy nhiêu cảnh xấu xa mục nát của xã hội cũ như trong “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng không. Quả không có. Thường thường thì trong một tác phẩm, người ta cũng chỉ tả một vài khía cạnh nào đó. Nguyễn Công Hoan là nhà văn hay khai thác những đề tài như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan phải dàn trải ra trong rất nhiều truyện ngắn, chứ chưa hề sáng tạo được những điển hình đậm nét như trong “Giông tố”.

Trong “Giông tố”, Vũ Trọng Phụng dẫn ta từ thôn quê “xôi thịt” đến thành thị “bơ sữa”, từ những chốn ăn chơi trụy lạc, gái đĩ, thuốc phiện, đến những cảnh xa hoa, – cũng không kém trụy lạc – trong phòng Tịnh Tâm ở ấp Tiểu Vạn Trường Thành của Nghị Hách. Không kể những nhân vật chính, riêng những con người của xã hội cũ mà Vũ Trọng Phụng đã vẽ bằng một hai nét trong “Giông tố” cũng đã nhiều vô kể. Ở thôn quê thì có đủ mặt các hào lý, gặp cơ hội nào cũng có thể tổ chức ăn uống, hút xách, đem lý sự cùn ra mà cãi vã nhau, rồi chửi bới nhau, nhưng lên đến cửa quan thì run sợ, hèn nhát. Ở thành thị thì thôi, đủ hạng người, thượng vàng hạ cám. Những tay doanh nghiệp sắc sảo, gian hùng, “coi đời như canh bạc lớn”, “làm việc thiện để quảng cáo cho mình”, có chân trong các hội ái hữu, “nhưng kỳ trung không có ai là bạn trên đời”, đã từng chủ tọa những ban giải thưởng văn chương nhưng chưa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết, những tay cổ động kịch liệt cho hội Phật giáo mà lại đi xây hàng dãy nhà săm, những anh làm chủ ba bốn tiệm khiêu vũ mà đánh con gái hộc máu về tội ăn mặc tân thời, những anh vừa là chủ hiệu xe đám ma vừa là chủ dược phòng, bán tem cho hội bài trừ bệnh lao mà lại bán cả thuốc lào mốc, v.v. tóm lại tất cả những hạng người tự xưng là “thượng lưu” những kỳ thực là giả dối, chỉ biết có đồng tiền và danh hão, dùng mọi cách đầu cơ, mọi cách bịp bợm, theo tác giả thì đó là “những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thương giới”. Ai đã từng sống ở Hà Nội lâu năm, nhất là vào khoảng 1930-1939, chắc có thể tìm thấy ở những nét sơ sài trên những con người có thật, bằng xương bằng thịt, đã làm giàu một cách trâng tráo như thế, mà cũng đã trở nên những tai to mặt lớn của xã hội đương thời.

Trong các tiệm hút ở Hàng Buồm hay trong các nhà hát ả đầu ở Khâm Thiên, tác giả lại có dịp cho ta biết một hạng người khác, hạng người trụy lạc. Không kể Vạn Tóc Mai, đứa con hoang của Nghị Hách, xỏ lá xỏ xiên, chuyên môn nói xấu bố với các nhà báo để “làm tiền” bố, có đủ mặt các “nhân viên làng bẹp, những thiếu phụ mặt bự những phấn, môi tái nhợt, tóc búi, cổ đeo kiềng, quần áo tân thời, cổ bánh bẻ”, những tên lính da trắng, da đen, một mụ đầm già. Rồi những ông giáo, những ông cử nhân, bề ngoài thì đạo mạo, nhưng đến đây thì giở đủ trò “đểu cáng”. Tác giả “Giông tố” đã dùng ngòi bút phóng sự của mình để tả lại cuộc đời bẩn thỉu, ô uế, dâm đãng của thành phố Hà Nội dưới thời Pháp thuộc.

Đã hết đâu! Ngoài những cảnh “lầm than” công khai, còn những cảnh lầm than kín đáo hơn. Một bà nhà “tử tế” ngoài bốn mươi tuổi, chuyên môn nhảy đồng bóng và nằm với anh cung văn, một cô thiếu nữ hẹn hò với trai trong khách sạn!

Còn trong chốn quan trường thì như thế nào? Một ông quan thuộc địa “cáo già” dùng những lời nói khéo léo để phỉnh dân và bóc lột dân cho dễ, một ông tuần và một ông quan huyện chuyên bênh vực những người có của. Dám nói đến các “quan Tây” trong tiểu thuyết thì trước đây, có lẽ chỉ Vũ Trọng Phụng mới có gan đó. Đọc những đoạn ông Nghị Hách gặp quan sứ, hoặc đoạn các quan Tây đến dự buổi tiệc của Nghị Hách sau cuộc phát chẩn, ta thấy cái mỉm cười mỉa mai của Vũ Trọng Phụng dưới những câu giả đò thơ ngây. Ngoài những quan cai trị đương chức, lại có những quan cai trị đã về hưu, nhưng “đã để ý đến việc doanh thương từ lâu”, và “hiện làm đại diện cho một hội lý tài lập bên Pháp, vốn liếng có hai mươi triệu phật-lăng”, và đang tìm cách giữ độc quyền nước mắm!

Giở lên trên là những con người. Dưới đây là các sự việc trong xã hội cũ: việc bỏ truyền đơn cờ đỏ cộng sản để vu cáo người khác, cách hối lộ ở chốn quan trường, các luật lệ hà khắc của “Chính phủ”: dạy trên năm người học trò không khai báo thì bị tội, việc tranh cử ở nghị trường, việc thông đồng với các cơ quan ngôn luận để làm hậu thuẫn cho các cuộc tranh cử, những bài “đít-cua” rỗng tuếch, những trò hề của những tai to mặt lớn trong xã hội… Có thể nói, không có cái gì khả ố, lố bịch dưới chế độ cũ mà Vũ Trọng Phụng không đề cập đến.

Để tỏ ra mình hiểu biết nhiều, Vũ Trọng Phụng còn đưa lên sân khấu một cô thầy bói, một ông già đóng vai thầy địa lý và thầy số đi xem đất, đặt huyệt và lấy số tử vi. Dưới ngòi bút sắc sảo của Vũ Trọng Phụng, cả xã hội cũ hiện lên, một cách bi đát, đau thương, mà cũng hết sức tồi tàn, đáng căm giận.

***

Trên là bối cảnh to lớn trong đó có gia đình Nghị Hách, vai chính trong truyện.

Nghị Hách không phải chỉ là một ông nghị gật tầm thường, không phải như nghị Quế của Ngô Tất Tố trong “Tắt đèn”, nghị Lại của Nguyễn Công Hoan trong “Bước đường cùng”. Nghị Quế, nghị Lại chỉ mới là những tên địa chủ ở thôn quê, có lẽ ngoài huyện nhỏ chúng ở, không ai biết đến. Còn Nghị Hách chẳng những là một tên địa chủ có năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh hắn, còn là một nhà đại tư bản, một nhà đại công nghiệp có một cái mỏ than ở Quảng Yên, có ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng, cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng, cách ăn chơi của hắn thì như các vị công hầu khanh tướng trong những tiểu thuyết Tàu, có mười một nàng hầu đặt dưới quyền một mụ quản gia, y như là trong nhà chứa! Không những thế, Nghị Hách lại sắp ứng cử ghế Nghị trưởng, sắp có Bắc đẩu bội tinh, nói tóm lại hắn là một nhân vật quan trọng trong xã hội ngày trước. Và nếu ai tò mò thì có thể tìm thấy tên và ảnh hắn trong cuốn “Những nhân vật ở Đông Dương” in năm 1941!

Cũng như những nhân vật có tên và ảnh trong cuốn sách nói trên, lịch sử Tạ Đình Hách cũng hết sức kỳ khôi. Xuất thân chỉ là một cai khu [sic? phu?] mỏ, thế rồi sang Lào một chuyến, không biết hắn làm ăn ra sao mà khi về thì giàu có thế ấy. Chính con vợ hắn đã kể tội ác của hắn:

− “Ừ đấy! Bà thế đấy!… Nó là cung văn thật đấy, nhưng mà bụng dạ nó tốt, nó ăn ở có nhân có nghĩa… Nó còn hơn cái mặt mày! Đồ lường đảo! Quân giết người! Đồ lường thầy phản bạn! Quân hiếp dâm!… Ừ, mày cứ ly dị bà đi, rồi bà tố cáo tội lường gạt, tội giết người của mày trước pháp luật cho mà xem! Mày về mày hỏi mười một con vợ lẽ của mày xem có phải mày đã hiếp dâm chúng không? Có phải mày đã bỏ bã rượu vào nhà bố mẹ chúng để bố mẹ chúng phải bán rẻ chúng cho mày không?” (trang 335)

Ấy thế mà chính sau khi câu chuyện ở Hải Phòng vỡ lở, làm cho Nghị Hách như có dịp ôn lại cả cái quá khứ bỉ ổi của hắn, chính sau khi đó, trong bữa tiệc thết đãi ở Tiểu Vạn Trường Thành, hắn đã đọc một bài diễn văn rất kêu, nói đến luân lý, đạo đức, bác ái, bình dân, v.v. Chưa bao giờ ngòi bút Vũ Trọng Phụng mỉa mai một cách chua chát như trong bài diễn văn đó!

Nhưng chỗ chưa đúng của Vũ Trọng Phụng là ông chỉ nhấn mạnh vào tính chất dâm đãng của Nghị Hách. Hết hiếp dâm vợ người thì hiếp dâm con gái tơ rồi đem về nuôi như nuôi một lũ gái đĩ. Đành rằng, kẻ có tiền, trong xã hội cũ, dễ sinh ra dâm đãng, nhưng tội chính của nghị Hách không phải ở chỗ đó, mà ở chỗ cướp năm trăm mẫu đồn điền, bóc lột nhân công ở mỏ than Quảng Yên, ở cách làm giàu của anh cai thợ nề trở thành một tên tư bản kếch xù và một nhân vật đặc biệt trong xã hội.

Dâm đãng chỉ là một khía cạnh và không phải là khía cạnh quan trọng nhất của con người nghị Hách. Chỉ tả mỗi khía cạnh đó thì lệch hẳn.

Cái bi kịch xảy ra trong gia đình Tạ Đình Hách có giống như cái bi kịch xảy ra trong gia đình một tên tư bản khác ở Trung Quốc: Chu Phác Viên trong “Lôi vũ” của Tào Ngu: bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của bố, anh em ruột lấy nhau. Nhắc đến Tào Ngu không phải là nói Vũ Trọng Phụng chịu ảnh hưởng của Tào Ngu. Có lẽ Vũ Trọng Phụng chưa hề đọc “Lôi vũ”. Có giống nhau, chẳng qua là vì hai người đều sống trong những xã hội mà đồng tiền làm chủ, và đã thấy, trong đó những người có tiền có thể dùng đồng tiền sắp đặt mọi việc theo ý muốn của mình, nhưng có khi lại phải chịu những hậu quả của mình không đoán trước được. Nghị Hách không bao giờ ngờ rằng thị Mịch lại là vợ chưa cưới của con hắn, mà cũng không bao giờ ngờ Long chính là con đẻ của hắn nữa. Còn Long cũng không bao giờ ngờ mình là con của Nghị Hách, và không ngờ lấy Tuyết tức là lấy em ruột mình, và thông dâm với thị Mịch khi thị Mịch đã làm lẽ Nghị Hách, là thông dâm với vợ lẽ của bố! Trong lúc đó thì “bà Nghị” lại ăn nằm với ông già Hải Vân, đẻ ra Tú Anh mà Nghị Hách tưởng lầm là con của hắn, rồi chính “bà Nghị” cũng lại ăn nằm với một thằng cung văn nữa.

Chuyện trong “Giông tố” thật hết sức rắc rối. Bố trí chừng ấy chi tiết ăn khớp với nhau cho được mạch lạc, rồi “gỡ nút” ra cho được tự nhiên, phải có cái tài của những nhà văn quen viết chuyện trinh thám. Và chính Vũ Trọng Phụng có khi cũng đã sắp đặt câu chuyện của mình y như chuyện trinh thám ông đã xây dựng ra. Ông già bí mật Hải Vân, đưa ra cái “xen” Nghị Hách và ông già Hải Vân cầm súng lục, đi xe hơi trong đêm tối xuống Hải Phòng bắt quả tang vợ Nghị Hách ngoại tình, v.v.

***

Trong “Giông tố” cũng có một số nhân vật mà tác giả có ít nhiều cảm tình. Thị Mịch, Long, Tú Anh, cụ Hải Vân và ông huyện Cúc Lâm. Qua những nhân vật ấy, ta có thể đoán biết được tư tưởng, tâm sự, lập trường giai cấp của Vũ Trọng Phụng.

Thị Mịch là một trong những nạn nhân của xã hội mục nát đó. Đáng lẽ ra thị Mịch phải là người tác giả có cảm tình nhiều nhất. Nhưng không phải như thế! Đối với nhân vật đó, ngòi bút của tác giả không đều. Đoạn đầu ông tả thị Mịch là một cô gái quê khỏe mạnh, đẹp, giản dị, chung tình, và sau khi bị Nghị Hách làm nhục, ông có tỏ một chút thương hại. Nhưng về sau, dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, thị Mịch trở thành một nhân vật rắc rối, phức tạp, dâm đãng và nhất là có những cử chỉ vô duyên, đáng ghét của một người đang ở cảnh nghèo khổ bỗng được đổi sang sống trong cảnh giàu có phong lưu. Trò đời thường có như thế thật, nhưng khi tả một xã hội đáng ghét, rồi tả nạn nhân của xã hội đó cũng đáng ghét nốt, thì người đọc sẽ hết sức hoang mang. Tôi không thể chịu được khi thấy thị Mịch – bây giờ đã là vợ lẽ của Nghị Hách – ngồi khâu vá, nhìn người qua đường qua bao lơn để “ôn lại, cố lục tìm trong trí nhớ để chạy theo một cái ảo tưởng mà luân lý ngăn cấm, để ngoại tình bằng tinh thần, làm một việc khoái lạc mà người ngoài không biết được” (tr. 249). Sự đói khát về tình dục của thị Mịch, những cảm giác đê mê mà thị Mịch tìm thấy sau khi đã “biết mùi đời” trong chiếc xe hòm của Nghị Hách, ở đây, tôi thấy lạc lõng, không hợp với nhân vật, không hợp với ý nghĩa của cuốn truyện. Những trang này, Vũ Trọng Phụng đã viết bằng một thứ mực với cuốn “Làm đĩ” của ông. Tôi có cảm tưởng những câu nói yêu nói nựng quê kịch, những cử chỉ trâng tráo, cái cười – “cười một cách ghê gớm như một người cười mà tự tử” – của thị Mịch, khi thị Mịch sắp “cho Long ái tình” ở trong nhà Nghị Hách, tác giả đã ghi lại được ở trong một xóm yên hoa rẻ tiền ngày trước! Cảm tình người đọc sẵn có từ trang đầu đối với thị Mịch đến đây thì mất hẳn.

Long cũng là một nạn nhân đáng thương khóc [sic? khác?] của xã hội cũ. Tác giả tả Long là một thiếu niên chung tình, vì chung tình mà đau khổ, rồi trở thành một kẻ chơi bời trác táng, không thiết gì đến gia đình nữa, để đến sau cùng thì tự sát cạnh một gái giang hồ. Tình cảnh của Long cũng là tình cảnh của nhiều người khác ta đã biết ngày trước. Đứng về phương diện tâm lý mà xét thì không có gì đáng nói. Nhưng suốt cuốn chuyện dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng anh này hơi ồn ào, có những điệu bộ giả tạo, có những câu nói làm ra vẻ quan trọng, hết sức buồn cười. Tôi thấy Long đóng vai trò của mình vụng về như một anh kép dở trên sân khấu ngoại ô. Đoạn Long “diễn thuyết” trong nhà thương khi thị Mịch tự tử “Thưa các bà, cô bé này là vợ sắp cưới của tôi, v.v.” (tr.59), cả chương Long về Quỳnh Thôn gặp thị Mịch (chương XIV), cả chương Long gặp Tú Anh trong tiệm hút ở Mã Mây (chương XVII) cũng như các đoạn tả Long với Tuyết ân ái với nhau trong khách sạn, đều là những trang dở nhất trong “Giông tố”.

Tú Anh cũng thế. Tú Anh cũng là một vai đóng kém, mặc dù tác giả có nhiều cảm tình với nhân vật này. Tác giả tả Tú Anh là một thanh niên tuấn tú, vị tha, bác ái, có lý tưởng, đối với Nghị Hách, Tú Anh có rất nhiều quyền lực. Đó cũng là một điều hơi lạ đối với một người bố như Nghị Hách. Chính Tú Anh đã bắt Nghị Hách lấy thị Mịch làm vợ lẽ, bắt Nghị Hách gả Tuyết cho Long, rồi về sau, giao cho Long cả thìa khóa tủ sách [sic! tủ bạc chứ?] để Long tha hồ chơi bời trác táng, v.v. Tôi nghiệm thấy, nhân vật nào Vũ Trọng Phụng có cảm tình nhiều nhất, thì nhân vật đó lại trở thành giả tạo nhất. Quen tả những cảnh thối nát trong xã hội, những nhân vật đểu giả, thô bạo, ngòi bút Vũ Trọng Phụng bất lực khi muốn tả một cái gì cao thượng, tế nhị, hay ông cho là cao thượng, tế nhị. Điều này ta còn thấy trong khi tác giả xây dựng nhân vật Hải Vân, ông già cách mạng, bôn ba hải ngoại, “nửa đời người tù tội”, “ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu”, “chín năm giời trốn tránh, gối đất nằm sương” (tr.362), về nước xét tình hình và làm tiền cho Đảng, và công việc hiện nay của ông là “hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc giá cũ hợp nhất với đảng quốc tế mới…” (tr.358). Một người như vậy, mà dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, ta không có cảm tình nhiều. Ông già này có những cử chỉ, điệu bộ của những nhân vật trong các tiểu thuyết trinh thám dở. Một mặt khác, không kể những đoạn thuyết về địa lý, số tử vi, đây là những nghề phụ mà nhà “cách mạng” này dùng để dễ lọt vào đâu cũng được và dễ tránh con mắt tò mò của bọn mật thám, ông già này, trong nhiều trường hợp khác, thực sự tỏ ra rất mê tín, dị đoan, và lại cũng không “đáng kính về nhân phẩm” lắm, như bà Nghị Hách nói. Đọc kỹ chương XXVIII thì rõ. Bắt quả tang bà Nghị nằm với thằng cung văn, ông già Hải Vân nói với Nghị Hách:

− “Bác Hách! Cứ bình tâm! Cưỡng sao nổi số Giời! Trong việc này dễ thường có Hoàng Thiên dúng tay vào, dễ thường có luật quả báo!… Bác nên nhớ lại lúc bác bỏ một chục quả đấm bằng đồng vào hòm tôi để chiếm đoạt vợ tôi!” (tr.336)

Rồi cái giọng khoan thai của ông khi kể lại với Nghị Hách chuyện mấy mươi năm về trước, nghe mới khó chịu làm sao:

− “Phải, Tú Anh là con tôi… Bác đi Lào, tôi ở nhà tù ra, tôi cũng thương yêu vợ bác y như bác thương yêu vợ tôi lúc tôi ở tù vậy! Xin bác soi xét cho cái chỗ hèn yếu của lòng người…” (tr.338)

Câu nói đó là một câu nói trả thù hơn là một câu nói của người thật tâm hối hận về một hành vi chẳng cao thượng gì hơn Nghị Hách mấy!

Cuối cùng đến ông huyện Cúc Lâm. Hình như tác giả mong mỏi rất nhiều đến cái ông huyện này lắm thì phải. Ông ta đỗ luật khoa tiến sĩ ở Ba-lê, từng diễn thuyết và biểu tình với ông văn sĩ Romain Rolland về việc chính trị phạm Đông Dương, về nước làm quan để mưu những việc ích quốc lợi dân. Vì thế ông ta đã từ chối những cám dỗ bằng sắc đẹp và tiền bạc mà Nghị Hách đưa ra lung lạc ông. Ông ta quyết tâm đứng về phe nhân dân, cự lại viên tổng đốc, để rồi đệ đơn từ chức, mở một phòng luật sư và một cơ quan ngôn luận bằng chữ Tây công kích chế độ quan trường, v.v. ! Thật sự không biết như thế nào, và việc về sau ông ta công kích chế độ quan trường có đi đến đâu không, nhưng chỉ nghe ông ta đối đáp lại viên tổng đốc thì hết sức chán:

− Bẩm cụ lớn, nhà nước không cần phải đổi tôi đi đâu xa! Dù tôi không đi làm quan thì tôi cũng không chết đói ạ. Bẩm cụ lớn, chẳng phải nói khoe gì, quan thầy của tôi trong đảng xã hội nay mai mà có sang nhận chức toàn quyền thì lúc ấy tôi lại sẽ làm quan cũng không muộn ạ. Mà nếu có phải làm quan, tôi sẽ cũng không làm quan huyện nữa… (tr.72)

Vũ Trọng Phụng mất năm 1935. [sic! 1939 chứ, chắc lỗi sắp chữ] Lúc sống chắc ông cũng đã được trông thấy những người trong Đảng xã hội Pháp sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương, và chắc ông cũng được trông thấy những người như ông huyện Cúc Lâm ra làm những chức quan to hơn chức quan huyện, nhưng có phải vì vậy mà xã hội Việt Nam thay đổi được gì căn bản! Và cái “óc bình dân” của ông huyện Cúc Lâm cũng chỉ đưa ông đến làm tay sai cho Pháp mà thôi!

Bây giờ nêu những điều đó ra, tôi chỉ cốt nêu cho thấy tư tưởng của Vũ Trọng Phụng bị hạn chế như thế nào. Ông chưa thấy rõ con đường đi đúng, mặc dầu ông rất oán ghét xã hội cũ, xã hội đồng tiền dưới ách phong kiến và thực dân. Ông có những ý định tốt, nhưng ông đặt hy vọng vào những người như Tú Anh, ông huyện Cúc Lâm, ông già Hải Vân như nhau. Cho nên ông không biết xây dựng nhân vật Hải Vân một cách hiện thực hơn, nghiêm túc hơn, để người đọc có cảm tình nhiều hơn nữa.

***

Trong văn chương hiện thực phê bình của ta ngày trước, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có một giá trị rõ rệt. Ông đã dựng nên nhiều nhân vật điển hình, từ Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, cho đến Nghị Hách, Vạn Tóc Mai. Ông đi sâu vào mặt trái của xã hội cũ và đem phơi bày ra cho mọi người thấy. Đó là một ưu điểm. Nội ưu điểm đó cũng đủ giành cho ông một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học nửa thế kỷ nay. Ta không đòi hỏi ông phải xây dựng được những nhân vật chính diện cho thật đúng lập trường. Điều đó trước cách mạng, với tính chất giai cấp của ông ông không làm được. Nhưng ta không khỏi lấy làm tiếc khi thấy ông xây dựng những nhân vật chính diện hơi vụng về. Một mặt khác, cách hành văn của ông cũng “ẩu”, không phải là cách hành văn của một nhà văn mẫu mực, “cổ điển”. Đó là tình trạng chung của một số nhà văn chúng ta ngày trước, phải viết nhanh viết nhiều, bán văn nuôi thân. Nghĩ như vậy thì đáng thương hơn đáng trách.

TRƯƠNG CHÍNH

Nguồn:

Độc lập, Hà Nội, s. 228 (13.10.1956), tr. 6-7.

TIẾP CẬN VĂN BẢN HỌC TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VÀ XUẤT BẢN: MUỘN CÒN HƠN KHÔNG!

LẠI NGUYÊN ÂN

Thực tiễn đời sống văn hóa văn nghệ gần đây cho thấy cả công tác xuất bản lẫn công việc nghiên cứu phê bình đều cần đến góc tiếp cận văn bản học.

Thật ra thì tiếp cận văn bản học là không thể tránh đối với tất cả những lĩnh vực có liên quan đến ngôn ngữ văn tự. Các tác phẩm chữ viết, khi được truyền bản, nhân bản, dù dưới dạng chép tay hay in ấn, đều đứng trước nhu cầu phải được xử lý về văn bản. Tuy vậy, những việc ấy, ở xứ ta, thường được thực hiện một cách “tự nhiên nhi nhiên”, với những xử lý hoặc bị coi là quá thông thường, hoặc buộc phải tuân thủ những quy tắc tối thiểu nào đó, nên người ta cảm thấy dường như chẳng có vấn đề gì!

Cho đến gần đây, chỉ mới duy nhất có các văn bản thuộc loại hình chữ Hán-Nôm của người Việt, là được công nhiên thừa nhận cần thiết phải xử lý về văn bản học. Đã có một viện nghiên cứu riêng được nhà nước lập ra (Viện nghiên cứu Hán-Nôm), giành cho việc khảo cứu loại hình di sản này của văn hóa chữ viết. Thế nhưng, loại chữ viết kể trên (chữ Hán-Nôm) chỉ được người Việt dùng từ xa xưa cho đến thế kỷ XIX, số lượng tác phẩm Hán-Nôm của tác giả Việt còn tính đếm được có lẽ không quá 5 chữ số. Từ cuối thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX trở đi, xã hội người Việt chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ, tức tiếng Việt ghi bằng các ký hiệu Latin của người châu Âu, và nay ta gọi tắt là chữ Việt. Số lượng tác phẩm đủ loại do người Việt viết ra in ra bằng chữ Việt, nay nếu tính đếm, chắc phải dùng đến 10 chữ số.

Và điều đáng nói hơn, những sự cố liên quan đến văn bản (như hai dị bản “bùn”/”đất cày” trong một bài thơ Lưu Quang Vũ gây xôn xao dư luận mới đây) đôi khi ám ảnh cả một công chúng rộng; trong lúc bàn cãi nhau quanh sự cố ấy, người ta mới nhận thấy ở lĩnh vực này dường như đang trống vắng những hiểu biết căn bản có thể làm nền cho những hướng xử lý thích đáng.

Tôi từng nghe kể, có lần, một công chức ở Cục xuất bản bị một người, nhân danh thân nhân tác giả X., đến chất vấn và yêu cầu xử lý, tức là ra lệnh phạt một nhà sách kia, vì đã phạm tới vài trăm lỗi dị bản, khi tái bản tác phẩm của tác giả X. Viên chức nọ không biết xử lý ra sao, đành để vị khách kia ngồi lỳ ở đó!

Câu chuyện hình như được một số nhà văn quan tâm, và người ta vội làm một hội thảo, nêu lên một loạt những lời ta thán, trách cứ giới làm sách, nêu cao những đòi hỏi “chuẩn mực”, “chính xác”, v.v… Thế rồi người ta định lập ra một trung tâm trực thuộc Hội nhà văn với công việc chính sẽ là cung cấp văn bản chuẩn mực các tác phẩm cho xuất bản! Thật may là trung tâm ấy chưa ra đời, bởi nếu nó đi vào hoạt động thì, giới văn chương và công chúng hẳn sẽ được thấy những cảnh ngộ dở cười dở khóc với cái sẽ được gọi là “văn bản chuẩn mực”! Phải chăng các vấn nạn xung quanh câu chuyện tạm gọi là “in sai” văn bản tác phẩm, lại có thể giải quyết dễ dàng như thế hay sao? Và nếu quả thật các vấn đề là dễ xử lý thì vì sao mỗi khi nó  xuất hiện lại thường gây ách tắc đến vậy?

Nếu muốn tìm kinh nghiệm từ giới chuyên gia văn bản học người Việt, chắc hẳn trước hết phải tìm tới các nhà Hán-Nôm học; song ngoài các vấn đề chung ra, loại hình văn bản Hán-Nôm gắn với một thời đại kỹ nghệ khác (viết tay, chép tay, in khắc ván, v.v.), khó mà đủ để xử lý loại văn bản của các thời đại in máy (typographie), in sắp chữ rời, từ thủ công, bán thủ công sang tự động hóa, rồi công nghệ in thời đại internet.

Tất nhiên ngọn nguồn mọi tác phẩm là từ tác giả. Phải có văn bản của tác giả rồi mới có các văn bản in.

Song, ngay văn bản của tác giả (có khái niệm “bản thảo”) cũng đã không đơn giản; hầu như ít tác phẩm nào chỉ duy nhất có một văn bản; một bài thơ ngắn, trong sổ tay tác giả có thể cũng đã có vài dị bản ở câu này chữ kia, do tác giả cân nhắc giữa vài ba từ khả dĩ đáp ứng chiến lược diễn ngôn của mình. Khái niệm “văn bản gốc”, đi vào nghiên cứu cụ thể, sẽ thấy không hề đơn giản. (Vả chăng, đến khi tác phẩm được xem là thành tựu thì tác giả đã đi xa, cả bản nháp lẫn “bản gốc” hầu hết đều không còn).

Sang giai đoạn văn bản được nhân bản, từ một bản của tác giả được in thành ngàn bản, chục ngàn bản, tức là văn bản đăng báo, in sách, thì tuy mỗi lần in tạo ra một văn bản đồng nhất, bởi đều được dập ra từ một bộ khuôn chữ, nhưng những lần in khác nhau lại tạo ra những văn bản khác nhau, mỗi lần in lại tạo cho tác phẩm thêm một loạt dị bản.

Tôi đã nghiệm thấy rõ điều này khi khảo sát tình trạng văn bản một số tác phẩm cụ thể. Không bao giờ văn bản một tác phẩm ở các lần in khác nhau lại đồng nhất, trùng khít nhau; đó gần như là quy luật.

Tựu trung tôi thấy có hai loại nguyên nhân khiến cho mỗi lần in, cùng một tác phẩm sẽ tạo ra thêm một dị bản mới.

Thứ nhất là loại nguyên nhân “chủ quan”, do chủ ý của những người tham gia công việc xuất bản: 1/ tác giả (nếu còn sống khi tác phẩm của mình được in lại) có thể (và có quyền) sửa chữa tác phẩm của mình; 2/ người xuất bản có thể đề xuất những thay đổi nhất định trong văn bản tác phẩm đưa in, vì những lý do nào đấy, chí ít là quy tắc chính tả, quy tắc viết tên riêng, v.v.; 3/ cơ quan kiểm duyệt (chính quyền đương thời cấp giấy phép in) có thể cắt bỏ những câu chữ, đoạn văn nhất định.

Thứ hai là loại nguyên nhân “khách quan”, vô tình, ngoài ý muốn: tác giả có khi vô tình viết sai một vài từ nào đấy (câu “Người là đấng tinh truyền thanh vẹn” bị ngờ là do Hàn Mặc Tử viết nhịu cái câu có lẽ nguyên là “Người là đấng trinh tuyền thánh vẹn”!); thợ sắp chữ có thể sắp sai những chữ, câu, đoạn nhất định mà thợ sửa in không phát hiện ra nên đã không sửa trên khuôn in; nhân viên đánh máy cũng có thể vô tình phạm những lỗi tương tự thợ sắp chữ; trên máy in thủ công và bán thủ công còn xảy ra việc chữ rơi khỏi khuôn in, đôi khi thợ trực máy in sẽ cứu nguy bằng cách vuốt trở lại những con chữ nhảy ra ngoài ấy trở vào khuôn, nhưng chưa chắc nó đã về đúng chỗ cũ mà có thể lại nhập vào dòng khác, tạo ra những sai biệt độc đáo trên trang sách in ra…

Vậy là nếu ở thời đại chỉ có thể truyền bản các tác phẩm bằng cách chép tay đã tiềm ẩn nguy cơ tạo dị bản, từng được tổng kết là “tam sao thất bản”, thì sang các thời đại nhân bản bằng in khắc ván, in máy, tác phẩm được nhân bản cũng vẫn đứng trước nguy cơ có thêm dị bản như xưa, không thể tránh được. Sản phẩm in là sản phẩm của con người, nó tùy thuộc hàng loạt nhân tố con người, như ta vừa thử hình dung.

Xin nêu một dẫn chứng dị bản “sai”, xuất hiện hồi 1976, chứ nếu xuất hiện bây giờ, chắc sẽ “vỡ chợ” văn!

Đọc vào truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, in trong tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” của Nxb. Tác Phẩm Mới (1976), thấy câu này về lai lịch chị Đào:

… được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng, khi ngược Lào Cai buôn gà vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn…”   (“33 truyện ngắn chọn lọc, Nxb. TPM., 1976, tr. 199)

Đang mạch văn kể lể từa tựa giọng thổ lộ tâm tư giữa đám đàn bà xứ Bắc, nhưng sao lại có sự việc “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng”?  Tra lại mấy cuốn khác nhau có in truyện này mới vỡ lẽ, chỗ ấy đúng ra là “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy muồng”! Muồng, có lẽ là tên một thứ cây lá hay hoa quả, tóm lại là tên mặt hàng. Chị này đi làm nghề buôn mà lại! Thế mà in lầm ra “lấy chồng”, rõ thật tai hại. Mà cái sai này, tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” (Nxb. Tác Phẩm Mới, 1976) chỉ tiếp tục cái sai đã có từ một tập sách khác, chứ không phải sách này là nơi phát sinh chữ sai ấy!

Công bằng mà nói, ở thời dùng máy in với các khuôn chữ chì, các công đoạn làm việc được phân định rất tách bạch; do vậy sách báo in sai khá ít; sách in ra thường có bản đính chính các lỗi in sai dán kèm, tức là nhà xuất bản thường cho nhân viên đọc lại ngay sau khi sách in xong, rồi đưa ra những “tờ rơi” đính chính cần thiết.

Sách in sai nhiều nhất, theo tôi, là hồi ta chuyển từ kiểu in sắp chữ chì sang kiểu làm chế bản trang in trên máy vi tính; tức là những năm 1990s. Nhân viên đánh máy chế bản lúc ấy chưa biết cách làm chủ các kỹ thuật trên computer nên gây ra lỗi sai đầy rẫy; nhiều khi cả người sửa in lẫn biên tập viên đều ghi rõ yêu cầu sửa lên các bản “bông”, nhưng các lỗi sai vẫn rất nhiều, chủ yếu do nhân viên đánh máy chưa làm chủ kỹ thuật chỉnh sửa, định dạng đúng cho các trang sách sẽ in. Một số bạn thân quen trong giới với tôi hồi ấy thường nhận xét với nhau: các bộ “tuyển”, bộ “tổng” dày trang, nhiều tập, làm trong những năm này, có một nét chung: văn bản trong đó không đủ độ tin cậy để ta sử dụng!

Dăm bảy năm gần lại đây, nghề sách có những tiến triển thấy rõ, nhất là về kỹ nghệ in ấn. Song tình trạng lỗi in sai vẫn còn khá trầm trọng. Có những nguyên nhân thuộc về thương mại, khi người buôn bán sách không còn trực tiếp gắn với việc sản xuất sách nữa, người ta chỉ lo mấy yếu tố bề ngoài, cái bìa, bố cục chung, loại giấy in, v.v., còn nội dung chữ nghĩa thì khoán trắng cho một vài đầu mối vốn tương đối yếu về năng lực thẩm định chất lượng. Lại có những nguyên nhân thuộc về tầm hiểu biết chung quá hạn hẹp của những nhân viên tham gia các công đoạn làm sách. Tất nhiên trong nghề sách cũng đang diễn ra sự phân hóa về đẳng cấp; ta nên trông đợi những nhân tố ưu tú vượt lên.

Liên quan đến những phàn nàn trong dư luận về lỗi in sai, tôi không cổ động cung cách “quân phiệt” là xử phạt; tôi cho là cần tăng cường phê bình chất lượng sách, tăng cường phản hồi của bạn đọc, nhất là xung quanh những lỗi in. Điều căn bản hơn là nên khuyến khích người làm xuất bản, khi tái bản tác phẩm, học lấy cách tìm tới những sản phẩm in uy tín trước kia, học lấy sự kỹ tính khi lựa chọn bản cũ để in lại; cũng nên nhắc họ nghiêm khắc hơn đối với đám nhân viên mới dự vào nghề làm sách, đừng chấp nhận lối ỷ vào quê quán để đưa những sai lệch ngữ âm vùng miền, những lối nói sai nói ngọng vào sách báo in. Cũng nên nhắc lại rằng: Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải được đặt trong mục tiêu đưa lại cho công chúng một văn bản gần nhất với văn bản của tác giả; xin chớ nệ vào những toan tính “sửa thế này sẽ hay hơn” để làm lệch khỏi văn bản của tác giả.

Song song với các nỗ lực trong giới xuất bản, thì các giới nghiên cứu phê bình cũng nên dành thời gian và nỗ lực cho góc tiếp cận văn bản học. Trước hết, các tác phẩm chữ Việt đã đạt được sự công nhận ở mức nào đó của công chúng (qua các chỉ số xã hội học như số lần in, số bản in, hoặc sự đánh giá của giới phê bình) thì cần được khảo sát về mặt văn bản. Phải thấy, tình trạng một loạt tác phẩm xuất hiện từ những năm 1930s, được công chúng nhớ tên, mà cho đến nay vẫn chưa được khảo sát tình trạng văn bản qua các lần in khác nhau, — là điều khó có thể chấp nhận. Giới nghiên cứu các ngành xã hội-nhân văn trong nước hiện giờ không đến nỗi quá ít oi về nhân sự để không thể đào tạo lấy một số chuyên gia có năng lực giải quyết các vấn đề văn bản học. Ta đã có một số chuyên gia có uy tín về văn bản học Hán-Nôm; bây giờ cần có thêm những chuyên gia lành nghề về văn bản học chữ Quốc ngữ (= chữ Việt).

Chỉ các kết quả những khảo sát văn bản học cụ thể, đối với từng tác phẩm, mới cho phép hình dung tiến triển về văn bản của mỗi tác phẩm khi được truyền bản ở các lần in sau, qua đó có thể thấy ít nhiều diễn biến về thị hiếu, về ngôn ngữ xã hội, tâm lý xã hội, v.v.

Nếu trong một tác phẩm qua các lần in sau xuất hiện những dị bản trái với lối viết ban đầu của tác giả thì có thể coi dị bản là quá trình làm sai khác văn bản tác giả.

Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải nhằm đưa lại cho công chúng văn bản gần nhất với văn bản của tác giả.

Trong nghiên cứu phê bình, đôi khi ta còn có thể đọc ra những xu thế, xu hướng văn hóa xã hội khác nhau hiển thị ở lịch trình làm lệch đi, sai khác đi đối với văn bản ban đầu một tác phẩm.

16/7/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN

 

Qua cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh

16/8/1963. Báo “Văn nghệ”, s. 16: Tổ phê bình báo “Văn nghệ”:

Qua cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm

trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh:

          Tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh tuân phát hành chưa được bao lâu đã bị dư luận lên án kịch liệt và phê bình nghiêm khắc. Đợt phê bình cuốn tiểu thuyết này thực chất là một cuộc đấu tranh tư tưởng sâu sắc, rộng rãi, mạnh mẽ. Đợt phê bình “Vào đời” chứng tỏ rằng các giới các ngành và bạn đọc khắp nơi đã hết sức quan tâm đến công tác tư tưởng và văn nghệ, tha thiết bảo vệ chế độ tốt đẹp của chúng ta, bảo vệ lập trường tư tưởng và quan điểm văn nghệ của Đảng. Đó cũng chính là kết quả của đường lối phương châm đúng đắn của Đảng trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng đã được phổ cập và thấm nhuần trong nhân dân ta.

          Cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm của cuốn tiểu thuyết “Vào đời”, trong một thời gian ngắn đã diễn ra sôi nổi, quyết liệt. Bài phê bình của báo “Nhân dân” đã vạch rõ thực chất nội dung tư tưởng trong cuốn “Vào đời” là tư tưởng phản động hằn học của những giai cấp bóc lột bị đánh đổ và đã đánh một đòn quyết liệt vào tư tưởng đó. Những tờ báo của các cơ quan đoàn thể: “Lao động”, “Tiền phong”, “Phụ nữ”, “Cứu quốc”, “Thống nhất”, “Quân đội nhân dân”, các tờ báo hàng ngày: “Hà nội”, “Thời mới”, các tạp chí: “Học tập”, “Tạp chí Văn học”, tạp chí “Văn nghệ quân đội”, đều đã có nhiều bài liên tục phê phán mạnh mẽ và sâu sắc những tư tưởng nguy hại của tiểu thuyết “Vào đời”. Báo “Văn nghệ” liên tiếp trong 6 số đã đăng ý kiến của các nhà văn và bạn đọc phê phán “Vào đời”. Ban Thường vụ Hội nhà văn đã phê bình nghiêm khắc ban biên tập Nhà xuất bản Văn học (cũ) và Nhà xuất bản đã có bài tự kiểm điểm về những sao sót của mình khi cho in cuốn sách đó. Tòa soạn các báo còn nhận được nhiều bài và thư của đông đảo bạn đọc khắp nói gửi để tỏ lòng căm phẫn với nội dung độc hại của tiểu thuyết “Vào đời”. Trong khi vạch ra những điểm xuyên tạc trong cuốn truyện, nhiều bạn đọc đã đưa ra những sự thực tốt đẹp của cuộc sống chúng ta và tâm hồn trong sáng của lớp thanh niên đang hăng hái đi xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có những cuộc thảo luận, trao đổi của những người công tác văn học nghệ thuật, của những bạn đọc ở nhiều tầng lớp khác nhau, về cuốn tiểu thuyết này.

          Có thể nói ai cũng nhất trí kết luận “Vào đời là một cuốn tiểu thuyết có hại”,  chứa đựng những nọc độc nguy hiểm của tư tưởng tư sản phảm động.

          1/ Trước hết qua cuốn “Vào đời”, mọi người đều thấy Hà Minh Tuân đã xuyện tạc hiện thực của chế độ chúng ta. Bức tranh xã hội miêu tả trong “Vào đời” u ám xám xịt đến nỗi những ai đã chứng kiến và tham dự những cuộc biến chuyển cách mạng to lớn và sâu sắc trong những năm 1956 đến 1960 đều lạ lùng ngơ ngác và phẫn nộ với cách miêu tả không trung thực của tác giả. Hiện thực khách quan của cách mạng ở Miền Bắc trong thời gian đó là nhân dân ta,, sau cuộc kháng chiến gian khổ và vĩ đại, đã bắt tay vào xây dựng lại đất nước bị tàn phá, vượt qua trăm nghìn khó khăn một cách vô cùng dũng cảm mà đạt được những thành tích hết sức lớn lao. Đồng thời đó cũng là thời kỳ hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất  (CCRĐ) vĩ đại, rồi tiến hành công cuộc cải tạo XHCN, cải tạo giai cấp tư sản ở thành thị, hợp tác hóa ở nông thôn, xóa bỏ nạn bóc lột, làm thay đổi hẳn toàn bộ cơ cấu của xã hội Việt Nam ta. Những nét cơ bản đó của hiện thực chảng hề được phản ánh trong truyện “Vào đời”. Trái lại, quyển “Vào đời” đã bóp méo, xuyên tạc tất cả những nét về bản chất đó, trình bày một bức tranh rối loạn về hiện thực, chắp và và thổi phồng những nét tiêu cực với một thái độ u uất, hằn học, soi mói, mỉa mai, nêu những khó khăn thành khuyết điểm của chế độ, thậm chí những cái phải cái đúng cũng bị xuyên tạc ra thành khuyết điểm sai lầm. Rất nhiều ý kiến của bạn đọc vạch rõ cái sai trái trong cách mô tả người thanh niên đi vào lao động, cách nhìn phẩm chất của người quân nhân cách mạng và của người công nhân… Ai nấy đều nhận thấy rằng trong “Vào đời” nhiều mặt của đời sống đã bị bóp méo và đả kích, khi thì qua những lời thốt ra từ miệng nhân vật xấu, khi thì mượn lời những nhân vật gọi là “tích cực”. Nhiều bài phê bình cho “Vào đời” là một tác phẩm “giương lên một chủ đề tốt” để luồn vào đó những tư tưởng xấu, những nhận thức lệch lạc độc hại. Điều này biểu hiện rõ rệt ở kiểu vào đời của Sen, động cơ chống đối phá phách của Hiếu, việc đưa chuyện chống quan liêu trong nhà máy lên thành một cuộc đấu tranh hằn học chống lại một loạt cán bộ lãnh đạo. Nội dung tư tưởng xấu cũng biểu hiện ở những nhận xét cay độc của tác giả “Vào đời” qua nhân vật tiêu cực lẫn nhân vật “tích cực” về nhiều mặt sinh hoạt, từ công trường, nhà máy đến hợp tác xã, đường phố, từ đời tư của các nhân vật đến hoàn cảnh công tác của họ, từ những đoàn thể như Đoàn thanh niên lao động đến các cơ quan như công an, báo chí, mậu dịch, v.v. Bỏ rơi mất lập trường tư tưởng cách mạng, tác giả “Vào đời” đã đi đến đảo ngược cả phải trái hết sức nguy hiểm, và nhìn vào nhiều mặt của đời sống với thái độ, quan điểm của giai cấp bóc lột bị đánh đổ.

          2/ Tư tưởng độc hại đã rải ra trong tiểu thuyết “Vào đời” còn biểu hiện nghiêm trọng ở một loạt sự việc chống đối đường lối chính sách của Đảng. Hình ảnh cái chết ghê rợn của người cha Hiếu và những lời chửi bới hằn học của nhân vật này đã gieo rắc cái thái độ chống chọi lại nhận định của Đảng về CCRĐ. Thanh niên, nhất là nữ thanh niên, trước cái “gương” hãi hùng vào đời của Sen, có thể bị “lung lay tinh thần trong các đợt vận động lớn hiện nay của Đảng”. Lời kêu gọi của Đảng về thái độ kiên quyết làm cách mạng triệt để, ra sức khắc phục khó khăn để xây dựng CNXH trong Hội nghị TƯ lần thứ 8 bị cái bình phong những nhận xét cay độc của “Vào đời” cản trở. Những lời mỉa mai chỉ trích vào nhiều cơ quan của Đảng và Nhà nước, trong “Vào đời”, đã đả kích vào nền chuyên chính dân chủ nhân dân của ta. Việc đấu tranh chống quan liêu theo kiểu “Vào đời” hoàn toàn không phù hợp với cách tiến hành cải tiến quản lý xí nghiệp. Những ý kiến của cô giáo Loan trong truyện về lao động, về cách sống, đi ngược lại với lời dặn dò học sinh lớp 7 và lớp 10 phổ thông của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Thanh niên học sinh phải sẵn sàng làm bất cứ việc gì và đi bất cứ nơi nào khi xã hội cần đến”. Chống đối lại đường lối chính sách của Đảng như vậy còn có gì khác, nếu không phải tư tưởng tư sản phản động?

          3/ Nọc độc của tiểu thuyết “Vào đời” không kém phần nguy hại ở những trang những đoạn tả lối sống lối nghĩ rất xa lạ với chúng ta. Nhiều bạn đã chỉ trích những chuyện xác thịt khêu gợi úp mở trong “Vào đời”, những cảnh ăn uống chơi bời, những triết lý hưởng lạc thô bỉ “bê nguyên vào trang giấy, không biết ngượng cho ngòi bút”. Có bạn còn nhắc đến cả những sách viết trước đây của tác giả và lấy làm lạ vì sao tác giả lại hầu như có một thích thú tả những nhân vật trong các tiểu thuyết của mình với những triết lý bẩn thỉu đó. Nhiều bạn đã vạch cái nhân sinh quan lạc lõng trong “Vào đời”. Chẳng phải riêng gì chỉ có bọn lưu manh côn đồ xướng lên cái triết lý hưởng lạc thấp hèn đê tiện, coi phụ nữ như đồ chơi, sống theo cái phương châm ích kỷ của giai cấp bóc lột, rất nhiều bạn đọc bực bội khi thấy tác giả miêu tả Sen có những ao ước thèm thuồng hưởng lạc cá nhân bên cạnh tâm lý chán chường, thụ động. Những cái xấu cái hỏng của cách nhìn bệnh tật về đời sống và con người được chế biến qua những tưởng tượng và suy luận chủ quan, bằng chủ nghĩa tự nhiên sa đọa, những cái “éo le, ly kỳ, hấp dẫn”, “đánh vào cái thị hiếu tầm thường nhất” đã chi phối tác giả; chỉ riêng những cái đó cũng đã không có chỗ đứng trong thời đại chúng ta và đáng phải phê bình nghiêm khắc, huống chi nguy hại nghiêm trọng nhất ở đây lại là nọc độc của những tư tưởng tư sản phản động đầy rẫy trong cuốn tiểu thuyết.

          4/ Với những sai lầm thể hiện trong lập trường tư tưởng nói trên, tác giả “Vào đời” rõ ràng đã đi ngược lại đường lối văn nghệ của Đảng đã được trình bày rõ ràng trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba và được các văn nghệ sĩ nhất trí tán thành.

          Nhiều bạn đã vạch ra rằng tiểu thuyết “Vào đời” đã làm trái hẳn với lời kêu gọi của Đảng mong mỏi những “tác phẩm văn nghệ miêu tả một cách chân thật và hùng hồn công cuộc lao động và đấu tranh vĩ đại của nhân dân ta, cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội ta ngày nay, mạnh dạn nêu lên và trả lời đúng những vấn đề lớn của cách mạng, của đời sống”. Cũng như báo “Nhân dân” đã nêu lên, vấn đề ở đây không phải là có được viết hay không được viết những mặt tiêu cực trong đời sống xã hội ta ngày nay. Đường lối văn nghệ của Đảng đã hết sức rõ ràng về điểm đó. Đảng kêu gọi các nhà văn chúng ta hãy đi vào đời sống và viết về những đổi thay lớn lao mới mẻ trong đời sống, đồng thời các nhà văn rất có thể miêu tả những hiện tượng tiêu cực còn tồn tại. Vấn đề là nhà văn phải có thái độ nào đối với chế độ ta, đối với cuộc sống mới của chúng ta, trong khi miêu tả những hiện tượng tiêu cực đó. Nếu có lòng trung thành và có tình cảm yêu mến thắm thiết đối với chế độ ta, đối với cách mạng, đối với những con người mới, thì ngòi bút nhà văn sẽ có trách nhiệm cao và có thái độ xây dựng chân thành. Khi ấy, nhà văn viết về cái tiêu cực là để lên án nó, đấu tranh với nó, để làm sáng tỏ làm nổi bật cái tích cực, cái mới nảy nở lớn mạnh. Trong cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, thắng lợi bao giờ cũng về cái mới. Đó là quy luật phát triển biện chứng của sự vật, trong xã hội mới do Đảng lãnh đạo. Thư của Ban chấp hành trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba đã vạch rõ: “Văn nghệ XHCN của ta phản ánh cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi. Không những nó thể hiện cuộc sống mới và con người mới, mà còn tích cực góp phần thúc đẩy cuộc sống mới phát triển, góp phần sáng tạo và giáo dục con người mới”.

          Cuốn “Vào đời” thì hoàn toàn làm ngược lại. Cuốn truyện này đã tập trung miêu tả những hiện tượng tiêu cực với một cách nhìn xuyên tạc bản chất của chế độ, lại còn nêu những cái xấu thành cái tốt để tán dương, khêu gợi, hoặc vẽ ra một bức tranh bịa đặt trong đó những cái tiêu cực hoành hành ngang ngược và chi phối nặng nề mọi mặt của đời sống, để lại một ấn tượng chung xấu xa, u ám. Như vậy chính là đi ngược hẳn lại đường lối sáng tác đã nêu lên trong Đại hội văn nghệ vừa qua.

          Vì sao tác giả “Vào đời” đã mắc phải những sai lầm nguy hiểm như trên? Phải chăng đây là vì tác giả mới bước vào công việc viết văn chưa được bao lâu, vốn sống thiếu sót và bàn tay nghệ thuật non yếu cho nên đã đi đến kết quả tai hại? Hoặc trái lại, đây là vì lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị và quan điểm văn học của tác giả đã sai lầm nghiêm trọng? Như trong bài đăng trên tạp chí “Học tập”  đã đặt vấn đề và phân tích xem đây là vấn đề tư tưởng hay là vấn đề nghệ thuật?

          Trả lời câu hỏi đó, nhiều bài phê bình cũng như ý kiến bạn đọc đã vạch rõ: đây chính là vấn đề lập trường, quan điểm. Một tác phẩm văn học, dù kém về nghệ thuật, nhưng nếu tác giả có lập trường đúng, có thái độ tốt, thì không thể chứa đựng những tư tưởng xấu xa độc hại như trong “Vào đời”.

Qua quyển tiểu thuyết này, người đọc thấy rõ tác giả nhìn vào CCRĐ và cuộc sống XHCN không phải đứng trên lập trường cách mạng của giai cấp vô sản, mà là theo cách nhìn và thái độ hằn học của giai cấp địa chủ và những phần tử tư sản phản động. Một số quan điểm chính trị của tác giả về vấn đề chống quan liêu phảng phất hơi hướng những luận điểm của bọn xét lại hiện đại.

Trong nhân sinh quan của tác giả đầy rẫy sự mơn trớn thi vị hóa chủ nghĩa cá nhân đồi trụy và hèn yếu, đòi hỏi hưởng lạc, sợ hãi lao động, phản ứng với đời sống tập thể. Về quan điểm văn học, người ta cũng thấy rõ trong “Vào đời” biểu hiện của thuyết “nhân tính” tư sản, xóa nhòa ranh giới giai cấp khi miêu tả nhân vật, xuê xoa và tỏ cảm tình với những tư tưởng thù địch xấu xa, dưới cớ là phải có “tính người”.

“Vào đời” là một quyển sách viết rất kém và cẩu thả, người viết mới bước vào nghề văn nhưng đã tỏ ra thiếu hẳn công phu lao động nghệ thuật nghiêm túc. Nhưng “Vào đời” trước hết là một quyển sách có hại, biểu hiện một lập trường tư tưởng xấu, mang nọc độc còn rớt lại của tư tưởng giai cấp bóc lột bị đánh đổ. Trong “Vào đời” lẻ tẻ cũng có những câu những đoạn ca tụng chế độ, nhưng đó chỉ là những khái niệm trừu tượng, khô khan, yếu ớt, không thể cưỡng lại chiều hướng tư tưởng chung xấu độc của cuốn truyện mà có thể làm cho người đọc lướt qua có thể không nhận thấy ngay nội dung tư tưởng nguy hại của quyển sách.

          Một cuốn sách đầy rẫy chất độc tư tưởng như thế tại sao lại có thể xxuaasst hiện được? Đó là trách nhiệm rất nặng của ban biên tập Nhà xuất bản Văn học (cũ). Vì mơ hồ về lập trường quan điểm, vì thiếu tinh thần phụ trách, các đồng chí trong ban biên tập đã không kiên quyết đấu tranh với tác giả mà lại nhân nhượng để cho một tác phẩm như vậy được in ra. Các đồng chí làm công tác biên tập và Nhà xuất bản Văn học cần rút ra bài học thấm thía để nâng cao tinh thần trách nhiệm, cải tiến lề lối làm việc cho tốt hơn.

***

Cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời” đã đem lại cho chúng ta những bài học quý. Trước hết, nó cho ta thấy rõ rằng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, cũng như mọi lĩnh vực khác, lập trường giai cấp vô sản, tính đảng, sự tỉnh táo và cảnh giác cách mạng là một điều then chốt, không thể thiếu được. Một tác giả, nếu để cho tư tưởng tư sản hoành hành trong thế giới quan và nhân sinh quan của mình, thì chỉ đẻ ra những tác phẩm độc hại. Tác giả “Vào đời” cần phải suy nghĩ kỹ và kiểm tra sâu sắc hơn nữa tư tưởng của mình, cần phải thấy hết trách nhiệm của mình khi viết ra một cuốn sách đầy chất độc tư tưởng như thế. Có như vậy, anh mới có thể sửa chữa và tiến bộ được. Trường hợp cuốc “Vào đời” còn là một bài học chung cho những người viết văn muốn đem ngòi bút của mình phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Các nhà văn chúng ta nói chung đều đã được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng và đã có ít nhiều cống hiến bằng văn học. Nhưng cách mạng luôn luôn phát triển, đời sống luôn luôn đổi mới. Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp diễn dưới những hình thức mới. Trong cuộc đấu tranh cách mạng, nếu tách rời đời sống nhân dân, tách rời đường lối cách mạng của Đảng thì không thể sáng tạo ra cái gì tốt đẹp, thậm chí đi ngược lại lợi ích của cách mạng và của nhân dân. Vì thế người viết văn chúng ta cần phải đi sâu vào cuộc sống hơn nữa, cần phải trau dồi tính đảng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa một cách thiết tha, bền bỉ, liên tục.

Qua đợt đấu tranh tư tưởng này, chúng ta càng thấy rõ ràng hơn bao giờ hết là văn học nghệ thuật không bao giờ tách rời khỏi chính trị được. Báo “Văn nghệ” và một vài bài phê bình lúc đầu đã có xu hướng nặng về nhận xét nghệ thuật kém cỏi của tác phẩm, coi nhẹ việc phê phán nội dung tư tưởng xấu của nó. Phê bình sự non kém nghệ thuật cũng cần thiết. Nhưng phê bình một tác phẩm văn nghệ trước hết phải quan tâm đến khuynh hướng chung toát ra từ tác phẩm đó, đến nội dung tư tưởng của tác phẩm đó. Và khi đã phát hiện ra tư tưởng chính trị sai lầm độc hại của cuốn sách thì không thể có thái độ khoan nhượng xuê xoa được. Bức thư của Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba cũng đã có nhắc nhở chúng ta: “Trên nguyên tác tính đảng, phê bình phải có tác dụng cổ vũ những cái tốt, cái hay, phát hiện những tài năng, phát huy những phong cách mới, đồng thời cần phân tích một cách đúng đắn, thẳng thắn, với thái độ chân thành những khuyết điểm sai lầm của tác phẩm và tác giả”. Chỉ nhẹ nhàng phê bình phần nội dung tư tưởng một tác phẩm có hại như cuốn “Vào đời” thì không giúp ích được gì cho tác giả của nó, càng không thể ngăn chặn được những tác hại mà cuốn sách đã gieo rắc và nhất là sẽ xóa nhòa ranh giới của một cuộc đấu tranh tư tưởng không thể khoan nhượng.

Chúng ta vừa trải qua một đợt đấu tranh tư tưởng bổ ích cho sáng tác và phê bình văn nghệ. Nền văn nghệ của chúng ta, đúng như sự nhận định của Đảng, là một nền văn nghệ XHCN, mặc dù còn non trẻ nhưng dồi dào sức sống và có nhiều triển vọng.

“Vào đời” chỉ là một chấm đen xấu mà chúng ta cần tẩy bỏ để cho nền văn nghệ chúng ta càng trong sáng và tươi đẹp hơn. Chúng ta không thể lơ là với tư tưởng tư sản và các tư tưởng sai lầm khác được. Chúng ta càng tin tưởng hơn bao giờ hết ở sự nghiệp văn nghệ XHCN do Đảng ta lãnh đạo. Vì đường lối văn nghệ đúng đắn của Đảng được phát biểu trong thư của Trung ương Đảng và được phát triển trong những văn kiện của Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba là cơ sở vững chắc để chúng ta có thể đấu tranh với những tư tưởng sai lầm còn rơi rớt, tiến lên mạnh mẽ trong lao động và sáng tạo, trong việc phấn đấu để đạt tới thành tựu mới rực rỡ hơn nữa.

          TỔ PHÊ BÌNH BÁO VĂN NGHỆ

Nguồn:Văn nghệ, Hà Nội, s. 16 (16.8.1963), tr. 12-13, 19.

Phải đấu tranh không khoan nhượng chống nội dung tư tưởng nguy hại của quyển truyện “Vào đời”

Tháng 8/1963: “Văn nghệ quân đội”, s. 8:

Hồ Phương: Phải đấu tranh không khoan nhượng chống nội dung tư tưởng nguy hại của quyển truyện “Vào đời”

Một quyển truyện rất có hại

          Hơn hai tháng nay, báo chí ta đã liên tục phê bình nghiêm khắc cuốn truyện “Vào đời” của Hà Minh Tuân. Cuộc đấu tranh phê bình này còn đang tiếp diễn. Không riêng các nhà văn nhà báo mà đông đảo người đọc ở nhiều nơi cũng đã và đang lên tiếng qua những bài phê bình và thư phản đối của họ gửi tới các tòa báo và nhà xuất bản Văn học.

          Có thể nói đây là một trong những cuộc đấu tranh quan trọng trên mặt trận tư tưởng của chúng ta hiện nay. Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc đấu tranh này không phải đơn thuần về mặt nghệ thuật. Đây là một cuộc đấu tranh để bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng, bảo về công cuộc xây dựng XHCN, giữ gìn sự trong sạch trong tư tưởng, tinh thần mỗi người chúng ta.

          Không phải “Vào đời” quá dở về mặt văn chương hoặc vô tình phạm một vài sơ hở, lệch lạc nào đó nên đã làm người đọc không hài lòng. Không! Không phải như vậy. “Vào đời” là một cuốn truyện có nội dung tư tưởng rất xấu, rất có hại. Nhiều người đã nói: nếu “Vào đời” có chút đặc sắc nào đó về mặt hình thức nghệ thuật thì tầm nguy hại của nó có lẽ còn lớn hơn nhiều.

“Vào đời” đã đả kích vào hầu hết các mặt chủ yếu của đời sống cách mạng ở miền Bắc

          Như những loạt đạn công khai của kẻ thù giai cấp, “Vào đời” ngang nhiên không úp mở tấn công thẳng vào rất nhiều dinh lũy chủ yếu của xã hội chúng ta.

          Công cuộc cải cách ruộng [sẽ đánh máy tắt: CCRĐ] đất ở miền Bắc nước nhà đã tiêu diệt hoàn toàn giai cấp phong kiến, phá bỏ một gông cùm nặng nề từ nghìn năm kẹp chặt lấy cổ người nông dân và mang lại ruộng đất cho họ. Thắng lợi ấy thật rực rỡ và vĩ đại. Những sai lầm trong một số biện pháp tiến hành không thể nào che lấp những thắng lợi căn bản ấy. Vậy mà đọc “Vào đời” người ta chỉ thấy công cuộc CCRĐ như là một tai họa. Với một thái độ rất chua cay, căm tức, tác giả “Vào đời” đã luôn luôn nhấn mạnh thổi phồng những sai lầm trong lúc thực hiện CCRĐ, để đi tới một kết luận hết sức phi lý: những sai lầm trong CCRĐ đã là nguyên nhân chủ yếu xô đẩy cán bộ đến chỗ sa ngã, chống đối chế độ.

          Chỉ cần có một đầu óc bình thường không phải thông minh sắc sảo lắm, người ta ai cũng đều có thể hiểu: nguyên nhân thúc đẩy một cán bộ trở nên hư hỏng rất phức tạp, không khi nào lại đơn giản chỉ có một, và không khi nào lại chính là những sai lầm trong CCRĐ.

          Rõ ràng trong “Vào đời” tác giả đã cường điệu và xuyên tạc sự thật, đả kích vào công cuộc cách mạng ruộng đất, và cố nhiên đã đả kích một đòn mạnh mẽ vào những ai đã lãnh đạo tiến hành cuộc cách mạng to lớn và nhân đạo ấy. Dùng những hình ảnh lắp đi lắp lại, tác giả tỏ ra hết sức cay chua, muốn kích động lòng người đọc, nhen lên ngọn lửa căm hờn, chống đối (tuy vậy, trừ bọn điạ chủ, tư sản và các phần tử chống đối cách mạng khác, không một ai bị kích động cả; ngược lại người ta đều phẫn nộ khi thấy “Vào đời” đã toát ra những tư tưởng thù địch, độc ác).

          Người ta nhận thấy có một lần, chỉ có một lần trong “Vào đời”, tác giả cho một nhân vật tốt nói một câu để bênh vực công cuộc CCRĐ và xác nhận thắng lợi của nó. Nhưng câu nói ấy mới nhạt nhẽo và gượng gạo làm sao! Người ta hiểu được rằng: thắng lợi của cuộc CCRĐ quá vĩ đại, vĩ đại đến nỗi tác giả dù rất cay chua, hằn học, cũng không thể làm lơ không nhìn thấy. Tác giả buộc phải nói tới thắng lợi của CCRĐ, nhưng nói một cách miễn cưỡng. Về căn bản, “Vào đời” vẫn toát lên một ý rất rõ ràng: CCRĐ đã tiến hành rất hỏng, hỏng là căn bản…

          Đối với sự lãnh đạo của Đảng và hệ thống cán bộ lãnh đạo của Đảng, “Vào đời” không trực tiếp, công khai đả kích, nhưng đã thể hiện một cách rất tẻ nhạt, gượng gạo. Từ bí thư chi bộ tới đảng viên… tất cả chỉ là những cái bóng, nói rất nhiều, nhưng chẳng đâu vào đâu. Những cán bộ đảng viên ấy còn xoa vuốt thậm chí vào hùa với bọn lưu manh côn đồ trong những hành động phá hoại, chống đối cán bộ chính quyền của xí nghiệp. Sự thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng trong “Vào đời” đã hoàn toàn sai lệch. Tác giả đã tạo ra một sự đối lập giữa Đảng lãnh đạo và bộ máy chính quyền. Đó là một điều hoàn toàn phi lý, một sự xuyên tạc nguy hiểm. “Vào đời” không dám tấn công thẳng vào sự lãnh đạo của Đảng, nhưng đã đả kích rất nặng nề vào toàn bộ cán bộ chính quyền của xí nghiệp. Cũng có thể coi như “Vào đời” đã đả kích thẳng vào chuyên chính vô sản của ta. Trong “Vào đời” tất cả các cán bộ nhà nước: từ giám đốc tới cán bộ tổ chức, cán bộ kỹ thuật, quản lý, thậm chí tới đồng chí thường trực gác cổng cũng bị bôi nhọ và châm biếm không thương tiếc. Tác giả nhìn họ toàn là những “vua liêu”, những phần tử thống trị độc đoán, vừa ngu dốt vừa tàn bạo. Tác giả vẽ diện mạo họ lố bịch và cục cằn lạ thường. Cố nhiên ở công trường nào đó, xí nghiệp nào đó cũng có một vài cán bộ có tác phong làm việc chưa tốt. Nhưng tuyệt nhiên không khi nào tất cả những cơ quan phụ trách, lãnh đạo ấy lại bao gồm những phần tử quan liêu tệ hại đáng ghê tởm như “Vào đời” đã dựng lên để đả kích. Tác giả “Vào đời” đã bóp méo tất cả sự thật, cố tình xuyên tạc một cách trắng trợn bộ máy chính quyền và tất cả những đồng chí cán bộ của chúng ta ở các công trường xí nghiệp.

          Người ta có thể nhận thấy sự vô lý và bóp méo xuyên tạc của “Vào đời” không khó khăn gì. “Miếng đòn” ác nhất mà tác giả vận dụng toàn lực để đánh vào tất cả những đồng chí cán bộ ở công trường xí nghiệp là tệ quan liêu. Nhưng thử xem các cán bộ ấy “quan liêu” ra sao? Trong “Vào đời” người ta chỉ thấy tác giả  luôn mồm kết án họ như vậy mà tuyệt nhiên không nêu lên được những hành vi cụ thể nào. Chỉ có một việc quan trọng nhất là đuổi thợ. Nhưng lý do đuổi thợ ra sao, tác giả viết rất mập mờ. Thực ra người ta rất có thể, và rất cần phải đuổi ra khỏi công trường tất cả những phần tử lưu manh côn đồ, những phần tử phá hoại. Trong “Vào đời” người ta đã đuổi những phần tử cố tình lười biếng, nhưng tên côn đồ rất tệ hại. Vậy có gì là quan liêu? Tác giả còn nêu lên vài việc khác: công nhân ăn ở khổ, sinh hoạt vui chơi không được chú ý. Điều này cũng rõ ràng là cố tình kết tội. Không, đời sống của công nhân chúng ta đã và đang được cải thiện rõ ràng. Nếu việc ăn uống, giải trí ở những xí nghiệp công trường nào đó còn kém cố nhiên cán bộ phụ trách phải chịu trách nhiệm một phần, nhưng thực ra ta cũng phải nhìn vào những khó khăn khách quan khác mà họ chưa vượt nổi. Tất cả quy vào “quan liêu” là không đúng.

          Hiển nhiên, “Vào đời” đã vu cáo những người cán bộ lãnh đạo một cách vô căn cứ và bất công. Không còn nghi ngờ gì nữa, “Vào đời” đã đả kích vào bộ máy chính quyền của chúng ta một cách căm ghét đến mù quáng, bất chấp cả sự thật.

          Những chính sách kinh tế khác cũng bị châm biếm và đả kích một cách hết sức tùy tiện. “Phở hợp tác nhạt thếch” – Không cần nhìn trước nhìn sau, không cần suy nghĩ thêm một chút, tác giả phóng bút chê bừa, gây một ấn tượng xấu đối với việc hợp tác hóa.

          Công an, báo chí, phát thanh…, nhiều cơ quan khác của Đảng, của Nhà nước cũng bị đả kích một loạt. Công an bị coi như là chuyên môn trấn áp và làm “mất vui” nhân dân. Báo chí Đảng bị coi là chuyên môn tô hồng, bịa đặt; công tác phát thanh cũng bị coi là chuyên môn nhồi nhét vào tai quần chúng những lời tuyên truyền mà người ta đã phát ngán.

          Người đọc có cảm giác: tác giả với một đầu óc ấm ức, hằn học, cầm một chiếc gậy nhắm mắt phang chí mạng, phang bừa bãi tất cả những cái gì ở chung quanh. Hiển nhiên không thể coi đây là một thứ “đấu tranh nội bộ”, “phê bình để sửa chữa”. Đây là “phang” chí mạng như một thứ đòn thù.

“Vào đời” đã lật ngược những quan điểm cơ bản của Đảng, gieo rắc những tư tưởng xấu

          Trước hết là quan điểm lao động. Trong “Vào đời”, công cuộc lao động ở các công trường bị miêu tả như một thứ khổ sai, hết sức cực nhọc, làm cho con người  bệu rệch đi. Cố nhiên tác giả muốn miêu tả một cô gái tiểu tư sản chưa quen lao động, bước vào công trường nhận lấy chiếc đòn gánh, không tránh khỏi vất vả, khó khăn lúc đầu. Tuy vậy, do cố tình cường điệu nên tất cả những khó khăn vất vả ấy, dưới ngòi bút lệch lạc của tác giả đã trở thành những cực hình đáng ghê sợ. Tuyệt nhiên không thấy le lói lên một chút nào tính chất vinh quang, tính chất sáng tạo của công cuộc lao động trên các công trường xí nghiệp ấy. Trên thực tế, những người lao động chúng ta đều rất hăng hái lao động, đều thấy nổi bật lên cái ý nghĩa to lớn của lao động, ngay cả những anh chị em tiểu tư sản chưa quen lao động cũng vậy; không có một ai lại cảm thấy chiếc đòn gánh như là “một con quái vật lồng lộn trên vai” như “Vào đời” đã viết.

          Bộ mặt các công trường trong “Vào đời” cũng bị miêu tả như là một cái gì hết sức bừa bộn, hỗn loạn, tăm tối. Tác giả đã nhắm mắt làm lơ không nhìn vào những cái gì là tốt đẹp, là kế hoạch, là thắng lợi ở những nơi đó, mà chỉ thấy toàn là những mồ hôi, những nước mắt…

          Nhân sinh quan trong “Vào đời” cũng là một thứ nhân sinh quan sa đọa, trái ngược hẳn với nhân sinh quan đẹp đẽ của Đảng ta. Với một sự tỉ mỉ hết sức tự nhiên chủ nghĩa, với một sự thích thú đặc biệt, tác giả đã miêu tả những quan hệ nam nữ, tình yêu bỉ ổi và sự ăn chơi, lừa đảo, trác táng của bọn lưu manh, côn đồ mà không có một thái độ phê phán rõ rệt. Thậm chí tác giả còn bê nguyên cả những mớ triết lý phản động, đê tiện về lẽ sống của lũ lưu manh côn đồ lên những trang sách mà không có một lời bình luận. Tất cả những tình tiết ly kỳ giật gân ấy lan tràn trong phần lớn quyển truyện, chúng chẳng có một tác dụng nào khác là khêu gợi những thú tính tầm thường của con người, gieo rắc những tình cảm lãng mạn đồi trụy, kích thích những dục vọng hết sức đen tối, xấu xa trong đầu óc người đọc, nhất là những bạn trẻ.

          Về nguyên tắc sinh hoạt tư tưởng cũng như quan điểm đấu tranh phê bình của chúng ta, “Vào đời” cũng thể hiện một cách rất lệch lạc, như một thứ áp bức tư tưởng thô bạo và lố bịch. Đọc “Vào đời” hẳn ai cũng nhớ đến đoạn cô Sen vì không quen lao động, ngại vất vả muốn trở về gia đình, đã bị Trần Lưu (bí thư thanh niên) đưa ra hội nghị phê bình như thế nào. Tác giả đã miêu tả cuộc họp, sự góp ý phê bình của tập thể công nhân bằng một ngòi bút châm biếm diễu cợt rất khó chịu. “Những ý kiến ấy cứ tô đi dạm mãi như những nét chì xanh đỏ cứ tô dạm mãi, cuối cùng cũng thành một hình gì đó. Những ý kiến nhạt nhẽo ấy rồi cũng thành ra có góc cạnh, có nội dung hẳn hoi”. Đại ý, tác giả đã nhận định về cuộc họp như vậy. Khi đọc đến đoạn này, tôi nhớ đến hồi cải tạo giai cấp tư sản ở thành phố có một tên tư sản ngoan cố đã phát biểu với công nhân: “Ý kiến các anh toàn là a dua nhau; các anh ăn không nên đọi, nói không nên lời mà cũng đòi phê phán, giải thích…” Cái đầu óc khinh miệt quần chúng, cái đầu óc kiêu ngạo, thống trị ấy té ra không phải chỉ có ở những tên tư sản ngoan cố chính cống.

“Vào đời” đã bôi nhọ những chiến sĩ Quân đội nhân dân

          Người ta nhận thấy một điều rất đặc biệt: Hầu hết những phần tử lưu manh côn đồ và chống đối chế độ, trong “Vào đời”, lại là những quân nhân phục viên.

          Nguyễn Mai (Võ Cảnh) mặc dầu trước đã làm cảnh sát cho Tây hồi tạm chiếm, nhưng sau đã vào quân đội. Mặc dầu tác giả đã tố cáo nó ăn cắp chứng minh thư của một liệt sĩ, đổi tên họ, giả mạo làm trung đội trưởng. Tuy vậy nó cũng đã ở quân đội một thời gian. Người ta đều biết bất cứ một ai đã đứng trong quân ngũ đều được sự dìu dắt, giáo dục của Đảng, của tập thể. Cố nhiên cũng có thể có người khi phục viên, chuyển ngành đã không giữ được truyền thống, để cho bản chất xấu xa cũ lại phục hồi. Nhưng thực ra những trường hợp ấy rất cá biệt. Người ta muốn đặt ra câu hỏi: Tại sao tác giả cố tình chọn một điển hình cực kỳ xấu xa, cực kỳ bỉ ổi, đê tiện, lại nhằm vào những người bộ đội phục viên? Vấn đề là ở chỗ đó.

          Hiếu là nhân vật xấu thứ hai, sau Nguyễn Mai (Võ Cảnh). Mặc dầu tác giả tỏ ra hết sức bênh che cho Hiếu, luôn luôn muốn chứng minh rằng: “Hiếu vốn là người cán bộ quân đội tốt, sở dĩ bây giờ về hùa với lưu manh côn đồ, chống phá xí nghiệp, chỉ vì CCRĐ có sai lầm”, người ta vẫn thấy rất rõ ràng: Hiếu là một phần tử chống đối chế độ kịch liệt, một phần tử hết sức nguy hiểm về chính trị cũng như về mặt xã hội. Bênh vực Hiếu, tác giả muốn tỏ ra sâu sắc, thấu tình đạt lý, một “tác giả có lòng nhân đạo to lớn”. Tiếc thay thứ nhân đạo ấy là thứ nhân đạo tư sản mà người ta đã vứt bỏ đi rồi. Mặt khác, sự bênh che ấy càng biểu lộ rõ ràng cái quan điểm của “Vào đời” là chống đối CCRĐ, chống đối tất cả đường lối lãnh đạo của chúng ta hiện nay.

          Theo quan điểm của chúng ta: Hiếu là phần tử rất tệ hại. Dứt khoát là như vậy.

          Đã Nguyễn Mai (Võ Cảnh), lại Hiếu! Hai phần tử nguy hiểm đều là quân nhân phục viên! Tại sao vậy? Tác giả đã hiểu gì về tất cả những người cán bộ quân đội phục viên, chuyển ngành? Tác giả có thấy biết bao nhiêu đồng chí đã nêu cao tấm gương chói lọi ở các công trường xí nghiệp, nông thôn không? Đã có biết bao đồng chí không những giữ vững truyền thống tốt đẹp của quân đội mà còn cố gắng phát huy nữa. Những tấm gương ấy đáng lẽ phải làm cho tác giả phải tỉnh táo, trái lại, tác giả chỉ thấy những con người ấy khi rời hàng ngũ trở về hoặc chuyển sang công tác khác, hầu hết đã hư hỏng, sa đọa. Có phải đây chỉ là cách nhìn phiến diện, dựa vào một vài hiện tượng cá biệt rồi thổi phồng lên không? – Không phải chỉ có thế! Đây chính là vấn đề tình cảm, vấn đề quan điểm và lập trường cơ bản của người nhìn, người viết.

          Cố nhiên trong “Vào đời” cũng có một nhân vật tốt là bộ đội cũ. Nhưng thảm hại thay, nhân vật này (Trần Lưu) lại là một anh chàng chuyên môn nói suông, làm thì làm hùng hục nhưng chẳng có một tác dụng gì đáng kể trong việc đấu tranh chống bọn phá hoại; và chính anh ta đã thốt lên những lời chỉ trích một loạt những cơ quan lãnh đạo, báo chí, và chính sách hợp tác hóa của chúng ta. Trần Lưu trong “Vào đời” rất giả tạo, mờ nhạt. Hình ảnh của anh ta bị chìm ngập bên cạnh những Nguyễn Mai (Võ Cảnh) và Hiếu.

          Không đáng ngạc nhiên gì khi ta thấy đông đảo chiến sĩ quân đội nhân dân đã tỏ ra rất căm phẫn đối với “Vào đời”, vì nó đã làm nhục thanh danh của quân đội và của họ.

Bài học “Vào đời” 

          Vì sao “Vào đời” lại mang một nội dung nguy hại như vậy?

          Các báo chí đã nêu rõ: “Vì nghệ thuật tác giả còn non yếu… vì tác giả nghèo vốn sống… nhưng nguyên nhân chính vẫn là tư tưởng lệch lạc nghiêm trọng của tác giả” (Tuần báo “Văn nghệ” số 10), vì “Hà Minh Tuân đã phản ánh vào tác phẩm mình tất cả thái độ hằn học của giai cấp bóc lột” (báo “Tiền phong”), vì “tác giả đã đứng trên lập trường của giai cấp tư sản…” (báo “Nhân dân”).

          Tóm lại tất cả mọi người đã khẳng định: tác giả đã xa rời lập trường của giai cấp công nhân, bỏ rơi mọi quan điểm của Đảng, mà đứng trên lập trường quan điểm của những giai cấp bóc lột để viết quyển sách này. “Vào đời” đã toát lên đầy đủ lập trường quan điểm của giai cấp tư sản, một lập trường hoàn toàn chống đối lại nhân dân, chống đối CNXH, một quan điểm hoàn toàn trái ngược với những quan điểm cách mạng của Đảng ta.

          Tư sản hay tiểu tư sản đây? Có thể còn có người nào đó phân vân đặt ra câu hỏi đó. Cái tâm lý phân vân ấy mới đúng là tiểu tư sản, không nhạy bén, không triệt để và rứt khoát đấu tranh.

          Tư tưởng chủ yếu trong “Vào đời” không phải là tư tưởng dao động hoài nghi của giai cấp tiểu tư sản trong lúc gặp khó khăn. Tư tưởng chủ yếu của “Vào đời” là đối lập với mọi đường lối xây dựng XHCN, mọi nguyên tắc, quan điểm của Đảng.

          “Vào đời” đã vẽ nên một bức tranh xã hội đen tối đầy rẫy bất công, áp bức, khổ cực, lừa đảo, một thứ xã hội hoàn toàn không đúng với xã hội chúng ta ở miền Bắc hiện nay.

          “Vào đời” tấn công, đả kích rất rõ ràng rứt khoát mọi dinh lũy của chế độ ta, không úp mở, không nhập nhằng nửa chê nửa thương. Thái độ ấy, quan điểm ấy, lập trường ấy dứt khoát là tư tưởng, thái độ, quan điểm thù địch, muốn phủ nhận tất cả.

          Hà Minh Tuân, tác giả “Vào đời” vốn là một cán bộ trong quân đội. Nhưng tiếc thay anh đã không trau dồi, giữ vững được lập trường quan điểm của chúng ta. Tư tưởng tư sản đã lũng đoạn đầu óc anh tới một mức độ nghiêm trọng, làm cho anh trở nên rất lệch lạc khi nhìn nhận đánh giá con người  và sự việc. Tư tưởng ấy đã làm dậy lên trong lòng anh những khoái cảm không trong sạch, những tình cảm ẩn ức hằn học, chua cay khi đặt bút viết.

          Bài học “Vào đời” đã nhắc nhở cho tất cả những người cầm bút cũng như những người đọc: cần phải luôn trau dồi lập trường quan điểm vô sản; không thể chủ quan ỷ vào trình độ sẵn có. Cuộc đấu tranh giai cấp mỗi ngày một quyết liệt. Tính chất đấu tranh quyết liệt ấy hàng ngày hàng giờ tác động đến mỗi người. Nọc độc của những giai cấp bóc lột không phải mỗi lúc đã gột rửa được ngay, trái lại nó vẫn không ngừng len qua những khe hở của mỗi trái tim mà thấm vào dần. Đến một mức độ nào đó, “máu của chúng ta có thể sẽ trở thành đen”. Đó là một điều nguy hiểm. Đến lúc đó mỗi lời ta nói, mỗi dòng chữ viết sẽ không tài nào tránh khỏi tình trạng nhuốm mầu đen tối. Nghệ thuật không bao giờ tách rời ý thức tư tưởng. Không có ai ngây thơ nghĩ rằng: “có thể vì nghệ thuật tôi non yếu mà phạm sai lầm nghiêm trọng về chính trị”.

          Có thể có người viết tự đánh lừa mình bằng những ý nghĩ ban đầu đẹp đẽ: “Tôi viết đây là để xây dựng…” Nhưng trong thực tế, khi lập trường quan điểm của nghệ sĩ đã xa lạ với nhân dân, với Đảng, thì những dòng chữ chảy ra sẽ không bao giờ theo một chiều hướng tốt đẹp, mà dứt khoát sẽ mang theo đầy đủ ý thức tư tưởng đen tối mà nghệ sĩ đã tiêm nhiễm trong đầu óc. Rất khó giả dối trong nghệ thuật. Tâm sự anh, ý chí của anh ra sao, trong tác phẩm đều phản ánh rất rõ.

          Có thể nói tóm lại: do mang nặng tư tưởng của giai cấp tư sản, do đứng trên quan điểm lập trường giai cấp tư sản mà nhìn nhận, đánh giá con người và sự việc, nên Hà Minh Tuân đã viết ra một quyển truyện rất có hại, cần phải chỉ trích nghiêm khắc./.

HỒ PHƯƠNG

Nguồn :Văn nghệ quân đội, Hà Nội, s. 8 (tháng 8.1963), tr. 57-61.

Tháng 8/1963: “Văn nghệ quân đội”, s. 8 : Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ CUỐN “VÀO ĐỜI”:

LÊ BÁ SÚY (Trường bổ túc văn hóa Quân khu 4):

…………………………………………………..

Riêng tôi khi đọc “Vào đời”, tôi có nghĩ đến một vấn đề là Hà Minh Tuân đã tập trung đả kích quân đội. Với thái độ hằn học lệch lạc khi nhìn nhiều sự việc trong xã hội ta, Hà Minh Tuân đều bóp méo thổi phồng, lầm lẫm giữa hiện tượng và bản chất, từ cán bộ nhà máy, mậu dịch, công an, loa phóng thanh, v.v., chủ yếu Hà Minh Tuân tập trung vào mấy nhân vật “bộ đội phục viên” mà vào đời, cô Sen đã gặp ngay. Đó là tên lưu manh Nguyễn Mai với cả một lai lịch ghê tởm mà tác giả khoác cho cái áo “bộ đội phục viên”, mặc dầu tác giả đã tự đặt cho đấy là một nhân vật phản diện có lai lịch rõ ràng, nhưng trên thực tế Nguyễn Mai hoạt động với danh nghĩa “bộ đội phục viên”. Nguyễn Mai là kẻ đầu tiên đã chà đạp lên tâm hồn và thể xác, phá hoại đời cô Sen. Nhân vật thứ hai là Đặng Đình Hiếu, đại đôi trưởng nhiều lần bị thi hành kỷ luật vì vô kỷ luật và cả quá trình phá phách thoái hóa một cách thảm hại, bạn tri kỷ, đồng hành của Nguyễn Mai. Với nhân vật này, Hà Minh Tuân đã khá công phu gọt đẽo tả một cách say sưa. Thực ra đấy là một tên thoái hóa, nhưng nguyên nhân thoái hóa theo tác giả cố gán cho vì sai lầm của CCRĐ, vì người cha “bị treo cổ”. Và tác giả cũng không dứt khoát đánh giá đúng ngay chính nhân vật mình nặn ra đó là người xấu hay tốt? − tốt, xấu đến mức độ nào? Có nên phê phán nghiêm khắc những sai lầm của Đặng Đình Hiếu không hay xoa vuốt nó, đồng tình với nó về những hoàn cảnh khách quan?

          Về nhân vật bộ đội phục viên tốt có Trần Lưu là một nhân vật gượng gạo, cứng đờ mà chính từ nhân vật tốt đó lại thốt ra những lời than thở, nhìn nhận lệch lạc về một số vấn đề của xã hội.

          Còn một nhân vật nữa, một liệt sĩ, Trà, anh ruột của Sen mà Sen thường yêu mến, Sen thường nhắc đến anh mình qua cuốn nhật ký để lại, − tác giả xây dựng hình tượng này như một nhân vật “lý tưởng”, xa xôi, mờ ảo – qua lối viết, lối xây dựng nhân vật của tác giả, tôi có ý nghĩ rằng Hà Minh Tuân muốn nói trắng ra rằng: Sen bước vào đời đã gặp phải những chướng ngại mà chướng ngại lớn nhất là Nguyễn Mai và Đặng Đình Hiếu, hai “bộ đội phục viên” như hai bóng ma đè nặng lên cả cuộc đời của Sen, còn người bộ đội tốt thực cchir có trong lý tưởng mà thôi (anh Trà, qua cuốn nhật ký)

……………………………………………………………………

Là một cán bộ của quân đội, khi đọc “Vào đời”, tôi không thể không có thái độ đối với cách nhìn nhận, cách viết, quan điểm lập trường của tác giả, mà nhất là khi cuốn sách đó lại đả kích mạnh nhất vào quân đội.

6-7-1963

NGUYỄN THANH TÙNG (công nhân xí nghiệp Bến Hòn Gia):

……………………………………………………..

Sự thực trong xã hội ta có thế không? Theo tôi nghĩ: Cũng có những con người xuống dốc. Những người ấy tự nguyện rời bỏ vị trí của mình mà chạy theo những lợi ích cá nhân ích kỷ. Con người đó không thể xuống dốc theo con đường của Hà Minh Tuân. Có thể họ tham ô, lãng phí, thiếu sâu sát quần chúng (như Cư, Chiến). Có thể họ phát ngôn bừa bãi thiếu tổ chức (không phải ý kiến của họ hoàn toàn sai, hoặc lúc nào cũng sai mà có những mặt đúng mặt tốt của nó), v.v. Nhưng quá trình giáo dục của quân đội, của Đảng, mặc dù họ là quần chúng, không phải là công cốc. Nhất định trong cuộc sống thực tế, những đạo đức cách mạng sẽ vùng dậy chống đối trong người họ kịch liệt. Những tác phong tốt trong quân đội gần như tập quán trong người họ không mất đi một cách dễ dàng như thế.

Một đồng chí bạn tôi khi xem xong tập “Vào đời” đã nói với tôi rằng: Hà Minh Tuân quả là thiếu một cái vốn của các nhà văn thường có, đó là “thực tế cuộc sống”. Mình xem xong có cảm giác rằng: Hà Minh Tuân quả là một đứa trẻ, − một đứa trẻ về chính trị. Chỉ đáng thương hại mà thôi.

Theo tôi, tôi có một ý nghĩ khác: “Vào đời” không có một tác dụng nào tốt mà chỉ có tác hại. “Vào đời” đã nói xấu chế độ, nói xấu quân đội và làm giảm nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng một cách có ý thức, Hà Minh Tuân đã đi theo con đường cũ của Nhân văn (qua các nhân vật chính, nhất là Hiếu). Hà Minh Tuân đã gieo một sự nghi ngờ đối với bản chất tốt đẹp của quân đội ta. Cả cuốn sách đã nêu lên một cái nhìn sai lầm đối với Đảng và quân đội. “Vào đời” đã gieo rắc một mối hoai nghi trong quần chúng về chế độ quản lý xí nghiệp. Với tính chất mập mờ của “Vào đời”, Hà Minh Tuân đã nêu lên, đã đề cao những thói hư tật xấu, trụy lạc, lưu manh đã bị xã hội ta đào thải.

Phải chăng Hà Minh Tuân đã nói xấu, bôi đen thực tế tốt đẹp của xã hội XHCN ở miền bắc nước ta hiện nay.

Tôi là một quân nhân chuyển ngành sang mặt trận công nghiệp, tôi đã thực tế sống và gần gũi tất cả mọi lớp người tiến bộ cũng như lạc hậu, tôi đã gặp những đồng chí bộ đội phục viên có sai lầm khuyết điểm nhưng tuyệt nhiên không bao giờ thấy một quân nhân nào như Hiếu trong “Vào đời”. Tôi cũng không thấy một nhân vật điển hình nào như những nhân vật trong “Vào đời”, kể cả những người tiến bộ, cán bộ lãnh đạo, như Hán (chỉ nhìn thấy sản xuất mà không quan tâm giáo dục quần chúng lạc hậu, mà quần chúng đó lại là một người đã đi theo Đảng từ trong kháng chiến đến hòa bình). Tôi cũng không hề thấy một cấp ủy đảng nào lãnh đạo kiểu Hà Minh Tuân trong “Vào đời”.

Xem xong “Vào đời”, tôi rất lấy làm căm phẫn. Căm phẫn về chỗ tác giả đã dùng ngọn bút của mình xuyên tạc sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và bôi nhọ lên truyền thống vẻ vang của quân đội và bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN mà quân đội và nhân dân đã xây dựng nên bằng bao nhiêu xương máu, mồ hôi.

25-5-1963

XUÂN NGỌC (xí nghiêp dệt Dân Sinh, Nam Định):

……………………………………………

Trước hết ta nói tới Hiếu, người đại đội trưởng chuyển ngành, có lẽ nào bị sa đọa tới mức ấy được chăng?

Giả định rằng ông giám đốc cũ và ông trưởng phòng tổ chức Cư và Chiến có sai lầm nghiêm trọng, nhưng tác phong một cán bộ quân đội của Hiếu không còn sao? Tinh thần tỉnh táo, suy nghĩ chín chắn của người đại đội trưởng đã từng chỉ huy cả đại đội trên chiến trường chẳng lẽ đã bị lu mờ rồi, mặc dầu rằng trước khi chuyển ngành Hiếu có phạm sai lầm mà hạ tầng công tác xuống đại đội phó. Chúng ta hãy nhìn lại những sai lầm chính của Hiếu từ sau ngày chuyển ngành lại đây: hai lần đánh người trái phép, hai lần ký kiến nghị phản đối lãnh đạo, chủ động cuộc nổi dậy định bắt Chiến, rồi viết khẩu hiệu… và một số hành động ngược đãi vợ con. Phải chăng tác giả dụng ý muốn đưa tình tiết này vào để nói lên Sen đã cay đắng sống bên người chồng vũ phu, sa đọa như Hiếu mà vẫn kiên trì phấn đấu đi lên. Nhưng không! Ở đây tôi thấy rằng người quân nhân nhiều năm tham gia cách mạng không thể nào lạc hậu tới mức tối đa như vậy được, mà hơn nữa Hiếu lại là một cán bộ đại đội. Chẳng lẽ rằng một lần Hiếu bị phê bình và một lần Hiếu bị đuổi không được học mà không đủ làm cho Hiếu sáng tỏ sai lầm hay sao? Trong công tác và sinh hoạt của Hiếu sút trông thấy mà lãnh đạo cùng tập thể bỏ cho Hiếu rơi xuống vực sâu mà đành lòng ư? Dù cho công trường nhà máy đó mới xây dựng có thể thiếu sót nhưng không thể xảy ra hiện tượng đau xót đó đối với Hiếu được.

……………………………………………………………………………………..

Tháng 5-1963

Nguồn:Văn nghệ quân đội, Hà Nội, s. 8 (tháng 8/1963), tr. 62-64.

“Vào đời”, cuốn truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi

Tháng 8/1963. “Tạp chí Văn học”, s. 2:

Nguyễn Phan Ngọc: “Vào đời”, cuốn truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi:

“Vào đời” kể chuyện cô Sen, một nữ sinh bị bố ép duyên nên buộc phải ròi khỏi nhà trường, trốn đi lao động tại một công trường nhà máy cơ khí tại Hà Nội. Ở miền Bắc nước ta, ngay cả trong những năm từ 1957 đến 1960, hàng vạn thanh niên nam nữ đã xung phong vào công trường nhà máy với một tinh thần cách mạng sôi nổi xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chuyện đi công trường vì bị ép duyên như cô Sen chỉ là trường hợp rất hiếm. Dù thế, nhà văn vẫn có thể miêu tả cuộc đời của những con người trong những trường hợp éo le đó được, miễn là qua diễn biến tính cách các nhân vật mà nói lên được cái lý tưởng thẩm mỹ, nêu lên bản chất tốt đẹp của xã hội mới ngày nay nhằm góp phần tích cực vào việc giáo dục tình cảm đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nếu thái độ và cách nhìn con người và cuộc sống mới của tác giả đúng đắn thì ít nhất cũng có thể đem lại cho người đọc những nhận thức tốt lành về vai trò đẹp đẽ của lao động, qua đó sẽ có tác dụng thiết thực thúc đẩy phong trào xung phong tình nguyện đi sản xuất, đi khai hoang hiện nay đang sôi nổi trong các tầng lớp nam nữ thanh niên. Tiếc rằng ẩn náu dưới chủ đề có vẻ tốt, những trang sách “Vào đời” lại đầy rẫy những nọc độc của tư tưởng tư sản phản động đã lỗi thời nhưng vẫn còn cố len lỏi tìm hoàn cảnh thuận tiện để xì hơi độc vào bầu không khí trong lành của nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa tươi trẻ của chúng ta.

          Qua diễn biến tính cách của hai nhân vật chính là Sen, Hiếu và xoay quanh hai nhân vật chính đó tất cả những bực bội, những dằn vặt bất mãn với cán bộ lãnh đạo, với xã hội và tất cả những quan niệm về lối sống về con người, v.v. của tác giả đã lộ ra. Không phải là thái độ và cách nhìn cuộc sống mới của tác giả chỉ thể hiện qua diễn biến của tính cách các nhân vật “tích cực” mà còn lộ ra qua tâm tư tình cảm, qua những ý nghĩ dằn vặt và thái độ hằn học của các nhân vật tiêu cực nữa. Thí dụ như đối với một người đã biến chất trở thành tên lưu manh thực sự mà thái độ của tác giả vẫn tỏ ra ủng hộ Sen trong cái ý nghĩ rằng “anh ta vẫn tốt” và “hào hiệp”, v.v. Tác giả đã viết lên những lời hằn học bất mãn của Hiếu đối với chế độ, với cải cách ruộng đất một cách buông trôi, lập lờ. Sở dĩ có thái độ đó phải chăng chỉ vì tác giả kém lý luận nên đã sa vào “khách quan chủ nghĩa” hay tác giả đã có một dụng ý nào nên mới dùng cách thể hiện lập lờ ấy để gửi gắm niềm tâm sự?

          Thật thế, trong khi hàng vạn nam nữ thanh niên đang say sưa bước vào lao động sản xuất với nhiệt tình xây dựng CNXH thì quyển truyện đã tả bước vào đời của một cô gái ngây thơ thật là gian truân khổ ải. Hàng ngàn thanh niên nam nữ đã lao động không mệt mỏi và đã đạt những thành tích to lớn trong công cuộc kiến thiết đất nước. Họ rất tự hào được đem mồ hôi và trí tuệ của mình vun đắp cho CNXH ngày càng vững chắc, ngày càng thắng lợi. Nhưng trong “Vào đời” thì lao dộng đối với Sen lại là một sự khổ sai rất kinh khủng riết chặt lấy thể xác và tâm hồn con người: “Sen rùng mình ghê sợ nghĩ tới những buổi nắng gắt như lửa đốt, gánh nặng đè chĩu trên vai tê cháy, mồ hôi đầm đìa như tắm, hơi thở ngột ngạt, đầu ù ì như một cái cối xay” (tr. 88). Dưới con mắt của tác giả, laao động ở công trường nhà máy đã “căng thẳng, đã nặng nhọc như vậy” mà cuộc sống lại rất ư là hỗn độn. Bọn lưu manh thì lừa gạt hầu hết nhgwxng cô gái thơ ngây: “Chưa ai tính được đã bao nhiêu cô gái nhẹ dạ bị hắn đưa vào cái vòng tăm tối ấy”. Những người đứng đắn như Sen thì chúng ngang nhiên “bắt cóc” hãm hiếp. Ai cũng rõ là sau khi tiếp quản Hà Nội ít ngày, một sự thay đổi rất lớn trong trật tự xã hội của thành phố là nạn mãi dâm, nạn lưu manh cao bồi đã được thanh toán về cơ bản. Thảng hoặc còn rơi rớt lại một số ít thì chúng cũng chỉ dám hoạt động rất lén lút ở một vài nơi nào đó mà thôi. Nhưng trong “Vào đời” tác giả đã chắp vá một vài hiện tượng lẻ tẻ đây đó lại và cường điệu thêm để vẽ ra một bức tranh đen tối và kinh sợ về lao động, về cuộc sống ở công trường nhà máy như thế thì làm sao các cô thanh nữ ngây thơ sắp sửa bước vào đời chẳng lo ngại, các bậc cha mẹ chẳng băn khoăn. Rõ ràng là “Vào đời” đã trực tiếp tấn công vào phong trào thanh niên xung phong tình nguyện đi sản xuất, đi khai hoang… mà Đoàn thanh niên lao động đang vận động. Không sao có thể chối cãi được những tác hại cụ thể về mặt này của quyển truyện.

          Thực tiễn cách mạng sinh động bảy tám năm qua đã hoàn toàn chứng minh rằng cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp rất cần thiết ở nông thôn nước ta. Và thắng lợi to lớn đó đã tạo ra điều kiện cơ bản cho nông thôn tiến lên hợp tác hóa, chuyển từ lối sản xuất cá thể sang lối sản xuất tập thể. Chí có những giai cấp bóc lột vốn hằn thù cải cách ruộng đất và những người chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản phản động mới không thấy được ý nghĩa và thắng lợi to lớn ấy. Họ chỉ nhìn thấy mặt sai lầm và tìm cách khoét sâu mặt sai lầm, gây thêm khó khăn cho Đảng và nhân dân ta. Rất tiếc là chúng ta chưa có một tác phẩm nào nói lên được ý nghĩa thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng vĩ đại đó. Giờ đây Hà Minh Tuân trong tác phẩm của mình (không biết do cách nhìn lệch lạc hay là sẵn có ác cảm bất bình với cải cách ruộng đất) đã không những không nêu lên được chút gì về mặt thắng lợi, mà còn khoét sâu vào những tổn thất đáng tiếc đã xảy ra. Thật vậy, qua tính cách của Hiếu rõ ràng là “Vào đời” đã cố tình quy mọi sự sa đọa của một cán bộ là do sai lầm cải cách ruộng đất chứ không phải là do những cái xấu của xã hội cũ tác động tới hoặc do sự đấu tranh tư tưởng của bản thân quá yếu ớt. Hơn thế nữa, nhà văn Hà Minh Tuân đã dùng hình tượng rất cụ thể để minh họa mặt sai lầm của cải cách ruộng đất. Hình tượng đó được lắp đi lắp lại nhiều lần trong suốt quyển truyện. Xoáy sâu vào tâm trí người đọc để lại một ấn tượng rất xấu về cải cách ruộng đất. Thậm chí hình tượng đó còn hiện lên trong óc chú rể Hiếu ở ngay giữa bàn tiệc hoa ngày cưới. Cái mà có người gọi là “mặt tốt được xếp lên một bên mặt xấu một cách khá thận trọng” cũng chỉ là mấy câu đối thoại nhạt nhẽo, yếu ớt và ngắn ngủi thoáng qua mắt người đọc, không để lại ấn tượng gì. Những nhân vật “tích cực” với một vài lý lẽ “tích cực” ấy, như tác giả tả, thì cũng tháo lui trước “lý lẽ” của nhân vật tiêu cực ấy rồi. Do đó mà mặt xấu lại càng nổi bật lên. Chẳng lẽ Hà Minh Tuân là nhà văn đã viết tới hai quyển truyện dài mà lại không hiểu điều rất sơ đẳng về đặc trưng của văn học nghệ thuật? Qua thái độ của tác giả bộc lộ trong những lời lẽ hằn học chua chát của nhân vật Hiếu nhiều bạn đọc có ý kiến cho rằng tác giả “Vào đời” đã cố tình gợi lại những thành kiến sai lầm đối với cuộc đấu tranh cách mạng ấy, điều đó cũng không phải là không có duyên cớ.

          Miêu tả một cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt như cải cách ruộng đất, nói lên những thắng lợi vĩ đại cũng như những sai lầm khuyết điểm của nó đúng là một vấn đề gai góc. Nhưng không phải nhà văn không thể phản ánh được hiện thực to lớn đó vào tác phẩm một cách đúng đắn. Nguyễn Khải chẳng đã viết khá thành công những đoạn nói về sai lầm của cải cách ruộng đất trong “Xung đột” đó sao! Ngòi bút của anh không chút ngần ngại khi viết về những cán bộ đảng viên bị xử trí oan, bị bắn nhầm. Nhưng cũng đã viết lên những trang rất say sưa, đầy nhiệt tình về thắng lợi tốt đẹp về cải cách ruộng đất, và của công tác sửa sai. Môn, một nhân vật chính của tập truyện, bị oan trong cải cách ruộng đất, dưới ngòi bút của Nguyễn Khải, là người đảng viên rất tích cực, đã đảm đương nhiệm vụ đấu tranh chống địch phá hoại trong sửa sai và sau sửa sai. Cho nên vấn đề cơ bản là ở thái độ yêu hay ghét cuộc đấu tranh cách mạng của nông dân do Đảng ta lãnh đạo để đánh đổ giai cấp địa chủ; là ở cách nhìn những tổn thất đó. Có đặt những sai lầm đó trong toàn bộ phong trào cải cách ruộng đất thì mới phản ánh được đúng đắn hiện thực khách quan to lớn ấy.

          Xã hội ta đã phải “tiếp thu” biết bao nhiêu cái xấu của chế độ cũ để lại. Trong việc làm của một số ngành công tác nào đó, trên một số việc nào đó cũng có những nhược điểm, những thiếu sót, hoặc do không nắm vững đường lối chính sách của Đảng, hoặc do không theo đúng đường lối quần chúng, hoặc do trình độ kiến thức (chính trị, nghiệp vụ, khoa học…) còn kém. Có ngành cũng có thể có khuyết điểm sai lầm tương đối nghiêm trọng mà nguyên nhân là do lập trường tư tưởng cán bộ phụ trách mơ hồ hoặc chịu ảnh hưởng thế giới quan và nhân sinh quan của các giai cấp bóc lột. Những khuyết điểm đó cũng đều là những hiện tượng sai sót đây đó ở lúc này hay lúc khác chứ không phải là bản chất của ngành đó, lại càng không phải là bản chất của xã hội ta. Nhưng tác giả đã tùy tiện chắp vá những hiện tượng tiêu cực, những mặt xấu cá biệt đó lại thành một nét chung và tô vẽ bịa đặt thêm thành một bức tranh xã hội khái quát, toàn một màu xám xịt. Những mặt “đen tối” đó lại được tác giả đặt vào mồm Trần Lưu, một nhân vật “tích cực”, và lại được ông bí thư chi bộ, ông giám đốc mới của nhà máy hưởng ứng nên càng dễ đánh lừa người đọc. Nhiều bộ máy, nhiều công cụ quan trọng của Nhà nước chuyên chính vô sản (công an, mậu dịch, báo chí, đài phát thanh, cơ quan văn hóa, v.v.) đã bị các nhân vật “tích cực” đả kích mãnh liệt. Rõ ràng đó là chủ nghĩa cá nhân tư sản, đòi hỏi được “tự do” thỏa mãn những cái gì hợp với sở thích cá nhân, những gì đi ngược lại thì cho là xấu tất. Cho nên trong “Vào đời” việc tốt cũng trở thành xấu và ngược lại. Các đồng chí công an ở các phố đông người giữ gìn trật tự là một việc làm rất tốt đẹp và đáng kính, thì tác giả “Vào đời” lại coi là một điều không vui. Ở một vài nơi công cộng việc đặt loa phát thanh để phục vụ cho những người lao động chưa có điều kiện sắm đài riêng là một việc làm đáng hoan nghênh thì tác giả lại khó chịu.

          Miền Bắc nước ta đang vươn lên từ nghèo nàn lạc hậu tiến thẳng lên CNXH. Bọn Mỹ-Diệm đang mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Do đó trong công cuộc xây dựng CNXH chúng ta đã và đang gặp phải những khó khăn và trở ngại khá lớn. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã anh dũng vượt qua các khó khăn đó, giành được những thắng lợi có tính chất quyết định: xóa bỏ các giai cấp bóc lột, biến đổi nền kinh tế từ cá thể sang nền kinh tế tập thể, v.v. Trên bước đường tiến lên, khó khăn khách quan vẫn còn lớn và nhiều. Nhược điểm và thiếu sót của ta về mặt chỉ đạo thực hiện cũng không ít. Nhưng toàn Đảng toàn dân ta quyết khắc phục mọi khó khăn giành những thắng lợi mới to lớn. Ai vào nhà máy, xuống nông thôn cũng thấy cái khí thế cách mạng sôi nổi của quần chúng quyết thắng nghèo nàn và lạc hậu. “Vào đời” không những không nêu được những thắng lợi vĩ đại của cách mạng, không nêu được phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng, mà cả những khó khăn trở ngại nhân dân ta đang và sẽ phải khắc phục trên bước đường công nghiệp hóa cũng chưa nói được. Quyển truyện chỉ tập trung moi móc bêu riếu và bơm to một vài thiếu sót, một số thiếu thốn tạm thời về đời sống. Do đó quyển truyện đã toát ra một không khí buồn nản. Vì vậy nó đã đi ngược hẳn lại với đường lối công tác tư tưởng của Đại hội Đảng lần thứ ba và các nghị quyết của Trung ương gần đây, đặc biệt là nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thứ tám. Hà Minh Tuân đã trắng trợn xuyên tạc hiện thực xã hội trong những năm 1957-1960 ở miền Bắc nước ta. Anh xuyên tạc cả cái hoàn cảnh nhà máy do chính anh bịa đặt ra. Cứ như hoàn cảnh xã hội cụ thể của nhà máy cơ khí mà tác giả đã bịa đặt ra thì những hoạt động phá rối của bọn lưu manh côn đồ, tình trạng công nhân đi sớm về muộn là phổ biến. Trong tình hình xã hội cụ thể ấy vấn đề dân chủ và quan liêu không thể nào trở thành một mâu thuẫn chính được. Nhưng tác giả bất chấp cả hoàn cảnh thực của xã hội và hoàn cảnh do chính mình bịa ra để cố dựng lên một “kẻ thù trước mắt là bệnh quan liêu”. Phải chăng là tác giả cố tình tìm mọi cách để làm sao đả kích được vào cán bộ? Vì thế tất cả mọi loại cán bộ đều được tác giả chụp chung cho một cái mũ “quan liêu”. Từ quản trị trưởng, phó giám đốc trường kỹ thuật cơ khí đến giám đốc nhà máy, trưởng phòng tổ chức, trưởng phòng kỹ thuật đều bị coi là đại diện cho “kẻ thù trước mắt”, đều bị đả kích mãnh liệt và độc ác bằng những hình ảnh, những lời lẽ chua cay, hằn học. Nhưng diện mạo cụ thể của kẻ thù quan liêu kia thì không ai nhìn thấy cả. Qua ý nghĩ của Hiếu và lời nói của người công nhân đứng ngoài cửa phòng tổ chức, tác giả quyển truyện đã soi mói các hình thức bề ngoài của những cán bộ như Chiến để chế diễu họ một cách cay độc và buộc cho họ cái tội “tày trời” là “quan liêu”. Phải chăng mua sách và chịu khó đọc sách lý luận Mác-Lênin, tuy chưa hiểu nổi, cũng là “quan liêu”? Phải chăng “mắt đỏ như tiết, râu đen tua tủa quanh mồm” là diện mạo cụ thể của “tệ quan liêu”? Thái độ đối với con người và cách nhìn người như thế chẳng phải là thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp tư sản hay sao? Tệ hơn nữa, tác giả lại bày ra một màn “kiểm thảo” các cán bộ lãnh đạo mà tác giả đã gán cho cái tội “quan liêu” để kéo cả phái viên Trung ương, đại diện Thành ủy vào casi việc tấn công “kẻ thù trước mắt” ấy. Khéo léo và độc ác, tác giả lại qua lời tự bộc lộ của giám đốc nhà máy để kết án cán bộ chỉ suốt tháng “tiếp khách”, “ăn tiệc” và “đi họp” rồi lại nhận phần công đầu, v.v.

          Người đọc càng kinh ngạc hơn nữa là dưới ngòi bút của tác giả địch ta đều lẫn lộn, chi bộ, chi đoàn thanh niên lao động và anh em công nhân lại theo đuôi bọn lưu manh trong các phong trào chống đối cán bộ ấy. Theo như tác giả viết thì cái tuyến nhân vật “tích cực” kia đã hoàn toàn ủng hộ nội dung đấu tranh mà chỉ không tán thành những phương pháp đấu tranh như “bắt giám đốc bỏ rọ” mà thôi.

          Quan liêu vốn là mặt bản chất của chế độ cũ và chỉ là những tàn tích của chế độ cũ còn rơi rác trong xã hội ngày nay. Trong cán bộ có một số người chưa gột sạch được ảnh hưởng tư tưởng và tác phong của các giai cấp bóc lột hoặc do trình độ chính trị, trình độ chuyên môn kém nên ít nhiều đã nhiễm phải cái tác phong xấu đó. Nhưng trong quần chúng công nhân cũng không phải là không có hiện tượng quan liêu. Ví như điều lệ công tác đã quy định trách nhiệm cụ thể của mỗi ca mỗi kíp trong sợi dây chuyền sản xuất. Nhưng vì lối làm việc luộm thuộm “gia đình” nên có những ca, kíp bàn giao cho nhau qua loa đại khái, sản phẩm làm ra hỏng không rõ trách nhiệm ở ai thì đó cũng là một kiểu quan liêu. Như vậy hỏi rằng đâu có phải quan liêu chỉ là căn bệnh riêng của cán bộ tuy rằng bệnh quan liêu dễ lây vào cán bộ nhiều hơn vì trách nhiệm và điều kiện làm việc có khác. Dưới chế độ XHCN, quyền lợi của cán bộ hoàn toàn nhất trí với quyền lợi của nhân dân. Cán bộ là từ nhân dân mà ra trở về phục vụ nhân dân. Họ là công bộc của nhân dân. Thực tế là đông đảo cán bộ của Đảng và Nhà nước đều hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, gần gũi nhân dân và được nhân dân yêu mến. Họ hoàn toàn khác với “ông quan đội khăn xếp mặc áo gấm dài, đeo bài ngà, quần ống sớ” (tr. 136). Ở chế độ ta quan liêu không bao giờ trở thành phổ biến, thành bản chất của cán bộ. Quan liêu chỉ là mặt thứ yếu trong một số cán bộ mà thôi. Một, hai người nào đó do tiêm nhiễm phải lối sống của giai cấp bóc lột trở thành quan liêu nặng thì cá nhân họ đã biến chất rồi mà không còn là người của giai cấp công nhân, của nhà nước vô sản nữa. Đội ngũ cán bộ là một bộ phận rất trọng yếu của nền chuyên chính vô sản. Mượn chiêu bài chống “tệ quan liêu” để đả kích vào cán bộ và đem đối lập cán bộ với quần chúng công nhân như trong “Vào đời”, thì tự giác hay không tự giác, tác giả quyển truyện đã rơi vào chủ nghĩa công đoàn.

          “Vào đời” còn phê phán khá nhiều đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước: nào là chế độ nằm giường hai tầng ở trường học, không có phân biệt cấp bậc cũ của học sinh và cho đó là “quan liêu không thể tưởng tượng được”; nào là sinh hoạt phê bình và tự phê bình của Đoàn thanh niên lao động chỉ là một thứ “mổ xẻ tư tưởng phức tạp mà thực ra chỉ nhắc lại nguyên xi điểm này hay điểm khác” mà người có lỗi đã trình bày. Ngay cả khẩu hiệu “chính trị là thống soái” cũng được đem ra bêu riếu. “Vào đời” cũng không quên đánh một chùy vào cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng là báo “Nhân dân”. Qua lời của một nhân vật trong tác phẩm của mình tác giả “Vào đời” đã công khai trắng trợn dựng đứng lên cái việc hoàn toàn khong bao giờ có là bài “lâm li thống thiết dài dòng… thì gửi cho báo “Nhân dân” đăng lại được cả nhuận bút”. Là một đảng viên mà bắt chấp cả nguyên tắc tổ chức sơ đẳng nhất của Đảng, lại công khai bịa đặt ra để bêu riếu báo Đảng như thế, phải chăng cũng là nhận thức giản đơn? Phải chăng cũng chỉ là thiếu hiểu biết cuộc sống hoặc kém tài năng? Phải chăng cũng chỉ vì phương pháp tư tưởng sai lầm hoặc chỉ vì muốn cho nhân vật “gồ ghề sắc cạnh”?

          Chúng ta mong chờ những tác phẩm miêu tả sâu sắc con người mới, cuộc sống mới. Chúng ta cũng chờ đón những tác phẩm nêu lên những khó khăn của xã hội và khí thế cách mạng của quần chúng vươn lên vượt những khó khăn ấy. Trong bức thư Trung ương Đảng gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 đã nói rõ: “Nhân dân ta yêu cầu văn nghệ không chỉ biểu dương những ưu điểm và thắng lợi, mà còn phải thẳng thắn phê bình những khuyết điểm và nhược điểm trên bước trưởng thành của cách mạng với một tinh thần xây dựng và thái độ chân thành”. Nếu chúng ta yêu thiết tha cuộc sống XHCN thì chúng ta sẽ thấy những khó khăn chỉ là mặt thứ yếu, những cái tiêu cực trong đời sống chỉ là một số nét mờ nhạt trong toàn bộ bức tranh xã hội tươi đẹp ngày nay. Với thái độ và cách nhìn đúng đắn của giai cấp vô sản, với một tinh thần xây dựng, nhà văn có thể miêu tả những khó khăn và những nét tiêu cực của xã hội một cách sâu sắc. Báo chí ta không ngừng cổ vũ cho thắng lợi, cổ vũ cho khí thế cách mạng của quần chúng chính là đã phản ánh trung thực bản chất con người và cuộc sống mới. Mặt khác, báo chí ta cũng đã không ngừng phát hiện những khó khăn và những mặt tiêu cực trong cuộc sống. Chúng ta cũng đã có những truyện dài truyện ngắn miêu tả những mặt tiêu cực của cuộc sống ngày nay một cách đúng đắn. “Người bạn cũ” của Nguyễn Thế Phương chẳng đã chỉ trích những nét xấu mới nảy sinh ra trong hoàn cảnh hòa bình ở một cán bộ cao cấp đó sao? Nhưng Nguyễn Thế Phương đã có cách nhìn đúng đắn không thể nào xem là anh đã bôi đen cán bộ. Trong “Xung đột” Nguyễn Khải cũng đã miêu tả bước sa đọa của một cán bộ đảng viên (Thụy) và cũng đã nói lên những mâu thuẫn ngay trong bản thân cơ quan lãnh đạo của đảng bộ làng Hỗ. “Những người thợ mở” của Võ Huy Tâm, tuy có vài mặt thiếu sót nghiêm trọng như đồng chí Trường Chinh đã phê phán trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, nhưng về mặt tả những khó khăn trong đời sống của nhân dân vùng mỏ thì lại xuất sắc. Anh đã vạch ra được cái mâu thuẫn trong đời sống và cách giải quyết mâu thuẫn đó một cách đúng đắn. Miêu tả những mặt tiêu cực, thành công hay thất bại, căn bản vẫn là do có đứng vững trên lập trường vô sản mà nhìn những khó khăn, nhưng mặt tiêu cực đó hay không? Cái quyết định vẫn là nhiệt tình đối với con người mới, cuộc sống mới.

***

          Tính nghệ thuật của một tác phẩm căn bản là ở chỗ phản ánh chân thật và sinh động hiện thực. Phản ánh chân thật hiện thực không có nghĩa là sao y như cuộc sống, mà phải từ các hiện tượng nêu lên cho được bản chất con người và cuộc sống bằng hình tượng cụ thể. Có thế tác phẩm nghệ thuật mới trở thành “cuốn sách giáo khoa của cuộc sống”. Lối sáng tác tùy hứng, tưởng tượng, chắp vá các hiện tượng, bóp méo và xuyên tạc hiện thực mà không đếm xỉa gì đến hiện thực khách quan như trong “Vào đời” là một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi của giai cấp tư sản phản động hoàn toàn ngược lại với chủ nghĩa hiện thực XHCN, với đường lối văn nghệ của Đảng ta. Mặt khác, nói tới nghệ thuật viết tiểu thuyết là nói tới việc xây dựng tính cách nhân vật. Ở “Vào đời” tính cách các nhân vật quá đơn điệu, bằng phẳng, thiếu hẳn tính sinh động của một con người cụ thể, nhất là các nhân vật “tích cực”, nhân vật công nhân. Vì quyển truyện sơ lược như thế nên ai đọc cũng phải kêu rằng nó dở quá! Đọc nó chật vật quá! Để che lấp những thiếu sót về vốn sống và sự kém cỏi về nghề nghiệp của mình, tác giả đã chạy theo khuynh hướng nghệ thuật suy đồi bịa đặt ra một cuộc đời éo le bi thảm “ba chìm bảy nổi” của cô Sen, để có thể gây nên những “xúc động” trong người đọc. Tô vẽ thêm cho cái cốt truyện éo le đó, tác giả còn tạo ra những pha hỗn hợp, những chi tiết ly kỳ chỉ thích hợp với những thi hiếu tầm thường: nào là bắt cóc hiếp dâm, nào là giả “đại tá”, “trung tá” ngồi xe ô tô đi tống tình, nào là giữa ban ngày mà một tên cho bà uống thuốc trên nhà thì một tên hiếp dâm cháu gái ngay dưới bếp, v.v. (thật là hệt Mỹ) có lẽ như thế cũng chưa đủ “thu hút” người đọc nên tác giả quyển truyện còn vẽ vời thêm ít chi tiết khiêu dâm nữa. Cả một “bài học” triết lý “sâu sắc” về lối sống trụy lạc cũng được nhắc lại trong quyển truyện, không một lời phê phán. Chúng ta không khô cằn đến nỗi phản đối tất cả các mẩu truyện, các đoạn thơ tả tình yêu trai gái. Trong ”Những người thợ mở” Võ Huy Tâm có một đoạn tả mối tình cuồng nhiệt giữa cô Nguồn và anh Quyết, nhưng theo tôi thật là linh hoạt sắc sảo mà vẫn không dâm không thấy khêu gợi. Mối tình thắm thiết giữa Khắc và An trong “Vờ bờ” của Nguyễn Đình Thi cũng thật là đẹp. Các mẩu chuyện tình đó đều làm rõ thêm tính cách nhân vật và chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhưng nêu lợi dụng sự va chạm giữa trai gái để “khêu gợi” những thị hiếu tầm thường mong hấp dẫn người đọc, như truyện “Vào đời”, thì là một khuynh hướng nghệ thuật xấu.

***

          “Vào đời” là một quyển truyện rất xấu. Nó chống lại nhiều nghị quyết và nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước, đả kích vào cán bộ thuộc nhiều bộ máy của nền chuyên chính vô sản. Nó gieo rắc một thứ khuynh hướng nghệ thuật xấu. Nó là biểu hiện tập trung của thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp tư sản phản động. Chính cái tư tưởng tư sản phản động ấy đang cố chống lại tất cả những đạo đức và tình cảm mới, tất cả những trật tự mới của xã hội XHCN. Nó căm ghét hết thảy những chính sách, những biện pháp và các hình thức đấu tranh giai cấp về mặt chính trị, kinh tế và tư tưởng mà Đảng và Nhà nước vô sản đã và đang tiến hành để xóa bỏ các giai cấp bóc lột, để chuyển biến nền kinh tế cá thể thành nền kinh tế tập thể, để nâng cao tư tưởng và đạo đức cộng sản làm cho nền chuyên chính vô sản được củng cố và tăng cường. Đối với chủ nghĩa cá nhân tư sản tất cả những cái gì đụng chạm tới sự hưởng lạc cá nhân, tới trật tự cá nhân đều là xấu xa đáng nguyền rủa. Tư tưởng tư sản phản động ấy, biểu hiện khá tập trung và bằng hình tượng nghệ thuật cụ thể trong “Vào đời”, đã bộc lộ một cách lộ liễu cái ý muốn đòi xét lại, xét lại tất cả. Vì vậy phê phán nghiêm khắc và không khoan nhượng truyện “Vào đời” nhằm đánh bại những tư tưởng và quan điểm tư sản phản động đang tìm cách len lỏi vào trong đời sống tinh thần lành mạnh của chúng ta là việc làm hết sức cần thiết.

NGUYỄN PHAN NGỌC

Nguồn:Tạp chí Văn học, Hà Nội, s. 2 (tháng 8/1963), tr. 1-7.

*

*  *

Tháng 8/1963.Tạp chí Văn học, s. 2:

Trung Ngôn: Sai lầm của Hà Minh Tuân trong quyển “Vào đời” là sai lầm về lập trường tư tưởng

          Từ khi quyển “Vào đời” xuất bản, nhiều tờ báo đã lên tiếng. Dư luận chung đều nhất trí nhận định rằng “Vào đời” là một tác phẩm xấu, có hại và non yếu về nghệ thuật. Hà Minh Tuân đã vẽ nên một bức tranh xuyên tạc về Hà Nội, về công trường xí nghiệp. Mặt tiêu cực, đen tối nổi hẳn lên và lấn át mặt tích cực. Song một câu hỏi được đặt ra: mặc dầu mặt tiêu cực là mặt thứ yếu của hiện thực mới trong xã hội ta, nhưng nhà văn có thể mô tả mặt thứ yếu đó không? Về phương diện này, tôi nghĩ câu trả lời đã khá rõ ràng. Đảng ta đã khẳng định rằng nhà văn chẳng những có thể mà còn cần phải chiến đấu với những tàn tích xấu tồn tại trong xã hội ta, làm cho xã hội thêm tốt đẹp!

          Nhưng trong thực tế sáng tác văn học của ta hiện nay, mô tả mặt tiêu cực như thế nào là một việc khó chứ không phải dễ. Viết mặt tiêu cực cũng như cầm một con dao mổ vậy. Nó sắc lắm. Nếu sử dụng không khéo chẳng những sẽ không cứu được con bệnh mà có khi còn đứt cả tay mình nữa. Nhà văn là một nhà giải phẫu, có trách nhiệm lớn trước đời sống tư tưởng của xã hội. Mổ xẻ đòi hỏi phải mạnh bạo, dũng cảm. Nhưng mạnh bạo, dũng cảm thôi, không đủ. Điều căn bản nhất là phải minh mẫn, thận trọng và sáng mắt sáng lòng. Cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng rất sâu sắc, triệt để. Nó đụng chạm đến lối làm ăn cũ của nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp, thay đổi cả nếp sống nếp nghĩ bao đời nay của họ. Nó phá vỡ cái cũ đồng thời xây dựng cái mới. Cái mới và cái cũ xen lẫn nhau, đấu tranh với nhau rất dai dẳng, quanh co và có khi rất quyết liệt. Tiểu thuyết bao giờ cũng là một bức tranh khái quát về cuộc sống (phạm vi của nó rộng hay hẹp là tùy theo nội dung bức tranh). Mà trong cuộc sống của chúng ta bên cạnh mặt tích cực là chủ đạo, cũng còn tồn tại những mặt tiêu cực. Vậy mô tả mặt tiêu cực như thế nào? Quan hệ giữa hai mặt tiêu cực và tích cực trong tác phẩm văn học phải ra sao? Quan hệ giữa nhân vật tiêu cực và môi trường xã hội cần thể hiện như thế nào? Đó là những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với sáng tác cần đặt ra để giải quyết.

          Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, Hồ Chủ tịch đã nói: “Trong thời kỳ quá độ, bên cạnh thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu xa của xã hội cũ như tham ô, lãng phí, quan liêu, đánh con đập vợ… Đối với những thói xấu đó, văn nghệ cũng cần phải phê bình nghiêm khắc nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh, tốt đẹp hơn”.

          Chỉ thị đó của Hồ Chủ tịch rất súc tích. Hồ Chủ tịch chẳng những đã vạch ra trách nhiệm của nhà văn mà còn chỉ cho ta rõ cách nhìn và viết mặt tiêu cực, quan hệ giữa mặt tiêu cực và tích cực, thái độ nhà văn…

          Như chúng ta đều biết, cách nhìn của nhà văn là một trong những yếu tố quyết định đối với chất lượng tác phẩm. Không có cách nhìn đúng thì hiện thực sẽ bị phản ánh một cách lệch lạc. Nhưng thế nào là cách nhìn đúng? Đảng ta đã chỉ rõ: Trong xã hội ta, cái mới là cái tất thắng. Cái tiêu cực là mặt thứ yếu, có tính chất cục bộ và tạm thời. Nó tồn tại một cách bất hợp pháp. Khi phản ánh hiện thực, nhà văn phải đứng vững trên quan điểm này và những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm phải được xây dựng trên cách nhìn đó.

Trong tiểu thuyết “Vào đời”, Hà Minh Tuân đã không làm như thế.

          Tình hình lộn xộn trong một số công trường xí nghiệp ở Hà Nội năm 1956-1957 lúc bọn Nhân văn tác oai tác quái là có thật, nhưng tình trạng đó không kéo dài và cũng không thể kéo dài cho mãi đến năm 1960 như tác giả đã mô tả. Đương nhiên lúc đầu có thể một số quần chúng thậm chí đảng viên mơ hồ địch, ta, nhưng chỉ qua một thời gian ngắn họ sẽ nhận ra và kiên quyết vạch mặt bọn chúng, đấu tranh với chúng dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Đó là tình hình thực tế ở hầu khắp (nếu không nói là tất cả) công trường xí nghiệp của chúng ta trong thời kỳ này. Mô tả công trường như trong “Vào đời” là phản hiện thực, là xuyên tạc.

          Cái môi trường xã hội mà cô Sen bước vào đời dưới con mắt của Hà Minh Tuân sao nó u ám thế! Nó có khác gì với xã hội tư bản? Mấy tên côn đồ lưu manh hoạt động một cách công khai trắng trợn như ở chỗ không người. Còn mấy nhân vật gọi rằng tích cực thì sao? Lưu, bí thư chi đoàn thanh niên là một người rất hăng hái, rất nguyên tắc nhưng ở cuối câu chuyện lại nói những câu mỉa mai sâu cay bực dọc về các “ông làm báo”, mậu dịch, công an. Bác Biền, một công nhân già đã đau khổ nhiều trong xã hội cũ, nghe thấy Lưu nói như vậy cũng không có phản ứng gì. Bổn là người thân nhất của Sen và không phải là không biết hành động tàn ác của Hiếu đối với Sen, nhưng Bổn cũng không vạch mặt Hiếu và không giúp đỡ Sen về phương diện nay. Hán và Bình, hai đồng chí lãnh đạo mới về xí nghiệp rất mờ nhạt. Và điều quan trọng hơn cả là cái tập thể đảng viên, tập thể quần chúng ở đấy đã không đấu tranh đến nơi đến chốn với Mai, Song, Hiếu, lại còn căm ghét các cán bộ lãnh đạo như Cư, Chiến… Cô Sen là một nhân vật nửa mới nửa cũ. Bản chất cô là tiểu tư sản. Tác giả hình như muốn cho Sen “vươn lên” để nói lên sự tất thắng của cái mới, tác dụng giáo dục của tập thể, ảnh hưởng tốt đẹp của lao động đối với việc cải tạo và rèn luyện con người. Nhưng kể cũng khó mà tin được sự “vươn lên” ở một con người như Sen, tình cảm vốn yếu mềm, lập trường tư tưởng không vững, lại gặp phải những tình cảnh éo le và phải sống trong một môi trường kỷ luật rất lỏng lẻo, bọn lưu manh thì tha hồ mà hoành hành ngang ngược như vậy. Sự vươn lên đó ngẫu nhiên lắm!

          Cho nên điều quan trọng ở đây không phải là mô tả nhiều hay ít hiện tượng tiêu cực mà điều quan trọng là đặt những hiện tượng tiêu cực ấy vào môi trường xã hội nào và mô tả cái môi trường ấy ra sao. Trong xã hội cũ có tham ô. Trong xã hội ta cũng có tham ô. Nhưng tham ô trong xã hội cũ là hiện tượng thuộc về bản chất, nó được pháp luật che chở. Nếu như bọn thống trị có trừng phạt một số tên nào đó thì chỉ là để lừa bịp dư luận hoặc để gạt một số người không thuộc phe cánh của chúng mà thôi. Còn tham ô trong xã hội ta là hiện tượng trái với bản chất của chế độ, nó là bất hợp pháp trong cái môi trường xã hội mới. Môi trường xã hội ví như cái nền nhà. Nếu việc xây dựng cái nền đó không vững chắc thì cả ngôi nhà sẽ sụp đổ. Tính chất của môi trường xã hội quyết định tính chất của hiện tượng và nguyên nhân đã sản sinh ra những hiện tượng ấy. Chính Hà Minh Tuân đã mơ hồ về điểm này do đó tác phẩm “Vào đời” của anh có khuynh hướng bôi đen mà không thể khác được!

          Nhưng muốn có cách nhìn đúng, phải có lập trường và thái độ đúng. Cách nhìn có liên quan đến lập trường nghĩa là thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn. Cách nhìn và thái độ không tách rời nhau.

          Thái độ của ta đối với cái xấu là phải kịch liệt lên án nó. Mô tả cái xấu là để đề cao và khẳng định cái tốt. Nói cái xấu trước hết phải nói cho đúng. Nhưng nói cái gì, đưa ra cái gì, nói đến đâu phải có mục đích rõ ràng, không phải nói cho sướng miệng hoặc để thỏa mãn nỗi bực dọc cá nhân làm cho kẻ thù khoái chí. Đó là tính đảng của nhà văn. Không thể có thái độ mập mờ hoặc đồng tình với cái xấu. Hồ Chủ tịch đã nói: văn nghệ cần phải “phê bình nghiêm khắc” những thói xấu còn tồn tại trong xã hội ta “nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh, tốt đẹp hơn…”. Nhưng Hà Minh Tuân đã đánh lộn sòng khó khăn với khuyết điểm, không phân biệt đâu là khách quan, đâu là chủ quan, không hiểu nguyên nhân của những khuyết điểm ấy, dó đó mà cái đáng lên án nghiêm khắc thì lại đồng tình, cái không đáng lên án thì lại cường điệu lên và phê phán một cách hàm hồ (thái độ với mậu dịch, công an, cán bộ lãnh đạo, báo chí,…). Đó là một thái độ hết sức sai lầm.

          Trong sự nghiệp xây dựng CNXH của chúng ta hiện nay, chúng ta có nhiều khó khăn khuyết điểm. Khó khăn khách quan là rất nhiều nhưng khuyết điểm chủ quan cũng không ít, và nguyên nhân cũng rất phức tạp. Có người rất nhiệt tình, tư tưởng rất tốt nhưng vì trình độ kém mà làm sai làm hỏng. Cũng có người vì ý thức xấu, vì vô trách nhiệm, vì quan liêu mà gây ra tham ô lãng phí. Bệnh quan liêu cũng có nhiều hình thức: anh thì quan liêu hống hách, anh thì quan liêu vất vả, anh thì quan liêu giấy tờ… Trong khi mô tả những hiện tượng tiêu cực đó, tôi nghĩ chúng ta phải hiểu cho kỹ nguồn gốc của nó, phân tích nguyên nhân cho thấu đáo, có tình có lý chứ không thể đả kích một chiều hoặc có thái độ giản đơn như Hà Minh Tuân. Nếu chỉ mô tả hiện tượng mà không thấy nguyên nhân phức tạp của chúng thì chẳng những không sâu mà cũng không hiện thực. Nếu bản thân người viết lại có thái độ bực dọc thì nhìn hiện tượng sẽ sai lệch hết, cái tốt có thể biến thành xấu và ngược lại. Thí dụ như câu nói của Lưu chẳng hạn. Tại sao lại trút cả cái bực dọc của mình vào đầu mấy cái loa mà đồng bào lao động nội ngoại thành rất thích vì họ muốn nghe tin tức, nghe sân khấu truyền thanh mà trong nhà không có đài? Anh thử đi gỡ một cái loa ở khu lao động đem đi chỗ khác xem họ có phản đối, thậm chí còn kiện anh không? Những cái loa để ở giữa phố nội thành có làm phiền cho một số nhà thật nhưng phải nói rằng sau tiếp quản ta đã dần dần gỡ đi và mấy năm nay hàng nghìn loa con đã được đưa vào các gia đình để thay thế cho các loa to ngày trước. Hà Minh Tuân không nhìn thấy cái đó nên bất kể là việc to hay nhỏ hễ không hợp với mình là anh đều bực dọc cả. Cách nhìn người công an ở phố Tràng Tiền huýt còi để giữ trật tự cũng không đúng. Tại sao lại cho rằng “cứ một chút một chút cũng huýt còi rinh lên, khiến mọi người trên đường phố đều cảm thấy kém vui đi…”? Việc huýt còi của công an đâu phải là một hiện tượng xấu! Có thật “mọi người” kém vui hay chỉ có một số người nào thôi? Vui hay buồn cũng tùy theo cách nhìn, thái độ của từng người. Chúng ta bảo rằng thành phố của chúng ta bây giờ đông vui hơn trước nhưng cũng có một số người không chịu. Bây giờ hàng của ta chưa nhiều và cũng chưa đẹp. Có một số người xưa nay vẫn mê tín “Gibb”, không thích “Ngọc lan”, [1] quá quen với “pô-pơ-lin-xuýt” không thích vải Nam Định nên họ khó chịu và cảm thấy kém vui. Ngày trước các cửa hiệu mở rất khuya. Bây giờ các ửa hiệu thường xuyên không mở khuya. Họ cũng cho như vậy là “kém vui”. Nhưng thử hỏi trước kia mở cửa khuya là để phục vụ ai? Phục vụ cho công chức, binh lính và sĩ quan Pháp, ngụy đi chơi đêm. Cả cái thành phố phồn vinh bề mặt đó là để phục vụ cho bộ máy chiến tranh của địch chứ không có gì khác! Bây giờ tất cả đều lao động. Nếu không phải ngày nghỉ hay ngày lễ, mở cửa khuya để làm gì? Bây giờ gót giày đinh của lính lê dương không còn nữa. Nó để lại hơn 10 vạn người thất nghiệp. Ta đã giải quyết trong 5 năm mới hết. Hàng năm chúng ta lại đưa vào sản xuất từ 2 đến 3 vạn người trong các công trường xí nghiệp hợp tác xã thủ công và xí nghiệp quốc doanh hoặc công tư hợp doanh. Đó là một lực lượng mới đang mỗi ngày một lớn mạnh cùng với thủ đô trên bước đường công nghiệp hóa. Ngay cả những cô gái nhảy, những cô gái “làm tiền” do xã hội cũ để lại nay cũng đã được cải tạo trong các công trường, xí nghiệp.

          Hà Nội của chúng ta đang biến đổi hàng ngày hàng giờ, biến đổi về chất lượng. Công trường xí nghiệp mọc lên khắp nơi. Đi ra khỏi năm cửa ô, ở đâu anh cũng thấy nhà cao, ngói đỏ, cửa xanh và ống khói! Cái thành phố tiêu thụ xa xỉ ngày trước đã trở thành một thành phố sản xuất, một trung tâm công nghiệp của miền Bắc. Chúng ta đã xây dựng được cơ sở cho một nền công nghiệp nặng và một nền cong nghiệp nhẹ ở thủ đô, mà gần một thế kỷ trước không làm được, không ai ước mơ đến. Thử hỏi như vậy không thấy phấn khởi và tự hào sao được! Có một số người khi nhìn sông Hồng, họ không thấy sức mạnh cuồn cuộn của cả dòng nước đang cuốn đi mà chỉ thấy mấy đám bọt bồng bềnh trên mặt.

          Diện tích xây dựng mới trong 8 năm hòa bình là 1.300 héc-ta, ngang với diện tích của cả thành phố Hà Nội trước tiếp quản. Như vậy là nếu so với Hà Nội cũ nghìn năm văn vật thì bây giờ chúng ta đã có thêm một thành phố mới.

          Công nhân và lao động khi mới vào tiếp quản suýt soát 1 vạn, bây giờ hơn 12 vạn! Cung cấp đủ bánh mì ăn sáng ca đêm cho 12 vạn người ấy cộng với hàng vạn cán bộ, học sinh, sinh viên thì phải có bao nhiêu lò bánh mì? Cung cấp thịt cho hơn 70 vạn người mỗi ngày dăm lạng thôi chứ chưa nói nhiều phải mổ mỗi ngày từ 400 đến 600 con lợn, một năm từ 12 vạn đến 20 vạn con lợn. Nếu không thấy tất cả những khó khăn đó cùng với nguyên nhân của nó thì không thể thấy thành tích của ta trong xây dựng, cố gắng của ta trong phân phối mà chỉ thấy mấy cái nhỏ mọn trước mắt và sinh bi quan dao động.

          Nếu Hà Minh Tuân đi vào các khu lao động mà hỏi thì tôi tin chắc rằng đại đa số bà con sẽ nói rằng: bây giờ vui gấp trăm lần trước tuy mức ăn còn thấp, nhà ở còn chật! Bây giờ có điện có nước dùng không phải đi mua, đi tranh từng gánh nước. Tết nhất mậu dịch về tận nơi bán thịt, bán nước mắm, miến và mấy chục lá gói bánh cùng với lạt buộc. Thật là chu đáo! Trước kia làm gì có chuyện đó? Hà Minh Tuân không có cái nhìn của nhân dân lao động. Anh cũng chưa hiểu nổi những nguyên nhân phức tạp của những khó khăn khuyết điểm hiện nay. Đôi mắt bực dọc đã không nhìn được cái lớn lao vĩ đại hay có nhìn mà cũng không thấy. Ngược lại chỉ thấy “kém vui”. Anh đã tự tách ra khỏi xã hội, đứng ngoài xã hội mà nhìn vào với một thái độ soi mói, khó chịu, thậm chí hằn học nữa. Anh đã nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của một số người hoài nghi bực dọc đang luyến tiếc cái “thời hoàng kim” của Hà Nội cũ. Thực chất đó là tư tưởng tư sản đang trỗi dậy trong những con người tiểu tư sản vốn chứa sẵn bất mãn cá nhân và dao động trước khó khăn, hoàn toàn không phải là một thái độ lo lắng có trách nhiệm.

          Không phải bây giờ chúng ta còn nhiều khó khăn khuyết điểm mà trong tương lai chúng ta vẫn còn gặp những khó khăn khuyết điểm trên bước đường phát triển của chúng ta. Nhưng dù có bao nhiêu khuyết đi nữa thì cái xã hội miền Bắc này, cái xã hội Hà Nội này cũng tốt gấp trăm gấp nghìn lần cái xã hội Hà Nội cũ hay cái xã hội miền Nam hiện nay, hơn bất cứ thành phố nào của “thế giới tự do”. Đó là cách nhìn của Đảng, cách nhìn của nhà văn, cách nhìn hiện thực và biện chứng. Đó là cơ sở của phương pháp sáng tác hiện thực XHCN, tiêu chuẩn về tính đảng trong văn học. Không có cách nhìn trong sáng ấy thì không thể phản ánh hiện thực một cách đúng đắn.

          Trong “Chiến bại” Fa-đê-ép đã mô tả một đội quân cách mạng rất lộn xộn với nhiều nét tiêu cực nhưng người đọc không thể hiểu lầm được bản chất của quân đội cách mạng vì cái mới tuy còn ít nhưng rất khỏe, rất vững, rất có tiền đồ. Cái mới tất thắng! “Chiến bại” nhưng sẽ chiến thắng…

          Lập trường quyết định phương pháp. Một khi lập trường, thái độ đã sai lầm thì phương pháp không thể đúng được. Thực chất sai lầm của Hà Minh Tuân là sai lầm về lập trường, tư tưởng. Tiêu biểu nhất là thái độ của anh đối với cải cách ruộng đất, đối với Hiếu và đối với cán bộ lãnh đạo… Tác giả đã tường thuật lại những lời lẽ rất phản động của Hiếu mà không phê phán gì hoặc phê phán rất yếu. Y chửi cốt cán, ném đá vào những cái loa đang tuyên truyền cho thắng lợi của cải cách ruộng đất. Hà Minh Tuân muốn cho người đọc thông cảm với Hiếu, tha thứ cho Hiếu. Trong câu chuyện, Hiếu là một phần tử bất mãn đến cao độ. Nhẽ ra thái độ của tác giả là phải nghiêm khắc lên án y. Nhưng Sen vẫn yêu y, vẫn nhìn Hiếu bằng con mắt rất khoan dung. Cuối câu chuyện tác giả còn để cho Sen trở lại với Hiếu. Thái độ đối với Hiếu như thế còn thái độ đối với cán bộ lãnh đạo thì sao? Người ta thấy anh căm ghét Cư, Chiến hơn là căm ghét Hiếu, căm ghét mấy cái loa, bực dọc với mậu dịch, với công an hơn là lên án Hiếu, đổ tội cho cải cách ruộng đất để bào chữa cho Hiếu. Căm ghét quan liêu là cần thiết, nhưng Cư, Chiến đã làm gì mà bảo là “quen ăn của dân”, mà phải “vả vào mồm” họ, quy cho họ là “sống chết mặc bay”? Tác giả còn quy cho Cư, Chiến mắc tội đuổi thợ, bắt người  và hay “chỉnh” thiên hạ. Nhưng bắt ai, đuổi ai, đuổi những người như thế nào? Trong “Vào đời” không thấy nói rõ. Sao không đuổi cổ mấy tên Mai, Song, Hiếu ra khỏi nhà máy? Có phải “đuổi thợ” đều là sai tất cả đâu! Đuổi mấy tên côn đồ lưu manh hồi đó là đúng, còn không đuổi chúng mới là hữu khuynh. Sao không “vả vào mồm” Hiếu, một tên đồi bại, vô ơn với cách mạng, sao không “chỉnh” cho Hiếu một cách đích đáng? Chẳng những Cư, Chiên không “chỉnh”, mà Lưu, Biền cũng làm ngơ cho Hiếu. Thật là vô lý. Thái độ của tác giả đối với Hiếu là một sự sai lầm không thể tha thứ được. “Truyện Kiều” mô tả xã hội cũ, đối với những con người như Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Tú Bà, tác giả lên án rất rõ ràng. Dư luận xã hội cũng lên án họ. Huống hồ đây là một chuyện về xã hội mới, lẽ nào dư luận chung quanh không lên án họ? Trong một vài đoạn, quần chúng cũng có đấu tranh, cũng tỏ ý không tán thành thái độ và hành động của Hiếu nhưng chẳng qua chỉ là lời giải thích chính trị chung chung không có sức thuyết phục. Ngược lại, để đả kích Cư, Chiến một cách không thương tiếc, Hà Minh Tuân đã dùng những hình nét, mầu sắc rất xấu, rất đen tối, rất cay độc mô tả từ “Cái kính cóc gậm” đến “bộ râu đen tua tủa quanh mồm cùng hai khóm lông mũi dài”… đến cái bản chất xấu xa về mọi mặt của họ (tự mãn, công thần, địa vị, đàn áp công nhân…). Trong dịp cải tiến quản lý xí nghiệp, Cư, Chiến đã bộc lộ chân thành những khuyết điểm của mình trước công nhân, Hà Minh Tuân cũng chưa tha và muốn truy kích “địch” tới cùng. Anh cho đó là “lâm ly”, là đạo đức giả. Đối với hành động của Cư, Chiến, tác giả cắt nghĩa nguyên nhân là do bản chất xấu. Đối với Hiếu, anh cắt nghĩa nguyên nhân là do sai lầm của cải cách ruộng đất. Đối với Mai, Song, anh cắt nghĩa nguyên nhân là do các ông “vua liêu”. Việc giải thích nguyên nhân như vậy rõ ràng là một việc thay đổi trắng đen rất tai hại, nó biểu thị một thái độ hằn học đối với cải cách ruộng đất, một mối ác cảm có suy nghĩ từ lâu đối với cán bộ lãnh đạo, đối với công an, đối với mậu dịch… Một thái độ phê bình như vậy sao có thể gọi là một thái độ nghiêm chỉnh được? Sao có thể gọi là xây dựng được? Rõ ràng là một thái độ thiên lệch, lầm lẫn bạn thù, muốn nói cho sướng miệng chứ không phải là muốn cho xã hội ta tốt đẹp hơn như lời dạy của Hồ Chủ tịch.

***

Trong xã hội miền Bắc nước ta, giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ nhưng cuộc đấu tranh giai cấp chưa hết, ý thức hệ tư tưởng tư sản chưa bị quét sạch. Đằng sau giai cấp bóc lột có hàng vạn hàng triệu quần chúng tiểu tư sản như Lê-nin nói: “Ngập ngừng và dao động, hôm nay theo giai cấp vô sản nhưng ngày mai sợ hãi, trước khó khăn của cách mạng thì run sợ, hoang mang, khi cách mạng vừa mới thất bại hoặc nửa thất bại, họ náo động, hoảng hốt, khóc lóc, chạy từ phía này sang phía khác” (“Cách mạng vô sản và tên phản bội Cao-sky”).

Mâu thuẫn giữa tư tưởng vô sản và tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, như Lê-nin nói, chỉ có thể giải quyết trên cơ sở “một cuộc đấu tranh có tính chất quần chúng lâu dài và khó khăn chống những aanhr hưởng tiểu tư sản trong đông đảo nhân dân” (“Bệnh ấu trĩ…”); kẻ thù của chúng ta, như Lê-nin nói, không phải là bọn bạch vệ như cũ mà là “yếu tố tiểu tư sản nó bao vây chúng ta như không khí và thâm nhập rất mạnh vào trong hàng ngũ giai cấp vô sản… và yếu tố tiểu tư sản trong nội bộ một nước được giaai cấp tư sản quốc tế ủng hộ…” (Lê-nin tuyển tập, quyển II, tập 2 – “Thời đại mới, sai lầm cũ”, viết năm 1921). Lời dạy đó của Lê-nin cách đây hơn 40 năm còn đầy đủ tính chất thời sự của nó. Ở Hà Nội chúng ta sống trong một cái bể tiểu tư sản thực sự. Giai cấp tư sản không nhiều và cũng không lớn lắm. Nhưng ý thức hệ tư tưởng tư sản vẫn tồn tại rất dai dẳng. Hiện nay cách mạng ta đang tiến lên không hề có thất bại hay nửa thất bại. Nhưng có một số người coi khó khăn khuyết điểm của ta gần như thất bại hoặc nửa thất bại. Họ so sánh với thời kỳ phồn vinh giả tạo trong hồi bị chiếm, họ luyến tiếc lề lối kinh doanh cũ, không muốn chuyển sang sản xuát. Trong khi xã hội đang tiến lên, mọi người đang tiến lên, con cái họ đang tiến lên, họ cảm thấy riêng họ không có “tiền đồ” và buồn phiền bực dọc. Một số gnwowif vì nhận thức không chuyển biến kịp, vì bực dọc cá nhân nên đánh giá con người, đánh giá sự vật một cách tĩnh và phát sinh thắc mắc, nhìn cuộc sống bằng con mắt bi quan xám xịt! Giai cấp tiểu tư sản vốn không có lập trường độc lập. Hoặc họ tiếp thu lập trường của giai cấp vô sản hoặc họ tiếp thu lập trường của giai cấp tư sản. Còn bọn bóc lột thì, như Lê-nin nói, “bây giờ lao vào cuộc chống đối với một nghị lực gấp chục lần trước để chiếm lại “thiên đường” đã mất, cho gia đình họ trước kia sống êm đẹp là thế mà ngày nay bị “bọn cùng khổ hèn hạ” làm cho phá sản phải sống khổ sở (hoặc lao động một cách “hèn hạ”)… Chính vì vậy mà Lê-nin đã nói rằng: “Chuyên chính vô sản chính là một cuộc chiến tranh anh dũng nhất, gay go nhất của giai cấp mới chống với một kẻ thù mạnh hơn, chống với giai cấp tư sản mà sự kháng cự tăng lên gấp bội do chúng bị lật đổ”, và: “Chuyên chính vô sản là một cuộc chiến đấu kiên trì, đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, quân sự và kinh tế, giáo dục và hành chính, chống lại những thế lực và tập tục của xã hội cũ”  (Lê-nin: “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cao-sky”, xem: Stalin: “Vấn đề chủ nghĩa Lê-nin”, bản chữ Pháp, Nhà xuất bản ngoại văn, Mat-xcơ-va, 1951, tr. 45, 46, 47). Phản ứng của giai cấp tư sản, tư tưởng tư sản trong thời kỳ Nhân văn đã bị lên án nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn. Trước kia họ chống đối cải tạo, bây giờ họ đã được cải tạo. Nhưng nhiều người vẫn “tiếc của”, tiếc bóc lột, tiếc lối sống cũ. Họ nuôi hy vọng “khôi phục”, nuôi hy vọng “có một sự gì thay đổi”… Xí nghiệp của họ bây giờ phát triển mạnh, họ lại càng đau sót, thấm thía và “ngốt của”! Có một số ít muốn vùng lên! Trước đây bọn Nhân văn là kẻ phát ngôn của họ. Bây giờ cũng vẫn là những phần tử trí thức tiểu tư sản bất mãn dao động phát ngôn cho họ. Một mặt khác thì chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng hòa bình hưởng lạc ở thành phố có điều kiện phát triển so với trước. Cái đó không thể không ảnh hưởng vào trong đảng, trong hàng ngũ giai cấp vô sản. “Vào đời” là tiêu biểu cho một khuynh hướng xấu, một hiện tượng tiêu cực trong văn học cần nghiêm khắc phê phán. Gần đây khuynh hướng bôi đen trong văn học, chủ nghĩa tượng trưng trong hội họa… đã phát sinh ở một số nước XHCN dưới chiêu bài “chống giáo điều”, “chống công thức”, hoặc “chống sùng bái cá nhân”!! Tư tưởng Nhân văn, trào lưu xét lại trong văn nghệ ở nước ta hồi 1956-57 đâu phải chỉ là hiện tượng riêng lẻ không liên quan đến tình hình quốc tế và những trào lưu tư tưởng xét lại hồi bấy giờ! Đó là tư tưởng tư sản, ảnh hưởng của mỹ học tư sản chứ không có gì khác! Đó là sản phẩm phụ của cuộc đấu tranh giai cấp dai dẳng, gay go trong phạm vi mỗi nước và trong phạm vi quốc tế trên lĩnh vực chính trị cũng như trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Đó chính là “sai lầm cũ, hình thức mới”, “thời đại mới, sai lầm cũ” như Lê-nin đã từng nói, không có gì khác. Chúng ta không thể lơ là thiếu cảnh giác trước những biểu hiện của tư tưởng tư sản, của mỹ học tư sản thâm nhập trong hàng ngũ chúng ta.

Chúng ta phản đối bôi đen. Điều đó không có nghĩa là chúng ta chủ trương tô hồng. Hiện thực mới của chúng ta tự nó rất đẹp, rất hùng vĩ, không cần phải tô son vẽ phấn. Bôi đen rất có hại. Nhưng tô hồng cũng không có lợi gì cho việc giáo dục quần chúng cả. Nó nuôi dưỡng tư tưởng hòa bình hưởng lạc làm cho quần chúng nhụt chí khí phấn đấu. Làm cách mạng không phải như người đi dạo mát ăn kem. Khó khăn, trắc trở là những điều không thể tránh khỏi. Khó khăn có thể làm cho một số người bi quan, hoài nghi. Nhưng khó khăn cũng là một sự thử thách, một lò luyện thép. Đạp lên đầu mọi khó khăn mà vươn lên thì sự vươn lên đó mới anh dũng và đáng được ca ngợi. Chiến đấu gan dạ với mọi khó khăn và khắc phục nó, hiến dâng tất cả sức lực, toàn bộ nghị lực của mình cho sự nghiệp cách mạng vì thắng lợi của CNXH, vì thống nhất tổ quốc, đó là đặc điểm của con người mới, con người XHCN ở miền Bắc. Nhân vật tích cực trong cuộc sống mỗi ngày một nhiều hơn, một lớn lên và trưởng thành. Sự phát triển về số lượng và chất lượng đó nhất định phải được phản ánh trong văn học. Đương nhiên sự phát triển ấy không thể là một con đường  thẳng tắp, nó phải trải qua đấu tranh. Hạt nhân của sự phát triển là mâu thuẫn và đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa cái tích cực và tiêu cực trong cuộc sống. Nhiệm vụ của văn học, nội dung của văn học về cơ bản là sự mô tả nhân vật tích cực, xây dựng hình tượng nhân vật tích cực, là sự khẳng định những lý tưởng và ước vọng tốt dẹp của con người trong thời đại chúng ta qua hình tượng nhân vật tích cực. Hiện tượng tiêu cực, nhân vật tiêu cực chỉ có thể coi như sản phẩm phụ của quá trình đấu tranh cách mạng. Ở một số nói nào đó trong một thời gian nào đó, cái cũ có thể thắng nhưng chỉ là cục bộ tạm thời. Nhà văn phải dứng trên lập trường của Đảng để nhìn mọi sự vật, phải có cái nhìn của nhân dân lao động, phải đứng trên lập trường của nhân dân lao động thì mới có thể thấy hết dược thành tích để ca ngợi, thấy rõ được khuyết điểm để phê bình. Không thể đem cái cục bộ làm cái toàn bộ cái bản chất, cái cá biệt hãn hữu ngẫu nhiên làm cái điển hình. Thái độ của nhà văn phải rõ ràng, phải kịch liệt lên án cái xấu, tuyệt đối không thể khoan nhượng với nó hoặc đồng tình với nó. Cái tiêu cực có nguồn gốc. Hiểu không đúng căn nguyên của nó thì việc mô tả hiện thực sẽ hời hợt, không sâu và trở thành xuyên tạc.

Sai lầm chủ yếu của “Vào đời” là sai lầm về lập trường, về thái độ. Không có một thế giới quan và nhân sinh quan đúng thì cách nhìn và sự rung động của nhà văn sẽ lệch lạc hết. Bài học “Vào đời” chẳng những bổ ích riêng cho Hà Minh Tuân mà cũng có thể giúp ích cho chúng ta trong việc suy nghĩ và viết về đề tài mới.

TRUNG NGÔN

Nguồn:Tạp chí Văn học, Hà Nội, s. 2 (tháng 8/1963), tr. 8-15.

Chú thích

[1]  Gibb: nhãn thuốc đánh răng có bán tại Hà Nội từ trước 1954; Ngọc Lan: nhãn thuốc đánh răng của nhà máy xà phòng Hà Nội (nhà máy này thành lập cuối 1960, trụ sở ở đường Nguyễn Trãi, Q.Thanh Xuân, Hà Nội. – L.N.Â.)

Quan điểm của cuốn “Vào đời” đối với phụ nữ như thế nào?

Tháng 8/1963. “Phụ nữ Việt Nam”:

Lê Đoan: Quan điểm của cuốn “Vào đời” đối với phụ nữ như thế nào?

       “Vào đời” của Hà Minh Tuân đã toát lên rất nhiều quan điểm sai lệch mà nhiều bạn đã phân tích, phê phán. Ngay cả quan điểm đối với phụ nữ của cuốn “Vào đời” cũng thật phản động.

          Sen, một người phụ nữ, được chọn làm nhân vật chính trong cuốn truyện “Vào đời”. Phải chăng đây là một vinh dự cho phụ nữ?! Phải chăng đây là dịp để nhà văn thể hiện đúng đắn vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng CNXH hiện nay?! Phải chăng đây là sự thiết tha của nhà văn muốn góp phần vào việc động viên giáo dục chị em phụ nữ đi vào lao động sản xuất để xây dựng cuộc sống mới cho đất nước, giải phóng triệt để cho phụ nữ?

          Không. “Vào đời” đã hoàn toàn đi ngược lại.

Đứng trên quan điểm nào mà “Vào đời” đã nhìn người phụ nữ?

          Từ năm 1930 đến nay, Đảng ta luôn luôn đả phá những quan điểm phản động của giai cấp phong kiến, tư sản đối với phụ nữ. Đảng từ đầu đã đề ra “nam nữ bình đẳng” và đấu tranh chống mọi biểu hiện coi khinh phụ nữ. Hiện nay, trên miền Bắc nước ta, bọn đế quốc phong kiến và giai cấp tư sản phản động đã bị đánh bại nhưng những tàn dư tư tưởng của chúng lúc nào cũng tìm cách trỗi đầu dậy. Tư tưởng cá nhân hưởng lạc suy đồi của giai cấp tư sản phản động đã lồng lộn lên rất dữ dội trong suốt cả cuốn truyện “Vào đời” sặc mùi khiêu dâm. Những sự thèm khát về nhục dục bộc lộ hết sức khả ố không những ở trong những nhân vật như Mai, Song, Hiếu, mà cả ở một số người khác nữa. Những đoạn văn luận về tình ái thật quá say sưa…! Từ đó mà quan điểm của giai cấp tư sản phản động đối với phụ nữ được tên Mai thuyết trình quá sức rõ ràng, đầy đủ. Chẳng những không có một nhân vật nào khác phản đối mà còn được sự đồng tình tán thưởng của Song và sự gật gù của mụ chủ cô đầu. Mai đã nói với một giọng thao thao bất tuyệt: “Phải tận hưởng cuộc đời, phải gấp gáp tạo cho mình mọi thứ lạc thú trước khi nhắm mắt. Trời sinh ra giống đàn bà để làm hương hoa cho cuộc sống, để nhận giống, thụ thai, rồi nuôi con cái. Giống đàn ông là giống mạnh, giống đàn anh, trời trao cho sứ mệnh thiêng liêng và vất vả là chuyên có việc gieo giống…”  Và còn nhiều lời lẽ hoạt bát khác của những nhân vật ấy đã là hiện thân của những tên tư sản phản động đang tiếc rẻ cuộc sống ăn bám, đang hậm hực vì chế độ ta không có những “hộp đêm”, gái điếm để thỏa mãn thú tính, nhục dục của chúng.

          Chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ chiếm hữu cá nhân phát triển đến tột bực. Cho nên ở chế độ tư bản chủ nghĩa, mọi thứ và đến người phụ nữ cũng trở thành một món hàng hóa. Quan hệ giữa người với người là quan hệ bóc lột, quan hệ chó sói với nhau. Chỉ có tiền chứ không có tình nghĩa gì cả, “có tiền mua tiên cũng được”. Phẩm giá của người phụ nữ thật rẻ mạt. Người phụ nữ lao động bị khinh miệt, bị vùi dập không thương tiếc. Một số chị em nào, bề ngoài được chúng ve vuốt tâng bốc, nhưng thực ra bị chúng coi như những món đồ chơi để giải trí, một cái máy đẻ không hơn không kém. Chính tư tưởng này chẳng những đã ngự trị trong đầu óc tên Mai, Song mà chi phối cả tâm địa của Hiếu đã dày vò, chà đạp, hành hạ tàn nhẫn Sen. Tên Mai đã từng hủy hoại không biết bao nhiêu cuộc đời phụ nữ, gây biết bao tội ác, nhưng tác giả vẫn nói về hắn: “Có điều lạ là người ta chẳng hề thấy một tia hung bạo nào ở cặp mắt ấy”. Cũng như đối với tên Hiếu thực chất có khác nào tên Mai, nhưng dưới ngòi bút tác giả thì đến lúc hắn đã rất xấu xa đồi trụy mà Sen vẫn nhận xét: “Dẫu sao đi nữa, anh vẫn là con người tốt”. Thực ra cái tốt, cái tình nghĩa của Hiếu đối với Sen như thế nào?

          Sau bao cơn xung đột bỏ nhà ra đi, Hiếu trở về: “Tay Hiếu đã nắm gọn cái chìa khóa cũ mà anh vẫn giữ. Anh ta tưởng chừng như đã động vào da thịt mát mẻ của Sen. Chỉ một vòng chìa khóa anh ta lại vào cái phòng êm ả cũ, ngày đêm thơm ngậy mùi đàn bà. Hiếu đã run lên vì xúc động và sốt ruột…”  Hiếu đã coi Sen, vợ hắn, chẳng qua cũng là một cái máy đẻ, một con vật để thỏa mãn thú tính của hắn. Trong lúc đó thì tác giả đòi hỏi Sen, người phụ nữ, phải như thế nào? Phải là “dòng suối mát lành, một bông hoa ngát hương thơm của hạnh phúc gia đình”, lúc nào cũng phải một mực dịu hiền, một mực chiều chồng chiều con, phục lụy chồng vô điều kiện, đến ngu xuẩn không còn phân biệt đúng sai. Ngay đến lúc Hiếu đã tỏ ra rất man rợ đối với mình và con mình, đã trằng trợn phản đối chế độ mà tác giả cũng bắt buộc Sen vẫn cảm thấy có sự hối hận nào trong việc đối xử với chồng chưa đủ, mà phải dù thế nào đi nữa vẫn “một mực yêu thương cho đến khi mãn chiều xế bóng”. Hạnh phúc gia đình phải do cả vợ chồng cùng xây dựng, quan hệ vợ chồng dưới chế độ ta là quan hệ yêu thương bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau để chung gánh vác việc gia đình, nuôi dạy con cái, tham gia công việc xã hội. Nhưng chính Mai dã hậm hực nói rằng: “đàn ông đâu có sinh ra để bế con, nuôi con, nên nhớ như thế”. Và Sen, nhân vật chính diện được tác giả rất yêu quý, cũng đã “khinh bỉ đến kinh tởm” những người phụ nữ đòi hỏi chồng phải cùng gánh vác công việc gia đình hơi quá đáng.

          “Vào đời” đã nhìn người phụ nữ như thế đấy.

Đứng trên quan điểm nào mà “Vào đời” đã đặt vấn đề phụ nữ?

          Đảng ta từ trước đến nay vẫn đặt vấn đề giải phóng phụ nữ đi đôi với giải phóng dân tộc, cho nên Đảng kêu gọi các tầng lớp phụ nữ tham gia vào công cuộc công nghiệp hóa XHCN và đấu tranh thống nhất nước nhà. Thực tế cho chúng ta thấy rõ chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ vùi dập người phụ nữ, chế độ XHCN là chế độ nâng cao người phụ nữ. Ở đất nước của CM tháng Mười vĩ đại mới có chị Va-len-ti-na đã bay vào vũ trụ. Ở miền Bắc nước ta, phụ nữ được học hành và ngày càng tham gia đông đảo và đắc lực vào các ngành hoạt động kinh tế, văn hóa. Chế độ ta vẫn chưa hết những kẻ xấu nhưng điều rất rõ ràng là hàng ngày trong lao động sản xuất, trong đời sống, ở đâu chị em cũng có cả một tập thể thương yêu giúp đỡ mình trên tinh thần bạn bè, đồng chí. Đảng và Chính phủ ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ được làm việc thuận lợi hơn như ban hành các chế độ phúc lợi về sinh đẻ, về nuôi con…Chính nhờ có chế độ tốt đẹp như thế mà hàng triệu phụ nữ chúng ta không ngừng lớn lên. Nhiều chị em đã trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua và lập được thành tích xuất sắc.

          Nhưng “Vào đời” đã lật ngược tất cả mọi thực tế của xã hội ta. Hà Minh Tuân đã phủ nhận bản chất tốt đẹp của xã hội ta và sáng tạo ra Sen đã sống trong một xã hội mà “ma đưa lối quỷ dẫn đường”, ngẫu nhiên trở thành người tốt. Chúng tôi không hiểu được tại sao Sen có thể trở thành một chiến sĩ thi đua? Chúng tôi không biết phải học gì ở con người phụ nữ mà từ đầu đến cuối tỏ ra rất nhu nhược, yếu hèn, thụ động, không có một chút cương nghị. Thái độ của cô rất mập mờ và đời cô gặp tuyền những chuyện éo le, cô luôn luôn là con người của định mệnh ly kỳ. Dứt khoát là nếu ở miền Bắc không có chế độ XHCN tốt đẹp thì phụ nữ chúng ta không thể trưởng thành được như ngày nay.

          Tác giả tỏ ra hết sức thương hại Sen vào đời phải lao động vất vả và tả lao động với hình thù của một con quỷ hung ác rắp tâm muốn giết chết Sen.

          Không. Với quan điểm của giai cấp vô sản và trong lịch sử của xã hội loài người thì lao động không phải là con đường dẫn đến chết chóc mà là con đường đưa đến cuộc sống xán lạn, sung sướng cho loài người. Đối với phụ nữ, lao động là con đường mang đến cho họ phẩm giá con người, sự tiến bộ, hạnh phúc. Nó mở đường cho giải phóng phụ nữ. Chỉ có giai cấp tư sản ăn bám và bóc lột sức lao động của nhân dân đau khổ mới khinh miệt và xa lánh lao động. Cho nên thái độ chúng ta không thể có cái kiểu giả vờ thương hại, mơn trớn chị em tiểu tư sản như vậy. Đó chỉ là phờ phỉnh và lừa gạt, rất nguy hại cho cuộc đời và tương lai họ. Chúng ta phải động viên khuyến khích họ dũng cảm xông vào lao động sản xuất dù có khó khăn gian khổ. Đó cũng là sự biểu thị lòng yêu nước tha thiết của người phụ nữ Việt Nam.

          Một điều nữa là vấn đề phụ nữ không phải là vấn đề giới tính chung chung mà nó là vấn đề gắn liền với giai cấp, với dân tộc. Cho nên nói phụ nữ thì phải biết cụ thể người phụ nữ ấy thuộc tầng lớp giai cấp nào thì mới hiểu được những ý nghĩ và việc làm của họ. Không thể có một thứ giới tính chung chung thoát ly giai cấp mà Hà Minh Tuân đã quan niệm khi giới thiệu mụ chủ cô đầu tán thưởng nhân sinh quan phản động của Mai: “Mụ tuy hồi địch tạm chiếm đã từng là chủ cô đầu nhưng vẫn giữ được ít nhiều giới tính”.  Cái giới tính của mụ chủ cô đầu đã từng sống bằng nghề bóc lột tàn nhẫn và bỉ ổi đó thì phụ họa rất tài tình quan điểm về phụ nữ của tên Mai: “đàn ông ối người chỉ thích làm con bướm liệng vành chơi nhởn hút hết nhị hoa này lại hút đến nhị hoa kia. Nhưng đến tuổi nào đó ai người ta cũng nghĩ đến thành lập gia đình, lấy nuôi con đẻ cái làm vui, mong nhờ vả trong lúc tuổi già”. Quan điểm đó chẳng qua cũng là thứ quan điểm cho phụ nữ là một món đồ chơi, là một cái máy đẻ. Chúng ta không thể đặt vấn đề phụ nữ là vấn đề giới tính xóa nhòa ranh giới giai cấp. Làm sao con mụ Lệ Xuân thâm độc giết người của giai cấp phong kiến tư sản mại bản lại có thể có lòng yêu nước và căm thù đế quốc Mỹ như người phụ nữ nông dân miền Nam bị bắt giam trong ấp chiến lược?! Ngày nay chúng ta không có một sự lẫn lộn nào khác, chúng ta không để cho bọn đế quốc tư bản đánh lừa, mơn trớn rằng: “Phụ nữ không nên làn chính trị mà chăm lo việc gia đình chồng con, sửa sang nhà cửa là đủ, là tốt lắm rồi”. Chính đó cũng là quan điểm của Sen với tên Hiếu, người chồng dù đã trở thành kẻ phá hoại cách mạng nhưng vẫn một lòng vị tha và yêu thương nó.

          Quan điểm tư tưởng của cuốn “Vào đời” là nguy hiểm, là phản động như vậy. Chúng tôi rất tiếc là trong thực tế sinh động, phong phú của hàng triệu phụ nữ đã và đang vào đời dũng cảm lao động sản xuất, dù gian khổ khó khăn mấy vẫn hăng say và nhiệt tình mà Hà Minh Tuân không chọn được một góc nhỏ để phản ánh, lại đi xếp đặt một câu chuyện trinh thám kiếm hiệp, éo le ly kỳ về cô Sen. Chúng tôi tha thiết mong rằng các bạn cầm bút nên đắn đo suy nghĩ hơn nữa về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với Cách mạng.

LÊ ĐOAN

Nguồn:Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, s.119 (tháng 8/1963), tr.22-23.

                              

Bàn thêm với tác giả cuốn “Vào đời”: Sai lầm của Hà Minh Tuân chủ yếu là sai lầm về quan điểm

27/7/1963. Báo “Lao động”:

Trần Dũng Tiến: Bàn thêm với tác giả cuốn “Vào đời”: Sai lầm của Hà Minh Tuân chủ yếu là sai lầm về quan điểm

       Theo ý kiến tôi, để thấy rõ được sai lầm và tác hại của cuốn sách này, trước hết phải nghiên cứu những vấn đề mà cuốn sách đề cập đến, so sánh với thực tế, đối chiếu với quan điểm của Đảng. Bởi vì, qua cuốn “Vào đời”, ai cũng nhận ra rằng Hà Minh Tuân không chỉ bóp méo và xuyên tạc một vài chính sách, mà đề cập tới hàng loạt vấn đề có tính chất nguyên tắc.

          Quan điểm của tác giả cuốn “Vào đời” là quan điểm ngược lại chẳng những trong việc xem xét thực tế, biểu hiện thực tế, mà còn nhằm uốn nắn lại thực tế theo ý muốn chủ quan của mình.

          Để làm sáng tỏ ý kiến trên, ta chỉ cần lược lại những chi tiết chính của cuốn sách từ lúc Sen bỏ nhà đi đến lúc Hiếu, chồng cô, bị bắt, cô còn ở lại một mình với danh hiệu “chiến sĩ thi đua”; ta chỉ cần chú ý tới cuộc đời và những sự kiện, những tính cách của hai nhân vật: Sen và Hiếu, được tác giả để nhiều tâm lực và nhiệt tình xây dựng nhất. Chính là qua cuộc đời và tình cảm của họ, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề rắc rối nhất. Và cố nhiên là qua họ, anh Hà Minh Tuân cũng mắc nhiều sai lầm nhất.

          Sen thì ngoài cái cố gắng yếu ớt để thoát khỏi cái “tiền oan nghiệp chướng”, để tỏ ra là một cô gái hiểu lẽ phải, phấn đấu vì lẽ phải, còn lại cái gì? Cô được là “chiến sĩ thi đua” (?) và cô mất: cha mẹ, trinh bạch, con, và cuối cùng là cả chồng!

          Hàng loạt “số phận” đã được đặt vào trong tác phẩm. Và từ đó Hà Minh Tuân đề cập tới hàng loạt vấn đề. Trước hết Hà Minh Tuân đã chặn một bưc tường xám xịt trước tiền đồ rộng lớn của lứa tuổi thanh niên như Sen. “Vào đời” gây hoang mang, gây khiếp sợ và làm nản lòng họ, gây nên những mối nghi ngại cho cha mẹ họ. “Vào đời” đã quét hắc ín vào truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, vào vai trò và sự đóng góp to lớn của bộ đội phục viên trong công cuộc xây dựng CNXH. “Vào đời” bôi bác chính sách phục viên. “Vào đời” nhói vào những sai lầm cải cách ruộng đất. “Vào đời” xuyên tạc sự săn sóc, trông nom của Đảng ta đối với đời sống và hạnh phúc riêng của công nhân. Hà Minh Tuân bôi bác lớp trẻ và bộ đội chuyển ngành là hai nguồn cung cấp lao động nhiều nhất cho công nghiệp nước ta và cho sự phát triển của giai cấp công nhân ta. “Vào đời” phê phán một cách vô tội vạ mậu dịch, hằn học nhìn những người công an gây dựng nếp sống văn minh cho nhân dân ta. “Vào đời” đả vào chính sách quản lý xí nghiệp, bỡn cợt đả kích báo chí. “Vào đời” tỏ ra không tán thành quan điểm và cách chống tham ô, lãng phí, quan liêu mà Đảng đã và đang tiến hành.

          Tóm lại, qua “Vào đời” Hà Minh Tuân đưa ra một bức tranh xám ngoét về xã hội ta, phơi bày một cách lộ liễu những quan điểm xa lạ của một văn nghệ sĩ khi nhìn vào xã hội tốt đẹp đáng yêu, đáng quý, đáng trân trọng của ta. Hà Minh Tuân viết như thế để làm gì, nếu không phải để chỉ trích và nhằm xét lại những chính sách lớn của Đảng?

          Thực tình tôi rất bực khi thấy có ý kiến cho rằng: hình như Hà Minh Tuân định viết với ý thức tốt, nhưng vì không vững tay cho nên hóa ra sai lầm! Tôi cũng không đồng tình khi thấy có người còn nói rằng: Hà Minh Tuân viết cẩn thận, bên cạnh mặt tiêu cực có ngay mặt tích cực đi kèm; hình như nói thế để thanh minh rằng Hà Minh Tuân không viết với dụng ý xấu. Tôi cũng không tán thành ý kiến cho rằng: Sai lầm của Hà Minh Tuân là do cách nhìn, vì khong muốn chuyện giản đơn nên viết lắt léo, làm cho chuyện ly kỳ để hấp dẫn người đọc, v.v. Theo ý tôi, giải thích như trên, dù giải thích xen kẽ vào những lời phê phán nghiêm khắc, là chưa thấy hết được tác hại của cuốn sách, chưa chỉ thẳng ra điều sai lầm cơ bản nhất của cuốn “Vào đời”. Một tác phẩm ra đời trước tiên là thể hiện tấm lòng, tình cảm, lòng yêu ghét các vấn đề khác nhau của cuộc đời mà tác giả đang sống. Cố nhiên nó cũng thể hiện cách nhìn, vốn sống của tác giả. Tài nhiều, tài ít, vốn nhiều, vốn ít, quyết định giá trị cao thấp của tác phẩm; nhưng điều đáng chú ý là tác phẩm nhạt nhẽo và tác phẩm xấu hoàn toàn khác nhau về căn bản. Hà Minh Tuân phải được coi là một nhà văn có ý thức với công việc mình làm.

          Từ quan điểm trên, tôi góp thêm ý kiến với Hà Minh Tuân. Thực tình, với “Vào đời”, Hà Minh Tuân đã gieo vào lòng tôi một mối ngờ vực rất lớn. Tôi hiểu rằng Hà Minh Tuân biết rõ tình hình xã hội ta, ngay cả những lúc khó khăn nhất, cũng không đen tối như tác phẩm của anh. Tôi tự hỏi, tại sao anh lại chỉ nhìn thấy những hiện tượng tiêu cực, rời rạc, và từ đó dựng lên một cuốn sách “hoàn chỉnh” hầu như không thiếu hiện tượng xấu nào? Tôi hoàn toàn tin rằng Hà Minh Tuân biết không ít những câu chuyện cảm động về tinh thần dũng cảm, hy sinh của anh chị em thanh niên công nhân mà đại biểu của họ là những anh hùng Phùng Văn Bằng, Trần Văn Giao, v.v.; chắc hẳn Hà Minh Tuân biết rất rõ rằng lớp công nhân trẻ hiện nay bước vào đời dễ dàng và lạc quan như thế nào. Có thể nói: trong lịch sử đất nước ta, chưa hề có giai đoạn nào đủ điều kiện như hiện nay để thanh niên thực hiện ước mơ và hoài bão của mình. Họ đang làm việc, học tập và sống trong hạnh phúc. Xã hội, mà trước hết là Đảng, luôn luôn săn sóc họ, giúp đỡ họ trong công tác, trong hạnh phúc riêng; săn sóc cả đến từng cái nôi cho các cháu nhỏ. Hà Minh Tuân chắc không lạ gì những điều đó. Hà Minh Tuân chắc chắn biết cần phải ca ngợi họ, bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp cho họ như thế nào để không phải là buộc đá vào chân họ mà là chắp cánh cho họ, giúp họ vững bước đi lên.

          Nhưng tại sao, vấn đề là ở chỗ này, tại sao anh lại say sưa gieo vào cuộc đời Sen nhiều cảnh ngộ éo le, nhiều nỗi cay cực giả tạo đến thế? Anh viết thế để “chuẩn bị tư tưởng” cho lớp thanh niên bước vào đời chăng? Bây giờ, bình tĩnh lại, Hà Minh Tuân có thể so sánh nhân vật Sen với những nhân vật của những cuốn tiểu thuyết rẻ tiền cũ, anh sẽ thấy ngay rằng: nếu bỏ những câu thuyết lý ra, bỏ danh hiệu “chiến sĩ thi đua” đi, thì Sen còn lại cái gì? : bỏ nhà, bỏ cha bỏ mẹ, bị hiếp dâm, đau khổ triền miên (!) Quá rõ ràng là tác giả cuốn “Vào đời” đã bày đặt ra những thảm khốc buộc nhân vật của mình phải vượt qua để chỉ làm nhụt chí khí của họ, vùi dập những hoài bão của họ, gây cho họ những nỗi đắn đo hoang mang, chứ tuyệt nhiên không ca ngợi gì họ, không giúp ích gì cho họ khi họ đang cần rèn giũa: sống và làm việc theo gương những người cộng sản. Quan điểm đó trái ngược với quan điểm và phương pháp giáo dục của Đảng ta, của Đoàn thanh niên, của công đoàn đối với thế hệ trẻ.

          Tôi cũng khó chịu và bất bình về dụng ý của anh Hà Minh Tuân khi bịa ra kiểu người như Hiếu với những tính cách: hảo hán, bất mãn, ghen tuông, dễ bị lừa gạt, liều lĩnh, hằn học và chống đối. Vấn đề không phải chỉ ở chỗ: tại sao lại có thể có một đại đội trưởng sa ngã như Hiếu, mà là: tại sao Hà Minh Tuân lại thích thú xây dựng Hiếu bằng những sự kiện và tính cách như thế. Anh muốn phát hiện ra những điều có thể xảy đến của một tâm hồn u uất và tù túng để giúp lãnh đạo chăng? Hay là anh muốn kích thích những nỗi u uất đi đến chống đối trong lòng những con người có hoàn cảnh như Hiếu? Buông cuốn “Vào đời” xuống, tôi có cảm giác rằng: Hà Minh Tuân muốn làm cố vấn cho nhân vật của mình, có lúc lại chạy theo những tư tưởng chống đối của nhân vật, và mặc dù cuốn truyện “thủ tiêu” nhân vật của mình đi bằng cách để Hiếu bị bắt, thì vẫn toát ra sự nhân nhượng và nâng niu tính cách phản bội của nhân vật (!). Một nhà văn có thể dựng lên nhân vật này hay nhân vật kia, điều đó không ai bắt bẻ. Nhưng vấn đề là ở chỗ: dựng nhân vật đó lên để làm gì? Tác giả muốn đề cập đến vấn đề gì xuyên qua cuộc đời và tính cách của nhân vật đó? Tôi nghĩ rằng, Hà Minh Tuân không chạy theo những chi tiết ly kỳ để hấp dẫn người đọc. Vì nói thế thì không cắt nghĩa được tại sao anh lại chọn những chi tiết: đánh lãnh đạo, biểu tình, viết khẩu hiệu, đả kích cải cách ruộng đất, mà không chọn những chi tiết khác. Tại sao nhân vật của anh lại là cô Sen, một cô gái trong trắng, Hiếu, một đại đội trưởng có công lao chứ không phải những người khác? Đó là chưa kể tới những chi tiết hoàn toàn không dính dáng gì tới nội dung của cuốn sách như là: vô cớ đả kích báo chí, vô lý công kích mậu dịch, phê phán công an, v.v. Qua nhân vật, Hà Minh Tuân đã gửi gắm tâm tư và bực dọc của mình.

          Cho nên, dẫn ra hai nhân vật trên, tôi nghĩ rằng để phê phán nghiêm khắc cuốn sách tai hại này, phải vạch ra những quan điểm chống đối đầy rẫy từ đầu đến cuối cuốn sách. Hà Minh Tuân đã thiếu thiện chí khi nhìn cuộc đời. Cuộc sống tốt đẹp không lọt nổi vào mắt anh. Người ta dựng nhà, dựng không phải là ít nhà cho công nhân, đưa những cặp vợ chồng trẻ vào những căn phòng sáng sủa thì anh cho nhân vật dẫn nhau “mò mẫm trong đêm” (!) Công nhân và cán bộ đồng tâm nhất trí với nhau, dìu dắt nhau ra sức khắc phục những khó khăn đang cản bước chân họ để xây dựng đất nước, để thống nhất đất nước, thì anh tạo nên những chống đối và biểu tình, tạo nên sự đối địch trong nội bộ. Đáng lẽ cần ca ngợi truyền thống tốt đẹp của bộ đội thì, trừ Trần Lưu có một số nét tích cực cứng đờ ra, tất cả các nhân vật bộ đội trong “Vào đời” đều là những tên đầu trâu mặt ngựa. Người ta nói đến nỗi khổ của công nhân xưa bằng những hình ảnh bị áp bức bóc lột tàn nhẫn và do đó có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng, thì Hà Minh Tuân dựng lên hình ảnh một người bí thư chi bộ trước kia “ở cho Tây đã húp trộm phở của chó”.

          Đây không còn là vấn đề có nên viết mặt tiêu cực của xã hội nữa không, mà hoàn toàn là vấn đề tấm lòng thiết tha, yêu thương và trân trọng đối với xã hội của mình, đối với giai cấp công nhân. Viết mặt tiêu cực để khắc phục nó hoàn toàn khác với bêu xấu. “Vào đời” là cuốn sách bêu xấu, xuyên tạc cái môi trường mà Hà Minh Tuân cho diễn ra những bi kịch trên kia. Tôi góp ý kiến phê bình anh Hà Minh Tuân và các đồng chí biên tập đã duyệt cho in cuốn sách tai hại này.

TRẦN DŨNG TIẾN

Nguồn:Lao động, Hà Nội, s. 1242 (27.7.1963), tr.3.