Trang chủ » Posts tagged 'Phan Khôi'

Tag Archives: Phan Khôi

Nguyễn Văn Thới tranh luận với Phan Khôi: VIỆT NAM CŨNG CÓ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN

ÔNG PHAN KHÔI LẦM CHĂNG
VIỆT NAM CŨNG CÓ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN

 

Trong Phụ nữ tân văn ngày 19 Novembre 1934, Phan Khôi tiên sanh nói trên lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến. Cả thảy đám người có chút ít giác ngộ về xã hội đọc bài ấy của Phan Khôi đều lấy làm ngạc nhiên.

Ông Phan Khôi nhìn nhận rằng chế độ phong kiến có trên lịch sử Trung Quốc hàng mấy ngàn năm, nhưng không chịu nhìn nhận rằng nước Việt Nam và Cao Ly xưa kia cũng mắc trong chế độ phong kiến ấy.
Ông Phan Khôi giải nghĩa hai chữ “chư hầu” như vầy: “Hết thảy các nước chư hầu đều cai trị dân mình, hưởng huê lợi (tức là thuế) đất mình; nhưng mỗi năm phải theo lệ nạp cống phú cho thiên tử và mọi việc lớn trong nước phải bẩm mạng cùng lệnh thiên tử; khi có giặc chư hầu phải xuất binh giúp thiên tử mà đánh dẹp”.

Ông Phan Khôi là người có học chữ Tàu nhiều, thạo biết quốc sử của ta, sao lại không biết rằng xưa kia vua nước ta đối với vua nước Tàu đều mắc trong những phận sự “chư hầu” theo cách ông đã giải đó. Tuy rằng vua Tàu không có phong đất cho vua Việt Nam, chớ vua Việt Nam nếu không nhìn nhận vua Tàu là vua chánh quốc (Suzerain) thì có làm vua một cách vững vàng được hay không?

Con đường “quan lộ” thấu qua tới Tàu để đi cống sứ, dấu tích còn sờ sờ đó; cho đến gần đây đối với việc xâm lược của nước Pháp, sứ Việt Nam ta cũng còn chạy qua yêu cầu với nước Tàu đó, không phải bẩm mạng cùng thiên tử sao? Mới đây trong chương trình của Quốc dân đảng Tàu do Uông Tinh Vệ thảo ra còn nhắc đến xứ ta và xứ Cao Ly, cho rằng cũng là đất của Trung Quốc mà lăm le muốn đòi lại. Như thế đủ chỉ rõ ràng rằng nước ta trước đây là một chư hầu của Tàu vậy.

Tiên sanh cũng nhìn nhận rằng vua Việt Nam đã chẳng những là chư hầu của Tàu mà thôi, lại còn có chư hầu như các vua Xiêm và Cao Miên dưới quyền mình nữa. Phong tước kiến địa vua Việt Nam cũng vẫn có dùng trong nước, nhưng không phải như lúc mới lập chế độ phong kiến ở Tàu.

Bởi ông Phan Khôi chỉ đứng về một mặt của chế độ phong kiến – mặt chánh trị – mà giải nghĩa chế độ phong kiến nên mới có thể hiểu lầm rằng hễ mặt chánh trị của chế độ phong kiến không còn, thì chế độ phong kiến tất cũng không còn.

Thời đại phong kiến đã qua, không phải nghĩa là chế độ phong kiến cũng đã qua; mà cũng vì ông chỉ đứng về mặt chánh trị cho nên ông mới nói rằng chế độ “quận huyện” nối đuôi cho chế độ phong kiến.

Ông Phan Khôi chuyên môn về việc giải nghĩa chánh từng chữ cho nên mới cho rằng hai chữ trong chế độ “quận huyện” và chế độ phong kiến là đồng nghĩa với nhau, chớ kỳ thật thì chế độ phong kiến bao gồm cả chánh trị, xã hội học, triết học, tôn giáo, kinh tế, mỹ thuật, luân lý, v.v…, còn chế độ “quận huyện” chỉ dùng về mặt chánh trị mà thôi.
Về mặt chánh trị, sắp khi đặt ra chế độ “quận huyện” không phải là chế độ phong kiến không còn.
Ông Phan Khôi viết: “Trừ ra hai chữ phong kiến có cái nghĩa gì khác mà kẻ viết bài nầy chưa hiểu thì thôi, bằng chỉ có một nghĩa như đã giải trên kia thì… v. v…”
Vậy chính ông Phan Khôi cũng còn nghi ngờ rằng mình có chỗ hớ?
Mà hớ thiệt, vì Phan Khôi tiên sanh đứng về mặt chánh trị mà giải nghĩa hai chữ phong kiến chớ không đứng về mặt tổ chức kinh tế ở thời đại phong kiến mà hiểu chánh trị thì rõ ràng ông lấy ngọn làm gốc. Vì chánh trị chẳng qua là cái phản ánh của những sự liên lạc kinh tế ở trong thời đại phong kiến (reflets des liens économiques du temps de la féodalité). Nếu đứng về phương diện kinh tế mà giải nghĩa hai chữ phong kiến và hiểu cả cái văn minh đặc biệt của thời đại ấy, thì ai cũng phải nhìn nhận rằng những cường quốc cực điểm tiến bộ về tư bản chủ nghĩa cũng còn giữ nhiều di tích về thời đại phong kiến. Tỷ như việc cho mướn đất mà ngồi hưởng huê lợi (rente foncière) mà cho đến đạo Khổng của ông Phan Khôi sùng bái đó cũng là di tích của thời đại phong kiến vậy.

Ngày nay chế độ tư bản thạnh hành lôi cuốn chúng ta vào phạm vi của nó, chúng ta mắc trong vòng chế độ tư bản mà trong cái chế độ ấy những di tích về chế độ phong kiến cũng vẫn còn. Vì có nhiều người thấy rõ như vậy cho nên mới cho rằng xứ ta đã qua khỏi thời đại phong kiến, nhưng chế độ phong kiến cũng vẫn còn.

Ông Phan Khôi sùng bái đạo Khổng, ông có biết rằng ông đang sùng bái cái di tích của chế độ phong kiến chăng?

Học quốc sử bấy lâu nay chỉ là học thuộc nhưng chuyện xưa tích cũ, chỉ để ý về mặt chánh trị không mà thôi. Học lịch sử cho đúng thì cần phải tìm cho ra cái luật tiến hóa của lịch sử (évolution de l’ histoire) mới được. Học chuyện xưa cho biết việc hiện tại và tương lai, nếu không đứng về phương diện kinh tế mà hiểu lịch sử, nghĩa là không theo thuyết duy vật sử quan mà hiểu chuyện xưa, thì không thể nào hiểu sự tiến hóa của lịch sử được.
Nếu Phan Khôi tiên sanh không phải muốn dùng lý lẽ xằng để “mà” con mắt và nhồi sọ thiên hạ đặng dắt dẫn người ta đi lạc đường, mà quả ông muốn nghiên cứu về xã hội học thiệt, thì tôi xin giới thiệu ông bạn đồng sự với tôi trong tòa soạn P.N.T.V. là ông Phan Văn Hùm đó. Đối với ý kiến ông Phan Khôi, tôi chắc ông Phan Văn Hùm không thể ngồi yên mà không vạch chỗ hại tư tưởng sai lầm của bạn đồng sự ông cho quần chúng biết. (a)
NGUYỄN VĂN THỚI
Nguồn:
Công luận, Sài Gòn, s. 6706 (4.12.1934), tr. 1.
Chú thích
(a) Sau bài này, Công luận đăng bài của Phan Văn Hùm Phong kiến là gì? kéo dài trên 10 kỳ báo; bài đó quá dài, không thể đưa vào phụ lục sưu tập này. Bài báo trên Phụ nữ tân văn năm 1934 trong đó Phan Khôi nhận định ở Việt Nam không có chế độ phong kiến, gây nên những tranh luận sâu rộng trong giới nghiên cứu nhiều thời kỳ khác nhau, từ đương thời ông cho đến đầu thế kỷ XXI. Tuy vậy, thời kỳ sống và viết tại Việt Bắc (1948-1954) và tại Hà Nội 1954-59, Phan Khôi đã dùng từ “phong kiến” (khi dịch văn học Diên An, văn chương thổ cải Trung Quốc, viết về Lỗ Tấn, v.v.) theo quan niệm và thuật ngữ mà các giới viết báo viết văn trong toàn phe XHCN đã thừa nhận và sử dụng.

Hải Triều tranh luận với Phan Khôi: TRÊN LỊCH SỬ NƯỚC TA VẪN CÓ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN

Cách đây 10 tháng về trước, tôi có cơ hội tranh luận với Phan tiên sinh về vấn đề duy tâm hay duy vật. Trên mặt lý thuyết ông Phan và tôi có chỗ không đồng ý nhau, thì nay đến sự quan sát một cái hiện trạng về xã hội, Phan tiên sinh và tôi lại có chỗ bất đồng ý kiến nữa. Tôi muốn nói: Phan tiên sinh cho lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến, trái lại, tôi quả quyết rằng: nước ta có chế độ phong kiến, chế độ phong kiến chẳng những có từ xưa mà cái hình thức và cái tinh thần của nó vẫn cứ dây dưa mãi đến bây giờ.
Cái chiến địa của ông và tôi đã rạch ròi ra đó, bây giờ chúng ta hãy tái chiến.
Phan tiên sinh giải thích chữ phong kiến như vầy: “Thuở trước, các bực bá giả khi chinh phục và thống nhứt được một nước rồi, lên ngôi vua, tự xưng là thiên tử, và phong cho các con, em, cháu, mỗi người một phần đất bởi trong nước ấy chia ra, cũng làm vua, mà gọi là chư hầu: ấy tức là cái chế độ phong kiến bắt đầu có.”
Cái điều kiện căn bản của chế độ phong kiến, theo ý ông là: các nước chư hầu cai trị dân mình hưởng huê lợi (tức là thuế) nhưng mỗi năm phải nạp cống phú cho thiên tử.
Căn cứ theo cách giải thích ấy, ông bèn giở tập sử Tàu ra, ông kể nào Đường, Hạ, Thương, Ngu, suốt hai ngàn năm phong kiến, đến nhà Tần thì bỏ phép ấy. Còn sử Nam ta, ông quyết một quyết hai không có cái chế độ ấy. Từ đời Hùng Vương cho đến triều Nguyễn bây giờ, dầu có ông thân vương hoặc công hầu được tước phong hoặc lãnh thái địa, nhưng vẫn không có quyền cai trị dân chúng trong thái địa mình thì vẫn không có thể vin vào đó mà cho nước ta cũng có chế độ phong kiến như ở Nhật, ở Tàu, ở Tây được.
Theo ý ông, cái điều kiện căn bản của chế độ phong kiến là “cai trị dân chúng trong thái địa”, nếu không có cái quyền ấy thì cái chế độ phong kiến không thể có được.
Ông Phan lại cười khéo bọn xã hội học An Nam, làm sao lại nhắm mắt mà nói liều rằng “người mình chịu áp bức dưới chế độ phong kiến” mà kỳ thật “câu chuyện nước ta vốn không có mà bịa ra nói có, rồi cứ theo đó mà kiếm câu kết luận trong mây mù khói ngút, không thể ai kiểm soát lại được”.
Nhưng ông Phan lại khéo phòng hậu một câu: “Trừ ra hai chữ phong kiến có nghĩa gì khác mà người viết bài này chưa hiểu thì thôi, bằng chỉ có một nghĩa đã giải trên kia thì nó chẳng có dịp nào dùng mà chỉ một cách tổ chức về chính trị trong nước này về thời quá vãng hết”. Câu phòng hậu ấy đối với người biết xem văn, người ta có thể cười khéo ông là nhát gan, vì đã đề khởi ra một cái ý cứng cỏi, lại còn kiếm cách tháo hậu. Nếu tôi tưởng không sai, thì chẳng qua ông khéo dùng mánh lới để phòng khi có ai đứng ra cãi ông, ông sẽ đưa câu ấy ra chận đường rồi cả tiếng mà nói: “Các anh cãi sai rồi, tôi chỉ nói về mặt tổ chức chính trị thôi, chớ còn mặt khác, tôi hoặc không hiểu, hoặc hiểu mà không muốn nói tới”. Nhưng Phan tiên sinh ạ, tôi thiết tưởng trong khi kết luận một vấn đề gì, thì trước nhất phải xét cho được nhiều phương diện trong vấn đề ấy đã, từ cái nhỏ cho đến cái lớn, không nên bỏ sót một cái nào, thì câu kết luận mới chắc có phần đúng. Nay ông giải thích chế độ phong kiến mà ông chỉ căn cứ có một cách tổ chức về chánh trị, rồi ông đâm ra câu kết luận: An Nam không có chế độ phong kiến, thời bảo sao nó không sai bét. Phan tiên sinh ơi, cô Lô-git, người tình nhân cuối mùa của tiên sinh, phiền tiên sinh lắm đấy!
I. Về mặt chính trị, chế độ phong kiến vẫn có trong lịch sử nước ta
Ví thử tôi đứng về phương diện ông Phan Khôi, tôi cũng có thể nói, nước ta cũng có chế độ phong kiến được. Tôi không hiểu, Phan tiên sinh khi viết một vấn đề quan hệ như thế có cần tra cứu sử sách cho kỹ càng chăng? Chớ cứ mở sử ta ra mà xem thì chế độ phong kiến có sờ sờ ra đó mà ông Phan nói không mới lạ cho chớ.
Tôi không thể đưa ra đây hết thảy những chứng cớ trong sử, tôi chỉ lọc lại đôi cái quan hệ thôi:
1. Theo nhà sử học C. Patris thì chính trị nước Văn Lang đời xưa vẫn như chế độ phong kiến Âu Châu hồi trung cổ. (Au temp le plus lointain, l’ état politique de Van-Lang est vraisemblablement celui d’ une Féodalité assez semblable à celle de l’ Europe occidental au Moyen âge. – Xem quyển Essai d’ histoire d’ Annam: Antiquité et le haut Moyen âge, p. 28-30).
Ông Patris nói như thế không phải là không có phần đúng. Vì theo sử thì bên nước Văn Lang có những nước như nước Thục, vua Phu Đao nước Ai Lao vẫn là chư hầu và triều cống nước Văn Lang cả.
2. Năm 187-226, Sĩ Nhiếp được vua Tàu phong Long Độ đình hầu, qua cai trị dân Giao Chỉ, tự thâu lấy thuế mà ăn, hang năm chỉ theo lệ công hiến.
Năm 972, Tàu lại phong cho Đinh Tiên Hoàng Giao Chỉ Quận vương, hàng năm phải triều cống. Lệ ấy các vua ta về sau cứ vẫn giữ mãi.
Như thế là về mặt chính trị ta đối với Tàu là phong kiến rồi chứ gì nữa?
Hồi Hậu Lê, triều đình thì ở đất Thăng Long mà vẫn cứ phong cho ông Nguyễn Hoàng tước Đoan Quận công vào trấn Thuận Hóa, tự thâu lấy thuế và cai trị dân, chỉ mỗi năm phải nạp 400 cân bạc và 500 tấm lụa. Vua Lê lại phong cho Mạc Kính Doanh tước Thống Quốc công giữ đất Cao Bằng, cũng thâu thuế cai trị dân, hàng năm cống hiến. Còn từ Thanh Hóa trở ra thì một mình Trịnh Tùng lãnh đến tước Bình An vương cai trị dân, bắt dân đi lính, và nạp thuế.
Trước những cái tình thế tổ chức chính trị như vậy, dầu nhà viết sử không chua chữ “phong kiến” vào, nhưng thử hỏi Phan tiên sinh, cứ lấy cái giải thích của tiên sinh làm bằng, thì tiên sinh sắp nó vào chế độ nào đấy nhỉ?
Nhưng Phan tiên sinh ạ, tôi không phải là nhà sử học chuyên môn, vả lại sử ta không được minh bạch lắm, nên tôi không muốn dùng những cái chứng cớ trong lịch sử vừa kể trên để làm những cái luận chứng chắc chắn mà giao chiến với ông.
Tôi chú ý đem đại đội quân tranh đấu với ông ở chỗ này: Ông giải thích về phong kiến mà chỉ nói đến mặt chính trị mà không nói đến mặt kinh tế và xã hội. Ông cho có cai trị dân trong thái địa mới có phong kiến thì thật lầm quá. Cái điều kiện cai trị dân trong những thái địa chỉ là điều kiện phụ thuộc thôi.
II. Nước ta có thể có chế độ phong kiến không?
Ông Vico, thủy tổ về triết lý của sử học cho rằng: các dân tộc trên thế giới đều tiến hóa trên một con đường nhất định. Mã Khắc Tư tán đồng cái ý kiến ấy, lại viết thêm:
“Các dân tộc đồng trải qua những điều kiện sinh sản giống nhau, về mặt kinh tế in nhau, thì về mặt tổ chức chính trị hay xã hội đều, dầu trước hay sau, cũng trải qua một con đường cả.” (Cái vấn đề này Hải Vân và tôi có viết một bài dài đề là “Con đường tiến hóa của xã hội” gởi cho P.N.T.V. nhưng không thấy đăng). Vậy thì nền kinh tế của Nhật, của Tàu, của Tây hồi xưa có chỗ giống nhau, nên các nước ấy đều trải qua chế độ phong kiến hết thảy. Do đó ta có thể nói rằng: Nếu An Nam về mặt kinh tế có chỗ giống Tàu, Nhật, Tây thì về mặt tổ chức chính trị hay xã hội cũng có thể trải qua con đường phong kiến như Tàu, Nhật, Tây vậy chớ sao?
Nền kinh tế gì đã sanh ra chế độ phong kiến và nền kinh tế ấy có ở trong lịch sử An Nam không? Trả lời hai câu hỏi ấy tức là đánh bạt cái lập luận của Phan tiên sinh vậy.
III. Điều kiện tất yếu của chế độ phong kiến?
Bao giờ trong xã hội có một cái quần chúng nông nô (serf) lãnh đất ruộng của một ông điền chủ về làm, rồi đem cái phần hoa lợi trong thửa ruộng mình lãnh đó để trả lại cho địa chủ, hoặc một cách khác, lãnh đất ruộng về làm rồi tự thân mình hay vợ con mình phải đến làm cho nhà chủ ruộng, hoặc cày đất của chủ ruộng để bù lại cái đất lãnh, hoặc một cách khác nữa là lãnh đất rồi trả bằng tiền, bao giờ cái thể thức điền chế ấy mà hãy còn là còn có phong kiến.
Vì nền kinh tế như trên là thuộc về chế độ nông nô (servage), mà chế độ nông nô là nền móng của chế độ phong kiến. Không có cách sinh sản của bọn nông nô thì không bao giờ có những hạng công, hầu, bá, tử, nam, v.v. lãnh thái địa mà trị dân hay thâu hoa lợi.
Chúng ta có thể nói tắt: Có nông nô tất có phong kiến. Về mặt chính trị dầu từng ông địa chủ một trực tiếp cai trị dân chúng trong thái địa của mình, hay tập quyền về nhà vua, chỉ là một nhà địa chủ lớn hơn cả, thì về mặt tánh chất của chế độ phong kiến không có gì thay đổi cả.
Cũng như chế độ tư bản, dầu có mang danh là dân chủ như Mỹ, Pháp hay quân chủ như ở Anh, ở Nhật, chế độ tư bản vẫn không thay đổi gì về tánh chất cả. Đến đây chúng ta đã đủ lý mà bác ngay cái ý của ông Phan: có cai trị mới có phong kiến. Cai trị dân chúng chỉ là một điều kiện phụ thuộc thôi, dầu có hay không cũng chưa kể lắm, cốt nhứt có nền kinh tế nông nô đã, mà nước ta vốn có nền kinh tế nông nô thật!

IV. Nước Nam ta có chế độ nông nô không?
Câu trả lời thứ nhất đã xong rồi, bây giờ ta qua câu hỏi thứ hai. Nước Nam ta có chế độ nông nô không? Tôi thiết tưởng nếu Phan tiên sinh là người thật thà thì cũng phải nhận như tôi rằng: “có”. Phan tiên sinh cũng chứng nhận rằng các ông thân vương, các ông công thần hồi xưa, vẫn có nhiều thái địa, có lộc điền hay tư điền, kể hàng mấy chục trăm mẫu, trong mỗi thái địa kể hàng trăm con người ta lãnh đất làm, đầu tắt mặt tối vừa đủ để nuôi một ngày hai bữa, còn bao nhiêu về chủ điền thâu hết.
Hồi Nguyễn Vương (tức là vua Gia Long), hãy còn ở Gia Định cắt đất ra từng khu một, rồi bắt dân ở các nơi đến làm, gọi là “tốt điền”. Cứ mỗi mùa, ruộng đồng bằng thì phải nạp 100 cơ mà ruộng núi thì nạp 70 cơ (1 cơ: 42 bát). Đó là một cái chứng của chế độ phong kiến mà trong lịch sử vẫn có chép.
Tôi còn nhớ năm xưa tôi ở trong Nam, có lần giả trang làm anh nhà quê đi mướn ruộng của một điền chủ nọ ở Mỹ Tho, bà ấy bắt tôi phải, ngoài điều kiện mướn ruộng ra, còn phải đi một năm hai lần: một quả nếp, một cặp vịt, hai chai mật ong, lại phải 15 ngày công lễ. Cái nếp, vịt, mật ong, là một phần trong cái địa tô bằng hoa lợi (rente en nature), còn 15 ngày công lễ hoa tức là một phần trong cái địa tô bằng lao động (rente en travail). Đó là những hình thức của chế độ phong kiến tự tôi thấy một cách rõ ràng.
Ngày nay trong chỗ rẫy bái, đồn điền, tuy về mặt tổ chức, cách thâu địa tô có khác nhau: như “lãnh ruộng đong lương”, nghĩa là đến mùa sẽ đong lúa lại cho nhà chủ, hoặc là “cấy rẽ”, nghĩa là mướn công canh, điền khí của chủ cày ruộng mình rồi lại quay qua cày ruộng của chủ; hoặc cách khác là làm contra như ở các đồn điền đều là những cái thể thức của chế độ nông nô, mà nông nô còn thì phong kiến hẳn còn, không thể chối cãi vào đâu được.
Phong kiến còn thì nước ta có bị áp bức bởi nó không? Câu ấy là một câu ngoài vấn đề mà tôi không muốn bàn tới; tôi chỉ ngán cho ông Phan Khôi chưa xét đầu đuôi mà đã nói ngay câu “Người mình không bị chế độ phong kiến áp bức”.
HẢI TRIỀU
Nguồn:
Công luận, Sài Gòn, s. ? (2&3.1.1935).
[Rút từ sách Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, Nguyễn Ngọc Thiện sưu tầm, Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan biên soạn, Hà Nội, Nxb. Lao động, 2001, t. I, tr. 934-941]
Ghi chú: theo ghi chép của tôi (LNA) khi đọc báo Công luận thì bài này của Hải Triều còn có phụ đề (sur-titre): “Trả lời bài của ông Phan Khôi…”; số báo Công luận đăng bài này là số 6727, ra ngày 30.12.1934&1.1.1935). Trước bài này, báo Công luận đăng một loạt bài tranh luận với Phan Khôi: Nguyễn Văn Thới (Ông Phan Khôi lầm chăng: Việt Nam cũng có chế độ phong kiến, CL. s.6706, ngày 4.12.1934); Phan Văn Hùm (Phong kiến là gì? CL. s. 6715, ngày 12.12.1934; liên tục đến s.6725, ngày 28.12.1934).

LẠI NGUYÊN ÂN — Đề cương thuyết trình: HỌC GIẢ PHAN KHÔI VÀ VẤN ĐỀ DI SẢN KHỔNG GIÁO Ở NƯỚC TA

Lý do buổi seminar của Cà-phê Thứ Bảy, 3A Ngô Quyền, Hà Nội, 01/7/2017
— nhân 130 năm sinh Phan Khôi (6/10/1887)
— Phan Khôi vừa được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh vinh danh là danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại (thế kỷ XX)

Tôi đã từng trình bày ở Cà-phê thứ bảy (trong năm 2016) về không gian dân sự cho việc tìm đường sống của Phan Khôi (một nho sinh lỡ vận trong khoa cử cũ).

Hôm nay sẽ dành nói đoạn đường thành danh của Phan Khôi trong không gian dư luận những năm 1920s-40s; chú ý một trong các đề tài Phan Khôi theo đuổi: luận bàn về di sản Khổng giáo ở VN.

Khảo sát đề tài Phan Khôi và Khổng giáo (Nho giáo), có 2 điểm cần chú trọng:
1/ Phan Khôi hình thành nhân cách trong môi trường Nho học và Nho giáo (ông nội và cha đều là nho sĩ đỗ đạt, làm quan triều Nguyễn; bản thân được học chữ Hán từ 6 tuổi, được nhiều người xung quanh khen về tầm hiểu biết); nhưng con đường tiến thân dừng ngay lại sau lúc đỗ Tú tài (1906); tham gia Duy tân rồi bị bắt và bị tù, bị tước khử bằng Tú tài (1908, đến 1923 mới được cấp lại); tức là bị tước quyền đi thi. Vậy con đường tiến thân trong Nho học bị cắt ngang. Buộc phải tìm đường khác.
2/ Lớn lên ở thời mà làn sóng “tân thư” từ Trung Hoa và Nhật Bản lôi cuốn sự tìm tòi cái mới của giới sĩ phu Việt, bản thân Phan Khôi cũng chăm chú tìm đọc tân thư, dần dần nhận ra tính ưu việt của nguồn tri thức Âu-Mỹ so với văn minh Á Đông của mình. Ý nguyện canh tân xứ sở đi kèm với việc truy nguyên nguồn gây ra sự trì trệ của xứ sở. Và Phan Khôi thấy một trong những căn cốt là ảnh hưởng của Nho giáo.

MÔ TẢ TIẾN TRÌNH CÁC BÀI VIẾT VỀ NHO GIÁO CỦA PHAN KHÔI:
— Phan Khôi viết báo, có bài đăng báo từ 1917
— Bài chữ Hán “Luận Nam quốc bách niên lai học thuật chi biến thiên cập hiện thời chi cải lương phương pháp” ký Chương Dân, đăng Nam Phong chữ Hán s. 5 (th. 11/1917) và s. 6 (th. 12/1917) có bàn về Khổng giáo không? Nhờ các chuyên gia Hán-Nôm dịch và thông báo lại.
— Ở phần viết báo chữ Việt, bài viết sớm nhất về Nho giáo có thể là bài trên Hữu Thanh 1924. “Học thuyết về đạo đức của Khổng Phu Tử”, 2 kỳ
— 1928 trở lại viết báo tại Sài Gòn, nhưng trong năm 1928 chỉ bàn chung về so sánh văn hóa, tư tưởng Đông – Tây, khẳng định các xã hội phương Đông phải cải cách theo mô hình phương Tây.
— Đầu 1929 viết gửi lai cảo “Quần Báo” chữ Hán tại Chợ Lớn bài “Chánh trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử”, nêu trạng thái ngập ngừng tôn Khổng/đả Khổng ở Trung Hoa đương thời, nhân đó nêu yêu cầu thảo luận về di sản Khổng giáo ở phương Đông, cả Trung hoa lẫn Việt Nam.
— Cuối năm 1929 viết và đưa đăng loạt 21 kỳ “Cái ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta”, gây được chú ý nhất định ở các giới có quan tâm chuyện học vấn.
— Đầu 1930 nhân cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng Kim xuất bản lần đầu, Phan Khôi viết giới thiệu, sau đó có thảo luận với Trần Trọng Kim, gây tranh luận trong giới học giả về Nho học và các vấn đề liên quan (chuyện học phiệt), nhiều học giả lên tiếng (Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, Trịnh Đình Rư, Hoành Sơn, v.v.)
— Năm 1931-32 viết nhiều bài về các vấn đề liên quan đến di sản Nho giáo, như hôn nhân gia đình, thái độ đối với phụ nữ, thanh niên, người đi học, v.v.; chú ý tìm hiểu và thông tin việc giới đại học ở Pháp và châu Âu nghiên cứu tư tưởng văn hóa Đông Á ra sao.
— Những năm 1934-40, Phan Khôi viết cho nhiều báo khác nhau, đề tài Nho giáo được đề cập ở khía cạnh chỉ ra các đặc điểm của giới nhà nho: thiếu khoan dung, thủ cựu, thù địch với chất sống tươi mới, nhất là thù địch với dân chủ; đó là giới chỉ gắn với quá khứ quân chủ.
— Sau 1945: ít thấy Phan Khôi viết về Nho giáo, hầu như chỉ đề cập khi viết về Truyện Kiều (1955), nhắc lại những nhận định về Nho giáo của chính mình trước 1945.

MỘT SỐ ĐIỂM CHÍNH TRONG TIẾP CẬN KHỔNG GIÁO Ở PHAN KHÔI:
— Tự xác định là học giả bình dân, không phải học giả hàn lâm; chữ Dân 民 trong bút danh Chương Dân 章民, tự xưng “tôi là viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng”. Tiếp cận cả từ chỗ đứng bên trong (với tư cách môn đồ cũ của Khổng học), cả từ thế đứng bên ngoài (người tự do, không phải môn đồ để không phải kính cẩn đến mức không dám nêu những nhận xét bị coi là phạm thượng, không bị coi là vong sư bội đạo).
1/ Nho giáo là học thuyết hay là tôn giáo?
a/ Phan Khôi khẳng định, trước hết Khổng giáo là học thuyết,
— học thuyết về một loạt phạm trù đạo đức, đứng đầu là “nhân”, tương quan với một loạt phạm trù khác: “trung”, “thứ”, “kính”, “lễ”, “trí”, “dũng”, “hiếu”, “nghĩa”…
— Khổng giáo mặc định trong loài người có hai loại: tiểu nhân, quân tử. Quân tử là hạng có khả năng tiếp nhận những hiểu biết, những chuẩn về phẩm chất và hành vi, tự rèn luyện, bồi bổ để có thể làm được những việc lớn trong cuộc đời. Tiểu nhân không có khả năng như thế, chỉ có thể bị/được sai khiến, ban phát…
— Khổng giáo cho rằng trật tự xã hội phải được cai quản bởi quân quyền (làm thế nào để xác định quân quyền thuộc về ai, Khổng giáo không chỉ ra được, bởi thấy có thể do truyền thừa, hoặc do nổi lên dung bạo lực cướp lấy, do đó Khổng giáo không bàn về nguồn gốc quyền lực, không bàn về sự hợp đạo lý hay trái đạo lý của quyền lực một vị quân chủ cụ thể, chỉ thừa nhận như một mặc định sẵn có, dù ngẫu nhiên mấy cũng mặc)
— Khổng giáo cho rằng một xã hội có thể có trật tự, phong hóa tốt, nếu vị quân chủ biết dùng những người quản lý có đủ những phẩm chất và năng lực nhất định; từ đây, Nho giáo đề xuất các vị quân chủ nên sử dụng người quân tử theo hình mẫu do Nho giáo đào tạo vào bộ máy quản lý, cai trị theo cách khuyến dụ và nêu gương, tóm lại là dùng “nhân trị”.
b/ Cơ chế đưa mẫu người quân tử (của Nho giáo) làm đội ngũ quản trị xã hội cho các vị quân vương, đã biến Nho giáo từ học thuyết thành tôn giáo.
Phan Khôi vạch rõ, Nho giáo đã được thể chế hóa vào cấu trúc chế độ quân chủ. “Trong Khổng giáo không có đặt riêng ra người cầm quyền chủ giáo như Giáo hoàng của đạo Thiên Chúa; mà ông vua tức là người chủ giáo đó, vì ông vua là chức “Quân” mà thêm cả chức “Sư”. Bởi vậy, người trong nước theo Khổng giáo, làm tín đồ Khổng Tử, đã đành, nhưng trong sự theo ấy lại còn phải ở dưới quyền vua nữa.” (Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, [kỳ 4], Thần chung, S.G., s. 218, ngày 9.10.1929).
Nho học (Khổng học) là nơi đào tạo các môn đồ – các nhà nho – theo mẫu hình người “quân tử”, có trách nhiệm phò tá, trợ giúp vị giáo chủ ( = ông vua) cai quản dân chúng ở đất nước mình. Chế độ quân chủ Đông Á (Trung Hoa, Việt Nam) lựa chọn quan chức chủ yếu từ giới nhà nho, thông qua các kỳ thi Nho học.
Nho giáo chính là học thuyết biện hộ chế độ quân chủ chuyên chế. Phan Khôi đã nhận ra đặc điểm vừa khác biệt lại vừa tương đồng của Đông Á thời trung đại dưới các nền chuyên chế Nho giáo so với châu Âu trung đại dưới sự cai trị của nền quân chủ thần quyền theo Thiên Chúa giáo. Vai trò nhà nho trong xã hội theo Nho giáo cũng tương tự vai trò các giáo sĩ trong các nhà nước thần quyền Thiên Chúa giáo trung đại. Bằng hiểu biết và bằng trải nghiệm cá nhân, Phan Khôi khẳng định thuộc tính của nhà nho, sản phẩm của Khổng giáo, là: nhà nho bao giờ cũng thờ phụng chế độ quân chủ, và nhà nho không bao giờ đứng về phía dân chủ!

2/ Sự thâm nhập sâu xa của Nho giáo vào xã hội Đông Á, vào xã hội Việt Nam.
— Ý thức hệ Khổng giáo, từ Trung Hoa truyền vào nước ta thời kỳ bị nội thuộc, trở thành công cụ của chế độ quân chủ chuyên chế ngoại bang, và sau đó, của chế độ quân chủ chuyên chế độc lập, tạo ra con người chức năng, con người công cụ, trói buộc con người vào chế độ quân chủ bằng những quy phạm đạo đức hà khắc.
— Xã hội nam quyền, trọng nam khinh nữ, với những quy phạm và định kiến phi nhân, được Nho giáo bênh vực và hợp pháp hoa, ví dụ chuẩn mực chữ “trinh” của Tống nho, hoặc những tập quán về chế độ đại gia đình đã hình thành dưới ảnh hưởng Khổng giáo, theo đó người gia trưởng có quyền áp chế các thành viên là con cháu, người mẹ chồng được quyền áp chế nàng dâu, gây ra vô vàn thảm kịch không đáng có.

3/ Hóa giải các ảnh hưởng của Nho giáo ra sao khi xã hội Đông Á bước sang thời hiện đại?
— Chủ nghĩa thực dân đã vô hiệu hóa một số ảnh hưởng quan trọng của Nho giáo (quyền quân chủ bị lệ thuộc, bị đặt dưới sự bảo hộ của chính quyền thực dân, tình trạng một đất nước hai chính quyền đem lại những khoảng tự do bất ngờ cho người dân, giảm thiểu gánh nặng làm thần dân của họ, có “một cổ hai tròng” cả theo chiều thuận lẫn chiều nghịch, trừ khử nhau; nền học Nho bị thay bằng nền học Pháp-Việt, kiến thức Nho giáo bị thay bằng lượng tri thức về tự nhiên, xã hội tương tự nhà trường Âu Mỹ; xuất hiện cả trường nữ học là thứ không thể có trong hệ trường Nho học; một số cải cách, cải lương hương chính động chạm tới quyền của các thế lực tay chân quân quyền, thế lực gia trưởng. v.v.)
— Nhưng còn vô số ảnh hưởng sâu xa của Khổng giáo vẫn chưa bị động tới, nhưng sẽ cản trở xã hội bước sang thời hiện đại, ví dụ cấu trúc đại gia đình cản trở sự phát triển con người cá nhân, bất bình đẳng về giới cũng vậy, trong khi xã hội hiện đại hóa cần giải phóng con người cá nhân để có lao động, có các chủ thể cho kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ…
— Phan Khôi trên thực tế đề xuất một loạt giải pháp “hóa giải” ảnh hưởng Nho giáo, gồm:
+ lý giải lại một loạt quan hệ con người từ xã hội cổ sang hiện đại, vận dụng hiểu biết về Khổng giáo thời đầu, tố giác và bác bỏ các tư tưởng Nho gia của thời Hán, Tống, nhất là ảnh hưởng Tống nho.
+ biến di sản Khổng giáo thành đối tượng nghiên cứu lịch sử tư tưởng văn hóa
+ chủ trương kế tục một số tư tưởng và truyền thống Nho giáo trong đào luyện nhân cách, chú ý vai trò Nho giáo đối với việc tu thân của cá nhân.

KẾT LUẬN

 

 

 

ĐỀ XUẤT TÔN VINH DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI: PHAN KHÔI

 

 

 

Tác gia Phan Khôi (1887-1959) là một tên tuổi lớn trong hoạt động báo chí, văn học, tư tưởng Việt Nam ở thời hiện đại.

Quê tại Quảng Nam, sinh trưởng trong gia đình nhà nho, đời ông và đời cha đều đỗ đạt, làm quan, Phan Khôi theo Nho học từ nhỏ. Năm 1906 dự thi hương, đỗ Tú tài. Cũng từ cuối năm 1906, Phan Khôi tham gia phong trào duy tân, vận động cát tóc ngắn, đi quyên tiền và chọn người cho “Đông du”; đầu năm 1908 Phan Khôi là một trong số những thành viên trẻ được phong trào duy tân Quảng Nam cử ra Hà Nội học tiếng Pháp. Cũng thời gian đó tại Quảng Nam nổ ra vụ “xin xâu”, chính quyền Pháp ra tay đàn áp. Phan Khôi bị bắt đưa về Quảng Nam, bị kết án tù 3 năm; 1911 ra tù, Phan Khôi còn tiếp tục hoạt động trong “ám xã” thêm vài năm nữa; sau đó, ông xin ra khỏi tổ chức bí mật, để chuyển hướng đời mình sang “phụng sự Tổ quốc về mặt văn hóa″.

Từ bỏ con đường của chí sĩ, Phan Khôi bắt đầu tìm kiếm cho mình một phương hướng sống mới. Ông tìm học chữ Quốc ngữ, học tiếng Pháp, lại cũng tìm tòi học hỏi từ các nguồn sách báo từ Trung Hoa, từ Pháp đưa đến xứ ta.

Về nghề nghiệp mưu sinh, sau thời gian dạy học tại nhà, Phan Khôi bắt đầu viết báo (chữ Hán và chữ Việt) từ năm 1917 cho tạp chí Nam Phong ở Hà Nội với bút danh Chương Dân . Đầu 1918 ông ra Hà Nội làm việc trong tòa soạn báo này, song chỉ một năm sau, ông thôi việc về nhà. Năm 1919, ông vào Sài Gòn, viết cho tờ Quốc dân diễn đàn, và sau đó, cho tờ Lục tỉnh tân văn. Được vài tháng, lại bị buộc thôi việc.

Năm 1920, ông ra Hải Phòng, vào làm thư ký cho hãng tàu Bạch Thái. Đầu năm 1921 thôi việc ở đấy, lên Hà Nội, cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu thanh. Nhưng phần lớn thời gian suốt 5 năm (1921-1925) Phan Khôi cộng tác với Hội thánh Tin Lành ở Hà Nội (tức là Hội truyền giáo Phúc âm liên hiệp /Christian and Missionary Aliance; C&MA/, từ Hoa Kỳ vào Việt Nam) dịch Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, dưới sự chủ trì của bà mục sư Grace Hazenberg Cadman. Đây là dịp rất may mắn để Phan Khôi được mở rộng tầm mắt, hiểu biết văn hóa Thiên Chúa giáo phương Tây, nhất là nhánh tôn giáo cải cách Tin Lành.

Đầu năm 1926, Phan Khôi đến Huế, mục đích là gặp Khâm sứ Pasquier để xin giấy phép ra một tờ báo nhưng việc không thành; ông ở nhờ nhà riêng Nguyễn Bá Trác, khi ấy vừa được bổ chức Tán lý bộ Học, đúng lúc Phan Bội Châu bị chính quyền Pháp, vì định bỏ tù cụ không được, bèn buộc cụ phải an trí tại Huế, cũng đang ở nhà Nguyễn Bá Trác; sự việc này sẽ gây nhiều rắc rối về sau. Cũng dịp đầu năm 1926, Phan Khôi vào Sài Gòn theo lời nhắn của chí sĩ Phan Châu Trinh, đã từ Pháp về Sài Gòn, và đang bị đau nặng, nằm tại nhà thầy thuốc Nguyễn An Cư (chú ruột Nguyễn An Ninh)  rồi chết (24.3.1926). Phan Khôi ở trong nhóm những người chuẩn bị đám tang cụ Phan, được giao viết tiểu sử Phan Châu Trinh. Thế nhưng trong dư luận sĩ phu hai xứ Quảng lại có những đồn thổi rằng dường như Phan Khôi đồng mưu cùng Nguyễn Bá Trác dụ dỗ cụ Sào Nam về hàng Pháp, rằng dường như Phan Khôi được Khâm sứ Trung Kỳ đưa vô Nam ám sát cụ Tây Hồ! Phan Khôi bị ngờ vực, xua đuổi, phải rời Sài Gòn xuống Cà Mau, đến khoảng cuối năm 1927 mới trở lại Sài Gòn.

Từ đầu năm 1928 Phan Khôi bắt đầu viết dưới bút danh C.D. (ký tắt bút hiệu Chương Dân) cho tờ Đông Pháp Thời Báo, khi đó đã thuộc về chủ nhiệm Diệp Văn Kỳ (ông này mua lại tờ báo từ tay chủ nhiệm Nguyễn Kim Đính). Sang năm 1929, Đông Pháp Thời Báo đổi tên thành Thần Chung; Phan Khôi tiếp tục viết cho tờ này. Đôi khi ông cũng viết cho báo chữ Hán, tờ Quần Báo (hoặc Hoa Kiều Nhật Báo) của người Hoa ở Chợ Lớn. Từ tháng 5/1929, Phan Khôi và Đào Trinh Nhất cộng tác biên tập và viết bài cho tuần báo Phụ Nữ Tân Văn của chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận. Tháng 3/1930, nhật báo Thần Chung bị đóng cửa, Phan Khôi chuyển sang viết cho nhật báo Trung Lập của chủ nhiệm Trần Thiện Quý, khi Bùi Thế Mỹ cũng từ Thần Chung chuyển sang làm chủ bút cho Trung Lập. Ngoài mấy tờ báo tại Sài Gòn, Phan Khôi đôi khi còn cộng tác với một số tờ báo ở Hà Nội như Phổ Thông (1930), Đông Tây (1931-32).

Hoạt động báo chí những năm 1928-1933 đã khiến tên tuổi Phan Khôi trở nên nổi bật trên trường dư luận văn chương báo chí tiếng Việt khắp cả ba miền.

Giữa năm 1933 ông ra Hà Nội, viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo ít lâu rồi nhận lời của chủ nhân Nguyễn Văn Đa làm chủ bút tờ Phụ Nữ Thời Đàm, đổi tờ này từ nhật báo sang tuần báo (1933-34), duy trì tờ báo suốt 22 tuần, trước khi chuyển chức danh chủ bút cho Nguyễn Triệu Luật.

Đầu năm 1934 Phan Khôi về quê chịu tang cha, lại gửi bài cộng tác với các báo ở Sài Gòn như Công Luận (1934), Phụ Nữ Tân Văn (1934).

Đầu năm 1935, Phan Khôi tới Huế, làm chủ bút tờ nhật báo Tràng An của chủ nhiệm Bùi Huy Tín. Đầu năm 1936 ông thôi chủ bút tờ này, chuyển sang cộng tác viết bài cho tuần san Hà Nội Báo ở Hà Nội. Sau khi cho in cuốn sách Chương Dân Thi Thoại (nhà in Đắc Lập, Huế, 1936), Phan Khôi đứng ra sáng lập báo Sông Hương, một tờ tuần báo thiên về học thuật, nhất là sử học, văn học, ngôn ngữ, v.v., tuy vậy ông và tờ báo này vẫn tham dự nhiều hoạt động của báo giới giữa lúc phong trào Đông Dương đại hội đang lên cao. Do báo thất thu, Phan Khôi phải ngừng xuất bản Sông Hương sau 32 số, trước khi bán lại giấy phép Sông Hương cho nhóm cộng sản Nguyễn Cửu Thạnh, Phan Đăng Lưu. Những năm 1938-1940, Phan Khôi lúc ở Huế, lúc ở Sài Gòn, lúc ở quê Quảng Nam, vừa dạy học, vừa viết bài cho các tờ báo ở Hà Nội như Đông Dương Tạp Chí (tục bản), Thời Vụ, Dư Luận, Ngày Nay, Tao Đàn, Phổ Thông Bán Nguyệt San. Từ 1940 ông hầu như ở Sài Gòn, viết cho tờ Dân Báo của Bùi Thế Mỹ. Khoảng cuối 1941 đầu 1942, ông ngừng viết báo, từ Sài Gòn về quê Quảng Nam.

Đến đấy cũng chấm dứt hoạt động báo chí của Phan Khôi thời kỳ trước 1945.

***

Như đã nói trên, chính hoạt động báo chí tại Nam Kỳ, tại Sài Gòn đã làm nên tên tuổi nhà văn, nhà báo, học giả Phan Khôi. Ông xứng đáng được coi như một trong những tên tuổi hàng đầu của văn học và báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Phan Khôi có lúc nói ông tự xem mình là “viên tiểu tưởng của đạo quân bình dân tư tưởng”. Đây là sự tự xác định chính xác, giàu tự trọng tự khiêm của ông. Vốn là nhà nho nhưng đã không còn đi tiếp con đường thi đỗ làm quan, không thể can dự thế sự từ vai trò quan chức nhà nước. Ông không có cái may mắn được đào tạo chính quy trong nền học thuật Pháp-Việt mới, như một số người Việt cùng thế hệ. Ông phải tìm và đi con đường khác, tựu trung là con đường của người làm dân, người trong dân chúng. Bút danh Chương Dân được sử dụng từ 1917 nói khá rõ sự tự xác định ấy của ông. Ngay khi bằng tự học và tự trang bị nhiều nguồn kiến văn mới, ông cũng hiểu rõ mình đã ở trong hàng ngũ kẻ sĩ bình dân, trí giả bình dân. Do vậy, trong tranh biện tư tưởng học thuật, ông không đặt mục tiêu hay tham vọng thay thế những Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, những đại diện của một học vấn dù sao cũng chính quy hơn ông. Ông đặt mục tiêu đối thoại, phản biện lại các đại diện ấy với một sự chân thành lành mạnh.

1/ Phan Khôi và công việc xây dựng nền Quốc văn mới

Thời kỳ từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ đầu thế kỷ XX là một giai đoạn phát triển mới của văn học tiếng Việt, gắn với việc sử dụng chữ Quốc ngữ. Nếu văn chương tiếng Việt, ở các thời kỳ trước đó, được ghi dưới dạng chữ Nôm, chỉ là một trong các bộ phận của văn học Việt Nam (bên cạnh bộ phận viết bằng chữ Hán), thì từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi, bộ phận này dần dần trở thành bộ phận chủ yếu. Người ta biết, thời kỳ ấy, ở Nam Kỳ và sau đó trong toàn quốc, chữ Quốc ngữ được chính quyền thực dân Pháp đưa vào sử dụng như một trong các văn tự chính quy cho các giao tiếp hành chính công cộng, như một trong hai ngôn ngữ chính quy của nhà trường phổ thông ở Nam Kỳ, sau đó trong cả ba miền (nhà trường Pháp-Việt từ Tiểu học đến Trung học).

Hoạt động trong giới viết báo viết văn, Phan Khôi hiểu khá sâu sắc những chuyển biến đã, đang và sẽ xảy ra cho các diễn ngôn tiếng Việt ở thời đại mới. Ông biết khá rõ về những gì diễn ra trong văn hóa văn học ở nước láng giềng Trung Hoa: “Độ Dân Quốc gây dựng được năm bảy năm chi đó, Hồ Thích bắt đầu xướng ra cái thuyết dùng bạch thoại thế cho văn ngôn, làm cho văn thể nước Tàu biến đổi ngay và từ đó tư tưởng người Tàu cũng phát đạt rất mau”.(1) Ông biết, tiếng Việt dưới dạng các văn bản tác phẩm chữ Nôm của các thời đại trước hầu như chỉ nổi bật ở các thể thơ và văn vần, hầu như đạt tới trạng thái cổ điển, nhưng ở dạng tản văn, văn xuôi thì hầu như có quá ít trứ tác, không có những mẫu mực đủ để hậu thế thời ông có thể sử dụng vào viết văn viết báo. “…chữ Quốc ngữ của chúng ta ngày nay còn phân vân, chưa nhứt định, chưa có sách mẹo cùng các sách khác thuộc về phép làm văn, thì bước thứ nhứt là phải do chúng ta lập cái nền quốc văn cho vững chãi đã, rồi mới nói đến cái hay cái đẹp được; nghĩa là trước hết chúng ta phải tập viết văn cho đúng mẹo, cho thông. Hễ đã đúng mẹo, đã thông, rồi mới nhơn đó mà lập thành sách mẹo tiếng Việt Nam và lại nhơn đó lần lần làm ra các sách dạy phép làm văn, luyện đến cái hay cái đẹp, mà thành ra một nền văn chương Việt Nam vậy”. (2)

Ý thức về nhiệm vụ chung của các giới làm văn làm báo là xây dựng nền quốc văn mới, đã thúc đẩy Phan Khôi bắt tay vào một loạt công việc, một loạt đề tài về ngữ học, khởi đầu là vận động công chúng viết đúng chuẩn chữ Quốc ngữ.(3) Ông nhận thấy “người Bắc, người Trung, người Nam, mỗi nơi đều có sai lầm theo thói quen riêng của mình; chúng tôi hết sức công kích mà khuyên người ta phải viết cho đúng. Đúng gì? Đúng tiếng Việt Nam, đúng tiếng mẹ đẻ, đúng với tự vị Trương Vĩnh Ký và Paulus Của”. (4)

Tiếp đó là việc khởi thảo “Phép làm văn” tiếng Việt, một đề tài mà Phan Khôi đã viết và cho đăng từ 1930 trên tuần báo Phụ Nữ Tân Văn và về sau ông cổ vũ nhiều tác giả khác cùng làm, trên tuần báo Sông Hương ở Huế (1936-37) hoặc trên tạp chí Tao Đàn ở Hà Nội (1939). Phan Khôi quan niệm “phép làm văn” gồm các bộ phận chính là: 1/ “văn pháp” (grammaire), 2/ “luận lý học” (logique), 3/ “tu từ học” (rhétorique),(5) bởi vậy ông vừa viết những bài phân tích trong phạm vi ngữ pháp tiếng Việt, song ông cũng vượt ra ngoài phạm vi đó, bàn tới “cách xưng tên của người Việt Nam”,(6) “cách ngôn luận của người Á Đông”,(7) tới bộ môn “danh học” mà theo ông cần tôn vinh người mở đầu chính là Khổng Tử với thuyết “chính danh”, (8) tới tính chất của hành vi phát ngôn trên trang báo như là sự giao tiếp vắng mặt và các hệ lụy của nó. (9)  Phan Khôi cũng bắt tay vào những công việc thiết thực như mở mục “Vai ngự sử trên đàn văn” để góp ý sửa sai về dùng từ, diễn ý, cho các đồng nghiệp cầm bút trong viết văn viết báo. (10)

Sống bằng nghề viết, chính Phan Khôi phải tự tìm tòi để tạo ra những lối viết hợp lý. Kinh nghiệm Trung Hoa “dùng bạch thoại” của Hồ Thích cho Phan Khôi thấy phải dựa vào thứ tiếng Việt sống động mà người Việt thời mình đang nói hàng ngày để tạo ra những lối viết hiện đại, thích hợp với đương thời. Thành công đầu tiên của ông là tạo được lối viết nghị luận, lối viết “không lấy văn làm mục đích mà lấy việc làm làm mục đích”, “khi nghị luận thì cứ băm vào việc mà nói, việc nên làm thế nào, nói hẳn ra thế ấy”. (11)  Đương thời, lối viết nghị luận của Phan Khôi có những khác biệt rõ rệt so với lối viết nghị luận của Phạm Quỳnh, cũng khác biệt rõ rệt so với lối viết nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh.

Nếu lối viết nghị luận của Phan Khôi dựa chủ yếu trên bảng từ vựng tiếng Việt thông dụng ở cả hai miền Nam Bắc, thì khi viết “lối văn hàng ngày”, lối của một tay bút chủ trì cột báo (columnist), chủ trì các mục báo, các bài hài đàm, Phan Khôi đã chú trọng khai thác phương ngữ miền Nam, với khá nhiều từ vựng và mệnh đề khẩu ngữ thông dụng ở các vùng từ Quảng Nam vào đến Nam Kỳ. Đối với ông, đây là một văn phong của một tác giả dựa vào thứ phương ngữ quen thuộc với mình, nó cũng có giá trị ngang như một văn phong khác, ví dụ lối viết của Hoàng Tích Chu, vốn tận dụng nhiều hơn các đặc tính phương ngữ Bắc Kỳ.

Cả hai lối viết văn xuôi đều thiên về thể luận này của Phan Khôi đã là thành tựu được thừa nhận trong công chúng và đồng nghiệp ngay từ những năm 1930:

“Ông đã ở trong việc viết, dịch văn quốc ngữ nhiều năm; trong vài ba năm nay tên ông đã lừng lẫy trong báo giới, văn ông lại càng rõ ràng, khúc chiết, sáng sủa, dễ hiểu, thỉnh thoảng lại đưa cái hơi trào phúng mát mẻ mà khó chịu. Hiện nay văn viết báo của ông, trừ lối văn luận thuyết mà ông cũng là một tay đàn anh trong trường ngôn luận, ông còn một lối văn đặc biệt, là lối văn hàng ngày, nó hay, nó có duyên và vui vẻ làm sao, nó khéo đến cả trong lối sắp đặt từng câu từng chữ của ông, nó mặn mà thấm thía đến tinh thần người đọc. Đọc lên mà vui, mà mừng, mà thích, mà đắc ý; lại đọc lên mà ké né, mà xính vính, mà sợ, mà lo, mà tức giận, cấu đầu gãi tai, cũng trong câu văn ấy. Các nhà viết báo thiện nghệ ngày nay chưa chắc đã có một tay nào có được lối văn ấy, đủ ứng dụng hàng ngày trong một cơ quan ngôn luận. Thực vậy, lối văn hàng ngày trên báo của ông Phan Khôi có thể đem ra so sánh với lối văn hàng ngày của ông De la Fouchardière ở báo Œuvre bên Paris”. (12)

2/ Phan Khôi và công cuộc đổi mới tư tưởng

Phan Khôi có lúc đã tự coi mình “là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng, đi trước dẹp đường”, (1)  của một nền học vấn bình dân, phổ cập, sẵn sàng chịu chất vấn và truy cầu chân lý. Sống trong một thời đại chuyển đổi, Phan Khôi ý thức rõ rệt về tình thế thay đổi hệ hình văn hóa khi xã hội Khổng giáo Á châu tiếp nhận các luồng sóng “Âu hóa”. Ông nhìn rõ khác biệt Đông-Tây không phải chủ yếu là khác biệt về bản sắc dân tộc hay vùng đất mà chính là khác biệt về trình độ phát triển; văn minh Âu Mỹ chính là văn minh mới mẻ nhất của nhân loại đương thời, với các đặc tính khoa học, dân chủ, tự do, là tiêu biểu cho xu thế tiến bộ của thời hiện đại. (2)  Do vậy, hoạt động cải cách, đổi mới, “Âu hóa”, học theo văn minh Tây phương, chính là chuyển mình sang thời hiện đại.

Phan Khôi rất chú trọng làm rõ hàm nghĩa các phạm trù xã hội của văn minh phương Tây như chủ nghĩa cá nhân, nền dân chủ (cũng gọi là dân trị). Trong khi không ít cây bút nghị luận đương thời khó tránh khỏi tâm thế mô tả xuyên tạc chủ nghĩa cá nhân (individualisme) thành thái độ vị kỷ (égoisme), thì Phan Khôi trình bày cách hiểu chủ nghĩa cá nhân Âu Tây trước hết như là sự tự chủ của mỗi con người trưởng thành trước xã hội. “Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. Ở phương Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia”,… “Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật”. (3)

Phan Khôi hiểu rằng sự phát triển con người cá nhân ấy chính là điều kiện để có xã hội dân trị tức xã hội dân chủ. “Muốn thực hành cái chủ nghĩa dân trị trong một nước nào thì người làm dân trong nước ấy trước phải thực hành cái cá nhân chủ nghĩa (individualisme) mới được”… “Cá nhân chủ nghĩa là hết thảy người trong nước, mỗi người đều độc lập về phần mình; mà độc lập cả hai đường: về tinh thần và về vật chất vậy. Độc lập về tinh thần, tức là mỗi người đều biết tự suy nghĩ lấy, tự phán đoán lấy, nhắm lẽ phải ở đâu thì theo đó, chớ không làm nô lệ cho ý kiến của người nào hay đảng phái nào. Độc lập về vật chất tức là độc lập về kinh tế, mỗi người đều làm lấy mà nuôi sự sống mình, chớ không chịu nhờ vả ai, dầu con cũng không nhờ cha, vợ cũng không nhờ chồng. Có độc lập như vậy rồi mới nói chuyện hiệp quần được”. (4) 

Phân tích trạng thái tinh thần của xã hội Việt Nam, Phan Khôi chỉ ra ảnh hưởng rất nặng của ý thức hệ Khổng giáo, từ Trung Hoa truyền vào nước ta thời kỳ bị nội thuộc, trở thành công cụ của chế độ quân chủ chuyên chế ngoại bang, và sau đó, của chế độ quân chủ chuyên chế độc lập, tạo ra con người chức năng, con người công cụ, trói buộc con người vào trật tự quân chủ bằng những quy phạm đạo đức hà khắc.

Phan Khôi vạch rõ, Nho giáo đã được thể chế hóa vào cấu trúc chế độ quân chủ. “Trong Khổng giáo không có đặt riêng ra người cầm quyền chủ giáo như Giáo hoàng của đạo Thiên Chúa; mà ông vua tức là người chủ giáo đó, vì ông vua là chức “Quân” mà thêm cả chức “Sư”. Bởi vậy, người trong nước theo Khổng giáo, làm tín đồ Khổng Tử, đã đành, nhưng trong sự theo ấy lại còn phải ở dưới quyền vua nữa.” (5)  Nho giáo chính là học thuyết biện hộ chế độ quân chủ chuyên chế, Nho học là nơi đào tạo các môn đồ – các nhà nho – theo mẫu hình người “quân tử”, có trách nhiệm phò tá, trợ giúp vị giáo chủ ( = ông vua) cai quản dân chúng ở đất nước mình; chế độ quân chủ lựa chọn quan chức chủ yếu từ giới nhà nho, thông qua các kỳ thi Nho học. Đây là điểm vừa khác biệt lại vừa tương đồng của Đông Á thời trung đại dưới các nền chuyên chế Nho giáo so với châu Âu trung đại dưới sự cai trị của nền quân chủ thần quyền theo Thiên Chúa giáo, mà Phan Khôi đã nhận ra. Nhà nho trong xã hội theo Nho giáo cũng giống như các giáo sĩ trong các xã hội theo Thiên Chúa giáo. Bằng hiểu biết và bằng trải nghiệm cá nhân, Phan Khôi khẳng định thuộc tính của nhà nho, sản phẩm của Khổng giáo, là: nhà nho bao giờ cũng phụng sự chế độ quân chủ, và nhà nho không bao giờ đứng về phía dân chủ! (6)

Sang thời cận hiện đại, khi các xã hội vùng Đông Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, v.v.) chịu ảnh hưởng Tây phương, thì Khổng giáo phải đối đầu với làn sóng “Âu hóa”; các cuộc vận động “tân văn hóa” đều nhằm xây dựng tinh thần khoa học và dân chủ, tức là phải vượt qua những ảnh hưởng vốn đã thâm căn cố đế của Khổng giáo. Trên đất Việt Nam, các thiết chế xã hội gắn với Nho giáo bị xóa bỏ từng phần, không phải bởi chính người Việt mà là bởi thế lực thực dân từ phương Tây đến. Tuy vậy, việc hóa giải ý thức hệ Nho giáo và những ảnh hưởng sâu rộng của nó trong xã hội người Việt vẫn cần phải do người Việt thực hiện. Phan Khôi hình dung sự hóa giải ấy cần diễn ra trên một phổ rộng; về học thuyết, cần biến Nho giáo từ chỗ là những tôn chỉ “thiên kinh địa nghĩa” mà người ta phải tuân thủ trở thành đối tượng của nghiên cứu, phân tích, phê phán. Một số nét tinh túy mà Nho giáo tạo nên ở cư dân Việt như lòng ái quốc, đức chính trực, vai trò Nho học trong việc hình thành nhân cách, v.v., thì cần giữ lại, kế thừa. Những lề thói phi nhân, kỳ thị giữa người với người trong cộng đồng, do Nho giáo tạo ra hoặc dung dưỡng, thì cần nêu ra và tạo dư luận phản kháng, lên án, bài trừ.

Nhìn sâu hơn vào xã hội Việt Nam thời quân chủ, Phan Khôi vạch ra đặc tính của nó chẳng những chỉ là xã hội đẳng cấp, mà còn là một xã hội nam quyền, trọng nam khinh nữ, với những quy phạm và định kiến phi nhân, được nho giáo bênh vực và hợp pháp hoa, ví dụ chuẩn mực chữ “trinh” của Tống nho,(7) hoặc những tập quán về chế độ đại gia đình đã hình thành dưới ảnh hưởng Khổng giáo theo đó người gia trưởng có quyền áp chế các thành viên là con cháu, mẹ chồng được quyền áp chế nàng dâu, gây ra vô vàn thảm kịch không đáng có. (8)

Trong thời gian chủ trì các tờ báo chuyên về giới phụ nữ (từ tháng 5/1929 đến 1932 với tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, từ tháng 9/1933 đến tháng 2/1934 với tờ Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội), Phan Khôi đã có hàng loạt bài viết nhiều loại, từ nghị luận đến khảo cứu, dịch thuật, tạp văn, nêu ra “vấn đề phụ nữ” trước xã hội Việt Nam, cho thấy một xã hội Việt Nam bước vào thời hiện đại không thể không từng bước khắc phục tình trạng bất bình đẳng nam nữ. Đây không chỉ là hoạt động có ý nghĩa tạo thêm nguồn lực lao động cho một nền công nghiệp, thương mại và dịch vụ đang mở ra, mà điều chủ yếu ở đây là ý nghĩa tranh đấu đòi quyền làm người cho một nửa dân cư vốn vẫn còn bị xã hội nam quyền kỳ thị, áp chế, tước đoạt. Các tờ báo phụ nữ do Phan Khôi chủ trì đã làm dấy lên phong trào phụ nữ bằng một loạt hoạt động xã hội, văn hóa, cổ vũ và hướng dẫn người phụ nữ tự trang bị thêm những hiểu biết và kỹ năng sống cần thiết cho bản thân và cho chức năng làm vợ, làm mẹ, làm người. Phan Khôi xứng đáng được thừa nhận như một trong những nhà hoạt động nữ quyền năng động nhất của Việt Nam những năm 1930s, một trong những tác gia Việt Nam tập hợp được một lượng tri thức về giới nữ thuộc loại đa dạng nhất, phong phú nhất.

3/ Phan Khôi, nhà sử học

Khả năng đọc nhiều biết rộng đã khiến ở Phan Khôi sớm hình thành con mắt sử học, quan tâm đến các tiến trình lịch sử.

Năm 1928, trên tờ Đông Pháp Thời Báo ở Sài Gòn, Phan Khôi, dưới bút danh C.D. đã khởi ra một cuộc thảo luận về việc có hay không sự kiện “nước Pháp giúp nước Nam”, tức là nhà nước Pháp giúp quân cụ và binh lính cho chúa Nguyễn Ánh trong nội chiến chống Tây Sơn, như một số tờ báo chữ Pháp ở Đông Dương đương thời rao truyền, khiến một vài tờ báo chữ Việt lặp lại. Bằng vào các nguồn sử liệu khác nhau, Phan Khôi vạch rõ: tuy giao ước Pháp-Việt 1787 được ký kết nhưng trước sau chính phủ Pháp đã không thực thi, họ không hề đưa quân lính hay tàu binh đến giúp Nguyễn Ánh, rốt cuộc cha Bá-đa-lộc dùng tiền của Nguyễn Ánh gửi mua được hai tàu binh và mộ được vài chục người Pháp, trong đó có một số võ quan Pháp bỏ ngũ đi với Bá-đa-lộc sang đầu quân giúp Nguyễn Ánh. Biện luận của Phan Khôi cho độc giả thấy, mấy chục người Pháp có mặt trong đội quân của Nguyễn Ánh chỉ là những lính đánh thuê nước ngoài, không phải người do chính phủ Pháp cử đến giúp. Tuy nhiên, Phan Khôi cảnh báo, những luận điệu tương tự thuyết “nước Pháp giúp nước Nam” có thể đã thâm nhập vào các bộ sử do người Tàu soạn, và ông kêu đòi các sử gia truyền Nguyễn phải làm sách để biện giải rõ về các sự kiện lịch sử Việt Nam cận đại. (1)

Năm 1929, Phan Khôi đã đóng vai trò chính tổ chức Cuộc thi quốc sử trên báo Thần Chung, đưa ra 30 bản sự tích các nhân vật lịch sử Việt Nam để bạn đọc bình chọn ra 10 nhân vật mà mình cho là tiêu biểu; một đề thi nữa là yêu cầu bạn độc chọn ra trong đó một nhân vật và viết một bài dài 3 trang cắt nghĩa vì sao mình cho đó là bậc nhất trong sử Việt. Tuy cuộc thi đã không có tổng kết trao giải, có thể vì nhật báo Thần Chung bị đóng cửa đột ngột (vào cuối tháng 3/1930), song những gì đã đưa lên báo trong suốt thời gian từ khi mở ra cuộc thi (đầu tháng 7/1929) đến hết năm 1929, đã là một cuộc phổ thông sử Việt khá hiếm hoi trên báo chí đương thời. Bằng việc đưa công chúng vào một cuộc thi bình chọn nhân vật “bực nhất″ trong quốc sử, Phan Khôi và những người tổ chức cuộc thi đã kích thích tinh thần tự do bình chọn của người tham dự, cũng tức là kích thích óc phê bình — chứ không chỉ vinh danh — nhân vật lịch sử. (2)

Năm 1935, khi làm chủ bút tờ Tràng An ở Huế, Phan Khôi đã tổ chức một số chuyên đề nhân 50 năm sự kiện kinh thành thất thủ (ngày 23/5 năm Hàm Nghi Ất Dậu 1885) với các bài viết của ông và của Hoài Thanh.

Năm 1936-37, với tuần báo Sông Hương do chính ông sáng lập, ông đã biến một phần tờ báo thành diễn đàn sử học với sự góp mặt của nhiều nhà văn và học giả; ông cũng đã đưa lên báo này những sử liệu do chính ông thâu nhặt được, như xác định vị trí của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong khởi nghĩa Duy Tân (1916); sự kiện Nghĩa Hội chiếm tỉnh Quảng Nam hồi những năm 1880s được phản ánh trong vè Khâm sai; về lệ cống nạp người vàng sang Tàu; về lai lịch nhân vật là Bạch Xỉ từng xưng vua, v.v.

Đấy là ta chưa kể hàng loạt bài viết, dài ngắn khác nhau, về các nhân vật và sự kiện lịch sử Trung Hoa mà Phan Khôi tỏ rõ một sự theo rõi khá sát sao, từ hành tung các viên tướng quân phiệt đến ứng xử của các yếu nhân thời kỳ sau các mạng Tân Hợi. Đối với đời sống chính trị ở nước Trung Hoa Dân Quốc đương thời, Phan Khôi có cái nhìn khá tinh tường; ông thấy rõ cái bi kịch của một quốc gia từng tồn tại dưới ách quân chủ chuyên chế suốt hàng ngàn năm, sau cuộc cách mạng lật đổ nền quân chủ, đã không hình thành nổi một hiến pháp cộng hòa, đành theo phương án “dĩ đảng trị quốc”, thay ngôi vua thuộc một dòng họ bằng ngôi vua tập thể của nhóm đứng đầu đảng cầm quyền. Tình trạng “dĩ đảng trị quốc” này chỉ có hướng xử lý khi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc chuyển dần sang nền chính trị đa nguyên, đa đảng, theo mô hình các quốc gia dân chủ phát triển; trong khi đó, những quốc gia do đảng cộng sản cầm quyền thì trong thực chất lại trở về với mô hình chế độ chuyên chế.

4/ Phan Khôi, nhà báo, cây bút chính luận  

Viết văn nghị luận là một trong những sở trường của Phan Khôi. Văn nghị luận của ông không chỉ đề cập đến các vấn đề tư tưởng hay văn chương, mà cũng đề cập đến thời sự xã hội chính trị.

Ngay năm 1919, ông đã có bài viết (trên Lục Tỉnh Tân Văn, Sài Gòn) vạch mặt trò mỵ dân của Toàn quyền Alber Sarraut đằng sau việc ông này đưa ra yêu cầu chính quốc cho Đông Dương nhiều quyền tự chủ hơn trong một dịp diễn thuyết.

Năm 1929, trên báo Thần Chung ở Sài Gòn, Phan Khôi viết khá nhiều bài xã thuyết ký tên tòa soạn, bênh vực những người hoạt động chống Pháp trong các tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, Tân Việt đảng, bênh vực Nguyễn An Ninh, đòi cho những thành viên các tổ chức chống đối bị chính quyền bắt phải được xét xử tại tòa án của chính quyền Pháp chứ không được giao họ cho các quan chức của triều đình Huế xét xử, vốn áp dụng khung hình phạt rất nặng theo luật Gia Long.

Năm 1930, khi xảy ra các vụ biểu tình ở Nam Kỳ, Phan Khôi đã có những bài viết ký tên tòa soạn tờ Trung Lập Báo, yêu cầu những thành viên đảng Lập hiến Nam Kỳ có chân trong Hội đồng quản hạt hoặc Hội đồng thành phố Sài Gòn phải lên tiếng trước việc chính quyền thuộc địa dùng vũ lực đàn áp người biểu tình không tấc sắt trong tay. Nhân danh tòa soạn, Phan Khôi đã bút chiến với tờ Đuốc Nhà Nam xung quanh trách nhiệm của những người tự nhận là hoạt động chính trị, như các đảng viên Lập hiến Nam Kỳ, mà lại thiếu khá nhiều năng lực và chuẩn hành vi cần thiết để đối phó với các tình huống chính trị. Cuộc bút chiến này chỉ lộ rõ do một ngòi bút Phan Khôi chủ trì, khi chủ bút Đuốc Nhà Nam là Nguyễn Phan Long lâm thế bí, giở trò nói xấu cá nhân Phan Khôi. Những loạt bài đối thoại với đảng Lập hiến (Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi; Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, v.v.) cho thấy một thái độ phê phán rất xây dựng đối với tổ chức chính trị này, được lập ra dường như chỉ để đối đáp với chính quyền Pháp ở thuộc địa, nhưng lại hầu như không có liên lạc gì với quần chúng cư dân Nam Kỳ, các vấn đề về tổ chức của đảng cũng còn nhiều bất ổn.

Năm 1935, khi được Bùi Huy Tín mời làm chủ bút đầu tiên của Tràng An Báo tại Huế, Phan Khôi đã hướng trang thời sự của tờ báo vào việc đối thoại với nền cai trị quân chủ đang đưa ra một vài tín hiệu thay đổi (khi vua Bảo Đại về nước trực tiếp chấp chính), kiểm định hiệu năng hoạt động của một số cơ quan, cơ chế trong bộ máy của nó, đôi khi cũng nêu một vài đề xuất mang tính bổ sung, chỉnh sửa hệ thống, cơ cấu. Tất nhiên, hoạt động thường xuyên của báo Tràng An thời kỳ Phan Khôi làm chủ bút là vạch ra những sự lạc hậu, non kém, bất cập, thiểu năng của bộ máy triều Nguyễn, từ những cơ quan tại triều đến những cơ quan cấp tỉnh cấp huyện.

Bên cạnh những vấn đề thuộc “lỗi hệ thống” trong cơ chế một nền quân chủ già cỗi lại bị đặt dưới ách “bảo hộ” của ngoại bang, một phương diện khác nữa mà Phan Khôi và báo Tràng An thường tập trung nhấn mạnh là vấn đề phẩm chất của quan lại. Mỗi dịp có sự cố liên quan đến những quan chức nhất định, ví dụ việc cách chức và khai phục Ngô Đình Diệm, lễ tang Nguyễn Hữu Bài với những lời xưng tụng quá đáng, hay một viên quan tại triều quá tham lam nhũng nhiễu chỉ bị trừng phạt nhẹ bằng cách đưa đi “trấn thủ” tỉnh ngoài, v.v. – đều là dịp để Phan Khôi và các cộng sự của ông trên Tràng An lên tiếng tố giác và nhân đó nhắc lại những tâm niệm lý tưởng muôn thuở của giới quan trường xuất thân Nho học: “người bất học không đáng ở ngôi cao”, “sự hệ trọng nhất trong phong hóa là cái đức liêm sỉ”, v.v.

Trong các loạt bài về các vụ việc kiện tụng, báo Tràng An thời Phan Khôi làm chủ bút luôn luôn vạch rõ những xử lý sai trái do những quan lại liên can được hối lộ hoặc câu kết nhau để moi tiền dân. Tờ báo rất chú trọng đến người dân, nhất là những trường hợp người dân là nạn nhân sự chà đạp, cướp bóc của hệ thống quan chức, nha lại. Những phóng sự đăng nhiều kỳ về vụ án điền thổ ở Phú Yên, về xét xử ly hôn của vợ chồng Tham Ân ở Hội An, về vụ kiện bị lấn chiếm mặt nước của dân làng chài Thủy Tú ngay “bên chân đền vua” đương thời, tức thành Huế, v.v. – thường không chỉ giản đơn là những loạt bài báo mà thực sự là những vụ việc sát cánh hỗ trợ dân oan trong các cuộc khiếu kiện dài ngày của họ. Những trường hợp nạn nhân như “người đàn bà bị bỏ đỉa vào tai”, người hành khách xe lửa bị nhà đoan bắt giam vì tình nghi buôn lậu thuốc phiện, hay ông cử họ Hồ bị viên tri phủ Quỳnh Lưu hành hung, v.v. – thường được Tràng An đề cập như những hồ sơ để ngỏ, lâu lâu lại bổ sung những tình tiết mới, cho thấy những khía cạnh xã hội phức tạp liên quan đến mỗi vụ việc, đồng thời cho thấy khả năng xử lý mỗi vụ việc trong những tương quan đương thời.

Với sự nỗ lực quyết liệt như thế, không có gì ngạc nhiên khi Phan Khôi sớm rời vị trí chủ bút nhật báo Tràng An, sau chưa đầy một năm làm việc.       

5/ Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại

Sự kiện rất nổi tiếng, gắn với tên tuổi Phan Khôi là việc đầu năm 1932 bài báo “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” được ông công bố ở cả hai trung tâm dư luận lớn nhất đương thời: Hà Nội và Sài Gòn. (1)  Giới làm thơ trẻ tuổi, hầu hết xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt, đã hưởng ứng, tạo nên phong trào thơ mới, một cuộc cải cách thơ tiếng Việt, đưa thơ của người Việt thật sự bước sang thời hiện đại. Tên tuổi Phan Khôi được mang cái vinh dự là người phát động phong trào đổi mới thơ ca kể trên. Tuy nhiên, đấy chỉ là một trong khá nhiều công việc mà Phan Khôi đã làm theo hướng tác động, khích lệ sự sáng tạo những hình thức mới, thể tài, thể loại văn học mới.

Ông sớm nhận ra một chiều hướng vận động mới về mặt thể loại: “Bây giờ cả văn học của Á Đông đã day chiều và khuynh hướng theo văn học Thái Tây, nhắc tiểu thuyết và kịch bổn lên ngồi kề thánh kinh hiền truyện, thì ta cũng đã mô phỏng mà sáng tạo ra tiểu thuyết, kịch bổn rồi”. (2)

Ông chăm chú theo rõi sự phát triển của thơ và tiểu thuyết Việt Nam và đến năm 1933, khi đã xuất hiện thơ mới, trong văn xuôi tiểu thuyết đã xuất hiện Người sơn nhân (truyện ngắn của Lưu Trọng Lư) và Hồn bướm mơ tiên (tiểu thuyết của Khái Hưng) thì ông reo lên: đã bắt đầu kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết Việt Nam. (3)

Chính Phan Khôi đã viết bài mô tả khá chi tiết về bút chiến, một thể tài và một hoạt động báo chí,(4) loại hoạt động mà ông can dự không ít lần, suốt thời gian hiện diện trong trường ngôn luận.

“Lâu nay tôi đã nhận biết rằng trong nghề văn học rất cần có sự phê bình. Nhưng trong làng văn ta dường như chưa có chỗ dung được sự ấy”; bởi vậy, năm 1929, ông đã nhân dịp bàn về một bản dịch kinh Phật “để đổ chén thuốc đắng phê bình vào trong miệng người An Nam”,(5) tức là thực sự bắt tay vào làm công việc phê bình. Hoạt động phê bình, trong quan niệm của Phan Khôi, là rất rộng: “Hai chữ “phê bình”, ta không nên hiểu hẹp nghĩa nó. Nói về sự viết báo, không cứ phê bình một bài thi, một cuốn tiểu thuyết, một tác phẩm gì về mỹ thuật mới gọi là phê bình; mà cho đến khen hay chê một vị quan lại, biểu đồng tình hay phản đối một cuộc bãi công, cả đến nhân một cái thời sự rất tầm thường mà phát ra nghị luận, cũng đều gọi là phê bình được hết. Chẳng những viết ra trên giấy, mà ngày thường, giữa xã hội, ai nấy được lấy tư tưởng ý kiến mình mà bình luận mọi sự mọi vật, cũng gọi là phê bình. Bởi vậy, ở xã hội nào mà người ta ngôn luận được tự do, thì xã hội ấy, ta muốn kêu nó bằng “cái xã hội phê bình” cũng có nghĩa vậy”. (6)

Ông đã viết giới thiệu lối văn phê bình nhân vật, một thể tài của báo chí và của văn học, do nhà văn trẻ Thiếu Sơn đề xuất, (7) lối văn mà chính Phan Khôi cũng sẽ dùng để viết khá nhiều tác phẩm đặc sắc, dưới các tiểu mục như “tiểu phê bình về nhân vật, cả đàn bà lẫn đàn ông”, “tiểu phê bình về phong tục”, “tiểu phê bình về báo chí”, “tiểu phê bình về sách vở”, v.v. (8)  

Ông rất quan tâm giới thiệu các thể trào phúng, khôi hài.(9) Thậm chí, một thể tài, một loại hình ghi chép trong đời sống thông tục mà xưa kia người Việt chưa có, là thể nhật ký, cũng được Phan Khôi quan tâm giới thiệu.(10) Ông được đọc giả và đồng nghiệp tin cậy để có thể nhờ giải đáp nhiều vấn đề, nhiều câu hỏi về chữ nghĩa, về văn chương và đời sống, kể cả những khái niệm như “đạo văn”. (11)

6/ Phan Khôi, một tác gia đa dạng

Phan Khôi tham dự văn học trong khá nhiều thể tài.

Trước hết Phan Khôi đã hoạt động như một nhà phê bình văn học, là tác giả những bài điểm bình các tác phẩm cụ thể, là người viết ra cuốn “thi thoại” đầu tiên ở Việt Nam, lại cũng là tác giả những bài báo tác động rõ rệt đến tiến trình văn học chung.

Phan Khôi cũng hoạt động như một nhà nghiên cứu văn học, thường xuyên nêu lên các vấn đề nảy sinh trên tiến trình văn học Việt Nam. Phan Khôi viết về khá nhiều tác gia, tác phẩm văn học Trung Hoa, từ các nhà tư tưởng cổ đại, trung đại, đến cận hiện đại. Nhiều tác giả được ông nhấn mạnh ở khía cạnh chống chuyên chế (ví dụ dịch Tư Mã Thiên: thư gửi Nhiệm An, “Thích khách liệt truyện”… ); những tác gia hiếu cổ như Cô Hồng Minh được ông tiếp cận theo lối châm biếm; những tác gia có chất đổi mới, “nổi loạn” như Hoàng Lư Ẩn, được ông trân trọng. Thời kỳ 1945-58: Phan Khôi vẫn theo dõi sát tình hình văn hóa Trung Hoa, từ thơ kiểu mới, di sản Lỗ Tấn, lý luận và sáng tác văn học Diên An, cho đến 1956 vẫn theo dõi các hiện tượng từ Hồ Phong đến phong trào chống phái hữu, tuy không có điều kiện viết về các hiện tượng ấy.

Phan Khôi là nhà thơ, là con người đã “chín” trong truyền thống thơ Hán-Việt lại có khát vọng bước ra khỏi quỹ đạo thơ cũ; thơ cũ của ông không nhiều và cũng không lưu lại sưu tập, chỉ có ít bài in báo; thơ mới Phan Khôi cũng có một số bài được ông đưa ra làm ví dụ cho “một lối thơ mới”; PK không là tác giả xuất sắc của thơ mới những lại được nhất trí ghi nhận là người khởi xướng; một số bài thơ Phan Khôi cho thấy lối thơ của kiểu người “lão thực”: tín hiệu hàng đầu là tín hiệu về giá trị của hồn thơ, tứ thơ, dù hình thức khô, đanh, mộc… chứ tuyệt nhiên không đèm đẹp…

Phan Khôi cũng là một tác giả văn xuôi tự sự. Ông đã từng viết truyện hư cấu, bằng chữ Hán (đăng Nam Phong) hoặc bằng chữ Quốc ngữ, tiêu biểu trong số đó là truyện dài Trở vỏ lửa ra (Phổ thông bán nguyệt san, 1939). Nếu mạch truyện hư cấu này không mấy thành công, do tác giả mạnh ở suy lý, logic, nhưng hơi thiếu linh hoạt, thiếu sinh động và chất sống trong mô tả, dựng người dựng cảnh, thì ở mảng hồi ức, tự truyện, như Đi học đi thi (đăng Sông Hương, 1937), các đoạn Phan Khôi tự truyện (đăng một số kỳ ở các báo khác nhau, 1939, 1940, 1941), các mẩu giai thoại trong tập Độc tại lâu bút ký (đăng Sông Hương, 1937) lại thành công rất rõ rệt.

Phan Khôi cũng là tác giả xuất sắc của văn tiểu phẩm, hoạt kê, châm biếm. Từ 1928, với Đông Pháp Thời Báo, qua Thần Chung 1929-30, Trung Lập, 1930-33, Thực Nghiệp Dân Báo, 1933; Phụ Nữ Thời Đàm, 1933-34, Tràng An, 1935-36, Sông Hương, 1936-37, đến tận 1941 trên Dân Báo, Phan Khôi trước sau đã viết ngót ngàn bài tiểu phẩm. Đặc tính thẩm mỹ của thể tài này còn chưa được nghiên cứu kỹ; nó rất mực văn chương, nhưng lại gắn với báo chí; trên trang báo bên cạnh các bài viết theo lối “thuật”, “luận”, “chứng” bao giờ cũng phải có các bài viết theo lối “biếm”, “hài”, “nhại”, “diễu”; nó có bản chất thẩm mỹ ra sao mà lại hầu như không thể thiếu trên các báo, dù nhật báo, tuần báo hay nguyệt san? Và vì sao nó dường như nhất thiết cần “mặt nạ tác giả”? Mức đa dạng trong các kiểu tiểu phẩm Phan Khôi, mức độ ảnh hưởng từ những mẫu mực ở Pháp (G. Fouchardière, C. Vautel) và ảnh hưởng truyền thống trào lộng trong văn hóa Việt? So sánh văn tiểu phẩm Phan Khôi với những người có viết tiểu phẩm đương thời: Hoàng Tích Chu, Ngô Tất Tố, Bùi Thế Mỹ, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, v.v… Từ đây nên chăng khảo sát phát hiện lại dòng văn tiểu phẩm của tác gia Việt Nam từ khi có báo in? — là những nhiệm vụ văn học sử chưa hề được đề xuất và giải quyết.

Phan Khôi cũng là một dịch giả. Trên báo chí trước 1945 ta thấy Phan Khôi dịch nhiều tác gia Trung Hoa: Tư Mã Thiên, Viên Mai, Lỗ Tấn, v.v.; dịch Kinh Thánh (đạo Thiên Chúa), chủ yếu là Tân Ước. Sau 1945 ông dịch một số tác gia văn học Diên An, dịch quan điểm ngôn ngữ của J. Stalin, dịch tác phẩm M. Gorki, dịch bài viết Chu Dương thể hiện tư tưởng văn nghệ Diên An, v.v.

Vượt ra ngoài phạm vi văn học, người ta không quên Phan Khôi còn hoạt động như một nhà ngôn ngữ học. Ngay từ khi tìm học chữ Quốc ngữ để viết văn viết báo (từ 1907), ông đã bắt đầu tiếp cận tiếng Việt như một đối tượng nghiên cứu. Phan Khôi đã lên tiếng hô hào đồng bào Nam Kỳ dùng tiếng Việt theo đúng các chuẩn mực đã được Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đưa vào sách từ điển. Ông đã tiến hành so sánh ngữ pháp tiếng Việt với tiếng Pháp và chữ Hán, khi soạn sách “Hán văn độc tu” (đăng Phụ nữ tân văn, 1932, đăng lại có sửa trên Sông Hương, 1936-37). Trên tuần báo Sông Hương ông đã tập hợp được một số tác giả tham gia mục “Quốc văn nghiên cứu”. Sau này, trong thời gian tham gia khánh chiến tại Việt Bắc, ông đã thực hiện thêm những khảo sát về ngữ pháp tiếng Việt, được các nhà soạn sách dạy tiếng Việt tham khảo; những nghiên cứu này được ông xuất bản thành sách  “Việt ngữ nghiên cứu” (1955).  

7/ Phan Khôi dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

 Từ khoảng 1941-42, Phan Khôi ngừng cả việc dạy học lẫn việc viết báo, đưa gia đình từ Sài Gòn trở về quê Quảng Nam.

Nguồn tư liệu hồi ức gia đình cho biết: khi Nguyễn Bá Trác đến vận động ông tham gia chính phủ Trần Trọng Kim (1945), ông đã tỏ rõ thái độ cự tuyệt, với lý do: từ lâu, ông đã tự xác định không làm chính trị. (1)

Khi Việt Minh tổ chức cướp chính quyền tại địa phương ông cư trú, Phan Khôi giữ thái độ quan sát bình tĩnh, dần dần đi đến chấp nhận chính thể Việt Nam Dân chú Cộng hòa, song cũng phản ứng trước một số hành động cực đoan của chính quyền địa phương, ví dụ việc họ định phá đền thờ Hoàng Diệu, vị Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị thất thủ (1882). Phan Khôi giữ lập trường yêu nước, không tán thành hiệp định sơ bộ (6.3.1946) mà chính phủ Hồ Chí Minh ký với Pháp.

Cũng theo nguồn tư liệu hồi ức gia đình thì khoảng tháng 6/1946, tiếp một nhóm trí thức từ Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nghĩa tới nhà mình và được họ mời làm Chủ nhiệm Chi bộ Việt Nam Quốc Dân đảng vùng Nam-Ngãi, Phan Khôi đã tạm thời gác ý chí “không làm chính trị” để nhận lời, dù chỉ là cử chỉ đứng tên tượng trưng. (2)

Khoảng tháng 7/1946, ông nhận được giấy mời của Bộ Nội vụ do Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng ký, mời ông ra Hà Nội dự Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, sẽ khai mạc vào ngày 01/8/1946.

Phan Khôi tới Hà Nội vào ngày 6/7/1946, ở trọ tại nhà riêng ông Lê Dư. Ông được Lê Dư cho hay: Huỳnh Thúc Kháng nhắn Phan Khôi đừng tới gặp, vì có thể gây nghi ngờ (?).

Ngày 12/7/1946, Phan Khôi đến trụ sở Quốc Dân Đảng (80 Quán Thánh, Hà Nội) tại tòa soạn báo Việt Nam có Khái Hưng và một số người khác; ngay hôm đó nhà này bị công an ập đến triệt phá, bắt đi một số người, trong đó có Phan Khôi, nhưng tại trụ sở công an Phan Khôi được thả ngay. (3)

Phan Khôi dự Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/1946). Sau đó, vào ngày bùng nổ Toàn quốc kháng chiến, ông thấy rõ chính phủ Việt Minh quyết tâm chống Pháp, hợp với chủ ý của mình, ông ở lại Hà Nội.

Khoảng 29 Tết Đinh Hợi 1947, Phan Khôi theo dòng người tản cư rời Hà Nội, đi Yên Hạ, Hà Đông, rồi lại theo dòng người quay lên vượt sông Hồng định đi Bắc Giang, bị công an giữ lại, đưa về Hà Đông, rồi ông đề nghị để ông đi Vân Đình, tới đây ông gặp gia đình Thế Lữ tại Hòa Xá. Từ đó ông và những người này gia nhập Đoàn văn hóa kháng chiến do Nguyễn Huy Tưởng phụ trách, tản cư lên Việt Bắc. (4)

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (16 – 20.7.1948, tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú Thọ) Phan Khôi đọc tham luận “Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta”, sau đó được cử làm trưởng ban Ngôn ngữ-Văn tự của Hội văn hóa Việt Nam. Ông cũng tham dự Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (23-25.7.1948, tại Yên Kỳ, Hạ Hòa, Phú Thọ) thành lập Hội văn nghệ Việt Nam, cộng tác thường xuyên với tạp chí Văn Nghệ của Hội.

Ông tham gia nhiều hoạt động cúa Hội văn nghệ, dự hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (25 — 28.9.1949), tham gia đoàn văn nghệ đi chiến dịch ngay sau hội nghị kể trên. (5)

Khi Hội văn nghệ Việt Nam đặt ra giải thưởng và xét trao giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952, Phan Khôi đã được trao giải nhì cho tất cả các bản dịch ông thực hiện tại Việt Bắc. (6)

Sau ngày phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản thủ đô, Phan Khôi trở về Hà Nội (giữa tháng 10/1954) trong tư cách một nhân sĩ, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam.

Năm 1955, ông được cử tham gia Phái đoàn Chính phủ vào thăm Liên khu Năm, nói chuyện về thắng lợi của cuộc kháng chiến tại hai cuộc mít tinh ở Quảng Ngãi và Bình Định.

Cũng trong năm 1955, hầu hết các thành viên gia đình ông, bằng các con đường khác nhau, đều tập kết ra miền Bắc.

Phan Khôi (và Tế Hanh) được cử đại diện Hội văn nghệ Việt Nam đi dự kỷ niệm 20 năm mất nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (từ 16.10.1956); ông đọc tham luận tại lễ kỷ niệm này. Phan Khôi được kết nạp Hội nhà văn Việt Nam từ 1957.

Tại Hà Nội ông đưa in một số cuốn sách nghiên cứu (Việt ngữ nghiên cứu) dịch thuật (Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập I, tập II; Ánh lửa đằng trước; Anh Hai Đen lấy vợ), viết bài cho các tạp chí Văn Sử Địa, Tập san Đại học Sư Phạm, các báo Nhân dân, Văn nghệ, Văn, Tiền phong, v.v. Ông cộng tác với Ban Văn Sử Địa để viết những bài cung cấp tài liệu cho bộ sách “Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng Việt Nam”, cụ thể là viết về phong trào “Vụ xin xâu ở Quảng Nam” 1908 và “Duy Tân khởi nghĩa” 1916.

Những năm 1955-1956, cuộc cải cách ruộng đất (1953-56) gây ra những khủng hoảng xã hội trầm trọng, khiến chính phủ và đảng cầm quyền phải xin lỗi dân và tiến hành sửa sai. Trong văn nghệ cũng bộc lộ nhiều vấn đề do việc quản lý tập trung quan liêu gây ra. Phan Khôi viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” nêu ra những cách làm việc thiếu minh bạch, như người trong ban chấm giải (giải thưởng văn nghệ 1954-55) lại có tác phẩm dự xét giải; sự về hùa, ngầm ủng hộ tác giả này hơn hẳn các tác giả khác, thực chất là đã xuất hiện các nhóm lợi ích trong nền văn nghệ nhà nước hóa, v.v. Bài của ông được đăng trong tập Giai Phẩm Mùa Thu (tập 1, 1956) gây dư luận khá mạnh. Tháng 9/1956, Phan Khôi nhận lời với một nhóm nhà báo và văn nghệ sĩ đứng tên làm chủ nhiệm tờ báo tư nhân Nhân Văn (xuất bản tại Hà Nội từ 20/9/1956 đến 20/11/1956); tờ báo đăng tải những tác phẩm có những yếu tố táo bạo về sáng tạo hoặc có đề tài không phù hợp với phạm vi các chủ đề của văn nghệ chính thống; đồng thời đăng những ý kiến của văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, những ý kiến của nhân sĩ trí thức đòi mở rộng dân chủ trong chế độ do đảng cộng sản cầm quyền.

Năm 1958, trong cao trào đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm do đảng cầm quyền phát động và tổ chức, chỉ huy, Phan Khôi bị liệt vào một trong những “phần tử” hàng đầu (Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, v.v.), bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội nhà văn Việt Nam.

Ngày 16/1/1959, ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội, sau thời gian bệnh nặng. Gia đình ông làm bản khai tử cho ông bằng bút danh Chương Dân; trong khi vợ, con, các cháu ông tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng thì những lời phê phán nặng nề trên báo chí vẫn liên tục nhắm vào con người tác giả mang họ tên Phan Khôi.

***

Tôi ghi lại tài liệu hơi dài như trên (có lúc sẽ sửa lại) để đi tới một vài nhận xét về Phan Khôi thời kỳ dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Công Hòa.

Ông vốn không tán thành chủ nghĩa cộng sản, và công khai thái độ này, tương tự một số người xuất thân nho học như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố. Những năm trước tháng 8/1945, khi con cháu ông tham gia hoạt động bí mật của tổ chức cộng sản, ông không tán thành nhưng không cấm đoán.

Ngay trong những ngày tháng đang diễn ra cướp chính quyền ở địa phương, ông im lặng theo dõi, và chỉ phản ứng khi có những việc như đập phá đền thờ Hoàng Diệu, hoặc khi nghe nội dung hiệp định sơ bộ (6/3/1946) thấy lập trường chính phủ lâm thời có phần không dám chống Pháp. Tức là khi ấy, con người yêu nước chống Pháp khi xưa trong ông thức dậy, đòi chính phủ mới chọn giải pháp quyết liệt.

Chính thái độ đó đã khiến ông tự nguyện đi lên Việt Bắc tham gia hàng ngũ kháng chiến.

Tại Việt Bắc, đến 1951, khi đảng Lao động Việt Nam ra công khai, thái độ Phan Khôi là chấp nhận. Có lẽ ông đã nghĩ rằng một trí thức cũ đã già, vẫn còn có thể làm những việc có ích ít nhiều cho dân tộc, ngay dưới nền cai trị cộng sản.

Tuy vậy, sống trong các vùng do những người cộng sản cai trị, sống trong “đoàn thể văn nghệ” của người cộng sản, có thể ông đã dần dần nhận ra những điều mà dư luận báo chí thế giới đã cảnh báo khi xưa, nhất là khi ông chứng kiến và trải nghiệm những việc như chỉnh huấn, rồi cải cách ruộng đất, rồi quản lý thành phố theo kiểu quân quản, thực hiện chế độ hộ khẩu khắc nghiệt, v.v. Từ đây bên trong những người trí thức từng trải qua hai chế độ sẽ hình thành thế ứng xử lưỡng phân đối với chế độ hiện hành do người cộng sản cai trị: một mặt là buộc lòng thích nghi, mặt khác là gia tăng ngấm ngầm tâm lý giữ khoảng cách, thậm chí trở nên chán ghét.

Vì đây là cả một điều kiện sống mà người ta không thể thoát ra ngoài, nên buộc phải thích nghi. Kể cả về tư tưởng, tinh thần, ở những mức nhất định. Một ví dụ nhỏ là Phan Khôi từng bác bỏ khái niệm “chế độ phong kiến” (ở Việt Nam) nhưng sau này, từ những năm 1950s, ông dường như từ bỏ thái độ học thuật ấy, ít ra là khi dịch và chú giải văn Lỗ Tấn, dịch văn xuôi tự sự và nghị luận của các tác giả văn nghệ Diên An.

Chính thái độ lưỡng phân ấy sẽ khiến những người như ông sẵn sàng lên tiếng phản ứng khi có điều kiện.

Điều kiện ấy ở Việt Nam là khi có những dấu hiệu khủng hoảng bên trong hệ thống xã hội do đảng cầm quyền cai trị tạo ra. Đại hội 20 ĐCS Liên Xô đặt  ra nhiệm vụ chống sùng bái cá nhân Stalin, ở Việt Nam cải cách ruộng đất gây hậu quả nghiêm trọng. Trong văn nghệ, các văn nghệ sĩ từ các địa phương tập kết về miền Bắc, tập trung tại Hà Nội, ứng xử thiên lệch của nền báo chí xuất bản tập trung quan liêu kiểu bao cấp khiến nhiều thành viên ít vai vế chịu thiệt thòi. Trong sinh hoạt cơ quan đoàn thể lộ ra những biểu hiện thiếu tôn trọng quyền tự do sáng tác, tự do biểu đạt, v.v.

Phan Khôi lên tiếng với hai biểu hiện rõ rệt nhất: viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” và nhận đứng tên chủ nhiệm báo Nhân Văn. Ông có tư cách của một nhân sĩ trí thức đã có thành tựu lớn, uy tín lớn, nên tiếng nói của ông càng gây hiệu quả lớn.

Phía lãnh đạo cộng sản đã thay đổi cách nhìn về ông, từ đây xem ông như kẻ thù tư tưởng.

Thế nhưng, các biểu hiện của văn nghệ sĩ trí thức ở miền Bắc Việt Nam hồi 1956 chỉ là loại biểu hiện tương đối yếu ớt của sự phản kháng bên trong các nước thuộc phe XHCN đương thời, đến nỗi những diễn ngôn của các trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Tửu… mới chỉ hiện diện như diễn ngôn yêu cầu xét lại (mở rộng, chấp nhận ngoại lệ, v.v., chứ không chống lại) các nguyên lý cơ bản (của giáo điều Mác-Lê, mà thật ra là  mang dấu ấn Stalin và Mao Trạch Đông).

Dưới ánh sáng lịch sử, sau khi phe XHCN đã sụp đổ, tan rã (1991), các nước thuộc khối này đã tiến hành cải tổ, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, một số nước chỉ níu giữ nền cai trị độc đảng, độc tài về chính trị, thì sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm cần được xem như sự phản kháng chính đáng của trí thức văn nghệ sĩ, những người nhạy cảm hơn các thành phần khác trong nhân dân, trước những nguy cơ mất tự do, dân chủ, trước nguy cơ bị áp đặt một hệ thống cai trị phản xã hội, phi nhân bản. Tiếng nói của họ có ý nghĩa cảnh báo các nguy cơ xã hội do nền độc tài chuyên chế gây ra.

Thật ra, đối với  những người mà ngay trong thời thực dân Pháp cai trị đã có thể thành đạt, dù chỉ do nỗ lực riêng, và cũng chỉ ở môi trường xã hội dân sự dân gian như Phan Khôi, – thì cái chết đã có thể đến với ông ngay sau thắng lợi của Việt Minh hồi tháng 8/1945, chứng cứ là số phận những trí thức danh tiếng như Phạm Quỳnh, những nhà văn từ Khái Hưng đến Lan Khai và rất nhiều trường hợp khác. Xác tín truy diệt “trí phú địa hào” của người cộng sản Việt Nam bộc lộ từ 1930 đã hứa hẹn cái chết đối với Phan Khôi ngay tại Quảng Nam 1945 khi ông dám ngăn phá dỡ đền thờ Hoàng Diệu, hoặc tại Hà Nội 1946 khi ông bị bắt cùng Khái Hưng tại trụ sở Việt Nam Quốc dân đảng. Chỗ may mắn riêng là Phan Khôi có khá nhiều người thân trong hàng ngũ cộng sản cầm quyền. Đó là những người như các người em họ là Phan Nhụy, Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), người em dâu là Lê Thị Xuyến, các người con trai là Phan Thao, Phan Cừ, v.v.

Tóm lại, trong thời kỳ khủng bố sự mọi chống đối ngay sau thắng lợi giành chính quyền của Việt Minh hồi tháng 8/1945, Phan Khôi đã may mắn thoát chết chỉ vì tình cờ có một loạt người thân trong hàng ngũ bên thắng cuộc.

Song rốt cuộc ông cũng vẫn bị thanh trừng, do bộc lộ sự vi phạm các chuẩn mực ý thức hệ cộng sản của giới cầm quyền, khi chế độ của họ đã làm chủ miền Bắc, đang đưa miền Bắc vào quỹ đạo chung của toàn phe XHCN.

Phan Khôi là một trong một số ít trí thức sống qua hai chế độ, đã từng có vinh dự là chí sĩ của phong trào duy tân, bị thực dân Pháp ra lệnh cho triều Nguyễn kết án tù, lại có vinh dự dấn thân tranh đấu chống độc tài chuyên chế, nhất là ở lĩnh vực tư tưởng văn nghệ. Sự khốn khó cuối cùng ông gánh chịu có thể nên được xem như là thêm một khổ nạn đối với cá nhân ông, nhưng cũng là thêm một công tích của ông đối với xã hội Việt và văn hóa Việt.

Phan Khôi xứng đáng để được vinh danh như một danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Hà Nội, 16/11/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN   

 

CHÚ THÍCH:  

1/ Phan Khôi và công việc xây dựng nền Quốc văn mới

(1) C.D. (1928): “Lý với thế: Hồ Thích với Quốc Dân đảng”, Đông Pháp Thời Báo, Sài Gòn, s. 807 (18.12.1928).

(2) T.V.(1928): “Văn chương và văn chương của nhà báo. (Đáp lại Đuốc nhà Nam)”.  Đông Pháp Thời Báo, Sài Gòn, s. 787 (27.10.1928).

(3) Ví dụ một số bài báo do Phan Khôi viết: Thần chung (1929): “Trả lời cho một vị độc giả hỏi về chữ quốc ngữ”, Thần chung, SG., s. 115 (7.6) ;  Tòa soạn Thần chung (1929): “Lại trả lời cho một bức thơ hỏi vè chữ quốc ngữ”, Thần chung, SG., s. 118 (11.6) ; Phan Khôi (1929): “Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ với thế lực của phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 28 (7.11) ;  Phan Khôi (1929): “Viết chữ quốc ngữ phải viết đúng”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 31 (5.12) ; Phan Khôi (1929):  “Nói chuyện viết quốc ngữ: Hai dấu hỏi ngã cũng phải phân biệt”, Thần chung, SG., s. 273 (17.12), Trung lập, SG., s. 6038 (27.12); Phan Khôi (1930):  “Bàn cùng ông Hồ Duy Kiên: Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ quốc ngữ và phải viết cho đúng?” Thần chung, SG., s 341 (20.3) ; Trung lập, SG., s. 6105 (22.3).

(4) Phan Khôi (1930): “Cuốn sách Nho giáo gợi ý cho chúng tôi”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 56 (12.6).

(5) Phan Khôi (1930): “Phép làm văn. Lời nói đầu”,  Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.71 (25.9). Mục “Phép làm văn”  đăng  Phụ nữ tân văn  được khoảng 4 kỳ, gồm 5 bài, từ tháng 9 đến tháng 11/1930. Sau đó, Phan Khôi viết một số bài trao đổi với Huỳnh Thúc Kháng về “Phép đặt đầu đề”.

(6) Phan Khôi (1930): “Theo thuyết chánh danh, đính chánh lại cách xưng tên của người Việt Nam”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. 58 (26.6.1930), s. 59 (3.7.1930) ; Phan Khôi (1930): “Theo thuyết chánh danh, soát lại mấy cái danh từ người mình thường dùng”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. 69 (11.9.1930).   

(7) Phan Khôi (1930): “Cách ngôn luận của người Á Đông”, Trung lập, S.G., s. 6168 (11.6.1930), s. 61670 (13.6.1930)

(8) Phan Khôi (1930): “Người mở đường cho luận lý học Á Đông. Khổng Tử và cái thuyết “chánh danh” của ngài”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.57 (19.6.1930)

(9) Phan Khôi (1930): “Con người với lời nói”, Phụ trương văn chương s. 22. Trung lập, S.G., s. 6550 (26.9.1931)

(10) C.D.(1931): “Vai ngự sử trên đàn văn”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. s.89 (2.7.1931); s.91 (16.7.1931); s.96 (20.8.1931); s.99 (10.9.1931); s.124 (24.3.1932)

(11) Phan Khôi (1931): “Văn nghị luận phải viết thế nào ? ”, Phụ trương văn chương s. 12. Trung lập, S.G., s. 6491 (18.7.1931)

(12) Tr.Th. (1933): “Ông Phan Khôi”, trong sách Những áng văn hay, và Thử phê bình nhơn vật và văn thơ cổ kim (1933), Nam Ký thư quán, Hà Nội, tr. 42.

2/ Phan Khôi và công cuộc đổi mới tư tưởng  

(1) Phan Khôi (1930): “Cảnh cáo các nhà học phiệt”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 62 (24.7).

(2) C.D. (1928): “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương”, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.774 (27.9) ; s.776 (2.10) ; C.D. (1928): “Bác cái thuyết tân cựu điều hòa”, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.780 (11.10)

(3) C.D.(1928): “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương”, Bđd.

(4) P.K. (1931): “Cá nhơn chủ nghĩa. (Một bài học của quan Tổng trưởng Paul Reynaud cho người Việt Nam) ”, Trung lập, S.G., 28.11).

(7) Phan Khôi (1931): “Tống nho với phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 96 (20.8.1931)

(8) Phan Khôi (1931): “Gia đình ở xứ ta, nay cũng đã thành ra vấn đề rồi”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 83 (21.5) ; Phan Khôi (1931):  “Cái chế độ gia đình nước ta, đem gióng với luan lý Khổng Mạnh”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 85 (4.6)

3/ Phan Khôi, nhà sử học

(1) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2003), “Phan Khôi và cuộc thảo luận sử học năm 1928 trên Đông Pháp Thời Báo”, trong sách Mênh Mông Chật Chội, tiểu luận phê bình văn học của Lại Nguyên Ân, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2009, tr. 391-401.

(2) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2008): “Phan Khôi và cuộc thi quốc sử của báo Thần Chung, Sài gòn, 1929”, trong sách Tìm lại di sản, tiểu luận phê bình của Lại Nguyên Ân, Tp.HCM., 2013, tr. 83-114.

5/ Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại

(1) Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây xb., Hà Nội, tết Nhâm Thân 1932; Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 122 (10.3).

(2) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)

(3) Chương Dân (1934): “Văn nghệ xứ ta năm 1933 và trước năm ấy. Cái kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết”, Công luận, Sài Gòn, số Tết (14.2)

(4) (không ghi tác giả, 1929) : “Bàn thêm về bút chiến”, Thần chung, s. 106 (28.5), s. 108 (30.5),

  1. 111 (2&3.6), s. 114 (6.6).

(5) Phan Khôi (1929): “Cùng sư Thiện Chiếu bànvề lối dịch sách, hay là phê bình lối dịch của sách Phật học tổng yếu”, Thần chung, Sài Gòn, s. 279 (24.12).

(6) Phan Khôi (1937): “Một xã hội cũng như một tờ báo, phải có cái thái độ phê bình và tiến bộ”, Đông Dương tạp chí, Hà Nội, s. 29 (27.11).

(7) Phan Khôi (1931): “Giới thiệu lối văn phê bình nhân vật”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 93 (30.7)

(8) Các bài này ký bút danh Hồng Ngâm hoặc Chương Dân, đăng Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội, từ số 1 (17.9.1933) đến s. 22 (11.2.1934), có in lại trong sưu tập: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1933-1934, /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội 2013: Nxb. Tri Thức, tr. 278-360.

(9) Phan Khôi (1931): “Cái địa vị khôi hài trên đàn văn học”, Phụ trương văn chương s. 10. Trung lập, S.G., s. 6481 (4.7).

(10) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)

(11) Phan Khôi (1932): “Làm vậy không phải là đạo văn. Trả lời cho ông Mai Lan Quế”, Phụ trương văn chương s. 48. Trung lập, S.G., s. 6695 (2.4)

7/ Phan Khôi dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

(1) Xem: Phan An Sa (2013): Nắng được thì cứ nắng, Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2013, tr. 265-266.

(2) Xem sách đã dẫn, tr. 288-294.     

(3) Xem sách đã dẫn, tr. 300-312.

(4) Xem sách đã dẫn, tr. 312-315.

(5) Thao Trường (Nguyễn Huy Tưởng, 1949): “Văn nghệ sĩ xuất phát đi mặt trận”, Văn Nghệ, [Việt Bắc], s. 17&18, số Tranh luận (tháng 11&12/1949).

(6) “Kết quả giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952”, Văn Nghệ [Việt Bắc], s. 39 (tháng 2/1953)

       

 

 

 

 

MỘT GHI CHÉP CỦA CHẾ LAN VIÊN 1951: VĂN NGHỆ SĨ CHÀO MỪNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

VĂN NGHỆ CHÀO MỪNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TẠI HỘI NGHỊ CHẤP HÀNH MỞ RỘNG (LẦN THỨ 5) 18 – 20.3.1951

Buổi sáng, thường vụ Hội Văn nghệ đã giới thiệu Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị đã chào mừng. Giới thiệu trân trọng tâm thành. Chào mừng còn chân thực thiết tha, sôi nổi. Ở trong ta, văn nghệ và chính trị không cái nào trước cái nào sau, cái nào trong cái nào ngoài. Thì ở hội trường, hai vấn đề ấy, hai con người ấy đã hòa lẫn với nhau làm một. Giới thiệu và chào mừng là một. Văn nghệ và chính trị là một.

Anh Thế Lữ nói: “…Trước kia thời Pháp thuộc, tôi cho người văn nghệ không cần tham gia cách mạng”. Bác Phan Khôi nói: “Lâu nay tôi nói chuyện với các bạn nhiều lần nhưng chưa nói chính trị bao giờ…”. Đó có phải đâu là lời Thế Lữ, bác Phan Khôi…? Ngày xưa, chúng ta, ít nhiều, ai không nghĩ thế.

Nhưng sáng hôm ấy thì chúng ta đã nói chính trị. Lời nói chân thành là một việc làm. Bác Phan đã nói những lời chân thành nhất:

– Đảng Lao động Việt Nam ra đời. Nó tiếp tục các đảng cách mạng khác, nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương. Thế thì chúng ta phải hoan nghênh… nhưng không phải hoan nghênh vu vơ đâu! Phải biết vì sao chúng ta hoan nghênh? Từ hồi kháng chiến đến giờ ai lãnh đạo kháng chiến? Có phải những người mác-xít không? Mặc dầu chiến tranh, mà ta vẫn thạnh trị, thái bình. Có người nói cái bắp cải năm trăm đồng. Năm trăm đồng nhưng ta cũng đủ tiền mua. Không ai đói! Không ai cực. Mà chúng ta lại thắng giặc. Lãnh đạo như thế, không biết có ai bất đồng ý kiến không? Cho dù bất đồng ý kiến cũng phải hoan nghênh Đảng…

Tôi không được dự cái buổi bác Phan đi chiến dịch năm nào. Nhưng xem tả trong báo, thì đó là một hình ảnh đẹp. Tôi tưởng hình ảnh bác Phan hôm nay ở giữa hội trường, râu dài, tóc trắng, nói lên những lời rung động cả tâm can hội nghị, tôi tưởng hình ảnh ấy có lẽ còn đẹp hơn. Và nó cho tôi thấy lại cả cái quắc thước của bác Phan đi chiến dịch hôm nào nữa. Bác Phan ơi, bác đã già nhưng đường bác còn dài lắm, cây gậy của bác còn phải khỏe mới chống nổi bác đấy chứ chẳng chơi đâu.

Bác Ngô Tất Tố, anh Đào Duy Anh, anh Thế Lữ… Cứ như thế chúng ta lần lượt đua nhau lên phát biểu ý kiến.

Cụ đầu xứ thời nho học, tác giả “Lều chõng” và “Tắt đèn”, đã so sánh cuộc đời viết báo của mình ngày trước và bây giờ để kết luận:

– Đảng đã nêu ra khẩu hiệu dân tộc, khoa học, đại chúng, văn nghệ nhân dân. Những chủ trương ấy đã soi sáng đường đi cho văn hóa và văn nghệ…

Họa sĩ Sỹ Ngọc, đôi mắt cháy sáng dằn từng lời: “Chúng tôi là những người đã nửa kiếp sống trong xã hội Pháp thuộc. Chính sách văn hóa của Đảng Cộng sản Đông Dương đã cởi mở cho tinh thần và nghệ thuật chúng tôi! Đảng Lao động tiếp tục chính sách văn hóa ấy. Tôi xin chào mừng, hoan nghênh sự lãnh đạo của Đảng…”

Anh Đào Duy Anh chậm rãi, hiền hòa:

– Tôi thấy ở Đảng hai điều. Cơ sở tinh thần hay chủ nghĩa Mác-Lênin, và thứ hai là tổ chức. Chủ nghĩa ấy đã giúp rất nhiều cho sự nghiên cứu các khoa học, và riêng tôi, đã nhờ ánh sáng Mác-Lênin mà đã thu được kết quả trong việc tự học về khoa lịch sử. Về tổ chức thì tôi thấy với Đảng Lao động người trí thức có cảm giác là đoàn thể của mình, gần mình, rất có lợi cho sự đoàn kết nhân dân, đẩy kháng chiến đến thành công, đầy đủ, triệt để.

Đại biểu miền núi, anh Nông Ích Đạt, nói những câu chất phác nhưng thấm thía biết bao:

– Dưới Pháp thuộc, toàn dân lẹt đẹt. Miền núi lại càng lẹt đẹt. Bây giờ Đảng Lao động ra đời, tôi cũng hoang mang. Nhưng sau biết nó tiếp tục sự nghiệp của các đảng cách mạng trước, trong đó có Đảng Cộng sản Đông Dương, chúng tôi càng tin tưởng.

Chị Bích Thuận, nhanh, tươi:

– Không còn ai bị áp bức! Phụ nữ là một nửa số dân tộc cũng không còn bị áp bức. Đảng bảo vệ quyền lợi phụ nữ. Phụ nữ hoan hô Đảng là lẽ dĩ nhiên…

Cứ như thế, say sưa, tha thiết. Đảng bảo vệ nhân dân, Tổ quốc. Đảng giúp ích cho văn hóa, văn nghệ hay sự học của mình. Đảng giải phóng cho dân tộc hay giới mình… Đảng đã cứu vớt đời mình ra khỏi ngục tù nô lệ…

Mỗi người thấy Đảng một cách khác. Nhưng sung sướng bao nhiêu khi chúng ta tìm thấy trong Đảng hình ảnh của Cha Già. Họa sĩ Tô Ngọc Vân bằng những lời nhỏ nhẹ, thiết tha, sẽ kể:

– Ngày toàn quốc kháng chiến, tôi nghĩ: Tây mạnh lắm, đánh được nó phải có sức mạnh. Những chiến sĩ mác-xít là sức mạnh đó. Quả thật, mấy năm nay, chúng ta đã thành công. Bây giờ thấy trong chính cương của Đảng Lao động có nói: Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tôi càng tin tưởng…

Anh khẽ thấp giọng, ấm áp hơn, ngọt ngào hơn:

– Nhất là thấy sự có mặt của Hồ Chủ tịch. Tôi càng vững dạ thêm.

Hoan hô anh Vân! Cái chân lý giản dị nhưng to lớn ấy anh đã tìm ra. Phải rồi, ở đâu có Hồ Chủ tịch, ở đó ta phải vững dạ, an tâm. Ở đâu có Hồ Chủ tịch, ở đó ta phải tin tưởng. Phòng họp vỗ tay ran ran… Không là một cuộc phát biểu ý kiến nữa! Mà là một cuộc tự sự. Chúng ta đã nhìn Đảng bằng nhiều cách. Giờ là cách nhìn Đảng bằng trái tim. Đảng ràng buộc với chúng ta bằng những giây liên hệ riêng. Càng lâu chúng ta càng thấy những giây liên hệ ấy buộc vào những cảm tình sâu kín nhất.

Hội trường hẳn không bao giờ quên những lời của kiến trúc sư Luyện: “Tôi không sáng tác được gì, tôi rất khổ tâm cho đến gần đây được biết rằng văn nghệ cũng là những người lao động trí óc, chúng tôi được yên tâm hơn ở giữa những nặng nề của kháng chiến… Tôi là lao động trí óc, tôi thấy tôi có bổn phận, có quyền lợi đối với Đảng Lao động Việt Nam. Tôi sung sướng hoan nghênh Đảng”.

Và Nguyên Hồng. Những chữ nói dồn dập xô bồ vào nhau. Nguyên Hồng đã làm xúc cảm mọi người. Mọi người cùng với anh như đụng phải máu thịt của chính cuộc sống, của nhân dân đương quyết liệt kháng chiến dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam.

Buổi họp là một buổi tự sự lớn lao. Hơn thế nữa, đó là một cuộc tự kiểm thảo sôi nổi. Trong khi nhìn Đảng, chúng ta nhìn thấy chúng ta.

Bác Phan Khôi nhắc đến thời…

–… Tôi cũng dự vào cách mạng. Thế rồi có vợ có con! Tôi xin với anh em cho tôi thôi… Vì sao? Vì tôi sợ chết chém, ở tù… Tôi sợ gian khổ.

Anh Thế Lữ nói: “…Tôi đã bỏ bao nhiêu năm để tìm tòi hoạt động cho một nền kịch không phục vụ cho ai. Tôi đã quan niệm sai lầm về nghệ thuật”.

Chị Phan Thị Nga nói: “Tôi cũng có tham gia cách mạng hồi còn con gái mười sáu, mười bảy tuổi. Rồi có gia đình… Rồi những ý nghĩ lo lắng về gia đình làm mình xa đoàn thể…”

Tôi tưởng như đây là một buổi kết nạp hay tự phê bình của các đoàn thể nhân dân trong đó các đoàn viên đưa lên xốc xổ cuộc đời mình và tư tưởng mình. Ở đây cũng là một sự xốc xổ thanh toán như vậy.

Chúng ta không những có cảm tình, chúng ta còn phải có trách nhiệm. Chúng ta không những nói lên những cảm tình đó, chúng ta còn phải đi đến những hành động gì ngày mai đây… Đảng là quần chúng, Đảng là nhân dân. Đảng là sự mất còn của đất nước, của chúng ta. Không một ai có thể dửng dưng trước nó…Cuộc xốc xổ này chỉ là để thanh toán những cái cũ, trước khi đi đến những hành động mới, đánh dấu một giai đoạn mới của mình…

Bác Phan nói: “…Trước kia tôi không nói mác-xít. Vì theo mác-xít, nói thì phải làm. Tôi không làm được, không dám chịu chết chém, ở tù, thì tôi không nói… Nhưng bây giờ thì tôi sẽ nói mác-xít đây”.

Chị Phan Thị Nga: Tôi mong muốn có ngày được đứng trong hàng ngũ.

Anh Thế Lữ nói: Tôi sẽ cố gắng học tập.

Anh Tô Ngọc Vân nói: Trong hoàn cảnh kháng chiến, chúng ta không nên khó tính, đòi hỏi nhiều. Dù một việc nhỏ giao cho chúng ta, chúng ta cũng hết sức làm! Đó là cách chúng ta tin tưởng Đảng, hợp tác với Đảng.

Chúng ta đã nói hết lòng tin tưởng của chúng ta, nói hết sự thống nhất ý chí của chúng ta.

Tôi nhìn ra anh em. Cảm giác như mực nước đã cao thêm. Chúng ta đã trưởng thành! Cảm giác như rừng đã dày. Chúng ta là một! Tôi cảm thấy có đông người vây bọc lấy chúng ta… Đảng là ngọn lửa… Chúng ta cầm tay nhau làm một vòng quanh Đảng… Nhân dân quần chúng là một vòng ngoài ôm ấp lấy chúng ta. Đó là cái hình ảnh đến với tôi khi tôi đứng dậy ra khỏi phòng họp…

CHẾ LAN VIÊN

Nguồn:

Văn nghệ  [Việt Bắc], s. 29 (15.8.1951)

[Rút từ Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, tập 4: 1951, tập 5: 1952, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 2003, tr. 17-20]

PHAN KHÔI VIẾT VỀ NGUYỄN DU VÀ “TRUYỆN KIỀU” (1955): PHÊ BÌNH “TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI” CỦA LÊ VĂN HÒE

PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI

CỦA LÊ VĂN HÒE

 

 

Ông Lê Văn Hòe có xuất bản cuốn Truyện Kiều chú giải ở Hà Nội từ năm 1953, sách khổ lớn, dày 772 trang, là một cuốn sách viết rất có công phu, kỹ càng và đầy đủ, so với loại sách ấy đã ra từ trước đến giờ. Muốn viết bài phê bình nó, tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới dám hạ bút, tức là bài này. Với sự thận trọng ấy, tưởng cũng đủ tỏ một độc giả là tôi, biết quý chuộng và không phụ công lao của tác giả.

Nhan sách là Truyện Kiều chú giải, nhưng mở đầu ra, người chú giải có đánh giá Truyện Kiều. Phần đánh giá chỉ có 2 trang mà thôi, nhưng tôi, tôi lại coi phần ấy là trọng yếu còn hơn 770 trang chú giải kia. Tôi chưa có thì giờ để thảo luận tỉ mỉ về phần chú giải vì nó khí bề bộn quá, cho nên trong bài phê bình này tôi chỉ mới nói trước về phần đánh giá.

***

Dưới cái phó đề Truyện Kiều ở đầu sách, ông Hòe nói Truyện Kiều lấy sự tích ở Phong tình lục, một tiểu thuyết Trung Hoa “chẳng có giá trị gì mấy”, mà nhờ “ngọn bút tài tình của cụ Nguyễn Du đã biến hóa … thành một áng văn chương kiệt tác”.

Ông Hòe nói phải. Tôi hồi trước từng đọc Phong tình lục sách in, và mới đây, năm 1948 lại được đọc bản sách ấy chép tay của một nhà ở Yên Bái, thì thấy quả thật không có giá trị. Có lẽ vì nó không có giá trị cho nên mấy trăm năm nay nó đã tuyệt bản ở Trung Quốc. Đọc cả hai sách đem đối chiếu nhau, thì thấy Truyện Kiều cắt xén xê dịch nguyên văn Phong tình lục rất nhiều. Có những tình tiết ở nguyên văn không có thì thêm vào, hay là ở nguyên văn có rất rườm rà mà bớt đi. Do đó, chúng ta có thể nói Truyện Kiều không phải một tiểu thuyết dịch, cũng không phải phóng tác, mà là hoàn toàn sáng tác. (1)

Tiếp theo đó, ông Hòe tổng luận tánh chất và giá trị Truyện Kiều bằng ba đoạn văn rất gọn nhưng rất dứt khoát mà tôi phải sao lục đúng từng chữ ra đây để làm căn cứ cho sự thảo luận của tôi. Ông viết:

“Tác giả (chỉ Nguyễn Du) hình như muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác.

Nhưng giá trị Truyện Kiều không ở tư tưởng đạo đức, luân lý hay triết học, cũng không ở cốt truyện hay bố cục, kết cấu, chi tiết. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả.

Người ta tán thưởng Truyện Kiều, người ta học tập Truyện Kiều, là tán thưởng và học tập văn chương Truyện Kiều. Chính phần văn chương đó đã làmTruyện Kiều bất hủ”.

Theo đó, có thể đặt ra ba câu hỏi: 1/ Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? 2/ Có phải cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là chỉ ở văn chương không? 3/ Có phải người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập ở văn chương Truyện Kiều mà thôi không? Ba câu hỏi ấy, tôi muốn đảo ngược thứ tự lên, từ thứ ba đến thứ nhất mà giải đáp, tự nhiên thấy sự đánh giá của người chú giải là có đúng được phần nào hay hoàn toàn không đúng.

***

Từ có Truyện Kiều gần một trăm rưởi năm nay, một số rất đông người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác đều ham đọc nó, đến nỗi có nhiều câu trong đó đã thành ra ca dao và nhất là người ta đã dùng nó làm sách bói. Một số rất đông ấy gồm người gọi là thượng lưu cả đến người đàn bà nông thôn, người biết chữ cả đến người không biết chữ. Nói rằng tán thưởng học tập về văn chương, đối với người thượng lưu biết chữ còn có lẽ, chứ đối với người đàn bà nông thôn thì – văn chương, theo ông Hòe là kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm – họ có biết đâu mà tán thưởng và họ có cần học tập làm gì? Thế mà tôi thấy chẳng những có người biết chữ đọc trầm từng đoạn Truyện Kiều, mà đàn bà nông thôn cũng có người đọc trầm được từng đoạn Truyện Kiều. Vậy thì chúng ta phải tìm cho thấy trong Truyện Kiều có cái gì đó đã nói được cái điều trong lòng mọi người muốn nói, có cái gì đó đã thông cảm với mọi người, nên họ mới ưa thích đến như vậy, chứ còn văn chương chỉ là một phần phụ, một phần nhỏ mà thôi.

Tôi tin quyết như thế. Một tác phẩm được truyền tụng là nhờ nội dung của nó có chỗ thông cảm với mọi người, nếu không, chỉ có văn chương suông mà thôi, không được truyền tụng.

Lấy ca dao làm ví dụ. Có những câu ca dao truyền khẩu từ đời xưa mà bây giờ người ta vẫn nhắc đến, lại có những câu ca dao của văn sĩ làm ra in vào sách mà cho đến nay vẫn không ai nhắc đến, nó không thể thành ra được là ca dao. Ngồi trong một đám đông, ta thử hỏi xem có ai biết câu này không, thì chắc có người biết:

Râu tôm nấu với ruột bầu

          Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon (2)

Nhưng, thử hỏi có ai biết câu này không, thì tôi dám quyết mười mươi rằng không có ai biết cả:

Cảnh trời ai bán ta mua

          Mua non non Thúy, mua chùa chùa Hương

          Mua hoa mới nở giữa vườn

          Mua trăng mới mọc trên sườn núi cao

Câu sau đó của Đoàn Như Khuê in trong tập Bể thảm của ông trước đây chừng hơn ba mươi năm. Văn chương của Đoàn Như Khuê cố nhiên là “kém” văn chương Nguyễn Du, nhưng cứ kể một câu ca dao này thì cái hay về văn chương của nó không kém câu nào trong Truyện Kiều hết, nhưng nó không được truyền tụng là vì nó không thông cảm với ai được hết. Với người giàu thì họ để tiền mua ruộng, với người nghèo thì họ đang ăn canh tôm nấu với ruột bầu, cả hai đều không thiết đến chuyện mua non Thúy, mà chùa Hương, mua hoa, mua trăng. Trái lại, câu trên có thể thông cảm với một số rất đông người Việt Nam là người nghèo, và thông cảm đến những người giàu mà biết nghĩ đến người nghèo nữa.

Theo kinh nghiệm và chứng cứ đưa ra đó, tôi dám quả quyết nói cái kết luận của ông Hòe bảo rằng người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập về mặt văn chương của nó là không đúng. Do đó, cũng lại quả quyết rằng Truyện Kiều sở dĩ bất hủ không phải chỉ cậy ở phần văn chương.

Đã thế thì câu hỏi thứ hai cũng phải bị phủ nhận. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều không phải ở văn chương. Một tác phẩm, không cứ tác phẩm gì, đều có hai phần: nội dung và hình thức. Nội dung là tư tưởng của tác phẩm, nó phải hợp với chân lý, có ích cho đời sống của mọi người, thì tác phẩm mới có giá trị. Còn hình thức, gồm thể tài, kỹ thuật của tác giả, tức ông Hòe gọi là văn chương, nó có giá trị chỉ khi nào nó đi đôi với cái nội dung lành mạnh làm cho tác phẩm đã có giá trị rồi. Nay tư tưởng của Truyện Kiều, theo ông Hòe thấy là tư tưởng triết học tôn giáo, đã bị ông chê là tầm thường, chưa đúng xác, thì chỉ một mình văn chương làm sao cho có được giá trị tuyệt đối? Chúng ta khi đọc một bài báo, một cuốn sách, dám bĩu môi chê rằng thứ đồ văn chương rỗng toách, thế là bởi nó không có nội dung, không có tư tưởng, thì cũng không có giá trị.

Câu hỏi thứ nhất phải đặt lại một cách ngay thật hơn: Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? Và tư tưởng ấy có phải cũng tầm thường và chưa đúng xác không? Nếu thế thì tôi xin nhận phần nửa dưới, chịu ông Hòe phán đoán là đúng, nhưng vẫn phủ nhận phần nửa trên.

Tôi rất đồng ý với lời phán đoán ấy của nhà chú giải. Trong Truyện Kiều, những cái triết lý “tài mạng ghét nhau”, “muôn sự tại trời”, rồi lại “quả kiếp nhân duyên”, “tu là cội phúc”, rồi lại “chữ tâm bằng ba chữ tài”, nhồi chung Nho, Phật với Đạo, thật là “lúng túng chẳng xong bề nào”. Cuối phần chú giải, ông Hòe có chỉ ra nhiều cái mâu thuẫn trong lý luận của Nguyễn Du, cho rằng lý luận ấy không đi đến đâu hết, không giải quyết được gì hết, thật là xác đáng.

Nhưng có phải Nguyễn Du định bụng chứng minh và truyền bá cái triết lý lúng túng vô giá trị ấy không? Điều này chúng ta nên xét lại.

Tôi thấy không phải thế. Cái mà Nguyễn Du muốn tuyên truyền là cái gì kia, nội dung tư tưởng của Truyện Kiều là ở chỗ nào kia, chứ không phải ở triết học tôn giáo muốn chứng minh và truyền bá như ông Hòe nói. Ông Hòe nói mà còn dè dặt bằng hai chữ  “hình như”, nghĩa là ông còn chưa dám chắc, thì hình như ông cũng đã rắp muốn hiểu như tôi hiểu.

Muốn biết Nguyễn Du tại sao vấp phải cái lúng túng ấy mà không gỡ mình ra được, thì phải biết Nguyễn Du là một nhà nho chánh tông, mà nhà nho thì thường mang trong mình một cái mâu thuẫn lớn, hễ gặp hồi khó xử thì đâm ra lúng túng. Cái mâu thuẫn ấy mang từ đời Khổng Tử thẳng đến hết thảy các nhà nho, đến Nguyễn Du, cho nên chúng ta cũng không thể trách Nguyễn Du. Về điểm này, tôi sẽ nói rõ ở một đoạn dưới.

Một tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều, được cả nước yêu chuộng từ xưa đến nay, tất nhiên là có cái nội dung cao quý của nó, ta phải tìm để hiểu. Còn cái điều ta thấy là tầm thường, chưa đúng xác, chưa phải là nội dung đâu, đó là những cái nhược điểm bởi tác giả bị thời đại hạn chế mà phải có, nên được khoan thứ. Ở Trung Quốc hiện nay, Thủy hử, Hồng lâu mộng được đề cao lắm, mà hai cái tiểu thuyết ấy đều có những chỗ lệch lạc chẳng khác gì Truyện Kiều.

***

Trước khi trình bày cái nội dung, cái tư tưởng tiến bộ dễ thông cảm của Truyện Kiều, tôi cần phải chỉ ra cái động cơ Nguyễn Du viết Truyện Kiều, để thấy rằng không phải vì muốn chứng minh và truyền bá một triết học tôn giáo nào, và cũng để thấy rằng cái nhược điểm trong Truyện Kiều là do bản chất của tác giả nó mà phải có.

Nguyễn Du thi đỗ làm quan từ hồi còn nhà Lê, và cha anh đều làm quan to thời Lê mạt, triều vua Cảnh Hưng. Nhà Lê từ trung hung đến triều Cảnh Hưng, bị họ Trịnh cướp cả chính quyền; cả gia đình Nguyễn Du tự nhận mình là làm tôi nhà Lê, chứ kỳ thực là làm tôi nhà Trịnh. Bản lãnh của nhà nho là trung và hiếu, đã nêu lên cái nguyên  tắc “trung thần bất sự nhị quân”, mà như thế, là đã phản nguyên tắc rồi, tự mình đã mâu thuẫn với mình rồi. Chúng ta muốn hiểu Nguyễn Du, muốn hiểu Truyện Kiều, trước hết phải nắm lấy chỗ đó, đó là cái thai đẻ ra mọi nhược điểm.

Nguyễn Huệ diệt Lê Trịnh, Nguyễn Du từng toan chống lại, nhưng bị thất bại. Lui về quê, tự xưng là “Hồng Sơn lạp hộ”, Nguyễn Du tỏ ý không chịu thần phục Tây Sơn. Tây Sơn thống trị nước Nam chỉ độ mươi năm, giá còn thống trị mãi thì Nguyễn Du có sẽ ra làm tôi Tây Sơn không, tôi không dám biết. Cái nghĩa lớn “tùy thời” và cái chí lớn “đắc quân hành đạo” của nhà nho ghê gớm lắm, không ai có thể đoán trước được.

Nguyễn Phúc Ánh, thế tổ Cao Hoàng đế triều Nguyễn diệt Tây Sơn, thống trị nước Nam, Nguyễn Du cực chẳng đã phải ra làm quan. Ấy, đừng ai tưởng tôi trách Nguyễn Du về chỗ đó, lúc bấy giờ những người gân guốc như Phạm Quý Thích, Võ Trinh, Phạm Đình Hổ đều phải ra làm quan, họ cũng đều vì cực chẳng đã cả.

Nguyễn Du thấy mình vốn là tôi nhà Lê mà bây giờ lại làm tôi nhà Nguyễn, như thế, khác nào một con đĩ “sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Ấy đó là động cơ viết Truyện Kiều. Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều vì cực chẳng đã mà phải làm đĩ, thì Nguyễn Du cũng vì cực chẳng đã mà phải làm đĩ, nghĩa là làm tôi nhà Nguyễn.

Ở “Truyện Nguyễn Du” trong sách Chánh biên liệt truyện, nói Nguyễn Du khi làm tham tri bộ Lễ ở triều Gia Long, mỗi lần triều hội, ít nói năng gì, không kiến minh điều gì, có vẻ “lừng khừng”, làm nhà vua phải giáng chỉ dụ “đả thông” đến mấy lần. Cái thái độ ấy y hệt như cái thái độ của cô Kiều: “Đuốc hoa để đỏ mặc nàng nằm trơ”; “Nỗi mình còn biết cái xuân là gì”.

Ngô Đức Kế, ông cụ này từng vì công kích Phạm Quỳnh mà công kích Truyện Kiều, chứ thực ra, ông cụ cũng là một người tán thưởng học tập Truyện Kiều như chúng ta. Ông cụ từng thuật lại một vài điều các bô lão ở Nghệ Tĩnh ngày xưa nói về Truyện Kiều cho tôi nghe: Cái câu “Giờ ra thay mặt đổi ngôi, dám xin gửi lại một lời cho minh” là Nguyễn Du muốn nói về Gia Long: Gia Long khi còn ở Gia Định truyền hịch ra Bắc Hà nói “phù Lê” mà về sau lại tự xưng hoàng đế. Còn câu “Phòng khi nước đã đến chân, dao này thì liệu với thân sau này”, chữ “sau” nguyên văn của Nguyễn Du là chữ “phận”. Lúc bấy giờ, Nguyễn Du vẫn còn sống, một ông bạn của Nguyễn Du, cũng tự nhận mình là di thần nhà Lê, chữa lại thành “sau”, có ý buộc Nguyễn Du cuối cùng phải tử tiết vì nhà Lê. Câu chuyện này chẳng biết có thật không, nếu thật thì cái ông bạn ấy cũng lại lôi thôi lắm nữa: sao tự mình không tử tiết mà lại buộc người khác phải tử tiết? Hỏi như thế để tỏ ra rằng hết thảy nhà nho một thời ấy, từ ông bạn ấy đến Phạm Quý Thích, Võ Trinh, Phạm Đình Hổ đều mang cái mâu thuẫn trong mình, đều lúng túng, chứ không phải một mình Nguyễn Du.

Bấy nhiêu đó đủ chứng tỏ rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều là muốn bộc bạch tâm sự của mình, làm đĩ là vì cực chẳng đã; nhưng có cái chứng cứ này do Nguyễn Du thân cung ra, còn chắc hơn nữa: Trong một bài thơ, Nguyễn Du có câu kết rằng: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như!”  Tố Như là tên tự Nguyễn Du. Ý câu ấy muốn nói: sau Thúy Kiều chết hơn ba trăm năm, có Tố Như bộc bạch cái tâm sự cực chẳng đã và khóc cho Thúy Kiều, chẳng biết sau hơn ba trăm năm nữa có ai biết tâm sự của Tố Như mà bộc bạch và khóc cho chăng? (3)  Nguyễn Du chưa hề nói cho ai biết động cơ mình viết Truyện Kiều là vì đâu, nhưng làm một cuộc khảo chứng như trên đây, chúng ta biết rõ và chắc rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều cốt muốn bộc bạch tâm sự, cái tâm sự cực chẳng đã phải làm tôi nhà Nguyễn. Nguyễn Du hẹn đến hơn ba trăm năm, không ngờ mới chưa đầy một trăm rưởi năm chúng ta đã biết mà còn biết hơn Nguyễn Du tự biết mình nữa, có biết như thế thì mới hiểu được tất cả Truyện Kiều.

Cái động cơ ấy chỉ có ngấm ngầm trong ý thức Nguyễn Du khi chưa viết Truyện Kiều, khi đã viết rồi thì Truyện Kiều lại phải làm nhiệm vụ của nó, hoàn thành sứ mạng của nó, động cơ của tác giả chỉ còn lộ ra trong đó một chút. Mỗi người chúng ta đọc Truyện Kiều thì cứ đọc, hiểu thế nào thì cứ hiểu, cũng không ai hề hỏi đến động cơ làm gì.

Nói thế, mới nghe, như là vô lý, nhưng sự thực là thế.

Một tác giả toan viết ra một tác phẩm, khi có chủ đề, có nhân vật, xây dựng đâu ra đó rồi thì viết, chứ không cần bởi có một động cơ nào. Nhưng ở trường hợp đặc biệt, có một động cơ như Nguyễn Du, thì khi viết, cũng lại phải xây dựng tác phẩm của mình bằng chủ đề và nhân vật, chứ không thể làm khác được. Chủ đề đã định rồi, còn có nhân vật, giữa nhân vật còn có sự kiện. Đối với nhân vật và sự kiện, thế nào tác giả cũng phải bằng ở quan niệm và nhận thức của mình hồi bình nhật mà biểu lộ ra ai là xấu, ai là tốt, ai là thiện, ai là ác, cái gì là hay, cái gì là dở, cái gì nên ủng hộ, cái gì nên phản đối. Chính chỗ đó là nội dung tư tưởng của tác phẩm, không có nó tức thì tác phẩm không có linh hồn.

Vai chính trong Truyện Kiều là Thúy Kiều, nhân vật mà Nguyễn Du đưa ra định làm cái bóng của mình. Nhưng một mình Thúy Kiều thì không thành chuyện được, chung quanh Thúy Kiều phải có người này người khác, do đó sinh ra việc này việc khác, câu chuyện thành ra câu chuyện xã hội. Đã là câu chuyện xã hội thì tác giả phải rút lui cái ý của động cơ ra đằng sau tác phẩm, nhường cho tác phẩm tiến hành nhiệm vụ và sứ mạng của nó, tức là quan niệm và nhận thức về xã hội của tác giả.

Tào Tuyết Cần, tác giả Hồng lâu mộng, là con cháu của một nhà thế gia sa sút, mà Hồng lâu mộng cũng kể chuyện một nhà thế gia sa sút, vì vậy có nhiều người nhận rằng Hồng lâu mộng là “tự truyện” của tác giả, nhắc lại chuyện mình và chuyện nhà mình. Nhận như thế, dầu đúng nữa cũng chỉ là cái động cơ của tác giả mà thôi; hiện nay chúng ta đọc Hồng lâu mộng chỉ thấy là một tiểu thuyết hiện thực xã hội, phản đối mọi lề thói của chế độ phong kiến. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng vậy.

***

Đến đây xin bắt đầu trình bày nôi dung tư tưởng chân chính của Truyện Kiều.

Truyện Kiều mở đầu ra, đã phải đả động đến vấn đề luyến ái, vấn đề hôn nhân, vấn đề phụ nữ, là những vấn đề xã hội làm người ta ngột thở dưới chế độ phong kiến hàng ngàn năm ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Xã hội Việt Nam đến thời đại Nguyễn Du, thời đại Lê Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, phong kiến đổ nát, mất lực lượng tập trung, bọn chúa phong kiến phải tăng cường guồng máy thống trị, gia khẩn sự áp bách. Theo lịch sử, dưới chính quyền lúc bấy giờ ở miền Nam và miền Bắc đều có vô số người được phong tước quận công, khiến dân chúng oán ghét đến khinh miệt bằng những câu thô tục, như là “Nhất quận công, nhì ỉa đồng”, “Ỉa đồng một bãi bằng vạn đại quạn công”, thì đủ biết họ bị áp bách mà thống khổ đến chừng nào.

Phụ nữ là hạng người ở từng lớp bét trong xã hội phong kiến, họ bị áp bách nặng nề hơn và chịu thống khổ nhiều hơn. Thuở đó ở miền Bắc thì ông Nghè bắt hiếp con gái đồng trinh:

Em là con gái đồng trinh

          Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè

          Ông Nghè sai lính ra ve

          Trăm lạy ông Nghè, tôi đã có con

          Có con thì mặc có con

          Thắt lưng cho giòn, theo võng cho mau

                                                          (ca dao)

Ở miền Nam thì quan Chánh (chánh cai bộ) cưỡng đoạt đàn bà có chồng có con:

Mẹ ơi quan Chánh đòi hầu

          Mua chanh mà gội cái đầu cho trơn

                                                          (ca dao)

Họ còn bị áp bách trong gia đình cũng khắc nghiệt nữa. Cha mẹ gả con lấy chồng tức là bán con, như đời xưa bán nô lệ, cho nên nói “gả bán”. Theo một cái nguyên tắc từ đời nào để lại không biết: “phụ mẫu sở sinh sở định”, đặt đâu ngồi đó, người con gái không được tự chủ việc trăm năm của mình. Bởi vậy mới có tiếng than:

Mẹ em tham thúng xôi rền

          Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

          Em đã bảo mẹ rằng đừng

          Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào

Bây giờ chồng thấp vợ cao

          Như đôi đũa lệch so sao cho bằng!

                                                (ca dao)

Khoan nói chưa hề yêu nhau, đến nỗi chưa hề thấy mặt nhau cũng bắt phải lấy nhau:

Lấy chồng chẳng biết mặt chồng

          Đêm nằm mơ tưởng nghĩ ông láng giềng.

                                                (ca dao)

Pháp luật cho đàn ông chết vợ, sau một năm được lấy vợ khác, mà đàn bà thì sau ba năm mới được lấy chồng. Họ phải kêu:

Gió đưa cành trúc ngã quỳ

          Ba năm trực tiết còn gì là xuân

                                                (ca dao)

Lại còn nêu lên “chữ trinh” bắt phụ nữ phải giữ trinh nữa. Đây là một giáo điều:

Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng

                                                                   (tục ngữ)

Ở dưới chế độ, lễ giáo, pháp luật vô lý và bất công như vậy, hết thảy phụ nữ phải cúi đầu mà chịu. Nếu có người không chịu, tháo cái ách tròng trên cổ, tự do yêu, là chết đấy. Cái đối tượng yêu là ai? Là người con trai. Thế thì sự yêu nhau đó nếu vỡ lở ra, hai bên cùng chịu trách nhiệm mới phải. Nhưng không, dư luận cứ đổ tội trên đầu người con gái: Tại chị bẩy nhà ta, không phải tại chi anh ba nhà người (tục ngữ), thậm chí nói: Con chó cái có ngoe nguẩy thì con chó đực mới vẫy đuôi          (tục ngữ).

Trong Hồng lâu mộng, Bảo Ngọc, con trai của bà Vương phu nhân, một hôm, nắm tay Kim Xuyến, con nhài của bà mà nói chuyện. Sau đó bà mắng Kim Xuyến là đồ đĩ thõa, làm hư con trai bà. Kim Xuyến không chịu nhục được, nhảy giếng mà chết. Tôi lại từng thấy ở làng quê tôi, một cô con gái “theo trai”, bị bố mẹ buộc phải chết, cô uống thuốc độc mà chết.

Đối với những vấn đề trên đó, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa hề giải quyết, nhưng đã tỏ thái độ của mình ra trong khi đối đãi với vấn đề. Cứ theo cái thái độ ấy mà suy luận ra, có thể nói Nguyễn Du đòi giải phóng phụ nữ, cho kết hôn tự do, luyến ái tự do. Về điểm này, chúng ta thấy Nguyễn Du đã bạo gan vượt ra ngoài lễ giáo của thánh hiền.

Thúy Kiều mới có mười lăm tuổi, cái tuổi mà các bà cụ ta ngày xưa thường nói, “Chúng tao hồi bằng ấy đang còn ở truồng”, thế mà ra đường thấy trai đã mắt măng mắt vược “nghé theo”, về nhà nằm đêm còn mơ tưởng “Người đâu gặp gỡ làm chi”. Nguyễn Du đã thản nhiên thuật lại những điều ấy, chẳng những không thấy ngượng ngập mà còn như lấy làm hể hả. Rồi hơn trăm năm nay những người đọc truyện hình như cũng đều hể hả theo. Nếu có người chê là “mất nết” (4) thì lại có những ông khoa bảng, quyền uy trong giới ngôn luận, như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh bênh vực cho. Cả đến ông Lê Văn Hòe, trong Truyện Kiều chú giải, ông mắng Kim Trọng là thằng con trai “hư sớm” (tr. 40) nhưng ông cũng không mắng Thúy Kiều là đứa con gái hư sớm. Thì ra “thiên lý tại nhân tâm”, Nguyễn Du muốn giải phóng phụ nữ, cho luyến ái tự do, là điều hợp với lẽ trời, cho nên cảm được lòng người.

Đến lúc hai trẻ giáp mặt nhau lần thứ nhất dưới cây đào, mới nói qua nói lại mấy câu với nhau, đã trao của tin cho nhau, ước hẹn lấy nhau. Ông tham tri bộ Lễ nức nở khen: “Cho hay là giống hữu tình”, bất chấp cả “phụ mẫu chi mạng, mai ước chi ngôn”, vứt mẹ nó cả lễ. (5)  

Nguyễn Du cho Thúy Kiều nói những câu ngộ nghĩnh đến buồn cười, mà cả nữ giới tiến bộ tự do ngày nay cũng không ai dám nói. Ở lần thứ nhất gặp nhau ấy, sau khi Kim Trọng tán mãi, Kiều đáp lại:

Rằng: trong buổi mới lạ lùng,

          Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang. 

Câu  nói thật chẳng lô-gic chút nào cả. Buổi mới lạ lùng thì việc quái gì mà phải nể lòng? Việc quái gì mà cầm lòng không đang? Nói thế, khác nào một người bán rau nói với một bạn hàng mới: Thôi lần thứ nhất tôi bán cho chị một mớ làm quen? Nhưng tình yêu có phải là thứ bán như bán rau? Thì hình như tác giả cố ý định làm dễ dãi, thúc giục cho cuộc luyến ái của hai người được thành công sớm ngày nào càng hay ngày ấy.

Cái hôm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng tự tình với nhau từ sáng sớm cho đến chiều tối, lúc đứng dậy ra về, có câu: “Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai”. Vả, ngồi từ sáng đến chiều, chẳng đã là dai rồi sao, mà đến lúc ra về mới thấy là chằng tiện? Ai thế nào không biết, chứ tôi, tôi phải cảm đội tấm lòng từ bi của tác giả bởi tác giả còn muốn chúng tôi ngồi dai hơn. Tấm lòng từ bi đó, tôi muốn nói tấm lòng từ bi của Phật. Phật thương xót con trai con gái chúng ta, nên đã dạy rằng đời người có ba cái khổ mà hai cái là: yêu nhau mà không được ở với nhau (ái tương ly khổ), và, ghét nhau mà phải ở với nhau (tăng tương hội khổ). Khi tôi chịu cái giáo dục ấy rồi, tôi muốn vứt Kinh Lễ của Nho giáo xuống ruộng khoai, vì trong đó dạy: “Người con yêu vợ mà cha mẹ không yêu nàng dâu thì người con phải rẫy vợ”. Ôi! Nó bất cận nhân tình là dường nào! Nó độc ác là dường nào! Không trách Nguyễn Du là nhà nho mà trong Truyện Kiều lại hay nói triết lý nhà Phật.

Nguyễn Du không chịu nhìn nhận cái quyền nam nữ kết hôn là quyền riêng của bố mẹ. Khi Thúy Kiều bị bán mình sắp đi khỏi nhà, dặn lại Thúy Vân phải lấy Kim Trọng thay cho mình, thì ông bà Viên ngoại nghe theo răm rắp như một việc cố nhiên và đương nhiên. Đó là tư tưởng lãng mạn cách mạng của tác giả, chứ xã hội đời Minh hay xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du cũng không có thể nào như thế được.

Nguyễn Du lại cố ý đặt Kim Trọng, tình nhân của Thúy Kiều trên lòng nàng ngang với cha mẹ nàng, có khi còn trỗi hơn. Trong mười năm lưu lạc, có sáu lần Thúy Kiều nhớ cha mẹ thì cũng nhớ Kim Trọng, mà đặc biệt có hai lần nói đến Kim Trọng trước rồi mới nói đến cha mẹ sau. Tức là lần đi đường từ Bắc Kinh xuống Lâm Tri:

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

          Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

          Rừng thu từng biếc chen hồng

          Nghe chim như giục tấm lòng thần hôn

Một lần nữa ở lầu Ngưng Bích:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

          Tin sương luống những rày trông mai chờ

          Bên trời góc biển bơ vơ

          Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

          Xót người tựa cửa hôm mai

          Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

          Sân Lai cách mấy nắng mưa

          Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Phụ nữ Việt Nam đã bày tỏ cái ẩn tình của mình ra trong câu ca dao:

Mẹ cha bú mớm nâng niu

          Tội trời thì chịu, không yêu bằng chồng

Kim Trọng thực ra không những tình nhân mà là chồng chưa cưới của Thúy Kiều. Nguyễn Du cho nàng nhớ Kim Trọng hơn nhớ cha mẹ là hợp với ẩn tình phụ nữ lắm.

Dưới chế độ phong kiến, luân lý Nho giáo, hết thảy nam nữ thanh niên, không luận con cái ông gì bà gì, đều bị áp bách về luyến ái hôn nhân. Truyện Kiều hé ra cho họ một tia sáng như trên đây, cho nên, chỉ trừ ra người nào không biết cái yêu là gì thì không kể, còn thì hết thảy đều mở lòng ra mà đón lấy ánh mặt trời chói lói ấm áp của tác giả. Nguyễn Du đã thành công trong tác phẩm của mình, đã đạt được mục đích của mình là bởi đó.

***

Chung quanh Truyện Kiều là chuyện xã hội. Đối với cái xã hội ấy, xã hội Gia Tĩnh triều Minh hay xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du cũng thế, Nguyễn Du đã tỏ ra rất chán ghét nó, đã tố cáo bao nhiêu tội ác của nó.

Cứ xem nhân vật trong Truyện Kiều thì đủ biết. Kể cả nhân vật không lấy gì làm nhiều lắm, nhưng hầu hết đều là người xấu; lấy những người ấy tổ chức xã hội thì làm sao cho xã hội tốt được?

Cái cốt cán của xã hội phong kiến là nhà nho, vì có người của Nho giáo thì mới duy trì được chế độ phong kiến. Mà hễ chế độ phong kiến thối nát thì ắt nhà nho thối nát trước, trước hơn từng lớp khác. Đó là sự thực lịch sử. Hẵng kể chuyện lịch sử phong kiến thoi thóp triều Nguyễn gần đây cho dễ thấy. Dưới hai triều Thành Thái và Duy Tân, những ông quan lớn ở triều ở tỉnh, đồng tình với thực dân Pháp ký giấy phế vua; đào mả vua, bắt bớ giết hại người cách mạng, toàn là nhà nho cả, chẳng ai vào đó. Đó còn chưa kể người thi đem tiền đút cho quan trường, quan trường ăn tiền lấy đậu, bị kiện, đưa ra xử trước mặt người Pháp mà không thấy xấu hổ, thật không còn một chút nào là lễ nghĩa liêm sỉ, chứ đừng nói đến trung hiếu.

Nhà nho trong Truyện Kiều cũng thế. Mã Giám sinh, theo cái danh ấy là sinh viên trường Quốc tử giám, ngang với đại học sinh ở trường đại học quốc lập thời sau này. Thế mà vì kiếm ăn đã chung lưng với một mụ dầu, cái cử chỉ từ đầu đến cuối toàn là vô liêm sỉ. Sở Khanh từng ứng khẩu họa thơ dưới lầu Ngưng Bích, phải nhận hắn là một tay học khá mặc dù hành vi của hắn là lưu manh. Thúc Sinh cũng lại là tay học khá, hay thơ, thì vác tiền của cha đi nằm nhà thổ, lại còn dám gây ra vụ cha con kiện nhau. Đến Kim Trọng, một văn nhân có tài danh, đã bị mắng là “hư sớm” rồi; Vương Quan cũng chẳng “nên” chi, lạ cho một thằng bé mới 12-13 tuổi mà sao đọc trầm được chuyện Đạm Tiên như người khác đọc trầm được sách Mạnh Tử.

Đó là những nhà nho thất thời hay chưa đắc thời; khi họ đắc thời ra làm quan thì là hai ông quan: một ông xử vụ bán tơ, một ông xử vụ cha con Thúc Sinh; khi họ làm to lên nữa thì là cụ lớn Hồ Tôn Hiến. Ông thứ nhất ăn tiền ra mặt; ông thứ nhì tùy ý phán đoán vụ tố tụng dân sự, coi như trò đùa; đến tổng đốc Hồ thì khiếp nhược, đểu giả, thêm cái vẻ có máu dê.

Tôi thấy chỉ có Mã Kiều và mụ Quản gia, hai người ở từng lớp bét trong xã hội, là có lòng nhân đạo, biết đồng tình với một nạn nhân xã hội là Thúy Kiều mà tùy cơ cứu giúp cho. Còn ngoài ra, đều là hùm sói cả. Tú Bà độc ác vì cái nghề của mụ; Hoạn Thư nham hiểm vì thường tình ghen tuông; hai thằng Ưng, Khuyển với một bầy côn quang, như thiên lôi sai đâu đánh đó, chẳng nói làm chi. Khả ố nhất là bà vợ Thiên quan Trủng tể, ngồi trên giường thất bảo giữa ban ngày sáp thắp hai bên mà ra oai với một thiếu phụ lưu ly thất sở, bị phù lỗ trong tay mình. Nhìn qua một bận hết thảy nhân vật ấy, Nguyễn Du không thể không khen Chung công là “từ tâm”, Giác Duyên là “lành lòng”, thật là vớt vát hết sức mà cũng mỉa mai hết sức. Thực ra, Chung công chỉ là một tên cò mồi, dẫn tang cho quan trên; Giác Duyên cũng có thể bị tình nghi là đồng lõa với Bạc Bà, Bạc Hạnh, thừa dịp đuổi Thúy Kiều đi để chiếm lấy chuông vàng khánh bạc. Bởi vì, theo Giác Duyên thì nhà họ Bạc quen với nhà chùa, lẽ đâu không biết nhà ấy là nhà bán thịt buôn người?

Những nhân vật vô nhân đạo ấy thế nào cũng sẽ tạo ra những sự kiện vô nhân đạo.

Thằng bán tơ, theo Phong tình lục, là một thằng kẻ trộm hay buôn lậu gì đó, nó chỉ gặp Vương ông trong quán rượu một lần, khi việc gian lậu của nó vỡ ra, bị quan xúi khai cho nhà giàu để làm tiền, nó tưởng Vương ông nhà giàu nên nó cung chiêu cho. Rồi Chung công là tay trong của quan đứng ra dàn xếp. Cái thủ đoạn tàn nhẫn ấy cũng chẳng lạ gì ở nước Việt Nam thời trước, nơi mà dân chúng đã kêu:

Sướng chi mà sống đời nay

          Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

                                                                   (ca dao)

Mã Giám sinh, Bạc Hạnh công nhiên đi làm cái nghề mua bán người mà pháp luật cứ để yên cho làm, chẳng hề hỏi đến, mặc dầu sự mua bán ấy đã bị pháp luật nghiêm cấm từ lâu rồi. Cũng như ở nước ta, luật Hồng Đức, luật Gia Long đều có điều cấm “mại nhân vi nô”, triều vua Cảnh Thống nhà Lê lại còn cấm nhân dân Quảng Nam không được bắt người Mọi bán làm con đòi đứa ở, nhưng mà cái nạn mẹ mìn cứ còn mãi cho đến cả thời Pháp thuộc.

Thúy Kiều bị đánh đòn bốn lần. Một lần ở sân phủ đường, chịu “cứ phép gia hình”, một lần ở nhà mẹ Hoạn Thơ, không chống lại nổi với cái “gia pháp” nhà quyền thế, chẳng nói làm chi. Hai lần ở nhà Tú Bà, bị đánh gần chết, lần trước Kiều tự lấy dao cắt cổ, gần xảy ra án mạng, thế mà không hề có một ai can thiệp. Nếu nói đó là việc riêng trong nhà Tú Bà, thì còn đang đêm mụ suất một đoàn gia nhân với gậy đuốc đuổi theo bắt người, làm náo động từ phố phường đến làng xóm, sao người ta cứ để mặc mụ làm tự do? Thì ra, cái thời bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng ấy, một con mẹ trùm đĩ vẫn được làm gió làm mưa trong cái vùng nó chiếm đóng.

Sau khi giấu Thúy Kiều một nơi, theo Phong tình lục, Thúc Sinh cho người đến bảo Tú Bà rằng hắn sẽ kiện mụ chiếu theo điều luật “dĩ lương vi xương” (lấy con gái lương gia làm đĩ), nếu mụ cho chuộc Thúy Kiều ra thì thôi không kiện. Ấy tức là trong Truyện Kiều nói hai bài chiến và hòa. Rốt cuộc Tú Bà phải cầu hòa, là vì mụ nghĩ tiền mụ không nhiều bằng nhà Thúc Sinh, thế mụ không mạnh bằng nhà vợ Thúc Sinh, nếu gặp tay khác thì với ông quan mặt sắt ấy, mụ thò ra một ít bạc cũng làm phi được điều luật. Ở dưới nhiều thứ áp lực nặng nề khó ngóc đầu ấy, Thúy Kiều phải nhận Thúc Sinh, anh chàng ngu ngốc bạc bẽo làm ân nhân mà đền đáp có hơi quá cũng không nên trách.

Khuyển, Ưng và một lũ côn quang đã vượt biển từ Vô Tích sang Lâm Tri đốt nhà bắt người, gây một vụ hành hung to như thế mà cũng không ai hỏi đến. “Sẵn thây vô chủ bên sông”, là thây nào? Sao lại sẵn? Không lấy gì làm lạ: nếu người ta hỏi đến vụ hành hung thì người ta đã hỏi đến cái thây này rồi. Thật đáng gọi là đời loạn, ai muốn phóng hỏa thì phóng hỏa, ai muốn sát nhân thì sát nhân.

Dưới ngòi bút mình đã vẽ ra một xã hội có những nhân vật và sự kiện như thế, người có tâm sự, có hoài bão như Nguyễn Du phải nghĩ thế nào chứ. Theo Nho giáo, gặp đời loạn, cái nguyện vọng cao nhất là “bát loạn phản chánh”; nhưng trước còn phải “đắc quân” rồi sau mới “hành đạo” được. Cái chuyện “đắc quân” thì từ đời Khổng Tử đã thấy khó, cho nên cái thuyết của Nho giáo không thể áp dụng cho trường hợp này mặc dầu Nguyễn Du là nhà nho.

“Trăm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy gươm làm sạch” (tục ngữ), ấy là một thứ triết học bình dân của bình dân Việt Nam. Trong cơn phẫn uất, tác giả Truyện Kiều không cần nghĩ đến nơi đến chốn, cứ tạm theo thứ triết học ấy mà cho lưỡi gươm của Từ Hải vung lên.

Tôi không nói Nguyễn Du muốn làm cách mạng. Bởi vì Nho giáo không chủ trương cách mạng. Khổng Tử từng tán dương vua Thang vua Vũ cách mạng, nhưng đó là vua cách cái mạng của vua, chứ Khổng Tử thì ngài chỉ mong làm tôi để phò vua, không hề dám có mộng tưởng cách cái mạng của vua. Khi không phò được vua thì ngài lại rắp toan cộng tác với mấy kẻ bạn thần như Công-sơn Phất-nựu, Bật-nật mà trong sách Luận ngữ có nói. “Rắp toan” thế thôi, rốt cuộc rồi ngài cũng không cộng tác. Chịu ảnh hưởng của thứ tư tưởng truyền thống, nói là trung dung mà thực là mâu thuẫn ấy, Nguyễn Du có vẻ lúng túng trong khi viết đoạn chuyện Từ Hải. Nhân vật Từ Hải đã được đặt trên một lập trường không minh bạch, vua không ra vua, giặc không ra giặc, thành thử làm đến Kiều cũng loạn trí, đã tự nhận mình giết chồng là có tội, nhưng lại tự nhận có công phần nào.

Mặc dầu Nguyễn Du cho Từ Hải làm kinh thiên động địa đến đâu, là thực sự, Từ Hải cũng không anh hùng bằng Nguyễn Huệ, con người có thật đứng trước mặt Nguyễn Du mười lăm năm. Thế sao Nguyễn Du đã chống vua Quang Trung mà lại hâm mộ và đề cao Từ Hải? Thì ra trong khi Nguyễn Du nhận Nguyễn Huệ là kẻ thù của nhà Lê, lại muốn cậy tay Từ Hải rửa sạch cái xã hội nhà Minh. Chỗ này thấy thêm một mâu thuẫn nữa.

Từ Hải phải thất bại, Nguyễn Du biết thế, nhưng cứ đề cao, hình như chỉ để khoái ý nhất thời. Mà giá phỏng Từ Hải có thành công, thì cái xã hội vạn ác kia cũng vẫn cứ vạn ác. Trong một cuộc đền ơn báo oán, tiêu đến ba ngàn cân vừa vàng vừa bạc, một trăm cuốn gấm, vẫn là của bóc lột dân nghèo; không đụng đến Hoạn phu nhân, tha bổng thủ phạm Hoạn Thư mà lại giết Khuyển Ưng, vẫn là cái thói “quan vị quan”, bênh vực kẻ cùng giai cấp, tàn sát kẻ khác giai cấp. Tư tưởng không triệt để thì nó phải thế; nhưng nói thế, không phải buộc Nguyễn Du phải có tư tưởng triệt để cách mạng xã hội.

Nói gì thì nói, chứ so sánh hết thảy tác phẩm cổ điển của ta, như những Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên, Lục Vân Tiên… về phương diện ý thức xã hội, ý thức chính trị, phải kể Truyện Kiều là tiến bộ hơn hết. Trong các truyện kia, nhân vật đều sống hiền lành ngoan ngoãn dưới chế độ áp bách, cắn răng bấm bụng để chờ một cuộc đại đoàn viên; duy Truyện Kiều còn có ý vươn lên, tuy vươn lên chưa đến đâu.

“Con giun bị xéo còn biết quậy” (tục ngữ), đó là cái tâm lý của người Việt Nam từ xưa đến nay, bởi đó mà trong lịch sử đã có bao nhiêu lần nông dân khởi nghĩa. Quậy, có khi chỉ để khoái ý nhất thời như Nguyễn Du, không hẳn có được việc gì, nhưng họ cứ quậy. Nguyễn Du cho Từ Hải vung gươm lên trong lúc xã hội bị giày xéo, cái đó hiệp với tâm lý mọi người lắm, cho nên người ta hoan nghênh Truyện Kiều không luận Từ Hải thành công hay không thành công. Đó lại là một khía tư tưởng dễ thông cảm của Truyện Kiều làm nó được truyền tụng.

Ngoài ra, Nguyễn Du còn xây dựng Truyện Kiều đúng với hiện thực, nhân vật nào cũng ra con người có xương có thịt, làm cho người đọc tin là thực nên dễ mê. Tức như vai chính Thúy Kiều, khi ở với Thúc Sinh, ở với Từ Hải thì không nhớ Kim Trọng nữa, lúc mới gặp Từ Hải mong Từ làm Đường Cao tổ mà đến lúc khuyên hàng lại ví Từ với Hoàng Sào. Đó thật là lòng dạ đàn bà (tôi nói đàn bà thời trước) mà Từ Hải đã gọi là “nữ nhi thường tình”. Thúy Kiều tuy hiếu nghĩa nhưng vẫn là một người đàn bà có lòng tự tư tự lợi như mọi đàn bà khác (tôi cũng nói đàn bà thời trước), Nguyễn Du không chịu làm nàng thành ra một tiết phụ hay một nữ hiệp sĩ xa cách với chúng ta nên dễ lấy được đồng tình của chúng ta. Điểm này thuộc về văn chương, kỹ thuật của tác giả, ông Hòe đã khẳng định rồi, không cần nói thêm; dưới đây xin nói đến chỗ ông Hòe bảo tư tưởng tầm thường và không đúng xác.

***

Trên kia đã nói rõ Nguyễn Du viết Truyện Kiều không phải để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo nào dù chỉ “hình như” như ông Hòe nói. Nếu gọi nó là tư tưởng thì cũng không phải phần tư tưởng chính, đại biểu nội dung của tác phẩm. Ở đây tôi muốn cắt nghĩa tại sao Nguyễn Du có thứ tư tưởng tầm thường, không đúng xác ấy, theo lời phán đoán của ông Hòe mà tôi đã đồng ý ở trên.

Đó không phải cái lỗi của Nguyễn Du mà là cái lỗi của Nho giáo, hầu hết nhà nho từ trước đến sau đều mắc phải.

Nho giáo không có gì khác hơn là một thứ lợi khí để duy trì chế độ phong kiến. Chung cho trật tự xã hội, nó dựng lên thuyết tam cương, riêng cho phụ nữ, nó lập ra luật tam tùng, thu quyền vào trong tay vua, cha, chồng, trong tay đàn ông, mà rốt cuộc lại là trong tay vua. Nó có những giáo điều nghiệt ngã nói là lý trí không phải lý trí mà bóp chết người ta về phương diện tình cảm. Sống trong cái vòng bị trói buộc về phần xác ấy, giá có nới cho về phần hồn, phần tư duy tưởng tượng thì còn khá. Nghiệt thay đức thánh Khổng lại không chịu nói đến thần (Luận ngữ: bất ngữ thần), không chịu nói đến cái chết (Luận ngữ: yên tri tử), bắt người ta sống chịu khổ trọn đời, dù chỉ muốn giải thoát nội tâm cũng không phương giải thoát. Nho giáo thật là một cái đạo khắc nghiệt, khô khan, bất cận nhân tình.

Ở trong Nho giáo thấy ngột thở, thấy thiếu thốn, tự nhiên người ta phải tin Phật giáo, Đạo giáo, mà có lẽ nhà nho tin trước hơn ai hết, tin sâu hơn ai hết. Đã tin như thế, sợ mang tiếng phản lại giáo của mình, người ta bèn làm hỗn hợp giáo nọ với giáo kia, kết cuộc là cái thuyết “tam giáo nhất lý” hay “tam giáo đồng nguyên”.

Lịch sử làm chứng rõ ràng điều đó. Nhà nho từ đời Đường về sau, hầu như đều thế cả. Hàn Dũ ban đầu chống Phật mà đến lúc bị đày đọa ghe phen rồi cũng phải vò vè muốn tin Phật. Các nhà nho đời Tống đời Minh còn trắng trợn hơn, công nhiên rút triết lý của Thiền tông làm học thuyết của mình, như hai họ Trình và Vương Dương Minh. Đến đời Mãn Thanh, thôi không còn dè dặt gì nữa, hết thảy nhà nho khi trong nhà có việc tang, đều rước hoà thượng, đạo sĩ đến cầu cúng, gọi là “tố pháp sự”. Ở Việt Nam cũng vậy, từ đời Trần đã thi tam giáo, đến Lê Nguyễn mới chuyên trọng một đạo Nho. Nhưng cứ kể trong khoảng bảy tám mươi năm trước đây, hai ông nhà nho được coi là người khá, được tôn là bậc thầy: tổng đốc Nguyễn Khoa Luận thì xuất gia và tịch ở chùa, đốc học Trần Viết Thọ thì tu tại gia và cuối cùng lên giàn hỏa.

Nhà nho, đàn ông còn như thế, huống chi phụ nữ. Từ nay giở về trước, nếu ai trách đàn bà Việt Nam hay mê tín, tin bói khoa, tướng số, đồng bóng, hay đi chùa lễ Phật, vái lạy tam phủ tứ phủ, cầu con cầu của, là người không biết điều.

Nguyễn Du là một nhà nho trong hạng nhà nho ấy, về ý kiến chính trị đã mâu thuẫn, về tín ngưỡng lại không đơn thuần. Giá như Nguyễn Du có tư tưởng triệt để thì Truyện Kiều đã thành ra một tác phẩm có ý nghĩa phản phong kiến rồi, bọn Hồ Tôn Hiến đã bị chửi cho tàn tệ rồi, luồng gió cách mạng đã thổi lên rồi; nhưng không có thể được, trước đây một trăm rưởi năm, ở nước Việt Nam không thể có cái tư tưởng ấy.

Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng mà bị giết là công hay tội, tác giả nói rất mập mờ. Chuyện là chuyện xã hội mà cuối cùng lại giải quyết bằng phương thức cá nhân: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, thì cũng như không giải quyết gì cả. Ông Hòe chê rằng tầm thường, không đúng xác là phải lắm. Nhưng đó không phải là cái lỗi riêng của Nguyễn Du; giá chúng ta ở thời đại Nguyễn Du viết Truyện Kiều thì cũng thế (nói thế, chứ chúng ta chưa chắc đã viết được bằng).

Cứ theo lẽ thẳng mà nói thì như thế, nhưng chúng ta cũng còn có chỗ đáng dè dặt phần nào. Ở phần chú giải, dưới câu “một niềm vì nước vì dân”, ông Hòe lấy làm lạ về Nguyễn Du trước đã tỏ mối thiện cảm với Từ Hải bao nhiêu, thì sao đến sau lại cho Tam Hợp, Đạm Tiên nói những câu rất khinh miệt, ác cảm với Từ Hải bấy nhiêu, rồi ông viết: “Có phải tác giả làm ra như vậy để đánh lạc dư luận về thái độ của ông đối với Từ Hải? Có phải tác giả cố ý làm ra như vậy để đánh loãng cái cảm tình nồng hậu của ông đối với nhân vật Từ Hải? Và tất nhiên là vì lý do tự vệ” (tr. 646).

Chỗ này, ông Hòe nói rất có lý. Theo như chứng cứ dưới đây thì sự nghi ngờ ấy chính đáng lắm.

Người ta phải lấy làm lạ, sao hầu hết văn chương cổ điển nước ta không lấy đề tài ở bản quốc mà đều lấy ở ngoại quốc: Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên, Truyện Kiều lấy ở Trung Quốc, Quan âm Thị Kính lấy ở Triều Tiên. Đến thơ phú, sĩ phu nhà Trần phản đối sự Huyền Trân gả về Chiêm Thành thì mượn chuyện Chiêu Quân cống Hồ; Nguyễn Hữu Chỉnh muốn tỏ tâm sự chí khí của mình thì làm “Hàn vương tôn phú”, Nguyễn Nghiễm muốn ngụ ý phò Lê thì làm “Khổng Tử mộng kiến Chu Công phú”. Chinh phụ ngâm, một tác phẩm phản đối chiến tranh Trịnh-Nguyễn thì tên người tên đất cũng đánh lạc đi đâu, những là Phục Ba, Giới Tử, Lũng Hải, Cam Tuyền, làm như việc đó không phải xảy ra ở xứ ta. Thậm chí không lấy đề tài ở người mà lấy ở thú vật, như Lục súc tranh công, Trinh thử truyện, Trê cóc. Tại sao vậy? Có phải tại cấm lệnh của nhà vua nghiêm ngặt quá, không ai dám đả động đến việc trong nước chăng?

Pháp luật phong kiến, như luật Đại Thanh, luật Hồng Đức, luật Gia Long, đều có điều “cấm yêu thư yêu ngôn”. Luật Gia Long về điều này: Kẻ tạo ra yêu thư yêu ngôn bị tội trảm giam hậu, chưa truyền bá thì bị lưu tam thiên lý, kẻ tàng trữ thì trượng nhất bách, đồ tam niên. Lúc bấy giờ không có cái gọi là quyền ngôn luận, chứ chưa nói tự do hay không tự do. Không cứ văn bài sách vở gì, hễ vua chúa thấy là xúc phạm quyền thống trị của mình, đều chiếu vào luật này trị tội. Tuy vậy, ở Trung Quốc, vào thời Kiền Long, Ưng Chánh, có phát ra nhiều cái án gọi là “văn tự ngục”, mỗi cái chết đến hàng trăm người. Nhưng nước ta, từ triều Lê về trước, trong sử hình như không có cái án nào như vậy cả. Có lẽ tại nước ta là nước nhỏ, quyền lực phong kiến càng phải giữ chặt chẽ hơn, sự đề phòng càng nghiệt ngã hơn, thành thử ai nấy khiếp sợ, có viết thì viết những chuyện Hàn Tín, Trương Lương hay là những chuyện con trâu, con gà, con chuột, con cóc, thì làm sao cho có “văn tự ngục” được?

“Văn tự ngục” ở nước ta, theo tôi biết, hình như bắt đầu có từ triều Gia Long, việc xảy ra ngay trước mắt Nguyễn Du. Lúc đó, con trai của Nguyễn Văn Thành, một đại thần có công đang tại triều, vì một bài thơ tám câu mà bị tội trảm quyết, còn liên lụy đến anh em khác nữa, cả đến Nguyễn Văn Thành cũng phải uống thuốc độc mà chết. Nguyễn Văn Thành thủy chung theo phò vua Gia Long mà con trai còn như vậy, huống chi Nguyễn Du đã là thần tử nhà Lê, lại vốn có thái độ “lừng khừng”, bảo sao không né mình trước cái thảm họa ấy? Ở Huế có lời truyền thuyết rằng về sau vua Tự Đức xem Truyện Kiều đến câu “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, ném sách xuống mà rằng: “Phải chi Nguyễn Du còn sống, nọc nó ra mà đánh ba chục”. Ngài nói nhũn mà chơi đấy, chứ nói thực thì nói “chặt đầu”. Có một bản Truyện Kiều gọi là “bản Kinh”, tức là bản Tự Đức bảo chữa lại.

Ông Hòe nói phải lắm. Rất có lẽ Nguyễn Du vì tự vệ mà cố ý nói những câu trái với bản tâm để đánh loãng cái tình cảm nồng hậu của mình đối với Từ Hải.

Những cây cỏ mọc dưới đống đá, tất nhiên nó không thể vươn thẳng lên được, nó phải lựa chiều, uốn mình trồi lên giữa kẽ đá, trồi lên được chút nào hay chút ấy. Tuy e dè tránh tránh ghé, Nguyễn Du cũng đã để cái thâm ý của mình trồi lên cho chúng ta thấy.

Kể công Thúy Kiều bốn lần hết thảy mà đều do từ miệng người khác: Hồ Tôn Hiến, Tam Hợp, Đạm Tiên và người Hàng Châu, chứ Thúy Kiều thì cũng biết nói: “Khéo khuyên kể lấy làm công…. Xét mình công ít tội nhiều”, thủy chung tác giả vẫn nghiêng lòng về Từ Hải một cách khúc chiết.

Có những điểm khác cũng tương tự như thế. Ở giữa một xã hội sặc mùi mê tín, hình như Nguyễn Du không tán thành mà cũng không phản đối ra mặt, chỉ biểu lộ vi ý của mình phớt qua một vài nét. Sau khi Thúy Kiều thuật lời đoán của tướng sĩ, Kim Trọng nói “Nhân định thắng thiên”; sau khi Thúy Kiều kể chuyện chiêm bao thấy Đạm Tiên, Vương Bà bảo “Mộng ảo cứ đâu”; hơi xẵng là câu “chẳng qua đồng cốt quàng xiên” nói về cuộc đánh đồng thiếp. Mà thực sự thì tác giả đã phô tự ba việc ấy theo với chứng cứ thấy có linh nghiệm hoàn toàn. Nguyễn Du đã muốn giải phóng phụ nữ thì tất nhiên cũng phản đối sự “giữ trinh đơn độc”, vì nó là vô lý, tại sao chồng không giữ trinh đối với vợ mà vợ lại phải giữ trinh đối với chồng? Tại sao Kim Trọng nghiễm nhiên lấy vợ đẻ con mà Thúy Kiều lại cứ phải áy náy về sự mình thất tiết? Tuy vậy, Nguyễn Du không táo tợn hỏi như thế mà cứ để cho Thúy Kiều áy náy, áy náy đến nhiều lần, rồi cuối cùng đặt vào miệng Kim Trọng một câu: “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường” là xí xóa tất cả, không còn áy náy nữa. Qua câu ấy và mấy câu tiếp theo, chúng ta phải hiểu rằng Thúy Kiều vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải làm đĩ là không mất trinh.

Lấy những điều đó án chứng cho nhau, thấy ngòi bút của tác giả vẫn trung thành với ý chí tình cảm của tác giả, chỉ vì lẽ này lẽ kia như trên đã nói làm cho phần kết thúc của Truyện Kiều không được sáng sủa cho lắm, thật đáng tiếc. Cái khổ tâm của tác giả thấy trong câu kết: “Mua vui cũng được một vài trống canh”, truyện từ đầu đến cuối đau đớn như thế mà lại nói “mua vui”, đại thi hào của Việt Nam chúng ta muốn đánh lừa chúng ta chăng!                               

                                                       Hà Nội, tháng Tư năm 1955   

PHAN KHÔI

Nguồn:

Tập san Đại học Sư phạm, Hà Nội, s. 3 (tháng 8, 9, 10/1955), tr. 53-77.

Chú thích:

(1) Chuyện Thúy Kiều có mấy thứ sách đã chép, có người đã cử ra, đây tôi không nói đến, chỉ nói riêng về Phong tình lục. Nó là một bộ tiểu thuyết hai cuốn, khổ lớn, đề tên tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân, viết bằng bạch thoại đá văn ngôn, xuất bản từ đời nào thì không rõ. Nhà ông đốc học Lương Văn Nhã ở làng tôi có bộ sách ấy mà đã cũ lắm, tôi đã được đọc nó trước đây 50 năm. Tôi có người bạn Hoa kiều ở Hội An, tên là La Doãn Khiêm, biết thưởng thức Truyện Kiều của Nguyễn Du lắm, muốn in chung nó với Phong tình lục làm một tập, bèn mượn sách của nhà Lương Văn Nhã đem về Trung Quốc, vì nói rằng đã tìm ở nhiều hàng sách cũ bên ấy mà không có. Việc ông La Doãn Khiêm định làm đây về sau cũng không thành.

Tên sách là Phong tình lục. Truyện Kiều mở đầu nói: “Phong tình có lục”, nó là chữ “có”, không phải chữ “cổ”. Chữ “có” ấy cũng như chữ “có” ở câu “Họ Chung có kẻ lại già” và câu “Họ Đô có kẻ lại già thưa lên” ở bổn truyện, và câu “Mị nương có ả tư phong khác thường” trong Nam sử diễn ca; chứ Nguyễn Du không có thể thêm vào một chữ trong cái tên sách sẵn có mà nói “Phong tình cổ lục” được. Vậy mà ở Truyện Kiều chú giải, ông Hòe chép là “Phong tình cổ lục” rồi chú rằng “Phong tình cổ lục là bộ sách chép chuyện phong tình đời cổ” thì thật là bướng.

Còn có một bản Truyện Kiều viết bằng chữ Hán (văn ngôn) chép tay, không thấy tên người viết, trước kia tôi ở Hà Nội có được đọc. Bản này văn dở lắm, tôi tưởng đó là do một người Việt Nam nào thuở trước không hay chữ lắm, đã do theo Truyện Kiều Nguyễn Du mà dịch ra, xin đừng ai nhận lầm đó là Phong tình lục.

Theo Phong tình lục, chỗ Thúc Sinh lập mưu chuộc Thúy Kiều ra, chỗ Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am, chỗ Hồ Tôn Hiến sai thuyết hàng Từ Hải, đều nói rất ngô nghê, tốn nhiều bút mực mà vô vị, những chỗ ấy Nguyễn Du đều bỏ hết mà chỉ nói phớt qua một vài lời. Còn những chỗ khác tả tình tả cảnh như chỗ Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, đều là tự tay Nguyễn Du viết ra.

Về gốc tích Truyện Kiều, ông Đào Duy Anh thấy biết nhiều hơn tôi, theo lời ông Đào thì: Bộ tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân hiện ông thấy có một bản nhan đề là Quán hoa đường bình luận Kim Vân Kiều truyện, trong số tập san này [Tập san Đại học sư phạm số 3 này là số chuyên đề kỷ niệm 150 năm sinh Nguyễn Du – L.N.A.] sẽ trích dịch nhiều đoạn. Còn quyển Truyện Kiều bằng chữ Hán tôi nói trên thì hiện ông Đào cũng thấy có bản in, nhan đề chỉ có hai chữ là Kim Vân.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(2) Câu này có nơi hát là “Râu tôm nấu với ruột /Chồng chan vợ húp gậtkhen ngon”. Quả bầu, hình như ở miền Nghệ Tĩnh gọi là , cho nên lấy vần với . Chua thêm vào đây để thấy câu ca dao ấy truyền bá phổ biến lắm, đến mỗi nơi theo ngữ âm mà đổi khác. (nguyên chú của Phan Khôi)

(3) Câu thơ này ở bài “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du. Tiểu Thanh cũng là một người con gái đời Minh, có tài nghệ, làm vợ lẽ Phùng sinh ở Hàng Châu, bị vợ cả đày đọa mà chết lúc mới 18 tuổi. Đây tôi đem dùng vào chuyện Nguyễn Du đối với Thúy Kiều, tuy có hơi ép, song chắc Nguyễn Du không trách tôi, vì hai người ấy đều là con gái đời Minh, đều là bạc mạng, đều được Nguyễn Du thương tiếc mà gợi ra động cơ sáng tác.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(4) Năm 1907, ông Từ Đạm làm án sát Nam Định, bắt giam một người tình nghi về chính trị; trong chuồng giam, người ấy hay kể Kiều, ông đòi ra, bắt làm một bài thơ vịnh Kiều, người ấy làm:

Khép cửa buồng xuân để đợi chờ,

                        Mà em mất nết tự bao giờ

                        Chàng Kim mê gái công đeo đẳng

                        Viên ngoại chiều con chết ngất ngơ

                        Nợ trước hẹn hò con đĩ Đạm

                        Duyên sau gặp gỡ bố cu Từ

                        Mười lăm năm ấy bao nhiêu sướng

                        Còn trách làm chi đứa bán tơ.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(5) Theo ông Đào Duy Anh, Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi làm tham tri bộ Lễ. Song ở đây tôi làm văn chứ không làm việc khảo cứu.  (nguyên chú của Phan Khôi)

 

PHAN KHÔI VÀ NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN VỀ “TRUYỆN KIỀU” NHỮNG NĂM 1920-1930

 

Lại Nguyên Ân

 

Những năm 1920-1930, trên báo chí ở ba miền Việt Nam đã nổ ra khá nhiều cuộc tranh luận xung quanh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Một số công trình nghiên cứu và tư liệu nhiều năm qua đã đề cập đến những tranh luận ấy. (1) Tuy vậy, một phần do quan điểm nghiên cứu, một phần do những thiếu hụt đáng kể về nguồn tài liệu, không ít dữ kiện đã bị bỏ sót, sự đánh giá không hiếm khi bị thiên lệch.

Một điều dễ thấy nhất là, hầu như chưa công trình nghiên cứu nào ghi nhận đầy đủ vai trò học giả-nhà báo Phan Khôi (1887-1959) trong những cuộc tranh luận ấy.

Người viết những dòng này, từ năm 2000 đến nay đã giành thời gian tìm hiểu và sưu tầm để tái công bố một cách hệ thống các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, (2) nhận thấy rằng, Phan Khôi đã có vai trò rất đáng kể trong các cuộc tranh luận kể trên.

Dưới đây xin điểm lại những cuộc thảo luận, tranh luận ấy.

Vào năm 1924, Hội Khai trí tiến đức (thành lập 2/5/1919, tên tiếng Pháp:  Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, viết tắt AFIMA, một hiệp hội dân sự, thành viên là những trí thức, quan chức người Việt, và cả một số người Pháp; hội nhằm tới những hoạt động giao lưu văn hóa giữa xu hướng Tây học đang mạnh lên và nền học thuật truyền thống Việt Nam) chủ trương một lễ kỷ niệm tôn vinh thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” rất phổ cập trong cộng đồng người Việt.

Lễ kỷ niệm được tổ chức nhân ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, nhằm ngày 10 tháng 8 năm Giáp Tý (tức ngày 8/9/1924) tại hội quán Khai trí tiến đức, trên bờ hồ Gươm, Hà Nội. Tại lễ kỷ niệm này, tổng thư ký Khai trí tiến đức đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Nam phong” là Phạm Quỳnh (1892-1945) đọc diễn văn tôn vinh thiên tài Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Hiện tượng dân Việt, từ người học thức cao đến kẻ lam lũ, già trẻ lớn bé, ai ai cũng biết cũng thuộc cũng kể cũng ngâm Kiều, − được diễn giả ghi nhận như cái công “tác thành cho tiếng nước nhà” của Nguyễn Tiên Điền; từ đây diễn giả cho Truyện Kiều là “quốc hoa, quốc túy, quốc hồn” của nước Việt; “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”…

Tinh thần bài diễn văn của Phạm Quỳnh là nhất quán với chủ trương của ông và của nhiều trí thức người Việt đương thời: đặt niềm tin sự phát triển văn hóa dân tộc từ nay về sau vào văn quốc ngữ, vào chữ quốc ngữ, tuy là văn tự chỉ mới được phổ biến dăm ba chục năm, nhưng lại gắn với tiếng nói từ xa xưa đến hiện tại của người bản ngữ ở Việt Nam. Trong một ý hướng như thế, việc chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du làm điểm tựa trong truyền thống hầu như là lựa chọn tối ưu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác giả đương thời như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, v.v., vào dịp đó đều có những việc làm góp phần phổ biến Truyện Kiều, những bài viết đề cao giá trị Truyện Kiều.

Tuy nhiên, đó không phải là thái độ duy nhất trong dư luận xã hội Việt Nam, khi ấy đã là một xã hội dân sự khá phát triển; hầu hết các vấn đề văn hóa xã hội (trừ một vài đề tài chính trị quá nhạy cảm như tuyên truyền cộng sản, đả kích thực dân Pháp) đều có thể được đưa ra tranh cãi, các ý kiến khác nhau đều có thể được bày tỏ, với diễn đàn là các cơ quan báo chí khác nhau, phần lớn là của các nhóm tư nhân, dân sự.

Chính trong không khí ấy đã xuất hiện bài báo tỏ rõ một thái độ ngược hẳn lại với loại thái độ kể trên. Ấy là bài viết của Tiến sĩ Nho học Ngô Đức Kế (1878-1929) nhan đề “Luận về chính học cùng tà thuyết. Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” (“Hữu thanh”, H., s. 21, ngày 1/9/1924; bán nguyệt san “Hữu thanh”, 1921-24, là cơ quan của Hội ái hữu công thương Bắc Kỳ, lúc này do Ngô Đức Kế làm chủ bút).

Phương pháp luận then chốt của tác giả Ngô Đức Kế là đem nhuộm màu chính/tà cho hoạt động học thuật mỗi thời đại; “hễ nước nào khi vận nước thịnh cường tất khi ấy trong nước chính học sáng rệt; nước nào khi vận suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành”. Vận dụng vào xã hội Việt Nam, Ngô Đức Kế cho rằng đến lúc này người Việt vẫn còn chưa nắm vững được nền “Âu học”, trong khi những “chân nho chính sĩ Hán học thì đã quá nửa mòn mỏi điêu linh”, tóm lại nền “chính học” đang sa sút, – đó chính là cơ hội cho “tà thuyết” lưu hành, mà việc đề cao Truyện Kiều, theo ông, chính là biểu hiện rõ rệt nhất!

Ngô Đức Kế hoài nghi giá trị bản “Kim Vân Kiều” gốc Trung Hoa, cho rằng ngay đặt nhan đề truyện đã không ổn, “càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một một anh Tàu dốt nào đó mà thôi”; còn “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du, ông Nghè Ngô công nhận đó là áng văn chương quốc âm “hay thật”, nhưng ông không quên nhắc: đó chỉ là một truyện phong tình, không thể tránh khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, tóm lại chỉ là thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời “chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học mà đem ra dạy đời được đâu”! Tất cả những sự trân trọng, tôn vinh mà Phạm Quỳnh giành cho Truyện Kiều ở lễ kỷ niệm tại Khai trí tiến đức, dưới mắt Ngô Đức Kế đều là tà thuyết “xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng”, mê hoặc dân chúng!

          Việc Ngô Đức Kế lên tiếng hạ thấp giá trị Truyện Kiều không chỉ có căn cứ từ quan niệm nhà nho, đề cao văn chương đạo lý, hạ thấp văn chương ngâm vịnh chơi bời; phát ngôn của Ngô Đức Kế chống phong trào sùng bái Truyện Kiều còn bộc lộ một tương quan đối nghịch giữa hai bộ phận kẻ sĩ trí thức người Việt đương thời, một bộ phận hợp tác với chính quyền thực dân, một bộ phận khác thì bất hợp tác với chính quyền ấy, công kích tất cả những ai hợp tác với chính quyền thực dân, những ai tham dự các hoạt động văn hóa được chính quyền thực dân bảo trợ. Tạp chí “Nam phong” hay Hội khai trí tiến đức và các hoạt động của hội này, trong mắt những sĩ phu bất hợp tác với thực dân, đều là công cụ, đều phục vụ những mục đích của thực dân, do đó, họ đều tìm cách tẩy chay, bất hợp tác.

          Mặc dù trong tay có tạp chí “Nam phong”, nhưng Phạm Quỳnh đã im lặng trước sự đả kích của Ngô Đức Kế.

          Phan Khôi thời gian đó (1920-24) cũng đang ở Hà Nội nhưng hầu như không viết báo mà dành thời gian cộng tác với vợ chồng mục sư W.C. Cadman dịch Kinh Thánh đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt.

Mấy năm sau Phan Khôi vào Sài Gòn, cộng tác với một số tờ báo ở thành phố này, trong đó có tuần báo “Phụ nữ tân văn” (1929-1935); tại đây, ông và Đào Trinh Nhất được xem như hai người chèo lái chính cho tòa soạn tờ báo này, nhất là mấy năm đầu. Trong số rất nhiều bài báo Phan Khôi viết và đăng trên tuần báo này, có những bài ông điểm bình cuốn “Nho giáo” mới ra mắt của Trần Trọng Kim, trao đổi với tác giả chuyên khảo này về các vấn đề Nho giáo. (3) Việc Trần Trọng Kim nhã nhặn đáp lại Phan Khôi và thảo luận về các vấn đề ông nêu ra, đã khiến Phan Khôi nghĩ tới những yêu cầu thuộc phương diện “học phong sĩ tập” của giới trí thức, theo đó, các chất vấn nêu ra trước các nhận định đã có, cần phải được đáp lại, để đẩy học thuật đi tới; những kiểu im lặng trước các ý kiến chất vấn, như việc Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế hồi 1924, theo Phan Khôi, là việc không thỏa đáng, không thể chấp nhận; ông gọi đó là thói “học phiệt” (liên hệ tình trạng cát cứ của các tay “quân phiệt” trên đất Trung Hoa đương thời) và lên tiếng cảnh cáo trước dư luận (Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh: Cảnh cáo các nhà “học phiệt” // “Phụ nữ tân văn”, S.G., s. 62, ngày 24/7/1930; “Trung lập”, S.G., 26/7; 28/7; 29/7; 30/7/1930).

          Chính bài báo của Phan Khôi đã khiến ông chủ nhiệm “Nam phong” phải lên tiếng, ít ra là để giải thích lý do đã im lặng hồi 1924 trước lời phê phán của Ngô Đức Kế. Đến lượt bài trả lời này của Phạm Quỳnh lại khiến ông chủ nhiệm báo “Tiếng dân” (1927-1943) là Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) lên tiếng với lý do cần “chiêu tuyết” cho ông nghè Ngô Đức Kế vừa quá cố, vì cho rằng lời giải thích của Phạm Quỳnh có những chỗ xúc phạm ông nghè Ngô. (4) Rồi Phan Khôi cũng lên tiếng thêm mấy lần, khi thì đáp lại các ý kiến, các lập luận trong bài của Phạm Quỳnh, lúc lại góp ý với Huỳnh Thúc Kháng về những chỗ ông này hoặc thiên vị Nghè Ngô, hoặc xoi mói họ Phạm, (5) − những sự chấn chỉnh mà Phan Khôi từng cho là cần thiết trong thảo luận, tranh luận, bút chiến. (6)

          Những ý kiến và bài báo kể trên, tuy đều xa gần gắn với sự kiện tôn vinh Nguyễn Du và Truyện Kiều hồi mùa thu năm 1924 của Khai Trí tiến đức và Phạm Quỳnh, song nội dung các ý kiến ấy đã tiến triển sang nhiều hướng khác, nhiều đề tài khác, có khi không dính gì đến Truyện Kiều nữa.

          Phạm Quỳnh cho rằng đối với “một nền văn chương kiệt tác” như Truyện Kiều thì phải “đứng về phương diện văn chương mà xét”, nhưng họ Ngô hồi đó lại đứng về phương diện đạo đức, mà lại là cái đạo đức hẹp hòi, thì lập luận thiên đi, không còn là một vấn đề văn chương học thuật nữa.

          Trong khi đó, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục dùng quan niệm đạo đức để công kích việc phổ biến Truyện Kiều vào công chúng: “Sau nầy tôi xin chánh cáo cho anh em trí thứ trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải thứ sách học; mà nói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại”. Theo ông, từ khi Truyện Kiều được tán dương, − ý chỉ thời điểm 1924 với lễ kỷ niệm Nguyễn Du do hội Khai trí tiến đức tổ chức − “đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình”!

          Phan Khôi trước sau thừa nhận ý nghĩa chính đáng của việc Ngô Đức Kế nêu vấn đề “chính học – tà thuyết”, “là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập”, do vậy, Phan Khôi cũng thừa nhận sự chính đáng của việc Huỳnh Thúc Kháng lên tiếng bênh vực Ngô Đức Kế, sau khi đọc những lời Phạm Quỳnh giải thích chuyện cố ý im lặng dăm năm trước. Tuy vậy, Phan Khôi không đồng tình với việc Huỳnh Thúc Kháng mạt sát Truyện Kiều và lên án những ai tán dương Truyện Kiều.

          Phan Khôi nêu ra một tiền đề mới về quan niệm có thể dùng để xem xét vấn đề:

    “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiêu biểu rằng: Nghệ thuật vì nhân sanh (l’ art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại, nói rằng: Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’ art pour l’ art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.” (7)

          Phan Khôi viết ý kiến này vào năm 1930. Vậy những ai quan tâm khía cạnh “kỷ lục” của việc đưa các luận thuyết mới từ bên ngoài vào Việt Nam, phải chăng nên ghi nhận ông mới là người sớm nói đến các thuyết nghệ thuật vị nhân sinh và nghệ thuật vị nghệ thuật trên báo chí Việt Nam, sớm hơn hẳn những tên tuổi vẫn thường được gắn cho cái công trạng du nhập lần đầu các lý thuyết này, mặc dù họ sẽ lên tiếng muộn hơn Phan Khôi dăm bảy năm?!

          Vận dụng quan niệm lý thuyết kể trên, Phan Khôi cho rằng:

    “Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không; nếu vậy thì đáng công kích thật; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.” (7)

    Về việc Huỳnh Thúc Kháng lo sợ sự phổ biến Truyện Kiều sẽ có hại cho phong hóa, Phan Khôi xếp mối lo của họ Huỳnh vào cùng với mối lo của những nho gia Trung Hoa xưa như Hàn Dũ, Tăng Củng, “lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm”. Cái ý ấy là tốt nhưng lại không hợp trào lưu văn học của thế giới ngày nay. Tóm lại, theo Phan Khôi: “Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi”. (7)

 Việc họ Huỳnh cho rằng phong trào tán dương Truyện Kiều đã khiến nhiều lớp thanh niên vì say mê tình ái mà dứt bỏ cả nền nếp gia đình lẫn trật tự xã hội, Phan Khôi nói ông chưa dám tin. Ông đề nghị họ Huỳnh thực hiện những thống kê về tình hình tội ác trước và sau thời điểm đó thì nhận định của họ Huỳnh mới có thể tin được!

          Những biện bác như trên của Phan Khôi, tất nhiên chưa thể lay chuyển được một nhà nho thâm sâu đạo Khổng như Huỳnh Thúc Kháng. Vả chăng, đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du, đương thời những năm 1930, những người công khai tỏ rõ thái độ hạ thấp và phản đối việc phổ biến Truyện Kiều không chỉ là giới nhà nho như Huỳnh Thúc Kháng hay Võ Liêm Sơn, Nguyễn Mạnh Bổng, v.v. Dư luận công chúng xung quanh kiệt tác này của Nguyễn Du vẫn phân tán trong một phổ rộng từ thích đến không thích; không hiếm khi, sự yêu thích những vần thơ giản dị đã nhập tâm, bỗng chao đảo khi người ta bị đặt trước những câu hỏi về đạo đức nhân vật nữ chính của tác phẩm. (8)

Nhưng, khác với giới nhà nho, thế hệ nhà văn xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt và bước vào làng văn làng báo bằng văn chương quốc ngữ, sẽ ngày càng thấy gắn bó nhiều hơn với văn chương Truyện Kiều.

Lưu Trọng Lư là một trong số họ.

Năm 1933, khi Phan Khôi đang làm chủ bút tuần san “Phụ nữ thời đàm” ở Hà Nội, ông đã đăng khá nhiều cho tác giả trẻ Lưu Trọng Lư, bên cạnh sáng tác văn thơ, còn có cả thiên tiểu luận “Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều” (“Phụ nữ thời đàm”, H., s. 13, ngày 10/12/1933), công kích thái độ của Huỳnh Thúc Kháng trong chùm thơ “Vịnh Kiều” (“Tiếng dân”, 1/11/1933). Điều làm Lưu Trọng Lư ngạc nhiên là cuộc đời chí sĩ họ Huỳnh gian lao không kém cuộc đời cô Kiều trong truyện, thế mà họ Huỳnh lại là người sỉ mắng nữ nhân vật kia tàn nhẫn hơn ai hết! Điểm qua cuộc đời Kiều như một nhân vật sống thật, Lưu Trọng Lư như là muốn gửi lời khuyên can tới nho sĩ họ Huỳnh: “Nói tóm lại, muốn xét thân thế Kiều, chớ đứng hẳn trong những lễ giáo nghiêm ngặt chật hẹp của nho giáo…”.

Lời phê bình của Lưu Trọng Lư được chủ nhiệm “Tiếng dân” đáp lại bằng một nụ cười: đối với ông, đây chẳng qua là cơn mê của người mê tiểu thuyết, tựa như kiểu người mê tuồng hát, thế thôi. (“Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát”. Thuyết chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều của ông Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép đóng vai Tần Cối. // “Tiếng dân”, 24/1/1934).

Nhưng Phan Khôi thì nghĩ khác.

Gần như ngay sau khi cho đăng bài của Lưu Trọng Lư, chủ bút Phan Khôi đưa đăng tiếp bài của chính mình (“Rìu búa của nhà nho” // Phụ nữ thời đàm, H., s. 17, ngày 7/1/1934). Ông cho rằng việc “chiêu tuyết” hay là phê bình nhân vật trong truyện chỉ là thủ thuật “giá đó mà đánh chỗ khác”; chỗ khác ấy, theo ông, Lưu Trọng Lư nhắm vào cái tâm thuật, cái tâm địa của cả một giới người mà họ Huỳnh chỉ là một. Những sự “tàn nhẫn” thể hiện trong thơ vịnh Kiều của họ Huỳnh, được Lưu Trọng Lư nhận định: “Cái lòng người ta có là sắt đá lắm mới thở ra cái giọng tàn nhẫn như thế được…”, và: “Chỉ có những người nhác nhớn, buồn rầu, bi quan mới hay ghen ghét quạu quọ…” – Nhận định này, Phan Khôi cho rằng họ Lưu nhắm vào giới nhà nho. Phan Khôi đồng tình với ý kiến này. Bài của ông sẽ phát triển nhận định ấy.

Tất nhiên là điều này đã ít nhiều đi ra ngoài giới hạn của việc bình luận Truyện Kiều, nhưng lại là việc truy tìm cái căn cứ, cái cơ sở của việc, một bộ phận nhà nho, nối tiếp nhau, muốn phủ định giá trị của kiệt tác này, muốn dứt bỏ nó khỏi sự đọc sự biết của công chúng.

Phan Khôi vạch rõ: từ xưa giới nhà nho đã xem việc Khổng Tử làm kinh Xuân thu như là việc thưởng phạt, “bao phong người hoặc tru lục người”, “dùng một chữ mà nhấc một ông quan nhỏ lên, cũng dùng một chữ mà hạ một ông vua chư hầu xuống”, nhân danh “phù trì cương thường luân lý, bồi thực thế đạo nhân tâm”; nói khác đi, là diễn ngôn quyền lực được trao cho giới nhà nho, do hệ quả của việc tầng lớp quân chủ chuyên chế đã lấy nho giáo làm quốc giáo, dùng dư luận của giới nho sĩ làm công cụ hỗ trợ cho nền “đức trị” của vua chúa. Phan Khôi nêu ra những sự việc giới nho sĩ các đời sau, theo gương Khổng Tử, dùng khen chê để thưởng phạt, nhưng nhà nho không bao giờ khen ai, chỉ có trách phạt thôi, mà ví dụ sớm nhất là việc Mạnh Tử công kích thuyết “vị ngã” của Dương Chu là “vô quân”, thuyết “kiêm ái” của Mặc Địch là “vô phụ”, xóa bỏ được ảnh hưởng của hai thuyết ấy, bảo vệ sự độc tôn Nho giáo. Sau này, Hàn Dũ thời Đường đòi đốt sách Phật, bắt thầy tu trở về làm dân, rồi các nho sĩ thời Tống tiếp tục công việc “tịch Phật, bài Lão”, tuy không có hiệu quả gì, nhưng vẫn được giới nho sĩ tôn sùng là có công “vệ đạo”.

“Tôi đã kể qua những cái sử tích trên đó để cho biết rằng nhà nho từ Mạnh Tử về sau ai nấy đều có một cái tâm lý chung là: Không dung nạp kẻ khác với mình.  Việc họ làm có giống với đức Khổng chăng thì không biết; duy người nào đã làm cái việc như thế thì cũng vin lấy đức Khổng, mượn bửu bối của kinh Xuân thu. Kỳ thực thì cái áo hoa cổn ngài dùng để đôi khi ban thưởng cho người đời, họ đành bỏ mốc meo ra, mà chỉ chăm một sự dùng rìu búa để chặt người này, bổ trên đầu người khác. Cái tâm lý ấy thấm mỗi ngày một sâu vào đầu kẻ học, tự nhiên luyện nên cái tánh hay gây, hay đỗ cáu, không chịu “hẩu” với đời. Người ta ở đời, có thể sống một trăm cách, một nghìn cách khác nhau; nhưng theo ý nhà nho, chỉ muốn ai ai cũng sống một cách như mình. Không cần xét đến lý, cứ hễ ai sống khác mình thì ấy là dị đoan, là tà thuyết, là dâm hạnh, tương rìu búa ra mà trị nó chết đi cho rảnh! Dương, Mặc, Phật, Lão, có phải là rắn rết hại người đâu, chỉ là một cách sống, có điều sống khác với nhà nho, thế thôi, có việc gì mà phải cự, phải tịch? Cũng như nàng Kiều, một người con gái lỡ bước, có việc gì mà phải mắng? Có phải chăng, cự Dương, Mặc, tịch Phật, Lão thì mình mới trở nên á thánh đại nho, và mắng Thúy Kiều thì mới tỏ ra mình là chánh nhân quân tử?”

Vậy là rốt cuộc, Phan Khôi đã tìm ra cái cơ sở tư tưởng tâm lý của giới nhà nho trong hành động của họ công kích Truyện Kiều và những ai cổ xúy phổ biến Truyện Kiều; để bảo vệ sự độc tôn ý thức hệ nho giáo, họ cự tuyệt, hết sức công kích mọi tư tưởng, mọi lối sống khác. Ngay khi Nho giáo đã suy tàn, nhà nho vẫn cố chấp, thu mình lại trước mọi đổi thay. Họ vẫn chủ “kính”, chủ “tịnh”, quá mực thước, không thích vui mà cũng không muốn cho ai vui; họ phản đối hát bội, hát cô đầu, xi-nê-ma, nhảy đầm; kiểu người quay lưng với sự sống như vậy “thì cái lòng yêu đời phải càng ngày càng kém đi, gìn lòng thì sắt đá mà mở miệng ra thì tàn nhẫn”!

***

Như vậy, bằng một loạt bài báo, trong khoảng 4 năm (1930-1934), Phan Khôi đã can dự những tranh luận xung quanh di sản Truyện Kiều theo hướng “giải hoặc” đối với luận đề về “chính học/tà thuyết” của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và một bộ phận nhà nho còn quá gắn bó với các giáo điều đạo Khổng. Phan Khôi cảm thông với các nhà nho này về tình trạng nền học vấn mới còn yếu, nền học vấn cũ – Hán học – đã tàn, song ông không xem những hiện tượng như tôn vinh Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều là “tà thuyết” như các nhà nho ấy lo ngại và công kích. Trước những phản bác rất dai dẳng của phía bảo thủ (mà tiêu biểu là các bài luận và thơ vịnh của Huỳnh Thúc Kháng), Phan Khôi đã đưa ra những phúc đáp thực tế, có sức nặng; cuối cùng, ông đưa ra sự cắt nghĩa nguồn gốc những phản đối dai dẳng từ phía giới nhà nho đối với Truyện Kiều và việc phổ biến Truyện Kiều, – ấy là di sản của tình trạng độc tôn ý thức hệ nho giáo, chính ý thức hệ ấy đã cấp cho nhà nho cái vũ khí để họ vô hiệu hóa tất cả những gì khác với tôn chỉ nho gia, ngay khi nho giáo đã lỗi thời cũng vẫn cố chấp quay lưng với thực tế, với mọi sắc thái mới của đời sống. Việc “giải hoặc” này vốn được Phan Khôi thực hiện đối với toàn bộ di sản Nho giáo nói chung, suốt những năm 1930-40, chứ không chỉ với những tranh luận về Truyện Kiều.

Riêng về kiệt tác này của Nguyễn Du, nếu ta có dịp đọc tạp văn Phan Khôi, ta sẽ thấy ông luôn luôn coi Truyện Kiều như một tập đại thành của văn hóa người Việt, của ngôn ngữ Việt, ông thường xuyên dẫn trích tác phẩm này như một nguồn văn, nguồn di sản không gì thay thế được đối với người viết văn tiếng Việt. Nhưng đây là chuyện đã xa so với đề tài đang bàn.

28/6/2015

Chú thích

(1) Ví dụ:

Vũ Đức Phúc (1971): Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, 1930-1954. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr. 19-41;

Thanh Lãng (1972-73): Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn: Phong trào văn hóa xb., t.1- t.2;

 Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan (2002): Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. [thư mục, văn tuyển]. Hà Nội: Nxb. Lao động, t. I, tr. 371-891.

(2) Các sưu tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo [= PK, TPĐB] do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn đã tái công bố gồm:

PK, TPĐB 1928 (Nxb. Đà Nẵng, 2003, 444 tr.);

PK, TPĐB 1929 (Nxb. Đà Nẵng- TT.VH-NN Đông Tây, Hà Nội, 2005, 780 tr.);

PK, TPĐB 1930 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1024 tr.);

PK, TPĐB 1931 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1032 tr.);

Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 530 tr.);

PK, TPĐB 1932 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, 896 tr., tái bản 2014);

PK, TPĐB 1933-1934 (Nxb. Tri thức, 2013, 575 tr.);

PK, TPĐB 1935 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2013, 463 tr.);

PK, TPĐB 1936 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 600 tr.);

PK, TPĐB 1937 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 356 tr);

(3) Các bài thảo luận giữa Phan Khôi và Trần Trọng Kim gồm: 1/ Phan Khôi: Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 54 (29/5/1930); 2/ Trần Trọng Kim: Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 60 (10/7/1930); 3/ Phan Khôi: Về bài phê bình sách “Nho giáo” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 63 (31/7/1930), s. 64 (7/8/1930); 4/ Trần Trọng Kim: Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 71 (25/9/1930), s. 72 (2/10/1930), s. 74 (16/10/1930).  

(4) Gồm các bài chính: 1/ Phạm Quỳnh: Trả lời bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 67 (28/8/1930); 2/ Huỳnh Thúc Kháng: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời // Tiếng dân, Huế, s. 317 (17/9/1930); Phụ nữ tân văn, S.G., s. 72 (2/10/1930); 3/ Huỳnh Thúc Kháng: Biện chánh lại mấy lời phê bình của ông Phan Khôi // Tiếng dân, Huế, s…. (18/10/1930); đăng lại: Trung lập, S.G., s. 6284 (28/10/1930); s. 6285 (29/10/1930); s. 6289 (4/11/1930); s. 6291 (6/11/1930).

(5) Gồm các bài: Phan Khôi: Về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 70 (18/9/1930); Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng // Trung lập, S.G., s. 6266 (7/10/1930); s. 6267 (8/10/1930); s. 6268 (9/10/1930);

(6) Năm 1929 Phan Khôi có bài Bàn thêm về bút chiến, không ký tên tác giả, đăng 4 kỳ báo Thần chung, từ s. 106 (28/5/1929) đến s. 114 (6/6/1929).    

(7) Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, kỳ III // Trung lập, S.G., s. 6268 (9/10/1930)

(8) Xem các bài trả lời tòa soạn “Phụ nữ tân văn” (thời kỳ đầu, 1929) về câu hỏi “Kiều nên khen hay nên chê?”, có thể thấy sự khác biệt đáng kể giữa các ý kiến người đọc tham gia.