Trang chủ » Posts tagged 'Lời khuyên học trò'

Tag Archives: Lời khuyên học trò

MỘT NHÀ VĂN SỞ TRƯỜNG NHẤT VỀ LỐI CẢNH THẾ TIỂU THUYẾT: CỤ NGUYỄN BÁ HỌC

Nhà văn sĩ Pháp Pierre Loti có nói:  Tôi không hề làm sách bao giờ; chỉ có một đôi khi trí tôi thấy băn khoăn về một sự gì, lòng tôi thấy đau đớn vì một nỗi gì thì tôi mới cầm bút viết, mà như thế trong sách tôi thường hay nói về tôi nhiều quá”.

(Je n’ ai jamais composé un livre, moi, je n’ ai jamais écrit que quand  j’ avais l’ esprit  hanté d’ un chose, le cœur serré  d’ une suffrance  et il y a toujours beaucoup trop de moi-même dans mes livre)

 

Thì chính cụ NGUYỄN BÁ HỌC cũng có làm sách bao giờ; cụ có viết ra chăng nữa cũng là trăm đắng nghìn cay vì cái buổi đạo đức suy đồi, người đời hư hỏng nên mới đành phải cầm đến bút viết, mượn văn chương để mong duy trì lại nền phong hóa cho vững vàng. Than ôi, cái văn chương của cụ thực là cái máy động để truyền đạo lý, chính nhân tâm, sửa phong tục, cứu nước nhà; như thế mà tiếc thay, mãi đến lúc vãn niên cụ mới chịu đem ra vấn thế.

 

Cụ người thôn Giáp Nhất, xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông; sinh năm Đinh Tỵ, Tự Đức thứ mười (1857), vốn nhà nghiệp nho, lại nhờ về gia đình giáo dục nên cụ rất thâm thúy Hán học. Sau nhân lúc chính phủ Bảo hộ cưỡng bách học trò ta theo học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, cụ cũng ra học chữ Quốc ngữ, mới được một tháng đã thi trúng tuyển, được bổ giáo học Sơn Tây. Được vài năm cụ đổi về dạy trường Yên Phụ, Hà Nội; rồi xuống dạy ở Nam Định đến hơn 20 năm. Lúc dạy học, về nhà nghỉ, cụ lại tự khảo cứu học lấy Pháp văn, sau cũng rất là uyên bác.

 

Tính cụ điềm đạm trầm mặc, thường ham suy xét nghĩ ngợi, thật là một nhà mô phạm đạo đức, túc học lão thành. Lúc về hưu trí, cụ dạy bảo con em trong nhà, có soạn một tập những Lời khuyên học trò. Ông Phạm Quỳnh một hôm xuống thăm cụ ở nhà số 108 Hàng Rượu, Nam Định, nhân được xem, đọc hết một lượt mới biết, tuy nhan đề nhỏ mọn mà gồm đủ được cái tâm thuật ở đời, bèn trân trọng xin đem về đăng lên báo Nam Phong. Từ đấy cụ thường thường gửi cho Nam Phong những bài cụ đã dịch hoặc đã soạn ra; nhưng hay nhất và giá trị nhất là mấy bài đoản thiên tiểu thuyết, bài nào văn thể cũng bình thường dễ hiểu mà đều ngụ một cái ý răn đời hết cả.

 

Câu chuyện gia đìnhcủa cụ thực toàn là những nhời bàn bạc về giáo dục, tư tưởng cao xa. Bài này ông Phan Khôi có dịch ra chữ nho cũng lại đăng ở Nam Phong số 13, để cho mọi người đều được đọc những lời thâm trầm thiết thực của cụ.

 

Đến bài Truyện ông lý Chắmlà một bài hương tình tiểu thuyết mà Văn Học Tạp Chí số 15 vừa đây có trích đăng vào mục  “Văn tuyển chú giải”; ngụ ý cũng là để răn đời cả.

 

Lại trong Câu chuyện nhà sư  toàn là những lời sám hối của một thầy phán kia chơi bời quá đỗi, say mê vì bả nguyệt hoa đến nỗi đánh vợ đau mà chết, bỏ con uất mà đi.

Một gia đình đang êm ấm, bỗng tan hoang mà cô Ba là người nhân tình đằm thắm của chàng cũng bòn của tếch thẳng. Bấy giờ mới biết “chính mình đã phạm một cái tội rất lớn là tội giết người, biết Lý Cô đã chịu đau đớn mà chết, biết cái lòng tham dục nó đã đưa dắt mình vào những đường tội lỗi, biết nhân tình thế lợi chẳng qua là một chuyện chiêm bao; bấy giờ trong óc tưởng không sao mà chứa cho hết những điều hối hận. Thôi, mình đã vị một người rất xấu xa rất hèn hạ, mà phụ với một người đáng quý hóa đáng ơn nghĩa, còn mặt mũi nào đối với mọi người? Lý Cô có biết cũng tha thứ cho chăng? Đa mang phóng túng cũng là cái thông bệnh của đàn ông, cái tội ngộ phạm của người nóng, cũng như của người điên, hoặc có thể nguyên tình mà khoan giảm. Tuy nhiên cái lương tâm nó càng nghiêm ngặt, nó bắt nhớ lấy cái tội đến rửa cũng không phai, mài cũng không sạch”.

 

Thầy phán cải quá mới bỏ hết mọi sự ái luyến ở đời, quy y đầu Phật, đội đức từ bi, mở đường tế độ, mong sau này lại gặp bạn cũ cùng về chính giác.

Ấy đại để là lời nhà sư đem chuyện mình kể lại như thế để làm gương cho thiên hạ.

 

Bài Dư sinh lịch hiểm ký là lời tự thuật của một người dở dang về học giới, cũng toàn là những lời khuyên răn đích đáng cả. Chẳng qua răn đời bằng những giọng nghiêm trang mà thâm thúy đã nhiều rồi nên nhà mô phạm đứng đắn ấy muốn mượn tiểu thuyết để thay đổi giọng văn cho bớt vẻ sương nghiêm cổ kính đấy thôi.

 

Trong Chuyện cô chiêu Nhì cụ mở đầu ngay bằng một đoạn tâm lý:

“Cổ nhân có cảnh ngôn rằng  “Con nhà giàu hay xa xỉ, con nhà sang hay kiêu căng”, thật như vậy. Nhà giàu ăn tất cao lương, mặc tất gấm vóc, ở tất lâu đài, đi tất xe ngựa, thị dục càng ngày càng nhiều, dụng đồ càng ngày càng rộng, như thế muốn cho con em có thói cần kiệm làm sao được. Thực chưa hề có dạy con xa xỉ, mà xa xỉ thành ra cái thói quen. Nhà sang gọi có người dạ, bảo có người vâng, nói dở không ai dám chê, làm dở không ai dám bẻ, như thế mà muốn cho con em có thói khiêm nhường làm sao được. Thực không hề dạy con kiêu căng, mà kiêu căng đã thành ra cái thiên tính.

Than ôi! Xa xỉ tất là bại gia, kiêu căng tất là bại đức. Vậy giàu sang là cái hạnh phúc hiện thời, biết đâu không phải là cái di hoạn cho con cháu!

Cổ nhân có câu rằng: Phú quý bất dâm, bần tiện lạc;

   Nam nhi đáo thử thị hào hùng.

(Giàu sang không đắm, nghèo hèn vẫn vui, tài trai đến thế mới là hào hùng)

Người không hào hùng mà phú quý chẳng cũng nguy lắm ru? Cho nên giáo dục ở trong nhà phú quý thời khó”.

 

Thực vậy, chuyện cô chiêu Nhì đã chứng giải một cách rõ ràng. Cô Chiêu, thuở bé sinh trưởng trong nhà danh vọng nên quen thói đài các, tập tính xa hoa, mới 14 – 15 đã biết vuốt ve làm dáng, hộp son bình phấn, trang sức róng rẩy, nay chán thứ đồ mặc này, mai sắm thứ thời trang khác, cực kỳ xa xỉ, hết sức chua ngoa; không hội hè đình đám nào cô không đi xem, không ngõ liễu đường hoa nào cô không dạo, nên hóa ra hư thân mất nết, kết cục phải đuổi ra khỏi nhà, lang thang hành khất, gửi thân với một tên phu điếm trong làng. Dưới đây là một đoạn văn kể cái bước khốn cùng của cô sau khi đọa lạc:

[báo mất liền 2 trang 484-485]

 

Lúc cụ sắp nhắm mắt, đặt mình vào giấc ngủ ngàn năm, cụ còn tỉnh táo mà nói chuyện rằng:

“… Mấy tháng nay có bệnh, nằm không vô sự, có nghĩ một bài đoản thiên tiểu thuyết chưa viết ra, nhưng trong bụng tôi nghĩ đã gần xong, muốn bỏ quên đi để cho đỡ nghĩ mà không thể quên được, hễ lúc nào vắng người thời cái lý tưởng viển vông ấy hình như vẫn vẩn vơ trong giấc mộng…”

 

Xem thế, cụ há chẳng hết lòng với quốc dân, với tiểu thuyết sao?

Ôi! đương lúc sóng giao thời đang vỗ mạnh, nền thế đạo đã sắp lung lay mà một người có tài có đức như cụ khuất đi, những người đã từng đọc văn cụ, ai chả ngậm ngùi thương tiếc; người đã được gần cụ mà cảm cái nhân cách thanh cao của cụ thì lòng thương tiếc lại thêm đau đớn sâu xa, đau cho cái buổi thói đời đơn bạc, cho cái lúc tiểu thuyết bắt đầu mới thịnh hành.

Tràng Kiều LÊ TÀI PHÚNG

NguồnVăn Học Tạp Chí, Hà Nội, s. 17 (1.5.1933), tr. 480-486.