Trang chủ » Posts tagged 'lưu trọng lư'

Tag Archives: lưu trọng lư

NHẬT TUẤN viết về LƯU TRỌNG LƯ: “Con nai… vờ ngơ ngác”

CON NAI … VỜ NGƠ NGÁC

 

 

Ngay sau khi giành được chính quyền ở Sài Gòn, nhà nước VN đã tổ chức “một khoá học tập gọi là khoá bồi dưỡng chính trị dành cho văn nghệ sĩ”, “cấp tốc đưa từ Hà Nội vào những nhân sự có vai vế trong giới văn học của miền Bắc như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bảo Định Giang, v.v.” nhà thơ Lưu Trọng Lư  “đã kể lại con đường phục vụ “cách mạng” của mình và kêu gọi văn nghệ sĩ miền Nam hãy mạnh dạn đi theo con đường mà ông đã trải qua”.

Thực ra chẳng phải chờ tới “khoá bồi dưỡng chính trị” này, ngay sau ngày Huế rơi vào tay “bộ đội giải phóng”, đứng trước cảnh nhà cháy, người chết, gia đình ly tán, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã “kể lại con đường của mình” bằng những lời sảng khoái, mừng rỡ trong bài thơ “Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi” :

“Đất này không phải xứ sở của thần tiên,

                    Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…

                    Đường ta đi thế đấy

                    Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi…”

Ba ngày sau khi tiếng súng đã tắt trên cố đô, đặt chân trên đường phố Huế, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã bịt tai che mắt sao mà không nhìn thấy những dấu tích máu còn lại sau tết Mậu Thân, những thảm trạng người với người giết nhau, giành giật nhau cơ hội sống còn trong trốn chạy, tưởng như “Thượng đế đã chết trong thành phố”, vậy mà trái tim thi nhân của nhà thơ vẫn reo vui:

“ Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…”

Phải đặt câu thơ vào thời khắc của lịch sử, người đời sau mới thấy hết được trái tim đen của thi nhân, ngòi bút của ông ta đã chấm vào mực hay máu để mà cười vui trước nỗi đau của dân tộc ?

“Như con ngựa đường trường

                    Ta về đây gõ móng

                    Trời cao đất rộng

                    Mở phanh vạt áo của hồn ta…”

Tháng Tư 1975, từ biệt thự cơ quan Hội nghệ sĩ sân khấu 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, “con ngựa đường trường” Lưu Trọng Lư đã phi thẳng tới “cố đô Huế” hỗn loạn để … gõ móng. Ông gõ vào ai vậy? Tất nhiên không phải vào “Ban quân quản thành phố”, không phải “đoàn quân chiến thắng xạm màu súng đạn”, cũng không phải  Đại Nội rợp trời cờ đỏ ? Vậy thì nó chỉ còn gõ móng vào nỗi đau của đồng loại trong “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng”, và liệu ông có coi những mẹ, những em, những nỗi đau “bọt bèo số phận” là “đồng loại” không? Chắc là không? Đồng loại của nhà thơ phải là những “mũ tai bèo đôi cánh đang bay”, những “em băng trong lửa đạn chiến hào, tóc nữ sinh cuốn theo vành mũ vải…”

Vô cảm với nỗi đau con người trong loạn lạc, Lưu Trọng Lư lại còn tự đấm ngực, bứt tóc, rên rỉ, gào rú cho thân phận của chính mình trước ngày ông có Đảng:

“Ôi ! bé bỏng một tấm thân người

Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết

Có nỗi thương của Giê-su, có nước mắt của Phật

Và trên tay áo này,

Trên tay áo này

Những giọt đau !

Những giọt đau !

…Trong cõi lạnh hư vô

Một con đò, ôi một con đò…”

Viện cả đức Chúa Giê-su và đức Phật Thích-ca ra để mà “phản tỉnh con người cũ” liệu có lôi kéo được ông Nguyễn Khắc Viện (người được Lưu Trọng Lư tặng bài thơ này) đi theo “Đường ta đi thế đấy…”:

“Ta một giang hồ thi sĩ

Dừng nghe tiếng gọi từ xoáy hồn ta

Hay tiếng gọi từ một bến bờ xa

Tiếng gọi từ một bến bờ xa

Tiếng gọi từ một bến bờ quang đãng

Trận gió Thu và những ngày Tháng Tám

Đắng cay sực tỉnh, mình lạnh mồ hôi…”

Đó, một “giang hồ thi sĩ” lớn như Lưu Trọng Lư còn đi theo Cách mạng Tháng Tám, huống hồ nhà viết sách “học làm người” như Nguyễn Khắc Viện còn chần chừ làm chi ? Thôi thôi hãy cùng nhà thơ lên đường:

“Rồi với kẻ cùng đi

Với những tấm lòng theo nhau vào trận đánh

Thế thôi ! mà sao vất vả rộn ràng…

Một ngày qua nhanh, tiếc ngẩn…”

Lời rủ rê này chẳng  riêng gửi bác Nguyễn Khắc Viện mà cho cả trên 400 văn nghệ sĩ Sài-gòn trong “khoá học chính trị” ngày đó. Các quý vị còn chần chừ gì nữa, hãy “theo nhau vào trận đánh”, chậm một ngày là tiếc ngẩn một ngày, đơn giản thế thôi mà sao cứ “vất vả” chần chừ mãi thế ? Tiếc thay, bỏ ngoài tai lời kêu gọi của nhà thơ, chỉ vài năm sau, gần 400 văn nghệ sĩ này đã bỏ của chạy lấy người, rủ nhau biến sạch ra…hải ngoại.

Làm thơ chưa đã, Lưu Trọng Lư còn diễn dịch ra 80 trang văn xuôi “Đường ta đi thế đó bạn lòng ơi…” để “giác ngộ thanh niên Huế”.

“ Sau khi Huế giải phóng được vài hôm, giữa phố Paul Bert cũ, tôi đã gặp mấy thanh niên… Cũng không hiểu sao, họ đã nhận ra tôi và điều đầu tiên là họ muốn biết từ “Tiếng thu” những bước đi của tôi như thế nào ?”

Và nhà thơ hãnh diện trả lời:

“Còn thế nào nữa ?

Tôi ngày nay đã là một người cộng sản. Với những người bạn trẻ ở miền Nam vừa được giải phóng, những bạn đã từ một đêm dài trở lại với ánh sáng, hôm nay tôi muốn có đôi lời gửi gắm…”

Nào các bạn thanh niên miền Nam vừa từ “đêm dài” trở lại “ánh sáng”, sắp được rời thành phố lên rừng đi kinh tế mới, sắp được khăn gói đi học tập cải tạo, sắp  được bước vào công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền Nam, các bạn hãy lắng nghe nhà thơ “Tiếng thu” ngày xưa, “cộng sản” ngày nay gửi gắm những lời lẽ gì?

Sau khi nhắc lại hình ảnh ông là chiếc thuyền nhỏ bé đi giữa hai bờ sống chết, nhà thơ tâm sự: “Câu thơ này thật ra có thể tổng kết cả một thời trai trẻ của tôi, nói lên cả một chân lý cuộc đời tôi…Thật là lênh đênh giữa hai bờ sống chết. Không phải thân thế tôi chỉ “giang hồ”  trong cuộc sống , mà tâm tư tôi còn “phiêu bạt” trong cõi đất trời mông lung mà tôi không hiểu nổi…”

Trong cả chục triệu thanh niên miền Nam trước 1975, liệu có được bao nhiêu người “lênh đênh giữa hai bờ sống chết”, “giang hồ” trong cuộc sống”, “tâm tư phiêu bạt trong trời  đất” như nhà thơ ? Khéo lắm chỉ có đám đâm thuê chém mướn, “đá cá lăn dưa” ở chợ Cầu Muối mới có cùng tâm trạng với ông, còn tuyệt đại đa số thanh niên miền Nam vốn chí thú làm ăn và coi gia đình là gốc,  vậy lời “gửi gắm” của ông còn có tác dụng gì? Thế nhưng ông vẫn kiên trì kể lể:

“Tôi có thể nói từ thủa nhỏ, từ nhà tôi, một nhà quan cũng như từ cung vua của Thái tử đi ra tám hướng, hướng nào cũng ngập những nỗi khổ đau của con người… Tôi đi tới phương nào cũng gặp những nối khổ đau của con người. Nào tôi đã làm gì để giảm nhẹ, để xoá bỏ nỗi đau khổ của con người ?”

“Đời là bể khổ” mà, Phật đã dạy rồi. Vậy là mang lý tưởng của Đức Như Lai, cậu bé Lưu Trọng Lư  lên đường để “xoá bỏ nỗi đau khổ của con người”. Ôi cao quý thay… Vậy cậu đã làm gì?

“Cũng chỉ đến đổ nước mắt thôi! Chỉ có nước mắt thôi, không cứu nổi con người đâu …”

Vậy thì cái gì cứu nổi con người?

Chẳng vòng vo gì nhiều, ông nhà thơ huỵch toẹt:

“Sau này khi tôi có bài thơ nói về Đảng của tôi, trong đó có câu:

                    “Mẹ không cho nhiều nước mắt Như Lai…”

Là ý nghĩa như thế, Đảng trân trọng những giọt nước mắt nhưng Đảng không khuyên con người cứ chết chìm trong nước mắt. Niệm một nghìn lần câu “Đời là bể khổ” cũng không cứu đời ra bể khổ…”.

Vậy là đã rõ, đứng trước mọi khổ đau của kiếp người cho dù bố đi cải tạo, mẹ vất vả thăm nuôi, chị gái ra đứng đường, em gái liếm lá ngoài chợ… thì cũng không nên “chết chìm trong nước mắt”. Vậy phải làm gì? Ông nhà thơ đã vạch cho tuổi trẻ miền Nam một lối thoát: tin yêu vào cuộc sống.

“Sự tin yêu cuộc sống đã cho tôi sức trẻ…Trong thơ văn tôi đã nhắc nhiều lần đến hai chữ “hồi sinh”. Trong bài thơ “Tiếng thu II” tôi có câu :

                    “ Những kiếp người tất tả hồi sinh”

Vậy “hồi sinh” tôi hiểu thế nào? Là từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn…” 

Rất chí lý, hàng triệu thanh niên miền Nam đã thực hiện y như lời gửi gắm của nhà thơ Lưu Trọng Lư, họ cũng từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối, xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn, chỉ tiếc rằng họ “hồi sinh” bằng “đôi chân” chạy trốn khỏi cái xứ sở thời đó mà đến cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ đi…

Tất nhiên ông nhà thơ không đời nào muốn tuổi trẻ miền Nam “hồi sinh” theo kiểu “bỏ phiếu bằng đôi chân” đó, ông muốn  các em trước hết hãy đi vào …nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê mà ông kêu to lên như người mới phát hiện ra chân lý:

“Ôi! Duy vật biện chứng pháp, bao nhiêu ngày tháng tôi triền miên trong cái trầm hương đó toát ra từ cái cốt lõi sự vật. Và mỗi ngày tôi ngắm xung quanh tôi muôn vàn biểu hiện, vô vàn biểu hiện phong phú, rực rỡ của cái người đời gọi là vật chất, cái duy nhất có thật ở đời…”

Ôi, ở miền Bắc sau hơn 20 năm nghiên cứu học tập, chẳng còn mấy ai tin vào cái “biện chứng pháp” ấy nữa, bởi vậy nhà thơ mới mang nó vào miền Nam, thật đúng là “củi mục bà để trong rương, hễ ai hỏi đến trầm hương của bà”…

 

Đặt chân rất sớm vào Sài gòn sau Tháng Tư 1975, từ Hội trường Khoá bồi dưỡng chính trị cho gần 400 văn nghệ sĩ  “chế độ cũ”, nhà thơ Lưu Trọng Lư  đi thẳng tới khám Chí Hoà …làm bài thơ “Tìm anh”:

“Đập cổng Chí Hoà không thấy bóng

                    Tay cầm hoa trắng , đi tìm anh…”

Nhà thơ tìm ai vậy? Có phải một bạn thơ cũ ngày trước làm việc cho Mỹ-ngụy hoặc họ hàng thân thuộc có dính dáng tới chính quyền cũ nay bị cách mạng bắt giam ?

                    “Qua cầu Công Lý nhìn mây nước

                    Tưởng thấy hình anh giữa biếc xanh…”

Hoá ra không phải, người mà nhà thơ cất công tới tận nhà ngục tìm chính là anh… Nguyễn văn Trỗi, chưa một lần gặp mặt mà chỉ biết tới qua bút ký “Sống như anh” của Trần Đình Vân. Trong thời điểm các nhà thơ miền Bắc mới đặt chân vào Sài gòn ngay sau ngày ông Dương Văn Minh tuyên bố “bàn giao chính quyền”, cũng nên nhắc tới Huyền Kiêu, một nhà thơ lão thành miền Bắc, khi vào Sài gòn đi ra ngoại ô đã cảm thán làm bài thơ “Gặp người thương binh  nguỵ trên cầu Bình Triệu”  với chút cảm thông, lập tức nhà thơ bị phê phán và bị đưa về “ngồi chơi xơi nước” tại NXB Văn Học.

Suốt cả đời thơ, Lưu Trọng Lư tuyệt nhiên không va vấp, không có câu thơ nào làm mếch lòng Đảng, không có bất kỳ một “tai nạn nghề nghiệp” nào như rất nhiều đồng nghiệp khác. Ngay cả mấy năm sau, năm 1979, nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, được lên Cao Bằng để chứng kiến bọn bành trướng Trung Quốc giết hại các em nhỏ ở một lớp học, được giao làm thơ để tố cáo bọn bá quyền dã man, nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng tính rằng đây chỉ là “ngọn gió quái”, sẽ qua mau, Trung Quốc vẫn “vừa là đồng chí vừa là anh em”, nên ông làm một bài thơ  giữ kẽ, rất chung chung, không dám nêu đích danh kẻ thù lúc đó là quân xâm lược Trung Quốc:

Tội giặc

                    Từ chiến địa trở về

                    Ngủ một đêm Đèo Gió

                    Trăng như vừng gương nhỏ

                    Trên tay em gái sàn

                    Nước máng từng giọt tràn

                    Như đàn tranh tưng tửng

                    Hương bưởi gần thoang thoảng

                    Nằm nghe gió rúc xa

                    Dưới ánh lửa hồng cô giáo Thuỷ

                    Nhớ trò, nhớ lớp ngồi ngẩn ngơ.

                                                      Cao Bằng 3-79

Với bọn Khơ-me đỏ, Pôn-pốt, Iêng Xa-ry cũng vậy, dẫu sao các “đồng chí” đó vẫn là cộng sản, chửi đích danh đâu có được:

Tới đây mắc võng Trường Sơn

Có thu trước mặt, có xuân bên mình

 … Sáng nay con đến ven rừng

Thấy cành hoa đẹp vết thương trên người

Chết rồi còn đỏ làn môi

Thấy sỗ sàng thân ngọc, con nghiêng cài áo khuy…

1981

Chỉ chung chung thế thôi, đâu có dám vạch mặt chỉ tên những đứa nào đã làm nhục mẹ. Cứ “giữ  kẽ”  vậy cho an toàn, biết đâu vài năm nữa các đồng chí đó lại “bốn phương vô sản đều là anh em” thì sao? Quả nhiên những bài văn thơ nêu tội ác đích danh bọn Trung Quốc xâm lược đều lặng lẽ biến mất khỏi sách báo, riêng có bài của Lưu Trọng Lư vẫn được in vào tuyển tập. Ca ngợi người anh hùng trong chiến tranh với Khơ-me đỏ và Trung Quốc cũng vậy, chẳng bù cho ngày trước lớn tiếng vạch mặt Mỹ-ngụy, nay không một chữ nào điểm mặt, chỉ tên quân thù :

Anh không ngồi đếm bao thu còn lại

                    Bao tuần lá đổ, vàng rơi

                    Khi cánh song anh khép kín cõi đời

                    Anh vẫn không tin: mình chết…

                    Khi gà mai mỗi ngày còn đập cánh

                    Ai tắt được lửa bình minh…

                                                     (Lẽ nào anh chết – 1981)

Cứ làm thơ theo định hướng chiến lược phân biệt “bạn thù” của Đảng kiểu “kẻ thù lâu năm của nhân dân ta vẫn là đế quốc Mỹ”, trái tim nhà thơ liệu có còn đập  theo những buồn vui trần thế nữa chăng? Trong những năm chiến tranh, đời sống  dân miền Bắc rất thê thảm, con nít sinh ra không đủ sữa, nhiều người phải giã đậu phọng thành nước cho con bú, triết gia Trần Đức Thảo ngày ngày đạp chiếc xe “Pơ-giô” con vịt – tức xe đạp con nít Liên Xô từ Khu tập thể Kim Liên tới Thư viện Khoa học xã hội, mang theo cái cặp lồng trong có hai cục bột mì luộc, trên đường ghé nhà ăn tập thể tranh thủ xin… bi-đông nước chè “một hào ba gói”. Trong khi đó Lưu Trọng Lư sống trong khu Ba Đình giành cho các quan, mua bán tại cửa hàng Tôn Đản là “chợ vua quan” làm sao thấu hiểu nỗi khổ dân chúng nên thơ ông tuyệt nhiên không một câu cảm thông những cảnh đời khốn khó. Suốt cả chục năm 1975-1986, ông vẫn  náu mình trong “Hoành sơn nhất đái” – ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng muôn thủa. Năm 1982, một anh bạn đi Pháp về cho coi ảnh chụp … bác Hồ ngủ trưa giữa ổ rơm ngoại thành Paris, Lưu Trọng Lư liền cảm khái thành thơ:

Giữa ổ rơm

Nằm nơi đất lạ, tình không lạ

                    Giấc ngủ tìm về giữa ổ rơm

                    Một đời gắn bó mùi rơm rạ

                    Mắt nhắm còn lo chuyện áo cơm…

Thế đấy, hàng triệu người già, trẻ con trong những năm tháng đó lấy rơm làm giường sao nhà thơ không buông một tiếng thở dài? Tiếc thay đó là điều cấm kỵ trong văn chương miền Bắc nên ông cứ ngó lơ, ngậm miệng “giữ ghế” cho … con cái đi học Liên Xô, dân chúng có khổ sở vì “giá, lương, tiền” ông vẫn reo vui :

“Đẹp lắm! trên đời những vấn vương

                    Chao ôi thiên lý một con đường…

                    Đi trong trời đất từ duyên ấy…”

Thưa vâng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “thiên lý” lắm, nếu cứ ở khu Ba Đình, hưởng sổ cung cấp Tôn Đản thì nhà thơ cứ đi mãi được và lại còn hô hào thanh niên:

“Chút lửa hồng, em hỡi

                    Ngày ấy, còn đỏ trên tay

                    “Nào lên đường đi! người trai trẻ !”

                    …Ta đi như một hiệp sĩ hôm nào…

                                                                               1986

Thày giáo dạy văn bình giảng bài này cho học sinh ắt hẳn sẽ tán “truyền thống cách mạng vẫn còn trong tay, nào lên đường noi gương các anh hùng liệt sĩ”. Nhưng lên đường đi đâu, chiến tranh đã qua rồi đâu còn mặt trận nữa? Chỗ này thì nhà thơ…tắc tị, đành lờ đi chứ còn biết nói sao? Không lẽ hô hào lên đường làm giàu, cái đó khỏi cần nhà thơ hô hào, hàng chục ngàn các cô gái nông thôn đã chẳng lên máy bay sang Đài Loan lấy tàu rồi đó sao?

Vậy nhưng thời thế rồi cũng đổi thay, sang kỳ kinh tế thị trường, đề tài “ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng”  xem ra mất khách, dải “Hoành sơn nhất đái” không còn là nơi dung thân vạn đại cho những con chim chỉ biết hót véo von trong lồng son cóng sứ. Ngay nhà văn quân đội gạo cội Nguyễn Minh Châu cũng phải đọc “Lời ai điếu cho văn chương minh hoạ”,…

Và, “theo phong trào” Lưu Trọng Lư cũng viết sách thị trường. Năm 1989 cho ra đời cuốn hồi ký “Nửa đêm sực tỉnh”. Ai chà, đọc cái tựa sách cũng đã thấy đậm màu “phản tỉnh” – nửa đêm chợt tỉnh giấc để suy nghĩ gì đây? Ăn năn, sám hối về quãng đời đã qua? Xét lại đường lối  văn nghệ của Đảng  đã đưa Lưu Trọng Lư đến chỗ bạt vía nàng thơ? Không phải! Để làm yên lòng tuyên huấn và gây tò mò cho độc giả bỏ tiền mua, sách có ghi rõ phụ đề “Hồi ký – Nhớ lại những mối tình”. Vậy một mũi tên trúng cả hai đích, ổn thoả đôi đường, Đảng yên tâm mà đầu nậu bỏ tiền in sách cũng yên trí.

Gọi là “nhớ lại những mối tình” nhưng tác giả đã bỏ qua cái phần hay nhất là những “cuộc tình cô đầu”  để kể chuyện hai bà vợ chính thức và những giao tiếp các tên tuổi nổi danh như Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đỗ Cung, Điềm Phùng Thị… qua đó nêu bật được con đường từ dòng dõi danh gia vọng tộc đến với cách mạng như thế nào. Bà vợ đầu là một cô gái Hội An, sau một lần gặp ở Huế đã lặn lội ra tận Hà Nội gặp nhà thơ để “ngày nào cũng đi chơi với nhau”. Hoá ra cô Tài là người hùn vốn sản xuất dầu tràm nhãn hiệu Thanh Thuỷ, trùng với một bút hiệu của nhà thơ bởi thế đem lòng quý mến. Cưới cô Tài ít lâu, nhà thơ đưa vợ về quê Quảng Bình sống trong ngôi nhà nhỏ ven sông Gianh; nhờ vào tiền vợ nên ngày ngày chỉ “sớm leo núi, chiều bơi thuyền”. Khi tiền cạn, vợ chồng đành dọn về Huế tìm kế sinh nhai. Thời gian này Lưu Trọng Lư cho ra đời truyện ngắn “Người sơn nhân” mà theo lời tác giả được cụ Phan Khôi “đã đưa cuốn truyện của tôi lên mây xanh” với lời tâng bốc “văn đàn cho đến nay chưa có tác phẩm nào có giá trị sáng tạo như thế…”.  Cùng lúc đó những bài thơ mới đầu tiên của Lưu Trọng Lư ra đời gây xôn xao dư luận tạo đà cho nhà thơ đưa cả gia đình ra Hà Nội, nơi phồn hoa đô hội, đâu ngờ ra đó “khác gì số phận một chiếc thuyền nan bé nhỏ giữa ngàn sóng đại dương”. Lúc đầu nhiều người tìm tới để “mua lúa non”, giao tiền chưa cần bản thảo, chỉ cần “khi hứng ông viết vài câu để lại cho đời”. Thế rồi “cơm áo không đùa với khách thơ”, nhà thơ than thở: “Bên những bài thơ trong sạch là “ Khói lam chiều”, “Voi già vua Hàm Nghi”, “Cầu sương điếm cỏ”….lương tâm nhà văn đã qua những bước chán chường mệt mỏi. Tôi sẵn sàng viết những tiểu thuyết để làm vui lòng những tiểu thư, những bà lớn, những cô gái tân thời…”.

Một lời tự thú thật hiếm hoi trong sự nghiệp văn chương Lưu Trọng Lư!

Tiếc thay, giá lời tự thú này được viết 50 năm sau đó, thì trước khi trở về với đất, “con nai vàng” còn lưu lại chút ngậm ngùi trong lòng người đọc.

Nhưng rồi dù có viết để “vui lòng các bà các cô” đi chăng nữa, nhà thơ cũng không trụ nổi đất Hà thành, đành dắt díu nhau về Thanh Hoá dạy học, sống đời công chức tỉnh lẻ. Dăm năm sau, bà vợ đầu mất đi, để lại cho nhà thơ hai đứa con nhỏ, và như lời tác giả: “kết thúc mười năm tình nghĩa” “một chương mới của đời tôi đã mở ra”.

Chương mới đó là chuyện tình thứ hai và cũng là sau cùng, chiếm tới 9/10 “Nửa đêm sực tỉnh”. Lúc này nhà thơ đã vào tuổi tam thập, đang thất vọng vì thơ không nuôi nổi người, “cái buồn, cái đau, cái tuyệt vọng để bán liệu có ai mua?”. Có lần, đọc vài đoạn trong kịch thơ “Ngọc Du, Ngọc Duệ” trước một cử toạ ít người, nhà thơ cảm thán thân phận “không còn một chỗ ngồi, chỗ đứng, một nẻo đi…” đến mức  “như không còn kiểm soát được mình nữa, sẵn có bao quẹt trong túi, tôi đốt luôn tập thơ của tôi trên tay…”.

Đó là lần duy nhất đốt bản thảo! Tiếc thay, từ đó về sau, nhà thơ không lặp lại cái việc đáng làm này nữa. Chắc vì đã có “một chỗ ngồi, một chỗ đứng” trong làng thơ và đã có “một nẻo đi” theo cách mạng chứ không bế tắc như hồi chưa có Đảng nữa. Tất nhiên,  giúp nhà thơ thoát khỏi bế tắc lúc đó chưa phải Đảng mà vẫn là… tình yêu.

Cô gái đó – tên Mừng và là bà vợ sau chót, cũng dòng hoàng tộc, con gái một thày đờn, trước khi chết đã kịp truyền cho con gái mọi ngón nghề đàn tranh để sau này cô dạy cho giới quan lại, quý tộc, “dạy  cho cả con gái Phạm Quỳnh, quen vào ra các nơi dinh thự”,  và sau cách mạng được “anh Nguyễn Chí Thanh cũng như anh Tố Hữu thường khen: đàn của Mừng rất lạc quan, rất tươi”.

Sau khi bố chết, cô Mừng được mẹ hứa gả cho một công chức giàu có, “môn đăng hộ đối”. Ấy thế rồi chẳng hiểu có ma đưa lối tiên dẫn đường, hay vì tâm hồn lãng mạn, trái tim cô “lạc nẻo” sang chàng thi sĩ nghèo kiết xác, đáng tuổi cha chú, đã một đời vợ và hai con riêng. Tất nhiên bà mẹ phản đối quyết liệt mối tình trong con mắt bà là cọc cạch và phi đạo đức. Nhưng ngăn sao được ma lực của những vần thơ rót vào tai, chảy xuống tim con gái bà? Theo nhà thơ kể lại, một ngày nọ, chẳng hiểu thi sĩ dỗ ngon dỗ ngọt ra sao, cô gái con nhà gia giáo tên Mừng đó đã nói dối mẹ để hẹn hò người tình “qua đêm” trên một chiếc thuyền nhỏ đi xa khỏi Huế.

“Đêm ấy, gió cứ thổi. Thuyền cứ trôi. Chúng tôi không cần biết thuyền ngược lên Tuần hay xuôi tới cửa Thuận. Nếu tình yêu có đỉnh cao, thì đây là đêm thiên thai của chúng tôi…”.

Vậy là sau cái đêm “động phòng” trên sông ấy, “chẳng cần những cái gọi là lễ hỏi, lễ cưới ở trên đời”, ông nhà thơ đã phỗng tay trên cô vợ sắp cưới của anh công chức và đứa con gái rượu của một bà mạ xứ Huế hết lòng thương con. Bù đắp lại, cô gái được nhà thơ ca ngợi :

“Em là chim ý nhi

                    Vơ vẩn dưới gốc thuỳ

                    Thẩn thơ tình nghệ sĩ

                    Thơ thẩn cơn chia ly

                    Em chở một hồn đầy…”

Vậy mới biết, “dùng bút làm đòn xoay chế độ” chưa thấy đâu, nhưng cứ rót vào tai nàng những vần thơ như thế thì đến mười bà mẹ cũng phải chào thua chịu mất con gái cho thi sĩ.

Riêng bà mẹ cô Mừng không dễ chịu thua, bà phản kháng quyết liệt. Sau đêm đi hoang, cô gái viết thư cho nhà thơ: “Ra đến giữa sân mạ gọi lại: Mừng vào đây tao hỏi. Một buổi chiều, một ngày, một đêm mày đi với ai, mày đi những đâu… đừng nói nữa tao biết cả rồi. Dưới nhà “anh ấy” (tức chồng sắp cưới) cũng biết cả rồi, khỏi phải nói. Mày đi với “chú mày” (tức nhà thơ), mày đi giữa phố có thèm tránh ai đâu. Từ lúc nào mạ chuẩn bị sẵn một thanh củi. Cứ thế mà phang vào em, bên hông trái, bên hông phải. Em nói: mạ cứ đánh đi… Mạ giựt tóc em, bứt đừng khuy áo em ra, giựt cả vòng ngọc em đeo nơi cổ. Những hạt ngọc văng ra tung toé…”. Đúng là một bi kịch Romeo và Juliette thời “thơ mới” ở Việt Nam. Duy có điều chàng Romeo xứ Mít  chẳng hành động gì hết, chẳng tới dàn xếp với vị hôn phu của người yêu, cũng chẳng tới quỳ xuống xin “mạ” tha thứ, chàng chẳng làm gì ngoài… làm thơ. “Quả tình tôi là một kẻ bất lực. Tôi chỉ biết ngồi chờ Mừng đối phó, chờ Mừng hành động. Tôi bị gạt ra ngoài vùng lo toan, mưu kế của Mùng. Tôi tin rằng trước bao sự doạ dẫm hay doạ nạt của người mẹ, Mừng chẳng đầu hàng. Đau đớn càng nhiều, Mừng càng gắn bó, chung thuỷ với tôi…”. Nhà thơ đã tiên đoán đúng, chỉ một tháng sau, nàng Juliette đã trốn nhà đi theo chàng Romeo trên chuyến tàu lửa về Đà Nẵng xây tổ ấm…

“Mừng quyết định bứt đồ trang sức ra khỏi thịt da, đem đi cầm đi cố. Cả vòng chuỗi ngọc cũng đã ra đi…”. Rồi đến lúc chẳng còn gì để bán nữa, hai trái tim vàng không thể uống nước lã cầm hơi trong túp lều tranh, và  cô gái đã quyết định: “Không thể như thế này được nữa đâu. Em phải về thôi”, Mừng khóc ré lên như một đứa trẻ…”.

Cô gái trở về không phải để xin xỏ mẹ mà vì – theo tác giả “Mừng đã sung sướng rỉ vào tai tôi: Cụ Hồ Chí Minh đã về ngoài ấy…”.

Ôi chao ôi, tiền hết gạo cạn thì cái sự “trở về” của cô gái chẳng qua để xin tiền mẹ là rõ rồi, vậy mà ông nhà thơ lại bịa ra một cái cớ tận đẩu tận đâu. Rồi hứng lên, ông đặt vào miệng người yêu lời lẽ chỉ có ở nữ nhân vật tiểu thuyết những năm 1960 sau này:

“Mừng còn nói thêm: Em tin cách mạng sẽ đến, em sẽ đứng trước toà án cách mạng, em bảo vệ tình yêu của em…”.

Và thế là bi kịch Romeo Juliette thời tiền chiến ở Việt Nam nay đã có “ông Bụt”… cách mạng hiện lên để gỡ rối mọi chuyện. Nàng trở về nhà, ít ngày sau chàng cũng về theo và phép mầu thần kỳ của “ông Bụt” đã xảy ra, khi nhà thơ về tới Huế:

“Thành phố đã lên đèn đã lâu. Tôi đứng nhìn xuống sông, hứng ngọn gió thì nghe có tiếng trống nhịp. Khúc hát hành quân. Tôi ngẩng lên bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người cầm cờ đi trước…một cô gái mặc cái áo thô đen trông giống Mừng và tôi phóng mắt nhìn kỹ lại: Mừng. Tôi không chạy tới Mừng. Tôi cũng chẳng kêu to tên Mừng…Tôi cứ thế, bước theo đám biểu tình …”.

Ôi trời ôi, sao mà “tốc độ” quá vậy? Một người con gái hoàng tộc, bỏ nhà theo trai, hết tiền quay về với mẹ mà thoắt cái, hôm trước hôm sau đã trở thành… nữ chiến sĩ cách mạng cầm cờ đi đầu đoàn biểu tình, thì quả thực trí tưởng tượng của nhà thơ đã vượt quá sức chịu đựng của người đọc.

Ấy vậy mà “cảm hứng bốc phét ” của thi sĩ vẫn chưa chịu dừng lại, ông còn đi tới luôn, “sáng tác” ra câu chuyện:

“Sau khi ở cửa Ngọ môn, Bảo Đại tuyên bố thoái vị để được làm người dân của một nước tự do thì một hôm người con gái cũng ở trong hoàng tộc được gọi ra trước một toà án, trước công chúng đông đảo, trẻ trung và nàng đã dõng dạc tuyên bố: “Người chồng chưa cưới của tôi là một người đáng quý trọng, nhưng duyên chẳng đưa, phận không đẩy, tôi bị ép một bề. Tiền dặm hỏi, tôi xin trả lại. Bây giờ cách mạng đến rồi. Tôi yêu ai tôi lấy người ấy. Đó là việc của tôi. Cách mạng đã giải phóng đất nước, lẽ nào chẳng giải phóng trái tim tôi. Xin cám ơn cách mạng đã  mở ra toà án này cho tôi được nói rõ lòng tôi. Tôi chẳng có gì tội lỗi hết, phong kiến bắt tôi bỏ người tôi yêu để lấy người tôi không yêu”. Quần chúng vỗ tay… nhìn lên các quan toà, người nào người nấy mặt mày đều hớn hở. Mừng về báo cho tôi biết: Mừng thắng rồi…”

Tội nghiệp bà mẹ mang nặng đẻ đau bị con gái yêu kết ngay cho cái tội “phong kiến”, một trọng tội thời bấy giờ, và từ lúc đó bà cũng biến luôn khỏi tâm trí đôi vợ chồng trẻ. Tội nghiệp vị hôn phu, cách mạng nổ ra lo giữ cái thân hoàng tộc chẳng xong, còn đâu dám kiện một “nữ chiến sĩ cách mạng” tội từ hôn. Vả chăng đôi uyên ương tiền ăn còn chẳng có lấy đâu ra trả lại “tiền dặm cưới” ?

Cuốn “Nửa đêm sực tỉnh”  của Lưu Trọng Lư không còn là “hồi ức”  nữa, nó là một thứ “truyện tưởng tượng” thì đúng hơn. Tới đây, nhà thơ “hồi ức” toàn chuyện cách mạng. Nào “Như một luồng gió cách mạng thổi tới, tôi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh và anh Tố Hữu. Anh Thanh xông xáo, chân thành chân thật. …Tố Hữu mũm mĩm, tráng trẻo thư sinh…các anh là những người còn rất trẻ, rất nhanh nhẹn, linh hoạt, có nhiều tài năng – những con người của mọi tình thế…” − hết mức tán dương. Nào là “chúng tôi ở chung, ăn chung với anh Lưu Quý Kỳ, anh Trần Hữu Dực …”

Thế là “Hồi ký, nhớ lại những mối tình” của Lưu Trọng Lư  đã biến thành hồi ký cách mạng! Thảo nào nó chỉ được xuất bản có mỗi một lần thời xoá bao cấp chuyển sang kinh tế thị truờng. Từ đó đến nay chẳng còn thấy ló dạng trên các quầy tầng tầng lớp lớp những sách tái bản của các nhà văn nhà thơ tiền chiến…

 

 

Vậy là trên “mặt trận” thơ và văn xuôi, dẫu có hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, nhưng cái cốt lõi làm nên văn chương là giá trị nghệ thuật của nó thì Lưu Trọng Lư chẳng tạo được bao nhiêu để ít ra cũng được báo chí Nhà nước tung hô một thời. Trong khi đó các nhà văn, nhà thơ cùng trang lứa như Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài … lại nổi đình đám với những “Vỡ bờ”, “Truyện Tây Bắc”, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… tuần nào cũng có bài nghễu nghện trên báo Văn Nghệ. Thêm nữa Hội nhà văn VN là chỗ “quần hùng tụ hội”, những chiếc ghế béo bở đã bị mấy cha từ Việt Bắc trở về giành hết, chen chân vào đó dẫu có anh Lành bảo kê, “con nai vàng” dù có vờ ngơ ngác cũng chẳng kiếm được bao nhiêu bổng lộc. Thôi thì “đầu gà hơn đuôi trâu” làm anh hùng nhất khoảnh ở Hội sân khấu lại chẳng hơn một xuất Uỷ viên Thường vụ Hội nhà văn ư? Thế là ông nhà thơ quyết tiến công vào một mặt trận mà chẳng mấy anh nhà văn muốn chen chân vô: viết kịch, nhất lại là kịch thơ.

Và thế là văn chương Lưu Trọng Lư có một mảng ít người biết nhưng nếu không nhắc tới thì việc đánh giá sự nghiệp thật oan uổng cho thi sĩ  lắm. Kịch phẩm hàng đầu của Lưu thi sĩ là “Tuổi hai mươi” – kịch thơ dài viết trong những năm 1966-1971 mà khi ra đời, thi sĩ Chế Lan Viên đã xỏ ngọt rằng: “Các em mà anh Lư nói đó bây giờ cũng ngoại sáu mươi chứ không còn tuổi hai mươi như anh viết nữa”. Thi sĩ Lưu Trọng Lư nóng mặt, đáp lại rằng “Đây là tôi viết cho lứa tuổi hai mươi còn lứa tuổi sáu mươi phải nhờ ông vậy…”

Vậy Lưu Trọng Lư đã viết gì cho “tuổi hai mươi”?

Mở màn  chị Trăng “giao lưu” với các cây Mận, Đào, Xoan, Trúc.. Chị than thở:

Từ trong hoàn vũ vô biên

                    Ta lăn quanh bóng chị dâu hiền

                    Chị yêu dấu muôn vàn: Chị Đất

                    Ôi nửa mình chị chảy đầy nước mắt

                    Chìm đi trong bóng tối đặc dày…

Hoá ra “chị Trăng” cũng mang nỗi đau…chia cắt, y hệt “cảm hứng thời đại” lúc đó Đảng quy định cho văn nghệ sĩ. Nửa đêm về sáng rồi cuộc trò chuyện giữa Trăng và Cây vẫn còn rôm rả. Bất chợt ở ngoài cầu ao có tiếng chân khua xuống nước. Ai vậy nhỉ? Ai mà giữa đêm hôm khuya khoắt còn chưa đi ngủ còn ra ngoài ao vầy nước nhỉ ? Cô Đào nói rằng chắc cô con dâu nhà mẹ Xuân, xa chồng không ngủ được nên mới ra tắm ao vậy thôi. Cô Mận mới hỏi rằng bà Xuân có những 3 cô dâu, vậy cô nào “khó ngủ vì vắng chồng”. Lập tức bác Mít nổi giận “con Mận con Đào hay nói tào lao”, xúc phạm phụ nữ cách mạng:

“làng này ai không biết

                    Ba cô dâu đẹp nhà mẹ Xuân

                    Tái nhập ngũ một lần

                    Cả ba ông đều đi bộ đội

                    Cơm chung nấu một nồi

                    Con: chẳng con chị con tôi

                    Xóm dưới làng trên thảy đều mến phục…”

Ba cô vợ bộ đội mẫu mực như vậy, làm gì có chuyện nửa đêm nửa hôm còn ra cầu ao “chao chân” làm gì ? Vậy thì người đó là ai ? Cô Đào dự đoán :

“Đúng rồi! Trót thả măng (cá măng) với trắm mè sợ măng già sục sạo đêm khuya. Cô kỹ thuật phải  ra cầu ao ngồi gác..”

Các cô cãi nhau loạn cào cào, “cô dâu” bà mẹ Xuân chẳng phải, cô kỹ thuật nuôi cá cũng không, vậy thì ai là người đó ? Cô Trúc lại đoán:

“Chắc mẹ Đối lo cho con

                    Sáng nay đã lên đường

                    Lo cho dâu: hoa đến thì, xuân đợi

                    Và thương cho mình tóc đã điểm sương…”

Lo lắng trăm bề vậy chắc nửa đêm chẳng ngủ được nên mẹ ra cầu ao rửa chân hẳn? Không phải, bà mẹ VN có con đi bộ đội thì phải hãnh diện tự hào chớ, làm gì có chuyện “lo lắng cá nhân” vậy ? “Tính kịch” mỗi lúc một tăng cao khi  cái bóng người ngoài cầu ao hiện rõ ra là một…ông già. Mà cũng không phải ông già, chính là hồn của bố bà Xuân, tức người ông trong gia đình hiện về thăm con cháu.  Lão Mít lập tức nhớ lại cảnh khổ thời phong kiến, trước khi có Đảng phát động cải cách ruộng đất :

“Thuở thằng Chánh Yên …mùa vừa chín tới

                    Sóc trên cây chưa ngửi thấy mùi

                    Thằng Chánh Yên dẫn xác tới rồi

                    Lấy sào chọc đếm từng quả…

                    Quả đầu mùa màng biếu nó

                    Quả cuối mùa màng biếu nốt mới yên…”

Tội ác địa chủ ghê gớm chưa, nhưng bác Mít cho biết nay đã đổi đời rồi, “thằng Chánh Yên: của trời trả đất, giặc Pháp cũng lui rồi..”. Lúc này, người ông mới cho biết ông cũng là dân binh đánh Tây:

“Một đời ta trải bao nhọc nhằn gian khổ

                    Mắt từng quen cảnh sống chết chiến trường

                    Hạt gạo dân binh từng quẩy gánh

                    Súng trên tay từng gác núi Vụ Quang…”

Vậy là “người ông” đã một đời đánh Tây, cay đắng đủ mùi, lẽ ra chỉ mong con cháu sống thanh bình, sinh con đẻ cái, vậy mà không, ông chỉ  trở lại xem con cháu có “tiếp nối cha anh”  lên đường đánh Tây  không hay là an phận thủ thường. Và ông mừng rỡ khi đứa cháu cũng lại “tay súng lên đường”:

“Ai thế nhỉ ? Khăn gói lên đường

                    Lại trên vai khẩu súng

                    Chắc sắp sửa lên đường…”

Và người ông reo mừng :

“Chà! dáng đi vẻ đứng hiên ngang

                    Cháu yêu ta đó!

                    Đúng rồi: cháu yêu ta đó…”

Ôi chao ôi, ông ơi là ông, sao chỉ thích cháu “cầm súng ra chiến trường”, sao không mong đời cháu sung sướng, mát mặt hơn đời ông? Quả nhiên, đúng ý ông, đứa cháu cũng sắp lên đường nhập ngũ, nó ra đây để chờ chia tay người yêu. Trong giờ phút ly biệt này, nó nghĩ gì vậy? Nó không nghĩ vì sao nó phải dứt ruột chia tay mẹ, chia tay người yêu, nó không lo khi nó đi rồi, mẹ già có mạnh khoẻ, người yêu liệu còn trung thành với nó, mà chỉ nghĩ:

“Thương mẹ khi tắt đèn tối lửa

                    Cũng thương em khi “việc đội”, “việc đoàn”

                    Việc chung cũng trọn, việc riêng cũng tròn…”

Vậy là nó chỉ lo người yêu không hoàn thành nhiệm vụ sản xuất chiến đấu của người “em gái hậu phương” chứ đâu có bịn rịn, lưu luyến lúc sắp chia xa. Và rồi người con gái cũng xuất hiện…súng trên vai làm “người ông” khoái trá:

“Cô nào đấy nữa

                    Mặt mày coi sáng sủa

                    Cũng lại súng trên vai…”

Rặt những… súng là súng, đi đến chỗ hẹn người yêu chia tay đi xa, cũng không quên mang súng theo. Cô gái này thật đã làm đúng y boong lời dạy của Mao Chủ tịch: “Bất ái hồng nhan, ái…vũ trang…”. Người con gái chẳng cần son phấn gì hết, cứ khoác súng lên vai là…đẹp rồi. Và bác Mít trả lời “người ông”:

“Cháu dâu bác đó, bác ơi

                    Và người trai kia, thật cháu bác

                    Người thanh niên của Tổ Quốc

                    Súng trên vai sắp sửa lên đường…”

Rồi sợ “người ông” chưa hiểu lên đường đánh ai, bác Mít giảng giải :

“Nhưng bác ơi! Giặc Pháp đuổi rồi

                    Giặc Mỹ đến liền

                    Hai mươi năm đường đầy lang sói

                    Hai mươi năm sông đỏ oán hờn…”

Rồi như  sợ “người ông” chưa thấu rõ “tội ác giặc Mỹ xâm lược”, mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc xúm vào kể lể:

“Con nai gầy bên suối

                    Cành hoa héo giữa đồi

                    Lúa vàng đốt dưới ruộng

                    Nụ cười chết trên môi…

                    Ruột liền cắt đoạn

                    Giọt máu cắn đôi…”

Kinh khủng chưa, giặc Mỹ tới thì đến…con nai cũng gầy, hoa cũng héo, lúa cũng cháy và đến nụ cười  cũng…chết. Chỗ này ông nhà thơ quên dứt chủ nghĩa lạc quan cách mạng với hình tượng “nụ cười Võ thị Thắng” trước họng súng quân thù. Giặc giã độc ác vậy nên các cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đồng thanh:

Trai “sẵn sàng” băng miền hoả tuyến

                    Gái “đảm đang” ở lại hậu phương

                    Vì Tổ Quốc, đi, ở, đôi đường

                    Tuổi thanh niên đã nguyện xem thường…

“Người ông” còn thắc mắc nếu chiến tranh kéo dài liệu con cháu có còn coi rẻ tuổi thanh niên nữa không? Ông hỏi :

Dẫu mười năm xa cách

                    Tuổi thanh niên đã nguyện coi thường ?

Bác Mít trả lời ngay :

Vâng, đã nguyện xem thường

                    Dẫu ràng giữa tuổi yêu đương

                    Cốc rượu hồng bên môi mới bén

                    Khúc hát đêm qua vừa trao hẹn

                    Sáng nay hoa tiễn, vẫn tươi cười…

Đó “người ông” cứ yên tâm, con cháu chúng ta như thế đấy. Dù chỉ mới qua một đêm tân hôn, sáng mai phải ly biệt nhưng đôi trai gái vẫn…tươi cười. Nhà thơ “mô tả tâm lý nhân vật” như vậy thì…hết chỗ nói.

Lúc này  “người mẹ” cũng đã bước ra, bởi lẽ bà đang ngủ “nửa đêm sực tỉnh, bên cầu ao, ta nghe có tiếng chân chao, ai thế nhỉ ?”. Bà quên phứt ngay con trai mờ sáng nó sẽ dứt áo ra chiến trường, bà cứ đánh một giấc ngon lành mãi khi nghe tiếng chân khua nước ngoài cầu ao mới tỉnh dậy ra coi sao? Bà quanh quẩn một hồi chẳng thấy ai, sờ vào quả mít, bà mới nhớ ra con sắp đi chiến trường :

“Mít kia chẳng mai kia sẽ chín

                    Cũng muốn con ăn một miếng cho vui

                    Nhưng việc dân, việc nước lửa bỏng nước sôi…”

Vậy thì con cứ đi cho nhanh nhé, việc nước quan trọng hơn…ăn mít. Than ôi, có bà mẹ nào sốt ruột cho con đi ngay vào nơi mũi tên hòn đạn như ngày nay giục con đi lĩnh xổ số giải độc đắc vậy? Viết lách như thế, trách gì thể loại kịch thơ đã…chết bất đắc kỳ tử trên sân khấu Việt Nam kể từ khi nhà thơ Lưu Trọng Lư chiếm lĩnh “trận địa” này ?

 

 

“Bà mẹ” đã “cách mạng” tới mức đó, ấy vậy mà vẫn còn bị ông nhà thơ trách móc:

“Sao không học gương mẹ già thuở trước

                    Cũng thức suốt đêm thâu

                    Nhưng để may cờ cứu nước

                    Kịp cho con gà gáy lên đường…”

Chẳng hiểu có “cái thuở nào”  lại có bà mẹ “quái thai” đến thế, sáng sớm hôm sau con trai đã đi vào tử địa mà đêm đó bà vẫn còn ngồi…may cờ? Cảm hứng “ra trận” quá đà làm ông nhà thơ cứ bịa ra những chuyện trời ơi đất hỡi vậy.

Rồi cũng tới cảnh “chinh phu, chinh phụ” thời chống Mỹ. “Người con trai” và “người con gái” ngồi xuống một tảng đá. Ôi chao, trong lúc tử biệt sinh ly, lẽ ra hai con tim phải hoà chung thống khổ, ngờ  đâu cô gái mở miệng:

“Anh ra đi mẹ có dặn gì ?”

Chàng trai phấn khởi:

“Mẹ cười, mẹ bảo

                    Việc nước con cứ đi

                    Việc hợp tác, việc nhà                                    

Có tao có nó…”

Bất chấp tình cảm tự nhiên trai gái khi ly biệt, ông tác giả kịch bản bắt đôi uyên ương sắp rời cánh …ca bài sản xuất và chiến đấu. Cô gái nức nở:

“Nhớ anh em mở một đường cày

                    xách dăm gầu nước tưới cây anh trồng

                         … Em đi đón dòng “cá bột”

                    Mang giống về chọn lọc em ươm

                    Một năm anh về, hai năm anh về

                    Mười  năm anh về, cá lớp lớp sinh sôi

                    Nhớ anh thế đó, anh ơi…”

Chàng trai cũng sụt sùi:

“Kẻ địch nào chẳng thắng em ơi,

                    Khó khăn nào anh không vượt nổi ?

                    Nhớ lời Bác dạy

                    Nghìn sông anh cũng lội

                    Vạn đèo anh cũng băng…”

Tâm tình lâm ly xong rồi, tới “tiết mục tặng quà”. Cô gái  tặng “gói kim chỉ” để áo rách anh tự vá, còn anh trai tặng gì ? Cô gái đoán …  cuốn sách dạy trồng dâu ? Không phải. Thôi đúng hạt giống rau rồi ? Cũng không phải, cô lại đoán:

“Phải rồi , anh cho em chiếc lược

                    Bằng thép mỏng máy báy?”

Anh con trai nổi tự ái :

“Nếu là chiếc lược em ơi,

                    Thì hãy đợi một ngày

                    Khi tự tay anh hạ lấy

                    Con “thần sấm” giữa trời

                    Và tự tay anh chuốt thành lược…

Ghê chưa, nếu em muốn anh tặng lược thì đợi anh bắn rơi máy bay Mỹ lấy mảnh nhôm đã. Các nhà chế tạo máy bay Mỹ cần chú ý chi tiết này, nên làm sẵn vài ngàn chiếc lược, phòng khi máy bay hạ cánh khẩn cấp trên đất Việt, còn có cơ đàm phán cẩu nguyên chiếc về kẻo máy móc bị xả thịt làm… lược. Khi cô gái chịu thua không đoán được, chàng trai mới “bật mí”. Tưởng gì quý báu, hoá ra là…chiếc gương. Đã vậy còn dặn dò:

“Những khi cày xong một buổi

                    Em ra gốc muỗm em ngồi

                    Em lấy gương đẹp ra soi

                    Trận đấu chiều đã vãn

                    Em lấy gương đẹp ra soi

                    Em gỡ những vết bùn trên tóc…”

Vậy em nhớ nhé, gương này anh tặng chỉ  dùng trong…sản xuất chiến đấu, còn sáng ngủ dậy, hoặc đình đám hội hè chớ dùng tới nó. Thật biểu hiện sinh động của một nền văn minh “đứng đầu nhân loại”. Ấy thế mà cho dù chịu thắt buộc “nội quy sử dụng gương”  vậy, cô gái vẫn vui vẻ:

“Anh ra đi mưa nắng chiến trường, sao cho tròn nhiệm vụ

Em ở nhà, một niềm chung thuỷ hai chữ “đảm đang”

Dẫu năm năm, mười năm, nhìn gương em chẳng hổ,

Đường chiến đấu, dài lâu gian khổ…”

Một cuộc chia ly màu siêu đỏ, đến “người ông” vốn là chiến sĩ Cần Vương cũng phải ngỡ ngàng, phấn khởi :

“Thậm chi ( không có dấu)  là khoái trá

Con trai con gái bây giờ

Tiễn đưa nhau đi đánh giặc mà cứ như là…”

… là đưa nhau tới… phòng cưới vậy. Thế là cả ông lẫn cháu đều ra sa trường, để  hoàn chỉnh “bức tranh gia đình cách mạng”, cha truyền con nối đánh giặc, tất nhiên phải có ông bố nữa, thế là ông nhà thơ cho “hồn người cha” ra sân khấu cho đủ tam đại cầm súng:

“Ta người chiến sĩ Điện Biên,

                    Về đây, thăm vườn cũ

                    Mười mấy năm cách mặt chẳng xa lòng…”

Gặp lại bố ngày xưa, cha con chưa kịp hàn huyên, người cha đã mang chiếc ba lô xưa chống Pháp, nay con sắp mang đi chống Mỹ kể lể:

    “Ôi, Chiếc ba lô ngày cũ

                        Giữa chiến trường Điện Biên Phủ

                        Còn nguyên đây: dấu đạn giặc xuyên qua

                        Chiếc ba lô đã từng thấm máu hồng  ta…”

Và khoe với người ông :

“Cha hãy trông đây

                        Chiếc ca bác Hồ gửi tặng

                        Còn nguyên hai chữ Điện Biên…

                        Con qua cháu lại

                        Lớp lớp tay chuyền…”

Mười mấy năm cách trở quay về, hồn “người cha” chẳng thiết nhòm ngó vợ sống ra sao, ở vậy hay đi bước nữa, con cái, nhà cửa thế nào, chỉ chăm chăm chuyện “đánh giặc”:

“Lòng con bao xiết tự hào

                        Nhà ta ba đời vằng vặc trăng sao

                        Ông đến cháu dốc một lòng đại nghĩa…”

Cũng may vở kịch viết vào năm 1971, nếu chậm lại ngót chục năm nữa, nhất định ông nhà thơ đưa thêm ‘thằng chắt” lại vác ba lô đi đánh … giặc Tàu thì lớp lang, ra vào sân khấu còn phức tạp nữa. Lúc này con chưa ra chiến trường, cháu chưa lọt lòng mẹ, bởi vậy chỉ có hai thế hệ cha ông tranh nhau kể lể thành tích chiến đấu. Người cha khoe:

    “Vâng, giữa chiến trường con đã ngã

                        Vết đạn đã xuyên mình

                        Nhưng Điện Biên Phủ quang vinh

                        Đã ra đời một hành tinh mới…”

“Thế hệ cha” ghê gớm chưa, hy sinh thân mình làm mới bộ mặt hành tinh. Bốc phét cỡ vũ trụ thế này thật xứng tầm…ếch ngồi đáy giếng. Nghe thằng con thổi thành tích lên hết cả cỡ giành cho cha, người ông đâm bực mình :

NGƯỜI ÔNG (động lòng tự ái):

                                Con ơi. Thuở cha đứng lên

                                Cũng trời nghiêng, đất ngả

                                Oanh oanh liệt liệt một trường

                                Mật nào chẳng nếm, gai nào chẳng nằm

                                Gươm đại nghĩa mười năm không nao núng…”

 

Lúc này mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đành phải nhảy vào can khéo hai cha con:

“Chị em “bầy tui” : Mận, Đào, Xoan, Trúc

                        Lại xin nghiêng đầu trước đầu bạc Vụ Quang

                        Mười năm gian khổ kiên cường…”       

(và tất cả lại đến bên người chiến sĩ Điện Biên )

“và trước người chiến sĩ Điện Biên anh dũng

                        Chị em ‘bầy tui” xin thân mến cúi chào:

                        Một trận long trời dậy sóng năm châu

                        Thực dân quen thói đè đầu

                        Việt Nam đứng dậy phất cao cờ hồng…”

Vậy là…huề, cả “ông” lẫn “cha” thành tích “chống quân ngoại xâm”  đều tầm cỡ “long trời lở đất” cả, ngang sức ngang tài anh hùng cách mạng, khỏi tranh cãi ai hơn ai. Người ông phấn khởi :

“Cha chả là vui. Nhưng mà…

                        Nghe, để bác nghe cho hết lỗ tai

                        Nhìn, để bác nhìn cho suốt con mắt…”

“Người mẹ” bước vào, khán giả chờ đợi một cuộc trùng phùng cảm động sau mấy chục năm âm dương cách trở giữa đôi  vợ chồng “người cha”, tiếc thay ông tác giả kịch bản đã dấu biến “tình huống nhạy cảm” này để cho bà vợ “trữ tình bay bổng” trong nỗi niềm “chống Mỹ cứu nước”:

“Con ơi, giặc trước tan

                        Ruộng vườn vừa cướp lại

                        Giặc sau đã tới…

                        Nhưng con ơi. Tội giặc ngập núi ngập sông

                        Thương hận: tràn Nam, tràn Bắc

                        Mẹ thương con phải giục bước lên đường…

                        Con ơi, ơn Đảng đi về, bao xiết công lênh…”

“Hồn chồng” gặp lại vợ chăng mảy may da diết nghĩa phu thê lại chăm chăm vào …cái ba lô vợ khoác lên vai con trai :

“Ôi, rộng lớn hai vai con

                        mẹ khoác lên một niềm đại nghĩa

                        Vườn cũ gió bay vờn tóc mẹ

                        Suối ngàn, cất bước đẹp tình con…”

Và sau cùng “người ông” bật mí kẻ khua nước dưới cầu ao giữa đêm khuya chẳng phải con gái, cháu dâu động tình mất ngủ mà chính là …ông đó:

  “Chao nước đêm khuya chính là lão đó

Ta nghe đất nước, cơn bão trước, cơn bão sau

Dức dối thân mình, bàng hoàng giấc ngủ

Nay ta về đây,

Tai đã sướng lỗ tai

Mắt đã no con mắt…”

Vâng, khán giả đã “no con mắt” cả chục nhân vật thuộc ba thế hệ ra vào sân khấu trong một hoàn cảnh rất kịch mà người xưa từng nói “Thùng thùng trống đánh ngũ liên, bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…”, đã “sướng lỗ tai” những những ngôn từ vĩ đại, vậy mà tiếc thay, người xem chỉ thấy quay đi quay lại có mỗi một nhân vật : chính là ông tác giả kịch bản. Ông đã chui vào hình hài của vợ chồng ông, cha, con người ta để làm mỗi một việc là động viên tuyên truyền “Tuổi hai mươi” lên đường chống Mỹ bằng những lời thơ lủng củng, sáo mòn, ngôn từ khẩu hiệu.

Kịch chẳng có, thơ cũng không – vở kịch thơ “Tuổi hai mươi”, tác phẩm chính đã đưa thi sĩ Lưu Trọng Lư lên chiếc ghế Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã nhanh chóng rơi vào thùng rác thi ca của lịch sử giống y như giấc mộng kê vàng của ông vậy.

Những năm 1980, không khí sáng tác trong nước đã sặc mùi “cởi trói” tới mức các nhà văn nhà thơ cây đa cây đề cũng lăm le “phản tỉnh”. Chế Lan Viên có bài thơ “Bánh vẽ”, Nguyên Ngọc có “Đề dẫn”, Nguyễn Minh Châu “Đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh hoạ”…Những lộn xộn  tràn lan đó không thể không thôi thúc Lưu Trọng Lư “làm một cái gì đó” cho hợp “phong trào” cho dù ông vẫn âm thầm nghe ngóng theo kiểu “cứ để yên coi sao”.

Không dám ra mặt thực hiện “sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút” chống lệnh “cấp trên” viết sao cho khỏi cắn dứt “lương tâm thời đại”, ông len lén dùng miếng võ cũ rích từ thời Nhân văn Giai phẩm “mượn xưa nói nay” trong vở kịch nửa nói nửa thơ “Bình minh anh vũ” và cũng chỉ dám xẹt qua, mượn lời vai phụ “gài mìn” qua vài câu thoại bóng gió.

Truyện kịch kể rằng ở thời Trần Duệ Tôn, có ông Nguyên soái họ Nguyễn, vào một tối cao hứng, sai treo tranh “Nắng hè tuyết bay” mời tài tử văn nhân tới đề thơ. Đề tài thật trái khoáy, tuyết sao còn sống sót sang mùa hè và lại còn “bay” trong nắng? Ngụ ý gì đây?

Mở đầu cuộc hội, “Trần Doãn, nhà thơ đứng tuổi, ra dáng một quan thơ, áo quần trau chuốt, dáng vẻ đường bệ, “ đề thơ và được một  nàng “vũ nữ áo xanh” cất giọng ngâm lớn :

“Tuyết sao có tuyết giữa hè

                        Có chăng tuyết cũng tan đi với chiều…

                        Cánh bèo chỉ đẻ cánh bèo

                        Là hoa thiên lý mới leo đỉnh giàn…”

khẩu khí rất “bé ngoan”, tôn trọng “cấp trên”, hợp “quy luật” làm một “nhà thơ già”  đứng dậy vỗ tay khen rối rít:

“Đúng như vậy. Tuyết nào lại có tuyết giữa hè ? Như thế là trái đạo trời. Thơ này mới phải đạo, tranh kia không nên có…”. Bức tranh “nắng hè tuyết bay” này thật ngang trái với lẽ trời. Lẽ đời cũng vậy, có trước có sau, có ngôi có thứ, đổi ngôi, vượt phận, sang  hèn lẫn lộn là điên đảo thế tình…”

Cái thói “cừu con” “giữ trật tự”, “ổn định chính trị” này lập tức bị một “nhà thơ trẻ” phất tay áo cãi lại :

“Thế nào là điên đảo thế tình?

                        Thế nào là ngửa nghiêng trời đất?

                        Đông mà cứ tuyết lạnh mà nói

                        Hè mà cứ nắng gió mà ca

                        Thơ văn như thế là có mùi thiu đấy…”

Than ôi, nếu nhà thơ trẻ nói đúng thì sự nghiệp văn thơ sau cách mạng của chính ông tác giả kịch bản hẳn đã nồng nặc lên rồi. Bởi thế “nhà thơ già” lên tiếng chửi lại :

“Chuyện thơ văn  mà như chuyện nơi sông chợ…”

Lúc này quan Nguyên soái mới can đôi bên và mời người tiếp theo là Dư  Sinh, còn trẻ, áo quần xuềnh xoàng, dáng người bình dị đề thơ và được một cô “vũ nữ áo vàng”  cất tiếng ngâm :

“Tuyết từ giá rét đêm đông

Vẫn trong áo trắng sang sông với hè

Vẫn trong nắng cháy tuyết đi

Một lòng trinh tiết chẳng hề chịu tan…”

Bài thơ thật “ngạo ngược”, bóng gió văn nghệ sĩ dưới chế độ “quản lý tư tưởng”  chẳng khác gì “tuyết giữa mùa hè” đi trong “nắng cháy”, mặc dầu vậy, cần giữ lấy bản chất “nghệ sĩ” chớ có chịu “tan”. Ngay lập tức “nhà thơ già” đập mạnh chén rượu xuống bàn quát to:

“ Bạo thiên nghịch địa, bạo thiên nghịch địa…”

hống hách, cha bố thiên hạ chẳng khác gì mấy ông nhà văn già xúm vào đánh đòn hội chợ nhóm viết trẻ Nhân Văn Giai Phẩm và tất nhiên trong số đó phải có nhà thơ Lưu Trọng Lư dấu mặt chỉ đạo. Tuy nhiên lúc này đã đêm trước của ngày cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ, lớp “nhà văn già” không còn độc diễn, Lưu Trọng Lư  đành đưa ra sân khấu “lớp trẻ” cho hợp “thời thượng”:

“MỘT NHÀ THƠ TRẺ đứng lên phất cao tay áo: “Thơ như thế là bạo thiên nghịch địa ư ? Các vị bảo : “Đạo người có trên có dưới. Khi đánh giặc thì kẻ trên dưới một lòng. Đánh xong giặc thì lại đạp cổ xuống bùn, kẻ thì “toạ hưởng kỳ thành” ấp này ấp nọ. Quý hoá thật, hay ho thật. Muốn leo đến đâu thì leo, nhưng khi đạp lên lưng những đứa nô tỳ cũng thử nhìn xuống xem: Cánh tay thằng dân đen ấy, cánh tay cha anh họ cũng còn  nguyên hai chữ “Sát Thát” đấy. Ấp ruộng các ngài cò bay sã cánh, các ngài  có nghĩ đến giun dế dưới  bùn đen…”

Lời tố cáo thật đanh thép từ thời Trần Duệ Tông vẫn còn “tươi rói” tới tận bây giờ khi giai cấp tư sản đỏ cầm quyền ngày càng cách biệt với đám dân đen đã từng cầm súng đi “chống  Mỹ cứu nước”. Hãy thử hỏi các “đồng chí”  chủ trang trại hàng trăm héc ta cà phê, cao su, tiêu, điều “cò bay sã cánh”, các đồng chí “chủ vườn” hàng chục mẫu Bắc bộ xanh tươi và béo bở, có khi nào ngó xuống đám dân đen một thời “Sát Mỹ” hiện sống ra sao với thu nhập 30 USD/ tháng ?

E rằng ý kiến của “nhà thơ trẻ” đã đi quá đà, “mượn xưa” thì mượn nhưng nói năng liều mạng quá e cấp trên phật ý, bởi thế Lưu Trọng Lư  vội vàng xí xoá :

NHÀ THƠ GIÀ (đập cốc rượu vỡ choang): “ Giọng lưỡi sông chợ, đâu phải chuyện thơ văn …”

Cái kiểu “bí cờ văng tục”, đá trái banh “chính trị” vào vườn văn thơ là thủ đoạn quen thuộc từ thời vu vạ nhóm Nhân Văn – Giai phẩm tội phản động, chống chế độ chứ không phải “đòi tự do sáng tác”. Dẫu sao, Lưu Trọng Lư cũng đưa được lên sân khấu cuộc tranh luận nảy lửa giữa “nghệ thuật vị cấp trên”,  đại diện là ông “quan thơ” Trần Doãn với “nghệ thuật vị dân đen” người phát ngôn là chàng nho sinh họ Dư nghèo. Tới đây lẽ ra Lưu Trọng Lư  không được “náu mình” đứng giữa hai phe nữa, ông phải bày tỏ quan điểm của mình, phải chọn hoặc “quan thơ” chính thống hoặc chàng nho sinh nghèo làm thơ “ngạo ngược”. Tiếc thay nỗi sợ cố hữu thường trú trong các nhà thơ cách mạng đã giữ ông lại, chỉ “tự cởi trói” được tới đó, chỉ đưa ra cuộc tranh cãi giữa đôi bên mà lờ đi không bênh vực và cũng chẳng lên án bên nào.

Từ đây kết thúc “câu chuyện thơ thẩn” để bắt đầu chuyện tình ai oán của Dư Sinh  qua nhân vật này bộc lộ khá rõ “con người thật” thi sĩ Lưu Trọng Lư. Nguyên trong hội đề thơ, chàng Dư chẳng thèm chú ý tới cuộc tranh cãi giữa hai nhà thơ già-trẻ, chỉ…nhìn lom lom vào cô “vũ nữ áo xanh” trẻ đẹp – người ngâm bài của ông quan thơ Trần Doãn. Cô này cũng cảm thấy chàng Dư chết mệt vì mình nên trong lúc múa hát đã gửi gắm những động tác chỉ riêng chàng nhận ra. Tiệc tàn, Dư Sinh lân la hỏi dò người hầu gái mới được biết

“Nàng tên gọi Tuý Tiêu, quê ở Nam Sách. Nguyên soái nhân một ngày đi săn chim Anh Vũ gặp nàng mang về. Nàng được học múa, học ca, học chữ. Học đâu nhớ đấy, nhận một trả mười.” . Chàng Dư nổi hứng làm sẵn một bài thơ :

“Sương bay vườn Tuý

                        Nặng giọt ba Tiêu

                        Trời mờ mịt tối

                        Hồn lạc tìm nhau…”

Thói hám gái của chàng Dư không lọt khỏi mắt quan Nguyên suý, ông tới gặp chàng nói thẳng:

“Ta đoán sau buổi ca vũ, ngươi có điều vương vấn. Nay ta có điều muốn nói với ngươi: trong dinh ta có mười ca vũ nữ, toàn là những người hát hay, múa giỏi. Cô nào đẹp mắt ngươi cứ nói…”

Lẽ ra là “kẻ sĩ”, chàng Dư phải thấy hổ thẹn, chân ướt chân ráo được mời tới dự tiệc nhà người ta đã tính “chôm” ngay mỹ nhân, vậy nhưng chàng Dư được lời như cởi tấm lòng, vội vàng chộp ngay cơ hội :

“Thưa nguyên soái…người làm kẻ hậu sinh bàng hoàng chính là người vũ nữ áo xanh…”

Sống sượng vậy, rồi để chắc ăn, chàng  trình ngay Nguyên soái bài thơ vừa làm còn chưa ráo mực trong có tên Tuý Tiêu mà lẽ ra phải trao tặng nàng trước đã. Ông quan võ tốt bụng không ngờ, bằng lòng gả ngay cô gái cho chàng và còn vỗ vai dặn :

“Mọi việc đều ở tay ta. Người cứ về phòng khách đánh một giấc ngon lành. Mai sớm khi bình minh qua cửa sổ, Anh Vũ hót vang. Thì ngươi hãy sửa khăn cài áo đón tin vui…”

Chàng Dư mừng hết biết, mới gặp chặp tối, sáng sớm hôm sau đã được ôm người đẹp, một cuộc tình, một hôn nhân tốc độ còn chớp nhoáng hơn cả mấy ông Đài Loan sang Việt Nam lấy vợ thời nay. Dĩ nhiên, suốt đêm hôm đó chàng Dư sao mà “đánh một giấc ngon lành” được, cứ phấp phỏng đốt nến ngồi chờ tiếng chim Anh Vũ mà đón nàng. Khổ nỗi chàng cứ chờ hoài, chờ hoài chẳng thấy chim lẫn người đâu ra:

“Ta về mái tây, không hề nhắm mắt

                        Mấy lần đốt nến lên, mấy lần thổi tắt

                        Nào hay Anh Vũ chẳng hót cho

                        Tin mừng chẳng có

                        Có phải trời đã ngủ quên

                        Đất không thức dậy ?

Vậy là chưa hết đêm, bình minh chưa tới mà chàng Dư đã than trời trách đất,  “nghi ngờ” lòng tốt ân nhân, thật chẳng “quân tử” chút nào. Thế rồi có tiếng chân động ngoài thềm, mặc dù chưa đúng “ám hiệu”, chàng cũng “ vội đứng dậy, cài áo sửa khăn bước ra” hoá ra là…gió. Lại thấp tha thấp thỏm chờ đợi. “Bỗng có tiếng chim hót. Dư lại một lần nữa cài áo sửa khăn. Nhưng khi nhận ra không phải tiếng chim Anh Vũ, Dư lại một lần nữa bàng hoàng thất vọng:

“Tiếng hót sao nghe như rối rít bàng hoàng

Mà đâu phải tiếng chim Anh Vũ…”

Mới chưa qua một đêm chờ đợi, tính cách chàng nho sinh họ Dư đã bộc lộ cái phần “kém trượng phu” trong nhân vật chính vở kịch “Bình Minh Anh Vũ” làm người coi ngờ ràng nó phản chiếu chính ông tác giả.

 

Thế còn nàng Tuý Tiêu ?

Xuất thân nhà nghèo nơi thôn dã, bố chết sớm năm 17 tuổi, lọt vào tay một gã thuyền chài, sau được quan Nguyên soái chuộc về dạy múa, dạy ca…theo kiểu “đào tạo” kỹ nữ làm vui trong phủ. Trong tối hội thơ, vừa nhìn thấy Dư Sinh lần đầu nàng đã ưng trong bụng, đã “nhấm nháy”, ngầm đánh “tín hiệu” đủ thấy gốc gác chẳng phải gia giáo. Tan hội, đêm về, được quan Nguyên soái báo tin gả nàng cho Dư sinh, lại được đọc bài thơ chàng làm có ghép tên mình, nàng mừng rỡ OK liền và xin vâng theo đúng kịch bản quan nguyên soái đề ra khi có tiếng chim anh vũ cất lên nàng sẽ đi “tìm cọc” ở phòng chàng Dư.

Đêm đó, cũng giống chàng thi sĩ, nàng bồn chồn, sốt ruột chẳng ngủ được, chờ hoài chẳng thấy chim chóc nào cất tiếng hót. Thế là nàng đành  phớt lờ “kịch bản”:

“Băng sương vượt lối

                  Ta đến với người

                  Chân không bước mạnh

                  Sợ động hồn mai…”

Xăm xăm tới phòng Dư Sinh, chàng lại đang … ngủ khì, nàng đành đánh động tự giới thiệu mình là “người áo xanh” trong tối hội và tên Tuý Tiêu trong bài thơ chàng mới làm. Những tưởng chàng sẽ mừng quớ, ai ngờ lại vô tâm, hỏi cắc cớ: “Áo nào ? Thơ nào?”, rồi còn nghi ngại :

“Nguyên soái đã dặn

                  Khi nắng sớm trên cành

                  Và Anh Vũ hót inh

                  Thì nàng sẽ đến…”

Tới nước này, nàng Tuý Tiêu đành phải giải thích chắc là chim anh vũ…ngủ quên nên :

“Chẳng ngại sương đêm

Thiếp đến với chàng tưởng như đi trong bình minh rạng rỡ…”

Có lý do chính đáng “chim ngủ quên”, lúc này chàng Dư mới như người ngủ dậy nghe tin trúng số, vội vàng:

“Tuý Tiêu!Tuý Tiêu!

                  Chuyện trong mơ, mà quả người đã đến thật…”

Thế là tình lớn gặp nhau, đồng lòng gặp gỡ khỏi chờ tiếng chim anh vũ như lời dặn quan nguyên soái, chàng nàng tranh nhau kể lể. Nàng thì than vãn “mười hai bến nước lênh đênh, không cội không cành, dạt đâu là phận đó, kể sao cho hết nỗi niềm” và thổ lộ từ xưa,  từ trước khi gặp chàng, nàng chửa hề yêu ai:

“Uốn khúc tim mình

                  Mắt xanh chẳng gặp mắt xanh

                  Canh khuya chỉ thấy lệ quanh gối nằm”

Còn chàng lại khoe chí khí nam nhi :

“Lòng ta chỉ muốn được rong chơi

                  Ném quản bút tre vào mực đen thế sự

                  Giấy nhân tình nhoè đỏ

                  Cười  khóc chuyện người…”

Í trời ơi, giá như thi sĩ Lưu Trọng Lư cũng làm được như nhân vật của mình “ném bút vào thế sự” thì nay người đọc hẳn đã được hưởng một di sản thơ giàu có chứ chẳng phải trắng tay như ông để lại. Tỏ vẻ lấy bút chống trời xong rồi, chàng dùng nó chinh phục người đẹp:

“Nghe lời ca ai não nuột

                  Nhìn điệu múa ai uốn đau

                  Ruột này cũng quặn héo…”

Và chàng thề thốt:

“Hãy sáng lên hỡi ngọn đèn

                  Ta nguyện vì em làm phên che gió…”

Chàng nàng đang nỉ non tình sự, hốt nhiên Nguyên soái xuất hiện tay xách lồng chim. Người ta tưởng đòn trừng phạt tội cãi lời quan, không chịu chờ chim anh vũ lên tiếng sẽ giáng xuống đôi tình lang, may thay ông quan là người tử tế, chẳng những không bắt lỗi mà còn cho ngựa, cho kiệu để chàng rước nàng về quê lại kèm theo quà tặng cưới chiếc lồng chim anh vũ ghi lại kỷ niệm ngày quan đi săn loại chim này, chuộc nàng về.

Tuy nhiên chẳng phải ông quan nào gặp được trong đời cũng độ lượng, tử tế như quan nguyên soái. Cái ông quan thứ hai làm thay đổi cuộc đời Dư Sinh và Tuý Tiêu lại là một bạo quan – Thân Trụ Quốc từng khoe khoang :

“Trong triều ngoài quận đều biết tiếng ta

Có trầm quý nào trong rừng mà ta không kiếm được

Tội nặng như núi, một chữ của ta còn xoá được nữa là…”

So với ngày nay, ông quan này có khả năng “chạy án” phải ngang cỡ….Uỷ viên Bộ chính trị. Nghe tin chùa Phổ Tế mới có ni cô xinh đẹp, ngài cũng dẹp ngay việc quan, lên kiệu mò tới coi. Cô này được một anh nho sinh ca ngợi:

“Hôm nay thỉnh chuông mới thì nhà chùa cũng thỉnh về một cô tiểu thư mới. Cứ nghe cô cất giọng kệ thì Phật có cho vào Niết Bàn cũng chẳng thiết vào nữa. Còn quan to quan nhỏ trong triều, cứ thấy mặt cô một lần, cũng không muốn rời khỏi cửa  tam quan…”

Khi quan Thân Trụ Quốc vừa đi kiệu tới, nhà chùa vội bắc loa nói vọng ra  giữ trật tự: “Tướng  công sắp qua. Ai ở đâu ở đấy. Già không lẫn trẻ.Nữ chẳng kể nam…”

Thế rồi lính trước lính sau, Thân Trụ Quốc bước  ra. Tiếng “A di đà Phật “râm ran.”. Không may cho vợ chồng  Dư Sinh, cũng đi vãn cảnh chùa trong tuần trăng mật nhằm lúc đó. Vừa nhìn thấy Tuý Tiêu đứng bên hồ tay cầm đoá sen, tướng công đã hồn xiêu phách lạc, quên bẵng mất ni cô trong chùa.  Ngài “nhìn sững, rồi đưa tay về phía Tuý Tiên ra lệnh: “Cứ cho lên kiệu về kinh ngay. Gấm vóc sẽ ban sau cho cha mẹ”. Bọn lính dạ ran. Trong nháy mắt, chúng làm theo ý Thân Trụ Quốc. Tuý Tiên kêu la, chống lại nhưng chúng đã ép nàng lên kiệu khiêng đi. Mọi người chỉ biết nhìn theo. Đây đó một vài tiếng niệm: A di đà Phật…”

Chứng kiến cảnh bắt người ngay trước cửa Phật, thiện nam tín nữ chỉ biết niệm kinh. Thế còn Dư Sinh, người chồng mất vợ, chàng thi sĩ mất người yêu ? Không chạy theo kiệu quan mà giải thoát Tuý Tiêu, không vạch mặt chỉ tên quan cướp ngày Thân tướng công, chàng  chỉ đành ngửa mặt kêu trời :

“Xanh xanh! Xanh xanh! Trời rất xanh

Gíó như không gió vẫn đưa cành

Ta đi đi về đâu? Lội xuống hồ sen hay vào Tây Trúc ?

Miệng ta mắc niệm Phật

Ai khóc cho ta nỗi bất bình ?”

Cái kiểu cam chịu trước cường quyền bạo ngược, chỉ biết “khóc” và hỏi “trời xanh” này, chẳng riêng nhân vật chàng Dư mà ngay ông tác giả đẻ ra nó và cả sĩ phu Bắc Hà ngày nay, hỏi ai là không có ? Bởi vậy nàng Tuý Tiên còn mong gì được giải thoát ?

Quả nhiên sống trong dinh Trụ Quốc Công, ngày đêm nàng chỉ còn biết giữ chặt “chữ trinh” khiến quan lớn trong triều phải đặt mình ….ngoài vòng chăn gối của nàng tới đêm thứ …109  và “chiến công” đó làm nàng thích chí.

TUÝ TIÊU (cười ngặt nghẽo) :”Thế đêm nay là đêm thứ mấy ?”

THANH THẢO  (con hầu) : “Một trăm lẻ chín.”

TUÝ TIÊU: “Thiếu một đêm nữa là trăm lẻ mười…”

Nhưng rồi một trăm đêm, một ngàn đêm, liệu giữ mãi được không, nàng than:

“Thảm thương số kiếp hoa cành

                  Làm sao giữ mãi hương trinh hở trời ?”

Vậy là nàng chỉ còn biết trông vào trời, chứ còn cái anh chồng Dư Sinh  chỉ  đánh võ mồm “Ném quản bút tre vào mực đen thế sự”, chỉ “cười  khóc chuyện người…” chứ còn chuyện của chính mình thì …thua, lại đành phó thác cho trời chứ biết sao ?

Quả nhiên suốt trong thời gian đó, chàng Dư mất vợ chỉ quẩn quanh xó nhà “áo để buông không thắt giải, trên đầu đội một cái mũ cỏ, dáng đi thất thểu”  và than vãn :

“Một ngày xa vợ hết khôn

                  Ta đi lùng hoa dại

                  Vò nát giữa bàn tay

                  Máu trong hồn rỉ mãi…”

Rồi gặp vợ ngồi kiệu đi trên đường, chàng cũng chỉ đành trố mắt:

“Ngồi trên kiệu đúng người thương

                  Người vũ nữ, chính áo vàng đau chưa ?

                  Nhìn lên chẳng thấy mắt xưa

                  Ta đành cúi mặt, miệng uà lệ thương…

                  Rõ ràng ta đó, ai kia ?

                  Tay nào xé rách trăng thề đó ai ?”

Hoá ra không những chàng quên phứt lời thề làm phên liếp che mưa cho cuộc đời nàng mà còn trách móc nàng “đã khác xưa”. Thói cam chịu, than vãn trời đất của chàng Dư Sinh khiến người bõ già của chàng cũng phải bực mình. Ông mượn lời mắng chim anh vũ, nhưng chính là nhằm vào chàng :

NGƯỜI BÕ GIÀ (lấy mấy con cào cào cho chim ăn) :

“Lão nói cho mà biết

                  Làm chim thì phải bay

                  Có cánh thì phải đạp mây.

                  Ngày hai buổi tốn công lão…”

Vậy đó, làm đàn ông phải vẫy vùng trời đất, chống lại tham quan, bạo quyền, làm chồng phải bao bọc, cưu mang được vợ, tiếc thay những lời răn chí tình đó chẳng lọt lỗ tai chàng thi sĩ Dư Sinh, ngày ngày chàng cứ điên điên :

“ Áo đứt khuy đành để vậy

                  Khăn tóc vướng cỏ rơm

                  Cơm bữa chẳng thành cơm

                  Gặp hoa nào cũng hái…”

Lạ thay, điên vậy mà từ miệng chàng chẳng khi nào thốt ra được một lời oán trách, chửi bới Thân tướng công – kẻ đã cướp vợ, gây cho chàng nỗi thống khổ “máu trong hồn rỉ mãi”. Hoá ra không dám vạch mặt chỉ tên những kẻ gây nên bao đau đớn khiến thế gian này ngập tràn nước mắt chính là nỗi khiếp sợ thâm căn cố đế chẳng riêng thời nào, cho tới tận bây giờ cố tật đó vẫn còn ăn sâu trong những người cầm bút.

Trong lúc chàng Dư nửa điên nửa khùng, lầu phía đông dinh quan Thân Trụ Quốc, nàng Tuý Tiêu vẫn dựng “thành đồng vách sắt”  cố thủ không cho quan xâm phạm tới “cái ngàn vàng”. Tới đêm thứ 100 nàng doạ treo cổ tự vẫn, quan mới dỗ dành:

“Việc gì mà khinh sinh uổng mạng ?

Có việc gì mà ta không làm được để chiều ý nàng ?”

Cho dù là gái có chồng bị quan bắt sống giữa ban ngày ban mặt ngay cổng chùa, nàng cũng phải nói thác :

“Từ buổi đầu gặp Dư Sinh…

                    vì lời thơ tiếng hát mà chăn gối mặn nồng…

                    Nay lầm đường lạc lối sa vào cửa tướng công

                    Hoạ phúc hợp tan đều ở tay tướng công cả…”

Thân tướng công cười thâm hiểm:

“Ngỡ là chuyện gì, đêm nay ta sẽ xuống trát tìm “chàng bán thơ”, triệu về dinh này. Nàng  ở mái đông, chàng ở mái tây, đông tây tha hồ… xướng hoạ…”

Nàng Tuý Tiêu được lời như cởi tấm lòng, nào trang điểm, nào thay áo mới, nào đòi tấu nhạc. Riêng có cô hầu tên Thuý Bình cảnh giác:

“Chị tin rằng trát đòi “người thơ” sẽ đến ư? Lại đoàn viên chăn gối ư?”

Thật chẳng ngờ, được  trát đòi vào dinh chàng Dư Sinh vội vàng khăn gói ra đi, chỉ có lão bộc nhận ra chân tướng quan Thân Trụ Quốc. Nhưng nỗi niềm riêng chẳng  dám tỏ bày với ai, lão đành trò chuyện với con chim anh vũ :

“Mình đổ máu đánh giặc, giữ giang sơn nhà nó, cho nó vợ đẹp con khôn, cho nó nhà cao cửa rộng. Đánh được giặc rồi, đứa nào đứa ấy phong ấp có hàng nghìn mẫu . Chú mày bay cũng xoạc cánh. Trốn đâu cũng là ấp chúng nó. Ruộng tay người ta canh phá ra, nó cướp làm ấp của nó…”

Lời lẽ này đặt vào miệng một cụ cựu chiến binh thời bây giờ xem ra vẫn còn tươi roi rói. Ông lão bộc lại vạch ra cái mặt quan nham hiểm :

“Lại vợ người ta nó cướp làm vợ nó không cheo không cưới. Cái giống đó đã kẹp vào tay rồi đừng có hòng. Tao hỏi chú mày, có ai đời vào tận hàm con ly con long mà đòi lại ngọc trai? Thò tay vào, nó không ngoạm cả tay đó ư ? Ấy thế mà thấy trát đòi ba chân bốn cẳng chạy ngay vào trấn…”

Lão bộc thật sáng suốt và chí lý. Chỉ có điều ông không ngờ tới là chàng Dư vào dinh quan, được khoản đãi ở lầu tây, ngày đêm có cô Thuý Hường hầu hạ, nên chẳng có đòi “ngọc trai”, cũng chẳng yêu cầu trả vợ, chẳng đòi gì hết ngoài…uống rượu say tít cung thang suốt tháng ngày. Một tối, Thân tướng công sai Thuý Hường trang điểm thật lộng lẫy, bày tiệc chờ chàng Dư. Đi uống rượu về ngà ngà say, nhìn thấy cô hầu gái xinh đẹp, cầm lòng chẳng đậu, chàng “ôm đại” làm cô ta giãy nảy:

“Em đây mà. Thuý Hường đốt nến chờ chàng từ đầu hôm. Thuý Hường chớ nào phải ai khác. Chàng quá say nên lầm lẫn đó thôi…”

Lẽ ra chàng Dư phải xấu hổ, xin lỗi rối rít, vợ đang bị giam cầm mà lại “vồ” hầu gái còn gì đểu cáng cho bằng, nào ngờ chàng  giở giọng tán tỉnh :

“Cho ta được giây phút lầm lẫn…”

Đến đây mới thấy văn chương chữ nghĩa như tấm gương hiện rõ chân tướng người viết, thi sĩ Lưu Trọng Lư cố vẽ cho được một chàng nho sinh tiết nghĩa, chung thuỷ nhất mực,  khổ nỗi  đôi khi cứ lộ ra chất “đểu giả”. Nghe vậy, Thuý Hường ỡm ờ:

“Hà tất chơi trò lầm lẫn…”

Hoá ra đây là âm mưu hiểm độc của Thân tướng công, dùng sắc đẹp con hầu mê hoặc làm chàng mất mặt khỏi đi tìm vợ cũ. Mang rượu cho chàng uống, Thuý Hường lại báo trước:

“nửa đêm nay sẽ có tin mừng…”

Chàng Dư giả bộ ngây thơ:

“Tin mừng gì đây ? Nào ta uống nữa! Uống nữa đi !”

Quả nhiên tới nửa đêm Thân tướng công cho người mang tới tặng chàng một cành hoa quỳnh trong chậu nhỏ phủ khăn điều làm chàng Dư mừng rối rít :

“Xin người về trình lại Tướng công, khách mái Tây muôn vàn cảm tạ tướng công…”

Ôi chao ôi, lẽ ra đúng tính cách nho sinh, chàng phải quăng trả chậu quỳnh, lớn tiếng chửi quân cướp ngày, đòi trả lại cô vợ yêu, ngược lại, đã không phản kháng còn “tri ân” rối rít, khác gì thoả thuận ngầm dâng vợ cho quan.

Đêm hôm đó Thuý Hường nào ca, nào đàn, nào dâng rượu cho chàng Dư  ngắm hoa quỳnh nở. Đúng nửa đêm, nàng đến bên chàng suồng sã:

“Hương quỳnh toả ngát trời

                    Nào chàng cùng em cạn chén …”

Rồi nàng dắt Dư Sinh “nửa tỉnh nửa say” lên giường, vừa quạt màn cho chàng vừa hát ru:

                    Ru người tình, ấp người say

                    Hai tay đưa quạt đã rời cánh chim…”

Quạt mỏi tay rồi nàng xoay qua…tắt nến. Có 12 cây nàng đã tắt tới cây thứ 11, chỉ còn một cây nữa thôi là sáng sớm mai chàng Dư chỉ còn nước khăn gói về quê, mặt mũi nào mà dám đòi vợ. May thay tới “phút 89”, nàng Thuý Hường lại nổi máu … lương tâm:

“Bốn điều Tướng công ra, ta đã làm xong ba

Duy còn một điều nữa, cuốn tóc trăm vòng

Ta xin chịu tội

Trời đất quỷ thần soi sáng lòng dạ này…”

Nói rồi nàng ra khỏi màn, gài cửa đi sang phòng khác. Vậy là nhờ lòng tốt của cô hầu gái, chàng Dư vẫn giữ được lòng “thuỷ chung son sắt” với nàng Tuý Tiêu yêu quý chứ chẳng phải gan vàng dạ sắt gì. Rõ đẹp mặt “anh hùng”. Điều này hẳn ngoài ý định ông tác giả kịch bản, nếu không ông đã chẳng bôi bác “hình tượng nhân vật” của mình đến thế.

Gần sáng, thật bất ngờ, nàng Tuý Tiêu bên mái đông sốt ruột sốt gan, đang bệnh cũng liều mình đi tìm chồng bên mái tây. May mắn thay chắc vì “miếng ăn đến miệng còn tuột mất”, sau lúc Thuý Hường rút khỏi màn, chàng  Dư  hẳn “tiếc của trời” chẳng ngủ được mới mò dậy làm thơ dán lên vách, chứ không, nàng Tuý Tiêu bước vào chứng kiến cảnh chồng mình đang ngủ với hầu gái chắc nàng  tự tử thiệt chứ chẳng còn doạ.

Khá khen thay chàng nho sinh, Tuý Tiêu vừa xuất hiện trong màu áo xanh, tay cầm bông sen, chàng  ca ngay được bài ca thương nhớ :

“Chết lòng trong ngóng đợi

                    Người  vẫn đến bất ngờ

                    Đúng màu xanh đêm trước

                    Đối mặt vẫn là mơ…”

Vợ chồng gặp lại chưa kịp hàn huyên, bên ngoài đã có tiếng dặng hắng rồi hầu gái của Tuý Tiêu là Thuý Bình chạy vào báo: “Kiệu tướng công đã xịch trước cổng, xin chàng…”. Rồi cô ta nhìn Dư Sinh như cầu khẩn chàng đưa vợ  trốn ngay. Lạ thay chàng cứ đứng như bụt mọc, cô hầu gái thương chủ quá khóc nấc lên. Chàng Dư vẫn trơ mắt ếch đứng nhìn; hai người đành dắt díu nhau trở về mái đông. Vợ đi rồi chàng mắm môi mắm lợi cầm bút làm thơ dán lên vách:

“Trăng đến tận giường múa

                    Chưa hát trọn bài ca

                    Nỗi đau không câm mãi

                    Tức nước phải vỡ bờ…”

Ai chà chà, có áp bức là có đấu tranh đây, tinh thần quật khởi hẳn đã thức dậy, phen này chắc chàng đâm chết tên quan dâm đãng đã phá tan hạnh phúc đời chàng. Nào ngờ khi Thân tướng công bước vào, chàng lại cung kính :

“Cũng là duyên đưa đẩy

Đêm trăng lại quá nhàn rỗi. Đang mong ân nhân đến…”

Ôi chao ôi, chàng “tri ân” con cọp dữ đã cho rượu, cho hoa quỳnh, cho gái đẹp mà quên mất thù bị cướp mất vợ sao? Tính cách này phải chăng bộc lộ từ tác giả  phẩm chất dễ dàng “hoà đồng với cái ác” miễn sao được yên thân,  tiềm ẩn sâu bên trong con người thi sĩ họ Lưu? Nó cũng chính là “chủ nghĩa cầu an”, sao cũng được miễn cứu được “bộ da” của chính mình, căn bệnh trầm kha của “trí thức Bắc Hà”.

Cái hành động phản kháng cao nhất chàng Dư có thể đạt tới là rụt rè mời ông quan:

“Vào dinh tướng công lâu ngày

                    Hôm nay cũng như ngày hôm trước

                    Quá nhàn rỗi, có bốn câu thơ

                    Xin trình tướng công …”

Đọc liếc câu thơ “tức nước phải vỡ bờ”  Dư Sinh “trình” lên, ông quan coi như tiếng muỗi vo ve, cười khảy:

“ Chị Hằng từ cung Quảng sa xuống để chú Cuội trơ thân Cuội một mình, nhưng chú Cuội có giận người giận mình mà chặt mất cành đa thì cũng chỉ thiệt mất cành đa thôi…”

Rồi bất chợt phát hiện ra mùi hương quen thuộc của Tuý Tiêu, vợ chàng Dư phảng phất đâu đây, lão sầm mặt, phảy tay ra lệnh: “mãn trà”. Đây là giây phút cuối cùng để chàng Dư có thể bộc lộ sự kiên cường phản kháng của mình, vậy mà không, “Dư sinh tiến vội đến trước mặt Thân, cung kính bái biệt”. Thật đúng là một cử chỉ hèn đớn khán giả ai cũng nhận ra, chỉ riêng ông tác giả kịch bản là không thấy.

Chờ cho viên quan đi khuất, chàng Dư mới dám “cởi áo, xé thơ”  theo đúng phép “thắng lợi tinh thần” của dân Mít chỉ dám xì xào sau lưng người ta, chàng cầm bút làm bốn câu thơ khác dán lên tường và ngâm lớn :

“Đọc hết vạn kinh sách

                    Mà nhân nghĩa vẫn cúi đầu

                    Hỏi thần thánh ở đâu ?

                    Hay đã bị vùi dưới đất…”

Nghe thơ chàng Dư, hốt nhiên nhớ tới mấy câu thơ chân dung hoạ phê bình gia Hoài Thanh của nhà thơ Xuân Sách :

“Bình thơ đến thủa bạc đầu

                    Cũng chưa thể tất nổi câu nhân tình…”

Vâng, ngày nay có biết bao sĩ phu đọc vỡ tới cả vạn cuốn sách, liệu đã có mấy ai ngẩng cao đầu đòi cho được chữ “nhân”, chữ “nghĩa” cho đám dân đen con đỏ ?

Ngay sáng hôm sau, quan Thân Trụ Quốc lôi ngay gã “mật vụ phòng” ra đánh đòn tan xương nát thịt về tội không kịp thời báo cáo việc nàng Tuý Tiêu lẻn tới tìm chàng Dư. Quan vứt ngay bộ mặt giả nhân giả nghĩa, nói toẹt ra rằng:

“Ta đón hắn về mái Tây này chẳng phải là để chúng lén sau lưng ta. Sao trong dinh ta, việc lớn việc nhỏ lại dám để  lọt khỏi tai mắt ta ? Ta cho hai đứa được gần mà chẳng được xáp mặt. Thể như con mèo trước bóng mỡ chớm mãi mà không bắt được. Hoa mắt sùi mép mà phải buông…”

Nói xong làm liền, quan bày trò dã man, đêm trước ngày Dư Sinh bị đuổi về “địa phương”, quan cho chăng một sợi dây ngay trước cửa phòng nàng Tuý Tiêu, cho phép chàng Dư tới từ biệt vợ nhưng cấm… bước qua dây và chỉ được tới khi đèn phòng thắp sáng. Thắt buộc nhau vậy khác nào “đặt mỡ miệng mèo mà chỉ cho ngửi”. Lẽ ra đạo làm người quân tử đời nào chịu làm phận “con mèo”. Ấy thế mà đêm đó chàng Dư vẫn vâng lệnh quan theo chân con hầu Thuý Bình mon men tới phòng Tuý Tiêu ở “mái đông”. Vừa nhìn thấy đèn còn sáng chàng đã hí hửng: “Đèn còn sáng, hẳn nàng có ý đợi?”. Con hầu lắc đầu: “Việc đường đột này tuyệt nhiên chị tôi không được báo trước. Ngày mai chàng về nơi cũ, đêm nay quan cho giáp mặt người xưa…”. Gọi là “giáp mặt” nhưng chỉ đến chỗ căng dây mà ngó lên thôi, chàng Dư đâu dám trái lệnh quan vượt qua, đành đứng bên “giới tuyến” ngước cổ than vãn :

“Ôi người bước trước cửa buồng

                    mà chân đành chôn đất lạnh”

Khi vợ xuất hiện nơi cửa sổ, chàng Dư  cũng chỉ dám đứng bên dây thừng mà kêu:

“Tuý Tiêu ! Tuý Tiêu !

                    Dẫu đất trời tan tác

                    Nàng ơi ta không thể nào quay bước

                    Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”

Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”

                    “Tuý Tiêu! Tuý Tiêu ! Người khuất đâu rồi ?

                    Khoan đừng lay động , ngọn đèn ơi…”

Vậy là chàng chỉ sợ bên trong vợ tắt đèn phải quay lui theo đúng lệnh quan mà thôi, không hề dám có ý định  vượt qua “vạch dây thừng” mà lao tới với nàng. Đến khi con hầu báo tin:

“Chàng trông ! Đèn đã lụi dần

                    Dám xin chàng hãy kịp lui chân…”

Cũng đành, chứ biết làm sao ? Chơi cái trò “ mỡ quệt mũi mèo” này, quan Thân Trụ Công quả là cao mưu. Chàng Dư cam tâm làm “chú mèo ngoan”, đứng bên sợi dây chăng mà vuốt bụng thở dài:

“Đau lòng thân nam tử

                    Chân cóng giữa vòng vây…”

Tấm thân ngọc ngà của vợ yêu chỉ trong gang tấc mà người “quân tử” ngày xưa của Lưu Trọng Lư cũng chẳng dám vượt rào đón lấy huống hồ ngày nay, các bậc hiền nhân quân tử  “chân ấm giữa tiền dự án, tiền tài trợ” Nhà nước rót dài dài, đời nào dám “vượt dây thừng” nói chuyện đa nguyên đa đảng với các quý vị  hải ngoại?

Quay về nhà, chàng Dư mang lòng căm thù, trút giận vào… đôi chim Anh Vũ, quà tặng cưới của quan Nguyên soái, người đã tác hợp Tuý Tiêu với chàng :

“Chém cha cái giấc mộng

                    Tưởng đôi chim nhỏ chết rồi

                    Thế mà vẫn nguyên đó

                    Nhảy đi hót đi…”

Thật đúng y tính cách “lưu manh Bắc Kỳ” của giới trí thức ngày nay, khi “mộng không thành” chẳng dám vạch mặt kẻ phá thối mà chửi ngay mộng tưởng đẹp đẽ của chính mình. Rồi đến đêm, nằm mơ thấy quan Nguyên soái, ân nhân ngày trước, chàng vội vàng kể lể sự tình, nhờ quan ra tay giải cứu nàng Tuý Tiêu. Thực chẳng ngờ khi nghe xong, Nguyên soái cũng chân giò lảng ra :

“Ta chỉ biết điều tác hợp

                    Còn như giữ trọn lứa đôi

                    Là tự ở các ngươi

                    Quả điều ta không liệu nổi…”  

Vậy là vô phương cứu…vợ, chàng Dư chẳng còn biết trông đợi vào ai, lại đành chỉ ngồi nhà kêu trời :

“Thần thánh hết thiêng khôn

                    Chữ nghĩa văn chương như của thiu đốt sạch

                    Trăm sách muôn nghìn sách

                    Hỏi còn sách nào hơn ?”

Trời Phật, thần thánh, văn chương chữ nghĩa rồi cả quan Nguyên soái chẳng cứu được chàng, rốt cuộc chính những người dân đen lại ra tay nghĩa hiệp. Ông lão bộc đã tuyển mộ được hơn 20 nghĩa sĩ, móc nối với con hầu của nàng Tuý Tiêu hẹn ngày hội đốt cây bông nàng sẽ mặc đồ trắng nhường cho con hầu mặc đồ xanh, khi kiệu đi vào đám đông, thừa cơ lộn xộn  sẽ cướp nàng Tuý Tiêu trả về cho chàng Dư. Kế hoạch sắp xếp xong xuôi, chàng Dư chẳng mất công mất sức gì, cứ ngồi nhà chờ nghĩa sĩ khiêng kiệu nàng Tuý Tiêu trở về :

“Lòng ta bồn chồn

                    Rối rít tiếng chim Anh Vũ

                    Canh đà chuyển sang canh

                    Sao kiệu nàng chưa về tới

                    Hay đường đi nhiều trở ngại ?”

Rồi đang nước sôi lửa bỏng, chẳng nghĩ gì tới những người vì mình xả thân nơi đao kiếm, chàng chỉ nghĩ tới nỗi sung sướng gặp lại vợ :

“Hót inh lên anh vũ ơi

                    Kiệu hoa đã đến rồi

                    Nến ơi bừng sáng

                    Đào ơi, khoe hết màu tươi…”

Thế rồi đúng ý nguyện của chàng, kiệu hoa đã đến, nàng áo xanh cũng bước xuống, chàng Dư mừng rỡ :

“ Tuý Tiêu…Tuý Tiêu…”

Nhưng hỡi ôi không phải Tuý Tiêu vợ chàng mà là con hầu mặc áo của nàng theo kiểu “Lê Lai liều mình cứu chúa”. Cô ta cho biết :

“Chị Tuý Tiêu trong cơn xô xát hỗn loạn

                    Bị một nhát thương

                    Qua dòng nước trong

                    Chị gieo mình tuẫn tiết…”

Hay tin dữ, chàng Dư chưa kịp thắp cho nàng nén hương đã vội vàng khăn gói xuống đò theo chân lão bộc chạy trốn khỏi địa phương. Kết thúc vở kịch tác giả ca ngợi:

“Tuý Tiêu! Tuý Tiêu! Ngọn đèn không tắt

                    Lửa hồn đốt kiếp

                    Trao nhau trọn xác trọn hồn…”

Còn nhân vật chính, chàng Dư Sinh, dẫu có làm cả ngàn bài thơ nghĩa khí, rút cuộc vẫn lộ ra chàng nho sinh hám gái và hèn nhát.

Rút cuộc Lưu Trọng Lư cố tô vẽ chân dung người quân tử nhưng vô tình cứ lộ ra chân tướng kẻ tiểu nhân. Mô tả người anh hùng lắm khi cứ thò ra tính cách một “thằng đểu” − thực ra chẳng phải căn bệnh của riêng thi sĩ Lưu Trọng Lư  mà là cố tật chung cho mọi văn nhân thi sĩ một  khi đã cam chịu viết văn chương phải đạo, răm rắp tuân thủ những yêu cầu tức thời của chính trị.

Trên trang thờ thi sĩ Lưu Trọng Lư tại nhà lưu niệm ở ngoại thành Sài gòn có treo bài thơ di cảo tự tay ông viết:

“Đi dưới vườn nhân dạ ngẩn ngơ

                    Vì thương người lắm mới say thơ

                    Phên thưa đã có bàn tay đỡ

                    Đêm lạnh phăng lần những mối tơ

Đẹp lắm trên đời những vấn vương

                    Chao ôi thiên lý một con đường

                    Đi trong trời đất từ duyên ấy

                    Sớm tối không rời một chữ thương…”

Vậy là chẳng sám hối quyết liệt được như Chế Lan Viên trong bài thơ “Bánh vẽ”, đến tận cuối “con đường thiên lý” thi sĩ họ Lưu vẫn thương trời, thương đất, thương người chung chung mà chẳng dám buông một tiếng thở dài, tự vấn về con đường mình đã đi.

Cũng trong nhà lưu niệm này, có treo một tấm liễn ghi bút tích Lưu Trọng Lư :

“Tôi thà bị lừa còn hơn không tin vào con người…”

Than ôi, bằng chữ nghĩa và sự nghiệp lãnh đạo văn hoá văn nghệ  của mình, chính ông đã lừa biết bao thế hệ độc giả mà ông đâu có biết. Bởi thế, nhiều năm qua, thân nhân và tỉnh uỷ Nghệ An cố dựng lên “Giải thương văn học Lưu Trọng Lư” mà chẳng mấy ai biết tới.

“Con nai vờ ngơ ngác

                    Nó ca bài cải lương…”

Lưu Trọng Lư chẳng  ca “cải lương” đâu ông Xuân Sách ơi, ông ấy ca bài “khôn ngoan” đó…

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

Một bài báo năm 1955 của Lưu Trọng Lư: ĐÔNG PHƯƠNG HỒNG, Cảm tưởng được thấy Mao Chủ tịch

LƯU TRỌNG LƯ, Văn nghệ, Hà Nội, s. 101 (29.12.1955 đến 4.1.1956), tr. 2

 

 

Hôm ấy, cuộc biểu tình vĩ đại của nhân dân Bắc-kinh trong ngày Quốc tế lao động 1955. Chúng tôi từ Việt-nam sang, được ở trên lễ đài Thiên-an-môn chờ Người đến. Chỉ còn 2 phút nữa. Mao Chủ tịch sắp ra rồi đó! Đồng chí phiên dịch trao ống nhòm cho tôi. Tôi loay hoay mãi vẫn chưa tìm thấy Người. Cất ống nhòm đi rồi lại giương ống nhòm ra, phóng mắt tìm mãi. Hoa mắt lên rồi, tưởng ai giơ tay lên cũng là Mao Chủ tịch. Phải bình tĩnh một chút. Nhưng bình tĩnh làm sao được! Mao Chủ tịch ở trong tâm tưởng tôi đã bao năm rồi. Từ nước nhà đến đây, tôi đã ở trên khán đài, chỗ tôi đứng không cách xa Mao Chủ tịch là bao nhiêu nữa! Nhưng mà lòng tôi hấp tấp quá, mắt tôi cũng choáng lên.

Tôi nhớ một lần vào năm 1949, trên chiếc thuyền bể từ Thừa-thiên ra Thanh-Nghệ, sau khi đã lách qua bao nhiêu ca-nô và tàu địch, người lái thuyền trên 70 tuổi bỗng dung hỏi tôi: “Anh có biết Mao Chủ tịch năm nay bao nhiêu tuổi? Người cao và khỏe lắm phải không anh?” Bấy giờ chính là lúc nhân dân giải phóng quân Trung-hoa đã tiến về biên giới Việt-nam như vũ như bão, tiến tới đâu giặc Tưởng tan rã tới đấy. Cuộc giải phóng Trung-quốc sắp hoàn thành đã mở cho nhân dân Việt-nam ngay ở những xóm làng hẻo lánh và đen tối nhất cả một chân trời rộng lớn.

Lam lũ trong cuộc đời lao động, khi xế chiều ngọn đèn tắt lúc nào chẳng biết, cho nên người dân chài 70 tuổi càng mong mỏi làm sao được biết rõ hình ảnh của một lãnh tụ kính yêu.

Lại một lần khác trong kháng chiến, các chị em tỉnh hội phụ nữ Thanh-hóa tự may một chiếc áo trấn thủ gửi tặng Mao Chủ tịch. Một chị hỏi tôi: “Kích thước vừa chưa anh?” Nào biết kích thước của Người. Nhưng đường chỉ mũi kim của chị em bấy giờ thật như chắp nối bao niềm thân thiết kính yêu.

Kích thước Người, hôm nay tôi đã trông rõ. Người đã tiến lên mấy bước trên lễ đài. Người đã giơ tay vẫy đáp lại hàng vạn người đang diễu qua trước mặt. Không những thế, cái vẫy tay của Người còn để đáp lại hàng triệu triệu người Trung-hoa từ những làng hẻo lánh Tân-cương đến những phố xá đông đúc Thượng-hải hôm nay cũng trong giờ này, cùng hướng về Thiên-an-môn, kính chào Người.

Mặt trời từ phương Đông chói sáng. Cái vẫy tay rộng lớn của Mao Chủ tịch còn vượt qua trên những sông to núi cả của biên thùy Trung-quốc, hướng tới triệu triệu nhân dân lao động khắp cõi Á-châu, trong những gian nhà bé xụp, đang chờ mong áo ấm cơm no.

Đó là buổi đầu tiên tôi được thấy Mao Chủ tịch. Tôi không ao ước gì hơn nữa. Nhưng sau đó không ngờ tôi còn được những dịp may mắn được gặp lại Người. Cái ấn tượng sâu nhất đã để lại trong lòng tôi là hình ảnh vĩ đại của Người trong buổi sáng Người đón tiếp Hồ Chủ tịch ở Bắc-kinh. Trời trong xanh, gió thổi lộng, những lá cờ Việt-Trung như quấn như quần lấy nhau.

Mao Chủ tịch xuất hiện. Tôi theo dõi ngắm nghía từng cử chỉ của Người. Người quay về phía này một chút, quay về phía nọ một chút. Người quay về phía nào thì từ phía đó những cánh tay lại vung lên, và tung lên những tiếng hô không ngớt. Chiếc máy bay thứ nhất đã đến rồi. Nhưng chưa phải là chiếc máy bay của Hồ Chủ tịch.

Nhiều phút dài qua. Mao Chủ tịch mắt vẫn đăm đăm. Người đi đi lại lại từng bước rộng lớn. Người ngừng lại, mắt vẫn gắn về một góc trời. Rồi Người lại cúi mặt xuống, đưa tay lên xem đồng hồ, lại ngẩng lên, mắt lại như rọi xuyên qua chân mây. Vẫn chưa thấy chiếc máy bay của Hồ Chủ tịch. Cái phút trông chờ lịch sử của vị lãnh tụ của 650 triệu nhân dân Trung-quốc đối với vị lãnh tụ của nhân dân Việt-nam đã làm cho nhiều người trong chúng tôi cảm động đén ứa nước mắt. Cái tấm lòng mong đợi tha thiết bồn chồn đó đã đánh dấu một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai người chiến sĩ vĩ đại của Cách mệnh giải phóng dân tộc, của Hòa bình ở Á-châu.

Bỗng tiếng động cơ đã vọng đến, rú lên: máy bay mỗi lúc một gần. Mao Chủ tịch đã bước nhanh đến chỗ máy bay hạ cánh. Hồ Chủ tịch từ trên cao đưa tay vẫy, rồi nhanh nhẹn bước xuống. Người đã chạy tới với Mao Chủ tịch. Hai vị lãnh tụ đã ôm choàng lấy nhau.

Từ bốn phía quần chúng nhảy reo lên, tiếng tung hô không ngớt “Hô Chu-xi oan xuê! Mao Chủ tịch muôn năm!” Những lời hô tiếng Việt tiếng Hoa chen lẫn, giao hòa.

Sáng hôm sau các tờ báo ở Bắc-kinh đều đăng: “Hai vị lãnh tụ đã ôm choàng lấy nhau, đó là hình ảnh của hai dân tộc Trung-Việt ôm choàng lấy nhau, vô cùng khăng khít”.

Tối về đến Tân-kiều-phạn-điếm, nơi nghỉ của chúng tôi, đồng chí phục vụ chạy tới đưa cho tôi tờ báo có đăng 2 tấm hình Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch và tay trỏ rối rít. Tôi chỉ nói được bằng một tiếng Trung-quốc bập bẹ: “Hảo! Hảo!” Đồng chí cũng lặp lại “Hảo! Hảo!” Rồi chúng tôi cùng ôm siết lấy nhau.

LƯU TRỌNG LƯ

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 101 (29.12.1955), tr. 2.