Trang chủ » Báo chí

Category Archives: Báo chí

ĐÔNG HỒ BÀN VỀ QUỐC VĂN, bài 1

HỌC QUỐC NGỮ

Phàm một dân tộc nào đều có riêng một tiếng nói, đã có riêng một tiếng nói tất cã có riêng một thứ chữ. Chữ của nước nào là quốc ngữ của nước ấy. Người trong một nước mà không thông chữ của một nước, là không đủ tư cách làm người dân trong nước ấy, đối với người đời trước thì mơ màng lạt lẽo, đối với người một thời thì lơ lãng thờ ơ, trên không chằng dưới không rễ. Người như thế thì thử nghĩ còn ra vẻ vì nữa. Chẳng những không tư cách làm người mà làm người như thế lại là mất cả lợi quyền, vì chữ là cái lợi khí tối yếu của người ở đời, và chữ nước mình lại là cần yếu hơn lắm nữa. Trong khi giao thiệp với người đồng bang, các thơ từ giấy má là nguồn gốc của mọi việc khác, nhờ chữ mà tỏ được tình ý cho nhau, nhờ chữ mà mưu được những sự nghiệp kinh thiên vĩ địa. Chẳng nhờ chữ thì chẳng nên được việc gì cả. Bởi đó mà ta nên học chữ quốc ngữ. Nói thế tất cũng có người hỏi rằng: chữ thì chữ nào cũng là học, hà tất phải học chữ quốc ngữ?

– Đã nói rằng, phàm dân tộc nào đều có riêng một thứ tiếng, có riêng một thứ chữ, thì mỗi thứ chữ đều có một cái tinh thần riêng, không bao giờ lầm lộn nhau được; đã không bao giờ lầm lộn nhau được thì không bao giờ người một nước mà học được hết, hiểu được rõ chữ của một nước khác. Cái tinh thần ấy là cái tinh thần của giang san nòi giống, từ mấy muôn đời chung đúc mà thành, thì chữ và người bao giờ cũng có một mối vô hình ràng buộc lẫn nhau, rồi không thể bỏ nhau được. Nên người một nước, bỏ chữ nước mình mà lấy chữ một nước khác làm quốc ngữ, là một lẽ đại nghịch với tự nhiên của trời đất không bao giờ có, nếu dân tộc nào làm trái với lẽ đó là dân đó đã đến ngày tự buộc mình vào vòng vô tri thức để tiêu diệt lấy mình, vì “tiếng là nước”, tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn không sao vãn hồi được nữa.

Bởi thế nên không giống dân nào dám coi việc ấy làm thường, đều thuận theo đạo tự nhiên, giữ gìn học tập quốc ngữ cả thảy. Người Tàu học chữ Tàu, người Ấn-độ học chữ Ấn-độ, người Nhựt học chữ Nhựt, người Đức học chữ Đức, v.v., nước nào cũng vậy; dầu không bắt học cũng học, dầu không khuyên học cũng học, không còn giống dân nào mà không biết lẽ ấy nữa. Nói như thế thì dân Việt Nam nào có phải là một giống người vô tri thức mà mà không hiểu hết lẽ ấy, còn phải người ép buộc khuyên bảo, thiết tha bàn nói như thế nầy. Ta nên biết rằng: ấy là cái nỗi khổ tâm nhứt của các nhà trí thức ta vẫn băng khuăng lo nghĩ đó.

Phàm những cái gì được bình an, giữ nguyên tính chất là khi nào ở vào cảnh ngộ bình thường; chớ ở vào cảnh ngộ biến cách thì tính chất ấy thay đổi ngay. Cái biến ấy là những cái phong trào, những cái thế lực khác ở chung quanh nó kích thích xô giục đè nén mà làm cho tiêu diệt mất cái nguyên chất đi. Như các nước mà biết lo giữ gìn quốc ngữ, học tập quốc ngữ của họ là những nước ấy ở vào cảnh ngộ bình thường. Nếu nước Việt Nam ta nay mà cũng ở trong cảnh ngộ bình thường, thì người Việt Nam cũng không tránh được cái công lệ tự nhiên mà không biết lo giữ gìn quốc ngữ, học tập quốc ngữ.

[cột báo bị bỏ trắng 10-12 dòng, mỗi dòng 8-10 từ]

 

Nay tôi xin giải coi những cái phong trào thế lực gì mà đang kích thích xô giục đè nén, mà làm cho chữ quốc ngữ ta tiêu diệt đây? Phong trào ấy là phong trào học chữ Pháp. Từ năm sáu chục năm nay nước Nam ở dưới quyền bảo hộ thuộc địa nước Pháp; người Pháp họ đem quốc ngữ của họ sang truyền dạy cho ta thì mỗi cái gì thuộc về giấy má thơ từ, đơn trạng tờ khế, từ việc quan làng tới việc dân dã đều nhứt nhứt dùng chữ Pháp cả. Người Pháp đem chữ Pháp truyền dạy cho ta là muốn đào tạo cho ta thành một hạng người thông ngôn để làm việc với họ ở các ty các sở, nên mới đặt ra có từng hạng văn bằng cao thấp khác nhau. Người Pháp đem văn bằng mà đặt mục đích học cho ta. Ai là người cắp sách đến trường cũng chỉ lăm le cái học để thi, thi để đỗ, để lấy được bằng nọ bằng kia, để được bổ đi làm việc ở sở này sở nọ. Được như thế là mãn nguyện. Hạng thông ngôn nầy qua, hạng thông ngôn khác đến; đời nầy qua đời khác tiếp; sự học của người mình chỉ có bấy nhiêu đó mà thôi. Ta nên biết rằng, kẻ học giả học là vì một cái mục đích cao xa rộng rãi hơn nhiều, là đem cái tri thức của mình mà thu quát cả võ trụ cổ kim, đem cái học thức của mình mà lãnh hội những cái huyền bí ẩn vi của Tạo hóa, đem cái lịch duyệt của mình mà xét thế thái nhân tình, rồi làm sách chép truyện, truyền dạy lại người ít tri thức hơn mình, truyền dạy lại người đời sau. Ấy cái mục đích cao thượng, cái sự nghiệp bất hủ của học giả là thế chớ có đâu hẹp hòi nhỏ nhen như phần nhiều người mình vẫn lầm tưởng lâu nay, mục đích không ngoài mỗi tháng mấy trăm bạc lương trở xuống, sự nghiệp học chỉ đến ông thông ông phán là cùng. [hết kỳ 1]

Chỉ trách người mình vô tri thức, không chịu suy nghĩ hơn thêm một chút, cứ đặt đâu ngồi đấy, bảo sao hay vậy, nức lòng gắng sức mà đêm đêm gào chữ như cuốc kêu, ngày ngày dùi sách như mọt đục, nhắm ngày nhắm tháng để vào thi, đếm bài đếm câu để chực hỏi, còn biết đâu là đâu nữa, biển học mênh mông coi không bằng cái vũng nước trâu vầy. Than ôi! Nên sĩ phong trụy lạc mất!

Nói cho phải, thì cũng có người có chí hướng cao, mục đích rộng, sang du học tận bên Pháp. Hạng người nầy cũng đã lĩnh hội được ít nhiều cái tinh ba của chữ nước người, lại có chí gây dựng cho nước Nam muốn đem chữ Pháp về làm quốc ngữ cho nước Nam. Nhưng than ôi! đó mới là cái mộng tưởng mà thôi chớ việc ấy là một việc trái với lẽ tự nhiên của Tạo hóa, không bao giờ có được. Nếu việc ấy là một việc dễ dàng, trong một thời gian ngắn ngủi đem hai mươi lăm triệu người Nam đổi thành hai mươi lăm triệu người Pháp được, thì còn ai dại gì mà không muốn. Song chẳng phải người Nam ai ai cũng đều có đủ sức để sang Pháp du học mà học được đến chỗ cốt tủy tinh ba của chữ Pháp được như thế cả. Trong một ngàn người, họa chăng mới được một người. Chẳng từng thấy gương trước. Người mình đeo đuổi học chữ Tàu là một nước có thế lực với nước ta, ở bên cạnh nách ta đây, đem văn hóa mà truyền bá cho ta đến mấy ngàn năm, mà hai mươi lăm triệu người Nam chưa đổi thành hai mươi lăm triệu người Tàu được, nữa là bập bẹ chữ Pháp trong năm sáu chục năm gần đây, mà chữ Pháp lại là một thứ chữ ở từ một bên phương cầu khác đem sang thì đã thấm gì. Chi bằng gần đây, sẵn đây, ta có tiếng của ta; tiếng ta biết bập bẹ từ khi mới chập chững đi, tiếng ta từng nghe từ khi còn trên tay mẹ ẵm bồng. Tiếng ấy là một thứ tiếng quý báu mầu nhiệm của Tạo hóa đã ban bổ cho ta, của khí thiêng non sông Hồng Lạc đã chung đúc ra cho ta. Tiếng ấy là của hương hỏa từ mấy mươi ngàn đời tổ tiên ta để lại, − ta nay nên trân trọng giữ gìn và bồi đắp dồi mài cho thứ tiếng ấy ngày càng một thêm tốt đẹp phong phú hơn lên, rồi sau nầy của hương hỏa quý báu ấy ta sẽ để lại cho con cháu ta cho đến thiên thu vạn cổ về sau. Trách nhiệm ta nặng nề lớn lao như thế, nếu ta thờ ơ chểnh mảng để cho thứ tiếng nói ấy mà phải tiêu diệt là ta phải tội với trời đất với tổ tiên ta lắm vậy.

Ta học quốc ngữ dễ, dạy mau biết, học mau thông, vì tiếng là chữ mà chữ là tiếng, miệng ta nói tay ta viết; có ý chăm chỉ suy nghĩ một chút là lĩnh hội được đến chỗ lý thú thâm trầm ngay, không phải có cái học khó khăn như cái học nhà viết mượn chữ nước người, phải san đi dịch lại mấy phen, kêu gào hò hét mấy bận mà vị tất đã thâu biết được đến chỗ cao thâm tinh túy. Nhà mình sẵn có cái học tiện lợi dễ dàng như thế thì ai nỡ nào cam lòng rẻ rúng, đang tay ruồng bỏ cho đành. “Phật nhà không cầu, đi cầu Thích-ca ngoài đường”. Đối với ông Thích-ca ngoài đường ấy ta còn lạ lùng, bợ ngợ chưa biết được bụng dạ thế nào thì ta chắc gì là ông Thích-ca ấy phù hộ ta được; chi bằng nhà ta sẵn Phật, ông Phật ấy đối với ta có tình thân mật đậm đà hơn, ta nên vững bụng yên lòng, bịnh hương sùng bái ông Phật nhà ấy, thì dầu ít dầu nhiều thế nào, ông cũng phù hộ giữ gìn ta mà ban giáng phúc đức cho ta nhờ được.

Ta về ta tắm ao ta,

          Dầu trong dầu đục ao nhà vẫn hơn.

Tôi nói thế có phải là tôi khuyên người mình bỏ mà không nên học chữ Pháp không? Không, không phải thế. Chẳng những là chữ Pháp, dầu đến chữ nào cũng là chữ hay cả, mà chữ nào cũng là chữ nên học cả, học được càng nhiều càng tốt, nhưng muốn học chữ nước người, thì trước phải thông thuộc được chữ nước mình đã. Học chữ mình là để giữ lấy căn bổn vững vàng, để cho có đủ tư cách làm người dân trong nước, rồi sẽ học tập cái của người. Chớ đối với cái của mình thì mờ mịt tối tăm, lại đeo đòi muốn lấy cái của người làm cái của mình; chẳng may ra, học chưa được cái của người mà đã bỏ mất cái của mình, tình cảnh dở dang ấy có khác nào cái tình cảnh “đánh trống mất dùi” không? Đánh trống mà mất dùi, thì đáng thảm thương ái ngại biết chừng nào!

Ấy đại khái sự cần yếu và sự lợi ích của việc học quốc ngữ là thế, vậy người nước ta, những người không biết thì không nói gì chớ ai là người có chút tri thức, có chút tâm chí đối với tương lai vận mạng nước nhà thì tưởng ai cũng nhận lẽ ấy là phải mà dầu lòng dốc chí gia công giữ gìn học tập chữ quốc ngữ tiếng quốc âm nhà kỳ cho thứ chữ thần thánh ấy được đến ngày tốt đẹp phong phú thì giang san Hồng Lạc nầy mới được đến ngày tươi tỉnh vẻ vang mà mở mày mở mặt với người, vì “nước Nam ta mai sau nầy hay dở cũng do ở chữ quốc ngữ” vậy (lời ông Phan Kế Bính, tựa “Tam Quốc Chí”).

Vì thi hành không được tốt mà đã có người đổ vạ rằng các trường tiểu học ta ngày nay học chữ quốc ngữ là làm trở ngại việc học của con trẻ. Than ôi! Việc học quốc ngữ ngày nay đã đến cái thời kỳ “mở mắt” chớ nào phải còn trong cái thời kỳ “chiêm bao” nữa mà còn có người nói như thế thì thiệt là mơ màng tối tăm quá. Vì lẽ ấy thì trong một bài sau tôi xin lạm bàn đến. Nay đem chất chính với hải nội chư quân tử ngài nào có ý kiến gì hay về việc học quốc ngữ và đã có kinh nghiệm qua xin đem bàn lên báo để rộng đường dư luận. Kẻ tệ sĩ nầy lấy làm mong mỏi đợi được nghe lời cao đàm minh luận của các nhà.

ĐÔNG HỒ

Hà Tiên

Nguồn:

Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 618 (19.8.1927); s. 619 (22.8.1927)

Một bài báo của PHAN KHÔI năm 1956: PHÊ BÌNH LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ

 

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết cái bài nầy.

Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ, nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa thu không thể giống được với mùa xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa thu, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.

Huống chi anh bạn trẻ có cho tôi biết rằng Giai phẩm mùa Thu sắp in ra là để góp một phần nhiệm vụ chuẩn bị và xây dựng cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 11 sẽ tới, tôi cũng muốn đóng góp chút ít cái nghĩa vụ ấy, thì đó là dịp tốt cho tôi viết.

Lại huống chi cái tôi viết đây là bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con chó đói” của Trần Dần, “cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng tôi nên viết lắm.

Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?

Còn như sợ “bên địch xuyên tạc” thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc? Chó sủa hà tất phải có bóng người đi qua. Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên, tôi thử kể ra đây một mẩu. Tháng tư năm ngoái, tôi đi vào khu V, nghe đồng bào thuật lại rằng trước đó độ một năm, lúc thủ tướng Phạm Văn Đồng đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ, đài phát thanh Sài Gòn nói rằng “đó là tại Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao, đã bị thủ tiêu rồi nên Phạm Văn Đồng lên thay”. Thật, ông nào nói “bên địch xuyên tạc” cũng nên khen ông ấy là quân tử hơn bên địch lắm lắm vậy.

Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng còn không sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.

Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc là tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc.

Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.

Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giờ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.

Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.

Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng nó thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở Nam Bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.

Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.

Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.

I. VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO VĂN NGHỆ SĨ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam Bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những nếp nhà đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. (1) Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có để bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa đến bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.

Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên Xô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, họa, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại, trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thủy. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác. Tôi vào phòng riêng, nằm nghĩ mà tức lắm, không tức gì với ông Hoài Thanh mà tức với lãnh đạo. Từ đó có mặt trong cuộc họp nào tôi cũng không phát biểu ý kiến. Có anh em hỏi tôi sao không phát biểu. Tôi trả lời rằng vì không có ý kiến gì khác. Nhưng, thực ra, có ý kiến gì khác tôi cũng không thèm phát biểu. Nên nói thêm rằng tôi mong ông Hoài Thanh đưa tôi ra phê bình lắm, nhưng may làm sao không thấy đưa tôi ra phê bình, vì cái sự phê bình, tự phê bình được coi là võ khí ấy rất hiếm có trong cơ quan chúng tôi: hai năm nay chỉ có hai lần, một lần phê bình thơ Việt Bắc, một lần phê bình bài thơ của Trần Dần mà sau đây tôi sẽ nói đến.

Đó là lãnh đạo nghiệt ngã về nói; đây là về viết.

Tháng 10 năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn. Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh ủy bí mật, không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu tôi nói đó chỉ thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh. Tôi tuy nhũn như con giun đối với lãnh đạo thể ấy, nhưng khi nói trước công chúng, tôi cứ nói theo nguyên văn của tôi, không chữa một chữ nào, vẫn không gặp sự phản ứng nào trong đám thính giả.

Đó là cái thói kỵ húy trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường tư, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn, (2) quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường tư, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ húy như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ húy của quan trường thì không khác.

Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.

Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.

Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi được tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.

Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.

Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.

Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải trình bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.

Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà gia đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.

Ông Nguyễn Tuân và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó cái nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả cũng một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết. Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!

Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một tòa soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:

Ở đây nào phải trường thi

Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?

thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!

II. VỀ VỤ GIAI PHẨM MÙA XUÂN

          Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, – tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo.

Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi; còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng”, là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời đã nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.

Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.

Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà kỳ thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau về kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đành làm thinh.

Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài những chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.

Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta. (3)

Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?

Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên lụy đến anh em, bè bạn, liên lụy đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hòa dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.

Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đưa cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.

Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát biểu của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi đã nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.

Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải Phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô-viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “vú” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.

Một tối họp buộc tội, không có một lời nào cãi lẽ; bốn bài báo buộc tội, không có một chữ nào trả lời: quả nhiên “miệng” đã bị “vú lấp” rồi. Đó là cái cơ hội cho một việc gì xảy ra.

III. VỀ VỤ GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.

Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu đồng tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.

Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ đi dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng được dự vào đó thì hay.

Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.

Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn lại, nói đó không phải là cái luận cứ cứng vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng Tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.

Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.

Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.

Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ. (4) Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?

Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn Kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.

Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Đại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?

Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.

Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.

Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.

Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.

Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.

Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc.

PHAN KHÔI

(Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội)

Nguồn:

Giai phẩm mùa thu 1956, tập I,  Hà Nội, Nxb. Minh Đức, tháng 9/1956; bản in lần thứ hai, tr. 3-16.

Chú thích:

(1) cụp: mê ly, thích thú, khoái chí. (theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái chủ biên, Nxb. Tp. HCM., 1994, tr. 190.

 (2) Các vua triều Nguyễn gốc ở làng Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (nguyên chú của Phan Khôi)
(3) Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 1-3-56 (nguyên chú của Phan Khôi)
(4) Nhớ như có người đã thắc mắc về tập thơ Ngôi sao, nhưng tôi không chắc lắm, việc này có thể xét lại biên bản của Hội Văn nghệ về buổi họp ấy. – Ngày 20-8-56, thình lình có cuộc họp Ban Chấm giải, tôi phát hiện thêm ra một sự gian lận: Bao nhiêu lời phản đối của tôi về tập Ngôi sao đều bị bỏ hết, không ghi vào biên bản. Việc nầy, liền ngày đó, tôi có viết thư cho ông Tổng thư ký Đảng Lao Động biết. (Phan Khôi chua thêm ngày 21-8 trước khi tập sách lên khuôn.)

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần 1)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

 

Trong giai đoạn 1954 – 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thông tin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất – 1946-1954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng. Họ cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến.[1] Nhưng giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi.

 

Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng – gồm những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn-Giai phẩm – là một trong những lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Phong trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản vào năm 1956 – báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm, đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn-Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng.[3] Gộp chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986.[4] Một yếu tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh, cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây.

 

Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia Nhân văn-Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước. Trong thực tế, nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[5] Thực ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của phong trào Nhân văn-Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân Diệu (1916-1985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?

Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa.[6] Chịu ảnh hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn-Giai phẩm để bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn-Giai phẩm là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”, chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng.[7]

 

Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồng Chính kiến, 1954-1964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et dissidence 1954-1964). Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bản Việt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky.[8] Học giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn-Giai phẩm chia sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất là tự do ngôn luận).[9] Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị chung.[10] Về động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn-Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”.[11]

 

Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:

“Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.[12] Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng” nhiệt tình hơn ai hết:

 

Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.

 

Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ của mình.[13]

 

Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viên trong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”[14] Chính vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân văn-Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước khi đánh giá về nhà thơ.

 

Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn-Giai phẩm của Kim Ninh (2002) và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa Mác-Lê trong khi các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị. Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn-Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau:

“Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (1916-1985) – bị mất cảm hứng lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Nam nào cũng vậy. [Những thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm như] nhà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần (1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (1887-1959), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993) chưa từng biến mình thành “những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều, không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.” [15]

 

Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng Lao động Việt Nam.

 

Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành viên của phong trào Nhân văn-Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp. Trước hết, cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đời sống tình cảm của mình.[16] Tuy nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[17] Vào tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng. Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm khi cân nhắc giá trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng.

 

Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” – khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ.[18] Ba nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng.[19]

Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lại gây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào?

 

 

 

Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu

Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng Quy Nhơn. Năm ông 11 tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học) và người vợ cả của ông quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường tiểu học gần nhà. Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế.[20] Năm ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới – cả hai đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi tiếng Hoài Thanh đã mô tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 như sau:

 

“Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”[21]

 

Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945) được người đương thời cho là kiệt tác. Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông sự cảm nhận sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra từ những câu thơ của Xuân Diệu.[22] Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽ thường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa.

Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tính của nhà thơ.[23] Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong văn chương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đề cập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu.[24]Hiển nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlaine và Rimbaud một cách thoải mái, cảm thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ cùng thời ở Paris”.[25] Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài “Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Tượng trưng Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:

  Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine, Hai chàng thi sĩ choáng hơi men, Say thơ xa lạ, mê tình bạn, Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.   Những bước song song xéo dặm trường Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương, Họ đi, tay yếu trong tay mạnh, Nghe hát ân tình giữa gió sương.   Kể chi chuyện trước với ngày sau; Quên ngó môi son với áo màu; Thây kệ thiên đường và địa ngục! Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

 

 

Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của nhà thơ. Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Nam không hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng.

 

 

 

Giai đoạn mới tham gia cách mạng

Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam, có những dòng như sau:

  Nếu “thi sĩ là ru với gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” … Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn, Véo von ca cho át tiếng kêu than Của nhân loại cần lao đang giãy giụa Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa Là tai ương chướng họa của nhân quần,[26]

 

Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng bí thư.[27] Hai năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho Việt Minh – tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương.[28]  Đối với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng, điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông – cũng như những ứng cử viên được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[29] Vào tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới Fontainebleau để hội đàm với Pháp.

 

Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp, làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơ quan văn học kháng chiến.[30]

 

Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn Nghệ. Thực chất tạp chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn so với tờ Tiên Phong đang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại. Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn này như một định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn – Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ chỉ gồm năm người.[31]

 

Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại Từ – chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới – nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc – cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc – nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến.[32]

 

Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Minh đang tăng cao.[33] Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường lối lãnh đạo cách mạng. Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấn của Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình” để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cách mạng khó khăn.

Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau:

 

“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”[34]

 

Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết”.[35]

 

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ Việt Minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người chiến thắng, – nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã. Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường tư tưởng vững vàng):

 

“Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi. Muốn vùi đầu quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt. Ta có phải là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”[36]

 

Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách khác, những người đã từng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng:

 

“Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch! Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứt xuống bùn nhơ! Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ với xâm lăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn đề sống chết của những con người văn nghệ.”[37]

 

Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người con.[38]

 

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổi tiếng.[39]

 

Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờ Văn Nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn – có thể sánh với các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này. Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (1945-1946), chức vụ này rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức không theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Nam không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới. (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn Nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự.

(còn tiếp)

 

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Chú thích

[1] Đảng Cộng sản Đông Dương (1931-1945) là tiền thân của Đảng Lao động Việt Nam (1951-1975) và Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-nay).

[2] Mạc Đình, Tâm trạng của giới Văn nghệ ở miền Bắc (Sài gòn, 1956 – không rõ tên nhà xuất bản); P.J. Honey “The Revolt of the Intellectuals in North Vietnam” (Cuộc nổi dậy của các trí thức miền Bắc), The World Today 13, No.6 (June 1957): 250-260; Hoa Mai, biên tập, The “Nhân Văn” Affair [Vụ Nhân Văn] (Sài Gòn: The Vietnam Chapter of the Asian People’s Anti-Communist League, 1958); Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam [Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam] (Sài Gòn: Công Dân, 1958); Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Sài Gòn: Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn hóa, 1959); Như Phong “Intellectuals, Writers, and Artists,” (Trí thức, Văn sĩ và Nghệ sĩ) China Quarterly, no.9 (Jan-March 1962): 47-69; Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism [Từ thực dân đến cộng sản] (London, Pall Mall Press, 1964; Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers Party, 1956-1958” (Những thay đổi trong chính sách văn học của Đảng Lao động Việt Nam, 1956-1958) trong Indochina in the 1940s and 1950s, eds. Takashi Shiraishi and Motoo Furata (Ithaca, NY: Sotheast Asia Program Cornell University, 1992), (Nguyên bản tiếng Nhật của bài luận của Kurihara được đăng trên Journal of Asian and African Studies, 1988); Georges Boudarel, Cent fleurs ecloses dans la nuit du Vietnam: Communism et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa vẫn nở trong đêm Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản và bất đồng chính kiến 1954-1956] (Paris: Editions Jacques Bertoin, 1991); Georges Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s: The Nhan van-Giai pham Affair” [Trí thức bất đồng chính kiến trong thập niên 1950: Vụ Nhân văn-Giai phẩm], Phi Linh Baneth lược dịch từ tiếng Pháp, Vietnam Forum 13 (1990): 154-174; Kim Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam [Một thế giới đã hoán cải: Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics” [Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria, 2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần bất phục đến người đàn bà quỳ).

[3] Boudarel, “Intellectual Dissidence”, 172.

[4] Bà Thụy Khuê, trí thức người Pháp gốc Việt đáng được ghi nhận đặc biệt vì đã thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn với các nhân vật Nhân văn-Giai phẩm trong chương trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI.

[5] Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Nguyễn Công Hoan, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hồng Chương, và những người khác.

[6] Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa, 148.

[7] Mạc Đình, Trăm Hoa, 12-13. Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism, 230-231.

[8] Tất nhiên là sự so sánh này cũng có chỗ khập khiễng. Vào năm 1990, khi Boudarel viết cuốn sách này, ông đã có thành kiến với chủ nghĩa cộng sản trong khi Trotsky vào năm 1936 viết ở góc độ một tín đồ chân thực.

[9] Về thái độ cùng căm ghét Tố Hữu, xem Boudarel, Cent fleurs, 245. Về thái độ thù nghịch chủ nghĩa Mao-ít và sự mong muốn chế độ thực hiện những cam kết đã hứa, xem Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s”, lần lượt ở các trang 154 và 164.

[10] Boudarel, Cent fleurs, 245.

[11] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s”, 164-165. Trong Cent fleurs tác giả viết: “Xuân Diệu, cùng với người bạn chí thiết Huy Cận, có quan hệ rất tốt với Tố Hữu và những người phụ trách văn hóa của đảng – chỉ trích một người là động đến tất cả những người khác (trong bọn họ)”: 235.

[12] Hồ sơ về Xuân Diệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ghi ông gia nhập đảng năm 1949.

[13] Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1993), 208-209.

[14] Sđd., 269.

[15] Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam”, 6.

[16] Cả Trần Dần và Hoàng Cầm đều yêu những người phụ nữ Hà Nội mà theo quan điểm của đảng là xuất thân từ giai cấp bóc lột. Xem Kim Ninh, A World Transformed, 123-133. Chuyện tình của Lê Đạt được ít người biết đến hơn. Khi tham gia cải cách ruộng đất năm 1953, ông cưới một phụ nữ thuộc tầng lớp bần nông, rồi chẳng bao lâu sau bỏ bà để lấy một nữ diễn viên trẻ, việc này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín chính trị của ông.

[17] Trong tiếng Việt, văn nghệ là từ được ghép từ hai từ “văn học” và “nghệ thuật”. Nhưng cụm từ “văn nghệ” cũng có thể được hiểu theo nghĩa “văn hóa” – ví dụ như sáng tạo (hoặc quản lý) văn hóa/văn nghệ.

[18] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21-28/6/1956.

[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1, tháng 8/1956; Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, sối 1, 20/9/1956; Nguyễn Bính, “Về giải thưởng văn học 1954-1955”, Trăm Hoa, số 1, tháng 10/1956.

[20] Dưới chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945, tên Trường Bưởi Hà nội chính thức được đổi thành Trường Chu Văn An, và được giữ nguyên đến nay. Trường Quốc học Huế đã qua vài lần đổi tên. Khi người Pháp thành lập trường vào năm 1896, tên chính thức của trường là École primaire superieur, nhưng người Việt thường gọi là Trường Quốc học. Năm 1936, trường đổi tên thành Trường Trung học Khải Định. Năm 1955, lại đổi thành Trường Trung học Ngô Đình Diệm. Năm 1957, trường được trả lại tên cũ Quốc học, và được giữ nguyên đến nay. Như rất nhiều người đã biết, nhiều nhân vật chính trị quan trọng đã học qua hai trường này. Điểm qua danh sách cựu học sinh trường Bưởi có Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Đức Thảo, Dương Trung Quốc, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Ngọc Phách, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khắc Viện, và nhiều người khác. Ở trường Quốc học Huế, có Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Lưu Trọng Lư, Huy Cận và Xuân Diệu. Chính trường Quốc học Huế là nơi Xuân Diệu gặp người tình suốt đời Huy Cận.

[21] Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 (Hà Nội: Nxb. Văn Học, 2005. Theo lời nhà xuất bản, đây là bản in lại nguyên tác do Nxb. Nguyễn Đức Phiên in năm 1942).

[22] Xuân Diệu, Thơ thơ và Gửi hương cho gió (Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn, 1995). Những ý kiến phê bình thơ Xuân Diệu có thể đọc được từ: Thanh Lãng, 13 năm tranh luận văn học, 1932-1945 (TP HCM: Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM, 1995).

[23] Đọc các bài viết, ví dụ như của Hà Minh Đức, Xuân Diệu: Ông hoàng của thơ tình yêu (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2004).

[24] Nguyễn Quốc Vinh, “Deviant Bodies and Dynamics of Displacement of Homoerotic Desire in Vietnamese Literature from and about the French Colonial Period (1858-1954)” [Biến thái hình thể và những mâu thuẫn xung quanh chủ đề khát khao tình dục đồng tính trong và sau giai đoạn Pháp thuộc, 1858-1954], Hợp Lưu số 42, tháng 8-9, 41-53. Trong luận án tiến sĩ đang viết, Richard Trần dành một chương để bàn về tình yêu đồng giới của Xuân Diệu trong những năm tiền cách mạng.

[25] Kim Ninh, A World Transformed, 59.

[26] Sóng Hồng (Trường Chinh), Thơ (Hà Nội: Văn Học, 1966) 25-28.

[27] Một bài trên báo Công an Nhân dân ngày 7/2/2007 nhan đề “‘Là thi sĩ’ của Sóng Hồng phê phán ‘Cảm xúc’ của Xuân Diệu?” cho rằng Trường Chinh viết bài thơ ban đầu là để vận động một thư ký doanh trại lính Pháp rất yêu thơ tham gia cách mạng.

[28] Từ điển Văn học (Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1984), 604.

[29] Sau khi giành chính quyền tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương dành ra mấy tháng sau đó để truy tầm và xử tử vài ngàn người bị coi là phần tử chính trị nguy hiểm (nhất là đảng viên các đảng đối lập). Vì vậy, khó có thể tưởng tượng được rằng lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương nghiêm túc thực hiện “dân chủ đại diện” trong cuộc tổng tuyển cử tháng Giêng năm 1946. Không rõ Xuân Diệu, gốc Quy Nhơn quê Hà Tĩnh, có liên hệ cụ thể gì với tỉnh Hải Dương.

[30] “Đỗ Ngọc Dũng, “Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Hội Văn nghệ Việt Nam: 25/7/1948-25/7/2008, 16/7/2008”. http://dodungart.vnweblogs.com/post/3574/80401 (truy cập ngày 5/5/2010)

[31] Sđd. Xuân Diệu phụ trách “tổ chức kiểm tra”. Trong bốn người còn lại, Nguyễn Tuân là Tổng thư ký, Tố Hữu Phó Tổng thư ký, Võ Đức Diên phụ trách kinh tế và Ngô Quang Châu làm quản trị.

[32] “Nghị quyết Hội Nghị Thống Nhất Hai Khu 1 và Khu 10: 5/11/49, Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Hà Nội: Chính trị Quốc Gia, 2001), 10:427. Cần phân biệt “Việt Bắc” khác với “miền Bắc”, là khái niệm rộng hơn, dùng để chỉ 1 trong 3 kỳ thời Pháp thuộc, và sau Hiệp định Geneva 1954, chỉ một nửa đất nước tính từ phía bắc vĩ tuyến 17.

[33] Tịnh Hà, Xuân Diệu: Con người và Tác phẩm (Hà Nội: Văn Học, 1987), 11.

[34] Tô Hoài, Cát bụi chân ai (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 1992), 198.

[35] Sđd, 199.

[36] Xuân Diệu, “Thư gửi các bạn văn nghệ ở Hà Nội”, Văn nghệ, số 56, tháng 10/1954.

[37] Sđd.

[38] Sau đó, Huy Cận lấy người vợ thứ hai, và cũng là cuối cùng, bà Trần Lệ Thu, giảng viên tiếng Nga, Đại học Ngoại ngữ vào năm 1964, khi bà 28 tuổi. Họ có với nhau ba người con.

[39] Sau năm 1975, hai anh em được đoàn tụ và cùng cộng tác trong một số dự án văn học.

 

TIẾP CẬN VĂN BẢN HỌC TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VÀ XUẤT BẢN: MUỘN CÒN HƠN KHÔNG!

LẠI NGUYÊN ÂN

Thực tiễn đời sống văn hóa văn nghệ gần đây cho thấy cả công tác xuất bản lẫn công việc nghiên cứu phê bình đều cần đến góc tiếp cận văn bản học.

Thật ra thì tiếp cận văn bản học là không thể tránh đối với tất cả những lĩnh vực có liên quan đến ngôn ngữ văn tự. Các tác phẩm chữ viết, khi được truyền bản, nhân bản, dù dưới dạng chép tay hay in ấn, đều đứng trước nhu cầu phải được xử lý về văn bản. Tuy vậy, những việc ấy, ở xứ ta, thường được thực hiện một cách “tự nhiên nhi nhiên”, với những xử lý hoặc bị coi là quá thông thường, hoặc buộc phải tuân thủ những quy tắc tối thiểu nào đó, nên người ta cảm thấy dường như chẳng có vấn đề gì!

Cho đến gần đây, chỉ mới duy nhất có các văn bản thuộc loại hình chữ Hán-Nôm của người Việt, là được công nhiên thừa nhận cần thiết phải xử lý về văn bản học. Đã có một viện nghiên cứu riêng được nhà nước lập ra (Viện nghiên cứu Hán-Nôm), giành cho việc khảo cứu loại hình di sản này của văn hóa chữ viết. Thế nhưng, loại chữ viết kể trên (chữ Hán-Nôm) chỉ được người Việt dùng từ xa xưa cho đến thế kỷ XIX, số lượng tác phẩm Hán-Nôm của tác giả Việt còn tính đếm được có lẽ không quá 5 chữ số. Từ cuối thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX trở đi, xã hội người Việt chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ, tức tiếng Việt ghi bằng các ký hiệu Latin của người châu Âu, và nay ta gọi tắt là chữ Việt. Số lượng tác phẩm đủ loại do người Việt viết ra in ra bằng chữ Việt, nay nếu tính đếm, chắc phải dùng đến 10 chữ số.

Và điều đáng nói hơn, những sự cố liên quan đến văn bản (như hai dị bản “bùn”/”đất cày” trong một bài thơ Lưu Quang Vũ gây xôn xao dư luận mới đây) đôi khi ám ảnh cả một công chúng rộng; trong lúc bàn cãi nhau quanh sự cố ấy, người ta mới nhận thấy ở lĩnh vực này dường như đang trống vắng những hiểu biết căn bản có thể làm nền cho những hướng xử lý thích đáng.

Tôi từng nghe kể, có lần, một công chức ở Cục xuất bản bị một người, nhân danh thân nhân tác giả X., đến chất vấn và yêu cầu xử lý, tức là ra lệnh phạt một nhà sách kia, vì đã phạm tới vài trăm lỗi dị bản, khi tái bản tác phẩm của tác giả X. Viên chức nọ không biết xử lý ra sao, đành để vị khách kia ngồi lỳ ở đó!

Câu chuyện hình như được một số nhà văn quan tâm, và người ta vội làm một hội thảo, nêu lên một loạt những lời ta thán, trách cứ giới làm sách, nêu cao những đòi hỏi “chuẩn mực”, “chính xác”, v.v… Thế rồi người ta định lập ra một trung tâm trực thuộc Hội nhà văn với công việc chính sẽ là cung cấp văn bản chuẩn mực các tác phẩm cho xuất bản! Thật may là trung tâm ấy chưa ra đời, bởi nếu nó đi vào hoạt động thì, giới văn chương và công chúng hẳn sẽ được thấy những cảnh ngộ dở cười dở khóc với cái sẽ được gọi là “văn bản chuẩn mực”! Phải chăng các vấn nạn xung quanh câu chuyện tạm gọi là “in sai” văn bản tác phẩm, lại có thể giải quyết dễ dàng như thế hay sao? Và nếu quả thật các vấn đề là dễ xử lý thì vì sao mỗi khi nó  xuất hiện lại thường gây ách tắc đến vậy?

Nếu muốn tìm kinh nghiệm từ giới chuyên gia văn bản học người Việt, chắc hẳn trước hết phải tìm tới các nhà Hán-Nôm học; song ngoài các vấn đề chung ra, loại hình văn bản Hán-Nôm gắn với một thời đại kỹ nghệ khác (viết tay, chép tay, in khắc ván, v.v.), khó mà đủ để xử lý loại văn bản của các thời đại in máy (typographie), in sắp chữ rời, từ thủ công, bán thủ công sang tự động hóa, rồi công nghệ in thời đại internet.

Tất nhiên ngọn nguồn mọi tác phẩm là từ tác giả. Phải có văn bản của tác giả rồi mới có các văn bản in.

Song, ngay văn bản của tác giả (có khái niệm “bản thảo”) cũng đã không đơn giản; hầu như ít tác phẩm nào chỉ duy nhất có một văn bản; một bài thơ ngắn, trong sổ tay tác giả có thể cũng đã có vài dị bản ở câu này chữ kia, do tác giả cân nhắc giữa vài ba từ khả dĩ đáp ứng chiến lược diễn ngôn của mình. Khái niệm “văn bản gốc”, đi vào nghiên cứu cụ thể, sẽ thấy không hề đơn giản. (Vả chăng, đến khi tác phẩm được xem là thành tựu thì tác giả đã đi xa, cả bản nháp lẫn “bản gốc” hầu hết đều không còn).

Sang giai đoạn văn bản được nhân bản, từ một bản của tác giả được in thành ngàn bản, chục ngàn bản, tức là văn bản đăng báo, in sách, thì tuy mỗi lần in tạo ra một văn bản đồng nhất, bởi đều được dập ra từ một bộ khuôn chữ, nhưng những lần in khác nhau lại tạo ra những văn bản khác nhau, mỗi lần in lại tạo cho tác phẩm thêm một loạt dị bản.

Tôi đã nghiệm thấy rõ điều này khi khảo sát tình trạng văn bản một số tác phẩm cụ thể. Không bao giờ văn bản một tác phẩm ở các lần in khác nhau lại đồng nhất, trùng khít nhau; đó gần như là quy luật.

Tựu trung tôi thấy có hai loại nguyên nhân khiến cho mỗi lần in, cùng một tác phẩm sẽ tạo ra thêm một dị bản mới.

Thứ nhất là loại nguyên nhân “chủ quan”, do chủ ý của những người tham gia công việc xuất bản: 1/ tác giả (nếu còn sống khi tác phẩm của mình được in lại) có thể (và có quyền) sửa chữa tác phẩm của mình; 2/ người xuất bản có thể đề xuất những thay đổi nhất định trong văn bản tác phẩm đưa in, vì những lý do nào đấy, chí ít là quy tắc chính tả, quy tắc viết tên riêng, v.v.; 3/ cơ quan kiểm duyệt (chính quyền đương thời cấp giấy phép in) có thể cắt bỏ những câu chữ, đoạn văn nhất định.

Thứ hai là loại nguyên nhân “khách quan”, vô tình, ngoài ý muốn: tác giả có khi vô tình viết sai một vài từ nào đấy (câu “Người là đấng tinh truyền thanh vẹn” bị ngờ là do Hàn Mặc Tử viết nhịu cái câu có lẽ nguyên là “Người là đấng trinh tuyền thánh vẹn”!); thợ sắp chữ có thể sắp sai những chữ, câu, đoạn nhất định mà thợ sửa in không phát hiện ra nên đã không sửa trên khuôn in; nhân viên đánh máy cũng có thể vô tình phạm những lỗi tương tự thợ sắp chữ; trên máy in thủ công và bán thủ công còn xảy ra việc chữ rơi khỏi khuôn in, đôi khi thợ trực máy in sẽ cứu nguy bằng cách vuốt trở lại những con chữ nhảy ra ngoài ấy trở vào khuôn, nhưng chưa chắc nó đã về đúng chỗ cũ mà có thể lại nhập vào dòng khác, tạo ra những sai biệt độc đáo trên trang sách in ra…

Vậy là nếu ở thời đại chỉ có thể truyền bản các tác phẩm bằng cách chép tay đã tiềm ẩn nguy cơ tạo dị bản, từng được tổng kết là “tam sao thất bản”, thì sang các thời đại nhân bản bằng in khắc ván, in máy, tác phẩm được nhân bản cũng vẫn đứng trước nguy cơ có thêm dị bản như xưa, không thể tránh được. Sản phẩm in là sản phẩm của con người, nó tùy thuộc hàng loạt nhân tố con người, như ta vừa thử hình dung.

Xin nêu một dẫn chứng dị bản “sai”, xuất hiện hồi 1976, chứ nếu xuất hiện bây giờ, chắc sẽ “vỡ chợ” văn!

Đọc vào truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, in trong tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” của Nxb. Tác Phẩm Mới (1976), thấy câu này về lai lịch chị Đào:

… được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng, khi ngược Lào Cai buôn gà vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn…”   (“33 truyện ngắn chọn lọc, Nxb. TPM., 1976, tr. 199)

Đang mạch văn kể lể từa tựa giọng thổ lộ tâm tư giữa đám đàn bà xứ Bắc, nhưng sao lại có sự việc “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng”?  Tra lại mấy cuốn khác nhau có in truyện này mới vỡ lẽ, chỗ ấy đúng ra là “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy muồng”! Muồng, có lẽ là tên một thứ cây lá hay hoa quả, tóm lại là tên mặt hàng. Chị này đi làm nghề buôn mà lại! Thế mà in lầm ra “lấy chồng”, rõ thật tai hại. Mà cái sai này, tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” (Nxb. Tác Phẩm Mới, 1976) chỉ tiếp tục cái sai đã có từ một tập sách khác, chứ không phải sách này là nơi phát sinh chữ sai ấy!

Công bằng mà nói, ở thời dùng máy in với các khuôn chữ chì, các công đoạn làm việc được phân định rất tách bạch; do vậy sách báo in sai khá ít; sách in ra thường có bản đính chính các lỗi in sai dán kèm, tức là nhà xuất bản thường cho nhân viên đọc lại ngay sau khi sách in xong, rồi đưa ra những “tờ rơi” đính chính cần thiết.

Sách in sai nhiều nhất, theo tôi, là hồi ta chuyển từ kiểu in sắp chữ chì sang kiểu làm chế bản trang in trên máy vi tính; tức là những năm 1990s. Nhân viên đánh máy chế bản lúc ấy chưa biết cách làm chủ các kỹ thuật trên computer nên gây ra lỗi sai đầy rẫy; nhiều khi cả người sửa in lẫn biên tập viên đều ghi rõ yêu cầu sửa lên các bản “bông”, nhưng các lỗi sai vẫn rất nhiều, chủ yếu do nhân viên đánh máy chưa làm chủ kỹ thuật chỉnh sửa, định dạng đúng cho các trang sách sẽ in. Một số bạn thân quen trong giới với tôi hồi ấy thường nhận xét với nhau: các bộ “tuyển”, bộ “tổng” dày trang, nhiều tập, làm trong những năm này, có một nét chung: văn bản trong đó không đủ độ tin cậy để ta sử dụng!

Dăm bảy năm gần lại đây, nghề sách có những tiến triển thấy rõ, nhất là về kỹ nghệ in ấn. Song tình trạng lỗi in sai vẫn còn khá trầm trọng. Có những nguyên nhân thuộc về thương mại, khi người buôn bán sách không còn trực tiếp gắn với việc sản xuất sách nữa, người ta chỉ lo mấy yếu tố bề ngoài, cái bìa, bố cục chung, loại giấy in, v.v., còn nội dung chữ nghĩa thì khoán trắng cho một vài đầu mối vốn tương đối yếu về năng lực thẩm định chất lượng. Lại có những nguyên nhân thuộc về tầm hiểu biết chung quá hạn hẹp của những nhân viên tham gia các công đoạn làm sách. Tất nhiên trong nghề sách cũng đang diễn ra sự phân hóa về đẳng cấp; ta nên trông đợi những nhân tố ưu tú vượt lên.

Liên quan đến những phàn nàn trong dư luận về lỗi in sai, tôi không cổ động cung cách “quân phiệt” là xử phạt; tôi cho là cần tăng cường phê bình chất lượng sách, tăng cường phản hồi của bạn đọc, nhất là xung quanh những lỗi in. Điều căn bản hơn là nên khuyến khích người làm xuất bản, khi tái bản tác phẩm, học lấy cách tìm tới những sản phẩm in uy tín trước kia, học lấy sự kỹ tính khi lựa chọn bản cũ để in lại; cũng nên nhắc họ nghiêm khắc hơn đối với đám nhân viên mới dự vào nghề làm sách, đừng chấp nhận lối ỷ vào quê quán để đưa những sai lệch ngữ âm vùng miền, những lối nói sai nói ngọng vào sách báo in. Cũng nên nhắc lại rằng: Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải được đặt trong mục tiêu đưa lại cho công chúng một văn bản gần nhất với văn bản của tác giả; xin chớ nệ vào những toan tính “sửa thế này sẽ hay hơn” để làm lệch khỏi văn bản của tác giả.

Song song với các nỗ lực trong giới xuất bản, thì các giới nghiên cứu phê bình cũng nên dành thời gian và nỗ lực cho góc tiếp cận văn bản học. Trước hết, các tác phẩm chữ Việt đã đạt được sự công nhận ở mức nào đó của công chúng (qua các chỉ số xã hội học như số lần in, số bản in, hoặc sự đánh giá của giới phê bình) thì cần được khảo sát về mặt văn bản. Phải thấy, tình trạng một loạt tác phẩm xuất hiện từ những năm 1930s, được công chúng nhớ tên, mà cho đến nay vẫn chưa được khảo sát tình trạng văn bản qua các lần in khác nhau, — là điều khó có thể chấp nhận. Giới nghiên cứu các ngành xã hội-nhân văn trong nước hiện giờ không đến nỗi quá ít oi về nhân sự để không thể đào tạo lấy một số chuyên gia có năng lực giải quyết các vấn đề văn bản học. Ta đã có một số chuyên gia có uy tín về văn bản học Hán-Nôm; bây giờ cần có thêm những chuyên gia lành nghề về văn bản học chữ Quốc ngữ (= chữ Việt).

Chỉ các kết quả những khảo sát văn bản học cụ thể, đối với từng tác phẩm, mới cho phép hình dung tiến triển về văn bản của mỗi tác phẩm khi được truyền bản ở các lần in sau, qua đó có thể thấy ít nhiều diễn biến về thị hiếu, về ngôn ngữ xã hội, tâm lý xã hội, v.v.

Nếu trong một tác phẩm qua các lần in sau xuất hiện những dị bản trái với lối viết ban đầu của tác giả thì có thể coi dị bản là quá trình làm sai khác văn bản tác giả.

Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải nhằm đưa lại cho công chúng văn bản gần nhất với văn bản của tác giả.

Trong nghiên cứu phê bình, đôi khi ta còn có thể đọc ra những xu thế, xu hướng văn hóa xã hội khác nhau hiển thị ở lịch trình làm lệch đi, sai khác đi đối với văn bản ban đầu một tác phẩm.

16/7/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN

 

PHAN KHÔI VÀ NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN VỀ “TRUYỆN KIỀU” NHỮNG NĂM 1920-1930

 

Lại Nguyên Ân

 

Những năm 1920-1930, trên báo chí ở ba miền Việt Nam đã nổ ra khá nhiều cuộc tranh luận xung quanh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Một số công trình nghiên cứu và tư liệu nhiều năm qua đã đề cập đến những tranh luận ấy. (1) Tuy vậy, một phần do quan điểm nghiên cứu, một phần do những thiếu hụt đáng kể về nguồn tài liệu, không ít dữ kiện đã bị bỏ sót, sự đánh giá không hiếm khi bị thiên lệch.

Một điều dễ thấy nhất là, hầu như chưa công trình nghiên cứu nào ghi nhận đầy đủ vai trò học giả-nhà báo Phan Khôi (1887-1959) trong những cuộc tranh luận ấy.

Người viết những dòng này, từ năm 2000 đến nay đã giành thời gian tìm hiểu và sưu tầm để tái công bố một cách hệ thống các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, (2) nhận thấy rằng, Phan Khôi đã có vai trò rất đáng kể trong các cuộc tranh luận kể trên.

Dưới đây xin điểm lại những cuộc thảo luận, tranh luận ấy.

Vào năm 1924, Hội Khai trí tiến đức (thành lập 2/5/1919, tên tiếng Pháp:  Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, viết tắt AFIMA, một hiệp hội dân sự, thành viên là những trí thức, quan chức người Việt, và cả một số người Pháp; hội nhằm tới những hoạt động giao lưu văn hóa giữa xu hướng Tây học đang mạnh lên và nền học thuật truyền thống Việt Nam) chủ trương một lễ kỷ niệm tôn vinh thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” rất phổ cập trong cộng đồng người Việt.

Lễ kỷ niệm được tổ chức nhân ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, nhằm ngày 10 tháng 8 năm Giáp Tý (tức ngày 8/9/1924) tại hội quán Khai trí tiến đức, trên bờ hồ Gươm, Hà Nội. Tại lễ kỷ niệm này, tổng thư ký Khai trí tiến đức đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Nam phong” là Phạm Quỳnh (1892-1945) đọc diễn văn tôn vinh thiên tài Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Hiện tượng dân Việt, từ người học thức cao đến kẻ lam lũ, già trẻ lớn bé, ai ai cũng biết cũng thuộc cũng kể cũng ngâm Kiều, − được diễn giả ghi nhận như cái công “tác thành cho tiếng nước nhà” của Nguyễn Tiên Điền; từ đây diễn giả cho Truyện Kiều là “quốc hoa, quốc túy, quốc hồn” của nước Việt; “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”…

Tinh thần bài diễn văn của Phạm Quỳnh là nhất quán với chủ trương của ông và của nhiều trí thức người Việt đương thời: đặt niềm tin sự phát triển văn hóa dân tộc từ nay về sau vào văn quốc ngữ, vào chữ quốc ngữ, tuy là văn tự chỉ mới được phổ biến dăm ba chục năm, nhưng lại gắn với tiếng nói từ xa xưa đến hiện tại của người bản ngữ ở Việt Nam. Trong một ý hướng như thế, việc chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du làm điểm tựa trong truyền thống hầu như là lựa chọn tối ưu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác giả đương thời như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, v.v., vào dịp đó đều có những việc làm góp phần phổ biến Truyện Kiều, những bài viết đề cao giá trị Truyện Kiều.

Tuy nhiên, đó không phải là thái độ duy nhất trong dư luận xã hội Việt Nam, khi ấy đã là một xã hội dân sự khá phát triển; hầu hết các vấn đề văn hóa xã hội (trừ một vài đề tài chính trị quá nhạy cảm như tuyên truyền cộng sản, đả kích thực dân Pháp) đều có thể được đưa ra tranh cãi, các ý kiến khác nhau đều có thể được bày tỏ, với diễn đàn là các cơ quan báo chí khác nhau, phần lớn là của các nhóm tư nhân, dân sự.

Chính trong không khí ấy đã xuất hiện bài báo tỏ rõ một thái độ ngược hẳn lại với loại thái độ kể trên. Ấy là bài viết của Tiến sĩ Nho học Ngô Đức Kế (1878-1929) nhan đề “Luận về chính học cùng tà thuyết. Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” (“Hữu thanh”, H., s. 21, ngày 1/9/1924; bán nguyệt san “Hữu thanh”, 1921-24, là cơ quan của Hội ái hữu công thương Bắc Kỳ, lúc này do Ngô Đức Kế làm chủ bút).

Phương pháp luận then chốt của tác giả Ngô Đức Kế là đem nhuộm màu chính/tà cho hoạt động học thuật mỗi thời đại; “hễ nước nào khi vận nước thịnh cường tất khi ấy trong nước chính học sáng rệt; nước nào khi vận suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành”. Vận dụng vào xã hội Việt Nam, Ngô Đức Kế cho rằng đến lúc này người Việt vẫn còn chưa nắm vững được nền “Âu học”, trong khi những “chân nho chính sĩ Hán học thì đã quá nửa mòn mỏi điêu linh”, tóm lại nền “chính học” đang sa sút, – đó chính là cơ hội cho “tà thuyết” lưu hành, mà việc đề cao Truyện Kiều, theo ông, chính là biểu hiện rõ rệt nhất!

Ngô Đức Kế hoài nghi giá trị bản “Kim Vân Kiều” gốc Trung Hoa, cho rằng ngay đặt nhan đề truyện đã không ổn, “càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một một anh Tàu dốt nào đó mà thôi”; còn “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du, ông Nghè Ngô công nhận đó là áng văn chương quốc âm “hay thật”, nhưng ông không quên nhắc: đó chỉ là một truyện phong tình, không thể tránh khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, tóm lại chỉ là thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời “chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học mà đem ra dạy đời được đâu”! Tất cả những sự trân trọng, tôn vinh mà Phạm Quỳnh giành cho Truyện Kiều ở lễ kỷ niệm tại Khai trí tiến đức, dưới mắt Ngô Đức Kế đều là tà thuyết “xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng”, mê hoặc dân chúng!

          Việc Ngô Đức Kế lên tiếng hạ thấp giá trị Truyện Kiều không chỉ có căn cứ từ quan niệm nhà nho, đề cao văn chương đạo lý, hạ thấp văn chương ngâm vịnh chơi bời; phát ngôn của Ngô Đức Kế chống phong trào sùng bái Truyện Kiều còn bộc lộ một tương quan đối nghịch giữa hai bộ phận kẻ sĩ trí thức người Việt đương thời, một bộ phận hợp tác với chính quyền thực dân, một bộ phận khác thì bất hợp tác với chính quyền ấy, công kích tất cả những ai hợp tác với chính quyền thực dân, những ai tham dự các hoạt động văn hóa được chính quyền thực dân bảo trợ. Tạp chí “Nam phong” hay Hội khai trí tiến đức và các hoạt động của hội này, trong mắt những sĩ phu bất hợp tác với thực dân, đều là công cụ, đều phục vụ những mục đích của thực dân, do đó, họ đều tìm cách tẩy chay, bất hợp tác.

          Mặc dù trong tay có tạp chí “Nam phong”, nhưng Phạm Quỳnh đã im lặng trước sự đả kích của Ngô Đức Kế.

          Phan Khôi thời gian đó (1920-24) cũng đang ở Hà Nội nhưng hầu như không viết báo mà dành thời gian cộng tác với vợ chồng mục sư W.C. Cadman dịch Kinh Thánh đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt.

Mấy năm sau Phan Khôi vào Sài Gòn, cộng tác với một số tờ báo ở thành phố này, trong đó có tuần báo “Phụ nữ tân văn” (1929-1935); tại đây, ông và Đào Trinh Nhất được xem như hai người chèo lái chính cho tòa soạn tờ báo này, nhất là mấy năm đầu. Trong số rất nhiều bài báo Phan Khôi viết và đăng trên tuần báo này, có những bài ông điểm bình cuốn “Nho giáo” mới ra mắt của Trần Trọng Kim, trao đổi với tác giả chuyên khảo này về các vấn đề Nho giáo. (3) Việc Trần Trọng Kim nhã nhặn đáp lại Phan Khôi và thảo luận về các vấn đề ông nêu ra, đã khiến Phan Khôi nghĩ tới những yêu cầu thuộc phương diện “học phong sĩ tập” của giới trí thức, theo đó, các chất vấn nêu ra trước các nhận định đã có, cần phải được đáp lại, để đẩy học thuật đi tới; những kiểu im lặng trước các ý kiến chất vấn, như việc Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế hồi 1924, theo Phan Khôi, là việc không thỏa đáng, không thể chấp nhận; ông gọi đó là thói “học phiệt” (liên hệ tình trạng cát cứ của các tay “quân phiệt” trên đất Trung Hoa đương thời) và lên tiếng cảnh cáo trước dư luận (Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh: Cảnh cáo các nhà “học phiệt” // “Phụ nữ tân văn”, S.G., s. 62, ngày 24/7/1930; “Trung lập”, S.G., 26/7; 28/7; 29/7; 30/7/1930).

          Chính bài báo của Phan Khôi đã khiến ông chủ nhiệm “Nam phong” phải lên tiếng, ít ra là để giải thích lý do đã im lặng hồi 1924 trước lời phê phán của Ngô Đức Kế. Đến lượt bài trả lời này của Phạm Quỳnh lại khiến ông chủ nhiệm báo “Tiếng dân” (1927-1943) là Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) lên tiếng với lý do cần “chiêu tuyết” cho ông nghè Ngô Đức Kế vừa quá cố, vì cho rằng lời giải thích của Phạm Quỳnh có những chỗ xúc phạm ông nghè Ngô. (4) Rồi Phan Khôi cũng lên tiếng thêm mấy lần, khi thì đáp lại các ý kiến, các lập luận trong bài của Phạm Quỳnh, lúc lại góp ý với Huỳnh Thúc Kháng về những chỗ ông này hoặc thiên vị Nghè Ngô, hoặc xoi mói họ Phạm, (5) − những sự chấn chỉnh mà Phan Khôi từng cho là cần thiết trong thảo luận, tranh luận, bút chiến. (6)

          Những ý kiến và bài báo kể trên, tuy đều xa gần gắn với sự kiện tôn vinh Nguyễn Du và Truyện Kiều hồi mùa thu năm 1924 của Khai Trí tiến đức và Phạm Quỳnh, song nội dung các ý kiến ấy đã tiến triển sang nhiều hướng khác, nhiều đề tài khác, có khi không dính gì đến Truyện Kiều nữa.

          Phạm Quỳnh cho rằng đối với “một nền văn chương kiệt tác” như Truyện Kiều thì phải “đứng về phương diện văn chương mà xét”, nhưng họ Ngô hồi đó lại đứng về phương diện đạo đức, mà lại là cái đạo đức hẹp hòi, thì lập luận thiên đi, không còn là một vấn đề văn chương học thuật nữa.

          Trong khi đó, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục dùng quan niệm đạo đức để công kích việc phổ biến Truyện Kiều vào công chúng: “Sau nầy tôi xin chánh cáo cho anh em trí thứ trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải thứ sách học; mà nói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại”. Theo ông, từ khi Truyện Kiều được tán dương, − ý chỉ thời điểm 1924 với lễ kỷ niệm Nguyễn Du do hội Khai trí tiến đức tổ chức − “đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình”!

          Phan Khôi trước sau thừa nhận ý nghĩa chính đáng của việc Ngô Đức Kế nêu vấn đề “chính học – tà thuyết”, “là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập”, do vậy, Phan Khôi cũng thừa nhận sự chính đáng của việc Huỳnh Thúc Kháng lên tiếng bênh vực Ngô Đức Kế, sau khi đọc những lời Phạm Quỳnh giải thích chuyện cố ý im lặng dăm năm trước. Tuy vậy, Phan Khôi không đồng tình với việc Huỳnh Thúc Kháng mạt sát Truyện Kiều và lên án những ai tán dương Truyện Kiều.

          Phan Khôi nêu ra một tiền đề mới về quan niệm có thể dùng để xem xét vấn đề:

    “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiêu biểu rằng: Nghệ thuật vì nhân sanh (l’ art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại, nói rằng: Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’ art pour l’ art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.” (7)

          Phan Khôi viết ý kiến này vào năm 1930. Vậy những ai quan tâm khía cạnh “kỷ lục” của việc đưa các luận thuyết mới từ bên ngoài vào Việt Nam, phải chăng nên ghi nhận ông mới là người sớm nói đến các thuyết nghệ thuật vị nhân sinh và nghệ thuật vị nghệ thuật trên báo chí Việt Nam, sớm hơn hẳn những tên tuổi vẫn thường được gắn cho cái công trạng du nhập lần đầu các lý thuyết này, mặc dù họ sẽ lên tiếng muộn hơn Phan Khôi dăm bảy năm?!

          Vận dụng quan niệm lý thuyết kể trên, Phan Khôi cho rằng:

    “Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không; nếu vậy thì đáng công kích thật; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.” (7)

    Về việc Huỳnh Thúc Kháng lo sợ sự phổ biến Truyện Kiều sẽ có hại cho phong hóa, Phan Khôi xếp mối lo của họ Huỳnh vào cùng với mối lo của những nho gia Trung Hoa xưa như Hàn Dũ, Tăng Củng, “lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm”. Cái ý ấy là tốt nhưng lại không hợp trào lưu văn học của thế giới ngày nay. Tóm lại, theo Phan Khôi: “Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi”. (7)

 Việc họ Huỳnh cho rằng phong trào tán dương Truyện Kiều đã khiến nhiều lớp thanh niên vì say mê tình ái mà dứt bỏ cả nền nếp gia đình lẫn trật tự xã hội, Phan Khôi nói ông chưa dám tin. Ông đề nghị họ Huỳnh thực hiện những thống kê về tình hình tội ác trước và sau thời điểm đó thì nhận định của họ Huỳnh mới có thể tin được!

          Những biện bác như trên của Phan Khôi, tất nhiên chưa thể lay chuyển được một nhà nho thâm sâu đạo Khổng như Huỳnh Thúc Kháng. Vả chăng, đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du, đương thời những năm 1930, những người công khai tỏ rõ thái độ hạ thấp và phản đối việc phổ biến Truyện Kiều không chỉ là giới nhà nho như Huỳnh Thúc Kháng hay Võ Liêm Sơn, Nguyễn Mạnh Bổng, v.v. Dư luận công chúng xung quanh kiệt tác này của Nguyễn Du vẫn phân tán trong một phổ rộng từ thích đến không thích; không hiếm khi, sự yêu thích những vần thơ giản dị đã nhập tâm, bỗng chao đảo khi người ta bị đặt trước những câu hỏi về đạo đức nhân vật nữ chính của tác phẩm. (8)

Nhưng, khác với giới nhà nho, thế hệ nhà văn xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt và bước vào làng văn làng báo bằng văn chương quốc ngữ, sẽ ngày càng thấy gắn bó nhiều hơn với văn chương Truyện Kiều.

Lưu Trọng Lư là một trong số họ.

Năm 1933, khi Phan Khôi đang làm chủ bút tuần san “Phụ nữ thời đàm” ở Hà Nội, ông đã đăng khá nhiều cho tác giả trẻ Lưu Trọng Lư, bên cạnh sáng tác văn thơ, còn có cả thiên tiểu luận “Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều” (“Phụ nữ thời đàm”, H., s. 13, ngày 10/12/1933), công kích thái độ của Huỳnh Thúc Kháng trong chùm thơ “Vịnh Kiều” (“Tiếng dân”, 1/11/1933). Điều làm Lưu Trọng Lư ngạc nhiên là cuộc đời chí sĩ họ Huỳnh gian lao không kém cuộc đời cô Kiều trong truyện, thế mà họ Huỳnh lại là người sỉ mắng nữ nhân vật kia tàn nhẫn hơn ai hết! Điểm qua cuộc đời Kiều như một nhân vật sống thật, Lưu Trọng Lư như là muốn gửi lời khuyên can tới nho sĩ họ Huỳnh: “Nói tóm lại, muốn xét thân thế Kiều, chớ đứng hẳn trong những lễ giáo nghiêm ngặt chật hẹp của nho giáo…”.

Lời phê bình của Lưu Trọng Lư được chủ nhiệm “Tiếng dân” đáp lại bằng một nụ cười: đối với ông, đây chẳng qua là cơn mê của người mê tiểu thuyết, tựa như kiểu người mê tuồng hát, thế thôi. (“Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát”. Thuyết chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều của ông Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép đóng vai Tần Cối. // “Tiếng dân”, 24/1/1934).

Nhưng Phan Khôi thì nghĩ khác.

Gần như ngay sau khi cho đăng bài của Lưu Trọng Lư, chủ bút Phan Khôi đưa đăng tiếp bài của chính mình (“Rìu búa của nhà nho” // Phụ nữ thời đàm, H., s. 17, ngày 7/1/1934). Ông cho rằng việc “chiêu tuyết” hay là phê bình nhân vật trong truyện chỉ là thủ thuật “giá đó mà đánh chỗ khác”; chỗ khác ấy, theo ông, Lưu Trọng Lư nhắm vào cái tâm thuật, cái tâm địa của cả một giới người mà họ Huỳnh chỉ là một. Những sự “tàn nhẫn” thể hiện trong thơ vịnh Kiều của họ Huỳnh, được Lưu Trọng Lư nhận định: “Cái lòng người ta có là sắt đá lắm mới thở ra cái giọng tàn nhẫn như thế được…”, và: “Chỉ có những người nhác nhớn, buồn rầu, bi quan mới hay ghen ghét quạu quọ…” – Nhận định này, Phan Khôi cho rằng họ Lưu nhắm vào giới nhà nho. Phan Khôi đồng tình với ý kiến này. Bài của ông sẽ phát triển nhận định ấy.

Tất nhiên là điều này đã ít nhiều đi ra ngoài giới hạn của việc bình luận Truyện Kiều, nhưng lại là việc truy tìm cái căn cứ, cái cơ sở của việc, một bộ phận nhà nho, nối tiếp nhau, muốn phủ định giá trị của kiệt tác này, muốn dứt bỏ nó khỏi sự đọc sự biết của công chúng.

Phan Khôi vạch rõ: từ xưa giới nhà nho đã xem việc Khổng Tử làm kinh Xuân thu như là việc thưởng phạt, “bao phong người hoặc tru lục người”, “dùng một chữ mà nhấc một ông quan nhỏ lên, cũng dùng một chữ mà hạ một ông vua chư hầu xuống”, nhân danh “phù trì cương thường luân lý, bồi thực thế đạo nhân tâm”; nói khác đi, là diễn ngôn quyền lực được trao cho giới nhà nho, do hệ quả của việc tầng lớp quân chủ chuyên chế đã lấy nho giáo làm quốc giáo, dùng dư luận của giới nho sĩ làm công cụ hỗ trợ cho nền “đức trị” của vua chúa. Phan Khôi nêu ra những sự việc giới nho sĩ các đời sau, theo gương Khổng Tử, dùng khen chê để thưởng phạt, nhưng nhà nho không bao giờ khen ai, chỉ có trách phạt thôi, mà ví dụ sớm nhất là việc Mạnh Tử công kích thuyết “vị ngã” của Dương Chu là “vô quân”, thuyết “kiêm ái” của Mặc Địch là “vô phụ”, xóa bỏ được ảnh hưởng của hai thuyết ấy, bảo vệ sự độc tôn Nho giáo. Sau này, Hàn Dũ thời Đường đòi đốt sách Phật, bắt thầy tu trở về làm dân, rồi các nho sĩ thời Tống tiếp tục công việc “tịch Phật, bài Lão”, tuy không có hiệu quả gì, nhưng vẫn được giới nho sĩ tôn sùng là có công “vệ đạo”.

“Tôi đã kể qua những cái sử tích trên đó để cho biết rằng nhà nho từ Mạnh Tử về sau ai nấy đều có một cái tâm lý chung là: Không dung nạp kẻ khác với mình.  Việc họ làm có giống với đức Khổng chăng thì không biết; duy người nào đã làm cái việc như thế thì cũng vin lấy đức Khổng, mượn bửu bối của kinh Xuân thu. Kỳ thực thì cái áo hoa cổn ngài dùng để đôi khi ban thưởng cho người đời, họ đành bỏ mốc meo ra, mà chỉ chăm một sự dùng rìu búa để chặt người này, bổ trên đầu người khác. Cái tâm lý ấy thấm mỗi ngày một sâu vào đầu kẻ học, tự nhiên luyện nên cái tánh hay gây, hay đỗ cáu, không chịu “hẩu” với đời. Người ta ở đời, có thể sống một trăm cách, một nghìn cách khác nhau; nhưng theo ý nhà nho, chỉ muốn ai ai cũng sống một cách như mình. Không cần xét đến lý, cứ hễ ai sống khác mình thì ấy là dị đoan, là tà thuyết, là dâm hạnh, tương rìu búa ra mà trị nó chết đi cho rảnh! Dương, Mặc, Phật, Lão, có phải là rắn rết hại người đâu, chỉ là một cách sống, có điều sống khác với nhà nho, thế thôi, có việc gì mà phải cự, phải tịch? Cũng như nàng Kiều, một người con gái lỡ bước, có việc gì mà phải mắng? Có phải chăng, cự Dương, Mặc, tịch Phật, Lão thì mình mới trở nên á thánh đại nho, và mắng Thúy Kiều thì mới tỏ ra mình là chánh nhân quân tử?”

Vậy là rốt cuộc, Phan Khôi đã tìm ra cái cơ sở tư tưởng tâm lý của giới nhà nho trong hành động của họ công kích Truyện Kiều và những ai cổ xúy phổ biến Truyện Kiều; để bảo vệ sự độc tôn ý thức hệ nho giáo, họ cự tuyệt, hết sức công kích mọi tư tưởng, mọi lối sống khác. Ngay khi Nho giáo đã suy tàn, nhà nho vẫn cố chấp, thu mình lại trước mọi đổi thay. Họ vẫn chủ “kính”, chủ “tịnh”, quá mực thước, không thích vui mà cũng không muốn cho ai vui; họ phản đối hát bội, hát cô đầu, xi-nê-ma, nhảy đầm; kiểu người quay lưng với sự sống như vậy “thì cái lòng yêu đời phải càng ngày càng kém đi, gìn lòng thì sắt đá mà mở miệng ra thì tàn nhẫn”!

***

Như vậy, bằng một loạt bài báo, trong khoảng 4 năm (1930-1934), Phan Khôi đã can dự những tranh luận xung quanh di sản Truyện Kiều theo hướng “giải hoặc” đối với luận đề về “chính học/tà thuyết” của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và một bộ phận nhà nho còn quá gắn bó với các giáo điều đạo Khổng. Phan Khôi cảm thông với các nhà nho này về tình trạng nền học vấn mới còn yếu, nền học vấn cũ – Hán học – đã tàn, song ông không xem những hiện tượng như tôn vinh Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều là “tà thuyết” như các nhà nho ấy lo ngại và công kích. Trước những phản bác rất dai dẳng của phía bảo thủ (mà tiêu biểu là các bài luận và thơ vịnh của Huỳnh Thúc Kháng), Phan Khôi đã đưa ra những phúc đáp thực tế, có sức nặng; cuối cùng, ông đưa ra sự cắt nghĩa nguồn gốc những phản đối dai dẳng từ phía giới nhà nho đối với Truyện Kiều và việc phổ biến Truyện Kiều, – ấy là di sản của tình trạng độc tôn ý thức hệ nho giáo, chính ý thức hệ ấy đã cấp cho nhà nho cái vũ khí để họ vô hiệu hóa tất cả những gì khác với tôn chỉ nho gia, ngay khi nho giáo đã lỗi thời cũng vẫn cố chấp quay lưng với thực tế, với mọi sắc thái mới của đời sống. Việc “giải hoặc” này vốn được Phan Khôi thực hiện đối với toàn bộ di sản Nho giáo nói chung, suốt những năm 1930-40, chứ không chỉ với những tranh luận về Truyện Kiều.

Riêng về kiệt tác này của Nguyễn Du, nếu ta có dịp đọc tạp văn Phan Khôi, ta sẽ thấy ông luôn luôn coi Truyện Kiều như một tập đại thành của văn hóa người Việt, của ngôn ngữ Việt, ông thường xuyên dẫn trích tác phẩm này như một nguồn văn, nguồn di sản không gì thay thế được đối với người viết văn tiếng Việt. Nhưng đây là chuyện đã xa so với đề tài đang bàn.

28/6/2015

Chú thích

(1) Ví dụ:

Vũ Đức Phúc (1971): Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, 1930-1954. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr. 19-41;

Thanh Lãng (1972-73): Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn: Phong trào văn hóa xb., t.1- t.2;

 Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan (2002): Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. [thư mục, văn tuyển]. Hà Nội: Nxb. Lao động, t. I, tr. 371-891.

(2) Các sưu tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo [= PK, TPĐB] do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn đã tái công bố gồm:

PK, TPĐB 1928 (Nxb. Đà Nẵng, 2003, 444 tr.);

PK, TPĐB 1929 (Nxb. Đà Nẵng- TT.VH-NN Đông Tây, Hà Nội, 2005, 780 tr.);

PK, TPĐB 1930 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1024 tr.);

PK, TPĐB 1931 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1032 tr.);

Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 530 tr.);

PK, TPĐB 1932 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, 896 tr., tái bản 2014);

PK, TPĐB 1933-1934 (Nxb. Tri thức, 2013, 575 tr.);

PK, TPĐB 1935 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2013, 463 tr.);

PK, TPĐB 1936 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 600 tr.);

PK, TPĐB 1937 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 356 tr);

(3) Các bài thảo luận giữa Phan Khôi và Trần Trọng Kim gồm: 1/ Phan Khôi: Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 54 (29/5/1930); 2/ Trần Trọng Kim: Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 60 (10/7/1930); 3/ Phan Khôi: Về bài phê bình sách “Nho giáo” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 63 (31/7/1930), s. 64 (7/8/1930); 4/ Trần Trọng Kim: Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 71 (25/9/1930), s. 72 (2/10/1930), s. 74 (16/10/1930).  

(4) Gồm các bài chính: 1/ Phạm Quỳnh: Trả lời bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 67 (28/8/1930); 2/ Huỳnh Thúc Kháng: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời // Tiếng dân, Huế, s. 317 (17/9/1930); Phụ nữ tân văn, S.G., s. 72 (2/10/1930); 3/ Huỳnh Thúc Kháng: Biện chánh lại mấy lời phê bình của ông Phan Khôi // Tiếng dân, Huế, s…. (18/10/1930); đăng lại: Trung lập, S.G., s. 6284 (28/10/1930); s. 6285 (29/10/1930); s. 6289 (4/11/1930); s. 6291 (6/11/1930).

(5) Gồm các bài: Phan Khôi: Về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 70 (18/9/1930); Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng // Trung lập, S.G., s. 6266 (7/10/1930); s. 6267 (8/10/1930); s. 6268 (9/10/1930);

(6) Năm 1929 Phan Khôi có bài Bàn thêm về bút chiến, không ký tên tác giả, đăng 4 kỳ báo Thần chung, từ s. 106 (28/5/1929) đến s. 114 (6/6/1929).    

(7) Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, kỳ III // Trung lập, S.G., s. 6268 (9/10/1930)

(8) Xem các bài trả lời tòa soạn “Phụ nữ tân văn” (thời kỳ đầu, 1929) về câu hỏi “Kiều nên khen hay nên chê?”, có thể thấy sự khác biệt đáng kể giữa các ý kiến người đọc tham gia.

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY

VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU

Nhân đọc lại báo “Tiếng dân” (Huế, 1927-1943) để tìm một vài tài liệu, tôi thấy có bài sau đây, nói về việc cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn (1866-1923) bình phẩm Truyện Kiều.

Sáng tác và trứ thuật của cụ Thai Sơn mới chỉ được thấy trích trong cuốn “Thi tù tùng thoại” (1939) của Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, hoặc “Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX”  (1961) của Đặng Thai Mai (học giả Đặng Thai Mai chính là con trai cụ Thai Sơn).

Điều hơi ngạc nhiên là thời gian trước đây, dù giới nghiên cứu đã chú ý khảo sát lịch sử việc biên khảo và bình luận Truyện Kiều, song tài liệu này vẫn chưa hề được tìm ra và ghi nhận.

Bài này không phải do đích thân cụ Thai Sơn viết ra, chỉ là do một học trò của cụ là Tùng Ngư (đây là tự hoặc hiệu, chưa rõ họ tên thật) hỏi chuyện cụ, nghe cụ giảng giải thuyết minh rồi về nhà nhớ ra mà ghi lại. Tuy vậy, có thể tin rằng bài này đã ghi được một số nét thuộc quan niệm của cụ Thai Sơn về Truyện Kiều. Nếu các nhà nho ở ta xưa thường hay bàn về phương diện thơ ca của tác phẩm Truyện Kiều, thì trong buổi trò chuyện với anh học trò đã thuộc về thời đại chữ quốc ngữ này, cụ Thai Sơn lại đề cập một phương diện mà thường khi không phải sở trường nhà nho, − phương diện nghệ thuật tự sự. Cụ gọi là “văn pháp” Truyện Kiều, phiên sang hệ thuật ngữ hiện đại, có lẽ cần phải gọi là “thi pháp” hoặc “nghệ thuật” Truyện Kiều. Thiết nghĩ, những điều cụ Thai Sơn nhận xét về “văn pháp” (hay là nghệ thuật) Truyện Kiều, trong tài liệu này, đương nhiên không còn gì mới so với các quan niệm nghiên cứu của tự sự học ngày nay, song chính những luận bàn của cụ, do một học trò cụ ghi lại, cách nay 80 năm, lại cho thấy điều người ta ít biết, ít có tài liệu, ấy là quan niệm về văn tự sự ở giới nhà nho, thông qua một trong những nhà nho được xem là uyên bác và rất có ảnh hưởng trong giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX.

Để hoàn thành bản đánh máy tài liệu đăng báo này, nhất là các đoạn có chữ Hán, tôi đã được sự giúp đỡ của GS. Trần Đình Sử, của TS. Phạm Văn Ánh. Nhân đây xin tỏ lời cảm ơn.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

5/7/2015

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

 

VĂN PHÁP TRUYỆN KIỀU

TRONG CON MẮT CỤ THAI SƠN ĐẶNG NGUYÊN CẨN

 

Lâu nay kể chuyện mấy nhà tiên thời nhân vật thường hay nhắc đến các cụ Tập Xuyên, Mai Sơn, Hải Ngư, v.v. mà có một nhân vật rất quan hệ rất ảnh hưởng trong khoảng tân cựu giao thời, bạn thiết với cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ, không chỉ là bạn, tự hai cụ Phan còn xem như bậc thầy, mà ít kẻ thuật đến.

Ấy là cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn.

Cụ Thai Sơn, một nhà lão học trứ danh đất Nghệ, đỗ Phó bảng năm 1895 (Ất Vị), làm quan đến Đốc học Nghệ, đổi vào Bình Thuận. Năm 1908, cuộc dân biến, vì học trò cụ nhiều người cổ động tân học và có người em xuất dương nên cụ bị đày ra Côn Lôn; năm 1921 được tha về, vài năm sau thì cụ mất.

Đời cụ, nói Hán học thì uyên bác lão luyện, mà nói tân học thì mở mang phong khí lúc đầu tiên, nhứt là truyền bá học thuyết Khương, Lương cùng cách giáo dục Phúc-trạch Dụ-cát của người Nhật, thì cụ có công rất nhiều. Trong đám Hán học mà có tân tư tưởng, tưởng không ai không biết đến cụ.

Văn chữ Hán cụ có lưu truyền nhiều, điển nhã thâm thúy, thoát hẳn lối sáo thường, mà văn quốc ngữ cũng già dặn.

Đây có một bài của một người bạn, học trò cụ ở Nghệ gởi vào, thuật lời phê bình của cụ về Truyện Kiều, về mặt văn pháp rất là rành mạch, rõ là có con mắt xem văn đặc biệt khác với bao nhiêu nhà phê bình nhảm mà chúng ta thường thấy lâu nay. Dưới nầy là bức thư của người bạn.

TIẾNG DÂN [1*]

Thưa quý Báo,

Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sản ở đất Nghệ chúng tôi, phần đông độc giả trong tỉnh nhiều người thuộc và thích đọc. Thích, không phải sùng bái con đĩ Kiều, mà chính mê văn của cụ Nguyễn Du.

          Chính ký giả thuở 15 tuổi đã thuộc cả toàn bộ, dầu là trong có lắm điển sách Tàu mà tự mình không hiểu.

          Một điều in sâu vào não ký giả là ngày theo học với cụ Thai Sơn, từ lúc cụ làm giáo thọ phủ Hưng Nguyên cho đến ngày làm Đốc học tỉnh Nghệ, đã 4 – 5 năm, nào Hán học, nào tân học, cụ thường giảng luôn mà không nghe khi nào cụ nói đến Truyện Kiều. Ký giả nghi cụ là một người cang giới nghiêm chỉnh, không thích lối văn phong tình chăng, nên không khi nào dám giở truyện ấy ra hỏi cụ điều gì.

          Năm 1921, cụ ở Côn Lôn về, ký giả thường lại hầu chuyện. Nhân lúc ấy ngoài Bắc có phong triều kỷ niệm Truyện Kiều, tán dương Truyện Kiều một cách rất bồng bột, ký giả nhân hỏi cụ đối với văn Truyện Kiều thế nào. Khi ấy cụ mới giảng cho một bài học về văn pháp rất là rành mạch. Ký giả mới biết: Riêng về một nghề văn chương, chỉ những người đã đào luyện tinh thâm, trải mùi cay đắng trong nghề ấy mới hiểu được chỗ dụng ý sâu sắc của tác giả; còn những kẻ thấy đâu nói đó, toàn không căn để, gọi là phê bình, không khác chi là gãi ngứa ngoài giày vậy.

          Một tòa kiến trúc rất công phu và tài tình, ở trong chứa những giống gì mặc dầu, cái công và cái khéo của tay kiến trúc kia, chúng ta không đáng để mai một. Cụ Tập Xuyên trước có bài bác Truyện Kiều, cho là không phải chính học, chẳng qua vì phản niệm đối với kẻ “không biết xem văn, chỉ tán con đĩ Kiều” mà có lời quá khích ấy.

          Dưới nầy tôi xin thuật lời phê bình văn pháp Truyện Kiều của cụ Thai Sơn, một là phát xiển chỗ khổ tâm của soạn giả Truyện Kiều, hai là biết văn pháp có nhiều lối, mở đường làm văn cho người sau.

TÙNG NGƯ

Van phap TK

THUẬT LỜI ĐÀM THOẠI CỦA CỤ THAI SƠN

          Ai đã gần gũi cụ Thai Sơn, cũng biết tính cụ rất nghiêm xẵng, trong đám học trò mà có điều sai quấy thì cụ mắng ngay giữa mặt, nhưng đến khi bình luận văn chương mà động đến chỗ hứng của cụ thì cụ kéo mấy ngàn quyển sách trong bụng ra, thôi thao thao bất tuyệt, nói nghe không chán.

          Thuật chuyện đàm thoại nầy, có một điều mà ký giả không quên được là hình vóc cụ nhỏ, má cóp, miệng lớn, trông bộ hết sức xấu, chính cụ Tập Xuyên đã có câu rất thú: “Nếu ai gặp cụ Thai Sơn mà bình nhật chưa quen biết, chắc cho là người không biết chữ nhất là một, nào ai có biết cái bụng nhỏ xép kia trong chứa vô số sách và văn!”

          Xin vào đề:

          Trước hết ký giả hỏi:

          − Thưa cụ, bình nhật, tôi học với cụ đã mấy năm, cụ giảng cổ văn tân thơ nhiều mà không nghe cụ nói đến Truyện Kiều, ý kiến cụ đối với Truyện Kiều thế nào?

          − Anh hỏi chuyện con đĩ Tàu, muốn học nó sao? − Cụ trả lời có hơi gắt.

          − Dạ không, tôi muốn nói văn Nguyễn Du, văn quốc ngữ.

          −  Quốc ngữ, anh tưởng ông Nguyễn Du cũng học quốc ngữ như anh mà viết được Truyện Kiều sao? – Cụ cũng còn hơi gắt.

− Dạ gần đây nhân phong triều học quốc ngữ, người ta phê bình, giải thích Truyện Kiều nhiều, tôi muốn biết ý cụ đối với những lối tán và phê kia thế nào?

−  Tán với phê! May nhờ ông Đinh Đào có thích điển một ít, nhưng mười phần chưa được năm, còn văn pháp thì chả ai nói đến, mà văn pháp ấy học nát sách Tàu mà chưa hiểu được, lựa là phê với tán!

Giọng nói cụ gắt mà đã hơi dịu như ngày giảng học thường.

−  Thế ra cụ thục Truyện Kiều mà bạn học trò chúng tôi không biết vì không nghe cụ nói đến.

−  Mình đây thục Truyện Kiều từ thuở 13 tuổi, đến nay không quên một câu nào, nhưng ghét người đời không biết chỗ khổ tâm của tác giả, không biết văn pháp, chỉ đọc một ít câu để ve gái, nên không khi nào nói Truyện Kiều với các anh.

− Vâng, xin cụ chỉ rõ một ít về văn pháp cho nghe.

− Văn pháp nói ra thì dài lắm, từ cách kết cấu gian giá cho đến luyện tự luyện cú, luyện cuộc, cùng thứ lớp, chiếu ứng, nói sao hiểu được, nhứt là người không hiểu văn Tàu.

− Tôi có học văn Tàu, xin cụ chỉ rõ đôi chỗ.

−  Ừ, ta chỉ nói một trương đầu cho anh nghe xem:

1/ Khởi đầu. – Một truyện gì hay là một bài trường thiên, khó nhứt là khởi đầu, như bài Bình Hoài Thai Bia, [2*] của ông Hàn Dũ, khởi đầu 7 chữ    [Thiên dĩ Đường khắc tiếu kỳ đức] người ta cho là xưa nay không mấy tay danh thủ làm được; như bài Chinh Phụ Ngâm, mở đầu 8 chữ: 風 塵 [Thiên địa phong trần hồng nhan đa truân] bao quát đại ý cả toàn bài, lực lượng biết bao!

Truyện Kiều, ông Nguyễn Du lấy bốn chữ Tài mạng tương đố mở đầu. Nhãn lực và mạng ý đã cao, gồm được tinh thần toàn thiên, đó là đại cương toàn truyện.

(Cụ có đọc cả bài thi 8 câu của Bạch Cư Dị cho nghe).

Cụ đã hơi hứng, nói tiếp:

 2/ Phản chiếu. – “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,

Bốn phương bằng lặng, hai Kinh vững vàng”,

– Anh tưởng là câu nhàn thoại sao? Câu ấy chính là phản chiếu với đoạn Từ Hải nổi giặc, đạp đổ năm tòa cõi nam, ở sau.

3/ Phc mch. – “Có nhà viên ngoại họ Vương,

Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”,

– Câu “gia tư thường thường” đó, không phải câu nói phiếm, chính là dựng cái chứng cho chuyện “không có 300 lượng bạc chuộc tội mà Kiều đến nỗi phải bán mình”. Ví như đánh cờ cao, đặt một con cờ, người ngoài xem như không ý nghĩa quan hệ gì mà kỳ thực không thiếu được, thiếu là mất chiếu ứng. (Cách này gọi là Phục mạch, cũng gọi là Trương bổn).

4/ Tá khách hình chủ. – Chủ trong truyện là Thúy Kiều, tả Kiều đẹp biết tả bao cho vừa, cái nầy trước tả chung cả Vân và Kiều gọi là “bình tả”.

“Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Một người một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Rồi tả cái đẹp con Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời,

Khuông trăng đầy đặn nét người nở nang.

Hoa cười ngọc tuyết đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Rồi chỉ hạ một câu:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn”.

Thế là cái đẹp của Vân tức là đẹp của Kiều mà Kiều lại xấp mấy nữa, rút được biết bao nhiêu cái đẹp ở ngoài ngòi bút kia. Cách nầy cũng gọi là “gia bội tả pháp”.

5/ Cân lượng từng chữ. – Tả Vân thì:

“Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

Đến tả Kiều:

“Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Trên nói “thua”, “nhượng”, sắc trung chi hiền, đến chữ “ghen” chữ “hờn” thì rõ ràng là sắc trung chi thánh; trong sắc giới mà có phân bậc thánh bậc hiền thì mấy chữ đó chính là tác giả đã khổ tâm chọn lựa, nấu nướng, un đúc để tả cho rành, không lẫn nhau.

Đó, chỉ nói mấy câu ở trương đầu Truyện Kiều anh đã thấy tay thợ của tác giả chưa? Thật con đĩ Tàu tu phúc mấy đời mới được ngọn bút lão học của ông Nguyễn Du tô vẽ, mới được truyền tụng đó, chớ bản thân con Kiều ở nước Tàu, đầu trong làng đĩ cũng không đáng nửa đồng kẽm, việc gì mà tán trinh tán hiếu? tán nhảm cả.

Nói đến đây cụ nghỉ một hồi rồi hỏi:

–  Sao? Anh nghe những câu tôi nói đó, có hiểu được văn pháp chút nào không?

–  Thưa, những câu cụ giảng đó, thật tôi mới nghe lần đầu, chỉ một trương đầu mà đã thú, ước gì được nghe cụ giảng cả toàn bộ thì quý biết bao!

–  Dài lắm, chỉ nói đại lược chỗ [chỗ này báo rách, mất 1 dòng – NST.]

6/ Chẩm phong tương đối. – Sau khi Kim Trọng, Túy Kiều gặp nhau, tựu trong tâm tưởng Kiều mà tả Kim Trọng:

“Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên gì hay không”

Thì bên kia, tựu trong tâm tưởng Kim Trọng mà tả Kiều:

“Ví chăng duyên nợ ba sinh,

Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.”

Hai bên gặp nhau không nói một lời, chỉ sự ao ước nồng nàn trong tim đen, mà ngòi bút nhà văn tả thấu chỗ tâm sự kín của hai bên đối nhau, rõ là “một mũi kim thấy huyết”.

7/ Tằng thứ phân minh. – Làm văn cần nhứt là có tầng thứ, do cạn vào sâu, do gần đến xa. Nếu tằng thứ lộn xộn là mất hẳn cách kiết cấu và lòi những điều vô ý thức ra, như: đồng là tả tâm sự Túy Kiều nhớ nhà trong khi lưu lạc quê người mà tả có thứ lớp:

a/ Trước hết, ở lầu Ngưng Bích:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rầy trông mai chờ,

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Xót người dựa cửa hôm mai,

Quạt nồng đắp lạnh những ai đó giờ.

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”

Đấy là lần đầu, tình nặng hơn lý nên nhớ Kim Trọng trước mà nhớ cha mẹ sau.

Van phap TK 2

b/ Lần thứ hai, khi ở lầu xanh:

“Nhớ ơn chín chữ cao sâu,

Một ngày một ngã bóng dâu tà tà.

Dặm ngàn nước biếc non xa,

Nghĩ đâu thân phận con ra thế nầy.

Sân hòe đôi chút thơ ngây,

Trân cam ai kẻ đỡ thay cho mình.

Nhớ lời nguyện ước ba sanh,

Xa xuôi ai có thấu tình chăng ai.

Khi về hỏi liễu chương đài,

Ngành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.

Tình sâu mong trả nghĩa giày,

Hoa kia đã chắp ngành nầy cho chưa.”

Đó lại nhớ cha mẹ trước mà nhớ Kim Trọng sau.

c/ Lúc đã gặp Thúc Sinh thì tình có chia ra nên chỉ nhớ nhà:

“Bóng dâu đã xế ngang đầu,

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi.

Tóc thề đã chấm quanh vai,

Nào người non nước, nào người sắt son”

d/ Lúc đã gặp Từ Hải, Hải bỏ nhà đi, tả cảnh Kiều nhớ nhà:

“Xót thay xuân cội huyên già,

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.

Chốc đà mười mấy năm trời,

Còn ra khi đã da mồi tóc sương.

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Duyên em như nối chỉ hồng,

May ra khi đã tay bồng tay mang”.

Đây lần đầu tiên chỉ nhớ suông, đến lần thứ hai mới tưởng việc em chắp duyên mình, lần sau mới tưởng tượng đến em đã có con. Còn bên cha mẹ, đầu tiên nói: “Gốc tử vừa ôm”, thứ nữa nói: “bóng dâu tà tà”, sau hết nói: “da mồi tóc sương”… chỉ trong tư tưởng mà từ cạn đến sâu, có thứ lớp, có ngăn nắp, đường đi trong óc như sợi tơ, rành mạch biết bao! Có đâu nói “hổ lốn xáo bần” như truyện văn sĩ ta thường thấy.  

8/ Sử bút, sử nhãn. – Về nhà làm sử nhứt là lấy con mắt bàng quan mà xem người xét việc, ở đời quân chủ chuyên chế, trừ nhà vua ra, ai cũng là giặc [mất 1 dòng, chừng 4-6 từ – NST.] “được vua thua giặc” đó in sâu vào não nhà làm sử. Xưa nay duy Tư-mã Thiên là có con mắt đặc biệt: Trần Thiệp là một tên dân xâu khởi binh đánh Tần Thỉ Hoàng, Tư-mã Thiên không gọi là giặc, mà nêu là Trần Vương và liệt vào hàng thế gia, v.v.

Về đoạn trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng học bút pháp Tư-mã Thiên, không chỉ không gọi Từ Hải là giặc, lại tả rõ một tay anh hùng, như:

“Đội trời đạp đất ở đời,

Họ Từ tên Hải, vốn người Việt-đông,

Giang hồ quen thói vẫy vùng,

Đờn gươm nửa gánh, giang sơn một chèo”…

“Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những đồ giá áo túi cơm sá gì…

Đục trời khuấy nước mặc dầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.”

Ai đọc đoạn nầy cũng sinh lòng khẳng khái. Nhứt là chỗ tả Hồ-tôn Hiến với Từ Hải, hai bên cầm ngang nhau: bên nầy gọi “Hồ công” thì bên kia cũng gọi “Từ công”, xem bình đẳng nhau, không có ý nâng cao bên nầy đè thấp bên kia như các nhà sử “a dua” kia. Mà theo văn tả đó thì Từ Hải cử chỉ quang minh lội lạc, khi làm giặc thì làm giặc, mà khi hàng thì hàng, còn bên Hồ-tôn Hiến làm việc ám muội phỉnh lừa, giết một anh tướng đã về đầu hàng, đê tiện biết bao!

Nói dài hơi mệt, cụ uống chén nước, hút điếu thuốc lá (cụ không hút thuốc lào, khác thói quen các quan Nghệ) rồi tiếp:

–  Thôi, nói nấy đã nhiều, nay nói đoạn kiết truyện cho anh nghe.

–  Xin cụ dạy.

–  Theo thực tế thì phần con Kiều đến “nhảy sông Tiền-đường” là hết, mà bên Kim Trọng đi tìm cũng đến đó là rồi chuyện, nên văn Truyện Kiều cũng có ý vị đến đoạn ấy thôi. Còn đoạn sau, nào Giác Duyên vớt Kiều, nào Kim Trọng gặp Kiều, chỉ là theo lối sáo nhà tiểu thuyết xưa, mượn cớ “báo ứng” để khuyên răn đời, đoạn ấy rõ là “vẽ rắn thêm chưn” nên tự nhà thức giả cho đoạn văn sau là “không mùi” (vị sách, ). Mà người sau thêu thùa phụ họa, nào “phật lý”, nào “tu”, nào “phúc”, đều là thừa cả. Vậy nói “kiết truyện” mình chỉ nói đến chỗ Kim Trọng biết Kiều chết ở Tiền-đường, không nói đoạn sau.

Trước kia mình nói một bộ truyện khởi đầu khó, mà kiết sau cũng không dễ: đoạn kiết văn Kiều, ông Nguyễn Du đã khéo dùng các lối văn.

–  Thế nào? cụ chỉ rõ cho.

–  Anh phải biết làm văn kỵ nhứt là một ngòi bút thẳng đơ    (nhất bút trực hạ) không có hồi co lại, như giòng nước chảy xuôi, mà hồi co lại lại kỵ “nói lặp”. Nên kiết một bài đại luận có đủ mấy lối:

a/ Mau lẹ như luồng gió cuốn mo nang   (tật phong quyển thác)

b/ Khúc chiết như sông Hoàng Hà trăm dặm, một đoạn quanh nhỏ, ngàn dặm một đoạn quanh lớn  ,     [Bách lý nhất tiểu khúc, thiên lý nhất đại khúc]

c/ Triền miên. – Lời ít mà ý nhiều, khiến người đọc như ăn mía, càng nhai càng nghe mùi ngon, cứ dẫn tới mãi.

d/ Giáp tự giáp nghĩ. – Cụ kể chuyện mà tự nhiên có lời nghị luận ở trong.

Đoạn kiết Truyện Kiều nầy, ông Nguyễn Du toàn mượn lời kẻ bàng quan để thu thúc, trước hết là lại già họ Đô. Họ Đô kể một đoạn dài gần hết ba phần đời con Kiều, toàn là chiếu ứng về mấy đoạn đã thuật trước, tuy là kể chuyện mà trong câu văn đã có lời bình phẩm.

Đến đoạn gặp Từ Hải, như [mất 2 từ – NST] thì có ý vị gì đâu, nên dứt ra một khúc, bắc cầu sang Thúc Sanh.

Thúc Sanh kể thêm một đoạn đến chỗ Từ Hải gặp Kiều nói rõ hơn họ Đô một tý. Như kể ngay đến đoạn Từ chết Kiều nhảy sông… thì văn ra xuôi quá, nên lại ngừng lại một đoạn nữa, đến sau sang Hàng Châu mới biết rõ lai lịch mà câu: “Nàng đà gieo ngọc trầm châu, Sông Tiền-đường đấy là mồ Hồng nhan, Than ôi không hiệp mà tan”  ấy là hết chuyện.

Một đoạn vừa kể chuyện vừa thu thúc toàn truyện mà chia ra ba đợt, lời văn khúc chiết, càng đọc càng có vị; lối văn ấy, tác giả đã hấp thụ nhiều tinh túy văn Tàu mà có mấy kẻ để ý.

 

Những đoạn văn nồng thấu trong truyện

Đến đây, nghe cuối chuyện, ký giả bèn khêu thêm một câu hỏi nữa:

– Thưa cụ, cụ giảng văn pháp Truyện Kiều, tôi nghe rất mới. Vì lâu nay tôi thấy vô số là lời phê câu giải mà không ai nói chỗ văn pháp thâm thúy ấy. Vậy toàn cả Truyện Kiều cụ cho đoạn nào là hay hơn cả?

–  Văn hay không phải độc chiếc do sức nhà văn mà nhờ tình cảnh cùng sự cố làm nền. Người xưa nói “Văn sinh bởi tình”, nên gặp cái cảnh khác thường, gặp cái chỗ tình cảnh khó xử, cay chua đắng chát, nồng nàn đằm thắm, thì văn tả mới có hứng vị, có chí tình. Bằng chỗ bình thường thì văn cũng bình thường. Duy đã là tay thợ văn, dầu gặp chỗ thường cũng dùng cách phu diễn thêu thùa để che mắt độc giả không thấy chỗ thường đó thôi, như toàn Truyện Kiều chỉ được 4 đoạn văn nồng thấu, còn ngoài ra lối văn thêu cả.

–  Thưa 4 đoạn nào?

–  Một là lúc Kiều đã thề với Kim mà rủi gặp gia biến trao lời cho em là Túy Vân.

Hai là lúc Kim Trọng trở sang nhà Kiều mà Kiều đã bán mình.

Ba là khi mới vào lầu xanh, lấy thân khuê các mà sa vào cái hầm lửa kia.

Bốn là Từ Hải bị giết mà mình bị ép, định nhảy sông Tiền-đường. (1)

Ngoài 4 đoạn ấy là văn phu diễn tự sự, nhưng nhờ tài văn ông Nguyễn Du lưu hoạt nên không thấy chỗ dở, chớ không nơi nào nồng thấu.

***

Đấy là xong một bài giảng, ký giả từ cụ ra về, chép vào một bản riêng để học lối xem văn – không chỉ văn Kiều, văn gì cũng thế – lâu nay không nói với ai. Gần đây ký giả có gặp con cụ là ông Đặng Thai Mai, hỏi tìm thêm di trước của cụ nhưng ông nói bị đốt mất cả. Ký giả còn bản thảo nầy, xin tuyên lên báo chương để lưu một dấu tích “luận văn bình văn” của một nhà lão học tiên thời nhân vật ta.

  • Nguồn:

Tiếng dân, Huế, s. 1021 (số Tết Đinh Sửu, 9 Fevrier 1937), tr. 5, 7.

  • Chú thích:

(1) Cả 4 đoạn văn, cứ xem trong truyện, không dẫn ra đây vì dài quá. (nguyên chú của Tùng Ngư)

[1*] Lời dẫn của tòa soạn “Tiếng dân” có lẽ do Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng viết.

 [2*] Tác phẩm này của Hàn Dũ nguyên gốc chữ Hán là 平 淮 西 碑 /Bình Hoài Tây bi/, tức là bài văn bia về việc bình định Hoài Tây; chưa hiểu vì sao các cụ lại đọc là “Bình Hoài Thai Bi”, tạm đoán là do người ghi (Tùng Ngư) nghe hơi lầm (Tây nghe thành Thai) nên viết ra như vậy chăng. Đây là bài văn bia Hàn Dũ viết để ghi công lao của vua Đường Hiến Tông đã dẹp yên phiên trấn Hoài Tây. Nguyên sau vụ biến loạn An Lộc Sơn, nhà Đường suy yếu, các phiên trấn lộng quyền, không sợ Trung ương. Nhân dịp một trấn đem quân quy phục, Đường Hiến Tông sai quan đi dẹp Hoài Tây. Gọi là bình, tức bình định, nhưng do chọn tướng không tinh chiến dịch kéo dài, sau phải sai tướng khác, 4 năm sau mới dẹp xong, coi như một sự kiện lớn, sai Hàn Dũ viết văn bia. Câu mở đầu (Thiên dĩ Đường khắc tiếu kỳ đức, nghĩa là Trời lấy nhà Đường làm kẻ kế thừa đức của Trời) nói cái lý để về sau các việc dù gặp khó mà sau lại thành công. – Chú thích này là do nhà giáo Trần Đình Sử tìm và giải giúp; xin cảm ơn anh Sử.

ĐỌC LẠI THƠ HÁT NÓI CỦA ƯU THIÊN BÙI KỶ

LẠI NGUYÊN ÂN

Chúng ta biết, học giả Bùi Kỷ (biệt hiệu Ưu Thiên, 1888-1960), đã biên soạn nhiều công trình giáo khoa ngữ văn học tiếng Việt như Quốc văn cụ thể (1932), Việt Nam văn phạm bậc trung học (1940, cùng soạn với Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm), Tiểu học Việt Nam văn phạm (1945, soạn cùng Trần Trọng Kim, Nguyễn Quang Oánh), hiệu khảo văn bản nhiều tác phẩm thuộc di sản Hán Nôm Việt Nam như Truyện Thúy Kiều (1925, soạn cùng Trần Trọng Kim) và nhiều áng văn nôm khuyết danh như Trê cóc, Trinh thử, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng, v.v…,  dịch thuật nhiều tác phẩm chữ Hán của tác gia cổ trung đại Trung Quốc và Việt Nam, trong đó có Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Trần tình văn của Cao Bá Nhạ, v.v…

Bên cạnh đó, ông cũng là một ngòi bút sáng tác văn thơ, cả Hán lẫn Nôm.

Theo sách Nhà văn hiện đại (1942 – 1945) của Vũ Ngọc Phan thì Bùi Kỷ có tập bản thảo các sáng tác văn thơ nhan đề Ưu Thiên đồ mặc trong đó một số bài đã đăng báo. Nhưng rồi không thấy tác giả đưa xuất bản, có thể, vì bản thảo đã bị mất.

Thật ra, nếu tìm kỹ trong Nam Phong cũng có thể thấy được một vài bài của Ưu Thiên, đăng khoảng năm 1927.

Vừa đây, nhân đọc lại sưu tập tuần báo Nhật tân (Hà Nội, 1933-1935), tôi được thấy một loạt sáng tác Nôm (Quốc ngữ) của Ưu Thiên Bùi Kỷ. Có thể nói, từ số 65 (ra ngày 7/11/1934) trở đi, số nào ở mục “Rừng văn” của Nhật tân cũng có đăng thơ Bùi Kỷ.

Nhật tân là tuần báo của chủ nhiệm Đỗ Văn, vai trò chủ bút có lúc là Nguyễn Triệu Luật (Phất Văn nữ sĩ), hoặc Tiêu Viên (Nguyễn Đức Bính), hoặc Lãng Nhân (Phùng Tất Đắc); tòa soạn ở 15 Hàng Da, Hà Nội; số đầu ra ngày 2/8/1933; số cuối cùng ra ngày 20/2/1935 (theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, H.: Nxb. VHTT, 2001); hiện sưu tập báo này ở Thư viện Quốc gia, Hà Nội, có từ s. 1 đến s. 76 (ra ngày 23/1/1935).

Đọc những bài thơ bài ca của Bùi Kỷ đăng ở Nhật tân, có thể bắt gặp một thứ tiếng Việt vừa cổ điển vừa hiện đại, nhiều đoạn thơ vừa có thể khiến ta tưởng như đang đọc Kiều hay Tú Xương, Nguyễn Khuyến, lại vừa khiến ta nhận ra vẻ mực thước vốn có ở một nhà nho.

Xin chỉ nói đến những bài hát ả đào, tức là những bài ca trù, của Bùi Kỷ.

Được biết, trong cuốn Tuyển tập thơ ca trù  (Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú biên soạn, tuyển chọn, Hà Nội: Nxb. Văn học, 1987), nhà thơ Ngô Linh Ngọc có nhắc đến ba nhân vật thuộc loại khách văn chương của giới ca trù Hà Thành hồi đầu thế kỷ XX, mỗi người có một cái tên tự nhận (theo tư chất các bài ca do họ viết): Á Nam (Trần Tuấn Khải) là “bi” (đau, sầu), Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) là “ngông”, Ưu Thiên (Bùi Kỷ) là “ưu” (lo đời). Soạn giả cuốn tuyển kể trên đã lấy làm tiếc là không tìm được bài ca trù nào của Bùi Kỷ để đưa vào cuốn tuyển của hai soạn giả họ Ngô.

Thế mà trên các số báo Nhật tân kể trên, tôi thấy có đến 5 bài ca trù của Ưu Thiên: Tiễn bạn về hưu, Nhớ bạn, Ưu (Lo đời), Lạc (Cái vui), Lao (Sự nhọc nhằn). Tìm đến cuốn Thơ văn Bùi Kỷ, tập hợp từ nguồn tư liệu gia đình (Nguyễn Văn Huyền biên soạn, Nxb. KHXH., H., 1994) thấy có 4 bài ca trù, nhưng trong đó chỉ có một bài (Nhàn) là không trùng với các bài đã đăng Nhật tân. Tính chung lại, hiện nay chúng ta còn thấy được 6 bài ca trù của tác giả Ưu Thiên.

Thể hát nói, dù có nguồn từ thời trung đại, song chỉ mới thịnh hành ở thời cận đại. Con người trong các bài hát nói là con người cá nhân, tuy vẫn xưng “ta” chứ chưa xưng “tôi”. Nhắc đến hát nói người ta thường kể đến Nguyễn Công Trứ (1778-1859). Nhưng con người tài hoa mà đường quan lộ thăng giáng bất thường ấy dù sao cũng là người của thế kỷ XVIII-XIX. Sang vài thập niên đầu thế kỷ XX, hát nói vẫn còn ở thời thịnh, với rất nhiều tên tuổi mới.

Học giả Nguyễn Hiến Lê coi hát nói là thể tài “hoàn toàn Việt Nam”, mỗi bài “không ngắn không dài, gồm 11 câu, hoặc thêm 4 câu mưỡu nữa là 15 câu…, rất vừa vặn”, một thể tài tuy có luật nhưng “không chặt chẽ, tương đối tự do nên rất hợp để diễn những tư tưởng phóng khoáng, có thể hùng hồn, có thể nhàn nhã”. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Hiến Lê trong hồi ký của mình đã chép lại toàn văn 2 bài hát nói của Bùi Kỷ: bài về chữ “nhàn” và bài về chữ “lao” (Nguyễn Hiến Lê, Hồi Ký, phần III, chương 18, bản trên internet).

Các bài hát nói của Bùi Kỷ, có thể nói, cũng rất tiêu biểu cho triết lý nhân sinh của giới kẻ sĩ thời ông. Họ là nhà nho, nhưng là nhà nho ở thời đại mà các quan hệ xã hội đã rất phát triển, ý thức về cái riêng, về giá trị từng con người đã là cả một thực tại không thể bác bỏ.

Nhất tiếu quy lai thiên địa ngã

Ta là ta, ai đã biết ta?

                             (Tiễn bạn về hưu)

 

Kẻ sĩ trong các bài ca trù của Bùi Kỷ là kẻ luôn luôn biết tự trào, giống như bản thân ông đã lấy biệt hiệu Ưu Thiên cho mình với nụ cười diễu (diễu cái người nước Kỷ kia toan lo chuyện … trời sập!).

 

Nó hiểu mình sinh ra trong cuộc đời này không thể trốn món “nợ vũ trụ”:

 

Đã đem thân gánh vác với đời,

Quản gì nước mắt mồ hôi, bõ cái tiếng nâng trời là hả,

Nên ra thì cưỡi gió đè mây, nắm nhật nguyệt vào trong chưởng bả,

Chẳng nên thì lở bờ sạt bến, cát dã tràng tơi tả tiếc gì công.

                                                                             (Lao)

 

Nó biết, dù có lo lắng mấy cũng chẳng đối phó được mọi mối nguy nan, nên tốt hơn cả là đừng lo tính gì cả!

                 Lo như ai cũng là ngốc thật

                   Lo trời nghiêng, lo đất chông chênh!

                   Lo chim bay lạc tổ quên cành,

                   Lo cá lội sa ghềnh lạ nước,

                   Hão huyền thế đố ai lo được?

                   Đem gang tay đánh cuộc với Cao Dày…

 

Cái thích nhàn, cái ham chơi, ở đây được mặc nhiên xem là thiên tính, là trí khôn của người đời.

 

Có tiền mua tiên cũng được,

Đố bao nhiêu mua được cái vui?

Vui có khi loa qua luýt quýt mà thôi,

Vui có khi yếu phải khỏe, già phải trẻ,

buồn phải tươi, khóc phải cười,

Vui cho trăng gió lả lơi, cho mệt đất long trời thời mới thích,

Thiên cổ du du trường tịch mịch

Nhất sinh lục lục kỷ bi hoan

Dù đổ cả kho vô cùng vô tận của lưỡng gian

Mua một cuộc bàn hoàn coi cũng khó

 

Sự hưởng nhàn được nâng đến tầm triết lý, xem như chỉ là một nhúm nhỏ rút từ “túi càn khôn” vũ trụ.

 

                     Dù ái ưu cũng có khi nhàn

                   Thì tiêu khiển cuộc rượu cung đàn chơi cũng nhã

                   Hãy gác cả vinh nhục, thị phi, cùng cổ kim, nhân ngã

                    Đem hạo nhiên mà hể hả với cầm tôn

                    Trộm cái nhàn trong túi càn khôn

                   Dăm bảy vốc cỏn con thôi cũng đủ

                   Rồi tung ra cho nó chảy cồn cồn như nước,

                  tuôn cuồn cuộn như mây,

                  bay lững thững như trăng,

                thổi thênh thênh như gió

                Rải rắc cả ngoài bát hoang trong lục vũ vẫn còn thừa…

 

Một giọng triết lý, một giọng thơ đặc sắc như của Bùi Kỷ, mà bị lãng quên, có lẽ vì tác gia này tham dự vào đoạn kết của nền văn chương kiểu cũ, đúng vào lúc mà các giới trẻ đang xăng xái tìm cách phát kiến những cái mới. Rồi về sau, khi mọi thứ đã xong xuôi, người ta lại chỉ nhớ đến vai trò học giả Bùi Kỷ mà quên mất vai trò thi gia của Ưu Thiên.

Thiết tưởng, những ai yêu thơ Việt, yêu mến ca trù, rất nên tìm đọc lại những bài hát nói, nói riêng, và các sáng tác thơ, nói chung, vốn không nhiều nhưng đăc sắc, của tác gia Ưu Thiên Bùi Kỷ.

Dưới đây xin giới thiệu 6 bài hái nói.

Xin nhắc lại để phân biệt, về thể thơ, nó là hát nói; về bài ca, nó là ca trù; gắn với người ca, nó là hát ả đào.

27/11/2013

LẠI NGUYÊN ÂN

 

***

MẤY BÀI THƠ HÁT NÓI CỦA BÙI KỶ

 

TIỄN BẠN VỀ HƯU

                   Ai ơi có biết ta chăng

                   Túi giang sơn đã gió trăng nhẹ nhàng

                   Dang tay bốn bể thênh thang

                   Dầu lòng ngang dọc dọc ngang cũng vừa

 

Cầu xa mã sớm trưa lẵng đẵng

Quán công hầu mưa nắng long đong

Vai hai quang hai thúng tang bồng

Đi chợ mãi, anh hùng cũng mệt

Nhớ đến câu viêm viêm diệt mà mà long long tuyệt [a]

Hoài công đâu mải miết làm chi!

Khóc dở dang ta hãy cười khì,

Được ngắm vuốt cái tu mi là hả

Nhất tiếu quy lai thiên địa ngã [b]

Ta là ta, ai đã biết ta!

Đi về, vẫn nước non nhà

 

Ưu Thiên BÙI KỶ

Nguồn:

Nhật Tân, Hà Nội, s. 66 (14 Novembre 1934), tr. 6.

Chú thích

[a]  Viêm viêm diệt, long long tuyệt:  Câu này đầy đủ là ,隆  隆  者  “Viêm viêm giả diệt, Long long giả tuyệt” (Hán thư, Dương Hùng truyện): Lửa cháy đến sáng rực sẽ dần tắt, tiếng sấm đến cực to sẽ dần lặng, − ý nói sự vật thịnh cực tất đến lúc suy.  Các chú thích chữ Hán ở đây đều do nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn làm giúp; xin cảm ơn.

[b]  Nhất tiếu quy lai thiên địa ngã:    , ; giải nghĩa: Một cười mà quay về, trong thiên hạ chỉ ta là tôn quí. (Tương truyền Thích Ca Mầu Ni nói “Thiên thượng địa hạ, Duy ngã độc tôn”)

 

NHỚ BẠN

Công đâu chọn ngọc thử vàng

Chọn càng ra sỏi, thử càng ra thau!

Thôi thôi những chuyện đâu đâu

Cả cười một trận trông nhau cũng tình!

 

Nếu đã biết phù sinh là ký

Nhọc làm chi mà ganh tỵ làm chi!

Đã túi cơm giá áo chẳng ra gì

Thì thi tửu cầm kỳ thôi cũng chán!

Sao mà chán? Chán vì không bạn,

Lủi thủi sao trên cạn một mình!

Ước bao giờ túy hóa tỉnh, trọc hóa thanh

Cùng ly thoát cái hình ngoài cái dịch,

Cho bõ lúc gió trăng tịch mịch,

Đem hạo nhiên mà khúc khích cùng nhau.

Ngán thay bạn ở đâu đâu…

 

Ưu Thiên BÙI KỶ

Nguồn:

Nhật Tân, Hà Nội, s. 70 (12 Décembre 1934), tr. 5.

 

 

ƯU

                   Lo như ai cũng là ngốc thật

Lo trời nghiêng, lo đất chông chênh!

Lo chim bay lạc tổ quên cành,

Lo cá lội sa ghềnh lạ nước,

Hão huyền thế đố ai lo được?

Đem gang tay đánh cuộc với Cao Dày

Ngay ngáy thay! Đời bao nhiêu tuổi, tuổi bao nhiêu năm,

năm bao nhiêu tháng, tháng bao nhiêu ngày

Trằn trọc mãi để gió mây thêm vẩn đục.

Ngồi lẳng lặng như ông Xanh cũng bực,

Phải van nài xin chú ngốc đừng lo.

Bật cười người nhỏ lo to!

 

Ưu Thiên BÙI KỶ

Nguồn:

Nhật Tân, Hà Nội, s. 74 (9 Janvier 1935), tr. 5.

LẠC

Có tiền mua tiên cũng được,

Đố bao nhiêu mua được cái vui?

Vui có khi loa qua luýt quýt mà thôi,

Vui có khi yếu phải khỏe, già phải trẻ, buồn phải tươi, khóc phải cười,

Vui cho trăng gió lả lơi, cho mệt đất long trời thời mới thích,

Thiên cổ du du trường tịch mịch

Nhất sinh lục lục kỷ bi hoan

Dù đổ cả kho vô cùng vô tận của lưỡng gian

Mua một cuộc bàn hoàn coi cũng khó

Tập tầm vông, tay nào không tay nào có

Tay này vui, tay nọ chẳng cần tiền

Khi vui, vui cũng là tiên…

 

Ưu Thiên BÙI KỶ

Nguồn:

Nhật Tân, Hà Nội, s. 75 (16 Janvier 1935), tr. 5.

Chú thích:

[a]  Thiên cổ du du trường tịch mịch: Nghìn năm dằng dặc đi vào cõi tịch mịch

Nhất sinh lục lục kỷ bi hoan: Một cuộc đời bận rộn bao nỗi vui buồn

LAO

Phàm vật hữu hình giai hữu hoại [a]

Vỏ kiền khôn trút lại mấy tầng tro.

Tội gì mà lo tính quanh co

Thừa hơi sức để bày trò thêm nhọc!

Song đã là người, dù lớn nhỏ cũng linh kỳ chung dục, [b]

Chẳng có lẽ si si ngốc ngốc, chịu hồ đồ thanh trọc với cừ lư! [c]

Kìa thử xem: kiến cõng mồi, chim nhặt rác, ong ủ mật, nhện se tơ,

Vật còn thế, nữa người ngu hơn vật!

Nợ vũ trụ chồng chồng chất chất,

Trốn làm sao, toan lẩn quất cho rồi!

Đã đem thân gánh vác với đời, [d]

Quản gì nước mắt mồ hôi, bõ cái tiếng nâng trời là hả,

Nên ra thì cưỡi gió đè mây, nắm nhật nguyệt vào trong chưởng bả,[e]

Chẳng nên thì lở bờ sạt bến, cát dã tràng tơi tả tiếc gì công.

Dầu sao cũng nhất thế hùng!

 

Ưu Thiên BÙI KỶ

Nguồn:

Nam Phong, Hà Nội, s. 123 (Novembre 1927), tr. 522.

Nhật Tân, Hà Nội, s. 76 (23 Janvier 1935), tr. 5.

Chú thích:

[a]  Phàm vật hữu hình giai hữu hoại: Phàm sự vật có hình tất có lúc bị hư nát.

[b]  Cả câu này ý nói: người ta dù lớn nhỏ cũng do khí thiêng của trời đất un đúc, nuôi nấng.

[c]  Cừ lư: Lò cừ.   

[d]  Câu này bản đăng Nam Phong là: Đã xuất thân ngang dọc với đời.

[e]  Chưởng bả: Nắm tay.

NHÀN

        Mượn hãn mặc mài viên khối lỗi [a]

                Tìm yên hoa [b] gỡ mối giang san

                Dù ái ưu [c] cũng có khi nhàn

                Thì tiêu khiển cuộc rượu cung đàn chơi cũng nhã

Hãy gác cả vinh nhục, thị phi, cùng cổ kim, nhân ngã [d]

                Đem hạo nhiên mà hể hả với cầm tôn [e]

                Trộm cái nhàn trong túi càn khôn

Dăm bảy vốc cỏn con thôi cũng đủ

Rồi tung ra cho nó chảy cồn cồn như nước, tuôn cuồn cuộn như mây,

bay lững thững như trăng, thổi thênh thênh như gió

Rải rắc cả ngoài bát hoang trong lục vũ vẫn còn thừa [g]

                Cái nhàn đã lạ lùng chưa?

Ưu Thiên BÙI KỶ

 

Nguồn:

Nam Phong, Hà Nội, s. 123 (Novembre 1927), tr. 522.

Thơ văn Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Huyền biên soạn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr. 53-54.

Chú thích:

[a]  Bản sưu tầm của Nguyễn Văn Huyền là Đem son phấn mài viên khối lỗi. Hãn (hàn) mặc: bút mực;  Khối lỗi: người bằng gỗ, con rối.

[b]  Yên hoa: Yên: thú hút thuốc phiện; Hoa: thú vui con hát.

[c]  Ái ưu: Yêu (nước) lo (cho dân, cho đời)

[d] Cổ kim: xưa nay; nhân ngã: người và ta

[e]  Cầm tôn: cây đàn, chén rượu

[g] Bát hoang: tám hướng; lục vũ: bờ cõi

MỘT ĐOẠN HỒI ỨC CỦA LÊ TRÀNG KIỀU VỀ NGHỀ LÀM BÁO

LÊ TRÀNG KIỀU (1912-1977) là một trong những nhà hoạt động báo chí và văn học có vai trò đáng kể trong làng văn làng báo Việt Nam thời kỳ 1930-1945 và cả về sau, trong hai cuộc kháng chiến. Tuy vậy, sự nghiệp và tác phẩm của Lê Tràng Kiều cho đến nay vẫn chưa được chú ý đúng mức cả trong các nghiên cứu văn học sử lẫn trong việc sưu tầm tái xuất bản.

Dưới đây, xin giới thiệu một bài hồi ức khá dài của Lê Tràng Kiều nói về một đoạn hoạt động báo chí văn nghệ của ông và nhóm văn nghệ sĩ bạn bè ông, hồi những năm 1935-1936.

Ta biết, Lê Tràng Kiều bước vào nghề báo nghề văn từ khoảng năm 1932, ban đầu viết trên tờ Văn Học Tạp Chí của anh em nhà họ Dương (Dương Quảng Hàm, Dương Tụ Quán), sau đó ông xuống Nam Định làm tờ tuần san Kho Chuyện Của Phái Cười Đời (1933), rồi lại trở lên Hà Nội, làm các tờ tuần báo Tân Thiếu Niên (tục bản, 1935), Tiến Hóa (tục bản, 1935), Hà Nội Báo (1936-1937), Tiểu Thuyết Thứ Năm (1937-1939). Năm 1940 ông vào Sài Gòn, làm tờ báo Lá Lúa. Thời kháng chiến chín năm (1946-54) ông có vai trò nổi bật trong nhóm ký giả kháng chiến mà sau 1954 ở Sài Gòn người ta còn nhắc tới.

Đối với báo chí và văn học thời “tiền chiến” (1930-45), Lê Tràng Kiều không chỉ có vai trò là một người viết văn viết báo mà còn có vai trò của người tổ chức cơ quan báo chí, tập hợp nhà văn nhà báo.

Về giai đoạn văn học này, người ta mới chỉ nói nhiều đến những nhóm như Tự Lực Văn Đoàn, song bên cạnh đó còn cần thấy rõ sự hoạt động và vai trò của nhiều nhóm văn chương và báo chí khác nữa, bởi chính sự đa dạng, đa nguyên, bao hàm sự đối chọi, cạnh tranh lẫn nhau, về văn hóa nghệ thuật thời tiền chiến mới là môi trường nuôi dưỡng và sản sinh những sáng tạo văn nghệ đáng giá, những nhân cách văn nghệ đáng nể trọng.

Đoạn hồi ức của Lê Tràng Kiều dưới đây chỉ nói về hoạt động của nhóm ông từ sau khi tờ Tân Thiếu Niên (26/1/1935 – 13/2/1935) bị rút giấy phép, đến khi nhóm ông lại ra số ra mắt tờ Tiến Hóa (2/11/1935 – 7/12/1935). Hồi ức này được viết và đăng trên Hà Nội Báo, tờ tuần báo của doanh gia Lê Cường do Lê Tràng Kiều làm chủ bút. Là hồi ức nhưng các sự việc được nói tới vẫn còn khá “nóng” vì đó chính là trải nghiệm chưa hề xa của chính tác giả và bè bạn; tác giả lại kể chuyện bằng giọng hoạt kê, trào phúng, tự cười đùa về những thất bại (nhiều hơn thành công) của chính mình.

Đây là một hồi ức thú vị.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

(Lưu ý: Tôi cho đánh máy lại theo từng kỳ báo, và làm thêm các chú thích sau mỗi kỳ báo ấy, để tiện theo dõi cho người đọc)

15/5/2014

LẠI NGUYÊN ÂN sưu tầm và giới thiệu.             

 

 

NHỮNG PHÚT VINH NHỤC CỦA NGHỀ BÁO

Văn hoạt kê của LÊ TRÀNG KIỀU

LỜI GIÁO ĐẦU

Mỗi người rơi xuống cõi trần với một cái tội.

Cũng như anh… Tiểu Thần xuống cõi trần với cái tội ngâm thơ suông, cũng như anh Đại Vũ xuống cõi trần để viết những bài kịch liệt. [a] Tôi, tôi rơi xuống cõi trần với cái tội: làm báo.

Báo có ba nghĩa:

Nghĩa thứ nhất: Một con vật hung dữ ở trong rừng xanh chỉ kém có ông hùm.

Nghĩa thứ hai: những tờ giấy trắng để cho các văn sĩ ngồi rỗi đổ mực đen vào.

Nghĩa thứ ba: Báo hại…

Chữ báo của tôi gồm đủ có ba nghĩa ấy.

Làm báo theo tôi là phải khiêu chiến với hết mọi người, phải có cái hung hăng của con vật ở rừng xanh.

Làm báo theo tôi nghĩa là như tôi viết bài này.

Làm báo theo tôi, nghĩa là phải báo hại mình và báo hại người…

Nếu như tôi cũng như ông Phan Trần Chúc cũng có điều đáng tự hào đáng tự đắc, điều ấy là điều tôi đã làm trọn nghĩa cái chữ báo trong văn chương Việt Nam.

Hơn thế nữa, tôi còn cho nó một cái nghĩa mà trong văn chương Việt Nam không có.

Làm báo còn có nghĩa là làm cái nghề mà ta có những cái lý thú, mà trong nghề khác không bao giờ có…

Nó cũng có những cái “vinh” của nó, những giờ phút thú vị, những phút “lêu lổng”… [b]

Ở đây tôi xin thành thực cám ơn đức Thượng đế đã ban thưởng cho tôi cái tội quý hóa ấy là làm cái nghề báo này.

 

Nguồn:Hà-nội báo, H., s. 8 (26 Fevrier 1936), tr. 5.

Chú thích

[a]  Tiểu Thần: có thể ý tác giả chỉ Lưu Trọng Lư, Đại Vũ: có thể ý tác giả chỉ Vũ Trọng Phụng (?).

[b]  Chữ này, ở kỳ đầu (s. 8) là “lên bổng”; ở kỳ sau (s. 9) in lại “Lời giáo đầu”, từ này được sửa thành “lêu lổng”.

 

I.  CÁI BÀN KHỔNG LỒ

Sau khi Tân Thiếu Niên đã tiêu diêu về nơi tiên cảnh rồi, [a]  bọn chúng tôi năm người: Lưu Thần, Vũ Vu, Huỳnh Cóc, Ba Huy [b] và tôi còn phải bơ vơ ở chốn chợ trần. Một nghìn rưởi bạc bỏ ra gây dựng cho Tân Thiếu Niên cũng theo với Tân Thiếu Niên mà về tiên cảnh, chúng tôi sờ vào túi áo chỉ còn một cái… mộng: làm báo. Vẫn làm báo, sống chết vẫn còn đeo lấy cái mộng ác hại ấy.

Trong những nghề hiện có, nghề báo có lẽ là nghề cám dỗ người ta dễ hơn cả! Ai đã có dan díu với “ả” ít nhiều rồi, đố mà buông ra cho được nữa? Ta thường thấy dân làng bẹp [c] bán cả ruộng nương nhà cửa đi mà hút. Người nghiện báo, cơn nghiện lên, cũng chẳng kém gì dân bẹp.

 

Thật ra cũng có người làm báo để kiếm lợi, cũng có người làm báo để kiếm danh, nhưng phần nhiều làm báo chỉ là để mà làm báo.

 

Sau khi giả cái nhà lại cho ông nghị trưởng Phạm Huy Lục mà chúng tôi thuê với cái giá 25$00 một tháng, chúng tôi dọn đồ về một gian nhỏ ở phố Pottiers. [d] Chúng tôi thuê cái gian nhỏ ấy mỗi tháng 10$00, không cốt để ở, mà cốt có chỗ gửi cái bàn hình mặt giăng, dài gần 8 thước, rộng hơn một thước, cả thẩy có 8 chân! Giá tôi viết hết lịch sử của cái bàn khổng lồ này thì chắc không bao giờ hết được. Phải, cái bàn của chúng tôi nó cũng đã có một thời oanh liệt. Nó đã tầng chứng kiến những cuộc hội nghị “long trọng” có quan hệ đến cuộc sinh tồn của tờ báo, những cuộc hội nghị ấy bao giờ cũng kết liễu bằng những sự cãi cọ hung hăng.

Những khi chúng tôi “phất”, thì cái bàn ấy được nâng niu, khi chúng tôi thất bại, thì nó buồn rầu nằm một xó để chờ thời. Bây giờ đây, nằm ở cái gian nhà ở phố Pottiers, thì nó biến thành cái bàn ăn, cái giường ngủ cho nhân viên tòa soạn trong lúc bại trận. Những giấc ngủ của chúng tôi ở trong gian nhà nhỏ phố Pottiers là những giấc ngủ không chăn gối, những bữa cơm của chúng tôi ở trong gian nhà nhỏ phố Pottiers là những bữa cơm chỉ có xôi với kẹo vừng…

Những khi ngủ dậy hoặc ăn xong, chúng tôi lại tản mác mỗi người một ngả, người thì ra ngồi ngáp ở vườn hoa con cóc, người thì lên vườn Bách thú xem hổ, đến bữa thì lại về để ăn. Những bữa cơm lúc đầu hơi tẻ, nhưng dần dần vui lên. Chúng tôi lại chuyện gẫu, lại nói phét, lại tán hão với nhau. Trong gian nhà u tịch ở phố Pottiers, đã bắt đầu có cái vẻ rộn rịp như xưa…

Trước những sự khó khăn mình không thể vượt được, tôi đã hơi chán. Nhưng bây giờ tôi lại phấn chấn. Cái chí làm báo của tôi bây giờ đã cả quyết lắm rồi.

Một hôm, tôi bỏ các bạn lại với gian nhà u tịch ở phố Pottiers, tôi “du lịch” xuống Nam Định và các vùng Thanh Hóa, Ninh Bình, sang Đáp Cầu, Bắc Ninh, v.v… kiếm thêm những kẻ hằng tâm và hằng sản, nhất là hằng sản, vui lòng giúp chúng tôi mở báo một lần nữa. Mà lần này thì chúng tôi định làm to tát hơn trước nhiều, chúng tôi dự trù đến một vạn. Du lịch về, tôi chỉ giầu … thêm mộng mà thôi, vì tiền người  ta chỉ mới hứa bỏ ra.

 

Trong lúc ấy, thì tôi được tin anh Lưu Thần ở Huế mới ra, trọ tại một khách sạn xế gare. Tôi thuê xe đến đón anh. Đến nơi, anh đương bận tiếp một người khách có lẽ quan trọng…

Chúng tôi chưa kịp hỏi chuyện nhau thì anh đưa cho tôi một tập Phạm Quỳnh, Vương Tứ Đại, Nguyễn Bá Trác, Phan Sào Nam, v.v… kết quả một cuộc du lịch ở Trung Kỳ. Tôi đỡ lấy tập bài và cười thầm. Khi ra về, anh còn dặn với tôi:

‒ Khi nào anh đăng thì để tôi sửa morasse lại cẩn thận một lần nữa.

Tôi ra về, xuống mấy tầng gác, cứ cười khúc khích một mình. Mãi khi thấy một thiếu nữ da dẻ trắng trẻo ngon lành bày ở gần lối tôi đi ra, bấy giờ tôi mới tỉnh ngộ.

Người thiếu nữ ấy, ai ngờ lại là người nuôi tờ báo sau này của chúng tôi bằng những bài nhí nhảnh như nụ cười của cô ta.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 9 (4 Mars 1936), tr. 4 – 5, 15.

Chú thích

[a]  Tân Thiếu Niên (21/2/1932 – 25/8/1932) báo ra 2 kỳ/tuần, chủ nhiệm Trần Tấn Thọ, tòa soạn 25 Lê Quý Đôn, Hà Nội. Sau đó giấy phép được bán lại cho Lê Tràng Kiều, trở thành tuần báo Tân Thiếu Niên, tòa soạn ở số 8 đường Richaud (nay là Quán Sứ), Hà Nội, số 1 (26/1/1935), bị cấm sau số 3 (16/2/1935); theo báo Công luận ở Sài Gòn (ngày 30/3/1935) thì Tân Thiếu Niên bị cấm vì đã đăng bài “Nghề cạo giấy” của Vũ Trọng Phụng viết về Ký Con Đoàn Trần Nghiệp, một đảng viên VNQDĐ bị thực dân xử tử.

[b] Chỗ này kể tên mấy người trong nhóm: Lưu Thần (= Lưu Trọng Lư), Vũ Vu (= Vũ Trọng Phụng? hoặc Vũ Đình Liên? hoặc Vũ Lang ?), Huỳnh Cóc (chưa rõ là ai?), Ba Huy (Nguyễn Xuân Huy)…

[c]  dân làng bẹp: ý nói người nghiện thuốc phiện.

[d]  Phố Pottiers: nay là phố Bảo Khánh, Hà Nội.

II.  THÁM HIỂM

Sau một cuộc hội nghị quan trọng ở cái gian nhà nhỏ phố Pottiers, chúng tôi mỗi người mỗi ít gom góp lại được một số tiền, vẻn vẹn là 300$00. Với một số tiền ấy, cố nhiên chúng tôi chưa hề nghĩ đến sự lập lại một tờ báo nữa, nhưng cũng đủ cho chúng tôi “hoạnh” một chút – nói như tiếng đàng trong của anh Lưu Thần. – Phải, khi người ta đã có những ba trăm bạc dính túi, bao giờ người ta lại chịu yên thân ở một gian nhà phố Pottiers, cái gian nhà tối tăm chật hẹp. Chúng tôi nhất định dọn đi nơi khác! Nhất định lắm rồi, dầu có trời cản cũng không nổi. Cũng nhờ vậy mà cái bàn “khổng lồ” của chúng tôi lại được đổi số phận!

 

Từ khi trong óc chúng tôi có cái ý ấy, thì việc tìm nhà thành một cái cớ rất chính đáng để cho chúng tôi “tiêu” bớt thì giờ, vì thì giờ chúng tôi lúc bấy giờ có dư nhiều quá!

Cứ mỗi buổi sáng, sau khi đã tẩy rửa sạch những cái ô uế của ban đêm, anh Huy với một đôi giầy trắng “tứ thời”, anh Huỳnh Cóc với một điếu xì-gà không bao giờ ăn lửa, anh Vũ Vu với một cái can để giữ chó (vì cái can ấy mà anh được chúng tôi tặng cho cái huy hiệu là “anh phản khuyển”), anh Lưu Thần với một nàng thơ õng ẹo ở trên lưng, còn tôi với một cái cặp lớn, ở trong chứa chất đầy những cái di cảo của một cô tình nhân đã qua đời, [a] chúng tôi cứ nhằm về phía nam mà tiến; nghĩa là hôm nào chúng tôi cũng phải đi qua phố Hàng Trống. Sự chọn hướng ấy không phải là không có duyên cớ – nói là duyên nợ thì có lẽ đúng hơn! – Nguyên ở phố ấy có một “bà tiểu thư” ở một cửa hàng thêu, mỗi lần thấy chúng tôi đi ngang qua, thì bà thường hạ cặp mục kỉnh xuống, đưa vạt áo lau qua quýt một tý rồi lại “thượng” lên, “chĩa” vào bọn chúng tôi, và nhìn chòng chọc riêng anh Huỳnh Cóc. Bấy giờ anh Huỳnh Cóc mới chịu đánh diêm lên và châm cái điếu xì-gà của anh. Lần này, ôi huyền diệu! cái điếu xì-gà của anh lại bắt lửa… một cách dễ dãi. Chúng tôi quay lại nhìn vào anh: cũng phải nhận rằng anh Huỳnh Cóc quả có duyên thầm… [b]

 

Rồi từ đó, cái điếu xì-gà của Huỳnh Cóc, mỗi khi qua “bà tiểu thư” ấy thì lại phun ra một ít khói. Nhưng cái lịch sử của “bà tiểu thư” đã cho anh chút duyên thầm đó, trong bọn chúng tôi chưa ai được rõ lắm, dầu trong chúng tôi có một nhà phóng sự đại tài. Nhưng như lời Huỳnh Cóc thì cứ nhìn thẳng vào mặt bà … tiểu thư ấy, trong một lúc lâu, thì ta sẽ đọc được giữa những nếp nhăn, mấy hàng chữ quảng cáo như vầy: “Tiểu thư… nhà giầu, xuân xanh: 29 tuổi, đã bị ba lần cưới hụt…. vẫn chưa kệch, còn muốn có một tấm chồng để bồng bế trên tay”.

 

Không những chỉ anh Huỳnh Cóc mới có ở trong óc một “bà tiểu thư”, anh Ba Huy cũng có ở trong giấc mộng của anh một người mà anh gọi bằng một cách văn hoa là Châu Hà. Không biết Châu Hà của anh có thực hay không, nhưng khi anh ngủ, thì Châu Hà cũng đến với anh, khi anh đi với chúng tôi, anh cũng tưởng như khoác tay Châu Hà cùng đi. Rồi mải miệt mê với con người… mộng, có khi xe ô tô đằng xa đi tới, anh vẫn đường hoàng và bình tĩnh bước tới như khinh cả sự hùng cường của khoa học. Những lúc ấy phải có anh Huỳnh Cóc giật tay anh một cái mạnh lên vệ đường. Như một người si … chưa tỉnh, anh nhăn răng nhìn chúng tôi mà cười.

Sự đi tìm nhà, bấy giờ đối với chúng tôi, thành như một cuộc thám hiểm, mỗi ngày thấy thêm một ít điều mới lạ.

Hà Nội là một thế giới vô tận của những sự mới lạ.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 10 (11 Mars 1936), tr. 7 -8.

Chú thích

[a]  Ý nói những bài vở từng được chuẩn bị cho Tân Thiếu Niên lúc này đã bị đóng cửa.

[b]  Theo nhà thơ Anh Chi thì “bà tiểu thư” ở phố Hàng Trống, chính là nữ sĩ Vân Đài, sau thời gian này bà lấy người có tên là Huỳnh Cóc trong hồi ức này, rồi theo chồng vào Trà Vinh, Nam Kỳ, gần mười năm sau mới trở ra Hà Nội.

III. HOÀNG HẠC LÂU

Một hôm trời rét như cắt, chúng tôi ngồi đốt những giấy vụn, những báo đổi, [a] một ít bài lai cảo vô duyên để sưởi, thì anh Huỳnh Cóc tự đâu bước vào, với một nụ cười hí hởn. Anh mang về mấy con mực khô và hai chai Văn Điển, [b] và một tá xì-gà. Ai cũng tưởng là có tin mừng. Một nụ cười dài chạy từ miệng người này qua miệng người khác. Người nào cũng khấp khởi xúm nhau lại hỏi, nhưng anh làm bộ bí mật, không muốn đáp ngay.

– Các anh sẽ hiểu! Bất tất phải hỏi.

Rồi anh yên lặng chạy xuống bếp nướng mấy con mực khô, và xé ra mời anh em:

– Thôi bây giờ anh em chén đi cho no say!  Người xưa rót 300 chén không ngừng. Người xưa bán cả áo cả ngựa để mà uống rượu. Ta há thua kém người xưa, huống là ta có việc mừng…

Việc mừng! Anh em đưa mắt thầm hỏi nhau, không ai hiểu là việc gì, mọi người đều có vẻ lo ngại. Nhưng cái giống rượu, uống một chén, không thể không uống một chén khác nữa, và cứ thế cho đến khi túy lúy.

Nhờ trời nhờ Phật, anh em tửu lượng cũng khá. Càng uống mặt càng tái đi. Say khướt, mỗi người lăn mỗi ngả, duy có anh Huỳnh Cóc là tỉnh táo. Anh vẫn ngồi lặng hút xì-gà … với người platon. [c]

 

Lúc chúng tôi tỉnh dậy, thì ôi kỳ lạ! Thấy cửa nhà trống không, cả cái bàn khổng lồ mà tôi đương nằm cũng bay đi đâu mất.

Chúng tôi “khảo” anh Huỳnh Cóc, anh cười khà khà mà bảo rằng:

– Xe bò đã chở đi rồi! Các anh theo tôi tới “Hoàng Hạc Lâu” đi thôi!

Nghe ba chữ “Hoàng Hạc Lâu” chúng tôi giật mình tưởng như còn trong mộng, nhưng anh Huỳnh Cóc nhìn chúng tôi mà nói bằng một cái giọng quả quyết:

– Các anh sẽ đến ở một cái lầu nguy nga ở trên bờ hồ Trúc Bạch. Trên lầu quanh năm có con hạc vàng đậu, nó đậu từ lúc mặt trời mọc đến lúc 3 – 4 giờ sáng thì nó lại bay về ngàn. Con chim ấy, ngày xưa Dương Quý Phi bắn nó không chết, nó đớp lấy “tên” và giả lại cho Dương Quý Phi…

 

Chúng tôi cười ồ cả lên, quên cả giận. Chỉ có cái anh Ba (Ba Huy) ngớ ngẩn, hăng tiết cãi lại:

– Huỳnh Cóc “đại phét ngôn”! Chim gì mà sống được tự đời Dương Quý Phi đến bây giờ. Mà sao Huỳnh Cóc lại biết nó đã bị Dương Quý Phi bắn không chết. Con chim nó “nói” với anh à? Chim gì lại biết nói?

Mọi người lại cười rũ rượi, ôm anh Ba lên và tung hô: “Ba Huy nhà đại lý luận vạn vạn tuế!”

Anh Huỳnh Cóc cười mủm mỉm, bằng một cái giọng rất bình tĩnh đáp lời anh Ba:

– Nhưng nó có nói, anh Ba cũng không nghe được mà! Đến nỗi đi ra đường, tiếng còi ô tô kêu oang oác, anh Ba cũng không nghe lọt huống nữa là tiếng con hoàng hạc thỏ thẻ. Ai không tin, hãy theo tôi đến Hoàng Hạc Lâu!

Mọi người theo chân anh Huỳnh Cóc về nhà mới!

 

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 11 (18 Mars 1936), tr. 5 – 6.

Chú thích

[a]  báo đổi: giữa các báo với nhau có lệ trao đổi, báo này gửi báo mới ra cho báo kia và ngược lại.

[b]  chai Văn Điển: chai rượu trắng, do xưởng rượu nhà nước đặt ở Văn Điển sản xuất.

[c]  Planton (chữ Pháp): nhân viên chạy giấy.

III. HOÀNG HẠC LÂU

Quả anh Huỳnh Cóc không “phét ngôn” một tý nào! Cái lầu mà anh đã “tìm” ra được, cũng xứng với cái mỹ hiệu mà anh đặt cho nó: “Hoàng Hạc Lâu”.

Những khách qua đường đi hết phố Emille Nolly, [a] gần đến hồ Trúc Bạch, sẽ thấy có một cái nhà ba tầng sơn màu đỏ choét, ở trên chóp có một con hạc vàng bằng đá, chính là cái chỗ… sào huyệt của một bọn làm báo … bại trận!

Hoàng Hạc Lâu mỗi tháng 55$00, làm cốt để cho những người Pháp thuê. Trước bọn chúng tôi là một ông Cẩm, vừa mới dọn đi!

Anh Huỳnh Cóc dẫn chúng tôi xem qua một lượt, và giới thiệu với chúng tôi từng cái một:

– Đây là cái buồng ngày trước ông Cẩm nằm!

– Đây là cái chỗ ông Cẩm cạo râu!

– Đây là chỗ ông Cẩm hôn bà … Cẩm!

– Đây là chỗ ông Cẩm hóa!

– Đây là chỗ ông Cẩm … xổ.

Nghe nói đến ông Cẩm, ai cũng rởn tóc gáy. Nhà có… Cẩm ở, là nhà có … ma ở! Ông Cẩm thì khác ta cái gì, nếu hai làn râu mép của ông không xoắn ngược lên?

Hoàng Hạc Lâu cả thảy được 8 phòng. Mỗi người trấn mỗi cái, còn dư hai cái thì để làm buồng ăn và buồng khách.

Từ khi chúng tôi ở Hoàng Hạc Lâu, không biết tại sao, chúng tôi cảm thấy lạnh lùng như cô gái góa. Có lẽ vì buồng nào buồng nấy rộng thênh thang, mà đồ đạc chúng tôi thì không có gì. Buồn, buồn lắm! Không còn những cái giờ ấm áp ở phố Pottiers nữa. Giá tất cả chúng tôi đều nằm lại một buồng, đắp một chăn, đêm hôm nói chuyện gẫu thì vui biết chừng nào! Nhưng làm như thế thì dư 5 – 6 cái buồng không để làm gì? Chúng tôi bắt đầu cảm thấy sự thuê Hoàng Hạc Lâu là một sự hoang phí vô lý. Nhất là khi không thấy những các bạn đồng chí (cái chí làm báo) ở xa, chẳng cho hay tin mừng gì cả! Lâu lâu chúng tôi chỉ tiếp được một vài cái thư ở Vinh, ở Thanh, ở Thái gửi về, cái thì bảo rằng: chưa bán được ruộng, cái thì bảo rằng: chưa đòi được nợ, cái thì than rằng: ông bố tinh ranh lắm, chưa thể đánh lừa được! “Chưa” chứ không phải là “không”. Trừ một vài người ra, anh Lưu Thần, anh Vũ… tiến sĩ họ Thôi, anh Huỳnh Cóc, anh Ba Huy … vẫn tin rằng: ruộng sẽ bán được, nợ sẽ đòi được, cái ông cha khó tính kia sẽ bị đánh lừa được!

Rồi người mộng vẫn cứ … mộng.

Nhưng tháng ngày qua.

Tiền, theo với ngày tháng, cũng qua. Nếu chỉ có tiền nhà và tiền ăn không, thì 300$00 có lẽ không hết một cách nhanh thế! Nhưng còn có những cuộc “tổ chức” nữa! Lấy cớ rằng “rỗi” không có việc làm, cần phải tổ chức nên những cuộc “tổ chức” để lấy thêm khí lực, để dốc thêm máu nóng.

“Tổ chức” theo nghĩa nhà báo là những cuộc hành lạc ở xóm chị em. Ông Nguyễn Công Trứ không đập vỡ mấy cái trống thì làm gì có cái sự nghiệp ông đã có. Ta há không bắt chước cổ nhân sao?

 

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 12 (25 Mars 1936), tr. 4, 29.

Chú thích

[a]  Rue Émille Nolly: nay là phố Phạm Hồng Thái, Hà Nội.

IV. TRÊN MẶT HỒ TÂY

Tình cảnh chúng tôi lúc bấy giờ chẳng khác nào một toán binh bị vây thành: lương thực sắp cạn, mà nhuệ khí nhụt dần. Tôi nhìn lại anh em, đứa nào đứa nấy đã có vẻ chán nản, không còn yêu đời và yêu … gái và yêu .. báo như trước nữa! Nguyên nhân vẫn là tại nhà chưa bán được, ruộng chưa cầm được và nợ chưa đòi được. Bao nhiêu giấc mộng tan như những bọt xà-phòng!

Hết mộng, đời còn gì?

Hết tiền, đời còn gì?

Hết tình, đời còn gì?

Hết cả bao nhiêu thứ ấy, đời còn gì nữa? Đời còn một sự rỗng không lạnh lùng!

Ngày trước, lúc ăn cơm là lúc vui vẻ nhất ngày: anh em cười, nói, nô đùa chòng ghẹo nhau như một bọn quỷ sứ. Bây giờ ăn cơm là cái vạ. Từ đầu bữa đến cuối bữa không nói một tiếng, ăn chỉ cốt lấy no, ăn xong là đứng dậy ngay, cơm không chín cũng không buồn mắng đầy tớ!

Biết rằng buồn cũng không bổ ích gì, một hôm tôi nghĩ đến cách làm vui anh em! Trong cái túi sắp cạn của tôi, tôi trích ra một món tiền nhỏ để tổ chức một cuộc vui ở trên mặt Hồ Tây.

Chúng tôi vừa thuê vừa mượn cả thảy được 2 chiếc yacht. [a]  Sau khi mang theo đủ rượu, mực khô, cá hộp, bánh tây, chúng tôi cho yacht ra khơi, đùa với gió, đùa với nước, đùa với ánh nắng mặt trời. Cái buồn ủ rũ của chúng tôi như đã tan ra trong không khí. Chúng tôi cười nói huyên thuyên, rồi uống rượu, có đứa cao hứng xướng thơ để cho những đứa khác họa.

Những lúc bấy giờ tôi thấy cái lối “thơ mới” mà anh Lưu Thần thường binh vực, nó chẳng còn có nghĩa lý gì! “Thơ mới” đâu cho chúng tôi được cái thú vị rung đùi ngâm nga đắc chí như bây giờ? Cả anh Lưu Thần là người hay chửi cái lối xướng họa đó, cũng cùng với chúng tôi rung đùi mà có lẽ anh lại rung đùi mạnh hơn ai hết.

Rồi… Rồi hai chiếc yacht giả chúng tôi lại cho … Hoàng Hạc Lâu! Tôi chỉ lo cái buồn ủ rũ lại theo chúng tôi về Hoàng Hạc Lâu…

Quả vậy, sau cuộc vui, cái buồn càng thêm thấm thía, đó là cái “luật quân bình” mà anh Ba thường kinh nghiệm.

Khi lên khỏi yacht, chúng tôi đã bớt cười nói, dọc đường lại càng không thấy ai cười nói nữa! Rượu tỉnh, lại càng thêm chán nản! Tôi đã bắt đầu lo rằng: chuyến này, về nhà, chắc anh em thế nào cũng kiếm cách gây chuyện với nhau. Nhưng may ôi là may! Khi chúng tôi gõ cửa, thì thấy trong buồng tôi tiến ra lù lù một cục … hy vọng. Cục hy vọng ấy là anh Bửu Tuốt! Thấy cái lỗ mũi của anh nhúc nhích một cách có ý nghĩa, không hẹn nhau, trên mặt tất cả chúng tôi đều nở một nụ cười tươi như hoa. Vị phúc tinh đã đến. Bao nhiêu cái mộng của chúng tôi đều đứng dậy ở trong óc. Không biết anh sẽ đưa lại cho chúng tôi điều gì?

Nhưng cứ vui, cứ mộng, cứ hy vọng… là tốt rồi.

 

IV. ANH BỬU TUỐT

Anh Bửu Tuốt trước làm quản lý cho một hội buôn lớn, một độ làm thư ký cho phủ Toàn quyền, sau rốt làm thanh tra cho một hội bảo hiểm. Nhưng đó lại là chuyện khác.

Người anh lùn, mập, nhưng mà nhanh nhẹn. Anh có cái đặc tài là ăn 5 – 6 bát phở năm đi luôn mà vẫn như không. Cái phở lượng của anh làm cho anh giống Trạng Lợn, nhưng cái mũi của anh lại làm cho anh giống với … ông Tý (chuột). Buồn đến bực nào mà nhìn lên cái mũi chuột của anh nhúc nhích, thì không thể nào mà còn buồn được nữa. Người ta “nói” bằng lỗ miệng, anh Tuốt của chúng tôi “nói” bằng… lỗ mũi.

 

Nguồn:Hà-nội báo, H., s. 13 (1er  April 1936), tr. 16 – 17

Chú thích

[a]  Yacht (chữ Pháp): du thuyền

IV. ANH BỬU TUỐT (tiếp)

Thấy tôi, anh Bửu Tuốt vội vàng kéo tay tôi ra vỉa hè và ghé vào tai tôi nói nhỏ:

– Chuyến này thì hẳn là được rồi, mày ạ! Chắc chắn lắm rồi! Như một con chim đã nắm chặt trong tay, không còn bay đi đằng nào được! Món tiền non 2000$00 ấy, tao định mua “auto”, nhưng nay đã có auto của Sở, tao muốn cúng cho … báo! Thế người ta đã chịu nhường tờ Tiến Hóa [a] cho chúng mình chưa? Bằng lòng rồi chứ? Thế là yên! Bắt tay làm việc đi thôi. Còn đợi gì nữa?

 

– Nhưng…

– Nhưng làm sao, tao đã bảo mày đừng lo mà. Tao sẽ đứng quản lý hộ…

– Nhưng món tiền ấy, mày có mang theo đấy chứ?

Chẳng ngập ngừng chút nào, anh Bửu Tuốt trả lời phắt:

– Tao gửi ở dưới Sở, khi nào cần, tao sẽ xuống lấy. Ngày mai…..

– Chắc chắn chứ?

– Tao đã bảo mày là chắc chắn lắm mà!

Bấy giờ cái nụ cười vui sướng mới nở một cách hoàn toàn ở trên cặp môi tôi. Vội vàng, tôi nhóm tất cả anh em lại và báo cái tin mừng!

Bữa cơm hôm ấy, tôi tưởng là bữa cơm buồn tẻ nhất, nào hay lại trở nên vui vẻ nhất! Lại là một bữa cơm rất long trọng nữa! Chúng tôi còn tiếc gì mà không phung phí! Còn bao nhiêu tiền chúng tôi đều cạo ra mà “xài” cho hết. Hôm nay chính là cái hôm chúng tôi “chôn cất” một cách vui vẻ cái cuộc đời bông lông, cuộc đời chật vật, cuộc đời gió bụi.

Ngày mai, một cái mặt trời khác sẽ mọc ở Phương Đông. [b]

Ngày mai chúng tôi sẽ biến thành hoàng tử.

Ngày mai…, một cuộc đời khác, giàu sang…

Ngày mai!

Mà hôm nay, thôi tha hồ!

Hôm nay, chúng tôi đổ “bồ đào tửu” như nước, những điếu xì-gà chỉ hút một nửa là vứt…

Chúng tôi cười nói, nô đùa, ca hát để đợi cái ngày mai… tốt đẹp. Quả vậy, không chậm một phút nào, ngày mai đến với chúng tôi, đưa lại cho chúng tôi những điều ước nguyện, chỉ trừ một điều…, – điều ấy tôi chưa vội nói ở đây.

 

Trong lúc anh Tuốt xuống Sở, thì chúng tôi đua nhau làm việc rầm rộ như một tổ ong trong một ngày nắng mới.

Anh Ba Huy kiểm lại những bài thơ khóc sương khóc gió khóc tình khóc mộng của anh.

Anh Vũ … tiến sĩ họ Thôi, thơ thẩn ngồi hầu chuyện với bà Dương Quý Phi.

Anh Huỳnh Cóc nặn óc nhớ lại trong tuần lễ vừa qua xem đã xảy ra mấy việc quan trọng, và đã được bao nhiêu con chó … bị chẹt. [c]

Anh Lưu Thần thì thầm với “cô lái đò” trên sông Hương!

Anh planton soát lại các nhà đại lý.

Cả một tòa báo đã bắt đầu hoạt động.

Khi tôi đi hỏi giá in ở Trung Bắc [d]  về, thấy anh em hăng hái làm việc như thế, phần riêng tôi thấy … vui sướng lạ lùng. Nhưng, chưa kịp sướng thì đã phải tiu nghỉu ngay. Tôi có cảm giác như ở trên mây xanh rơi xuống đất bùn khi đọc cái thư anh Bửu Tuốt do một người planton đưa lại.

Bức thư ấy như vầy:

 

“Thưa anh em,

Tôi có việc cần phải về Thanh với ông giám đốc của Sở. Việc cần lắm nên không thể về qua dặn anh em. Nhưng anh em vẫn cứ tin ở nơi tôi. Cái món tiền ấy nếu bây giờ tôi cần phải mua auto, nhưng ít lâu, tôi sẽ lại có ngay, một lần nữa anh em hãy tin ở nơi tôi. – Tuốt”

 

Thế là con chim đã nắm chặt ở trong tay, cũng lại bay mất rồi.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 15 (15 April 1936), tr. 16 – 17.

Chú thích

[a]  Tiến Hóa: tuần báo văn chương, trào phúng, do Đặng Đình Hùng làm giám đốc, Thao Thao làm quản lý; tòa soạn 45 Jules Ferry, Hà Nội; ra được 3 số: s. 1 (thứ ba, 30/7/1935), s. 2 (thứ năm, 8/8/1935), s. 3 (thứ năm, 15/8/1935) mỗi số 10 trang khổ A4 (hiện có lưu tại Thư viện Quốc gia, 31 Tràng Thi, Hà Nội). Sau đó, Lê Tràng Kiều mua lại giấy phép này, vì vậy, trên manchette Tiến Hóa ghi tên người sáng lập (Đặng Đình Hùng) bên trên tên chủ nhiệm (Lê Tràng Kiều).

[b]  Tác giả viết hoa “Phương Đông” có lẽ vì tên nhà xuất bản ông lập ra (năm 1936) là Nxb. Phương Đông, và nhóm văn học gồm Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, v.v… cũng mang tên nhóm Phương Đông.

[c]  Đây có thể là ý đùa cợt kiểu viết “tin chó chết” mà làng báo đương thời nêu ra để cảnh cáo lối làm báo ẩu đương thời.

[d]  Trung Bắc: tên nhà in của nhật báo Trung Bắc tân văn.

V. “MỘT TẤM CHÂN THÀNH”

                Nhưng không thể sốngtrong cõi mộng, sống một cách nên thơ như thế được mãi, một hôm chúng tôi giải tán. Con “hoàng hạc” bay về trời. Anh Ba Huy về chờ thời ở nhà quê, anh Huỳnh Cóc đi đào mỏ (hiểu theo cả nghĩa trắng và nghĩa đen) ở trên thượng du, anh Vũ (tiến sĩ họ Thôi) ra Móng Cáy. Cái mộng làm báo vỡ như … nồi súp-de! Anh em đi mỗi người một ngả, không có một mảnh thư hỏi thăm nhau. Với một ít tiền, tôi và anh Lưu Thần về thuê một căn nhà nhỏ ở Ngã Tư Sở. Đêm đến chúng tôi viết những chuyện ma quỷ rùng rợn, chuyện “con đười ươi”, chuyện “đảng tịch lâm”, chuyện “con tinh què”, chuyện “Huyền không động”, v.v…

Những buổi chiều, hai anh em ra đứng ở gốc cây đại, nhìn ra xóm mạc xa xa, mấy làn khói lam lưởng vưởng ở trên những mái nhà gianh. Buồn rười rượi! Nhưng cũng lại … mộng rồi!

 

Một hôm không hẹn mà nên, cả hai chúng tôi cùng bồi hồi, bâng khuâng, cùng nhớ đến một cái gì, nhớ đến một cách tha thiết như nhớ một người tình nhân! Chúng tôi nhớ cái nghề báo. Phải, cái nghề báo tai nghiệt làm cho chúng tôi trăm chiều điêu đứng. Cả hai chúng tôi trở về Hà Nội với một bầu máu nóng.

 

Chúng tôi trọ ở một cái hotel gần gare. Lúc bấy giờ trong lưng chúng tôi chỉ còn có 20$00. Chết sống, chúng tôi cũng định quyết liệt một keo cuối cùng rồi ngã thì ngã.

Chúng tôi thương lượng lấy lại tờ Tiến Hóa của ông Đ.Đ.H. Ông này được cái tốt bụng, nhường lại cho chúng tôi mà không buộc một điều kiện gì!

Với 20$00, chúng tôi định ra chủ trương tờ Tiến Hóa. Các bạn không tin? Phải, các bạn tin làm sao được. Nhưng sự thật là khi chúng tôi bắt tay vào việc, chúng tôi chỉ có một số tiền chừng ấy thôi. Nhưng chí đã quyết, không vì một lẽ gì mà lùi.

Suốt một đêm trường, từ 11 giờ đến 3 giờ sáng, sau khi ăn hết mấy bát phở, chúng tôi cùng bàn tính mãi, và lấy bút mực ra viết bài “Kính cáo quốc dân”, bài ấy sau đổi là “Một tấm chân thành”. [a]

Hai anh em đánh trần ra ngồi viết như người ta bửa gỗ. “Một tấm chân thành” chỉ là những lời tha thiết hằng đến trong trí chúng tôi. Những ý tưởng của chúng tôi phơi bầy có khi nóng nẩy, nhưng đó cũng là một cách trả thù cho cái cuộc đời trôi nổi của mình bấy lâu nay. Chúng tôi là những người trẻ tuổi, chúng tôi thấy có điều đáng nói mà không nói, thì chẳng hóa ra mình dối mình và dối người lắm à.

Viết xong bài “Một tấm chân thành”, hai anh em cùng đọc lại. Đọc xong, chúng tôi cùng ngồi im lặng trong một phút dài…

Nhất định chứ?

Nhất định.

Chúng tôi không nói thêm gì nữa. Chúng tôi nhất là cái cứ bàn đi bàn lại rồi để hỏng bao nhiêu việc…

Trong một phút nghiêm trọng ấy, chúng tôi vạch “con đường đi” cho tờ báo Tiến Hóa sau này.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 16 (22 April 1936), tr. 18 – 19.

Chú thích

[a]  “Một tấm chân thành” là bài chính in trong số ra mắt Tiến Hóa, trong đó người chủ trương báo này trình bày quan niệm về sự thành thực khi biết chính quyền bãi bỏ sở kiểm duyệt, nhưng điều đó đã đưa đến việc tờ Tân Thiếu Niên của mình bị đóng cửa. Ngoài ra, số Tiến Hóa ra mắt còn có các bài luận “Tiến Hóa, một cơ quan mới của Tân Thiếu Niên”,  “Quan niệm văn học của chúng tôi”, “Muốn thổi được đám đông, ông Phạm Quỳnh điều hòa” (của P.T.), và thơ “Nàng về” (của Lưu Trọng Lư). Sau đó, Tiến Hóa ra số 1 (16/11/1935), số 2 (23/11/1935), số 3 (30/11/1935); sau số 3, Tiến Hóa bị cấm. Liền đó, nhóm nhà văn này bước sang làm tờ tuần san Hà Nội báo.

 

V. “MỘT TẤM CHÂN THÀNH” (tiếp)

Sáng hôm sau, chúng tôi mang xuống nhà in “Trung Bắc tân văn” bài “Một tấm chân thành” để cho in ngay. Chúng tôi cho in hai vạn tờ để biếu không các độc giả. Làm báo không một đồng xu, mà chỉ nghĩ đến sự biếu không, âu đó cũng là một cách làm việc của chúng tôi vậy.

Hai vạn “tấm chân thành” chúng tôi phát ra lung tung, đầy đường đầy sá, nhưng các bạn biết cho rằng: nhà in vẫn không quen hay biếu không. Với 20.000 “tấm chân thành” đó, họ tính cho chúng tôi với cái giá vỏn vẹn 80$00. Lúc mới ra, lưng vốn chúng tôi chỉ có 20$00 mà phải trả tiền nhà in những bốn lần nhiều hơn như thế, thế mà chúng tôi trả xong xuôi cả, ở trong hoặc giả có Giời, Phật phù hộ chăng?

Trả được 80$00 một bận, ấy là một phép lạ đối với chúng tôi lúc bấy giờ!

Dẫu sau này chúng tôi có đổi qua kiếp khác nữa, chúng tôi cũng khó lòng quên được mấy chục bạc đầu tiên ấy, mấy chục bạc tự những “tấm chân thành” chạy tới với chúng tôi…

Tôi còn nhớ một hôm anh Lưu Thần và tôi đương ngồi suy tính đường kia nỗi nọ (suy tính việc gì chắc các ngài cũng có thể đoán được ngay!) thì người facteur [a] đưa lại cho chúng tôi một cái thư, chúng tôi cầm thấy nằng nặng (chúng tôi tưởng tượng vậy chứ thực ra có nặng gì đâu!) bóc ra xem…

 

Một cái mandat! [b] Phải, một cái mandat. Chính là một cái mandat. Trăm phần trăm là một cái mandat. Nghìn phần nghìn là một cái mandat! Một cái mandat 40$00. Một cái mandat tự ở một biên thùy xa lạ đi về.

Cái mandat của một bạn quen, một bạn xa, một bạn gái, một bạn… giá không có cái mandat ấy thì chúng tôi đã không còn nhớ nữa! Ôi tình đời bạc bẽo! Mà chúng tôi cũng phải bạc bẽo như tình đời. Người bạn quen ấy nếu không có cái mandat ấy, thì chúng tôi, khi chép chuyện này, cũng không buồn nhắc lại một lần đến người ấy!

Ôi bạc bẽo thay tình đời, mà đồng tiền nó có thể làm cho tình đời không bạc bẽo! Xin thú thật, cái mandat  ấy làm cho chúng tôi cảm động vô ngần, nhất là khi đọc xong bức thư, bức thư chỉ vắn tắt mấy hàng rất thành thực mà tha thiết. Chúng tôi còn nhớ trong thư có câu rằng:

“Chúng tôi gửi biếu nhà báo một món tiền nhỏ này, để nhà báo dùng vào việc … mua băng quấn cho tờ báo”

Không, người bạn của chúng tôi lầm! Món tiền của bạn không phải nhỏ! Món tiền của bạn không phải chỉ dùng vào việc mua băng quấn báo. Món tiền của bạn là cả sinh mệnh của tờ báo chúng tôi vậy.

Với món tiền ấy, và một ít nữa, chúng tôi giật ở nơi khác, chúng tôi đã thu xếp xong với nhà in về khoản… hai vạn “tấm chân thành”.

Nhưng còn tiền nhà tiền cửa, tiền ăn tiền uống, tiền tem, nhất là tiền tem, chúng tôi đào đâu ra? Ngoảnh đi ngoảnh lại chúng tôi chỉ còn trông vào nhà, vào các bạn, nghĩa là những chỗ … bấp bông, không còn thể trông vào được nữa.

Trong Truyện Kiều có câu:

Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Thử xem con Tạo xoay vần đến đâu

 

Lúc bấy giờ anh Lưu Thần tức cảnh cũng có câu:

Cũng liều trơ mắt đưa chân,

Xem tờ “Tiến hóa” xoay vần tới mô?

(CÒN NỮA) [c]

 

Chú thích

[a]  Facteur (chữ Pháp): người phát thư.

[b]  Mandat (chữ Pháp): thư chuyển tiền.

[c]  Tuy ghi là “còn nữa” nhưng từ sau số 19 này cho đến khi Hanoi báo bị đóng cửa (sau số 55, ngày 20/1/1937), không thấy bài này của Lê Tràng Kiều  được đăng tiếp.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 19 (13 Mai 1936), tr. 16 – 17.

MỘT NHÀ VĂN SỞ TRƯỜNG NHẤT VỀ LỐI CẢNH THẾ TIỂU THUYẾT: CỤ NGUYỄN BÁ HỌC

Nhà văn sĩ Pháp Pierre Loti có nói:  Tôi không hề làm sách bao giờ; chỉ có một đôi khi trí tôi thấy băn khoăn về một sự gì, lòng tôi thấy đau đớn vì một nỗi gì thì tôi mới cầm bút viết, mà như thế trong sách tôi thường hay nói về tôi nhiều quá”.

(Je n’ ai jamais composé un livre, moi, je n’ ai jamais écrit que quand  j’ avais l’ esprit  hanté d’ un chose, le cœur serré  d’ une suffrance  et il y a toujours beaucoup trop de moi-même dans mes livre)

 

Thì chính cụ NGUYỄN BÁ HỌC cũng có làm sách bao giờ; cụ có viết ra chăng nữa cũng là trăm đắng nghìn cay vì cái buổi đạo đức suy đồi, người đời hư hỏng nên mới đành phải cầm đến bút viết, mượn văn chương để mong duy trì lại nền phong hóa cho vững vàng. Than ôi, cái văn chương của cụ thực là cái máy động để truyền đạo lý, chính nhân tâm, sửa phong tục, cứu nước nhà; như thế mà tiếc thay, mãi đến lúc vãn niên cụ mới chịu đem ra vấn thế.

 

Cụ người thôn Giáp Nhất, xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông; sinh năm Đinh Tỵ, Tự Đức thứ mười (1857), vốn nhà nghiệp nho, lại nhờ về gia đình giáo dục nên cụ rất thâm thúy Hán học. Sau nhân lúc chính phủ Bảo hộ cưỡng bách học trò ta theo học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, cụ cũng ra học chữ Quốc ngữ, mới được một tháng đã thi trúng tuyển, được bổ giáo học Sơn Tây. Được vài năm cụ đổi về dạy trường Yên Phụ, Hà Nội; rồi xuống dạy ở Nam Định đến hơn 20 năm. Lúc dạy học, về nhà nghỉ, cụ lại tự khảo cứu học lấy Pháp văn, sau cũng rất là uyên bác.

 

Tính cụ điềm đạm trầm mặc, thường ham suy xét nghĩ ngợi, thật là một nhà mô phạm đạo đức, túc học lão thành. Lúc về hưu trí, cụ dạy bảo con em trong nhà, có soạn một tập những Lời khuyên học trò. Ông Phạm Quỳnh một hôm xuống thăm cụ ở nhà số 108 Hàng Rượu, Nam Định, nhân được xem, đọc hết một lượt mới biết, tuy nhan đề nhỏ mọn mà gồm đủ được cái tâm thuật ở đời, bèn trân trọng xin đem về đăng lên báo Nam Phong. Từ đấy cụ thường thường gửi cho Nam Phong những bài cụ đã dịch hoặc đã soạn ra; nhưng hay nhất và giá trị nhất là mấy bài đoản thiên tiểu thuyết, bài nào văn thể cũng bình thường dễ hiểu mà đều ngụ một cái ý răn đời hết cả.

 

Câu chuyện gia đìnhcủa cụ thực toàn là những nhời bàn bạc về giáo dục, tư tưởng cao xa. Bài này ông Phan Khôi có dịch ra chữ nho cũng lại đăng ở Nam Phong số 13, để cho mọi người đều được đọc những lời thâm trầm thiết thực của cụ.

 

Đến bài Truyện ông lý Chắmlà một bài hương tình tiểu thuyết mà Văn Học Tạp Chí số 15 vừa đây có trích đăng vào mục  “Văn tuyển chú giải”; ngụ ý cũng là để răn đời cả.

 

Lại trong Câu chuyện nhà sư  toàn là những lời sám hối của một thầy phán kia chơi bời quá đỗi, say mê vì bả nguyệt hoa đến nỗi đánh vợ đau mà chết, bỏ con uất mà đi.

Một gia đình đang êm ấm, bỗng tan hoang mà cô Ba là người nhân tình đằm thắm của chàng cũng bòn của tếch thẳng. Bấy giờ mới biết “chính mình đã phạm một cái tội rất lớn là tội giết người, biết Lý Cô đã chịu đau đớn mà chết, biết cái lòng tham dục nó đã đưa dắt mình vào những đường tội lỗi, biết nhân tình thế lợi chẳng qua là một chuyện chiêm bao; bấy giờ trong óc tưởng không sao mà chứa cho hết những điều hối hận. Thôi, mình đã vị một người rất xấu xa rất hèn hạ, mà phụ với một người đáng quý hóa đáng ơn nghĩa, còn mặt mũi nào đối với mọi người? Lý Cô có biết cũng tha thứ cho chăng? Đa mang phóng túng cũng là cái thông bệnh của đàn ông, cái tội ngộ phạm của người nóng, cũng như của người điên, hoặc có thể nguyên tình mà khoan giảm. Tuy nhiên cái lương tâm nó càng nghiêm ngặt, nó bắt nhớ lấy cái tội đến rửa cũng không phai, mài cũng không sạch”.

 

Thầy phán cải quá mới bỏ hết mọi sự ái luyến ở đời, quy y đầu Phật, đội đức từ bi, mở đường tế độ, mong sau này lại gặp bạn cũ cùng về chính giác.

Ấy đại để là lời nhà sư đem chuyện mình kể lại như thế để làm gương cho thiên hạ.

 

Bài Dư sinh lịch hiểm ký là lời tự thuật của một người dở dang về học giới, cũng toàn là những lời khuyên răn đích đáng cả. Chẳng qua răn đời bằng những giọng nghiêm trang mà thâm thúy đã nhiều rồi nên nhà mô phạm đứng đắn ấy muốn mượn tiểu thuyết để thay đổi giọng văn cho bớt vẻ sương nghiêm cổ kính đấy thôi.

 

Trong Chuyện cô chiêu Nhì cụ mở đầu ngay bằng một đoạn tâm lý:

“Cổ nhân có cảnh ngôn rằng  “Con nhà giàu hay xa xỉ, con nhà sang hay kiêu căng”, thật như vậy. Nhà giàu ăn tất cao lương, mặc tất gấm vóc, ở tất lâu đài, đi tất xe ngựa, thị dục càng ngày càng nhiều, dụng đồ càng ngày càng rộng, như thế muốn cho con em có thói cần kiệm làm sao được. Thực chưa hề có dạy con xa xỉ, mà xa xỉ thành ra cái thói quen. Nhà sang gọi có người dạ, bảo có người vâng, nói dở không ai dám chê, làm dở không ai dám bẻ, như thế mà muốn cho con em có thói khiêm nhường làm sao được. Thực không hề dạy con kiêu căng, mà kiêu căng đã thành ra cái thiên tính.

Than ôi! Xa xỉ tất là bại gia, kiêu căng tất là bại đức. Vậy giàu sang là cái hạnh phúc hiện thời, biết đâu không phải là cái di hoạn cho con cháu!

Cổ nhân có câu rằng: Phú quý bất dâm, bần tiện lạc;

   Nam nhi đáo thử thị hào hùng.

(Giàu sang không đắm, nghèo hèn vẫn vui, tài trai đến thế mới là hào hùng)

Người không hào hùng mà phú quý chẳng cũng nguy lắm ru? Cho nên giáo dục ở trong nhà phú quý thời khó”.

 

Thực vậy, chuyện cô chiêu Nhì đã chứng giải một cách rõ ràng. Cô Chiêu, thuở bé sinh trưởng trong nhà danh vọng nên quen thói đài các, tập tính xa hoa, mới 14 – 15 đã biết vuốt ve làm dáng, hộp son bình phấn, trang sức róng rẩy, nay chán thứ đồ mặc này, mai sắm thứ thời trang khác, cực kỳ xa xỉ, hết sức chua ngoa; không hội hè đình đám nào cô không đi xem, không ngõ liễu đường hoa nào cô không dạo, nên hóa ra hư thân mất nết, kết cục phải đuổi ra khỏi nhà, lang thang hành khất, gửi thân với một tên phu điếm trong làng. Dưới đây là một đoạn văn kể cái bước khốn cùng của cô sau khi đọa lạc:

[báo mất liền 2 trang 484-485]

 

Lúc cụ sắp nhắm mắt, đặt mình vào giấc ngủ ngàn năm, cụ còn tỉnh táo mà nói chuyện rằng:

“… Mấy tháng nay có bệnh, nằm không vô sự, có nghĩ một bài đoản thiên tiểu thuyết chưa viết ra, nhưng trong bụng tôi nghĩ đã gần xong, muốn bỏ quên đi để cho đỡ nghĩ mà không thể quên được, hễ lúc nào vắng người thời cái lý tưởng viển vông ấy hình như vẫn vẩn vơ trong giấc mộng…”

 

Xem thế, cụ há chẳng hết lòng với quốc dân, với tiểu thuyết sao?

Ôi! đương lúc sóng giao thời đang vỗ mạnh, nền thế đạo đã sắp lung lay mà một người có tài có đức như cụ khuất đi, những người đã từng đọc văn cụ, ai chả ngậm ngùi thương tiếc; người đã được gần cụ mà cảm cái nhân cách thanh cao của cụ thì lòng thương tiếc lại thêm đau đớn sâu xa, đau cho cái buổi thói đời đơn bạc, cho cái lúc tiểu thuyết bắt đầu mới thịnh hành.

Tràng Kiều LÊ TÀI PHÚNG

NguồnVăn Học Tạp Chí, Hà Nội, s. 17 (1.5.1933), tr. 480-486.

TRẦN THANH MẠI PHÊ BÌNH TIỂU THUYẾT “THANH NIÊN S.O.S.” CỦA TRƯƠNG TỬU

 

Nhân nói về Trần Thanh Mại (3/2/1911 – 2/2/1965), một tên tuổi gắn với thời đầu của Viện Văn học, xin giới thiệu thêm một bài Trần Thanh Mại phê bình Trương-Tửu-nhà-tiểu-thuyết (chứ không phải Trương-Tửu-nhà-lý-luận). Bài này đăng năm 1937 trên tuần báo “Cười” ở Huế.

Theo mục từ “Trần Thanh Mại” trên Wikipedia.org, tác gia Trần Thanh Mại có bài đăng báo từ 1932.

Theo phạm vi tìm hiểu còn chưa đầy đủ của tôi (L.N.Â.), những năm 1935-37, Trần Thanh Mại cộng tác với nhật báo “Tràng An” thời Phan Khôi là chủ bút (tháng 3/1935 – tháng 2/1936), sau đó cũng cộng tác với tuần báo “Sông Hương” (tháng 8/1936 – tháng 3/1937) của chủ nhiệm kiêm chủ bút Phan Khôi, công bố ký sự lịch sử “Tuy Lý Vương” trên “Sông Hương”  trước khi in thành sách riêng.

 

Thời kỳ nhật báo “Tràng An” do Lê Thanh Cảnh làm chủ bút, Trần Thanh Mại tiếp tục cộng tác với “Tràng An”. Khi Lê Thanh Cảnh lập ra tuần báo “Cười”, ông đã mời Trần Thanh Mại làm chủ bút. Đây có lẽ là lần thứ nhất (và duy nhất?) nhà nghiên cứu này điều hành một tòa soạn; thế nhưng vai trò này thậm chí còn chưa được giới nghiên cứu văn học sử ghi nhận (các bản tiểu sử chính thức trong “Lược truyện các tác gia Việt Nam”, trong danh mục hội viên Hội nhà văn VN, trong “Tuyển tập” dành riêng cho tác gia này đều chưa ghi việc này).

 

Hiện tại Thư viện Quốc gia ở Hà Nội còn lưu chừng 5 số “Cười”. Điều thú vị là trên các trang báo “Cười” lại hơi ít bài mục cười cợt, và hơi nhiều hơn những bài nghiêm túc, thậm chí là các bài hiếm hoi và có giá trị tư liệu văn học sử, ví dụ tư liệu khẳng định Nguyễn Thiện Thuật là tác giả của bài ca “Hoán tỉnh quốc dân”, hoặc một số bài của Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, v.v…

 

Bài Trần Thanh Mại phê bình tiểu thuyết “Thanh niên S.O.S.” (Minh Phương xb., Hà Nội, 1937) của Trương Tửu là một trong số khá ít bài của tuần báo “Cười” về văn học đương đại. Ở đây người ta thấy tác gia họ Trần quan tâm đến hiện tại không kém gì đến quá khứ. Có lẽ điều này sẽ ít nhiều tiên liệu sự việc, về sau này, vào những năm 1956-58 ở Hà Nội, Trần Thanh Mại lại trở thành cây bút đắc lực hưởng ứng việc “đấu tố” các nhân vật thuộc phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Theo nhà nghiên cứu Lê Hoài Nguyên thì bút danh Hồng Quảng ở các bài phê phán Phan Khôi, Trương Tửu thời kỳ ấy, chính là bút danh của Trần Thanh Mại.

Nhưng ta hãy trở lại đọc bài báo đăng năm 1937 này để thấy ngay từ năm ấy, Trần Thanh Mại đã nhận ra: ngòi bút viết văn xuôi tự sự của Trương Tửu lại có sự gần gũi với văn xuôi tả chân của Vũ Trọng Phụng! Đây là một nhận xét mà những người đã và sẽ nghiên cứu cả hai nhà văn này cần phải xác nhận hoặc bác bỏ.

Xin trân trọng giới thiệu.

24/11/2013

LẠI NGUYÊN ÂN         

 

 

 

CỨU LẤY THANH NIÊN!

Trần Thanh Mại

 

          Nếu như có một nhà văn, trong một thuở đã làm náo động làng văn vì cách hành văn mới lạ của mình, vì những lời phê bình táo bạo, vì những sự phán đoán quả quyết, người ấy hẳn là ông Trương Tửu.

 

Ông Trương đã khêu gợi tánh hiếu kỳ của ta trong khi ông viết, ông đã kêu gọi sự chăm chú của ta khi ông phê bình. Với một sự tự tin chắc nhiều khi có hơi quá đáng ở thiên tài, ở học lực của ông, những lời ông nói ra hầu như có cái mãnh lực chém sắt chặt đinh. Nó có cái dạng cứng cát, xác đáng như không còn lý lẽ nào lay chuyển được nữa.

 

Cuộc khảo sát, hay cái luận thuyết của ông về nền “Văn học Việt Nam hiện đại” mà ông đã khởi đầu trong báo “Loa” quá cố và bỗng nhiên ông lại cắt ngang bỏ dở, kể cũng là một việc đáng tiếc, đáng tiếc không phải vì những điều phán đoán của ông đã hoàn toàn hợp với chân lý, mà chính vì nó vẫn có một phần đặc sắc, nó cho ta thấu rõ cái nhân cách cương quyết mạnh mẽ của ông.

 

Ngày nay Trương quân cũng dùng lối hành văn mới lạ ấy, cũng lấy cách phán đoán táo bạo ấy mà viết quyển Thanh Niên S.O.S.  (tiểu thuyết, Minh Phương xuất bản, 1937) mà thử giải quyết vấn đề thanh niên ở xã hội Việt Nam.

 

Thanh Niên S.O.S.  là chuyện một anh chàng trẻ tuổi thuộc về thời đại sau mấy cuộc biến động chính trị 1929-1931, giữa lúc nạn khủng hoảng về kinh tế đang kềm hãm người ta. Liêu, anh chàng ấy tự tìm cho mình một con đường đi, tự lựa chọn một lý thuyết để làm tôn chỉ cho sự sống.

 

Giữa khi đang ngập ngừng bất định ấy, thì Văn và đồng lõa, đều là một bọn thanh niên bị hoàn cảnh xã hội biến thành những con quỷ sứ ranh mãnh, cẩu hạnh, lôi kéo vào cuộc sống ô trọc của chúng qua các nhà thổ, tiệm hút, đăng-xinh… Liêu rơi từ hầm sâu này xuống hầm sâu hơn nữa, đến chán cả tình yêu, vật mà chàng đã rắp ranh đem làm lý tưởng cho đời mình, đến làm cho người yêu của mình vừa thành mẹ thì đá quách người ta đi, rồi sau đến mắc phải bệnh loạn óc, có lẽ đến chết cũng nên.

 

Cái luận thuyết của ông Trương Tửu, nên nói ngay ra, chỉ gồm được một vài phần chân lý, hay chỉ có một vài hình dạng chân lý mà thôi! Thật ra sự trụy lạc của thanh niên không phải chỉ kể từ sau cuộc chính biến 1929-1931 và sau cuộc kinh tế khủng hoảng.

 

Ông Trương Tửu ngờ thế, tin chắc thế, là bởi vì ông quá chịu ảnh hưởng của phương pháp phê bình phân loại của khoa học Âu Tây. Ồng bị mấy con tỉ số, mấy đoạn lịch sử ám ảnh đó thôi. Xét ra, sau khi người Pháp đã thiết lập cuộc bảo hộ trên đất nước Việt Nam và sau trận Âu chiến 1914-1918, nghĩa là trong khi toàn quốc đã hầu như được hưởng một cuộc thái bình tàm tạm, thì vấn đề trụy lạc thanh niên đã có thể có được rồi.

 

Qua đến 1935, nạn kinh tế khủng hoảng đã bớt dần, hầu hết các hạng trí thức trong nước đều được chính phủ bổ dụng, hoặc cũng đã tự kiếm được việc làm trong những công cuộc kinh doanh thương mại kỹ nghệ; cái tương lai về phương diện vật chất hầu đã được chắc chắn lắm rồi; ấy thế mà sự trụy lạc của thanh niên hình như càng ngày càng bành trướng. Hiện bây giờ trở đi, ta có thể nói mà không sợ sai lầm quá đáng rằng, một người Việt Nam lớn lên là xã hội Việt Nam thêm một người hư; một người rời khỏi ghế nhà trường, bước khỏi nhà cha mẹ, là thành một người bỏ. Mấy người ấy họ chỉ từ cái khuôn khổ luân lý đã dung đúc họ tự nhỏ đến giờ, bước qua cái chỗ không luân lý một tý nào ở gác nhảy, tiệm hút, nhà gá bạc, hay xóm gái đĩ, mang một cái dương dương tự đắc không quan tâm, không chủ nghĩa, không biết ngày mai! S.O.S.! Thật không bao giờ thanh niên cần phải kêu mấy tiếng S.O.S. như lúc này.

 

Từ mấy năm nay cái nền tảng xã hội do những lý thuyết Nho giáo xây nên, đã bị những tư tưởng tàn phá của văn hóa Âu Tây tràn vào lung lay đạp đổ; mỗi một ông cụ nho chết là một người lính ngã ở trong đạo quân cuối cùng không điền thế. Không kể dở hay, hợp thời với không, Nho giáo ở trong cái phạm vi chật hẹp yếu đuối của nó cũng đã làm một chiếc trói cho đám thanh niên thời đại trước dựa vào. Nếu như nó là tảng đá chặn đường không cho người ta tiến, thì ít ra nó cũng là sợi dây giằng giữ đám thanh niên kia khỏi sa ngã vào hầm trụy lạc.

 

Những học thuyết khoa học thực nghiệm du nhập ở xứ ta, trong khi khắp xứ đều bao bọc một màn tin mê u muội, những sự chung đụng, những điều kinh nghiệm trong cuộc đời mới khiến cho ta mất thói dị đoan, đến không còn tin ở cả tôn giáo nữa; mà bây giờ nếu thanh niên còn phải tuân theo một quy tắc của đạo Phật hay đạo Trời, cũng chỉ theo bề ngoài vậy thôi, chớ riêng họ, họ đã phỉ báng tự bao giờ.

 

Còn lại cái phương diện chính trị.

Thì nước Việt Nam đang ở vào một tình thế rất buồn cười, là không phải lo đến chính trị. Chính trị đã có nước Pháp trông nom hộ. Chúng ta mất đứt cái dịp để hiến tấm lòng hâm mộ của ta; ta không có cái đích để noi chí hướng chính trị của ta, cái cớ để ta dùng tất cả năng lực hoạt động của tuổi ta.

 

Thì…

Luân lý rỗng không, tôn giáo rỗng không, chính trị rỗng không, mọi sự cần đến lòng hăng hái nhiệt thành của ta, đều không có cả. Ta thấy trơ trọi một mình, trơ trọi với cái bản năng đã xấu sẵn của con người. Với cái bản năng thú vật, lẽ tất nhiên bao nhiêu lòng hăng hái, bao nhiêu sức hoạt động đương bồng bột sôi, đang mạnh bạo chuyển ấy, ta phải bất lực mà thấy nó trở về phụng sự nhục dục, giúp việc cho Dâm Thần.

 

Vì đó: Trụy lạc.

Một khi người ta đã thấy rõ nguyên nhân trong vấn đề trụy lạc kia rồi, thì tự nhiên thấy ngay cái phương pháp cứu vãn.

 

Vì không xét cho đầy đủ nguồn gốc của sự trụy lạc như trên đã nói, quyển Thanh Niên S.O.S. đã bày ra một khuyết điểm lớn. Ông Trương Tửu ra cái vấn đề nhưng ông không giải quyết. Ông đặt câu hỏi mà ông không cho câu trả lời. Người ta nghe ông hùng hồn hô hào đánh đổ xã hội này mà làm lại xã hội khác. Nhưng làm lại bằng cách gì? Phải dụng tâm thế nào? Đó là những câu mà người ta tự hỏi khi đọc Thanh Niên S.O.S.

 

Không nỡ trách Trương quân đã khéo trình ra một câu chuyện treo chuông cổ mèo, người đọc sách cũng không khỏi lấy làm bực tức mà nhận thấy cái thiếu lớn ấy trong công trình mà tác giả đã hướng dẫn một cách thông minh, can đảm và nhiệt thành.

 

Nay ta hãy bàn đến cách ông Trương Tửu mô tả sự trụy lạc ấy như thế nào.

Tuy ông Trương Tửu kéo chúng ta qua đủ các lò trụy lạc: tiệm nhảy, buồng hút, nhà săm, nhưng hình như ông chỉ cốt áp dụng cái nghệ thuật tài tình của cây bút ông về việc giải phẫu những cử chỉ dâm dục, những sự rẫy rụa băn khoăn của xác thịt mà thôi.

 

Viết quyển Thanh Niên S.O.S. Trương quân đã vận áo một nhà luân lý, một nhà đạo đức. Nhưng ông lại còn là một nhà văn tả chân. Cái nghệ thuật tả chân can đảm đến táo bạo, thiết thực đến sống sượng, tỉ mỉ đến thô tục. Đọc sách ông, người ta ngờ cho ông bị nhiều ảnh hưởng xấu của các nhà văn sĩ Victor Marguerite, Georges Anquetil, [1] hay là gần một bên ta hơn, Vũ Trọng Phụng. Đứng về mặt đạo đức luân lý và để đánh đổ những tội ác nhục dục, tác giả đã làm cho người ta lắm khi có cái cảm tưởng rằng ông tả lấy những việc ấy là vui thích, rằng ông muốn tìm trong sự mô tả căn vặn đầy đủ ấy một mối khoái trá ích kỷ. Có lúc người ta phải tự hỏi không biết sách có ích hay là vô ích, chỉ vô ích suông mà thôi hay là còn di hại cho thanh niên?

 

Nhưng ngày nào mà con người lấy riêng phần sinh lý mà nói thả luống cho cái bản năng vật dục của mình, còn ưng dòm qua lỗ thìa khóa để xem một cặp trai gái làm những gì trong buồng tối, thì người ta còn tìm mà đọc những cuốn sách như cuốn Thanh Niên S.O.S. của Trương quân. [2]

Nguồn: Cười, Huế, s. 1 (1er Octobre 1937), tr. 4.

Chú thích

[1]  Victor Margueritte (1866-1942), nhà văn, kịch tác gia Pháp; Georges Anquetil (1888-?) nhà văn Pháp.

[2]  Bài này đăng tuần báo Cười, xuất bản ở Huế, báo do Le Thanh Cảnh sáng lập, Trần Thanh Mại là chủ bút.