Trang chủ » Posts tagged 'báo chí'

Tag Archives: báo chí

Một truyện ngắn cho thiếu nhi của THỤY AN: CHUYỆN BỐ, MẸ, BÉ VÀ CON BÚP BÊ

Bố chải tóc cho Bé xong, bèn ấy cái gương giơ trước mặt Bé: “Con gái của bố xem này, có xỉnh xình xinh không nào?” Bé nhìn vào gương, lắc đầu bên phải, lắc đầu bên trái, ngoe nguẩy hai cái đuôi sam tí teo, ngọn thót như đuôi chuột, có buộc hai chiếc nơ đỏ, giống như hai cánh hoa rất to, đóng khuôn lấy mặt Bé. Bé nhoẻn miệng cười, vẻ bằng lòng lắm.

Bố vẫn chịu khó lồng ngón tay vào cái móc sau chiếc gương, giữ cho Bé soi. Bé nghĩ: “Phải vẽ con bé trong gương này. Một khoanh tròn to là mặt, hai chấm tròn nhỏ là mắt, một vạch dài xuống là mũi, một khoanh tròn vừa là miệng. Con bé nó lại cười, mình phải vẽ cả mấy chiếc răng. Còn hai cái nơ đỏ nữa, lấy gì mà tô màu?” Thò hộp bút chì nào mẹ mua cho, Bé cũng làm cùn cụt. Bé nhớ ra rồi, Bé bỏ gương chạy tót đến bàn, vơ chiếc bút chì đỏ to gộc của bố, thủ luôn vào nách rồi mới quay ra hỏi bố: “Cho Bé mượn chiếc bút chì đỏ bố nhé”. Bố ngần ngừ: “Ừ, nhưng mà hãy để đấy, còn đi chơi với bố nữa kia mà”.

Lập tức Bé bỏ rơi cái bút chì và quên ngay cả con bé trong gương định vẽ. Bé nhảy cẫng lên: “Rồi bố mua kem cho Bé, bố nhớ!” Miệng Bé tắc lẻm, đánh lưỡi choẹt một cái: Kem thì còn phải kể. Cắn khấc một cục, buốt lạnh lưỡi, rụt cả đầu cả cổ, cục kem tan dần ngọt lự… Thật không có gì bằng kem, vừa được ăn lại vừa được chơi với nó. Bố cũng thích kem lắm nhớ! Hai bố con hai que kem ngồi ở ghế bờ hồ, nhẩn nha… Chao! Những lúc ấy sao mà Bé yêu bố thế. Bé không cần mẹ. Mẹ cứ việc đi công tác xa nhà bao nhiêu đêm Bé cũng không cần. Kem và Bố đủ rồi…

Mẹ thì ghét kem lắm. Mẹ bảo: “Bé ăn kem, chỉ tổ té re”. Nghĩ thế, mặt Bé đỏ đỏ. Thôi, thèm vào, chả nhớ chuyện xấu hổ ấy. Bé níu chặt bàn tay Bố, thỏ thẻ: “Hôm nay Bố mua kem xanh Bố nhé!” Bố trả lời: “Bố còn mua cho Bé một thứ thích hơn kem cơ. Đố Bé biết là cái gì nào?” Trí khôn ngắn ngủn của Bé đoán làm sao được. Bé bảo: “Con chỉ thích kem thôi”. Bố quệt vào má Bé: “Con nhà khờ dại quá”.

Hai bố con lại ngồi trên ghế trông ra hồ. Bố cũng mua kem cho Bé như mọi khi, chiếc kem xanh mà Bé đang ao ước. Nhưng khác mọi khi, hôm nay Bố không ăn. Bé nghĩ: Hay tại Bé chọn kem xanh, Bố không biết ăn chăng? Lập tức, Bé thẩy que kem giả chú bán kem: “Bé ăn kem “tắng” cơ, cho bố ăn mấy”. Bố hiểu lòng thảo của Bé, bố ấn lại que kem xanh vào tay Bé, hôn chụt má Bé, hít hà: “Con gái tôi, con gái tôi, khôn láu quá!” Bé chẳng hiểu ra sao nữa. Hồi nãy Bố vừa chê Bé dại khờ xong.

Bố ngồi bên cạnh Bé, không ngớt ngắm Bé, Bố tư lự lắm. Bé có vẻ rất bằng lòng, rất sung sướng với chiếc kem. Bé không còn một đòi hỏi nào, một ước mơ nào khác! Vậy thì Bố có nên cứ mua cho Bé cái mà Bố bảo là còn “hơn cả kem” không? Bố bỗng thấy những nét phả phê hớn hở trên mặt Bé mờ dần, nhường chỗ cho những nét phụng phịu thèm muốn hôm nào Bố và Mẹ dắt Bé đi xem búp-bê Tiệp-khắc ở cửa hàng mậu dịch Tràng Tiền.

Lần thứ nhất Bé nhìn thấy những búp-bê to và đẹp đến thế, biết thức biết ngủ. Bé thích nhất cái con bê có hai đuôi sam vắt vẻo như Bé. Nó cũng có áo mới váy mới bằng vải hoa như Bé. Bé bảo Mẹ mở tủ lấy bê cho Bé mang về. Mẹ sùy: “Phải có tiền mua chứ?” Bé trỏ vào túi tay của Mẹ: “Tiền trong ấy đấy thôi”. Bố bảo: “Ngần ấy không đủ, phải có nhiều hơn thế”. Bé đứng ngẩn người, gọi thầm bê: “Bê ơi! Bê ra với tôi… tôi cho ăn kem”. Bê bị nhốt trong tủ kính, không nhúc nhích. Bé thương bê quá, thèm bê nhiều hơn thèm kem. Nhưng phải nhiều tiền mới mua được bê thì… chịu thôi.

Những việc những lời xảy ra quanh Bé, lọt vào tai Bé đã làm Bé biết được rằng: những cái gì nhiều tiền thì Bố, Mẹ chưa mua được, còn đợi để chính phủ giàu đã, nhân dân giàu đã. Đến Bé muốn ăn hai chiếc kem, Bố cũng bảo: “Hạn quà của con chỉ có một trăm thôi, đợi chính phủ giàu, nhân dân giàu, con tha hồ ăn”. Bé quay lại hỏi Bố: “Bố ơi! Thế bao giờ chính phủ giàu, nhân dân giàu hả Bố?” Bố thuận miệng đáp: “Ít nữa thôi”.

Ít nữa đối với Bé là lâu lắm. Bé thì muốn có bê ngay bây giờ. Bé cứ đứng thần ra ngắm, Bố Mẹ giục không đi. Mẹ sốt ruột dọa: “Này người ta sắp đóng cửa hàng đấy. Hay Bé ở lại đây một mình với búp-bê”. Bé yêu bê thật, nhưng ở lại đây một mình với bao nhiêu cái lạ này, lỡ lại bị nhốt vào cái tủ như bê thì Bé chịu thôi, sợ lắm. Bé đành thui thủi theo Bố Mẹ đi. Chỗ lông mày giao nhau ửng đỏ, triệu chứng Bé chỉ chờ cơ hội là khóc.

Về nhà, Bé cũng còn ngơ ngẩn nhớ búp-bê, ôm cái gối dài của Bé nựng nịu. Tối đi ngủ Bé không rời con búp-bê tưởng tượng. Bố Mẹ suy nghĩ lắm. Mẹ chép miệng: “Tội nghiệp nó thèm con búp-bê quá. Chắc ngủ mê cũng thấy”. Vì chuyện con búp-bê, Bố Mẹ mới nhận ra một điều là lấy nhau chín năm rồi, đã có mụn con là Bé đấy, lên bảy tuổi, đã biết về nhau tất cả mọi nỗi cực khổ vất vả, nhất là từ trong cuộc phát động quần chúng hồi đầu năm ngoái ở quê nhà, cả Bố cũng được về phối hợp đấu tranh, thế mà vẫn còn một cái khổ Mẹ quên chưa nói với Bố.

Mẹ kể: “Chả phải bây giờ ra Hà Nội công tác, em mới được ngắm búp-bê to như thế đâu. Em nhìn thấy từ ngày xưa, em chỉ nhỉnh hơn cái Bé nhà ta một hai tuổi. Nhìn con búp-bê của con lão chủ đồn điền ấy mà. Bố con nó về chơi đồn điền, búp-bê để ngoài ô-tô hòm, cửa kính đóng kín. Em trèo lên bệ xe nhìn vào. Con búp-bê to như đứa bé mới đẻ. Em nghĩ giá được bế một cái, nhịn ăn cả tháng cũng được. Bất đồ, mải ngắm thì bố con thằng chủ điền ra, mở cửa xe đằng trước, leo lên. Em chỉ còn kịp ngồi thụp xuống bệ, chưa nhẩy được ra thì thằng chủ mở máy cho xe chạy, hất em ngã sóng soài xuống đường, đầu va vào đá toạc mảng to, còn cái sẹo đây này”.

Mẹ nhấc bàn tay Bố luồn qua tóc sau ót, sờ chiếc sẹo, tóc không bao giờ mọc lên nữa. Mẹ nghe thiếng ực ực, không biết có phải tiếng Bố khóc hay tiếng Bé thổn thức trong mơ. Kết quả câu chuyện là gần về sáng, Bố Mẹ bảo nhau: “Thôi, kỳ truy lĩnh này, hai vợ chồng thế nào cũng có hai phiếu mua hàng mậu dịch, sẽ nhịn một phần mua cho Bé con búp-bê. Con đã có áo hoa, giầy da, nơ buộc tóc. Con còn phải có búp-bê chơi”.

Bố Mẹ quyết định thì bên gối Bé thiêm thiếp giấc nồng. Nhưng càng gần ngày được nhận truy lĩnh, Bố thấy Mẹ hình như có vẻ giãn quyết định ra. Không hẳn là Mẹ bảo không mua búp-bê cho Bé nữa, Mẹ chỉ dáo lên những thứ cần phải mua với hai phiếu mua hàng, đại để như vải, ấm nhôm, thau chậu. Mẹ bảo: “Rồi sắp một cái thau cũ không đủ đâu”. Tính những thứ Mẹ muốn mua thì đến bốn phiếu cũng hết. Bố vốn cái tính tẩm ngẩm, cứ để cho Mẹ toan tính. Bố cũng không nhắc gì chuyện con búp-bê hai người đã ước hẹn thầm với Bé.

Cho đến chiều nay, Bố về nhà với tấm phiếu mua hàng trong túi. Bố chải đầu làm dáng cho con gái, dắt con gái đi, lén Mẹ. Thế nào Bố cũng mua cho con gái Bố con búp-bê. Bố không sợ người khác mua mất. Chị bán hàng đã bảo Bố: “Mậu dịch biết thế nào cũng có nhiều người bố mua búp-bê cho con nên mậu dịch đặt mua bên Tiệp-khắc về nhiều lắm”. Bố chợt mỉm cười: “Một nông dân Việt Nam mua búp-bê của Tiệp-khắc cho con chơi. Du thật. Chuyện ấy xưa kia có ai dám nghĩ đến không?” Bố bảo Bé: “Đi con!” Bé lơn tơn cạnh Bố. Ăn hết que kem rồi, nghe chân đi kém dẻo dang. Bố nhấc bổng Bé lên như nhấc bổng chiếc ba-lô. Hai bố con vào mậu dịch.

Bé nhẩy cẫng, trụt khỏi tay Bố. Con búp-bê của Bé vẫn ở trong tủ. Khác cái, lần này Bé đứng mãi chắc mỏi chân, đã ngồi xuống rồi, chân duỗi dài ra như đang chơi nu na nu nống. Bé dán mũi vào cửa kính, tìm chuyện nói với búp-bê. Chợt một bàn tay lạ kéo Bé lùi xa cửa kính, thò tay vào trong tủ, nhấc đúng bê của Bé ra và đặt vào tay Bé. Bé ôm lấy không chút ngỡ ngàng. Bé nhìn Bố khoe: “Bố ơi! Cô này cho con búp-bê”. Cô bán hàng cười: “Bố em mua cho em đấy!” Bé cuống quýt giục Bố: “Về bố, về bố, về khoe mẹ!”

Hai bàn tay Bé khư khư ôm búp-bê vào ngực. Có lúc Bé quên cả Bố đi bên cạnh. Bé còn mải nói chuyện với bê. Rằng: “Bê về nhà phải ngoan nhé, đừng quấy, mẹ hay mắng lắm. Khi nào mẹ mắng thì túm lấy quần bố. Mẹ đi công tác đã có bố ở nhà, bố đi công tác đã có mẹ, cả mẹ, bố cùng đi thì đã có các cô các chú, nhiều cô chú lắm”.

Bé mới nói chuyện đến đấy thì đã lại đến bờ hồ rồi. Bố nói: “Nghỉ một tí Bé ạ”. Bé đồng ý ngay, được dịp cho bê xem bờ hồ. Bê ở lâu trong tủ kính chắc nóng lắm. Bé đưa bê ra bờ cỏ sát hồ. Hai chị em ngồi giãi thẻ, ngoảnh mặt ra hồ ngắm cảnh.

Bố ngồi xuống thì lấy tay vỗ đùi, một cử chỉ đã thành thói quen từ khi thương tích ở đùi của Bố bị trong một cuộc xung kích ở đồn Tây được mổ ra lấy đạn đã lành. Vết thương đồng thời cũng đổi Bố từ một chiến sĩ chiến đấu thành ra một thương binh chuyển ngành và làm cho Bố đi một quãng đường lại thấy mỏi mỏi. Nhưng bây giờ Bố ngồi nghỉ, còn vì bỗng thấy ngại gặp Mẹ, ngại nghe Mẹ phê bình. Phê bình đúng hẳn chứ. Thực tế Bố Mẹ đã đến mức mua đồ chơi đắt tiền hàng vạn bạc cho con đâu. Kế hoạch 56 chưa xong, mọi người còn thắt lưng buộc bụng, nhà còn thiếu đồ thiết dụng… Một vạn bạc là … hai yến rưỡi gạo. Bố nhìn Bé đang cười rúc rich với búp-bê. Bố bèn nhẩm lại những lý lẽ đanh thép để tự bào chữa: cái sẹo trên đầu Mẹ, vết thương ở đầu gối Bố, tất cả để cho Bé được sung sướng. Bố không ngại gặp Mẹ nữa.

Bố vừa toan gọi Bé đi về, thì Mẹ từ đâu ùa tới, đặt phịch một gói lên lòng Bố, tíu tít:

–  Về nhà không thấy bố con đâu, biết ngay lại chỉ ra đây. Anh mở xem…

Chưa hết câu, lại gọi Bé:

–  Bé ơi! Lại đây! Lại đây!

Bé ôm búp-bê khệ nệ bước lại. Mẹ nhìn búp-bê trên tay Bé, đờ người, thốt tiếng: “Ơ hay!…” Bố mở gói ra thấy con búp-bê cũng “Ơ hay!” Duy có Bé không ngạc nhiên gì cả, reo một tràng dài: “A! Cả mẹ cũng mua búp-bê cho Bé nữa!” Bé điềm nhiên dang tay ôm nốt con búp-bê mẹ vừa mang lại, đi về chỗ cũ, đặt song song xuống cỏ. Con Bố bên này, con Mẹ bên này. Sao hai con giống nhau thế, Bé lầm rồi đây này. Bé thích con bê của Bố hơn. Nó đã thân với Bé trước. Bé phải làm thế nào để khỏi lẫn với con của Mẹ? Bé nghĩ nhạy lắm. Bé sẽ tháo nơ đỏ của Bé buộc sau lưng cho bê Bố làm khăn quàng đỏ. Bé bảo con bê Mẹ mua: “Còn mày đến sau phải quàng khăn đỏ sau nghe chưa?”

Bé liếc nhìn Mẹ, Mẹ mà biết thì Mẹ giận đấy. Mà Mẹ đang giận thật, có điều là đang giận Bố chứ không phải giận Bé. Mẹ nói lầm bầm. Bố cũng nói lầm bầm. Bé nghe loáng thoáng những lời gắt gưởi: lãng phí, đem giả đi, đừng trẻ con, mua rồi còn đem giả, chiều con lắm vào.

Nghe đến câu chiều con thì Bé chán quá, không nghe nữa. Vì Bé nghĩ mãi rồi. Lúc thì là Bố cự Mẹ thế, lúc thì là Mẹ cự Bố thế, nguy hiểm là có lúc cả hai cùng nhận lỗi với nhau đã chiều Bé. Thật làm Bé nghĩ phen này có dễ cả Bố cả Mẹ cùng sẽ ghét mình. Nhưng chỉ một lát, phi Bố tất Mẹ lại ôm Bé nựng nịu, quà quà bánh bánh cho Bé. Người lớn, chịu, không hiểu họ ra sao cả.

Bố Mẹ thôi không lầm bầm nữa, thì lại thừ ra, mặt Bố cau lại, mặt Mẹ đỏ phừng phừng. Hai bê của Bé mà cũng giống thế kia thì xấu quá. Bé không thích đâu. Bé nhìn hai bê thần người nghĩ ngợi: Nếu hai bê cãi nhau thì Bé làm thế nào nhỉ?

Bé nghĩ một lát, đứng phắt dậy ôm một con – bây giờ thì con của Bố hay của Mẹ cũng chẳng hề gì. Bé phăng phăng chạy lại trước mặt Mẹ, đặt vào lòng Mẹ nói một hơi:

– Hai con bê này nó cứ cãi nhau, con không dỗ được, con giả mẹ con này để mẹ cho em bé trong bụng.

Bố Mẹ nhìn nhau một giây rồi cùng phá lên cười.

Tiếng cười của Bố Mẹ làm xao gợn cả sóng Hồ Gươm. Mấy con chim trên cành vội cất cánh bay, đánh rơi lộp độp trên đầu Bé những đốm trắng trắng… Khách qua lại lây cái cười của Bố Mẹ cũng nhoẻn miệng cười theo.

THỤY AN

Nguồn:

Trăm Hoa, loại mới, Hà nội, s. 5 (25.11.1956), tr. 6-7.

MỘT BÀI THƠ CỦA NỮ TÁC GIẢ THỤY AN VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, 1956

CHIẾC LƯỢC

MỘT BÔNG HOA BỊ VÙI DẬP – Bài thơ “Chiếc lược” của chị Thụy An sáng tác đã gần một năm nay. Theo lời chị thì bài này từ lâu đã đưa cho hội Văn nghệ và nhà xuất bản Văn nghệ. Hội Văn nghệ không có ý kiến gì. Các bạn trong nhà xuất bản Văn nghệ thì nhận xét thấy “tương đối khá” và chuyển sang vụ Văn hóa đại chúng đề nghị cho in vào loại phổ thông. Nhưng vụ Văn hoá đại chúng lại cho là bài thơ không hay, có trả lời rằng: “những bài thơ loại thế này chúng tôi có nhiều, vậy xin trả lại…”

TRĂM HOA được đọc “Chiếc lược”, nhận thấy bài thơ loại thế này rất hiếm. Thật là một bài thơ giá trị. Chúng tôi rất mong nhận được những sáng tác giá trị như thế này của chị Thụy An cũng như của các bạn khác, để vườn hoa được thêm nhiều hương sắc. – TRĂM HOA

 

CHIẾC LƯỢC

Lược em bé nhỏ

Lược em thanh thanh

Công ai đẽo gỗ chuốt thành

Để em chải mớ tóc xanh rà rà

Tóc em nuột nà

Em chửa muốn rời tay lược

Lược với tóc vân vi thỉ thót

Những năm dài mơ ước khát khao

 

Tóc em khi cun cút trái đào

Chiếc lược trong ô cô hàng xén

Thường đêm đêm hiển hiện trong mơ

Lược không đáng giá vài xu

U vẫn khất lần khất lữa

Khất ngày tóc chấm đầu vai

Đói cơm đói cháo anh ơi!

Lấy gì nuôi được tóc dài cho mau.

U dỗ: “Con sang hầu cụ Chánh

Kiếm cơm ăn, nhẹ gánh cho u

Cuối năm công bớt vài xu

Con mua lược chải tha hồ đẹp xinh”

Em đang mơ ước đinh ninh

Về nhà thằng địa chủ

Em đem mái tóc xanh

Về nhà thằng địa chủ

Hơi trâu thay hơi mẹ

Đòn vọt thay áo cơm

Đêm nằm gỡ cỏ gỡ rơm

Bám đầy trên tóc

Hẹn với tóc cuối năm mua lược

Làm tốt làm xinh

Năm lại năm tóc đã quấn vành

Thấy cô hàng xén mà đành ngoảnh đi

Nóng tai tiếng riễu tiếng chê

Con đầu bù quạ đánh

Áo tả tơi trăm mảnh

Hở cả ngực cả vai

Em càng biết hổ ngươi

Càng xót xa tủi cực

Đầu có bao nhiêu tóc

Là bấy nhiêu tội tình

Nhưng địa chủ tàn ác

Không cấm nổi tóc xanh

Đêm kia trống rộn mái đình

Bỗng xui em nhớ tuổi mình tròn trăng

Chỉ thô khíu vội áo quần

Em tưng bừng đi hội

Chợt nhớ đầu bù tóc rối

Chùn bước chân thui thủi phận mình

Hội làng đông ả đông anh

Em muốn chút xinh chút lịch

Mượn trộm lược của con mụ Chánh

Chải vội chải vàng

Tóc bóng mặt gương

Đầu ngôi thẳng tắp

Ra đình che áo rách

Tìm nơi tối nhất ngồi nghe

Tiếng hát giao duyên gió động cành tre

Gió đưa cành trúc tình ngơ ngẩn tình:

“Hỡi cô tóc tựa mây xanh

Đường ngôi như sợi chỉ mành mới ngâm

Có duyên xa cũng như gần…”

Em thẹn cúi gằm không hát đối

Nhưng từ đấy suốt trong đám hội

Bốn mắt trộm nhìn nhau

Lòng muốn nói trăm câu

Muốn hội dài mãi mãi

Trống rã đám còn hát với:

“Hẹn xuân sau ta lại với mình

Xuân sau tóc hẳn thêm xanh

Đường ngôi bắc nhịp cho mình gặp ta”.

 

Xuân sau áo rách xơ

Không tài gì khâu vá

Tóc rối bù tổ quạ

Lấp mất cả đường ngôi

Địa chủ ăn cướp công tôi

Tiền đâu mua lược đi chơi hội làng?

Trống đình giục nhớ giục thương

Gió đưa tiếng hát trách hờn của ai:

“Hẹn lời lời lại đơn sai

Đường ngôi rẽ lệch duyên hài đôi ta”

Vẳng nghe tiếng hát

Nước mắt như mưa

Cảm thương tóc rối đầu bù

Lấy gì dáng sớm duyên trưa với chàng?

Ai ngăn được kén đừng vàng?

Ai ngăn được suốt đừng ràng với thoi?

Em nửa sợ nửa vui

Lại đi mượn trộm lược

Nghe trống giục tay run cầm cập

Chiếc lược rơi đánh chát xuống sân

Thế là tai họa khôn ngăn

Vợ thằng Chánh túm lấy em đập đánh

Đánh chưa đã nó còn ác khoảnh

Lấy dao cau gọt sạch tóc mai

Sót công mười mấy năm trời

Cơm thiu cháo hẩm tôi nuôi tóc thề

Ngoài đình tiếng hát não nề:

“Tưởng đêm mở hội đi về có nhau

Bây giờ lược chẳng giắt đầu

Hội vui thiên hạ phải đâu của mình

Anh về tát nước thâu canh

Ngắm sao mà hỏi sao đành phụ nhau?”

Em quên tóc cụt đòn đau

Chạy vùng lên đình Thượng

Ai vì tôi ngăn cản

Cho ai đừng bỏ về

Đường đồng nhạt ánh sao khuya

In dài chiếc bóng

Đầu nửa trọc nửa buông sõng tóc

Áo quần tơi tả xác xơ

Khác gì xác quỷ hồn ma

Chạy ra đám hội để mà nát ai

Em nức nở từng hồi

Nằm vật bờ ruộng thấp

Khóc sưng vù đôi mắt

Chả thấy Bụt hiện lên

 

 

Hôm nay trống nổi liền liền

Tiếng gọi đi chia quả thực

Vợ chồng thằng Chánh ác nhân ác đức

Rẽ lứa duyên em

Đã gục xuống bùn đen

Không bao giờ ngóc nữa

Em đã hồng đôi má

Em đã thắm đôi môi

Tóc em đã mọc dài

Em đi nhận quả thực

Em chọn thêm chiếc lược

Về chải mãi chải hoài

Chúng chị em chớ cười

Em se sua làm dáng

Mười mấy năm mơ tưởng

Giờ lược mới về tay

Hẳn tiếng hát từ nay

Không bao giờ đứt khúc

Mái tóc mây em cài vành lược

Em ra đồng tát nước gầu đôi

Nhịp gầu tiếng hát đầy vơi

“Ước gì anh hóa lược cài tóc em

Tóc với lược liền liền sớm tối

Như ruộng đồng ở mãi với ta”

Nước rềnh giăng ngả đầu bờ

Mạ non gặp nước đôi vừa xứng đôi…

THỤY AN

Nguồn:

Trăm Hoa, loại mới, Hà nội, s. 3 (4.11.1956), tr. 3.

MỘT ĐOẠN HỒI ỨC CỦA LÊ TRÀNG KIỀU VỀ NGHỀ LÀM BÁO

LÊ TRÀNG KIỀU (1912-1977) là một trong những nhà hoạt động báo chí và văn học có vai trò đáng kể trong làng văn làng báo Việt Nam thời kỳ 1930-1945 và cả về sau, trong hai cuộc kháng chiến. Tuy vậy, sự nghiệp và tác phẩm của Lê Tràng Kiều cho đến nay vẫn chưa được chú ý đúng mức cả trong các nghiên cứu văn học sử lẫn trong việc sưu tầm tái xuất bản.

Dưới đây, xin giới thiệu một bài hồi ức khá dài của Lê Tràng Kiều nói về một đoạn hoạt động báo chí văn nghệ của ông và nhóm văn nghệ sĩ bạn bè ông, hồi những năm 1935-1936.

Ta biết, Lê Tràng Kiều bước vào nghề báo nghề văn từ khoảng năm 1932, ban đầu viết trên tờ Văn Học Tạp Chí của anh em nhà họ Dương (Dương Quảng Hàm, Dương Tụ Quán), sau đó ông xuống Nam Định làm tờ tuần san Kho Chuyện Của Phái Cười Đời (1933), rồi lại trở lên Hà Nội, làm các tờ tuần báo Tân Thiếu Niên (tục bản, 1935), Tiến Hóa (tục bản, 1935), Hà Nội Báo (1936-1937), Tiểu Thuyết Thứ Năm (1937-1939). Năm 1940 ông vào Sài Gòn, làm tờ báo Lá Lúa. Thời kháng chiến chín năm (1946-54) ông có vai trò nổi bật trong nhóm ký giả kháng chiến mà sau 1954 ở Sài Gòn người ta còn nhắc tới.

Đối với báo chí và văn học thời “tiền chiến” (1930-45), Lê Tràng Kiều không chỉ có vai trò là một người viết văn viết báo mà còn có vai trò của người tổ chức cơ quan báo chí, tập hợp nhà văn nhà báo.

Về giai đoạn văn học này, người ta mới chỉ nói nhiều đến những nhóm như Tự Lực Văn Đoàn, song bên cạnh đó còn cần thấy rõ sự hoạt động và vai trò của nhiều nhóm văn chương và báo chí khác nữa, bởi chính sự đa dạng, đa nguyên, bao hàm sự đối chọi, cạnh tranh lẫn nhau, về văn hóa nghệ thuật thời tiền chiến mới là môi trường nuôi dưỡng và sản sinh những sáng tạo văn nghệ đáng giá, những nhân cách văn nghệ đáng nể trọng.

Đoạn hồi ức của Lê Tràng Kiều dưới đây chỉ nói về hoạt động của nhóm ông từ sau khi tờ Tân Thiếu Niên (26/1/1935 – 13/2/1935) bị rút giấy phép, đến khi nhóm ông lại ra số ra mắt tờ Tiến Hóa (2/11/1935 – 7/12/1935). Hồi ức này được viết và đăng trên Hà Nội Báo, tờ tuần báo của doanh gia Lê Cường do Lê Tràng Kiều làm chủ bút. Là hồi ức nhưng các sự việc được nói tới vẫn còn khá “nóng” vì đó chính là trải nghiệm chưa hề xa của chính tác giả và bè bạn; tác giả lại kể chuyện bằng giọng hoạt kê, trào phúng, tự cười đùa về những thất bại (nhiều hơn thành công) của chính mình.

Đây là một hồi ức thú vị.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

(Lưu ý: Tôi cho đánh máy lại theo từng kỳ báo, và làm thêm các chú thích sau mỗi kỳ báo ấy, để tiện theo dõi cho người đọc)

15/5/2014

LẠI NGUYÊN ÂN sưu tầm và giới thiệu.             

 

 

NHỮNG PHÚT VINH NHỤC CỦA NGHỀ BÁO

Văn hoạt kê của LÊ TRÀNG KIỀU

LỜI GIÁO ĐẦU

Mỗi người rơi xuống cõi trần với một cái tội.

Cũng như anh… Tiểu Thần xuống cõi trần với cái tội ngâm thơ suông, cũng như anh Đại Vũ xuống cõi trần để viết những bài kịch liệt. [a] Tôi, tôi rơi xuống cõi trần với cái tội: làm báo.

Báo có ba nghĩa:

Nghĩa thứ nhất: Một con vật hung dữ ở trong rừng xanh chỉ kém có ông hùm.

Nghĩa thứ hai: những tờ giấy trắng để cho các văn sĩ ngồi rỗi đổ mực đen vào.

Nghĩa thứ ba: Báo hại…

Chữ báo của tôi gồm đủ có ba nghĩa ấy.

Làm báo theo tôi là phải khiêu chiến với hết mọi người, phải có cái hung hăng của con vật ở rừng xanh.

Làm báo theo tôi nghĩa là như tôi viết bài này.

Làm báo theo tôi, nghĩa là phải báo hại mình và báo hại người…

Nếu như tôi cũng như ông Phan Trần Chúc cũng có điều đáng tự hào đáng tự đắc, điều ấy là điều tôi đã làm trọn nghĩa cái chữ báo trong văn chương Việt Nam.

Hơn thế nữa, tôi còn cho nó một cái nghĩa mà trong văn chương Việt Nam không có.

Làm báo còn có nghĩa là làm cái nghề mà ta có những cái lý thú, mà trong nghề khác không bao giờ có…

Nó cũng có những cái “vinh” của nó, những giờ phút thú vị, những phút “lêu lổng”… [b]

Ở đây tôi xin thành thực cám ơn đức Thượng đế đã ban thưởng cho tôi cái tội quý hóa ấy là làm cái nghề báo này.

 

Nguồn:Hà-nội báo, H., s. 8 (26 Fevrier 1936), tr. 5.

Chú thích

[a]  Tiểu Thần: có thể ý tác giả chỉ Lưu Trọng Lư, Đại Vũ: có thể ý tác giả chỉ Vũ Trọng Phụng (?).

[b]  Chữ này, ở kỳ đầu (s. 8) là “lên bổng”; ở kỳ sau (s. 9) in lại “Lời giáo đầu”, từ này được sửa thành “lêu lổng”.

 

I.  CÁI BÀN KHỔNG LỒ

Sau khi Tân Thiếu Niên đã tiêu diêu về nơi tiên cảnh rồi, [a]  bọn chúng tôi năm người: Lưu Thần, Vũ Vu, Huỳnh Cóc, Ba Huy [b] và tôi còn phải bơ vơ ở chốn chợ trần. Một nghìn rưởi bạc bỏ ra gây dựng cho Tân Thiếu Niên cũng theo với Tân Thiếu Niên mà về tiên cảnh, chúng tôi sờ vào túi áo chỉ còn một cái… mộng: làm báo. Vẫn làm báo, sống chết vẫn còn đeo lấy cái mộng ác hại ấy.

Trong những nghề hiện có, nghề báo có lẽ là nghề cám dỗ người ta dễ hơn cả! Ai đã có dan díu với “ả” ít nhiều rồi, đố mà buông ra cho được nữa? Ta thường thấy dân làng bẹp [c] bán cả ruộng nương nhà cửa đi mà hút. Người nghiện báo, cơn nghiện lên, cũng chẳng kém gì dân bẹp.

 

Thật ra cũng có người làm báo để kiếm lợi, cũng có người làm báo để kiếm danh, nhưng phần nhiều làm báo chỉ là để mà làm báo.

 

Sau khi giả cái nhà lại cho ông nghị trưởng Phạm Huy Lục mà chúng tôi thuê với cái giá 25$00 một tháng, chúng tôi dọn đồ về một gian nhỏ ở phố Pottiers. [d] Chúng tôi thuê cái gian nhỏ ấy mỗi tháng 10$00, không cốt để ở, mà cốt có chỗ gửi cái bàn hình mặt giăng, dài gần 8 thước, rộng hơn một thước, cả thẩy có 8 chân! Giá tôi viết hết lịch sử của cái bàn khổng lồ này thì chắc không bao giờ hết được. Phải, cái bàn của chúng tôi nó cũng đã có một thời oanh liệt. Nó đã tầng chứng kiến những cuộc hội nghị “long trọng” có quan hệ đến cuộc sinh tồn của tờ báo, những cuộc hội nghị ấy bao giờ cũng kết liễu bằng những sự cãi cọ hung hăng.

Những khi chúng tôi “phất”, thì cái bàn ấy được nâng niu, khi chúng tôi thất bại, thì nó buồn rầu nằm một xó để chờ thời. Bây giờ đây, nằm ở cái gian nhà ở phố Pottiers, thì nó biến thành cái bàn ăn, cái giường ngủ cho nhân viên tòa soạn trong lúc bại trận. Những giấc ngủ của chúng tôi ở trong gian nhà nhỏ phố Pottiers là những giấc ngủ không chăn gối, những bữa cơm của chúng tôi ở trong gian nhà nhỏ phố Pottiers là những bữa cơm chỉ có xôi với kẹo vừng…

Những khi ngủ dậy hoặc ăn xong, chúng tôi lại tản mác mỗi người một ngả, người thì ra ngồi ngáp ở vườn hoa con cóc, người thì lên vườn Bách thú xem hổ, đến bữa thì lại về để ăn. Những bữa cơm lúc đầu hơi tẻ, nhưng dần dần vui lên. Chúng tôi lại chuyện gẫu, lại nói phét, lại tán hão với nhau. Trong gian nhà u tịch ở phố Pottiers, đã bắt đầu có cái vẻ rộn rịp như xưa…

Trước những sự khó khăn mình không thể vượt được, tôi đã hơi chán. Nhưng bây giờ tôi lại phấn chấn. Cái chí làm báo của tôi bây giờ đã cả quyết lắm rồi.

Một hôm, tôi bỏ các bạn lại với gian nhà u tịch ở phố Pottiers, tôi “du lịch” xuống Nam Định và các vùng Thanh Hóa, Ninh Bình, sang Đáp Cầu, Bắc Ninh, v.v… kiếm thêm những kẻ hằng tâm và hằng sản, nhất là hằng sản, vui lòng giúp chúng tôi mở báo một lần nữa. Mà lần này thì chúng tôi định làm to tát hơn trước nhiều, chúng tôi dự trù đến một vạn. Du lịch về, tôi chỉ giầu … thêm mộng mà thôi, vì tiền người  ta chỉ mới hứa bỏ ra.

 

Trong lúc ấy, thì tôi được tin anh Lưu Thần ở Huế mới ra, trọ tại một khách sạn xế gare. Tôi thuê xe đến đón anh. Đến nơi, anh đương bận tiếp một người khách có lẽ quan trọng…

Chúng tôi chưa kịp hỏi chuyện nhau thì anh đưa cho tôi một tập Phạm Quỳnh, Vương Tứ Đại, Nguyễn Bá Trác, Phan Sào Nam, v.v… kết quả một cuộc du lịch ở Trung Kỳ. Tôi đỡ lấy tập bài và cười thầm. Khi ra về, anh còn dặn với tôi:

‒ Khi nào anh đăng thì để tôi sửa morasse lại cẩn thận một lần nữa.

Tôi ra về, xuống mấy tầng gác, cứ cười khúc khích một mình. Mãi khi thấy một thiếu nữ da dẻ trắng trẻo ngon lành bày ở gần lối tôi đi ra, bấy giờ tôi mới tỉnh ngộ.

Người thiếu nữ ấy, ai ngờ lại là người nuôi tờ báo sau này của chúng tôi bằng những bài nhí nhảnh như nụ cười của cô ta.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 9 (4 Mars 1936), tr. 4 – 5, 15.

Chú thích

[a]  Tân Thiếu Niên (21/2/1932 – 25/8/1932) báo ra 2 kỳ/tuần, chủ nhiệm Trần Tấn Thọ, tòa soạn 25 Lê Quý Đôn, Hà Nội. Sau đó giấy phép được bán lại cho Lê Tràng Kiều, trở thành tuần báo Tân Thiếu Niên, tòa soạn ở số 8 đường Richaud (nay là Quán Sứ), Hà Nội, số 1 (26/1/1935), bị cấm sau số 3 (16/2/1935); theo báo Công luận ở Sài Gòn (ngày 30/3/1935) thì Tân Thiếu Niên bị cấm vì đã đăng bài “Nghề cạo giấy” của Vũ Trọng Phụng viết về Ký Con Đoàn Trần Nghiệp, một đảng viên VNQDĐ bị thực dân xử tử.

[b] Chỗ này kể tên mấy người trong nhóm: Lưu Thần (= Lưu Trọng Lư), Vũ Vu (= Vũ Trọng Phụng? hoặc Vũ Đình Liên? hoặc Vũ Lang ?), Huỳnh Cóc (chưa rõ là ai?), Ba Huy (Nguyễn Xuân Huy)…

[c]  dân làng bẹp: ý nói người nghiện thuốc phiện.

[d]  Phố Pottiers: nay là phố Bảo Khánh, Hà Nội.

II.  THÁM HIỂM

Sau một cuộc hội nghị quan trọng ở cái gian nhà nhỏ phố Pottiers, chúng tôi mỗi người mỗi ít gom góp lại được một số tiền, vẻn vẹn là 300$00. Với một số tiền ấy, cố nhiên chúng tôi chưa hề nghĩ đến sự lập lại một tờ báo nữa, nhưng cũng đủ cho chúng tôi “hoạnh” một chút – nói như tiếng đàng trong của anh Lưu Thần. – Phải, khi người ta đã có những ba trăm bạc dính túi, bao giờ người ta lại chịu yên thân ở một gian nhà phố Pottiers, cái gian nhà tối tăm chật hẹp. Chúng tôi nhất định dọn đi nơi khác! Nhất định lắm rồi, dầu có trời cản cũng không nổi. Cũng nhờ vậy mà cái bàn “khổng lồ” của chúng tôi lại được đổi số phận!

 

Từ khi trong óc chúng tôi có cái ý ấy, thì việc tìm nhà thành một cái cớ rất chính đáng để cho chúng tôi “tiêu” bớt thì giờ, vì thì giờ chúng tôi lúc bấy giờ có dư nhiều quá!

Cứ mỗi buổi sáng, sau khi đã tẩy rửa sạch những cái ô uế của ban đêm, anh Huy với một đôi giầy trắng “tứ thời”, anh Huỳnh Cóc với một điếu xì-gà không bao giờ ăn lửa, anh Vũ Vu với một cái can để giữ chó (vì cái can ấy mà anh được chúng tôi tặng cho cái huy hiệu là “anh phản khuyển”), anh Lưu Thần với một nàng thơ õng ẹo ở trên lưng, còn tôi với một cái cặp lớn, ở trong chứa chất đầy những cái di cảo của một cô tình nhân đã qua đời, [a] chúng tôi cứ nhằm về phía nam mà tiến; nghĩa là hôm nào chúng tôi cũng phải đi qua phố Hàng Trống. Sự chọn hướng ấy không phải là không có duyên cớ – nói là duyên nợ thì có lẽ đúng hơn! – Nguyên ở phố ấy có một “bà tiểu thư” ở một cửa hàng thêu, mỗi lần thấy chúng tôi đi ngang qua, thì bà thường hạ cặp mục kỉnh xuống, đưa vạt áo lau qua quýt một tý rồi lại “thượng” lên, “chĩa” vào bọn chúng tôi, và nhìn chòng chọc riêng anh Huỳnh Cóc. Bấy giờ anh Huỳnh Cóc mới chịu đánh diêm lên và châm cái điếu xì-gà của anh. Lần này, ôi huyền diệu! cái điếu xì-gà của anh lại bắt lửa… một cách dễ dãi. Chúng tôi quay lại nhìn vào anh: cũng phải nhận rằng anh Huỳnh Cóc quả có duyên thầm… [b]

 

Rồi từ đó, cái điếu xì-gà của Huỳnh Cóc, mỗi khi qua “bà tiểu thư” ấy thì lại phun ra một ít khói. Nhưng cái lịch sử của “bà tiểu thư” đã cho anh chút duyên thầm đó, trong bọn chúng tôi chưa ai được rõ lắm, dầu trong chúng tôi có một nhà phóng sự đại tài. Nhưng như lời Huỳnh Cóc thì cứ nhìn thẳng vào mặt bà … tiểu thư ấy, trong một lúc lâu, thì ta sẽ đọc được giữa những nếp nhăn, mấy hàng chữ quảng cáo như vầy: “Tiểu thư… nhà giầu, xuân xanh: 29 tuổi, đã bị ba lần cưới hụt…. vẫn chưa kệch, còn muốn có một tấm chồng để bồng bế trên tay”.

 

Không những chỉ anh Huỳnh Cóc mới có ở trong óc một “bà tiểu thư”, anh Ba Huy cũng có ở trong giấc mộng của anh một người mà anh gọi bằng một cách văn hoa là Châu Hà. Không biết Châu Hà của anh có thực hay không, nhưng khi anh ngủ, thì Châu Hà cũng đến với anh, khi anh đi với chúng tôi, anh cũng tưởng như khoác tay Châu Hà cùng đi. Rồi mải miệt mê với con người… mộng, có khi xe ô tô đằng xa đi tới, anh vẫn đường hoàng và bình tĩnh bước tới như khinh cả sự hùng cường của khoa học. Những lúc ấy phải có anh Huỳnh Cóc giật tay anh một cái mạnh lên vệ đường. Như một người si … chưa tỉnh, anh nhăn răng nhìn chúng tôi mà cười.

Sự đi tìm nhà, bấy giờ đối với chúng tôi, thành như một cuộc thám hiểm, mỗi ngày thấy thêm một ít điều mới lạ.

Hà Nội là một thế giới vô tận của những sự mới lạ.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 10 (11 Mars 1936), tr. 7 -8.

Chú thích

[a]  Ý nói những bài vở từng được chuẩn bị cho Tân Thiếu Niên lúc này đã bị đóng cửa.

[b]  Theo nhà thơ Anh Chi thì “bà tiểu thư” ở phố Hàng Trống, chính là nữ sĩ Vân Đài, sau thời gian này bà lấy người có tên là Huỳnh Cóc trong hồi ức này, rồi theo chồng vào Trà Vinh, Nam Kỳ, gần mười năm sau mới trở ra Hà Nội.

III. HOÀNG HẠC LÂU

Một hôm trời rét như cắt, chúng tôi ngồi đốt những giấy vụn, những báo đổi, [a] một ít bài lai cảo vô duyên để sưởi, thì anh Huỳnh Cóc tự đâu bước vào, với một nụ cười hí hởn. Anh mang về mấy con mực khô và hai chai Văn Điển, [b] và một tá xì-gà. Ai cũng tưởng là có tin mừng. Một nụ cười dài chạy từ miệng người này qua miệng người khác. Người nào cũng khấp khởi xúm nhau lại hỏi, nhưng anh làm bộ bí mật, không muốn đáp ngay.

– Các anh sẽ hiểu! Bất tất phải hỏi.

Rồi anh yên lặng chạy xuống bếp nướng mấy con mực khô, và xé ra mời anh em:

– Thôi bây giờ anh em chén đi cho no say!  Người xưa rót 300 chén không ngừng. Người xưa bán cả áo cả ngựa để mà uống rượu. Ta há thua kém người xưa, huống là ta có việc mừng…

Việc mừng! Anh em đưa mắt thầm hỏi nhau, không ai hiểu là việc gì, mọi người đều có vẻ lo ngại. Nhưng cái giống rượu, uống một chén, không thể không uống một chén khác nữa, và cứ thế cho đến khi túy lúy.

Nhờ trời nhờ Phật, anh em tửu lượng cũng khá. Càng uống mặt càng tái đi. Say khướt, mỗi người lăn mỗi ngả, duy có anh Huỳnh Cóc là tỉnh táo. Anh vẫn ngồi lặng hút xì-gà … với người platon. [c]

 

Lúc chúng tôi tỉnh dậy, thì ôi kỳ lạ! Thấy cửa nhà trống không, cả cái bàn khổng lồ mà tôi đương nằm cũng bay đi đâu mất.

Chúng tôi “khảo” anh Huỳnh Cóc, anh cười khà khà mà bảo rằng:

– Xe bò đã chở đi rồi! Các anh theo tôi tới “Hoàng Hạc Lâu” đi thôi!

Nghe ba chữ “Hoàng Hạc Lâu” chúng tôi giật mình tưởng như còn trong mộng, nhưng anh Huỳnh Cóc nhìn chúng tôi mà nói bằng một cái giọng quả quyết:

– Các anh sẽ đến ở một cái lầu nguy nga ở trên bờ hồ Trúc Bạch. Trên lầu quanh năm có con hạc vàng đậu, nó đậu từ lúc mặt trời mọc đến lúc 3 – 4 giờ sáng thì nó lại bay về ngàn. Con chim ấy, ngày xưa Dương Quý Phi bắn nó không chết, nó đớp lấy “tên” và giả lại cho Dương Quý Phi…

 

Chúng tôi cười ồ cả lên, quên cả giận. Chỉ có cái anh Ba (Ba Huy) ngớ ngẩn, hăng tiết cãi lại:

– Huỳnh Cóc “đại phét ngôn”! Chim gì mà sống được tự đời Dương Quý Phi đến bây giờ. Mà sao Huỳnh Cóc lại biết nó đã bị Dương Quý Phi bắn không chết. Con chim nó “nói” với anh à? Chim gì lại biết nói?

Mọi người lại cười rũ rượi, ôm anh Ba lên và tung hô: “Ba Huy nhà đại lý luận vạn vạn tuế!”

Anh Huỳnh Cóc cười mủm mỉm, bằng một cái giọng rất bình tĩnh đáp lời anh Ba:

– Nhưng nó có nói, anh Ba cũng không nghe được mà! Đến nỗi đi ra đường, tiếng còi ô tô kêu oang oác, anh Ba cũng không nghe lọt huống nữa là tiếng con hoàng hạc thỏ thẻ. Ai không tin, hãy theo tôi đến Hoàng Hạc Lâu!

Mọi người theo chân anh Huỳnh Cóc về nhà mới!

 

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 11 (18 Mars 1936), tr. 5 – 6.

Chú thích

[a]  báo đổi: giữa các báo với nhau có lệ trao đổi, báo này gửi báo mới ra cho báo kia và ngược lại.

[b]  chai Văn Điển: chai rượu trắng, do xưởng rượu nhà nước đặt ở Văn Điển sản xuất.

[c]  Planton (chữ Pháp): nhân viên chạy giấy.

III. HOÀNG HẠC LÂU

Quả anh Huỳnh Cóc không “phét ngôn” một tý nào! Cái lầu mà anh đã “tìm” ra được, cũng xứng với cái mỹ hiệu mà anh đặt cho nó: “Hoàng Hạc Lâu”.

Những khách qua đường đi hết phố Emille Nolly, [a] gần đến hồ Trúc Bạch, sẽ thấy có một cái nhà ba tầng sơn màu đỏ choét, ở trên chóp có một con hạc vàng bằng đá, chính là cái chỗ… sào huyệt của một bọn làm báo … bại trận!

Hoàng Hạc Lâu mỗi tháng 55$00, làm cốt để cho những người Pháp thuê. Trước bọn chúng tôi là một ông Cẩm, vừa mới dọn đi!

Anh Huỳnh Cóc dẫn chúng tôi xem qua một lượt, và giới thiệu với chúng tôi từng cái một:

– Đây là cái buồng ngày trước ông Cẩm nằm!

– Đây là cái chỗ ông Cẩm cạo râu!

– Đây là chỗ ông Cẩm hôn bà … Cẩm!

– Đây là chỗ ông Cẩm hóa!

– Đây là chỗ ông Cẩm … xổ.

Nghe nói đến ông Cẩm, ai cũng rởn tóc gáy. Nhà có… Cẩm ở, là nhà có … ma ở! Ông Cẩm thì khác ta cái gì, nếu hai làn râu mép của ông không xoắn ngược lên?

Hoàng Hạc Lâu cả thảy được 8 phòng. Mỗi người trấn mỗi cái, còn dư hai cái thì để làm buồng ăn và buồng khách.

Từ khi chúng tôi ở Hoàng Hạc Lâu, không biết tại sao, chúng tôi cảm thấy lạnh lùng như cô gái góa. Có lẽ vì buồng nào buồng nấy rộng thênh thang, mà đồ đạc chúng tôi thì không có gì. Buồn, buồn lắm! Không còn những cái giờ ấm áp ở phố Pottiers nữa. Giá tất cả chúng tôi đều nằm lại một buồng, đắp một chăn, đêm hôm nói chuyện gẫu thì vui biết chừng nào! Nhưng làm như thế thì dư 5 – 6 cái buồng không để làm gì? Chúng tôi bắt đầu cảm thấy sự thuê Hoàng Hạc Lâu là một sự hoang phí vô lý. Nhất là khi không thấy những các bạn đồng chí (cái chí làm báo) ở xa, chẳng cho hay tin mừng gì cả! Lâu lâu chúng tôi chỉ tiếp được một vài cái thư ở Vinh, ở Thanh, ở Thái gửi về, cái thì bảo rằng: chưa bán được ruộng, cái thì bảo rằng: chưa đòi được nợ, cái thì than rằng: ông bố tinh ranh lắm, chưa thể đánh lừa được! “Chưa” chứ không phải là “không”. Trừ một vài người ra, anh Lưu Thần, anh Vũ… tiến sĩ họ Thôi, anh Huỳnh Cóc, anh Ba Huy … vẫn tin rằng: ruộng sẽ bán được, nợ sẽ đòi được, cái ông cha khó tính kia sẽ bị đánh lừa được!

Rồi người mộng vẫn cứ … mộng.

Nhưng tháng ngày qua.

Tiền, theo với ngày tháng, cũng qua. Nếu chỉ có tiền nhà và tiền ăn không, thì 300$00 có lẽ không hết một cách nhanh thế! Nhưng còn có những cuộc “tổ chức” nữa! Lấy cớ rằng “rỗi” không có việc làm, cần phải tổ chức nên những cuộc “tổ chức” để lấy thêm khí lực, để dốc thêm máu nóng.

“Tổ chức” theo nghĩa nhà báo là những cuộc hành lạc ở xóm chị em. Ông Nguyễn Công Trứ không đập vỡ mấy cái trống thì làm gì có cái sự nghiệp ông đã có. Ta há không bắt chước cổ nhân sao?

 

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 12 (25 Mars 1936), tr. 4, 29.

Chú thích

[a]  Rue Émille Nolly: nay là phố Phạm Hồng Thái, Hà Nội.

IV. TRÊN MẶT HỒ TÂY

Tình cảnh chúng tôi lúc bấy giờ chẳng khác nào một toán binh bị vây thành: lương thực sắp cạn, mà nhuệ khí nhụt dần. Tôi nhìn lại anh em, đứa nào đứa nấy đã có vẻ chán nản, không còn yêu đời và yêu … gái và yêu .. báo như trước nữa! Nguyên nhân vẫn là tại nhà chưa bán được, ruộng chưa cầm được và nợ chưa đòi được. Bao nhiêu giấc mộng tan như những bọt xà-phòng!

Hết mộng, đời còn gì?

Hết tiền, đời còn gì?

Hết tình, đời còn gì?

Hết cả bao nhiêu thứ ấy, đời còn gì nữa? Đời còn một sự rỗng không lạnh lùng!

Ngày trước, lúc ăn cơm là lúc vui vẻ nhất ngày: anh em cười, nói, nô đùa chòng ghẹo nhau như một bọn quỷ sứ. Bây giờ ăn cơm là cái vạ. Từ đầu bữa đến cuối bữa không nói một tiếng, ăn chỉ cốt lấy no, ăn xong là đứng dậy ngay, cơm không chín cũng không buồn mắng đầy tớ!

Biết rằng buồn cũng không bổ ích gì, một hôm tôi nghĩ đến cách làm vui anh em! Trong cái túi sắp cạn của tôi, tôi trích ra một món tiền nhỏ để tổ chức một cuộc vui ở trên mặt Hồ Tây.

Chúng tôi vừa thuê vừa mượn cả thảy được 2 chiếc yacht. [a]  Sau khi mang theo đủ rượu, mực khô, cá hộp, bánh tây, chúng tôi cho yacht ra khơi, đùa với gió, đùa với nước, đùa với ánh nắng mặt trời. Cái buồn ủ rũ của chúng tôi như đã tan ra trong không khí. Chúng tôi cười nói huyên thuyên, rồi uống rượu, có đứa cao hứng xướng thơ để cho những đứa khác họa.

Những lúc bấy giờ tôi thấy cái lối “thơ mới” mà anh Lưu Thần thường binh vực, nó chẳng còn có nghĩa lý gì! “Thơ mới” đâu cho chúng tôi được cái thú vị rung đùi ngâm nga đắc chí như bây giờ? Cả anh Lưu Thần là người hay chửi cái lối xướng họa đó, cũng cùng với chúng tôi rung đùi mà có lẽ anh lại rung đùi mạnh hơn ai hết.

Rồi… Rồi hai chiếc yacht giả chúng tôi lại cho … Hoàng Hạc Lâu! Tôi chỉ lo cái buồn ủ rũ lại theo chúng tôi về Hoàng Hạc Lâu…

Quả vậy, sau cuộc vui, cái buồn càng thêm thấm thía, đó là cái “luật quân bình” mà anh Ba thường kinh nghiệm.

Khi lên khỏi yacht, chúng tôi đã bớt cười nói, dọc đường lại càng không thấy ai cười nói nữa! Rượu tỉnh, lại càng thêm chán nản! Tôi đã bắt đầu lo rằng: chuyến này, về nhà, chắc anh em thế nào cũng kiếm cách gây chuyện với nhau. Nhưng may ôi là may! Khi chúng tôi gõ cửa, thì thấy trong buồng tôi tiến ra lù lù một cục … hy vọng. Cục hy vọng ấy là anh Bửu Tuốt! Thấy cái lỗ mũi của anh nhúc nhích một cách có ý nghĩa, không hẹn nhau, trên mặt tất cả chúng tôi đều nở một nụ cười tươi như hoa. Vị phúc tinh đã đến. Bao nhiêu cái mộng của chúng tôi đều đứng dậy ở trong óc. Không biết anh sẽ đưa lại cho chúng tôi điều gì?

Nhưng cứ vui, cứ mộng, cứ hy vọng… là tốt rồi.

 

IV. ANH BỬU TUỐT

Anh Bửu Tuốt trước làm quản lý cho một hội buôn lớn, một độ làm thư ký cho phủ Toàn quyền, sau rốt làm thanh tra cho một hội bảo hiểm. Nhưng đó lại là chuyện khác.

Người anh lùn, mập, nhưng mà nhanh nhẹn. Anh có cái đặc tài là ăn 5 – 6 bát phở năm đi luôn mà vẫn như không. Cái phở lượng của anh làm cho anh giống Trạng Lợn, nhưng cái mũi của anh lại làm cho anh giống với … ông Tý (chuột). Buồn đến bực nào mà nhìn lên cái mũi chuột của anh nhúc nhích, thì không thể nào mà còn buồn được nữa. Người ta “nói” bằng lỗ miệng, anh Tuốt của chúng tôi “nói” bằng… lỗ mũi.

 

Nguồn:Hà-nội báo, H., s. 13 (1er  April 1936), tr. 16 – 17

Chú thích

[a]  Yacht (chữ Pháp): du thuyền

IV. ANH BỬU TUỐT (tiếp)

Thấy tôi, anh Bửu Tuốt vội vàng kéo tay tôi ra vỉa hè và ghé vào tai tôi nói nhỏ:

– Chuyến này thì hẳn là được rồi, mày ạ! Chắc chắn lắm rồi! Như một con chim đã nắm chặt trong tay, không còn bay đi đằng nào được! Món tiền non 2000$00 ấy, tao định mua “auto”, nhưng nay đã có auto của Sở, tao muốn cúng cho … báo! Thế người ta đã chịu nhường tờ Tiến Hóa [a] cho chúng mình chưa? Bằng lòng rồi chứ? Thế là yên! Bắt tay làm việc đi thôi. Còn đợi gì nữa?

 

– Nhưng…

– Nhưng làm sao, tao đã bảo mày đừng lo mà. Tao sẽ đứng quản lý hộ…

– Nhưng món tiền ấy, mày có mang theo đấy chứ?

Chẳng ngập ngừng chút nào, anh Bửu Tuốt trả lời phắt:

– Tao gửi ở dưới Sở, khi nào cần, tao sẽ xuống lấy. Ngày mai…..

– Chắc chắn chứ?

– Tao đã bảo mày là chắc chắn lắm mà!

Bấy giờ cái nụ cười vui sướng mới nở một cách hoàn toàn ở trên cặp môi tôi. Vội vàng, tôi nhóm tất cả anh em lại và báo cái tin mừng!

Bữa cơm hôm ấy, tôi tưởng là bữa cơm buồn tẻ nhất, nào hay lại trở nên vui vẻ nhất! Lại là một bữa cơm rất long trọng nữa! Chúng tôi còn tiếc gì mà không phung phí! Còn bao nhiêu tiền chúng tôi đều cạo ra mà “xài” cho hết. Hôm nay chính là cái hôm chúng tôi “chôn cất” một cách vui vẻ cái cuộc đời bông lông, cuộc đời chật vật, cuộc đời gió bụi.

Ngày mai, một cái mặt trời khác sẽ mọc ở Phương Đông. [b]

Ngày mai chúng tôi sẽ biến thành hoàng tử.

Ngày mai…, một cuộc đời khác, giàu sang…

Ngày mai!

Mà hôm nay, thôi tha hồ!

Hôm nay, chúng tôi đổ “bồ đào tửu” như nước, những điếu xì-gà chỉ hút một nửa là vứt…

Chúng tôi cười nói, nô đùa, ca hát để đợi cái ngày mai… tốt đẹp. Quả vậy, không chậm một phút nào, ngày mai đến với chúng tôi, đưa lại cho chúng tôi những điều ước nguyện, chỉ trừ một điều…, – điều ấy tôi chưa vội nói ở đây.

 

Trong lúc anh Tuốt xuống Sở, thì chúng tôi đua nhau làm việc rầm rộ như một tổ ong trong một ngày nắng mới.

Anh Ba Huy kiểm lại những bài thơ khóc sương khóc gió khóc tình khóc mộng của anh.

Anh Vũ … tiến sĩ họ Thôi, thơ thẩn ngồi hầu chuyện với bà Dương Quý Phi.

Anh Huỳnh Cóc nặn óc nhớ lại trong tuần lễ vừa qua xem đã xảy ra mấy việc quan trọng, và đã được bao nhiêu con chó … bị chẹt. [c]

Anh Lưu Thần thì thầm với “cô lái đò” trên sông Hương!

Anh planton soát lại các nhà đại lý.

Cả một tòa báo đã bắt đầu hoạt động.

Khi tôi đi hỏi giá in ở Trung Bắc [d]  về, thấy anh em hăng hái làm việc như thế, phần riêng tôi thấy … vui sướng lạ lùng. Nhưng, chưa kịp sướng thì đã phải tiu nghỉu ngay. Tôi có cảm giác như ở trên mây xanh rơi xuống đất bùn khi đọc cái thư anh Bửu Tuốt do một người planton đưa lại.

Bức thư ấy như vầy:

 

“Thưa anh em,

Tôi có việc cần phải về Thanh với ông giám đốc của Sở. Việc cần lắm nên không thể về qua dặn anh em. Nhưng anh em vẫn cứ tin ở nơi tôi. Cái món tiền ấy nếu bây giờ tôi cần phải mua auto, nhưng ít lâu, tôi sẽ lại có ngay, một lần nữa anh em hãy tin ở nơi tôi. – Tuốt”

 

Thế là con chim đã nắm chặt ở trong tay, cũng lại bay mất rồi.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 15 (15 April 1936), tr. 16 – 17.

Chú thích

[a]  Tiến Hóa: tuần báo văn chương, trào phúng, do Đặng Đình Hùng làm giám đốc, Thao Thao làm quản lý; tòa soạn 45 Jules Ferry, Hà Nội; ra được 3 số: s. 1 (thứ ba, 30/7/1935), s. 2 (thứ năm, 8/8/1935), s. 3 (thứ năm, 15/8/1935) mỗi số 10 trang khổ A4 (hiện có lưu tại Thư viện Quốc gia, 31 Tràng Thi, Hà Nội). Sau đó, Lê Tràng Kiều mua lại giấy phép này, vì vậy, trên manchette Tiến Hóa ghi tên người sáng lập (Đặng Đình Hùng) bên trên tên chủ nhiệm (Lê Tràng Kiều).

[b]  Tác giả viết hoa “Phương Đông” có lẽ vì tên nhà xuất bản ông lập ra (năm 1936) là Nxb. Phương Đông, và nhóm văn học gồm Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, v.v… cũng mang tên nhóm Phương Đông.

[c]  Đây có thể là ý đùa cợt kiểu viết “tin chó chết” mà làng báo đương thời nêu ra để cảnh cáo lối làm báo ẩu đương thời.

[d]  Trung Bắc: tên nhà in của nhật báo Trung Bắc tân văn.

V. “MỘT TẤM CHÂN THÀNH”

                Nhưng không thể sốngtrong cõi mộng, sống một cách nên thơ như thế được mãi, một hôm chúng tôi giải tán. Con “hoàng hạc” bay về trời. Anh Ba Huy về chờ thời ở nhà quê, anh Huỳnh Cóc đi đào mỏ (hiểu theo cả nghĩa trắng và nghĩa đen) ở trên thượng du, anh Vũ (tiến sĩ họ Thôi) ra Móng Cáy. Cái mộng làm báo vỡ như … nồi súp-de! Anh em đi mỗi người một ngả, không có một mảnh thư hỏi thăm nhau. Với một ít tiền, tôi và anh Lưu Thần về thuê một căn nhà nhỏ ở Ngã Tư Sở. Đêm đến chúng tôi viết những chuyện ma quỷ rùng rợn, chuyện “con đười ươi”, chuyện “đảng tịch lâm”, chuyện “con tinh què”, chuyện “Huyền không động”, v.v…

Những buổi chiều, hai anh em ra đứng ở gốc cây đại, nhìn ra xóm mạc xa xa, mấy làn khói lam lưởng vưởng ở trên những mái nhà gianh. Buồn rười rượi! Nhưng cũng lại … mộng rồi!

 

Một hôm không hẹn mà nên, cả hai chúng tôi cùng bồi hồi, bâng khuâng, cùng nhớ đến một cái gì, nhớ đến một cách tha thiết như nhớ một người tình nhân! Chúng tôi nhớ cái nghề báo. Phải, cái nghề báo tai nghiệt làm cho chúng tôi trăm chiều điêu đứng. Cả hai chúng tôi trở về Hà Nội với một bầu máu nóng.

 

Chúng tôi trọ ở một cái hotel gần gare. Lúc bấy giờ trong lưng chúng tôi chỉ còn có 20$00. Chết sống, chúng tôi cũng định quyết liệt một keo cuối cùng rồi ngã thì ngã.

Chúng tôi thương lượng lấy lại tờ Tiến Hóa của ông Đ.Đ.H. Ông này được cái tốt bụng, nhường lại cho chúng tôi mà không buộc một điều kiện gì!

Với 20$00, chúng tôi định ra chủ trương tờ Tiến Hóa. Các bạn không tin? Phải, các bạn tin làm sao được. Nhưng sự thật là khi chúng tôi bắt tay vào việc, chúng tôi chỉ có một số tiền chừng ấy thôi. Nhưng chí đã quyết, không vì một lẽ gì mà lùi.

Suốt một đêm trường, từ 11 giờ đến 3 giờ sáng, sau khi ăn hết mấy bát phở, chúng tôi cùng bàn tính mãi, và lấy bút mực ra viết bài “Kính cáo quốc dân”, bài ấy sau đổi là “Một tấm chân thành”. [a]

Hai anh em đánh trần ra ngồi viết như người ta bửa gỗ. “Một tấm chân thành” chỉ là những lời tha thiết hằng đến trong trí chúng tôi. Những ý tưởng của chúng tôi phơi bầy có khi nóng nẩy, nhưng đó cũng là một cách trả thù cho cái cuộc đời trôi nổi của mình bấy lâu nay. Chúng tôi là những người trẻ tuổi, chúng tôi thấy có điều đáng nói mà không nói, thì chẳng hóa ra mình dối mình và dối người lắm à.

Viết xong bài “Một tấm chân thành”, hai anh em cùng đọc lại. Đọc xong, chúng tôi cùng ngồi im lặng trong một phút dài…

Nhất định chứ?

Nhất định.

Chúng tôi không nói thêm gì nữa. Chúng tôi nhất là cái cứ bàn đi bàn lại rồi để hỏng bao nhiêu việc…

Trong một phút nghiêm trọng ấy, chúng tôi vạch “con đường đi” cho tờ báo Tiến Hóa sau này.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 16 (22 April 1936), tr. 18 – 19.

Chú thích

[a]  “Một tấm chân thành” là bài chính in trong số ra mắt Tiến Hóa, trong đó người chủ trương báo này trình bày quan niệm về sự thành thực khi biết chính quyền bãi bỏ sở kiểm duyệt, nhưng điều đó đã đưa đến việc tờ Tân Thiếu Niên của mình bị đóng cửa. Ngoài ra, số Tiến Hóa ra mắt còn có các bài luận “Tiến Hóa, một cơ quan mới của Tân Thiếu Niên”,  “Quan niệm văn học của chúng tôi”, “Muốn thổi được đám đông, ông Phạm Quỳnh điều hòa” (của P.T.), và thơ “Nàng về” (của Lưu Trọng Lư). Sau đó, Tiến Hóa ra số 1 (16/11/1935), số 2 (23/11/1935), số 3 (30/11/1935); sau số 3, Tiến Hóa bị cấm. Liền đó, nhóm nhà văn này bước sang làm tờ tuần san Hà Nội báo.

 

V. “MỘT TẤM CHÂN THÀNH” (tiếp)

Sáng hôm sau, chúng tôi mang xuống nhà in “Trung Bắc tân văn” bài “Một tấm chân thành” để cho in ngay. Chúng tôi cho in hai vạn tờ để biếu không các độc giả. Làm báo không một đồng xu, mà chỉ nghĩ đến sự biếu không, âu đó cũng là một cách làm việc của chúng tôi vậy.

Hai vạn “tấm chân thành” chúng tôi phát ra lung tung, đầy đường đầy sá, nhưng các bạn biết cho rằng: nhà in vẫn không quen hay biếu không. Với 20.000 “tấm chân thành” đó, họ tính cho chúng tôi với cái giá vỏn vẹn 80$00. Lúc mới ra, lưng vốn chúng tôi chỉ có 20$00 mà phải trả tiền nhà in những bốn lần nhiều hơn như thế, thế mà chúng tôi trả xong xuôi cả, ở trong hoặc giả có Giời, Phật phù hộ chăng?

Trả được 80$00 một bận, ấy là một phép lạ đối với chúng tôi lúc bấy giờ!

Dẫu sau này chúng tôi có đổi qua kiếp khác nữa, chúng tôi cũng khó lòng quên được mấy chục bạc đầu tiên ấy, mấy chục bạc tự những “tấm chân thành” chạy tới với chúng tôi…

Tôi còn nhớ một hôm anh Lưu Thần và tôi đương ngồi suy tính đường kia nỗi nọ (suy tính việc gì chắc các ngài cũng có thể đoán được ngay!) thì người facteur [a] đưa lại cho chúng tôi một cái thư, chúng tôi cầm thấy nằng nặng (chúng tôi tưởng tượng vậy chứ thực ra có nặng gì đâu!) bóc ra xem…

 

Một cái mandat! [b] Phải, một cái mandat. Chính là một cái mandat. Trăm phần trăm là một cái mandat. Nghìn phần nghìn là một cái mandat! Một cái mandat 40$00. Một cái mandat tự ở một biên thùy xa lạ đi về.

Cái mandat của một bạn quen, một bạn xa, một bạn gái, một bạn… giá không có cái mandat ấy thì chúng tôi đã không còn nhớ nữa! Ôi tình đời bạc bẽo! Mà chúng tôi cũng phải bạc bẽo như tình đời. Người bạn quen ấy nếu không có cái mandat ấy, thì chúng tôi, khi chép chuyện này, cũng không buồn nhắc lại một lần đến người ấy!

Ôi bạc bẽo thay tình đời, mà đồng tiền nó có thể làm cho tình đời không bạc bẽo! Xin thú thật, cái mandat  ấy làm cho chúng tôi cảm động vô ngần, nhất là khi đọc xong bức thư, bức thư chỉ vắn tắt mấy hàng rất thành thực mà tha thiết. Chúng tôi còn nhớ trong thư có câu rằng:

“Chúng tôi gửi biếu nhà báo một món tiền nhỏ này, để nhà báo dùng vào việc … mua băng quấn cho tờ báo”

Không, người bạn của chúng tôi lầm! Món tiền của bạn không phải nhỏ! Món tiền của bạn không phải chỉ dùng vào việc mua băng quấn báo. Món tiền của bạn là cả sinh mệnh của tờ báo chúng tôi vậy.

Với món tiền ấy, và một ít nữa, chúng tôi giật ở nơi khác, chúng tôi đã thu xếp xong với nhà in về khoản… hai vạn “tấm chân thành”.

Nhưng còn tiền nhà tiền cửa, tiền ăn tiền uống, tiền tem, nhất là tiền tem, chúng tôi đào đâu ra? Ngoảnh đi ngoảnh lại chúng tôi chỉ còn trông vào nhà, vào các bạn, nghĩa là những chỗ … bấp bông, không còn thể trông vào được nữa.

Trong Truyện Kiều có câu:

Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Thử xem con Tạo xoay vần đến đâu

 

Lúc bấy giờ anh Lưu Thần tức cảnh cũng có câu:

Cũng liều trơ mắt đưa chân,

Xem tờ “Tiến hóa” xoay vần tới mô?

(CÒN NỮA) [c]

 

Chú thích

[a]  Facteur (chữ Pháp): người phát thư.

[b]  Mandat (chữ Pháp): thư chuyển tiền.

[c]  Tuy ghi là “còn nữa” nhưng từ sau số 19 này cho đến khi Hanoi báo bị đóng cửa (sau số 55, ngày 20/1/1937), không thấy bài này của Lê Tràng Kiều  được đăng tiếp.

Nguồn: Hà-nội báo, H., s. 19 (13 Mai 1936), tr. 16 – 17.

TRĂM HOA, loại mới

MỤC LỤC

TRĂM HOA, loại mới

 

 

− 20.10.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày thứ bảy ; chủ nhiệm kiêm chủ bút : Nguyễn Bính ; tòa báo : 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội ; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 1 :

Trăm Hoa : Hoa lại nở (lời ra mắt)

Tê Hát : Tú Mỡ không chịu ở chung một bị với Hoài Thanh, Ng. Đ. Thi (biếm họa)

Nguyễn Bính: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ Giải thưởng văn học 1954-1955 (tr.2-3)

Tr.H. : Kỷ niệm ngày nhà văn Vũ Trọng Phụng từ trần, 13-10-1939

Vũ Trọng Phụng : Số đỏ, tiểu thuyết, trích (tr. 3, 7)

Tê Hát : Da ngựa bọc thây (biếm họa về lời Yến Lan)

‟Tầm vông vạt nhọn” : Sơn Nhân (Văn minh Hoa kỳ đã mang vào miền Nam nhiều thứ hoa … kỳ)

‟Việc làng việc nước” : Trăm Hoa (Tin mừng ; Lại miễn thuế ; Ông bình vôi ; Ông Phan Khôi có nói xấu chế độ ta không ?)

Người Hà Nội (Chúng tôi đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu)

Tê Hát : Trương Tửu khấn 5 vị để đả tệ sùng bái cá nhân (biếm họa)

Hữu Loan : Màu tím hoa sim, thơ

Sê-cốp (A. Tchekhov) : Cái hắt hơi (truyện ngắn, Triêu Dương dịch)

“Chuyện vặt hàng tuần” : Diêm Thống nhất giá ao không thống nhất – Đại tiền môn sao lại ra cửa sau – Báo Trăm Hoa ra câu đối

“Hoa cười”: Lê Thị Thảo (Đừng khóc thế) ; Lân (Em đừng sợ) ; Ngô Hòa (Kiểu cách không phải lối ; Khó gì ; Thất chính trị) ; Lê Tiến (Tiện quá) ; Vũ Hoàng (Hao tài tốn của ; Thầy số mới ; Ma ngoan cố) ;

 

 

− 28.10.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút : Nguyễn Bính ; tòa báo : 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội ; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 2 :

Nguyễn Bính (Câu chuyện anh Tố tức Thiết Vũ đến sinh sự tại trụ sở báo  “Trăm Hoa”  chiều thứ hai 22-10-1956);

Vương Cầm Thi (Tay lại cầm tay, thơ)

Nguyễn Bính: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ Giải thưởng văn học 1954-1955 (tiếp, hết)

Hương Mai (Bức tranh ở viện bảo tàng, về buổi diễn của đoàn Chim Sơn Ca, Romania tại Nhà hát nhân dân Hà Nội)

Trại Hàng Hoa (Nhặt sâu hoa) ;

“Chuyện thời xưa”: Xuân Thu (dịch)Đồ vật cũ, trích “Đông Chu liệt quốc”

‟Tầm vông vạt nhọn” : Sơn Nhân (Quân dịch hay ôn dịch ?)

“Chuyện vặt hàng tuần” : Trường An (Diêm Thống nhất giá đã thống nhất ; Hoài Minh (Chuyện đôi đũa)

‟Việc làng việc nước” : Hàm Tiếu (Ông Phan Khôi có nói xấu chế độ không ?) ; Vũ Y, Khả Phượng, Lân (Hai thái độ thô bạo đối với tình yêu của thanh niên) ; Mộ Thanh (Phải tôn trọng quyền tự do luyến ái và hôn nhân của thanh niên)

Pha Y (Thiên hạ đua nhau chụp mũ sằng, biếm họa)

Yến Lan (Tái bút, thơ)

Nguyễn Thành Long (Gặp lại, truyện ngắn)

 

 

− 04.11.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 3 :

Phạm Tường Hạnh (Một vài ý kiến về bài Giải thưởng văn học 54-55 của Nguyễn Tuân, báo « Văn nghệ » s. 140) ;

Pha Y (biếm họa : lấy tư cách cán bộ khi hỏi mua thuốc lá, lấy tư cách cá nhân khi hành hung dân) ;

Hồng Cầu (Lê-nin hết sức chú ý đến văn học) ;

Tr.H. (Một bông hoa bị vùi dập : bài thơ « Chiếc lược »)

Thụy An (Chiếc lược, thơ)

‟Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Vợ bắt thói chồng)

‟Việc làng việc nước”: Trần Nguyên (Những bản thông cáo quan trọng của BCH TƯ Đảng Lao động VN) ; Trăm Hoa (Việc làng báo).

‟Thi họa thơ”: Trần Văn Quát (Cảnh giác !!!)

‟Chúng tôi đề nghị”: Trần Văn Huy (Cần phải thực hiện tinh thần bác ái nhân đạo, tôn trọng con người trong chính sách y tế của Đảng và Chính phủ)

Đỗ Văn (Bài thơ  ‟Mùa thu đến‟, truyện)

‟Cuộc thi câu đối‟: giải nhất : Lê Kim

‟Chuyện thời xưa‟: Xuân Thu (Bổ óc chữa bệnh, trích Tam quốc chí)

‟Hoa cười‟: Nguyễn Thưởng (Chuyển hướng); Trần Huyền (Hai bố con); Phạm Long (Nhấm nháp cho vui); Thọ Cao (Đường); Thu Tâm (Câu chuyện tiền đồ); Sơn Giao (Gả cho ai); Lương Gia Minh (Không phải kim đâm); Hát Ca (Bệnh giấy tờ);

 

− 11.11.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 4 :

Thanh Châu (Chỉ có kẻ nào yêu tha thiết mới có quyền trách móc và sửa đổi, thư gửi “Trăm Hoa”);

Bích Lục (Nặng về “thành phần chủ nghĩa” nên đã có những sai lầm lệch lạc trong chấm giải cuộc thi sáng tác văn nghệ, do Ty Văn hóa Nam Định tổ chức năm 1956?)

Lưu Thủy (Nhân đọc bài thơ “Chiếc lược”: Chẳng cứ gì một bông hoa đó bị vùi dập!);

Lê Cẩm Hồ (Chiều, thơ)

Trần Lê Văn (Rang thóc, thơ ngày kháng chiến)

Bùi Xuân Phái (biếm họa: Hậu quả của những cuộc “chụp mũ”)

“Việc làng việc nước”: Nguyễn Thị Đông (Lệch lạc đấy); Lưu Văn Vinh (Quốc doanh rượu nhiều lãi quá!)

“Dự thi họa thơ”: Văn Trào (Cảnh giác)

“Chúng tôi đề nghị”: Trần Nguyên (Trừng trị kịp thời đúng mức những hành động vi phạm pháp luật /Hoan nghênh bản thông cáo của TƯ Đảng v/v thi hành kỷ luật trong sai lầm cải cách ruộng đất/);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Loạn gái lầu xanh);

Sê-cốp (A. Tchekhov): Con chó (truyện ngắn, Triêu Dương lược dịch)

Thanh Châu (Đêm Kiếp Bạc, phóng sự ngắn)

Trăm Hoa (Tại sao báo “Nhân Văn” bị cảnh cáo – Chúng tôi xin có lời khen Sở báo chí)

“Hoa cười”: Phạm Anh Việt (Bị chỉnh); Sơn Giao (Rét; Ngã mất); Tiếu Tâm (Chiếu điện toàn phần); V.Đ. (Rào đón); Cao Sơn (Không sợ nữa); Nhật Thanh (Kén vợ); Lương Gia Ninh (Bổ sung); Thọ Cao (Tâm sự);

Trạn Hàng Hoa (“Nhặt sâu hoa”)

 

− 25.11.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 5:

Thạch Lựu (Tiếng nói);

Tê Hát (biếm họa: Nỗi vui anh chồng từ nay đêm về ngủ nhà với vợ khỏi lo trình hộ khẩu);

Trăm Hoa (Một vấn đề chính trị trọng yếu: Toàn Đảng toàn dân đoàn kết là yếu tố quyết định sửa chữa sai lầm trong CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức);

“Chuyện thời xưa”: Xuân Thu (Dùng người hiền, trích Đông Chu liệt quốc);

Hà Nhật (Mưa Huế, thơ)

Hồ Thiện Ngôn (Chiếc chăn hoa, thơ)

“Việc làng việc nước”: Trần Nguyên (Biến Hỏa Lò thành trường học); Trăm Hoa (Báo “Nhân văn” kháng cáo); Tường Vy (Mạc Tư Khoa, Ma-scơ-va); Tần Hoài (Đi Liên Xô); Người Hà Nội (Một việc được đổi mới);

“Chúng tôi đề nghị”: Nguyễn Văn Điều (Sở thuế trung ương xét lại bản lề thuế xuất lợi tức đối với hộ nhỏ);

Thụy An (Chuyện Bố, Mẹ, Bé và con búp bê, truyện ngắn);

“Chuyện vặt hàng tuần”: Mai Sinh (Thuốc lá đắt, thuốc lào cũng đắt);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Đại Sở khanh);

“Hoa cười”: Hoàng Lê (Con nhà vô phúc); Tiếu Tâm (Sao không thấy; Chí công vô tư); Thảo (Thành phần tiểu tư sản); D.L. (Khó tính quá); Trân Huyền (Đi vào thực tế);

Cuộc thi xướng họa: Trần Văn Quát (Bài xướng); Dương Hiệp, Long Thu, Yên Sơn (Các bài họa có hy vọng vào chung khảo);

 

 

− 02.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 6:

Thạch Lựu (Nói để xây dựng);

T.H. (Đầu đuôi câu chuyện “Bài thơ chiếc lược” và bài thơ khiếu nại lên Hồ Chủ tịch);

Trăm Hoa (Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của nhà nước);

Thơ: Tạ Hữu Thiện (Xem lá thư tình của Bích);

Dịch thơ Đường: Nguyễn Bính (Nửa đêm cái hẹn sai rồi…)

Ca dao kháng chiến: Nguyễn Ngọc Tấn (Chén cơm);

“Nói gần nói xa”: Trần Nguyên (Kết 7 năm tù còn nhẹ quá, về vụ tên Đỗ Văn Long cướp của);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Hiến pháp hay hiến… Mỹ);

“Việc làng ta”: Tường Vi (Số phận giải thưởng ấy ra sao?); TH (Nhận định của Thủ tướng về việc sở báo chí TƯ thi hành kỷ luật báo “Nhân văn”);

Đỗ Văn (Một bài tính sai, truyện ngắn)

“Học người xưa”: Hải Đường (Vì lợi nước bỏ thù riêng);

Thơ họa: Vương Duy, Cao Chi, Lê Năng Cảnh, Cao Thị Minh Châu

“Hoa cười”: Lương Gia Ninh (Trong phòng chụp ảnh; Tính cẩn thận); Thọ Cao (Cụt hứng); Thuần Tăng (Bình luận sư); Đ. (Sửa sai); Đặng Sư Đạo (Tự do); Bình (Hũ nút… nút hũ);

 

− 09.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 7:

Thạch Lựu (Nói để xây dựng);

V. Tôn (biếm họa: như trúng phong do chen mua hàng mậu dịch);

Trăm Hoa (Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của nhà nước, tiếp);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Hung tinh chiếu mệnh);

Thơ: Nguyễn Bính (Tỉnh giấc chiêm bao);

“Việc làng ta”: Lưu Thủy (Một vài nhận xét về “Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956”); N.H.L. (Cần sửa lại một số chữ dùng sai);

“Nói gần nói xa”: Mai Sinh (Chuyện rượu, thuốc lào, thuốc lá);

Truyện dịch: Quách Mạt Nhược (Tư Mã Thiên bất mãn, Đỗ Quyên dịch);

Thơ dịch: Tường Vi (Dịch bài thơ Đường “Quân tri thiếp hữu phu…”);

“Hoa cười”: Trần Văn Lý (Tranh luận nhiều rồi), Nguyễn Khuê (Tiểu tư sản; Mất lập trường; Trăm nhà đua tiếng), Trọng Điều (Bệnh gì), Trọng Khôi (Hai bức thư), Đặng Văn Nhậm (Mấy gánh);

 

 

− 16.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 8:

Thạch Lựu (Báo “Nhân văn” nên thành khẩn tự phê);

V. Tôn (biếm họa: cùng đẩy con rùa “chính sách cán bộ”, chính sách y tế, v.v..)

Ban chấm thi (Kết quả cuộc thi họa thơ “Cảnh giác”);

Truyện dịch: Sê-cốp /A. Tchekhov/ (Sách dạy gửi thư theo lối mới, Triêu Dương dịch);

Thơ: Hữu Loan (Tâm sự thủ đô);

Trăm Hoa (Phải làm gì để cải thiện đời sống nhân dân?);

Thơ vui:  Mai Sinh (Thuốc /lá/ Trung Quốc);

“Nói gần nói xa”: Đồng Ký (Kiến nghị của Công đoàn vụ tổ chức Bộ Thương nghiệp về báo “Nhân Văn”);

Thơ ngày kháng chiến: Nguyễn Bính (Phá đồn giặc, /1949/);

Truyện ngắn: Trúc Đường (Sẵn sàng tha thứ cho em);

“Học người xưa”: Hải Đường (Trò chơi nguy hiểm);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Người hay thú);

“Hoa cười”: Búa Tạ (Phải xét lại; Nổi tiếng rồi), Ngô Quốc Kiệm (Khuyết điểm trầm trọng; À ra thế; Mưu Gia Cát), H.M. (Như của mình);

− 23.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 9:

Thạch Lựu (Nói và làm);

Biếm họa: Trích báo Trung Quốc (Nói và làm; Phê và tự phê);

Đọc sách báo: Trần Nguyên (Phê bình “Đất Mới” tập 1, Nxb. Minh Đức, 1956);

Thơ: Võng Xuyên (Bút tung hoành); Nguyễn Bính (Chim thêu);

Trăm Hoa (Phải làm gì để cải thiện đời sống nhân dân?, tiếp);

Thơ vui: Tùng Quân (Tự thán: Thuốc lào đắt);

“Nói gần nói xa”: Những kiến nghị và thư phản đối báo Nhân Văn: (Tuyên bố của các nhà báo ở Hà Nội; Tuyên bố của anh chị em công tác văn nghệ LK5; Bản tuyên bố của các bạn văn nghệ Nam Bộ); Tin (Báo “Nhân Văn” đã bị đình bản và cấm lưu hành);

Truyện ngắn: Trúc Đường (Sẵn sàng tha thứ cho em, tiếp);

Thơ họa dự thi “Cảnh giác”: Tú Sụn (Bài họa giải nhì), Lê Năng Cảnh (Bài họa giải nhì), Ngô Thụy Khánh (Bài họa giải ba);

“Hoa cười”: Trần Quang (Tự lực cánh sinh), Lê Hòa (Khoét sâu; Vừa đủ);

 

− 30.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 10:

Thạch Lựu (Nguyện vọng thiết tha, chân chính);

Biếm họa: Trần Hưởng, V. Tôn (Quái thai nịnh trên nạt dưới);

Trăm Hoa (Phải làm gì để cải thiện đời sống nhân dân?, tiếp, hết);

Thơ: Nguyên Thủy (Xuống trần); Phác Văn (Cây giang xanh vỏ; Gác đêm; Nếu cần em cứ gọi);

“Nói gần nói xa”: Trần Nguyên (Quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí đã được sắc lệnh đảm bảo /về sắc lệnh 282 ngày 14/12/11956 của Chủ tịch nước VNDCCH/);

Bạn đọc phê bình Đất Mới: Hoàng Đình Kính (Độc giả vui lòng hoan nghênh nếu các bạn thành thực nhận khuyết điểm);

Thơ vui: Thái Lang (Họa bài “Thuốc lào đắt”);

Truyện dịch: Lu-i A-sơ-kê-na-si /Ashkenazi, Tiệp Khắc/ (Chiếc hôn đầu, Mai Thúc Luân dịch);

“Hoa cười”: Tùng Quân (Được cái áo mất cái quần);

 

 

− 06.01.1957: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 11:

Báo cáo của Ban Thường trực QH khóa /=kỳ họp/ thứ 6 (do ô. Tôn Quang Phiệt đọc sáng 29/12/1956);

P.V. (Hồ Chủ tịch chào mừng Quốc hội);

Thơ: Hoàng Yến (Mưa rừng); Tạ Hữu Thiện (Tôi tìm em);

Truyện ngắn: Đỗ Văn (Nhớ nhà);

Thơ dịch: Thanh Hương (Dịch “Độc tọa Kính Đình sơn” của Lý Bạch);

“Hoa cười”: Mai Sinh (Năm đợi mười chờ); Hà Thị (Giờ lại thối rồi);

 

−23.01.1957: (tuần báo) Trăm hoa Xuân Đinh Dậu (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; bìa in tại nhà in Ngô Viết Viễn, 58 Hàng Trống, Hà Nội; 24 trang 42x29cm; giá 1.000 đồng), s. 12+13+14:

Thạch Lựu (Mùa xuân năm nay);

Tường Vi (Đầu năm xông các báo, hay là một giấc mơ xuân);

Trăm Hoa (Cùng bạn đọc thân mến /Trăm Hoa sẽ đổi mới/);

Thơ: Nguyễn Bính (Tình quê; Mùa xuân xanh /1941/); Yến Lan (Bên đường chiến khu /1948/); Văn Tôn (Tình lũy tre xanh);

Bút ký: Tô Hoài (Cùng lứa tuổi /1947/);

T.H. (“Trăm Hoa” sẽ đăng “Hồng lâu mộng”);

Đặng Thai Mai (Nếu không xem hết “Hồng lâu mộng”, xem hết thi thư cũng uổng công);

Thơ vui: Tùng Quân (Khấn Táo quân); Minh Sính (Tờ tấu của Táo quân); Đông Hoa (Họa thơ “Thuốc lào đắt”); Huyền Thanh (Họa thơ “Thuốc lào đắt”);

“Hoa cười”: Z.Z. (Xếp xó), Nguyễn Khuê (Căm thù), Ngọc Uẩn (Tú gì?);

Truyện ngắn: Đoàn Giỏi (Theo thời),

Thơ dịch: Vân Thanh (Dịch thơ Đường “Nhất áp xuân giao vạn lý tình…”)

Truyện vui: Trúc Đường (Chấp một xe);

 

 

− Trong tháng 02. 1957: (tuần báo) Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 16 trang 42x29cm; giá 600 đồng):

Trăm Hoa (Kính cáo bạn đọc /”Trăm Hoa” sẽ chuyển thành tạp chí từ đầu tháng 4/1957/);

Thơ: Nguyễn Bính (Xuân nhớ); Tạ Hữu Thiện (Mỗi khi vò trang lịch); Yến Lan (Chiếc quả sơn);

Thơ dịch: Tường Vi (Dịch thơ Đường “Xuân miên bất giác hiểu…”);

Truyện ngắn: Phùng Cung (Quản Thổi); Trúc Đường (Lên xe xuống ngựa);

Câu đối: Nghè Bùn (Mừng báo “Nhân dân”; Mừng báo “Nói thật”; Mừng Nxb. Minh Đức; Mừng báo “Độc lập”; Mừng Sở báo chí TƯ);

“Họa thơ”: Đoàn Văn Nhĩ (Thuốc lào đắt);

“Chuyện thời xưa”: Hải Đường (Bệnh đa nghi);

Nguyễn Bính (Lời thanh minh: Tôi không dự, không ứng cử BCH Hội Liên hiệp văn nghệ);

Truyện dịch: I. Ê-ren-bua /Ilya Ehrenburg/ (Cô đào hát);

“Hoa cười”: Tùng Quân (Di chúc của Ngô Đình Diệm);

Trăm Hoa: Cuộc thi câu đố và câu đối ngày xuân còn hạn nộp bài.

(sau số này, “Trăm Hoa” chấm dứt hoạt động trên thực tế)

HÀ NỘI BÁO 1936 – 37

 HÀ NỘI BÁO 1936-37

HANOI BÁO

Số 1 (01 Janvier 1936)

Ra ngày thứ Tư –  01 Janvier 1936) –  88 Route de Hue – Tel. 755 – 3 xu

Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
1  (bìa 1)3 – 4

5 – 6

 

 

7 – 8

8

9 – 13

14 – 17

18 – 19

20 – 21

23 – 24

24

25 – 27, 29 – 32

q/cáo sách “Tiếng thu”, Phương Đông xb.[chưa biết]

Dưới bóng trăng tà

 

Nhà văn bình dân

Thông báo “đã in xong Dứt tình, tâm lý t.thuyết của V.Tr. Phụng”; thông báo“Những cuộc thi hàng tháng của Hanoi Báo: thi thơ và tr. ngắn”

Mộng ngày hè

Cô hàng thịt ở ngoại ô

Bó lan trắng

Lượm lặt trong 7 ngày

Huyền ảo

“Ai muốn có tập “Tiếng thu” gửi về Lê Tràng Kiều, 88 phố Huế, Hanoi

Giông tố

  

 

[ sưu tập bị mất các trang này]

Thơ

 

 

Chính luận

q. cáo

Truyện dài

Truyện ngắn

Truyện ngắn

Điểm tin văn nghệ

Ký về sinh hoạt văn nghệ sĩ

q. cáo

Truyện dài

  

 

 

 

Thái Can

Lê Tràng Kiều

Trần Bình Lộc

Nguyễn Văn Kiện

Lưu Trọng Lư

Lưu Lê

Lê Tràng Kiều

Vũ Trọng Phụng

 

 

 

HANOI BÁO

Số 2 (08 Janvier 1936)

Ra ngày thứ Tư, 8 Janvier 1936 – 88 Route de Hue – Tel. 755 – 3 xu

Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
 2(bìa 2)

3 – 4

4 – 7

7

8 – 11

13 – 20

21 – 23

24-25,31

26 – 31

 

giới thiệu sách báo: “Kiến văn” sẽ ra số đầu, TS: 5 đường Phạm Phú Thứ; Sách: “sơ học yếu lược Sử ký” của Lê Công Đắc; “Cứu nạn kinh tế” của Nguyễn văn Bân, “Tiếng thơ” của Dương Lĩnh Nguyễn Đức Hợp; “Nghè bùn chơi xuân” sách tết.Giới thiệu “Huyền Không động” của L.T. Lư

Huyền Không Động: 1/Trà Hoa Nữ

Cái áo thâm đen

Mộng ngày hè, tiếp

Tiếng địch sông Ô

Nghệ thuật

Cầu sương điếm cỏ

Giông tố, tiếp

 Phê bình

Truyện

Tản văn /tranh luận văn nghệ

Truyện dài

Thơ

Luận

Truyện

Truyện dài

  

Lê Tràng Kiều

Lưu Trọng Lư

Văn Tệ

Trần Bình Lộc

Phạm HuyThông

Lê Tràng Kiều

Lưu Trọng Lư

Vũ Trọng Phụng

 

 

 

 

HANOI BÁO

Số 3 (15 Janvier 1936)

– Bìa 1: Ra ngày thứ tư – 15 Janvier 1936 – 88 Route de Hue – Tel. 755 – 3 xu

– Bìa 2 (tr. 2): q.cáo Hanoi Báo số Xuân

– Tuyệt vọng / 3 –6/ Tr. ngắn / Lưu Trọng Lư

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 7 –8/ truyện 2 đứa trẻ phiêu lưu/ Lưu Trọng Lư

– Đêm khuya ở những góc phố tối tăm/ 9 – 10, 13 / truyện / Lan Đình

– Huyền Không Động: 1. Trà Hoa Nữ, tiếp / 11 – 13/ truyện / Lưu Trọng Lư

– Cảnh đoạn trường / 14 –15/ thơ / Thái Can

– Mộng ngày hè, tiếp / 16 – 19/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– “Dứt tình” /19/ phê bình / Lê Tràng Kiều

– Chó hay beo / 20 / tạp văn / Văn Tệ

– Truyện Ba Tư: Mưu đàn bà /21 – 25/ V.N.P. thuật (trích P.V.T.C.)

– Giông tố, tiếp / 26-30/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Tr. 31 (bìa 3): g.thiệu sách: “Bâng khuâng” thơ Phan Văn Dật; “Giang hồ”, t.thuyết, Trần Bình Lộc; “Dứt tình” tâm lý t.thuyết, Vũ Trọng Phụng; “Kiến văn” số 1; “Tiếng trẻ, tập mới” số 1 /Nguyễn Vỹ, Trương Tửu, Vũ Trang, Ng. Đ. Quỳnh chủ trương/; “Mơ mộng” thơ mới, Nguyễn Văn Phúc;

– Bìa 4: q.cáo nhà thuốc “Hồng Khê” Lê huy Phách

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 1

 

Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
     

 

 
Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
     

 

 

HANOI BÁO

Số 4 (số Xuân 1936)

– Xuân / 1/ tùy bút/ Lê Tràng Kiều

– Tranh tết / 2-3, 20/ bình điểm mỹ thuật/ Nguyễn Đỗ Cung

– Bao la sầu /4/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Đêm giao thừa /4/ văn/ Hoài Thanh

– Người mua hoa /5 – 7/ Trọng Lư và Tràng Kiều

– Những mầu tươi /7/ thơ/ Nguyễn Văn Kiện

– Tết ăn mày! / 8 – 11/ truyện ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Một giấc mộng xuân /12 – 15/ truyện / Nguyễn Văn Nam

– “Giang hồ” của Trần Bình Lộc /16 – 17/ phê bình / Lê Tràng Kiều

– Mơ ngày Tết /18 – 20/ truyện ngắn/ Thiên Hư

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 21 – 23/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– 15 truyện ngắn/ 24 – 25/ truyện/ Lưu, Lê

– Hoa đào rụng / 26 – 29, 30/ truyện/ Phạm Thái

– Áo xuân / 30-31/ thời trang/ Cô Tô

– Hyền Không động: 1. Trà Hoa nữ, tiếp /32 – 36/ Lưu Trọng Lư

– Tết với nhất / 37 – 39/ ký/ Anh Vũ

– Vườn xuân / 39/ thơ/ Thái Can

– Mấy trang nhật ký / 40 – 41/ ký/ Vi Lan

– Anh Nga / 42 – 45/ thơ/ Huy Thông

– Buổi chiều xuân / 46 – 48/ truyện ký/ Vân Huỳnh

– Tr. 48: q.cáo Nhà xuất bản Phương Đông, 99 phố Huế, Hanoi sẽ xb: “Trong rừng sim”, tr.dài Lưu Trọng Lư; “Gái chưa chồng”, kịch Đoàn Phú Tứ; “Kỹ nghệ lấy Tây”, phóng sự, Vũ Trọng Phụng

– Một nụ cười xuân trong bóng tối / 49 – 52/ tr. ngắn/ Nguyễn Văn Kiện

– Một cái nhà mát trên đồi / 53 – 54/ kiến trúc/ Ng.X.Tùng, Võ Đức Diên

– Mộng ngày hè, tiếp / 55 -59/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Giông tố, tiếp / 60 – 64/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Hoa đào với má đào xuân / 65/ văn/ cô Trương Lệ Dung

– Bên khóm mai / 65/ thơ/ Vi Lan

– Cái vinh cái nhục của Táo Quân/ 66 – 72/ kịch/ Đoàn Phú Tứ

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 2

HANOI BÁO

Số 5 (5 Février 1936)

– Bìa 2: q.cáo “Dứt tình”, Hanoi báo xb., tựa Lê Tràng Kiều, giá 0$40; “40 bài tập đọc lớp trung đẳng năm thứ nhất” của Tô Hữu Trác và Nguyễn Đức Phong, nhà in Lê Cường, 88 Route de Hue, Hanoi

– Sau ngày Tết / 1 – 2/ văn / Vi Lan

– Thư xuân / 2/ thơ/ cô Mộng Tuyết

– Đời tình ái của nhà chí sĩ Phan Sào Nam /3 – 4, 18/ phỏng vấn/ Phan Thị Nga

– Từ đấy / 5 – 6/ thơ/ Phạm Đình Bách

– Lời cuối cùng / 6/ thơ/ Thanh Tịnh

– Lê thiên đường / 7 – 8/ tr. ngắn / Phổ Chiếu

– Dưới trăng xuân / 8/ thơ/ Bá Lộc

– Lượm lặt trong 7 ngày/ 9 -11, 28/ điểm tin văn giới/ Văn Tệ

– Báo Phong Hóa dốt / 12/ bút chiến/ Văn Tệ

– Mộng ngày hè, tiếp / 13 – 16/ truyện giài / Trần Bình Lộc

– Đọc “Giang hồ”, truyện của Trần Bình Lộc / 17 – 18/ phê bình/ Trương Lệ Dung

– Huyền Không động: 1. Trà Hoa nữ, tiếp /19 – 22/ truyện / Lưu Trọng Lư

– Tội ông trời / 23 – 24/ truyện/ Thanh Tư

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 25 – 28/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Viết sử thêm buồn cho bác Chúc…/ 28/ lượm lặt/ Văn Tệ

– Giông tố, tiếp / 29 -32/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Tr. 22: Sách mới: “Bồng Lai hiệp khách”, t. 4; “Một đêm trước”, tập truyện, Tam Lang, Mai Lĩnh xb.; “Vết tay trên trần”, 2 truyện trinh thám, Phạm Cao Củng; “Histoire de Cleopatre”, chữ Pháp, Lê Công Đắc; “Đường ngay” tạp chí Công giáo, Vinh; “Người cá voi”, truyện, Văn Tuyền, Mai Lĩnh xb.; “Dạ quang kiếm hội”, truyện, Văn Tuyền, Mai Lĩnh xb.; “Với sơn hà”, thơ, Trần Tuấn Khải; “Le Cygne” tạp chí của Nguyễn Vỹ, Trương Tửu; “Tiến bộ” tức “Bắc Ninh tuần báo”; “Thi sĩ với giai nhân”, bài diễn thuyết của Ngô Ngọc Kha tại Nam định ngày 19/2; “Ba Giai Tú Xuất chơi xuân”, Nguyễn Nam Thông, Bảo Ngọc văn đoàn xb.;

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 3

HANOI BÁO

Số 6 (12 Février 1936)

– Bìa 2: q.cáo “Dứt tình”, “40 bài tập đọc lớp trung đẳng năm thứ nhất” [như s.5]

– Một việc tối quan trọng trong làng văn /1/ kiến nghị giới nhà văn nhà báo về việc Phong Hóa vu Ng. Công Hoan ăn cắp “Nửa chừng xuân” và “Đoạn tuyệt” để viết “Lá ngọc cành vàng” và “Cô giáo Minh”/ Hanoi Báo

– Đóa vân côi / 2 – 4/ bút ký/ Nguyễn Xuân Huy

– Những đêm giài hiu quạnh / 5/ thơ/ Tri Chơn

– Với bóng trăng suông / 6, 24/ truyện ngắn / Tri Chơn

– Huyền Không động: 1. Trà Hoa nữ, tiếp / 7 – 9/ truyện / Lưu Trọng Lư

– Em buồn / 9/ thơ/ Thúc Tề

– Xuân lên đường / 10/ thơ/ Thúc Tề

– Báo “Tràng an” phê bình quyển “Dứt tình”/ 10/ phê bình/ [Hoài Thanh]

– Lượm lặt trong 7 ngày / 11/ điểm tin văn/ Văn Tệ

– Trả lời cho báo “Phong hóa”: lời vu cáo ấy vẫn là hèn / 12-13/ bút chiến/ Văn Tệ

– Quan đêm / 14 – 15, 30/ chuyện vui/ Hoàng Tế Mỹ

– Chàng Lưu / 16 – 17/ thơ/ Huy Thông

– Mộng ngày hè / 18 -21/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Cầu sương điếm cỏ / 22 – 24/ Lưu Trọng Lư

– Giông tố, tiếp / 25 – 30/ truyện giài /Vũ Trọng Phụng

– Tiếng thu / 31/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Lơ đãng / 31/ thơ/

– tr. 31: q.cáo Nxb. Phương Đông

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 4

HANOI BÁO

Số 7 (19 Février 1936)

– Một sự chưa từng có /1 – 2/ ký/ Phan Thị Nga [về 1 phụ nữ Gò Công dự hội nghị Phật học ở Madras, Ấn-độ]

– Lượm lặt trong 7 ngày /3 – 5/ điểm tin văn giới/ Văn Tệ

– Chuyện hèn của báo “Phong hóa”: Tổ ong vỡ /6 -7/ bút chiến/ Lê Tràng Kiều;

– Chuyện hèn của báo “Phong hóa”: Vì lẽ gì Phong Hóa không trả lời?/ 7 – 8/ bút chiến, Thơ sách họa / Lưu Trọng Lư

– Tin làng văn /8/: báo “Mai” của Đào Trinh Nhất; “Ích Hữu” ra số 1; “La Nouvelle Revue Indochinoise” ở Sàigon; “Đông Dương chiếu bóng” ra 3 kỳ/tháng; “Cậu ấm”, báo nhi đồng; “Thơ Bạch nga”; “Văn sĩ”, kịch Hồng Quang; hoàng anh gãy cánh”, tâm lý tiểu thuyết của Mai Sơn

– Thuyền mộng / 9/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Lâu đài trên không / 10 – 11/ thơ/ Phạm Đình Bách

– Tình nhân của em tôi / 12 – 19/ truyện ngắn/ Trần Bình Lộc

– “Vết tay trên trần”/ 20/ điểm sách/ Hanoi Báo [về sách trinh thám Ph. Cao Củng]

– Mộng ngày hè, tiếp / 21 – 24/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 25 – 26/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Giông tố, tiếp / 27 – 32/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 5

HANOI BÁO

Số 8 (26 Février 1936)

– Lượm lặt trong 7 ngày / 2 – 4/ điểm thời sự/ Văn Tệ [thi tri huyện; Tr. Tửu diễn thuyết về thơ “Bạch nga”; Đ.D.Anh làm từ điển]

– Những phút vinh nhục của nghề báo: lời giáo đầu / 5/ văn hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Trên sông Hương / 6/ thơ/ Thái Can

– Có duyên / 7 – 11/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Mộng ngày hè, tiếp / 12 – 14/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Ngoại tình / 15-16/ truyện ngắn/ V.T.-T.K.

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp, hết / 17 – 18/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Cô Nhung / 19 -22, 26/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Lòng thương / 23 -25/ kịch ngắn/ Tri Chơn

– tr. 26: Tin làng văn: “Ích hữu”; “Ông vua thầu khoán ở xứ Bắc”, truyện, Yên Sơn; “Học sinh tuần báo”; “Pháp-Việt-Hán từ điển” của Đào Duy Anh

– Giông tố, tiếp / 27-31/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 6

HANOI BÁO

Số 9 (4 Mars 1936)

– Lượm lặt trong 7 ngày / 2-3/ điểm tin văn / Văn Tệ

– Những phút vinh nhục của nghề báo / 4-5, 15/ hoạt kê, tự truyện/ Lê Tràng Kiều

– Cái thái độ hèn nhát của báo “Phong hóa”/ 6-7/ Hanoi Báo

– Từ “Đoạn tuyệt” đến “Cô giáo Minh”/ 8-9/ bút chiến/ Nguyễn Công Hoan

– Tần Hồng Châu / 10-13/ thơ/ Huy Thông

– Giọt lệ sau cùng / 14-15/ tr. ngắn/ Trương Lệ Dung

– Khách sông Chu / 16-17/ truyện ngắn/ V.T. – T.K.

– Cô Nhung, tiếp / 19 -21, 31/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Trong bầu giời đen kịt / 22-23/ truyện/ Tri Chơn

– Mộng ngày hè, tiếp, hết / 24-26/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Giông tố, tiếp / 27-31/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 7

HANOI BÁO

Số 10 (11 Mars 1936)

– Lối tự học của những bực đàn anh nước ta: Ông Phan Khôi tự học chữ Tây / 2-4/ ký/ Phan Thị Nga

– Trên hồ / 4/ thơ/ N. H. Du

– Lượm lặt trong 7 ngày / 5-6/ điểm tin văn / V.T.

– Những phút vinh nhục của nghề báo: II/ Thám hiểm /7-8/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Chuyện tình chung / 7-8/ thơ/ Tri Chơn

– Nhân xem “Anh nga”/ 9-11/ phê bình; trích lại “Tràng an”/ Hoài Thanh

– Dưới bóng giăng vàng/ 11/ thơ/ Tri Chơn

– Kinh Kha/ 12-15/ thơ/ Huy Thông

– Mộng hoa / 16-18/ truyện ngắn/ Trần Quang Viễn

– Lê Yên /19-21, 26/ kịch/ Phạm Huy Thái

– Cô Nhung, tiếp / 23-26/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Giông tố, tiếp / 27-31/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 8

HANOI BÁO

Số 11 (18 Mars 1936)

– Lượm lặt trong 7 ngày / 2-4/ điểm tin/ Văn Tệ

– Những phút vinh nhục của nghề báo, III / 5-6/ Lê Tràng Kiều

– Tấm gương / 7-8/ truyện ngắn/ Nguyễn Khương

– Việc Phong hóa – Nguyễn Công Hoan: ô. Khái Hưng lên tiếng / 9-11/ tranh luận/ Khái Hưng, Văn Tệ

– Bức thư gửi ô. Ng. T. Tam chủ nhiệm ‘Phong hóa’ / 12/ bút chiến/ Hanoi Báo

– Lòng hối hận/ 13-16/ kịch thơ/ Huy Thông

– Mấy vần huyền diệu/ 16/ thơ/ Thái Can

– Họa thơ L.Tr. Lư số 7/ 16/ thơ/ Chu Hà, Lã Xuân Choắt

– Cô bạn một đêm/ 17-20/ tr. ngắn/ Phạm Huy Thái

– Giông tố, tiếp/ 21-25/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Cùng các bạn trong làng văn/ 26/ về tr. luận ngh.thuật/ H.Thanh, L.Tr.Kiều, L.Tr. Lư

– Thời xưa/ 27/ thơ/ Tri Chơn

– Cô Nhung, tiếp/ 28-30/ chuyện giài/ Lưu Trọng Lư

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 9

HANOI BÁO

Số 12 (25 Mars 1936)

– Lối tự học của những bực đàn anh nước ta: Cụ Huỳnh Thúc Kháng học chữ Tây/ 2-3/ ký/ Phan Thị Nga

– Mấy vần huyền diệu (in lại, đính chính)/ 3/ thơ/ Thái Can

– Những phút vinh nhục của nghề báo, IV/ 4, 29/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Lòng hối hận, tiếp/ 5-6, 30/ kịch thơ/ Huy Thông

– Nàng tiên bên sông/ 7/ thơ/ K. Khanh

– Cùng ô. Ngộ Không, báo “Phong hóa”/ 8/ bút chiến/

– Tâm hồn nghệ sĩ/ 9-13/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Huyền Không động: II. Người nữ tỳ của bà chúa Liễu/ 14-17/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Bắt dơi/ 18-20/ bút ký/ Mộng Tuyết

– Vì lòng trắc ẩn/ 20-21/ tr. ngắn/ Trương Lệ Dung

– Cơm thầy cơm cô/ 22-25/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

– Cô Nhung, tiếp/ 26-29/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– “Giông tố” không còn ra được nữa/ 30/ thông báo/ Hanoi báo

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 10

HANOI BÁO

Số 13 (1er Avril 1936)

– Tiểu thuyết/ 2-3/ luận/ Lê Tràng Kiều

– Lòng xuân/ 4-5/ truyện/ Mộng Tuyết

– Đêm trăng mờ/ 6/ thơ/ Thu An

– Hoa giấy và hoa đồng quê/ 6/ thơ/ Thanh Tịnh

– Người nữ tỳ của bà chúa Liễu, tiếp/ 7-10/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Tội trạng báo “Phong hóa”/ 11-12/ bút chiến/ Hanoi báo

– Phong hóa diễu cái ngu dốt của dân quê/ 11-12/ bút chiến/ Thiện Quả

– Chúng tôi trị báo “Phong hóa”/ 13/ bút chiến/ Lê Tràng Kiều

– Báo “Phong hóa” vu cáo hèn/ 14-15/ bút chiến/ Lê Tràng Kiều

– Những cái dốt của “Phong hóa”/ 15-16/ độc giả

– Những phút vinh nhục của nghề báo/ 16-17/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Cô Nhung, tiếp/ 18-21/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Hai tâm hồn/ 22-26/ kịch/ Trọng Phi

– Cơm thầy cơm cô, tiếp/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 11

HANOI BÁO

Số 14 (8 Avril 1936)

– Thơ mới/ 2-3/ luận/ Lê Tràng Kiều

– Giới thiệu sách “Văn chương và hành động”, tuyên ngôn của văn phái Phương Đông/ 3/ Nguyễn Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư

– Ông Phạm Quỳnh nói chuyện lối “tự học”/ 3-4/ ký/ Phan Thị Nga

– Trên dòng sông Nhuệ “Tình già”/ 7/ truyện ngắn/ V.T.- T.K.

– Tội trạng báo “Phong hóa”/ 8/ bút chiến/ Hanoi báo

– Vì vu cáo hèn, “Phong hóa” ngày càng xuống/ 9-10/ bút chiến/ Văn Tệ

– Tôi không muốn/ 10/ thơ/ N. Nhuệ Thủy

– Thơ sách họa: họa thơ L.T.Lư số 7/ 10/ thơ/ T.L., học sinh trường Caolao

– Lòng hối hận, tiếp/ 11-14/ kịch thơ/ Huy Thông

– Cô Nhung, tiếp/ 15-18/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Người nữ tỳ của bà chúa Liễu, tiếp/ 19-21/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– tin: Vũ Lang, q.lý “Ích Hữu” mất 5.4.1936/ 22/tin buồn/ Lưu Trọng Lư

– Lời thú tội/ 23-26/ truyện/ Huy Thái và Tiểu Thu

– Cơm thầy cơm cô, tiếp/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

– Bình phẩm “Dứt tình”/30/ phê bình/ Cô Lệ Chi, báo “Đông tây”

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 12

HANOI BÁO

Số 15 (15 Avril 1936)

– Ngày 2 Mai / 2/ luận thời sự/ Lưu Trọng Lư

– Ý kiến ông Phạm Quỳnh đối với ái tình/ 3/ phỏng vấn/ Phan Thị Nga

– Phê bình “Thuyền mơ” của Thao Thao/ 4-6/luận/ Lê Tràng Kiều

– Một cuốn tiểu thuyết của dân quê/ 6-7/ luận/ Thu An

– Khúc ái ân (8 bài thơ tình yêu dân gian) / 7/

– Nắng mới/ 8/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Nắng mới/ 8/ thơ/ Nguyễn Vỹ

– Tiếng gọi của đồng quê/ 8-9/ thơ/ Thanh Tịnh

– Trăng mờ/ 9/ thơ/ Thúc Tề

– Xuân hoài/ 9/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Họa thơ L.Tr. Lư, số 7/ 9/ thơ/ Kỳ Lộc, Kỳ Linh, Bửu Hiệp

– Người nữ tỳ của bà chúa Liễu, tiếp/ 10-12/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Tình yêu/ 13-15/ tr. ngắn/ Thanh Tử

– Những phút vinh nhục của nghề báo/ 16-17/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Cô Nhung, tiếp/ 18-20/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Tội trạng báo “Phong hóa”/21-22/ bút chiến/ Đặng Thế Xương, Hanoi báo

– “Phong hóa” với dân quê/ 23-24/ bút chiến/ Thiện Quả

– Báo “Phong hóa” cầu chính phủ trị/ 24/ bút chiến/ Văn Tệ

– Một bức thư/ 25-26/ thư/ bạn đọc Hà Tĩnh

– Cơm thầy cơm cô, tiếp/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 13

HANOI BÁO

Số 16 (22 Avril 1936)

– Không còn ngày 2 Mai nữa/ 2-3/ luận/ Lưu Trọng Lư

– Báo “Phong hóa” đi kiện/ 3/ bút chiến/ Hanoi báo

– Đời tình ái của cụ Huỳnh/ 4-5/ Phan Thị Nga

– Tặng hương hồn anh Vũ Lang/ 5-7/ văn/ Nguyễn Tuân

– Giận em/ 8/thơ/ Tri Chơn

– Mơ hoa/ 8/ thơ/ Kỳ Linh

– Tiếng động ban đêm/ 8/ họa LT Lư/ Thanh Tịnh & Ng. Anh

– Đìu hiu/ 8/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Lòng hối hận, tiếp/ 9-10/ kịch thơ/ Huy Thông

– Cô Nhung, tiếp/ 11-14/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Sư Tĩnh Không/ tr. ngắn/ V.T. – T.K.

– Cùng hai ông Nhất, Nhị Linh/ 17/ ý k.bạn đọc/ Đức Thành

– Những vinh nhục của nghề báo, tiếp/ 18-19/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Vài trang nhật ký/ 19-21/ truyện/ Cô…

– G.thiệu sách, báo

– Chuyện Ả-rập/ 22-23/ truyện/

– Một ngày mưa/ 24-27, 30/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Cơm thày cơm cô, tiếp/ 28-30/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 14

HANOI BÁO

Số 17 (29 Avril 1936)

– Cần phải hành động/ 2-3/ trích sách “Văn chương&hành động”/ H.Thanh, L.T.Lư, L.Tr.Kiều

– Anh Quang/ 3-4/ tr.ngắn/ P.T.Cung

– Con voi già của vua Hàm Nghi/ 5-7/ tr.giài/ Lưu Trọng Lư

– Lời than thở của đồng quê/ 8/ thơ/ Thanh Tịnh

– Cô láng giềng/ 8/ thơ/ Thanh Tịnh

– Em trả thù/ 8/ thơ/ Mộng Tuyết

– Cô Nhung, tiếp/ 9-12/ tr. giài/ Lư Trọng Lư

– Vạn vật/ 12/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Một me tây thuở Gia Long- Minh Mạng/ 13-15/ Phan Khôi

– Thơ mới/ 15-16/ ph.bình/ Lê Tràng Kiều

– Chuyện Ả-Rập, tiếp/ 17-18/ truyện/ Mai Thuật

– Thế rồi im lặng/ 20-22/ tr. ngắn/ Đỗ Ngọc Quỳnh

– Tôi đi yến lão/ 24-26/ chuyện vui/ Hoàng Tế Mỹ

– Cơm thày cơm cô, tiếp/ 26-30/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 15

HANOI BÁO

Số 18 (6 Mai 1936)

– Cùng một bạn độc giả ở Huế/ 3/ về diễn thuyết của Hoàng Tân Dân tại Huế/ Phương Đông

– Đôi ta/ 4/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tuổi ngây thơ/ 4/ văn/ Phan Thị Nga

– Con voi già của vua Hàm Nghi/ 5-7/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Kỷ niệm ngày xuân/ 8-10/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Thơ mới/ 11-12/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Tin: Ô. Nguyễn Văn Vĩnh tạ thế/ 12/ Hanoi Báo

–  Cô Nhung, tiếp/ 13-15, 22-23/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Không hiểu văn, người ta chữa văn/ 16-17/ phê bình/ Trương Tửu

– Thị Mịch/ 18-22/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Báo “Tin văn” phê bình “Khói lam chiều”/ 23-25/ phê bình/ Lê Thanh

– Cơm thầy cơm cô, tiếp, hết/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 16

HANOI BÁO

Số 19 (13 Mai 1936)

– Ô. Nguyễn Văn Vĩnh không còn nữa!/ 2/ văn/ Trương Tửu

– Tặng hương hồn ông Ng. V. Vĩnh/ 3/ thơ/ Vũ Đình Liên

– Về sự thay đổi mấy vần quốc ngữ/ 3-5/ luận/ Phan Khôi

– Em xấu hổ/ 6/ thơ/ Mộng Tuyết

– Nắng mai/ 6/ thơ/ Thanh Tịnh

– Nhớ/ 6/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

–  Cô Nhung, tiếp, hết/ 7-10/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Không hiểu văn, người ta chữa văn, tiếp, hết/ 11-12/ phê bình/ Trương Tửu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 13-15/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Những phút vinh nhục trong nghề báo, tiếp/ 16-17/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Báo “Đông tây” phê bình “Khói lam chiều”/ 17-18/ Lệ Chi

– Kỷ niệm ngày xuân, tiếp, hết/ 19-20/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Thơ mới/ 20-21/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Em buồn/ 23-24/ tr. ngắn/ Thuận Lương

– Câu truyện đêm khuya hay là: Giấc mộng của tuổi trẻ/ 24-25, 30/ truyện/ Tri Chơn

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 17

HANOI BÁO

Số 20 (20 Mai 1936)

– Thơ tình trong kinh điển/ 2-4/ luận/ Phan Khôi

– Sắp ra “Kỹ nghệ lấy Tây”/ 4/giới thiệu/ Phương Đông

– Thất vọng trên thất vọng/ 5/ thơ/ Thanh Tịnh

– Làm cô gái Huế/ 5/ thơ/ Mộng Tuyết

– Trong vườn mai/ 5/ thơ/ N. Nhuệ Thủy

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 9-8/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Me Tây đời Gia Long-Minh Mạng: Bà Magdeleine Sen Dõng vợ Philippe Vannier/ 9-11/ ký/ Cô Lệ Chi

– Thơ mới Thái Can/ 12-15/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Cùng ông Đào Duy Anh/ 16-17/ L.T.L. (v/việc Lệ Chi đề nghị dịch chữ “nouvelle”?)

– Vô đề/ 18-21/ truyện vui/ Lê Thanh

– Kiếp gió mây/ 21-22/ truyện thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Cảnh cũ/ 23-25/ tr. ngắn/ Tchya

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ bản: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 18

HANOI BÁO

Số 21 (27 Mai 1936)

– Văn học tiểu thuyết là cái quái gì?/ 2-3/ luận/ Phan Khôi

– Kiếp gió mây, tiếp/ 3/ truyện thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Ô. Đào Duy Anh với chữ nouvelle/ 4-5/ thảo luận/ Lưu Trọng Lư

– Cảnh cũ, tiếp, hết/ 6-8/ tr. ngắn/ Tchya

– Một truyện săn bắn/ 9-12/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Ái tình giữa bạn gái/ 12-13/ phản ứng bài “Vô đề”, Lê Thanh vu cho bạn gái yêu nhau/ M.T.

– Tiếng sáo chiều hôm/ 14/ thơ/ Kim Thanh (cảm đề “Khói lam chiều”)

– Năm ấy tôi 18/ 14/ thơ/ Tri Chơn

– Thơ mới Nhược Pháp/ 15-17/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Muốn chữa văn, phải hiểu cách làm văn đã/ 18-20/ luận/ Trương Tửu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 21-24/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Các bạn đồng nghiệp phê bình “Khói lam chiều”/ 24/ Đức Ninh, “Tràng an báo”

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 19

HANOI BÁO

Số 22 (3 Juin 1936)

– Nghề làm báo làm sách ở xứ ta/ 2/ ký/ Lê Tràng Kiều

– Một me tây thuở Gia Long-Minh Mạng/ 3-4/ ký tư liệu/ Thanh Tịnh

– Truyện thần tiên/ 5/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 6-8/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Cùng các anh em công nghệ thương mại nước nhà/ 9/ bút chiến: báo “Ph. Hóa” chế riễu nghề thủ công…/ Bất Nhược

– Cho ông Thái Phỉ biết làm văn và chữa văn/ 9-10/ luận/ Trương Tửu

– Lá vàng rơi/ 11-13/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Cùng ô. Đào Duy Anh và ô. Lưu Trọng Lư/ 14/ thảo luận/ Lệ Chi

– Cùng ô. Đào Duy Anh/ 14/ thảo luận/ Lưu Trọng Lư

– Tin: cụ bà Phan Bội Châu tạ thế/ 14/ Hanoi Báo

– Thị Mịch, tiếp/ 19-24/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Tin: cuốn “Văn chương và hành động” bị Thống sứ Bắc Kỳ cấm/ 24/ Nxb. Phương Đông

– Rừng đào tiên/ 25-26/ truyện/ Trương Lệ Dung

– Núp bóng bồ đề/ 27-30/ truyện/ Nguyễn Đình Miến

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 20

HANOI BÁO

Số 23 (10 Juin 1936)

– Cái ác ý bởi nghề nghiệp/ 2-3/ luận/ Phan Khôi

– Dấu con tìm mẹ, hay là gốc tích tên tỉnh người Pháp đặt/ 4-6/ khảo/ Thanh Tịnh

– Nhà t.th. tr. thám Thế Lữ phê bình “Khói lam chiều”/ 6-10/ tranh luận/ Lê Tràng Kiều

– Thơ mới Nguyễn Vỹ/ 11-15/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 16-18/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Mường Lô/ 19-20/ truyện/ Văn Tuyền

– Lá vàng rơi, tiếp/ 21-24/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Người hàng xóm/ 25-29/ truyện/ Mộng Tuyết

– Lại chuyện dịch chữ; Ít nhiều thi sĩ; Máu Cao-mên/ 29-30/ điểm tin văn/ Thành Hoàng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 21

 

HANOI BÁO

Số 24 (17 Juin 1936)

– Hài cốt anh em Tây Sơn hiện ở đâu?/ 2-3/ khảo/ Thanh Tịnh

– Tin “Ngọ báo” bị đình bản/ 3/ Ngọ Báo

–  Tiếng tiêu/ 4-5/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Má… đỏ/ 5/ thơ/ cô Hồng Anh

– Cô bạn Triều Châu/ 6-9/ truyện/ Ngô Chung Tử

– Trong năm năm…/ 9-10/ truyện ngắn/ Tri Chơn

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 11-15/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Thơ mới Thế Lữ/ 16-19/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Lượm lặt/ 20/ điểm tin/ Văn Tệ

– Lá vàng rơi, tiếp/ 21-23/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Các đồng nghiệp phê bình “Khói lam chiều”/ 24-25/ trích “Gazette de Hue”, “Annam Nouveau”, “Patrie annamite”

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 22

HANOI BÁO

Số 25 (24 Juin 1936)

Báo quốc ngữ đã làm được gì?/ 2/ luận/ Lê Tràng Kiều

– Vì đàn câm tiếng/ 4/ thơ/ Thanh Tịnh

– Rừng sim/ 4/ thơ/ Nguyễn Anh, cảm đề “Khói lam chiều”

– Tiếng tiêu, tiếp/ 5/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 6-10/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Tuyết Nga/ 10-14/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Lá vàng rơi, tiếp/ 15-18/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Lạnh lùng/ 18-21/ truyện ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Báo và sách mới/ 23/ “Tình yêu”, thơ Ng.Trọng Quỳ; “Indochine la Douce”, Nguyễn Tiến Lãng; “Nữ lưu” tuần báo; “Trong bóng tối” tập truyện Thanh Châu; báo “L’ Oeuvre”, SG; sách “Parfume des Humanites” của Emile Vayrac; “Đời đạo lý” bản dịch “La vie du Sage” của Paul Carton do Ph. Quỳnh thực hiện

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Q.cáo “Giết mẹ” kịch V. Hugo, bản dịch Vũ Trọng Phụng, Lê Cường xb.

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 23

HANOI BÁO

Số 26 ( 1er Juillet 1936)

– Cái chỗ buồn cười của ông Lương Khải Siêu/ 3-5/ luận/ Phan Khôi

– Trả lời ô. Huyền Mặc Đạo Nhân về việc Phan Khôi bác bỏ từ “văn học tiểu thuyết”/ 6-7/ Lê Tràng Kiều

– Tuyết Nga/ 8-12/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Khóc thầm/ 13/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tình yêu/ 13/ thơ/ Thanh Tịnh

– Thơ mới Vũ Đình Liên/ 14-17/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 17-21/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Nụ cười/ 21-23/ kịch/ Tri Chơn

– Thư của cô Lệ Chi/ 23/ tin cho L.T.Lư & L.Tr.K. sẽ viết “Thi sĩ Kỳ Phong”

– Lá vàng rơi, tiếp, hết/ 24/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Thị Mịch, tiếp/ 25-29/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 24

HANOI BÁO

Số 27 ( 8 Juillet 1936)

– Sau những ngày đình đám/ 2-4/ phóng sự/ Văn Thu

– Thi sĩ Kỳ Phong/ 5-8/ truyện dài/ cô Lệ Chi

– Tàn tạ/ 9- 13/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Lạc loài/ 14-15/ thơ/ Nguyễn Xuân

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 16-18/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Anh Lưu/ 19-21/ truyện/ Tri Chơn

– Thật thà và đoán tuổi/ 21-22/ chuyện vui/ Thanh Tịnh

– Tr. 22: Tin báo: tờ “Sông Hương” sắp ra đời; báo “Ngày nay” sẽ tái bản vào 11/7/36; tờ “Đông tây” của Dương Tụ Quán bị thu giấy phép;

– Thiếu niên anh dũng/ 23/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Vàng, máu/ 24/ thơ/ Bích Đào, Thanh Tịnh

– Ngập ngừng/ 25-26/ tr. ngắn/ Hoài Dự

– Thị Mịch, tiếp/ 27-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 25

HANOI BÁO

Số 28 (15 Juillet 1936)

– Lòng xưa/ 2-4/ truyện ngắn/ Tri Chơn

– Thi sĩ Kỳ Phong, tiếp/ 5-8/ truyện dài/ cô Lệ Chi

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 10-12/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Tuổi thơ/ 12/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tàn tạ, tiếp/ 13- 15/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Một người xấu số/ 16-17/ truyện dài/ Trương Tửu

– Lạc loài, tiếp/ 18/ thơ/ Nguyễn Xuân

– Cô bán nhẫn/ 19-22/ truyện ngắn/ Kim Luân (phỏng theo André Birabeau)

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 23-25/ phóng sự/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 26

HANOI BÁO

Số 29 (22 Juillet 1936)

– Người có đuôi/ 2-6/ khảo/ Thanh Tịnh

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 6-10/ phóng sự/ Văn Thu

– Tàn tạ, tiếp/ 13- 14/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 15-17/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Một người xấu số, tiếp/ 18-22/ truyện dài/ Trương Tửu

– Vết nhơ trong giòng máu/ 23-24/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Lạc loài, tiếp/ 25/ thơ/ Nguyễn Xuân

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 27

HANOI BÁO

Số 30 (29 Juillet 1936)

– Một người xấu số, tiếp/ 2-7/ truyện dài/ Trương Tửu

– Vết nhơ trong giòng máu, tiếp/ 8-9/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Giăng mờ/ 9/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Tàn tạ, tiếp/ 10-12/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Lạc loài, tiếp/ 13/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Một nhà thơ mới rất chú trọng về âm điệu: Lưu Trọng Lư/ 14-17/ Lê Tràng Kiều

– Tr. 17: Sách báo mới: “Nắng chiều”, tập truyện, Trần Kim; “Mộng hoa”, thơ Viên Hàn; “Lối nhảy 1936”; “Mặt trận bình dân Pháp và nguyện vọng của quần chúng Đ.Dương”, nhóm La Lutte do Ng. V. Tạo viết, Xã hội tùng thư xb.; “Thế giới tân văn”, tuần báo, Phan văn Thiết chủ nhiệm, SG; “Grandeurs et servitudes de Nguyen-van-Nguyen”, của Nguyễn Vỹ, tựa René Crayssac;

– Chiều mẹ/ 18-20/ tr. ngắn/ Phạm Thấp Cốc

– Anh muốn say/ 19/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 21-23/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– sách mới: “Mặt trận bình dân Pháp và nguyện vọng của quần chúng Đ.Dương”, nhóm La Lutte do Ng. V. Tạo viết/ 24/ Hanoi báo

– Thanh niên/ 25-27/ tr. ngắn/ Tri Chơn

– Thị Mịch, tiếp/ 27-31/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 28

HANOI BÁO

Số 31 (5  Aout 1936)

– Một người xấu số, tiếp/ 2-5/ truyện dài/ Trương Tửu

– Những áng mây chiều/ 6-7/ tr. ngắn/ cô Chiêu Minh

– Tàn tạ, tiếp/ 8-10/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Trên bãi bể/ 11- 13/ tr. ngắn/ cô Trương Lệ Dung

– Lạc loài, tiếp/ 16/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Biệt ly/ 16/ thơ/ Lam Sơn Tử

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 15-17/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Người đêm ấy/ 18-19/ tr. ngắn/ Wyhao

– Vết nhơ trong giòng máu, tiếp/ 19-21/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Mộng tàn/ 22/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Thơ bốn câu/ 22/ Nguyễn Triệu

– Thời gian qua/ 24-25/ tr. ngắn/ H.H. Hạnh

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 29

HANOI BÁO

Số 32 (12  Aout 1936)

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 2-5/ phóng sự/ Văn Thu

– Đã bao lần/ 6-8/ tr. ngắn/ Sơn Lang

– Lạc loài, tiếp/ 9/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Bức thư tình/ 10-11/ tr. ngắn/ cô Chiêu Minh

– Bou-dzou/ 12-14/ tr. ngắn/ Vũ Trực

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 15-17/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Tàn tạ, tiếp/ 18-20/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Tr. 20: Thông báo: “Một người xấu số” phải cắt đoạn, không đăng được nữa

– Tiếng gọi của con tim/ 21/ thơ/ Thanh Tịnh

– Hồ Tây hay tiếng hát của người hàn sĩ/ 22-24/ tr. ngắn/ Ng. V. Phong

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 30

HANOI BÁO

Số 33 (19  Aout 1936)

– Sóng biển chiều hôm/ 2-5/ tr. ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Lỗi hẹn/ 5/ thơ/ Trọng Diên

– Em ngủ rồi/ 5/ thơ/ Nguyễn Triệu

– [mất tr. 7-8]

– Cô thôn nữ/ ?-9/tr. ngắn/ Trương Lệ Dung

– Tàn tạ, tiếp/ 10-12/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Nàng Vân may áo cho chồng/ 13-16/ tr. ngắn/ Lưu Trọng Lư

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 17-18/ phóng sự/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp/ 19-24/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– [mất tr. 25-26]

– Lỡ lời/ ?- 27- 30/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 31

HANOI BÁO

Số 34 (26  Aout 1936)

– Hoa xuân tàn tạ/ 2-5/ tr. ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Cát bụi, người lại trở về cát bụi/ 6-7/ kịch ngắn/ Tiêu Liêu

– Em bé/ 8, 30/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Tàn tạ, tiếp/ 9-10/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Nghĩ đến già/ 11/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Cô bán cam/ 11/ thơ/ Thanh Tịnh

– Bộ răng vàng/ 12-13/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Sầm Sơn vui thú xiết bao/ 14-16/ truyện vui/ Lưu Trọng Lư

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 17-19/ phóng sự/ Văn Thu

– Báo “Tin văn” với “Kỹ nghệ lấy Tây”/ 19-22/ Nguyễn Thanh [bài trên “Tin văn”]

– Lạc loài, tiếp/ 23/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Tình lụy/ 24-25/ truyện ngắn/ Lưu Văn Hồ

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp, hết/ 31/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 32, hết

HANOI BÁO

Số 35 (2  Septembre 1936)

– Tấn Khanh/ 2-5/ tr. ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Tình điên, gửi anh Kiến Mỹ/ 5/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Lạc loài, tiếp/ 6/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Hồ sê líu hồ líu sê sàng/ 7-9/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Thằng bé ăn cắp/ 10-13/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Sầm Sơn vui thú xiết bao, tiếp, hết/ 14-16/ truyện vui/ Lưu Trọng Lư

– Tàn tạ, tiếp/ 17-19/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Tình… trong giây lát/ tr. ngắn/ 19-24/ Lưu Trọng Lư

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 1

HANOI BÁO

Số 36 (9  Septembre 1936)

– Một buổi sớm trong vườn xuân/ 2-4/ truyện ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Với một chút tình/ 5-7, 10/ kịch/ Tri Chơn

– Giáo sư … chim gái/ 8-10/ truyện ngắn/ Phạm Thấp Cốc

– Tàn tạ, tiếp/ 11-13/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Hai linh hồn/ 14-18/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Cái vò sữa của cô Perrette/ 19-20/ tr. ngắn/ Lưu Trọng Lư

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 21-23/ phóng sự/ Văn Thu

– tr. 24: q. cáo sách nhà Lê Cường in: “Trước giờ lên máy chém”, Nguyễn Văn Kiện dịch; “Giết mẹ”; sách nhà in Nam Tân, Hải phòng: “Sách dạy khiêu vũ”.

– Lạc loài, tiếp/ 25/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 2

HANOI BÁO

Số 37 (16  Septembre 1936)

– Thư ngỏ gửi anh em Trung Bắc ở Nam kỳ/ 2-3/ Lê Tràng Kiều [về “Đông Dương đại hội nghị”]

– Gió cuốn bụi đời/ 3-4/ điểm tin/ Lưu Thần

– Một buổi dưới Diêm Cung/ 5-9/ phóng sự vui/ Văn Thu

– Con người điêu trá/ 10-15/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Về việc thảo những điều yêu cầu đệ lên Ủy ban điều tra của Nghị viện Pháp/ 17-18/ Hanoi Báo

– Mấy lời bá cáo của UB lâm thời gửi các giới…/18/

– Mấy câu hỏi về “UB lâm thời”/ 19-20/ Hanoi báo

– Số sau “Hanoi Báo” đổi mới: thêm chính trị-xã hội và trào phúng /20/

– Sau những ngày đình đám, tiếp, hết/ 21-23/ phóng sự/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 3

HANOI BÁO

Số 38 (23  Septembre 1936)

(thêm 8 trang, bán đặc biệt 3 xu)

– Hà nội hà ngoại: Cái nhiệm vụ của các nhà làm báo trong những phút nghiêm trọng này/ 2-3/ Lê Tràng Kiều;

– Mà tại sao chúng tôi phản đối ô. Phạm Huy Lục?/ 3/ Hanoi Báo

– Chung quanh việc UB điều tra sắp tới Đ. Dương/ 4-5/Hanoi Báo

– Gió cuốn bụi đời/ 6-8/ điểm tin/ [vụ hối lộ ở Trung Kỳ; thư cô A.P. đại biểu giới cô đầu gửi ô. Lê Thăng]

– Cộng sản thắng hay là tư bản thắng?/ 9-12/ bình luận thời sự q.tế/ Lưu Thần

– Hà Nội 100%: Thu sang; Nón Huế/ 13-14/ tạp văn/ Cô Thúy

– Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ báo “Tin văn” về bài “Văn chương dâm uế”/ 15-16/ luận/ Vũ Trọng Phụng

– Đếm sỉa: Com bướm và ô. Thế Lữ; Xứ Bắc Kỳ có bao nhiêu nhà viết báo; ô. Ph. Tr. Chúc được khen; ô. Ng. T. Tam phân trần/ 17-18/ Ngọa Triều, Lê Tràng Kiều

– Một chút tình/ 19/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Ngày ấy/ 19/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Công chúa Lã Mai/ 20-24/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Dưới cầu nước chảy trong veo/ 25-29/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Tàn tạ, tiếp/ 30-32/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Thị Mịch, tiếp/ 33-37/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 4

HANOI BÁO

Số 39 (30  Septembre 1936)

(38 trang, bán 3 xu)

– Hà nội hà ngoại: Chung quanh việc phái bộ điều tra sắp tới Đông Dương/ 2-4/ Hanoi báo; Lê Tràng Kiều

– Gió cuốn bụi đời: Chúng tôi xin nhường; Trâu đi lọng; Dư luận thế giới…/ 5-6/ Lưu Thần

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 7-11/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Chiều hôm nay/ 12-13/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Hà Nội 100%: Yêu đương; Ngày vui; Mái tóc Huế và chiếc kiềng/ 14-15/ Cô Đào; Huy Kiều; Cô Thúy

– Đợi đàn…/ 16/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Bóng giáng nàng/ 16/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Đếm sỉa: ô. Bùi Xuân Học đê tiện; Báo “Le Cygne” kể về Ng. T. Tam; ô. Thế Lữ kêu “tôi mù rồi”; ô. Thái Phỉ vẫn đạo đức; ô. Thái Phỉ thú tội; ô. Tr. Th. Mại xưng tớ; …/17-22/  điểm tin văn/ Ngọa Triều [= V. Tr. Phụng?]

– Đứt đường tơ/ 23/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp, hết/ 29-35/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Tàn tạ, tiếp/ 36-38/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư [kỳ này ký ở cuối trang]

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 5

HANOI BÁO

Số 40 (7  Octobre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Bạc nhược lắm rồi; Cuộc Đông Dương đại hội nghị có thành được không?/ bình luận thời sự/ Lê Tràng Kiều; Hanoi báo

– Gió cuốn bụi đời: Nội chiến Tây-ban-nha; một ô. huyện khôn khéo/ 7-8/ bình luận thời sự/ Lưu Thần

– Tây Thi giặt lụa/ 9/ thơ/ Thái Can

– Hà nội 100%: Dưới trăng; Tình và tứ; Ăn chơi lối Mỹ/ 10-13/ điểm tin văn/ Cô Đào; Ánh Xuân; Cô Thúy

– Đếm sỉa… người và vật: Ba nhân vật; Ô. Lê Công Đắc làm thơ; Hội đền Bảo Lộc; Đọc báo; Bệnh Thái Phỉ/ 14-18/ Ngọa Triều

– Hạnh phúc gia đình/ 19-22/ kịch ngắn/ Lưu Trọng Lư

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 23-26/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Chiếc đầu sư tử/ 27-30/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Tàn tạ, tiếp, hết/ 31-33/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư [kỳ này ký ở cuối trang]

– Số đỏ/ 34-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 6

HANOI BÁO

Số 41 (14  Octobre 1936)

– Tr. 2: tranh biếm: thi nhân khóc thu; lá thu thành mồ thi nhân

– Hà nội hà ngoại: Cái thái độ hèn nhát của báo “Ngày nay” đối với cuộc hội họp phụ nữ/ 3-4/ Lê Tràng Kiều/

– Hà nội hà ngoại: Đồng phật-lăng sút giá và kinh tế Đông Dương/ 5-6/ b.luận/ Hanoi báo

– Gió cuốn bụi đời: Việc Tây-ban-nha/ 7-8/ bình luận/ Lưu Thần

– Ngày vui/ 10/ tản văn/ Ánh Xuân

– Thuyền mơ/ 11/ thơ/ Thái Can

– Đếm sỉa, người và vật: Dân biểu Ng. H. Tiệp; Trung bắc journal; chưa hết; Khôi hài; có nên đuổi dân Annam sang Madagasca…/ 12-15/ Ngọa Triều

– Số đỏ, tiếp/ 16-20/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

– Hà nội hà ngoại: “salon”; mẩu chuyện; Ăn chơi lối Mỹ/ 22-24/ Ánh Xuân; Cô Thúy

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 25-28/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

–  Nghỉ hè/ 29-32/ truyện ngắn/ Trần Quang Viễn

– Gió cây trút lá/ 33-38/ chuyện dài/ chuyện một cô lái đò sông Hương/ Lưu Trọng Lư

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 7

HANOI BÁO

Số 42 (21 Octobre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Cái tinh thần quốc gia ở nước ta bạc nhược lắm rồi/ 3-4/ luận/ Lê Tràng Kiều;

– Hà nội hà ngoại: “Cộng sản” nghĩa khác”, trích Phan Khôi /4-5/ Ngọa Triều

– Cái thái độ hèn nhát của báo “Ngày nay” đối với cuộc hội họp phụ nữ, tiếp/ 6-7/ trích cô Tâm Kính; phản hồi của báo Ngày nay/ Lê Tràng Kiều

– Gió cây trút lá, tiếp/ 9-12/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Trang thơ bạn gái: Bóng mây chiều/ 13/ thơ/ Vân Ngọc

– Đếm sỉa: luật lao động; dân viện Trung Kỳ; …./ 14-17/ điểm tin/ Ngọa Triều

– Hà nội 100%: những ngày vui; mẩu chuyện/ 18-22/ điểm tin/ Nguyễn Thị Đào; Ánh Xuân

– Khi thu rụng lá/ 22/ thơ/ Vi Lan

– Nguyện vọng của một người vú/ 22/ thơ/ Mai Tú Oanh

– [?] / 23-25/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 26-29/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– báo “Tràng an” với “Kỹ nghệ lấy Tây”/ 30-31/ phê bình/ Mai Xuân Nhân

– Tình yêu/ 32-33/ truyện ngắn/ Hải Lộc

– Số đỏ, tiếp/ 34-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 8

HANOI BÁO

Số 43 (28 Octobre 1936)

– Ông Thượng Nguyễn Khoa Kỳ/ 3/ bìnhluận/ Lê Tràng Kiều

– Trả lời bạn đồng nghiệp “Ngày nay”/ 4-6/ Lưu Trọng Lư

– Nhóm Nguyễn Tường Tam công khai tâm thuật/ 7-10/ bình luận/ Như Tiết

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 11-12/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Gió cây trút lá, tiếp/ 13-15/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa: tội báo “Trung Bắc”; quan Thượng tốt bụng; vẫn còn chuyện vỡ đê…/ 16-18/ điểm tin/ Ngọa Triều

– Gió cuốn bụi đời: Vì đón tiếp một người của Hitler; thủ tướng Blum trả lời M. Thorez…/ 20-21/ điểm tin nước ngoài/ Lưu Thần

– Con én liệng/ 22/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Mỗi lần tôi đi qua/ 23-28/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Ba chuyện tâm tình, tiếp/ 29-32/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 9

HANOI BÁO

Số 44 (4 Novembre 1936)

– Chủ nghĩa quốc gia của họ Phạm (Quỳnh)/ 34/ bình luận/ Lê Tràng Kiều

– Gió cây trút lá, tiếp/ 6-9/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa: Chính trị phạm được tha; Sách chưa viết đã cấm; “Tự lực VĐ” với các báo đã chết;…/10-13, 19/ điểm tin văn/ Ngọa Triều

– Ba chuyện tâm tình, tiếp/ 14-18/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 23-26/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Trước khi tàn/ 27-32/ kịch/ Tri Chơn

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 10

HANOI BÁO

Số 45 (11 Novembre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Thâu-Ninh-Tạo; …./ 3-6/ bình luận/ Lê Tràng Kiều

– Gió cuốn bụi đời: Chiến tranh!/ 7-9/ bình luận ch.trị n. ngoài/ Lưu Thần

– Sách báo mới: “Hương lửa”; “Gái quê”, thơ Hàn Mặc Tử/ 9-10/ H.B.

– Gió cây trút lá, tiếp/ 11-14/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa: Không khí ở HĐ quản hạt Nam kỳ; Đang CS lập ở Senegal…/ 15-16/ điểm tin/ Ngọa Triều

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 17-20/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Buồn/ 20/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Vườn đào/ 20/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Hà nội 100%: Lịch sự; Mẩu chuyện/ 22-24/ tạp văn/ Cô Đào; Ánh Xuân

– Tắm/ 24/ thơ/ Bạch Mai thôn nữ

– Mấy đoạn nhật ký của một người tân phụ/ 26-28/ truyện ngắn/ Ngô Chung Tử

– Chàng rể hiền/ 29-32/ kịch/ Cô Hoàng Oanh, phỏng theo Tristan Bernard

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 11

HANOI BÁO

Số 46 (18 Novembre 1936)

– Hiệu triệu các bạn đồng nghiệp/ 3/ Hanoi Báo

– Cần có những tranh luận…/ 3-4/ b.luận/ Lê Tràng Kiều

– Tự do lập nghiệp đoàn/ 5-6/ luận/ ?

– Gió cây trút lá, tiếp/ 7-10, 14/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 11-14/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– tr. 15: q.cáo doanh nghiệp Bùi Đức Dậu

– Chàng và Nàng hay là: Hai vợ chồng người sẩm Tàu/ 16-21/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Từ giã Phong Nha/ 21/ thơ/ Kỳ Linh

– Trả thù/ 22-27/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Q.cáo sách NXB. Phương Đông

– Chùa Bảo Liên/ 28-32/ tr. ngắn ly kỳ, Soulié de Morant phỏng tác “Kim cổ kỳ quan”, Vũ Ngọc Phan dịch/ in lại của “La revue Franco-annamite”/ “Hanoi báo” ghi lời bạt về “bệnh Thái Phỉ” dị ứng các cảnh dâm ô trong văn chương

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 12

HANOI BÁO

Số 47 (25 Novembre 1936)

-Hà nội hà ngoại:

+ “Chủ nghĩa quốc gia” đang phá sản/ 2-5/ luận/ Hải Khách

+ Trả lời Hải Khách…/ 5-6/ Lê Tràng Kiều

+ Chúng tôi muốn; Ô. Babut phân trần/ 7-8/ Lưu Thần

– Đi thăm ô. Phạm Tuấn Tài/ 9-10/ ký/ Hải Khách

– Năm đồng xu cuối cùng/ 10-13/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Trước Thâu, Ninh Tạo 28 năm đã có người bãi thực/ 14/ rút của “Sông Hương”

– Đếm sỉa, người và vật: Đình chiến; Việt kiều ở Siam bị ngược đãi…/ 15-17/ điểm thời sự/ Ngọa Triều

– Bắt đền/ 17/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Gió cây trút lá, tiếp/ 18-21/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Tự do lập nghiệp đoàn, tiếp/ 22/ luận/ V.Đ.

– Bên hồ/ 23/ thơ/ Thái Can

– Mùa đông/ 24/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Hanoi 100%: Mẩu chuyện; mấy kẻ nịnh…/ 25-26/ tạp văn/ Trọng Chính

– Gió chiều thu lạnh/ 26-28/ truyện/ Cô Trg Khanh

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 30-32/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 13

HANOI BÁO

Số 48 (2 Décembre 1936)

– Đếm sỉa: Thợ mỏ đình công; 2 mạng đồng bào ở Siêm; Hy vọng “Đ. Dương đại hội” được lập lại; tính mạng Salengro tổng trưởng nội vụ Pháp bị vu bội phản/ 3-9/ điểm tin thời sự/ Lưu Thần

– Q.gia hay q.tế, trả lời Hải Khách/ 9-11/ tr. luận/ Lê Tràng Kiều

– Cụ Phan Sào Nam kể lược sử bà cho hai con trước khi bà mất/ 12-13/ Phan Bội Châu

– Công chúa Lã Mai, tiếp, hết/ 14-15/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

–  Bà Hai/ 16-18/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Gió cây trút lá, tiếp/ 19-22/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– tr. 23: q.cáo chè Đồng Lương; hãng Bùi Đức Dậu

– Hà nội 100%: Mùa cúc; Mẩu chuyện…/ 24-26/ tạp văn/ Cô Đào; Ánh Xuân

– Chiều xuân/ 26/ thơ/ Lan Sơn

– Tiếng ly uyên/ 27/ thơ/ Đào Tiến Đạt

– Những trang giấy trắng/ 28-32/ truyện/ Lê Thưởng

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 14

HANOI BÁO

Số 49 (9 Décembre 1936)

– mất 6 trang đầu

– nhận xét “Chiêm Thành lược khảo” của H. T. Bảo Hòa/ ?-7/ Lệ Chi

– Hoa đào/ 8-11/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Suối mây/ 12/ thơ/ Lưu Trọng Lư

Hà Nội 100%:

+ Đi xem “Ớt không cay”, kịch Tương Huyền” diễn ở nhà hát Tây, tối 5 Décembre/ 12-15/ phê bình/ Lưu Thần

+ Chuyện tâm tình/15-16/ Lệ Chi

– Ngại ngùng/ 16/ thơ/ Vĩnh Quảng

– Gió cây trút lá, tiếp/ 17-20/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa…:

+ Ô. Moutet nói với báo “Populaire”…/ 21-22/ L.T. dịch

+ Ô. Diệp Văn Kỳ bị trục xuất khỏi Nam Kỳ/22/

– Cái chuyện ngắn của những người bảo hoàng/ 23-24, 38/ Lưu Thần

– tr. 25: q.cáo hãng Bùi Đức Dậu

– Dicke và Linh/ 26-28/ truyện/ Năng An

– Người học vẽ/ 29-32/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

HANOI BÁO

Số 50 (16 Décembre 1936)

– Q.gia hay q. tế: Phải là q. gia/ 3-4/ tr. luận với Hải Khách/ Lê Tràng Kiều

– Đếm sỉa: Đôc lý Virgiti trù với tính; những cuộc đình công kết liễu/4-5/ Ngọa Triều

– Hà nội 100%:

+ Phòng triển lãm 1936/ 6-8/ ph.bình mỹ thuật/ Cô Đào

+ Chuyện tâm tình/ 8-9/ Lệ Chi

– Hoa đào, tiếp/ 10-14/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Gió cây trút lá, tiếp/ 14-16/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Tình duyên trắc trở/ 17-20/ tr. ngắn/ Vũ Ngọc Phan dịch, đăng lại “Franco-annamite”

– Sách: “Mấy đường tơ”, thơ Dương Lĩnh; “Bên đường thiên lôi”, truyện, Thế Lữ/ 21/ Lệ Chi

– Hai chuyện nhỏ của 2 độc tài/ 22-23/ Trọng Chính thuật

– Ra đi/ 23/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Người học vẽ, tiếp/ 24-28, 32/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Lữ khách với ái tình/ 29/ thơ/ Thái Can

– Trọn đời phiêu dạt/ 30-32/ truyện/ Vĩnh Phúc

– tr. 33: q.cáo hãng Bùi Đức Dậu

– Số đỏ, tiếp/ 34-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

[Vạn lý tình hiệp, nghỉ 1 kỳ]

HANOI BÁO

Số 51 (23 Décembre 1936)

– Hà nội hà ngoại:

+ “Rối cuộc trị an”/3/

+ Chuyện Tàu: Tưởng và Trương Học Lương/3-4/

+….

– Chị cùng em/ 5/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Gió cây trút lá, tiếp/ 6-9/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Sách mỗi tuần: “Tắt lửa lòng”, tr. dài, Ng. Công Hoan; “Mạc Tin”, kịch Bernard J. J., bản dịch Vy Huyền Đắc/ 10-11/ Lệ Chi

– Tình duyên trắc trở, tiếp, hết/ 12-16/ tr. ngắn/ Vũ Ngọc Phan dịch, đăng lại của “Franco-annamite”

– Hà nội 100%: Gió lạnh; Mẩu chuyện/ 17-19/ tạp văn/ Đào; Lu

– Sóng lòng/ 20-22/ truyện/ Cung Trọng Hưng

– Đào Quân, hay là Vui sống/ 23-24/ thơ/ Daotiendat [= Đào Tiến Đạt]

– Người học vẽ, tiếp/ 25-31/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Số đỏ, tiếp/ 32-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 15

HANOI BÁO

Số 52 (30 Décembre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Hai ô. Hoàng Gia Hội và Hoàng Thụy Ba ganh nhau chức tiên chỉ làng Phù Lưu; Ô. Diệp Văn Kỳ bị bắt; Lại Đông Dương đại hội; La Ve giết đồng bào; Báo mới ra, báo bị cấm/ 3-6/

– Gió cây trút lá, tiếp/ 7-10/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Mấy bức thư/ 11-13/ truyện/ Cung Trọng Hưng

– Xin hoa/ 14/ thơ/ Thái Can

– Héo tàn/ 14/ thơ/ Lưu Kỳ Linh

– Thoảng qua/ 14/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tựa cuốn “Tiếng Thu”/ 15/ văn/ Lưu Trọng Lư

– Hà nội 100%:

+ Đi xem hội chợ Hanoi/ 16-18/ Lệ Chi

+ Chuyện tâm tình/ 18-19/ Thúy

+ Ngoại tình vô tội/ 20-21/ Tiêu Liêu

– Hoa đào, tiếp/ 21-23/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Ái tình hạnh phúc/ 24-25/ truyện/ Tiến Ích

– Người học vẽ, tiếp/ 26-29/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Chuyện ngăn ngắn: Bé cái lầm; Bố con Nã-phá-luân/ 30-31/ Trọng Chính

– tr. 32: q. cáo hãng Bùi Đức Dậu

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

HANOI BÁO

Số 53 (6 Janvier 1937)

– Hanoi Báo đầy tuổi/ 2/ Hanoi báo

– Đếm sỉa: 1936 đã qua/ 3/ Ngọa Triều

– Hoa đào, tiếp, hết/ 4-6/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Lòng trần/ thơ/ 7/ Đỗ Huy Nhiệm

– Người học vẽ, tiếp, hết/ 8-9/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Hận tình/ 10-11/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Số đỏ, tiếp/ 12-14/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

– Hà nội 100%: Sách “Thiên diễm tuyệt”, thơ Đỗ Huy Nhiệm, Nxb. Hội ký, Nam Định/ 15/ Lệ Chi

– Bạn tôi cưới vợ/ 16-18/ truyện ngắn/ Lưu Trọng Lư

HANOI BÁO

Số 54 (13 Janvier 1937)

– Tự do báo chí ở Sài Gòn/ 2/ Lê Tràng Kiều

– Một vạn người đi đón rước ông Godard/ 2-4/ tường thuật/ Ngọa Triều

– Hiện nước Pháp có một đạo binh cộng sản…/5-6/ biên dịch/ Lưu Thần

– Hà nội 100%: Chuyện tâm tình/ 7/ tạp văn/ Lệ Chi

– Nga của tôi/ 8-9/ tr. ngắn/ Như Hà

– Gửi em/ 9/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Tú Hòe xem hội chợ/ 9/ thơ/ Tú Hòe

– Một đêm/ 10-11, 19/ chuyện vừa/ Văn Thu

– Số đỏ, tiếp/ 12-14/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

– Chuyện Tàu; chuyện Tây-ban-nha/ 15/ thời sự/ Lưu Thần

– Gió cây trút lá, tiếp/ 16-17/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Hai bức thư/ 18/ truyện ngắn/ Tâm

HANOI BÁO

Số 55 (20 Janvier 1937)

– Q.cáo tuần báo “Nhi đồng” /2/

– Bởi vì/ 2/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Sự thực và thi ca/ 3/ thơ/ Thái Can

– Cũng tiễn cụ Bùi Quang Chiêu/ 3/ thơ trào phúng/ Đồ Phồn

– Chút lòng thơ/ 8-9/ truyện ngắn/ Tri Chơn

– Một đêm, tiếp/ 10-12, 19/ chuyện vừa/ Văn Thu

– Số đỏ, tiếp/ 12-14/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng  [mất tr. 15-18]