Trang chủ » 2016 » Tháng Mười Hai

Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2016

Một bài báo năm 1955 của Lưu Trọng Lư: ĐÔNG PHƯƠNG HỒNG, Cảm tưởng được thấy Mao Chủ tịch

LƯU TRỌNG LƯ, Văn nghệ, Hà Nội, s. 101 (29.12.1955 đến 4.1.1956), tr. 2

 

 

Hôm ấy, cuộc biểu tình vĩ đại của nhân dân Bắc-kinh trong ngày Quốc tế lao động 1955. Chúng tôi từ Việt-nam sang, được ở trên lễ đài Thiên-an-môn chờ Người đến. Chỉ còn 2 phút nữa. Mao Chủ tịch sắp ra rồi đó! Đồng chí phiên dịch trao ống nhòm cho tôi. Tôi loay hoay mãi vẫn chưa tìm thấy Người. Cất ống nhòm đi rồi lại giương ống nhòm ra, phóng mắt tìm mãi. Hoa mắt lên rồi, tưởng ai giơ tay lên cũng là Mao Chủ tịch. Phải bình tĩnh một chút. Nhưng bình tĩnh làm sao được! Mao Chủ tịch ở trong tâm tưởng tôi đã bao năm rồi. Từ nước nhà đến đây, tôi đã ở trên khán đài, chỗ tôi đứng không cách xa Mao Chủ tịch là bao nhiêu nữa! Nhưng mà lòng tôi hấp tấp quá, mắt tôi cũng choáng lên.

Tôi nhớ một lần vào năm 1949, trên chiếc thuyền bể từ Thừa-thiên ra Thanh-Nghệ, sau khi đã lách qua bao nhiêu ca-nô và tàu địch, người lái thuyền trên 70 tuổi bỗng dung hỏi tôi: “Anh có biết Mao Chủ tịch năm nay bao nhiêu tuổi? Người cao và khỏe lắm phải không anh?” Bấy giờ chính là lúc nhân dân giải phóng quân Trung-hoa đã tiến về biên giới Việt-nam như vũ như bão, tiến tới đâu giặc Tưởng tan rã tới đấy. Cuộc giải phóng Trung-quốc sắp hoàn thành đã mở cho nhân dân Việt-nam ngay ở những xóm làng hẻo lánh và đen tối nhất cả một chân trời rộng lớn.

Lam lũ trong cuộc đời lao động, khi xế chiều ngọn đèn tắt lúc nào chẳng biết, cho nên người dân chài 70 tuổi càng mong mỏi làm sao được biết rõ hình ảnh của một lãnh tụ kính yêu.

Lại một lần khác trong kháng chiến, các chị em tỉnh hội phụ nữ Thanh-hóa tự may một chiếc áo trấn thủ gửi tặng Mao Chủ tịch. Một chị hỏi tôi: “Kích thước vừa chưa anh?” Nào biết kích thước của Người. Nhưng đường chỉ mũi kim của chị em bấy giờ thật như chắp nối bao niềm thân thiết kính yêu.

Kích thước Người, hôm nay tôi đã trông rõ. Người đã tiến lên mấy bước trên lễ đài. Người đã giơ tay vẫy đáp lại hàng vạn người đang diễu qua trước mặt. Không những thế, cái vẫy tay của Người còn để đáp lại hàng triệu triệu người Trung-hoa từ những làng hẻo lánh Tân-cương đến những phố xá đông đúc Thượng-hải hôm nay cũng trong giờ này, cùng hướng về Thiên-an-môn, kính chào Người.

Mặt trời từ phương Đông chói sáng. Cái vẫy tay rộng lớn của Mao Chủ tịch còn vượt qua trên những sông to núi cả của biên thùy Trung-quốc, hướng tới triệu triệu nhân dân lao động khắp cõi Á-châu, trong những gian nhà bé xụp, đang chờ mong áo ấm cơm no.

Đó là buổi đầu tiên tôi được thấy Mao Chủ tịch. Tôi không ao ước gì hơn nữa. Nhưng sau đó không ngờ tôi còn được những dịp may mắn được gặp lại Người. Cái ấn tượng sâu nhất đã để lại trong lòng tôi là hình ảnh vĩ đại của Người trong buổi sáng Người đón tiếp Hồ Chủ tịch ở Bắc-kinh. Trời trong xanh, gió thổi lộng, những lá cờ Việt-Trung như quấn như quần lấy nhau.

Mao Chủ tịch xuất hiện. Tôi theo dõi ngắm nghía từng cử chỉ của Người. Người quay về phía này một chút, quay về phía nọ một chút. Người quay về phía nào thì từ phía đó những cánh tay lại vung lên, và tung lên những tiếng hô không ngớt. Chiếc máy bay thứ nhất đã đến rồi. Nhưng chưa phải là chiếc máy bay của Hồ Chủ tịch.

Nhiều phút dài qua. Mao Chủ tịch mắt vẫn đăm đăm. Người đi đi lại lại từng bước rộng lớn. Người ngừng lại, mắt vẫn gắn về một góc trời. Rồi Người lại cúi mặt xuống, đưa tay lên xem đồng hồ, lại ngẩng lên, mắt lại như rọi xuyên qua chân mây. Vẫn chưa thấy chiếc máy bay của Hồ Chủ tịch. Cái phút trông chờ lịch sử của vị lãnh tụ của 650 triệu nhân dân Trung-quốc đối với vị lãnh tụ của nhân dân Việt-nam đã làm cho nhiều người trong chúng tôi cảm động đén ứa nước mắt. Cái tấm lòng mong đợi tha thiết bồn chồn đó đã đánh dấu một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai người chiến sĩ vĩ đại của Cách mệnh giải phóng dân tộc, của Hòa bình ở Á-châu.

Bỗng tiếng động cơ đã vọng đến, rú lên: máy bay mỗi lúc một gần. Mao Chủ tịch đã bước nhanh đến chỗ máy bay hạ cánh. Hồ Chủ tịch từ trên cao đưa tay vẫy, rồi nhanh nhẹn bước xuống. Người đã chạy tới với Mao Chủ tịch. Hai vị lãnh tụ đã ôm choàng lấy nhau.

Từ bốn phía quần chúng nhảy reo lên, tiếng tung hô không ngớt “Hô Chu-xi oan xuê! Mao Chủ tịch muôn năm!” Những lời hô tiếng Việt tiếng Hoa chen lẫn, giao hòa.

Sáng hôm sau các tờ báo ở Bắc-kinh đều đăng: “Hai vị lãnh tụ đã ôm choàng lấy nhau, đó là hình ảnh của hai dân tộc Trung-Việt ôm choàng lấy nhau, vô cùng khăng khít”.

Tối về đến Tân-kiều-phạn-điếm, nơi nghỉ của chúng tôi, đồng chí phục vụ chạy tới đưa cho tôi tờ báo có đăng 2 tấm hình Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch và tay trỏ rối rít. Tôi chỉ nói được bằng một tiếng Trung-quốc bập bẹ: “Hảo! Hảo!” Đồng chí cũng lặp lại “Hảo! Hảo!” Rồi chúng tôi cùng ôm siết lấy nhau.

LƯU TRỌNG LƯ

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 101 (29.12.1955), tr. 2.

 

 

 

 

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE, Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần cuối)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

 

Từ Văn hồi tưởng về Nhân văn-Giai phẩm

Sự kiện đóng cửa báo Văn vào tháng Giêng 1958 dường như là màn khởi động của đợt tấn công dữ dội, diễn ra từ tháng Hai đến tháng Sáu năm 1958, nhằm vào những trí thức đã chỉ trích chế độ trên các ấn phẩm tư nhân trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Hơn nữa, dù đã đóng cửa, tờ báo Văn vẫn tiếp tục bị phê phán, dường như lãnh đạo đảng cố bêu riếu về mối quan hệ tội lỗi của tờ báo với các ấn phẩm ngang ngược của phong trào Nhân văn-Giai phẩm.[1] Vì thế, gần ba tháng sau khi lãnh đạo đảng ra lệnh đóng cửa tờ báo, ba biên tập viên của Văn đột nhiên đăng bài tự kiểm điểm trên báo Nhân Dân, cơ quan của đảng. Dưới tiêu đề chung “Các đồng chí ở báo Văn bắt đầu tiến hành tự phê bình”, báo Nhân Dân đăng liền một loạt bài tự nhận lỗi công khai (vì bị ép buộc?) của Nguyên Hồng, Tô Hoài và Tế Hanh.[2] Như xát thêm muối vào chỗ đau, sau khi đăng bài tự phê của nhà văn hiện thực phê phán nổi tiếng Nguyên Hồng, Nhân Dân chạy ngay một bài có đặt vấn đề chất vấn tính thành thật của nhà văn này.[3]

 

Xuân Diệu đóng góp vào đợt đánh Nhân văn-Giai phẩm mới này với bốn bài tiểu luận đăng vào cao điểm của đợt tấn công thứ hai đầy uy lực này nhằm vào các thành viên phong trào: “Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ”, “Những suy nghĩ chung quanh vấn đề chỉnh huấn”, “Những biến hóa của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê Đạt” và “Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao”.[4] Nội dung của bốn bài luận này gợi cho ta thấy vai trò của Xuân Diệu trong đợt tấn công này – dù tự nguyện hay được trên giao – là khẳng định quan điểm cho rằng lĩnh vực văn chương là một chiến trường tư tưởng. Ở mặt trận thơ ca, các cứ điểm chính phải san phẳng là các thành viên chủ chốt của Nhân văn-Giai phẩm: Lê Đạt và Văn Cao. Một địch thủ nguy hiểm nữa là Nguyễn Tuân, với bài tùy bút phá cách “Phở” và mối liên hệ với các nhà văn hiện thực phê phán. Xuân Diệu không phải là người khởi xướng đợt tấn công, nhưng ông giữ vai trò dẫn dắt với nhiệm vụ quy kết và bôi nhọ thơ của Nhân văn-Giai phẩm là “một luồng thơ chống đảng, chống chế độ”. Hơn nữa, ông đã đem uy tín khá dày của mình với tư cách là nhà thơ số một của Phong trào Thơ mới để đóng góp vào chiến dịch tấn công không thương tiếc nhằm vào các nhà thơ đã đứng lên đòi nới rộng tự do tư tưởng.

 

Thế nên Xuân Diệu đã nhận xét “cố giật gân người đọc như Trần Dần, huênh hoang như Lê Đạt, trá hình nhiều cách lập lờ giả trái như Hoàng Cầm”. Bài báo của Xuân Diệu tấn công Lê Đạt đầy sự mạ lỵ ác ý, thậm chí còn gọi Lê Đạt là “nhà văn cao bồi”. Trong bầu không khí chính trị đang ngập tràn tinh thần chống Mỹ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đây thực sự là cách gọi chụp mũ đầy ác hiểm. Xuân Diệu viết “Một anh cán bộ văn hóa đã bộc lộ rằng khi anh đọc thơ Lê Đạt cho một số thanh niên cao bồi ở Hà Nội thì họ mới nghe thoáng qua, chưa cần hiểu rõ từng câu, họ đã thích ngay. Cái máu cá nhân anh hùng rẻ tiền càn quấy ngổ ngáo của cao bồi đã gặp Lê Đạt là kẻ phát ngôn của họ”.[5]

 

Cũng với mạch tư duy này, Xuân Diệu gọi Văn Cao là “đại ca” ngụy quân tử, “giả dối như một con mèo, kín nhẹm như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám”, “lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt,” “hiểm độc,” “một cái giọng cao đạo, ra vẻ bác học, thông thái”. Ông chỉ trích “cái duy tâm chủ quan”, “cái cá nhân chủ nghĩa bế tắc”, “cái tìm tòi lập dị”, “cái khinh thường quần chúng”, và “một mớ cặn bã tư tưởng cũ rích” của Văn Cao. Cuối cùng Xuân Diệu cảnh tỉnh Văn Cao mà như có ý đồng thời tự căn dặn mình: “Nhà văn trước tiên phải ôm lấy tư tưởng đúng, phải ôm lấy quần chúng vạn năng, phải ôm lấy Đảng vĩ đại, chứ nếu chỉ ôm lấy một mớ chữ, theo lối Văn Cao tán thưởng, thì chỉ ôm lấy tro tàn thuốc lá hay cặn rượu mà thôi. Huống chi mớ chữ đó lại phản động, thì nhất định tiêu ma sự nghiệp”.[6]

 

Xuân Diệu cưới vợ

Khoảng cuối tháng Tư năm 1958, khi chiến dịch công kích các trí thức từng tham gia Nhân văn – Giai phẩm đang đà lên, ngôi nhà nơi Xuân Diệu ở chung với em gái và Huy Cận sống động hẳn lên nhờ sự có mặt của một thành viên nữ mới. Cô phóng viên báo Nhân Dân 29 tuổi đời này, tên là Bạch Diệp đã được ông tổng biên tập của tờ báo, Hoàng Tùng mai mối cho Xuân Diệu từ cuối năm 1957. Sau khi tìm hiểu Bạch Diệp mới được vài tháng, Xuân Diệu chọn ngày cưới vào cuối tháng Tư năm 1958. Gần đến ngày đó, cô gái nhiều lần cố nài Xuân Diệu ký vào giấy đăng ký kết hôn, nhưng ông luôn tìm cớ thoái thác việc xác nhận pháp lý này. Bạch Diệp cũng phát hiện ra rằng đó không phải là việc duy nhất mà Xuân Diệu tìm cách tránh né, chỉ một thời gian ngắn sau khi chuyển đến nhà chồng ở số 24 phố Cột Cờ. Nhiều năm sau, cô còn hồi tưởng lại những đêm, vào lúc phải làm chuyện vợ chồng, thì Xuân Diệu lại đột nhiên ra bàn làm việc ngồi và đắm mình vào việc viết lách. Tình trạng khó xử này kéo dài khoảng vài tháng, rồi cuối cùng Bạch Diệp cũng phải bỏ cuộc và dọn về nhà cũ với bố mẹ. Vì Xuân Diệu đã thận trọng không ký một giấy tờ pháp lý nào, và hiển nhiên là không có sự lo âu về sự ra đời của một kết quả bằng xương bằng thịt của cuộc hôn nhân, việc Bạch Diệp dọn ra khỏi 24 Cột Cờ là một sự kết thúc chóng vánh và dứt điểm của cuộc hôn nhân đầu tiên và cũng là cuối cùng của nhà thơ.[7]

 

Kết luận

Sau đợt công kích Nhân văn-Giai phẩm lần thứ hai, kéo dài từ tháng Hai đến tháng Sáu năm 1958, lãnh đạo đảng đã cho bắt những thành viên chủ chốt của phong trào, như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo, và Phùng Cung đi tù nhiều năm.[8] Ba người (Trương Tửu, Thụy An và Phan Khôi) bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn, và hai người khác (Trần Dần và Lê Đạt) bị đình chỉ ba năm. Hoàng Cầm và Hoàng Tích Linh bị cách chức khỏi ban chấp hành và những trí thức khác có đóng góp cho các ấn phẩm của phong trào đều bị cảnh cáo. Thoạt nhìn, có vẻ việc trừng phạt chỉ giới hạn trong việc xét xử tố tụng một số, còn chủ yếu là các biện pháp kỷ luật nội bộ (như khai trừ, đình chỉ, v.v…) do các cơ quan chủ quản tiến hành. Tuy nhiên, lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại kết hợp những biện pháp trừng phạt này với hàng loạt biện pháp hành chính bổ sung, thường kéo dài trong nhiều năm, ví dụ như thuyên chuyển một số thành viên của phong trào ra khỏi thủ đô Hà Nội, về sinh sống ở vùng nông thôn xa xôi, nơi họ phải làm những công việc lao động chân tay và chịu sự giám sát liên tục của công an. Lãnh đạo đảng đã duy trì những biện pháp này, song song với việc hạn chế nhiều quyền dân sự và xã hội, đối với một số thành viên của phong trào trong gần ba thập niên (từ năm 1958 đến tận giữa thập kỷ 1980). Đối với một số thành viên Nhân văn-Giai phẩm, họ hàng, thậm chí bạn bè của họ còn bị kỳ thị dưới nhiều hình thức, như gặp trở ngại khi đi xin việc, đi học trong hàng chục năm.

 

Dù bị bầm dập, nhưng Xuân Diệu vẫn vượt qua những năm đầy sóng gió từ 1954-1958 một cách êm thấm, sự nghiệp cách mạng không hề bị sứt mẻ. Lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam không hề bắt ông phải đăng bản tự kiểm điểm ê chề như rất nhiều đồng chí, đồng nghiệp của ông từ những ngày đầu cách mạng (như Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Tế Hanh, và Tô Hoài). Và, lẽ đương nhiên, vì ông không dính dáng gì đến phong trào Nhân văn-Giai phẩm – trên thực tế, lại còn là nạn nhân được ưa chuộng của những bài phê bình của họ nữa – nên Xuân Diệu tránh được hậu quả của những sự trừng phạt nghiêm khắc như các thành viên của phong trào phải hứng chịu. Còn về món nợ cũ là những lời chỉ trích cay nghiệt mà Xuân Diệu đã phải hứng chịu trên báo chí Nhân văn-Giai phẩm, ông chắc có thể thấy khuây khỏa vì giờ đây sự nghiệp của họ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi như trở về con số không tròn trĩnh.

 

Có điều, cũng giống như những thành viên Nhân văn-Giai phẩm, Xuân Diệu có động cơ phức tạp, với hàng loạt những suy tư về chính trị, chuyên môn và cá nhân, đôi khi trái ngược nhau. Rõ ràng là ông bán tin bán nghi với chính sách văn hóa của chế độ, nhưng ông vẫn nhiệt tình cổ vũ cho nó. Và những thay đổi đột ngột trong chính sách của đảng, để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình trong khối xã hội chủ nghĩa (ví dụ như phong trào giải hoặc Stalin, phong trào Trăm Hoa) khiến ông nhiều khi bị lố. Thực ra nhiều trí thức khác cũng bị lố như Xuân Diệu, ở một thời điểm nào đó trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những nghiên cứu gần đây đôi khi cho rằng Xuân Diệu là điển hình của năng lực cải hóa của cách mạng, với lập luận rằng lòng tin ở chủ nghĩa Mác-Lê là cơ sở của mối quan hệ giữa Xuân Diệu với Đảng Lao động Việt Nam và là yếu tố quyết định nghệ thuật cũng như tư tưởng của nhà thơ. Nhưng nếu nghiên cứu các bài viết và hành động của ông trong giai đoạn 1954-1958 một cách tỉnh táo, ta lại thấy hình như không phải vậy. Nhìn lại giai đoạn này, có ba yếu tố chính giúp giải thích quan hệ giữa Xuân Diệu và chế độ cách mạng.

 

Trước hết, uy tín và năng lực văn chương của ông khiến ông trở thành một nhân vật rất có giá trong con mắt của lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam. Trong lĩnh vực văn hóa, hiển nhiên là Xuân Diệu được đông đảo người dân Việt Nam, miền Bắc cũng như miền Nam, đánh giá là nhà thơ lớn. Nhà lý thuyết văn hóa hàng đầu của Đảng Lao động Việt Nam, Trường Chinh hẳn luôn tin rằng kiến thức của mình về chủ nghĩa Mác-Lê là cơ sở cho chỗ đứng quyền lực của mình trong lĩnh vực văn hóa, nhưng thực ra quyền lực của ông ta luôn xuất phát từ vị trí chính trị. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ít người để ý đến Trường Chinh nói gì về văn học nghệ thuật, ngoại trừ những thành viên của phong trào cộng sản. Thơ của Tố Hữu cũng có số phận tương tự. Vì các sáng tác của ông ta luôn được lãnh đạo đảng tung hô nhằm mục đích tuyên truyền, ông ta không bao giờ biết được liệu thơ mình có cạnh tranh được với Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Nguyễn Bính và nhiều ngôi sao khác của Phong trào Thơ mới từ thời trước cách mạng hay không. Trong năm tuần đầu của cuộc tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu đã vô tình cho in cả hai loại bài phê bình chê và khen tập thơ khiến Tố Hữu có một ấn tượng thoáng qua về việc thơ của ông ta sẽ đứng ở đâu trong một thế giới không có đảng đỡ đầu. Và ông ta thấy bức tranh đó không mấy sáng sủa. Có lẽ những nhận xét vô tư trong năm tuần đó, cộng với những lời phê tiêu cực hơn trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm về khả năng làm thơ và lãnh đạo của mình đã ám ảnh Tố Hữu, một người vốn luôn thấy bất an, trong suốt phần còn lại của cuộc đời ông ta (điều này giúp giải thích vì sao ông ta trù dập những thành viên Nhân văn-Giai phẩm một cách nghiệt ngã và hiểm ác đến vậy).[9] Do luôn bị ám ảnh về tính chính đáng, lãnh đạo đảng đánh giá cao nhất ở Xuân Diệu là những lời khẳng định công khai về năng lực lãnh đạo của đảng trong lĩnh vực văn hóa. Như chúng tôi đã cố gắng trình bày trong bài viết này, Xuân Diệu sẵn sàng viết bất cứ điều gì, hoặc lên án bất cứ ai (ngay cả chính bản thân) để ủng hộ đường lối văn hóa của đảng.

 

Hai là, không thể nghiên cứu về sự nghiệp cách mạng của ông mà không xem xét đến bản chất luyến ái đồng tính của Xuân Diệu. Theo hồi ký của Tô Hoài, nhà thơ của chúng ta đã bị đấu rất dữ vì tính lang chạ trong hai đêm chỉnh huấn ở Việt Bắc hồi năm 1952. Cũng như tất cả những tội lỗi khác được đem ra mổ xẻ trong phong trào chỉnh huấn, bản tính luyến ái đồng tính của Xuân Diệu được quy kết nguyên nhân ở bản chất giai cấp (“tư tưởng tư sản xấu xa” của ông). Thế mà, dù đã phải chịu sức ép hết sức căng thẳng đến nỗi phải công nhận lối giải thích trên, Xuân Diệu vẫn tỏ ra không hề thay đổi quan điểm riêng rằng giai cấp là một chuyện, còn xu hướng luyến ái là chuyện khác. Dù được giáo hóa với chủ nghĩa Mác-Lê đến độ nào đi nữa, Xuân Diệu cũng không thể cải hóa thành một “con người mới xã hội chủ nghĩa” có đời sống luyến ái khác giới được.

 

Một điều mỉa mai là, khi quy kết bản chất luyến ái đồng giới về vấn đề giai cấp, lãnh đạo đảng (chắc có cả Tố Hữu, người phụ trách phong trào chỉnh huấn) đã thể hiện cho Xuân Diệu thấy rằng chủ nghĩa Mác-Lê và cách mạng về cơ bản không giải quyết vấn đề kỳ thị xu hướng luyến ái đồng tính, có lẽ là mối băn khoăn lớn nhất trong đời của Xuân Diệu. Đảng Lao động Việt Nam chỉ đơn thuần dùng chủ nghĩa Mác-Lê để biện hộ cho định kiến xưa cũ về vấn đề này. Ngay cả những trí thức có tư tưởng cải cách của phong trào Nhân văn-Giai phẩm, với những khẩu hiệu hành động đầy tính nhân văn, cũng khoái trá khai thác mối quan hệ đặc biệt của Xuân Diệu với Huy Cận trong khi công kích giới lãnh đạo văn hóa. Xét trong bối cảnh này, chúng ta không thể không thắc mắc liệu có phải Xuân Diệu viết bài về “nhà thơ của nhân dân” Walt Whitman phần nào với động cơ muốn phủ định sự liên hệ giữa giai cấp với bản chất luyến ái đồng tính. Khả năng đó giúp giải thích sự chuyển hướng đột ngột trong phần cuối của bài viết, sau khi đã khai thác triệt để mọi thông tin để tạo căn cước vô sản cho Whitman, Xuân Diệu xoay sang trích dẫn một đoạn rất tình cảm và riêng tư trong bài thơ “Chia tay”, bài cuối cùng của tập Lá Cỏ.

Về mối quan hệ giữa nhà thơ và đảng, có thể bản chất luyến ái đồng tính luôn là mạch ngầm của mối lo tiềm ẩn ở Xuân Diệu và góp phần tạo nên nhu cầu thường trực là phải lấy lòng lãnh đạo đảng. Cảm giác bất an về vấn đề luyến ái đồng tính chắc đã ám ảnh ông nhiều trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, khi đột nhiên một luồng báo chí tự do nở rộ, vừa có thái độ đối nghịch với Xuân Diệu, vừa nằm ngoài tầm kiểm soát của ông. Có hai bài báo trong thời kỳ này cạnh khóe rất lộ liễu về bản chất luyến ái của Xuân Diệu, nhưng chưa đi xa đến mức phát biểu thẳng rằng Xuân Diệu là người đồng tính. Sự thận trọng cao độ của Xuân Diệu trong thời kỳ này có thể có một phần nguyên nhân từ nỗi lo sợ rằng bất kỳ một hành động phản ứng nào của ông cũng có nguy cơ kích động các thành viên Nhân văn-Giai phẩm, khiến họ có thể đánh trực diện vào bản chất đồng tính của ông, thậm chí lôi ra làm đề tài đàm tiếu công khai. Đây chắc là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của Xuân Diệu, vì không có dấu hiệu gì đảm bảo rằng, xét theo những quan niệm xã hội bảo thủ của họ, chế độ sẽ đứng về phía ông trong tình huống này. Cũng chính nỗi sợ bị chê cười là người đồng tính cũng có thể đã góp phần khiến Xuân Diệu quyết định tìm hiểu và cưới Bạch Diệp vào năm 1958. Hành động khăng khăng từ chối ký giấy tờ hôn thú và thái độ “thụ thụ bất thân” phản lãng mạn không kém đối với chuyện chăn gối trong thời gian chung sống khiến người ta có thể đặt câu hỏi liệu Xuân Diệu có bao giờ có ý định nghiêm túc với Bạch Diệp không?[10]

 

Yếu tố thứ ba ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu là ông luôn là người không có lý tưởng. Nghiên cứu kỹ các tài liệu giai đoạn 1954-1958 sẽ thấy rất nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng Xuân Diệu không hề tha thiết với tư tưởng chính thống của chế độ hay bất kỳ một tư tưởng nào khác. Chúng ta thấy điều này rõ nhất trong cách hành xử bất nhất đến bất bình thường của ông. Sau khi bị nhắc rằng phương pháp điều hành cuộc tranh luận về Việt Bắc lúc ban đầu (như một cuộc tranh luận thực sự) là không thể chấp nhận được, Xuân Diệu không hề thấy cắn rứt khi ngay lập tức đổi hướng và biến cuộc tranh luận thành một trò quảng cáo tập thể cho Tố Hữu. Như để chứng tỏ rằng mình đã học được bài học về tự do trao đổi ý kiến ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một tinh thần trao đổi mà ông đã khuyến khích trong những tuần đầu của cuộc tranh luận về Việt Bắc, ông lại biện minh giúp chế độ về tính chính đáng của quyết định tịch thu tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào tháng Hai năm 1957 bằng việc dịch bài diễn văn của nhà lãnh đạo văn hóa Liên Xô Nikolai Fadeyev. Tính bất nhất cũng được thể hiện trong sự khác biệt giữa một đằng là tuyên bố khẳng định như đinh đóng cột về quan điểm chính thống của đảng, và một đằng là thái độ nín thở chờ thời trước những xáo trộn trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Trong suốt năm tháng liền, từ ngày 17 tháng Năm đến tận ngày mồng 9 tháng Mười một năm 1956, một trong những nhà văn bút chiến lão luyện nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã im hơi lặng tiếng trước mọi vấn đề thú vị đang được bàn cãi sôi nổi trên báo chí. Ngoài ra, những nỗ lực hậu trường của Xuân Diệu nhằm dùng ảnh hưởng cá nhân trong đảng để vận động cho tác phẩm của mình – tập thơ cách mạng Ngôi Sao không thể coi là hành động của một người “đã trút bỏ gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân”. Cũng tương tự như vậy là nỗ lực tái bản tập Thơ Thơ của ông vào đầu năm 1957 với mục đích cải thiện thu nhập, dù trước đó ông đã nhiều lần tự chỉ trích nặng nề những sáng tác cũ của mình.[11]

 

Xuân Diệu là một trong những người chủ chốt trong công tác cổ động cho phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng việc tuân thủ của bản thân ông đối với những nguyên tắc ông đang tham gia truyền bá thì rất thất thường – theo cách nói nhẹ nhất. Xem xét những bài ông đóng góp cho báo Văn trong năm 1957 sẽ thấy Xuân Diệu dao động liên tục giữa hai thể loại. Ban đầu là bài thơ vô hại, có tính tập thể “Gió”. Khi bị phê phán là dị mọ với “toàn là những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “xa rời thực tế”, xa rời quần chúng – những người anh hùng của thời đại, Xuân Diệu đáp lại bằng bài “Chuyên chính”. Bài thơ thể hiện tình yêu với đảng này xuất hiện gần như đồng thời với bài luận “Những bước đường tư tưởng của tôi” của Xuân Diệu được đăng trênTạp Chí Văn nghệ. “Những bước đường tư tưởng của tôi” hết lời ăn năn và lên án “tính cá nhân”, “tính bi quan” trong thơ lãng mạn của mình. Nhưng, đáng ngạc nhiên là chỉ một tháng sau khi tự lên án mình và đấu tố nhà văn, nhạc sĩ Văn Cao vì biểu hiện “cá nhân chủ nghĩa bế tắc”, Xuân Diệu lại sáng tác bài thơ tình “Hỏi”.

 

Chính vì không có lý tưởng nên Xuân Diệu không bị cuốn hút vào chương trình nhân văn của Nhân văn-Giai phẩm hay báo Văn. Chính vì lòng trung thành với đảng của Xuân Diệu không bắt nguồn từ sự dấn thân trong sáng theo tư tưởng Mác-Lê, ông hình như không trăn trở với những câu hỏi liệu chế độ có thực hiện đúng những điều mà lý tưởng đã hứa hẹn hay không, hay liệu có thể cải tổ được chế độ không. Xét theo khía cạnh khác, mọi người có thể suy luận rằng sự thờ ơ với phong trào Nhân văn-Giai phẩm là kết quả của lòng tin thực sự vào đường lối của đảng trong suốt một thập kỷ đi theo cách mạng. Tuy nhiên, sự thực là ông không hề viết một bài nào bênh vực cho đường lối ấy trước những đòn công kích của các thành viên phong trào Nhân văn- Giai phẩm trong suốt sáu tháng cuối năm 1956 là biểu hiện chứng tỏ rằng lý tưởng, có chăng, chỉ đóng vai trò rất nhỏ bé trong các tính toán chính trị của ông. Thực ra, không có gì lạ khi thái độ mập mờ và lưỡng lự của lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam trong nửa cuối của năm 1956 đã làm Xuân Diệu tịt ngòi suốt năm tháng. Ông không hề có ý tưởng riêng về chủ nghĩa Mác-Lê.

Rồi sang năm 1957, khi báo Văn bị đánh, ông không hề tìm cách bênh vực cho tờ báo như những nhà văn cách mạng lớn tuổi Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài và Tế Hanh đã làm. Câu trả lời của Xuân Diệu là bài thơ “Chuyên chính”. Như một đoạn nhật ký của Trần Dần đã ghi, Xuân Diệu nổi cáu khi Tế Hanh cố bênh vực bài thơ “Gió” trước những lời phê bình của tạp chí lý luận của đảng, tờ Học Tập (chắc Xuân Diệu sợ bị lôi cuốn vào một nhóm dám phản ứng lại lãnh đạo đảng). Ông cũng chưa bao giờ đăng một bài viết nào bày tỏ sự bất bình trước cảnh bạo lực của chiến dịch cải cách ruộng đất – dù điều đó là một mối quan tâm trọng yếu của các thành viên Nhân văn-Giai phẩm.

 

Như ta đã thấy trong các đoạn văn, bài văn đánh Nhân văn-Giai phẩm, nhà thơ đấu thẳng tay các thành viên của phong trào khi được yêu cầu. Một lần nữa, khả dĩ có cách giải thích khác rằng có thể sự thẳng tay của những đòn Xuân Diệu hạ thủ nhằm vào Nhân văn-Giai phẩm có nguyên nhân là sự gắn bó với đảng thông qua tư tưởng Mác-Lê, nhưng lập luận này không có cơ sở. Cách giải thích hợp lý hơn là Xuân Diệu hiểu được quyền uy tối cao của Đảng Lao động Việt Nam và sự thực là một trí thức làm phật ý lãnh đạo đảng không có chỗ đứng, thậm chí không thể tồn tại trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đã được cấp cho một căn biệt thự Pháp và được tạo điều kiện chung sống với Huy Cận, Xuân Diệu hiểu rằng chống lại lãnh đạo đảng thì sẽ bị mất rất nhiều thứ. Một lý do nữa không thể loại trừ để giải thích những đòn đánh ác nghiệt, quá tay của Xuân Diệu dành cho Nhân văn-Giai phẩm là động cơ trả thù. Trong các ấn phẩm đầy tính kích động của phong trào Nhân văn-Giai phẩm, nhà thơ lãng mạn vĩ đại Xuân Diệu bị đem ra bêu riếu, phơi bày các bằng chứng cho rằng ông là một kẻ giả nhân giả nghĩa. Điều này chắc đã làm Xuân Diệu nhức nhối, vì đối với ông, giá trị đặc biệt của mình đối với chế độ là uy tín.

 

Giai đoạn từ 1954 đến 1958 có vai trò đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tương tự như phong trào Trăm Hoa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Khi để cho tự do báo chí tái xuất hiện trong không khí phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin, lãnh đạo đảng đã nhận diện được những ai trong giới trí thức bất mãn có gan thách thức quyền uy của đảng và yêu cầu cải tổ. Nói cách khác, họ nhận biết được những ai có khả năng tự phát làm lãnh đạo trong giới trí thức. Tuy nhiên, thông tin này không phải là ý định ban đầu của chủ trương mềm dẻo mà Đảng Lao động Việt Nam quyết định áp dụng với những thành viên bất mãn của giới trí thức trong năm 1956 (như đôi khi các nhà nghiên cứu đã kết luận tương tự về Mao Trạch Đông đối với phong trào Trăm Hoa). Ở Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam chỉ muốn thể hiện sự đồng điệu với những diễn biến tư tưởng ở Liên Xô và Trung Quốc mà thôi. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng thì cũng như nhau. Những ai thò đầu ra kêu gào cải tổ trong giai đoạn cuối năm 1956 cũng bị thanh trừng khỏi giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là dấu chấm hết cho mối lo về phản ứng của giới trí thức đối với chế độ trong suốt ba thập kỷ tiếp theo.

 

Đối với những quan chức văn hóa cốt cán như Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Hoài Thanh, và Nguyễn Đình Thi, quyết định của đảng cho báo chí tư nhân tự do tái xuất trong thời gian từ tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956 là một trải nghiệm nhức nhối. Họ được biết qua phong trào Nhân văn-Giai phẩm rằng phần lớn trong giới trí thức coi họ là những kẻ tham nhũng, kiêu ngạo và bất tài. Đối với lãnh đạo đảng, họ được một bài học rằng kiểm soát giới trí thức không có sự trợ giúp của những quan chức văn hóa cốt cán đó sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Chế độ đã phải trả giá khi đem những người này ra làm mồi cho đội ngũ trí thức trong phong trào hóa giải ảnh hưởng Stalin. Rốt cuộc, phong trào Nhân văn-Giai phẩm giúp lãnh đạo đảng và những quan chức văn hóa này hiểu ra rằng họ cần nhau đến mức nào. Sự hợp tác trên cơ sở cùng có lợi này hiện vẫn còn là động lực cơ bản của đời sống trí thức ở Việt Nam.

 

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

[1] Như Phong, “Góp ý kiến với các đồng chí có trách nhiệm ở báo Văn”, Nhân Dân, số 1432-1435, 9-12/2/1958.

[2] Nguyên Hồng, “Những khuyết điểm và sai lệch của tôi trong công tác tuần báo Văn”, Nhân Dân, số 1451, 3/3/1958; Tế Hanh, “Quan niệm siêu giai cấp của tôi về nhân tính và con người mới”, Nhân Dân, số 1463, 14/3/1958.

[3] N.D., “Để chuẩn bị một thời kỳ văn học, nghệ thuật phát triển tốt tươi hơn nữa”, Nhân Dân, số 1456, 9/3/1958.

[4] Xuân Diệu, “Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng…

 

 

 

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE, Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần 5)

Đông Hiến dịch

 từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

 

Báo Văn: từ mồng 10 tháng Năm năm 1957 đến 17 tháng Giêng năm 1958

Tại các buổi họp diễn ra trong hai ngày 25 và 26 tháng Tư năm 1957, ban chấp hành Hội Nhà văn thông qua quyết định thành lập một nhà xuất bản và tuần báo Văn. Tờ báo bắt đầu phát hành khoảng bốn tháng sau khi các ấn phẩm Nhân văn-Giai phẩm bị đóng cửa, và do hai nhà văn hiện thực phê phán nổi tiếng trong giai đoạn Pháp thuộc là Nguyễn Công Hoan và Nguyên Hồng điều hành. Cả hai đều là những trí thức có bề dày tham gia cách mạng và không viết lách gì trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm.[1]

 

Số đầu tiên của Văn ra ngày mồng 10 tháng Năm năm 1957, đăng truyện, thơ, phê bình văn học, hồ sơ văn học, thông báo và tin tức trong ngành. Trên những trang báo Văn, độc giả có thể tìm thấy mục bình luận chính trị, những bài thơ hoặc biếm họa rất cay nghiệt, chủ yếu đả kích “đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đứng đầu là Ngô Đình Diệm”. Tuy nhiên, cùng với những bài lớn tiếng chống Mỹ, ca ngợi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thỉnh thoảng cũng có xuất hiện những bài ít ồn ào hơn, dưới những hình thức thận trọng và tinh vi, nêu lên những băn khoăn, hoặc chỉ trích, về thế giới quan Mác-Lê của chế độ và chương trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.[2]

 

Dù cộng tác chặt chẽ hơn với nguyệt báo văn học và nghệ thuật theo đường lối bảo thủ là Tạp Chí Văn nghệ, Xuân Diệu cũng thỉnh thoảng viết bài cho Văn. Một nghiên cứu về các bài ông viết cho tờ báo này cho thấy, sau hai bài diễn văn sôi nổi chiêng trống phụ họa cho chính sách văn học của chế độ, bản thân Xuân Diệu vẫn dao động qua lại giữa những chủ đề lãng mạn và cách mạng, cố gắng tìm sự dung hòa nghệ thuật và đôi khi không tuân thủ những yêu cầu mà ông đang tham gia quảng bá. Bài đầu tiên ông gửi đăng trên tờ báo này là bài thơ “Gió”, đăng trên số 3 (ngày 24 tháng Năm năm 1957):

 

Gió

Gió về như mưa tối

Lá giậy như lá đi

Ào ào tiếng sóng vỗ

Không gian có việc gì?

 

Gió gió gió rào rào

Trăng trăng trăng chấp chới

Trời tròn như buồm căng

Tất cả lên đường mới.

 

Hồn ta cánh rộng mở

Đôi bên gió thổi vào

Nghĩ những điều hớn hở

Như trời cao, cao, cao.

 

Bài “Gió” đã đáp ứng được những yêu cầu văn học của chế độ đến mức nào? Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu đã giải thích chi tiết nhiều nội dung của các yêu cầu đó trong hai bài diễn văn hùng biện. Tuy nhiên, so với Xuân Diệu, bài luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa do một nhà lý luận của đảng tên là Hồng Chương viết (đăng trên các số tháng Sáu và tháng Bảy năm 1957 của tạp chí Học Tập) đã đưa ra một cái nhìn chi tiết hơn và có thẩm quyền hơn về vấn đề này.[3] Tổng kết lại những ý quan trọng nhất, bài viết của Hồng Chương nêu ra bốn yêu cầu chính đối với một tác phẩm văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Một là, tác phẩm phải “biểu hiện tính chiến đấu và tính giai cấp của giai cấp công nhân một cách rõ rệt”. Hai là, phải “biểu lộ tinh thần lạc quan cách mạng của giai cấp đang lên và lòng tin tưởng sắt đá vào thắng lợi của nhân dân lao động và tương lai xã hội chủ nghĩa”.[4] Ba là, tác phẩm “phải miêu tả hiện thực một cách chân thật và cụ thể lịch sử”. Và bốn là, phải “…miêu tả hiện thực trong quá trình phát triển cách mạng của nó”. Khi đáp ứng được bốn yêu cầu trên trong sáng tác, nhà văn không chỉ miêu tả được hiện thực mà còn góp phần cải tạo hiện thực đó.[5] Nhà văn phải miêu tả cuộc sống của “con người mới” trong xã hội mới xã hội chủ nghĩa và hướng đến một ngày mai tươi sáng hơn.[6]

Bài thơ “Gió” của Xuân Diệu có một âm hưởng lạc quan và có hướng đến một cái mới (con “đường mới”). Nhưng bài thơ không xác định giai cấp và không có một thông tin nào về không-thời gian cụ thể, tức là không có tính “cụ thể lịch sử”, vì bất kỳ một xã hội nào trên trái đất này, vào bất kỳ thời điểm nào cũng có thể phấn khởi hồ hởi về một con “đường mới”. Chắc hẳn các lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam muốn thấy Xuân Diệu viết về “con đường của đảng” hay “con đường của Bác Hồ” hơn là “đường mới” chung chung – tức là lặp lại động tác tung hô sự lãnh đạo của họ như nhà thơ đã làm vô tội vạ trong tập Ngôi Sao. Và thiếu sót này của tác giả không lọt qua mắt họ được. Chỉ vài tuần sau, “Gió” với bước thoái lui khỏi lịch sử cụ thể để co vào không thời gian vô định, đã đưa một Xuân Diệu đến một cuộc bút chiến lớn hơn về nội dung của báo Văn.

 

Những người chăm đọc báo Nhân Dân có thể dự đoán trước được cuộc tranh luận về tờ báo của Hội Nhà văn. Vào tháng Sáu, tờ báo đảng bắt đầu chạy những bài tả sự kết thúc của chính sách Trăm Hoa ở Trung Quốc và xu hướng bỏ cuộc ở khối xã hội chủ nghĩa đối với đường lối hóa giải ảnh hưởng của Stalin. Sự trùng hợp sít sao về thời gian giữa những thay đổi nói trên trong khối xã hội chủ nghĩa và vụ tranh luận về báo Văn là dấu hiệu cho thấy có thể sự kiện đó chính là hậu quả của tình hình nói trên. Một đoạn trong nhật ký của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cho thấy, có thể nỗi lo sợ hoang tưởng của Tố Hữu nói riêng và lãnh đạo đảng nói chung cũng là một yếu tố:

“Th. (Tố Hữu) thì chủ quan. Không chịu đi chơi ai. Khi anh em bảo nên đi, thì lại nói là không quen! Nghĩa là lãnh đạo chơ vơ mấy anh, sợ bóng sợ gió, ai cũng cho là Nhân văn, tự mình là bè phái mà luôn luôn cho người khác là bè phái! Họ hô hào đoàn kết, mà họ có đoàn kết đâu. Chỉ toàn là đối phó, (…)

Th. được nhà báo Hungarie nói: xem tờ báo Văn, nhà báo ấy thấy rõ y như ở Hung những ngày trước sự biến tháng 10. Cũng quay về cũ, cũng bôi đen. Vì thế Th. muốn kiểm điểm tờ tuần báoVăn về tư tưởng Nhân văn!”[7]

 

Báo Nhân Dân thường đưa tin về sự thâu tóm quyền lực của các lãnh đạo trong khối xã hội chủ nghĩa như một cách khẳng định nguyên tắc cơ bản về “thống nhất trong đảng”[8]. Sau đó không lâu, một bài báo nhan đề “Tuần báo Văn và con người thời đại” được đăng trên số tháng Bảy của tờ Học Tập. Tác giả bài báo, Thế Toàn (tên thật là Trịnh Xuân An) phê phán kịch liệt các sáng tác tự do đã xuất hiện trên báo Văn tính đến thời điểm đó. Theo Thế Toàn, báo Văn “toàn là những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống” đến nỗi “không ăn nhập gì với cuộc sống, không dính dáng gì đến những con người vĩ đại và dũng cảm của thời đại chúng ta.” Tiếp theo, ông ta viết, “Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống” và kết luận rằng tờ báo đã “tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”. Bên cạnh một số tác phẩm khác, Thế Toàn dẫn ngay bài thơ “Gió” của Xuân Diệu đăng trên số thứ ba của báo Văn để minh họa ý kiến của mình:[9]

 

“Con người của thời đại chúng ta không phải là con người xa lánh cuộc sống, ngồi một góc phố nào đó để phân tích một món ăn (“Phở” của Nguyễn Tuân) phát hiện ra nhiều vấn đề quá “quan trọng” như xương với xẩu, như mũ phở, v.v… Cũng không phải người ngồi nghe gió ngắm trăng để thích thú riêng mình, rồi thốt lên:

Gió gió gió rào rào

Trăng trăng trăng chấp chới…”[10]

 

Ngay trên các trang báo Học Tập này, tham vọng kiểm soát đời sống văn hóa ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của lãnh đạo đảng bắt đầu được bộc lộ rõ rệt, vì lập luận cốt yếu của Thế Toàn trong bài viết là bất cứ tác phẩm văn học nào không phục vụ đường lối của đảng đều đáng ngờ.[11]

 

Ban biên tập của báo Văn phản ứng rất nhanh trước những lời công kích này, cho chạy một loạt bài để bảo vệ uy tín của tờ báo. Được các nhà văn nổi tiếng như Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng, Lê Minh, Tô Hoài, Nguyễn Tuân và Tế Hanh góp bài vở lên tiếng, các bài bảo vệ tuần báo Văn có xu hướng coi những lời công kích của Học Tập như những ý kiến đóng góp xây dựng của “đồng nghiệp” ở một “tờ báo bạn” – khiến phe công kích càng thêm giận dữ.[12] Trong số tháng Tám của Học Tập, Hồng Chương và Trịnh Xuân An cộng tác đăng một bài phản công dữ dội hơn, viện dẫn tới quan điểm siêu bảo thủ về văn nghệ của Trường Chinh – đương kim Ủy viên Bộ Chính trị. Bài báo lấy giọng mô phạm để rao giảng về ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong sáng tác văn nghệ:

“Chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những thiên hướng lệch lạc đi trệch ra ngoài đường lối văn nghệ của Đảng. Chúng ta cũng kiên quyết phản đối thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa, trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng. Thái độ đó rõ ràng là không lợi cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ”.[13]

Thư ký tòa soạn tuần báo Văn, Nguyên Hồng, phản đối ngay giọng điệu quá nặng nề của những lời phê bình trên Học Tập. Ông chất vấn “Có phải vì giáo điều, sơ lược, công thức, nên mới có sự nhận thức và phê phán như thế? Có phải vì tác phong quan liêu, trịch thượng và cái lối đao to búa lớn nên mới có sự nhận xét như thế?” Nhà văn Nguyễn Tuân ủng hộ quan điểm của Nguyên Hồng: “Tôi cũng đồng ý với ông thư ký tòa soạn báo Văn về cái nhận xét này (rằng ông Hồng Chương và Trịnh Xuân An trịch thượng và đao to búa lớn). Thêm nữa, cá nhân tôi lại còn cảm thấy mấy ông đó đã làm cho người đọc phải hiểu rằng các ông đang lấy Đảng ra để “dọa” anh em viết bài báo”.[14]

 

Bài cuối cùng bênh báo Văn, “Cùng đặt một số vấn đề” do nhà thơ miền Nam Tế Hanh viết và đăng trong số ngày 1 tháng Mười một năm 1957 của báo Văn.[15] Cố gắng giữ vị trí trung gian, Tế Hanh điểm lại những ý chính trong bài phê bình của Học Tập: báo Văn không lành mạnh, xa rời thực tế và quần chúng, có biểu hiện của tư tưởng tư sản rõ rệt. Tiếp theo, ông đi sâu phân tích từng nội dung phê phán nêu trên, nêu các dẫn chứng từ báo Văn để mổ xẻ tính hợp lý của những lời công kích trên Học Tập.

 

Tế Hanh tổng kết bài viết với ba luận điểm chính. Một là, cộng tác viên của Văn phải được phép viết về quá khứ cũng như hiện tại, vì nhiều sự kiện của quá khứ cũng có tác dụng động viên mọi người tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện tại (Lúc đó, lãnh đạo đảng đang bắt đầu khó chịu vì quá ít nhà văn chọn đề tài nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện tại).[16] Hai là, khái niệm “con người mới” cần phải được hiểu rộng hơn, bao gồm cả trí thức chứ không chỉ có nông dân và công nhân. Tế Hanh nhận xét rằng, trên thực tế, một số người xuất thân từ tầng lớp tư sản có thể có tư tưởng vô sản hơn so với những người thuộc tầng lớp bị bóc lột. Ba là, các nhà phê bình cần phân biệt giữa nội dung một tác phẩm văn học với ý kiến cá nhân và phương pháp sáng tác của tác giả, có một số nhà phê bình cứ thấy viết ở ngôi thứ nhất thì cho là “tiểu tư sản” và “tư sản”. Theo Tế Hanh, những vấn đề cơ bản của cuộc sống như tình yêu và sự rung động trước cái đẹp tự nhiên thì không phân biệt biên giới giai cấp và vẫn tồn tại trong nước Việt Nam mới. Nói cách khác, mô hình đấu tranh giai cấp không thể giải thích được một số hiện tượng cốt yếu nhất trong cuộc sống. Ông dẫn một khổ thơ từ bài “Gió” của Xuân Diệu chỉ tả thiên nhiên thuần khiết làm ví dụ: “Tôi cũng cho là những câu thơ ấy không hại gì cả, mà lợi. Không lẽ chỉ giai cấp bóc lột mới ngắm trăng? Nhưng thử hỏi những câu thơ ấy thuộc về tư tưởng giai cấp gì? Tư sản ư? Vô sản ư? Tôi thấy trong văn nghệ vẫn có cái gì chung cho mọi giai cấp. Cái mà ta gọi là “nhân tính” ấy. Nhân tính khác giai cấp tính. Nhân tính thuộc về mọi giai cấp như: cái đẹp thiên nhiên, tình yêu trai gái”.[17]

Cũng trong số báo này của Văn, Xuân Diệu đăng một bài thơ cũng trên trang nhất, ngay bên dưới bài của Tế Hanh. Trớ trêu thay, khi Tế Hanh đang trích dẫn những câu thơ từ bài “Gió” để vận động cho tự do tư tưởng trong sáng tác, thì chính nhà thơ lãng mạn lại nghĩ đây là lúc khai quật lại và đăng một bài thơ cũ ông viết từ hồi tháng Bảy năm 1956, có đầu đề là “Chuyên chính”:

Chuyên chính

Yên lòng và vững chí!

Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí,

Chuyên chính của ta là thép cương kiên

Nhưng cũng là đôi mắt mẹ hiền;

Chuyên chính giữ gìn cho hoa được nở,

Chăn nhân ái của muôn nghìn hơi thở…

Tôi đã từng làm thơ về gió về mây,

Tôi làm thơ về tư tưởng đêm nay;

Những kẻ cười ta làm thơ chính trị,

Nếu hình thức có hơi non một tý,

Họ vui mừng là ô vỗ tay ran:

Mặc những kêu rêu lá rụng, hoa tàn,

Tôi thẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính.[18]

Xuân Diệu đã viết bài “Chuyên chính” từ tháng Bảy năm 1956, khi phong trào giải hoặc Stalin đang bắt đầu mạnh lên ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có phải vì thế mà ông quyết định giữ lại không đăng bài thơ vào thời điểm đó. Nếu “Chuyên chính” thể hiện lòng tin của ông về văn học ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sao ông lại không thể hiện và bênh vực cho quan điểm ấy trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm? Và vì sao, gần một năm sau đó, ông lại sáng tác bài thơ “Gió” sau khi đã viết những câu: “Tôi đã từng làm thơ về gió mây/Tôi làm thơ về tư tưởng đêm nay” trong bài “Chuyên chính” từ tháng Bảy năm 1956?

 

Một đoạn trong nhật ký của Trần Dần gợi cho ta thấy suy nghĩ của Xuân Diệu khi Tế Hanh trích dẫn “Gió” để dẫn chứng cho lập luận của ông rằng thơ hay có thể hấp dẫn mọi tầng lớp, giai cấp:

“Tế Hanh là người mới thò ra cái thuyết có “nhân tính”, bên cạnh “giai cấp tính”. Ông lấy X[uân]Diệu làm tỉ dụ, để chứng minh cái thuyết nguy hiểm ấy. Tức là bài “Gió! gió! gió!” của XDiệu. Đại ý ông T[ế]Hanh nói, ví thử bài cậu làm khá ra, thì mọi giai cấp đều thích, một thằng ăn cắp cũng sẽ đọc, thưởng thức “gió” ấy.

Tức thì ông XDiệu la ó lên rằng người ta [Tế Hanh] vu oan cho ông, người ta phủ nhận cái việc ông đã đứng trên lập trường công nhân mà xem xét vấn đề gió.”[19]

 

Trong cùng thời gian bài thơ “Chuyên chính” được đăng trên báo Văn, Xuân Diệu cũng viết hai bài báo khác trong nguyệt báo Tạp Chí Văn nghệ. Bài đầu tiên – “Thế nào là cái mới?” phê phán ý kiến của Văn Cao, một thành viên Nhân văn-Giai phẩm, về văn nghệ trong bài luận “Một vài suy nghĩ về thơ”.[20] Theo Xuân Diệu, Văn Cao “chủ động thành lập nên sự thẩm mỹ mới,” thể hiện sự “tự huyễn diệu của sự kiêu căng cá nhân”. Ông cũng tỏ ra bất bình với ý cảm thông của Văn Cao đối với “những người biết thất bại mà dám mở đường”. Theo Xuân Diệu, không nên mở một con đường chông gai chỉ để thỏa mãn “anh hùng chủ nghĩa rẻ tiền”.

 

Cũng trong tháng Mười một, Xuân Diệu đang một bài báo nữa trên Tạp Chí Văn nghệ với tiêu đề “Những bước đường tư tưởng của tôi”.[21] Bài báo có một phần tự phê bình về quan điểm cũ của tác giả về nghệ thuật và cuộc sống, quan điểm từ thời ông còn nổi tiếng với Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Đã từng là đối tượng của phong trào chỉnh huấn và tham gia phong trào phê và tự phê hồi còn ở Việt Bắc, Xuân Diệu nắm rất vững các thông lệ của thể loại này. Lãnh đạo đảng muốn Xuân Diệu và các nhà văn khác đã thành danh từ thời trước cách mạng phải giải quyết hai vấn đề cơ bản.[22] Một là, họ cần thú nhận rằng bản thân rất khó cải hóa vì đã ngập sâu vào “chủ nghĩa bi quan buồn thảm và mộng mơ” của văn nghệ tư sản từ trước khi tham gia cách mạng. Như cách Xuân Diệu tả, họ đã “đắm mình trong vầng hào quang hư ảo của chủ nghĩa cá nhân”; họ đã “đắm mình trong nỗi bất hạnh và không nhìn ra con đường sáng”. Hai là, lãnh đạo đảng muốn thấy sự thể hiện nồng cháy của lòng biết ơn và tình yêu đối với đảng. Đối với Xuân Diệu, đó là “nghĩa sâu như bể, tình dài như sông”, một tình yêu “vàng đá”.[23]

 

Cũng như đợt tháng Bảy, dường như những đòn tấn công vào báo Văn vào tháng Mười một cũng là hậu quả của những biến đổi thời sự trong khối xã hội chủ nghĩa. Lần này, sự kiện gây nhiều ảnh hưởng trong khối là Hội nghị Quốc tế Mười hai Đảng Cộng sản và Công nhân họp tại Moscow, thường được coi là mốc kết thúc chính thức của phong trào giải hoặc Stalin. Nội dung tuyên bố chung trong lễ bế mạc (có sự tham dự của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành và các nguyên thủ khác trong khối xã hội chủ nghĩa) được đăng trên báo Nhân Dân số ngày 23 tháng Mười một năm 1957, trong đó khái niệm “chủ nghĩa xét lại” được chính thức đưa ra. Đối với các nhà trí thức cách mạng, đa số xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản, đó là điềm báo trước một thời sóng gió sắp đến: “Ảnh hưởng của giai cấp tư sản và thành phần trí thức của giai cấp đó vẫn còn rõ nét. Vì vậy, giải quyết vấn đề ‘ai thắng ai’ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội còn cần thêm thời gian. Sự tồn tại dai dẳng của ảnh hưởng của tư sản là nguyên nhân bên trong của chủ nghĩa xét lại, biểu hiện bên ngoài của nó là sự đầu hàng chủ nghĩa đế quốc.”

Theo bài báo, “chủ nghĩa xét lại” được xác định có một phần hoặc tất cả những yếu tố sau: “Họ chống lại tính tất yếu lịch sử của cách mạng vô sản và của nền chuyên chính vô sản thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Mác-xít  Lê-ni-nít, phủ nhận những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đòi từ bỏ những nguyên tắc căn bản của Lê-nin về xây dựng Đảng và trước hết là từ bỏ nguyên tắc dân chủ tập trung, đòi biến Đảng cộng sản từ một tổ chức chiến đấu cách mạng thành một cái gì giống như kiểu câu lạc bộ bàn cãi”.[24]

 

Ngay hôm sau, 24 tháng Mười một năm 1957, Nhân Dân mở màn trận công kích Văn bằng bài báo của Trúc Chi phê bình bài thơ “Lời mẹ dặn” của nhà thơ Phùng Quán.[25] Tiếp theo là một bài báo dài đăng trên năm số liền, dưới tiêu đề “Nhận rõ bản chất của báo chí tư sản và báo chí vô sản”.[26] Hòa nhịp với phong trào chống “xét lại” chung trong cả khối xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam có vẻ nhận thấy đây là cơ hội có thể ra tay ép những trí thức bướng bỉnh vào khuôn khổ quyết liệt một lần cho xong. Không giống như đợt mở màn đầu hồi tháng Bảy, khi trận công kích chỉ giới hạn chủ yếu trên các trang báo Học Tập, lần này lãnh đạo đảng huy động hỏa lực của tất cả các phương tiện thông tin đại chúng sẵn có. Chẳng bao lâu sau, những người ủng hộ báo Văn sẽ nhận ra rằng, báo Nhân Dân, với số lượng phát hành hàng ngày khổng lồ, là cỗ máy trừng phạt hữu hiệu và đáng sợ hơn rất nhiều so với nguyệt san nặng về lý luận, tạp chí Học Tập.

 

Đến tận giữa tháng Chạp, khi các trọng pháo đang được tập kết vào vị trí để chuẩn bị đánh cho tờ báo Văn ngỗ ngược một trận quyết định, và sau khi Xuân Diệu đã nhiệt tình chứng minh sự chuyển hóa cách mạng của mình (đương nhiên không thể thiếu được những lời tự phê phán dòng thơ lãng mạn của mình) ông vẫn đăng một bài thơ tình, bài “Hỏi” trên tờ báo này của Hội Nhà văn lúc đó đang là mục tiêu bị đánh:

 

Hỏi

Một năm, thêm mấy tháng rồi,

Thu đi, đông lại, bồi hồi sắp xuân.

Gặp em, em gặp mấy lần,

Tưởng quen mà lạ, tưởng gần mà xa.

Ai làm cách trở đôi ta,

Vì anh vụng ngượng, hay là vì em?

Trăng còn đợi gió chưa lên,

Hay là trăng đã tròn trên mái rồi?

Hằng ngày em nói bao lời,

Với cha, với mẹ, với người chung quanh,

Với đường phố, với cây xanh

Sao em chưa nói với anh một lời.

Tương tư ăn phải miếng mồi,

Đứng đi trên lửa, nằm ngồi trong sương.

Phải duyên, phải lửa thì thương,

Để chi đêm thẳm ngày trường, hỡi em! [27]

 

Dù bài “Gió” trước đó từng bị phê là có vấn đề, ít ra tác giả cũng mượn đề tài thiên nhiên sở trường của mình để bày tỏ một tình cảm chung, một tinh thần hồ hởi về tương lai. Trái lại, bài thơ đầy chất riêng tư “Gió” không hề thể hiện một cố gắng nào, dù là bề ngoài, của Xuân Diệu nhằm đáp ứng các yêu cầu về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của chế độ. Cách Xuân Diệu tả mối tình đơn phương trong bài thơ là một bằng chứng nữa cho thấy ông không hề xác định giai cấp của nhân vật, có thể coi như một sự phụ họa cho lập luận của Tế Hanh rằng có những tình cảm chung cơ bản của con người – ví dụ như tình yêu – thì ở giai cấp nào cũng giống nhau. Như vậy, bài thơ “Hỏi” lại không đáp ứng được yêu cầu về tính cụ thể lịch sử, không xác định rõ ràng không gian hay thời gian. Cũng như ở bài “Gió”, gần như tất cả các hình ảnh trong bài thơ này đều thuộc về thiên nhiên (gió, trăng, trời, lửa, ngày, đêm, cây). Không chỉ thiếu tính cụ thể về không, thời gian và giai cấp, “Hỏi” còn thiếu tính cụ thể về một vấn đề quan trọng nữa – giới tính. Không giống như đa số thơ tình Việt Nam, bài thơ này của Xuân Diệu không thể hiện những chi tiết lý tính để có thể xác định chắc chắn giới tính của nhân vật “em”, mà người đàn ông dẫn chuyện ở ngôi thứ nhất đang tương tư. Dù bài thơ không có một chi tiết nào gợi cho độc giả suy diễn về một mối tình đồng tính, cũng không hề có một chi tiết nào loại trừ khả năng nói trên. Tuy nhiên, một điều lạ là nếu xét theo tiêu chuẩn một tác phẩm văn học cách mạng, “Hỏi” hiển nhiên quá bất cập, nhưng bài thơ vẫn không bị giới chức văn hóa của đảng để ý trong khi họ đang săm soi báo Văn.

 

Nếu vào cuối năm 1957, các cộng tác viên của báo Văn vẫn có thể còn thắc mắc không biết sự thể sẽ đi về đâu, chắc chắn mọi nỗi phấp phỏng của họ sẽ “được” giải tỏa khi Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghi quyết 30 “Về chấn chỉnh công tác văn nghệ” vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1958. Nghị quyết kêu gọi hình thành một phong trào đấu tranh để “…quét sạch tư tưởng Nhân văn là biểu hiện của tư tưởng thù địch về mặt chính trị, đồng thời cũng là biểu hiện nghiêm trọng của quan điểm văn nghệ tư sản”. Một phần khác của nghị quyết phân định rõ trắng đen cho các hội viên Hội Nhà văn và tờ báo tuần của Hội, tờ Văn. “Riêng ở Hội Nhà văn, những cơ quan xung yếu (tuần báo Văn, ban biên tập, nhà xuất bản, câu lạc bộ, ban nghiên cứu sáng tác, ban văn học nước ngoài) mặc dù về hình thức do các đồng chí của ta lãnh đạo, song về thực tế đã bị một số phần tử xấu hoặc lạc hậu lũng đoạn”.[28] Nghị quyết 30 đã thúc đẩy báo Nhân Dân ra thêm nhiều đòn đánh nhằm vào báo Văn.[29] Hai tuần sau đó, lãnh đạo đảng ra lệnh đóng cửa tờ báo mới tròn chín tháng tuổi.

 

Như một tiếng nói yếu ớt cuối cùng của xã hội dân sự nhỏ bé còn tồn tại ở Hà Nội lúc bấy giờ, trong tư thế đã quy hàng, Xuân Diệu đăng một bài báo trên số tháng Giêng năm 1958 của Tạp Chí Văn nghệ. Dưới tiêu đề “Cái mới của văn học chúng ta”, bài báo đề cập đến câu hỏi tại sao đến giờ ở Việt Nam chưa có tác phẩm văn học cách mạng lớn, dù đã có rất nhiều nhà văn tài năng tham gia cách mạng từ năm 1945.[30] Theo Xuân Diệu, lý do là vì “các nhà văn trong thời đại chúng ta chưa trưởng thành, nên tác phẩm của họ cũng chưa chín”. Ông giải thích rằng các nhà văn cũ chưa chín vì họ chưa hoàn toàn chuyển hóa bản thân thành nhà văn mới. Nói cách khác, họ có vấn đề về quan điểm chính trị. Đối với những nhà văn trẻ mới bắt đầu sáng tác trong cách mạng (và vì thế, quan điểm chính trị của họ tương đối miễn nhiễm với tư tưởng tư sản và phong kiến), Xuân Diệu cho rằng chất lượng văn học của họ không cao là vì họ vẫn đang học cách viết. Đó là điều rất khó, nhất là đối với những nhà văn xuất thân từ các giai cấp xã hội trước đó chưa từng phải viết bao giờ. Xuân Diệu bổ sung tiếp: “Nhà văn ta có thể đặt vấn đề có tệ quan liêu, chứ không thể đặt vấn đề chính quyền dân chủ nhân dân có phải là một bộ máy quan liêu, có thể hỏi là: ‘Đảng làm thế nào lãnh đạo văn nghệ cho tốt?’ chứ không thể hỏi là: ‘Đảng có thể lãnh đạo văn nghệ được không?’ Nghĩa là nhà văn có thể đặt những vấn đề ra để cho nhân dân càng tăng cường cảnh giác, càng tự nghiêm khắc với những tệ lậu còn lại, càng thấy làm cách mạng không phải là đi ngao du, v.v… chứ không phải là buông thõng ra rất nhiều câu hỏi đặt rất sai để gieo rắc hoang mang vào quần chúng!”[31]

(còn tiếp)

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

[1] Ngoại lệ duy nhất có lẽ là, theo thông tin chúng tôi đọc được từ bản thảo của cuốn sách sắp xuất bản do Peter Zinoman viết về nhà văn quá cố Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng có đóng góp bài vào số tưởng niệm nhà văn do NXB tư nhân Minh Đức phát hành. Tất cả những tác giả khác viết bài cho số kỷ niệm Vũ Trọng Phụng này đều là thành viên chủ chốt của Nhân văn – Giai phẩm.

[2] “Tinh vi” là từ Nguyễn Chương dùng để tả cách một số cộng tác viên báo Văn lồng ghép các giá trị “tiểu tư sản” vào trong tờ báo. Xem đánh giá của ông ta về báo Văn trong bài “Nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa chúng ta”, Học Tập, số 8, tháng 8/1957, 77.

[3] Để biết ý kiến chính thức của Đảng Lao động Việt Nam về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa được đưa ra trước đó một cách sơ lược, xem báo cáo đọc tại Đại hội Văn hóa Toàn quốc tháng 7/1948 của Trường Chinh.  Bản báo cáo có tiêu đề Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam đã được in thành sách ít nhất ba lần. Trong đó, Trường Chinh giải thích rằng “tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa phải phản ánh các thực tế khách quan của xã hội. Nhưng trong các thực tế khách quan đó, phải nêu bật được “cá tính điển hình trong các hoàn cảnh điển hình” (Engels). Hơn nữa, nó phải làm cho người đọc thấy được nguyên nhân đằng sau sự phát triển tự nhiên của xã hội, xu hướng tiến hóa tự nhiên của sự vật”. Xem Trường Chinh, Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam (Hà Nội: Dân Tộc [tháng Tám] 1949), 37. Một bài báo nữa bàn về chính sách văn học của chế độ là của Phan Nhân, “Bản chất hiện thực của văn nghệ và mấy vấn đề sáng tác của văn nghệ”, Nhân Dân, số 1079 & 1080, 19 và 20/2/1957.

[4] Hồng Chương, “Mấy ý kiến về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, Học Tập, số 6, tháng 6/1957, 35.

[5] Sđd., số 7, tháng 7/1957, 34. Theo nội dung bài báo, hai yêu cầu cuối là nền tảng cơ bản của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Độc giả nào muốn tìm hiểu tận trung tâm vấn đề, xem Hồng Chương phân định rõ những phần nào của hiện thực phải được miêu tả, và miêu tả như thế nào trong hai trang 39 và 40 của bài.

[6] Sđd., 35.

[7] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký, tập 3, 282.

[8] Xem “Tiếng nói chính nghĩa: Nhân dân Trung Quốc chống những phần tử phái hữu”, Nhân Dân, số 2010, 1/7/1957; “Các đảng phái dân chủ Trung Quốc kiên quyết đi theo chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc”, Nhân Dân, số 212. 3/7/1957. “Hội nghị toàn quốc Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Hung-ga-ri nêu rõ nhiệm vụ: Củng cố chế độ dân chủ nhân dân, kiên trì đấu tranh chống bọn phản cách mạng”, Nhân Dân, số 1213, 4/7/1956; “Đoàn kết, thống nhất là sinh mạng của Đảng”, Nhân Dân, số 1214, 5/7/1957.

[9] Theo Thế Toàn,các tác phẩm có vấn đề được đăng trên báo Văn là “Phở” của Nguyễn Tuân (số 1&2, 5 và 17/5/1957); “Bích xu ra” của Thụy An (số 2, 17/5/1957); “Gió” của Xuân Diệu (số 3, 24/5/1957); “Nhật ký người mẹ” của Lê Minh (số 4, 31/5/1957); “Yêu nhau” của Lê Đạt (số 6, 14/6/1957); “Xiếc khỉ” của Quang Dũng (số 7, 21/6/1957); và “Bóng tối” của Nguyễn Châu Viên (số 8, 28/6/1957).

[10] Thế Toàn, “Tuần báo Văn và con người thời đại”, Học Tập, số 7, tháng 7/1957, 53-58.

[11] Muốn biết lời bàn thú vị về hiện tượng này, xem Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 87-89.

[12] Xem Nguyên Hồng, “Tuần báo Văn và một số bài của báo cần được nhận định như thế nào?”,Văn, số 15, 16/8/1957; Nguyễn Văn Bổng, “Nhận lại phương hướng qua việc phê bình tuần báoVăn”, Văn, số 20, 20/9/1957; Lê Minh, “Xây dựng con người thời đại”, Văn, số 21, 27/9/1957; Tô Hoài, “Góp thêm vài ý kiến về con người thời đại”, Văn, số 22, 4/10/1957; Nguyễn Tuân, “Phê bình nhất định là khó”, Văn, số 23, 11/10/1957; Tế Hanh, “Cùng đặt một số vấn đề xung quanh việc phê bình tuần báo Văn”, Văn, số 26, 1/11/1957.

[13] Hồng Chương và Trịnh Xuân An, “Phải hiểu thấu suốt đường lối văn nghệ của Đảng”, Học Tập, số 8, tháng 8/1957, 81.

[14] Nguyễn Tuân, “Phê bình nhất định là khó”.

[15] Tế Hanh, “Cùng đặt một số vấn đề”.

[16] Xem, ví dụ như bài của Huy Phương, “Chúng ta sẽ viết những gì?”, Văn, số 19, 13/9/1957. Theo Huy Phương, gần 70 phần trăm các chủ đề được viết liên quan đến cuộc kháng chiến. Ông viết, “Chỉ một số ít phần trăm các tác phẩm văn học ngày nay viết về các chủ đề liên quan tới cuộc sống mới hay cuộc sống thường nhật sau khi hết tiếng súng”.

[17] Tế Hanh, “Cùng đặt một số vấn đề”.

[18] Xuân Diệu, “Chuyên chính”, Văn, số 26, 1/11/1957.

[19] Trần Dần, Ghi: 1954-1960, (Westminster, CA: Literature and Arts Publishing House, 2001), 209.

[20] Xuân Diệu, “Thế nào là cái mới”, Tạp Chí Văn nghệ, số 6, tháng 11/1957; Văn Cao, “Một vài ý nghĩ về thơ”, Tạp Chí Văn nghệ, số 3, tháng 8/1957.

[21] Xuân Diệu, “Những bước đường tư tưởng của tôi”, Tạp Chí Văn nghệ, số 6, tháng 11/1957.

[22] Xem số “chỉnh huấn” của Văn nghệ, số 41, tháng 7/1953.

[23] Xuân Diệu, “Những bước đường tư tưởng của tôi”.

[24] “Bản tuyên bố của hội nghị các đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp tại Mát-scơ-va từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 11 năm 1957”, Nhân Dân, số 1354, 23/11/1957.

[25] Trúc Chi “‘Lời mẹ dặn’ thật hay không?”, Nhân Dân, số 1355, 24/11/1957.

[26] Canh Sinh, “Nhận rõ bản chất báo chí tư sản và báo chí vô sản”, Nhân Dân, số 1395-1399, 31/12/1957-4/1/1958. Bài báo thực chất là bản dịch bản tuyên bố chung của đại diện báo chí các nước trong khối xã hội chủ nghĩa họp tại Berlin ngày 6-7/12/1957. Một bài phê bình nữa là của Phượng Kim “Về một bức tranh đả kích”, Nhân Dân, số 1369, 8/12/1957.

[27] Xuân Diệu “Hỏi”, Văn, số 32, 13/12/1957.

[28] Nguyễn Duy Trinh, “Nghị quyết của bộ chính trị về việc cần chấn chỉnh công tác văn nghệ, 6/1/1958”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 19:1-10.

[29] Đặng Phò, “‘Đống Máy’, một truyện ngắn có nhiều lệch lạc”, Nhân Dân, số 1404, 12/1/1958.

[30] Xuân Diệu, “Cái mới của văn học chúng ta”, Tạp Chí Văn nghệ, số 8, tháng 1/1958.

[31] Sđd.

 

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE. Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần 4)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

Xâu chuỗi lại những nhận xét về Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm

Những tài liệu về báo chí thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm cho phép chúng ta tổng kết lại những nét chính của dư luận đa chiều xung quanh quá trình phục vụ cách mạng của Xuân Diệu. Trước hết, có vẻ nhà thơ đã lợi dụng uy tín cá nhân của mình và khai thác những mối quan hệ có quyền lực trong đảng để gây sức ép với NXB Văn nghệ vốn đang lưỡng lự, phải sớm in tập thơ Ngôi Sao. Thứ nhì, đại đa số đội ngũ trí thức văn nghệ cho rằng chất lượng của tập thơ kém, khiến quyết định trao giải nhì càng có vẻ bất công hơn. Ba là, Xuân Diệu đã tham gia ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955 mà vẫn nộp tác phẩm dự giải, tạo cho mình lợi thế có thể bỏ phiếu, hoặc ít nhất là vận động sự ủng hộ, cho tác phẩm của chính mình.[1] Bốn là, trong ban giám khảo, Huy Cận, bạn đời của Xuân Diệu, là người vận động tích cực nhất cho tập thơ Ngôi Sao. Năm là, khi Phan Khôi nhận xét thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn, một thành viên không rõ tên của ban giám khảo đã gần như gợi ý rằng cần phải trao giải cho thơ cách mạng Xuân Diệu để đảng khỏi mất uy tín. Sáu là, sau khi Huy Cận đinh ninh rằng Ngôi Sao sẽ được giải, Xuân Diệu đã tự giúp mình thêm bằng cách yêu cầu tất cả các tác phẩm được giải (trong đó, đương nhiên có Ngôi Sao) phải được quảng bá rộng rãi trên báo chí của đảng (sử dụng ngân sách công) để khuyến khích quần chúng mua tác phẩm (và tiền sẽ vào túi Xuân Diệu). Điểm cuối cùng là, cả Trần Công và Nguyễn Bính đều công khai khẳng định rằng Xuân Diệu và Huy Cận là một đôi, đầy quyền lực trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ.

 

Việc Xuân Diệu nghĩ như thế nào về những ý kiến tranh luận rất nóng liên quan đến sự nghiệp cách mạng của mình vẫn còn là điều bí ẩn, vì ông không viết một bài nào phản ứng lại những vấn đề do những người phê bình ông đưa ra. Một manh mối cho thấy trạng thái tâm lý của Xuân Diệu là ông không đăng bất cứ một bài vở gì trong suốt năm tháng liền, từ ngày 17 tháng Năm năm 1956 – ông có bài nhận xét về cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cho đến ngày mồng 9 tháng Mười một năm 1956, bài “Về con người cũ và con người mới”.[2] Bài viết sau là bản dịch các ghi chép của Maksim Gorky về sự chuyển hóa cách mạng. Trong thời gian đó, các rạp ở Hà Nội đang chiếu bộ phim Liên Xô dựa theo tác phẩm nổi tiếng của Gorky “Người mẹ”.[3] Bản dịch các ghi chép của Gorky là một bước đi hết sức thận trọng của Xuân Diệu nhằm tiếp cận lại diễn đàn trí thức sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng.[4]

Những sự kiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm làm xáo trộn đời sống chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Phản ứng của chính quyền với phong trào được bắt đầu bằng bài viết “Mấy điểm  sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai Phẩm Mùa Thu” của Nguyễn Chương, một nhân vật bảo thủ, đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, số ra ngày 25 tháng Chín năm 1956.[5] Bốn nhân vật bảo thủ khác trong đảng, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, Hồng Chương và Quang Đạm, tất cả đều gắn với hai ấn phẩm nhiều quyền lực nhất của chế độ đương thời, báoNhân Dân và tạp chí lý luận Học Tập, tiếp sức liền.[6] Ngoài bài viết của những vị nêu trên, báo Nhân Dân còn đăng khoảng ba mươi bài khác, trong thời gian từ tháng Mười năm 1956 đến tháng Giêng năm 1957, phản hồi về những vấn đề cốt lõi được nêu trong các ấn phẩm của Nhân văn-Giai phẩm, như tự do dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân văn, và quan hệ giữa chính trị và văn hóa.

 

Là tờ báo chuyên ngành văn hóa của chính quyền, Văn Nghệ – lúc đó Xuân Diệu vẫn có tên trong ban biên tập, chỉ đăng có sáu bài phê phán phong trào Nhân văn-Giai phẩm trong mười hai số xuất bản trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, tức là trung bình hai số mới có một bài.[7] Có lẽ điều quan trọng hơn là, chỉ trừ bài cuối cùng do một quan chức văn nghệ gốc Nghệ An tên là Hoàng Trung Thông (bút danh Hồng Vân) viết, tác giả của tất cả các bài còn lại đều là những nhân vật tương đối ít tên tuổi trong đội ngũ trí thức văn nghệ. Đó thực là một phản ứng yếu ớt, nếu so sánh với những đòn tấn công mãnh liệt hồi tháng Ba và tháng Tư tờ báo này đã dành cho tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 – một ấn phẩm vô hại hơn nhiều so với những ấn phẩm sau này của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Hồi đó, ba nhà trí thức quyền lực nhất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Hoài Thanh, Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi cùng tiên phong chỉ đạo đợt tấn công.

Trong con mắt của các lãnh đạo đảng cao cấp, giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tờ báo Văn Nghệ lúc bấy giờ hẳn là một đám hỗn loạn. Một vấn đề nhức nhối là ba thành viên quan trọng trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm: Văn Cao, Sĩ Ngọc và Chu Ngọc đều có chân trong ban biên tập chín người của báo Văn Nghệ. Điều này đồng nghĩa với việc không thể sử dụng tờ báo này làm vũ khí hữu hiệu để tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trên thực tế, nhiều thành viên quan trọng của phong trào cải cách này còn đăng bài trên báo Văn Nghệ trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Hình như họ không gặp trở ngại nào với cả hai mảng báo chí nhà nước (Văn Nghệ) và tư nhân (Nhân vănGiai phẩm), và tự do qua lại cả hai bên.[8]

 

Có ba yếu tố giúp giải thích vì sao báo Văn Nghệ giữ thái độ khá trung lập và không thấy nhiều sự phụ họa của giới trí thức trong chiến dịch tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trước hết, đa số thành viên trong đội ngũ trí thức có vẻ ngầm đồng tình với nhiều đề xuất nhân văn được thể hiện trong các ấn phẩm của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Hai là, dưới góc độ kinh tế đơn thuần, tình trạng lạm phát, thiếu lương thực, và không có chính sách lương chuẩn hóa, ổn định cho các trí thức ở Hà Nội lúc bấy giờ đồng nghĩa với tình trạng các nhà văn phải chật vật mới đủ ăn. Môi trường tự do báo chí sẽ là mang lại nhiều cơ hội kiếm tiền nhuận bút, điều mà các trí thức trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất khát khao. Và ba là, lãnh đạo đảng ban đầu đã chủ trương xoa dịu các trí thức bất mãn bằng cách để cho họ xả những nỗi tức giận lên đầu những người lãnh đạo chuyên môn trực tiếp. Những quan chức văn hóa này (như Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, thậm chí ngay cả Tố Hữu) đã bị đồng nghiệp trí thức hạ uy tín và tạm thời bị chính quyền thả nổi. Đến lúc thấy nhất định phải loại bỏ Nhân văn-Giai phẩm, lãnh đạo đảng buộc phải trông cậy vào các nhà lý luận Mác-Lê của hai tờ Nhân Dân và Học Tập chứ không phải các quan chức văn hóa, những người đã phải trả giá đắt vì đã đánh tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào đầu năm. Tình thế đó giúp giải thích vì sao Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi và các lãnh đạo văn hóa khác phải ngồi im lặng ngoài đường biên gần như suốt thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, không hề tham gia viết bài đánh phong trào này ngay trong chiến dịch.

 

Khoảng giữa tháng Chạp năm 1956, lãnh đạo đảng bắt đầu ra lệnh đóng cửa các ấn phẩm Nhân văn, Giai phẩm, đầu tiên với tờ báo Nhân Văn. Một bài báo của nhà lý luận cứng rắn Xuân Trường đăng trên Nhân Dân số ra ngày 10 tháng Chạp năm 1956 đã tổng kết quan điểm của chính quyền về tờ báo nói trên: Nhân Văn tuyên bố là đi theo sự lãnh đạo của đảng, nhưng trên thực tế thì không. Tờ báo nói xấu chế độ bằng cách công khai kết tội lãnh đạo đảng tìm cách phá hoại tờ báo, nó “gieo mầm nghi ngờ trong quần chúng về bản chất tự do dân chủ của chế độ ta”; và các bài báo “xuyên tạc, nói xấu, bịa đặt”. Về những suy tư của Nhân Văn đối với Ba Lan và Hungary, Xuân Trường viết:

 

“[Nguyễn Hữu Đang] lại đặt vấn đề ‘nguyên nhân sâu xa của những biến cố ở Ba-lan và Hung-ga-ri là vì thiếu dân chủ, tại sao lại hiểu ra là vì thiếu chuyên chính?’ Chế độ ta là chuyên chính dân chủ nhân dân, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, của Tổ quốc, của chế độ. Dân chủ và chuyên chính là hai mặt của một vấn đề. …Những biến cố vừa rồi ở Ba-lan và Hung-ga-ri có nguyên nhân khách quan và chủ quan của nó. Kẻ chủ mưu những vụ phiến loạn ở Hung-ga-ri là bọn phản cách mạng gồm những phần tử phong kiến tư sản phản động tay sai của đế quốc. Chúng lợi dụng sự bất mãn của quần chúng mà làm điều phi pháp. Cách hiểu và đặt vấn đề của bạn Nguyễn Hữu Đang về thực tế đã gieo một tâm lý hoài nghi cho một số người chưa thật hiểu ở đường lối và chính sách của Đảng và Chính phủ.”[9]

Đến tháng Chạp, Trung ương đảng tổ chức gặp gỡ các trí thức và phê bình nghiêm khắc những người đã tham gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Dù những nhà cải cách này vẫn tiếp tục được làm việc cho chế độ, nhưng cuộc sống của tất cả các thành viên từng tham gia phong trào vẫn không thể trở lại bình thường. Bị công an theo dõi là chuyện thường ngày, và đương nhiên khiến cho những người khác trong giới trí thức (bất kể ý kiến riêng của họ về Nhân văn-Giai phẩm như thế nào) ngại bị người khác phát hiện có tiếp xúc với các thành phần Nhân văn-Giai phẩm.[10] Tuy nhiên, bịt miệng phong trào Nhân văn-Giai phẩm đã là một việc làm đau đầu các lãnh đạo đảng, nhưng việc khó hơn (và đòi hỏi những biện pháp mạnh hơn) là phải phá vỡ sự thống nhất của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với xu hướng coi tranh luận thả cửa và sự tồn tại của nhiều luồng ý kiến không đồng thuận là chuyện thường ngày trong giới. Xu hướng dung hòa các quan điểm bất đồng này buộc Đảng Lao động Việt Nam phải siết chặt sự kiểm soát đối với các hoạt động sáng tác. Lãnh đạo đảng cần các trí thức kiểm soát lẫn nhau, chứ không phải dung hòa với nhau.

 

 

Giữa Nhân văn-Giai phẩm và Văn: Hai bài phát biểu của Xuân Diệu về Văn học Cách mạng

Sang đến năm 1957, tình hình của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tương đối ổn định so với những năm đầy xáo trộn trước đó, từ cải cách ruộng đất, hóa giải ảnh hưởng Stalin, phong trào Trăm Hoa, những biến động chính trị trong khối xã hội chủ nghĩa (Ba Lan và Hungary) và Nhân văn-Giai phẩm. Tuy nhiên, một văn kiện chính thức của đảng năm 1957 cho người đọc một cảm tưởng rằng chế độ vẫn vững vàng trên đôi chân của mình, dù phải liên tiếp đối mặt với hết sự cố này đến rắc rối khác, cố gắng kiểm soát một xã hội đang rời rạc và thiếu hiệu quả. Vụ đàn áp Nhân văn-Giai phẩm vào tháng Chạp năm 1956 đánh dấu bước đi đầu tiên trong kế hoạch đảo ngược lại chính sách hóa giải ảnh hưởng của Stalin, sẽ được thực hiện trong suốt năm 1957. Đối với vấn đề cải cách ruộng đất – một chiến dịch gây tác động sâu rộng đến đông đảo dân chúng nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo đảng tỏ ra ngày càng hờ hững với việc “sửa sai” – dù trước đó đã hứa sẽ thực hiện triệt để, trong lúc cao điểm của phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin vào tháng Mười năm 1956. Những bước sửa sai gồm có: phục hồi công tác cho các đảng viên bị đấu tố, bồi thường thích đáng về vật chất cho nông dân lao động có tài sản bị tịch thu, giảm thuế nông nghiệp – vì trong chiến dịch đã bị nâng mức đồng loạt.[11] Về mặt tư tưởng, chính quyền chưa bao giờ thấy dễ chịu với chính sách hóa giải ảnh hưởng Stalin.[12] Về kinh tế, bất kể xu hướng chính sách của lãnh đạo đảng có như thế nào chăng nữa, tình hình kinh tế ngày càng xuống dốc của đất nước không cho phép thực thi chính sách bồi thường toàn diện cho các nạn nhân cải cách ruộng đất. Vào giữa năm 1957, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam nhận xét tình hình kinh tế như sau:

“Hội nghị (Bộ Chính trị tổ chức ngày mồng 6 tháng Tư năm 1957) nhận định từ đầu năm đến nay, tình hình thị trường ngày một gay go: vật giá tiếp tục lên mạnh, thất thu về thuế đang nặng nề, nạn đầu cơ tích trữ trầm trọng hơn, thị trường tự do đang mở rộng và đấu tranh mạnh chống lại sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của kinh tế quốc doanh.

Tình hình đó làm cho đời sống của nhân dân lao động nhất là những người sống bằng tiền lương bị sút kém, việc thực hiện kế hoạch Nhà nước 1957 bị khó khăn, và gây ảnh hưởng chính trị không tốt.”[13]

 

Để đối phó với tình hình đang xấu đi này, Bộ chính trị chỉ thị đảng phải huy động các nguồn lực và thực thi một số biện pháp, dù việc này chắc sẽ không gây được cảm tình của quần chúng.[14] (Trên thực tế, các biện pháp đó có nét giống với một số tội “bóc lột” mà đảng đã quy cho địa chủ trong hai thập kỷ qua). Những biện pháp đó gồm có “hăng hái đấu tranh chống” thất thu thuế nông nghiệp và công nghiệp, hạn chế số lượng tiền mặt lưu hành trên thị trường, hạn chế cho vay vốn nông nghiệp. Trong một nỗ lực nhằm giảm thiểu nhu cầu vật chất của nhân dân, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào hãy ghi nhớ những gian khổ hy sinh mà nhân dân Liên Xô đã chịu đựng trong suốt mười bốn năm cách mạng. Trình bày viễn kiến của mình về thời gian sắp tới trước một cử tọa gồm các “đại biểu nhân dân” ở Hải Phòng, lãnh tụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ôn nghèo kể khổ về quãng thời gian ông chứng kiến tại Liên Xô: “Đàn ông không cần  cổ cồn, cravát, đàn bà không cần lòe loẹt; ô tô chỉ cần chạy chuyên chở được, tất cả là cốt để xây dựng đã. Và mua cái gì cũng có vé hết, bất kỳ bánh, thịt, vải, giày. Vì tinh thần hy sinh chịu khó, chịu khổ, thắt lưng buộc bụng và cách tổ chức mua bán như thế là hết đầu cơ tích trữ”.[15]

 

Trong hoàn cảnh kinh tế căng thẳng này, vào tháng Hai năm 1957, ngay sau kỳ nghỉ Tết, Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai diễn ra trong tám ngày (từ ngày 20 đến ngày 27 tháng Hai) tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Trong ngày khai mạc, nhà lý luận văn hóa gạo cội của đảng, Trường Chinh đã đọc bức thư dài của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Hội nghị. Bức thư khẳng định “nền văn nghệ mới lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác tốt nhất.” nhưng vẫn đinh ninh “để phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật cách mạng, cần phát huy tự do sáng tác”.[16] Đại hội chứng kiến việc giải thể Hội Văn nghệ và thành lập một đoàn thể văn hóa mới, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Lãnh đạo đảng chỉ thị cho mỗi ngành văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thành lập một hội riêng trong khuôn khổ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Xuân Diệu ở trong số mười lăm nhà văn và một vài nghệ sĩ từ các ngành nghệ thuật khác được “bầu” vào ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Vậy là sau hàng loạt các bài viết phanh phui những thủ đoạn vận động hậu trường để nâng đỡ tập thơ Ngôi Sao xuất hiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, dường như lãnh đạo đảng thấy cần phải vun xới lại uy tín cho Xuân Diệu và các lãnh đạo văn hóa cánh hữu khác từng chịu búa rìu phê phán của những trí thức bất mãn trong giai đoạn cuối năm 1956.

 

 

Bài diễn thuyết thứ nhất: “Bệnh sơ lược trong văn học” (ngày 26 tháng Hai năm 1957)

Bài tham luận của Xuân Diệu về “bệnh sơ lược trong văn học” tại Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai đáng được lưu ý vì đây là lần đầu tiên ông đăng đàn phát biểu về những vấn đề văn học gây tranh cãi trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Theo ý kiến đa số, Xuân Diệu có tài phát biểu trước công chúng, là một người thích đứng trước micro và biết vận dụng thuật hùng biện, như làm điệu bộ, ngắt nhịp, lên xuống giọng để gây hiệu ứng kịch tính.[17] Thử tưởng tượng xem các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, những người từng cộng tác hoặc chủ trương những ấn phẩm vừa bị đóng cửa ba tháng trước sẽ nghĩ như thế nào về Xuân Diệu khi họ ngồi ở trong Nhà hát Lớn nghe ông diễn thuyết: “Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.[18]

 

Về nguyên nhân của căn bệnh sơ lược trong văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu vạch ra rằng “Nhưng có một số nhỏ người cho rằng bệnh sơ lược là do ở bản chất nền văn học mới của chúng ta, cũng như có người nói tệ sùng bái cá nhân là ở bản chất của chế độ Xô-viết. Gián tiếp họ muốn nói rằng: tại vì Đảng lãnh đạo nhúng tay vào văn học, nên văn học mới bị bệnh sơ lược, công thức như thế này; nếu cứ để Văn nghệ sĩ hoàn toàn tự do, thì Văn nghệ đã vô cùng phong phú”.

 

Thay vì tiếp tục phân tích giả thuyết trên xem đúng sai ra sao, Xuân Diệu giải thích:

 

“…bệnh sơ lược không ở bản chất nền văn học mới chúng ta… chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có… Số người quy bệnh sơ lược ở Đảng và chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản về đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”

 

Xuân Diệu cũng nói về cái mà mọi người thường gọi là văn hóa “rập khuôn” trong môi trường xã hội mới của cuộc cách mạng:

“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng? Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe xã hội chủ nghĩa, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi dân tộc, […]. Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”

 

Ngoài ra, Xuân Diệu còn biện minh cho bệnh sáo mòn rất phổ biến trong văn học và nghệ thuật cách mạng: “Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó hảo ý; chứ còn cái công thức của tư sản phản động, của văn hóa Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng.”

 

Về cách chữa trị khả dĩ cho căn bệnh sơ lược, Xuân Diệu cảnh báo về sự tồn tại song hành của cả hai cách chữa chân chính và giả tạo, và khuyên thính giả phải cảnh giác với loại giả tạo: “Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan […] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người Văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”[19]

 

Trái lại, cách chữa “chân chính” là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng” vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”. Xuân Diệu giảng tiếp “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cái tính lập dị nào… Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”[20]Ba tháng sau khi phong trào Nhân văn – Giai phẩm bị dập tắt, giọng văn bút chiến của Xuân Diệu đã phục hồi.

 

Bài thứ hai: “Viết sự thật” (tháng Tư năm 1957)

Chỉ một tháng sau, Xuân Diệu có bài diễn thuyết thứ hai tại hội nghị ra mắt Hội Nhà văn Việt Nam ngày mồng 1 tháng Tư năm 1957. Đối với các nhà văn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội nhà văn là tổ chức thay thế cho Ban Văn thuộc Hội Văn nghệ vừa mới giải thể để chuyển thành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Hội riêng này của giới văn học cũng có tổ chức hội viên riêng, tờ báo riêng, nhà xuất bản riêng và ngân sách riêng. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không có gì lạ khi Hội Nhà văn, cũng như các chi hội khác của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật được thành lập và cơ cấu như một công cụ chính trị của đảng và nhà nước. Hội được giao độc quyền kiểm soát lĩnh vực chuyên môn, một đội ngũ văn phòng được trả lương và được nhà nước tài trợ để phát triển hoạt động trong toàn quốc. Điều ba trong Điều lệ Hội Nhà văn quy định mục đích của Hội như sau: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật”.

 

Bài diễn văn Xuân Diệu đọc tại hội nghị Hội Nhà văn vào tháng Tư, “Một vài ý kiến về viết sự thật”, được đăng lại trên báo Nhân Dân số ra ngày 21 tháng Tư năm 1957. Trong trích đoạn dưới đây, ta có thể tìm thấy cách lập luận biện hộ cho việc kiểm duyệt mà đảng vẫn tiếp tục áp dụng ở Việt Nam cho đến tận hôm nay:

“Chúng ta nói những sự thật là có một mục đích, mục đích làm công tác tư tưởng bằng văn học, nên ta không phải là một người cầm cái máy ảnh tốt rồi bạ cái gì cũng chụp ảnh, cũng in ra. Chúng ta không hoàn toàn đi theo cái chủ nghĩa thành thật, vì chủ nghĩa đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những thơ văn nào chúng ta viết ra đều là huyết của ta, đều là thiết tha, thành thật, mà có thiết tha thành thật thì mới hay được. Nhưng không phải những tình cảm nào thiết tha thành thật đều nên đưa vào thơ văn.”[21]

Tại sao phải như vậy? Theo Xuân Diệu, nhà văn vừa là “kỹ sư tâm hồn” vừa là “bác sĩ tâm hồn”. Vì vậy, họ phải đấu tranh không để cho những nỗi khổ tâm riêng của mình ảnh hưởng đến người khác, đồng thời phải tạo cảm hứng và dìu dắt (mọi người) theo các mục tiêu của đảng và nhà nước:

“Nhà văn hiện nên phát hiện nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn đề ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được, thì ít nhất cũng bao hàm một hướng giải quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ nêu vấn đề rồi vứt giữa xã hội thì chỉ tổ gây hoang mang. Vào trong xã hội mà chỉ tin ở sự thành thật theo cảm tính của mình, thậm chí cố tình không mang theo những thứ mà mình cho là tầm thường, như lập trường, nhưđảng tính, v.v…, thì càng tưởng rằng viết theo sự thật lại càng sai lạc.”[22]

 

Trong đoạn này, Xuân Diệu thể hiện quan điểm về chức năng và tác dụng của văn học rập khuôn theo lý luận của lãnh đạo đảng đã đề ra trước đó. Trong phần sau của bài diễn văn, ông kết hợp lý luận này với những ý kiến phê bình gay gắt Nguyễn Tuân vì viết văn như “bác sĩ gọi ra bệnh của bệnh nhân” nhưng không “kê đơn bốc thuốc”. Xuân Diệu cũng lên án một số tác phẩm của Nhân văn-Giai phẩm mang đậm nét nhân văn của phong trào cùng tên, cụ thể như “Tiếng sáo tiền kiếp” của Trần Duy, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt và “Một trò chơi nguy hiểm” của Nguyễn Thành Long.[23]

(còn tiếp)

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

[1] Điều thú vị là, hiện tượng đó đã xảy ra với giải thưởng năm 1951-1952, khi Tú Mỡ, Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều tham gia tự trao giải cho mình. Xem “Kết quả giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1951-1952”, Văn nghệ, số 39, tháng 2/1953.

[2] Xem Xuân Diệu, “Đọc Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”,Văn nghệ, số 121, 17/5/1956. Maksim Gorky, “Nói về con người cũ và con người mới”, Xuân Diệu dịch và biên tập, Văn nghệ, số 146, 9/11/1956.

[3] Trong cùng số báo Văn nghệ đó, Trần Công, người đã phê phán Xuân Diệu, cũng viết một bài khen cuốn phim Liên Xô chuyển thể từ tiểu thuyết “Người mẹ” của Gorky.

[4] Về thời điểm Xuân Diệu chọn để đăng bài trở lại, ta không thể không ghi nhận sự ăn khớp giữa thời điểm tái xuất giang hồ của nhà thơ và văn bản cảnh cáo báoNhân Văn vì đã vi phạm quy định báo chí. Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ban hành văn bản cảnh cáo nói trên vào ngày 8/11/1956 – bài của Xuân Diệu được đăng ngày 9/11/1956. Qua các mối quan hệ cấp cao của mình, có thể Xuân Diệu đã biết trước lãnh đạo đảng chuẩn bị ra văn bản cảnh cáo, một dấu hiệu khá chắc chắn báo trước số phận của Nhân Văn chỉ còn tính từng ngày.

[5] Nguyễn Chương, “Một vài điểm sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai phẩm Mùa thu”, Nhân Dân, số 934, 25/9/1956.

[6] Trên báo Nhân Dân: Xuân Trường “Một thái độ phê bình không đúng, một quan niệm sai lầm về nghệ thuật”, số 935, 26/9/1956; xã luận “Dân chủ và chuyên chính”, số 979, 9/11/1956; Hoàng Xuân Nhị “Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta”, số 955, 16/10/1956; Quang Đạm, “Củng cố và phát triển chế độ dân chủ của chúng ta”, số 989, 19/11/1956. Trên tạp chí Học Tập: Hồng Chương, “Chính trị và văn nghệ”, số 10, tháng 10/1956; Hồng Chương, “Thử bàn về tự do sáng tác”, số 11 & 12, tháng 12/1956. Phương Sơn, “Cần tiếp tục đấu tranh chống những tư tưởng lạc hậu và tiêu cực trong văn nghệ”, số 2, tháng 2/2957.

[7] Chu Thiên, “Phê bình Giai phẩm Mùa thu” và Lê Quang, “Đọc Nhân Văn số 1”,Văn nghệ, số 141, 4/10/1956; Lê Văn Hải, “Đọc bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ’”, Văn nghệ, số 142, 11/10/1956; Lê Trung Thực, “Phê bình bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ’của ông Trương Tửu”, Văn nghệ, số 144, 25/10/1956; Hồng Văn “Xung quanh nhóm Pơ-rô-lê-cun và các Nghị quyết về Văn Học của đảng”, Văn nghệ, số 149, 30/11/1956.

[8] Trong số đó, có thể kể Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Trần Lê Văn, Hữu Loan, Trần Duy, Trương Tửu, Bùi Quang Đoài, Tử Phác, Trần Công, Huy Phương, Lê Đại Thanh, Nguyễn Viết Lãm, Hoàng Huế, Nguyễn Văn Tị, Nguyễn Bính, Thụy An, Nguyễn Sáng, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc và Văn Cao.

[9] Xuân Trường, “Chống vu khống và xuyên tạc”, Nhân Dân, số 1010, 10/12/1956.

[10] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký Tập 3. Xem những đoạn, ví dụ như, ngày 14/2/1957, bàn về nhạc sĩ Văn Cao bị ám ảnh luôn có người theo dõi. Trong một đoạn khác, ghi ngày 23/3/1957 (tr.233), Nguyễn Huy Tưởng kể hai họa sĩ Sỹ Ngọc và Nguyễn Sáng bị từ chối khi đi xin việc, vì có tham gia Nhân văn – Giai phẩm.

[11] Hồ Chí Minh, “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, Nhân Dân, số 896, 27/8/1956; “Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17: 562.

[12] So sánh, ví dụ như phong thái chậm chạp, lờ đờ và lưỡng lự khi chế độ triển khai phong trào hóa giải ảnh hưởng Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với tinh thần khẩn trương, quyết liệt và bạo tay khi thực hiện “chống chủ nghĩa xét lại” được tuyên bố vào cuối Hội nghị tháng 11/1957 ở Moscow. Chế độ cũng chưa từng cho phép một sự thảo luận công khai hướng đến bản chất tội ác của Stalin.

[13] “Nghị quyết của Bộ Chính trị: Số 17-NQ/TW, 4/6/1957 về việc đẩy mạnh công tác tiền tệ, tài chính và quản lý thị trường”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 18: 453.

[14] Trong bài viết ngày 3/2/1957 về tình hình chung ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu tuyên bố rằng “củi, vải, thức ăn và hạnh phúc đang dần nhiều thêm”. Xem “Mùa xuân thắng”, Nhân Dân, số 1062, 3/2/1957.

[15] Hồ Chí Minh, “Nói chuyện với đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng”, Hồ Chí Minh Toàn Tập số 8, 1955-1957 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2009), 372.

[16] “Thư của ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai”, Nhân Dân, số 1081, 21/2/1957.

[17] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 199. Tô Hoài, người đi cùng Xuân Diệu nhiều lần trong các dịp nói chuyện, tả về phong cách diễn thuyết của nhà thơ như sau: “Xuân Diệu hay đi nói chuyện văn thơ. Xuân Diệu có kế hoạch chăm chút bảy, tám bài nói, nói khắp nước cũng chuyên tám cái tủ ấy. Đã trau dồi đến thuộc làu, chỗ nào giơ tay, chỗ nào nghiêng phải, nghiêng trái, lên giọng và nhất mạnh, chỗ nào đợi vỗ tay, đợi cười và mình mỉm cười”.

[18] Xuân Diệu “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”, Văn nghệ, số 162, 1/3/1957.

[19] Ngụ ý lối bắt chước cấu trúc thơ “xuống thang” theo phong cách nhà thơ Liên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky thường dùng.

[20] Xuân Diệu, “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”.

[21] Xuân Diệu, “Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật”, Nhân Dân, số 1140, 21/4/1957.

[22] Xuân Diệu, bài đã dẫn.

[23] Trần Duy, “Tiếng sáo tiền kiếp”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (tháng 8/1956):54-63; Lê Đạt, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, Nhân Văn, số 1, 20/8/1956, Nguyễn Thành Long, “Một trò chơi nguy hiểm”, in trong Xuân 1957 (Hà Nội, Văn nghệ, 1957).

 

 

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần 3)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Những lời lên án mạnh mẽ đến mức gây sốc về tội ác của Stalin do Khrushchev phát biểu khiến những phần tử bất mãn trong đội ngũ trí thức ở Việt Nam phấn khởi. Nhiều người còn đang giận dữ về cách xử lý của lãnh đạo văn hóa đối với các giải thưởng văn học giai đoạn 1954-1955, mới công bố kết quả trên báo Văn Nghệ số ra ngày 15 tháng Ba năm 1956. Gần như đúng tròn một năm sau vụ tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu lại rơi vào vị trí trung tâm của rắc rối. Vì chính quyết định trao giải nhì cho tập thơ cách mạng Ngôi Sao của ông đã làm dấy lên làn sóng phản ứng mạnh mẽ nhất, với sự xuất hiện của ba bài phê bình trên tờ báo văn học tư nhânTrăm Hoa.[1]

 

Khi mọi chuyện đã qua, bây giờ nhìn lại mới thấy ba bài này quả thực là phát súng mở màn cho một trận chiến về công tác cách mạng của Xuân Diệu. Vấn đề cốt yếu vẫn là chất lượng những bài thơ cách mạng của ông. Liệu Ngôi Sao, tập trung tất cả những sáng tác của nhà thơ trong mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng có so được với Thơ thơ và Gửi hương cho gió không? NếuNgôi Sao quả là ưu việt hơn, điều đó có nghĩa là chính sách văn hóa của đảng và sự chỉ đạo của các quan chức văn hóa là hợp lý. Nếu không, có thể đã đến lúc phải cân nhắc những thay đổi lớn về chính sách và nhân sự. Trong hoàn cảnh bình thường, ba bài phê bình trên Trăm Hoa và tiếp theo là việc tờ báo phải đóng cửa vì phá sản sẽ đặt dấu chấm hết cho vụ việc này, và các trí thức bất mãn sẽ hướng mối quan tâm của mình sang những thứ khác.

 

Nhưng lời kêu gọi của Khrushchev đã mang lại những thay đổi lớn lao cho bầu không khí trí thức ở Hà Nội. Đối với những người đang bất mãn, nhà lãnh đạo Liên Xô này đã tạo cho họ ấn tượng rằng, nếu kiên trì bày tỏ những nỗi bất bình và đấu tranh cho những yêu cầu của mình, có thể mang lại những thay đổi. Đối với lãnh đạo đảng, yêu cầu phải hòa nhịp với những biến động thời sự về tư tưởng ở Moscow có thể buộc họ thấy rằng cần phải áp dụng một thái độ dung hòa hơn đối với những yêu cầu của đội ngũ trí thức, nhất là khi họ đang trong tầm quan sát của các đại sứ quán của khối xã hội chủ nghĩa đặt tại Hà Nội.

 

Bên cạnh đó, với một động thái chắc là có chủ ý đánh lạc hướng sự quan tâm dư luận khỏi vầng hào quang sùng bái cá nhân đã và đang tồn tại quanh Hồ Chí Minh, lãnh đạo đảng thận trọng đưa ra thuật ngữ “sùng bái cá nhân” sao cho nghe có vẻ như một cấp độ hơi nặng hơn của các căn bệnh cũ như “cá nhân chủ nghĩa”, “quan liêu”, “cửa quyền”. Đây là những thuật ngữ lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam thường dùng trong suốt mấy thập kỷ trước để phê bình những đảng viên không làm tốt công tác được giao.[2] Trên thực tế, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ về các lỗi lầm và căn bệnh (chính ông gọi như vậy) thường mắc này cho đội ngũ đảng viên trong cuốn sách Sửa đổi lề lối làm việc ông viết năm 1948.[3] Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hẳn thấy nhẹ người khi biết rằng các trí thức bất mãn ban đầu chỉ dừng ở mức áp dụng thuật ngữ “sùng bái cá nhân” đối với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của mình trong lĩnh vực văn hóa. Chừng nào mà sự chỉ trích chỉ dừng lại trong giới hạn an toàn với những mối ưu tư nhỏ hẹp về công tác văn hóa, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tỏ ra sẵn lòng để cho đội ngũ trí thức cạo gáy các lãnh đạo chuyên môn của mình.

 

Tất cả những điều đó là dấu hiệu xấu báo trước một thời kỳ sóng gió sắp đến với Xuân Diệu, khi những lời bàn sôi nổi về quá trình tham gia cách mạng của ông lan sang tới các trang báo Văn Nghệ. Trên tờ báo này, quan chức văn hóa cao cấp Hoài Thanh, người đã tham gia ban giám khảo, buộc phải bảo vệ quyết định trao giải nhì cho Ngôi Sao với những lời khẳng định công khai về tác phẩm của Xuân Diệu:

 

“Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều. Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơ Xuân Diệu.”[4]

 

Tuy dành phần lớn bài viết để khen ngợi những phần đúng đường lối của Ngôi Sao, chính Hoài Thanh đã công nhận những nhược điểm của tập thơ này. Tuy vậy, ông ta quy nguyên nhân cho quá khứ tiểu tư sản của Xuân Diệu, chứ không phải vì những giá trị và sự dẫn dắt tác giả mới tiếp nhận trong mười năm phục vụ cách mạng.[5]

 

Dù được sự tiếp ứng nói trên, tình hình vẫn ngày càng xấu đi cho Xuân Diệu. Một tuần sau bài viết của Hoài Thanh, Văn Nghệ đăng một bài ngắn của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Nguyễn Bính, lớn tiếng phản đối sự thiên vị của ban giám khảo dành cho Ngôi Sao và phủ nhận những lời bào chữa của Hoài Thanh, cho rằng đó chỉ là nỗ lực xoa dịu dư luận một cách vụng về:

 

“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi Sao thực là nhiều và sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em văn nghệ, có những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau. Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập thơ Ngôi Sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng. Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng? Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một số nhỏ người.

[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài Thanh trong Văn Nghệ số 122. Một vài anh em không bằng lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi Sao trên báo Trăm Hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau?”[6]

 

Ngày 21 tháng Sáu năm 1956, Văn Nghệ đăng tiếp bài viết thứ ba về Ngôi Sao, của một nhà văn khác tên là Huy Phương.[7] Tác giả lập luận rằng, mặc dù thơ cách mạng của Xuân Diệu nói chung có biểu hiện một lòng thiết tha với dân tộc, nhân dân và cách mạng, nhưng tình cảm cao quý ấy chỉ hiện lên rất “yếu đuối” trong tập Ngôi Sao. Huy Phương viết, “Nhưng những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi sâu vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ thành công”. Tuy nhiên, Huy Phương viết tiếp, “nhưng những khi Xuân Diệu trở về với ‘hồn thơ’ của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.” Do vậy, tác giả kết luận trong bài, những vần thơ cách mạng hay nhất của Xuân Diệu là nhờ cảm hứng trong quá trình Xuân Diệu tham gia cải cách ruộng đất.[8]

 

Phần còn lại của bài viết là sự khai triển lập luận trên, khi tác giả cố chứng minh những điểm mạnh của thơ cách mạng Xuân Diệu là kết quả của quá trình học hỏi theo chỉ dẫn của đảng (nhất là những phần lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh thực sự của quần chúng lao động). Trái lại, tất cả những điểm yếu là kết quả của sự chệch hướng khi tác giả không theo sự dẫn dắt của đảng, để cái tôi cá nhân của quá khứ tư sản xen vào gây tác hại. Ngay cả những vần thơ tuyệt đẹp tả thiên nhiên đã góp phần mang lại sự nổi tiếng cho thơ lãng mạn Xuân Diệu (và Hoài Thanh đã gồng mình thuyết phục mọi người rằng trong Ngôi Sao vẫn có những vần thơ như vậy) cũng không làm Huy Phương hài lòng: “…Xuân Diệu nhìn quanh mình chỉ thấy những màu sắc lung linh, óng ả của núi sông, mây gió, cờ sao… Anh ngợp đi trong những lạc thú về thị giác và vị giác, cuộc đời biến diễn trước mắt, anh thấy như một bữa tiệc ngon của mắt và mồm.”

 

Một trong những nội dung thú vị nhất của bài viết là những lời bàn của Huy Phương về cách Xuân Diệu tả chiến tranh. Hiển nhiên đây là phần khó đổi lỗi cho quá khứ tư sản của nhà thơ nhất trong cả tập Ngôi Sao, vì đương nhiên những tập thơ lãng mạn nổi tiếng của Xuân Diệu Thơ Thơ và Gửi Hương Cho Gió không hề có chỗ cho bạo lực. Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân Diệu viết:

 

Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,

Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn.

 

 

Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy

Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương.

 

Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:

  Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng.[9]

 

Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin là Xuân Diệu đã mắc phải khi viết những dòng thơ đó. “Những câu như vậy, cái lối nhìn như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản”.[10] Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máu huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thể đến được với người đọc. Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ này cho là Ngôi Sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ.

 

 

 

Thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm: tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956

Suốt bốn tháng liền từ tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956, thời kỳ của phong trào Nhân văn – Giai phẩm, công tác kiểm soát báo chí của đảng trở nên dễ dãi hơn bao giờ hết trong suốt lịch sử của chế độ. Vì sao, mới ra lệnh tịch thu Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào tháng Hai, lãnh đạo đảng lại đột ngột chuyển hướng và cho phép tự do báo chí vào những tháng cuối năm 1956? Trước hết, vì nhu cầu viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc là rất cấp bách, khiến giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy buộc phải hòa nhịp với những diễn biến chính trị tư tưởng ở hai nước đồng minh này. Ở Moscow, đó là phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin, ở Bắc Kinh, đó là chính sách Trăm Hoa. Một yếu tố bên ngoài nữa là cuộc nổi dậy Poznan ở Ba Lan vào tháng Sáu. Một chỉ thị của ban bí thư đảng ban hành tháng Tám nhận định: “Bọn tay sai của Mỹ – Diệm còn lại ở miền Bắc có thể lợi dụng những sai lầm và khó khăn tạm thời của ta để phá hoại ta. Vụ lộn xộn xảy ra ở Pôdơnan (Poznan) thuộc Ba Lan gần đây là một bài học cảnh giác lớn cho ta”.[11] Một yếu tố quan trọng của hoàn cảnh trong nước có tác động đến quyết định nhân nhượng đột ngột của đảng là dư chấn còn nóng hổi của chiến dịch cải cách ruộng đất đầy bạo lực, mới kết thúc vào tháng Sáu năm 1956. Những người được tiếp cận bản báo cáo bí mật của Khrushchev không thể không nhận thấy sự tương đồng giữa những sự kiện tiêu cực được nêu trong văn bản đó với những cái gọi là “sai lầm” trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (giết người không cần xét xử, tra tấn để cưỡng bức nhận tội hoặc tố cáo người khác, cùng với hàng loạt biểu hiện bất chấp nhân quyền trong chiến dịch).

 

Một biểu hiện của cảm giác lo lắng của giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này có thể thấy qua Chỉ thị 45 của ban bí thư Đảng Lao động Việt Nam, ban hành ngày 23 tháng Tám năm 1956: “Về tăng cường vận động quần chúng để đề phòng bọn phản động gây ra tình trạng cưỡng bức di cư vào Nam hay kích động gây hấn hoặc phá hoại.” Lúc đó đã hơn một năm sau ngày biên giới Nam Bắc khép lại, lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn e ngại nguy cơ di dân hàng loạt. Một phần khác của chỉ thị, chủ yếu nói về các cộng đồng Công giáo, viết rằng “trong số người có tư tưởng muốn đi Nam thì phần lớn là nông dân lao động, nhiều người được chia quả thực trong cải cách ruộng đất[12], có nơi cả cốt cán và cán bộ xóm cũng muốn đi”.[13] Nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật ký ngày 21 tháng Tám năm 1956 về tình hình lúc bấy giờ như sau: “Nông dân sau cải cách ruộng đất, đánh nhau vì tranh tháo nước, để cứu úng thủy. Có hiện tượng Diệm nó phát động một phong trào di cư mới. Mà lần này có thể cả quần chúng cơ bản đi”.[14]

 

Giai đoạn đầu của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm có thể được đánh dấu bằng hội nghị do lãnh đạo Hội Văn nghệ triệu tập từ ngày mồng một đến ngày mười tám tháng Tám năm 1956. Hơn ba trăm trí thức đủ mọi thành phần đang làm việc ở Hà Nội đã tới dự hội nghị, nhiều người đã tận dụng ngọn gió “dân chủ” do Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đưa đến (đến lúc đó đã được thể hiện trong Nghị quyết 9 Đảng Lao động Việt Nam) để bày tỏ những bức xúc bị dồn nén lại trong một thời gian dài.[15] Trong thời gian diễn ra hội nghị, cả Văn Nghệ và Nhân Dân cùng đăng trích đoạn bài báo viết bằng tiếng Trung của Lục Định Nhất “Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Đua Tiếng”, mở đường cho luồng gió dân chủ thứ hai đến từ Bắc Kinh.[16] Như chúng ta đều biết, trong vòng ba tháng sau hội nghị học tập nói trên, những trí thức cách mạng bất mãn ở Hà Nội rủ nhau lần lượt xuất bản bốn ấn phẩm mới: báo Nhân Văn và ba tạp chí văn hóa Đất Mới, Sáng Tạo và Nói Thật, đồng thời tái bản hai tờ báo Giai Phẩm và Trăm Hoa.[17]

 

Những bài vở trong các ấn phẩm này đề cập đến hàng loạt vấn đề và không dừng lại ở lĩnh vực văn nghệ: tự do, dân chủ, tham nhũng, bạo lực cách mạng, hóa giải ảnh hưởng của Stalin, cải cách tư pháp, chủ nghĩa Mác, nhân quyền, giá trị truyền thống và nhiều chủ đề bức thiết khác. Chung quy, phần lớn các chủ đề trên, bằng cách này hay cách khác, đều quy về vấn đề cơ bản nhất: tự do. Trên thực tế, hai từ “tự do” và “dân chủ” xuất hiện ít nhất 360 lần trong ba mươi trang của năm số báo Nhân Văn. Các báo chí tư nhân thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm kêu gọi lãnh đạo đảng tiến hành cải tổ nhiều lĩnh vực, tuân thủ các tiêu chuẩn mà đảng áp dụng cho mọi người khác, và công nhận rằng việc lý tưởng hóa Liên Xô như một thiên đường xã hội chủ nghĩa không một tỳ vết là không còn hợp thời nữa. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, dù các thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm yêu cầu phải đánh giá lại hình ảnh của Liên Xô và của chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phù hợp thực tế hơn, điều này không hề dẫn tới yêu cầu tương tự về việc xem xét lại nhận định tiêu cực của chế độ miền Bắc đối với Cộng Hòa miền Nam Việt Nam hay đồng minh Hoa Kỳ.[18]

Trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, có bảy bài báo về Xuân Diệu gây nhiều chú ý (ba bài trên báo chí của nhà nước và bốn bài trên báo tư nhân). Cả bảy bài báo đều tập trung vào quá trình tuyển tập thơ cách mạng của Xuân Diệu Ngôi Sao được xét trao giải nhì của giải thưởng văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1954-1955, và chất lượng chung của tuyển tập này có xứng đáng hay không.

 

Phan Khôi

Có lẽ để bộc lộ rằng sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu đã trở thành một đề tài căng thẳng đến thế nào, bài báo đầu tiên trên ấn phẩm đầu tiên của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 dành hẳn một đoạn nói về nhà thơ. Bài báo của Phan Khôi nhan đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” có thể coi là bài luận nổi tiếng nhất trong suốt bốn tháng sôi động với rất nhiều tranh luận học thuật.[19] Khi Phan Khôi viết bài này năm 1956, ông đã 69 tuổi (hơn Hồ Chí Minh ba tuổi). Nhà trí thức lão thành khó tính và bộc trực này có uy tín cao trong văn giới, và đã tham gia nhiều công tác yêu nước, từng viết báo, dạy học và viết văn. Đã sống và làm báo ở tất cả ba trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, ông hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam không kém gì ai. Về quan hệ của ông với Xuân Diệu, Phan Khôi là người đã phát động và ủng hộ Phong trào Thơ mới từ đầu thập kỷ 1930. Ngoài những thành tích đáng nể về chuyên môn, Phan Khôi còn xuất thân từ một dòng họ hoàn hảo, có truyền thống ái quốc. Ông ngoại Phan Khôi là vị tướng huyền thoại Hoàng Diệu, người được giao trọng trách trấn thủ thành Hà Nội trước đợt tấn công của Pháp năm 1882. Khi tất cả mọi kế sách đều thất bại, theo lời kể lại, Hoàng Diệu đã tự vẫn để tỏ rõ trách nhiệm của bản thân với tư cách một viên tướng đã không thể làm tròn trọng trách giữ thành vốn đã hứa với đức vua và triều đình.[20]

 

Bài báo của Phan Khôi dài mười trang và gồm bốn phần. Trong phần mở đầu, nhà báo lão thành tuyên bố ông sẽ nói sự thật, với ngôn ngữ không úp mở để tất cả mọi người đều hiểu. (Việc tác giả thấy có nhu cầu tuyên bố điều này có thể gợi cho ta thấy, vào thời điểm đó ngôn ngữ Bôn-sê-vích đã trở nên rối rắm khó hiểu đến thế nào). Ông cũng thông báo rằng có một phe “đối lập” trong lĩnh vực văn nghệ, gồm nhiều trí thức ở gần như tất cả mọi cấp, mọi lĩnh vực, là những người không bằng lòng với các lãnh đạo văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[21] Phan Khôi dành phần hai của bài báo để nói về vấn đề tự do sáng tác, lập luận rằng thái độ nghi ngờ của lãnh đạo đảng đối với các văn nghệ sĩ cách mạng trẻ là không hợp tình hợp lý. Theo ước tính của Phan Khôi, những trí thức cách mạng đã làm vượt yêu cầu để chứng tỏ được lòng trung thành trong suốt tám năm kháng chiến. Phần thứ ba của bài báo ông phê phán sự thái quá trong cách xử lý của các lãnh đạo văn hóa đối với Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 và tác giả Trần Dần trong tháng Hai vừa qua.

 

Phần bốn và cũng là phần cuối cùng của bài báo là nơi bắt đầu có những rắc rối cho Xuân Diệu. Trong phần này, Phan Khôi kể lại kinh nghiệm bản thân trong thời gian làm thành viên ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955, xoáy sâu vào những lời bàn của ban giám khảo về tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu:

 

“Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi Sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi Sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu?”[22]

 

Sau đó, Phan Khôi tả lại lúc ông chỉ ra một vài câu thơ không hẳn khó hiểu, nhưng “không đáng gọi là thơ”, ý muốn nói thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn. Ông kể rằng, đáp lại lời ông, “một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao?” Hình ảnh Xuân Diệu được tả trong bài báo của Phan Khôi là một người ích kỷ và cá nhân không khác gì ấn tượng chung về tính cách cũ nhà thơ trước khi tham gia cách mạng, điều này đã phủ nhận mạnh mẽ diễn ngôn chính thống rằng cách mạng đã hoán cải Xuân Diệu. Theo những thông tin Phan Khôi được biết, Xuân Diệu đã dùng quyền lực và ảnh hưởng từ nội bộ đảng để để cao tập thơ của mình: “Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào.”

 

Nhưng điều mà Phan Khôi thấy “quái đản” nhất về giải thưởng văn học nói trên là việc ba người trong ban giám khảo lại nộp tác phẩm dự giải:

“Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải ‘hồi tị’, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không ‘hồi tị’: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ là trắng trợn vì thấy mọi cái ‘miệng’ đã bị ‘vú lấp’”.[23]

 

Để giải thích ý “vú lấp miệng” của mình, Phan Khôi tả lại một vụ rõ ràng là cố tình che giấu thông tin trong một cuộc họp đột xuất của ban giám khảo giải thưởng văn học 1954-1955 vào ngày 8 tháng Tám năn 1956. Trong buổi họp đó, ông được đọc biên bản thảo luận của ban giám khảo: “Tất cả những ý phản đối tập thơ Ngôi Sao của tôi đều không được ghi vào biên bản. Tôi lập tức viết thư cho ông (Trường Chinh) tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam để kể rõ sự việc.”

 

Vì chính quyền đã không làm gì tiếp để giải quyết thắc mắc của ông Phan Khôi, giờ đây khi mọi việc sáng tỏ trên mặt báo, mọi người có thể suy luận là Trường Chinh và lãnh đạo đảng đã phớt lờ ý kiến của ông Phan Khôi. Có ba cách lựa chọn cho các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để giải quyết vấn đề này, tất cả đều không dễ dàng trong hoàn cảnh đương thời. Một là, họ có thể tiếp tục làm ngơ trước lời yêu cầu xóa bỏ tham nhũng trong lĩnh vực văn hóa của Phan Khôi. Nhưng điều này có nguy cơ khiến họ bị đánh giá là không quan tâm đến tình trạng tham nhũng, và không theo đường lối của Khrushchev mới đưa ra về tăng cường dân chủ trong đảng và lãnh đạo tập thể (có nghĩa là phải lắng nghe ý kiến từ bên dưới). Hai là, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam có thể nghe theo đề nghị của Phan Khôi là tiến hành một số biện pháp kỷ luật đối với các lãnh đạo văn hóa. Nhưng làm như thế chẳng khác gì gửi một thông điệp cho các trí thức rằng họ có thể giữ vai trò cảnh sát đạo đức ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chức năng giám sát chính quyền và buộc lãnh đạo đảng phải giải quyết những bất công mà trí thức phát hiện. Lựa chọn thứ ba là tránh phải giải quyết những yêu cầu của Phan Khôi là bằng cách làm thế nào đó để hạ uy tín của ông. Nhưng vì đảng đang cho phép tự do báo chí trở lại, chắc chắn một chiến dịch bôi nhọ nhà báo lão thành và nhiều uy tín này trên các cơ quan ngôn luận của đảng sẽ kéo theo những phản hồi từ những người ủng hộ Phan Khôi trên báo chí tư nhân. Điều này sẽ thu hút sự quan tâm rộng rãi hơn của quần chúng đối với Phan Khôi và các ấn phẩm tự do trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm.

 

 

Yến Lan

Khi đã xác định rằng không thể phớt lờ những yêu cầu công khai của Phan Khôi, lãnh đạo đảng thử nghiệm một giải pháp kết hợp cả hai lựa chọn còn lại, một mặt buộc ba quan chức văn hóa (Hoài Thanh, Nguyễn Tuân và Nguyễn Đình Thi) công bố bài tự phê bình, mặt khác bật đèn xanh cho đăng những bài viết hạ uy tín Phan Khôi. Bài đầu tiên của dạng này xuất hiện trên Văn Nghệ số ra ngày 20 tháng Chín năm 1956, tập trung đả kích bài của Phan Khôi ở khía cạnh phê phán sai rằng lãnh đạo đảng đã phớt lờ một vụ gian lận hiển nhiên. Tác giả của nó là nhà thơ, nhà biên kịch 40 tuổi, Yến Lan, người đã ghi biên bản cuộc họp của ban giám khảo. Ông nhận rằng đó là quyết định cá nhân của một mình ông khi loại bỏ ý kiến của Phan Khôi về tập Ngôi Sao của Xuân Diệu, chứ không phải là âm mưu chung của Ban như nhà báo Phan Khôi đã áp đặt: “Biên bản là để ghi lại những ý chính của cuộc họp. Những nhận xét đó (của ông Phan Khôi) đều lạc khỏi đề tài đang thảo luận, hoặc đưa ra trong lúc giải lao, giữa hai ba người với nhau (nhiều lúc tranh luận rất sôi nổi, đôi khi gay gắt nữa) và không được đưa vào biên bản vì thư ký lúc đó đang nghỉ giải lao”.

 

Tiếp theo, Yến Lan trả lời thắc mắc của Phan Khôi đối với việc ba người trong ban giám khảo (trong đó có Xuân Diệu) gửi tác phẩm và được trao giải:

 

“Ông [Phan Khôi] đã vạch ra ba ông Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu có tác phẩm dự thi mà cùng đều ở trong ban chấm thi từ lúc sơ khảo đến chung khảo. Cũng như những người khác, ông Phan Khôi có quyền nghi như thế sẽ có điều ám muộn, nhưng trên thế giới việc đó không có gì là quái, miễn là người ta phải làm việc đúng với nguyên tắc: những người ở ban chấm thi mà có tác phẩm dự giải thì không có quyền biểu quyết tác phẩm của mình. Nguyên tắc ấy ở đây xin chứng thực là luôn luôn được nhắt đến và làm đúng, còn ra có vị nể hay không thì không thuộc phạm vi bài này.”[24]

 

 

 

Trần Công

Ngày 20 tháng Chín năm 1956 – ngày bài viết của Yến Lan được đăng trên Văn Nghệ, cũng tình cờ là ngày mà nhà trí thức cách mạng bất mãn Nguyễn Hữu Đang, với sự cộng tác chủ yếu của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Duy và Phan Khôi, khai trương số đầu tiên của báo Nhân Văn. Cũng như số đầu tiên của tập Giai Phẩm Mùa Thu xuất bản trước đó mấy tuần, tờ báo gai góc này ngay lập tức khai thác chủ đề giải thưởng văn học 1954-1955. Trong bài báo “Chống bè phái trong văn nghệ”, nhà văn trẻ Trần Công viết:

 

“Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, đại diện cho ban Chấp hành Hội, đều có trách nhiệm lớn đối với phong trào. Thế mà tác phẩm còn non kém của ba ông lại được giải. Nếu không phải tự mình bỏ phiếu cho mình thì cũng là bè cánh ta lại bỏ phiếu cho tác phẩm tồi của bè cánh ta (cũng nên chú ý đến Huy Cận có chân trong ban chấm giải, mà ai cũng biết Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một).”[25]

 

Trần Công còn lục lại việc cũ trong quá khứ, đưa ra một vấn đề hóc búa khác cho Xuân Diệu:

“Tập thơ Việt Bắc cũng là một tập thơ như muôn ngàn tập thơ khác, dù có hay chăng nữa thì cũng chỉ là một tập thơ. Nhưng nó có cái đặc biệt. Đặc biệt không phải ở thơ mà ở tác giả. Giá tập thơ Việt Bắc là của người khác thì phê bình cũng chẳng sao đâu, nhưng Việt Bắc lại là của Tố Hữu. Một loạt bài của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt làm một số cán bộ lãnh đạo [Hội] Văn nghệ ngạc nhiên, tức giận thậm chí có người nói ‘Địch nó không mong gì hơn chúng ta chê thơ Tố Hữu.’”[26]

 

 

Nguyễn Tuân

Một tuần sau đó, vào ngày 27 tháng Chín năm 1956, một bài báo khác xuất hiện trên tờ Văn Nghệ với chủ ý đáp lại những thông tin mà Phan Khôi tiết lộ xung quanh việc chấm giải nhì cho tập thơ Ngôi Sao đang gây tranh cãi. Bài báo là một bản tự phê bình công khai của nhà văn nổi tiếng thời Pháp thuộc, đương kim tổng thư ký Hội Văn nghệ, Nguyễn Tuân. Ông cũng tham gia ban giám khảo, cùng với Phan Khôi, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh và năm trí thức có uy tín khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[27] Trong bản tự phê, dưới nhan đề “Những suy nghĩ về giải thưởng văn học 1954-1955”, Nguyễn Tuân thừa nhận rằng ông không đồng tình với đề xuất trao giải nhì cho tập thơ Ngôi Sao (theo ông, trao giải ba thì xứng đáng hơn).[28] Tuy nhiên, theo Nguyễn Tuân, vấn đề liên quan đến việc trao giải cho tập thơ Ngôi Sao không phải chỉ ở chỗ tác phẩm đáng được giải nào: “Riêng tôi muốn tác giả Ngôi Sao tự nhìn mình nghiêm khắc nhiều hơn nữa, và tôi nghĩ rằng các anh Hoài Thanh, Huy Cận đã tích cực bênh vực thơ Ngôi Sao, có thể giúp đỡ nhiều cho tác giả thấy rõ vấn đề. Riêng phần tôi, trong việc Ngôi Sao, tôi cũng thấy mình nể nang trước những ý kiến của Hoài Thanh đối với thơ Ngôi Sao.”[29]

Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam

Trong số tiếp theo, ra một tuần sau đó (ngày mồng 4 tháng Mười năm 1956), báo Văn Nghệ đăng tiếp một một bài tự phê thứ hai, liên quan đến vụ Ngôi Sao của Xuân Diệu: “Thông báo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ.”[30] Trong bài, hội thừa nhận đã sai lầm trong việc xử lý vụ việc Trần Dần và bài thơ “Nhất định thắng”, cũng như thiếu sót trong việc tuyển chọn giải thưởng văn học 1954-1955:

“Lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, ít chú ý liên hệ với quần chúng. Như trong khi chấm giải, đã có nhiều ý kiến về tập thơ Ngôi Sao, nhưng đa số ủy viên chưa thật chú ý lắng nghe.

…Cũng trong phiên họp trên của Ban chấm giải, đa số ủy viên nhận rằng tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu xếp giải nhì là quá cao, một số cho rằng xếp Ngôi Sao vào giải ba thì đúng hơn.”[31]

 

 

Nguyễn Bính

Bài báo thứ sáu trong số bảy bài liên quan tới Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, “Phải xem xét lại tất cả các giải thưởng văn học” do Nguyễn Bính chấp bút và đăng trên hai số liền của tờ Trăm Hoa (ra ngày 20 và 28 tháng Mười năm 1956).[32] Nguyễn Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng, và cũng đã viết bài trên báo Văn Nghệ bốn tháng trước đó, yêu cầu các lãnh đạo văn nghệ phải “nghiêm túc tự phê” vì đã trao giải nhì cho Ngôi Sao trong đợt xét giải thưởng văn học 1954-1955. Khi đó, ông đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa, tờ báo đã đăng ba bài phê phán tập Ngôi sao sau ngày công bố giải thưởng văn học 1954-1955, ngày 15 tháng Ba năm 1956. Không lâu sau đó, tờ báo sập tiệm vì hết tiền.[33] Bản thân Nguyễn Bính cũng là một ngôi sao (tuy không rực rỡ bằng Xuân Diệu) của Phong trào Thơ mới.[34] Về hoạt động cách mạng, ông đã từng rời Hà Nội vào Nam từ năm 1944 để du ngoạn và kiếm sống, ở đó khi cuộc cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp tái xâm lược Việt Nam nổ ra, ông tiếp tục làm việc trên mặt trận văn chương cho Việt Minh. Khi chiến tranh sắp kết thúc năm 1954, ông tập kết ra Bắc cùng với hàng ngàn cán bộ Việt Minh khác và bắt đầu làm việc tại Nhà Xuất bản Văn nghệ. Chính vì ở cương vị này mà ông nắm vững được thông tin chi tiết về quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao.[35]

 

Bên cạnh các nội dung khác, Nguyễn Bính khai triển một vấn đề do Trần Công nêu ra trong bài viết trên báo Nhân Văn cách đó một tháng, về việc lạm dụng “yêu cầu cách mạng” làm mục tiêu biện minh cho mọi hành động, thực chất là để che giấu động cơ mưu lợi cá nhân. Theo hướng này, Nguyễn Bính lật lại câu nhận xét, lúc bấy giờ đã bị nhiều người chê bai, về cuộc tranh luậnViệt Bắc: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Nguyễn Bính kết luận, thật là hổ thẹn khi “Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu”. Theo Nguyễn Bính, nguyên nhân thực sự khiến Hoài Thanh bênh vực tập thơ Việt Bắc là quan hệ công tác giữa ông ta và tác giả tập thơ – Tố Hữu là thủ trưởng của Hoài Thanh. “Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung ủy, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng…”[36]

 

Những lời phê của Nguyễn Bính còn trở nên trực tiếp hơn, cá nhân hơn khi ông bàn tới mối liên hệ giữa giải thưởng văn học và tiền bản quyền khi xuất bản. Ông tiết lộ rằng trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy nhất có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, “nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất. (Không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?)”. Ở đây cần phải lưu ý rằng cụm từ “kiểm tra đôn đốc” được sử dụng rất nhiều trong các văn kiện đảng. Cũng tương tự như lời bàn của ông về việc Hoài Thanh viện tới “địch” để bênh vực tập thơ của Tố Hữu, Nguyễn Bính nhại cụm từ “tủ” này một cách mỉa mai để đánh động sự chú ý của mọi người rằng các quan chức cao cấp có thể dễ dàng lợi dụng những thuật ngữ cách mạng rất văn hoa để đánh bóng và hợp lý hóa những hành động, thực ra, có thể đơn thuần chỉ là vụ lợi cá nhân.

 

Nguyễn Bính cũng bật mí những chi tiết xung quanh quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao. Theo ông, tất cả đội ngũ cán bộ của Nhà Xuất bản Văn nghệ, nơi ông làm việc, đã đánh giá là tập thơ rất tệ, vì vậy, nó bị bỏ xó ở một góc văn phòng suốt mấy tháng, mãi đến khi “cấp trên” liên tục nhắc nhở, buộc Nguyễn Bính và đồng nghiệp phải triệu tập một cuộc họp, chọn ra những bài “đỡ tệ” nhất trong bản thảo để gửi đến Nhà in Quốc gia. “Vì lẽ Thơ Xuân Diệu không có độc giả, Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển”. Khi các thành viên của giới văn nghệ biết được tin Ngôi Sao được giải nhì, “anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn văn nghệ như thế. Anh em lạ quá là vì anh em không thể ngờ rằng ban giáo khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy”. Để kết thúc bài viết, Nguyễn Bính bày tỏ những suy nghĩ như sau:

“Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập thơ Ngôi Sao” (lời ông Nguyễn Tuân)? Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi Sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ Nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không?”[37]

 

Phạm Tường Hạnh

Bài báo cuối cùng trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm liên quan đến Xuân Diệu xuất hiện trên trang bìa của tờ Trăm Hoa số ba (ra ngày mồng 4 tháng Mười một năm 1956). Tác giả là Phạm Tường Hạnh, một nhà văn cách mạng trẻ từ miền Nam ra Bắc tập kết sau kháng chiến chống Pháp, đang làm việc cho chương trình Phát thanh Thanh niên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác giả phản đối ý kiến của Nguyễn Tuân trong bài tự phê, cho rằng đa số những nhận xét tiêu cực về tập thơ Ngôi Sao xuất phát từ ác cảm với Xuân Diệu ở một số thành phần trong đội ngũ trí thức. Ông viết: “Tôi tưởng vấn đề không phải thế. Có thể có số người nào đó không ưa tác giả Ngôi Sao. Nhưng không đến nỗi họ “giận cá chém thớt” để tẩy chay tác phẩm của Xuân Diệu. Vả lại còn có nhiều người xưa nay chưa biết mặt mũi Xuân Diệu ra sao như anh em miền Nam tập kết chẳng hạn, cũng nhiều người không thích tập thơ Ngôi Sao chút nào”.[38]

(còn tiếp)

 

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Chú thích

[1] Tiêu đề của tập thơ Ngôi sao gợi hình ảnh Đảng Lao động Việt Nam, với đảng kỳ có ngôi sao vàng trên nền đỏ. Nhưng cũng có thể tác giả muốn chuyển tải cảm nghĩ về đảng như một ngôi sao dẫn đường. Chúng tôi vẫn chưa tìm lại được tư liệu những số Trăm Hoa có đăng bài phê phán tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu. Hình như tác giả của các bài phê bình đó là nhà thơ Trần Lê Văn.

[2] Xã luận, “Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-Xô đã thành công rực rỡ”, Nhân Dân, số 726, 28/2/1956. Xem thêm bài “Đồng chí Trường Chinh trả lời phỏng vấn của phóng viên đài phát thanh Mạc-Tư-Khoa”, Nhân Dân số 733, 6/3/1956.

[3] X.Y.Z., Sửa Đổi Lề Lối Làm Việc (Hà Nội, Sự Thật, 1950).

[4] Hoài Thanh, “Một vài ý kiến về tập thơ ‘Ngôi sao’ của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 122, 24/5/1956.

[5] Sđd. So sánh những ý kiến đánh giá thơ lãng mạn Xuân Diệu trong bài này với tác phẩm Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 để thấy giọng văn Hoài Thanh đã thay đổi như thế nào.

[6] Nguyễn Bính, “Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình”, Văn nghệ, số 125, 14/6/1956.

[7] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21/6/1956.

[8] Một chi tiết thú vị đáng lưu ý là, đến tận tháng 6/1956, Huy Phương – một người sắp tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm vẫn có nhận xét tích cực về cải cách ruộng đất.

[9] Huy Phương, trong “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao”, dẫn bài “Xuân Việt Nam” và “Đêm Mười Chín” của Xuân Diệu.

[10] Sđd.

[11] Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.

[12] “Quả thực” là thuật ngữ của đảng dùng để chỉ những tài sản tịch thu từ những người bị coi là kẻ thù giai cấp trong chiến dịch cải cách ruộng đất, đem chia cho những người nghèo để chứng tỏ rằng đảng quan tâm đến lợi ích của họ.

[13] “Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.

[14] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng: Tập 3, Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội: Thanh Niên, 2006), 127.

[15] Chúng tôi dùng từ “dân chủ” theo nghĩa các lãnh đạo đảng thường gán cho từ này, tức là khi cấp trên lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới. Một ví dụ cụ thể, xem “Chỉ thị của thường vụ liên khu ủy IV, 1/10/1952” trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 13: 440-443.

[16] Báo Nhân Dân đưa tin về bài viết trong “Thư Bắc Kinh” của Lê Hao (Nhân Dân, số 884, 5/8/1956) nhưng mãi đến số ngày 30/9/1956 mới đăng bài dịch.

[17] Theo nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng và hồi ký của Tô Hoài, tổng biên tập báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính cho rằng tờ báo của mình độc lập với Nhân Văn và Giai Phẩm, khách quan và trung lập hơn. Dù ý định của ông là gì chăng nữa, tờ báo Trăm Hoa cũng chia sẻ rất nhiều suy tư mang tính nhân văn được nêu trong Nhân Văn và Giai Phẩm.

[18] Một ngoại lệ là ý kiến của Nguyễn Hữu Đang kêu gọi mọi người tôn trọng pháp chế tư bản hơn: “Chúng ta quá căm ghét pháp chế tư bản chủ nghĩa đến mức, ở nhiều người, nó đã biến thành nỗi căm ghét pháp chế nói chung”. Nguyễn Hữu Đang, “Cần phải chính quy hơn nữa”,Nhân Văn, số 4, 11/11/1956.

[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (Hà Nội; NXB Minh Đức, tháng 8/1956).

[20] Hoàng Diệu được chế độ mới tôn trọng đến mức tên ông được chọn đặt cho một trong số ít những con đường ở khu có nhiều biệt thự của lãnh đạo đảng tại thủ đô Hà Nội.

[21] Trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn cách mạng này ghi nhận Phan Khôi có lần đã nói với lãnh đạo đảng rằng họ là “mensheviks” (phe nhược tiểu, ngược với bolshevik), Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký tập 3: Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội, Thanh Niên, 2006), 128.

[22] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo”.

[23] Sđd. Ở Việt Nam, câu ngạn ngữ này được dùng để tả trường hợp một người ở thế mạnh hơn dùng quyền thế để ép người dưới dưới im tiếng.

[24] Yến Lan, “Một vài sự thật chung quanh ‘vụ giải thưởng văn học 1954-1955’”, Văn nghệ, số 139. 20/9/1956.

[25] Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, số 1, 20/9/1956.

[26] Trần Công, “Chống bè phái”.

[27] Năm thành viên còn lại của ban giám khảo là Đặng Thai Mai, Thế Lữ, Trương Tửu, Hoàng Xuân Nhị và Nguyễn Huy Tưởng.

[28] Nguyễn Tuân, “Về giải thưởng Văn Học 1954-1955”, Văn nghệ, số 140, 27/9/1956.

[29] Sđd.

[30] “Thông cáo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam”, Văn nghệ, số 141, 4/10/1956.

[31] Sđd.

[32] Nguyễn Bính, “Cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”, Trăm Hoa, số 1 & 2, 20 và 28/10/1956.

[33] Nguyễn Bính đã miêu tả cách chế độ làm khó dễ cho báo chí tư nhân trong bài báo thú vị “Hoa lại nở”, Trăm Hoa, số 1, 20/10/1956.

[34] Không giống như Xuân Diệu và đa số các nhà thơ khác trong phong trào, Nguyễn Bính đã khai thác cảm hứng cho thơ mình từ ca dao, dân ca Việt Nam. Thơ của ông có xu hướng miêu tả những cảnh bình dị ở thôn quê Việt Nam theo phong cách lãng mạn.

[35] Nguyễn Bính, “Cần phải xem xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”.

[36] Sđd.

[37] Sđd.

[38] Phạm Tường Hạnh, “Một vài ý kiến của bạn đọc về bài ‘Về vụ giải thưởng 1954-1955’ của Nguyễn Tuân”, Trăm Hoa, số 3, 4/11/1956.

lainguyenan@gmail.com | Cài đặt | Trợ giúp | Đăng xuất

 

 

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 2)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

Cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc

Trong chín tháng giữ vai trò cầm lái tờ Văn Nghệ, từ ngày mồng 1 tháng Mười một năm 1954 đến ngày mồng 4 tháng Tám năm 1955, Xuân Diệu trải qua một giai đoạn có thể coi là ly kỳ nhất trong cuộc đời tham gia cách mạng của ông. Với chức vụ thư ký tòa soạn, Xuân Diệu cầm trịch cuộc tranh luận văn học quan trọng về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, người đã được lãnh đạo đảng chọn để đứng đầu mặt trận văn hóa. Cách Xuân Diệu xử lý cuộc tranh luận có vẻ đã làm lãnh đạo đảng không hài lòng, và có thể chính điều đó đã dẫn đến quyết định phải thay người khác vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ.

 

Trong hai tháng đầu tiên, Xuân Diệu đã để cho cuộc tranh luận diễn ra như một sự kiện tranh luận văn học thực sự, cho in một số bài phê bình Việt Bắc khá nặng cùng với những bài khen ngợi.[1] Nhưng dưới quan điểm “văn học không thể tách rời chính trị” của chế độ, tranh luận công khai về thơ của Tố Hữu cũng có nghĩa là tranh luận về quan điểm chính trị của ông ta. Và đương nhiên, phe phê phán chẳng bao lâu sau bắt đầu đặt câu hỏi về lập trường của Tố Hữu theo hệ tư tưởng Mác-Lê, ngầm ý chất vấn quyết định của lãnh đạo khi giao trọng trách cho Tố Hữu ở vị trí quyền lực nhất trong lĩnh vực văn hóa. Nguyên nhân vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để cho cuộc tranh luận kéo dài đến thế vẫn là điều chưa được giải đáp. Một cách giải thích khả dĩ là cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm còn nhiều căng thẳng đối với giới lãnh đạo chế độ mới, khiến họ e ngại nếu can thiệp không khéo sẽ làm bất bình số đông trí thức cách mạng, những người coi việc tranh luận chuyên môn là một phần bình thường của đời sống trí thức.

 

Trong thời gian đó, nạn đói xảy ra ở hầu khắp các vùng nông thôn miền Bắc. Lúc đó đang là tháng Tư, một tháng trước vụ chiêm. Ngay cả trong những năm được mùa, người nông dân Bắc Việt vẫn thường thiếu ăn vào thời điểm này. Ba văn bản liên tiếp của Bộ Chính trị kêu gọi cứu đói trên toàn miền Bắc (vào các ngày mồng 9, 16 và 29 tháng Tư năm 1955) cho thấy tình hình căng thẳng đến mức nào.[2] Một vấn đề lớn nữa thu hút sự quan tâm của giới lãnh đạo vào thời điểm này là cuộc di cư lớn của người dân miền Bắc vào Nam. Hiệp định Geneva đã ấn định khung thời gian ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam-Bắc từ tháng Bảy năm 1954 đến tận tháng Năm năm 1955. Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những người tự gọi chế độ của mình là “dân chủ nhân dân”, việc gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam được coi là một thất bại lớn về thể diện. Đoạn văn dưới đây, trích từ Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16 tháng Hai năm 1955 cho thấy phần nào mối quan ngại của lãnh đạo đảng về vấn đề di cư và tác động của nó đối với hình ảnh quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:

 

“Chọn một vài địa điểm điển hình để tổ chức cho đồng bào đi (khu chọn rồi đề nghị với Trung ương). Nên mời cả Ủy Ban quốc tế đến để chứng kiến việc đó. Những nơi này phải là nơi có cơ sở quần chúng của ta, khi tổ chức cho quần chúng đi thì chỉ có số ít xin đi, như thế mới có lợi cho ta. Khi làm việc này phải chuẩn bị chu đáo, giải quyết thật nhanh.

Phải có kế hoạch trấn áp phản động, tăng cường canh gác, kiểm soát, đề phòng địch lợi dụng dịp này thúc đẩy quần chúng tập trung, gây khó khăn cho ta.”[3]

 

Tố Hữu, tác giả của tập thơ Việt Bắc, lúc đó mới 35 tuổi, là một người gốc Huế gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương từ năm 1938 và thăng tiến rất nhanh qua các cấp ủy. Khi tập thơ được xuất bản, ông ta đang được cân nhắc vào vị trí ủy viên Trung ương  Đảng Lao động Việt Nam, một việc sẽ xảy ra trong năm 1955.[4] Một biểu hiện nhỏ cho thấy lãnh đạo đảng đánh giá tập thơ Việt Bắc cao đến thế nào là quyết định trích ngân sách hẹp hòi để cho in tập thơ với số lượng hai mươi nghìn bản, một con số ấn bản lớn chưa từng có.[5] Về nội dung, Việt Bắc là sự thể hiện bằng thơ quan điểm của Mao về “chiến tranh nhân dân”.[6] Tố Hữu tả toàn thể dân tộc Việt Nam đều cống hiến trọn vẹn tâm hồn và lý trí cho công tác đấu tranh cách mạng: từ người nông dân đi phá đường cho đến người lính pháo binh công tập đồn Pháp, từ người phụ nữ tải đạn ra chiến trường đến em nhỏ làm giao liên cho du kích Việt Minh. Ông ta nồng nhiệt ca ngợi Hồ Chí Minh, Stalin, Mao và Đảng Lao động Việt Nam. Việt Bắc còn bao gồm các bài dịch từ dân ca Nam Tư và một số bài thơ nước ngoài khác – hai bài của nhà thơ Liên Xô Konstantin Simonov, một của nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon, và một của nhà thơ cộng sản Mỹ Ethel Rosenberg, đã bị tử hình với tội danh gián điệp vào năm 1953.

 

Bài báo đầu tiên giới thiệu tập thơ của Tố Hữu với công chúng do một cán bộ chính trị xuất thân từ tỉnh Nghệ An tên là Xuân Trường viết được đăng trên số Tết (ngày 24 tháng Giêng năm 1955) của tờ báo chính thống của đảng –Nhân dân.[7] Bài báo được viết theo dàn bài tiêu chuẩn của một văn kiện báo cáo đảng: giới thiệu, ưu điểm, khuyết điểm và kết luận. Trong suốt cả bài gồm hai mươi chín đoạn văn, chỉ có hai đoạn bàn về khuyết điểm của tập thơ Việt Bắc. Hai đoạn đó chủ yếu vạch ra rằng Tố Hữu cần phải “cụ thể” hơn khi tả “người nông dân tham gia cách mạng” và “đảng Tiên Phong của dân tộc”. Xuân Trường viết “chúng ta rất tiếc rằng Tố Hữu chưa nói lên hộ lòng biết ơn, sức tin tưởng của hàng chục triệu con người đảng viên và quần chúng đối với Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.”[8]

 

Ba tuần sau, vào ngày 15 tháng Hai năm 1955, Xuân Diệu cho đăng trên Văn Nghệ phần đầu của bài nhận xét dài của chính ông về tập thơ của Tố Hữu. Cũng như bài viết của Xuân Trường, ông giữ đúng cấu trúc tiêu chuẩn của một bản báo cáo chính trị. Trong bài viết gồm bảy mươi đoạn văn, Xuân Diệu dành sáu mươi đoạn để ca ngợi ưu điểm của tập thơ:

 

“Từ 1932 đến 1945, trong khi các nhà thơ khác đắm chìm trong phong trào “thơ mới” mơ mộng, than khóc, u sầu, Tố Hữu đã đi tiên phong, hát những bài ca tranh đấu.”…

“Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh quang, kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng, và nhà cách mạng làm thơ, và thơ rất thành công…

Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn, đồng thời cũng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy. Đó là sự tương quan mật thiết giữa hành động và văn chương, và Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”[9]

 

Trong phần đầu của đoạn trích nêu trên, Xuân Diệu dường như đang xưng tội về quá khứ của chính mình khi tham gia Thơ mới. Phải chăng mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng đã chuyển hóa hoàn toàn nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Xuân Diệu? Có vẻ là như vậy, cho đến khi chúng ta đọc đoạn thứ mười của bài với những dòng Xuân Diệu viết về nhược điểm của tập thơ. Tại đó, nhà thơ nhẹ nhàng chỉ ra rằng tập thơ Việt Bắc “nặng về tình cảm xã hội mà gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”. Trong một khổ khác, ông viết, “Con người cán bộ trong Tố Hữu bao trùm con người thường”. Ở đây, những lời phê bình của Xuân Diệu dường như có hàm ý đề cao tính chủ quan – cho phép con người ta có thể thay đổi bản chất để phù hợp với hoàn cảnh. Không một bài viết nào khác về Việt Bắc đưa ra một ý kiến tương tự như thế. Từ đó, người đọc có thể suy diễn một cách hợp lý rằng, theo Xuân Diệu, tính chủ quan của con người rất phức tạp, không thể đánh giá theo một yếu tố chung nào hết – như giai cấp chẳng hạn. Trong phần sau của bài viết, Xuân Diệu bổ sung thêm rằng thơ Tố Hữu “nặng về tình cảm xã hội, tình cảm tập thể ” mà “hầu như không nói đến những tình cảm của cá nhân”.[10] Không rõ Xuân Diệu có ý thức được điều này không, nhưng rõ ràng việc ông chiếu tướng Tố Hữu về tình cảm cá nhân và khả năng một con người có thể mang nhiều diện mạo tiềm ẩn nguy cơ thách thức học thuyết chính thống cao hơn rất nhiều so với yêu cầu của Xuân Trường về việc cần tả cụ thể về đảng tiên phong và quần chúng hàm ơn.

 

Ngày 11 tháng Ba năm 1955, hai tuần sau khi đăng bài bình luận của chính mình, Xuân Diệu duyệt và cho đăng bài phê bình Việt Bắc của Hoàng Yến, một nhà phê bình văn học trong quân đội gần như chưa được ai biết đến. Với nhan đề “Tập thơ Việt Bắc có tính hiện thực hay không?”, bài phê bình phân tích năm bài trong tập thơ để đi đến kết luận chung rằng những suy nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhân vật trong Việt Bắc trong những tình huống quan trọng có vẻ không hiện thực và không thể hiện được tính phong phú và vĩ đại của cách mạng.[11] Ngoài bài viết của Hoàng Yến, Văn Nghệ còn mời độc giả viết thư để đóng góp phản hồi về tập thơ Việt Bắc đồng nghĩa với việc mở rộng diễn đàn tranh luận cho công chúng.

 

Trong một tháng rưỡi sau đó, Xuân Diệu, trong vai trò thư ký tòa soạn Văn Nghệ, đã cho đăng tiếp năm bài phê bình Tố Hữu, có nhiều điểm cho rằng ông ta kém về năng lực lãnh đạo, thơ thì tầm thường và quan điểm cách mạng “tiểu tư sản có hệ thống”.[12] Chắc chính lời phê về “tiểu tư sản” đó đã làm lãnh đạo đảng nhức nhối nhất vì họ đã chọn Tố Hữu, cùng với các Ủy viên Trung ương là Lê Văn Lương và Hoàng Quốc Việt giám sát công tác chỉnh huấn tư tưởng, với mục tiêu chính là gạt bỏ những “tư tưởng tiểu tư sản” khỏi đầu óc các đảng viên.[13]

 

Trong suốt năm tuần, Xuân Diệu đã duy trì gần như cân bằng những bài viết theo hai hướng khen và chê tập thơ của Tố Hữu, như thể ông đang trở lại làm việc cho tờ Ngày Nay của Tự lực Văn đoàn vậy. Rồi bỗng nhiên, sau số Văn Nghệ ra ngày 1 tháng Năm năm 1955, ông xoay ngược một trăm tám mươi độ, cho đăng toàn những bài khen ngợi tập thơ hết lời. Sự trùng hợp về thời gian giữa việc thay đổi đường lối nói trên và cái mốc ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam Bắc (đến 18 tháng Năm 1955) gợi cho ta thấy hình như việc tự do đi lại cũng là một yếu tố quyết định cách chính quyền xử lý cuộc tranh luận. Những bài viết phê phán Việt Bắc bị ngừng đăng kể từ số Văn nghệ ngày 10 tháng Năm 1955, nhưng đến thời điểm đó, đã quá muộn để biến cuộc tranh luận thành đợt tuyên truyền cho thơ Tố Hữu – những nhà phê bình trẻ đã gây tổn thất nặng nề cho danh tiếng tập thơ Việt Bắc. Không một bài bình luận tiếp theo nào, dù ca ngợi không tiếc lời về lòng yêu nước và văn tài của Tố Hữu, có thể đảo ngược lại được những lời phê bình về nhược điểm của Việt Bắc mà Xuân Diệu đã cho đăng trên những trang báo trước đó của tờ Văn Nghệ.

 

Ngoài quyết định chuyển hướng đột ngột trong cuộc tranh luận về Việt Bắc, có ba điểm khác cho thấy hình như cách xử lý vấn đề của Xuân Diệu lúc ban đầu không theo quan điểm của lãnh đạo đảng. Một là, không một tờ báo nào khác của đảng ngoài tờ Văn Nghệ đăng bài chê tập thơ Việt Bắc.[14] Các tổng biên tập của những tờ báo khác dường như hiểu được ý của lãnh đạo đảng muốn họ giữ vai trò gì trong cuộc tranh luận: đăng các bài khen Việt Bắc để bài chê của Hoàng Yến trở thành hiện tượng cá biệt, qua đó cho thấy Tố Hữu được sự ủng hộ của đa số quần chúng Việt Nam. Hai là, không bao lâu sau, lãnh đạo quyết định thay Xuân Diệu và đưa Nguyễn Đình Thi, một quan chức văn hóa cứng rắn vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn Nghệ, người đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận về Việt Bắc một thời gian ngắn sau đó.[15] Bằng chứng thứ ba là ý kiến nhận định về cuộc tranh luận của một quan chức văn hóa cao cấp, Hoài Thanh (tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam: 1932 – 1941 đã được nhắc đến ở phần trên). Trong một bài nhận xét về hoạt động văn học trong năm 1955, ông ta viết: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng.”[16]

 

Ý của Hoài Thanh là, Xuân Diệu, với vai trò thư ký tòa soạn Văn nghệ đã không quan tâm đầy đủ đến những bài phê bình Việt Bắc, cho đăng những bài không phù hợp với “yêu cầu của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng”. Nói cách khác, ông không hiểu được rằng Văn nghệ đúng ra phải đóng vai trò là một cơ quan văn hóa của đảng. Đặt trong hoàn cảnh đất nước ba năm rưỡi sau đó, cách ông xử lý cuộc tranh luận – nhất là để cho mọi tầng lớp trí thức trong nước công khai và trực tiếp chất vấn năng lực chuyên môn của một quan chức cao cấp của đảng như Tố Hữu – là điều không thể tưởng tượng được.[17]

 

 

 

Xuân Diệu và Walt Whitman

Như đã đề cập ở phần trước, trong hai đêm Xuân Diệu tham gia chỉnh huấn vào năm 1952, vấn đề lang chạ đồng tính của Xuân Diệu bị đem ra để “phê và tự phê”. Theo nhà văn Tô Hoài, những người tham gia buổi chỉnh huấn đêm đó đã liên hệ xu hướng luyến ái đồng tính của nhà văn lãng mạn nổi tiếng với “tư tưởng tiểu tư sản xấu xa” của ông – điều mà Xuân Diệu nhất quyết từ chối trong nước mắt. Sau đợt chỉnh huấn, ông bị đưa ra khỏi Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, một tai nạn nghề nghiệp vẫn làm ông nhức nhối nhiều năm sau đó.[18] Vì quá nhiều bài thơ lãng mạn nổi tiếng của ông có cảm hứng từ đề tài luyến ái đồng tính, và vì ông có biểu hiện coi đó là một phần của chính mình, không thể thay đổi ngay cả với quyền năng chuyển hóa của cách mạng, bài tiểu luận được ít người biết của Xuân Diệu viết về Walt Whitman đăng trên số ra ngày 5 tháng Giêng năm 1956 của tờ Văn Nghệ cần được nghiên cứu kỹ.[19]

 

Quyết định viết về nhà thơ Mỹ không phải là một lựa chọn liều lĩnh về mặt chính trị, vì chính những người gác cửa văn học chính thống của Liên Xô cũng đã tặng cho Whitman danh hiệu “nhà thơ cách mạng” từ trước đó rất lâu. Dù đã tạ thế, sự nghiệp cách mạng của nhà thơ Mỹ này có thể coi như được khởi đầu ở Nga vào năm 1905, khi những nhà cách mạng Nga tại hải ngoại phụ trách tờ Tia lửa (Iksra), cơ quan của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (lúc đó đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ), chọn một bài thơ của ông vào “tuyển tập thi ca cách mạng”. Hơn thế nữa, Whitman còn được nhân vật nổi tiếng nhất trong văn giới Liên Xô – nhà biên dịch, viết tiểu luận và thơ thiếu nhi Kornei Chukovsky (1882-1969) chọn làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu.[20] Chukovsky đã đăng bài viết đầu tiên về nhà thơ Mỹ “Phong trào hâm mộ Whitman ở Nga” trong tạp chí của trường phái Tượng trưng Vesy vào năm 1906. Phần lớn nội dung bài viết đó được Chukovsky dành để phê phán những bài dịch thơ Whitman của Konstantin Balmont, một nhà thơ Tượng trưng. Sự công kích của Chukovsky đã khơi mào cho một cuộc tranh luận sôi nổi về nghệ thuật biên dịch giữa hai người yêu thơ Whitman trên các trang báo của tờ Vesy. Sau đó, giới lãnh đạo văn hóa Liên Xô ủng hộ Chukovsky, giúp ông đủ quyền lực để nâng quan điểm về dịch thuật của mình trong cuộc tranh luận trước đó về Whitman thành tiêu chuẩn chính thống, thành các nguyên tắc chung cho mọi hoạt động dịch thuật của Liên Xô.[21]

 

Vì Whitman vừa sử dụng thể thơ tự do vừa có quan điểm triết học duy tâm giống như các nhà thơ trường phái Tượng trưng của Pháp – những người có ảnh hưởng quan trọng đến dòng thơ lãng mạn của Xuân Diệu, có thể ông đã biết rõ về tác giả của tập Lá cỏ từ trước khi tham gia cách mạng.[22] Không biết ông có biết về Whitman sớm đến thế không, nhưng ít nhất Xuân Diệu hẳn phải nghe nói đến nhà thơ này vào cuối năm 1945, khi một bài báo đăng trên Tiên Phong vào tháng 12 năm 1945 có nhắc đến nhà thơ Mỹ này. Với tiêu đề “Một lá thư ngỏ của Hội Văn hóa Cứu quốc gửi các trí thức Mỹ”, bài báo được công bố là bản sao nguyên văn lá thư thật được đưa cho một nhà báo Mỹ đến Hà Nội để đưa tin sự kiện Nhật Bản đầu hàng. Theo lời kể, nhà báo bí ẩn này đến trụ sở hội vào ngày 21 tháng Mười năm 1945, trước khi về Mỹ. Người ta kể rằng vì cảm tình với sự nghiệp ái quốc của Hội Văn hóa Cứu quốc, ông nhà báo này tình nguyện nhận chuyển thư của hội đến các nhà trí thức Mỹ.[23] Lá thư của hội, được in lại trên báo Tiên Phong bày tỏ lòng tin rằng “…mối thiện cảm của những người đồng chí của Phan-cờ-lin (Franklin), Bít-sơ Xít-tao (Beecher Stowe), I-mớc-sơn (Emerson), Oan-tờ Huýt-man (Walt Whitman), Ê-đi-sơn (Edison), những người như Giấc-cờ Lân-đơn (Jack London), Xin-co-le Liu-ít-xờ (Sinclair Lewis), Pớc Bấc-cờ (Pearl Buck)… ở giữa một nước lớn như dân tộc Hoa-kỳ, sẽ làm rung chuyển dư luận hoàn cầu để giúp cho cuộc giải phóng của chúng tôi.”[24]

 

Cũng có thể Xuân Diệu đã tìm hiểu thêm về Whitman khi đi Liên Xô và Đông Âu năm 1955, vì chuyến đi của ông trùng với thời gian kỷ niệm 100 năm tập thơ Lá Cỏ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ này. Trong chuyến đi, có thể Xuân Diệu đã thấy những cuốn sách về Whitman bày trên giá các hiệu sách nơi ông đến thăm, với hy vọng thu hút được mối quan tâm về tác giả đang được hâm nóng lại trong đợt kỷ niệm. Điều này có thể lý giải được thời điểm Xuân Diệu viết bài về Whitman, vì bài báo được đăng trên Văn Nghệ  một thời gian ngắn sau khi ông đi Liên Xô và Đông Âu về. Tuy nhiên, chi tiết thú vị nhất là Xuân Diệu biết Whitman là người đồng tính luyến ái từ khi nào và bằng cách nào, vẫn còn là câu hỏi bí ẩn. Chỉ biết trong các bài thơ lãng mạn của ông, không thấy có điểm liên hệ nào tới nhà thơ Mỹ này.

 

Bài của Xuân Diệu giới thiệu Whitman trên báo Văn Nghệ thể hiện quan điểm chính trị của chế độ đương thời, với yêu cầu phải xác định rõ mối đồng cảm của nhà thơ Mỹ với giai cấp vô sản. Vì thế, bài báo bắt đầu bằng những dòng kể lể tỉ mẩn về xuất thân bình dân của Whitman, là con trai một di dân, làm nghề đóng khung nhà, và thời trẻ ông ta cũng làm những công việc “tay làm hàm nhai” – thợ in, giáo viên, nhà báo, thợ gặt. Bài báo cũng trích nguyên nhiều câu trong bài “Thơ Tự do cho châu Á, Phi, Mỹ, Úc, Cuba và các Quần đảo ở Đại Dương” của Whitman. Trong những lời kêu gọi chung chung tranh đấu chống cường quyền trên khắp thế giới, bài thơ đó của Whitman phảng phất những nét hao hao giống lý thuyết Mác-xít về cách mạng vô sản thế giới. Có lẽ để tô đậm thêm mối liên hệ này, tiêu đề của bài thơ được đổi thành “Tặng một nhà cách mạng châu Âu thất bại”. Không rõ Xuân Diệu tự đổi hay chỉ đơn thuần sao chép lại cách đặt tiêu đề của một dịch giả trước đó. Ngay dưới tiêu đề bài thơ, Xuân Diệu giải thích rằng bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc cách mạng bị thất bại năm 1848. Trong bài viết, Xuân Diệu còn khai thác sâu thêm cảm tình vô sản của Whitman bằng cách dẫn nhiều khổ thơ trong bài “Bài ca đời tôi”, tất cả đều nhằm minh chứng rằng nhà thơ Mỹ thực sự đã “đi sâu vào thực tế của quần chúng lao khổ”.[25]

 

Tuy nhiên, bài báo có đôi chỗ mang dấu hiệu cho thấy Xuân Diệu đang sử dụng quan điểm chính trị của chế độ đương thời làm bình phong để khoe một cách kín đáo về đời sống luyến ái đồng tính của Whitman. Ví dụ, bài báo có kể rằng “… lúc đã nổi tiếng, nhiều khi ông (Whitman) thay các bạn ông làm người đánh xe ngựa, làm người bán vé xe hàng”. Chi tiết này có vẻ như đơn thuần là một động tác nhấn mạnh sự gần gũi của nhà thơ Mỹ với quần chúng cách mạng. Nhưng trên thực tế, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nữa, vì người bán vé xe hàng mà Xuân Diệu nhắc đến chính là Peter Doyle, người đàn ông được coi là người tình suốt đời của Whitman.

Đọc kỹ bài báo, ta thấy có nhiều chỗ Xuân Diệu dường như đang muốn liên hệ những nét giống nhau giữa cuộc đời của chính mình với nhà thơ Mỹ này. Ví dụ, ông viết rằng Whitman “lúc hai mươi tuổi, đọc rất nhiều sách Âu và Mỹ” (ai cũng biết Xuân Diệu là nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng nhiều nhất của thơ Tây phương, nhất là thơ trường phái Tượng trưng của Pháp). Ông còn kể rằng, từ năm mười chín đến hai mươi hai tuổi, nhà thơ trẻ Whitman “làm một số bài buồn thảm và tiêu cực” (theo cách phân tích chính thống về bước chuyển hóa cách mạng của Xuân Diệu, văn nghiệp của ông bắt đầu từ những năm mười mấy, hai mươi tuổi với những bài thơ lãng mạn “buồn thảm” và “tiêu cực”). Bài báo viết tiếp rằng, trong những năm từ 1846 đến 1848, Whitman làm tổng biên tập báo Brooklyn Daily Eagle (tương tự như chức vụ thư ký tòa soạn báoTiên Phong của Xuân Diệu từ năm 1945 đến 1946) trong thời gian Mỹ đang có chiến tranh với Mexico. Xuân Diệu viết trong bài báo rằng “từ lúc đó, một luồng gió cách mạng thổi vào trong các bài báo của ông. Và chính lúc ông đầy một tinh thần chống dùng nô lệ và đấu tranh cho lý tưởng dân chủ, là lúc ông thấy dồi dào hồn thơ trở lại”. Phải chăng “luồng gió cách mạng” này cũng tương tự như luồng gió đã thực sự thổi vào Xuân Diệu trong năm 1945, và góp phần hình thành những vần thơ cách mạng của ông?

 

Sau khi khai thác mọi chi tiết có thể để tạo cho Whitman căn cước của một người vô sản với tư tưởng tiến bộ, hàm ý nhà văn Mỹ vĩ đại này hội đủ điều kiện để đi theo đảng tiên phong nếu có được cơ hội, Xuân Diệu đi vào phần kết của bài luận dài. Đến đây, ông tự nhiên mất cảnh giác và dẫn một đoạn trong bài thơ cuối cùng của tập Lá Cỏ, bài “Chia tay”, không liên quan gì đến chủ đề cách mạng:

  Bạn ơi, đây không phải là một quyển sách. Ai cầm đến sách này là động đến một con người. Có phải giữa đêm chăng? Có phải chỉ có hai chúng ta mà thôi chăng? Bạn cầm lấy tôi và tôi đang cầm lấy bạn. Từ giữa những trang sách tôi vọt ra giữa vòng tay bạn ôm… … Bạn thân hỡi, dù bạn là ai, bạn cũng nhận cái hôn này Cái hôn tôi riêng tặng bạn, Bạn đừng quên tôi

 

Dù không ai biết chắc trăm phần trăm, nhưng có vẻ Xuân Diệu chọn những câu thơ này vì chúng gợi tả một tình cảm đồng tính và lãng mạn, nhất là với những người hiểu biết về đời tư của Whitman. Lời bình đầy cảm xúc của Xuân Diệu về bài thơ là bằng chứng rõ ràng cho cách suy luận nêu trên: “Đọc đến bài thơ này, tôi có thể nào không nhận thấy hơi thở của nhà thi sĩ còn tinh anh ở trong câu thơ? Tôi có thể đọc qua loa, hờ hững?” Ông còn viết thêm “Thơ viết hàng trăm năm trước, bây giờ vẫn còn tươi nguyên. Đó là mãnh lực của văn chương, của thơ”.[26]

 

 

 

Giai Phẩm Mùa Xuân 1956

Làm một trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần phải có nhiều kỹ năng, vừa phải biết điều chỉnh ngòi bút, cây cọ vẽ, nét nhạc hay bài nghiên cứu sao cho phù hợp với yêu cầu chính trị mới nhất do lãnh đạo đảng đưa ra, vừa phải đảm bảo chất lượng chuyên môn để không bị đồng nghiệp phê phán. Đồng thời, phải theo dõi những sự kiện lớn trong khối xã hội chủ nghĩa và lường trước được những ảnh hưởng đến chính trị trong nước. Và cuối cùng, ở mức độ cá nhân, một trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải biết duy trì quan hệ trên-dưới và biết nên kết bạn với ai (và cần phải gạt bỏ ai). Trong cuộc tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu đã để cho các nhà thơ trẻ Hoàng Cầm và Lê Đạt đăng các bài viết phê bình nặng nề Tố Hữu, quan chức văn hóa quyền lực nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Không biết ông có đồng tình hay không với quan điểm chỉ trích của họ, nhưng kể từ thời điểm đó, Xuân Diệu mặc nhiên bị coi là có liên quan với hai người nổi loạn này. Trong suốt hai năm rưỡi sau đó, ông nhiều lần tìm cách để tách mình khỏi hai người đó. Như chúng ta sẽ thấy, để đạt mục đích nói trên, Xuân Diệu dùng những biện pháp càng ngày càng xấu xa, thậm chí đến mức gần như tự hủy diệt cá tính của mình.

 

Động thái đầu tiên là vào tháng Hai năm 1956, khi Hoàng Cầm và Lê Đạt cộng tác với bảy nhà văn khác cho ra đời một tuyển tập văn học, xuất bản riêng, có tiêu đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956.[27] Dù có quan điểm chính trị riêng, về cơ bản tuyển tập vẫn đồng điệu với lãnh đạo đảng, thậm chí còn thể hiện nhiệt tình hưởng ứng chiến dịch cải cách ruộng đất, – thiết nghĩ không cần nhắc lại rằng chỉ sáu tháng sau đó, chiến dịch cải cách ruộng đất này bắt đầu bị phê phán và các nhà trí thức bất bình phản đối gay gắt.[28] Hình như Giai Phẩm mùa Xuân 1956 ra đời nhằm hai mục tiêu chính. Thứ nhất là để chứng tỏ với lãnh đạo đảng rằng, nếu để cho các trí thức trẻ tự thân vận động, họ vẫn sẽ ủng hộ chương trình chính trị của Đảng Lao động Việt Nam một cách trung thành, và chính vì thế, họ đáng được tin tưởng nhiều hơn. Nói cách khác, đảng mất gì mà không cho tự do ngôn luận? Mục tiêu thứ hai là thể hiện cho lãnh đạo đảng và những thành viên khác của giới trí thức thấy có những sáng tác văn chương thực sự cách mạng hơn, hay hơn so với loại thơ “tiểu tư sản” của Tố Hữu. Cứ để tự do ngôn luận, chế độ sẽ dễ dàng phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ.

 

Không thấy rung động trước nỗ lực ve vãn cảm tình của mình theo cách này, lãnh đạo đảng lập tức ra lệnh tịch thu tuyển tập. Tuy nhiên, một điều quan trọng cần lưu ý là họ (lãnh đạo đảng) giải quyết vấn đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956 hoàn toàn qua kênh quản lý văn hóa. Xem cả hai ấn phẩm nặng ký nhất của đảng, nhật báo Nhân Dân và Học Tập – một tạp chí lý luận mới ra đời trước đó không lâu, không có một bài báo nào “đánh” ấn phẩm này. Chính vị quan chức văn hóa sắt đá Hoài Thanh đứng ra triệu tập cuộc họp các nhà văn để phê bình bài thơ “Nhất định thắng” của nhà thơ quân đội trẻ nóng tính Trần Dần đăng trong tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956.[29] Có chân trong ban lãnh đạo Hội Văn nghệ, đương nhiên Xuân Diệu cũng phải phát biểu ý kiến về việc này, mà hình như ai cũng biết là có liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bài báo ông viết trên báo Văn nghệ không bao lâu sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 bị tịch thu là lời minh định rõ ràng, khó có thể hiểu khác đi được. Dưới tiêu đề “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, bài báo thực chất là bản dịch rút gọn lời phát biểu của Nikolai Fadeyev – một quan chức văn học Liên Xô tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ hai mươi tổ chức vào tháng Hai năm 1956. “Đối với chúng ta, những nhà văn trong Đảng hay ngoài Đảng, khía cạnh quan trọng nhất của quan niệm chúng ta về một nền văn học tự do, tức là thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống và trong lĩnh vực văn học. Những nhà văn tư sản thì phụ thuộc vào các đảng tư sản, mà cầm đầu là bọn trùm của giới kỹ nghệ và tài chính, nhà văn phải phụ thuộc vào các nhà xuất bản của chúng, vào báo chí của chúng. Thuật ngữ ‘phi chính trị’ của các nhà văn tư sản chỉ là ảo tưởng”.[30]

 

Đợt công kích của Văn Nghệ vào Giai Phẩm mùa Xuân 1956 sử dụng chiến thuật hai gọng kìm. Trước hết, Xuân Diệu biện luận rằng đảng không thể tha thứ cho hành động thách thức vị thế độc quyền của mình trong lĩnh vực văn hóa. Việc xuất bản riêng, không qua tổ chức đảng tức là Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã không chịu phục tùng yêu cầu bắt buộc về kiểm duyệt của chế độ. Một điềm xấu hơn nữa đối với những trí thức nhiều ưu tư về tình trạng chế độ ngày càng gia tăng kiểm soát, phần nội dung bài phát biểu được Xuân Diệu chọn dịch thừa nhận “vai trò lãnh đạo” của đảng không chỉ trong lĩnh vực văn học mà còn trong “tất cả mọi lĩnh vực của đời sống”. Hoài Thanh đảm nhận mũi tấn công thứ hai bằng bài viết in ngay sau bài của Xuân Diệu với nhan đề “Vạch tính chất phản động của bài thơ ‘Nhất định thắng’ của anh Trần Dần”[31]. Trong bài viết, Hoài Thanh dùng một loạt đòn bẩy tư tưởng và hùng biện để bẻ cong bài thơ yêu nước và đầy tính chiến đấu của Trần Dần thành “phản động” và nổi loạn.[32] Hơn một tháng rưỡi sau, một quan chức văn hóa cốt cán khác – Nguyễn Đình Thi, đột nhiên đào xới lại việc này, đăng liên tiếp trên hai số Văn Nghệ ngày 19 và 27 tháng Tư năm 1956 bài viết dài hai phần với tiêu đề “Những sai lầm về tư tưởng trong tập sách Giai Phẩm”.[33]

 

Ngay sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 được phát hành, Xuân Diệu đã có những bước dứt khoát để tách mình ra khỏi Trần Dần và Lê Đạt. Tuy nhiên, điều quan trọng ta cần lưu ý là bài viết của Xuân Diệu đánh Giai Phẩm không hề động chạm tới nội dung tập sách ấy. Nếu lấy lời phê bình của Xuân Diệu đối với Việt Bắc làm thước đo, những bài thơ của Trần Dần, Lê Đạt và các tác giả khác trong tuyển tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956 có lẽ đã được Xuân Diệu chấp nhận về chất lượng. Trong khi, theo con mắt của Xuân Diệu, Tố Hữu còn nhiều thiếu sót – như không thể hiện được một “Tố Hữu, con người bình thường” hay “gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”, thật ra các tác giả trẻ của Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã thành công.[34] Có lẽ Xuân Diệu chọn cách dịch bài diễn văn mới của quan chức văn hóa Liên Xô phần nào để tránh công việc khó khăn là bới móc những nội dung nguy hiểm và phản động trong Giai Phẩm mùa Xuân 1956 – một tuyển tập thể hiện rõ ràng sự ủng hộ đối với Đảng Lao động Việt Nam và những mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất là khi Xuân Diệu quyết định sử dụng bài diễn văn của Fadeyev, các trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như được bật đèn xanh để khai thác các thông tin, văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20 làm dẫn chứng cho tính chính thống của quan điểm của mình đối với các sự kiện trong nước. Những người thấy thất vọng với Xuân Diệu khi ông công khai viện dẫn quyền lực của Fadeyev đã không thể ngờ được rằng chính chiến thuật khôn ngoan đó lại nổ ngược một cách ngoạn mục làm điêu đứng nhà thơ và các lãnh đạo bảo thủ khác của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là vì có một bài diễn văn “bí mật” khác, mà đến giờ ai cũng rõ, cũng được đọc ngay tại Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô – bản báo cáo nổi tiếng của Khrushchev lên án Stalin. Từ bài diễn văn đó, các nhà trí thức bất bình trong đội ngũ nhà văn có thể khai thác được không biết bao nhiêu lời biện hộ ở cấp cao nhất cho kế hoạch cải cách của họ – trên thực tế những thành viên Nhân văn-Giai phẩm sẽ coi Khrushchev như một ông thánh bảo hộ.

 

Quyết định chậm công bố bài của Khrushchev vạch mặt những tội ác của Stalin của Đảng Lao động Việt Nam đã làm cho chàng thi sĩ cả tin Xuân Diệu bị việt vị. Nếu được biết về bản báo cáo bí mật đó, chắc ông đã chọn cách khác để tấn công Giai Phẩm mùa Xuân 1956. Tuy nhiên, cũng phải thấy sự cân nhắc, lưỡng lự xem có nên công bố nội dung bản báo cáo của Khrushchev hay không từ phía các nhà lãnh đạo là có nguyên cớ, vì từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh đến các quan chức khác của Đảng Lao động Việt Nam đã mất rất nhiều công sức khuếch trương hình ảnh của Stalin ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[35] Họ sẽ phải giải thích thế nào về một ông Stalin khát máu, cố chấp, đôi khi bất tài đến mức làm hỏng việc như Khrushchev đã mô tả trong bản báo cáo bí mật? Giống như những nhà lãnh đạo khác trong khối xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cũng lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải lên tiếng về những điểm xấu của thói “sùng bái cá nhân”, vì ông rõ ràng đã khuyến khích xây dựng một vòng hào quang sùng bái quanh hình ảnh chính mình ở Việt Nam.[36] Hơn thế nữa, nội dung bản báo cáo của Khrushchev còn có vấn đề ở chỗ, phần dài nhất được tác giả dành để kể về những năm tháng chuẩn bị và giai đoạn chính của cuộc Đại Thanh trừng do Stalin tiến hành, từ năm 1934 đến 1938. Đối với Hồ Chí Minh, đây quả là một vấn đề khó khăn, vì những năm tháng đó cũng trùng với thời gian ông đang ở Moscow (tháng Bảy năm 1934 đến mùa xuân 1938).[37] Nếu đây là quá trình Stalin thể hiện bộ mặt xấu xa nhất và Hồ Chí Minh đang ở ngay tại Moscow trong suốt thời gian đó, thì tại sao ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Stalin lại (và vẫn đang) được mô tả như một ông thánh trong suốt mấy thập kỷ qua? Tại sao Hồ Chí Minh, lãnh tụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nikita Khrushchev, lãnh tụ mới của khối xã hội chủ nghĩa, lại đi đến những kết luận trái ngược đến như vậy về di sản của Stalin?

 

Những yếu tố nói trên giúp giải thích vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam chậm tiết lộ thông tin về bản báo cáo của Khrushchev về Stalin. Những bằng chứng từ hồi ký của nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng cho thấy, mãi tới tận ngày mồng Một tháng Tư năm 1956, tức là ba mươi tư ngày sau khi bản báo cáo được công bố, những trí thức cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới bắt đầu hiểu thuật ngữ “tệ sùng bái cá nhân” là để chỉ Stalin.[38] Ngày 24 tháng Tư năm 1956, Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết 9, với nội dung, theo tinh thần Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, kêu gọi các cấp ủy “đấu tranh chống tệ sùng bái cá nhân, tăng cường lãnh đạo tập thể, tích cực tham gia phê bình và tự phê bình”.[39] Đợt hóa giải ảnh hưởng của Stalin đã chính thức bắt đầu tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(còn tiếp)

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Chú thích

[1] Là thư ký tòa soạn, Xuân Diệu chịu trách nhiệm cuối cùng về tất cả các bài đăng trên tờ báo. Tuy nhiên, theo chính thành viên Nhân văn – Giai phẩm Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn Thụy Khuê ngày 5/5/2997, nhân vật trong ban biên tập Văn nghệ tích cực nhất trong cuộc tranh luận (http://thuykhue.free.fr/rfi/2007/20070519-HoangCam.mp3 ) là con người đầy sức thu hút Nguyễn Hữu Đang. Sau đó, ông Đang trở thành một thành viên có thể gọi là quan trọng nhất của phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Ta không thể không thắc mắc liệu có phải, trong chừng mực nào đó, Xuân Diệu đã nghe theo ý của Nguyễn Hữu Đang thuyết phục về cách thức báoVăn nghệ tổ chức và điều hành cuộc tranh luận.

[2] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của trung ương số 12-CT/TW, 9/4/55: Tăng cường lãnh đạo chống đói và giải quyết nạn đói”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:241; Ban bí thư, “Điện của ban bí thư ngày 16 tháng 4 năm 1955 gửi các khu”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:252; Nguyễn Duy Trinh, “Thông tri của ban bí thư số 30-TT/TW ngày 29 tháng 4 năm 1955: về việc tích cực thi hành Chỉ thị số 12 của TW gấp rút tăng cường lãnh đạo công tác chống đói”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:279.

[3] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của bộ chính trị số 07-CT/TW ngày 16 tháng 2 năm 1955: Đẩy mạnh đấu tranh phá âm mưu mới của địch trong việc dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam”,Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:74.

[4] Từ điển Văn học (Hà Nội, KHXH, 1984), 405-406.

[5] Boudarel, Cent fleurs, 119.

[6] Về chất lượng và phong cách, thơ Tố Hữu có thể so sánh, đại loại như với bài “Paul Revere’s Ride” của Henry Wadsworth Longfellow.

[7] Báo Nhân Dân thành lập năm 1951, là cơ quan chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Có thể tờ báo được lấy ý tưởng từ ấn phẩm cùng tên của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

[8] Xuân Trường, “Vài ý kiến sau khi đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu”, Nhân Dân, số 329, 24/1/1955.

[9] Xuân Diệu, “Đọc tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ, số 63, 15-22/2/1955.

[10] Sđd, số 64, 28/2-10/3/1955.

[11] Hoàng Yến, “Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?”, Văn nghệ, số 65, 11/3/1955. Bài này sau đó được đăng lại trên báo Nhân Dân hai số ra ngày 3-4/4/1955. Bài báo được đăng lần đầu trên tạp chí văn học quân đội Sinh Hoạt Văn nghệ.

[12] Về khả năng lãnh đạo yếu kém, xem Lê Đạt, “Học tập Maikovski, phát huy sức sống mới của thi ca Việt Nam (kỳ 1 và kỳ 2), Văn nghệ, số 69 và 70, 21/4/1955 và 1/5/1955. Về chất lượng thơ tầm thường, xem Hoàng Cầm “Tập thơ Việt Bắc ít chất sống thực tế”, Văn nghệ, số 67, 1/4/1955; và Nguyễn Văn Phú, “Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt BắcVăn nghệ, số 68 11/4/1955; và Hoàng Cầm, “Bổ sung ý kiến của tôi về tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệsố 70, 1/5/1955.

[13] Xem Lê Văn Lương, “Vấn đề chỉnh huấn”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 13:101-106.

[14] Có thể kể các tờ báo Nhân DânTổ QuốcĐộc Lập và Nói Thật. Ngoại lệ duy nhất là báoNhân Dân có đăng lại bài của Hoàng Yến, được coi như bài mở màn cho cuộc tranh luận. Ngoài ra, không có một bài phê bình (chê) nào xuất hiện ngoài mặt báo Văn nghệ.

[15] Sau khi Nguyễn Đình Thi thay Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn, màu ma-két báo Văn nghệ đổi từ xanh lá cây sang đỏ cờ. Thông tin về ban biên tập, vốn được đăng ngay trang bìa trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn, bị đưa về trang cuối.

[16] Hoài Thanh, “Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm qua”, Nhân Dân, số 697, 29/1/1956.

[17] Phê bình công khai lãnh đạo cao cấp cỡ như Tố Hữu trong cuộc tranh luận về Việt Bắc vẫn còn là điều cấm kỵ ở Việt Nam.

[18] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 198-199.

[19] Tình yêu đồng tính của Whitman đã được người nghiên cứu và viết tiểu sử ông trình bày trong một bài phân tích thú vị. Xem Jeffrey Meyers, “Whitman’s Life” (Cuộc đời của Whitman),The Antioch Review, số 4 (Autumn 2005): 755-787.

[20] Muốn biết về ảnh hưởng của Whitman đối với các nhà văn Biểu tượng Pháp, xem P.M. Jones, “Whitman in France” (Whitman ở Pháp), Modern Language Review 10, số 1 (tháng 1/1915): 1-22. Về ảnh hưởng của Whitman đối với nhà văn Liên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky, xem Dale E. Peterson, “Mayakovsky and Whitman: The Icon and the Mosaic” (Mayakovsky và Whitman: Biểu tượng đơn icon và hình ghép mosaic), Slavic Review 28, số 3 (tháng 9/1969): 416-425. Nghiên cứu về Chokovsky vừa với vai trò dịch giả của thơ Whitman vừa làm chính trị, xem Rachel Polonsky, “Translating Whitman, Mistranslating Bal’mont” (Dịch Whitman, dịch nhầm Bal’mont), Slavonik and Eastern Europe Review 75, số 3 (tháng 7/1997):401-425. Trong bài viết thú vị này, Polonsky đã ghi nhận rằng “Whitman đã từng được Max Nordau nhắc đến trong nghiên cứu gây nhiều tiếng vang về căn bệnh mà ông cho là ‘bệnh đồi trụy’ Entartung [Sa đọa, 1892], trong đó Whitman bị miêu tả là ‘bụi đời và phóng đãng’ và xếp đồng hạng với Verlaine và Rimbaud và những kẻ giống như họ”.

[21] Polansky, “Translating Whitman”, 402-404.

[22] Jones, “Whitman in France”, 4. Tác giả ghi nhận ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu văn học suy đoán rằng các nhà thơ Pháp đã học thể thơ tự do của Whitman sau khi tác phẩm của nhà thơ Mỹ này được dịch lần đầu tiên và xuất hiện ở Pháp vào năm 1886, tức là một năm trước khi Pháp bắt đầu có lối làm thơ tự do.

[23] Chúng tôi chưa tìm được bất kỳ bằng chứng nào về việc một nhà báo Mỹ đến trụ sở Hội Văn hóa Cứu quốc. Có thể câu chuyện được dựng lên hoàn toàn (hoặc một phần nào) nhằm mục đích tuyên truyền, tạo ấn tượng cho công chúng Việt Nam rằng khi đó nhà báo nước ngoài đã nhìn nhận Hội là tiếng nói chính thức của văn hóa Việt Nam. Tại thời điểm cuối năm 1945, thực ra Hội Văn hóa Cứu quốc, dù khá quan trọng, cũng chỉ là một trong nhiều tiếng nói văn hóa ở Việt Nam.

[24] “Một bức thư của Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam trao tận tay cho các nhà văn hóa Hoa Kỳ”, Tiên Phong, số 2, tháng 12/1945, 5.

[25] Xuân Diệu, “Uýt-man: Nhà thi hào tiến bộ của nhân dân Mỹ”, Văn nghệ, số 102, 5/1/1956.

[26] Sđd

[27] Giai phẩm Mùa xuân 1956 (Hà Nội, NXB Minh Đức, tháng 2/1956). Các tác giả khác là Văn Cao, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Sáng và Tô Vũ.

[28] George Boudarel và Kim Ninh đều đi đến kết luận giống nhau. Xem Boudarel, Cent fleurs, 134-138 và “Intellectual Dissidence”, 159; và Kim Ninh, A World Transformed, 137. Chúng tôi dùng từ “về cơ bản” chứ không phải “hoàn toàn” vì tuyển tập có nhiều bài viết về nhân vật chính là người dẫn chuyện ở ngôi thứ nhất (chứ không phải là quần chúng). Lãnh đạo đảng đương nhiên không muốn các trí thức tiểu tư sản viết về bản thân mình. Để biết thêm một ý kiến phân tích mới lạ về hiện tượng này, xem Chương bảy của Nguyễn-võ Thu-hương The Ironies of Freedom. Kuriharu đưa ra ý kiến rằng bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần có những dòng “có thể hiểu như lời kêu gọi thống nhất đất nước bằng cách đưa quân đội tiến chiếm miền Nam”, điều trái ngược với chính sách công khai được Đảng Lao động Việt Nam công bố lúc bấy giờ là thống nhất bằng biện pháp hòa bình. Xem Kuriharu “Changes in the Literary Policy”, 168. Cảm giác của chúng tôi là ý kiến trên có vẻ mang tính suy đoán hơi quá, nhưng rất mong độc giả quan tâm tìm hiểu thêm (xem khổ thơ thứ bảy).

[29] Trần Dần là một trong những trí thức đầu tiên lên tiếng về chính sách văn nghệ gò bó của đảng. Việc bày tỏ ý kiến công khai về vấn đề trên là một nguyên nhân khiến ông bị quản chế hai lần (tháng 6/1955 và tháng 4/1956). Boudarel gọi ông là người châm ngòi cho phong trào trí thức bất đồng chính kiến ở miền Bắc. Xem Boudarel, Cent fleurs, 143.

[30] Xuân Diệu, “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, Văn nghệ số 110, 1/3/1956.

[31] Hoài Thanh, “Vạch tính chất phản động của bài ‘Nhất định thắng’ của Trần Dần”, Văn nghệ, số 110, 1/3/1956.

[32] Một ví dụ là suy luận của ông này chụp mũ Trần Dần dùng hình ảnh mưa ở Hà Nội để vu khống miền Bắc. Một ví dụ nữa là suy luận (theo đường lối chính thống của đảng) rằng Trần Dần nói xấu miền Bắc khi thể hiện rằng đồng bào tự ý quyết định di cư vào Nam. Quan điểm chính thức của Đảng Lao động Việt Nam là, những người di cư là nạn nhân bị Mỹ, Diệm ép buộc phải đi.

[33] Nguyễn Đình Thi, “Những sai lầm về tư tưởng trong tập sách Giai Phẩm”, Văn nghệ, số 117 & 118, 19 và 27/4/1956.

[34] Xem các tác phẩm, ví dụ như, Lê Đạt, hai bài thơ “Làm thơ” và “Mới”; Trần Dần, thơ “Nhất định thắng”, Hoàng Cầm “Thơ qua đài phát thanh”; hay bài hát “Mưa Xuân” của Tử Phác và Văn Cao.

[35] Các nghiên cứu của Ilya V. Gaiduk và Christopher E. Goscha nhấn mạnh sự ngờ vực ban đầu của Stalin cho rằng Hồ Chí Minh thiên về chủ nghĩa dân tộc hơn là chủ nghĩa cộng sản và hậu quả của nó là sự khó khăn cho Đảng Cộng sản Đông Dương tái hòa nhập với phong trào cộng sản thế giới sau Chiến tranh Thế giới lần II. Tuy nhiên, có phải chính vì nguyên nhân này mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiệt tình lăng-xê Stalin hơn so với các quốc gia khác trong khối xã hội chủ nghĩa vẫn là giải thuyết cần nghiên cứu thêm. Xem Ilya V. Gaiduk Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1964 [Đối phó với Việt Nam: Chính sách của Liên Xô về xung đột ở Đông Dương, 1954-1964] (Standford: Stanford University Press, 2003); và Christopher E. Goscha “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the International Communist Movement (1945-1950) “Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2 (tháng 2-tháng 8/2006): 59-103 (Bài này đã được dịch và đăng trên talawas).

[36] Bằng chứng rõ nhất về sự đóng góp của Hồ Chí Minh vào việc xây dựng hình ảnh lý tưởng hóa chính  mình ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cách mạng tháng Tám là tự viết tiểu sử bản thân tự thuật (dưới dạng tiểu sử thông thường – dùng bút danh Trần Dân Tiên).

[37] Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh-The missing years, 1919-1941 [Hồ Chí Minh – những năm tháng biệt tăm: 1919 – 1941] (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 2002).

[38] “Vì sao sùng bái cá nhân lại trái với tinh thần chủ nghĩa Mác-Lê nin?”, Nhân Dân, số 759, 1/4/1956.

[39] “Nghị quyết của hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam lần thứ 9 (mở rộng) (19-24/4/1956), Nhân Dân, số 785, 27/4/1956.

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần 1)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

 

Trong giai đoạn 1954 – 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thông tin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất – 1946-1954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng. Họ cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến.[1] Nhưng giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi.

 

Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng – gồm những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn-Giai phẩm – là một trong những lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Phong trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản vào năm 1956 – báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm, đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn-Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng.[3] Gộp chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986.[4] Một yếu tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh, cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây.

 

Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia Nhân văn-Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước. Trong thực tế, nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[5] Thực ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của phong trào Nhân văn-Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân Diệu (1916-1985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?

Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa.[6] Chịu ảnh hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn-Giai phẩm để bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn-Giai phẩm là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”, chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng.[7]

 

Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồng Chính kiến, 1954-1964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et dissidence 1954-1964). Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bản Việt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky.[8] Học giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn-Giai phẩm chia sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất là tự do ngôn luận).[9] Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị chung.[10] Về động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn-Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”.[11]

 

Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:

“Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.[12] Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng” nhiệt tình hơn ai hết:

 

Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.

 

Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ của mình.[13]

 

Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viên trong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”[14] Chính vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân văn-Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước khi đánh giá về nhà thơ.

 

Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn-Giai phẩm của Kim Ninh (2002) và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa Mác-Lê trong khi các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị. Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn-Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau:

“Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (1916-1985) – bị mất cảm hứng lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Nam nào cũng vậy. [Những thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm như] nhà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần (1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (1887-1959), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993) chưa từng biến mình thành “những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều, không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.” [15]

 

Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng Lao động Việt Nam.

 

Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành viên của phong trào Nhân văn-Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp. Trước hết, cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đời sống tình cảm của mình.[16] Tuy nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[17] Vào tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng. Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm khi cân nhắc giá trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng.

 

Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” – khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ.[18] Ba nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng.[19]

Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lại gây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào?

 

 

 

Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu

Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng Quy Nhơn. Năm ông 11 tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học) và người vợ cả của ông quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường tiểu học gần nhà. Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế.[20] Năm ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới – cả hai đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi tiếng Hoài Thanh đã mô tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 như sau:

 

“Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”[21]

 

Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945) được người đương thời cho là kiệt tác. Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông sự cảm nhận sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra từ những câu thơ của Xuân Diệu.[22] Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽ thường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa.

Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tính của nhà thơ.[23] Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong văn chương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đề cập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu.[24]Hiển nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlaine và Rimbaud một cách thoải mái, cảm thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ cùng thời ở Paris”.[25] Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài “Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Tượng trưng Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:

  Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine, Hai chàng thi sĩ choáng hơi men, Say thơ xa lạ, mê tình bạn, Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.   Những bước song song xéo dặm trường Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương, Họ đi, tay yếu trong tay mạnh, Nghe hát ân tình giữa gió sương.   Kể chi chuyện trước với ngày sau; Quên ngó môi son với áo màu; Thây kệ thiên đường và địa ngục! Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

 

 

Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của nhà thơ. Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Nam không hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng.

 

 

 

Giai đoạn mới tham gia cách mạng

Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam, có những dòng như sau:

  Nếu “thi sĩ là ru với gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” … Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn, Véo von ca cho át tiếng kêu than Của nhân loại cần lao đang giãy giụa Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa Là tai ương chướng họa của nhân quần,[26]

 

Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng bí thư.[27] Hai năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho Việt Minh – tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương.[28]  Đối với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng, điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông – cũng như những ứng cử viên được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[29] Vào tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới Fontainebleau để hội đàm với Pháp.

 

Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp, làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơ quan văn học kháng chiến.[30]

 

Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn Nghệ. Thực chất tạp chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn so với tờ Tiên Phong đang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại. Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn này như một định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn – Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ chỉ gồm năm người.[31]

 

Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại Từ – chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới – nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc – cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc – nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến.[32]

 

Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Minh đang tăng cao.[33] Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường lối lãnh đạo cách mạng. Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấn của Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình” để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cách mạng khó khăn.

Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau:

 

“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”[34]

 

Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết”.[35]

 

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ Việt Minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người chiến thắng, – nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã. Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường tư tưởng vững vàng):

 

“Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi. Muốn vùi đầu quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt. Ta có phải là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”[36]

 

Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách khác, những người đã từng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng:

 

“Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch! Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứt xuống bùn nhơ! Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ với xâm lăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn đề sống chết của những con người văn nghệ.”[37]

 

Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người con.[38]

 

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổi tiếng.[39]

 

Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờ Văn Nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn – có thể sánh với các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này. Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (1945-1946), chức vụ này rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức không theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Nam không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới. (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn Nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự.

(còn tiếp)

 

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Chú thích

[1] Đảng Cộng sản Đông Dương (1931-1945) là tiền thân của Đảng Lao động Việt Nam (1951-1975) và Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-nay).

[2] Mạc Đình, Tâm trạng của giới Văn nghệ ở miền Bắc (Sài gòn, 1956 – không rõ tên nhà xuất bản); P.J. Honey “The Revolt of the Intellectuals in North Vietnam” (Cuộc nổi dậy của các trí thức miền Bắc), The World Today 13, No.6 (June 1957): 250-260; Hoa Mai, biên tập, The “Nhân Văn” Affair [Vụ Nhân Văn] (Sài Gòn: The Vietnam Chapter of the Asian People’s Anti-Communist League, 1958); Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam [Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam] (Sài Gòn: Công Dân, 1958); Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Sài Gòn: Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn hóa, 1959); Như Phong “Intellectuals, Writers, and Artists,” (Trí thức, Văn sĩ và Nghệ sĩ) China Quarterly, no.9 (Jan-March 1962): 47-69; Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism [Từ thực dân đến cộng sản] (London, Pall Mall Press, 1964; Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers Party, 1956-1958” (Những thay đổi trong chính sách văn học của Đảng Lao động Việt Nam, 1956-1958) trong Indochina in the 1940s and 1950s, eds. Takashi Shiraishi and Motoo Furata (Ithaca, NY: Sotheast Asia Program Cornell University, 1992), (Nguyên bản tiếng Nhật của bài luận của Kurihara được đăng trên Journal of Asian and African Studies, 1988); Georges Boudarel, Cent fleurs ecloses dans la nuit du Vietnam: Communism et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa vẫn nở trong đêm Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản và bất đồng chính kiến 1954-1956] (Paris: Editions Jacques Bertoin, 1991); Georges Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s: The Nhan van-Giai pham Affair” [Trí thức bất đồng chính kiến trong thập niên 1950: Vụ Nhân văn-Giai phẩm], Phi Linh Baneth lược dịch từ tiếng Pháp, Vietnam Forum 13 (1990): 154-174; Kim Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam [Một thế giới đã hoán cải: Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics” [Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria, 2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần bất phục đến người đàn bà quỳ).

[3] Boudarel, “Intellectual Dissidence”, 172.

[4] Bà Thụy Khuê, trí thức người Pháp gốc Việt đáng được ghi nhận đặc biệt vì đã thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn với các nhân vật Nhân văn-Giai phẩm trong chương trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI.

[5] Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Nguyễn Công Hoan, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hồng Chương, và những người khác.

[6] Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa, 148.

[7] Mạc Đình, Trăm Hoa, 12-13. Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism, 230-231.

[8] Tất nhiên là sự so sánh này cũng có chỗ khập khiễng. Vào năm 1990, khi Boudarel viết cuốn sách này, ông đã có thành kiến với chủ nghĩa cộng sản trong khi Trotsky vào năm 1936 viết ở góc độ một tín đồ chân thực.

[9] Về thái độ cùng căm ghét Tố Hữu, xem Boudarel, Cent fleurs, 245. Về thái độ thù nghịch chủ nghĩa Mao-ít và sự mong muốn chế độ thực hiện những cam kết đã hứa, xem Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s”, lần lượt ở các trang 154 và 164.

[10] Boudarel, Cent fleurs, 245.

[11] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s”, 164-165. Trong Cent fleurs tác giả viết: “Xuân Diệu, cùng với người bạn chí thiết Huy Cận, có quan hệ rất tốt với Tố Hữu và những người phụ trách văn hóa của đảng – chỉ trích một người là động đến tất cả những người khác (trong bọn họ)”: 235.

[12] Hồ sơ về Xuân Diệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ghi ông gia nhập đảng năm 1949.

[13] Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1993), 208-209.

[14] Sđd., 269.

[15] Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam”, 6.

[16] Cả Trần Dần và Hoàng Cầm đều yêu những người phụ nữ Hà Nội mà theo quan điểm của đảng là xuất thân từ giai cấp bóc lột. Xem Kim Ninh, A World Transformed, 123-133. Chuyện tình của Lê Đạt được ít người biết đến hơn. Khi tham gia cải cách ruộng đất năm 1953, ông cưới một phụ nữ thuộc tầng lớp bần nông, rồi chẳng bao lâu sau bỏ bà để lấy một nữ diễn viên trẻ, việc này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín chính trị của ông.

[17] Trong tiếng Việt, văn nghệ là từ được ghép từ hai từ “văn học” và “nghệ thuật”. Nhưng cụm từ “văn nghệ” cũng có thể được hiểu theo nghĩa “văn hóa” – ví dụ như sáng tạo (hoặc quản lý) văn hóa/văn nghệ.

[18] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21-28/6/1956.

[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1, tháng 8/1956; Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, sối 1, 20/9/1956; Nguyễn Bính, “Về giải thưởng văn học 1954-1955”, Trăm Hoa, số 1, tháng 10/1956.

[20] Dưới chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945, tên Trường Bưởi Hà nội chính thức được đổi thành Trường Chu Văn An, và được giữ nguyên đến nay. Trường Quốc học Huế đã qua vài lần đổi tên. Khi người Pháp thành lập trường vào năm 1896, tên chính thức của trường là École primaire superieur, nhưng người Việt thường gọi là Trường Quốc học. Năm 1936, trường đổi tên thành Trường Trung học Khải Định. Năm 1955, lại đổi thành Trường Trung học Ngô Đình Diệm. Năm 1957, trường được trả lại tên cũ Quốc học, và được giữ nguyên đến nay. Như rất nhiều người đã biết, nhiều nhân vật chính trị quan trọng đã học qua hai trường này. Điểm qua danh sách cựu học sinh trường Bưởi có Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Đức Thảo, Dương Trung Quốc, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Ngọc Phách, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khắc Viện, và nhiều người khác. Ở trường Quốc học Huế, có Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Lưu Trọng Lư, Huy Cận và Xuân Diệu. Chính trường Quốc học Huế là nơi Xuân Diệu gặp người tình suốt đời Huy Cận.

[21] Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 (Hà Nội: Nxb. Văn Học, 2005. Theo lời nhà xuất bản, đây là bản in lại nguyên tác do Nxb. Nguyễn Đức Phiên in năm 1942).

[22] Xuân Diệu, Thơ thơ và Gửi hương cho gió (Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn, 1995). Những ý kiến phê bình thơ Xuân Diệu có thể đọc được từ: Thanh Lãng, 13 năm tranh luận văn học, 1932-1945 (TP HCM: Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM, 1995).

[23] Đọc các bài viết, ví dụ như của Hà Minh Đức, Xuân Diệu: Ông hoàng của thơ tình yêu (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2004).

[24] Nguyễn Quốc Vinh, “Deviant Bodies and Dynamics of Displacement of Homoerotic Desire in Vietnamese Literature from and about the French Colonial Period (1858-1954)” [Biến thái hình thể và những mâu thuẫn xung quanh chủ đề khát khao tình dục đồng tính trong và sau giai đoạn Pháp thuộc, 1858-1954], Hợp Lưu số 42, tháng 8-9, 41-53. Trong luận án tiến sĩ đang viết, Richard Trần dành một chương để bàn về tình yêu đồng giới của Xuân Diệu trong những năm tiền cách mạng.

[25] Kim Ninh, A World Transformed, 59.

[26] Sóng Hồng (Trường Chinh), Thơ (Hà Nội: Văn Học, 1966) 25-28.

[27] Một bài trên báo Công an Nhân dân ngày 7/2/2007 nhan đề “‘Là thi sĩ’ của Sóng Hồng phê phán ‘Cảm xúc’ của Xuân Diệu?” cho rằng Trường Chinh viết bài thơ ban đầu là để vận động một thư ký doanh trại lính Pháp rất yêu thơ tham gia cách mạng.

[28] Từ điển Văn học (Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1984), 604.

[29] Sau khi giành chính quyền tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương dành ra mấy tháng sau đó để truy tầm và xử tử vài ngàn người bị coi là phần tử chính trị nguy hiểm (nhất là đảng viên các đảng đối lập). Vì vậy, khó có thể tưởng tượng được rằng lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương nghiêm túc thực hiện “dân chủ đại diện” trong cuộc tổng tuyển cử tháng Giêng năm 1946. Không rõ Xuân Diệu, gốc Quy Nhơn quê Hà Tĩnh, có liên hệ cụ thể gì với tỉnh Hải Dương.

[30] “Đỗ Ngọc Dũng, “Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Hội Văn nghệ Việt Nam: 25/7/1948-25/7/2008, 16/7/2008”. http://dodungart.vnweblogs.com/post/3574/80401 (truy cập ngày 5/5/2010)

[31] Sđd. Xuân Diệu phụ trách “tổ chức kiểm tra”. Trong bốn người còn lại, Nguyễn Tuân là Tổng thư ký, Tố Hữu Phó Tổng thư ký, Võ Đức Diên phụ trách kinh tế và Ngô Quang Châu làm quản trị.

[32] “Nghị quyết Hội Nghị Thống Nhất Hai Khu 1 và Khu 10: 5/11/49, Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Hà Nội: Chính trị Quốc Gia, 2001), 10:427. Cần phân biệt “Việt Bắc” khác với “miền Bắc”, là khái niệm rộng hơn, dùng để chỉ 1 trong 3 kỳ thời Pháp thuộc, và sau Hiệp định Geneva 1954, chỉ một nửa đất nước tính từ phía bắc vĩ tuyến 17.

[33] Tịnh Hà, Xuân Diệu: Con người và Tác phẩm (Hà Nội: Văn Học, 1987), 11.

[34] Tô Hoài, Cát bụi chân ai (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 1992), 198.

[35] Sđd, 199.

[36] Xuân Diệu, “Thư gửi các bạn văn nghệ ở Hà Nội”, Văn nghệ, số 56, tháng 10/1954.

[37] Sđd.

[38] Sau đó, Huy Cận lấy người vợ thứ hai, và cũng là cuối cùng, bà Trần Lệ Thu, giảng viên tiếng Nga, Đại học Ngoại ngữ vào năm 1964, khi bà 28 tuổi. Họ có với nhau ba người con.

[39] Sau năm 1975, hai anh em được đoàn tụ và cùng cộng tác trong một số dự án văn học.

 

VÀI LỜI THUYẾT MINH

VÀI LỜI THUYẾT MINH

Sau khi tập sách tiểu luạn-phê bình TỪNG ĐOẠN ĐƯỜNG VĂN xuất bản (tháng 10/2016), một số bạn quen biết có hỏi tác giả: bài “Xuân Diệu, những năm 1954-1958” trong sách và bài cùng đề tài đã đăng Tạp chí Việt Nam học Journal of Vietnamese Studies có gì khác nhau?

Xin nói gọn: đấy là hai bài viết khác nhau về cùng một đề tài.

Tạm lược kể: bài “Xuân Diệu, những năm 1954-1958” tôi viết xong hồi 2008, thuộc loại bài khó đăng ở các báo in trong nước. Khi đó, bạn Peter Zinoman — giảng viên khoa Sử Đại học California ở Berkeley — đang trong thời gian đưa học trò đi nghiên cứu ở Việt Nam, được tôi gửi cho đọc bài trên, đã đề nghị tôi đồng ý để Tạp chí Việt Nam học Journal of Vietnamese Studies tổ chức người dịch và đăng tải.

Sau một vài bạn thử bút với bài này, đến Alec Holcombe, khi ấy là nghiên cứu sinh cũng đang viết luận án sử học về thời kỳ những năm 1954-1958 ở miền Bắc Việt Nam, đã nhận lời làm việc với bài viết bằng chữ Việt kể trên của tôi, với một đề nghị là Alec sẽ xem bài tôi đã viết như một thứ đề cương, Alec sẽ kể lại câu chuyện — đúng hơn là những câu chuyện — theo cách thích hợp với bạn đọc Mỹ, cũng theo cách mà chính Alec đang đi đọc tài liệu và xúc tiếp với con người để tự hình dung ra.

Tất nhiên là tôi tán đồng và cổ vũ cách làm ấy. Có những lần tôi đưa Alec đi đến một vài nơi, không xa Hà Nội lắm, để nghe một vài người già kể những việc họ từng trải nghiệm ở thời gian những năm 1950s. Lại có lần, Alec và nhiều bạn của Alec cùng tôi, cũng đi cách Hà Nội khá xa, để hiểu thêm về một thời gian đã đi qua từ lâu những còn để lại ít nhiều dấu tích có thể quan sát …

Thỉnh thoảng Alec có kể với tôi từng đoạn mà Alec đã hoặc sẽ viết. Cũng thỉnh thoảng Alec nghĩ tới một điều gì đó, gửi email cho tôi với mấy chữ mở đầu “Chú ơi!” rồi mới nêu câu hỏi… Lại có lúc, tôi nghĩ sẽ giúp ích cho Alec nên mang máy ảnh đi chụp một số ngôi nhà ở Hà Nội có dấu những cư dân là nhà văn nhà thơ, như 65 Nguyễn Thái Học, 24 Cột Cờ, v.v… Tôi hiểu là cả bài tôi đã viết lẫn những điều tôi có thể cung cấp thêm cũng chỉ như gợi ý, còn chính Alec thì anh đã viết lại bài kể trên hầu như cùng lúc với việc viết bản luận án của anh.

Cuối năm 2010, tôi được các bạn từ Mỹ báo tin: bài mà Alec viết dựa trên bài tiếng Việt ban đầu của tôi, đã in trong số mùa đông của tạp chí Việt Nam học. Còn Alec Holcombe, trước hoặc sau đó đã đậu Tiến sĩ, nhận chỗ dạy chính thức ở một trường Đại học trên đất Mỹ.

Còn bản chữ Việt của tôi, từ 2009, một vài trang bái điện tử cũng đã trích đăng lên mạng. Chỉ đến tháng 10/2016 toàn bài mới được công bố dưới dạng bản in chữ giấy trong tập sách tiểu luận phê bình văn học thứ sáu của tôi, “Từng đoạn đường văn”.

Dưới đây là toàn bộ bản dịch bài tiếng Anh do Alec Holcombe viết.

Bản dịch do bạn ĐÔNG HIẾN thực hiện, đã đăng trên báo điện tử TALAWAS do nhà văn Phạm Thị Hoài chủ trì, hồi cuối năm 2010, trước khi tờ báo này ngừng hoạt động.

Bản dịch chia làm 6 kỳ, có nhiều mục nhỏ.

L.N.A.

HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN viết 1953: VẼ ĐỊA CHỦ

Đợt hai phát động quần chúng, tôi được đi tham gia. Đi để phục vụ nông dân đấu tranh và cũng để cải tạo mình trong nhiệm vụ đó. Vốn là chuyên môn họa nhưng làm công tác người đội viên đơn thuần của đội phát động. Khi đấu tranh đã thắng, đại hội liên hoan tổ chức, tôi mới có dịp sử dụng chuyên môn chung với mấy anh em cùng nghề, vẽ tranh triển lãm, diễn lại một vài khía cạnh qua quá trình tranh đấu.

Phần tôi có làm mấy bức họa. Riêng một bức được anh em nông dân khuyến khích. Sự khuyến khích này đã chuyển vào tâm thần tôi một khí hậu phấn khởi rồn rập. Những đề tài tôi tưởng tượng sáng tác trong phát động trước đây còn chập chờn mờ mỏng, thì nay bỗng vụt lên rõ rệt, thúc bách tôi đem màu sắc đẩy nó hiện hình trên tấm họa. Sư khuyến khích lại tô thắm, thêm duyên cho cái tình giữa người họa và anh em nông dân. Lòng tin ở sức phục vụ cho chuyên môn mình thấy cường tráng lắm.

Tôi công tác tại xã Ninh Dân, huyện Thanh Ba. Bức tranh tôi nói trên tả một cảnh đấu trường ở đấy trình bày đóng khung vào hai nhân vật: bủ cố nông đang đấu và tên địa chủ phản động gian ác Đỗ Văn Hiện cúi gầm, quỳ gục dưới mắt bủ. Cảnh này đã đập vào xúc cảm tôi cực kỳ mạnh. Thằng Hiện, tôi nhìn chỉ có phảng phất bóng dáng con người. Đầu nó cúi, cái sọ trơn trọc hung hãn, hai tai nhọn hoắt như tai ác thú, quai hàm nó rộng bạnh ra, cánh tay thả xuống dài bằng chân, đôi mắt đỏ ngầu máu. Tâm hồn thú vật của nó tiết tỏa khắp thân hình.

Mãi hôm đấu tôi mới thấy nó, nhưng thực thì tôi đã “biết” nó từ lúc nông dân được phát động, đã chứng kiến con người thú vật ấy hiện nguyên hình dần dần, mỗi lúc một rõ thêm lên, qua những đêm và ngày tố khổ của anh em bần cố. Cánh tay dài kia đã quặp chiếc búa tạ đuổi theo chị người làm bị nó định hiếp nhưng vùng chạy được, thằng Hiện ném như thế nào tôi đã rõ. Miệng nó há ra thế nào để nốc từng lít rượu, quai hàm nó bạnh ra sao để hốc từng cân thịt ăn cướp của nông dân để rồi phun ra những giọng gian ác, phản động đối với kháng chiến, anh em bần cố đã chi tiết vẽ hộ tôi cả.

Rồi nhìn cánh đồng bao la, đồi chè liên tiếp thuộc nhà nó, tôi lại nhớ đến những mưu mô mánh khóe lươn lẹo thằng Hiện đã dùng để chiếm đoạt. Rồi khi ăn khi nằm cùng anh em bần cố mà quanh năm chỉ ngày tết mới được bữa cơm không độn, tôi lại càng nhìn thấy bàn tay tàn nhẫn của nó. Hình thù thằng Hiện, nhờ vậy, nhờ sự cảm thấy một phần cùng cực của anh em mà trở thành cụ thể trong óc tôi, và đêm hôm đấu, thoạt tiên trông thấy nó, tôi sửng sốt vì nó giống một cách lạ lùng với thằng Hiện tôi tưởng tượng.

Sự thống nhất này đã giúp tôi ghi lại nhân vật địa chủ được một phần nào giống. Anh em nông dân nhận thấy thế. Mới một phần nào thôi. Đường đi đến giống hoàn toàn, diễn thằng địch hay diễn anh em nông dân cũng vậy, giống được hoàn toàn, về phần tôi thấy mình còn phải qua nhiều cố gắng gian khổ.

Câu chuyện GIỐNG là tất cả một vấn đề nó không phải công việc ghi chép hình thức bên ngoài nhân vật thôi đâu. Không thông cảm với anh em nông dân nổi thì không “truyền thần” anh em được, mà cả thằng địch cũng không thể giống nốt. Và muốn thông cảm lại phải giải quyết một dãy vấn đề do bản chất tiểu tư sản nghệ sĩ, bị văn hóa đế quốc đầu độc của mình gây ra. Vấn đề của câu chuyện GIỐNG này, tôi cũng kết luận như các bạn trước mọi vấn đề khó khăn rằng đó là một vấn đề tư tưởng.

Nhưng khó khăn gì mà chẳng vượt. Bác bảo: có tín tâm quyết tâm là tất thắng. Anh em nông dân đã truyền cho tôi một lòng tin cường tráng. Và tôi đã quyết tâm.

10-3-1954

TÔ NGỌC VÂN

Ngun:

  • Tạp chí VĂN NGHỆ, [Việt Bắc] s. 3 (tháng Ba 1954)

[Rút từ Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, tập 7: 1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 2005, tr. 160-161]

  • Báo VĂN NGHỆ, Hà Nội, s. 75 (20.6.1955) [báo đăng lại bài này nhân đợt văn nghệ sĩ tham gia đi phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất ở vùng đồng bằng sông Hồng]