Trang chủ » Posts tagged 'Trương Chính'

Tag Archives: Trương Chính

MỘT BÀI BÁO CỦA TRƯƠNG CHÍNH 1956 VỀ TIỂU THUYẾT “BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”

 

PHÊ BÌNH VĂN HC:

“BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”, TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN CÔNG HOAN

TRƯƠNG CHÍNH, Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

 

Bây giờ đọc lại Bước đường cùng (1) [(1) Nxb. Văn nghệ xb., 1956. Bước đường cùng xuất bản lần đầu tiên năm 1938 – chú thích của Trương Chính] ta mới biết tại sao cuốn này vừa ra đời đã bị bọn thực dân và phong kiến bóp chết ngay, chúng cấm lưu hành và tàng trữ trong toàn cõi Đông Dương. Trước kia, và bắt đầu từ những chuyện ngắn đầu tiên của ông, Nguyễn Công Hoan đã từng tìm đề tài trong những con người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội. Nhưng những lần đó, ông chỉ tìm những cảnh hài hước, buồn cười, những kết thúc bất ngờ, ngộ nghĩnh. Ta chưa kịp đau thương thì đã bật cười, cười rũ rượi. Tiếng cười làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tan mất lòng căm phẫn. Với Bước đường cùng ông thay đổi cách viết, thay đổi thái độ. Hơn nữa, khác với những nhà văn hiện thực đương thời, ông đã nhìn thấy người nông dân bị bóc lột quá đỗi, không chịu nhẫn nhục mãi, đã vùng dậy. Anh Pha – nhân vật chính trong câu chuyện – cùng Trương Thi và San là những người cùng chung một số phận với anh, cùng bị nghị Lại tịch ký mất ruộng vì không trả được nợ, cả ba anh đã đoàn kết chặt chẽ với nhau, không cho thợ gặt của tên địa chủ ấy xuống gặt lúa của mình. Rồi đến khi hắn đưa lính khố xanh về hộ vệ cho bọn thợ gặt cướp lúa của anh, anh đã hăng tiết lên,

“vớ được một chiếc đòn càn, xông vào nghị Lại, phang một cái thật mạnh vào đầu:

Đồ ăn cướp!

Nghị Lại ngã rúi, kêu rầm rĩ”.

 

Cố nhiên, rồi anh bị bọn lính ôm ghì lấy, đè ngửa ra và trói gô lại, khiêng đi… có lẽ là để đưa lên trình quan. Và chuyện kết thúc một cách ấm ức, nghẹn ngào:

“Pha giơ hai cánh tay bị trói lên trời, nắm chặt bàn tay run run vào ngực để tỏ nỗi căm hờn, nghiến răng rồi nhắm nghiền mắt lại, kệ cho hai dòng lệ nó tuôn ra, và kệ cho ba anh em theo mình, không biết đến đâu mới trở lại…”

 

Sức phản ứng của người nông dân trong Bước đường cùng mãnh liệt hơn sức phản ứng của người nông dân trong Tắt đèn nhiều lắm. Và, cũng tả sự thất bại của người nông dân trước lực lượng còn mạnh của địa chủ, Nguyễn Công Hoan không bi quan như Ngô Tất Tố.

Ngoài điểm mấu chốt ấy ra, Nguyễn Công Hoan còn cho các nhân vật chính diện của mình những ý nghĩ, những lời nói và những hành động tỏ ra sức phản ứng nói trên của người nông dân bắt nguồn từ một sự giác ngộ về giai cấp khá rõ rệt. Họ đã thấy “hai cánh tay mạnh mẽ” của họ là “hai cánh tay làm cho đất cát có giá trị” (tr. 203). Họ đã biết đoàn kết là sức mạnh; Pha nói: …“Người ta chỉ lợi dụng sự rời rạc của anh em mình để bắt nạt. Nhưng đến khi anh em mình biết hợp sức với nhau thì người ta cũng phải kiêng dè. Đẩy một người, có thể làm ngã được, chứ đẩy ba người chụm lại nhau thật chặt chẽ, tôi tính khó lòng nổi” (tr. 197). Anh cũng đã nhìn thấy sự bất công trong xã hội phong kiến. Anh nghĩ: “nghị Lại quanh năm không rời cái bàn đèn thì mỗi ngày thêm giàu có vì ruộng. Mà những người không ngày nào không làm việc cho ruộng, như anh chẳng hạn, thì lại không được hột thóc mà ăn…” (tr. 190). Trời lụt, đi đắp đê dưới làn roi vọt của lính, và dưới những trận mưa tầm tã, anh đã thấy rõ rằng: “ba phần tư lúa má ở nơi mênh mông này mà bọn dân đen vào cứu vớt được, là của nghị Lại. Thì ra chính bọn anh đã cứu sống nghị Lại trong khi thằng này khểnh khơi nằm hút thuốc phiện, nghĩ kế bóp hầu bóp cổ bọn anh” (tr. 179), v.v.

Có thể là Pha chưa nói được trơn tru như vậy, mạch lạc như vậy, có thể là tác giả đã gợi cho anh những điều đó, nhưng nhất định những ý nghĩ đó trước cách mạng cũng đã nằm sẵn trong tâm trí của người bần cố nông làm lụng vất vả quanh năm, để làm giàu cho địa chủ, nhưng nào có phải như thế mà đã được yên thân đâu, còn bao nhiêu phen bị tủi nhục, bị hành hạ! Ngày nay, trong phát động quần chúng, người nông dân còn hùng biện hơn anh Pha nhiều, nhưng sở dĩ tôi trích dẫn những câu trên là vì, cách đây 17-18 năm mà tác giả Bước đường cùng viết được như thế thì không thể không chú ý được.     

***

Tuy vậy, cũng chưa nên vội kết luận rằng, hồi bấy giờ, Nguyễn Công Hoan đã có một lập trường đúng. Nguyễn Công Hoan 1938 không phải là Nguyễn Công Hoan 1956. Điều đó không ai trách. Nhưng cần phải nói ra cho được trung thực, bởi vì bản Bước đường cùng vừa mới được xuất bản so với bản cũ (2) [(2) Bản cũ tôi nói đây là bản 1952 của Xuân Cầu xuất bản, ở nhà in Vĩnh Thịnh – Trương Chính chủ thích] có ít nhiều chỗ đã bị sửa chữa lại, có thể làm cho người đọc hiểu nhầm.

Theo bản cũ thì, viết Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan có một ý định rõ rệt, ý định đó thể hiện ở cách bố trí cốt truyện cũng như ở cách sáng tạo một số nhân vật phụ. Ông chủ trương rằng: thảm trạng của nông thôn Việt Nam sở dĩ kéo dài được là vì người nông dân dốt. Vì dốt, anh Pha mới bị nghị Lại xui giục kiện cáo, vì dốt anh mới không biết trong văn tự hắn viết những gì để đến nỗi 8 sào ruộng nhà bị đoạt mất mà gánh hàng xén của vợ đáng giá ba mươi đồng cũng lọt vào tay quan huyện và các hào lý, lính lệ. Nhiều lần Pha đã thở dài nói với vợ: “Tôi bị bao nhiêu tai vạ về dốt nát…”, “Tôi căm ông Nghị Lại bao nhiêu, tôi lại bực mình về cái tôi dốt bấy nhiêu” (tr. 117). Và nghe lời bác Tân, anh đã bàn với vợ học cho biết chữ quốc ngữ rồi mượn sách báo về đọc! Dư, anh ruột chị Pha, và là người về sau đã giác ngộ cho Pha rất nhiều, cũng nói: “…Tôi may được bác Tân khuyên bảo học hành, nên bây giờ mới rạng ra một tý, biết thế nào là lẽ phải, thế nào là áp bức…” Rồi y còn cho biết rõ chủ trương của y hơn:
Những làng có người đứng đắn trông nom công việc thì chỉ ba năm, bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là đủ có đường giải gạch, có trường dạy trẻ, và làm bao nhiêu việc công ích. Làng ta, dân thất học, nhà cửa ẩm thấp, đường xá lầm lội, nhất là cái ao nửa để tắm giặt rửa ráy, nửa để gánh nước ăn, thật là bẩn thỉu tai hại” (tr. 120). Những ý đó trong bản mới của Văn nghệ vẫn y nguyên.

Tôi tưởng không cần phê bình một chủ trương như thế. Đó cũng là chủ trương của Khương, Duy trong Con đường sáng. Thật ra thì Nguyễn Công Hoan cũng thừa biết vậy, nên có chỗ ông đã sửa chữa lại. Thí dụ câu trong bản cũ:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái dốt nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì dốt nát nên anh quá tin ông nghị, vì dốt nát nên anh không biết trong văn tự ông ấy đã tự do viết những gì…” (tr. 118 bản cũ)
Bản của Văn nghệ sửa chữa như sau:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái nghèo, không có ruộng, nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì nghèo túng nên anh quá tin lão nghị, vì nghèo túng nên anh không biết trong văn tự hắn đã tự do viết những gì…” (tr. 108)

Và nhiều đoạn khác nữa.

Nhà văn có quyền sửa chữa các tác phẩm cũ của mình đã xuất bản từ trước. Nghe nói Goóc-ki đã sửa chữa cuốn Người mẹ không biết bao nhiêu lần, mới đến hình trạng ngày nay. Nhưng đã sửa chữa thì phải sửa chữa cho có hệ thống. Tôi tin rằng một cuốn tiểu thuyết kết cấu cũng chặt chẽ như một bản kịch, cho nên không thể không động chạm đến kết cấu đó khi tư tưởng chỉ đạo không còn được giữ nguyên như trước. Thay thế một vài chữ không thể chuyển được hướng của cả cốt chuyện mà không để lòi ra khe hở. Chỉ nhìn một câu trích dẫn trên cũng thấy chắp vá như vậy không ổn. Anh Pha có thể vì dốt nát mà quá tin ông nghị, vì dốt nát mà không biết hắn đã viết gì trong văn tự, nhưng không thể vì nghèo đói mà lại dễ tin người, vì nghèo đói mà lại để cho người ta lừa mình! Khe hở ở chỗ đó. Rồi những lời nói của bác Tân, rồi cả vai Dư, trong bản mới, trở thành lỏng chỏng, không còn cần thiết như trong bản cũ nữa. Cái chết của chị Pha cũng thế. Trong bản cũ, chị Pha chết vì dốt, vì “tưởng chết đã có số, số ai bị các quan bắt đi thì có tiêm cũng không tránh được. Mà số không chết thì chả tiêm cũng chả việc gì.”  Cho nên, “…một hôm, chị không phải lo nữa, vì nguyên chị yếu, lại ăn bậy, ở bẩn, mà không tiêm phòng, nên thần dịch tả đem chị đi, sau một trận thượng thổ hạ tả có vài giờ đồng hồ” (tr. 199 bản cũ). Trong bản mới của Văn nghệ, chương này vẫn kết thúc y như vậy, nhưng trên đó lại có thêm đoạn: khi y tá về tiêm trừ tả, lý trưởng “giành phần cho vợ con, người nhà và họ hàng của nghị Lại, của chánh phó tổng, của chánh phó hội, của phó lý và của hắn…”  cho nên hết thuốc (tr. 182 bản mới). Việc đó thường xảy ra ở thôn quê, không lạ gì, nhưng không ăn khớp với việc chị Pha chết, vì trước lúc hết thuốc, chị Pha sợ tiêm đau, đã lẻn về trước rồi! Chỗ chắp vá còn thấy rõ chỉ khâu!

Đại để như thế. Ngoài ra, ở những đoạn tác giả không sửa chữa, tất nhiên có thể tìm ra được những nét hài hước của những tập truyện ngắn cũ, không thích hợp với đề tài, với nhân vật, làm cho người ta thấy chối. Đoạn tả anh Pha chờ vợ đẻ, đoạn tả chị Pha chửi gà, đoạn tả căn nhà anh chị Pha ở, đoạn tả anh lính lệ làm nhục chị Pha ở trước công đường, câu đưa tình lưu manh của hắn, câu khôi hài vô duyên của một đứa nào từ trong trại lính đưa ra, đều là những chỗ mà ngòi bút của tác giả vẫn tinh nghịch như trong Kép Tư Bền, Đào kép mới. Tôi lấy làm lạ, sao ông đã có sửa đổi một vài chỗ cho thích hợp, mà lại không để ý đến những chỗ này.

***

Sau cùng, tôi có một số ý kiến về những nhân vật phản diện. Sau khi đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đọc đến Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, tôi thấy hơi ngấy. Cùng một đề tài nên hai tác giả đã xây dựng những nhân vật giống nhau. Tuy ngòi bút của mỗi người có một lối riêng, nhưng các nhân vật đó có những nét chung chung, làm cho người ta không chú ý nhìn kỹ nữa. Đành rằng, địa chủ thì ác, quan thì tham, lính thì nhiễu, nhưng có cần phải tả một thằng địa chủ đểu như nghị Lại, làm văn tự giả mạo bắt anh Pha ấn dấu tay vào, một thằng quan vừa có một diện mạo kỳ khôi, vừa ăn tiền một cách trắng trợn và có những thủ đoạn thu thuế ít thấy như thằng quan huyện này, và những tên lính lệ “cướp giật” như bọn lính lệ huyện này, v.v., người ta mới ghét chế độ phong kiến, mới thấy cần phải đạp đổ toàn bộ giai cấp địa chủ. Đành rằng, trong thực tế, có những thằng như thế. Trong cuộc phát động quần chúng vừa qua, chúng là những tên đầu sỏ bị đưa ra đấu và bị nhân dân trừng phạt một cách xứng đáng. Nhưng tôi tưởng, chúng ta có thể tả những nhân vật phản diện có tính cách… người hơn, mà sức phản ứng của chúng ta không vì thế bớt mãnh liệt. Trái lại, chúng ta sẽ đau xót hơn khi thấy, trong chế độ phong kiến, con người đã trở thành chó sói, ngoài ý muốn của mình, không cưỡng lại được. Cách tập trung tất cả những tính xấu vào nhân vật phản diện có lẽ không phải là cách sáng tạo nhân vật điển hình mầu nhiệm nhất. Cách đó sẽ làm cho nhân vật trở thành kỳ dị, như bị phóng đại, thiếu tính chất hiện thực và do đó mất tác dụng của nó. Tại sao một số tiểu thuyết ngày nay về cải cách ruộng đất dễ rơi vào bệnh công thức, bệnh sơ lược chủ nghĩa? Có lẽ vì chúng ta chỉ tìm tả bọn địa chủ gian ác đầu sỏ, mà gạt ra ngoài không tả bọn địa chủ thường. Chúng ta sợ gặp phải phần… con người ở chúng chăng? Có gặp thì đã sao! Không phải vì bọn địa chủ còn có tính chất người mà chúng ta không ghét chế độ bóc lột địa tô, chiếm hữu ruộng đất nữa! Xây dựng nhân vật phản diện như vậy ấu trĩ chẳng khác gì xây dựng nhân vật chính diện bằng cách gán cho tất cả những cái gì tốt đẹp nhất trên đời! Những nhân vật đó nhất định sẽ trở thành giả tạo, không hiện thực.

 

***

Đọc Bước đường cùng, tôi có cảm tưởng như đọc một tác phẩm vừa sáng tác trong phong trào cải cách ruộng đất vừa qua. Đó là một lời khen. Giữa lúc đế quốc và phong kiến còn có thế lực mà tác giả dám nói lên nỗi phẫn uất cùng độ của người nông dân, thật là can đảm lắm. Xã hội mục nát đến nỗi một lời mỉa mai diễu cợt không còn có tác dụng nữa, phải đả kích, vạch mặt chỉ tên thực sự. Với Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã làm việc đó. Có thể nói Nguyễn Công Hoan là nhà văn đàn anh dẫn đầu trong việc đi sâu vào nông thôn, cảm thông với người nông dân để nói lên nỗi lòng của họ./. (3)

TRƯƠNG CHÍNH
Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

Chú thích:

(3) Trong năm 1958, tiểu thuyết “Bước đường cùng” lại được Nxb. Hội nhà văn tái bản, với ghi chú ngay ở trang tên sách:  In lần thứ 4, theo nguyên văn bản thảo. Bản in này hiện có lưu tại Thư viện quốc gia, Hà Nội, ký hiệu VN61.15161 (chú thích của L.N.Â., 2017)

MỘT BÀI VIẾT 1956 CỦA TRƯƠNG CHÍNH VỀ TIỂU THUYẾT “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Đây chính là tài liệu mà hồi làm cuốn NGHIÊN CỨU VĂN BẢN “GIÔNG TỐ” tôi đã tìm để đưa vào phụ lục những bài phê bình đáng lưu ý nhất xung quanh tác phẩm. Nhưng hồi ấy chưa tìm được. Bài này đăng báo “ĐỘC LẬP” của Đảng Dân chủ Việt Nam, nhưng sưu tập báo này tại Thư viện Quốc gia lại bị thiếu khá nhiều số, như số này. Tôi thấy bài này khi tìm sưu tập báo ấy tại Thư viện Khoa học xã hội ở 26 Lý Thường Kiệt (bây giờ đã chuyển lên phố Liễu Giai). Nhân thể nói thêm, báo này hồi 1956 có những bài rất … gắt, như 3 bài xã luận của chủ bút Đỗ Đức Dục, hay bài của Trương Chánh Hân yêu cầu xã hội miền Bắc phải có tự do đảng phái, v.v., mà báo Nhân Dân của ĐLĐVN phải phê phán đích danh.

Trở lại bài viết của Trương Chính về tiểu thuyết GIÔNG TỐ; nó được viết và đăng nhân tiểu thuyết “Giông tố” được tái bản (Nxb. Văn Nghệ, 1956). Hình như nhà phê bình Trương Chính đã viết về tác phẩm này ngay khi nó xuất hiện (Nxb. Văn Thanh, 1937). Nếu vậy bài trước của ông hẳn đã in trong các cuốn phê bình của ông trước kia (“Dưới mắt tôi”, 1939; “Những bông hoa dại”, 1941). Tôi chưa có dịp thấy bản in hai cuốn đó nên không rõ ra sao.

Còn bài viết này, nó lưu ý ta quan sát xem nhà phê bình từng sống qua hai chế độ, từng viết ở hai giai đoạn văn nghệ, lúc này viết phê bình ra sao? Hệ quan điểm mới đương thời – nhất là quan điểm giai cấp, thâm nhập cái nhìn tác phẩm của ông ra sao? Và, đâu là chỗ ông buộc phải nói theo thời, đâu là chỗ ông vẫn nói được ý mình?    

Xin nói thêm, tôi theo bản chụp và đánh máy hơi vội, có thể có sai sót. Bạn nào sử dụng nên đối chiếu với báo gốc.

03/9/2016

LẠI NGUYÊN ÂN

————————————–

 

 

 

ĐỌC SÁCH:

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

TRƯƠNG CHÍNH, báo “Độc Lập”, Hanoi, s.228 (13.10.1956), tr. 6-7.

 

Tôi đang đi tìm trong văn chương hiện thực phê bình của ta trước Cách mạng xem có một cuốn tiểu thuyết nào trong đó tác giả đã dồn lại được bấy nhiêu tội lỗi, bấy nhiêu cảnh xấu xa mục nát của xã hội cũ như trong “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng không. Quả không có. Thường thường thì trong một tác phẩm, người ta cũng chỉ tả một vài khía cạnh nào đó. Nguyễn Công Hoan là nhà văn hay khai thác những đề tài như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan phải dàn trải ra trong rất nhiều truyện ngắn, chứ chưa hề sáng tạo được những điển hình đậm nét như trong “Giông tố”.

Trong “Giông tố”, Vũ Trọng Phụng dẫn ta từ thôn quê “xôi thịt” đến thành thị “bơ sữa”, từ những chốn ăn chơi trụy lạc, gái đĩ, thuốc phiện, đến những cảnh xa hoa, – cũng không kém trụy lạc – trong phòng Tịnh Tâm ở ấp Tiểu Vạn Trường Thành của Nghị Hách. Không kể những nhân vật chính, riêng những con người của xã hội cũ mà Vũ Trọng Phụng đã vẽ bằng một hai nét trong “Giông tố” cũng đã nhiều vô kể. Ở thôn quê thì có đủ mặt các hào lý, gặp cơ hội nào cũng có thể tổ chức ăn uống, hút xách, đem lý sự cùn ra mà cãi vã nhau, rồi chửi bới nhau, nhưng lên đến cửa quan thì run sợ, hèn nhát. Ở thành thị thì thôi, đủ hạng người, thượng vàng hạ cám. Những tay doanh nghiệp sắc sảo, gian hùng, “coi đời như canh bạc lớn”, “làm việc thiện để quảng cáo cho mình”, có chân trong các hội ái hữu, “nhưng kỳ trung không có ai là bạn trên đời”, đã từng chủ tọa những ban giải thưởng văn chương nhưng chưa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết, những tay cổ động kịch liệt cho hội Phật giáo mà lại đi xây hàng dãy nhà săm, những anh làm chủ ba bốn tiệm khiêu vũ mà đánh con gái hộc máu về tội ăn mặc tân thời, những anh vừa là chủ hiệu xe đám ma vừa là chủ dược phòng, bán tem cho hội bài trừ bệnh lao mà lại bán cả thuốc lào mốc, v.v. tóm lại tất cả những hạng người tự xưng là “thượng lưu” những kỳ thực là giả dối, chỉ biết có đồng tiền và danh hão, dùng mọi cách đầu cơ, mọi cách bịp bợm, theo tác giả thì đó là “những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thương giới”. Ai đã từng sống ở Hà Nội lâu năm, nhất là vào khoảng 1930-1939, chắc có thể tìm thấy ở những nét sơ sài trên những con người có thật, bằng xương bằng thịt, đã làm giàu một cách trâng tráo như thế, mà cũng đã trở nên những tai to mặt lớn của xã hội đương thời.

Trong các tiệm hút ở Hàng Buồm hay trong các nhà hát ả đầu ở Khâm Thiên, tác giả lại có dịp cho ta biết một hạng người khác, hạng người trụy lạc. Không kể Vạn Tóc Mai, đứa con hoang của Nghị Hách, xỏ lá xỏ xiên, chuyên môn nói xấu bố với các nhà báo để “làm tiền” bố, có đủ mặt các “nhân viên làng bẹp, những thiếu phụ mặt bự những phấn, môi tái nhợt, tóc búi, cổ đeo kiềng, quần áo tân thời, cổ bánh bẻ”, những tên lính da trắng, da đen, một mụ đầm già. Rồi những ông giáo, những ông cử nhân, bề ngoài thì đạo mạo, nhưng đến đây thì giở đủ trò “đểu cáng”. Tác giả “Giông tố” đã dùng ngòi bút phóng sự của mình để tả lại cuộc đời bẩn thỉu, ô uế, dâm đãng của thành phố Hà Nội dưới thời Pháp thuộc.

Đã hết đâu! Ngoài những cảnh “lầm than” công khai, còn những cảnh lầm than kín đáo hơn. Một bà nhà “tử tế” ngoài bốn mươi tuổi, chuyên môn nhảy đồng bóng và nằm với anh cung văn, một cô thiếu nữ hẹn hò với trai trong khách sạn!

Còn trong chốn quan trường thì như thế nào? Một ông quan thuộc địa “cáo già” dùng những lời nói khéo léo để phỉnh dân và bóc lột dân cho dễ, một ông tuần và một ông quan huyện chuyên bênh vực những người có của. Dám nói đến các “quan Tây” trong tiểu thuyết thì trước đây, có lẽ chỉ Vũ Trọng Phụng mới có gan đó. Đọc những đoạn ông Nghị Hách gặp quan sứ, hoặc đoạn các quan Tây đến dự buổi tiệc của Nghị Hách sau cuộc phát chẩn, ta thấy cái mỉm cười mỉa mai của Vũ Trọng Phụng dưới những câu giả đò thơ ngây. Ngoài những quan cai trị đương chức, lại có những quan cai trị đã về hưu, nhưng “đã để ý đến việc doanh thương từ lâu”, và “hiện làm đại diện cho một hội lý tài lập bên Pháp, vốn liếng có hai mươi triệu phật-lăng”, và đang tìm cách giữ độc quyền nước mắm!

Giở lên trên là những con người. Dưới đây là các sự việc trong xã hội cũ: việc bỏ truyền đơn cờ đỏ cộng sản để vu cáo người khác, cách hối lộ ở chốn quan trường, các luật lệ hà khắc của “Chính phủ”: dạy trên năm người học trò không khai báo thì bị tội, việc tranh cử ở nghị trường, việc thông đồng với các cơ quan ngôn luận để làm hậu thuẫn cho các cuộc tranh cử, những bài “đít-cua” rỗng tuếch, những trò hề của những tai to mặt lớn trong xã hội… Có thể nói, không có cái gì khả ố, lố bịch dưới chế độ cũ mà Vũ Trọng Phụng không đề cập đến.

Để tỏ ra mình hiểu biết nhiều, Vũ Trọng Phụng còn đưa lên sân khấu một cô thầy bói, một ông già đóng vai thầy địa lý và thầy số đi xem đất, đặt huyệt và lấy số tử vi. Dưới ngòi bút sắc sảo của Vũ Trọng Phụng, cả xã hội cũ hiện lên, một cách bi đát, đau thương, mà cũng hết sức tồi tàn, đáng căm giận.

***

Trên là bối cảnh to lớn trong đó có gia đình Nghị Hách, vai chính trong truyện.

Nghị Hách không phải chỉ là một ông nghị gật tầm thường, không phải như nghị Quế của Ngô Tất Tố trong “Tắt đèn”, nghị Lại của Nguyễn Công Hoan trong “Bước đường cùng”. Nghị Quế, nghị Lại chỉ mới là những tên địa chủ ở thôn quê, có lẽ ngoài huyện nhỏ chúng ở, không ai biết đến. Còn Nghị Hách chẳng những là một tên địa chủ có năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh hắn, còn là một nhà đại tư bản, một nhà đại công nghiệp có một cái mỏ than ở Quảng Yên, có ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng, cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng, cách ăn chơi của hắn thì như các vị công hầu khanh tướng trong những tiểu thuyết Tàu, có mười một nàng hầu đặt dưới quyền một mụ quản gia, y như là trong nhà chứa! Không những thế, Nghị Hách lại sắp ứng cử ghế Nghị trưởng, sắp có Bắc đẩu bội tinh, nói tóm lại hắn là một nhân vật quan trọng trong xã hội ngày trước. Và nếu ai tò mò thì có thể tìm thấy tên và ảnh hắn trong cuốn “Những nhân vật ở Đông Dương” in năm 1941!

Cũng như những nhân vật có tên và ảnh trong cuốn sách nói trên, lịch sử Tạ Đình Hách cũng hết sức kỳ khôi. Xuất thân chỉ là một cai khu [sic? phu?] mỏ, thế rồi sang Lào một chuyến, không biết hắn làm ăn ra sao mà khi về thì giàu có thế ấy. Chính con vợ hắn đã kể tội ác của hắn:

− “Ừ đấy! Bà thế đấy!… Nó là cung văn thật đấy, nhưng mà bụng dạ nó tốt, nó ăn ở có nhân có nghĩa… Nó còn hơn cái mặt mày! Đồ lường đảo! Quân giết người! Đồ lường thầy phản bạn! Quân hiếp dâm!… Ừ, mày cứ ly dị bà đi, rồi bà tố cáo tội lường gạt, tội giết người của mày trước pháp luật cho mà xem! Mày về mày hỏi mười một con vợ lẽ của mày xem có phải mày đã hiếp dâm chúng không? Có phải mày đã bỏ bã rượu vào nhà bố mẹ chúng để bố mẹ chúng phải bán rẻ chúng cho mày không?” (trang 335)

Ấy thế mà chính sau khi câu chuyện ở Hải Phòng vỡ lở, làm cho Nghị Hách như có dịp ôn lại cả cái quá khứ bỉ ổi của hắn, chính sau khi đó, trong bữa tiệc thết đãi ở Tiểu Vạn Trường Thành, hắn đã đọc một bài diễn văn rất kêu, nói đến luân lý, đạo đức, bác ái, bình dân, v.v. Chưa bao giờ ngòi bút Vũ Trọng Phụng mỉa mai một cách chua chát như trong bài diễn văn đó!

Nhưng chỗ chưa đúng của Vũ Trọng Phụng là ông chỉ nhấn mạnh vào tính chất dâm đãng của Nghị Hách. Hết hiếp dâm vợ người thì hiếp dâm con gái tơ rồi đem về nuôi như nuôi một lũ gái đĩ. Đành rằng, kẻ có tiền, trong xã hội cũ, dễ sinh ra dâm đãng, nhưng tội chính của nghị Hách không phải ở chỗ đó, mà ở chỗ cướp năm trăm mẫu đồn điền, bóc lột nhân công ở mỏ than Quảng Yên, ở cách làm giàu của anh cai thợ nề trở thành một tên tư bản kếch xù và một nhân vật đặc biệt trong xã hội.

Dâm đãng chỉ là một khía cạnh và không phải là khía cạnh quan trọng nhất của con người nghị Hách. Chỉ tả mỗi khía cạnh đó thì lệch hẳn.

Cái bi kịch xảy ra trong gia đình Tạ Đình Hách có giống như cái bi kịch xảy ra trong gia đình một tên tư bản khác ở Trung Quốc: Chu Phác Viên trong “Lôi vũ” của Tào Ngu: bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của bố, anh em ruột lấy nhau. Nhắc đến Tào Ngu không phải là nói Vũ Trọng Phụng chịu ảnh hưởng của Tào Ngu. Có lẽ Vũ Trọng Phụng chưa hề đọc “Lôi vũ”. Có giống nhau, chẳng qua là vì hai người đều sống trong những xã hội mà đồng tiền làm chủ, và đã thấy, trong đó những người có tiền có thể dùng đồng tiền sắp đặt mọi việc theo ý muốn của mình, nhưng có khi lại phải chịu những hậu quả của mình không đoán trước được. Nghị Hách không bao giờ ngờ rằng thị Mịch lại là vợ chưa cưới của con hắn, mà cũng không bao giờ ngờ Long chính là con đẻ của hắn nữa. Còn Long cũng không bao giờ ngờ mình là con của Nghị Hách, và không ngờ lấy Tuyết tức là lấy em ruột mình, và thông dâm với thị Mịch khi thị Mịch đã làm lẽ Nghị Hách, là thông dâm với vợ lẽ của bố! Trong lúc đó thì “bà Nghị” lại ăn nằm với ông già Hải Vân, đẻ ra Tú Anh mà Nghị Hách tưởng lầm là con của hắn, rồi chính “bà Nghị” cũng lại ăn nằm với một thằng cung văn nữa.

Chuyện trong “Giông tố” thật hết sức rắc rối. Bố trí chừng ấy chi tiết ăn khớp với nhau cho được mạch lạc, rồi “gỡ nút” ra cho được tự nhiên, phải có cái tài của những nhà văn quen viết chuyện trinh thám. Và chính Vũ Trọng Phụng có khi cũng đã sắp đặt câu chuyện của mình y như chuyện trinh thám ông đã xây dựng ra. Ông già bí mật Hải Vân, đưa ra cái “xen” Nghị Hách và ông già Hải Vân cầm súng lục, đi xe hơi trong đêm tối xuống Hải Phòng bắt quả tang vợ Nghị Hách ngoại tình, v.v.

***

Trong “Giông tố” cũng có một số nhân vật mà tác giả có ít nhiều cảm tình. Thị Mịch, Long, Tú Anh, cụ Hải Vân và ông huyện Cúc Lâm. Qua những nhân vật ấy, ta có thể đoán biết được tư tưởng, tâm sự, lập trường giai cấp của Vũ Trọng Phụng.

Thị Mịch là một trong những nạn nhân của xã hội mục nát đó. Đáng lẽ ra thị Mịch phải là người tác giả có cảm tình nhiều nhất. Nhưng không phải như thế! Đối với nhân vật đó, ngòi bút của tác giả không đều. Đoạn đầu ông tả thị Mịch là một cô gái quê khỏe mạnh, đẹp, giản dị, chung tình, và sau khi bị Nghị Hách làm nhục, ông có tỏ một chút thương hại. Nhưng về sau, dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, thị Mịch trở thành một nhân vật rắc rối, phức tạp, dâm đãng và nhất là có những cử chỉ vô duyên, đáng ghét của một người đang ở cảnh nghèo khổ bỗng được đổi sang sống trong cảnh giàu có phong lưu. Trò đời thường có như thế thật, nhưng khi tả một xã hội đáng ghét, rồi tả nạn nhân của xã hội đó cũng đáng ghét nốt, thì người đọc sẽ hết sức hoang mang. Tôi không thể chịu được khi thấy thị Mịch – bây giờ đã là vợ lẽ của Nghị Hách – ngồi khâu vá, nhìn người qua đường qua bao lơn để “ôn lại, cố lục tìm trong trí nhớ để chạy theo một cái ảo tưởng mà luân lý ngăn cấm, để ngoại tình bằng tinh thần, làm một việc khoái lạc mà người ngoài không biết được” (tr. 249). Sự đói khát về tình dục của thị Mịch, những cảm giác đê mê mà thị Mịch tìm thấy sau khi đã “biết mùi đời” trong chiếc xe hòm của Nghị Hách, ở đây, tôi thấy lạc lõng, không hợp với nhân vật, không hợp với ý nghĩa của cuốn truyện. Những trang này, Vũ Trọng Phụng đã viết bằng một thứ mực với cuốn “Làm đĩ” của ông. Tôi có cảm tưởng những câu nói yêu nói nựng quê kịch, những cử chỉ trâng tráo, cái cười – “cười một cách ghê gớm như một người cười mà tự tử” – của thị Mịch, khi thị Mịch sắp “cho Long ái tình” ở trong nhà Nghị Hách, tác giả đã ghi lại được ở trong một xóm yên hoa rẻ tiền ngày trước! Cảm tình người đọc sẵn có từ trang đầu đối với thị Mịch đến đây thì mất hẳn.

Long cũng là một nạn nhân đáng thương khóc [sic? khác?] của xã hội cũ. Tác giả tả Long là một thiếu niên chung tình, vì chung tình mà đau khổ, rồi trở thành một kẻ chơi bời trác táng, không thiết gì đến gia đình nữa, để đến sau cùng thì tự sát cạnh một gái giang hồ. Tình cảnh của Long cũng là tình cảnh của nhiều người khác ta đã biết ngày trước. Đứng về phương diện tâm lý mà xét thì không có gì đáng nói. Nhưng suốt cuốn chuyện dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng anh này hơi ồn ào, có những điệu bộ giả tạo, có những câu nói làm ra vẻ quan trọng, hết sức buồn cười. Tôi thấy Long đóng vai trò của mình vụng về như một anh kép dở trên sân khấu ngoại ô. Đoạn Long “diễn thuyết” trong nhà thương khi thị Mịch tự tử “Thưa các bà, cô bé này là vợ sắp cưới của tôi, v.v.” (tr.59), cả chương Long về Quỳnh Thôn gặp thị Mịch (chương XIV), cả chương Long gặp Tú Anh trong tiệm hút ở Mã Mây (chương XVII) cũng như các đoạn tả Long với Tuyết ân ái với nhau trong khách sạn, đều là những trang dở nhất trong “Giông tố”.

Tú Anh cũng thế. Tú Anh cũng là một vai đóng kém, mặc dù tác giả có nhiều cảm tình với nhân vật này. Tác giả tả Tú Anh là một thanh niên tuấn tú, vị tha, bác ái, có lý tưởng, đối với Nghị Hách, Tú Anh có rất nhiều quyền lực. Đó cũng là một điều hơi lạ đối với một người bố như Nghị Hách. Chính Tú Anh đã bắt Nghị Hách lấy thị Mịch làm vợ lẽ, bắt Nghị Hách gả Tuyết cho Long, rồi về sau, giao cho Long cả thìa khóa tủ sách [sic! tủ bạc chứ?] để Long tha hồ chơi bời trác táng, v.v. Tôi nghiệm thấy, nhân vật nào Vũ Trọng Phụng có cảm tình nhiều nhất, thì nhân vật đó lại trở thành giả tạo nhất. Quen tả những cảnh thối nát trong xã hội, những nhân vật đểu giả, thô bạo, ngòi bút Vũ Trọng Phụng bất lực khi muốn tả một cái gì cao thượng, tế nhị, hay ông cho là cao thượng, tế nhị. Điều này ta còn thấy trong khi tác giả xây dựng nhân vật Hải Vân, ông già cách mạng, bôn ba hải ngoại, “nửa đời người tù tội”, “ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu”, “chín năm giời trốn tránh, gối đất nằm sương” (tr.362), về nước xét tình hình và làm tiền cho Đảng, và công việc hiện nay của ông là “hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc giá cũ hợp nhất với đảng quốc tế mới…” (tr.358). Một người như vậy, mà dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, ta không có cảm tình nhiều. Ông già này có những cử chỉ, điệu bộ của những nhân vật trong các tiểu thuyết trinh thám dở. Một mặt khác, không kể những đoạn thuyết về địa lý, số tử vi, đây là những nghề phụ mà nhà “cách mạng” này dùng để dễ lọt vào đâu cũng được và dễ tránh con mắt tò mò của bọn mật thám, ông già này, trong nhiều trường hợp khác, thực sự tỏ ra rất mê tín, dị đoan, và lại cũng không “đáng kính về nhân phẩm” lắm, như bà Nghị Hách nói. Đọc kỹ chương XXVIII thì rõ. Bắt quả tang bà Nghị nằm với thằng cung văn, ông già Hải Vân nói với Nghị Hách:

− “Bác Hách! Cứ bình tâm! Cưỡng sao nổi số Giời! Trong việc này dễ thường có Hoàng Thiên dúng tay vào, dễ thường có luật quả báo!… Bác nên nhớ lại lúc bác bỏ một chục quả đấm bằng đồng vào hòm tôi để chiếm đoạt vợ tôi!” (tr.336)

Rồi cái giọng khoan thai của ông khi kể lại với Nghị Hách chuyện mấy mươi năm về trước, nghe mới khó chịu làm sao:

− “Phải, Tú Anh là con tôi… Bác đi Lào, tôi ở nhà tù ra, tôi cũng thương yêu vợ bác y như bác thương yêu vợ tôi lúc tôi ở tù vậy! Xin bác soi xét cho cái chỗ hèn yếu của lòng người…” (tr.338)

Câu nói đó là một câu nói trả thù hơn là một câu nói của người thật tâm hối hận về một hành vi chẳng cao thượng gì hơn Nghị Hách mấy!

Cuối cùng đến ông huyện Cúc Lâm. Hình như tác giả mong mỏi rất nhiều đến cái ông huyện này lắm thì phải. Ông ta đỗ luật khoa tiến sĩ ở Ba-lê, từng diễn thuyết và biểu tình với ông văn sĩ Romain Rolland về việc chính trị phạm Đông Dương, về nước làm quan để mưu những việc ích quốc lợi dân. Vì thế ông ta đã từ chối những cám dỗ bằng sắc đẹp và tiền bạc mà Nghị Hách đưa ra lung lạc ông. Ông ta quyết tâm đứng về phe nhân dân, cự lại viên tổng đốc, để rồi đệ đơn từ chức, mở một phòng luật sư và một cơ quan ngôn luận bằng chữ Tây công kích chế độ quan trường, v.v. ! Thật sự không biết như thế nào, và việc về sau ông ta công kích chế độ quan trường có đi đến đâu không, nhưng chỉ nghe ông ta đối đáp lại viên tổng đốc thì hết sức chán:

− Bẩm cụ lớn, nhà nước không cần phải đổi tôi đi đâu xa! Dù tôi không đi làm quan thì tôi cũng không chết đói ạ. Bẩm cụ lớn, chẳng phải nói khoe gì, quan thầy của tôi trong đảng xã hội nay mai mà có sang nhận chức toàn quyền thì lúc ấy tôi lại sẽ làm quan cũng không muộn ạ. Mà nếu có phải làm quan, tôi sẽ cũng không làm quan huyện nữa… (tr.72)

Vũ Trọng Phụng mất năm 1935. [sic! 1939 chứ, chắc lỗi sắp chữ] Lúc sống chắc ông cũng đã được trông thấy những người trong Đảng xã hội Pháp sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương, và chắc ông cũng được trông thấy những người như ông huyện Cúc Lâm ra làm những chức quan to hơn chức quan huyện, nhưng có phải vì vậy mà xã hội Việt Nam thay đổi được gì căn bản! Và cái “óc bình dân” của ông huyện Cúc Lâm cũng chỉ đưa ông đến làm tay sai cho Pháp mà thôi!

Bây giờ nêu những điều đó ra, tôi chỉ cốt nêu cho thấy tư tưởng của Vũ Trọng Phụng bị hạn chế như thế nào. Ông chưa thấy rõ con đường đi đúng, mặc dầu ông rất oán ghét xã hội cũ, xã hội đồng tiền dưới ách phong kiến và thực dân. Ông có những ý định tốt, nhưng ông đặt hy vọng vào những người như Tú Anh, ông huyện Cúc Lâm, ông già Hải Vân như nhau. Cho nên ông không biết xây dựng nhân vật Hải Vân một cách hiện thực hơn, nghiêm túc hơn, để người đọc có cảm tình nhiều hơn nữa.

***

Trong văn chương hiện thực phê bình của ta ngày trước, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có một giá trị rõ rệt. Ông đã dựng nên nhiều nhân vật điển hình, từ Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, cho đến Nghị Hách, Vạn Tóc Mai. Ông đi sâu vào mặt trái của xã hội cũ và đem phơi bày ra cho mọi người thấy. Đó là một ưu điểm. Nội ưu điểm đó cũng đủ giành cho ông một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học nửa thế kỷ nay. Ta không đòi hỏi ông phải xây dựng được những nhân vật chính diện cho thật đúng lập trường. Điều đó trước cách mạng, với tính chất giai cấp của ông ông không làm được. Nhưng ta không khỏi lấy làm tiếc khi thấy ông xây dựng những nhân vật chính diện hơi vụng về. Một mặt khác, cách hành văn của ông cũng “ẩu”, không phải là cách hành văn của một nhà văn mẫu mực, “cổ điển”. Đó là tình trạng chung của một số nhà văn chúng ta ngày trước, phải viết nhanh viết nhiều, bán văn nuôi thân. Nghĩ như vậy thì đáng thương hơn đáng trách.

TRƯƠNG CHÍNH

Nguồn:

Độc lập, Hà Nội, s. 228 (13.10.1956), tr. 6-7.