Trang chủ » 2014 » Tháng Năm

Monthly Archives: Tháng Năm 2014

THỨC TỈNH ĐỒNG BÀO QUỐC DÂN TA NÊN ĐI CON ĐƯỜNG NÀO

(bài dùng toàn lời tục ngữ)

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

          Anh em ơi! Anh em ơi!

Xoay vần cuộc thế, khép mở cơ trời,

Nghĩ cho hết lẽ, khôn mới ăn người.

 

 

Sóng cạnh tranh lai láng dưới hoàn cầu; người muốn nọ, kẻ muốn kia, không ai giống đâu, sống một nết chết một tật… đường giao thiệp mở mang trên đại lục; khôn cũng nhiều, dại cũng lắm, trông đó thì biết, người ba đấng của ba loài.

Giống nòi chia sắc vàng sắc trắng sắc đỏ sắc đen, con vua vua dấu, con chúa chúa yêu, ai nấy cũng là chung bụng nghĩ; công việc đủ, nghề học, nghề cày, nghề buôn, nghề thợ, của anh anh may, của nàng nàng xách, ngồi không há chịu để tay quai.

Mật ít mồi nhiều, nghĩ người ta đang ra sức đua tranh, khéo đâu đất bỏ hoang, của sẵn mang dâng, cây đổ còn toan đào đứt gốc; quýt làm cam chịu, tại kẻ trước hóa bây giờ vất vả, may thay trời mở lối, cơn mê chợt tỉnh, rượu ngon nay đã nếm qua mùi.

Bụng nghĩ hay việc làm mới hay, nhất sinh thần đừng giữ mãi thói si, lừ khừ như ông từ vào đền, trông chiều dễ ngán; khi trước khác bây giờ lại khác, lối ăn mặc đừng theo như lối hủ, lượt thượt như lễ sinh mất vợ, ngó bộ buồn cười.

Chẳng thầy sao mày làm nên, kìa cao đẳng, kìa giáo sư, học hành một bụng khuyên răn, sao cho sáng suốt; có tiền mua tiên cũng được, nào trung châu, nào biên tỉnh, việc bán buôn trăm đường mở rộng, chớ ngại xa xuôi.

Thợ may ăn giẻ thợ vẽ ăn hồ, sao bằng người giữ bụng tin ngay, lợi lớn là hơn, của nhặt thấm chi đồ tẹp nhẹp; đi giác sắm bầu đi câu sắm giỏ, huống chi sự học nghề chế tạo, đồ làm phải đủ, tay không chưa dễ tỏ mười mươi.

Nói chuyện sinh nhai, bậc làm trên trước phải dè dùng, chồng ăn chả vợ ăn nem, kẻ dưới tội chi không phí phá; xem trong đoàn thể, buổi mới cốt cho chung bụng, ông nói gà bà nói vịt, việc chi thì cứ để lai nhai.

Có khôn thì có vẽ cho nhau, chớ nghĩ rằng ta dối, mà rước ma cũ nạt ma mới; muốn hay phải giữ cho trọn, đừng chơi những kẻ hư mà dỡ lợn lành chữa lợn toi.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, mấy nghìn năm đức Thuấn ân Nghiêu, mang nặng trên vai, báo đáp sao cho bền được nguyện; có bột mới gột nên hồ, ba vạn quyển rừng Âu bể Á, in sâu trong não, văn minh rồi mới dựng ra tài.

Đạo tri giao cốt phải chọn người, gần mực thì đen gần đèn thì sáng; đường cư xử sao cho biết lối, ở bầu thì tròn ở ống thì dài.

Có chồng như rồng có vây, trăm năm trọn đạo xướng tùy, án ngọc ngang mày, lẽ phải giữ thường ai chẳng nể; con có cha như nhà có nóc, một mực chăm bề hiếu dưỡng, vẽ ban quanh gối, lòng trên trông xuống cũng quên vui.

Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo, dám khuyên ai biết nghĩ biết lo, đứng lại vững chân thì hẳn được; đương đi đường quang bước quàng đường rậm, kìa những kẻ vẽ khôn vẽ khéo, làm ra lỡ bước sợ không rời.

Đói cho sạch rách cho thơm, há như ai đục nước béo cò, chẳng nghĩ con cái mình, nặng tay rìu búa; ăn có nhai nói có nghĩ, chớ toan sự mù trời bắt két, gặp khi thời vận thế, lên mặt cân đai.

Bước công danh vui lắm cũng lo nhiều, trong lưng đã chắc hơn ai, đơm đó ngọn tre, đừng háo hức chi nghề kiếm cá; đường danh lợi vinh kia thì nhục đó, có miếng thì mang lấy tiếng, múa tay trong bị, có mê man chi sự ăn xôi.

Thẩm đến ai vạch lá tìm sâu, được lòng đất mất lòng đò, nghĩ sao cho phải; hay chỉ rán sành ra mỡ, buộc cổ mèo treo cổ chó, đến thế thì thôi.

Xanh vỏ đỏ lòng, chẳng nghĩ chi áo chúa cơm vua, ở chùa đốt chùa, kể nghĩa lý đâu đồ láo lắc; chôn rau cắt rốn, ai chẳng có đất cha quê tổ, ngồi thúng cất thúng, có thủy chung là kẻ hẳn hoi.

Một cột làm chẳng nên rừng, phải đùm nhau cho nên việc tốt tươi, ăn cây nào rào cây nấy; hai thưng cũng vào một đấu, hễ biết sợ chi cơn túng bấn, ăn bữa hôm lo bữa mai.

Lối dụng tài đà bỏ hết hư khoa, thôi những anh hay thi hay phú, hay kinh nghĩa, hay sách văn, đứt đuôi nòng nọc; đường tiến hóa cốt tìm ra thực hiện, kìa những kẻ nào mũ nào giày, nào ba-toong, nào ô máy, tốt mã giẻ cùi.

Dậu đổ bìm leo, cũng tại mình còn trách chi ai, mơ màng thác ngủ sống say, gương hủ tục đã treo áp mặt; tre già măng mọc, lẫn hơn trước còn mong ở lại, hăm hở tìm khôn học khéo, chuông tự do rày đã đánh vang tai.

Nghĩ cho xa sự thế cũng buồn cười, có khác chi đâu, tò vò nuôi con nhện; đứng chưa vững sức, mình còn phải nhón, chớ vội rằng được, châu chấu đá ông voi.

Bao giờ to lớn hẵng hay, mèo nhỏ bắt chuột con, sức ấy xem ra đừng có gượng; … mấy kẻ ngọt ngon chưa vững, tiền thực mua của giả, sự kia xét kỹ kẻo mà sai.

Giàu làm kép hẹp làm đơn, cơ cực dường nào liệu thế đắn đo là kẻ phải; nhặt che mưa thưa che gió, phong trần gội ấy, ra tay xoay sửa đáng tài trai.

Chớ như ai há miêng chờ ho, có cây có trồng, có trồng có ăn, ra sức sửa sang, nền hưng vượng có khi xây vững móng; suy ra mới biết, đứt tay hay thuốc, học ăn học nói, học gói học mở, nhanh chân mau bước, bể trầm luân cũng vượt qua vời.

Thấy ai mà ngay thực mới nên tin, đi ra hỏi già về nhà hỏi trẻ; nghĩ mình có u mê chi chẳng biết, miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời.

Việc hồi thiên há một chốc xong ngay, bụng nghĩ cho sâu, đừng láo nháo như cháo với cơm, sợ khi nát bét; lòng ái quốc dẫu trăm năm ghi đó, tay cầm cho vững, kẻo lanh chanh như hành không muối, chưa dễ ăn ai.

Xin đừng giương mắt trông nhau, lắm sãi không ai đóng cửa chùa, phong hội ấy nước non này, cũng phải lo toan cho hết sức; thôi đừng già mồm nói khoác, mười voi không được một bát xáo, chí khí to công việc lớn, sao cho chắc chắn được như lời.

Đất Viêm Bang tuy dâu bể lắm phen, đông có mây tây có sao, muôn sức phù trì, gặp lúc mở mang ra cũng dễ; giống Hồng Lạc cùng anh em một họ, sống ở làng sang ở nước, mấy câu gắn bó, khuyên ai thong thả nghĩ mà coi.

 

Nguồn:Tuần báo Cười, Huế, s. 4 (thứ sáu, 18 Mars 1938), tr. 2.

 

 

ĐÔI BẠN GIANG HỒ

PHAN BỘI CHÂU

          Tôi vẫn là một tay giang hồ trót ba mươi năm hơn, chân trời góc bể, đuôi Sở đầu Ngô, kể trong lịch sử giang hồ, chẳng ai hơn ký giả nữa, mà những người bạn quen với tôi, hoặc ở nước nhà, hoặc ở nước ngoài, cũng chỉ là khách giang hồ với khách giang hồ đụng chạm nhau. Quái lạ thật, tiếp xúc chẳng phải là chẳng đông, dấu chân đi chẳng phải là chẳng rộng, mà rút lại chỉ vừa cung một trận cười cho thế gian.

Nay được về nước vừa mười một năm, nấp nép ở chốn thần kinh, lửng lơ cùng con tạo hóa, mà cái kiếp cười vẫn chưa xong, chẳng những thiên hạ cười tôi mà tôi cũng còn tự cười tôi nữa.

Tháng Mười năm Tây lịch 1937, báo Cười vừa ra đời. Tốt quá, tốt quá! Trời đã đúc cho ta cái miệng cười, thần tạo vật đã phú cho ta cái quyền cười, gặp nhịp vừa hay, e duyên cũng tốt, thời ta ôn lịch sử pho cười ta lại. Khổ vì, thân già não yếu, sức cười không gì được mạnh, giọng cười không gì được cao, mà lại gặp báo Cười đang cười may xưa, nếu muốn tiếng cười cho nở nang, nhịp cười cho rộn rực, tất phải tháng ngày chất chứa, chuyền sức chắp hơi, mới có thể cười nên cười, chứ lúc bây giờ như ký giả thiệt chưa thể cười có giá trị.

Khi tôi còn ở trong nước, vào năm Đinh Dậu, Thành Thái, /1897/ tôi bị tội hoài hiệp (đem sách ngoài vào trường thi), bộ đã kết án cho tôi chung thân bất đắc ứng thí. Luật nước ta hễ thí sinh đã phạm vào tội ấy chỉ hữu nhờ hoàng đế ân xá mới được thi lại. Ôi thôi! Một tên học trò xác hỏng thi đã năm khoa mà khoa nầy lại can án hoài hiệp. Tôi bức vì cha tôi là một người bất đắc chí ở khoa trường, nếu tôi chung thân không thi, thì có lẽ cha tôi phải chết tức; cùng kế, tôi phải đánh liều vào Kinh, cố làm sao cho tiếng lọt tai vua, may được hai chữ ân xá. Mà khổ quá, một tên học trò xác, lại là người can án, cửa vua muôn dặm, bệ ngọc chín lần, làm gì ba chữ Phan Bội Châu lọt tai vua được.

 

Hồi đó, Lễ bộ Thượng thư là cụ Nguyễn Phiên. Những công việc trường thi do bộ Lễ có quyền trần tấu; tôi muốn khất lai với cụ nhưng vì cụ địa vị quá cao, cụ lại là người xứ Bắc, tôi địa vị quá thấp mà lại là người xứ Nghệ. Tình với thế cách nhau xa quá. Sau tôi nghe được con cụ là Mai Sơn tiên sinh, chính là cụ Nguyễn Thượng Hiền, ái tài hiếu văn, và có hào khí, tiên sinh đã con quan Thượng, lại đã đỗ hoàng giáp, làm tu soạn ở Quốc sử quán. Nhân tiên sinh ra bài phú “Bái thạch vi huynh”, nghĩa là lạy hòn đá nhận làm anh, để trưng văn ở các văn giới; thấy đề mục, tôi đoán ông nầy không phải tầm thường. Đánh liều tôi cũng viết một bài đem nộp tiên sinh.

 

Mai Sơn tiên sinh đọc đến câu:

          Tam sinh điền hải chi tư

          Vị vong tương bá

          Nhất phiến bổ thiên chi lực,

          Hữu thị phùng quân

(Gan lấp bể chứa cầm từ kiếp trước / Nhờ bác giúp tay / Sức vá trời quá mỏng, giận thân tôi / Gặp anh hả dạ)

 

bỗng nhiên vỗ án cười to:

‒ Á, à! Hoài hiệp mà thế nầy à?

Thế rồi tiên sinh đưa tôi vào yết cụ Thượng.

Cụ Thượng hỏi Mai Sơn rằng:

‒ Con làm thế nào mà quen biết với anh nầy?

Tiên sinh mới đem bài phú tôi trình cụ Thượng xem.

Sự lạ là quan Thượng thư cũng thán thưởng lạ thường. Rồi ngài cười với tôi rằng:

‒ Ai ngờ anh hoài hiệp mà lại làm được bài phú ấy.

Sau ba ngày, cụ Thượng đòi tôi vào:

‒ Anh Châu ạ, án hoài hiệp của anh, ta đã tâu ngài ngự, ngài ngự đã phê án thứ. Thôi, anh cứ về lo học riết, khoa sau thi.

 

Tôi nguyên làm nghề gõ đầu trẻ, năm ấy bỏ nghề đã sáu tháng, sẵn nhịp ở Kinh, muốn tiếp giao các văn sĩ, mới lên trường Quốc tử giám xin với cụ Tế Khiếu. Cụ Khiếu thấy ba chữ Phan Bội Châu, thời biết ngay, vì tiếng hoài hiệp của tôi lúc đó vang động cả Kinh kỳ. Thấy tôi, cụ mỉm cười mà nói rằng:

‒ Sĩ nhi hoài, bất túc dĩ vi sĩ hĩ? (Anh không biết hay sao, còn toan học giám?)

Nguyên lai câu cụ Tế nói là một câu giảng nghĩa ở sách Luận Ngữ. Chữ “hoài” là “hoài cư”, vẫn không phải là “hoài hiệp”. Cụ chẳng qua mượn câu sách bỡn tôi. Kỳ thực thì trong ý cụ nói, hoài hiệp mà như tôi không phải tệ như hoài cư đâu. Tôi vào giám được cụ thương yêu rất mực. Khoa sau vừa năm Canh Tý /1900/, cụ ra chấm trường Nghệ, cụ lấy tôi đậu thủ khoa, thật là chấm tôi đậu từ trong miệng cười ấy.

 

Tôi nhân vì án hoài hiệp mà gặp được Mai Sơn. Cái duyên giang hồ của hai chúng tôi, cũng đốt lửa châm hương từ đó.

Cách bốn năm sau, Thành Thái Ất Tỵ /1905/, tôi xuất dương qua Nhật Bản, thời đến năm Bính Ngọ /1906/, cụ Mai Sơn cũng ra, xum nhau ở Nhật Bản. Đoạn rồi bị Nhật Bản phóng trục, tôi với cụ về Tàu, ở Thượng Hải.

 

Một ngày kia, vào khách sạn ăn cơm, vì bỏ nước lâu ngày nhớ đồ ăn ta lắm, cụ mới nói với tôi rằng:

Lấy nước mau mà ăn bánh cốm!

Cụ thường xuất khẩu hay thành câu thơ, tôi bảo cụ nói lại cho tôi hiểu ý. Cụ rằng:

‒ Đồ ăn xứ Bắc chỉ ngon nhất là bánh cốm. Vì chúng ta bỏ mất nước nên phải chịu bỏ mất bánh cốm luôn.

Tôi hiểu ý cụ, lại muốn dịch câu thơ của cụ, nhưng vì đồ ăn xứ Nghệ tôi chỉ thích xôi vò, tôi mới đáp rằng:

Bỏ nhà lâu lắm nhớ xôi vò!

Cụ vỗ tay cười ha hả:

‒ Câu đối thật hay mà tình cảnh lại rất đúng. Nhưng cái mộng tưởng ăn bánh cốm của tôi biết có thành ra sự thực được không?

Cụ Mai Sơn nguyên thiên tài lỗi lạc, khí tượng thanh cao, đến thi văn cụ cũng hoàn toàn thoát tục.

Khi tôi bắt đầu gặp cụ, cụ có đọc bài thơ nôm cụ làm cho tôi nghe. Thơ rằng:

          Ngất ngất ngơ ngơ cũng nực cười

          Cằm cằm cụi cụi mấy hơn ai

          Nay còn chị chị anh anh đó

          Mai đã ông ông mụ mụ rồi

          Có có không không lo chết kiếp

          Khôn khôn dại dại ngoẵng xong đời

          Chi bằng láo láo lơ lơ vậy

          Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi

 

Chúng ta thử nghiền cho đến mùi thơ ấy, thì nhân sinh quan với vũ trụ quan thảy là siêu nhiên giác ngộ, mà lại trong tuyền bài thơ không có một chữ điêu khắc. Có thể nhận ra một người tiên phong đạo cốt.

 

Tôi quá say bài thơ cụ, lại muốn học nhái cụ làm, tôi cũng có bài rằng:

 

Hỏi ông ông có chuyện gì chăng

          Thưa chuyện gì đâu nhắn nhẳn nhăn

          Láo láo lơ lơ trời với biển

          Thơ thơ thẩn thẩn gió rồi trăng

          Nghe nghe thấy thấy ba tuồng bộ

          Ngược ngược xuôi xuôi một … thằng

          Đành chữa vùng vùng vùng vẫy nốt

          Thời ta chén chén chén xung xăng

 

Tôi với cụ Mai Sơn vẫn một đôi bạn kết giao bằng đạo nghĩa, mà hơn nữa, kết giao bằng thi văn. Cụ xuất ngoại hơn hai mươi năm, đoạn sáu năm sau, cụ bỏ hẳn việc đời, nhất thiết tạ tuyệt người tục, nhưng chẳng mấy khi rời tôi. Cụ thường giao cho tôi ba trăm bạc, bảo tôi: “Anh giữ lấy, đến ngày tôi chết thì anh làm lễ hỏa táng cho tôi. Vì tôi thế nào cũng chết trước anh!”

 

Tới ngày tháng năm 1926, tôi có việc về Quảng Đông, khi ở Hàng Châu đi ra, tôi gửi ba trăm bạc lại cho cụ, bởi vì tôi tính còn đi lâu ngày mà bạc cụ tôi không dám gửi cho ai. Cụ mời tôi đi ăn cơm chay ở trên Tây Hồ, ăn xong cụ bảo tôi rằng:

‒ Bận ăn này là bận ăn kỷ niệm!

Quả nhiên tôi vừa bỏ Hàng Châu lên Thượng Hải, thời liền được xe ô-tô của nhà nước giao trả cái thân già vô dụng lại cho đất nước Việt Nam, mà cách ba năm sau cụ cũng tịch diệt ở Hàng Châu.

Năm kia có ông Nguyễn Tường ở Tàu về, nói với tôi rằng:

‒ Cụ Mai Sơn mất rồi, mà cũng hỏa táng ở chùa Cát Lĩnh.

Tôi có bài văn tế cụ, trong có câu rằng:

 

Lửa can tình thiêu xương người khí tiết, sống thanh cao mà chết cũng thanh cao;

Đài văn minh mỏi mắt chốn gia hương, danh viên mãn nhưng chí chưa viên mãn!

 

Đó cũng là một nụ cười rất đau đớn trong đời tôi vậy.

 

 

Nguồn: Cười, Huế, s. 2 (thứ sáu, 8 Octobre 1937), tr. 6.