Trang chủ » Posts tagged 'văn bản học'

Tag Archives: văn bản học

MỘT BÀI BÁO CỦA TRƯƠNG CHÍNH 1956 VỀ TIỂU THUYẾT “BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”

 

PHÊ BÌNH VĂN HC:

“BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”, TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN CÔNG HOAN

TRƯƠNG CHÍNH, Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

 

Bây giờ đọc lại Bước đường cùng (1) [(1) Nxb. Văn nghệ xb., 1956. Bước đường cùng xuất bản lần đầu tiên năm 1938 – chú thích của Trương Chính] ta mới biết tại sao cuốn này vừa ra đời đã bị bọn thực dân và phong kiến bóp chết ngay, chúng cấm lưu hành và tàng trữ trong toàn cõi Đông Dương. Trước kia, và bắt đầu từ những chuyện ngắn đầu tiên của ông, Nguyễn Công Hoan đã từng tìm đề tài trong những con người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội. Nhưng những lần đó, ông chỉ tìm những cảnh hài hước, buồn cười, những kết thúc bất ngờ, ngộ nghĩnh. Ta chưa kịp đau thương thì đã bật cười, cười rũ rượi. Tiếng cười làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tan mất lòng căm phẫn. Với Bước đường cùng ông thay đổi cách viết, thay đổi thái độ. Hơn nữa, khác với những nhà văn hiện thực đương thời, ông đã nhìn thấy người nông dân bị bóc lột quá đỗi, không chịu nhẫn nhục mãi, đã vùng dậy. Anh Pha – nhân vật chính trong câu chuyện – cùng Trương Thi và San là những người cùng chung một số phận với anh, cùng bị nghị Lại tịch ký mất ruộng vì không trả được nợ, cả ba anh đã đoàn kết chặt chẽ với nhau, không cho thợ gặt của tên địa chủ ấy xuống gặt lúa của mình. Rồi đến khi hắn đưa lính khố xanh về hộ vệ cho bọn thợ gặt cướp lúa của anh, anh đã hăng tiết lên,

“vớ được một chiếc đòn càn, xông vào nghị Lại, phang một cái thật mạnh vào đầu:

Đồ ăn cướp!

Nghị Lại ngã rúi, kêu rầm rĩ”.

 

Cố nhiên, rồi anh bị bọn lính ôm ghì lấy, đè ngửa ra và trói gô lại, khiêng đi… có lẽ là để đưa lên trình quan. Và chuyện kết thúc một cách ấm ức, nghẹn ngào:

“Pha giơ hai cánh tay bị trói lên trời, nắm chặt bàn tay run run vào ngực để tỏ nỗi căm hờn, nghiến răng rồi nhắm nghiền mắt lại, kệ cho hai dòng lệ nó tuôn ra, và kệ cho ba anh em theo mình, không biết đến đâu mới trở lại…”

 

Sức phản ứng của người nông dân trong Bước đường cùng mãnh liệt hơn sức phản ứng của người nông dân trong Tắt đèn nhiều lắm. Và, cũng tả sự thất bại của người nông dân trước lực lượng còn mạnh của địa chủ, Nguyễn Công Hoan không bi quan như Ngô Tất Tố.

Ngoài điểm mấu chốt ấy ra, Nguyễn Công Hoan còn cho các nhân vật chính diện của mình những ý nghĩ, những lời nói và những hành động tỏ ra sức phản ứng nói trên của người nông dân bắt nguồn từ một sự giác ngộ về giai cấp khá rõ rệt. Họ đã thấy “hai cánh tay mạnh mẽ” của họ là “hai cánh tay làm cho đất cát có giá trị” (tr. 203). Họ đã biết đoàn kết là sức mạnh; Pha nói: …“Người ta chỉ lợi dụng sự rời rạc của anh em mình để bắt nạt. Nhưng đến khi anh em mình biết hợp sức với nhau thì người ta cũng phải kiêng dè. Đẩy một người, có thể làm ngã được, chứ đẩy ba người chụm lại nhau thật chặt chẽ, tôi tính khó lòng nổi” (tr. 197). Anh cũng đã nhìn thấy sự bất công trong xã hội phong kiến. Anh nghĩ: “nghị Lại quanh năm không rời cái bàn đèn thì mỗi ngày thêm giàu có vì ruộng. Mà những người không ngày nào không làm việc cho ruộng, như anh chẳng hạn, thì lại không được hột thóc mà ăn…” (tr. 190). Trời lụt, đi đắp đê dưới làn roi vọt của lính, và dưới những trận mưa tầm tã, anh đã thấy rõ rằng: “ba phần tư lúa má ở nơi mênh mông này mà bọn dân đen vào cứu vớt được, là của nghị Lại. Thì ra chính bọn anh đã cứu sống nghị Lại trong khi thằng này khểnh khơi nằm hút thuốc phiện, nghĩ kế bóp hầu bóp cổ bọn anh” (tr. 179), v.v.

Có thể là Pha chưa nói được trơn tru như vậy, mạch lạc như vậy, có thể là tác giả đã gợi cho anh những điều đó, nhưng nhất định những ý nghĩ đó trước cách mạng cũng đã nằm sẵn trong tâm trí của người bần cố nông làm lụng vất vả quanh năm, để làm giàu cho địa chủ, nhưng nào có phải như thế mà đã được yên thân đâu, còn bao nhiêu phen bị tủi nhục, bị hành hạ! Ngày nay, trong phát động quần chúng, người nông dân còn hùng biện hơn anh Pha nhiều, nhưng sở dĩ tôi trích dẫn những câu trên là vì, cách đây 17-18 năm mà tác giả Bước đường cùng viết được như thế thì không thể không chú ý được.     

***

Tuy vậy, cũng chưa nên vội kết luận rằng, hồi bấy giờ, Nguyễn Công Hoan đã có một lập trường đúng. Nguyễn Công Hoan 1938 không phải là Nguyễn Công Hoan 1956. Điều đó không ai trách. Nhưng cần phải nói ra cho được trung thực, bởi vì bản Bước đường cùng vừa mới được xuất bản so với bản cũ (2) [(2) Bản cũ tôi nói đây là bản 1952 của Xuân Cầu xuất bản, ở nhà in Vĩnh Thịnh – Trương Chính chủ thích] có ít nhiều chỗ đã bị sửa chữa lại, có thể làm cho người đọc hiểu nhầm.

Theo bản cũ thì, viết Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan có một ý định rõ rệt, ý định đó thể hiện ở cách bố trí cốt truyện cũng như ở cách sáng tạo một số nhân vật phụ. Ông chủ trương rằng: thảm trạng của nông thôn Việt Nam sở dĩ kéo dài được là vì người nông dân dốt. Vì dốt, anh Pha mới bị nghị Lại xui giục kiện cáo, vì dốt anh mới không biết trong văn tự hắn viết những gì để đến nỗi 8 sào ruộng nhà bị đoạt mất mà gánh hàng xén của vợ đáng giá ba mươi đồng cũng lọt vào tay quan huyện và các hào lý, lính lệ. Nhiều lần Pha đã thở dài nói với vợ: “Tôi bị bao nhiêu tai vạ về dốt nát…”, “Tôi căm ông Nghị Lại bao nhiêu, tôi lại bực mình về cái tôi dốt bấy nhiêu” (tr. 117). Và nghe lời bác Tân, anh đã bàn với vợ học cho biết chữ quốc ngữ rồi mượn sách báo về đọc! Dư, anh ruột chị Pha, và là người về sau đã giác ngộ cho Pha rất nhiều, cũng nói: “…Tôi may được bác Tân khuyên bảo học hành, nên bây giờ mới rạng ra một tý, biết thế nào là lẽ phải, thế nào là áp bức…” Rồi y còn cho biết rõ chủ trương của y hơn:
Những làng có người đứng đắn trông nom công việc thì chỉ ba năm, bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là đủ có đường giải gạch, có trường dạy trẻ, và làm bao nhiêu việc công ích. Làng ta, dân thất học, nhà cửa ẩm thấp, đường xá lầm lội, nhất là cái ao nửa để tắm giặt rửa ráy, nửa để gánh nước ăn, thật là bẩn thỉu tai hại” (tr. 120). Những ý đó trong bản mới của Văn nghệ vẫn y nguyên.

Tôi tưởng không cần phê bình một chủ trương như thế. Đó cũng là chủ trương của Khương, Duy trong Con đường sáng. Thật ra thì Nguyễn Công Hoan cũng thừa biết vậy, nên có chỗ ông đã sửa chữa lại. Thí dụ câu trong bản cũ:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái dốt nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì dốt nát nên anh quá tin ông nghị, vì dốt nát nên anh không biết trong văn tự ông ấy đã tự do viết những gì…” (tr. 118 bản cũ)
Bản của Văn nghệ sửa chữa như sau:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái nghèo, không có ruộng, nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì nghèo túng nên anh quá tin lão nghị, vì nghèo túng nên anh không biết trong văn tự hắn đã tự do viết những gì…” (tr. 108)

Và nhiều đoạn khác nữa.

Nhà văn có quyền sửa chữa các tác phẩm cũ của mình đã xuất bản từ trước. Nghe nói Goóc-ki đã sửa chữa cuốn Người mẹ không biết bao nhiêu lần, mới đến hình trạng ngày nay. Nhưng đã sửa chữa thì phải sửa chữa cho có hệ thống. Tôi tin rằng một cuốn tiểu thuyết kết cấu cũng chặt chẽ như một bản kịch, cho nên không thể không động chạm đến kết cấu đó khi tư tưởng chỉ đạo không còn được giữ nguyên như trước. Thay thế một vài chữ không thể chuyển được hướng của cả cốt chuyện mà không để lòi ra khe hở. Chỉ nhìn một câu trích dẫn trên cũng thấy chắp vá như vậy không ổn. Anh Pha có thể vì dốt nát mà quá tin ông nghị, vì dốt nát mà không biết hắn đã viết gì trong văn tự, nhưng không thể vì nghèo đói mà lại dễ tin người, vì nghèo đói mà lại để cho người ta lừa mình! Khe hở ở chỗ đó. Rồi những lời nói của bác Tân, rồi cả vai Dư, trong bản mới, trở thành lỏng chỏng, không còn cần thiết như trong bản cũ nữa. Cái chết của chị Pha cũng thế. Trong bản cũ, chị Pha chết vì dốt, vì “tưởng chết đã có số, số ai bị các quan bắt đi thì có tiêm cũng không tránh được. Mà số không chết thì chả tiêm cũng chả việc gì.”  Cho nên, “…một hôm, chị không phải lo nữa, vì nguyên chị yếu, lại ăn bậy, ở bẩn, mà không tiêm phòng, nên thần dịch tả đem chị đi, sau một trận thượng thổ hạ tả có vài giờ đồng hồ” (tr. 199 bản cũ). Trong bản mới của Văn nghệ, chương này vẫn kết thúc y như vậy, nhưng trên đó lại có thêm đoạn: khi y tá về tiêm trừ tả, lý trưởng “giành phần cho vợ con, người nhà và họ hàng của nghị Lại, của chánh phó tổng, của chánh phó hội, của phó lý và của hắn…”  cho nên hết thuốc (tr. 182 bản mới). Việc đó thường xảy ra ở thôn quê, không lạ gì, nhưng không ăn khớp với việc chị Pha chết, vì trước lúc hết thuốc, chị Pha sợ tiêm đau, đã lẻn về trước rồi! Chỗ chắp vá còn thấy rõ chỉ khâu!

Đại để như thế. Ngoài ra, ở những đoạn tác giả không sửa chữa, tất nhiên có thể tìm ra được những nét hài hước của những tập truyện ngắn cũ, không thích hợp với đề tài, với nhân vật, làm cho người ta thấy chối. Đoạn tả anh Pha chờ vợ đẻ, đoạn tả chị Pha chửi gà, đoạn tả căn nhà anh chị Pha ở, đoạn tả anh lính lệ làm nhục chị Pha ở trước công đường, câu đưa tình lưu manh của hắn, câu khôi hài vô duyên của một đứa nào từ trong trại lính đưa ra, đều là những chỗ mà ngòi bút của tác giả vẫn tinh nghịch như trong Kép Tư Bền, Đào kép mới. Tôi lấy làm lạ, sao ông đã có sửa đổi một vài chỗ cho thích hợp, mà lại không để ý đến những chỗ này.

***

Sau cùng, tôi có một số ý kiến về những nhân vật phản diện. Sau khi đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đọc đến Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, tôi thấy hơi ngấy. Cùng một đề tài nên hai tác giả đã xây dựng những nhân vật giống nhau. Tuy ngòi bút của mỗi người có một lối riêng, nhưng các nhân vật đó có những nét chung chung, làm cho người ta không chú ý nhìn kỹ nữa. Đành rằng, địa chủ thì ác, quan thì tham, lính thì nhiễu, nhưng có cần phải tả một thằng địa chủ đểu như nghị Lại, làm văn tự giả mạo bắt anh Pha ấn dấu tay vào, một thằng quan vừa có một diện mạo kỳ khôi, vừa ăn tiền một cách trắng trợn và có những thủ đoạn thu thuế ít thấy như thằng quan huyện này, và những tên lính lệ “cướp giật” như bọn lính lệ huyện này, v.v., người ta mới ghét chế độ phong kiến, mới thấy cần phải đạp đổ toàn bộ giai cấp địa chủ. Đành rằng, trong thực tế, có những thằng như thế. Trong cuộc phát động quần chúng vừa qua, chúng là những tên đầu sỏ bị đưa ra đấu và bị nhân dân trừng phạt một cách xứng đáng. Nhưng tôi tưởng, chúng ta có thể tả những nhân vật phản diện có tính cách… người hơn, mà sức phản ứng của chúng ta không vì thế bớt mãnh liệt. Trái lại, chúng ta sẽ đau xót hơn khi thấy, trong chế độ phong kiến, con người đã trở thành chó sói, ngoài ý muốn của mình, không cưỡng lại được. Cách tập trung tất cả những tính xấu vào nhân vật phản diện có lẽ không phải là cách sáng tạo nhân vật điển hình mầu nhiệm nhất. Cách đó sẽ làm cho nhân vật trở thành kỳ dị, như bị phóng đại, thiếu tính chất hiện thực và do đó mất tác dụng của nó. Tại sao một số tiểu thuyết ngày nay về cải cách ruộng đất dễ rơi vào bệnh công thức, bệnh sơ lược chủ nghĩa? Có lẽ vì chúng ta chỉ tìm tả bọn địa chủ gian ác đầu sỏ, mà gạt ra ngoài không tả bọn địa chủ thường. Chúng ta sợ gặp phải phần… con người ở chúng chăng? Có gặp thì đã sao! Không phải vì bọn địa chủ còn có tính chất người mà chúng ta không ghét chế độ bóc lột địa tô, chiếm hữu ruộng đất nữa! Xây dựng nhân vật phản diện như vậy ấu trĩ chẳng khác gì xây dựng nhân vật chính diện bằng cách gán cho tất cả những cái gì tốt đẹp nhất trên đời! Những nhân vật đó nhất định sẽ trở thành giả tạo, không hiện thực.

 

***

Đọc Bước đường cùng, tôi có cảm tưởng như đọc một tác phẩm vừa sáng tác trong phong trào cải cách ruộng đất vừa qua. Đó là một lời khen. Giữa lúc đế quốc và phong kiến còn có thế lực mà tác giả dám nói lên nỗi phẫn uất cùng độ của người nông dân, thật là can đảm lắm. Xã hội mục nát đến nỗi một lời mỉa mai diễu cợt không còn có tác dụng nữa, phải đả kích, vạch mặt chỉ tên thực sự. Với Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã làm việc đó. Có thể nói Nguyễn Công Hoan là nhà văn đàn anh dẫn đầu trong việc đi sâu vào nông thôn, cảm thông với người nông dân để nói lên nỗi lòng của họ./. (3)

TRƯƠNG CHÍNH
Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

Chú thích:

(3) Trong năm 1958, tiểu thuyết “Bước đường cùng” lại được Nxb. Hội nhà văn tái bản, với ghi chú ngay ở trang tên sách:  In lần thứ 4, theo nguyên văn bản thảo. Bản in này hiện có lưu tại Thư viện quốc gia, Hà Nội, ký hiệu VN61.15161 (chú thích của L.N.Â., 2017)

TIẾP CẬN VĂN BẢN HỌC TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VÀ XUẤT BẢN: MUỘN CÒN HƠN KHÔNG!

LẠI NGUYÊN ÂN

Thực tiễn đời sống văn hóa văn nghệ gần đây cho thấy cả công tác xuất bản lẫn công việc nghiên cứu phê bình đều cần đến góc tiếp cận văn bản học.

Thật ra thì tiếp cận văn bản học là không thể tránh đối với tất cả những lĩnh vực có liên quan đến ngôn ngữ văn tự. Các tác phẩm chữ viết, khi được truyền bản, nhân bản, dù dưới dạng chép tay hay in ấn, đều đứng trước nhu cầu phải được xử lý về văn bản. Tuy vậy, những việc ấy, ở xứ ta, thường được thực hiện một cách “tự nhiên nhi nhiên”, với những xử lý hoặc bị coi là quá thông thường, hoặc buộc phải tuân thủ những quy tắc tối thiểu nào đó, nên người ta cảm thấy dường như chẳng có vấn đề gì!

Cho đến gần đây, chỉ mới duy nhất có các văn bản thuộc loại hình chữ Hán-Nôm của người Việt, là được công nhiên thừa nhận cần thiết phải xử lý về văn bản học. Đã có một viện nghiên cứu riêng được nhà nước lập ra (Viện nghiên cứu Hán-Nôm), giành cho việc khảo cứu loại hình di sản này của văn hóa chữ viết. Thế nhưng, loại chữ viết kể trên (chữ Hán-Nôm) chỉ được người Việt dùng từ xa xưa cho đến thế kỷ XIX, số lượng tác phẩm Hán-Nôm của tác giả Việt còn tính đếm được có lẽ không quá 5 chữ số. Từ cuối thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX trở đi, xã hội người Việt chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ, tức tiếng Việt ghi bằng các ký hiệu Latin của người châu Âu, và nay ta gọi tắt là chữ Việt. Số lượng tác phẩm đủ loại do người Việt viết ra in ra bằng chữ Việt, nay nếu tính đếm, chắc phải dùng đến 10 chữ số.

Và điều đáng nói hơn, những sự cố liên quan đến văn bản (như hai dị bản “bùn”/”đất cày” trong một bài thơ Lưu Quang Vũ gây xôn xao dư luận mới đây) đôi khi ám ảnh cả một công chúng rộng; trong lúc bàn cãi nhau quanh sự cố ấy, người ta mới nhận thấy ở lĩnh vực này dường như đang trống vắng những hiểu biết căn bản có thể làm nền cho những hướng xử lý thích đáng.

Tôi từng nghe kể, có lần, một công chức ở Cục xuất bản bị một người, nhân danh thân nhân tác giả X., đến chất vấn và yêu cầu xử lý, tức là ra lệnh phạt một nhà sách kia, vì đã phạm tới vài trăm lỗi dị bản, khi tái bản tác phẩm của tác giả X. Viên chức nọ không biết xử lý ra sao, đành để vị khách kia ngồi lỳ ở đó!

Câu chuyện hình như được một số nhà văn quan tâm, và người ta vội làm một hội thảo, nêu lên một loạt những lời ta thán, trách cứ giới làm sách, nêu cao những đòi hỏi “chuẩn mực”, “chính xác”, v.v… Thế rồi người ta định lập ra một trung tâm trực thuộc Hội nhà văn với công việc chính sẽ là cung cấp văn bản chuẩn mực các tác phẩm cho xuất bản! Thật may là trung tâm ấy chưa ra đời, bởi nếu nó đi vào hoạt động thì, giới văn chương và công chúng hẳn sẽ được thấy những cảnh ngộ dở cười dở khóc với cái sẽ được gọi là “văn bản chuẩn mực”! Phải chăng các vấn nạn xung quanh câu chuyện tạm gọi là “in sai” văn bản tác phẩm, lại có thể giải quyết dễ dàng như thế hay sao? Và nếu quả thật các vấn đề là dễ xử lý thì vì sao mỗi khi nó  xuất hiện lại thường gây ách tắc đến vậy?

Nếu muốn tìm kinh nghiệm từ giới chuyên gia văn bản học người Việt, chắc hẳn trước hết phải tìm tới các nhà Hán-Nôm học; song ngoài các vấn đề chung ra, loại hình văn bản Hán-Nôm gắn với một thời đại kỹ nghệ khác (viết tay, chép tay, in khắc ván, v.v.), khó mà đủ để xử lý loại văn bản của các thời đại in máy (typographie), in sắp chữ rời, từ thủ công, bán thủ công sang tự động hóa, rồi công nghệ in thời đại internet.

Tất nhiên ngọn nguồn mọi tác phẩm là từ tác giả. Phải có văn bản của tác giả rồi mới có các văn bản in.

Song, ngay văn bản của tác giả (có khái niệm “bản thảo”) cũng đã không đơn giản; hầu như ít tác phẩm nào chỉ duy nhất có một văn bản; một bài thơ ngắn, trong sổ tay tác giả có thể cũng đã có vài dị bản ở câu này chữ kia, do tác giả cân nhắc giữa vài ba từ khả dĩ đáp ứng chiến lược diễn ngôn của mình. Khái niệm “văn bản gốc”, đi vào nghiên cứu cụ thể, sẽ thấy không hề đơn giản. (Vả chăng, đến khi tác phẩm được xem là thành tựu thì tác giả đã đi xa, cả bản nháp lẫn “bản gốc” hầu hết đều không còn).

Sang giai đoạn văn bản được nhân bản, từ một bản của tác giả được in thành ngàn bản, chục ngàn bản, tức là văn bản đăng báo, in sách, thì tuy mỗi lần in tạo ra một văn bản đồng nhất, bởi đều được dập ra từ một bộ khuôn chữ, nhưng những lần in khác nhau lại tạo ra những văn bản khác nhau, mỗi lần in lại tạo cho tác phẩm thêm một loạt dị bản.

Tôi đã nghiệm thấy rõ điều này khi khảo sát tình trạng văn bản một số tác phẩm cụ thể. Không bao giờ văn bản một tác phẩm ở các lần in khác nhau lại đồng nhất, trùng khít nhau; đó gần như là quy luật.

Tựu trung tôi thấy có hai loại nguyên nhân khiến cho mỗi lần in, cùng một tác phẩm sẽ tạo ra thêm một dị bản mới.

Thứ nhất là loại nguyên nhân “chủ quan”, do chủ ý của những người tham gia công việc xuất bản: 1/ tác giả (nếu còn sống khi tác phẩm của mình được in lại) có thể (và có quyền) sửa chữa tác phẩm của mình; 2/ người xuất bản có thể đề xuất những thay đổi nhất định trong văn bản tác phẩm đưa in, vì những lý do nào đấy, chí ít là quy tắc chính tả, quy tắc viết tên riêng, v.v.; 3/ cơ quan kiểm duyệt (chính quyền đương thời cấp giấy phép in) có thể cắt bỏ những câu chữ, đoạn văn nhất định.

Thứ hai là loại nguyên nhân “khách quan”, vô tình, ngoài ý muốn: tác giả có khi vô tình viết sai một vài từ nào đấy (câu “Người là đấng tinh truyền thanh vẹn” bị ngờ là do Hàn Mặc Tử viết nhịu cái câu có lẽ nguyên là “Người là đấng trinh tuyền thánh vẹn”!); thợ sắp chữ có thể sắp sai những chữ, câu, đoạn nhất định mà thợ sửa in không phát hiện ra nên đã không sửa trên khuôn in; nhân viên đánh máy cũng có thể vô tình phạm những lỗi tương tự thợ sắp chữ; trên máy in thủ công và bán thủ công còn xảy ra việc chữ rơi khỏi khuôn in, đôi khi thợ trực máy in sẽ cứu nguy bằng cách vuốt trở lại những con chữ nhảy ra ngoài ấy trở vào khuôn, nhưng chưa chắc nó đã về đúng chỗ cũ mà có thể lại nhập vào dòng khác, tạo ra những sai biệt độc đáo trên trang sách in ra…

Vậy là nếu ở thời đại chỉ có thể truyền bản các tác phẩm bằng cách chép tay đã tiềm ẩn nguy cơ tạo dị bản, từng được tổng kết là “tam sao thất bản”, thì sang các thời đại nhân bản bằng in khắc ván, in máy, tác phẩm được nhân bản cũng vẫn đứng trước nguy cơ có thêm dị bản như xưa, không thể tránh được. Sản phẩm in là sản phẩm của con người, nó tùy thuộc hàng loạt nhân tố con người, như ta vừa thử hình dung.

Xin nêu một dẫn chứng dị bản “sai”, xuất hiện hồi 1976, chứ nếu xuất hiện bây giờ, chắc sẽ “vỡ chợ” văn!

Đọc vào truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, in trong tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” của Nxb. Tác Phẩm Mới (1976), thấy câu này về lai lịch chị Đào:

… được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng, khi ngược Lào Cai buôn gà vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn…”   (“33 truyện ngắn chọn lọc, Nxb. TPM., 1976, tr. 199)

Đang mạch văn kể lể từa tựa giọng thổ lộ tâm tư giữa đám đàn bà xứ Bắc, nhưng sao lại có sự việc “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng”?  Tra lại mấy cuốn khác nhau có in truyện này mới vỡ lẽ, chỗ ấy đúng ra là “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy muồng”! Muồng, có lẽ là tên một thứ cây lá hay hoa quả, tóm lại là tên mặt hàng. Chị này đi làm nghề buôn mà lại! Thế mà in lầm ra “lấy chồng”, rõ thật tai hại. Mà cái sai này, tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” (Nxb. Tác Phẩm Mới, 1976) chỉ tiếp tục cái sai đã có từ một tập sách khác, chứ không phải sách này là nơi phát sinh chữ sai ấy!

Công bằng mà nói, ở thời dùng máy in với các khuôn chữ chì, các công đoạn làm việc được phân định rất tách bạch; do vậy sách báo in sai khá ít; sách in ra thường có bản đính chính các lỗi in sai dán kèm, tức là nhà xuất bản thường cho nhân viên đọc lại ngay sau khi sách in xong, rồi đưa ra những “tờ rơi” đính chính cần thiết.

Sách in sai nhiều nhất, theo tôi, là hồi ta chuyển từ kiểu in sắp chữ chì sang kiểu làm chế bản trang in trên máy vi tính; tức là những năm 1990s. Nhân viên đánh máy chế bản lúc ấy chưa biết cách làm chủ các kỹ thuật trên computer nên gây ra lỗi sai đầy rẫy; nhiều khi cả người sửa in lẫn biên tập viên đều ghi rõ yêu cầu sửa lên các bản “bông”, nhưng các lỗi sai vẫn rất nhiều, chủ yếu do nhân viên đánh máy chưa làm chủ kỹ thuật chỉnh sửa, định dạng đúng cho các trang sách sẽ in. Một số bạn thân quen trong giới với tôi hồi ấy thường nhận xét với nhau: các bộ “tuyển”, bộ “tổng” dày trang, nhiều tập, làm trong những năm này, có một nét chung: văn bản trong đó không đủ độ tin cậy để ta sử dụng!

Dăm bảy năm gần lại đây, nghề sách có những tiến triển thấy rõ, nhất là về kỹ nghệ in ấn. Song tình trạng lỗi in sai vẫn còn khá trầm trọng. Có những nguyên nhân thuộc về thương mại, khi người buôn bán sách không còn trực tiếp gắn với việc sản xuất sách nữa, người ta chỉ lo mấy yếu tố bề ngoài, cái bìa, bố cục chung, loại giấy in, v.v., còn nội dung chữ nghĩa thì khoán trắng cho một vài đầu mối vốn tương đối yếu về năng lực thẩm định chất lượng. Lại có những nguyên nhân thuộc về tầm hiểu biết chung quá hạn hẹp của những nhân viên tham gia các công đoạn làm sách. Tất nhiên trong nghề sách cũng đang diễn ra sự phân hóa về đẳng cấp; ta nên trông đợi những nhân tố ưu tú vượt lên.

Liên quan đến những phàn nàn trong dư luận về lỗi in sai, tôi không cổ động cung cách “quân phiệt” là xử phạt; tôi cho là cần tăng cường phê bình chất lượng sách, tăng cường phản hồi của bạn đọc, nhất là xung quanh những lỗi in. Điều căn bản hơn là nên khuyến khích người làm xuất bản, khi tái bản tác phẩm, học lấy cách tìm tới những sản phẩm in uy tín trước kia, học lấy sự kỹ tính khi lựa chọn bản cũ để in lại; cũng nên nhắc họ nghiêm khắc hơn đối với đám nhân viên mới dự vào nghề làm sách, đừng chấp nhận lối ỷ vào quê quán để đưa những sai lệch ngữ âm vùng miền, những lối nói sai nói ngọng vào sách báo in. Cũng nên nhắc lại rằng: Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải được đặt trong mục tiêu đưa lại cho công chúng một văn bản gần nhất với văn bản của tác giả; xin chớ nệ vào những toan tính “sửa thế này sẽ hay hơn” để làm lệch khỏi văn bản của tác giả.

Song song với các nỗ lực trong giới xuất bản, thì các giới nghiên cứu phê bình cũng nên dành thời gian và nỗ lực cho góc tiếp cận văn bản học. Trước hết, các tác phẩm chữ Việt đã đạt được sự công nhận ở mức nào đó của công chúng (qua các chỉ số xã hội học như số lần in, số bản in, hoặc sự đánh giá của giới phê bình) thì cần được khảo sát về mặt văn bản. Phải thấy, tình trạng một loạt tác phẩm xuất hiện từ những năm 1930s, được công chúng nhớ tên, mà cho đến nay vẫn chưa được khảo sát tình trạng văn bản qua các lần in khác nhau, — là điều khó có thể chấp nhận. Giới nghiên cứu các ngành xã hội-nhân văn trong nước hiện giờ không đến nỗi quá ít oi về nhân sự để không thể đào tạo lấy một số chuyên gia có năng lực giải quyết các vấn đề văn bản học. Ta đã có một số chuyên gia có uy tín về văn bản học Hán-Nôm; bây giờ cần có thêm những chuyên gia lành nghề về văn bản học chữ Quốc ngữ (= chữ Việt).

Chỉ các kết quả những khảo sát văn bản học cụ thể, đối với từng tác phẩm, mới cho phép hình dung tiến triển về văn bản của mỗi tác phẩm khi được truyền bản ở các lần in sau, qua đó có thể thấy ít nhiều diễn biến về thị hiếu, về ngôn ngữ xã hội, tâm lý xã hội, v.v.

Nếu trong một tác phẩm qua các lần in sau xuất hiện những dị bản trái với lối viết ban đầu của tác giả thì có thể coi dị bản là quá trình làm sai khác văn bản tác giả.

Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải nhằm đưa lại cho công chúng văn bản gần nhất với văn bản của tác giả.

Trong nghiên cứu phê bình, đôi khi ta còn có thể đọc ra những xu thế, xu hướng văn hóa xã hội khác nhau hiển thị ở lịch trình làm lệch đi, sai khác đi đối với văn bản ban đầu một tác phẩm.

16/7/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN