Trang chủ » Posts tagged 'đất nước đứng lên'

Tag Archives: đất nước đứng lên

NHẬT TUẤN viết về Nguyên Ngọc — Đất nước đứng lên — Tây Nguyên ngày ấy

ĐẤT NƯỚC ĐỨNG LÊN – TÂY NGUYÊN NGÀY ẤY …

                 

                             “Mấy lần “Đất nước đứng lên”…

                             Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải  nằm…”

Giới cầm bút trong nước ít ai không biết “Đất nước  đứng lên” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyên Ngọc, còn các sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm không ai là không biết truyện ngắn “Trao kiếm” cũng của nhà văn này bởi lẽ nó đã được đưa vào giáo trình giảng dạy.

“Trao kiếm” viết vào những năm đầu thập kỷ 50 vào lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang loang rộng. “Cụ Cư, 58 tuổi, nghèo xơ xác, chân lại có tật ở một thôn đất cát…” . Vì nhà nghèo, cụ được coi là nòng cốt cách mạng, nhà cụ được chọn để du kích dùng làm nơi “thảo luận tổ” trong khoá học “du kích gương mẫu của Tỉnh mở”. Từ lúc đó, “cụ ngồi nép một bên phản nghe anh em thảo luận”, rồi mải mê quá, lúc đầu cụ còn ngồi một góc phản, lần lần anh em thảo luận hăng quá, cụ rút một chân lên, rồi rút cả hai chân lên ngồi nghe…”. Cứ như thế, cụ tự biến thành học viên và cũng giơ tay “Tui xin có ý kiến”. Cụ kể rằng năm 1949 giặc đổ bộ lên Tam Quan, cụ nằm dưới hầm nhìn thấy “4, 5 thằng đi qua, xí lô xí là lia bừa cả súng, giựt nhau  một miếng dừa mà ăn…giành nhau trã cá…ngủ bỏ cả súng …tui xin ý kiến là giặc sở hở lắm…”.

Lính Tây mà giựt nhau cả một miếng dừa, tranh nhau ăn trã cá thì không hiểu “khẩu phần lê dương” của nước Cộng Hoà Pháp thằng nào ăn mất, các vị du kích chẳng cần đánh đấm, cứ ho một cái là địch bỏ chạy, khỏi cần tiến lên chính quy hiện đại. Từ đó cụ Cư biến thành học viên của khoá đào tạo “du kích gương mẫu”, lên lớp cho tất cả mọi người:  “Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, nghèo giàu gì cũng kháng chiến cả, chỉ có số ít nhà giàu chưa giác ngộ …”  làm anh em du kích cứ há cả mồm ra nghe. Nắm vững sách lược “đoàn kết toàn dân “vậy, không khéo ông cụ Cư là bác Hồ cải trang chăng?  Nhưng mà không, hàng ngày cụ vẫn đi cuốc đất, luộc khoai, bưng nước cho anh em, chỉ có buổi tối cụ mới tham gia “có ý kiến”. Thế rồi hôm kết thúc lớp học, thật bất ngờ, cụ vào buồng lấy ra một thanh kiếm trao cho một anh du kích:

“Ai ? Ai nói không có kiếm giết Tây ?…Cây kiếm này, lần trước nó vô đổ bộ Chợ Cát, sau tôi mới sắm đây. Tôi giữ rất kỹ, thường ngày lau chùi luôn, định chờ địch đổ bộ lên đây lần thứ hai, chặt đứt đầu nó…”.

Cụ Cư trao kiếm cho du kích còn căn dặn :

“Tôi nghèo chớ giàu thì mua cho anh khẩu súng. Anh cứ về, nếu địch lên anh chặt đầu nó cho tôi. Nếu thắng tôi sẽ thưởng anh, nếu đánh không được tôi cũng xuống coi tại sao anh đánh không được ?”.

Ông lão nhà quê mà ghê chưa, thật đúng là nhân dân ta rất anh hùng? Nhà nghèo toàn ăn khoai, ngủ đất  chẳng hiểu cụ già lấy tiền đâu ra mà sắm hẳn một cây kiếm để chặt đầu Tây?

Trong chuyện cổ nước ta, có một anh bốc phét rằng:  “tôi nhìn thấy một con trâu khổng lồ, liếm một cái hết ba sào mạ…” làm người nghe phải kêu lên: “Không nhẽ lại có thế ?”. Đọc truyện ngắn “Trao kiếm” nghe nhà văn Nguyên Ngọc  tả lính Tây, cụ lão nông bỏ tiền mua kiếm, người ta cũng phải tự hỏi: “Không nhẽ lại có thế ?”

Trong kho tàng văn học cách mạng chống Pháp của Việt Nam, như GS Phong Lê nhìn lại, “tới “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc thì bức tranh kháng chiến mới thực sự được mở rộng trong một cảnh quan vừa có chuyện vừa có người, có quê hương và đất nước, có gắn nối giữa chất trữ tình và sử thi, có hài hoà giữa chủ thể và khách thể…”. Vậy là trong văn học kháng chiến chống Pháp, tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc đứng đầu sổ. Cuốn truyện viết về Tây Nguyên thời chống Pháp, thời đất nước đang đứng lên, còn bây giờ “đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm” như hồi tháng Tư  vừa rồi hàng ngàn người Ba Na, Ê Đê… “đứng lên” đập phá trụ sở Uỷ ban xã, phường… thì hiển nhiên hoàn toàn không có ngay cả trong tưởng tượng của nhà văn Nguyên Ngọc.

Thời đó, ở làng Kông Hoa gần An Khê có anh chàng Núp cùng đám thanh niên trong buôn nghe già làng bok Sung kể chuyện. Bok kể rằng ngày trước có một ông tên là “Tú người to lớn, râu lưa thưa, con mắt ướt mà ngó thẳng , trên khố giắt một cái gươm dài. Đất nước mình không có ai có cái gươm đó. Gươm ông Tú không phải gươm thường, đó là một cái gươm giàng, đem ra đánh Pháp, Pháp thua chạy hết. Nhưng có một bữa, trời mưa to gió lớn sấm sét…nước sông Ba lên to, chút nữa ngập hết làng. Ông Tú đem gươm ra múa, đánh mưa gió cứu dân…”  Thế rồi ông Tú cao hứng, múa gươm vung mạng, chẳng may lưỡi  gươm bị văng ra rơi xuống sống, trôi tuột về xuôi, lọt vào tay người Kinh. Từ đó “người Kinh giữ cái lưỡi, người Thượng giữ cái cán, hai người ở xa nhau , Pháp tới không có cái gì đánh nên phải thua…Bởi vậy muốn đánh Pháp phải đi tìm người Kinh, chắp lại cái gươm mới đánh thắng…”

Bài học về đoàn kết Kinh với Thượng như vậy kể cũng ghê, nhưng với đám thanh niên trong buôn nghe xong  xem ra lại  phản tác dụng vì thằng Pháp là ma là Giàng, không có gươm của Giàng đánh sao được nó ?  “Không khí nhà rông trở nên ồn ào. Người  nói Pháp như hòn đá, như cái cây, nó là Giàng. Trên trời nó đi cũng được, dưới nước nó đi cũng được, đánh trúng nó, nó không chảy máu… Ngày trước bok Klăng đánh, nó đem máy bay tới bay trên làng, bok Klăng lấy ná bắn trúng máy bay, cũng không thấy chảy máu, cũng không thấy chết…” . Mang tên mà bắn trúng máy bay thì đúng là “thần diệu” hơn cả súng trường hạ máy bay Mỹ sau này. “Không nhẽ lại có thế ?”

Nghe chuyện, anh chàng Núp tức trong bụng lắm, có thiệt thằng Pháp bắn không chảy máu không? Phải đi “điều nghiên” coi sao. Anh bèn nói dối mẹ xuống thị trấn An Khê mua muối, nhưng chính là để “Tao đi coi mày cho kỹ, mai mốt phải đánh mày chảy máu mới được…”.  Thế rồi đi mấy ngày mới tới An Khê,  không thấy ông nhà văn kể Núp làm những chuyện gì, chỉ thấy anh về kể với mẹ: “Con đi coi Pháp cho biết, bữa sau đánh Pháp. Con coi nó kỹ rồi, cái súng nó, cái xe nó, cái tàu bay nó giỏi thật, nhưng con người nó cũng giống con người mình thôi, không phải ông trời. Mai mốt con bắn thử xem có chảy máu không ?”

Hoá ra  chàng Núp mới chỉ xuống phố … đứng coi coi súng ống, tàu bay tàu bò thôi, người ngợm Tây ra sao cũng chưa biết, vẫn còn phải chờ coi bắn nó có chảy máu không?  Vậy thì nhà văn bắt nhân vật lặn lội từ trên núi cao xuống mãi tận  nơi  “ngó lên thấy ông trời đất rộng, núi bốn phía thấp xuống”  để làm gì? Nắm tình hình địch tơ lơ mơ như vậy mà về buôn vẫn hạ quyết tâm tiêu diệt Pháp.

Thế rồi một hôm “Buổi sáng đi rẫy, bỗng nghe tiếng súng nổ. Thôi, khổ rồi. Pháp đánh tới rồi. Súng nổ xa. Súng nổ gần. Súng nổ nhỏ, rồi súng nổ to… Không còn kịp dọn cái nhà, không kịp bắt con heo, con trâu, không kịp lấy cái áo, cái khố…”. Thế là tất cả buôn chạy dạt lên rừng. Mẹ Núp già nua, yếu đuối vẫn phải cõng em Núp trên lưng, giao cho Núp cõng gùi gạo. Ở gia đình người Thượng, gùi gạo nặng phải trên 50 kí lô, là thực phẩm sống còn, là sinh mạng của cả gia đình. Người con trai trụ cột trong nhà như Núp, khi có biến lẽ ra phải cõng em, gùi gạo, dắt mẹ chạy lên rừng. Nhưng không, anh ta mang gùi gạo… gửi hàng xóm cõng đi, làm “mẹ ra tới đầu làng, quay lại không thấy Núp đâu , vừa kêu vừa khóc: “Ới Núp ơi, Núp ơi…”

Núp chạy đến: “Mẹ đi đi, con gởi gùi gạo cho Xíp mang vô núi trước rồi. Con không đi đâu, con ở lại đánh Pháp thử đã. Mẹ đi trước, đánh Pháp chảy máu rồi con đi theo sau…”

Than ôi, giữa cảnh nhà cháy, người chết, súng ống nổ ầm ầm, thật tội nghiệp cho bà mẹ Núp, có con trai lớn lại bỏ em nhỏ, bỏ mẹ già, bỏ cả miếng ăn  của cả nhà để ở lại đánh Pháp. Người anh hùng bất hiếu hay là nhà văn cố tình quên không nhắc tới? Có thằng con cột trụ trong nhà, lúc biến lại xử sự như thế, nhưng người mẹ vẫn không oán trách, vẫn  lo cho nó:

“Ố ố…một mình con đánh nó không được đâu…”

Vậy nhưng ông con vẫn bướng bỉnh vẫn như bị “ma ám”:

“Được mẹ ạ. Con đánh thử trước, lũ làng bắt chước sau…”

Bà mẹ nhìn Núp.  Bà biết rằng “cái miệng người già không nói được thanh niên đâu. ..”.  Thế là bà đành chùi nước mắt đi theo lũ làng để con ở lại. Chẳng biết cái anh chàng Núp này căm thù giặc Pháp tới đâu, trong tay chỉ có mỗi cái ná, mà dám một mình ở lại đối chọi với cả đại đội lính Pháp có đầy đủ cả súng ống, mọoc-chi-ê…

“Chẳng nhẽ lại có thế ?”

Dường như đãng trí, mau quên là cố tật của mấy ông nhà văn lớn. Mới vài trang trước, Nguyên Ngọc kể Núp xuống An Khê gặp cách mạng ““ Đi một ngày, ở một đêm, về một ngày…”, trang  sau Nguyên Ngọc đã lại cho Núp lang thang cả ban ngày giữa phố An Khê sạch bóng quân thù: “người nào cũng đổ về chật ních. Núp chỉ thấy toàn đầu tóc đen lố nhố và cờ đỏ. Người Kinh cũng đông, người Thượng cũng đông, lần đầu tiên Núp thấy người Kinh, người Thượng đi chung với nhau, nắm tay nhau , ào ào như nước sông Ba chảy qua thác, người nào cũng nói, nghe không hiểu gì cả, nhưng vui lắm, thích lắm…”

Ngày hội cách mạng trong con mắt Núp chỉ có nhiêu đó, riêng bok Hồ thì …chưa có gì. “Núp cứ nghĩ mãi: bok Hồ là người thế nào? Sao bok Hồ giỏi thế ?”. Rồi  ông nhà văn cho chàng Núp ví von:  “Bữa nay nhờ có bok Hồ mới biết đất nước mình rộng quá (rõ khổ, chàng mới về tới phố An Khê thôi, đã đi được  tới đâu!) có nhiều con suối quá, nhiều con suối nhỏ, được bok Hồ khơi dòng cho, bây giờ đã chảy chung lại thành con suối lớn, càng ngày càng lớn. Pháp có như một trăm hòn đá lớn giữa dòng sông cũng cứ chảy qua hết…”.

Hình ảnh rất hay, rất đẹp, chỉ tiếc ông nhà văn quên mất rằng suối nhỏ nào rồi cũng chảy vào suối lớn rồi suối lớn nào cũng phải chảy vào sông mà chẳng cần tới…bok Hồ khơi dòng.

Từ một anh dân tộc  Ba Na đầu óc hoang sơ, lo lắng ngớ ngẩn “sợ bắn thằng Pháp không chảy máu” bỗng chốc chỉ sau một đêm gặp cách mạng, trí tuệ đã được khai sáng có ngay khả năng trừu tượng hoá, ví von “trước kia làng Núp chống Pháp như dòng suối chảy giữa rừng, nay nhờ bok Hồ khơi dòng…”  thì quả thực “có nhẽ đâu lại thế?”.

Vậy “bok Hồ là người thế nào? Sao bok Hồ giỏi thế ?

Anh chàng Núp nghĩ mãi không ra, sau rồi nhớ tới câu chuyện già làng kể chuyện ông Tú, anh đắc ý: “Chắc bok Hồ cũng như  ông Tú vậy …”. Ông Tú theo già làng là người “to lớn, râu lưa thưa…” thì đúng là bok Hồ rồi. “Khi giặc Pháp tới, ông Tú đem gươm ra đánh Pháp, Pháp thua chạy hết cả…”  thì lại càng giống bok Hồ. Nhưng khi mưa gió sấm sét, ông Tú lại mang gươm ra múa, “múa mạnh quá, rớt mất cái lưỡi gươm xuống sông Ba, trong tay chỉ còn cái cán, còn cái lưỡi trôi về dưới  xuôi, người Kinh lấy được…”  thì lại không được phép giống bok Hồ. Bởi lẽ bok Hồ bao giờ cũng sáng suốt, cẩn thận không khi nào bốc đồng múa gươm mạnh đến văng cả lưỡi xuống sông. Mà nếu có lỡ tay, nhất định bok Hồ sẽ đi tìm bằng được lưỡi gươm trả về cho người Ba Na chứ chẳng bao giờ chịu để lọt vào tay người Kinh. Ấy là chưa kể không biết lưỡi gươm nặng vầy có trôi được theo sông vượt cả trăm kilômét thác ghềnh để về tới tận dưới xuôi không, hay là vẫn còn mắc dưới đáy sông trên núi. Tuy nhiên đó không phải lỗi của anh chàng Núp, chẳng qua tại nhà văn quên mất tinh thần trách nhiệm cao cả của bok Hồ cũng như quên mất thanh gươm bằng sắt chứ không phải bằng gỗ để có thể nổi lềnh bềnh trên sông đó thôi.

Sau cùng chàng Núp và dân làng Kông Hoa cũng được gặp bok Hồ, nhưng không phải… “người thiệt , chỉ thấy người trên tờ giấy…”. Đó là vật thể vật chất duy nhất mà cách mạng mang tới cho người dân Ba Na. Vậy mà ông nhà văn cũng để cho lũ làng “tưng bừng chào đón như chào đón mặt trời…”. Cái chỗ này cũng là lỗi của ông nhà văn, bởi lẽ dân Ba Na đang đói gạo đói muối đến thế, cách mạng tiếc gì không gửi kèm vài chục ký-lô theo ảnh bok Hồ làm quà cho dân hồ hởi phấn khởi mà cứ để cán bộ tay không trèo lên bản như thế ? Đã không cho dân được ký lúa, lại hứa lèo “bộ đội bok Hồ sắp lên” làm dân mỏi mắt “đợi mãi, đợi, mãi vẫn không thấy bộ đội đâu cả. Đê cán bộ cũng không thấy nữa”.

Thế rồi cũng tới lúc bộ đội về làng thật, nhưng không phải đoàn quân chiến thắng mang quả thực về cho lũ làng mà là toán người  “có khiêng người trúng đạn …Gặp lúc lúa chưa chín không có chi ăn cả. Núp đem cho bộ đội một rổ bắp. Lũ làng bắt chước đem cho rất nhiều. Bộ đội không ai biết nói tiếng Ba Na. Chỉ chào rồi đi ngay…”. Chưa giúp được dân cái gì mà đã nhiễu dân đang túng đói thế này, bok Hồ mà biết tất các chú bộ đội phải kỷ luật. Buồn cười nhất là ông nhà văn tả tình quân dân “có bộ đội bị trúng đạn phải khiêng. Người đó không nói được, nhưng không khóc. Chỉ có các bà mẹ Kông Hoa khóc, sợ người đó đau…”. Hi hi, chồng chả phải, con trai thì không, thấy người lạ hoắc, lần đầu tiên khiêng qua làng mà các mẹ lại…khóc được mới tài!

Pháp chiếm An Khê và các vùng xung quanh. Cán bộ cũng trốn mất hút luôn. Dân Kông Hoa lại “chờ hết một mùa lúa nữa mới có đê cán bộ của bok Hồ lên”. Anh cán bộ người kinh tên Cầm này cũng tay không lên bản và… kể chuyện bok Hồ: “Bok Hồ chống Pháp từ khi còn nhỏ, cũng bị Pháp bỏ tù. Sau trốn ra được, đi khắp đất nước bày đất nước đứng lên chống Pháp, chống Nhật…”.

Í trời, chỗ này ông nhà văn quên cả tiểu sử Hồ Chủ tịch. Chẳng lẽ hồi đó Pháp bỏ tù bác ở…ngõ Compoint, thủ đô Paris bắt làm nghề thợ ảnh? Rồi lại từ đó trốn ra bày cho dân “chống Pháp, chống Nhật”. “Đất nước đứng lên” là tiểu thuyết lớn nhất thời chống Pháp, lầm lẫn lớn thế mà bao năm Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng không phát hiện ra để cải chính thì thật đúng là “cơm chúa múa tối ngày”.

Từ ngày có cán bộ Cầm ở bản, tinh thần chống Pháp của lũ làng lên cao hẳn, cao nhất phải kể đến…bà mẹ của Núp. Một hôm Núp dẫn bộ đội đi đánh đồn Pháp, chạy về khoe mẹ:

“Mẹ ơi, Pháp chết mười lăm đứa…”

Thế là Mẹ Núp, giận luôn trong hai ngày! Vì sao thế? Nghe tin Pháp chết phải vui mừng chớ sao lại giận Núp? Sau này Mẹ mới giải thích:

“Mày thương Pháp lắm sao? Mẹ có hỏi mày Pháp chết mấy đâu. Chết mấy đứa kệ Pháp, nó chết hết cũng được…Sao bộ đội chết mấy người mày không nói, mày thương Pháp hơn bộ đội rồi…”

Oái trời, Mẹ thương bộ đội thì Mẹ chỉ cần hỏi: “Thế ta chết mấy người ?”  là…xong. Ép uổng mẹ giận con những…hai ngày liền làm gì cho rắc rối cuộc đời? Chắc ông nhà văn muốn xây dựng tính cách nhân vật cho “phong phú và đa dạng” đây mà. Chỉ tiếc, cảm hứng ca ngợi người dân tộc quá đà gây nên những cái “lỗi chính tả” như thế nhan nhản trong truyện làm người đọc cứ ngờ ngợ: “Có nhẽ đâu thế?” .

Anh cán bộ Cầm và bộ đội ở bản ít ngày rồi lại rút đi, để Kông Hoa lại rơi vào thảm cảnh. “Nắng như cầm lửa đổ xuống. Dưới suối nước trốn gần hết, dân phải dỡ từng hòn đá ra mới tìm được nước. Rẫy muốn cháy. Cây lúa thấp lè tè, hột cứng ít, lép nhiều…”.

Kinh hoàng hơn cả là cái đói ….muối.

“Con nít khóc kêu mẹ: Mẹ ơi, mẹ ơi, cho con cái mặn…. Nước da người nào cũng tái lét , bủng rẹt. Hai ông già không có muối ăn, thở không nổi, rồi chết…”

Trong cơn hoạn nạn, ông Chủ tịch Pok Pa và chỉ huy Núp muốn cứu dân thì chỉ việc cho phép lũ làng xuống phố An Khê làm thuê lấy tiền mua muối, đong gạo là vượt qua được mọi chuyện. Nhưng không, Núp khăng khăng ngăn không cho về: “Không được đâu.. Về càng chết…Thà chết thôi…”. Ấy đấy, mới nho nhoe lên làm lãnh đạo,  anh hùng Núp đã coi mạng người như cỏ rác? Viết tới đây chắc ông nhà văn cũng cảm thấy cái lý do “không cho dân xuống phố An Khê mua muối” là không được…chính đáng lắm, ông bèn cho mấy người trốn xuống núi và vài hôm sau họ trở về khóc to:

“ Pháp lấy dao cắt lỗ mũi, cắt lỗ tai, chặt tay, chết hết bốn người rồi, ba người sợ quá trốn về đây…”

Ôi chao ôi, Pháp nào mà ngu quá, bỏ công bỏ sức ra vận động người Thượng về với mình, khi dân trở về lẽ ra phải mở rộng cửa mà đón vào, tặng gạo muối chớ ai lại đi cắt tai, xẻo mũi, chặt chân … thì thực là chuyện chỉ có trong… tưởng tượng của ông nhà văn. Bịa ra cái lý do “đầy thuyết phục”  ấy rồi, từ nay tác giả tha hồ “nhốt”  dân Ba Na trên làng Kông Hoa để “xây căn cứ địa” chống Pháp bất chấp nạn đói đủ thứ. Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người xem ra cũng còn có giới hạn, khi chỉ huy Núp kêu gọi mọi người bỏ làng lên núi cao lập làng mới để chống Pháp cho chắc ăn bị bà con phản đối:

“Không có muối ăn làm sao? Chân Núp thanh niên khoẻ, Núp leo núi được. Chân tôi không có muối, không biết leo núi đâu… Ở đây không đi đâu cả. Đấy con nít đấy, đem nó lên núi, chết trên đó, chôn trên đó à…”.

Phản đối thì phản đối, nhưng Núp nhớ lời anh Cầm dạy: “Mình phải đứng dậy cầm giáo mác, cung tên đánh lại Pháp mới lấy lại đất nước được…”. Bởi vậy dân đói cơm đói muối, con nít chết…mặc kệ, cứ phải là “lấy lại đất nước cái đã”, Núp quyết định cứ chuyển hết làng lên núi bất chấp “bốn phía tiếng con nít đòi muối khóc ồn ào, tiếng bà già ông già chửi người xui bậy, tiếng thanh niên phản đối Núp nói to. Giải tán hết. Mỗi người đi một ngả…”

Lúc này mới thấy cái bản tính sắt đá, kiên quyết mục tiêu cách mạng dẫu hy sinh tính mạng của dân cũng cứ mặc kệ mà đê cán bộ Cầm gieo vào tâm hồn anh thanh niên người Thượng nay đã sớm đơm hoa kết trái, bám chắc vào cái đầu vốn nguyên sơ trong trẻo như nước suối đầu nguồn của anh ta. Thế là anh quyết không chịu nhân nhượng dân làng mà đi từng nhà vận động:

“Ăn tro tranh thay muối khổ lắm. Tôi cũng biết khổ. Nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi. Còn ăn muối của Pháp khổ hết đời mình, đời con mình khổ nữa, đời cháu mình khổ nữa…”

Kỳ lạ thay, cái triết lý “sống cho tương lai”, “sống là để sửa soạn sống cho mai sau ” – cốt lõi của nhân sinh quan cộng sản –chẳng hiểu đã thấm sâu vào anh thanh niên Thượng này từ bao giờ mà anh “vận dụng” xuất sắc đến như vậy ?

 

Ngay khi cán bộ còn chưa mang “cái ánh sáng của Đảng”  tới cho lũ làng, chẳng hiểu sao, anh chàng Núp đã đứng lên kêu gọi vanh vách: “Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi. Đánh đời mình chưa xong, thì đánh đến đời con đời cháu mình nữa…”.  Ôi chao, cán bộ cao cấp cỡ Uỷ viên Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn dân trường kỳ kháng chiến chắc cũng chỉ hùng hồn bằng anh thanh niên người Thượng này. Với tinh thần đó, quyết không chịu sống trong vùng tạm chiếm, Núp kéo luôn cả bản Kông Hoa chạy tuốt lên núi cao lập làng “tự do”, thiếu gạo, ăn tro thay muối, khoác vỏ cây thay quần áo, thiếu cả rìu dựa bằng sắt phải thay bằng đá để chặt cây, phá rừng dựng nhà làm rẫy.

Có ai chặt được cây lớn bằng đá không? Có đấy, ông nhà văn kể:

“Đêm nay Núp phải ngả cho được cây này. Núp lại ôm hòn đá, lấy sức bửa vào gốc cây, hai cái, ba cái … làm mãi, làm mãi không nghỉ . Cho đến khi con gà thức giấc kêu ò ó o. Núp leo lên ngọn cây, cột một sợi dây rừng rồi ra sức kéo. Cây gẫy răng rắc, đổ ào xuống…”.

Ngày nay nếu trở lại Tây Nguyên, ông Nguyên Ngọc thử treo giải thưởng trăm triệu đồng cho anh thanh niên nào khoẻ nhất làng dùng hòn đá trong có một đêm mà chặt  được  cây lớn “gẫy răng rắc” thì mới thật là không…bốc phét.

Suốt ba năm 90 con người làng Kông Hoa sống trong khổ cực vậy để làm gì ?

Xin thưa rằng chỉ là để… “chờ bộ đội Bok Hồ, chờ anh Cầm, dài không biết bao nhiêu. Hòn đá dưới suối Đất Hoa trước kia nhọn, bây giờ nước đã mài tròn cả đầu nó rồi. Chín mươi người vẫn lầm lì đi theo Núp”.

Sống cả ngàn ngày như trong thời đại đồ đá vậy mà không mong ăn no, không cầu mặc ấm mà lại chỉ “mong mãi lưỡi gươm ông Tú, mong mãi người Kinh, người của Bok Hồ lên” thì lũ làng Kông Hoa quả thực là mắc bệnh tâm thần cả rồi. Ấy thế nhưng chờ đợi trong khổ cực, mỏi mòn vậy mà cách mạng cũng vẫn chưa chịu lên cho, sau cùng anh chàng Núp đành phải tự mình đi tới rừng Ba Lang tìm gặp cán bộ chứ còn biết chờ tới bao giờ?

Không thấy tác giả kể cuộc gặp gỡ ấy ra sao, chỉ thấy Núp “đi gặp người Kinh” về khoe với cả làng:

“Ô…người Kinh này tốt lắm. Con mắt hiền lành đen  lắm. Ít nói… Cái áo màu đen, thường thôi, không đẹp đâu. Đi dép làm bằng bánh xe lấy được của Pháp…”.

Cũng giống như lần trước đi gặp cách mạng về, Núp chẳng mang được nắm gạo, hạt muối nào về, lại vẫn chỉ những câu chuyện về bok Hồ.

“Thế bok Hồ ở đâu ? − lũ làng hỏi.

Núp nhìn quanh, suy nghĩ, rồi đứng dậy đi ra cửa quay về phía ông sao giống cái bánh lái của người Kinh , đưa tay chỉ vào đêm tối mờ mịt:

“ Bok Hồ ở phía này…”

Tất cả đều ra cửa nhìn. Ông sao bảy cái nhấp nhánh và rất sáng.

“ Bok Hồ ở phía này”

“ Phía này có một ông sao quanh năm không bao giờ thay đổi chỗ ở. Sáu ông sao lớn chạy quanh ông sao đó…”

Ông sao đó chính là bok Hồ “không bao giờ lặn nữa trong lòng đồng bào Kông Hoa”. Ghê chưa, một phát hiện thiên văn học vĩ đại, “ông sao 7 cái” thì đúng là “đại hùng tinh rồi”, nhưng tìm đâu ra “một ông sao quanh năm không đổi chỗ” và lại có những “sáu ông sao lớn chạy quanh” để tượng trưng cho bok Hồ?  Lỗi kiến thức này không thuộc anh thanh niên người Thượng mà chính do tác giả đã nhét vào đầu anh ta. Vả lại, hình ảnh “ngôi sao dẫn đường” chỉ dành nói về Đảng thôi, còn nói về bác thì phải dùng hình ảnh “cha già dân tộc” kìa, vậy mới đúng là kiểu nói chính thống.

Nói chuyện bok Hồ xong rồi, tất nhiên phải nói tới chuyện… Đảng. Chuyện này “trừu tượng” chứ không cụ thể như chuyện bok Hồ, làm sao nhét được vào đầu anh thanh niên “bán khai” đây ? Cái sự “giác ngộ về Đảng” cho người dân tộc này xem ra khó quá, nên tác giả đành lờ đi cái quá trình mà chỉ trình bầy cái kết quả.

Anh cán bộ Thế nói:

“Người  mình đánh Pháp cứ thua mãi, thua mãi. Cho đến khi có Đảng chỉ huy mới thắng được tới bây giờ. Đánh Pháp ngày nay là do Đảng chỉ cho đấy…”

“ Ô…thế Đảng là Bok Hồ phải không ?”

“ Bok Hồ cũng là người Đảng đấy. Nhưng còn nhiều người Đảng khác… Ai người nghèo khổ, căm thù Pháp, căm thù người bóc lột , làm ăn tốt…người đó là người Đảng…”

Chỉ có thế thôi, anh chàng Núp đã “giác ngộ Đảng” rồi.

“ Suốt đêm đó Núp không ngủ. Chung quanh thấy toàn sao là sao…”.

Vậy là “mặt trời chân lý”  đã “chói qua tim” anh người Thượng, thức trắng đêm là phải rồi, thật chẳng bù cho mấy anh trí thức, học đi học lại mãi mấy kỳ chỉnh huấn mà vẫn tơ lơ mơ chưa hiểu Đảng là gì.

Thế rồi sau “gần bốn năm sương mặn của núi Chư Lây đã làm đen sạm hết chín mươi khuôn mặt lũ làng. Gần bốn năm nay, chưa một ngày nào chín mươi người đó được ăn đủ no, đủ mặn. Thịt trong người teo lại. Má hóp xuống…”, sau cùng anh Thế, người của Đảng cũng đã trèo lên bản mang theo…9 cái rìu rựa để tặng  lũ làng. Ôi chao ôi, quà của bok Hồ chỉ có bấy nhiêu thôi, mà già làng đã “múa tay, trợn tròn hai con mắt”:

“Bok Hồ gửi anh Thế mang lên cho bốn cái rựa, năm cái rìu …ô cái nào cũng mới tinh cả, sáng như là ông trăng, như thế cũng bằng cho người Kông Hoa…mấy cái? Hai cái à…cũng chưa phải đâu…ba bốn năm sáu bảy…một trăm cái tay đấy…hà hà hà…”

Anh chàng Núp cũng cầm cả 9 cái rìu rựa đưa lên cao mà rằng:

“Bây giờ có anh Thế mang rìu rựa của người Kinh, của bok Hồ gửi cho mình đây, mình càng làm rẫy giỏi nữa, ăn no nữa, nhất định thằng Pháp phải chết trước mình…”

Chỉ mất có 4 con dao và 5 cái rìu mà đã lôi kéo được cả làng người Thượng đi theo cách mạng, đánh Pháp đến cùng thì “công tác vận đồng quần chúng trong các dân tộc ít người” quả thực là quá…dễ dàng. Viết như thế, người Pháp đọc được chắc phải tiếc hùi hụi vì đã bỏ ra biết bao tiền của cho các sắc tộc Tây Nguyên mà vẫn bị họ căm thù, đánh cho tơi tả thì là sao? Ở đây ông nhà văn không muốn vạch ra cái “bí kíp” của cách mạng đó, chắc là sợ người Pháp học được dùng nó lôi kéo lại người Thượng thì rầy rà hay là trong thực tế chuyện giác ngộ Đảng cho anh thanh niên dân tộc không diễn ra xuôi xẻ như ông nhà văn tưởng tượng khiến ông phải làm qua loa chiếu lệ vậy thôi.

Cảm hứng ca ngợi quá đà tình cảm “Kinh -Thượng” cũng đã đưa ngòi bút Nguyên Ngọc diễn tả một thằng bé người Thượng lưu luyến anh cán bộ người Kinh chỉ về huyện họp có dăm ngày đến mức… lố bịch:

“Bữa nay anh Thế về huyện. Nó ngồi trông mãi. Tay nó cầm sợi dây có cột nhiều gút. Anh Thế hẹn đi về huyện năm ngày thì trở lên. Mỗi ngày thằng Ngứt thắt một gút trên sợi dây. Sáng nay ngủ dậy, nó đem ra đếm, thấy đã đủ năm gút, nó ra ngồi chờ mãi, sao anh Thế không thấy lên ? Nó ngồi trên ngưỡng cửa, ai hỏi gì cũng không nói, chị Liêu đi ra rẫy cũng không đi theo, con mắt cứ ngó chăm chăm phía suối Đất Hoa…”

Ôi chao, cái thứ nhớ nhung “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi đống rơm “ thế này là thứ tình cảm trai gái đang yêu, ông nhà văn nỡ lòng nào nhồi nhét cho một thằng con nít người Thượng đang tuổi ham chơi?

Cứ  phải chịu đựng một thứ cảm hứng “ca ngợi quá đà” như thế, người đọc phải kiên nhẫn lắm mới theo được Nguyên Ngọc dẫn dắt câu chuyện anh chàng Núp đi vận động các làng xung quanh: Đê ta, Đê ô, Đê mô, Đê lanh, Kông giàng…đi theo cái làng Kông Hoa của anh đứng dậy đánh Pháp. Rồi Núp vào Đảng, Núp thành cán bộ xã, cán bộ huyện, thành Chiến sĩ thi đua, thành Anh hùng Quân đội…và đi ra Bắc tập kết để tiếp tục đánh Mỹ-Diệm và được gặp bok Hồ.

Anh chàng Núp và mọi nhân vật trong “Đất nước đứng lên” được vẽ bằng toàn một mầu hồng đỏ chói không mảy may gợn một chút bụi trần của con người phàm tục. Đó toàn là những  con người “nghe theo người Kinh” cam chịu đóng đanh trên cây thập giá của chiến tranh với nỗi ham muốn tột bực chỉ là đánh Pháp. Nguyên Ngọc đã nhào nặn tuốt luốt những con người Thượng nhỏ bé, đầu óc giản đơn, chất phác, sống hoà hợp với thiên nhiên thành những kẻ say máu, chém giết bằng những vũ khí dã man như tên độc, chông đất, chông trời…và đưa họ vào bảng phong thần thành những thánh nhân của cách mạng.

Tại sao vậy? Đó là vì:

“Tháng 8-1955, tôi được triệu tập về trại sáng tác về Anh hùng Quân đội, ở đây tôi được phân công viết về đồng chí Núp. Tôi viết “Đất nước đứng lên” trong dịp ấy, trong sách đó, tôi gửi tất cả những mong ước ca ngợi những người anh hùng Tây Nguyên mà từ trước đến nay tôi chưa thực hiện được  qua mấy lần thất bại…”

                                              (Nguyên Ngọc: Thư gửi ngày 9-11-1960 cho Tổ văn học hiện đại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội)

Vậy là đã rõ, “Đất nước đứng lên” được viết trong “trại sáng tác về anh hùng quân đội”, chỉ nhằm ca ngợi những người anh hùng chứ không nhằm phản ánh hiện thực các sắc tộc Tây Nguyên trong những năm chiến tranh của thập kỷ 1950. Và bởi  mục tiêu rõ ràng và rành mạch như vậy nên bức tranh mà Nguyên Ngọc dựng lên trong suốt hơn 200 trang giấy còn lâu lắm mới tiếp cận tới những sự thực dữ dội của đời sống người Thượng trên cao nguyên.

Và như vậy, suy cho cùng, “Đất nước đứng lên” cũng chỉ thuộc loại sách “Người tốt việc tốt” dùng để giáo dục chính trị tư tưởng trong một thời kỳ lịch sử đã qua.

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

NỮ TÁC GIẢ THỤY AN TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BÁO “VĂN NGHỆ” NHÂN DỊP CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI VĂN NGHỆ TOÀN QUỐC LẦN 2

CẦN ĐẨY MẠNH PHÊ BÌNH, TẤN CÔNG

VĂN HÓA PHẢN ĐỘNG VÀ TĂNG CƯỜNG

VIỆC XÂY DỰNG TƯ TƯỞNG CHO VĂN NGHỆ SĨ

 

Mặc dầu chúng ta thường phàn nàn văn nghệ chưa có tác phẩm lớn, biểu hiện được tới một mực độ khả quan, cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến vĩ đại của đất nước, nhưng nhìn khái quát tình hình văn nghệ từ cách mạng đến giờ, ta phải công nhận nó đã nhận thức rõ ràng con đường đi của nó, nó đã có hướng đi lên rất vững chắc: hướng văn nghệ nhân dân. Trên con đường tiến lên hướng đó, văn nghệ như một đứa trẻ đã qua thời kỳ sài đẹn, nếu nay còn những cơn trái gió dở trời, chắc chắn ta sẽ kịp thời cứu chữa, không thể thành những biến chứng trầm trọng làm tổn thương đến sinh mạng nó được.

Tôi rất lạc quan mà nhận định như vậy. Mối lạc quan càng thêm có căn cứ, với sự ra đời của cuốn Đất nước đứng lên, với sự xuất hiện của một tài năng trẻ tuổi, Nguyên Ngọc. Tôi coi như những gì chúng ta còn chờ đợi ở văn nghệ, những gì còn ấp ủ nung nấu trong thẳm cùng của văn nghệ, đang bắt đầu nở. Nói thế không có nghĩa là tôi phủ nhận giá trị những sáng tác đã có trước tác phẩm Đất nước đứng lên. Ở đây tôi chỉ muốn ghi một biến chuyển quan trọng trong văn nghệ: từ giai đoạn mượn nhân vật, mượn con người để đóng khung chính sách và nhân văn của chúng ta, đang chuyển sang giai đoạn: chính sách, nhân văn xuất phát từ con người đã trở vào con người như thế nào. Đó là một tiến bộ sâu sắc của văn nghệ mà tôi muốn dành cho tác phẩm Đất nước đứng lên cái vinh dự là một dấu hiệu, nó sẽ dắt thêm một cuộc liên khai huy hoàng, vì thời đại chúng ta không phải là thời đại một anh hùng, một tác phẩm.

Tuy nhiên, văn nghệ hiện thời của ta vẫn bị thiếu thốn lớn: thiếu các nhà phê bình chuyên môn. Hiện tượng này thật là kỳ quái khi cả cuộc sống chúng ta đều lấy sự phê bình và tự phê bình làm đòn bẩy tiến bộ. Hoặc giả sự thiếu thốn này chứng tỏ chúng ta còn non yếu về lý luận chăng? Thiếu các nhà phê bình, một cuộc phê bình tác phẩm có biết lúc mở ra, mà không biết sẽ đóng thế nào; không đưa nổi một ý kiến ít nhiều có giá trị quyết định để cho tác giả và độc giả một ý niệm tương đối rạch ròi về tác phẩm được phê bình. Những nhà phê bình là những người làm vườn tốt nhất của vườn hoa văn nghệ, là người trực tiếp cống hiến vào việc viết các cuốn vào lịch sử văn học. Mong rằng tại Đại hội vấn đề này sẽ được đề ra, bổ cứu.

Vấn đề xử dụng vốn cũ dân tộc cũng cần đem ra đại hội duyệt lại, để nó khỏi sa vào tư tưởng sùng cổ trưởng giả, ỷ lại. Trên địa hạt này, theo thiển ý tôi, những người tìm tòi cũng như xử dụng cần phải nghiêm nhặt với tình cảm của mình, một thứ tình cảm nó không xa với óc kỳ thị dân tộc là bao! Dĩ vãng không thể bao giờ trùm lên hiện tại. Vốn cũ dân tộc có tác dụng nhất định của nó: làm bàn tựa cho văn nghệ đương thời lấy thế mà thẳng vút tới tương lai, chớ không phải là những hòn chì làm quẩn chân ta, là cái ngai thờ để ta cứ quỳ mà chiêm ngưỡng.

Tại đại hội tôi thấy cũng cần đề cập một vấn đề nữa: vấn đề tấn công vào văn hóa phản động. Cho đến bây giờ, về phương diện này, chúng ta chỉ mới trong chiến lược “đứng thế thủ”, “ta cứ làm tốt phía ta”; tôi thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nhận định, nghiên cứu có hệ thống đặc tính của văn hóa đế quốc phong kiến, cần tách bạch từng bộ môn văn hóa phản động mà tấn công thẳng vào.

Về phần lãnh đạo của Hội, các bạn văn nghệ đã đưa nhiều ý kiến phê bình, nhiều thắc mắc, nó cũng là thắc mắc của tôi. Nhưng tôi cần nhắc lại: điểm giáo dục lập trường, tư tưởng các văn nghệ sĩ Hà Nội bao năm sống xa rời Đảng và Chính phủ phải là công tác hàng đầu của Hội. Chúng tôi rất lấy làm lạ trong văn nghệ, vấn đề phục vụ kịp thời được đề ra mà lại không đề ra vấn đề học tập kịp thời. Là những người văn nghệ có nhiệm vụ truyền đạt phát huy, cuộc sống đang đà dũng tiến của đất nước, của nhân loại, chúng tôi phải được học tập sớm hơn ai hết, những tư tưởng, những chính sách đã tác động của cuộc sống ấy.

Khuyết điểm này của Hội – liệt vào khuyết điểm xao nhãng xây dựng những con người – chúng tôi có ý nghĩ Hội chỉ chú ý đến những vấn đề, những tổ chức hình thức, mà không chú ý đến bản thân những con người văn nghệ. Chúng tôi thắc mắc ra sao, nghĩ ngợi những gì, sinh sống thế nào, Hội không hề chú trọng một cách liên tục. Do đó vai trò lãnh đạo của Hội trong thời gian vừa qua, nhất là trong hai năm nay, rất khó mà thấy rõ, nếu không là chỉ rõ trên những bản thống kê: Hội đã in bao nhiêu sách, của bao nhiêu nhà văn, thuộc bao nhiêu loại, đã tổ chức bao nhiêu cuộc triển lãm, nói chuyện, v.v.

Tôi mong vấn đề lãnh đạo của Hội sẽ được đặt lại tại đại hội thành khẩn hơn, hữu hiệu hơn. (1)

THỤY AN

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 128 (5.7.1956), tr. 5.

Chú thích:

(1) Nhằm chuẩn bị cho Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, báo Văn Nghệ phỏng vấn các văn nghệ sĩ với 3 câu hỏi: 1 và 2/ Theo ý bạn thì từ Cách mạng tháng Tám đến giờ, phong trào văn nghệ Việt Nam cóa những ưu, khuyết điểm gì? 3/ Bạn thấy trong Đại hội văn nghệ toàn quốc sắp đến nên bàn đến những vấn đề gì? Trên đây là trả lời của Thụy An, một nhà văn thuộc khối những văn nghệ sĩ ở ngoài biên chế ở thành phố Hà Nội.  (L.N.A.)