Trang chủ » Posts tagged 'Hội nhà văn Việt Nam'

Tag Archives: Hội nhà văn Việt Nam

VÀI HỒI ỨC VỀ LƯU QUANG VŨ CỦA MỘT TRONG SỐ NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

Xin nói ngay từ đầu: tôi không phải là bạn của Lưu Quang Vũ mặc dù tôi quen biết khá nhiều người thân và bạn bè của Vũ. Những điều được tạm gọi là hồi ức (xen lẫn những nhận xét hồi cố) nêu ra sau đây, chỉ là ghi lại những cảm nhận của một người trong cùng thế hệ Lưu Quang Vũ về một số luận bàn đương thời xung quanh con người và tác phẩm của tác giả này.

Điều trước tiên, một nhận xét mà những ai quan tâm đến đời sống văn nghệ ở miền Bắc hầu như đều thừa nhận là, so với các thế hệ sáng tác trước và sau mình, sự xuất hiện thế hệ làm thơ viết văn của Lưu Quang Vũ hầu như là sự kiện được dư luận xã hội đương thời ở miền Bắc cảm nhận một cách rất rõ rệt. Đây là điều hơi đặc biệt, bởi không phải sự xuất hiện thế hệ nào trên văn đàn cũng được nhận ra tức thời, mặc dù trên thực tế, hầu như bất cứ thời điểm nào cũng có thêm một ai đấy đặt bước chân vào văn chương, dù rụt dè hay bạo dạn. Từ 1954 đến 1960, lực lượng người viết văn tại miền Bắc đương nhiên có sự bổ sung và mất mát, nhưng công chúng dường như chỉ cảm thấy rõ rệt sự xuất hiện trong văn chương của lớp người viết sinh ra vào những năm 1940s, rõ nhất là những nhà thơ trẻ. Cho đến gần đây nhiều người vẫn quen gọi thế hệ này là “lớp nhà thơ chống Mỹ”, một cách gọi ngày càng tỏ rõ tính ước lệ, do gắn với sự cảm nhận “tại chỗ”, đương thời. Tôi đã có một bài viết dự hội thảo về sự xuất hiện lớp nhà thơ này, và sự nổi tiếng, sự ghi nhận tức thời về sự xuất hiện thế hệ nhà thơ này ở đời sống văn nghệ miền Bắc đương thời được tôi tạm giải thích bằng “độ rỗng về thông tin” (1) của cấu trúc dư luận công cộng ở miền Bắc những năm khá khép kín ấy.

Tôi theo dõi báo chí văn nghệ, ghi nhận được, bài thơ Lưu Quang Vũ đăng lần đầu trên tuần báo Văn nghệ là bài “Thư của một bạn trẻ mới tòng quân” (VN, 2.7.1965). Vũ chưa có thơ góp mặt trong tập Sức mới (Nxb. Văn học, 1965), sưu tập (thậm chí là tuyển tập!) đầu tiên của lớp nhà thơ này, với sự giới thiệu của bậc đàn anh (gọi là bậc thầy cũng đúng!) Chế Lan Viên. Năm 1966 Vũ có một loạt bài thơ đăng báo Văn nghệ, Văn nghệ quân đội (Gửi tới các anh; Lá buởi lá chanh; Qua sông Thương; Phố huyện; Áo…). Cuối năm ấy, trên Tạp chí Văn học của Viện Văn học có bài của nhà phê bình Hoài Thanh viết về thơ Lưu Quang Vũ (Hoài Thanh: “Một cây bút trẻ nhiều triển vọng”, Tạp chí Văn học, s. 12/1966). Năm 1968 Vũ có nửa tập “Hương cây” in chung với Bằng Việt (Hương cây. Bếp lửa, thơ Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Nxb. Văn học, 1968), ngoài ra Vũ còn có một số truyện ngắn đăng báo, trong đó “Thị trấn ven sông” được tặng giải 3 cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ. Đó là những thành công đáng mơ ước trong con mắt các bạn trẻ viết văn cùng thời.

Còn nhớ, một ngày đầu tháng 10/1967 tại một sườn đồi trong huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, nơi đặt “giảng đường” đại học sơ tán thời chiến, chúng tôi xúm nhau đọc số báo Văn nghệ từ Hà Nội vừa gửi lên, đã thật thích thú với bài thơ “Vườn trong phố” của Lưu Quang Vũ. Nhân bài thơ này, bạn yêu thơ còn được biết thêm: nhân vật được gọi là “em” mà tác giả bài thơ dành tặng, chính là nữ diễn viên Tố Uyên từng nổi tiếng với phim truyện “Con chim vành khuyên”. Trong hình dung của bạn yêu thơ thời ấy, tác giả Lưu Quang Vũ chẳng những rất thành công về thơ, về văn chương, mà lại còn có một hạnh phúc riêng cũng rất đáng ước ao!

Trong số sinh viên cùng khóa với tôi (khoa Ngữ văn, Đại học tổng hợp Hà Nội, khóa 9, 1964-1968) có một số bạn làm thơ (Trúc Thông, Ý Nhi, Trần Mạnh Thường…); trong những câu chuyện thường ngày, bên ngoài chứ không phải bên trong giờ học, thì các thông tin và trạng thái nền thơ hiện tại, nhất là thơ trẻ, luôn luôn là câu chuyện cửa miệng. Nói như cách nói ngày nay, chúng tôi thường xuyên truyền các thông tin mới tìm được nghe được cho nhau, cho nên qua cái không gian thông tin của sinh viên cùng khóa, chúng tôi có thể nắm khá rõ lai lịch, nội dung thơ đã đăng của hàng chục nhà thơ lớp trẻ. Thời gian chúng tôi học đại học (1964-1968) cũng là thời gian Lưu Quang Vũ vào quân đội (binh chủng phòng không-không quân) làm thơ viết văn và thành công trong hoạt động văn học. Thế nhưng đã không có ai trong chúng tôi dự đoán được những tai ương có thể xảy đến với Vũ trong những năm tiếp theo.

Năm 1970, khi đã ra trường và vì vấp một tai nạn nhỏ nên tình cờ tôi biết chút ít cảnh ngộ riêng của Lưu Quang Vũ.

Sự thể là tôi được Bộ ĐH-THCN phân công về một ngành (tạp chí H.) mà tôi không thích gắn bó đời mình, lại cũng trái với chuyên ngành tôi được đào tạo; tôi bèn “quậy” khiến họ trả tôi về lại Bộ ĐH-THCN như “một sinh viên chống lại việc phân công ra trường”. Tôi tự tìm đến nhà xuất bản N. xin việc, được lãnh đạo ở đây trực tiếp thử việc và đồng ý nhận, thế nhưng rốt cuộc họ lại thôi không dám nhận, vì nơi cũ (tạp chí H.) can thiệp, yêu cầu Bộ ĐH-THCN phải đưa tôi đến công tác một nơi nào ở bên ngoài thành phố Hà Nội! Tôi nhớ bà giám đốc xuất bản nọ có cho tôi biết: anh Lưu Quang Vũ cũng đã tới đây xin việc và rốt cuộc chúng tôi cũng không dám nhận anh ấy! Chỉ do vậy, tôi mới biết nhà thơ cùng thời nổi tiếng của chúng tôi đã lâm một cảnh ngộ thật sự khó khăn như tôi! Xin nhớ: những năm 1970s ấy, các thông tin về cá nhân không thể có trên báo chí.

Chỉ rất lâu về sau, do bạn bè kể lại, được báo chí thời hậu bao cấp và nhất là báo mạng thời @ lan truyền, người ta mới biết: năm 1970, Lưu Quang Vũ ra khỏi quân đội, hôn nhân tan vỡ; anh phải làm nhiều nghề khác nhau để nuôi mình và nuôi con, khi thì đi chấm công cho một đội cầu đường, khi thì vẽ pa-nô, áp-phích, vào làm ở xưởng cao-su ngành đường sắt (nơi ông Tạ Đình Đề là giám đốc), làm nhân viên hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng (trước 1975 cơ quan này đóng trong khuôn viên trường Mỹ thuật ở phố Yết Kiêu, Hà Nội). Năm 1978, Lưu Quang Vũ được nhận vào làm biên tập viên tạp chí Sân khấu của Hội nghệ sĩ sân khấu VN.

Kể lại khái quát về đoạn đời Lưu Quang Vũ từ 1970, một bạn thân của anh, nhà phê bình Vương Trí Nhàn viết:

“Những phiền toái đã đến với Vũ khá nhanh chóng, những phiền toái do lỡ lầm hư hỏng của chính anh gây ra cũng có, mà do cái ngặt nghèo của hoàn cảnh cũng có. Tôi không nhớ thật rõ, nhưng hình như ngay vào khoảng đầu những năm 70, khi Vũ mới 22-23, trong đầu óc một số chúng tôi, cái hình ảnh mơ mộng của một nhà thơ được ái mộ nơi anh đã nhoà đi gần hết. Thay vào đấy là hình ảnh một kẻ long đong giữa cuộc đời vô định. Những hoang tưởng ngớ ngẩn đã đẩy Vũ đến chỗ vượt ra khỏi những quy định thông thường mà một người làm thơ trẻ phải tuân thủ. Và Vũ bị trả giá đích đáng. Báo chí không in thơ Vũ nữa. Vũ rơi vào tình thế cô độc, hầu như lạc lõng giữa dòng người sôi nổi. Một điều khốn khổ nữa là chính lúc ấy, cái gia đình riêng của Vũ cũng rạn vỡ. Nếu hồi trước với Lưu Quang Vũ, ngày nào cũng là ngày vui, sau khi đèo người vợ mới cưới đi làm, chàng thi sĩ trẻ rẽ vào một quán cà phê sang trọng, ngồi làm thơ, đến giờ lại rẽ lên Xưởng phim đón vợ về, thì về sau, tất cả đã thay đổi. Nơi người ta thường gặp anh là những quán nghèo “quán cà phê dưới gầm cầu xe lửa”, người con gái đi bên cạnh anh là một cô bạn gầy guộc “em gầy như huệ trắng xanh”, cô gái như hiện thân của cuộc đời vất vả phiền phức mà Vũ không thể lìa bỏ”. (2)

Thử xem lại những thống kê đăng tải trên một số tờ như Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, có thể thấy, từ 1969 đến 1975, Lưu Quang Vũ có rất ít bài đăng, có năm có một hai bài thơ, có năm hầu như không có gì. Có lẽ các tòa soạn đã ngầm thực hiện những chỉ thị từ đâu đó, nhằm cảnh cáo những cây bút bị xem là hư hỏng hoặc có dấu hiệu vượt ra ngoài những chủ đề đã được ngầm chỉ định. Nhân đây ta nên nhớ đến bài “Một vài suy nghĩ về dòng thơ trẻ trên miền Bắc hiện nay” (Văn nghệ, s. 374, ngày 11/12/1970) của Hoàng Trung Thông, khi ấy là vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên giáo trung ương; nội dung bài viết ấy, tác giả đã đi nói chuyện tại nhiều nơi trên miền Bắc; bài báo này đánh dấu một chủ trương “uốn nắn” dòng thơ các tác giả trẻ, những người bị nhắc tới, nêu tên hoặc không nêu tên, không chỉ có Lưu Quang Vũ mà còn gồm cả Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Ngô Văn Phú, v.v. Thành ra, sự trắc trở trong đời sống và đời văn của Lưu Quang Vũ những năm 1970s không chỉ là lầm lỡ hay sai sót cá nhân mà còn cộng hưởng số phận cả một lớp người viết trẻ.

Giữa năm 1977, tôi trở về làm việc tại Hà Nội sau 7 năm phải đi dạy học cách trung tâm Hà Nội 60km; điều tình cờ là nơi tôi làm việc – nhà xuất bản Tác Phẩm Mới của Hội nhà văn Việt Nam, lại có đồng nghiệp là người thân của Lưu Quang Vũ. Chạm mặt nhau tại 65 Nguyễn Du là khá thường xuyên, thế nhưng sau cái gật đầu chào hỏi thường là ai đi việc nấy. Có lẽ tôi và Vũ chỉ duy nhất nói chuyện với nhau một lần. Tôi sẽ kể ở đoạn sau.

Đấy là thời gian Vũ đã có cuộc sống ổn định. Gia đình nhỏ Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh, được lập nên giữa sự phản đối khá gắt, rốt cuộc đã khiến bố mẹ Vũ và cơ quan bạn bè công nhận. Vũ có nơi làm việc chắc chắn ở tạp chí Sân khấu. Trong nghề viết thì lúc này Vũ không chỉ làm thơ viết truyện, viết phê bình sân khấu, mà còn bắt đầu tiếp nối nghề của cha, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận (1921-1981). Điều mà mọi người nhận thấy trong thái độ đối với nghề văn ở Vũ lúc này là sự nghiêm chỉnh, đúng hơn là một thái độ thực tế, xem đây là nghề nghiệp nuôi sống mình và gia đình mình. Những bài thơ mang tâm sự ngao ngán, thất vọng, ngờ vực… được gác lại trong sổ tay, trong bản thảo; còn các truyện ngắn, các bài thơ gửi đăng báo thì đều có giọng điệu phù hợp, đều đặt vừa trong giọng điệu chung, những bài viết về sân khấu thì tỏ rõ thái độ xây dựng thực tế đối với một khu vực nghệ thuật còn tạm thời chưa bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại tranh giành công chúng. Để làm nghề thì người viết lúc ấy phải thích nghi với khuôn khổ một nền văn nghệ có kiểm duyệt, có vùng cấm. Không phải ngẫu nhiên Vũ chuyển trọng tâm ngòi bút sang sân khấu, và không phải tình cờ mà kịch bản đầu tiên có ngòi bút Vũ can dự và được dựng diễn lại là “Sống mãi tuổi 17” (đương thời còn được gọi là “Tuổi trẻ Lý Tự Trọng”). Những năm 1980s Vũ là nhân vật số 1 của nền sân khấu Việt Nam, là cây bút hàng đầu tạo nên một mùa vụ sân khấu sôi động khắp mấy đô thị lớn trong nước, có lẽ là mùa vụ lớn cuối cùng, trước khi các phương tiện nghe nhìn hiện đại xuất hiện tại đất này tranh giành hết công chúng.

Tôi nhớ lại chút ít về lần trò chuyện hầu như duy nhất của tôi với Vũ. Đó là vào khoảng tháng 5/1986, cơ quan tôi tổ chức cho cán bộ nhân viên đưa người nhà cùng đi nghỉ ở Bãi Cháy. Quỳnh là cán bộ biên tập nhà xuất bản nên đã đưa cả 5 thành viên nhà Quỳnh-Vũ cùng đi. Thời ấy xe từ Hà Nội đi sớm cũng phải đến chiều tối mới tới được Bãi Cháy. Người đông, xe chật nên mấy người trai trẻ như tôi và Vũ đều đứng ở cuối xe. Vì vậy, giữa chúng tôi có những trò chuyện mà tôi còn nhớ được vài điểm. Vũ đã nổi tiếng từ những năm 1960 nên dĩ nhiên tôi biết Vũ là ai, nhưng Vũ cũng biết tôi như một người viết phê bình. Vũ bảo: hồi mới xuất hiện, bọn mình chỉ biết có một lớp trẻ làm thơ, bây giờ thấy còn có lớp trẻ viết phê bình nữa. Nhân đó Vũ nhắc đến Vương Trí Nhàn, một người viết phê bình mà Vũ quen biết từ lâu, lại đã cùng nhau cộng tác viết báo làm sách (chuyến ấy Vương Trí Nhàn không đi vì đang chuẩn bị bay sang Moskva làm việc tại nhà xuất bản Cầu Vồng). Vũ và tôi đều kêu ca với nhau chuyện viết phê bình ít khi được đăng đều đều, lại thường bị trả nhuận bút thấp. Nhân đấy Vũ nói đến sân khấu. Vũ bảo: viết phê bình thì khó bán cho ai chứ làm sân khấu thì bọn tôi còn bán được cho chị em chợ Đồng Xuân! (ý “chị em chợ Đồng Xuân” là nói công chúng thị dân của sân khấu thời ấy, bên cạnh công chúng cán bộ nhà nước). Đại khái câu chuyện chúng tôi xoay quanh việc kiếm sống khó khăn của nghề viết. Chuyến ấy Vũ đi cùng gia đình nhưng còn kết hợp làm việc với một vài đơn vị sân khấu nữa, nên ở chặng trở về Hà Nội thì Vũ đi xe khác.

Nhắc lại cuộc trò chuyện trên đây, tôi muốn đề cập một loại nhận xét khác, vào chính những năm mà kịch Lưu Quang Vũ chiếm lĩnh toàn bộ sân khấu Việt Nam. Đó là nhận xét này: kịch Lưu Quang Vũ quả thật có công chúng đông đảo, nhưng trí thức thì không xem được (và xem không thấy được)! Chính tôi đương thời cũng chia sẻ nhận xét này. Tôi nhớ là lúc xảy ra cái chết rất đau lòng của Vũ cùng Quỳnh và đứa con chung, khi nhắc với nhau về kịch Lưu Quang Vũ, ít nhất tôi và bạn tôi là nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân cũng vẫn tin vào nhận xét trên đây. Tất nhiên có thể chúng tôi sai. Tôi nhận thấy trong số 50 vở kịch Vũ đã viết, có lẽ chỉ có Hồn Trương Ba, da hàng thịt là chạm được đến cái triết lý về sự thống nhất bản nguyên của cá thể người, thân xác nào linh hồn ấy, không thể tháo dỡ lắp ráp phi tự nhiên được.

Tôi đặt số đông những vở kịch đề tài đương đại của Vũ vào mảng sáng tác văn học và sân khấu mang tính phản biện xã hội (thời đó chưa dùng từ này) những năm 1980s. Ở sân khấu, bên cạnh nhiều vở của Vũ (Tôi và chúng ta; Lời thề thứ 9; Bệnh sĩ; Khoảnh khắc và vô tận; Ông không phải bố tôi, …) là một số vở của Xuân Trình. Ở văn học thì nổi bật là mấy tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, 1982; Cù Lao Tràm, 1985). Đặc điểm của loại sáng tác này là vừa nương theo (truyền đạt, minh họa) cái nhìn chính thống, vừa gài vào đó những ý mang tính thảo luận, phản biện, đôi khi nhân danh những mảng miếng hài hước châm biếm kiểu tuồng chèo. Điều này đôi khi dẫn tới chỗ, giới lãnh đạo chính trị cũng hưởng ứng tác phẩm, diễn giải nó theo hướng thuận lợi cho “nghề” cai trị của mình, trong khi số đông công chúng lại thích nhấn nhá những “nốt” phản biện tuy ngắn nhưng rất đáng đồng tình, và nhất là những tiết đoạn hài hước cười cợt vốn chứa đựng sức giải tỏa tâm lý đáng kể. (Thậm chí Cù lao Tràm còn dẫn tới xung đột, tranh cãi giữa mấy nhà tuyên huấn trung ương như Hà Xuân Trường, Hoàng Tùng với giới tuyên huấn Tp.HCM., mượn lời các tác giả như Lê Khắc Thành, Nguyễn Ngọc Lượng, Phùng Quý Nhâm).(3)

Thiết nghĩ, nghiên cứu nội dung xã hội các tác phẩm văn nghệ trong thời bao cấp, trong xã hội chuyên chế cực quyền nói chung, thì không thể không chú ý đến tương ứng giữa “minh họa tư tưởng chính thống” với những nốt phản biện mà tác giả khéo léo cài cắm vào tác phẩm.

Tất nhiên, khi tác phẩm dành được sự yêu mến, hưởng ứng từ công chúng đông đảo, thì chính sự kiện này đã là một hiện tượng cần được phân tích cẩn trọng. Không dễ dàng để công chúng tán thưởng thứ nghệ thuật chỉ hoàn toàn minh họa những chủ trương hay ý tưởng của giới cầm quyền. Tất nhiên không phải bao giờ công chúng cũng sáng suốt mọi bề, không phải họ không thể bị lợi dụng, lèo lái bởi những tư tưởng mỵ dân. Nhưng một khi số đông công chúng tỏ ra đồng lòng thích thú một tác phẩm nghệ thuật dường như minh họa những chủ trương chính thống, thì bên trong tác phẩm kia chắc hẳn còn có những gì đó đã có thể khiến họ cảm mến và đồng tình, ít ra là trong giới hạn những điều kiện cuộc sống cụ thể ở thời điểm đó.

Có một sự việc gây cho tôi ấn tượng khá mạnh. Ấy là ít lâu sau đám tang gia đình Quỳnh-Vũ, một lần, ngồi với một số anh em tại văn phòng hội sân khấu ở 51 Trần Hưng Đạo, anh Xuân Trình đưa ra cho chúng tôi xem một tờ giấy khá lạ, như cỡ tờ giấy A4 bây giờ, trên mặt giấy là những hàng chữ ngoằn ngoèo rất khó đọc. Anh Xuân Trình bảo đấy là một tờ ghi sổ tang tại đám tang Quỳnh-Vũ, người ghi là một nhân vật cao cấp: Đào Duy Tùng. Anh Xuân Trình có mặt tại chỗ khi ông Đào đang ghi, thấy tay ông run lật bật như tay người bị parkinson, dù ông không mắc chứng ấy. Ông Đào nói với anh Xuân Trình (khi đó là Tổng biên tập tạp chí Sân khấu): Tôi xúc động quá anh ạ!

Vị cán bộ cao cấp kia quá xúc động vì cái tai họa quá tàn khốc đối với một gia đình văn nghệ sĩ, ‒ chắc hẳn là thế. Những ai có dự đám tang Quỳnh-Vũ hẳn đều ghi nhận: đấy là đám tang to nhất, đông nhất tại Hà Nội thời gian ấy, dành cho một văn nghệ sĩ, từ đó tới nay chưa có đám nào sánh được. Rất đông người đi đưa tang không phải là bạn bè trong giới văn học hay sân khấu, mà đơn giản chỉ là những khán giả thính giả từng xem từng nghe các vở diễn tác phẩm của Lưu Quang Vũ. Rất có thể, một cách vô tình, cái cách biểu lộ sự hâm mộ, sự quý mến, trân trọng một văn nghệ sĩ của đám đông công chúng đã khiến vị cán bộ cao cấp đã ngạc nhiên đến mức bất ngờ.

Không rõ hiện giờ ở hội sân khấu còn lưu giữ được tờ giấy nói trên hay không? Tôi nghĩ, đó là một hiện vật nói được rất nhiều điều.

Hà Nội, 4.7.2018

LẠI NGUYÊN ÂN

Chú thích:

(1) Xem: “Hình thành, định hình, trưởng thành, phân hóa (Mấy nét về lớp nhà thơ xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam những năm 1960-1970)”; trong sách: Từng đoạn đường văn, tiểu luận, phê bình của Lại Nguyên Ân, Nxb. Hội nhà văn, 2016, tr. 272-283.

(2) Vương Trí Nhàn: “Lưu Quang Vũ và một mảng đời, một mảng thơ thường bị quên lãng”; trong sách: Cây bút đời người, tập chân dung văn học, Nxb. Hội nhà văn, 2007; bản trên mạng: https://vuongtrinhan.blogspot.com

(3) Xem: Dư luận về tiểu thuyết Cù lao Tràm trong sách: Văn học 1975-1985. Tác phẩm và dư luận, (Vân Trang, Ngô Hoàng, Bảo Hưng sưu tầm và biên soạn). Nxb. Hội nhà văn, 1997, tr. 371-414.

NHẬT TUẤN viết về TÔ HOÀI: Cưỡi Dế Mèn bay khắp thế gian

“ CƯỠI CON DẾ MÈN BAY ĐI KHẮP THẾ GIAN…”

 

 

Sinh thời, ông trùm văn hoá mác-xít  Việt Nam, nhà phê bình văn học Như Phong “khái quát” về nhà văn Tô Hoài vẻn vẹn trong có mỗi một câu:“thằng ngoại ô láu cá, văn chương đẽo gọt”. Văn chương thì khoan nói tới, nhưng về cái sự khôn lỏi, láu cá đầy phong cách tỉnh lẻ thì Hội nhà văn phải lấy “ông này tiên sư”.

Thời bao cấp, được đi nước ngoài “tham quan, hội thảo, gặp gỡ” (hồi đó chưa có từ “giao lưu”) là một mơ ước xa vời vợi đối với các bác có chân trong Hội nhà văn Việt Nam. Bởi lẽ từ khâu đầu tiên được Ban đối ngoại Hội dự kiến, Ban thường vụ Hội duyệt rồi qua Bộ Nội vụ, Bộ Văn hoá, Bộ Ngoại giao rồi tới Vụ Văn Nghệ,  Ban tuyên giáo trung ương, Ban bí thư… là cả một “con đường sấm sét” với muôn vàn trắc trở.  Cử ai đi chứ cái thằng cha X. này phải coi lại nhé. Nghe nói tư tưởng “có vấn đề ”. Nghe nói phát ngôn lung tung. Nghe nói viết lách không rõ ràng… Bằng ngần ấy ông “gác cửa”, chỉ cần một ông “phán cho một câu” là rớt đài… đợi chuyến sau. Ấy vậy mà lọt qua được bằng ấy cửa tử rồi, vẫn cứ phải chờ “anh Lành” (tức đồng chí Tố Hữu) gật cho một phát mới gọi là tạm yên tâm và bắt đầu hồi hộp chờ nhận com-lê, ca-vát cùng là hộ chiếu, vé máy bay đợi ngày xuất ngoại.

Hội nhà văn Việt Nam hồi đó có hơn 150 Hội viên mà hàng năm chỉ có dăm bảy suất đi nước ngoài, bởi vậy đó là cuộc đấu tranh sinh tử, giành giật âm thầm và quyết liệt chẳng thua gì vũ đài quyền Anh. Nhà văn nổi tiếng và có nhiều tác phẩm giá trị như Nguyễn Thế Phương, tác giả tiểu thuyết “Đi bước nữa”, “Đào chèo”… mà đến tận cuối đời mới được một xuất đi Trung Quốc ngắn ngày, còn nhà thơ Quang Dũng, từ “Đôi mắt người Sơn Tây” tới “Nhà Đồi”, viết lách cũng tới cả ngàn trang văn học cách mạng mà … chưa ra khỏi biên giới lần nào. Ấy thế mà riêng Tô Hoài, tổng kết lại trong thời bao cấp ông đã xuất ngoại tới … 105 lượt (một trăm lẻ năm), đủ  các nước Á, Âu, Mỹ, Úc, Phi…, mà sự nghiệp của bác xem ra đỉnh cao nhất cũng chỉ là truyện vừa “Dế mèn phiêu lưu ký”. Bởi thế dân gian mới có câu:

“Đảng đoàn là Đảng đoàn Thông,

Ở đâu có rượu là ông tới liền

Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài,

Hễ đi nước ngoài là có ông ngay…”

Hồi đó ông nhà thơ Hoàng Trung Thông và ông nhà văn Tô Hoài đều có chân trong Đảng đoàn Hội nhà văn Việt Nam. Các bác Hội viên “cả đời chưa một lần đặt đít lên ghế  tàu bay” phải ca cẩm:  “cái thằng ranh ma thế, có mỗi con dế mèn mà bay khắp thế gian” . Xem vậy đủ hiểu bác Tô Hoài luồn lách, chen lấn, đội đạp phải cỡ cao thủ võ lâm mới lập kỳ tích số lần đi nước ngoài đáng đưa vào Ghi-Nét Hội nhà văn Việt Nam như thế.

Vậy nhưng cái tính “ngoại ô láu cá” ấy của bác Tô Hoài chẳng phải do cách mạng hun đúc nên mà ngay từ hồi còn phong kiến đế quốc bác đã mang nó  rồi. Ngày nay đọc lại “Dế mèn phiêu lưu ký” mới thấy “anh Sen làng Nghĩa Đô” (tên thật của Tô Hoài) đã ranh ma từ độ ấy, mới giật mình, sao chú dế oắt “ngoại thành” này “khôn lỏi” thế ? Lo toan cho cái thân mình thế? Mới nứt mắt chú đã: “Ngày nào cũng vậy, suốt buổi, tôi chui vào trong cùng hang, hì hục đào đất để khoét một cái ổ lớn làm thành cái giường ngủ sang trọng. Rồi cũng lo xa như các cụ già trong họ dế, tôi đào hang sâu sang hai ngả làm những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng, phòng khi gặp việc nguy hiểm, có thể thoát thân ra lối khác được… Bởi ăn uống điều độ, làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm…”

“Quân tử phòng thân” từ thủa ấu thơ kỹ lưỡng vậy trách gì khi trưởng thành chẳng rút ngay bài học “chui tọt ngay” vào hang sau khi lớn giọng trêu chị Cốc “vặt lông cái Cốc cho tao, tao nấu tao nướng, tao xào tao ăn” để mặc thằng Dế Choắt bị chị Cốc “giận cá chém thớt” mổ cho đến chết, trong lúc đó Dế Mèn ta “lên giường nằm khểnh, vắt chân chữ ngũ”, thây kệ thằng Dế Choắt ăn đòn thay mình.

Sau này, trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cho dù chàng Dế Mèn chẳng dám chọc tức Đảng câu nào, nhưng cũng “tự đấm ngực nhận lỗi” trên báo Nhân Dân số ra ngày 12 tháng 3 năm 1958:

      “Tư tưởng xấu của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã tiếp tục len vào cơ quan của Hội Nhà Văn, trên báo Văn, gây nhiều tác hại. Quan niệm mơ hồ của tôi, khách quan đã tạo điều kiện cho khuynh hướng tư tưởng nhóm ấy lợi dụng diễn đàn báo Văn và một số cơ quan khác của Hội Nhà Văn như nhà xuất bản, câu lạc bộ, đã gieo rắc quan điểm chính trị và nghệ thuật nguy hại. Sự yên tâm vô lý của tôi trước tình hình đó là do tôi đã hầu như không để ý rằng miền Nam còn nằm trong lưới đế quốc Mỹ. Bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ Diệm ngày đêm tìm mọi cách gieo rắc tư tưởng thù địch để phá hoại sự nghiệp xây dựng miền Bắc của chúng ta. Trong văn học hiện nay không thể quên mỗi tư tưởng đều hoặc có lợi cho ta hoặc có lợi cho địch”.

Rồi thì thây kệ “chị Cốc” cứ “mổ” la liệt các “chàng Dế Choắt”: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán… đuổi đi đào đất, vác than. Chàng Dến Mèn chui tọt ngay vào cái hang “đề tài miền núi” viết toàn chuyện “quan thống lý Pá Tra” đàn áp, bóc lột “vợ chồng A Phủ”  tức “người Mèo ta khi chưa có Đảng”, tránh xa mọi chuyện hiểm nguy nới phố thị, tha hồ cho “chị Cốc” hoành hành, chàng cứ ung dung “toạ hưởng kỳ thành”, vắt chân chữ ngũ lâu lâu lại “cưỡi con dế mèn” bay đi tham quan nước bạn. Thành công đó là nhờ Tô Hoài đã rút “kinh nghiệm” của chú Dế Mèn ngày xưa: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn gì cũng mang vạ vào thân”. Cái đám Nhân văn Giai Phẩm kia đúng là “hung hăng bậy bạ”, “có óc mà không biết nghĩ” , “ Ôi thôi, chú mày ơi. Chú mày có lớn mà chẳng có khôn” (lời Dế Mèn dạy Dế Choắt) thì bị Đảng cho ăn đòn còn oan nỗi gì ? Phải khôn ranh, láu cá thì mới giữ được thân, hưởng lộc dài dài. Chẳng thế mà hiền lành như nhà văn Bùi Hiển cũng phải than: “Tôi lại có cảm giác là anh (Tô Hoài) có khuynh hướng hơi e ngại, hơi dè chừng…”. Giống như  chú Dế Mèn trong suốt cuộc phiêu lưu , chẳng thấy “hành hiệp giang hồ”, đánh kẻ mạnh cứu kẻ yếu đuối, toàn đi “chọi” với Cào Cào, Châu Chấu, mà cứ hễ thua là bỏ chạy; Tô Hoài cũng vậy, suốt cả mấy thập kỷ ngồi ghế “lãnh đạo văn nghệ” (hết Hội nhà văn Trung ương lại tới Hội  văn nghệ Hà Nội), bao nhiêu nhà văn Hà Nội bị “Cốc mổ” như  Xuân Khánh, Châu Diên, Vũ Bão, Lê Bầu… mà chưa lần nào thấy ông Dế Mèn lên tiếng bênh vực đàn em, chưa kể có khi còn xúi “chị Cốc” mổ thêm cho chết. Hoá ra “triết lý con lươn” của Nguyễn Khải – cứ gặp rắc rối là tiết chất nhờn lủi mất, còn thua xa bí kíp “chui tọt xuống hang” của bác Dế Mèn. Cứ chữ “thọ” đeo sau lưng; Nhân văn Giai Phẩm lủi lên Tây Bắc, Mỹ đánh miền Hà Nội, chuồn lên rừng…  cứ thế làm gì bác chẳng lập kỷ lục Ghi Nét “hễ đi nước ngoài là có ông ngay”.

Vậy nhưng “cứ tọt xuống hang” vậy rồi sự nghiệp văn chương chữ nghĩa của bác rồi sẽ đi về đâu?

Nhìn vào bản liệt kê các tác phẩm đã xuất bản của Tô Hoài, ta phải ngả mũ bái phục về khối lượng đồ sộ của “lão nhà văn” tuổi ngoài tám mươi vẫn viết không ngưng, không nghỉ:

Lão đồng chí, Núi cứu quốc, Ngược sông Thao, Đại đội Thăng Bình, Xuống làng, Truyện Tây Bắc , Khác trước, Vỡ tỉnh, Người ven thành, Mười năm, Miền Tây,Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Những ngõ phố, Người đường phố, Thành phố Lêningrat, Trái đất tên người, Kim Đồng, Vừ A Dính, Ông Gióng, Con mèo lười, Trâu húc, Đảo hoang, Sự tích Thăng Long, Nhả chữ,  v. v…  và gần đây nhất là hồi ký “Cát bụi chân ai”.

  Tuy nhiên, trong tập thơ “Chân dung nhà văn”, nhà thơ Xuân Sách  khái quát sự nghiệp văn chương của Tô Hoài, còn lại với thời gian chỉ dăm ba cuốn:

“ Dế mèn  lưu  lạc mười năm

                       Để cho “O chuột” ôm cầm thuyền ai ?

                       Miền tây sen đã tàn phai

                       Giăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang”

Những “Dế mèn phiêu lưu ký”, “O chuột” ,“Giăng thề” được viết từ trước cách mạng 1945 khỏi nói tới. Sau đó dù có viết tới vài ngàn trang, theo cách nhìn nhận của nhà văn Xuân Sách, Tô Hoài còn lại có “Mười năm”, “Miền tây” và “Đảo hoang”.

“ Mười năm” là cuốn tiểu thuyết dầy 400 trang viết về làng Hạ gần Hà Nội vào thời kỳ (1936-1945), tức là thời kỳ Mặt trận Bình Dân tới Cách mạng tháng Tám. Cái làng nghề dệt lụa này đang vào thời kỳ suy sụp, khung cửi xếp xó, xóm làng xác xơ  gây nên thảm trạng “con đánh bố”, “trai gái sắp chết đói vẫn đòi ngủ với nhau”… ” Có áp bức là có đấu tranh”, thế là đám thanh niên trong làng như  Lê, Lạp, Trung quên cả đói “chơi trò” trốn thuế, diễn kịch, lập hội Ái hữu, rải truyền đơn…và sau “Mười năm” trui rèn trong lửa cách mạng, Lạp và Trung đã trở thành  “đảng viên cộng sản lãnh đạo quần chúng cướp chính quyền ở xã và phủ”, còn chị Hai Tâm, goá chồng, dâm đãng, bị một thằng đểu nó lừa…sau này cũng trở thành đảng viên cộng sản, có chân trong Đội Danh dự làm “công tác đặc biệt”. Vậy là mọi ngả đường  của phần lớn các nhân vật đều đi tới … vào Đảng cộng sản cả. Ca ngợi đến mức đó mà “Mười  năm” vừa mới ra lò đã bị Như Phong, nhà phê bình mác-xít “choang cho một búa” : “Phong trào cách mạng của ta trong thời kỳ ấy, nếu ai muốn tìm hiểu nó trong cuốn “Mười năm” thì sẽ luôn luôn gặp những hình ảnh rất lạ lùng, lờ mờ, nguệch ngoạc và có khi méo mó đến làm ta sửng sốt được…”. Nhà nghiên cứu văn học Phan Cự Đệ thì răn đe: “Nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa không chấp nhận lối viết hồn nhiên, tự phát, kinh nghiệm…mà đòi hỏi một sự nhận thức sâu sắc về những quy luật xã hội, một trình độ tổng hợp và khái quát ngày càng cao…”. Ôi thôi, thế mới biết đi theo đường lối văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa của Đảng đâu có dễ. Nào nhận thức quy luật, nào tổng hợp, nào khái quát, các nhà văn đi theo cách mạng đừng có tưởng bở dễ ăn theo được Gorki, Shololhov, Fadeev …những nhà văn cộng sản lẫy lừng thời đó. Vậy là “Mười năm” đã bị “khai đao” ngay từ lúc mới sinh và cho tới bây giờ đọc lại thấy vẫn “đầu Ngô mình Sở”, may ra còn được vài trang tả cảnh “những phiên chợ lụa, những chái nhà sâu dặt dìu tiếng khung cửi, những mảnh sân vào những đêm trăng cuối thu thoang thoảng mùi hoa thiên lý , hoa cau, hoa ngọc lan, hoa móng rồng”.

Viết chuyện “ngoại ô” xem ra khó xơi, Tô Hoài “láu cá” (chữ của Như Phong) phóng tuốt lên rừng viết truyện “Miền Tây” giàu chất phóng sự, báo chí hơn là tiểu thuyết. Nếu như trước cách mạng, Tô Hoài thường đi sâu miêu tả cá nhân trong thân phận  mỗi người, sang “thời đại mới”, ông sốt sắng đi theo con đường hiện thực XHCN theo cách hiểu của ông, chuyển hướng sang “phản ánh” cả một phong trào, một thời kỳ cách mạng. Bởi thế cái đích ngắm của ông trong “Miền Tây” là “phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp gay go và phức tạp ở các vùng cao những năm 1954-1957 giữa một bên là “bọn phản động” Đèo Văn Long, Mùa Sống Cổ…”xưng vua” và một bên là nhân dân và chính quyền cách mạng. Tiếc thay, “phe phản động” chẳng thấy đâu, hoặc chỉ là những bóng ma lẩn khuất trong rừng đâu có dễ dàng lộ diện cho nhà văn tiếp xúc để mà “nhận thức quy luật”, “khái quát”, để mà “phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp gay go”, bởi thế Tô Hoài phải dùng lại cái “chiêu” cũ: mô tả cái đói cái cơ cực trước cách mạng và cái “đổi đời” khi cách mạng về của đồng bào miền núi. Tuy nhiên, gọi là “bám rễ” ở vùng cao, Tô Hoài cũng chỉ quẩn quanh ở các trụ sở Uỷ ban, Đảng uỷ… gặp gỡ các “nòng cốt” của Đảng chứ đâu có “ba cùng” được với bà con trong bản. Bởi thế nhân vật trong “Miền Tây”, dù cho có là nhân dân lao động đi chăng nữa cũng chỉ được sản xuất theo một công thức: cơ cực khi chưa có Đảng, đổi đời khi cách mạng về như là “Vừ Soá Toả, suốt ba đời đi ở đúc lưỡi cày cho thống lý, bây giờ trở thành Chủ tịch xã…”, “ Thào Khay, con bà Giàng Súa đã trở thành y sĩ, thành người cán bộ của Đảng, có chân trong châu uỷ Châu Mộc…”  v. v. và v. v.  Nhân vật trong tiểu thuyết “Miền Tây” đã hiếm hoi nhưng lại được đúc ra từ một khuôn kiểu vậy, bù lại, lấp cho đầy những trang giấy, Tô Hoài đi sâu vào “tả cảnh”.

“Những đêm đầu mùa hè mây dày từng mớ, từng lớp vàng đẫm ánh trăng ủ trên những cánh rừng tít tắp chân mây , những thung lũng làng mạc xa lạ…”,

”Bóng tối trĩu nặng từng quãng nhanh và dữ dội , gió chồm lên rồi chết đứng từng đợt ngay giữa các triền núi , những dòng suối chảy ra lưng trời, chảy ngang người ngang ngựa…”.

Tuy nhiên, những đoạn văn có mùi Nguyễn Tuân như thế rất hiếm hoi, còn thường là Tô Hoài dùng “thủ pháp đen trắng”, so sánh “ngày ấy – bây giờ”:

“Trước kia mỗi phiên chợ Phiềng Sa, người đói muối đông nghìn nghịt chen chúc nhau, chồng đống lên nhau như đá đè, tiếng chửi rủa kêu khóc vang cả một góc núi. Bây giờ những ngày phiên chợ giáp Tết là những ngày hội tưng bừng của các dân tộc vùng  cao. Sự thật kỳ diệu nhất sau ngày giải phóng là sự thay đổi vận mệnh của những con người, những người nô lệ bây giờ đứng lên làm chủ đất nước…”.

Chẳng hiểu có cái gì làm ông nhà văn bốc đồng đến thế, quên ngay mình đang viết tiểu thuyết mà nhảy phắt sang viết…xã luận đăng báo Nhân Dân.

Khởi nghiệp bằng truyện con nít, “Dế mèn phiêu lưu ký” đã đưa mình đi khắp thế gian, Tô Hoài không quên xuất xứ, nên trong sự nghiệp văn chương của ông có tới trên 40 dầu sách viết cho thiếu nhi. Thế nhưng chất nhân văn của chú Dế mèn và cô Chuột (O chuột) dường như ngày càng lấn át bởi chất “chính trị” như trong “Vừ A Dính”, “ Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ”, “ Kim Đồng” nên những truyện  kể con vật như “Chú mèo lười”, “Trâu húc”, “Người đi săn và con nai”, “Voi biết bay”, “Hổ và Gấu đi cấy”… còn lâu mới tới chú Dế mèn và cô Chuột. Đó là chưa kể trẻ con ngày nay đổ xô tìm đọc những Đôrêmôn, Harry Potter…cùng lắm là Nguyễn Nhật Ánh, dẫn tới nguy cơ “mặt hàng giành cho thiếu nhi” của nhà văn Tô Hoài không khéo bị lưu kho. “Đảo hoang” là “tiểu thuyết thiếu nhi” được nhà thơ Xuân Sách nhắc tới trong thơ “Chân dung nhà văn” cũng được viết theo truyền thuyết An Tiêm nhưng còn thua xa “Quả dưa đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật ngày xưa. Trong “Đảo hoang”, Tô Hoài đã tuỳ tiện “sáng tác” thêm hai nhân vật là Mơn và và Gái – con trai, con gái của An Tiêm. Rồi trên hoang đảo lại có thêm một chàng trai tên Mali từ đâu dạt tới để sau này cùng với cô Gái sánh duyên đi xây dựng… miền đất mới. Cái “cảm hứng” xây dựng miền đất mới, cuộc sống mới, con người mới, xã hội mới này làm cho những “tiểu thuyết thiếu nhi” của Tô Hoài nặng về giáo dục làm mệt đầu con nít vốn đã bị nhà trường nhồi nhét đủ thứ “mới” ở trên đời. Bởi thế chúng nó bỏ anh  Dế Mèn chạy về với những Đôrêmôn, Harry Potter, Tom & Jerry…thì cũng là…quy luật tất yếu của cuộc sống…

 

Mới đây, nhân dịp kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên, Báo Văn Nghệ Trẻ số ra ngày 23-4-2004 có đăng bài phỏng vấn Giáo sư Phong Lê về “Văn học những năm kháng chống thực dân Pháp – Bây giờ nhìn lại” . Nhà nghiên cứu văn học này phát biểu: “Đến Giải thưởng 1954-1955 với “Việt bắc” của Tố Hữu, “Đất nước đứng lên“ của Nguyên Ngọc, “Truyện Tây bắc” ( giải nhất) của Tô Hoài thì bức tranh kháng chiến mới thực sự được mở rộng trong một cảnh quan vừa có chuyện vừa có người, có quê hương và đất nước, có gắn nối giữa chất trữ tình và sử thi, có hài hoà giữa chủ thể và khách thể…”.

Vậy là trong “thơ chân dung” nhà văn Tô Hoài, nhà thơ Xuân Sách đã quên một tác phẩm mang tầm vóc dấu mốc của văn học chống Pháp – “Truyện Tây Bắc”. Vậy nhưng tác phẩm này có tương xứng với những lời tâng bốc của ông Giáo sư?  Đó là một tập truyện ngắn Tô Hoài viết vào những năm 1953-1955 tiếp tục đề tài miền núi trong những tập “ Núi Cứu Quốc” (1948), “Xuống làng” (1949) trước đó. Tuy nhiên, như Giáo sư Phan Cự Đệ khẳng định: “Đến “Truyện Tây Bắc” mới là tác phẩm cắm mốc, khẳng định vị trí của Tô Hoài trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Tại sao một tập truyện ngắn đường rừng rất xa trung tâm của cuộc kháng chiến − những vùng chiến sự ác liệt nơi đồng bằng, trung du…− lại được tôn vinh “cắm mốc” ?  Đó là do “…thông qua hành động thực tiễn, đường lối giai cấp và đường lối dân tộc của Đảng , tác phẩm đã nói lên một cách đau xót nỗi thống khổ bao đời của các dân tộc anh em ở vùng cao dưới ách chiếm đóng của thực dân Pháp và bè lũ tay sai là bọn quan bang, quan châu, phìa tạo, thống lý …”  như GS Phan Cự Đệ nhận xét. Vậy là khác với những truyện đường rừng ngày xưa của Lan Khai, “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài có “giá trị cao” là vì “thấm nhuần đường lối của Đảng”. Thảo nào trong hai truyện được coi là xuất sắc nhất trong cả tập là “Cứu đất cứu mường” và “Vợ chồng A Phủ”  hễ cứ là “phong kiến” thì cực kỳ tàn bạo, gian manh, còn nhân dân lao động thì tốt thật tốt.

Trong “Cứu đất cứu Mường”, có “Cô Ảng ngày xưa đã một thời đẹp nức tiếng đất Mường Cơi”, thế rồi bông hoa rừng ấy lọt vào tay quan tri châu Né “tối ngày ngồi một xó nhà, rót nước, nướng thịt, bưng xôi, đun nước tắm …con mắt mờ mịt…”.  Cái ông quan tri châu này chẳng hiểu có thực ở trên đời không mà bao kẻ hầu người hạ đâu hết lại bắt “mỹ nhân” làm chuyện tay chân đó? Cái “tình huống ban đầu” đã nặng mùi giả dối, ấy thế rồi sau 10 năm đầy đoạ, “bông hoa rừng” được thả về làng mang theo hai con nhỏ (con quan chẳng hiểu vì sao bị đuổi khỏi nhà) vẫn còn…trẻ, đẹp để mỗi lần các quan đi săn ghé qua vẫn bị lôi đi hầu quan. Thế rồi nàng Ảng khổ quá phải cho đi một đứa con trai tên Nhấn, còn đứa con gái lại phải làm tôi tớ cho thằng con chồng là Cầm Vàng, sau này dẫn lính về cướp bản, nó chỉ mặt Ảng chửi: “Con gia Mường này rồ thật”  rồi vung roi lên đánh. Chẳng hiểu sao “quan bố” “quan con” lại xấu đến thế ? Riêng thằng Nhấn − đứa con đã cho đi của nàng Ảng, lớn lên được anh cán bộ tên Sơn giác ngộ cách mạng trở thành du kích và bộ đội cụ Hồ. Thế còn cô em gái phải làm tôi mọi cho quan? Không thấy tác giả nói tới và thằng anh ruột đi bộ đội cũng… quên cô luôn (có lẽ do cô đã thuộc thành phần…nhà quan).

Trong “Vợ chồng A Phủ” cũng có một nhân vật na ná như  nàng Ảng nhưng có phần may mắn hơn. Cô Mỵ cũng là một “bông hoa rừng”, cũng bị bắt về lấy con quan thống lý là A Sử. Lạ một điều là cưới  được “mỹ nhân” mà thằng chồng vẫn hành hạ, ngược đãi cô vợ trẻ đẹp coi cô như trâu như ngựa khiến cô hái nắm lá ngón dắt trong người, mấy lần tính ăn để tự tử cho thoát kiếp tôi đòi. Thế rồi đến ngày Tết, A Sử đi chơi xa vài ngày, đã không cho vợ đi theo hắn còn trói nàng lại ở cột nhà, “xách cả một thùng sợi đay ra trói đứng, tóc Mỵ xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mỵ không cúi, không nghiêng được đầu nữa…” . Trói vậy, không ăn không uống liền mấy ngày, chắc chắn khi A Sử đi chơi xa trở về, cô vợ xinh đẹp đã thành cái xác không hồn. Người ta chẳng hiểu vì sao chỉ cốt cô Mỵ không đi theo mà A Sử lại hành động như một kẻ giết vợ như thế? Thôi đành chỉ tự hiểu đã là con quan thì thằng A Sử phải tàn ác, phải coi người như trâu chó, kể cả vợ mình. Vậy mới là “thấm nhuần quan điểm đấu tranh giai cấp”. May cho nàng Mỵ, thằng chồng chỉ đi một ngày một  đêm  đã trở về không phải vì lo nàng chết mà chính vì lúc chơi trong hội tết nó bị một thanh niên trong bản đánh vỡ  đầu. Mãi lúc đó, nàng  Mỵ mới được nhà quan phát hiện đang bị trói và được cởi để đi hái thuốc chữa trị cho chồng. Còn anh thanh niên kia, tên A Phủ, bị ông ”quan bố” Pá Tra trói gô “sọc ngang cái gậy, khiêng về ném giữa nhà”. Thế là từ đó, A Phủ phải ở lại nhà thống lý Pá Tra làm trâu làm ngựa đề đền tội đả thương con quan. Một năm kia, đàn ngựa A Sử được giao chăn dắt  bị hổ vồ mất một con. Thế là luôn trong mấy ngày, A Phủ bị trừng phạt trói đứng trong góc nhà nhịn ăn nhịn uống. Trong lúc đó, đêm đêm nàng Mỵ ngồi bên bếp lửa suy nghĩ: “Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết…Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi. Người kia việc gì mà phải chết thế …A Phủ…”. Thế rồi nàng Mỵ rút con dao cắt dây trói cho A Phủ trốn và bất ngờ cô chạy theo: “A Phủ cho tôi đi…Ở đây thì chết mất…”. A Phủ chợt hiểu. Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi. Họ trở thành vợ chồng ngay trên đường trốn chạy và một tháng sau họ đã thoát được sang vùng tự do. Truyện ngắn lẽ ra là kết thúc ở đây trang thứ 20 – nhưng không, Tô Hoài còn kéo dài thêm 20 trang nữa kể chuyện “vợ chồng A Phủ đổi đời trong cách mạng” vậy mới đúng phương pháp hiện thực XHCN. Sau vài năm xây “tổ ấm”, vợ chồng A Phủ đã có mái nhà, có khung cửi, có lợn trong chuồng. Ấy thế rồi một hôm quan Tây dắt lính nguỵ tới cướp bản, dắt đi hai con lợn lại còn bắt A Phủ đi theo để khiêng lợn xuống đồn. Từ đó trong anh nung nấu lòng căm thù quân Pháp xâm lược, may thay một hôm có A Châu, cán bộ cách mạng tìm tới giác ngộ: “Bao giờ nhân dân ta lấy được độc lập thì vợ chồng A Phủ về quê tôi chơi. Bấy giờ tha hồ đi đâu cũng được ở yên, làm ruộng làm nương, làm buôn làm bán, đâu đâu cũng sung sướng như nhau…” . Và ta cũng có thể đoán ngay được phần kết của “truyện ngắn kéo dài” “Vợ chồng A Phủ”. Bản làng trở thành khu du kích, cuộc sống vừa sản xuất vừa chiến đấu thật là vui vẻ, tươi sáng và tất nhiên A Phủ trở thành một chiến sĩ du kích xuất sắc.

“Truyện Tây Bắc” – đỉnh cao nhất trong sự nghiệp văn học cách mạng của Tô Hoài, tác phẩm đánh dấu mốc mở ra  thời kỳ văn học hiện thực XHCN Việt Nam là như vậy. Văn chương dễ dãi, chẳng “đẽo gọt” như Như Phong nhận xét, nội dung sơ lược, mang nặng mục đích tuyên truyền chính sách dân tộc miền núi của Đảng, bỏ qua tính chân thực vốn là cốt lõi của văn chương, viết theo lối viết “địch – ta” rạch ròi, vạch một ranh giới tuyệt đối giữa các nhân vật và chỉ chấp nhận họ hoặc ở phe này hoặc phe kia. Rút cuộc, “đỉnh cao sự nghiệp Tô Hoài” vốn ra đời theo yêu cầu nhất thời của cách mạng đã bị thời gian đào thải; ngày nay, ngoại trừ những học sinh và sinh viên  phải làm bài, khó có ai đủ kiên nhẫn để thưởng thức nó.

 

Trong thời cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ, hội chứng “phản tỉnh” không chỉ nảy nòi ở các nhà văn trẻ, một số cây đa cây đề cũng bị nhiễm “con virus” này, viết bài “tự chỉ trích” hoặc “phân bua” với thiên hạ mình cũng suy nghĩ độc lập lắm đây. Chế Lan Viên có bài “Bánh vẽ”, Nguyễn Minh Châu có “Đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh hoạ”…mới đây Đào Xuân Quý có “Nhớ lại”. Tuy không nặng mùi “phản tỉnh”, nhưng Tô Hoài cũng viết một cuốn hồi ký dầy cộp – “ Cát bụi chân ai”, nói rõ một số chuyện xoay quanh vụ Nhân văn Giai phẩm, “dựng lại chân dung” một số nhà văn “cây đa cây đề” làm xôn xao dư luận một thời.

Trước khi đưa ra một số tình tiết “phản kháng” của văn nghệ sĩ trong vụ án văn này, Tô Hoài “thủ” trước một lập trường chính trị vững vàng theo Đảng :

” Nhưng mà những hoạt động gây sự không phải chỉ ở vài bài báo trên Nhân Văn, mà cái chính là ý đồ chính trị rộng ra nữa của một số giới không phải là những người làm báo Nhân Văn trong tình hình nhạy cảm ở các đô thị lúc ấy….không ai lưu tâm những người bỏ tiền cho vốn in báo và những hoạt động chính trị đòi thay đổi và chia quyền lãnh đạo đã âm thầm dấy lên, trong giới tư sản đương bối rối, trong một số trí thức ở vùng mới giải phóng và ở đảng Dân Chủ. Báo Nhân Văn chỉ là một phần bề ngoài và là một thủ thuật chính trị dựa vào “trăm hoa đua nở”.

Vậy đã rõ ràng, trong vụ Nhân văn Giai Phẩm, Tô Hoài trước sau vẫn vững “lập trường cách mạng”, không có “phản tỉnh”, “phản mê” gì hết. Tuy nhiên ông cũng đưa ra một vài hồi ức cho thấy không phải nhà văn nào cũng “vững vàng” như ông.

Trên báo Nhân Dân số ra ngày 12 tháng ba năm 1958  có đăng bài “Nhìn lại một số sai lầm trong bài báo và công tác” Tô Hoài sát phạt anh em: “càng thấy rõ những tư tưởng nguy hại của một số người, từ báo Nhân Văn, không phải ngẫu nhiên tồn tại và có cơ phát triển đối kháng, chống lại Đảng, chống lại chủ nghĩa xã hội trong khi giai đoạn cách mạng đương chuyển nhanh, chuyển mạnh.”  và tự kiểm thảo: “Tôi đã đánh giá thấp những hoạt động của tư tưởng chính trị và nghệ thuật kiểu báo Nhân Văn vẫn sống sót, lại nhặt nhạnh dần thêm những rơi rứt lạc hậu của từng người hoặc một phần nào trong tư tưởng mỗi người, vào lúc giai đoạn cách mạng đương chuyển, nó dẫy giụa chống lại bước tiến mới của cách mạng và đã tác hại không nhỏ.”

Tô Hoài nhớ lại, ngay sau khi đọc bài báo:

“Nguyên Hồng buông tờ báo xuống. Rồi Nguyên Hồng xua xua tay, nói như hét vào mặt tôi:

− Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng thì không!

Nguyên Hồng quỳ xuống trước tôi, rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít.”

[………………]

− Tao về Nhã Nam.

− Về Nhã Nam?

− Ừ, Nhã Nam. Đủ, đủ lắm rồi. Ông đ. chơi với chúng mày nữa. Ông về Nhã Nam”.

Phải chăng mượn lời Nguyên Hông, 42 năm sau, Tô Hoài đã “chữa khéo” hành động của mình trong vụ Nhân Văn hồi đó là “Câu Tiễn” ?

Trong những năm tháng “khó khăn” đó, Tô Hoài kể lại “hai hoạ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm và Dương Bích Liên, tuy chỉ làm có cái bìa sách cho nhà xuất bản nọ nhưng chắc là không khí sát phạt ở các buổi họp khiến các anh ngại, đã xin ra Đảng”; Dương Bích Liên đã vẽ “một tranh sơn dầu hai đứa trẻ gái gầy guộc xanh lét cả tóc”  có tên là “Hào”  bị loại khi mang ra triển lãm; Nguyễn Sáng vẽ ký hoạ trên báo Nhân Văn một đầu người ở cổ có vết khía, như cái lá. Người ta bảo đấy là chân dung Trần Dần và cái sẹo còn lại khi anh định tự vẫn. Nguyễn Sáng không được bình huân chương kháng chiến; Nguyễn Huy Tưởng thì “mấy đêm  không chợp mắt được. … Nguyễn Huy Tưởng nói:”Nước Hungary trong phe xã hội chủ nghĩa, nhưng trước nhất nước Hungary là nước Hungary đã, ông thấy thế nào? Các ông thấy thế nào? Tôi không hiểu, tôi không thể hiểu.”…Nguyễn Huy Tưởng băn khoăn. Nguyễn Huy Tưởng có những ý kiến khác những lời bình trên các báo.Tôi đùa: “Ông là thằng cộng sản dân tộc. Nguyễn Huy Tưởng cười hiền lành: “Cậu bảo tớ bắt chước Ti-tô? Không phải, Nguyễn Huy Tưởng là cộng sản Việt Nam. Nhưng mà nguy hiểm đấy. Chẳng nên đùa nhau thế”. Nguyễn Huy Tưởng nói nho nhỏ, cặp mày rậm nên con mắt hồn nhiên nhíu lại, buồn hẳn. Chúng tôi không bao giờ đùa cợt và nhắc lại như vừa rồi nữa.”, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán  bị tước hội tịch trong 5 năm nhưng “Nhưng đằng đẵng ba mươi năm không hội văn học nghệ thuật nào lôi ra xem xét lại. Sợ sệt, phấp phỏng không phải chỉ ở tâm trạng mấy ông “Nhân Văn cả nước”, mà tràn lan đến những “Nhân Văn phố, Nhân Văn xóm”, chẳng bị kỷ luật gì, nhiều người không phải vì bài văn câu thơ, mà bởi lời nói bông lông, bốc trời chẳng hạn, cũng bị quy chụp luôn.” Khi nhà học giả Phan Khôi mất “đi sau xe tang, chỉ có bác gái và các con với một mình chị Hằng Phương, cháu gọi bằng cậu”. Nhớ lại Phùng Cung, tác giả “Con ngựa già của chúa Trịnh”, 11 năm tù biệt giam, Tô Hoài ngậm ngùi: “ Phùng Cung công tác chạy hiệu ở văn phòng cơ quan hội Văn Nghệ từ trên Tuyên Quang. Ở rừng, những việc tủn mủn không tên, giấy tờ công văn, giữ sách thư viện, làm sách mới, đi chặt củi, vác gạo, khiêng người ốm ra trạm xá, thui chó liên hoan… Đọc truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh” Phùng Cung đăng trên báo Nhân Văn tôi cũng gật gù. “Thằng này viết được. Nhưng còn hộc máu ra mới nên cơm nên cháo đấy, con ạ”. Tôi không thể tưởng tượng ra được một Phùng Cung thế nào mà bị bắt. Lại hơn mười năm sau. Chặp tối, một người bước vào cửa. Dáng ủ rũ, mặt tái ngoét, không phải Phùng Cung mà là cái bóng Phùng Cung trên tờ giấy tẩy chì mờ mờ.”

Cũng trong cái thời nhà văn bị theo dõi tới từng câu từng chữ ấy, Tô Hoài nhớ lại:

      “Có một thời, những người “theo dõi” báo chí, xuất bản và phát hành sách báo được phong làm lính gác. Lính gác thì phải có việc của lính gác, chẳng lẽ ăn lương để đứng không. Nhưng thật ra người ta chỉ đọc a dua rồi đánh đòn hội chợ. Cấp trên hô người ấy, bài ấy có vấn đề. Tự nhiên cảm thấy hình như có vấn đề thật và người ta dò tìm từng câu từng chữ. Thế nào chẳng ra vấn đề! Bỗng khó chịu cả cách diễn đạt khác nhau của mỗi ngòi bút, thế là làm sao. Không biết vì tổ chức đặt ra công tác theo dõi làm cho cái người theo dõi bỗng nhiên được làm thầy thằng bị (được) theo dõi. Hay là tại vì thuở nhỏ đi học, nhà trường chưa bao giờ giảng cho các vị ấy khi còn là học sinh hiểu bài văn muốn có ý nghĩa, trước hết bài văn phải hay. Khốn thay, người ta viết văn thất bại nhưng vẫn làm cán bộ theo dõi được. Cái nhìn sự sáng tạo cứ lên xuống theo thời tiết. Nguyễn Tuân cáu kỉnh nhẹ nhàng và chua chát:

− Có khi mày bảo chúng nó viết đi, để ông với mày đi chơi, thế là bớt được thằng công tác theo dõi!

Nói vậy, Nguyễn Tuân vẫn là Nguyễn Tuân thế, không có gì khác.

−  Này, chúng nó đồn ầm lên ông mới nói, nếu ông còn trẻ thì ông cũng bỏ đất này ông đi.

Nguyễn Tuân thong thả nói, như cho mình nghe:

−  Biết đuổi theo đứa nào mà cải chính bây giờ,  tao mà chết, nhớ chôn theo với tao một thằng phê bình…”

 

Những trang viết thực như vậy quả là những tư liệu đáng quý trong lịch sử văn học Việt Nam, tuy nhiên, cuốn “Cát bụi chân ai” của Tô Hoài lại gây xôn xao bạn đọc ở phần “bật mí” những khía cánh riêng tư của các ngôi sao văn học.  Chẳng hạn tuy Nguyễn Tuân được tiếng là “tài tử” nhưng lại rất kỹ tính “Năm 1961, Nguyễn Tuân lên Hà Giang dự khánh thành đường Bắc Quang – Hoàng Su Phì. Hoà bình thảnh thơi rồi, nhưng vẫn lại là về rừng, lại đeo cái ba lô Nhật với những sợi dây dù Mỹ buộc màn, không quên chiếc bi đông chiến dịch sông Thao hơn mười năm trước. Giữa đám các thứ lỉnh kỉnh, một xếp giấy bản lau chén bát, một quyển sách đang đọc và mấy thẻ hương mua thửa ở hàng quen cửa chợ Đồng Xuân để…chống muỗi”.

Nhiều năm nay, thiên hạ đồn thổi về cái sự “tình trai” của Xuân Diệu, trong “Cát bụi chân ai”, Tô Hoài đã huỵch toẹt ra chuyện đó :

“Dịu dàng, âu yếm, Xuân Diệu cầm cổ tay tôi, nắm chặt rồi vuốt lên vuốt xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối…Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt lên cổ rồi xuống dần, xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ… Chẳng còn biết đương ở đâu, mình là ai, ta là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quít cánh tay, cặp đùi thừng chão trói nhau lại, thít lại, giằng ra. Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, lên cơn dữ dội, dằn ngửa cái xác thịt kia. Rồi như chiêm bao, tôi rời rã, thống khoái, im lặng. Giữa lúc ấy, hai bàn tay mềm như lụa lại vuốt lên mặt. Làn môi và hơi thở nóng như than bò vào mắt, xuống vú, xuống rốn, xuống bẹn… Cơn sướng lại cơn lên cho đến lúc ngã cả ra, rúc vào nhau.” …

Thực là một trang đặc tả mà ngay đến các cây bút “hậu hiện đại” cũng chưa viết nổi.  Còn chàng Hoàng Cát, một “tình trai”  của Xuân Diệu, khi lên đường  vào B được Xuân Diệu tặng thơ  với lời yêu đương thống thiết :

 

“ Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga

Chưa chi ta đã phải chia xa!

Nhưng bóng em đi đã khuất rồi

Đứt lìa khúc ruột của anh thôi!

Tình ta như mối dây muôn dặm

Buộc mãi đôi thân, dẫu cách vời…”

 

Ấy thế mà khi Cát trở về Hà Nội viết “Cây táo ông Lành” đăng báo Văn Nghệ bị đòn hội chợ, Xuân Diệu đã quay ngoắt: “Tôi không biết thằng đó là ai ?”

Nhưng thê thảm nhất là kỷ niệm về Nguyễn Bính. Nguyên thời làm báo Trăm Hoa, nhà thơ được một cô gái trẻ đem lòng yêu, và sinh ra một bé gáiï tên là Hiền. Khi cháu mới bập bẹ, cô gái trả con lại cho Nguyễn Bính để đi bước nữa. Thế rồi một đêm mưa, Nguyễn Bính bế con ra dốc hàng Kèn và trao cho một người đàn ông qua đường nào đó. Ôn lại chuyện cũ, Tô Hoài xót xa: “Bấm đốt ngón tay, đã trên ba mươi năm rồi. Ai là người đã đi qua ngã sáu oan nghiệt tối hôm ấy − nếu trời để cho được  sống, ông ấy cũng phải đến trong ngoài sáu bảy mươi rồi, nếu vẫn nhớ có người đưa cho một đứa trẻ, thế thì tên cháu là Hiền nhé…” Vâng tên cháu là Hiền, nhưng lẽ ra cần nói rõ, cháu là con gái của nhà thơ dân tộc: Nguyễn Bính.

“Cát bụi chân ai” dù thế nào, vẫn còn chút lòng nhân hậu và sự trung thực trí thức của Tô Hoài. Chỉ tiếc nó được viết sau khi ông nhà văn đã rời bỏ cái ghế Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, nơi ông đã ăn dầm nằm dề cả gần hai mươi năm nay. Giá như ông chịu treo ấn từ quan sớm, chắc sự nghiệp của ông không chỉ  còn lại với thời gian  một “chú dế mèn”.

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

 

NHẬT TUẤN viết về LƯU TRỌNG LƯ: “Con nai… vờ ngơ ngác”

CON NAI … VỜ NGƠ NGÁC

 

 

Ngay sau khi giành được chính quyền ở Sài Gòn, nhà nước VN đã tổ chức “một khoá học tập gọi là khoá bồi dưỡng chính trị dành cho văn nghệ sĩ”, “cấp tốc đưa từ Hà Nội vào những nhân sự có vai vế trong giới văn học của miền Bắc như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bảo Định Giang, v.v.” nhà thơ Lưu Trọng Lư  “đã kể lại con đường phục vụ “cách mạng” của mình và kêu gọi văn nghệ sĩ miền Nam hãy mạnh dạn đi theo con đường mà ông đã trải qua”.

Thực ra chẳng phải chờ tới “khoá bồi dưỡng chính trị” này, ngay sau ngày Huế rơi vào tay “bộ đội giải phóng”, đứng trước cảnh nhà cháy, người chết, gia đình ly tán, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã “kể lại con đường của mình” bằng những lời sảng khoái, mừng rỡ trong bài thơ “Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi” :

“Đất này không phải xứ sở của thần tiên,

                    Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…

                    Đường ta đi thế đấy

                    Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi…”

Ba ngày sau khi tiếng súng đã tắt trên cố đô, đặt chân trên đường phố Huế, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã bịt tai che mắt sao mà không nhìn thấy những dấu tích máu còn lại sau tết Mậu Thân, những thảm trạng người với người giết nhau, giành giật nhau cơ hội sống còn trong trốn chạy, tưởng như “Thượng đế đã chết trong thành phố”, vậy mà trái tim thi nhân của nhà thơ vẫn reo vui:

“ Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…”

Phải đặt câu thơ vào thời khắc của lịch sử, người đời sau mới thấy hết được trái tim đen của thi nhân, ngòi bút của ông ta đã chấm vào mực hay máu để mà cười vui trước nỗi đau của dân tộc ?

“Như con ngựa đường trường

                    Ta về đây gõ móng

                    Trời cao đất rộng

                    Mở phanh vạt áo của hồn ta…”

Tháng Tư 1975, từ biệt thự cơ quan Hội nghệ sĩ sân khấu 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, “con ngựa đường trường” Lưu Trọng Lư đã phi thẳng tới “cố đô Huế” hỗn loạn để … gõ móng. Ông gõ vào ai vậy? Tất nhiên không phải vào “Ban quân quản thành phố”, không phải “đoàn quân chiến thắng xạm màu súng đạn”, cũng không phải  Đại Nội rợp trời cờ đỏ ? Vậy thì nó chỉ còn gõ móng vào nỗi đau của đồng loại trong “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng”, và liệu ông có coi những mẹ, những em, những nỗi đau “bọt bèo số phận” là “đồng loại” không? Chắc là không? Đồng loại của nhà thơ phải là những “mũ tai bèo đôi cánh đang bay”, những “em băng trong lửa đạn chiến hào, tóc nữ sinh cuốn theo vành mũ vải…”

Vô cảm với nỗi đau con người trong loạn lạc, Lưu Trọng Lư lại còn tự đấm ngực, bứt tóc, rên rỉ, gào rú cho thân phận của chính mình trước ngày ông có Đảng:

“Ôi ! bé bỏng một tấm thân người

Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết

Có nỗi thương của Giê-su, có nước mắt của Phật

Và trên tay áo này,

Trên tay áo này

Những giọt đau !

Những giọt đau !

…Trong cõi lạnh hư vô

Một con đò, ôi một con đò…”

Viện cả đức Chúa Giê-su và đức Phật Thích-ca ra để mà “phản tỉnh con người cũ” liệu có lôi kéo được ông Nguyễn Khắc Viện (người được Lưu Trọng Lư tặng bài thơ này) đi theo “Đường ta đi thế đấy…”:

“Ta một giang hồ thi sĩ

Dừng nghe tiếng gọi từ xoáy hồn ta

Hay tiếng gọi từ một bến bờ xa

Tiếng gọi từ một bến bờ xa

Tiếng gọi từ một bến bờ quang đãng

Trận gió Thu và những ngày Tháng Tám

Đắng cay sực tỉnh, mình lạnh mồ hôi…”

Đó, một “giang hồ thi sĩ” lớn như Lưu Trọng Lư còn đi theo Cách mạng Tháng Tám, huống hồ nhà viết sách “học làm người” như Nguyễn Khắc Viện còn chần chừ làm chi ? Thôi thôi hãy cùng nhà thơ lên đường:

“Rồi với kẻ cùng đi

Với những tấm lòng theo nhau vào trận đánh

Thế thôi ! mà sao vất vả rộn ràng…

Một ngày qua nhanh, tiếc ngẩn…”

Lời rủ rê này chẳng  riêng gửi bác Nguyễn Khắc Viện mà cho cả trên 400 văn nghệ sĩ Sài-gòn trong “khoá học chính trị” ngày đó. Các quý vị còn chần chừ gì nữa, hãy “theo nhau vào trận đánh”, chậm một ngày là tiếc ngẩn một ngày, đơn giản thế thôi mà sao cứ “vất vả” chần chừ mãi thế ? Tiếc thay, bỏ ngoài tai lời kêu gọi của nhà thơ, chỉ vài năm sau, gần 400 văn nghệ sĩ này đã bỏ của chạy lấy người, rủ nhau biến sạch ra…hải ngoại.

Làm thơ chưa đã, Lưu Trọng Lư còn diễn dịch ra 80 trang văn xuôi “Đường ta đi thế đó bạn lòng ơi…” để “giác ngộ thanh niên Huế”.

“ Sau khi Huế giải phóng được vài hôm, giữa phố Paul Bert cũ, tôi đã gặp mấy thanh niên… Cũng không hiểu sao, họ đã nhận ra tôi và điều đầu tiên là họ muốn biết từ “Tiếng thu” những bước đi của tôi như thế nào ?”

Và nhà thơ hãnh diện trả lời:

“Còn thế nào nữa ?

Tôi ngày nay đã là một người cộng sản. Với những người bạn trẻ ở miền Nam vừa được giải phóng, những bạn đã từ một đêm dài trở lại với ánh sáng, hôm nay tôi muốn có đôi lời gửi gắm…”

Nào các bạn thanh niên miền Nam vừa từ “đêm dài” trở lại “ánh sáng”, sắp được rời thành phố lên rừng đi kinh tế mới, sắp được khăn gói đi học tập cải tạo, sắp  được bước vào công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền Nam, các bạn hãy lắng nghe nhà thơ “Tiếng thu” ngày xưa, “cộng sản” ngày nay gửi gắm những lời lẽ gì?

Sau khi nhắc lại hình ảnh ông là chiếc thuyền nhỏ bé đi giữa hai bờ sống chết, nhà thơ tâm sự: “Câu thơ này thật ra có thể tổng kết cả một thời trai trẻ của tôi, nói lên cả một chân lý cuộc đời tôi…Thật là lênh đênh giữa hai bờ sống chết. Không phải thân thế tôi chỉ “giang hồ”  trong cuộc sống , mà tâm tư tôi còn “phiêu bạt” trong cõi đất trời mông lung mà tôi không hiểu nổi…”

Trong cả chục triệu thanh niên miền Nam trước 1975, liệu có được bao nhiêu người “lênh đênh giữa hai bờ sống chết”, “giang hồ” trong cuộc sống”, “tâm tư phiêu bạt trong trời  đất” như nhà thơ ? Khéo lắm chỉ có đám đâm thuê chém mướn, “đá cá lăn dưa” ở chợ Cầu Muối mới có cùng tâm trạng với ông, còn tuyệt đại đa số thanh niên miền Nam vốn chí thú làm ăn và coi gia đình là gốc,  vậy lời “gửi gắm” của ông còn có tác dụng gì? Thế nhưng ông vẫn kiên trì kể lể:

“Tôi có thể nói từ thủa nhỏ, từ nhà tôi, một nhà quan cũng như từ cung vua của Thái tử đi ra tám hướng, hướng nào cũng ngập những nỗi khổ đau của con người… Tôi đi tới phương nào cũng gặp những nối khổ đau của con người. Nào tôi đã làm gì để giảm nhẹ, để xoá bỏ nỗi đau khổ của con người ?”

“Đời là bể khổ” mà, Phật đã dạy rồi. Vậy là mang lý tưởng của Đức Như Lai, cậu bé Lưu Trọng Lư  lên đường để “xoá bỏ nỗi đau khổ của con người”. Ôi cao quý thay… Vậy cậu đã làm gì?

“Cũng chỉ đến đổ nước mắt thôi! Chỉ có nước mắt thôi, không cứu nổi con người đâu …”

Vậy thì cái gì cứu nổi con người?

Chẳng vòng vo gì nhiều, ông nhà thơ huỵch toẹt:

“Sau này khi tôi có bài thơ nói về Đảng của tôi, trong đó có câu:

                    “Mẹ không cho nhiều nước mắt Như Lai…”

Là ý nghĩa như thế, Đảng trân trọng những giọt nước mắt nhưng Đảng không khuyên con người cứ chết chìm trong nước mắt. Niệm một nghìn lần câu “Đời là bể khổ” cũng không cứu đời ra bể khổ…”.

Vậy là đã rõ, đứng trước mọi khổ đau của kiếp người cho dù bố đi cải tạo, mẹ vất vả thăm nuôi, chị gái ra đứng đường, em gái liếm lá ngoài chợ… thì cũng không nên “chết chìm trong nước mắt”. Vậy phải làm gì? Ông nhà thơ đã vạch cho tuổi trẻ miền Nam một lối thoát: tin yêu vào cuộc sống.

“Sự tin yêu cuộc sống đã cho tôi sức trẻ…Trong thơ văn tôi đã nhắc nhiều lần đến hai chữ “hồi sinh”. Trong bài thơ “Tiếng thu II” tôi có câu :

                    “ Những kiếp người tất tả hồi sinh”

Vậy “hồi sinh” tôi hiểu thế nào? Là từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn…” 

Rất chí lý, hàng triệu thanh niên miền Nam đã thực hiện y như lời gửi gắm của nhà thơ Lưu Trọng Lư, họ cũng từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối, xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn, chỉ tiếc rằng họ “hồi sinh” bằng “đôi chân” chạy trốn khỏi cái xứ sở thời đó mà đến cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ đi…

Tất nhiên ông nhà thơ không đời nào muốn tuổi trẻ miền Nam “hồi sinh” theo kiểu “bỏ phiếu bằng đôi chân” đó, ông muốn  các em trước hết hãy đi vào …nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê mà ông kêu to lên như người mới phát hiện ra chân lý:

“Ôi! Duy vật biện chứng pháp, bao nhiêu ngày tháng tôi triền miên trong cái trầm hương đó toát ra từ cái cốt lõi sự vật. Và mỗi ngày tôi ngắm xung quanh tôi muôn vàn biểu hiện, vô vàn biểu hiện phong phú, rực rỡ của cái người đời gọi là vật chất, cái duy nhất có thật ở đời…”

Ôi, ở miền Bắc sau hơn 20 năm nghiên cứu học tập, chẳng còn mấy ai tin vào cái “biện chứng pháp” ấy nữa, bởi vậy nhà thơ mới mang nó vào miền Nam, thật đúng là “củi mục bà để trong rương, hễ ai hỏi đến trầm hương của bà”…

 

Đặt chân rất sớm vào Sài gòn sau Tháng Tư 1975, từ Hội trường Khoá bồi dưỡng chính trị cho gần 400 văn nghệ sĩ  “chế độ cũ”, nhà thơ Lưu Trọng Lư  đi thẳng tới khám Chí Hoà …làm bài thơ “Tìm anh”:

“Đập cổng Chí Hoà không thấy bóng

                    Tay cầm hoa trắng , đi tìm anh…”

Nhà thơ tìm ai vậy? Có phải một bạn thơ cũ ngày trước làm việc cho Mỹ-ngụy hoặc họ hàng thân thuộc có dính dáng tới chính quyền cũ nay bị cách mạng bắt giam ?

                    “Qua cầu Công Lý nhìn mây nước

                    Tưởng thấy hình anh giữa biếc xanh…”

Hoá ra không phải, người mà nhà thơ cất công tới tận nhà ngục tìm chính là anh… Nguyễn văn Trỗi, chưa một lần gặp mặt mà chỉ biết tới qua bút ký “Sống như anh” của Trần Đình Vân. Trong thời điểm các nhà thơ miền Bắc mới đặt chân vào Sài gòn ngay sau ngày ông Dương Văn Minh tuyên bố “bàn giao chính quyền”, cũng nên nhắc tới Huyền Kiêu, một nhà thơ lão thành miền Bắc, khi vào Sài gòn đi ra ngoại ô đã cảm thán làm bài thơ “Gặp người thương binh  nguỵ trên cầu Bình Triệu”  với chút cảm thông, lập tức nhà thơ bị phê phán và bị đưa về “ngồi chơi xơi nước” tại NXB Văn Học.

Suốt cả đời thơ, Lưu Trọng Lư tuyệt nhiên không va vấp, không có câu thơ nào làm mếch lòng Đảng, không có bất kỳ một “tai nạn nghề nghiệp” nào như rất nhiều đồng nghiệp khác. Ngay cả mấy năm sau, năm 1979, nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, được lên Cao Bằng để chứng kiến bọn bành trướng Trung Quốc giết hại các em nhỏ ở một lớp học, được giao làm thơ để tố cáo bọn bá quyền dã man, nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng tính rằng đây chỉ là “ngọn gió quái”, sẽ qua mau, Trung Quốc vẫn “vừa là đồng chí vừa là anh em”, nên ông làm một bài thơ  giữ kẽ, rất chung chung, không dám nêu đích danh kẻ thù lúc đó là quân xâm lược Trung Quốc:

Tội giặc

                    Từ chiến địa trở về

                    Ngủ một đêm Đèo Gió

                    Trăng như vừng gương nhỏ

                    Trên tay em gái sàn

                    Nước máng từng giọt tràn

                    Như đàn tranh tưng tửng

                    Hương bưởi gần thoang thoảng

                    Nằm nghe gió rúc xa

                    Dưới ánh lửa hồng cô giáo Thuỷ

                    Nhớ trò, nhớ lớp ngồi ngẩn ngơ.

                                                      Cao Bằng 3-79

Với bọn Khơ-me đỏ, Pôn-pốt, Iêng Xa-ry cũng vậy, dẫu sao các “đồng chí” đó vẫn là cộng sản, chửi đích danh đâu có được:

Tới đây mắc võng Trường Sơn

Có thu trước mặt, có xuân bên mình

 … Sáng nay con đến ven rừng

Thấy cành hoa đẹp vết thương trên người

Chết rồi còn đỏ làn môi

Thấy sỗ sàng thân ngọc, con nghiêng cài áo khuy…

1981

Chỉ chung chung thế thôi, đâu có dám vạch mặt chỉ tên những đứa nào đã làm nhục mẹ. Cứ “giữ  kẽ”  vậy cho an toàn, biết đâu vài năm nữa các đồng chí đó lại “bốn phương vô sản đều là anh em” thì sao? Quả nhiên những bài văn thơ nêu tội ác đích danh bọn Trung Quốc xâm lược đều lặng lẽ biến mất khỏi sách báo, riêng có bài của Lưu Trọng Lư vẫn được in vào tuyển tập. Ca ngợi người anh hùng trong chiến tranh với Khơ-me đỏ và Trung Quốc cũng vậy, chẳng bù cho ngày trước lớn tiếng vạch mặt Mỹ-ngụy, nay không một chữ nào điểm mặt, chỉ tên quân thù :

Anh không ngồi đếm bao thu còn lại

                    Bao tuần lá đổ, vàng rơi

                    Khi cánh song anh khép kín cõi đời

                    Anh vẫn không tin: mình chết…

                    Khi gà mai mỗi ngày còn đập cánh

                    Ai tắt được lửa bình minh…

                                                     (Lẽ nào anh chết – 1981)

Cứ làm thơ theo định hướng chiến lược phân biệt “bạn thù” của Đảng kiểu “kẻ thù lâu năm của nhân dân ta vẫn là đế quốc Mỹ”, trái tim nhà thơ liệu có còn đập  theo những buồn vui trần thế nữa chăng? Trong những năm chiến tranh, đời sống  dân miền Bắc rất thê thảm, con nít sinh ra không đủ sữa, nhiều người phải giã đậu phọng thành nước cho con bú, triết gia Trần Đức Thảo ngày ngày đạp chiếc xe “Pơ-giô” con vịt – tức xe đạp con nít Liên Xô từ Khu tập thể Kim Liên tới Thư viện Khoa học xã hội, mang theo cái cặp lồng trong có hai cục bột mì luộc, trên đường ghé nhà ăn tập thể tranh thủ xin… bi-đông nước chè “một hào ba gói”. Trong khi đó Lưu Trọng Lư sống trong khu Ba Đình giành cho các quan, mua bán tại cửa hàng Tôn Đản là “chợ vua quan” làm sao thấu hiểu nỗi khổ dân chúng nên thơ ông tuyệt nhiên không một câu cảm thông những cảnh đời khốn khó. Suốt cả chục năm 1975-1986, ông vẫn  náu mình trong “Hoành sơn nhất đái” – ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng muôn thủa. Năm 1982, một anh bạn đi Pháp về cho coi ảnh chụp … bác Hồ ngủ trưa giữa ổ rơm ngoại thành Paris, Lưu Trọng Lư liền cảm khái thành thơ:

Giữa ổ rơm

Nằm nơi đất lạ, tình không lạ

                    Giấc ngủ tìm về giữa ổ rơm

                    Một đời gắn bó mùi rơm rạ

                    Mắt nhắm còn lo chuyện áo cơm…

Thế đấy, hàng triệu người già, trẻ con trong những năm tháng đó lấy rơm làm giường sao nhà thơ không buông một tiếng thở dài? Tiếc thay đó là điều cấm kỵ trong văn chương miền Bắc nên ông cứ ngó lơ, ngậm miệng “giữ ghế” cho … con cái đi học Liên Xô, dân chúng có khổ sở vì “giá, lương, tiền” ông vẫn reo vui :

“Đẹp lắm! trên đời những vấn vương

                    Chao ôi thiên lý một con đường…

                    Đi trong trời đất từ duyên ấy…”

Thưa vâng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “thiên lý” lắm, nếu cứ ở khu Ba Đình, hưởng sổ cung cấp Tôn Đản thì nhà thơ cứ đi mãi được và lại còn hô hào thanh niên:

“Chút lửa hồng, em hỡi

                    Ngày ấy, còn đỏ trên tay

                    “Nào lên đường đi! người trai trẻ !”

                    …Ta đi như một hiệp sĩ hôm nào…

                                                                               1986

Thày giáo dạy văn bình giảng bài này cho học sinh ắt hẳn sẽ tán “truyền thống cách mạng vẫn còn trong tay, nào lên đường noi gương các anh hùng liệt sĩ”. Nhưng lên đường đi đâu, chiến tranh đã qua rồi đâu còn mặt trận nữa? Chỗ này thì nhà thơ…tắc tị, đành lờ đi chứ còn biết nói sao? Không lẽ hô hào lên đường làm giàu, cái đó khỏi cần nhà thơ hô hào, hàng chục ngàn các cô gái nông thôn đã chẳng lên máy bay sang Đài Loan lấy tàu rồi đó sao?

Vậy nhưng thời thế rồi cũng đổi thay, sang kỳ kinh tế thị trường, đề tài “ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng”  xem ra mất khách, dải “Hoành sơn nhất đái” không còn là nơi dung thân vạn đại cho những con chim chỉ biết hót véo von trong lồng son cóng sứ. Ngay nhà văn quân đội gạo cội Nguyễn Minh Châu cũng phải đọc “Lời ai điếu cho văn chương minh hoạ”,…

Và, “theo phong trào” Lưu Trọng Lư cũng viết sách thị trường. Năm 1989 cho ra đời cuốn hồi ký “Nửa đêm sực tỉnh”. Ai chà, đọc cái tựa sách cũng đã thấy đậm màu “phản tỉnh” – nửa đêm chợt tỉnh giấc để suy nghĩ gì đây? Ăn năn, sám hối về quãng đời đã qua? Xét lại đường lối  văn nghệ của Đảng  đã đưa Lưu Trọng Lư đến chỗ bạt vía nàng thơ? Không phải! Để làm yên lòng tuyên huấn và gây tò mò cho độc giả bỏ tiền mua, sách có ghi rõ phụ đề “Hồi ký – Nhớ lại những mối tình”. Vậy một mũi tên trúng cả hai đích, ổn thoả đôi đường, Đảng yên tâm mà đầu nậu bỏ tiền in sách cũng yên trí.

Gọi là “nhớ lại những mối tình” nhưng tác giả đã bỏ qua cái phần hay nhất là những “cuộc tình cô đầu”  để kể chuyện hai bà vợ chính thức và những giao tiếp các tên tuổi nổi danh như Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đỗ Cung, Điềm Phùng Thị… qua đó nêu bật được con đường từ dòng dõi danh gia vọng tộc đến với cách mạng như thế nào. Bà vợ đầu là một cô gái Hội An, sau một lần gặp ở Huế đã lặn lội ra tận Hà Nội gặp nhà thơ để “ngày nào cũng đi chơi với nhau”. Hoá ra cô Tài là người hùn vốn sản xuất dầu tràm nhãn hiệu Thanh Thuỷ, trùng với một bút hiệu của nhà thơ bởi thế đem lòng quý mến. Cưới cô Tài ít lâu, nhà thơ đưa vợ về quê Quảng Bình sống trong ngôi nhà nhỏ ven sông Gianh; nhờ vào tiền vợ nên ngày ngày chỉ “sớm leo núi, chiều bơi thuyền”. Khi tiền cạn, vợ chồng đành dọn về Huế tìm kế sinh nhai. Thời gian này Lưu Trọng Lư cho ra đời truyện ngắn “Người sơn nhân” mà theo lời tác giả được cụ Phan Khôi “đã đưa cuốn truyện của tôi lên mây xanh” với lời tâng bốc “văn đàn cho đến nay chưa có tác phẩm nào có giá trị sáng tạo như thế…”.  Cùng lúc đó những bài thơ mới đầu tiên của Lưu Trọng Lư ra đời gây xôn xao dư luận tạo đà cho nhà thơ đưa cả gia đình ra Hà Nội, nơi phồn hoa đô hội, đâu ngờ ra đó “khác gì số phận một chiếc thuyền nan bé nhỏ giữa ngàn sóng đại dương”. Lúc đầu nhiều người tìm tới để “mua lúa non”, giao tiền chưa cần bản thảo, chỉ cần “khi hứng ông viết vài câu để lại cho đời”. Thế rồi “cơm áo không đùa với khách thơ”, nhà thơ than thở: “Bên những bài thơ trong sạch là “ Khói lam chiều”, “Voi già vua Hàm Nghi”, “Cầu sương điếm cỏ”….lương tâm nhà văn đã qua những bước chán chường mệt mỏi. Tôi sẵn sàng viết những tiểu thuyết để làm vui lòng những tiểu thư, những bà lớn, những cô gái tân thời…”.

Một lời tự thú thật hiếm hoi trong sự nghiệp văn chương Lưu Trọng Lư!

Tiếc thay, giá lời tự thú này được viết 50 năm sau đó, thì trước khi trở về với đất, “con nai vàng” còn lưu lại chút ngậm ngùi trong lòng người đọc.

Nhưng rồi dù có viết để “vui lòng các bà các cô” đi chăng nữa, nhà thơ cũng không trụ nổi đất Hà thành, đành dắt díu nhau về Thanh Hoá dạy học, sống đời công chức tỉnh lẻ. Dăm năm sau, bà vợ đầu mất đi, để lại cho nhà thơ hai đứa con nhỏ, và như lời tác giả: “kết thúc mười năm tình nghĩa” “một chương mới của đời tôi đã mở ra”.

Chương mới đó là chuyện tình thứ hai và cũng là sau cùng, chiếm tới 9/10 “Nửa đêm sực tỉnh”. Lúc này nhà thơ đã vào tuổi tam thập, đang thất vọng vì thơ không nuôi nổi người, “cái buồn, cái đau, cái tuyệt vọng để bán liệu có ai mua?”. Có lần, đọc vài đoạn trong kịch thơ “Ngọc Du, Ngọc Duệ” trước một cử toạ ít người, nhà thơ cảm thán thân phận “không còn một chỗ ngồi, chỗ đứng, một nẻo đi…” đến mức  “như không còn kiểm soát được mình nữa, sẵn có bao quẹt trong túi, tôi đốt luôn tập thơ của tôi trên tay…”.

Đó là lần duy nhất đốt bản thảo! Tiếc thay, từ đó về sau, nhà thơ không lặp lại cái việc đáng làm này nữa. Chắc vì đã có “một chỗ ngồi, một chỗ đứng” trong làng thơ và đã có “một nẻo đi” theo cách mạng chứ không bế tắc như hồi chưa có Đảng nữa. Tất nhiên,  giúp nhà thơ thoát khỏi bế tắc lúc đó chưa phải Đảng mà vẫn là… tình yêu.

Cô gái đó – tên Mừng và là bà vợ sau chót, cũng dòng hoàng tộc, con gái một thày đờn, trước khi chết đã kịp truyền cho con gái mọi ngón nghề đàn tranh để sau này cô dạy cho giới quan lại, quý tộc, “dạy  cho cả con gái Phạm Quỳnh, quen vào ra các nơi dinh thự”,  và sau cách mạng được “anh Nguyễn Chí Thanh cũng như anh Tố Hữu thường khen: đàn của Mừng rất lạc quan, rất tươi”.

Sau khi bố chết, cô Mừng được mẹ hứa gả cho một công chức giàu có, “môn đăng hộ đối”. Ấy thế rồi chẳng hiểu có ma đưa lối tiên dẫn đường, hay vì tâm hồn lãng mạn, trái tim cô “lạc nẻo” sang chàng thi sĩ nghèo kiết xác, đáng tuổi cha chú, đã một đời vợ và hai con riêng. Tất nhiên bà mẹ phản đối quyết liệt mối tình trong con mắt bà là cọc cạch và phi đạo đức. Nhưng ngăn sao được ma lực của những vần thơ rót vào tai, chảy xuống tim con gái bà? Theo nhà thơ kể lại, một ngày nọ, chẳng hiểu thi sĩ dỗ ngon dỗ ngọt ra sao, cô gái con nhà gia giáo tên Mừng đó đã nói dối mẹ để hẹn hò người tình “qua đêm” trên một chiếc thuyền nhỏ đi xa khỏi Huế.

“Đêm ấy, gió cứ thổi. Thuyền cứ trôi. Chúng tôi không cần biết thuyền ngược lên Tuần hay xuôi tới cửa Thuận. Nếu tình yêu có đỉnh cao, thì đây là đêm thiên thai của chúng tôi…”.

Vậy là sau cái đêm “động phòng” trên sông ấy, “chẳng cần những cái gọi là lễ hỏi, lễ cưới ở trên đời”, ông nhà thơ đã phỗng tay trên cô vợ sắp cưới của anh công chức và đứa con gái rượu của một bà mạ xứ Huế hết lòng thương con. Bù đắp lại, cô gái được nhà thơ ca ngợi :

“Em là chim ý nhi

                    Vơ vẩn dưới gốc thuỳ

                    Thẩn thơ tình nghệ sĩ

                    Thơ thẩn cơn chia ly

                    Em chở một hồn đầy…”

Vậy mới biết, “dùng bút làm đòn xoay chế độ” chưa thấy đâu, nhưng cứ rót vào tai nàng những vần thơ như thế thì đến mười bà mẹ cũng phải chào thua chịu mất con gái cho thi sĩ.

Riêng bà mẹ cô Mừng không dễ chịu thua, bà phản kháng quyết liệt. Sau đêm đi hoang, cô gái viết thư cho nhà thơ: “Ra đến giữa sân mạ gọi lại: Mừng vào đây tao hỏi. Một buổi chiều, một ngày, một đêm mày đi với ai, mày đi những đâu… đừng nói nữa tao biết cả rồi. Dưới nhà “anh ấy” (tức chồng sắp cưới) cũng biết cả rồi, khỏi phải nói. Mày đi với “chú mày” (tức nhà thơ), mày đi giữa phố có thèm tránh ai đâu. Từ lúc nào mạ chuẩn bị sẵn một thanh củi. Cứ thế mà phang vào em, bên hông trái, bên hông phải. Em nói: mạ cứ đánh đi… Mạ giựt tóc em, bứt đừng khuy áo em ra, giựt cả vòng ngọc em đeo nơi cổ. Những hạt ngọc văng ra tung toé…”. Đúng là một bi kịch Romeo và Juliette thời “thơ mới” ở Việt Nam. Duy có điều chàng Romeo xứ Mít  chẳng hành động gì hết, chẳng tới dàn xếp với vị hôn phu của người yêu, cũng chẳng tới quỳ xuống xin “mạ” tha thứ, chàng chẳng làm gì ngoài… làm thơ. “Quả tình tôi là một kẻ bất lực. Tôi chỉ biết ngồi chờ Mừng đối phó, chờ Mừng hành động. Tôi bị gạt ra ngoài vùng lo toan, mưu kế của Mùng. Tôi tin rằng trước bao sự doạ dẫm hay doạ nạt của người mẹ, Mừng chẳng đầu hàng. Đau đớn càng nhiều, Mừng càng gắn bó, chung thuỷ với tôi…”. Nhà thơ đã tiên đoán đúng, chỉ một tháng sau, nàng Juliette đã trốn nhà đi theo chàng Romeo trên chuyến tàu lửa về Đà Nẵng xây tổ ấm…

“Mừng quyết định bứt đồ trang sức ra khỏi thịt da, đem đi cầm đi cố. Cả vòng chuỗi ngọc cũng đã ra đi…”. Rồi đến lúc chẳng còn gì để bán nữa, hai trái tim vàng không thể uống nước lã cầm hơi trong túp lều tranh, và  cô gái đã quyết định: “Không thể như thế này được nữa đâu. Em phải về thôi”, Mừng khóc ré lên như một đứa trẻ…”.

Cô gái trở về không phải để xin xỏ mẹ mà vì – theo tác giả “Mừng đã sung sướng rỉ vào tai tôi: Cụ Hồ Chí Minh đã về ngoài ấy…”.

Ôi chao ôi, tiền hết gạo cạn thì cái sự “trở về” của cô gái chẳng qua để xin tiền mẹ là rõ rồi, vậy mà ông nhà thơ lại bịa ra một cái cớ tận đẩu tận đâu. Rồi hứng lên, ông đặt vào miệng người yêu lời lẽ chỉ có ở nữ nhân vật tiểu thuyết những năm 1960 sau này:

“Mừng còn nói thêm: Em tin cách mạng sẽ đến, em sẽ đứng trước toà án cách mạng, em bảo vệ tình yêu của em…”.

Và thế là bi kịch Romeo Juliette thời tiền chiến ở Việt Nam nay đã có “ông Bụt”… cách mạng hiện lên để gỡ rối mọi chuyện. Nàng trở về nhà, ít ngày sau chàng cũng về theo và phép mầu thần kỳ của “ông Bụt” đã xảy ra, khi nhà thơ về tới Huế:

“Thành phố đã lên đèn đã lâu. Tôi đứng nhìn xuống sông, hứng ngọn gió thì nghe có tiếng trống nhịp. Khúc hát hành quân. Tôi ngẩng lên bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người cầm cờ đi trước…một cô gái mặc cái áo thô đen trông giống Mừng và tôi phóng mắt nhìn kỹ lại: Mừng. Tôi không chạy tới Mừng. Tôi cũng chẳng kêu to tên Mừng…Tôi cứ thế, bước theo đám biểu tình …”.

Ôi trời ôi, sao mà “tốc độ” quá vậy? Một người con gái hoàng tộc, bỏ nhà theo trai, hết tiền quay về với mẹ mà thoắt cái, hôm trước hôm sau đã trở thành… nữ chiến sĩ cách mạng cầm cờ đi đầu đoàn biểu tình, thì quả thực trí tưởng tượng của nhà thơ đã vượt quá sức chịu đựng của người đọc.

Ấy vậy mà “cảm hứng bốc phét ” của thi sĩ vẫn chưa chịu dừng lại, ông còn đi tới luôn, “sáng tác” ra câu chuyện:

“Sau khi ở cửa Ngọ môn, Bảo Đại tuyên bố thoái vị để được làm người dân của một nước tự do thì một hôm người con gái cũng ở trong hoàng tộc được gọi ra trước một toà án, trước công chúng đông đảo, trẻ trung và nàng đã dõng dạc tuyên bố: “Người chồng chưa cưới của tôi là một người đáng quý trọng, nhưng duyên chẳng đưa, phận không đẩy, tôi bị ép một bề. Tiền dặm hỏi, tôi xin trả lại. Bây giờ cách mạng đến rồi. Tôi yêu ai tôi lấy người ấy. Đó là việc của tôi. Cách mạng đã giải phóng đất nước, lẽ nào chẳng giải phóng trái tim tôi. Xin cám ơn cách mạng đã  mở ra toà án này cho tôi được nói rõ lòng tôi. Tôi chẳng có gì tội lỗi hết, phong kiến bắt tôi bỏ người tôi yêu để lấy người tôi không yêu”. Quần chúng vỗ tay… nhìn lên các quan toà, người nào người nấy mặt mày đều hớn hở. Mừng về báo cho tôi biết: Mừng thắng rồi…”

Tội nghiệp bà mẹ mang nặng đẻ đau bị con gái yêu kết ngay cho cái tội “phong kiến”, một trọng tội thời bấy giờ, và từ lúc đó bà cũng biến luôn khỏi tâm trí đôi vợ chồng trẻ. Tội nghiệp vị hôn phu, cách mạng nổ ra lo giữ cái thân hoàng tộc chẳng xong, còn đâu dám kiện một “nữ chiến sĩ cách mạng” tội từ hôn. Vả chăng đôi uyên ương tiền ăn còn chẳng có lấy đâu ra trả lại “tiền dặm cưới” ?

Cuốn “Nửa đêm sực tỉnh”  của Lưu Trọng Lư không còn là “hồi ức”  nữa, nó là một thứ “truyện tưởng tượng” thì đúng hơn. Tới đây, nhà thơ “hồi ức” toàn chuyện cách mạng. Nào “Như một luồng gió cách mạng thổi tới, tôi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh và anh Tố Hữu. Anh Thanh xông xáo, chân thành chân thật. …Tố Hữu mũm mĩm, tráng trẻo thư sinh…các anh là những người còn rất trẻ, rất nhanh nhẹn, linh hoạt, có nhiều tài năng – những con người của mọi tình thế…” − hết mức tán dương. Nào là “chúng tôi ở chung, ăn chung với anh Lưu Quý Kỳ, anh Trần Hữu Dực …”

Thế là “Hồi ký, nhớ lại những mối tình” của Lưu Trọng Lư  đã biến thành hồi ký cách mạng! Thảo nào nó chỉ được xuất bản có mỗi một lần thời xoá bao cấp chuyển sang kinh tế thị truờng. Từ đó đến nay chẳng còn thấy ló dạng trên các quầy tầng tầng lớp lớp những sách tái bản của các nhà văn nhà thơ tiền chiến…

 

 

Vậy là trên “mặt trận” thơ và văn xuôi, dẫu có hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, nhưng cái cốt lõi làm nên văn chương là giá trị nghệ thuật của nó thì Lưu Trọng Lư chẳng tạo được bao nhiêu để ít ra cũng được báo chí Nhà nước tung hô một thời. Trong khi đó các nhà văn, nhà thơ cùng trang lứa như Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài … lại nổi đình đám với những “Vỡ bờ”, “Truyện Tây Bắc”, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… tuần nào cũng có bài nghễu nghện trên báo Văn Nghệ. Thêm nữa Hội nhà văn VN là chỗ “quần hùng tụ hội”, những chiếc ghế béo bở đã bị mấy cha từ Việt Bắc trở về giành hết, chen chân vào đó dẫu có anh Lành bảo kê, “con nai vàng” dù có vờ ngơ ngác cũng chẳng kiếm được bao nhiêu bổng lộc. Thôi thì “đầu gà hơn đuôi trâu” làm anh hùng nhất khoảnh ở Hội sân khấu lại chẳng hơn một xuất Uỷ viên Thường vụ Hội nhà văn ư? Thế là ông nhà thơ quyết tiến công vào một mặt trận mà chẳng mấy anh nhà văn muốn chen chân vô: viết kịch, nhất lại là kịch thơ.

Và thế là văn chương Lưu Trọng Lư có một mảng ít người biết nhưng nếu không nhắc tới thì việc đánh giá sự nghiệp thật oan uổng cho thi sĩ  lắm. Kịch phẩm hàng đầu của Lưu thi sĩ là “Tuổi hai mươi” – kịch thơ dài viết trong những năm 1966-1971 mà khi ra đời, thi sĩ Chế Lan Viên đã xỏ ngọt rằng: “Các em mà anh Lư nói đó bây giờ cũng ngoại sáu mươi chứ không còn tuổi hai mươi như anh viết nữa”. Thi sĩ Lưu Trọng Lư nóng mặt, đáp lại rằng “Đây là tôi viết cho lứa tuổi hai mươi còn lứa tuổi sáu mươi phải nhờ ông vậy…”

Vậy Lưu Trọng Lư đã viết gì cho “tuổi hai mươi”?

Mở màn  chị Trăng “giao lưu” với các cây Mận, Đào, Xoan, Trúc.. Chị than thở:

Từ trong hoàn vũ vô biên

                    Ta lăn quanh bóng chị dâu hiền

                    Chị yêu dấu muôn vàn: Chị Đất

                    Ôi nửa mình chị chảy đầy nước mắt

                    Chìm đi trong bóng tối đặc dày…

Hoá ra “chị Trăng” cũng mang nỗi đau…chia cắt, y hệt “cảm hứng thời đại” lúc đó Đảng quy định cho văn nghệ sĩ. Nửa đêm về sáng rồi cuộc trò chuyện giữa Trăng và Cây vẫn còn rôm rả. Bất chợt ở ngoài cầu ao có tiếng chân khua xuống nước. Ai vậy nhỉ? Ai mà giữa đêm hôm khuya khoắt còn chưa đi ngủ còn ra ngoài ao vầy nước nhỉ ? Cô Đào nói rằng chắc cô con dâu nhà mẹ Xuân, xa chồng không ngủ được nên mới ra tắm ao vậy thôi. Cô Mận mới hỏi rằng bà Xuân có những 3 cô dâu, vậy cô nào “khó ngủ vì vắng chồng”. Lập tức bác Mít nổi giận “con Mận con Đào hay nói tào lao”, xúc phạm phụ nữ cách mạng:

“làng này ai không biết

                    Ba cô dâu đẹp nhà mẹ Xuân

                    Tái nhập ngũ một lần

                    Cả ba ông đều đi bộ đội

                    Cơm chung nấu một nồi

                    Con: chẳng con chị con tôi

                    Xóm dưới làng trên thảy đều mến phục…”

Ba cô vợ bộ đội mẫu mực như vậy, làm gì có chuyện nửa đêm nửa hôm còn ra cầu ao “chao chân” làm gì ? Vậy thì người đó là ai ? Cô Đào dự đoán :

“Đúng rồi! Trót thả măng (cá măng) với trắm mè sợ măng già sục sạo đêm khuya. Cô kỹ thuật phải  ra cầu ao ngồi gác..”

Các cô cãi nhau loạn cào cào, “cô dâu” bà mẹ Xuân chẳng phải, cô kỹ thuật nuôi cá cũng không, vậy thì ai là người đó ? Cô Trúc lại đoán:

“Chắc mẹ Đối lo cho con

                    Sáng nay đã lên đường

                    Lo cho dâu: hoa đến thì, xuân đợi

                    Và thương cho mình tóc đã điểm sương…”

Lo lắng trăm bề vậy chắc nửa đêm chẳng ngủ được nên mẹ ra cầu ao rửa chân hẳn? Không phải, bà mẹ VN có con đi bộ đội thì phải hãnh diện tự hào chớ, làm gì có chuyện “lo lắng cá nhân” vậy ? “Tính kịch” mỗi lúc một tăng cao khi  cái bóng người ngoài cầu ao hiện rõ ra là một…ông già. Mà cũng không phải ông già, chính là hồn của bố bà Xuân, tức người ông trong gia đình hiện về thăm con cháu.  Lão Mít lập tức nhớ lại cảnh khổ thời phong kiến, trước khi có Đảng phát động cải cách ruộng đất :

“Thuở thằng Chánh Yên …mùa vừa chín tới

                    Sóc trên cây chưa ngửi thấy mùi

                    Thằng Chánh Yên dẫn xác tới rồi

                    Lấy sào chọc đếm từng quả…

                    Quả đầu mùa màng biếu nó

                    Quả cuối mùa màng biếu nốt mới yên…”

Tội ác địa chủ ghê gớm chưa, nhưng bác Mít cho biết nay đã đổi đời rồi, “thằng Chánh Yên: của trời trả đất, giặc Pháp cũng lui rồi..”. Lúc này, người ông mới cho biết ông cũng là dân binh đánh Tây:

“Một đời ta trải bao nhọc nhằn gian khổ

                    Mắt từng quen cảnh sống chết chiến trường

                    Hạt gạo dân binh từng quẩy gánh

                    Súng trên tay từng gác núi Vụ Quang…”

Vậy là “người ông” đã một đời đánh Tây, cay đắng đủ mùi, lẽ ra chỉ mong con cháu sống thanh bình, sinh con đẻ cái, vậy mà không, ông chỉ  trở lại xem con cháu có “tiếp nối cha anh”  lên đường đánh Tây  không hay là an phận thủ thường. Và ông mừng rỡ khi đứa cháu cũng lại “tay súng lên đường”:

“Ai thế nhỉ ? Khăn gói lên đường

                    Lại trên vai khẩu súng

                    Chắc sắp sửa lên đường…”

Và người ông reo mừng :

“Chà! dáng đi vẻ đứng hiên ngang

                    Cháu yêu ta đó!

                    Đúng rồi: cháu yêu ta đó…”

Ôi chao ôi, ông ơi là ông, sao chỉ thích cháu “cầm súng ra chiến trường”, sao không mong đời cháu sung sướng, mát mặt hơn đời ông? Quả nhiên, đúng ý ông, đứa cháu cũng sắp lên đường nhập ngũ, nó ra đây để chờ chia tay người yêu. Trong giờ phút ly biệt này, nó nghĩ gì vậy? Nó không nghĩ vì sao nó phải dứt ruột chia tay mẹ, chia tay người yêu, nó không lo khi nó đi rồi, mẹ già có mạnh khoẻ, người yêu liệu còn trung thành với nó, mà chỉ nghĩ:

“Thương mẹ khi tắt đèn tối lửa

                    Cũng thương em khi “việc đội”, “việc đoàn”

                    Việc chung cũng trọn, việc riêng cũng tròn…”

Vậy là nó chỉ lo người yêu không hoàn thành nhiệm vụ sản xuất chiến đấu của người “em gái hậu phương” chứ đâu có bịn rịn, lưu luyến lúc sắp chia xa. Và rồi người con gái cũng xuất hiện…súng trên vai làm “người ông” khoái trá:

“Cô nào đấy nữa

                    Mặt mày coi sáng sủa

                    Cũng lại súng trên vai…”

Rặt những… súng là súng, đi đến chỗ hẹn người yêu chia tay đi xa, cũng không quên mang súng theo. Cô gái này thật đã làm đúng y boong lời dạy của Mao Chủ tịch: “Bất ái hồng nhan, ái…vũ trang…”. Người con gái chẳng cần son phấn gì hết, cứ khoác súng lên vai là…đẹp rồi. Và bác Mít trả lời “người ông”:

“Cháu dâu bác đó, bác ơi

                    Và người trai kia, thật cháu bác

                    Người thanh niên của Tổ Quốc

                    Súng trên vai sắp sửa lên đường…”

Rồi sợ “người ông” chưa hiểu lên đường đánh ai, bác Mít giảng giải :

“Nhưng bác ơi! Giặc Pháp đuổi rồi

                    Giặc Mỹ đến liền

                    Hai mươi năm đường đầy lang sói

                    Hai mươi năm sông đỏ oán hờn…”

Rồi như  sợ “người ông” chưa thấu rõ “tội ác giặc Mỹ xâm lược”, mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc xúm vào kể lể:

“Con nai gầy bên suối

                    Cành hoa héo giữa đồi

                    Lúa vàng đốt dưới ruộng

                    Nụ cười chết trên môi…

                    Ruột liền cắt đoạn

                    Giọt máu cắn đôi…”

Kinh khủng chưa, giặc Mỹ tới thì đến…con nai cũng gầy, hoa cũng héo, lúa cũng cháy và đến nụ cười  cũng…chết. Chỗ này ông nhà thơ quên dứt chủ nghĩa lạc quan cách mạng với hình tượng “nụ cười Võ thị Thắng” trước họng súng quân thù. Giặc giã độc ác vậy nên các cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đồng thanh:

Trai “sẵn sàng” băng miền hoả tuyến

                    Gái “đảm đang” ở lại hậu phương

                    Vì Tổ Quốc, đi, ở, đôi đường

                    Tuổi thanh niên đã nguyện xem thường…

“Người ông” còn thắc mắc nếu chiến tranh kéo dài liệu con cháu có còn coi rẻ tuổi thanh niên nữa không? Ông hỏi :

Dẫu mười năm xa cách

                    Tuổi thanh niên đã nguyện coi thường ?

Bác Mít trả lời ngay :

Vâng, đã nguyện xem thường

                    Dẫu ràng giữa tuổi yêu đương

                    Cốc rượu hồng bên môi mới bén

                    Khúc hát đêm qua vừa trao hẹn

                    Sáng nay hoa tiễn, vẫn tươi cười…

Đó “người ông” cứ yên tâm, con cháu chúng ta như thế đấy. Dù chỉ mới qua một đêm tân hôn, sáng mai phải ly biệt nhưng đôi trai gái vẫn…tươi cười. Nhà thơ “mô tả tâm lý nhân vật” như vậy thì…hết chỗ nói.

Lúc này  “người mẹ” cũng đã bước ra, bởi lẽ bà đang ngủ “nửa đêm sực tỉnh, bên cầu ao, ta nghe có tiếng chân chao, ai thế nhỉ ?”. Bà quên phứt ngay con trai mờ sáng nó sẽ dứt áo ra chiến trường, bà cứ đánh một giấc ngon lành mãi khi nghe tiếng chân khua nước ngoài cầu ao mới tỉnh dậy ra coi sao? Bà quanh quẩn một hồi chẳng thấy ai, sờ vào quả mít, bà mới nhớ ra con sắp đi chiến trường :

“Mít kia chẳng mai kia sẽ chín

                    Cũng muốn con ăn một miếng cho vui

                    Nhưng việc dân, việc nước lửa bỏng nước sôi…”

Vậy thì con cứ đi cho nhanh nhé, việc nước quan trọng hơn…ăn mít. Than ôi, có bà mẹ nào sốt ruột cho con đi ngay vào nơi mũi tên hòn đạn như ngày nay giục con đi lĩnh xổ số giải độc đắc vậy? Viết lách như thế, trách gì thể loại kịch thơ đã…chết bất đắc kỳ tử trên sân khấu Việt Nam kể từ khi nhà thơ Lưu Trọng Lư chiếm lĩnh “trận địa” này ?

 

 

“Bà mẹ” đã “cách mạng” tới mức đó, ấy vậy mà vẫn còn bị ông nhà thơ trách móc:

“Sao không học gương mẹ già thuở trước

                    Cũng thức suốt đêm thâu

                    Nhưng để may cờ cứu nước

                    Kịp cho con gà gáy lên đường…”

Chẳng hiểu có “cái thuở nào”  lại có bà mẹ “quái thai” đến thế, sáng sớm hôm sau con trai đã đi vào tử địa mà đêm đó bà vẫn còn ngồi…may cờ? Cảm hứng “ra trận” quá đà làm ông nhà thơ cứ bịa ra những chuyện trời ơi đất hỡi vậy.

Rồi cũng tới cảnh “chinh phu, chinh phụ” thời chống Mỹ. “Người con trai” và “người con gái” ngồi xuống một tảng đá. Ôi chao, trong lúc tử biệt sinh ly, lẽ ra hai con tim phải hoà chung thống khổ, ngờ  đâu cô gái mở miệng:

“Anh ra đi mẹ có dặn gì ?”

Chàng trai phấn khởi:

“Mẹ cười, mẹ bảo

                    Việc nước con cứ đi

                    Việc hợp tác, việc nhà                                    

Có tao có nó…”

Bất chấp tình cảm tự nhiên trai gái khi ly biệt, ông tác giả kịch bản bắt đôi uyên ương sắp rời cánh …ca bài sản xuất và chiến đấu. Cô gái nức nở:

“Nhớ anh em mở một đường cày

                    xách dăm gầu nước tưới cây anh trồng

                         … Em đi đón dòng “cá bột”

                    Mang giống về chọn lọc em ươm

                    Một năm anh về, hai năm anh về

                    Mười  năm anh về, cá lớp lớp sinh sôi

                    Nhớ anh thế đó, anh ơi…”

Chàng trai cũng sụt sùi:

“Kẻ địch nào chẳng thắng em ơi,

                    Khó khăn nào anh không vượt nổi ?

                    Nhớ lời Bác dạy

                    Nghìn sông anh cũng lội

                    Vạn đèo anh cũng băng…”

Tâm tình lâm ly xong rồi, tới “tiết mục tặng quà”. Cô gái  tặng “gói kim chỉ” để áo rách anh tự vá, còn anh trai tặng gì ? Cô gái đoán …  cuốn sách dạy trồng dâu ? Không phải. Thôi đúng hạt giống rau rồi ? Cũng không phải, cô lại đoán:

“Phải rồi , anh cho em chiếc lược

                    Bằng thép mỏng máy báy?”

Anh con trai nổi tự ái :

“Nếu là chiếc lược em ơi,

                    Thì hãy đợi một ngày

                    Khi tự tay anh hạ lấy

                    Con “thần sấm” giữa trời

                    Và tự tay anh chuốt thành lược…

Ghê chưa, nếu em muốn anh tặng lược thì đợi anh bắn rơi máy bay Mỹ lấy mảnh nhôm đã. Các nhà chế tạo máy bay Mỹ cần chú ý chi tiết này, nên làm sẵn vài ngàn chiếc lược, phòng khi máy bay hạ cánh khẩn cấp trên đất Việt, còn có cơ đàm phán cẩu nguyên chiếc về kẻo máy móc bị xả thịt làm… lược. Khi cô gái chịu thua không đoán được, chàng trai mới “bật mí”. Tưởng gì quý báu, hoá ra là…chiếc gương. Đã vậy còn dặn dò:

“Những khi cày xong một buổi

                    Em ra gốc muỗm em ngồi

                    Em lấy gương đẹp ra soi

                    Trận đấu chiều đã vãn

                    Em lấy gương đẹp ra soi

                    Em gỡ những vết bùn trên tóc…”

Vậy em nhớ nhé, gương này anh tặng chỉ  dùng trong…sản xuất chiến đấu, còn sáng ngủ dậy, hoặc đình đám hội hè chớ dùng tới nó. Thật biểu hiện sinh động của một nền văn minh “đứng đầu nhân loại”. Ấy thế mà cho dù chịu thắt buộc “nội quy sử dụng gương”  vậy, cô gái vẫn vui vẻ:

“Anh ra đi mưa nắng chiến trường, sao cho tròn nhiệm vụ

Em ở nhà, một niềm chung thuỷ hai chữ “đảm đang”

Dẫu năm năm, mười năm, nhìn gương em chẳng hổ,

Đường chiến đấu, dài lâu gian khổ…”

Một cuộc chia ly màu siêu đỏ, đến “người ông” vốn là chiến sĩ Cần Vương cũng phải ngỡ ngàng, phấn khởi :

“Thậm chi ( không có dấu)  là khoái trá

Con trai con gái bây giờ

Tiễn đưa nhau đi đánh giặc mà cứ như là…”

… là đưa nhau tới… phòng cưới vậy. Thế là cả ông lẫn cháu đều ra sa trường, để  hoàn chỉnh “bức tranh gia đình cách mạng”, cha truyền con nối đánh giặc, tất nhiên phải có ông bố nữa, thế là ông nhà thơ cho “hồn người cha” ra sân khấu cho đủ tam đại cầm súng:

“Ta người chiến sĩ Điện Biên,

                    Về đây, thăm vườn cũ

                    Mười mấy năm cách mặt chẳng xa lòng…”

Gặp lại bố ngày xưa, cha con chưa kịp hàn huyên, người cha đã mang chiếc ba lô xưa chống Pháp, nay con sắp mang đi chống Mỹ kể lể:

    “Ôi, Chiếc ba lô ngày cũ

                        Giữa chiến trường Điện Biên Phủ

                        Còn nguyên đây: dấu đạn giặc xuyên qua

                        Chiếc ba lô đã từng thấm máu hồng  ta…”

Và khoe với người ông :

“Cha hãy trông đây

                        Chiếc ca bác Hồ gửi tặng

                        Còn nguyên hai chữ Điện Biên…

                        Con qua cháu lại

                        Lớp lớp tay chuyền…”

Mười mấy năm cách trở quay về, hồn “người cha” chẳng thiết nhòm ngó vợ sống ra sao, ở vậy hay đi bước nữa, con cái, nhà cửa thế nào, chỉ chăm chăm chuyện “đánh giặc”:

“Lòng con bao xiết tự hào

                        Nhà ta ba đời vằng vặc trăng sao

                        Ông đến cháu dốc một lòng đại nghĩa…”

Cũng may vở kịch viết vào năm 1971, nếu chậm lại ngót chục năm nữa, nhất định ông nhà thơ đưa thêm ‘thằng chắt” lại vác ba lô đi đánh … giặc Tàu thì lớp lang, ra vào sân khấu còn phức tạp nữa. Lúc này con chưa ra chiến trường, cháu chưa lọt lòng mẹ, bởi vậy chỉ có hai thế hệ cha ông tranh nhau kể lể thành tích chiến đấu. Người cha khoe:

    “Vâng, giữa chiến trường con đã ngã

                        Vết đạn đã xuyên mình

                        Nhưng Điện Biên Phủ quang vinh

                        Đã ra đời một hành tinh mới…”

“Thế hệ cha” ghê gớm chưa, hy sinh thân mình làm mới bộ mặt hành tinh. Bốc phét cỡ vũ trụ thế này thật xứng tầm…ếch ngồi đáy giếng. Nghe thằng con thổi thành tích lên hết cả cỡ giành cho cha, người ông đâm bực mình :

NGƯỜI ÔNG (động lòng tự ái):

                                Con ơi. Thuở cha đứng lên

                                Cũng trời nghiêng, đất ngả

                                Oanh oanh liệt liệt một trường

                                Mật nào chẳng nếm, gai nào chẳng nằm

                                Gươm đại nghĩa mười năm không nao núng…”

 

Lúc này mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đành phải nhảy vào can khéo hai cha con:

“Chị em “bầy tui” : Mận, Đào, Xoan, Trúc

                        Lại xin nghiêng đầu trước đầu bạc Vụ Quang

                        Mười năm gian khổ kiên cường…”       

(và tất cả lại đến bên người chiến sĩ Điện Biên )

“và trước người chiến sĩ Điện Biên anh dũng

                        Chị em ‘bầy tui” xin thân mến cúi chào:

                        Một trận long trời dậy sóng năm châu

                        Thực dân quen thói đè đầu

                        Việt Nam đứng dậy phất cao cờ hồng…”

Vậy là…huề, cả “ông” lẫn “cha” thành tích “chống quân ngoại xâm”  đều tầm cỡ “long trời lở đất” cả, ngang sức ngang tài anh hùng cách mạng, khỏi tranh cãi ai hơn ai. Người ông phấn khởi :

“Cha chả là vui. Nhưng mà…

                        Nghe, để bác nghe cho hết lỗ tai

                        Nhìn, để bác nhìn cho suốt con mắt…”

“Người mẹ” bước vào, khán giả chờ đợi một cuộc trùng phùng cảm động sau mấy chục năm âm dương cách trở giữa đôi  vợ chồng “người cha”, tiếc thay ông tác giả kịch bản đã dấu biến “tình huống nhạy cảm” này để cho bà vợ “trữ tình bay bổng” trong nỗi niềm “chống Mỹ cứu nước”:

“Con ơi, giặc trước tan

                        Ruộng vườn vừa cướp lại

                        Giặc sau đã tới…

                        Nhưng con ơi. Tội giặc ngập núi ngập sông

                        Thương hận: tràn Nam, tràn Bắc

                        Mẹ thương con phải giục bước lên đường…

                        Con ơi, ơn Đảng đi về, bao xiết công lênh…”

“Hồn chồng” gặp lại vợ chăng mảy may da diết nghĩa phu thê lại chăm chăm vào …cái ba lô vợ khoác lên vai con trai :

“Ôi, rộng lớn hai vai con

                        mẹ khoác lên một niềm đại nghĩa

                        Vườn cũ gió bay vờn tóc mẹ

                        Suối ngàn, cất bước đẹp tình con…”

Và sau cùng “người ông” bật mí kẻ khua nước dưới cầu ao giữa đêm khuya chẳng phải con gái, cháu dâu động tình mất ngủ mà chính là …ông đó:

  “Chao nước đêm khuya chính là lão đó

Ta nghe đất nước, cơn bão trước, cơn bão sau

Dức dối thân mình, bàng hoàng giấc ngủ

Nay ta về đây,

Tai đã sướng lỗ tai

Mắt đã no con mắt…”

Vâng, khán giả đã “no con mắt” cả chục nhân vật thuộc ba thế hệ ra vào sân khấu trong một hoàn cảnh rất kịch mà người xưa từng nói “Thùng thùng trống đánh ngũ liên, bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…”, đã “sướng lỗ tai” những những ngôn từ vĩ đại, vậy mà tiếc thay, người xem chỉ thấy quay đi quay lại có mỗi một nhân vật : chính là ông tác giả kịch bản. Ông đã chui vào hình hài của vợ chồng ông, cha, con người ta để làm mỗi một việc là động viên tuyên truyền “Tuổi hai mươi” lên đường chống Mỹ bằng những lời thơ lủng củng, sáo mòn, ngôn từ khẩu hiệu.

Kịch chẳng có, thơ cũng không – vở kịch thơ “Tuổi hai mươi”, tác phẩm chính đã đưa thi sĩ Lưu Trọng Lư lên chiếc ghế Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã nhanh chóng rơi vào thùng rác thi ca của lịch sử giống y như giấc mộng kê vàng của ông vậy.

Những năm 1980, không khí sáng tác trong nước đã sặc mùi “cởi trói” tới mức các nhà văn nhà thơ cây đa cây đề cũng lăm le “phản tỉnh”. Chế Lan Viên có bài thơ “Bánh vẽ”, Nguyên Ngọc có “Đề dẫn”, Nguyễn Minh Châu “Đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh hoạ”…Những lộn xộn  tràn lan đó không thể không thôi thúc Lưu Trọng Lư “làm một cái gì đó” cho hợp “phong trào” cho dù ông vẫn âm thầm nghe ngóng theo kiểu “cứ để yên coi sao”.

Không dám ra mặt thực hiện “sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút” chống lệnh “cấp trên” viết sao cho khỏi cắn dứt “lương tâm thời đại”, ông len lén dùng miếng võ cũ rích từ thời Nhân văn Giai phẩm “mượn xưa nói nay” trong vở kịch nửa nói nửa thơ “Bình minh anh vũ” và cũng chỉ dám xẹt qua, mượn lời vai phụ “gài mìn” qua vài câu thoại bóng gió.

Truyện kịch kể rằng ở thời Trần Duệ Tôn, có ông Nguyên soái họ Nguyễn, vào một tối cao hứng, sai treo tranh “Nắng hè tuyết bay” mời tài tử văn nhân tới đề thơ. Đề tài thật trái khoáy, tuyết sao còn sống sót sang mùa hè và lại còn “bay” trong nắng? Ngụ ý gì đây?

Mở đầu cuộc hội, “Trần Doãn, nhà thơ đứng tuổi, ra dáng một quan thơ, áo quần trau chuốt, dáng vẻ đường bệ, “ đề thơ và được một  nàng “vũ nữ áo xanh” cất giọng ngâm lớn :

“Tuyết sao có tuyết giữa hè

                        Có chăng tuyết cũng tan đi với chiều…

                        Cánh bèo chỉ đẻ cánh bèo

                        Là hoa thiên lý mới leo đỉnh giàn…”

khẩu khí rất “bé ngoan”, tôn trọng “cấp trên”, hợp “quy luật” làm một “nhà thơ già”  đứng dậy vỗ tay khen rối rít:

“Đúng như vậy. Tuyết nào lại có tuyết giữa hè ? Như thế là trái đạo trời. Thơ này mới phải đạo, tranh kia không nên có…”. Bức tranh “nắng hè tuyết bay” này thật ngang trái với lẽ trời. Lẽ đời cũng vậy, có trước có sau, có ngôi có thứ, đổi ngôi, vượt phận, sang  hèn lẫn lộn là điên đảo thế tình…”

Cái thói “cừu con” “giữ trật tự”, “ổn định chính trị” này lập tức bị một “nhà thơ trẻ” phất tay áo cãi lại :

“Thế nào là điên đảo thế tình?

                        Thế nào là ngửa nghiêng trời đất?

                        Đông mà cứ tuyết lạnh mà nói

                        Hè mà cứ nắng gió mà ca

                        Thơ văn như thế là có mùi thiu đấy…”

Than ôi, nếu nhà thơ trẻ nói đúng thì sự nghiệp văn thơ sau cách mạng của chính ông tác giả kịch bản hẳn đã nồng nặc lên rồi. Bởi thế “nhà thơ già” lên tiếng chửi lại :

“Chuyện thơ văn  mà như chuyện nơi sông chợ…”

Lúc này quan Nguyên soái mới can đôi bên và mời người tiếp theo là Dư  Sinh, còn trẻ, áo quần xuềnh xoàng, dáng người bình dị đề thơ và được một cô “vũ nữ áo vàng”  cất tiếng ngâm :

“Tuyết từ giá rét đêm đông

Vẫn trong áo trắng sang sông với hè

Vẫn trong nắng cháy tuyết đi

Một lòng trinh tiết chẳng hề chịu tan…”

Bài thơ thật “ngạo ngược”, bóng gió văn nghệ sĩ dưới chế độ “quản lý tư tưởng”  chẳng khác gì “tuyết giữa mùa hè” đi trong “nắng cháy”, mặc dầu vậy, cần giữ lấy bản chất “nghệ sĩ” chớ có chịu “tan”. Ngay lập tức “nhà thơ già” đập mạnh chén rượu xuống bàn quát to:

“ Bạo thiên nghịch địa, bạo thiên nghịch địa…”

hống hách, cha bố thiên hạ chẳng khác gì mấy ông nhà văn già xúm vào đánh đòn hội chợ nhóm viết trẻ Nhân Văn Giai Phẩm và tất nhiên trong số đó phải có nhà thơ Lưu Trọng Lư dấu mặt chỉ đạo. Tuy nhiên lúc này đã đêm trước của ngày cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ, lớp “nhà văn già” không còn độc diễn, Lưu Trọng Lư  đành đưa ra sân khấu “lớp trẻ” cho hợp “thời thượng”:

“MỘT NHÀ THƠ TRẺ đứng lên phất cao tay áo: “Thơ như thế là bạo thiên nghịch địa ư ? Các vị bảo : “Đạo người có trên có dưới. Khi đánh giặc thì kẻ trên dưới một lòng. Đánh xong giặc thì lại đạp cổ xuống bùn, kẻ thì “toạ hưởng kỳ thành” ấp này ấp nọ. Quý hoá thật, hay ho thật. Muốn leo đến đâu thì leo, nhưng khi đạp lên lưng những đứa nô tỳ cũng thử nhìn xuống xem: Cánh tay thằng dân đen ấy, cánh tay cha anh họ cũng còn  nguyên hai chữ “Sát Thát” đấy. Ấp ruộng các ngài cò bay sã cánh, các ngài  có nghĩ đến giun dế dưới  bùn đen…”

Lời tố cáo thật đanh thép từ thời Trần Duệ Tông vẫn còn “tươi rói” tới tận bây giờ khi giai cấp tư sản đỏ cầm quyền ngày càng cách biệt với đám dân đen đã từng cầm súng đi “chống  Mỹ cứu nước”. Hãy thử hỏi các “đồng chí”  chủ trang trại hàng trăm héc ta cà phê, cao su, tiêu, điều “cò bay sã cánh”, các đồng chí “chủ vườn” hàng chục mẫu Bắc bộ xanh tươi và béo bở, có khi nào ngó xuống đám dân đen một thời “Sát Mỹ” hiện sống ra sao với thu nhập 30 USD/ tháng ?

E rằng ý kiến của “nhà thơ trẻ” đã đi quá đà, “mượn xưa” thì mượn nhưng nói năng liều mạng quá e cấp trên phật ý, bởi thế Lưu Trọng Lư  vội vàng xí xoá :

NHÀ THƠ GIÀ (đập cốc rượu vỡ choang): “ Giọng lưỡi sông chợ, đâu phải chuyện thơ văn …”

Cái kiểu “bí cờ văng tục”, đá trái banh “chính trị” vào vườn văn thơ là thủ đoạn quen thuộc từ thời vu vạ nhóm Nhân Văn – Giai phẩm tội phản động, chống chế độ chứ không phải “đòi tự do sáng tác”. Dẫu sao, Lưu Trọng Lư cũng đưa được lên sân khấu cuộc tranh luận nảy lửa giữa “nghệ thuật vị cấp trên”,  đại diện là ông “quan thơ” Trần Doãn với “nghệ thuật vị dân đen” người phát ngôn là chàng nho sinh họ Dư nghèo. Tới đây lẽ ra Lưu Trọng Lư  không được “náu mình” đứng giữa hai phe nữa, ông phải bày tỏ quan điểm của mình, phải chọn hoặc “quan thơ” chính thống hoặc chàng nho sinh nghèo làm thơ “ngạo ngược”. Tiếc thay nỗi sợ cố hữu thường trú trong các nhà thơ cách mạng đã giữ ông lại, chỉ “tự cởi trói” được tới đó, chỉ đưa ra cuộc tranh cãi giữa đôi bên mà lờ đi không bênh vực và cũng chẳng lên án bên nào.

Từ đây kết thúc “câu chuyện thơ thẩn” để bắt đầu chuyện tình ai oán của Dư Sinh  qua nhân vật này bộc lộ khá rõ “con người thật” thi sĩ Lưu Trọng Lư. Nguyên trong hội đề thơ, chàng Dư chẳng thèm chú ý tới cuộc tranh cãi giữa hai nhà thơ già-trẻ, chỉ…nhìn lom lom vào cô “vũ nữ áo xanh” trẻ đẹp – người ngâm bài của ông quan thơ Trần Doãn. Cô này cũng cảm thấy chàng Dư chết mệt vì mình nên trong lúc múa hát đã gửi gắm những động tác chỉ riêng chàng nhận ra. Tiệc tàn, Dư Sinh lân la hỏi dò người hầu gái mới được biết

“Nàng tên gọi Tuý Tiêu, quê ở Nam Sách. Nguyên soái nhân một ngày đi săn chim Anh Vũ gặp nàng mang về. Nàng được học múa, học ca, học chữ. Học đâu nhớ đấy, nhận một trả mười.” . Chàng Dư nổi hứng làm sẵn một bài thơ :

“Sương bay vườn Tuý

                        Nặng giọt ba Tiêu

                        Trời mờ mịt tối

                        Hồn lạc tìm nhau…”

Thói hám gái của chàng Dư không lọt khỏi mắt quan Nguyên suý, ông tới gặp chàng nói thẳng:

“Ta đoán sau buổi ca vũ, ngươi có điều vương vấn. Nay ta có điều muốn nói với ngươi: trong dinh ta có mười ca vũ nữ, toàn là những người hát hay, múa giỏi. Cô nào đẹp mắt ngươi cứ nói…”

Lẽ ra là “kẻ sĩ”, chàng Dư phải thấy hổ thẹn, chân ướt chân ráo được mời tới dự tiệc nhà người ta đã tính “chôm” ngay mỹ nhân, vậy nhưng chàng Dư được lời như cởi tấm lòng, vội vàng chộp ngay cơ hội :

“Thưa nguyên soái…người làm kẻ hậu sinh bàng hoàng chính là người vũ nữ áo xanh…”

Sống sượng vậy, rồi để chắc ăn, chàng  trình ngay Nguyên soái bài thơ vừa làm còn chưa ráo mực trong có tên Tuý Tiêu mà lẽ ra phải trao tặng nàng trước đã. Ông quan võ tốt bụng không ngờ, bằng lòng gả ngay cô gái cho chàng và còn vỗ vai dặn :

“Mọi việc đều ở tay ta. Người cứ về phòng khách đánh một giấc ngon lành. Mai sớm khi bình minh qua cửa sổ, Anh Vũ hót vang. Thì ngươi hãy sửa khăn cài áo đón tin vui…”

Chàng Dư mừng hết biết, mới gặp chặp tối, sáng sớm hôm sau đã được ôm người đẹp, một cuộc tình, một hôn nhân tốc độ còn chớp nhoáng hơn cả mấy ông Đài Loan sang Việt Nam lấy vợ thời nay. Dĩ nhiên, suốt đêm hôm đó chàng Dư sao mà “đánh một giấc ngon lành” được, cứ phấp phỏng đốt nến ngồi chờ tiếng chim Anh Vũ mà đón nàng. Khổ nỗi chàng cứ chờ hoài, chờ hoài chẳng thấy chim lẫn người đâu ra:

“Ta về mái tây, không hề nhắm mắt

                        Mấy lần đốt nến lên, mấy lần thổi tắt

                        Nào hay Anh Vũ chẳng hót cho

                        Tin mừng chẳng có

                        Có phải trời đã ngủ quên

                        Đất không thức dậy ?

Vậy là chưa hết đêm, bình minh chưa tới mà chàng Dư đã than trời trách đất,  “nghi ngờ” lòng tốt ân nhân, thật chẳng “quân tử” chút nào. Thế rồi có tiếng chân động ngoài thềm, mặc dù chưa đúng “ám hiệu”, chàng cũng “ vội đứng dậy, cài áo sửa khăn bước ra” hoá ra là…gió. Lại thấp tha thấp thỏm chờ đợi. “Bỗng có tiếng chim hót. Dư lại một lần nữa cài áo sửa khăn. Nhưng khi nhận ra không phải tiếng chim Anh Vũ, Dư lại một lần nữa bàng hoàng thất vọng:

“Tiếng hót sao nghe như rối rít bàng hoàng

Mà đâu phải tiếng chim Anh Vũ…”

Mới chưa qua một đêm chờ đợi, tính cách chàng nho sinh họ Dư đã bộc lộ cái phần “kém trượng phu” trong nhân vật chính vở kịch “Bình Minh Anh Vũ” làm người coi ngờ ràng nó phản chiếu chính ông tác giả.

 

Thế còn nàng Tuý Tiêu ?

Xuất thân nhà nghèo nơi thôn dã, bố chết sớm năm 17 tuổi, lọt vào tay một gã thuyền chài, sau được quan Nguyên soái chuộc về dạy múa, dạy ca…theo kiểu “đào tạo” kỹ nữ làm vui trong phủ. Trong tối hội thơ, vừa nhìn thấy Dư Sinh lần đầu nàng đã ưng trong bụng, đã “nhấm nháy”, ngầm đánh “tín hiệu” đủ thấy gốc gác chẳng phải gia giáo. Tan hội, đêm về, được quan Nguyên soái báo tin gả nàng cho Dư sinh, lại được đọc bài thơ chàng làm có ghép tên mình, nàng mừng rỡ OK liền và xin vâng theo đúng kịch bản quan nguyên soái đề ra khi có tiếng chim anh vũ cất lên nàng sẽ đi “tìm cọc” ở phòng chàng Dư.

Đêm đó, cũng giống chàng thi sĩ, nàng bồn chồn, sốt ruột chẳng ngủ được, chờ hoài chẳng thấy chim chóc nào cất tiếng hót. Thế là nàng đành  phớt lờ “kịch bản”:

“Băng sương vượt lối

                  Ta đến với người

                  Chân không bước mạnh

                  Sợ động hồn mai…”

Xăm xăm tới phòng Dư Sinh, chàng lại đang … ngủ khì, nàng đành đánh động tự giới thiệu mình là “người áo xanh” trong tối hội và tên Tuý Tiêu trong bài thơ chàng mới làm. Những tưởng chàng sẽ mừng quớ, ai ngờ lại vô tâm, hỏi cắc cớ: “Áo nào ? Thơ nào?”, rồi còn nghi ngại :

“Nguyên soái đã dặn

                  Khi nắng sớm trên cành

                  Và Anh Vũ hót inh

                  Thì nàng sẽ đến…”

Tới nước này, nàng Tuý Tiêu đành phải giải thích chắc là chim anh vũ…ngủ quên nên :

“Chẳng ngại sương đêm

Thiếp đến với chàng tưởng như đi trong bình minh rạng rỡ…”

Có lý do chính đáng “chim ngủ quên”, lúc này chàng Dư mới như người ngủ dậy nghe tin trúng số, vội vàng:

“Tuý Tiêu!Tuý Tiêu!

                  Chuyện trong mơ, mà quả người đã đến thật…”

Thế là tình lớn gặp nhau, đồng lòng gặp gỡ khỏi chờ tiếng chim anh vũ như lời dặn quan nguyên soái, chàng nàng tranh nhau kể lể. Nàng thì than vãn “mười hai bến nước lênh đênh, không cội không cành, dạt đâu là phận đó, kể sao cho hết nỗi niềm” và thổ lộ từ xưa,  từ trước khi gặp chàng, nàng chửa hề yêu ai:

“Uốn khúc tim mình

                  Mắt xanh chẳng gặp mắt xanh

                  Canh khuya chỉ thấy lệ quanh gối nằm”

Còn chàng lại khoe chí khí nam nhi :

“Lòng ta chỉ muốn được rong chơi

                  Ném quản bút tre vào mực đen thế sự

                  Giấy nhân tình nhoè đỏ

                  Cười  khóc chuyện người…”

Í trời ơi, giá như thi sĩ Lưu Trọng Lư cũng làm được như nhân vật của mình “ném bút vào thế sự” thì nay người đọc hẳn đã được hưởng một di sản thơ giàu có chứ chẳng phải trắng tay như ông để lại. Tỏ vẻ lấy bút chống trời xong rồi, chàng dùng nó chinh phục người đẹp:

“Nghe lời ca ai não nuột

                  Nhìn điệu múa ai uốn đau

                  Ruột này cũng quặn héo…”

Và chàng thề thốt:

“Hãy sáng lên hỡi ngọn đèn

                  Ta nguyện vì em làm phên che gió…”

Chàng nàng đang nỉ non tình sự, hốt nhiên Nguyên soái xuất hiện tay xách lồng chim. Người ta tưởng đòn trừng phạt tội cãi lời quan, không chịu chờ chim anh vũ lên tiếng sẽ giáng xuống đôi tình lang, may thay ông quan là người tử tế, chẳng những không bắt lỗi mà còn cho ngựa, cho kiệu để chàng rước nàng về quê lại kèm theo quà tặng cưới chiếc lồng chim anh vũ ghi lại kỷ niệm ngày quan đi săn loại chim này, chuộc nàng về.

Tuy nhiên chẳng phải ông quan nào gặp được trong đời cũng độ lượng, tử tế như quan nguyên soái. Cái ông quan thứ hai làm thay đổi cuộc đời Dư Sinh và Tuý Tiêu lại là một bạo quan – Thân Trụ Quốc từng khoe khoang :

“Trong triều ngoài quận đều biết tiếng ta

Có trầm quý nào trong rừng mà ta không kiếm được

Tội nặng như núi, một chữ của ta còn xoá được nữa là…”

So với ngày nay, ông quan này có khả năng “chạy án” phải ngang cỡ….Uỷ viên Bộ chính trị. Nghe tin chùa Phổ Tế mới có ni cô xinh đẹp, ngài cũng dẹp ngay việc quan, lên kiệu mò tới coi. Cô này được một anh nho sinh ca ngợi:

“Hôm nay thỉnh chuông mới thì nhà chùa cũng thỉnh về một cô tiểu thư mới. Cứ nghe cô cất giọng kệ thì Phật có cho vào Niết Bàn cũng chẳng thiết vào nữa. Còn quan to quan nhỏ trong triều, cứ thấy mặt cô một lần, cũng không muốn rời khỏi cửa  tam quan…”

Khi quan Thân Trụ Quốc vừa đi kiệu tới, nhà chùa vội bắc loa nói vọng ra  giữ trật tự: “Tướng  công sắp qua. Ai ở đâu ở đấy. Già không lẫn trẻ.Nữ chẳng kể nam…”

Thế rồi lính trước lính sau, Thân Trụ Quốc bước  ra. Tiếng “A di đà Phật “râm ran.”. Không may cho vợ chồng  Dư Sinh, cũng đi vãn cảnh chùa trong tuần trăng mật nhằm lúc đó. Vừa nhìn thấy Tuý Tiêu đứng bên hồ tay cầm đoá sen, tướng công đã hồn xiêu phách lạc, quên bẵng mất ni cô trong chùa.  Ngài “nhìn sững, rồi đưa tay về phía Tuý Tiên ra lệnh: “Cứ cho lên kiệu về kinh ngay. Gấm vóc sẽ ban sau cho cha mẹ”. Bọn lính dạ ran. Trong nháy mắt, chúng làm theo ý Thân Trụ Quốc. Tuý Tiên kêu la, chống lại nhưng chúng đã ép nàng lên kiệu khiêng đi. Mọi người chỉ biết nhìn theo. Đây đó một vài tiếng niệm: A di đà Phật…”

Chứng kiến cảnh bắt người ngay trước cửa Phật, thiện nam tín nữ chỉ biết niệm kinh. Thế còn Dư Sinh, người chồng mất vợ, chàng thi sĩ mất người yêu ? Không chạy theo kiệu quan mà giải thoát Tuý Tiêu, không vạch mặt chỉ tên quan cướp ngày Thân tướng công, chàng  chỉ đành ngửa mặt kêu trời :

“Xanh xanh! Xanh xanh! Trời rất xanh

Gíó như không gió vẫn đưa cành

Ta đi đi về đâu? Lội xuống hồ sen hay vào Tây Trúc ?

Miệng ta mắc niệm Phật

Ai khóc cho ta nỗi bất bình ?”

Cái kiểu cam chịu trước cường quyền bạo ngược, chỉ biết “khóc” và hỏi “trời xanh” này, chẳng riêng nhân vật chàng Dư mà ngay ông tác giả đẻ ra nó và cả sĩ phu Bắc Hà ngày nay, hỏi ai là không có ? Bởi vậy nàng Tuý Tiên còn mong gì được giải thoát ?

Quả nhiên sống trong dinh Trụ Quốc Công, ngày đêm nàng chỉ còn biết giữ chặt “chữ trinh” khiến quan lớn trong triều phải đặt mình ….ngoài vòng chăn gối của nàng tới đêm thứ …109  và “chiến công” đó làm nàng thích chí.

TUÝ TIÊU (cười ngặt nghẽo) :”Thế đêm nay là đêm thứ mấy ?”

THANH THẢO  (con hầu) : “Một trăm lẻ chín.”

TUÝ TIÊU: “Thiếu một đêm nữa là trăm lẻ mười…”

Nhưng rồi một trăm đêm, một ngàn đêm, liệu giữ mãi được không, nàng than:

“Thảm thương số kiếp hoa cành

                  Làm sao giữ mãi hương trinh hở trời ?”

Vậy là nàng chỉ còn biết trông vào trời, chứ còn cái anh chồng Dư Sinh  chỉ  đánh võ mồm “Ném quản bút tre vào mực đen thế sự”, chỉ “cười  khóc chuyện người…” chứ còn chuyện của chính mình thì …thua, lại đành phó thác cho trời chứ biết sao ?

Quả nhiên suốt trong thời gian đó, chàng Dư mất vợ chỉ quẩn quanh xó nhà “áo để buông không thắt giải, trên đầu đội một cái mũ cỏ, dáng đi thất thểu”  và than vãn :

“Một ngày xa vợ hết khôn

                  Ta đi lùng hoa dại

                  Vò nát giữa bàn tay

                  Máu trong hồn rỉ mãi…”

Rồi gặp vợ ngồi kiệu đi trên đường, chàng cũng chỉ đành trố mắt:

“Ngồi trên kiệu đúng người thương

                  Người vũ nữ, chính áo vàng đau chưa ?

                  Nhìn lên chẳng thấy mắt xưa

                  Ta đành cúi mặt, miệng uà lệ thương…

                  Rõ ràng ta đó, ai kia ?

                  Tay nào xé rách trăng thề đó ai ?”

Hoá ra không những chàng quên phứt lời thề làm phên liếp che mưa cho cuộc đời nàng mà còn trách móc nàng “đã khác xưa”. Thói cam chịu, than vãn trời đất của chàng Dư Sinh khiến người bõ già của chàng cũng phải bực mình. Ông mượn lời mắng chim anh vũ, nhưng chính là nhằm vào chàng :

NGƯỜI BÕ GIÀ (lấy mấy con cào cào cho chim ăn) :

“Lão nói cho mà biết

                  Làm chim thì phải bay

                  Có cánh thì phải đạp mây.

                  Ngày hai buổi tốn công lão…”

Vậy đó, làm đàn ông phải vẫy vùng trời đất, chống lại tham quan, bạo quyền, làm chồng phải bao bọc, cưu mang được vợ, tiếc thay những lời răn chí tình đó chẳng lọt lỗ tai chàng thi sĩ Dư Sinh, ngày ngày chàng cứ điên điên :

“ Áo đứt khuy đành để vậy

                  Khăn tóc vướng cỏ rơm

                  Cơm bữa chẳng thành cơm

                  Gặp hoa nào cũng hái…”

Lạ thay, điên vậy mà từ miệng chàng chẳng khi nào thốt ra được một lời oán trách, chửi bới Thân tướng công – kẻ đã cướp vợ, gây cho chàng nỗi thống khổ “máu trong hồn rỉ mãi”. Hoá ra không dám vạch mặt chỉ tên những kẻ gây nên bao đau đớn khiến thế gian này ngập tràn nước mắt chính là nỗi khiếp sợ thâm căn cố đế chẳng riêng thời nào, cho tới tận bây giờ cố tật đó vẫn còn ăn sâu trong những người cầm bút.

Trong lúc chàng Dư nửa điên nửa khùng, lầu phía đông dinh quan Thân Trụ Quốc, nàng Tuý Tiêu vẫn dựng “thành đồng vách sắt”  cố thủ không cho quan xâm phạm tới “cái ngàn vàng”. Tới đêm thứ 100 nàng doạ treo cổ tự vẫn, quan mới dỗ dành:

“Việc gì mà khinh sinh uổng mạng ?

Có việc gì mà ta không làm được để chiều ý nàng ?”

Cho dù là gái có chồng bị quan bắt sống giữa ban ngày ban mặt ngay cổng chùa, nàng cũng phải nói thác :

“Từ buổi đầu gặp Dư Sinh…

                    vì lời thơ tiếng hát mà chăn gối mặn nồng…

                    Nay lầm đường lạc lối sa vào cửa tướng công

                    Hoạ phúc hợp tan đều ở tay tướng công cả…”

Thân tướng công cười thâm hiểm:

“Ngỡ là chuyện gì, đêm nay ta sẽ xuống trát tìm “chàng bán thơ”, triệu về dinh này. Nàng  ở mái đông, chàng ở mái tây, đông tây tha hồ… xướng hoạ…”

Nàng Tuý Tiêu được lời như cởi tấm lòng, nào trang điểm, nào thay áo mới, nào đòi tấu nhạc. Riêng có cô hầu tên Thuý Bình cảnh giác:

“Chị tin rằng trát đòi “người thơ” sẽ đến ư? Lại đoàn viên chăn gối ư?”

Thật chẳng ngờ, được  trát đòi vào dinh chàng Dư Sinh vội vàng khăn gói ra đi, chỉ có lão bộc nhận ra chân tướng quan Thân Trụ Quốc. Nhưng nỗi niềm riêng chẳng  dám tỏ bày với ai, lão đành trò chuyện với con chim anh vũ :

“Mình đổ máu đánh giặc, giữ giang sơn nhà nó, cho nó vợ đẹp con khôn, cho nó nhà cao cửa rộng. Đánh được giặc rồi, đứa nào đứa ấy phong ấp có hàng nghìn mẫu . Chú mày bay cũng xoạc cánh. Trốn đâu cũng là ấp chúng nó. Ruộng tay người ta canh phá ra, nó cướp làm ấp của nó…”

Lời lẽ này đặt vào miệng một cụ cựu chiến binh thời bây giờ xem ra vẫn còn tươi roi rói. Ông lão bộc lại vạch ra cái mặt quan nham hiểm :

“Lại vợ người ta nó cướp làm vợ nó không cheo không cưới. Cái giống đó đã kẹp vào tay rồi đừng có hòng. Tao hỏi chú mày, có ai đời vào tận hàm con ly con long mà đòi lại ngọc trai? Thò tay vào, nó không ngoạm cả tay đó ư ? Ấy thế mà thấy trát đòi ba chân bốn cẳng chạy ngay vào trấn…”

Lão bộc thật sáng suốt và chí lý. Chỉ có điều ông không ngờ tới là chàng Dư vào dinh quan, được khoản đãi ở lầu tây, ngày đêm có cô Thuý Hường hầu hạ, nên chẳng có đòi “ngọc trai”, cũng chẳng yêu cầu trả vợ, chẳng đòi gì hết ngoài…uống rượu say tít cung thang suốt tháng ngày. Một tối, Thân tướng công sai Thuý Hường trang điểm thật lộng lẫy, bày tiệc chờ chàng Dư. Đi uống rượu về ngà ngà say, nhìn thấy cô hầu gái xinh đẹp, cầm lòng chẳng đậu, chàng “ôm đại” làm cô ta giãy nảy:

“Em đây mà. Thuý Hường đốt nến chờ chàng từ đầu hôm. Thuý Hường chớ nào phải ai khác. Chàng quá say nên lầm lẫn đó thôi…”

Lẽ ra chàng Dư phải xấu hổ, xin lỗi rối rít, vợ đang bị giam cầm mà lại “vồ” hầu gái còn gì đểu cáng cho bằng, nào ngờ chàng  giở giọng tán tỉnh :

“Cho ta được giây phút lầm lẫn…”

Đến đây mới thấy văn chương chữ nghĩa như tấm gương hiện rõ chân tướng người viết, thi sĩ Lưu Trọng Lư cố vẽ cho được một chàng nho sinh tiết nghĩa, chung thuỷ nhất mực,  khổ nỗi  đôi khi cứ lộ ra chất “đểu giả”. Nghe vậy, Thuý Hường ỡm ờ:

“Hà tất chơi trò lầm lẫn…”

Hoá ra đây là âm mưu hiểm độc của Thân tướng công, dùng sắc đẹp con hầu mê hoặc làm chàng mất mặt khỏi đi tìm vợ cũ. Mang rượu cho chàng uống, Thuý Hường lại báo trước:

“nửa đêm nay sẽ có tin mừng…”

Chàng Dư giả bộ ngây thơ:

“Tin mừng gì đây ? Nào ta uống nữa! Uống nữa đi !”

Quả nhiên tới nửa đêm Thân tướng công cho người mang tới tặng chàng một cành hoa quỳnh trong chậu nhỏ phủ khăn điều làm chàng Dư mừng rối rít :

“Xin người về trình lại Tướng công, khách mái Tây muôn vàn cảm tạ tướng công…”

Ôi chao ôi, lẽ ra đúng tính cách nho sinh, chàng phải quăng trả chậu quỳnh, lớn tiếng chửi quân cướp ngày, đòi trả lại cô vợ yêu, ngược lại, đã không phản kháng còn “tri ân” rối rít, khác gì thoả thuận ngầm dâng vợ cho quan.

Đêm hôm đó Thuý Hường nào ca, nào đàn, nào dâng rượu cho chàng Dư  ngắm hoa quỳnh nở. Đúng nửa đêm, nàng đến bên chàng suồng sã:

“Hương quỳnh toả ngát trời

                    Nào chàng cùng em cạn chén …”

Rồi nàng dắt Dư Sinh “nửa tỉnh nửa say” lên giường, vừa quạt màn cho chàng vừa hát ru:

                    Ru người tình, ấp người say

                    Hai tay đưa quạt đã rời cánh chim…”

Quạt mỏi tay rồi nàng xoay qua…tắt nến. Có 12 cây nàng đã tắt tới cây thứ 11, chỉ còn một cây nữa thôi là sáng sớm mai chàng Dư chỉ còn nước khăn gói về quê, mặt mũi nào mà dám đòi vợ. May thay tới “phút 89”, nàng Thuý Hường lại nổi máu … lương tâm:

“Bốn điều Tướng công ra, ta đã làm xong ba

Duy còn một điều nữa, cuốn tóc trăm vòng

Ta xin chịu tội

Trời đất quỷ thần soi sáng lòng dạ này…”

Nói rồi nàng ra khỏi màn, gài cửa đi sang phòng khác. Vậy là nhờ lòng tốt của cô hầu gái, chàng Dư vẫn giữ được lòng “thuỷ chung son sắt” với nàng Tuý Tiêu yêu quý chứ chẳng phải gan vàng dạ sắt gì. Rõ đẹp mặt “anh hùng”. Điều này hẳn ngoài ý định ông tác giả kịch bản, nếu không ông đã chẳng bôi bác “hình tượng nhân vật” của mình đến thế.

Gần sáng, thật bất ngờ, nàng Tuý Tiêu bên mái đông sốt ruột sốt gan, đang bệnh cũng liều mình đi tìm chồng bên mái tây. May mắn thay chắc vì “miếng ăn đến miệng còn tuột mất”, sau lúc Thuý Hường rút khỏi màn, chàng  Dư  hẳn “tiếc của trời” chẳng ngủ được mới mò dậy làm thơ dán lên vách, chứ không, nàng Tuý Tiêu bước vào chứng kiến cảnh chồng mình đang ngủ với hầu gái chắc nàng  tự tử thiệt chứ chẳng còn doạ.

Khá khen thay chàng nho sinh, Tuý Tiêu vừa xuất hiện trong màu áo xanh, tay cầm bông sen, chàng  ca ngay được bài ca thương nhớ :

“Chết lòng trong ngóng đợi

                    Người  vẫn đến bất ngờ

                    Đúng màu xanh đêm trước

                    Đối mặt vẫn là mơ…”

Vợ chồng gặp lại chưa kịp hàn huyên, bên ngoài đã có tiếng dặng hắng rồi hầu gái của Tuý Tiêu là Thuý Bình chạy vào báo: “Kiệu tướng công đã xịch trước cổng, xin chàng…”. Rồi cô ta nhìn Dư Sinh như cầu khẩn chàng đưa vợ  trốn ngay. Lạ thay chàng cứ đứng như bụt mọc, cô hầu gái thương chủ quá khóc nấc lên. Chàng Dư vẫn trơ mắt ếch đứng nhìn; hai người đành dắt díu nhau trở về mái đông. Vợ đi rồi chàng mắm môi mắm lợi cầm bút làm thơ dán lên vách:

“Trăng đến tận giường múa

                    Chưa hát trọn bài ca

                    Nỗi đau không câm mãi

                    Tức nước phải vỡ bờ…”

Ai chà chà, có áp bức là có đấu tranh đây, tinh thần quật khởi hẳn đã thức dậy, phen này chắc chàng đâm chết tên quan dâm đãng đã phá tan hạnh phúc đời chàng. Nào ngờ khi Thân tướng công bước vào, chàng lại cung kính :

“Cũng là duyên đưa đẩy

Đêm trăng lại quá nhàn rỗi. Đang mong ân nhân đến…”

Ôi chao ôi, chàng “tri ân” con cọp dữ đã cho rượu, cho hoa quỳnh, cho gái đẹp mà quên mất thù bị cướp mất vợ sao? Tính cách này phải chăng bộc lộ từ tác giả  phẩm chất dễ dàng “hoà đồng với cái ác” miễn sao được yên thân,  tiềm ẩn sâu bên trong con người thi sĩ họ Lưu? Nó cũng chính là “chủ nghĩa cầu an”, sao cũng được miễn cứu được “bộ da” của chính mình, căn bệnh trầm kha của “trí thức Bắc Hà”.

Cái hành động phản kháng cao nhất chàng Dư có thể đạt tới là rụt rè mời ông quan:

“Vào dinh tướng công lâu ngày

                    Hôm nay cũng như ngày hôm trước

                    Quá nhàn rỗi, có bốn câu thơ

                    Xin trình tướng công …”

Đọc liếc câu thơ “tức nước phải vỡ bờ”  Dư Sinh “trình” lên, ông quan coi như tiếng muỗi vo ve, cười khảy:

“ Chị Hằng từ cung Quảng sa xuống để chú Cuội trơ thân Cuội một mình, nhưng chú Cuội có giận người giận mình mà chặt mất cành đa thì cũng chỉ thiệt mất cành đa thôi…”

Rồi bất chợt phát hiện ra mùi hương quen thuộc của Tuý Tiêu, vợ chàng Dư phảng phất đâu đây, lão sầm mặt, phảy tay ra lệnh: “mãn trà”. Đây là giây phút cuối cùng để chàng Dư có thể bộc lộ sự kiên cường phản kháng của mình, vậy mà không, “Dư sinh tiến vội đến trước mặt Thân, cung kính bái biệt”. Thật đúng là một cử chỉ hèn đớn khán giả ai cũng nhận ra, chỉ riêng ông tác giả kịch bản là không thấy.

Chờ cho viên quan đi khuất, chàng Dư mới dám “cởi áo, xé thơ”  theo đúng phép “thắng lợi tinh thần” của dân Mít chỉ dám xì xào sau lưng người ta, chàng cầm bút làm bốn câu thơ khác dán lên tường và ngâm lớn :

“Đọc hết vạn kinh sách

                    Mà nhân nghĩa vẫn cúi đầu

                    Hỏi thần thánh ở đâu ?

                    Hay đã bị vùi dưới đất…”

Nghe thơ chàng Dư, hốt nhiên nhớ tới mấy câu thơ chân dung hoạ phê bình gia Hoài Thanh của nhà thơ Xuân Sách :

“Bình thơ đến thủa bạc đầu

                    Cũng chưa thể tất nổi câu nhân tình…”

Vâng, ngày nay có biết bao sĩ phu đọc vỡ tới cả vạn cuốn sách, liệu đã có mấy ai ngẩng cao đầu đòi cho được chữ “nhân”, chữ “nghĩa” cho đám dân đen con đỏ ?

Ngay sáng hôm sau, quan Thân Trụ Quốc lôi ngay gã “mật vụ phòng” ra đánh đòn tan xương nát thịt về tội không kịp thời báo cáo việc nàng Tuý Tiêu lẻn tới tìm chàng Dư. Quan vứt ngay bộ mặt giả nhân giả nghĩa, nói toẹt ra rằng:

“Ta đón hắn về mái Tây này chẳng phải là để chúng lén sau lưng ta. Sao trong dinh ta, việc lớn việc nhỏ lại dám để  lọt khỏi tai mắt ta ? Ta cho hai đứa được gần mà chẳng được xáp mặt. Thể như con mèo trước bóng mỡ chớm mãi mà không bắt được. Hoa mắt sùi mép mà phải buông…”

Nói xong làm liền, quan bày trò dã man, đêm trước ngày Dư Sinh bị đuổi về “địa phương”, quan cho chăng một sợi dây ngay trước cửa phòng nàng Tuý Tiêu, cho phép chàng Dư tới từ biệt vợ nhưng cấm… bước qua dây và chỉ được tới khi đèn phòng thắp sáng. Thắt buộc nhau vậy khác nào “đặt mỡ miệng mèo mà chỉ cho ngửi”. Lẽ ra đạo làm người quân tử đời nào chịu làm phận “con mèo”. Ấy thế mà đêm đó chàng Dư vẫn vâng lệnh quan theo chân con hầu Thuý Bình mon men tới phòng Tuý Tiêu ở “mái đông”. Vừa nhìn thấy đèn còn sáng chàng đã hí hửng: “Đèn còn sáng, hẳn nàng có ý đợi?”. Con hầu lắc đầu: “Việc đường đột này tuyệt nhiên chị tôi không được báo trước. Ngày mai chàng về nơi cũ, đêm nay quan cho giáp mặt người xưa…”. Gọi là “giáp mặt” nhưng chỉ đến chỗ căng dây mà ngó lên thôi, chàng Dư đâu dám trái lệnh quan vượt qua, đành đứng bên “giới tuyến” ngước cổ than vãn :

“Ôi người bước trước cửa buồng

                    mà chân đành chôn đất lạnh”

Khi vợ xuất hiện nơi cửa sổ, chàng Dư  cũng chỉ dám đứng bên dây thừng mà kêu:

“Tuý Tiêu ! Tuý Tiêu !

                    Dẫu đất trời tan tác

                    Nàng ơi ta không thể nào quay bước

                    Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”

Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”

                    “Tuý Tiêu! Tuý Tiêu ! Người khuất đâu rồi ?

                    Khoan đừng lay động , ngọn đèn ơi…”

Vậy là chàng chỉ sợ bên trong vợ tắt đèn phải quay lui theo đúng lệnh quan mà thôi, không hề dám có ý định  vượt qua “vạch dây thừng” mà lao tới với nàng. Đến khi con hầu báo tin:

“Chàng trông ! Đèn đã lụi dần

                    Dám xin chàng hãy kịp lui chân…”

Cũng đành, chứ biết làm sao ? Chơi cái trò “ mỡ quệt mũi mèo” này, quan Thân Trụ Công quả là cao mưu. Chàng Dư cam tâm làm “chú mèo ngoan”, đứng bên sợi dây chăng mà vuốt bụng thở dài:

“Đau lòng thân nam tử

                    Chân cóng giữa vòng vây…”

Tấm thân ngọc ngà của vợ yêu chỉ trong gang tấc mà người “quân tử” ngày xưa của Lưu Trọng Lư cũng chẳng dám vượt rào đón lấy huống hồ ngày nay, các bậc hiền nhân quân tử  “chân ấm giữa tiền dự án, tiền tài trợ” Nhà nước rót dài dài, đời nào dám “vượt dây thừng” nói chuyện đa nguyên đa đảng với các quý vị  hải ngoại?

Quay về nhà, chàng Dư mang lòng căm thù, trút giận vào… đôi chim Anh Vũ, quà tặng cưới của quan Nguyên soái, người đã tác hợp Tuý Tiêu với chàng :

“Chém cha cái giấc mộng

                    Tưởng đôi chim nhỏ chết rồi

                    Thế mà vẫn nguyên đó

                    Nhảy đi hót đi…”

Thật đúng y tính cách “lưu manh Bắc Kỳ” của giới trí thức ngày nay, khi “mộng không thành” chẳng dám vạch mặt kẻ phá thối mà chửi ngay mộng tưởng đẹp đẽ của chính mình. Rồi đến đêm, nằm mơ thấy quan Nguyên soái, ân nhân ngày trước, chàng vội vàng kể lể sự tình, nhờ quan ra tay giải cứu nàng Tuý Tiêu. Thực chẳng ngờ khi nghe xong, Nguyên soái cũng chân giò lảng ra :

“Ta chỉ biết điều tác hợp

                    Còn như giữ trọn lứa đôi

                    Là tự ở các ngươi

                    Quả điều ta không liệu nổi…”  

Vậy là vô phương cứu…vợ, chàng Dư chẳng còn biết trông đợi vào ai, lại đành chỉ ngồi nhà kêu trời :

“Thần thánh hết thiêng khôn

                    Chữ nghĩa văn chương như của thiu đốt sạch

                    Trăm sách muôn nghìn sách

                    Hỏi còn sách nào hơn ?”

Trời Phật, thần thánh, văn chương chữ nghĩa rồi cả quan Nguyên soái chẳng cứu được chàng, rốt cuộc chính những người dân đen lại ra tay nghĩa hiệp. Ông lão bộc đã tuyển mộ được hơn 20 nghĩa sĩ, móc nối với con hầu của nàng Tuý Tiêu hẹn ngày hội đốt cây bông nàng sẽ mặc đồ trắng nhường cho con hầu mặc đồ xanh, khi kiệu đi vào đám đông, thừa cơ lộn xộn  sẽ cướp nàng Tuý Tiêu trả về cho chàng Dư. Kế hoạch sắp xếp xong xuôi, chàng Dư chẳng mất công mất sức gì, cứ ngồi nhà chờ nghĩa sĩ khiêng kiệu nàng Tuý Tiêu trở về :

“Lòng ta bồn chồn

                    Rối rít tiếng chim Anh Vũ

                    Canh đà chuyển sang canh

                    Sao kiệu nàng chưa về tới

                    Hay đường đi nhiều trở ngại ?”

Rồi đang nước sôi lửa bỏng, chẳng nghĩ gì tới những người vì mình xả thân nơi đao kiếm, chàng chỉ nghĩ tới nỗi sung sướng gặp lại vợ :

“Hót inh lên anh vũ ơi

                    Kiệu hoa đã đến rồi

                    Nến ơi bừng sáng

                    Đào ơi, khoe hết màu tươi…”

Thế rồi đúng ý nguyện của chàng, kiệu hoa đã đến, nàng áo xanh cũng bước xuống, chàng Dư mừng rỡ :

“ Tuý Tiêu…Tuý Tiêu…”

Nhưng hỡi ôi không phải Tuý Tiêu vợ chàng mà là con hầu mặc áo của nàng theo kiểu “Lê Lai liều mình cứu chúa”. Cô ta cho biết :

“Chị Tuý Tiêu trong cơn xô xát hỗn loạn

                    Bị một nhát thương

                    Qua dòng nước trong

                    Chị gieo mình tuẫn tiết…”

Hay tin dữ, chàng Dư chưa kịp thắp cho nàng nén hương đã vội vàng khăn gói xuống đò theo chân lão bộc chạy trốn khỏi địa phương. Kết thúc vở kịch tác giả ca ngợi:

“Tuý Tiêu! Tuý Tiêu! Ngọn đèn không tắt

                    Lửa hồn đốt kiếp

                    Trao nhau trọn xác trọn hồn…”

Còn nhân vật chính, chàng Dư Sinh, dẫu có làm cả ngàn bài thơ nghĩa khí, rút cuộc vẫn lộ ra chàng nho sinh hám gái và hèn nhát.

Rút cuộc Lưu Trọng Lư cố tô vẽ chân dung người quân tử nhưng vô tình cứ lộ ra chân tướng kẻ tiểu nhân. Mô tả người anh hùng lắm khi cứ thò ra tính cách một “thằng đểu” − thực ra chẳng phải căn bệnh của riêng thi sĩ Lưu Trọng Lư  mà là cố tật chung cho mọi văn nhân thi sĩ một  khi đã cam chịu viết văn chương phải đạo, răm rắp tuân thủ những yêu cầu tức thời của chính trị.

Trên trang thờ thi sĩ Lưu Trọng Lư tại nhà lưu niệm ở ngoại thành Sài gòn có treo bài thơ di cảo tự tay ông viết:

“Đi dưới vườn nhân dạ ngẩn ngơ

                    Vì thương người lắm mới say thơ

                    Phên thưa đã có bàn tay đỡ

                    Đêm lạnh phăng lần những mối tơ

Đẹp lắm trên đời những vấn vương

                    Chao ôi thiên lý một con đường

                    Đi trong trời đất từ duyên ấy

                    Sớm tối không rời một chữ thương…”

Vậy là chẳng sám hối quyết liệt được như Chế Lan Viên trong bài thơ “Bánh vẽ”, đến tận cuối “con đường thiên lý” thi sĩ họ Lưu vẫn thương trời, thương đất, thương người chung chung mà chẳng dám buông một tiếng thở dài, tự vấn về con đường mình đã đi.

Cũng trong nhà lưu niệm này, có treo một tấm liễn ghi bút tích Lưu Trọng Lư :

“Tôi thà bị lừa còn hơn không tin vào con người…”

Than ôi, bằng chữ nghĩa và sự nghiệp lãnh đạo văn hoá văn nghệ  của mình, chính ông đã lừa biết bao thế hệ độc giả mà ông đâu có biết. Bởi thế, nhiều năm qua, thân nhân và tỉnh uỷ Nghệ An cố dựng lên “Giải thương văn học Lưu Trọng Lư” mà chẳng mấy ai biết tới.

“Con nai vờ ngơ ngác

                    Nó ca bài cải lương…”

Lưu Trọng Lư chẳng  ca “cải lương” đâu ông Xuân Sách ơi, ông ấy ca bài “khôn ngoan” đó…

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Huy Tưởng:

NGƯỜI “SỐNG MÃI VỚI HỘI NHÀ VĂN”

 

 

Họa chân dung Nguyễn Huy Tưởng trong tập thơ “Chân dung nhà văn”, nhà thơ Xuân Sách hạ mấy câu:

 

Anh chẳng còn Sống mãi

                          Với Thủ đôLuỹ hoa

                          Để những người ở lại

                         Bốn năm sau khóc oà…”

 

Xin lưu ý những từ gch chân là tên những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng (“Những người ở lại”, “Bốn năm sau”, “Lũy hoa”, “Sống mãi với thủ đô”) viết từ sau khi tham gia cách mạng mà nếu kiên nhẫn đọc cho hết, tuy không “khóc oà” thì trong lòng cũng…sụt sịt.

Trên bầu trời văn học của Đảng, Nguyễn Huy Tưởng được coi là một vì sao sáng, trên chiếu văn của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng được ngồi dãy đầu, trên cả Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi… chỉ dưới có Trường Chinh và Tố Hữu.

Ông quê ở ngoại thành Hà Nội, sinh năm 1912, xuất thân trong gia đình nhà nho, 30 tuổi mới viết được “Đêm hội Long Trì”, tiểu thuyết “feuilleton” (đăng báo nhiều kỳ) (1942-43), “Vũ Như Tô”, kịch lịch sử “feuilleton” (1943-44), “An Tư”, tiểu thuyết cũng “feuilleton” (1944-45).

“Đêm hội Long Trì” xoay quanh tội ác của Đặng Mậu Lân, em trai Đặng Thị Huệ, vợ yêu của chúa Trịnh Sâm. Chúa có con gái yêu là Quỳnh Hoa cũng phải ép gả cho tên dâm tặc này khiến quận chúa buồn phiền mà chết. Nguyễn Huy Tưởng hư cấu ra một viên tướng tài là Nguyễn Mại vào tận phủ giết Đặng Mậu Lân và được chúa chẳng những tha bổng mà còn khen thưởng trong tiếng hoan hô của nhân dân. “Đêm hội Long Trì”  thực ra là truyện dã sử, viết vội vã để đăng theo kỳ báo, thiếu hẳn  tầm khái quát  để có thể trở thành một tiểu thuyết lịch sử có giá trị văn chương.

Kịch lịch sử “Vũ Như Tô” còn có chất tư tưởng cao hơn “Đêm hội Long Trì”. Kiến trúc sư Vũ Như Tô bị tên hôn quân Lê Tương Dực bắt vào cung ép xây Cửu Trùng Đài cho hắn cùng lũ cung nhân vui chơi, hưởng thụ. Thoạt đầu Vũ Như Tô khước từ không xây vì không muốn mang nghệ thuật phục vụ bạo chúa.  Thế rồi Vũ Như Tô gặp nàng cung nữ Đan Thiềm, nàng này xui rằng “Đây là lúc ông nên mượn tay vua mà thực hành mộng lớn của ông. Vua và đám cung nữ kia sẽ mất đi nhưng tác phẩm của ông sẽ còn lại đến muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện. Hậu thế sẽ xét công cho ông và nhớ ơn ông mãi mãi…”.  Thế là nghe lời nàng Đan Thiềm, Vũ Như Tô lao vào xây Cửu Trùng Đài với niềm say mê nghệ thuật không kể đến bao nhiêu đau thương chết chóc của hàng vạn con người. Rồi nhân dân nổi lên trừng trị hôn quân, đốt cháy Cửu Trùng đài đẩy Vũ Như Tô vào cơn mê hoảng: “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài…”.  Bi kịch của Vũ Như Tô thực ra chỉ là bi kịch của một kiến trúc sư muốn mượn tay bạo chúa để xây dựng một công trình nghệ thuật để lại cho hậu thế, lấy cứu cánh là “cái đẹp” biện minh cho phương tiện “dã man”. Bởi  thế hình tượng Vũ Như Tô chỉ là một “ca đặc biệt” của người kiến trúc sư chứ chưa khái quát được thân phận người nghệ sĩ khao khát sáng tạo trong một xã hội hà khắc, tự do bị bóp nghẹt; giá trị nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô chính vì thế mà bị hạn chế.

Tiểu thuyết lịch sử “An Tư” lại mở ra một không gian rộng hơn. Đó là thời vua Trần Thiệu Bảo, quân Nguyên sang cướp nước ta. Cuốn truyện đề cập tới hầu hết các nhân vật lịch sử trong thời kỳ này: Hưng Đạo vương Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản … các sự kiện lịch sử như Hội nghị Diên Hồng, trận chiến trên sông Bạch Đằng… về phía quân Nguyên thì có Thoát Hoan, Toa Đô, Ô Mã Nhi… và hai nhân vật chính là công chúa An Tư và tướng Chiêu Minh Vương Trần Thông. Hai người này vốn yêu nhau và đã đính hôn nhưng Thoát Hoan mang 50 vạn sinh mạng tù binh để đánh đổi lấy An Tư. Triều đình buộc phải chấp thuận. Thế là nàng công chúa tuyệt sắc, tài hoa và giàu lòng yêu nước đành gạt nước mắt vĩnh biệt người yêu để sang trại quân Nguyên làm vợ kẻ thù. Tướng Trần Thông trúng tên chết ngay trước ngày quân ta đại thắng, công chúa An Tư hổ thẹn không muốn nhìn mặt ai lẳng lặng nhảy xuống sông tự vẫn. Cuốn truyện dầy có 115 trang mà dàn trải đủ các nhân vật, các sự kiện trong một thời kỳ chống ngoại xâm hào hùng nhất của dân tộc đồng thời lại muốn đi sâu vào bi kịch cá nhân của công chúa An Tư và tướng Trần Thông, bởi thế người đọc thấy rõ sự sơ lược và sự tuỳ tiện trong việc đưa các tình tiết lịch sử vào truyện, – dường như có cũng được mà không có cũng không sao. Tác phẩm lại vẫn dừng ở truyện dã sử hơn là một pho tiểu thuyết lịch sử như các nhà phê bình cách mạng gán cho nó.

Vậy là sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Tưởng thời trước cách mạng chỉ có 3 tác phẩm loại “thường thường bậc trung” như đã nêu trên, thiếu hẳn “một cuốn để đời” như  Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan… hoặc cả một sự nghiệp đồ sộ như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…

Vốn tham gia cách mạng từ rất sớm, năm 1942, Nguyễn Huy Tưởng đã gia nhập tổ chức Văn hoá Cứu quốc  của Đảng cộng sản, sang năm 1945 được  cử đi dự Đại hội Tân Trào, năm 1946 được  kết nạp Đảng, được vào Quốc hội, năm 1949 được cử vào Tiểu ban văn nghệ trung ương của Đảng… Tham gia chặt chẽ vào các công tác của cách mạng như vậy, Nguyễn Huy Tưởng gần với nhà chính trị hơn là nhà văn.

Ấp ủ chủ đề Hà Nội kháng chiến, Nguyễn Huy Tưởng viết khá nhiều về đề tài này nhưng đều thất bại. Năm 1948, ông viết kịch “Những người ở lại” mô tả gia đình bác sĩ Thành với những quan hệ tình ái giữa bác sĩ Thành và Ngọc Cẩm rồi Ngọc Cẩm lại “quan hệ” với Phủ Dương… làm người đọc thấy vở kịch của ông chịu ảnh hưởng quá rõ của vở kịch “Lôi Vũ” của Tào Ngu. Chính Nguyễn Huy Tưởng sau này cũng thừa nhận về giá trị của vở kịch “Những người ở lại”: “Những chuyện nhỏ gia đình, công chúng ngày nay đi xem đều thờ ơ lãnh đạm. Kịch “Những người ở lại” chỉ nói lên được cái băn khoăn của vài cá nhân, không nói lên được những băn khoăn của quần chúng cho nên đối với công chúng bấy giờ, kịch của tôi đã đặt ra những vấn đề không quan thiết tới vận mệnh của số đông…”

Không nói được những băn khoăn của đám đông tức là gián tiếp thừa nhận thiếu sự khái quát. Chính vì căn bệnh đó mà chỉ một năm sau viết “chuyện nhỏ gia đình” trong “Những người ở lại”, năm 1950, Nguyễn Huy Tưởng đã mở rộng đề tài sang viết về cả một vệt  chiến trường. Tập “Ký sự Cao Lạng” nhằm phản ánh “Chiến dịch Biên giới” từ lúc chuẩn bị chiến trường, chiến dịch mở màn, các trận đánh quyết định, những ngày truy kích giặc và niềm vui chiến thắng của quân và dân. Tất cả diễn ra khá gấp rút nên Nguyễn Huy Tưởng đành phải dùng lối viết “ghi chép” chứ chưa hẳn đã là “ký sự”. Chẳng hạn bức tranh về tinh thần anh dũng của quân ta:

“Những báng súng đập nhau chan chát. Lực dằng  khẩu súng trong tay một thằng Đức cao lớn trên miệng hầm. Cả hai ngã lộn xuống hầm, ôm nhau, đấm nhau, cắn nhau. Lực gỡ ra được, ngồi trên ngực nó, nghiến răng bóp cổ thằng giặc nhầy nhụa mồ hôi…”

Hoặc cảnh đoàn dân công tải đạn ra chiến trường được khắc hoạ nặng về “ca ngợi tình đoàn kết giữa các dân tộc chung một quyết tâm tiêu diệt kẻ thù”:

“Mấy chị Mán đỏ khăn áo sặc sỡ, trán cạo nhẵn, nhễ nhại mồ hôi  đang còng lưng đeo sọt đi giữa đám đông. Những chị Nùng áo ngắn tay rộng. Những chị Thổ tay chẽn áo dài. Những anh Mán cao lớn để hồng mao. Số đông áo chàm. Khi tản, khi chụm, khi lố nhố dưới thung lũng, khi thoăn thoắt lên đèo cao, khi tản vào rừng cây chuyển động, khi xoá đi, hoà vào những hàng dài đá xám lởm chởm bên đường, thỉnh thoảng bật lên vải chàm trắng của người đàn bà Mán Lài áo pha mầu đất,váy nhiều nếp xùm xoà…”

“Các chị đi hành quân, dài và lủng củng, ngoằn ngoèo, nối rừng nọ với rừng kia, đèo này với đèo khác, ngày đêm không nghỉ…”

Cứ như thế, toàn bộ tập bút ký giống như những “ký hoạ” thiên về nhãn quan phục vụ chính trị chứ  ít đi sâu vào tâm tư, tình cảm cá nhân để từ đó phảng phất sắc màu thân phận con người trong chiến tranh.

Tập “Ký sự Cao Lạng” dầy hơn trăm trang được hoàn thành ngay trong không khí chiến thắng của chiến dịch Biên giới tháng 9/1950, bởi thế nó được coi như một minh chứng mẫu mực về “lý thuyết sáng tác kịp thời” của Đảng. Quả thực đi sâu vào nội dung “Ký sự Cao Lạng”, người ta nhận thấy ngay “tính kịp thời” của nó. Với cảm hứng đầy “hồ hởi” và phấn khởi, Nguyễn Huy Tưởng phác hoạ lại toàn bộ diễn biến của chiến dịch từ lúc chuẩn bị tới khi kết thúc lúc quân ta thắng lớn, đánh tan cả hai binh đoàn thiện chiến Pháp bắt sống hai quan năm của Pháp là Charton và Lepage giải phóng cả một giải biên giới Từ Cao bằng tới Lạng Sơn.

“Ký sự Cao Lạng” gồm 6 phần trong đó 2 phần đầu mô tả không khí chuẩn bị nhộn nhịp của quân dân Cao Lạng “tự vắt mình để dốc hết người và của vào trận đánh”, dù hết sức khó khăn gian khổ nhưng đâu đâu cũng “thấy hiện lên tinh thần phấn khởi, hào hứng, đâu đâu nghe những tiếng hò hẹn, động viên nhau “quyết giật giải của Hồ Chủ tịch, quyết thi đua lập công, trận này phải thắng…”. Phần thứ ba ghi lại cuộc chiến đấu mở màn, trận công kiên đồn Thất Khê, chủ nghĩa anh hùng cách mạng chiến đấu dũng cảm và nhiều gương anh hùng đã xuất hiện: Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, La Văn Cầu chặt tay bị thương cho khỏi vướng víu xông lên đánh bộc phá tạo cửa mở cho xung kích hạ đồn Đông Khê. Cho tới ngày nay chuyện anh hùng La Văn Cầu tự chặt tay mình vẫn còn được nhắc tới, riêng chuyện Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai thì không, có lẽ vì sự tích phi thường này phải nhường cho anh Bế Văn Đàn người dân tộc thiểu số, chắc để cho phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng trong khen thưởng thành tích chiến đấu. Điều này cho thấy những chất liệu Nguyễn Huy Tưởng viết trong “Ký sự Cao Lạng”  thường được lấy từ …báo cáo thành tích thi đua của các đơn vị bộ đội và vì phải phục vụ cho công tác tuyên truyền nên nó thường được thêm mắm muối và phóng đại. Gương anh “Trần Cừ lấp lỗ châu mai” cũng tương tự như gương em bé đuốc sống Lê Văn Tám tẩm dầu vào người chạy vào đốt kho xăng Nhà Bè do nhà sử học Trần Huy Liệu “sáng tác” ra để phục vụ công tác tuyên truyền theo sự xác nhận mới đây của Giáo sư Phan Huy Lê. Phần 4 và 5 ghi lại cuộc vận động chiến của bộ đội đuổi theo và nghiền nát hai binh đoàn thiện chiến của Pháp tại vùng núi Khua Luông, Quý Châu. Phần 6 ghi lại không khí chiến thắng tại vùng Cao Lạng trong đó nổi bật hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị quân đội “Bác không đứng trên lễ đài. Bác đi thẳng xuống bãi cỏ. Bác không đội mũ. Mặt Bác sạm phong trần. Đầu hoa râm đã bạc nhiều. Bác mặc áo hở ngực. Quần bác nhàu, chân bác đi dép cao su trắng, đứt quai sau. Bác đến với bộ đội như cha đến với con: vui vẻ, thân mật, tạo một nguồn phấn khởi mạnh mẽ…”

Đọc tới chi tiết tác giả ca ngợi “chiếc dép cao su trắng đứt quai sau” của bác Hồ, người ta mới hiểu vì sao trong tất cả những bộ tuyển tập và toàn tập về Nguyễn Huy Tưởng và trong tất cả những bộ lịch sử văn học, bao giờ người ta cũng nhắc tới “Ký sự Cao Lạng”   như là một thành tựu không chỉ của riêng Nguyễn Huy Tưởng mà còn là của chung nền văn học cách mạng. “Hình tượng bác Hồ” không phải là hiếm hoi trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Tháng 9/1950 ông hoàn thành “Ký sự Cao Lạng” thì trước đó vài tháng vào dịp “sinh nhật Bác 19 tháng 5” ông có bút ký “Hồ Chủ tịch năm nay”, sau này cũng được đưa vào các bộ tuyển văn học. Bài viết kể lại nhân ngày sinh nhật Bác tác giả vinh dự được tới thăm nhà Bác ở trong rừng  chiến khu Việt Bắc. Ngôi nhà giữa rừng được tác giả diễn tả:

“Một con đường sạch và dài dẫn tôi vào. Tôi có cảm tưởng đi giữa một công viên Hà Nội với rất nhiều péc-gô-la. Sự thực hai bên tôi toàn là rau rền, rền xanh, rền tía, rền đỏ; giàn toàn thị là giàn mướp, giàn bầu. Một vài giàn mướp đã trổ hoa vàng, bướm lượn tíu tít. Máy bay không làm vẩn trước sau lễ chúc thọ. Chiều hôm nay bình tĩnh lắm. Sau một trận mưa, trời bắt đầu hửng nắng. Ánh hồng trên các thân cây…”

Sắp được đặt chân vào nhà Bác, tâm sự của tác giả thật phức tạp:

“Tôi lâng lâng vui, đồng thời cũng ngài ngại, cái ngại dĩ nhiên của một người sắp đến trước một vĩ nhân. Tôi đã được gặp Cụ ở Bắc Bộ phủ, ở các cuộc mít tinh, ở mấy cuộc hội nghị, những buổi dạ hội tại Nhà hát Lớn Thủ đô. Nhưng từ ngày kháng chiến, tôi không được gặp Cụ và bị kích thích mạnh mỗi khi nghe các bạn kể lại những chuyện về Cụ: Cụ đánh bóng vô lê, Cụ tăng gia. Cụ đi kinh lý mặt trận. Cụ đem cái vui và niềm tin đến cho bao nhiêu hội nghị. Cụ tiễn chân các cán bộ tới thăm Cụ một buổi chiều lẫn lộn cây cối và mưa gió của chiến khu …Cho nên lần này đi chúc thọ Cụ, tôi vẫn có cái náo nức của những buổi đầu tiên gặp Cụ…”

Rồi Nguyễn Huy Tưởng nhớ lại kỷ niệm một đêm ở hội nghị dân quân, các nhà văn, nhà báo xúm nhau lại để viết những chuyện anh hùng của bộ đội và nhân dân, những chuyện tàn ác của giặc Pháp mà các đại biểu đã kể lại trong hội nghị. Mọi người hăm hở viết suốt đêm trắng, hoàn thành “năm chục truyện căm thù và anh dũng” để kịp tinh mơ sáng hôm sau đưa cho người du kích cưỡi ngựa chạy đi …dâng Bác. Sau cùng Nguyễn Huy Tưởng cũng kể tới giây phút đặt chân vào nhà Bác:

“Vườn rền dẫn đến một khu rất đông người, nhiều cây và rất nhiều khoảng nắng. Chỗ nào cũng có thiếu nhi. Chúng nhảy tung tăng. Chỉ nhìn theo chiều mắt lóng lánh của chúng cũng biết Cụ ở chỗ nào. Và tôi gặp Cụ. Một cái bắt tay. Chụp ảnh. Những nụ cười chung quanh. Tôi trở về với gia đình…”

Khi mọi cảm giác hồi hộp đã tan biến, Nguyễn Huy Tưởng đã tưởng như ở nhà mình, ông mới tả Bác:

“Trán Cụ chiều nay không có nét răn. Nước da hồng sáng. Bộ áo kaki cũ và mềm, phơn phớt trắng hồng càng tôn nước da và làm cho cử chỉ thoải mái, thanh niên. Có một cái gì quyến rũ trong đôi mắt thẳm sâu, phản ánh những khóc cười của dân tộc…”

Quả thực những văn thi sĩ quán quân về ca ngợi Bác như nhà thơ Tố Hữu “Bác ơi trán bác mênh mông thế ?” hoặc như  nhà thơ Chế Lan Viên gọi Bác là “Người đi tìm hình của nước” …cũng chưa ai bằng được Nguyễn Huy Tưởng có một chi tiết thật đắt nhìn thấy “sự khóc cười  của dân tộc” trong đôi mắt sâu thẳm của Bác.

Tiếp đến Nguyễn Huy Tưởng tả phòng khách của Bác:

“Bao vây Hồ Chủ tịch là cả Việt Nam thu gọn do những đại biểu muôn vẻ muôn mầu….”

Trước hết phải kể đến cán bộ cao cấp: Cụ Tôn Đức Thắng “người công nhân lão đại”, ông Trường Chinh “nhỏ nhắn nói chuyện vui vẻ”, ông Phan Anh thấp, vững “đang nghĩ tới một tập Kiều tặng Cụ”,  ông Hoàng Quốc Việt “nhanh nhẹn như một gia trưởng”…Rồi đến đại biểu thanh, công, phụ, trước hết là… thiếu nhi. “Thiếu sinh quân. Thiếu nhi nghệ thuật. Thiếu nhi địa phương. Cháu nhìn Bác không chớp mắt. Cháu bên vai bác nũng nịu. Cháu ngồi dưới chân Bác, nghểnh cổ há mồm. Cháu biếu bác một bài hát. Cháu dâng bác một cây sáo mộc…”. Rồi đến anh hùng lao động, anh hùng của vùng tạm bị giặc chiếm… “Lá cờ đỏ thêu chỉ vàng “vạn thọ vô cương” chói lọi gian phòng…”

Nguyễn Huy Tưởng tả Bác vui với thiếu nhi thì thấy Bác giản dị, gần gũi  nhưng khi nói tới lá cờ “vạn thọ vô cương”  thì lại thấy Bác như một… Hoàng Đế. Không hiểu “lá cờ đỏ thêu chỉ vàng” này có thật không hay là Nguyễn Huy Tưởng đã… bịa ra để “nịnh khéo” Bác, có điều từ đầu đã ca ngợi Bác là “giản dị vô cùng” vậy sao còn bầy đặt ở phòng Bác một lá cờ viết chữ Hán rắc rối vậy thì quần chúng công nông hiểu làm sao?

Rồi cụ Hồ ngồi nói chuyện với một anh chiến sĩ cụt tay trong đại đoàn 308. Nguyễn Huy Tưởng viết:

“Tôi không nghe rõ câu chuyện giữa Cụ và người chiến sĩ, chỉ thấy sau lưng Cụ, cửa sổ tròn, để lọt một mảnh trời sao lấp lánh…”

Tới đây người ta thấy được cái “thủ pháp nghệ thuật” hoặc nôm na là “cái mẹo ca ngợi” của Nguyễn Huy Tưởng. Khi vẽ chân dung bác Hồ ông thường gắn với khi thì “sự khóc cười của dân tộc” khi thì cả một trời sao…

 

Cuộc chúc thọ bác Hồ tạm lắng xuống để nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có thể nhìn thấy cả một mảnh trời sao sau lưng bác, mãi đến khi “ông Trần Văn Giàu  đọc những điện văn của các chính phủ, đoàn thể các nước bạn chúc mừng ngày lục tuần đại khánh của Cụ, phòng họp mới trở lại cái tíu tít ban nãy”. Lúc này người ta nghe thấy “những tên Staline, Hồ Chí Minh quyện nhau trong một tinh thần quốc tế mà cảnh sum vầy ở góc trời này, hôm nay càng làm bật ý nghĩa thâm trọng”,  nghe thấy “những lời hô khẩu hiệu”, “bài hát Hồ Chí Minh muôn năm cất lên vang lừng”…Hoá ra người vinh dự nhất được cụ Hồ bắt tay trong buổi chúc thọ lại là linh mục Phạm Bá Trực, ngày đó còn đang thay mặt Quốc hội.

“Cụ bước lại bắt tay cha Trực rồi nói:

“Tôi bắt tay Quốc hội tức là bắt tay toàn dân…”

Chỗ này mới thấy tính “mặt trận” của cụ Hồ – cụ bắt tay một linh mục làm hả dạ giáo dân nhưng cụ lại nói cụ bắt tay “Quốc hội”; như vậy mấy ông “sư quốc doanh” cũng không có gì phải ghen tị.

Được “bác Hồ bắt tay”, cha Trực sướng quá, “hát ngay một đoạn thánh ca mừng Cụ”:

“O Remus

Pro Domino notio Ho Chi Minh…

Dominus conservet eum, et

Vìvifice sum et Beetam…”

Linh mục hát bằng tiếng la tinh được tác giả dịch ra như sau:

“Hỡi các giáo hữu ta hãy nguyện chúc cho vị Chủ tịch quý mến của chúng ta Hồ Chí Minh, xin Thiên Chúa hằng gìn giữ cho Người, xin Thiên Chúa hãy ban cho Người hưởng trường thọ và được hạnh phúc thật trên cõi đời, xin Thiên Chúa hằng hộ vực và che chở Người cho khỏi mọi mưu chước của kẻ thù của Người (cũng là kẻ thù chung của Nhân loại).

Chẳng hiểu tiếng tây tiếng u ra sao, chỉ thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dịch ra thành bài “lãnh tụ ca” bốc Người lên tầm cỡ thay mặt cho nhân loại mới ghê. Ông lại còn tả tiếng hát của linh mục:

“Tiếng hát âm vang trang nghiêm. Phòng thốt nhiên im lặng phảng phất  một cái gì cao rộng, bao trùm. Cụ nắm tay cha Trực rất lâu…”

Nhiệt tình ca ngợi lãnh tụ của cha Trực  đã được  đền đáp kịp thời, được “Cụ nắm  tay rất lâu”, vậy hẳn là một ân sủng lớn đối với linh mục.

Sau người già ắt phải đến con nít.

“Bác lại ngồi giữa các cháu”  để coi “dạ hội nhạc kịch do các Thiếu sinh quân và Thiếu nhi nghệ thuật trình bầy”. Lẽ ra lúc này Bác phải khen ngợi cháu này hát hay, cháu kia múa giỏi, lạ thay “lúc buông màn tôi nghe Bác nói với các huynh trưởng của hai đoàn: đừng để các cháu đói. Phải lo  cho các cháu được học, tiến bộ…”. Rất có thể bác Hồ sẽ ra chỉ thị cho huynh trưởng thiếu nhi như vậy, nhưng chắc chắn phải vào lúc “khai hội nhận chỉ thị” chứ không phải lúc vừa coi xong các cháu biểu diễn như thế. Chỗ này tác giả “hơi  vụng” trong ca ngợi đức độ của bác Hồ.

Rồi sau cùng “ân sủng của bác” cũng tới với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng:

“Buổi chiều tôi đang ăn cơm, Cụ đến sau lưng, đặt tay lên vai hỏi:

“ Chú ăn được mấy bát ?”.

Chúng tôi hỏi lại Cụ, Cụ nói:

” Tôi ăn được  hai bát…”

Tôi se se trong lòng…”

Nhà văn ngậm ngùi thương Bác “ăn có hai bát cơm” nhưng không dám nói ra. Rồi trước khi trở về đơn vị, nhà văn được cụ Hồ nhắc nhở về 4 điểm thi đua giữa các …báo: “đúng chính trị – văn chương hoạt bát – ít tếu – hình thức giản đơn”

Cho tới ngày nay, hơn nửa thế kỷ sau, báo chí Việt Nam về căn bản vẫn  tuân theo những chuẩn tắc trên, đặc biệt là “đúng chính trị” – tức là phải tránh né những vấn đề nhạy cảm, phải tuân thủ sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, chỉ được phép đưa tin có lợi cho Đảng, cho “ổn định chính trị” của Đảng.

Sau cùng đã tới lúc nhà văn phải chia tay cụ Hồ với cảm giác được  ông diễn tả: “Nhiều tiếng nói trong tôi một lúc: Phố Lu – Bắc bộ phủ – Ba Đình – Bác – Chú – Tổng phản công – Tôi ăn được hai bát. Cụ sáu mươi. Cụ đã sáu mươi…”.

Đúng là một thứ tình cảm “đa chiều”, trong đó nổi lên tình cảm thương “cụ Hồ ăn được hai bát cơm”  và lo lắng “Cụ đã sáu mươi…Cụ đã sáu mươi…”. Ôi ước gì, Cụ sống lâu vài trăm tuổi. Đó là mơ ước trong sâu thẳm nhà văn và ta đành phải nói ra hộ ông.

Bài báo “Hồ chủ tịch năm nay”  được Nguyễn Huy Tưởng ghi ngày viết đúng vào sinh nhật lần thứ 60 của cụ Hồ : “19-5-1950”.

55 năm rồi, hơn nửa thế kỷ  đã trôi qua, một tháng nữa lễ “Kỷ niệm 105 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” lại diễn ra rầm rộ trên khắp đất nước Việt Nam. Hoá ra ở cụ Hồ cái gì cũng vĩ đại, cũng kiệt xuất, cũng thiên tài cả, chỉ trừ có mỗi tuổi thọ của cụ là cũng như người đời thôi. Ông nhà văn hình như cũng cảm thấy điều đó nên kết thúc bài viết người ta thấy rõ ông thật xót xa trong lòng.

Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn  Huy Tưởng, vở kịch “Bắc Sơn” được công diễn năm 1946 và được  báo chí cách mạng rối rít khen  ngợi : “Bắc Sơn ra đời đã đặt nền móng cho một nền kịch mới … Bắc Sơn đã cảnh tỉnh cho những người còn nghi ngờ kịch cách mạng  và xứng đáng là vở kịch cách mạng thành công nhất từ trước tới nay …”  ( Báo Vì nước – 1946).

Kịch “Bắc Sơn” viết thế nào mà được báo chí ca ngợi ghê gớm vậy?

Kịch lấy cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn làm bối cảnh, thời gian vẻn vẹn có mấy tháng từ lúc khởi nghĩa nổ ra (27-9-1940) cho tới lúc du kích thất bại phải bỏ Vũ Lăng rút lên rừng (đầu 1941). Diễn tả cuộc xung đột giữa hai phe cách mạng và phản cách mạng qua đó khẳng định cách mạng nhất định thắng, báo hiệu cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sẽ nổ ra.

Câu chuyện kịch “Bắc Sơn” xoay quanh “hai phe” đối nghịch trong gia đình người dân tộc Tày – ông cụ Phương, vợ, con trai, con gái và con rể. Cụ Phương và con trai là Sáng hăng hái tham gia cách mạng. Cô con gái là Thơm và mẹ thuộc phe lừng chừng đứng giữa. Chàng rể, chồng của Thơm là Ngọc thuộc phe đối lập, từ chỗ chế giễu cách mạng đến chỗ dẫn đường cho Pháp đàn áp du kích và trở thành một tên Việt gian nguy hiểm. Sáng bị Pháp bắn chết gây cho cụ Phương hiểu lầm bà vợ dắt Pháp về bắn con bèn rút súng bắn vợ. Rất may cô con gái Thơm xông vào gạt ra cứu sống mẹ. Cụ Phương sau khi bắn chết một tên Pháp cũng bị tử thương. Có hai cán bộ cách mạng  là Thái, Cửu chạy vào nhà Thơm trốn Pháp được cô dấu trong buồng, chờ chồng bỏ đi, Thơm mới chỉ đường cho cán bộ chạy thoát. Sau Thơm theo cách mạng, lên căn cứ tiếp tế muối và báo tin Pháp sắp vây lùng. Vừa lúc đó Ngọc, chồng Thơm mò tới bị Thơm dõng dạc tố cáo bộ mặt Việt gian của chồng. Ngọc rút súng bắn vợ. Nhờ Thơm, quân du kích diệt được giặc Pháp….

Vở kịch “Bắc Sơn” chia đôi hai loại người rạch ròi: cách mạng và phản cách mạng – ngay cả trong quan hệ vợ chồng, người ta cũng có thể bị phân hoá thành hai phe:

THƠM ( nói với chồng): “Thôi, đến lúc này tôi cũng chẳng còn úp mở làm gì nữa. Tôi biết anh lắm rồi… Anh giấu ai chứ giấu tôi thế nào được ? Ba tháng nay tôi ăn chung ở đụng với anh tôi khổ sở biết là chừng nào. Anh giết cha tôi, anh giết em tôi, anh làm tan nát cửa nhà tôi, anh làm hại bao nhiêu người, anh tưởng tôi không biết nhục à ? Vợ một thằng chó săn (khóc). Sao tôi lại theo anh kia chứ? Sao tôi với anh ở lại Bắc Sơn kia chứ ? (khóc nức nở) Anh có phải là người nữa không? Phải, tôi giúp quân du kích đấy; tôi biết tin anh dắt Tây đến đánh úp, tôi đi báo quân du kích đấy. Tôi đố anh phá nổi quân du kích. Mở mắt ra! Nó sai như con chó, nó khinh như con chó mà không biết đời à? Các ông đồng chí đâu! Bắt lấy nó. Nó đây rồi…Nó đây rồi… đừng thương nó…”

Thế là cô vợ hô hoán lên cho du kích chạy tới bắt chồng…

Anh chồng – tên Ngọc, không còn tin vào mắt vào tai mình nữa. Chính cô vợ chung chăn chung gối của mình lại dâng mình cho cách mạng.

NGỌC – (mất sắc)Con kia, mày định giết tao phải không ?

THƠM (lăn xả vào Ngọc hú lên): Anh em ơi, nó đây rồi. Chú ơi…ông Thái ơi…”

Thế là chồng rút súng bắn vợ và liền đó bị Tây… bắn nhầm chết. Tuy nhiên, sau đó cô vợ – Thơm, không chết, cô vẫn sống để chỉ vào xác chồng mà căm thù:

“ Chính nó bắn tôi  (chỉ về phía Ngọc) Thằng  Ngọc… Chúng nó bắn nhầm phải thằng Ngọc. Không biết nó đã thấy nhục chưa? Chỉ tiếc là mình không được xử tội nó…”

Rồi quên cả đau đớn và cũng chẳng hiểu sao lúc này cô nàng lại nghĩ tới…bộ đội:

“Tôi chết mất…Quân ta thế nào ?”

Và rồi cô nàng như mê sảng hướng ra mặt trận:

“Cho tôi đi xem đi. Chú tôi với em Sáng đang bắn chúng nó đấy. Trường Vũ Lăng ta lại chiếm được kia. Đi mau lên các ông. Các ông cố lên nhớ. Mau lên, có phải cờ ta đấy không ? Được thật rồi…”

( Thơm lả ra sau sự kích thích mãnh liệt của tinh thần. Tiếng hát vang lừng hùng dũng).

Than ôi, ông Nguyễn Huy Tưởng ép uổng “bông hoa rừng” giác ngộ cách mạng và bày tỏ cái sự giác ngộ ấy một cách lố bịch đến thế thì thôi. Giữa đôi vợ chồng chẳng hiểu sao không mảy may chút nghĩa tình phu thê mà chỉ có “cách mạng” hoặc “phản cách mạng”. Giả dối đến thế không hiểu trong lòng ông có thấy xấu hổ khi đặt bút viết ?

Kịch “Bắc Sơn” đã đặt “nền móng cho kịch cách mạng” như thế đấy. Nó được đám văn nô bốc lên mây xanh. Nguyễn Đình Thi reo hò:

“Viết Bắc Sơn, Nguyễn Huy Tưởng muốn bày giãi lòng tin chắc của mình (vào cách mạng). Không, nghệ thuật với cuộc sống không thể nào rời nhau, nhất là trong lúc này… Kịch Bắc Sơn đưa lên sân khấu những sự việc mới, những đám đông, những con người mới của cách mạng: người cán bộ, ông già nông dân khẳng khái, anh du kích, bà cụ có tấm lòng yêu nước trung thực. Đấy là điều đáng chú ý nhất và cần nhấn mạnh nhất…” .

Nhà phê bình mác-xít hơn cả ông Trường Chinh là giáo sư Hà Minh Đức cũng bốc thơm:

“Qua vở kịch Bắc Sơn, lần đầu tiên Nguyễn Huy Tưởng xây dựng thành công những con người mới xuất thân từ quần chúng lao động. Phần lớn họ là những người nghèo  khổ  bị áp bức, vùng lên làm chủ vận mệnh mình…”

Sự thực, đó là một bước lùi vĩ đại, trong khi kịch nói thế giới từ thời Shakespeares đã đưa lên sân khấu những nhân vật khổng lồ với tính cách phong phú và phát triển phức tạp, thì ở Việt Nam vào những năm sau đại chiến thế giới thứ hai, người ta mới bắt đầu xây dựng một thứ sân khấu mà tính cách nhân vật bị vót nhọn chỉ còn nhân vật “ta” hoặc “địch”. Nền kịch cách mạng này với “phương pháp sáng tác “ như vậy, nhất định sẽ đưa sân khấu tới… tắc tị. Quả nhiên một loạt vở kịch dẫm theo vết Nguyễn Huy Tưởng như “Chị Hoà” của Học Phi, “Bức tranh mùa gặt” của Trần Vượng, “Tiền tuyến gọi” của Trần Quán Anh sau này …đều mau chóng bị vứt vào sọt rác của lịch sử.

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn được Đảng khen luôn luôn bám sát đời sống, tác phẩm nóng bỏng tính thời sự. Quả vậy, sau “Ký sự Cao Lạng”, Nguyễn Huy Tưởng đi theo đoàn cải cách ruộng đất xuống ba cùng với bần cố nông và có ngay tiểu thuyết  “Truyện anh Lục” (1955) viết về người nông dân bị địa chủ, cường hào bóc lột đến tận xương tuỷ, nay nhờ có Đảng đã vùng lên đập tan giai cấp bóc lột, làm chủ cuộc đời mình. Tác phẩm… dở đến nỗi bị nhà phê bình Phan Cự Đệ chê là…. “tác phẩm còn lẫn lộn giữa việc tường thuật về người thật và xu hướng tiểu thuyết hoá, nhưng điều đáng quý là sự nỗ lực của Nguyễn Huy Tưởng đi vào một đề tài mới mẻ với ý thức phục vụ sát yêu cầu cách mạng…”. Thế thôi, chỉ là phục vụ cách mạng chứ đâu phải làm văn chuơng? Thực ra “húc” vào đề tài cải cách ruộng đất nhà văn nào cũng phải bịt mắt bưng tai để nói theo giọng điệu tuyên truyền của cán bộ Đội cải cách, bởi thế các tác phẩm viết ra đều “chết non” như “Tranh tối tranh sáng”, “Hỗn canh hỗn cư” của Nguyễn Công Hoan, “Mẹ con đồng chí Chanh” của Nguyễn Đình Thi, “Con trâu” của Nguyễn văn Bổng, “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài…

Sau hoà bình năm 1954, các nhà văn được  Đảng yêu cầu viết về sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc, Nguyễn Huy Tưởng đã hưởng ứng nhiệt tình, viết ngay tiểu thuyết “Bốn năm sau”  (1959). Cuốn truyện xoay quanh công cuộc xây dựng lại Điện Biên Phủ, nơi chiến trường vừa lặng im tiếng súng, vẫn còn chằng chịt giây thép gai và bom mìn để thử thách tinh thần người lính phục viên, rời tay súng, cầm tay cầy. Cuốn sách  được  các nhà phê bình của Đảng “nâng bi” là “Bốn năm sau” mang theo cảm hứng mới phơi phới tinh thần lạc quan cách mạng của những con người làm chủ hiện tại và tương lai…”.  Có lẽ vì cái cảm hứng đó mà không đầy “bốn năm sau” ra đời, tiểu thuyết “Bốn năm sau” đã chết ngóm chẳng còn ma nào muốn đọc.

Là nhà văn đi hàng đầu theo chủ trương “sáng tác” kịp thời của Đảng, Nguyễn Huy Tưởng luôn luôn được báo chí bốc thơm theo kiểu:

“Chất hiện thực trong những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng ngày càng được tăng cường qua những đợt đi thực tế, tham gia chiến dịch, những ngày lăn lộn với phong trào. Anh thấy rõ cuộc sống mới không ngừng phát triển. Đang từng ngày thay da đổi thịt. Ở đâu trong cuộc sống cũng phấp phới cái “cánh bay của một thứ lãng mạn cách mạng ngay trong những công việc hàng ngày”. Đó chính là cơ sở khách quan để nảy sinh chất lãng mạn cách mạng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng…”  

Tuy nhiên  sự “đoản thọ” của những sáng tác kịp thời kiểu như “Ký sự Cao Lạng”, “Truyện anh Lục”, “ Bốn năm sau”…  cũng làm Nguyễn Huy Tưởng phải nghĩ ngợi, nhất là văn chương của ông nâng bi cách mạng quá đà đến độ nhà phê bình “bảo hoàng hơn cả nhà vua” Phan Cự Đệ cũng phải than:

“Nguyễn Huy Tưởng đến với cuộc đời mới với bao cởi mở và tin cậy, không có những khoảng cách giữa nhà văn và cuộc sống qua những dằn vặt cá nhân, những ngại ngùng xa lạ …Nguyễn Huy Tưởng thích khai thác những mặt đẹp của đời sống, cái đẹp của con người mới đang sáng tạo nên những trang sử của dân tộc. Anh nhìn cuộc sống một cách xuôi chiều và có phần lý tưởng hoá. Nguyễn Huy Tưởng chưa thấy hết những mặt phức tạp của cuộc đấu tranh xã hội nên trong một số trường hợp, cách nhận thức và giải quyết vấn đề của anh hời hợt và dễ dãi…”

Tóm lại nói theo ngôn ngữ thời nay là anh viết quá…phải đạo, quá an toàn, luôn luôn đeo chữ “thọ” cho ngòi bút rồi mới tung hoành trên trang giấy. Sau cuốn “Bốn năm sau”, Nguyễn Huy Tưởng hiểu rằng “sáng tác kịp thời” chỉ là sự xui dại của Đảng muốn nhà văn phục vụ chính trị hiệu quả hơn, tức thời hơn và chỉ đẻ ra thứ văn chương “báo tường”. Từ đó ông bỏ hẳn “những chuyến đi thực tế” nhằm cho ra những “sáng tác kịp thời”, bỏ qua những “đề tài khôi phục kinh tế” nóng hổi tính thời sự, ông trở lại đề tài quá khứ với độ lùi đủ để có thể nhìn lại một cách bao quát, tỉnh táo từ đó xây dựng nên một tiểu thuyết sử thi, đồ sộ vừa đi sâu vào số phận cá nhân vừa mang tính hoành tráng của cơn bão táp của cách mạng.

Và Nguyễn Huy Tưởng bắt tay vào tiểu thuyết được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của ông: “Sống mãi với Thủ đô”.

Năm 1958 sách viết xong, 1961 sách ra mắt bạn đọc, được nhà văn Nguyễn Tuân viết lời bạt, nhà văn Nguyễn Khải viết bài khen ngợi cũng rất nhiều nhà báo, nhà phê bình khác bốc thơm.

Vậy thực chất giá trị của “Sống mãi với thủ đô”  của Nguyễn Huy Tưởng là thế nào?  Cuốn sách dày 450 trang mở đầu là cuộc tản cư của người Hà Nội về nông thôn tránh bom đạn giặc Pháp và kết thúc ở một đơn vị tự vệ đã bước vào ngày thứ hai của cuộc kháng chiến.

 

Trên sân ga Hàng Cỏ hai tháng sau ngày Quốc khánh mồng 2 tháng 9, giữa đám đông chạy loạn người ta thấy Trần Vinh, thầy giáo đưa mẹ xuôi tàu Nam tản cư về quê. Anh gặp lại Trinh người yêu cũ  đã  lấy chồng giàu có. Lúc này trụ lại Hà Nội và xin vào tự vệ dường như là thước đo giá trị của thanh niên Hà Nội; bởi vậy khi nghe Trinh hỏi mẹ:

“Tự vệ phải đánh nhau, sao các anh ấy lại thích vào mợ nhỉ ?”

Trần Văn cau mặt. Trinh không những tỏ ra thờ ơ với thời cuộc mà còn ngu nữa. Hồi yêu Trinh, anh tưởng Trinh thông minh, có ngờ đâu lại thảm đến như thế này…”

Không phải chỉ có Trinh là thờ ơ với thời cuộc, trên sân ga, Trần Văn còn thấy “một đám thanh niên mặc tây đi xích lô từ phía Hàng Lọng tới. Họ vội vã, hấp tấp, hốt hoảng. Họ cuống cuồng bước lên thềm, chạy vào ga lấy vé, mặt tái nhợt, hơi thở dốc ra. Trông thấy Trần Văn họ bẽn lẽn xấu hổ, người cúi mặt xuống, người ngoảnh mặt đi. Trần Văn cười trong bụng. Chắc chắn họ cũng cùng một loại với mấy anh thanh niên theo gia đình đi tản cư mà anh gặp lúc nãy ở ngoài ke, các anh chàng phải giấu mặt đi để cho đồng bào khỏi trông thấy và xỉ vả là đồ hèn nhát….”

Vậy Trần Văn dĩ nhiên  là một thầy giáo giác ngộ cách mạng nên mới có cái nhìn khinh bỉ đối với đám thanh niên cầu an, tản cư khỏi Hà Nội như vậy. Anh là giáo viên sử, dạy trường tư của một “nhà trí thức cách mạng”. “Anh đã được giảng sử nước nhà bằng tiếng Việt Nam một cách đường hoàng, không phải dè dặt quanh co. Cách mạng tháng Tám đã mở cho anh một cuộc đời mới”. 

Học trò của thầy Trần Văn cũng “cách mạng” không thua gì thầy.

Trước hết là cô Quyên, nữ sinh Hà Nội. “Một chị cán bộ đã giới thiệu Quyên vào làm mật mã nhưng Quyên khóc xin thôi. Quyên cho là chị cán bộ khinh mình, vì Quyên thấy cái công tác được giao cho chẳng có gì là chiến đấu cả. Quyên nghĩ rằng đánh nhau thì phải nằm gai nếm mật, mặt trận thì phải là màn sương gối đất chứ có đâu lại đi làm một công việc chẳng có gì là khó nhọc, ro ró ở một xó nhà…” . Thế rồi trong tường tượng, hình ảnh người chồng tương lai của cô nữ sinh này cũng phải là …một người cách mạng. “Người ấy đã phải bị đầy ra Côn Đảo, đã phải vượt  tù trốn về khu giải phóng, và lúc này phải gánh vác những công việc lớn lao. Người  chồng lý tưởng ấy của chị có thể không còn trẻ nữa, nhưng chị sẽ yêu với tất cả lòng yêu của chị, chị sẽ hy sinh tất cả cho anh để bù lại trăm nghìn gian khổ mà anh đã phải chịu trong bao nhiêu năm…”

Một quan niệm về tình yêu “lãng mạn cách mạng” ghê gớm chưa? Còn nam sinh của thầy như anh chàng tên Loan thì cũng bị “trí tưởng tượng đưa anh từ cuộc đời còn thơm tho mùi sách vở tới những trận chiến đấu ngổn ngang xác giặc và chính anh có thể chết dưới đống gạch ngói của phố xá điêu tàn…”.

Đứng giữa đám học sinh “mắt long lanh như sắp xông lên chiến đấu”, anh giáo Trần Văn bỗng “thèm làm một người cán bộ nắm được hết tình hình, biết mình sẽ làm gì và đi tới đâu. Anh cảm thấy con người mới phải là con người chẳng kể trường hợp nào, đều làm chủ được tình thế …”. Và rồi để “động viên tinh thần chiến đấu” cho đám học trò, anh giáo kể câu chuyện cái lỗ đạn Pháp bắn vào thành Hà Nội ngày 20-11-1873 bị một nhà nho nào đó lấp đi để “nhân dân hàng ngày khỏi trông thấy mà thêm nhục”. Mấy hôm sau, một ông nhà nho khác lại khoét cái lỗ ấy ra với lý lẽ “phải để đấy cho mọi người luôn luôn trông thấy cái nhục mà nghĩ đến việc cứu nước…”. Hai ông cứ người lấp người phá cho đến khi Pháp biết chuyện đem rào kín cổng thành lại (!). Câu chuyện thực hư không biết ra sao, nhưng người Hà Nội mỗi lần đi qua phố Cửa Đông đều nhìn thấy cái lỗ đạn ấy và không hiểu Pháp đã rào nó lại bằng cách nào?

Anh giáo Trần Văn kể xong câu chuyện, kết  luận:

“Tôi nghĩ lúc này là lúc chúng ta lấp cái nhục bằng gươm bằng súng đấy… chúng ta sẽ cho chúng nó biết rằng chúng ta không phải là một lũ hèn…”.

Ngoài đám thầy trò Trần Văn sôi sục tinh thần yêu nước, người ta còn thấy cô Nhân, bán hoa ở Ngọc Hà, thầm yêu anh giáo, chị họ cô Nhân có chồng chết trong khi Nam tiến, đứa con trai tuổi còn con nít tên Dân cứ nằng nặc xin đi… bộ đội vì nhớ bố quá, tất cả đều trong không khí sẵn sàng… đánh Pháp. Ở vườn hoa Cửa Nam, Trần Văn gặp một người thợ nặn các tượng Quan Công,  Hạng Vũ… bằng bột bán cho con nít. Khi một đoàn xe “chở toàn Tây mũ đỏ, kèm theo mấy con nhà thổ, me tây loè loẹt” chạy qua, anh thợ nặn bột lên tiếng chửi theo kiểu rất …“trí thức”:

“Đánh Đức thua Đức, đánh Nhật thua Nhật, đánh đâu thua đấy, bắt nạt Việt Nam. Mẹ cha mày, bố mày cũng không dám đánh đêm…”

Được nghe chửi như vậy, anh giáo càng thêm phấn chấn. Anh bĩu môi lẩm bẩm: “Mọi bạo lực, mọi cường quyền mạnh đến như sấm như sét rồi cũng tan đi như bọt. Hạng Vũ, Attila, Nã Phá Luân, Hitler và Lơ Cléc, tất cả, trước hay sau, chóng hay muộn tất cả đều đổ sụp. Chỉ có nhân tâm là muôn thủa…:”

“Quần chúng nhân dân” Hà Nội được Nguyễn Huy Tưởng mô tả thành những con người yêu nước, nóng  bỏng lòng căm thù như vậy, còn giặc Pháp, ngược lại được mô tả như bọn thú dữ uống máu người không tanh:

“Cánh cửa mở ra, giữa tiếng kêu hãi hùng của một người đàn bà và hai đứa con luống cuống trong một gian nhà nhỏ tối mờ mờ, đồ đạc đã thu dọn cả, chỉ còn trơ một cái giường. Tên lính Pháp hỏi Việt Minh, người mẹ không biết tiếng Pháp quỳ xuống  chắp tay vái lia lịa miệng van lạy: Quan lớn làm phúc tha cho mẹ con chúng tôi… Tên lính hỏi dồn. Nó nắm lấy tóc người mẹ lôi dậy, gật gật đầu cười …”

Và cái cảnh sau đây, thật chỉ có trong phim…kinh dị :

“Nhưng tên lính cười gằn, lật mặt người mẹ ngửa ra đằng sau. Cái cổ tròn căng thẳng, thoi thóp, gợn mấy đường gân xanh. Một bàn tay chới với nắm lấy cái bàn tay của đứa con trai chừng năm tuổi. Đứa con gái nhỏ mới hai tuổi giẫy đành đạch hờn với mẹ, hai tay bíu vào cái gấu quần lụa trắng: “Mợ ẵm con…mợ ẵm con…”. Tên lính tháo đôi hoa tai của người mẹ, thản nhiên đút vào túi. Mặt người đàn bà trắng như tờ giấy, thân oãi cong lên. Môi tên lính rung rung. Nó tuốt lưỡi lê, đâm gọn vào cái cổ, tay nắm tóc buông ra. Đầu người mẹ gieo mạnh xuống sàn gạch. Không một tiếng kêu. Lưỡi lê lại vung lên. Đứa con lớn đứng bên xác mẹ vừa khóc vừa đưa hai bàn tay nhỏ bé lên đỡ. Một ánh chớp loáng. Hai bàn tay vụng dại nắm chầm lấy cái lưỡi  lê đâm mạnh, thọc sâu vào ngực nó…”

Cái cảnh chém giết rợn tóc gáy như trên còn kéo dài cả hai trang nữa khiến người đọc căm thù giặc Pháp đâu chưa biết chỉ thấy khiếp hãi cho ngòi bút của nhà văn dường như cũng đang chấm vào máu  mà viết nên những trang …kinh dị đến mức khó tin. Sau cùng, để “tố cáo tội ác giặc xâm lược” sâu sắc hơn nữa, ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã mô tả chi li một cảnh còn kinh hoàng hơn dưới địa ngục mà có lẽ trong văn chương kim cổ chưa ai dám viết:

“Lưỡi  lê đỏ máu của tên lính hung ác dứ dứ mấy cái rồi đâm phập vào cổ ằng ặc của người thanh niên. Nó xoay nghiêng cái cổ cho máu ồng ộc chảy xuống cái âu trầu. Mấy ông già run rẩy ngồi thụp xuống nhắm nghiền mắt. Một ông cụ râu tóc đều bạc xô một thằng Pháp đứng sau để chạy. Bên xác người mẹ, đứa con gái khóc bằn bặt không thành tiếng. Bỗng tên lính giết người kéo ông già râu bạc lại. Nó cầm cái âu đầy máu ngầu bọt kề vào miệng cứng đờ của ông cụ nói: “Mày húp đi. Mày húp trước đi. Rồi chúng mày thay nhau mà húp…”. Những tiếng cười  của bọn giết người lại nổi lên trong cái gian nhà lênh láng máu…”

Sự thực tội ác của giặc Pháp ở phố Yên Ninh vào tháng 10/1945 dã man đến đâu, rồi đây các nhà sử học sẽ làm rõ, riêng nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thật đáng mặt bậc thầy về phương pháp sáng tác tự nhiên chủ nghĩa và xứng đáng được tặng một…cây bút vấy máu.

Tất nhiên vào thời điểm đó vì “yêu cầu chính trị” phải kích động nhân dân Hà Nội căm thù giặc Pháp, những người làm công tác tuyên truyền có thể bịa đặt hoặc thổi phồng vụ tàn sát để trương biểu ngữ  “Trả thù cho 23 đồng bào bị giết ở ngõ Yên Ninh” trên ô tô chạy khắp Hà Nội, nhưng cả 15 năm đã qua đi, yêu cầu tuyên truyền bôi đen quân xâm lược không còn đặt ra nữa, nhà văn khi đặt bút viết tiểu thuyết cần phải trả lại sự thực cho các sự kiện. Tiếc thay Nguyễn Huy Tưởng không làm được  điều đó, ông vẫn viết đầy hứng khởi theo kiểu…tuyên truyền y như một nhà báo của Đảng đang hoạt động vào tháng 12/1946 chứ không phải nhà văn viết tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô” mười hai năm sau đó. Chính vì vậy những sự kiện ông đưa ra có vẻ thiếu xác thực vì người đọc đã có độ lùi 15 năm sau để nhìn nhận nó.

Chẳng hạn câu chuyện ông kể về nỗi khao khát của đồng bào miền Nam được trốn ra Bắc sau khi thực dân Pháp trở lại chiếm đóng:

“Cái hồi vỡ mặt trận Ninh Hoà, quân Pháp sắp kéo đến. Đồng bào không ai ở lại. Từng đoàn người lũ lượt tản cư, theo nhau băng rừng lội suối đi tìm miền tự do. Có một cụ già tám mươi tuổi cũng chống gậy đi. Mọi người bảo cụ: Cụ đã già nua tuổi tác, nó dù có tàn ác đến đâu cũng không giết cụ làm gì. Cụ đừng đi cho vất vả. Đường đi nhọc nhằn, cụ sẽ chết dọc đường mất…”

    Cứ tưởng bà lão tám mươi gần kề miệng lỗ, lúc này ham muốn tột bậc chỉ  là được chết ở quê nhà gần gũi với ông bà, tổ tiên, nào ngờ cụ lại hăng hái:

“Bà cụ nói: Cảm ơn các ông các bà tỏ lòng thương. Nhưng tôi không ham sống làm gì nữa. Chỉ muốn đến những nơi nào không có giặc Pháp, những nơi nào còn có ngọn cờ đỏ sao vàng…”

Rõ khổ, đã “không ham sống làm gì” lại còn bỏ làng bỏ xóm để đi tìm… “cờ đỏ sao vàng” thì quả thật thế gian này… chưa hề thấy. Hư cấu quá đà như vậy, ông nhà văn vừa làm khổ “bà cụ” vừa làm khổ cả người đọc. Vậy nhưng chưa hết, ông Nguyễn Huy Tưởng vẫn chưa tha cho “bà cụ”, ông bắt:

“Thế rồi bà cụ cứ đi. Sau mấy ngày bà cụ đi trong rừng, cụ đã kiệt sức quá. Cụ đã nằm chết ở bên cạnh đường mòn, lối lên đèo Cả. Cụ đã chết trên con đường đi tới tự do…Nhưng nét môi đã rụng hết răng như bằng lòng mình đã thở cái hơi cuối cùng ở trên một miền đất trong sạch, không có dấu  chân quân Pháp…”

Than ôi, một bà cụ tám mươi, cái quà tặng nhân đạo nhất ông nhà văn cần mang tới cho cụ lúc đó là một bát cháo nóng cho đỡ đói lòng chứ đâu phải thứ “tự do” ở trên trời và lá cờ đỏ sao vàng ở tận đẩu tận đâu. Mà rồi lúc thở hơi cuối cùng bà lão tám mươi sao còn nghĩ được nơi bà nằm xuống không có dấu chân quân Pháp? Lúc đó hoặc chẳng nghĩ gì hoặc nghĩ tới ông bà cha mẹ chớ ?  Ông nhà văn tính ca ngợi mà hoá ra lại thành mỉa mai bà cụ. Thế rồi để biến cụ thành “tượng đài của lịch sử”, ông nhà văn “đắp một nấm mồ chôn cụ, cài một mảnh giấy chẳng biết bây giờ có còn không, đề mấy dòng: “Mồ một bà cụ đã đi tìm tự do. Đèo Cả ngày 8-2-1946…”

Câu chuyện “bà cụ đi tìm tự do” chẳng biết có được mấy phần trăm sự thực, chỉ tiếc  cuốn truyện của ông nhà văn chưa tới được tay mấy ông trong Viện bảo tàng cách mạng tỉnh Trị Thiên-Huế, nếu không vào cái thời buổi “rút ruột công trình này” họ đã tìm tới tận nơi thực hiện ngay một dự án đúc tượng và xây mộ bà cụ để cho tỉnh có thêm một điểm tham quan du lịch trên đèo Cả.

Để tăng thêm tính lãng mạn cách mạng cho những người tình nguyện ở lại Hà Nôi chiến đấu chống Pháp, ông tác giả đưa ra nhân vật Hiền, nữ sinh năm thứ nhất thành chung, là người yêu của Nhật Tân, một anh tự vệ thành luôn bày tỏ lòng căm thù giặc Pháp.  Cô này đã đưa bố mẹ đi tản cư, ra tới bến sông, cô quăng cả xe đạp lẫn các bậc sinh thành để trốn về Hà Nội. Giữa khi phố xá hỗn loạn, xung quanh đầy hòn tên mũi đạn, cô nữ sinh này bỏ bố mẹ bơ vơ quay lại Hà Nội làm gì vậy ?

“ Đứng trên sập, Hiền đang soi vào một cái gương lớn. Hiền là một cô gái mới lớn, mặt bàu bàu hơi to so với khổ người tầm thước… Chị mặc chiếc áo nhung đỏ, quần xa tanh là, chân đi hài con bướm vàng rung rinh. Đầu Hiền vấn một chiếc khăn nhung lam, cổ đeo kiềng vàng trơn. Chung quanh Hiền treo lủng lẳng chiếc áo nhung lam, chiếc măng tô màu tím sẫm và các áo len hoa mùa hoa dâu, màu vàng, màu đỏ….”

Trời đất đang loạn lạc, cô Hiền trốn tản cư quay về nhà tưởng làm chuyện gì ghê gớm hoá ra để mặc … bộ đồ cưới mà nếu chiến tranh không xảy ra chỉ một tuần lễ nữa thôi cô sẽ mặc nó lên xe hoa. Vừa lúc đó anh chồng sắp cưới là Nhật Tân ghé đến. Chẳng hiểu sao một con người  trí thức tiểu tư sản Hà Nội như anh mà lại hỏi vợ sắp cưới đang mặc đồ cô dâu một câu lãng xẹt:

“Hiền nghĩ thế nào mà lại thắng bộ cưới vào thế ? Buồn hay vui?”

Thật đúng giọng một anh nhà báo qua đường, không mảy may mang một chút tâm tình của người trong cuộc, hạnh phúc đã nằm trong tầm tay vậy mà chiến tranh làm tuột mất. Rồi anh an ủi người yêu theo cái cách “cán bộ làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng”:

“Nếu chiến tranh không xảy ra thì chúng mình cưới. Nếu xảy ra thì chúng mình đợi sau chiến tranh. Lo gì ?”

Thế rồi lẽ ra trong khung cảnh đầy phập phồng của nỗi chết đang rình sẵn, trong căn nhà giưã khu phố vắng vẻ, đôi tình nhân phải ghì chặt nhau, che chở cho nhau, và đốt cháy nhau trong ngọn lửa của tình yêu trước lúc…tận thế. Đằng này không, ông nhà văn không mảy may cho hai con tim rung động và thổn thức, ngược lại ông chỉ cho hai cái miệng bàn chuyện…chính trị. Nàng thì thổn thức:

“Không có gì quý bằng tự do anh nhỉ. Em không thể nào quên được những ngày Quốc Khánh vừa qua, bày tiệc ra đường ăn uống. Em không thể nào quên được những ngày biểu tình hồi cách mạng, đoàn nữ sinh chúng em có hàng nghìn, đều để tóc thề, mặc toàn trắng, xinh lắm, đi đến đâu người ta hoan hô đến đấy…”

Còn chàng thì cao giọng:

“Đúng rồi. Đồng bào miền Nam khao khát ngoài này lắm mà họ gọi là đất tự do. Anh kể cho Hiền nghe cái hồi vỡ mặt trận ở Ninh Hoà, quân Pháp kéo đến…”

Rồi cứ thế chàng thao thao bất tuyệt về tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân ta khiến cuộc gặp gỡ giữa hai kẻ đang yêu trong khung cảnh đầy bi tráng biến thành một cuộc “bày tỏ lập trường yêu nước” giữa hai con người đang căm thù giặc Pháp đến quên cả… yêu. Những trang viết thế này bộc lộ chất “tuyên huấn” trong ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng đậm đặc gấp nhiều lần chất “nhà văn” mà ông ta được mệnh danh và trên hết, nó phơi bày một tài năng văn học kém cỏi.

Cái anh chàng Nhật Tân này đối với “vợ sắp cưới” còn “chính trị” huống hồ với người ngoài. Và đây là dịp anh thể hiện lòng nhiệt huyết yêu nước và căm thù giặc:

“Trước cửa nhà hát Tố Như, một toán người kéo đi, ùn ùn, lộn xộn. Người  xách vali, người đeo đẫy, người gồng gánh, phần lớn là những anh em lao động….”

Giữac lúc nước sôi lửa bỏng, là thanh niên phải ở lại sống chết với thủ đô chứ, sao lại kéo nhau đi tản cư ? Lập tức Nhật Tân đứng ra hò hét:

“Thanh niên phải sống chết với thủ đô. Các anh đi đâu? Các anh không biết bỏ đi là hèn à ? Trở về ngay. Tôi bảo…”

Người mũ xanh giơ tay lên :

“Chính phủ không hề ép buộc ai ở lại. Anh là gì mà giữ được chúng tôi ?”

“ Tôi là gì ấy à? Tôi chỉ nhân danh là một thanh niên Hà Nội, tôi không cho các anh về…”

Và thế là chàng tự vệ khăng khăng bắt mọi người quay lui.

Đám tự vệ tản cư  bộc bạch :

“ Nhưng chúng tôi có được như các anh đâu. Không có cái gì vào miệng thì không ai nói cứng được. Chúng tôi không có hạt cơm nào vào bụng từ hôm qua rồi.”

Chàng tự vệ Nhật Tân quát tháo:

“Sắp đánh nhau với Pháp mà các anh còn nói chuyện cơm áo à? … Các anh lại sợ phản động nó bảo tự vệ đi làm bia đỡ đạn cho Việt Minh chứ gì ?”

“ Anh không được nói láo.”

“ Một lần nữa tôi bảo các anh về. Nếu không tôi sẽ…”

Người thanh niên mũ xanh quăng cái va li xuống đất, tay đưa mũ cho người khác:

“ Anh sẽ làm gì ? Khai trừ chúng tôi chắc ?”

Nhật Tân thét:

“Khai trừ à ? Không, khai trừ một tự vệ không phải bằng một lời tuyên bố. Khai trừ tự vệ bằng súng đạn….”

…Anh rút khẩu súng lục giơ lên trời”…

Ghê chưa, giặc Pháp chưa thấy đâu, chưa chi chàng chiến sĩ tự vệ đã bộc lộ cái tính sắt máu ra với đồng đội rồi. Chẳng hiểu ngoài đời có chàng tự vệ nào như chàng Nhật Tân này không, chỉ thấy cái căn bệnh thích “nói quá”, khuếch đại tính cách nhân vật làm giảm đi rất nhiều tính chân thật của tác phẩm.

“Sống mãi với Thủ đô” được Nguyễn Huy Tưởng viết vào năm 1958, thời điểm này đang là thời của căn bệnh “vót nhọn tính cách nhân vật” của các nhà văn Hà Nội – tước đi mọi suy tư, tước đi mọi vật vã cá nhân, tước đi mọi biểu hiện bản năng, mọi tính người – để tập trung duy nhất vào một tính cách: “yêu nước và căm thù giặc” mà đôi khi hoặc không có hoặc chỉ ẩn khuất trong từng mỗi người.

Trong cái tiểu đội tự vệ mà Nguyễn Huy Tưởng dụng công đưa ra, gồm tới 8 – 9 con người rất khác nhau về đủ mọi phương diện. Trước hết là tiểu đội trưởng Tu, “anh phu khuân vác ở Cột đồng hồ, một người trạc bốn mươi tuổi, hai vai rộng và chắc như lực  điền, da mặt dày lên vì sự vất vả và tính thật thà…”. Chẳng hiểu anh phu khuân vác này bỏ mặc bố mẹ, vợ con ở đâu mà chẳng thấy lo lắng gì chỉ thấy nói chính trị chẳng khác gì cán bộ Việt Minh với một chú bé đang đòi ở lại với tự vệ: “Vào tự vệ là cầm bằng cái chết trong tay. Các anh lớn phải ở lại. Em còn nhỏ ở lại làm gì? Con anh bằng tuổi em, anh cũng phải cho nó đi tản cư với mẹ nó…”..

Người thứ hai là Mộng Xuân, “anh kép cải lương , khoảng mười bảy mười tám, người ẻo lả, mặt trắng bệu, tóc mai dài, ăn mặc chải chuốt một cách lẳng lơ…”. Tính cách có vẻ “bóng” (bisexual) vậy nhưng lại nói chính trị rất hùng hồn, mùi mẫn:

“Xin các huynh cho đệ ghi tên đã. Lần này chúng ta ở lại là sống chết với thủ đô thật, dù phải da ngựa bọc thây, thịt nát xương tan cũng không lùi bước. Trước đây ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra . Các huynh hiểu cho, như thế là không được. Các huynh đến là mừng rồi  …”

Người thứ ba là Long đen “bộ răng vàng của anh rít chặt, cái mặt choắt đen thui, trước làm nghề nặc nô, sau làm yêu Nhà máy nước đá. Hồi cách mạng anh ta lấy cắp súng của Tàu trắng bán cho Cục Quân giới. Gần đây, anh đã báo cho công an bắt được ổ in bạc giả và làm giấy cải tà quy chính.” . Do xuất thân lưu manh, có thành tích bất hảo nên Long đen tuy đã được nhận vào tiểu đội tự vệ nhưng chưa được tin cậy hẳn. Bởi vậy cả tiểu đội đều được phát giấy chứng minh thư, chỉ riêng Long đen là chưa được. Anh chàng tức quá, kêu lên:

“Các anh còn đòi Long đen cái gì nữa? Bao giờ mới hết nghi cái thằng Long đen chó má này? Chả nhẽ tôi lại chờ để bị bắt. Không đâu, tôi không để cho ai bắt tôi như một đứa lưu manh nữa. Tôi không đến nỗi là không biết nghĩ đâu các anh ạ…”

Bàn tay Long vả vào má đôm đốp…”

Vậy là lòng yêu nước trong Long đen đã nổi lên làm anh cụt cả máu giang hồ hảo hớn tự rủa xả mình khi chưa gây được lòng tin nơi cách mạng.

Người thứ tư là Sởn “trạc ngót ba mươi tuổi, mặt vuông, cằm bạnh, thớ thịt hai bên quai hàm luôn luôn đụng đậy như đang nhai phải cái gì. Anh như không biết rét, chỉ phong phanh một bộ quần áo nâu, cổ quàng một cái khăn mặt bông còn mới…” . Cũng như những người khác, Sởn không mảy may lo lắng gì về gia đình bản thân ngoài lo…đánh giặc.

Người thứ năm là Loan – chàng học sinh tiểu tư sản đặc sệt “trí tưởng tượng đưa anh từ cuộc đời còn thơm tho mùi sách vở tới những trận chiến đấu ngổn ngang xác giặc và chính anh có thể chết dưới đống gạch ngói của phố xá điêu tàn…”. Bây giờ Loan sống trong tiểu đội tự vệ làm chân vẽ bản đồ. “ Mơ mộng gì nữa khi bầu trời Tổ quốc không còn là bình minh của hương sắc mà đục ngầu những hình thù tối đen của mũ đỏ và thổ phỉ… Anh  gắn mình vào cuộc sống chung quanh. Anh cố rập khuôn theo nguyên bản, sợ sai một tý thì ảnh hưởng đến những kế hoạch  quân sự sau này…”.

Vậy là cái bước đầu tiên của một anh học sinh tiểu tư sản khi tham gia cách mạng là phải “từ bỏ mình” để hoà mình vào quần chúng:

“Loan cảm động nhìn mọi người đang đứng sát lại. Những thân hình còn mảnh dẻ  tương phản với những cái vóc nặng nề, cục mịch, những đầu bóng mượt với những mớ tóc rối. Những thư sinh mặt trắng mới từ bỏ mái trường họp với những người phu, người thợ chỉ có hai bàn tay trắng…”

“Những thư sinh mặt trắng này” rồi đây sẽ phải “rập theo khuôn của nguyên bản” là mấy anh thợ anh phu này đây. Một quá trình “tự cải tạo” không mấy dễ dàng và đầy khổ ải nhưng lại  được  ông nhà văn nói tới một cách vui vẻ và đầy nhiệt thành.

Người thứ sáu là Lai, “một đứa trẻ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, mặc một cái quần cộc, một cái áo sơ mi người lớn bằng kaki vàng, lùng bùng sau cái áo sợi đan màu đỏ kệch. Một tay nó cầm con dao, một tay xách một caí hòm nhỏ. Tóc nó dài đến mái tai, ngả nghiêng như lúc bị bão” . Chú bé này từa tựa như  nhân vật Gavơrốt  trên chiến hào Paris trong truyện “Những người khốn khổ” của Victor Hugo. Chú khăng khăng đòi ở lại để …đánh Tây:

“Cháu đã đi tản cư với u. U cháu chẳng buôn bán gì được. Cháu nói với u cháu lại cho cháu ra Hà Nội. U cháu cho cháu một đồng bạc. Cháu đi qua chợ, mua được con dao này…”

Vậy là bao nhiêu tiền mẹ cho, chú bé Lai dốc hết cả vào việc … mua dao để giết Tây. Yêu nước ghê gớm vậy đó. Rồi khi bị tiểu đội tựï vệ từ chối không cho gia nhập, chú Lai phẫn uất:

“Ở đây cũng không nhận cháu ư? Xin vào bộ đội, các anh ấy cũng không nhận, các anh ấy chỉ nhận con nhà giàu, chúng nó có quần áo, chúng nó biết hát. Nghèo thì Tây cũng khinh mà ta cũng khinh…”

Chú bé Lai đã nói vậy, tất nhiên tiểu đội tự vệ phải nhận chú chứ còn biết nói sao ?

Người thứ bảy không được tác giả đặt tên chỉ cho nói chuyện chính trị:

“Nó gây ra vụ Yên Ninh thì là nó chết. Bộ đội  kéo về đông lắm rồi, đông hơn hôm qua, đông hơn hôm kia. Trong thành chúng nó lục  đục, lính Đức nổi loạn, nó giết nhau chí choé, giải phóng Thủ đô đến nơi rồi…”

Một anh khác cũng hăng hái:

Mình chết “Cụ Hoàng Diệu thì hơi bi. Cụ chết nhưng thằng Pháp nó vẫn hạ được thành Thăng Long. nhưng không để mất Hà Nội…”

“ Cốt nêu cái tinh thần cảm tử thôi. Lính nhà Trần thích chữ Sát Thát thì mình viết lời thề sống chết…”

Cứ như vậy ông nhà văn cho dù đang miêu tả nhiều nhân vật với nhiều xuất thân khác nhau nhưng thực ra ông chỉ xây dựng có một nhân vật: đó là lòng yêu nước  một chiều – yêu cầu hàng đầu của Đảng đối với công việc sáng tác của các nhà văn trong vòng tay của Đảng.

Trong cộng đồng người Hà Nội, không hiểu sao những thương gia,  doanh nhân giàu có luôn luôn bị các nhà văn cộng sản coi là xấu xa, tiến thân bằng lừa gạt phản trắc. Ông Cự Lâm là một thương gia có xuất thân như thế:

“ Một người chú họ làm ở Hồng Kông mua được nhiều hàng quý như gương, thảm, giường Hồng Kông, len, dạ, tơ lụa, đồng hồ, bút máy… hàng tháng gửi về nhờ ông giữ hộ. Có hàng chục năm như vậy. Nhưng ông Cự Lâm đã bội tín, chiếm hẳn những của ấy làm của mình, và từ một người buôn chè nhỏ, ông cứ phất mãi lên. Ông chú tiếc của phát điên lên rồi tự tử. Ông có một ông bạn người Tàu. Ông này muốn tậu một cái đồn điền ở Bắc Ninh, nhưng người ngoại quốc không có quyền mua đất ở Việt Nam. Ông Cự Lâm nhận đứng tên thay, bên trong đồn điền vẫn là của người bạn. Giấy má làm xong, ông Cự Lâm lật mặt nghiễm nhiên làm chủ cái đồn điền. Những mánh khoé làm ăn tương tự nhiều không kể hết…”

Ông Cự Lâm đã xấu vậy, bà vợ ông cũng chẳng tốt đẹp gì:

“Bà trông bệ vệ nhưng đần độn. Bà chỉ là một cái máy đẻ. Việc kinh doanh của chồng thì bà không biết gì, việc trông nom trong nhà, từ tiêu pha trong nhà đến bếp nước giỗ chạp thì đều do bà giáo (em chồng) mà bà ta cũng rất sợ”.

Bà em gái ông Cự Lâm thì:

“Sau khi bà được triều đình Huế ban tặng bốn chữ: “tiết hạnh khả phong” mà cả họ được thơm lây thì bà lại càng nghiêm khắc với các cháu, nhất là cháu gái. Lan không được ra khỏi nhà, không được đọc sách báo, thấy đàn ông phải cúi mặt xuống không được nhìn. Bà goá chống từ năm mười tám tuổi và ở vậy giúp anh, nuôi cháu. Bà thường lấy cái gương trinh tiết của mình ra mà răn chúng nó. Trước đây Lan vẫn sợ bà, đùng một cái, mới gần đây thôi, Lan có ý định cưỡng lại lời bà. Bà lo cho Lan thì ít mà lo cho quyền lực của bà bị thương tổn thì nhiều…”

Thế hệ bố mẹ đã như vậy, tất nhiên con cái phải khác, phải giác ngộ cách mạng thì mới phù hợp với chiều hướng xã hội mới chứù – bởi vậy nhà văn đã cho cậu con trai tên Phúc và hai cô con gái tên Lan và Hương khăng khăng ở lại Hà Nội xin vào tự vệ. Hành động cách mạng đầu tiên của Phúc là “chơi” bố một vố choáng váng đúng vào ngày giỗ bà nội:

“Đêm hôm qua trong lúc ông Cự Lâm đang nằm nghe bên ngoài người nhà làm cỗ, lòng ngổn ngang vì tình hình, não ruột vì khu phố thúc giục tản cư thì một tin đưa tới làm cho ông rụng rời đổ đốt: Phúc đã tự tiện đến nhà Quảng Xương  Long bắt người gác phải mở cửa và cùng một số đông tự vệ xông vào kho. Người gác giữ lại thì Phúc chửi mắng thậm tệ, đành phải báo bằng dây nói cho ông biết.”

Hoá ra tự vệ đang rất cần cuốc xẻng để đào hầm hào, ông Cự Lâm có cả một kho nhưng không chịu ủng hộ nên con trai ông kéo tự vệ tới phá kho:

“Cửa hiệu lúc ấy như đang bị bọn kẻ cướp đánh phá. Phúc đứng ở ngoài vỉa hè hò hét giục mọi người. Cự Lâm nghe rõ tiếng Phúc oang oang: Cần bao nhiêu cứ lấy. Càng nhiều càng tốt. Ông cụ đã muốn keo bẩn thì cho keo bẩn một thể…”

Đã dắt tự vệ về phá kho của bố lại còn chửi bố là đồ keo bẩn, ông con trai làm ông bố nổi giận:

“Bên hè, hai xe bò chất đầy những dụng cụ mới lấy ở trong kho ra. Một đám đông xúm quanh giơ tay tua tủa, người xin cái xẻng, người xin cái cuốc. Phúc nói: “Trong nhà còn nhiều, vào mà lấy chỗ này để đem đi.” Cự Lâm đã tới gần thét: “Phúc mày làm cái trò gì thế ?” Phúc giật mình quay lại thì bố đã giơ ba toong quật ngang lưng anh. Phúc nhanh nhẹn tránh được, cuống quít hô: “Đẩy xe đi! Đẩy xe đi !” . Và Phúc chạy biến vào đám đông. Cự Lâm đuổi theo, giơ ba toong vụt lia lịa, miệng chửi: “Mẹ cha thằng vô phúc. Mày đánh bạn với những quân du thủ du thực à ? Đứa nào xui mày? Tao không bố con gì với mày nữa. Mày đứng lại không mày chết!”. Một tốp thanh niên giữ rịt lấy Cự Lâm để cho anh em đẩy cái xe bò đi. Chỉ trong nháy mắt đám đông đã giải tán…”

Phúc thoát ly gia đình đi tự vệ còn ngoái cổ lại chửi bố. Anh thổ lộ với đồng đội:

“Các anh nên hiểu cho tôi. Tôi ngồi trên đống của thật đấy, nhưng tôi không muốn nối cái nghiệp làm giàu của cậu tôi. Cái dịp ấy bây giờ đã đến với tôi…” 

Cái dịp ấy chính là “Anh đã vào làm giáo viên hội truyền bá mặc dầu nhà cấm vì sợ mật thám theo dõi. Đã có lúc anh đóng cửa buồng lại, đứng trước gương tập diễn thuyết để sau này ra làm việc xã hội …”

Vợ chưa cưới của Phúc là Oanh, một cô gái làm cán bộ phụ nữ. Trong một cuộc hội nghị quân sự của Liên khu 1 Hà Nội, khi nghe Hồng Lưu, tiểu đoàn trưởng vệ quốc quân đứng lên nói xấu người Hà Nội:

“Thì Hà Nội là đất của tiểu tư sản, bấp bênh và quay quắt, cách mạng lên thì nó ào ào đi, cách mạng xuống thì nó quay lưng lại, Pháp cũng theo, Nhật cũng theo, Tàu trắng cũng theo, Việt Minh cũng theo và nếu Mỹ vào thì cũng đi với Mỹ…”

Hậm hực vì Hồng Lưu  động đến người Hà Nội, Oanh nói thêm, cái bàn tay rất thon xoè ra trước ngực:

“ Tôi là người Hà Nội, tôi cũng bấp bênh ư ?”

Liên khu 1 là phân vùng đông bắc Hà Nội, đông và bắc giáp cầu Long Biên, sông Hồng, đê Yên Phụ, tây giáp thành Hà Nội hiện Pháp đóng, nam giáp khu Hoàn Kiếm là nơi có các cơ quan Chính phủ, Quốc hội. Hội nghị quân sự của Liên khu 1 vào trước đêm nổ súng toàn quốc kháng chiến gồm phần lớn các nhân vật quan trọng cấp liên khu và cấp thành phố bàn về tác chiến, mà lạ thay, trong suốt  hơn 30 trang diễn tả cuộc hội nghị này, tác giả phần lớn chỉ cho các nhân vật hô khẩu hiệu suông:

“Đồng chí Bí thư nói:

“ Vì quyền lợi của dân tộc, Hồ Chủ tịch và Hội đồng Chính phủ vừa họp đã bác bỏ tối hậu thư láo xược và hạ lệnh cho toàn thể quân đội và nhân dân sẵn sàng. Nếu nó liều lĩnh gây ra cuộc chiến tranh xâm lược thì tiếng súng kháng chiến của chúng ta sẽ lập tức nổ vào đầu chúng nó… Dân tộc Việt Nam chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hoà bình. Nhưng với cái chí khí quật cường mà tổ tiên ta đã hun đúc cho những anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, dân tộc chúng ta có một tinh thần bất khả diệt. …Chúng ta phải làm những người tiên phong đi giải phóng dân tộc chúng ta. Trong ngày vừa qua, nhiều đảng phái đối lập công kích ta, hòng làm giảm uy tín của Đảng ta. Họ đòi chia quyền lãnh đạo, thậm chí đòi Đảng ta bỏ quyền lãnh đạo. Nhưng trong lúc Tổ quốc lâm nguy này thì họ ở đâu? Người  đứng mũi chịu sào trung thành với dân tộc vẫn chỉ có Đảng ta. Trong cuộc kháng chiến này, một lần nữa, Đảng ta lại làm cái sứ mạng là  lái con thuyền Tổ quốc vượt qua bão táp phong ba tới bờ thắng lợi …”

Hoá ra trong lúc nước sôi lửa bỏng, Đảng ta vẫn lo tới việc giữ độc quyền lãnh đạo, và suy cho cùng, chính cuộc kháng chiến chống Pháp đã giúp Đảng loại bỏ các đảng đối lập một cách dễ dàng.

“Ông Khu phó phát biểu:

“Nói tóm lại, nếu các đồng chí có một quyết tâm thật là sắt đá, nếu các đồng chí dựa được vào lòng yêu nước của bộ đội, của nhân dân, nếu các đồng chí biết phát huy những điều kiện thuận lợi đặc biệt của Liên khu 1 thì các đồng chí nhất định chiến đấu lâu dài trong thành phố được. Chính phủ, Hồ Chủ tịch giao cho các đồng chí một nhiệm vụ rất vinh quang. Các đồng chí cố lên. Dù có phải hy sinh thế nào cũng phải cầm cự tới cùng…”

“Ông Hồng Lưu, tiểu đoàn trưởng:

“Chúng tôi, những người Vệ quốc quân, chúng tôi quyết không để cho Pháp thực hiện cái ý đồ của chúng. Chúng tôi chỉ xin nhắc lại một đề nghị là cho chúng tôi thêm người và võ khí. Hiện nay không nói là về võ khí, phi cơ, đại bác, xe tăng, Pháp nó trội hơn ta hẳn, chỉ riêng về số lượng người, chúng ta cũng rất kém. Súng trường của ta không đầy một nghìn rưởi khẩu súng mà phần lớn là cũ. Vệ quốc đoàn và tự vệ chiến đấu thì không được bốn tiểu đoàn…Ý kiến tôi đã rõ. Nghĩa là chúng tôi sẽ hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi xin thề như thế trước chân dung Hồ Chủ tịch, trước mặt đồng chí Bí thư, đồng chí Khu phó và tất cả các đồng chí…”

 

Ngày nay, khi đã có một “độ lùi” nhất định để nhìn lại các sự kiện lịch sử, người ta lấy làm lạ rằng trong những ngày đầu rơi máu chảy, biết bao nhiêu bà già con trẻ lạc lõng bơ vơ, biết bao gia đình tan nát như những tổ chim trước bão….Một xã hội đang vỡ tung trong loạn lạc, bi kịch về thân phận con người đang bị đẩy tới đỉnh điểm. Một khoảnh khắc lịch sử tràn đầy máu và nước mắt. Vậy mà thật đáng ngạc nhiên, ngòi bút của ông nhà văn không đi sâu khai thác những nỗi bất hạnh trong chiến tranh, ngược lại dùng rất nhiều trang giấy để ghi lại những lời phát biểu “đao to búa lớn” của mấy ông cán bộ Đảng, khi súng sắp nổ trên toàn thành phố rồi vẫn còn cà kê ngồi khai hội. Ông Bí thư lại nói nữa:

“Chúng ta muốn hoà bình. Đến phút cuối cùng Hồ Chủ tịch vẫn cố gắng duy trì hoà bình. Nhưng chúng nó cố tình cướp nước ta lần nữa . Chúng đã khai chiến ở Hải Phòng, chúng đã khai chiến ở ngõ Yên Ninh rồi. Chúng ta muốn hoà bình, nhưng không phải hoà bình trong nô lệ. Chúng ta quyết đứng lên chiến đấu, bảo vệ quyền lợi cho dân tộc, đập tan sự nguy hại cho nền dân chủ và hoà bình …”

Người ta thật không hiểu vì sao phần lớn các ông cán bộ Đảng cứ thích nói dài, nói dai, nói chính trị, quanh đi quẩn lại có vài điều mà người nghe dường như đã “biết rồi, khổ lắm…”. Rất có thể trong khi nói, khoái  cảm “đứng trên đầu thiên hạ” tràn trề trong người làm cán bộ khó mà dứt lời cho được.

Sau khi nhắc đến cụ Hồ rồi, ông Bí thư thấy cần phải nhắc tới tên lãnh tụ khác:

“Như  đồng chí Trường Chinh đã nói, chúng ta sẽ làm cho giặc đói không có ăn, khát không có uống, có chân như què, có mắt như mù, có miệng như câm. Các đồng chí hãy nêu cao tinh thần dũng cảm của người cộng sản quyết chiến quyết thắng…”

Cứ như thế ông Bí thư độc chiếm diễn đàn cho tới khi cuộc họp kết thúc sau suốt một ngày một đêm “hô khẩu hiệu suông”.

Lúc này ngoài cổng trụ sở đã có một cô gái chờ sẵn suốt trong lúc các cán bộ đang họp. Đó là cô Quyên, nữ sinh Hà Nội, đang muốn “nằm gai nếm mật, ở mặt trận thì phải là màn sương gối đất  chứ có đâu lại đi làm một công việc văn phòng chẳng có gì là khó nhọc, ro ró ở một xó nhà…”.  Cô nữ sinh ôm ấp hình ảnh người chồng tương lai phải là “đã  bị đầy ra Côn Đảo, đã phải vượt  tù trốn về khu giải phóng, và lúc này phải gánh vác những công việc lớn lao”  để cô có thể “hy sinh tất cả cho anh để bù lại trăm nghìn gian khổ mà anh đã phải chịu trong bao nhiêu năm…”.

Với nhân vật Quyên, Nguyễn Huy Tưởng đã báo hiệu sự xuất hiện của thế hệ thứ nhất của hồng vệ binh Việt Nam theo sau những tên tuổi như Lý Tự Trọng và sau này là Võ Thị Sáu.

Vậy trong suốt một ngày một đêm cô Quyên chờ ai vậy?

Đó là “chị Oanh”, nguyên nữ sinh trường Đồng Khánh, “đã dẫn đầu các bạn học đi dự lễ kỷ niệm Gian Đa và Hai bà Trưng do trường Anbe Xarô và trường Bưởi cùng làm chung. …Thế rồi Oanh bị đuổi. Trước ngày Nhật đảo chính, Oanh tham gia cách mạng. Sau đảo chính Oanh càng hoạt động tích cực. Bị Nhật lùng bắt, Oanh phải thoát ly gia đình ra ngoại ô. Trước ngày cách mạng, Oanh là một trong những người  phụ nữ cứu quốc đứng trên gác Nhà hát thành phố, diễn thuyết hô hào ủng hộ Việt Minh trước đám biểu tình ngày 17 tháng 8….”

Vậy Oanh là một nữ cán bộ khá to, được dự Hội nghị quân sự Liên khu 1 lại được ngồi xe ô tô về Bắc Bộ Phủ. Gặp được Quyên, cô kéo Quyên tiện thể ngồi ô tô luôn. Khi xe chạy qua Trường nữ học Đồng Khánh vốn là trường cũ của Quyên,

“cô bỗng vịn lên vai Oanh, kêu:

“Chị ơi, trường Đồng Khánh của chúng ta đây này…”

Oanh nói:

“Đừng gọi cái tên thằng vua ấy nữa. Bây giờ là Quận uỷ hội…”

“Không hiểu sao, em nhớ trường cũ qua, chị ơi…”

Vậy là cô Quyên “lính mới” vẫn còn một chút nhớ nhung, xao xuyến về “mái trường xưa”, còn cô cán bộ Oanh, phản xạ đã sặc mùi chính trị, nghe nhắc tên trường đã giãy nảy vì nó là tên “cái thằng vua” bất chấp nó là “mái trường xưa đầy kỷ niệm”… Có thể tiên đoán được rằng, sau này “khi cách mạng thành công” loại nữ cán bộ như Oanh sẽ trở thành những Bộ trưởng, Thứ trưởng và với cung cách suy nghĩ  “lấy chính trị làm thống soái”, như vậy, có thể thấy trước họ sẽ đưa đất nước đi tới đâu.

Lần trước, cô Oanh đã giao cho cô Quyên làm nhân viên mật mã, cô không chịu vì không thích làm ở văn phòng, cô thích ra chiến đấu ngoài chiến trường kìa. Lần này Oanh lại giao cho Quyên nhiệm vụ khác, “oách” hơn nhiều:

“Quyên này, em sẽ đóng vai thư ký cho một nhà trí thức mới ở Pháp về, một bác sĩ rất giỏi, rất có tiếng nhưng cũng khó hiểu lắm. Bề ngoài là thư ký, nhưng bề trong là theo dõi, có gì thì báo cho chị biết…”

Thế là bỗng chốc cô nữ sinh Đồng Khánh trở thành… nữ tình báo viên, nhận nhiệm vụ làm thư ký moi tin của một tay bác sĩ ở nước ngoài về. Đây chính là sự “phân công” tuỳ tiện của ông nhà văn, chứ thực tế, vai trò điệp báo nằm vùng như nhiệm vụ Oanh giao cho Quyên phải là một nữ đảng viên trung kiên, đã kinh qua công tác và được đào tạo công phu chứ đâu có “ngơ ngác con nai vàng” như Quyên; khác nào đưa gà con vào miệng cáo? vả lại cô Oanh đang là cán bộ phụ vận, đùng cái đã trở thành tổ trưởng tổ tình báo từ lúc nào mà nhanh quá thế?

Một yếu nhân cũng vừa ra khỏi cuộc họp quân sự – Quốc Vinh, Chủ tịch Liên khu 1. Vừa nãy trong hội nghị khi nghe tiểu đoàn trưởng vệ quốc quân Hồng Lưu nói xấu dân Hà Nội, ông cũng đã phản bác rất hùng hồn:

“…đại đa số nhân dân Hà Nội , tôi khẳng định là tốt. Đấy là những tiểu thương, tiểu chủ, những viên chức những trí thức, những anh chị em nghèo, nhất là nam nữ học sinh và anh chị em thợ thuyền, công cũng như tư. Phải kể cả những anh chị em phu phen, những anh xích lô, hàng phở, những em nhỏ đánh giày, bán báo…. Ngay cả tư sản cũng có một số người hăng hái vào tự vệ, đặc biệt là con cái họ thì rất nhiều người có lòng yêu nước ví dụ như con trai Cự Lâm…”

Rồi ông làm một bản “báo cáo thành tích” của quân và dân thủ đô dài dằng dặc gần hai trang in.  Hoá ra mấy ông cán bộ chóp bu  rất giống nhau: từ lời ăn tiếng nói cho đến suy nghĩ, cảm xúc… Nếu như cho rằng nhân vật tiểu thuyết là sự tổng hoà giữa tính cách cá lẻ với đặc tính chung của gốc gác xuất thân thì tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô”  hầu như không có… nhân vật hoặc chính xác hơn  chúng không có cá tính, mà ngược lại, chúng giống nhau như đúc một khuôn. Trong con người của mỗi nhân vật chỉ thấy duy nhất đang hoạt động là cái “siêu ngã”– tức là cái con người xã hội, con người công dân, yêu nước, căm thù giặc Pháp; ngoài ra hoàn toàn không thấy dấu vết của sự hoạt động bản năng, nguồn gốc của mọi vượt trội, gây mất trật tự trong bầy đàn.

Ta thấy câu nói  sau đây đặt vào mồm ai cũng được – ông Bí thư, ông Khu phó, ông Chủ tịch Liên khu 1, ông Tiểu đoàn trưởng bảo vệ Bắc Bộ phủ:

“Tất cả những con người ấy, bị áp bức, bị bóc lột, bị đày đoạ về tinh thần và vật chất, dưới thời nô lệ, đã thấy rõ cách mạng đem lại quyền lợi cho mình. Từ ngày tiền khởi nghĩa đến giờ họ đã được  giáo dục, được động viên, được tổ chức, nên họ có một lòng căm thù đối với giặc, một lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chính phủ vào Hồ Chủ tịch…”

Quả thật cái đoạn thoại này giống y như xã luận báo Đảng chứ chẳng phải ngôn ngữ của nhân vật. Giá trị văn chương của cuốn tiểu thuyết do vậy mà chẳng được  bao nhiêu…

 

Từ hội nghị ra, ông Liên khu trưởng Liên khu 1 ngồi ô tô về cơ quan. Ông nhìn thấy “đầu phố hàng Đào, phía Cầu Gỗ, sừng sững đỏ tươi, hai chữ CẢM TỬ kẻ từ bao giờ, chiếm cả cái bề dài bề rộng của bức tường vôi nham nhở của một dãy quán bán sách đã dọn đi. Hai chữ “cảm tử” như đôi mắt nhỏ máu lừ lừ nhìn Quốc Vinh. Dưới là một hàng chữ đen: “Chúng tôi, những thanh niên Hà Nội nguyện hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Thề sống chết với Thủ đô!”. Phố hàng Gai, một biểu ngữ nữa kẻ bằng chữ đỏ: “Mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài !” 

Thực ra nếu cần ca ngợi tinh thần “sống chết bảo vệ thủ đô” của thanh niên Hà Nội thì khỏi cần “đi sâu” vào những khẩu hiệu vốn là thứ thật khó đưa vào tiểu thuyết – một thể loại văn học cần tình tiết sống động nhiều hơn là những từ ngữ chính luận khô khan. Tiếc thay sau khi đã dẫn tràng giang đại hải những phát biểu đậm đặc chính trị của các cấp cán bộ Đảng, ông nhà văn vừa cho độc giả thoát ra khỏi cái nặng nề u ám của không khí cuộc họp thì lại ấn cổ người ta vào ngay thế giới của những khẩu hiệu khô khan cho dù nó nói lên tinh thần quyết tử của thanh niên Hà Nội lúc đó.

Vậy nhưng người ta thừa biết có phải tất cả bọn họ đều quyết tử cả đâu, một bộ phận không nhỏ thay vì nghĩ tới số phận của Hà Nội, của cách mạng họ lo tới bản thân và gia đình trước đã. Đó là quyền được sống, được tồn tại chính đáng của con người. Vậy nhưng cuộc đào thoát khỏi tử thần trong cái cối xay thịt Hà Nội vào những ngày mới bùng nổ chiến tranh của hàng ngàn hàng vạn người dân không được  ông nhà văn nhắc tới hoặc giả có nhắc tới thì cũng với giọng khinh miệt coi họ là những kẻ đào nhiệm hèn nhát.

Vậy rõ ràng ông tác giả tiểu thuyết đã chọn một chỗ đứng trong chiến hào chỉ để nhìn địch ta giết nhau và nhất định không chịu xê dịch đi đâu để thấy biết bao cảnh đời khổ ải trong cõi nhân sinh mà máu và nước mắt đã chảy thành sông thành suối.

Trở lại với anh giáo Trần Văn, người đưa mẹ ra ga để về quê, gặp lại và coi khinh người yêu cũ khi cô cũng hoà vào dòng người chạy loạn. Hoá ra chính anh và mấy người học trò của anh đã viết những khẩu hiệu nêu trên ở phố hàng Đào. Một anh giáo trường tư  chưa bao giờ “tham gia cách mạng” ấy thế mà tâm tình lúc này còn rào rạt tinh thần cách mạng hơn cả mấy anh cán bộ Việt Minh:

“Anh thấy rực rực trong người cái vinh quang của một dân tộc hiền hậu mà tự cường, cần cù mà tế nhị…Một dân tộc mà lòng yêu hoà bình cũng lớn như lòng yêu các dân tộc khác nhưng luôn luôn bị chà đạp, bị khinh miệt, bị chia rẽ, bị tàn phá và khi bắt đầu được thấy loé cái ánh sáng của tương lai thì kẻ ngoài lại đến để tiếp tục vùi dập… Cách mạng Việt Minh mới ra đời trong lụt lội, trong đói khổ và trong kiệt quệ, Hà Nội chưa hồi sinh đã lại chứng kiến đạo quân Tàu phù của Tiêu Văn, Lư Hán, nhiễu nhương, bòn vét, giết người và ỉa bậy…. Bóng ma thanh thiên bạch nhật vừa mờ đi thì đạo quân thiết giáp kéo cờ tam tài lại xuất hiện trên các đường phố Hà Nội …”

Còn dài, còn miên man như vậy nữa khiến tâm trạng một anh giáo viên tiểu học người Hà Nội chẳng khác gì tâm trạng một chính uỷ lão luyện của Đảng quanh năm chỉ lo việc Đảng việc nước. Người ta càng lấy làm lạ tại sao các nhân vật trong “Sống mãi với thủ đô” của Nguyễn Huy Tưởng giống nhau đến thế? Chúng cứ như những hạt ngô trong cùng một bắp vậy. Viết lách thế này mà cũng mang danh “tác phẩm lớn” trong văn học Việt Nam thì kể cũng lạ!

Tuyệt nhiên không nghĩ tới mẹ già đang sống ra sao nơi tản cư, anh giáo Trần Văn cho đầu óc phiêu diêu tới miền tưởng tượng:

“Trần Văn nhìn cái ụ bao cát …anh sẽ nấp ở đấy mà ném lựu đạn vào quân Pháp tiến vào… Khi xe tăng giặc đến thì mình phải nhảy ra mà ném chai ét xăng cơrếp rồi quăng lựu đạn. Dũng cảm hơn, phải lao vào xe, cầm một khúc gỗ đút vào xích xe cho nó bật ra khỏi bánh. Anh vốn chậm chạp, anh không hiểu con người phải nhanh đến như thế nào mới làm được ngần ấy việc trong nháy mắt…”

Sau suốt nửa cuốn tiểu thuyết toàn mô tả các nhân vật sục sôi tinh thần cách mạng, ông nhà văn chợt thấy bức tranh của mình không khéo chỉ được vẽ bằng thuần một mầu đỏ, ông vội đưa ra một nhân vật “phản diện” để phá thế đơn điệu của tác phẩm. Đó là Tân – bạn của Nhật Tân, anh chàng tự vệ đòi bắn những thanh niên tản cư, anh chàng nói chuyện chính trị cả với vợ chưa cưới khi chia tay.

“Nhật Tân với Tân là đôi bạn chí thiết từ nhỏ. Nhà giàu, Tân thường giúp đỡ Nhật Tân. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Nhật Tân vào Việt Minh, Tân không đồng ý nhưng vẫn giúp…”

Vào lúc gần nổ ra chiến tranh, Nhật Tân tới nhà Tân để lôi kéo bạn vào tự vệ. Anh nói:

“Có thể đêm nay nó đánh mình…”

“Trời ơi, trời ơi, trời  ơi ! Mày doạ một thằng trẻ con đấy à, Nhật Tân?”

Rồi Tân vứt cái cốc xuống sàn vỡ tan, huỵch toẹt:

“Tao đi với Việt Minh thì rồi cũng thế này thôi. Nghĩa là đánh xong Pháp thì đến lượt chúng tao họ làm cỏ, của cải họ đem chia. Đấy, rồi mày xem, có đúng không ?”

Nhật Tân cãi bừa:

“Còn có cụ Hồ…”

“Có thể ông ấy là một anh hùng, một ông hiền, một ông thánh nữa. Nhưng cái lối sống khắc khổ, nhạt nhẽo và gò bó, ăn không cần ngon, mặc không cần đẹp, hùng hục làm việc, mày nghĩ xem, còn có cái thú gì ?”

Nhật Tân nhìn Tân, con mắt nhỏ chứa cả giận và tuyệt vọng:

“Mày thích cái lối sống của mày, tao thích cái lối sống đời mới. Mày muốn sống thế nào? Như Nguyễn Hải Thần nhà mày bói toán hút thuốc phiện ư? Như Nguyễn Tường Tam thụt két của Chính phủ ư? Như Trịnh Thục Oanh đưa gái cho Saten ư? cái thời đại nhơ nhuốc ấy đã qua rồi. Thế mày đứng đâu. Phía Pháp à? tao rùng mình cho mày đấy…”

Thế là hai người bạn thân đứng về hai phe đối nghịch nhau, ngược nhau về quan niệm sống, về quan điểm chính trị. Hoá ra cái nhân vật “phản diện” mà Nguyễn Huy Tưởng đưa ra, cũng chỉ là “con người chính trị”  giống y nhân vật chính diện, duy chỉ khác dấu nhau mà thôi. Nói cách khác, dù là nhân vật cách mạng hay phản cách mạng, chúng đều được xây dựng từ những sơ đồ chính trị-xã hội theo nhãn quan cộng sản mà Đảng buộc mọi nhà văn trong xã hội đều phải tuân theo.

Để cho nhân vật phản diện có vẻ có “tính người”, Nguyễn Huy Tưởng đã cho Tân làm một việc độc đáo. Vào ngày hoà bình cuối cùng của Hà Nội, Tân ra đầu phố mời 4 người đi qua đường, cho dù không quen biết, vào nhà để dự một bữa tiệc cuối cùng. Tân mở đầu bữa tiệc:

“Chúng ta không cần biết tên tuổi, nghề nghiệp, gia đình của nhau làm gì. Cần gì phải biết anh đang làm tự vệ hay sắp tản cư, anh là Việt Minh hay là Quốc dân đảng, anh có vợ hay chưa bị bó buộc, anh đang lo tình hình hay nhởn nhơ với nó, anh lạc quan hay bi quan, anh muốn sống hay muốn chết? tất cả những cái đó không cần thiết …chỉ cần biết rằng lúc này – Tân xem đồng hồ – là năm giờ mười lăm, có năm người Hà Nội còn sống, rất hay, toàn con số năm cả, năm người cùng họp với nhau, cùng ăn với nhau, ngay trên đất Hà Nội… trong khi ở phố Tràng Tiền bên trái, đường Trần Hưng Đạo bên phải, xe Pháp đang chạy ầm ầm, trong khi ở ngoài kia rất lạnh mà trong này còn ấm cũng. Để rồi chúng ta chia tay nhau như là đã không biết nhau…”

Một trò chơi thật lãng mạn, thật độc đáo của người Hà Nội trước lúc cơn bão lửa nổ ra. Chỉ có điều 5 con người tập trung ở mâm rượu này, nếu do chủ nhà ra đầu phố chọn tuỳ hứng thì ông tác giả lại phải định hướng cho cuộc chọn lựa. Như vậy hiển nhiên 5 con người đó không được gồm toàn những người “phản động” như Tân, hoặc những người cầu an sắp tản cư khỏi Hà Nội. Quả nhiên Nguyễn Huy Tường đã cho Tân chọn đúng ngay …anh giáo Trần Văn, một người đầu óc lúc nào cũng phiêu diêu trong giấc mơ làm liệt sĩ cách mạng. Rút cuộc lúc vào tiệc, Trần Văn đã giơ cao cốc:

“Đúng rồi. Chúng ta nâng cốc vì Tổ quốc, vì cụ Hồ. Vận mạng  của dân tộc chúng ta quyết định trong những ngày sắp tới, có khi ngay trong đêm nay. Sống chết vì Tổ quốc, sống chết vì cụ Hồ, linh hồn của dân tộc…”

Lẽ ra bữa tiệc 5 người này sẽ rất hay, sẽ đầy những tâm tình của người Hà Nội khi quê hương sắp chìm trong máu lửa. Tiếc thay, ông nhà văn đã “chính trị hoá” nó khiến nó trở nên giả tạo, sống sượng đến  khó chịu…

 

Giữa lúc Hà Nội sắp chìm trong bom đạn, dân tình nháo nhác tản cư, đời sống rất khó khăn, thiếu thốn, nhưng ông Tân chủ nhà cũng bày tiệc rất rôm rả: “nem chua, chim quay, vịt hầm, thang, thịt gà luộc, cơm trắng, tráng miệng cà phê…”  và mời mọc rất hào phóng:

“Tất cả những chai rượu đây là để thết các bạn. Nút đã mở sẵn. Các bạn cứ tự ý rót, hoàn toàn tự do. Uống bằng hết. Không uống hết thì ta đổ đi. Bởi vì ngày mai, và có thể ngay lúc này, không có gì là chắc cả. Các món ăn, cũng gầy còm thôi, tôi sẽ đem hết lên đây, các bạn muốn ăn gì trước, muốn ăn gì sau, tuỳ hết. Bữa tiệc cuối cùng không có gì là gò bó…”

Khách dự tiệc ngoài anh chỉ huy tự vệ Trần Văn ra còn có Vũ Minh, một học sinh ở phố Nhà Thờ. Anh chàng này chẳng biết nói gì, chỉ thốt lên :

“Quái dị…”

Người  khách bất đắc dĩ thứ hai là nhạc sĩ Thu Phong “trong lúc buồn rầu nhớ tiệm và dàn nhạc, anh thuê xe lần xuống Bạch Mai để hát cô đầu giải muộn và dối già …anh đang đói nên Tân mời là vào ngay…”

Người khách thứ ba là Ben-la, một chủ hiệu ảnh “đi mua được mấy chục cuốn phim dự trữ  để tính chuyện về quê làm ăn …Vẻ mặt nhạt nhẽo, tầm thường không có cá tính. Anh đeo cái máy Kodak một bên, một bên là cái túi da đựng phim, sẵn sàng có gì là chạy…”

Tất cả bốn người, người nào cũng như tôn trọng đề nghị của ông chủ nhà kỳ dị, không ai tự giới thiệu với ai. Không ai muốn phá cái không khí bí mật, gần như hoang đường ấy. Bởi thế Tân, chủ nhà phải khuyến khích mọi người nói:

“Các bạn cứ hoàn toàn tự do. Ta nói chuyện đi, chuyện trời đất, chuyện  trai gái, chuyện dâm dục, chuyện chính trị, tha hồ. Miễn là tiệc của năm người Hà Nội không chết …”

Người cao giọng, cà kê dê ngỗng dạy dỗ thiên hạ lại vẫn là anh cán bộ Trần Văn.  Anh trách cứ  thanh niên Hà Nội không có lý tưởng “thường chỉ đuổi theo cái ăn cái mặc, lao tâm khổ tứ vì cái ăn cái mặc, cả cuộc đời rút lại chỉ là cái ăn cái mặc”.  Anh trách“cô tân thời ăn mặc sang trọng, ngồi trên xe tay nhà gọng đồng sáng loáng đi chợ Đồng Xuân”  sống làm gì ? Anh chê “anh công tử một sơ mi hàng ngày chải đầu bóng mượt, thắng bộ quần áo bảnh bao đi diện phố, lậu vé xinê rồi buổi tối về, chờ cho mọi người đi ngủ, mới cởi áo đem giặt, phơi phóng rồi nằm ngủ cởi trần, kết thúc một ngày vô lý  …”  Anh cán bộ tự vệ này phàn nàn: “Tôi đã từng trông thấy những người Hà Nội suốt đời chỉ có một mục đích là cái bát phở buổi sáng, họ đem hành tây, họ đem trứng đi, đến hàng phở quen, họ đánh dấu bát để đưa chan, họ hỏi hồ tiêu, họ đòi ít ớt, họ xin ít nước béo, họ vùi đầu vào bát phở một cách thô tục, xấu xí, rồi họ ra đi một cách tự mãn …Con người mà thế thì buồn lắm….Phải khác …”

Nhân danh một người Hà Nội lại mạt sát văn hoá ẩm thực của Hà Nội, ông nhà văn tưởng rằng hạ thấp cách sống của người Hà Nội sẽ tôn vinh được “văn hoá cách mạng” vốn có cốt lõi là “diệt trừ sự hưởng thụ”, ngờ đâu, khi “cơn bão táp” cách mạng đi qua, cái còn lại với thời gian lại chính là những giá trị văn hoá. Nếu còn sống đến ngày nay, chắc chắn ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sẽ đục bỏ những lời lẽ xúc phạm nghệ thuật ăn phở của người Hà Nội thô bạo đến thế.

Vậy ông nhà văn đòi hỏi người Hà Nội phải sống khác ra sao? Ông nói:

“Ngoài cái ăn cái mặc ra, còn phải suy nghĩ làm sao có thể giúp ích cho đời, phải có cái gì đó để lại, nó đánh dấu sự tồn tại của một con người, nó nâng con người lên trên cái ăn cái mặc. Đấy là lý tưởng, đấy là lý do sự có mặt của mình trên trái đất…”

Lời lẽ của anh cán bộ tự vệ lúc đã ngà ngà say thật đúng là văn…bia. Chỉ buồn một điều là cả cái thế hệ “tự vệ thủ đô” ngày ấy  đã để lại được cái gì có ích cho đời? Đưa cả dân tộc vào khói lửa 9 năm chinh chiến chống Pháp, 10 năm chống Mỹ, đói nghèo vẫn hoàn đói nghèo và chính họ lao vào cuộc đấu đá giành giật “cái ăn cái mặc” dẫn tới quốc nạn tham nhũng ngày nay.

Có lẽ do ngán ngẩm bài “diễn văn” sặc mùi chính trị của ông cán bộ tự vệ, ông thợ ảnh rút lui trước, còn cậu học sinh ở phố  nhà thờ Vũ Minh bỗng dưng cũng nổi máu “yêng hùng” đứng dậy hùng hồn:

“Rất đồng ý, nâng cốc vì Tổ quốc, vì cụ Hồ. Tôi cũng rất phục cụ Hồ, hai tháng trước đây, tôi đã làm hàng rào danh dự đón ông Cụ ở Pháp về. Nhưng xin nói thêm: nâng cốc vì thắng lợi  nữa…”

Tuy thế, trong lời lẽ của anh học trò này còn có đôi chút “lãng mạn”:

“Nếu có đánh nhau thì những người đã dự bữa tiệc này không ai chết… và ông chủ sẽ có thể một ngày nào đó lại cho chúng ta ăn một bữa cơm no say như thế này…”

Ông nhạc sĩ sau lúc đã qua cơn đói rồi, cũng bắt chước ông cán bộ tự vệ, đứng dậy hùng hồn:

“Tôi nói thật bởi vì trong cái đời giang hồ của tôi, hết bar này tới bar khác, Pháp đánh cũng có, Nhật chửi cũng có, Tàu bợp tai cũng có, trong nam ngoài bắc, cả cái đất của Thống chế họ Tưởng nữa, ở đâu cũng thế thôi, chưa bao giờ tôi được sống cái phút say sưa như thế này …”

Bữa tiệc gặp gỡ ngẫu hứng của 5 văn nghệ sĩ trí thức Hà Nội là như thế, họ toàn nói những câu nặng mùi chính trị, bày tỏ lòng căm thù giặc Pháp, lòng tôn kính cụ Hồ, bài bác tính cách hưởng thụ của người Hà Nội. Khi tưởng tượng ra bữa tiệc đầy ý nghĩa này, ông nhà văn thiếu hẳn cái tình cảm xót xa của người Hà Nội khi Thăng Long sắp trở thành chiến địa, thiếu hẳn những phản ứng tâm lý, những hành vi rất riêng, đầy tính lãng mạn của người Hà Nội – nhất là văn nghệ sĩ trí thức – trong giờ phút hiểm nghèo này, thiếu hẳn những dự cảm tương lai của Hà Nội khi bước vào cuộc chiến đẫm máu. Với một tài năng văn học thực sự thì nhất định người đọc sẽ được thưởng thức một “bữa tiệc cuối cùng” của 5 người Hà Nội lãng mạn hơn, “con người” hơn là những đối thoại dài dòng, chính trị một chiều này.

Không khí chuẩn bị chiến đấu mỗi lúc khẩn trương khắp thành phố và lạ thay càng tới gần giờ G đó, người Hà Nội càng có vẻ … hăng hái giác ngộ cách mạng, thấm nhuần tư tưởng “quốc tế vô sản”  mácxít-lêninnít. Anh học sinh đặc sệt tiểu tư sản tên Loan, đang ở trong tiểu đội tự về làm chân vẽ bản đồ khi nhìn thấy người mẹ Tàu cho quà con nít Việt Nam đang theo mẹ tản cư cũng làm ngay một thuyết lý chính trị với cô Quyên – nữ sinh tham gia cách mạng:

“ …Chị có thấy không, người mẹ Tàu chẳng khác gì mẹ Việt Nam. Các bà mẹ đều là hiện thân của sự hy sinh lặng lẽ…”

Vậy là đã có sự phân biệt giữa bọn Tàu ô mang cờ thiên thanh bạch nhật sang cướp bóc nước ta với người Trung Quốc chân chính như “người mẹ tàu” cho quà con nít Việt Nam kia. Cô Quyên vốn được chị Oanh, cán bộ phụ nữ giao nhiệm vụ làm thư ký cho ông bác sĩ Pháp mới về để “khám phá ra một tổ chức phá hoại”. Ai ngờ, vừa gặp , ông bác sĩ – tên Pha, đã xổ ra một tràng “lập trường cách mạng” làm cô Quyên cứ tròn xoe cả mắt:

“Tôi đã sống những ngày kháng chiến Pháp ở Paris. Không có những việc đục tường, đào hố như ta. Thanh niên Pháp cũng không có những lời thề đanh thép: “Sống chết với Thủ đô” như thanh niên ta. Làm gì họ có người mẹ sắm súng cho con  ở lại, chồng cho vợ về quê để vào tự vệ, em bé nằn nì xin vào bộ đội. Cả một dân tộc đứng lên. Quây chung quanh một chính phủ, thà hy sinh tất cả chứ không chịu trở về đời nô lệ, mais c’est inoui, c’est  magnifique …”

Một ông bác sĩ Việt kiều vừa ở Pháp trở về mà ăn nói không thua gì một ông cán bộ Việt Minh ở trong nước. Điều này càng chứng tỏ Nguyễn Huy Tưởng tuy đưa ra nhiều loại nhân vật trong tiểu thuyết mà rốt cuộc người ta chỉ thấy có một mà thôi: người công dân yêu nước, yêu cụ Hồ, giác ngộ cách mạng  và nói năng như… cán bộ.

 

 

Tất nhiên để xây dựng nhân vật ông bác sĩ mới từ Paris trở về  theo lời kêu gọi của cụ Hồ, ông nhà văn phải cho nhân vật nói năng có tí ti tiếng tây không thì lẫn với các cán bộ :

“Tôi rất vui được sống ở Hà Nội những ngày tuyệt đẹp như thế này. Những cái phố rất Việt Nam, đi đâu về mới càng thấy quý, những tên phố rất nên thơ, những con người rất sympathiques, tout pour une noble cause, như cô chẳng hạn, gentile mademoiselle… C’est de quoi nous enorgueillir…”

Rồi ông bác sĩ Việt kiều còn khuyên cả mấy anh cán bộ … “làm thơ” nữa:

“Phải làm thơ chứ. Kháng chiến Pháp buồn lắm. Paris vẫn yên như không, chẳng có gì là kháng chiến cả. Thế mà những nhà thơ của nó làm như đẹp lắm, to lắm. Cả thế giới biết. Huống chi là ta …”

Tính cách ông này giống như một tay bẻm mép, một gã ba hoa, nhiều hơn là một ông đốc tờ… Ấy thế mà những lời “vàng ngọc” của ông bác sĩ ở Pháp về lại làm rúng động tâm can anh tự vệ tên Loan, vốn là học sinh đặc sệt tiểu tư sản, “từ hôm đến đây, Loan đã cho rằng chẳng bao giờ mình còn làm thơ nữa. Cuộc đời sẽ chỉ còn chém giết, là đổ nát, là căm thù, là chết chóc, chẳng có gì là đẹp”; anh còn cực đoan hơn nữa khi  cho rằng:  “Mơ mộng gì nữa khi bầu trời Tổ quốc không còn là bình minh của hương sắc mà đục ngầu những hình thù tối đen của mũ đỏ và thổ phỉ…”.  Những tưởng anh chàng Loan này từ nay sẽ trở thành một chiến sĩ không tim, chỉ biết nhắm mắt cầm súng bắn quân thù, “may thay”, được nghe ông bác sĩ Việt kiều “diễn thuyết”, Loan bỗng tỉnh ngộ “bàng hoàng như người tìm thấy một vật quý tưởng như đã mất…”.

Mặc dầu sự “giác ngộ” của Loan là đáng ngờ, nhưng ông nhà văn đã quên khuấy mất “phận sự” nhà văn cách mạng của mình, bởi lẽ vai trò “đả thông tư tưởng” cho cán bộ, nhân dân là thuộc về người của Đảng chứ không phải ông bác sĩ Việt kiều. Ông này mặc dầu đã về nước tham gia cách mạng theo lời kêu gọi của cụ Hồ nhưng vẫn thuộc “phần tử đáng ngờ”, bởi thế cô cán bộ Oanh phải cử hẳn cô nữ sinh Quyên luôn đi cặp kè để giám sát coi ông bác sĩ có “ tổ chức phá hoại” nào không? Ở đây ông nhà văn vô tình đã phản ánh cái bản tính luôn luôn nghi kỵ của Đảng, luôn luôn ngờ vực và không tin bất kỳ ai ngay cả khi  họ chỉ mang tới những điều tốt đẹp cho xã hội.

Quả nhiên cô giám sát viên tên Quyên “đưa mắt nhìn Loan như để bảo bạn không nên tin cái ông bác sĩ. Xui người ta làm thơ là để quên việc chuẩn bị đánh. Đi lang thang ngoài phố là để nghe ngóng tình tình hình. Khen mình giỏi để không ai nghi ngờ nữa…”.

Đọc tới đây người đọc phải thắc mắc không hiểu Đảng giáo dục cách nào mà cô nữ sinh Hà Nội tên Quyên này có được “tính Đảng” nhanh quá vậy? Cô nhìn nhận mọi sự ở trên đời qua đôi mắt “cảnh giác” của công an. Người ta khuyên nên làm thơ cô lại cho rằng đó là xui dại để quên chiến đấu, người ta đi lang thang phố cô lại nghi rằng đi nghe ngóng tình hình. Cô lại còn tự hào “giấu thế nào được  Quyên. Sắp đánh nhau rồi còn đi mua táo, kháng chiến gì những người này. Lại vẫn còn nói tiếng Pháp, chỉ riêng việc này cũng chứng tỏ rằng lão này nặng tình cảm với địch. Mới ở Pháp về yêu nước làm sao được?”. Than ôi, có một “nữ giám sát viên” như cô nữ sinh Quyên này người ta thấy rõ ông bác sĩ Pha khó mà sống sót được với cách mạng và chẳng bao lâu nữa chắc chắn ông sẽ phải hối hận đã nghe theo cụ Hồ về nước tham gia kháng chiến. Rất may cuốn “Sống mãi với Thủ đô” mãi tới năm 1960 mới xuất bản chứ nếu nó ra đời từ năm 1946 là năm cụ Hồ kêu gọi trí thức Việt Nam ở Pháp về nước đóng góp cho cách mạng thì sau khi đọc tiểu thuyết của ông Nguyễn Huy Tưởng chắc bà con Việt kiều sẽ “bỏ của chạy lấy người” về Pháp.

Càng gần tới giờ G, giờ nổ súng đánh Pháp, người bận rộn nhất trong hàng ngũ cách mạng phải kể tới ông Liên khu trưởng Liên khu 1 Quốc Vinh. Tất nhiên, ông phải là cộng sản gộc với đầy đủ phẩm chất của một cán bộ lãnh đạo Đảng. Ông nguyên là một thợ nhà in rồi đi làm cách mạng. “Hồi bí mật, có nhiều lúc khó khăn, anh bị đói khát, bị truy nã, nhưng việc tuyên truyền, vận động quần chúng thẳng một chiều anh thấy còn dễ. Ngày bị bắt, vấn đề chỉ là cắn răng chịu đựng để không phản bội…”. Vậy là ở cái cương vị Liên khu trưởng Liên khu 1, Nguyễn Huy Tưởng đã đặt một nhân vật đúng khuôn mẫu lý thuyết  của cán bộ cộng sản: xuất thân công nhân, đi làm cách mạng, bị địch bắt, bị tra tấn vẫn giữ khí tiết cách mạng. Thế nhưng ở cái ghế lãnh đạo cao nhất một liên khu quan trọng nhất ở Hà Nội,  cái ông xuất thân thợ in ấy, rồi biết xoay xở ra sao?

“Nhưng bây giờ thì công việc như rừng. Anh chỉ nghĩ chung chung mấy điểm, nắm vững lực lượng đồng chí, dựa vào quần chúng, bồi dưỡng tinh thần kháng chiến quyết tâm diệt địch đến cùng…”.

Vậy tức là “đồng chí” Liên khu trưởng chẳng cần tới kế hoạch tác chiến, nắm vững tình hình địch ta, chẳng cần suy nghĩ gì về chiến lược chiến thuật, chỉ cần nắm chung chung, nắm các đồng chí và dựa vào quần chúng giáo dục họ tinh thần quyết chiến là… hoàn thành nhiệm vụ. Ta hãy xem ông cán bộ lãnh đạo giải quyết sự vụ hàng ngày:

“Đồng chí thư ký đọc từng việc ghi trong sổ :

− Tuyên truyền đang bí bài hát. Đề nghị giải quyết…

− Có Diệt phát xít, Bao chiến sĩ anh hùng, còn gì nữa…

− Không đủ ạ…

− Thì có cậu gì mới đến đấy, bảo làm thơ thêm vào…

− Các chị đề nghị hát Suối mơ, Đàn chim Việt…

− Đánh nhau mà lại Suối mơ …”

Rõ đúng tính cách một anh cán bộ cộng sản, tình hình đang dầu sôi lửa bỏng mà vẫn không quên “lãnh đạo toàn diện”, cấm đoán cả đến một bài hát. Vậy là ngay khi Đảng vừa cầm quyền, những nhạc phẩm bị quy là “nhạc vàng” đã bị bỏ tù dài hạn mãi gần nửa thế kỷ sau vào thời đổi mới lần lượt mới được tha bổng.

Vào trước ngày toàn quốc kháng chiến, người ta cứ tưởng sau lời hiệu triệu của ông Hồ Chí Minh muôn người sẽ kề vai sát cánh, chung một chiến hào mà đánh giặc Pháp. Sự thực nếu đi sâu vào cơ cấu quyền lực ta sẽ thấy đó chỉ là cái vỏ ngoài, thực chất những người cộng sản nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối, thiết lập một ranh giới “trong Đảng – ngoài Đảng” trong mọi công việc. Bởi thế ông Uỷ viên quân sự Văn Việt là người ngoài Đảng nên “mù tịt” chẳng biết sẽ đánh đấm ra sao.

“Văn Việt đẩy cửa chạy vào nét mặt hầm hầm. Cái ve áo bludông tím của Văn Việt đã đính cái huy hiệu Hồ Chủ tịch mà anh chỉ đeo khi có việc quan trọng hay trong ngày lễ. Văn Việt hỏi:

“Ông Quốc Vinh, tôi muốn ông nói rõ cho tôi.”

“Cái gì thế, tôi tưởng anh đang bố trí ở hãng Sauvage.

Quốc Vinh bắt tay Văn Việt có điều không hài lòng. Văn Việt nói:

− Chúng ta chủ động đánh nó hay nó đánh ta? Tối nay, mình hay là nó? Tôi là uỷ viên quân sự, tôi phải biết chứ ?”

Ông uỷ viên quân sự nhầm lẫn ở chỗ dù ông có là uỷ viên trời, nhưng không phải là đảng viên cộng sản thì ông chỉ được biết những gì Đảng cho phép thôi. Bởi thế nghe ông Uỷ viên quân sự cằn nhằn, ông cán bộ cộng sản vẫn điềm nhiên:

“Tất cả những điều anh muốn biết rồi anh sẽ biết. Không có điều gì giấu anh cả. Kế hoạch sáng ngày đã bàn rồi, anh cứ làm như thế…”

Vậy là ông uỷ viên quân sự không phải đảng viên chỉ được phép biết đến đó, cứ theo đó mà làm đừng có đòi cái quyền được cung cấp thông tin như của cán bộ đảng viên khác.

“Văn Việt cau mặt, nhún vai, tay đập mạnh vào bao súng. Lời nghẹn trong cổ:

“Được. Các ông bảo làm gì, tôi làm cái ấy. Tôi hoàn toàn chịu quyền chỉ huy của các ông kia mà. Cái kiếp một thằng quần chúng vĩnh viễn là như thế thôi. Nó có được  biết cái  gì đâu ?”

Thật đúng là một ví dụ cụ thể và sinh động về việc Đảng đã chiếm đoạt quyền lực của nhân dân từ rất sớm, từ ngay trong những ngày cần thiết phải huy động toàn dân tộc đương đầu với ngoại xâm. “Cái kiếp một thằng quần chúng vĩnh viễn” càng về sau càng thê thảm hơn: những giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, Bùi Huy Đáp, Lương Định Của, luật sư Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Hữu Thọ… những trí thức “ngoài Đảng” chắc sẽ thấm thía hơn ai hết khi đọc đoạn này trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng.

 

Thế rồi cái giờ G., giờ tự vệ Hà Nội nổ súng vào quân đội Pháp cũng đã tới. Vào cái giờ phút long trọng này, ông Liên khu trưởng Quốc Vinh ngồi với chị cán bộ Oanh và nói vào máy điện thoại:

“Pháo đài Láng chuẩn bị pháo lệnh kháng chiến…”

Trong giờ phút tối quan trọng, cần tập trung mọi suy nghĩ vào việc chỉ huy chiến đấu thì ông Liên khu trưởng lại …suy nghĩ về bác Hồ:

“Quốc Vinh cầm lấy cái ảnh Hồ Chủ tịch đặt trên bàn rồi lại để xuống. Anh chưa được gần người đồng chí già ấy bao giờ. Trừ cái ngày mồng hai tháng chín ấy… Đứng dưới lễ đài để bảo vệ, anh ngước lên, thấy lẫn với nhiều người, lẫn với cờ và ô, nhà cách mạng lăn lộn khắp năm châu trở về, đen sạm vì nắng mưa và sốt rét, vừa ho vừa đọc bản Tuyên ngôn độc  lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Lúc này đây, lãnh tụ đang trông ngóng chờ anh. …”

Trong số các nhà văn của Đảng, Nguyễn Huy Tưởng có lẽ chiếm giải quán quân về “nâng bi lãnh tụ”, chỉ sau Tố Hữu và ngang ngửa với Chế Lan Viên. Sau khi “cơn yêu lãnh tụ” đã qua đi, ông chỉ huy mới nhớ tới các đồng đội:

“Trong cái vắng lặng của một cuộc đời đang thay đổi lớn, anh cảm thấy đất ở dưới chân anh chuyển động. Anh như đang trông thấy, nghe thấy đồng chí và đồng bào tiến sát tới cầu Long Biên, Cửa Đông, Cửa Bắc; Vi Dân đã chôn bom ở Cửa Nam; những ống hơi của của Sinh sắp nổ trong lò than của xưởng giặc trong thành; phủ Bắc bộ đã sẵn sàng, các ô cầu Rền, ô Chợ Dừa, ô Cầu Giấy đang vít chúng nó lại, trường bay Gia Lâm sắp bốc cháy; xa xa cầu Đuống sắp được chiếm lại, xa nữa Bắc Ninh; xa nữa Huế, Sài gòn đang hướng cả về thủ đô…”

Bỏ qua cái “lãng mạn không đúng lúc” của ông chỉ huy quân sự lẽ ra lúc này phải tập trung hết tinh lực để đón nhận tin tức chiến trường báo về và có ứng phó kịp thời, bỏ qua cái tính cách hết sức vô lý đó, người đọc có thể thấy trên khắp mặt trận toàn Hà Nội chỉ thấy toàn tự vệ với nhân dân mà không thấy bóng dáng “bộ đội chính quy”  ở đâu ngoài mấy anh lính người Thượng canh gác Bắc Bộ phủ. Như vậy đủ thấy cho mãi tới ngày 19 tháng 12 năm 1946, lực lượng vũ trang của Đảng vẫn còn quá mỏng, bởi thế cuộc giành chính quyền tháng 8 năm 1945 chủ yếu là do nhân dân đứng lên trong sự im lặng “bất can thiệp” của cả chục ngàn lính Nhật vẫn còn nguyên vũ khí. Từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, những người cộng sản dường như đã “tiếp quản” chính quyền từ tay nhân dân mà không đổ một giọt máu và ngay lập tức họ biến nó thành của riêng và dồn hết tâm lực thiết lập chế độ độc quyền lãnh đạo, toàn trị cho tới tận ngày nay.

Kim đồng hồ vẫn nhích tới giờ G và ông chỉ huy quân sự vẫn miên man trong những suy nghĩ “trừu tượng” tận  đẩu tận đâu:

“Trên con đường tiến lên đạp đổ mọi ngai vàng và xiềng xích, dẫn đến công lý và hạnh phúc, anh đã trông thấy nhiều máu phải chảy ra, nhiều đầu phải rụng xuống. Giờ đã đến mà sự chém giết sẽ dữ dội hơn nữa, đồng bào anh sẽ trải qua những tang tóc lớn lao. Nhưng cách mạng cứ phải đi  và cuốn theo nó hàng vạn, hàng triệu con người trong đau thương và trong tin tưởng, đứng dậy, lớn lên…”

Vậy người cộng sản đã biết trước cái giá phải trả của dân tộc cho cuộc cách mạng mà họ tiến hành. Dẫu rằng “nhiều máu phải chảy ra, nhiều đầu phải rụng xuống”, mặc kệ, “cách mạng cứ phải đi” kéo theo hàng triệu người chết trong đau thương. Có vẻ coi cái chết  của nhân dân “nhẹ tựa lông hồng”, mạng sống của con người như con sâu cái kiến, nên những người cộng sản tuyệt nhiên không bao giờ nghĩ rằng liệu còn có con đường nào khác không phải đổ xương đổ máu mà vẫn giành được độc lập tự do cho dân tộc? Không, họ không bao giờ có ý nghĩ “phản loạn” thế. Họ coi hàng triệu người nông dân rồi đây sẽ ngã xuống chẳng có mấy ý nghĩa, cái cao hơn hết thảy là sự nghiệp của Đảng, là sự tận diệt các đảng phái, các nhóm đối lập chính trị để Đảng khư khư độc quyền lãnh đạo – đó mới là cái đích tối cao họ nhằm tới.

Và rồi “Phút cuối cùng. Và phút đầu tiên”.

Họ nín thở lắng nghe . Trong cái tĩnh mạc của thành phố bỗng có tiếng sành sạch, sành sạch, tiếp theo một tiếng nổ ùng oàng vang trời. Oanh nảy người, giữ lấy đồng chí ngồi bên, kêu :

“ Có lẽ rồi…”

Quốc Vinh đứng dậy nói to như để bù lại những ngày uất ức:

“ Tiêu diệt thực dân Pháp…”

… Họ ôm choàng lấy nhau trong bóng tối; giữa những tiếng reo ngoài phố khi đèn tắt, tiếng chân chạy ngoài đường  và tiếng chó sủa vang. Họ chuyền cho nhau sổ tay để ký dưới ánh sáng lay động của những ngọn nến…”

Thật không thể hiểu nổi tại sao vào giây phút thành phố bắt đầu vào cơn huỷ diệt, máu bắt đầu chảy, xác người bắt đầu chồng chất vậy mà các vị “cán bộ” này lại trao sổ  để ký lưu niệm cho nhau! Ba ông bà cộng sản có khi nào làm cái việc “tiểu tư sản dở hơi” này đâu, nó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của ông nhà văn để tăng thêm chất “tiểu thuyết” cho cuốn truyện vậy thôi.

Tuy nhiên từ giờ phút này, sau tiếng pháo lệnh của pháo đài Láng, tất cả những  người Hà Nội, người cách này, kẻ cách khác, nhưng tất cả đều  đã bước vào cuộc chiến tranh mà ít ai ngờ ràng nó kéo dài tới 9 năm nữa.

Trước tiên là Trần Văn – anh giáo trường tư, quên cả mẹ nơi tản cư mà mơ mộng: “Khi xe tăng giặc đến thì mình phải nhảy ra mà ném chai ét xăng  cơrếp rồi quăng lựu đạn. Dũng cảm hơn, phải lao vào xe, cầm một khúc gỗ đút vào xích xe cho nó bật ra khỏi bánh…”. Ấy thế mà khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổ ra, Trần Văn lại đang đi …hát cô đầu và ngủ dậy muộn. Thực ra sẽ có những trang tuyệt hay nếu ông nhà văn miêu tả cái cuộc hát cô đầu ấy vào lúc nổ ra tiếng súng toàn quốc kháng chiến. Nhưng ông nhà văn đã không làm chuyện đó, ông cho Trần Văn  tỉnh dậy và chạy thục mạng ra phố.  “Vừa nhảy xuống đường hàng Khay, anh vấp ngã, nằm lên một xác người, tay anh mó vào một khúc ruột lầy nhầy. Anh giật bắn người lên, rùng mình và nghẹn cổ…” Vậy là Trần Văn thay vì trở thành một dũng sĩ đánh bom ba càng thì lại trở thành một anh chạy trối chết trên đường phố Hà Nội để chứng kiến cuộc chiến đang diễn ra.

“Bóp hàng Trống đang đánh dữ, hình như có nhiều xe ùn lại. Nhà hát Lớn nghe ra cũng có tiếng súng. Anh chạy núp vào trong tháp Báo Thiên, theo cái bản năng tự vệ… Một đoàn xe tiến xuống Tràng Tiền, đèn pha của cái đi đầu chiếu một vệt sáng dài. Anh tự hỏi sao vây nó trong thành rồi mà xe nó vẫn lồng ra được ? Phủ Bắc Bộ đưa lại những tiếng liên thanh cục cục rõ mồn một, và những tiếng súng trường gióng một mà anh có cảm tưởng người ta ngắm kỹ lắm rồi mới bắn…”

Theo chân nhân vật Trần Văn, tác giả diễn tả cuộc chiến đấu ác liệt của người Hà Nội chống Pháp.

“Anh đi trên hè, phút lại lủi vào bờ, ôm lấy thân cây. Bên kia, trước cái bãi ô tô gần nhà bưu điện, lố nhố hai bóng người. Anh định thần thì thấy họ đang lúi húi mỗi người chặt một cây. Một đoàn xe Pháp chạy rầm rộ trên đường hàng Khay bắn lẹt đẹt sang….”

Cuộc chạy trốn của Trần Văn đưa anh tới Nhà máy điện – ở đây anh chứng kiến bi kịch não lòng của Trinh, người yêu cũ, bỏ anh đi lấy chồng giàu. Hình như cái sự “tham vàng phụ ngãi” gây cho tác giả  mối ác cảm ghê gớm lắm nên ông đã cho gia đình Trinh tan nát đứng vào lúc cả hai vợ chồng sắp lên máy bay đi Pháp.

“ Bao – chông Trinh đã lấy được vé máy bay để sáng mai cùng đi với vợ chồng viên Giám đốc sang Pháp. …Thế rồi nổ súng, điện tắt. Vợ chồng Trinh và vợ chồng viên Giám đốc ở trên gác chạy xuống hầm. Họ còn đứng trước thềm lúng túng trong bóng tối thì tên lính Pháp xồng xộc tới. Bao chỉ kịp thét Trinh ra hầm thì đã bị bắn gục ngay trên thềm….”

Vậy là tai hoạ đã giáng xuống, chỉ trong nháy mắt gia đình Trinh đã tan vỡ. Đúng lúc này, Trần Văn, người yêu cũ của Trinh đã xuất hiện như một định mệnh để giúp cô qua được những bất hạnh đang đổ ụp xuồng đầu…

 

 

Thấy Trần Văn ẵm giúp con mình, Trinh tưởng rằng “anh nghĩ về mối tình cũ” với cô nên mới sốt sắng vậy. Nhưng cô đã nhầm ,“đối với mối tình đầu, anh gần như đã nguội lạnh và cho đấy là một thắng lợi lớn của tình cảm…”. Đã xác định tình yêu theo kiểu “đánh trận” như vậy trách nào chàng chỉ huy tự vệ chẳng thấy “trước mặt, Trinh chỉ là một người cơ nhỡ, một nạn nhân của chiến tranh. Nhìn Trinh nhỏ bé trong bóng tối, lảo đảo vì mệt mỏi, khuỵu luôn, trật giày luôn, anh thấy ngậm ngùi thương hại”. Vậy chỉ còn thương hại thôi, tình yêu đã chết thật rồi, lòng anh chỉ còn nghĩ tới “anh em sắp gặp”, tức nghĩ tới cuộc chiến  đấu thôi. Thế rồi anh đưa Trinh và con cô tới nhà cụ Tĩnh Trai, “một tay thích chơi hoa, nhà ở giữa phố, chỉnh tề khăn xếp, cộp cộp giày ban đi ra. Mọi người đã lục tục vào hết. Cụ hỏi:

“Thế nào các đồng chí ?”

Nhật Tân nói:

“Chúng cháu vừa phá xong nhà máy đèn. Các nơi xong hết rồi…”

“Thế là mừng. Sau cái vụ Yên Ninh, cái vụ Đồng Xuân, tưởng là chết hết. May ra yên được. Tôi đang lo cho cái hoa quỳnh nhà tôi mười hai giờ đêm nay nở, không ai đến xem. Chè bánh sẵn cả. Mời các đồng chí chốc nữa vào chơi. Hoa quỳnh nở là hiếm, lại vào đúng đêm nay. Điềm lành mừng cụ Hồ. Tới cả cho vui nhé. Đúng giờ, chỉ mấy phút nó tàn thôi. Phải xem lúc nó đang nở mới đẹp…”

Người ta có thể đặt câu hỏi liệu giữa lúc đầu rơi máu chảy, bom đạn dày đặc như đêm mở đầu toàn quốc kháng chiến này, liệu có ai bầy tiệc để mời khách tới xem hoa quỳnh nở chăng?  Quả thực ông nhà văn đã quá đà trong mô tả cái “thong dong vào trận” của người Hà Nội làm người đọc khó mà tin nổi phải đặt dấu hỏi về tính xác thực của nó.

Ở nhà cụ Tĩnh Trai thật bất ngờ Trần Văn gặp lại đơn vị anh chỉ huy bị lạc sau đêm anh …đi hát cô đầu và ngủ quên. Mọi người reo lên quây Trần Văn vào giữa. “Người nào cũng có vẻ nai nịt như sắp đi đâu. Anh đứng tần ngần thấy mình như xa lạ. Xem ý thì không có anh ở nhà cũng không có gì lộn xộn lắm. Họ lại niềm nở, không lạnh lùng với anh như anh tưởng…Mộng Xuân rỉ tai anh :

“Đi đánh nhà Sauvage. Thôi, ta nói chuyện sau. Đi thôi, mười một giờ rồi. Các chị đã sửa soạn chờ liên hoan chúng ta thắng trận trở về. Lệnh phải tiêu diệt cho bằng được bọn lính Pháp ở đấy. Thu bằng được toàn bộ vũ khí…Khẩu súng và lựu đạn của anh, chú Lai giữ…”

Người ta phải thấy lạ rằng trong khi đơn vị nhận nhiệm vụ chiến đấu, viên chỉ huy bỏ cả súng đạn ở nhà để đi hát…cô đầu, lạc mất đơn vị, thế mà vẫn không sao, lúc vô tình gặp lại đơn vị anh ta vẫn chỉ huy chiến đấu như không có chuyện gì xảy ra. Vậy thì kỷ luật chiến trường ở đâu, sắp chiến đấu mà đào nhiệm chắc chắn sẽ phải ra toà án binh lĩnh án tù.

“ Trần Văn thắt dây súng lục, giắt hai quả lựu đạn của anh. Anh nghĩ sẽ không oán thán gì nếu anh được chết trong trận đánh này để chuộc lại cái hành động đáng tiếc của anh…”

Và lúc này, lẽ ra phải nắm lại  tình hình đơn vị để chỉ huy tác chiến, thật đáng ngạc nhiên, Trần Văn lại nhớ tới chuyện đâu đâu. Không phải cô người yêu cũ mà anh bỏ lại, cũng không phải cây hoa quỳnh của cụ Tĩnh Trai sắp nở mà là… “một câu thơ của Victor Huygo đến với anh. Những người đi chết cho Tổ quốc được quyền có quần chúng đến bên linh cữu mình khấn vái…”  Lại một áp đặt khiên cưỡng của ông nhà văn lên nhân vật. Cũng may, phút cuối cùng Trần Văn cũng còn nhớ tới người yêu cũ mà anh đang cưu mang, anh cũng chẳng giúp gì được ngoài một câu từ biệt :

“Tôi có nhiệm vụ phải đi ngay. Tôi sẽ nhờ ông cụ giữ nhà này để chị tạm nghỉ lại  đây đêm nay. Nếu tôi được  trở về tôi sẽ thu xếp sau…”

Chỉ thế thôi, chàng chỉ huy tự vệ bỏ lại cô người yêu cũ với đứa con nhỏ trên tay bơ vơ giữa rừng tên mũi đạn để đi … chiến đấu. Sáng hôm sau Trinh đành phải bế con cùng bà vú xách va li tìm về nhà chồng – nhà Cự Lâm. Khi về gần tới nơi, bà vú bị đạn bắn chết, “Trinh gục đầu vào cái bọc của con và lịm đi, không dám nhìn xác người vú và cũng không còn thiết gì đến xung quanh…”. Sau cùng nàng cũng ôm con lết được về tới nhà. Bố mẹ chồng đã đi tản cư, còn lại một lũ em đều là dân “lá ngọc cành vàng” từ bé chưa biết thế nào là gian khổ. Truước  hết là Lan, cô em chồng của Trinh.  Khi điện tắt, súng nổ “Lan nấp vào cái khe giữa thành bể cạn và bức tường ngăn với nhà bên cạnh. Cái khe đã có từ ngày Lan còn bé nhưng chưa bao giờ Lan vào đây và cũng chẳng để ý, cũng như chẳng  bao giờ Lan để ý tới việc buôn bán của bố mẹ, đến nhiều việc khác trong nhà. Lan chỉ có cảm giác là nó hôi và ẩm ướt lắm, nhưng Lan cứ lách vào, lách vào mãi vẫn không vào được. Ẩn đâu cũng không thấy chắc, nấp đâu cũng không thấy kín….”

Cô tiểu thư Hà Nội, lúc súng bắt đầu nổ, “một luồng chớp xanh lẹt. Có tiếng kêu: “Núp xuống”. Mặt Lan vập vào thành bể và anh kia ngã dúi vào người Lan, như người đi tàu bị giật xô ngã vào nhau. Bỗng anh ta sát lại, hai cánh tay ghì chặt lấy ngực Lan, xoay mặt Lan lại, và hôn Lan. Lan ú ớ trong bóng tối, giãy ra, bất lực, sợ hãi, đê mê trong những vuốt ve điên dại mà Lan vừa muốn chống lại vừa muốn cho kéo dài. Rồi bóng người đàn ông ấy bị đẩy đi, người ta tranh nhau tìm những chỗ núp tốt nhất, chẳng hỏi gì Lan…”

Trong lúc lộn xộn mọi người tìm chỗ trú ẩn, nếu có một  ai đó tranh thủ ôm, hôn, vuốt ve điên dại một cô gái đang bơ vơ trong cơn hoảng hốt thì kẻ đó chỉ có thể là một gã  lưu manh, tranh thủ gỡ gạc và không dễ gì buông tha cho con mồi một khi đã buông thả. Với một kẻ như vậy, cô tiểu thư con nhà giàu Cự Lâm sống trong nề nếp gia giáo dễ gì trao thân cho gã một cách quá “bản năng” như vậy? Những tình tiết tưởng như rất tiểu thuyết hoá ra lại đáng ngờ, thiếu sức thuyết phục. Em gái của Lan là Hương  – một cô gái  xinh đẹp, có vẻ như không sợ bom đạn, tìm sang hàng xóm tập hát. Anh của Lan là Phúc – người yêu của cô cán bộ Oanh. Mặc dầu là công tử con nhà giàu nứt đố đổ vách nhưng Phúc lại là một tự vệ chiến đấu hết sức anh dũng.

“Sinh và Phúc rút xuống hầm, bắn giặc bằng khẩu anhđônisoa của đơn vị. Một chiếc xe tăng đỗ bên nhà máy nước bắn tập trung vào cái ổ tác chiến sơ sài. Hai anh em không ngóc đầu lên được, ôm lấy nhau. Chốc chốc Sinh lại nhô lên bắn… Họ bắn một phát thì chúng trả lời mười. Tình thế rất nguy nhưng họ không dám rút. Uỷ ban đã ra lệnh cho mọi người hễ lùi một bước là lấy đầu… Phúc nằm rạp xuống hầm, chết lịm đi. Anh bắn. Đạn không nổ. Anh bẻ súng để lắp đạn. Súng đã bị đất cát làm cho rít lại. Sinh bỗng thấy oán đại đội bỏ mặc họ ở đây suốt từ chập tối đến nửa đêm, oán ông Chủ tịch Uỷ ban, cũng cùng ở trong một công đoàn mà sao ra cái lệnh rất hắc với anh em ? Phúc kêu: “Ở đây thì chết. Rút thôi”. Họ luồn vào trong nhà thì cũng vừa lúc có lệnh cho rút….”

Vậy là cả nhà Cự Lâm – cho dù là tư sản,  từ con trai, con gái, dâu, rể đều tham gia chiến đấu hoặc ở lại với thủ đô trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Phúc chạy về nhà gặp hai em gái là Lan và Hương, còn người yêu của anh là cô cán bộ Oanh thì bận đi chiến đấu. Một quả đạn rơi trúng nhà giết chết anh lái xe Thịnh và biến ngôi nhà thành cái địa ngục trong nỗi kinh hoàng của mọi  người. “Nghe tiếng cuốc đào huyệt ngay trong vườn, Trinh sợ chết khiếp, cứng người lại, lạnh như mình đang ở giữa một bãi tha ma… Trinh ôm lấy con nhưng tay cứ cứng đờ. Suốt mấy hôm nay, Trinh chỉ thấy những chết là chết…  Lù lù những xác chết đưa những cánh tay nghều ngào vồ lấy hai mẹ con Trinh. Trinh ngất đi…”

Trong lúc nhà ông Cự Lâm tràn ngập không khí chết chóc và hoảng loạn, từ ngoài đường đưa vào tiếng loa dõng dạc:

“A lô a lô! Thưa đồng bào yêu quý, Uỷ ban kháng chiến đã thành lập, kêu gọi toàn thể chúng ta đoàn kết, nhất trí, bình tĩnh và gan dạ, quyết tâm diệt địch, ra sức phá hoại để giữ nhà, giữ phố, chống giữ thủ đô đến cùng, xứng đáng với danh hiệu là người của đất ngàn năm lịch sử. Chúng ta hãy thực hiện đầy đủ các khẩu hiệu: mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài…” 

Những câu hô hào như vậy cứ trút vào tai dân chúng bất chấp cái Uỷ ban kháng chiến ấy ở đâu ra, do ai bầu nên, cứ nghiễm nhiên là một tổ chức lãnh đạo  toàn dân kháng chiến chẳng cần hỏi ý kiến ai. Tuy thế, bất chấp điều đó người dân vẫn xông lên dũng mãnh diệt địch. Như cụ già Lộc, bố của nữ cán bộ Oanh đã nêu một gương sáng về lòng dũng cảm tới… đáng ngờ.

Lúc đó “cả khu phố nhà Thờ sáng rực như ban ngày. Nhà Thờ Lớn sừng sững như hai cái tháp cao ngất đen xạm giữa một hào quang đỏ. Hai chiếc xe tăng lồng lộn bò qua cái vườn hoa tròn trước mặt nhà thờ. Tượng đức Mẹ rung lên như trong đám rước. Mọi người lùi lại nhưng ông Lộc đã tiến gần cái xe trước, tay ném lựu đạn miệng hô xung phong. Cái điều mà ai nấy đều lo sợ  đã xảy ra. Cái xe sau nhả đạn. Hai tay ôm ngực, chân loạng choạng, ông vẫn gượng đứng và thét to: “Đuổi bắt cái xe tăng…”

Bị đạn xe tăng bắn vào ngực không tan xác thì chớ, cụ già này còn đứng được  và ra lệnh chiến đấu được  thì thật… khó tin. Vậy mà còn hơn thế nữa “ông Lộc ngã khuỵu xuống, nhưng vẫn bò đuổi theo, tay phải giơ khẩu súng lục nhằm cái xe sau bắn luôn mấy phát…”.  Tới mức này người ta đành phải hỏi ông tác giả tiểu thuyết, liệu có cụ già nào bị xe tăng bắn vào ngực còn đủ sức bò theo nó để bắn … súng lục chăng? Vậy mà “ông vẫn cứ lết đi, để lại đằng sau một vết máu dài”. Đến khi có người tới đỡ ông đứng lên, “cái áo sơ mi phờlanen của ông đỏ lòm máu từ ngực trở xuống”, vậy mà ông vẫn còn nói được:

“Mặc tôi, chạy đi. Không phải lo cho tôi. Nếu tôi chết thì cũng đã làm tròn nhiệm vụ của tôi đối với phố của chúng ta. Anh đi đi. Để tôi nằm ở đây. Anh có gặp con Oanh nhà tôi thì nói với nó là tôi đã đánh xe tăng như tôi đã hứa với nó. Anh cầm lấy cái súng này và bảo tôi cho nó. Tôi đã cho nó lúc chiều mà nó không nhận…”

Đây không phải lời lẽ và suy nghĩ của người sắp chết, lúc đó không biết ông già nghĩ gì, có điều chắc chắn không nghĩ về chuyện “đánh xe tăng” với “súng ống” gửi lại con gái như vậy. Và lạ thay, ông còn “lảo đảo đứng dậy, thân hình cao lớn của ông trông ngang tàng với cái ngực nở  và hai vai rộng, cánh tay phải giơ lên:

“ Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ chủ tịch…

Ông ngã xuống, một tảng gỗ cháy từ nóc nhà rơi xuống đè lên ông…”

Tội nghiệp ông già, lẽ ra ông đã chết toi mạng từ lúc xe tăng bắn nát ngực ông, vậy mà ông nhà văn Nguyễn Huy Tường còn bắt ông bò lê theo xe, bắn súng lục vào xe tăng, rồi trối trăng giao súng cho con gái và lại còn hô cả khẩu hiệu “Hồ Chủ tịch…” nữa. Thật là một thứ văn chương tuyên truyền khó tin đến trắng trợn.

Trong cái bữa tiệc ngẫu hứng của 5 người Hà Nội do Tân tổ chức vào chiều hôm trước ngày toàn quốc kháng chiến có anh nhạc sĩ  Thu Phong. Trước  đây  anh này đã lưu lạc sang Tàu kéo đàn cho tiệm nhảy. Rồi khi thấy “ở nhà, Pháp khủng bố ở Bắc Ninh, rục rịch chiếm Hải Phòng”, chẳng hiểu sao anh lại “sốt ruột “ và tìm cách về nước. Chỗ này tác giả không nói rõ, Thu Phong đã được “giác ngộ cách mạng” chưa mà sốt ruột “tham gia cách mạng” quá vậy? Về nước rồi, anh chẳng bắt mối được với ông cách mạng nào, “Thu Phong ngao ngán, không biết rồi mình sẽ đi đến đâu.. Cuộc đời anh rồi sẽ thế nào ?”. Chưa được cách mạng “giác ngộ” ấy thế mà chẳng hiểu sao Thu Phong lại nhớ ngay đến lời của… Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Anh mang máng nhớ như đã có ai cho anh biết là Hồ Chủ tịch có nói: Nước ta là một nước nhược tiểu, phải đánh lâu dài…”.  Ghê chưa, với một tâm hồn nghệ sĩ như nhạc sĩ Thu Phong, chứng kiến cảnh bao gia đình tan nát, đầu rơi máu chảy khắp bốn xung quanh, chẳng thấy con tim người nghệ sĩ rung động mà lại chỉ thấy “Anh nắm cái bao súng lục và một quả lựu đạn Mỹ còn nguyên vẹn.Từ đây có lẽ không bao giờ anh còn được  đánh đàn nữa, mà chỉ còn dùng những thứ vũ khí này…”. Quả thực từ cây đàn tới lựu đạn, ở anh nhạc sĩ này là một “nhảy vọt” khiến người ta phải đặt câu hỏi: “có nhẽ đâu lại thế?”. Ông nhà văn đã ép uổng nhân vật mình chăng? Thế rồi thật ngẫu nhiên, ông nhạc sĩ gặp lại ông sinh viên luật Vũ Minh, người cùng dự bữa tiệc “cuối cùng của người Hà Nội” hôm đó. Thế là cả hai ông dắt díu nhau chạy vào “cái sân rộng của một cái nhà Tây. Chen chúc có hàng vài trăm người. Tiếng trẻ con khóc tru  tréo. Tiếng đàn bà dỗ con, gắt gỏng. Tiếng phụ nữ léo xéo gọi mẹ gọi anh. Tiếng đại bác nổ rầm, người ta ngã lỏng chỏng như một cái toa tàu bị giật mạnh…”

Lẽ ra hai ông bạn nhạc sĩ và luật sư phải giúp dân chạy loạn, ngược lại  “Thu Phong và Vũ Minh xéo bừa lên vai, lên đầu mọi người, mặc cho bà con chửi rủa. Họ trèo tường sang nhà bên cạnh.”. Những tưởng hai chiến sĩ tự vệ sẽ lập thành một ổ đề kháng chống giặc Pháp, ai ngờ “lại cái tiếng huỳnh huỵch. Đúng Tây rồi. Tóc gáy hai người dựng đứng  cả lên, mồ hôi toát ra đẫm cả sơ mi” khiến họ nghĩ tới chuyện …tự sát. Thu Phong long trọng:

“Đêm nay, đêm nổ súng đầu tiên, có hai thằng thanh niên chưa quen biết nhau bao giờ, mới gặp nhau trong một bữa tiệc mà cũng chẳng biết chủ là ai, hai thằng thanh niên ấy đã thề sống chết với thủ đô, nay nguyện cùng chết để khỏi sa vào tay giặc…”

Lạ chưa, mới nghe tiếng thằng Tây, tóc gáy chàng nhạc sĩ đã dựng cả lên mà lại dám chết để khỏi sa vào tay giặc? Và lại còn ngẫm nghĩ về ý nghĩa của cái chết “Anh không chết bên những gái truỵ lạc, mà bên một anh bạn sinh viên trong trắng. Từ giã cây đàn. Cái chết của hai anh tự vệ Hà Nội sẽ truyền mãi về muôn đời…” 

Dựng lên cái vụ tự tử của hai anh thanh niên trí thức Hà Nội có thể ông Nguyễn Huy Tưởng muốn cho cuốn truyện của mình phong phú hơn, đặc sắc hơn, nhưng sự vô lý của nó gây phản tác dụng, người đọc mất niềm tin vào sự trung thực của ngòi bút của ông, tác phẩm vì thế giảm hẳn giá trị.

Tất nhiên là Tây không tới và hai người sau đó lại nhận ra rằng: “Sao chúng mình lại chết. Cộng hai đứa mới được hơn bốn mươi tuổi hay hơn một tí chứ nhiều nhặn gì cho cam. Vô lý quá. Mà có gì đâu. Nếu Tây hay thổ phỉ thì nó phải làm ầm lên chứ, sao lại câm như hến thế này ? Vô lý…”. Và họ thôi không … tự tử nữa. Đọc tới đây người đọc phải đặt câu hỏi: đưa ra hai nhân vật nhạc sĩ và sinh viên luật, Nguyễn Huy Tưởng đã xác định tính cách của họ sao đây ? Có lúc dường như ca ngợi lòng dũng cảm; lại có lúc dường như riễu cợt sự nhát gan. Sự không rõ ràng trong tính cách như vậy khiến nhân vật mờ nhạt hẳn đi.

Người ta còn nhớ từ mãi đầu truyện có một chú bé tên Thắng cứ khăng khăng đòi mẹ cho đi theo bộ đội. Từ lúc đó, chú “oắt con” đã trở thành liên lạc, xông pha đi trước cả tiểu đội.

“Buổi chiều, Thắng đi liên lạc trở về, thấy tiểu đội nhộn nhịp một cách khác thường. Các anh đang chia nhau những quả lựu đạn tốt nhất và ngồi  nhìn nhau hát Tiến quân ca…”

Một sự khác thường nữa là sau khi anh tiểu đội trưởng cho Thắng cây súng gỗ thì kéo Thắng lại, “ôm lấy Thắng  và hôn lấy hôn để. Hôn xong anh quẳng Thắng cho anh  khác hôn và Thắng bị quẳng như thế khắp mười mấy lượt anh trong tiểu đội. Thắng chóng cả mặt mũi, cười sặc sụa giữa những tiếng cười trêu ghẹo của các anh…”

Chưa bao giờ các anh trong tiểu đội vui với Thắng như bây giờ. Rồi sau đó  “các anh đứng dậy, giơ tay hô quyết chiến rồi phân chia nhau đi bố trí.”  Hoá ra họ biết trước đã đến giờ G., giờ nổ súng vào quân Pháp. Quả nhiên “một lúc thì điện tắt  và súng nổ đùng đùng. Thắng sợ quá, đái tung toé ra cả ngoài quần, khóc gọi anh Dân…”

 

 

Người ta thật không thể hiểu nổi sao giữa nơi mũi tên hòn đạn ấy, “tác giả” không trả Thắng – đứa bé lên 8 tuổi ấy về cho mẹ nó mà cứ khăng khăng đưa nó đi theo tiểu đội chiến đấu, bắt nó xông pha giữa mũi tên hòn đạn chẳng khác gì một chiến binh già giặn: “Chợt có tiếng ríu rít trên đầu. Một viên đạn đỏ lạc vào như con đom đóm lừ lừ…”.  Lẽ ra thằng bé con phải “sợ quá, đái cả ra quần, khóc gọi anh Dân” như lúc tắt đèn vừa mới đây thôi, vậy mà không, chỉ mới qua chốc lát, thằng bé bỗng đổi khác, trở nên dũng cảm khó ngờ. “Thắng nghĩ : “Sao nó biết mình về đây mà nó bắn ? ”. Thắng kêu: “Chạy đi, các anh ơi, lộ rồi !”. Thắng nằm sấp xuống , nhưng viên đạn đã vập vào tường…”. Lạ thay, viên đạn đã cắm vập vào tường rồi không hiểu sao nó lại vẫn “xoay rít, vờn trên người Thắng… Viên đạn xì xì, Thắng chạy tới đâu viên đạn đuổi tới đó…”. Sao lại có viên đạn nào “thông minh” đến thế? Anh tự vệ giải thích:

“Đạn lửa đây mà. Nó đang đà, gặp sức cản, nó đứng lại, nhưng nó còn thuốc, nên nó quay như pháo. Có gì đâu ?”

Lạ thật, đạn gặp sức cản mà lại đứng lại rồi … quay như pháo,  chắc là đạn…ma, chỉ có trong tưởng tượng của nhà văn. Thế  rồi thằng bé con cầm súng lục gỗ, lưng đeo hai quả lựu đạn thật, khi một anh chàng định bỏ trốn khỏi tiểu đội, nó khăng khăng không cho đi. Anh chàng kia “đút lót” gói kẹo, “Thắng đứng thẳng người, ưỡn ngực, mặt vểnh lên như muốn sinh sự, cái trống bỏi cầm tay kêu tong tong: Anh vào ngay. Không tôi gọi các anh ấy đấy. Thắng khum ngón tay cái và ngón tay trỏ như cái càng cua, đưa lên miệng, huýt một tiếng còi dài, ra ý như báo hiệu…”

Thế rồi một anh vệ quốc đoàn đọc lời hiệu triệu của ông Hồ Chí Minh trong một “thứ ánh sáng tôi tối của mùa đông, trong một gian phòng đóng cửa … Họ đứng lấp kín cả bàn và bộ ghế bành. Bộ đội đều lặc lè lựu đạn, súng không nhiều, có người không có. Anh nào cũng quàng trên áo trấn thủ đường may hình quả trám những ruột tượng gạo như những con rắn trắng cuộn khúc. Họ đứng thế nghiêm, nhìn thẳng, chăm chú nghe lời kêu gọi…”.

Và rồi chẳng hiểu sao giữa tiểu đội lại xuất hiện cả bà mẹ, con gái, cụ già, thanh niên để tạo nên một thứ “quần chúng” đầy đủ thành phần nam phụ lão ấu, nín thở nghe đọc lời kêu gọi của lãnh tụ:

“Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng cương quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về ta…”

Không ai, không một ai nghĩ tới chuyện nếu phải “hy sinh tới giọt máu cuối cùng” thì cái thắng lợi giành được đó còn có ý nghĩa gì, mang lại cho ai và để làm gì? Tất cả còn đang thành kính lắng nghe anh vệ quốc đoàn cao giọng:

“Kháng chiến thắng lợi muôn năm! Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh…”.

“ Giọng anh khẽ xuống. Nhưng tên lãnh tụ âm vang lên. Mắt anh đưa đi đưa lại trên những dòng chữ cuối cùng như tìm kiếm một vật gì. Gian phòng im một cách lạ…”

Cái giỏi của nhà văn trong việc “nâng bi” lãnh tụ là sau khi nghe đọc xong lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh, đám quần chúng không sôi sùng sục máu căm thù xông lên diệt giặc, không lớn tiếng hô khẩu hiệu mà chỉ để một bà mẹ đặt câu hỏi:

“Kháng chiến thật rồi ư, thưa đồng chí ?”

Cái tài “nâng bi” của nhà văn bộc lộ ở chỗ này đây, sau khi nghe xong lời “Bác kêu gọi”, một bà mẹ bình thường bỗng thấy tin yêu bác Hồ, tin yêu cách mạng đến độ muốn đứng hẳn vào hàng ngũ cách mạng, trở thành một “đồng chí” trong đó. Phản ứng của “quần chúng” thì như vậy, còn các lực lượng vũ trang tất nhiên phải nhiệt thành hơn:

“Tiếng thét của anh tiểu đội trưởng bé nhỏ lút trong đám chiến sĩ:

“Tiêu diệt thực dân Pháp! Hồ Chủ tịch muôn năm…”

Một anh thanh niên đeo cravat đỏ “bỗng nhảy lên hô, thúc mọi người hô, quả đấm của anh giơ cao như đe mọi người; mặt đen nhuốm đỏ như say rượu, mắt điên dại. Anh reo:

“ Kháng chiến rồi. Toàn quốc kháng chiến rồi. Tôi biết. Tôi biết từ lúc nổ súng kia. Sướng quá! Hồ Chủ tịch đã ra lệnh. Hôm nay tất cả Nam Bộ sẽ ăn mừng. Nam Bộ không phải chiến đấu một mình nữa…”

Chiến tranh là chết chóc, nhà sập, gia đình ly tán, thật hiếm có dân tộc nào lại ăn mừng khi nó nổ ra. Hiếm có ai lại “sướng quá” khi súng đã nổ. Anh ta là ai vậy? Hoá ra ông nhà văn muốn cho đám quần chúng nhân dân lắng nghe lời Bác kêu gọi sao có đủ ba miền Bắc Trung Nam đã bất ngờ cho một ông người miền Nam bỗng dưng xuất hiện cứ như đứt giây trên trời rơi xuống:

“Anh thanh niên cướp lời :

“Đúng, Nam Bộ đây. Tôi ra đây có công tác, vừa mới đến Hà Nội hôm qua. Chưa được gặp Chính phủ, chưa được gặp Hồ Chủ tịch. Nhưng được nghe lời hiệu triệu này thì cũng đã đời rồi. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm… Đúng như ở Nam Bộ. Trời! Gặp kháng chiến ngay giữa thủ đô !”

Rồi ông nhà văn cho anh thanh niên bày tỏ lòng yêu nước theo phong cách “Nam Bộ”:

“Tôi sẽ sống chết ở đây cùng với đồng bào miền Bắc. Tôi đã trông thấy những khẩu hiệu ở đây rồi. Đã lắm! Cho nhập bọn được không? Không cũng được. Đơn thương độc mã cũng đánh…”

Anh lại bắt tay mọi người. Anh ôm hôn người mẹ. Anh vẫy vẫy tờ hiệu triệu. Anh lại ấp nó vào ngực, toàn thân anh rung rung. Anh khóc rưng rức, mắt đỏ hoe:

“Đi lấy đầu mấy thằng Tây nhá. Trời! Trời, sao Hà Nội nhiều súng thế này ?”

Anh đến với chiến sĩ này lại đến với chiến sĩ  nọ, rối rít, sốt sắng…”

Thật đúng là một tính cách anh Hai, yêu nước theo kiểu nóng sốt, bộc trực của người miền Nam theo cách…tưởng tượng của tác giả. Màn hướng ứng lời “hiệu triệu của bác Hồ” từ lúc này mới nổ ra rầm rộ. Tiểu đội trưởng tự vệ phát biểu:

“Bây giờ thì tôi đề nghị thế này. Như Hồ Chủ tịch kêu gọi thì toàn dân, toàn quốc đều phải đứng lên kháng chiến. Tất cả chúng ta ở đây đều có nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô đến cùng. Chúng ta phải giữ cái phố này…”

Một ông già mặc quốc phục nói với bà con:

“Các đồng chí về đây, chúng tôi rất mừng. Chúng tôi như người được sống lại. Trông thấy các đồng chí như được trông thấy Chính phủ, thấy Cụ Hồ…”

Tuy nhiên, không phải ai cũng thích được  gọi là đồng chí; Tân, anh chàng thanh niên Hà Nội tham sống sợ chết, đã mở bữa tiệc ngẫu hứng 5 người hôm trước, khi được  đồng chí cán bộ  tên Dân hỏi:

“ Xin lỗi đồng chí nhé. Thế nào đồng chí? Đồng chí sẽ kháng chiến ngay tại nhà mình. Không ngại gì cả …”

…Tân choáng váng hơn là khi nghe tiếng cây đổ ngoài đường. Tai anh trối vì hai cái tiếng mà anh vẫn chế giễu  và bây giờ người ta đem ra gọi anh. Cái tiếng ấy sẽ cột cổ anh lại. Anh nói :

“Thưa ông, có lẽ ông nhầm. Tôi, đồng chí ?”

…Dân tới trước mặt Tân, vững như một lực sĩ, khói miệng bay ra như thở khói thuốc lá:

“Tôi chỉ muốn được gọi rất nhiều người là đồng chí. Có lẽ khi mọi người đều gọi nhau như thế thì đời đã sướng lắm…”

Quả thực, cả ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lẫn nhân vật Dân đều không tưởng tượng được rằng 50 năm sau, số người gọi nhau bằng “đồng chí” ngày càng ít đi và thường chỉ trong những cuộc họp nội bộ Đảng lôi nhau ra sát phạt, người ta mới lớn tiếng gọi nhau bằng hai tiếng “đồng chí”.

Trong đám nhân vật của Nguyễn Huy Tưởng, người thích được  gọi là “đồng chí” nhất có lẽ là cô nữ sinh Quyên, người được giao theo dõi ông bác sĩ Việt kiều mới về nước. Chỉ mới nghe tin “một người về báo xe tăng đã húc đổ hàng rào sắt của dinh Chủ tịch, Quyên đã cãi lại anh ta và đuối lý, Quyên khóc. Quyên ghét cái người ấy và coi như Việt gian…”. Yêu Hồ Chủ tịch ghê gớm chưa? Ai mà báo tin Phủ Chủ tịch bị xe Pháp ủi sập hàng rào lập tức kẻ đó là… địch. Tuy nhiên, khả năng xuất sắc của cô nữ sinh Hà Nôi này lại là dò xét, theo dõi người khác. Được giao nhiệm vụ “bám sát” ông bác sĩ Việt kiều, lúc tắt điện ông ta kêu: “Thế này mà mình không biết mua sẵn một cái đèn dầu”. Chỉ thế thôi, vậy mà cô báo cáo với tổ chức là “ông ấy oán Chính phủ mình…”. Rồi khi ông bác sĩ giục: “Une lampe, une lampe, mademoiselle…”, cô ta tức lắm bởi lẽ “đánh nhau rồi mà vẫn nói tiếng Pháp, có vẻ như…muốn báo hiệu cho nó…”. Tinh thần cảnh giác của cô nữ sinh cán bộ này rõ ghê gớm chưa?

 

Thật khó hiểu vì sao Nguyễn Huy Tưởng mô tả nữ sinh Hà Nội lại cứ biến họ thành toàn những cô gái “cứng cỏi” đến “sắt đá” như cái cô Quyên chuyên theo dõi ông bác sĩ Việt kiều, như chị  Oanh, cán bộ phụ nữ thành.

Chị Oanh là vợ sắp cưới của con trai nhà buôn Cự Lâm giàu có, là con gái của một ông già cứ khăng khăng đòi “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Trong những ngày ly loạn, các gia đình nháo nhào chạy tản cư, chị ta chẳng ngó ngàng gì tới chồng cũng như gia đình chồng chưa cưới, cũng chẳng lo toan gì cho  bố đẻ mặc kệ  ông chạy khắp Hà Nội để đòi… giết giặc.

Ông bố chị ta chính là ông già Lộc, người đã đuổi theo xe tăng  “tay ném lựu đạn miệng hô xung phong. Cái xe sau nhả đạn. Hai tay ôm ngực, chân loạng choạng, ông vẫn gượng đứng và thét to: “Đuổi bắt cái xe tăng…”. Khi hấp hối, ông vẫn còn nói “Anh có gặp con Oanh nhà tôi thì nói với nó là tôi đã đánh xe tăng như tôi đã hứa với  nó. Anh cầm lấy cái súng này và bảo tôi cho nó. Tôi đã cho nó lúc chiều mà nó không nhận…”.

Khi khẩu súng của ông bố được đưa tới tận tay, lẽ ra Oanh phải rú lên mà hỏi bố chết rồi ư, vậy mà không, chị ta vẫn tỉnh bơ:

“Sao thế? Chiều hôm qua tôi đã không nhận kia mà… Anh có thể đem về cho cậu tôi được không. Tôi cũng có rồi…”

Khi người báo tin cho biết: “Cụ mất rồi. Mất trong một trận đánh xe tăng …”,  chị ta mới có phản ứng: “đôi lông mày kẻ của Oanh ríu lại. Trông ngực chị đập mạnh” – chỉ thế thôi, không thấy “la hoảng “ gì thêm. Người báo tin lại nhắc “Cụ mất rồi. Cụ xông ra đánh xe tăng và bị trúng đạn vào ngực. Trước khi mất, cụ đã hô “Việt Nam độc lập muôn năm”. Cụ nhờ tôi giao lại chị vật kỷ niệm”.  Vậy rõ ràng là bố đã chết, chị cán bộ Oanh cũng chỉ: “mím chặt môi, cái cằm hơi lẹm của chị như ngắn lại. Chị cầm lấy khẩu súng, tai văng vẳng lời của bố buổi chiều qua: cầm lấy súng Oanh. Chị ngắm khẩu súng có khắc tên Phùng Gia Lộc…”

Thế rồi chắc đau thương làm chị đánh rơi khẩu súng, người khác nhặt lên, chị cũng chỉ nói: “Cám ơn Quyên”. Mặt chị trở lại tự nhiên, Oanh hỏi Thu Phong (người đưa tin): “Thưa anh, xác cậu tôi bây giờ ở đâu ?”. Người nhạc sĩ nói dối: “Chúng tôi đã chôn cất cho cụ rồi…” − Cám ơn các anh…”. Chỉ thế thôi, không hỏi bố chết thế nào, được chôn ở đâu, đánh dấu ra làm sao mà lại hỏi: “Phố ta vẫn giữ được chứ ?” Rồi quay sang mấy cô bạn: “Ta đi, các chị đi”. “Tay Oanh nắm chặt cái nòng súng chìa ra ngoài miệng túi. Đoàn người lặng lẽ tản đi…”

Thực ra ông Nguyễn Huy Tưởng muốn tả cái sự nén đau thương để biến nó thành hành động. Tiếc rằng ông đã bắt Oanh “nén chặt” nỗi đau quá khiến chị ta trở thành người con gái vô tình, sắt đá, dửng dưng cả với cái chết của bố để “toàn tâm toàn ý” tập trung suy nghĩ và hành động vào việc đánh Pháp.

Tiêu biểu cho tinh thần toàn tâm đánh giặc phải nói tới đơn vị bảo vệ dinh cụ Hồ:

“Phần lớn họ là những đồng chí người Thổ, nhiều người đã tham gia cách mạng từ hồi bí mật, đã xa rừng núi từ ngày khởi nghĩa. Hơn một năm ở Hà Nội, họ chỉ quanh quẩn hoặc ở trong dinh hoặc ở bên phủ. Những người ít nói ít cười và không đòi hỏi. Hơn một chục đồng chí đã nằm xuống để không bao giờ trông thấy xứ sở xanh xanh nữa.” 

Những người lính gốc dân  thiểu số khi chiến đấu cũng như lúc hy sinh ắt phải khác những người lính gốc Kinh, tiếc thay ông nhà văn không diễn tả được sự khác biệt đó. Một anh thương binh người dân tộc lúc hấp hối được cấp chỉ huy hỏi han:

“Đồng chí thế nào?”. Anh thương binh nói, giọng nói của một người còn tỉnh, nhưng đã yếu: “Báo cáo anh, cũng thường thôi. Ngoài ấy thế nào ?” −“ Nó chuẩn bị tấn công. Tôi sẽ cho người đưa đồng chí về trong phố, có quân y.” Cái đầu lắc lắc một cách nhọc mệt, đôi mắt như cười: “Không nên. Làm gì còn người. Tôi ở đây. Đem về cũng vô ích. Tôi biết.” Anh ta nghĩ một lúc: “Tôi được đánh suốt từ chập tối đến giờ, chết cũng sướng.…”

Chưa nói tới lúc sắp chết làm sao “đôi mắt như cười” được, chưa nói tới khi chết người miền núi thường nhớ về quê hương, bố mẹ, vợ con chứ đâu có còn nghĩ tới … tình hình chiến sự, chỉ riêng một điều tiếng Kinh chưa sõi, sao mà lúc hấp hối, anh lính Thổ này nói được lưu loát quá vậy?

Một anh lính dân tộc khác khi bị thương “thấy mình không sống được nữa đã cố gượng bò lên đây để nhìn lại lần cuối cùng cái phòng khách mà Bác Hồ thường hay đi qua…”

Có thật là khi sắp về với tổ tiên, người lính Tày này đã thu hết sức tàn lực tận chỉ để nhìn cái nơi “bác Hồ thường qua lại” không?

Một anh lính khác lúc sắp chết “cũng nói giọng yếu  dần:

“Tôi đã đi lính cho Pháp 3 năm. Bây giờ mới biết thế nào là vui. Hồi đảo chính, tôi ở trong thành, Pháp nó chạy như chuột. Đêm ấy buồn quá. Theo nó thì không muốn, trở về thì đồng bào hỏi tội, hàng Nhật thì nhục nữa. Chẳng biết làm gì, chẳng biết đi đâu, tôi cứ ngồi nhắm cái cột đèn trước mặt mà bắn. Lúc ấy sống mà như chết. Bây giờ sướng là được  bắn thực dân, không phải bắn cột đèn.Tôi không chắc đã sống được để chiến đấu nữa. Tôi biết. Anh không phải nghĩ ngợi gì về tôi cả. Tôi không ngờ lại được nằm ở dinh Hồ Chú tịch…”

Dù có là thực hay là bịa, nhưng mô tả 3 cái chết của 3 người lính dân tộc mà giống nhau y hệt, ông nào cũng nghĩ tới bác Hồ, cũng nghĩ tới niềm vinh dự được hy sinh cho cách mạng thì đủ thấy khả năng tưởng tượng của ông nhà văn  Nguyễn Huy Tưởng nghèo nàn tới mức nào!

Thế rồi tới anh chính trị viên đơn vị là Gia Bảo, tuy là người kinh nhưng lúc sắp quyết tử cũng lại được mô tả “nhớ tới bác Hồ” y như  mấy anh chiến sĩ người Thượng:

“Gia Định cũng đưa mắt quanh cái phòng dài đổ nát, nhưng vẫn như phảng phất sự có mặt của Hồ Chủ tịch mới hôm qua còn đến đây làm việc (thực ra cụ đã lên an toàn khu từ tám đời nào  rồi – NT) … Anh nhớ những tiếng ho của ông Cụ, nhớ những ngày Tàu trắng và bọn Quốc dân đảng làm găng, ông Cụ làm việc không nghỉ, nhưng ăn cơm xong vẫn đi gặp bộ đội nói chuyện… Anh sẽ không rời khỏi nơi này. Trước khi chết anh sẽ không để cho cái dinh này lọt vào tay giặc. Những lời căn dặn của đồng chí Bí thư, đồng chí Khu phó trong buổi Hội nghị hôm qua văng vẳng đưa lại…”

Như vậy đã thành một công thức trong “nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết” của Nguyễn Huy Tưởng: mọi chiến sĩ, dù là Kinh hay Thượng, dù là dân thường hay bộ đội, trước khi chết đều nhớ tới bác Hồ và Đảng. Sự thực ra sao chắc chỉ những “người trong cuộc” mới biết, chỉ tiếc họ đã ra người thiên cổ nên chẳng ai kiểm chứng được huyền thoại về những cái chết trong nỗi niềm thương nhớ Bác Đảng mà ông nhà văn đã tô vẽ.

Một điều khá đặc biệt nữa là hầu hết những người lính của Nguyễn Huy Tưởng đều có “dính dáng” tới cụ Hồ.

Thí dụ như Bảo, người lính cuối cùng trong trận chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ phủ “là một thợ tiện tập sự của Sở máy nước đá. Ngày cách mạng, Bảo xin đi biểu tình, bố mẹ cấm vì Bảo còn nhỏ. Bảo trốn đi, theo anh em vào cướp dinh và được phát hai quả lựu đạn Nhật, một con dao găm. Một hôm có tin là cụ Hồ ở chiến khu về. Bảo hỏi một người đội viên Thổ: “Hồ Chủ tịch là gì ?”  “Anh Thổ nói: “là đứng đầu nước, giữ độc lập cho dân…”. Buổi chiều, một ông già áo kaki, dép con hổ, đi với nhiều người vào. Thấy nhiều người hô muôn năm, Bảo cũng hô. Bảo đoán đấy là Hồ Chủ tịch vì anh em đã cho xem ảnh trước…Từ đấy, Bảo yên tâm ở bộ đội…”

Vậy đó, hình ảnh của cụ Hồ chẳng những ăn sâu trong tâm hồn những người lính của Nguyễn Huy Tưởng mà còn tràn lan trong những trang viết về các trận đánh  của những người “Sống mãi với Thủ đô”.

 

 

Hầu như  tất cả các trận đánh giữa ta và Pháp ở Hà Nội đều được tác giả  Sống mãi với thủ đô” thuật lại. Nhà máy đèn, Bưu điện, Bắc bộ Phủ, Chủ tịch phủ, chợ Đồng Xuân, Nhà thờ lớn… nơi nào cũng có một tính chất chung, hết sức phổ biến là tinh thần của quân dân ta cực kỳ anh dũng, quân địch thì cực kỳ độc ác và hèn nhát. Tính đơn điệu và một chiều trong những nhân vật tự vệ thủ đô như Trần Văn, Thu Phong, Tân, Bảo, ông già Phùng Gia Lộc… những anh bộ đội người Thượng, những cô nữ sinh Hà Nội như Oanh, Quyên, những người cộng sản như Quốc Vinh, Bí thư… là ở chỗ cho dù họ mang những danh xưng khác nhau, tên tuổi khác nhau, cho dù là nghệ sĩ, trí thức, tư sản, công nhân… nhưng họ giống nhau y hệt như những hạt đậu trong hũ. Cái mẫu số chung đã được quy đồng cho mọi nhân vật đó là sự bỏ quên cá nhân, quên gia đình, quên mọi thứ trên đời để toàn tâm toàn ý tập trung vào đánh giặc và trong lòng người nào cũng có một vị thánh sống là … “bác Hồ”.

Tuy thế, trong cái bức tranh rực một mầu hồng đó, đôi khi cũng lộ hé cái bệnh “độc đoán”, “độc quyền lãnh đạo” của những người cộng sản, đủ để cho ta thấy song song với việc đánh Pháp, Đảng cộng sản đã ráo riết thâu tóm quyền hành để thiết lập chế độ độc Đảng ngay từ khi còn trứng nước như thế nào.

Nguyên ông Uỷ viên quân sự Văn Việt là người ngoài Đảng, chức quan trọng vậy nhưng không được họp nội bộ Đảng, không được biết những tin tức quan trọng, bởi vậy ông Uỷ viên quân sự này vẫn ấm ức về trò lén lén lút lút qua mặt ông của các đồng chí đảng viên. Khi nổ ra cuộc chiến đấu chống Pháp, ông Uỷ viên Văn Việt đưa lực lượng tự vệ tới đánh chiếm nhà Xôva của hãng tàu thuỷ Pháp. Khí thế hăng hái lắm. “Trong đêm tối, bộ đội và tự vệ vây lấy cái hãng, bắn súng và ném lựu đạn. Giặc không dám bắn ra. Đánh mãi, đánh mãi, đến nửa tiếng đồng hồ. Ta trèo vào trong sân, tiến tới sát cửa, đập cửa ầm ầm. Người ta xông vào trong nhà, hô chiến thắng vang lừng. Người  ở dưới nhà chạy lên gác, người trên gác chạy xuống dưới nhà, vào buồng này, sang buồng kia, gọi nhau í ới, ồn ào như vỡ chợ. Xục mãi không tìm được một tên giặc, không thu được một viên đạn….”

Sao lạ thế? Quân Pháp đâu hết cả rồi?

Thì ra họ đã rút từ tám đời, chi bộ Đảng biết điều đó nhưng lại không thông báo cho Văn Việt, vì anh ta là người ngoài Đảng. Bởi vậy khi có người hỏi: “Nó rút từ lúc nào ?” Văn Việt buông cả hai tay, cay đắng: “Mình là quần chúng, ai cho biết mà chủ động…”

Vậy đó, dù có là Uỷ viên quân sự đi nữa, nhưng không phải đảng viên thì cũng không được biết những “tin tức nội bộ”. Thực ra ông Uỷ viên muốn “đánh một trận ra trò, tiêu diệt hoàn toàn vị trí Xôva, để cho các ông đoàn thể – tức là Đảng, biết rằng dù bị thành kiến, một thằng quần chúng khi nhận nhiệm vụ, vẫn làm đâu vào đấy, vẫn cừ. Khi biết là đã đánh vào một vị trí không người, anh choáng đi, như bị sét đánh. Anh càng giận Quốc Vinh (cán bộ Đảng đã dấu không cho biết chuyện Pháp đã rút khỏi nhà Xôva). Giặc không tiêu diệt được, đoàn thể thành kiến, mất uy tín, không lập được công trong đêm đầu. Anh khóc vì tức vì xấu hổ…” . 

Thế rồi không chịu nổi đồng chí cấp uỷ Đảng chơi xỏ mình, ông Uỷ viên quân sự tìm tới tận trụ sở, xông lên phòng ông chính trị viên, “mặt tối sầm, giọng xẵng, lưỡi như rít lại:

“Sao anh không cho tôi biết trước? Anh coi tôi là người thế nào mà phải giấu tôi ? Tôi là Uỷ viên quân sự để làm vì à ?”

Đồng chí cấp uỷ “đối với quần chúng bao giờ cũng giữ được cái lễ độ và mềm mỏng cần thiết:

“Cứ bình tĩnh, anh ạ. Tôi nghĩ rằng việc thì có cái nói trước, có cái nói sau, người thì có người nói trước, có người nói sau…”

Ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng tức giận:

“Thế nghĩa là chúng tôi là những người làm thì làm trước, biết thì biết sau chứ gì ? Anh giữ bí mật thế à ?”

Không kìm nổi tức giận, ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng “giáng một cái tát vào một má hóp”  của ông cán bộ Đảng. Nếu  là người bình thường thì ông bị ăn tát này đã nhảy xổ ra trả đũa rồi, nhưng ông cán bộ Đảng vốn cáo già về chính trị, ông chỉ “cau trán, loáng một ánh sáng nơi đuôi mắt”  rồi trở lại bình thường ngay:

“Bây giờ anh đang nóng. Để một dịp khác ta sẽ nói với nhau về chuyện này. Còn chuyện gì khác nữa không, anh Văn Việt ?”

Ông cán bộ Đảng mềm mỏng nhưng mà dứt khoát, ông chỉ gọi ông Uỷ viên là “anh” thôi chứ không gọi “đồng chí”. Vậy là ông  ngầm tỏ ý sẽ không tha cho “cái tát hỗn xược” ấy đâu, nhất định sẽ có ngày ông trả mối nhục này, nhất định sẽ có dịp cho ông “nói lại chuyện này”. Lúc đó ông sẽ phân tích trong cuộc họp nội bộ Đảng rằng quần chúng mà dám giang tay tát cả Đảng thì còn gì là uy tín đoàn thể nữa, đây không  chỉ xúc phạm cá nhân mà xúc phạm cả tổ chức. Cánh cửa vào Đảng giành cho ông Uỷ viên quân sự như thế là vĩnh viễn đóng lại. Không phải đảng viên thì ông Uỷ viên quân sự cũng hết hy vọng thăng tiến theo con đường quan lộ, mai mốt leo được cái chức đại đội trưởng cũng là kịch trần rồi.

Mấy trang cuối cùng của cuốn “Sống mãi với thủ đô”, Nguyễn Huy Tưởng giành cho “chú bé Gavơrốt Việt Nam”, bé Thắng. Chú bé này mới 8 tuổi đã khăng khăng đòi mẹ theo các anh bộ đội đi đánh tây. Sau một trận đánh, lúc rút kinh nghiệm, bé Thắng cũng đòi … phê bình thủ trưởng:

“Thắng đứng dậy, hai tay buông thẳng cứng cỏi như một chiến sĩ. Thắng nhìn thẳng vào Dân – chỉ huy, vênh mặt lên:

“Báo cáo đồng chí. Đồng chí có một khuyết điểm. Sao đang chiến đấu, đồng chí lại đẩy tôi xuống hố…”

Thắng cau trán lườm mọi người, nét mặt nghiêm nghị, mắt quắc lên nhìn Dân bĩu môi. Một chị đẩy chén chè tới trước mặt chú bé. Thắng gạt đi giận dữ. Dân nói:

“Tôi thấy đồng chí bò, tôi sợ nó bắn đồng chí nên phải đẩy đồng chí xuống hố. Nhưng đồng chí phê bình thì tôi chịu…”

Quả thực khó mà tin được một chú bé đang tuổi nhi đồng mà lại hăng hái, coi thường cái chết một cách hỗn xược như vậy. Tính chất “giả” , bịa đặt theo yêu cầu tuyên truyền cứ bàng bạc trong suốt cuốn tiểu thuyết cho tới tận dòng cuối cùng của cuốn sách.

Năm 1961 “Sống mãi với thủ đô” ra mắt bạn đọc, lập tức nó được các nhà văn hàng đầu của văn học cách mạng như Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Tô Hoài … “bốc” lên mây xanh, dẫu rằng nó được viết theo cảm hứng chủ đạo là ca ngợi một chiều và vì thế  nó mang nặng giá trị tuyên truyền hơn là giá trị nghệ thuật.

Tổng kết về Nguyễn Huy Tưởng, nhà phê bình Phan Cự Đệ đã viết  trong cuốn “Nhà văn Việt Nam 1945-1975”:

“Nội dung tinh thần dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng càng ngày càng sâu sắc trên cơ sở lập trường giai cấp được củng cố vững chắc hơn. Anh đã thấy được nội dung của hạt nhân dân tộc là lực lượng đông đảo quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng…”

Sáng tác bám sát đường lối của Đảng vậy trách gì Nguyễn Huy Tưởng “Sống mãi trong lòng Hội nhà văn”, chứ chẳng phải trong lòng độc giả.

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)