Trang chủ » Posts tagged 'hiện thực xã hội chủ nghĩa'

Tag Archives: hiện thực xã hội chủ nghĩa

NHẬT TUẤN viết về NGUYỄN TUÂN: CHÉN RƯỢU TÌNH RỪNG CAY ĐẮNG LẮM

CHÉN RƯỢU TÌNH RỪNG CAY ĐẮNG LẮM

Vào một chiều tại khu sơ tán bom Mỹ của Hội nhà văn VN, nữ văn sĩ Nguyễn thị Ngọc Tú đang lúi húi … rán cá — thứ của hiếm,  trước cửa phòng, ngẩng lên chợt thấy bác Nguyễn Tuân đứng lù lù với chiếc mũ “phớt” và hàng râu muôn thủa. Bác cầm can chỉ chỉ: “Con này chín non … Chị lật con kia  lên kẻo cháy…”. Giá như là người khác hẳn đã xơi một chiếc guốc và đuổi đi chỗ khác, nhưng với bác Nguyễn Tuân, nổi tiếng “ngông” nên chị  Ngọc Tú chỉ cười cười.

Đã có rất nhiều bài viết về cái “ngông” của bác Nguyễn. Sau Cách mạng năm 45, cái “ngông”, cái văn chương “nhâm nhi, tỉ mẩn” trong những “Hương cuội”,” “Thả thơ”,” Đánh thơ”, ”Những chiếc ấm đất”… mang vào sáng tác cho quần chúng công nông binh, chẳng hiểu bác Nguyễn sẽ phải uốn éo ra sao đây? Thật đáng lo thay.

Sau này, Nguyễn Tuân tâm sự: “Giả sử bây giờ tôi còn trẻ, có lẽ tôi xin đi học ngành y làm thày thuốc, vì làm cái nghề văn này sợ lắm…”. Sợ thật đấy chứ, đường đường một đấng “phù thuỷ chữ nghĩa”, “ma thuật ngôn từ”, theo cách mạng được đôn lên ghế Chủ tịch Hội Văn nghệ, vậy phải “công nông hoá ngòi bút” sao đây để “lãnh đạo tin cậy”, cho dù trong lớp chỉnh huấn đã bày tỏ lập trường “ rũ bỏ con người cũ” bằng cách …treo cổ mớ bản thảo ngày xưa, từ bỏ “những đứa con tinh thần” vốn làm bác nên danh.

Thế là Nguyễn Tuân xắn tay áo lên “nhả chữ”, mở đầu sáng tác cách mạng bằng tập “Tuỳ bút kháng chiến” trong đó tiêu biểu là “Đuốc dân công tiếp vận”. Để tăng khí thế cho bài ký, bác viết: “Hôm nay tôi kể chuyện một con đường thóc đêm đêm rầm rập bước chân người… bao nhiêu người bần cố nông gánh gạo về ngàn. Thật là vĩ đại. Không biết bao nhiêu là con số… Trên vai mỗi người còn đèo thêm một bó đuốc….Tôi cảm thấy đây là lần đầu tiên, nước Việt Nam chúng ta đốt đuốc đi đêm một cách vĩ đại, huy hoàng…”. Thật là vĩ đại, thật là huy hoàng, chỉ tiếc nó mới được hô  lên từ… cổ họng, đại ngôn để xuê xoa cái nghèo cảm xúc. Cũng theo cách đó, ông mạt sát dân “vùng tề”: “Tôi nghĩ đến một cơn lốc khổng lồ lật ngửa những mái gianh đang úp vào mặt bùn kia, hút ngược bao nhiêu nhố nhăng kia lên giời và quét sạch cái không khí dịch tễ của nơi này đi…”, và chửi Pháp: “Chiều tà Việt Bắc Đông Bắc rừng rực lên những đồn Pháp, chiếu ống nhòm như những mâm cà độc dược, như những kim tự tháp loét ngọn…”. Không còn “ngông”, cũng chẳng còn “nhâm nhi”, “Tuỳ bút kháng chiến” của  Nguyễn Tuân, “quả mùa đầu” cho cách mạng, sau này được hai Giáo sư “chuyên gia nâng bi” là Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức reo mừng: “Sau Tuỳ bút kháng chiến, ta đã có một công dân Nguyẽn Tuân bên cạnh một Nguyễn Tuân nghệ sĩ, một cán bộ Nguyễn Tuân hoà hợp với một nhà văn Nguyễn Tuân”.

Thế là khỏi lo “con bò trắng răng”, Nguyễn Tuân − chàng lãng tử  ngông nghênh đã bỏ thói “nhâm nhi tỉ mẩn”, mài nhẵn xù xì gai góc, dọn giọng hót được cho bần cố nông nghe, trở thành “nhà văn cán bộ”,  vượt quá yêu cầu của Đảng.

Vậy nhưng “cái nết đánh chết không chừa”, trở về Hà Nội sau năm 1954 có rượu tây, có ánh đèn xanh đỏ, có dáng “kiều thơm” …; bệnh “ngông “ trong  Nguyễn Tuân lại tái phát.

Vậy ông đã “ngông” như thế nào ?

Trong khi cả thiên hạ đang phải gân cổ lên ca bài “chống chủ nghĩa cá nhân”, làm việc quên mình vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, năm 1957, Nguyễn Tuân lại chơi ngông, nhâm nhi, tỉ mẩn luôn một bài… “Phở”. “Thật ra ăn phở cho đúng , đúng cái “gu” của phở, phải ăn thịt chín. Thịt chín thơm hơn thịt  tái, mùi thơm miếng thịt chín mới biểu hiện đúng cái tâm hồn của phở…” Than ôi, cái “ngông của Nguyễn Tuân” cũng mới ở mức độ vuốt ve con tì con vị, chứ chưa dám “ngông” thở than oán trách gì chế độ, ấy thế mà cũng đã bị ông trùm mác-xít Như Phong choang cho một chuỳ trên báo Nhân Dân: “Ở Nguyễn Tuân , ưa phân tích cầu kỳ các cảm giác như vậy không phải chỉ là một phong cách văn chương mà còn là một lối sống ưu du, hưởng thụ mà anh muốn truyền bá. Có đặt cả quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân, mới thấy bài “Phở” hãy còn mang nhiều dấu vết của khuynh hướng nhảm đó…”. Khổ nỗi, nhâm nhi con tì con vị là…nghề của chàng. Thôi thì không cho “nhâm nhi” miếng ăn miếng uống thì ta “xơi” cảnh vật vậy, so với thiên hạ đang phải nhai “con người mới xã hội chủ nghĩa” thì chàng vẫn còn… ngông chán.

Thế là cũng năm 1957,  Nguyễn Tuân viết “Cây Hà Nội”: “Hà Nội của ta rất nhiều me nhiều sấu với những trẻ em trèo me, trèo sấu ngày xưa. Nhưng bên cạnh những phố trồng toàn me toàn sấu, còn những cây đứng lẻ tẻ khắp Hà Nội. Hoàng lan, ngọc lan, sữa, long não, gạo, lim, đại, đỗ quyên Nhật…”. Ba hoa về “cây”, nhưng chàng Nguyễn vẫn không quên  gài một câu xỏ xiên về “người”: “Lắm lúc tôi muốn rộng lượng tặng huân chương cho một vài cái cây thủ đô vì một số công lao của chúng đối với cuộc sống hàng ngày của người Hà Nội. Anh tưởng chỉ có một số người nào mới có công lao thôi sao… Anh họp nhiều quá, lâu quá, cây đẹp không đợi được anh mãi…”.

Cái mẹo đó sau này được đúc kết lại thành “thủ pháp nghệ thuật’ có tên là “gài mìn” nhiều năm sau được một số cây bút trẻ học lỏm. Hết “cây” lại đến “hồ”, mượn lời một chị Ba Lan, Nguyễn Tuân mệnh danh “Con hồ Thủ đô” là một …viên ngọc êmơrôt “nằm giữa một cái nền hộp nữ trang bọc nhung xanh hồng, kẻ đường con cờ…”. [chữ Pháp émeraud: ngọc lục bảo – B.T.] “Êmơrôt” là cái quỷ gì quần chúng công nông làm sao biết? Thôi thì bỏ qua cái tội quên lời Bác dặn “viết sao cho dễ hiểu”, nhưng cái “lỗi”  “lan man , lẩn mẩn” thì vẫn còn đó. “Một hôm tôi đang nhìn hai cô cân táo đen táo đỏ bán lẻ, tôi đang nhìn bà quay kẹo bông cho trẻ em, tôi đang nghe cái ông đội mũ rạ rách thuyết minh cho cái ống dòm thời sự chiến tranh của ông đỗ ở xế ga tàu điện cũ bờ hồ, bỗng thấy nhớ mấy cây lộc vừng năm nào vẫn soi bóng xuống hồ…”.

Rõ chuyện tầm phào, “mậu dịch viên nhà nước” đâu hết toàn “tả” tư thương để mà nhớ về quá khứ ? Có lẽ chợt nhận ra “lỗi” này, Nguyễn Tuân vội vàng bày tỏ lập trường: “tổ chức tết trung thu Độc lập cho các em thiếu nhi quanh hồ phá cỗ” và rồi hăng lên bốc phét “trong những ngày vui ấy, một anh bạn tôi đã hồi sinh lại  với thời đại đã vứt tõm xuống hồ Hoàn Kiếm một khẩu súng lục, nhất định từ bỏ ý định tự sát vẫn ám ảnh mình, một chị bạn tôi cũng vứt xuống lòng hồ một cái hộp sắt hàn thiếc trong ấy có cả một cuốn nhật ký một người đẹp sắp phát điên…”. Cách mạng cảm hoá người ta ghê gớm chưa, một anh sắp tự tử vứt cả súng, một chị chán đời quăng cả nhật ký xuống hồ. Bác Nguyễn “hư cấu” thế này đến con nít cũng chẳng tin. Ấy thế rồi để tăng thêm “tính cách mạng” cho bài viết, xuê xoa đi những chỗ “tầm phào”, bác Nguyễn lên giọng “chính trị”. Nào  “Đối với con người Hà Nội, đối với thủ đô năng suất gấp trăm  gấp ngàn thành phố khác trên đất Việt Nam , hồ Gươm như là một  người bạn thân thiết…”, nào “hồ là lá phổi làm thắm tươi dòng máu đập nhanh của gần nửa  triệu con người thủ đô Hà Nội đang hàn gắn, chắt chiu và vững tâm xây dựng…”, nào  “Với anh chị em tập kết Trị Thiên, Khu năm, Nam bộ, có lẽ hồ Hoàn Kiếm còn thân mật hơn với tất cả chàng trai và cô gái sinh trưởng ở Hà Nội…”. Than ôi, giọng văn khinh bạc của bác Nguyễn đâu rồi? Còn lại một thứ “tả cảnh” của học sinh phổ thông làm luận “Em hãy tả hồ Hoàn Kiếm”!

Mạt sát “phong kiến đế quốc” và “ tung hô cách mạng” từ nay đã trở thành cảm hứng chủ đạo xuyên suốt văn chương chữ nghĩa  của  chàng Nguyễn. Trong “Từ Tân thế giới mà về”, [Tân Thế Giới tức Nouvelle Calédonie, vùng đất ở tây nam Thái Bình Dương, thuộc Pháp – B.T.] ông tả bà con khi rời Việt Nam: “…ở đâu phe phẩy ngọn cờ vàng ấy thì nơi đó ngày đêm nổi dậy tiếng than khóc mếu ly tán, vợ tiễn chồng, con tiễn cha. Tiếng khóc sinh ly dưới cờ vàng mà thảm hơn cả những tiếng tử biệt…”, ăn uống ở Tân Thế giới thì: “cá khô mủn ra như mạt cưa, một quả trứng luộc cho cả chục người ăn (sic) thịt trâu đánh đàn và rau muống thắt lưng được (hi hi)…”, khi bà con trở về quê hương đã vào “cái thế kỷ lớn lên của chủ nghĩa cộng sản, cái thế kỷ của Liên Xô đưa người hoà bình lên tinh cầu vũ trụ” và bởi thế bà con cực kỳ xúc động: “Thật là sống lại. Lúc đi cũng chả nghĩ được ai là tốt ai là xấu. Nay về , thấy mọi người đều thân hơn cả ruột thịt. Giờ được về thấy nước như non tiên…”.  Và rồi nhà văn Nguyễn Tuân “tưởng tượng”: “Tôi không theo đoàn đại biểu kiều bào lên Hà Nội gặp bác Hồ nhưng tôi không khỏi hình dung, tưởng tượng nhiều tới buổi gặp gỡ này. Chủ tịch nước chúng ta 70 tuổi thọ. Cụ già phu mộ Tân thế giới 80 tuổi chẵn. Cụ Hồ thì chủ động xuất dương mà bôn ba khắp châu này biển nọ mưu hạnh phúc cho tất thảy những người đau khổ thế gian, trong ấy có người đau khổ đi phu Tân Thế giới…”

Khi viết những dòng hào sảng, đầy cảm hứng này, không hiểu bác  Nguyễn có biết số phận những Việt kiều Tân đảo này rồi đây sẽ mất hút  trong những vùng kinh tế mới trên núi rừng Tây Bắc xa xôi? Trí tuệ sắc sảo như nhà văn Nguyễn Tuân ắt phải  biết nhưng viết thế thì vẫn cứ … phải viết. Chứ còn biết làm sao ?

“Văn học nghệ thuật là vũ khí của Đảng, mỗi nhà văn là một chiến sĩ trên mặt trận văn hoá…văn học phải phục vụ chính trị…”.   Ta có thể thông cảm hoàn cảnh khắc nghiệt của các nhà văn Việt Nam khi phải đội trên đầu “cái vòng kim cô” đó mà bất kỳ ai cũng có thể đọc “niệm chú” cho kẻ đang đội nó phải thân tàn ma dại. Vậy nhưng khác với Tôn Ngộ Không bị buộc phải đội, trong cái chợ văn chương xã hội chủ nghĩa, ai muốn vào thì vào, ai muốn ra cũng chẳng cấm, bất kỳ nhà văn nào muốn từ chối danh hiệu “người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá văn nghệ” đều có thể xếp bút nghiên theo việc cày bừa, nhà văn có thể tháo cái “vòng kim cô” trả lại Đảng kiểu như nhà thơ Hữu Loan từ bỏ Hội Nhà văn về làm ruộng, Đảng còn mừng nữa là khác.

Với Nguyễn Tuân thì khác, ông “ngông” ở đâu không biết chứ trên “mặt trận văn hoá văn nghệ” ông “phục vụ chính trị” vào loại xông xáo nhất, hăng hái nhất trong số các nhà văn “tiền chiến”.

Thử coi Nguyễn Tuân tả Lê Duẩn giảng bài :

 Hình ảnh “thày học”  (Lê Duẩn) “hửng dưới rặng hoa mơ hoa  bưởi  trắng, nở bên những mái gồi, trên những con đường thấp thoáng quần áo xanh lam dặm. Càng ngày càng hiểu thêm ra thấy rõ chủ nghĩa Mác là mùa Xuân của loài người. Càng thấy mình trẻ lại trong sự giáo dục ân cần của Đảng…”.

Thật khó ngờ rằng mãi đến những năm thập kỷ 60, ông nhà văn   Nguyễn  Tuân vẫn tràn đầy cảm xúc “mùa xuân của chủ nghĩa cộng sản”  trong khi trước đó rất lâu, André Gide đã viết “Retour de l’ URSS”, Koetsler đã viết “Le zero et l’infini” , nhà văn Nga Bulgakov đã viết “Trái tim chó”, Pasternack đã có “Bác sĩ Dzivago”,  nhà báo Proust đã lật tẩy: “chủ nghĩa cộng sản là sự đánh đồng cái cao thượng và cái ti tiện” , “Câu lạc bộ Petofi” ở Hunggary đã sôi nổi đòi thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa đó. Không lẽ trí óc lỗi lạc của ông nhà văn không mảy may tiếp nhận những tia hồi quang của những người tiên phong cùng thời đó?

Rồi cũng năm đó, ông tả hai cái xác chết của Lenin và Staline:

“Tôi cảm thấy như những cặp lông mày, lông mi sắp sửa chớp chớp và tất cả ở đây sắp được nghe thêm một lời nói rất mới rất nhẹ. Một vừng sáng hồng toả lên từ hai khuôn mặt trong lặng. Đấy là thần thái của những người sống, người còn sống. Đấy là thần thái của những vĩ nhân thế giới đã thức trọn một đời và trong lúc nhân loại ngày nay đã đi mạnh được trên cái đà của chủ nghĩa cộng sản thì Người đã yên tâm chợp mắt trong giây lát… Người nghỉ đây nhưng người đã hoá thân vào trong tâm não của cả nhân loại… Người đã thành tên tuổi của một kỷ nguyên mới, của một nền cảm xúc mới và một nếp lạc quan mới…”

Người ta có thể tin chắc nếu được dịch sang tiếng Nga cho nghe, hai đồng chí lãnh tụ tối cao đang nằm trong quan tài pha lê cũng phải nhổm dậy cười hô hố: “Thằng nào hót hay thế?”. Khổ nỗi không hót “hay” như vậy, lần sau “nó” cắt xuất không cho đi tham quan các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa nữa thì…nguy. Bởi vậy ở một chỗ khác, Nguyễn Tuân lại “bốc phét”: “Tuyết sẽ trùm lên hết Cung điện Mùa Đông Petrograd. Nhưng lửa nghị lực và sức làm việc nóng sôi của Lênin ở lều đây sẽ làm tan khối băng tuyết…”.  Í trời ơi, lửa của lãnh tụ nóng như vầy không khéo đốt cháy cả nhân dân Nga. Thế rồi được uống rượu Vodka nhắm với trứng cá hồi, ông nhà văn lại ba hoa về tượng Staline: “Người nhìn ra xa, nhìn chủ nghĩa cộng sản đang hình thành giữa trời nước Liên Xô bát ngát. Stalin to cao bình tĩnh như một ngọn đèn bể. Gió bể Cát-piên cuốn bụi dưới chân Người. Người  đuổi theo những ý nghĩ lớn. Stalin không nói. Stalin lặng im như một pho tượng sống…Vây quanh lấy Stalin , cuộc sống tưng bừng xây dựng của Stalingrát và của cả Liên bang xô viết đang nói to lên những điều Stalin lặng nghĩ trên ngã ba sông…”. Tượng đá mà còn biết nghĩ, và những ý nghĩ đó còn được cả bàn dân thiên hạ nói to lên, thì quả thực “nghề này phải lấy ông này tiên sư”.

Nguyễn Tuân là tấm gương tiêu biểu cho phẩm chất “tuần chay nào cũng có nước mắt” của các nhà văn Việt Nam. Hồi đầu Cách mạng tháng Tám, ông đã có “Lột xác”, “ Ngày đầu tuổi tôi cách mệnh”, Trên đường đến với Đảng…. Thật chẳng ai ngờ, mới ti toe làm cách mạng, Nguyễn Tuân đã mượn  lời “Thần cách mệnh” thở ra giọng sắt máu: “Ta là kết inh của Bạo Phá. Ta là cái chổi quét mạnh vào những thứ nhân nghĩa không khoa học.Ta khai chiến với hiện tại. Ta là Hồng Hài Nhi của cuộc đời rơm cỏ bây giờ. Đối với cái khối của cải bất nghĩa, ta là cốt mìn, ta là bom nguyên tử. Ta đốt, ta quật ta phá, ta tạo ra tan rã, ta ngự trị lên cuộc đời mâu thuẫn. Ta là lịch sử. kẻ nào nghịch với ta, ta giết…” ( nhạc kịch “Cỏ Độc lập”). Ghê gớm chưa, rõ ra là giọng “trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ” từ thời xô viết Nghệ Tĩnh đã nhiễm sâu vào máu chàng lãng tử họ Nguyễn.

Rồi để ca ngợi Đảng trong kháng chiến chống Pháp ông có “Đuốc dân công tiếp viện”, “ Thắng càn”, “Đường  vui” , “Tình chiến dịch”,”Tuỳ bút kháng chiến”… Vào thời kỳ cải cách ruộng đất, bao nhiêu máu và nước mắt của hàng trăm ngàn người chết oan chẳng mảy may làm Nguyễn Tuân buông một tiếng thở dài, ông cứ ngó lơ cái bi kịch có tầm vóc dân tộc ấy để mà đấu hót ca ngợi công ơn Đảng và Chính phủ đã cho “người cày có ruộng” trong những “ Làng hoa”, “Tổ đổi công Chị Nhì ở Phù Yên”…, hoặc chửi rủa địa chủ phong kiến trong “Tây Bắc căm thù”, “Bóng nó còn đè lên xóm làng…”.

Chỉ nội trong chuyến được Đảng cho đi tham quan Liên Xô, Nguyễn Tuân đã “hót” lia lịa cả loạt bài: “Lăng và hồ Lênin”, “Về Stalingrát”, “ Thăm nhà máy cày”. Nhân “Liên xô kỷ niệm Cách mạng tháng Mười được chẵn năm mươi năm”, Nguyễn Tuân ao ước: “Tôi muốn tôi được hoá thân làm một ngòi pháo cây bông lửa màu soi mình suốt đêm thâu đo trên pha lê tuyết ngần của Mạc Tư Khoa tôi hằng quý mến, của Lêningrát tôi hằng nhớ thương…”. Ôi chao, tình thương mến thương quê hương cách mạng Tháng Mười của Nguyễn Tuân rào rạt đến như vậy thì còn có nhà văn nhà thơ thế giới nào hót hay hơn được nữa?  Chỉ tiếc chưa đầy hai chục năm sau, “kiểu đấu hót” này đã bị Ngài Putin vứt vào thùng rác của lịch sử.

Được đi thăm Trung Quốc, Nguyễn Tuân ca ngay một tập “Bút ký Trung Hoa” trong đó có cả loạt bài, nào “Cung thiếu nhi”, nào “Ngày Quốc tế thiếu nhi tại Bắc Kinh”, “Xưởng máy dệt gai ở Cáp Nhĩ Tân”, “Gang thép khu Đông Bắc và người công nhân Trung Hoa”,  “Xưởng máy mẫu cơ ở Thẩm Dương”, “Làng ngoại thành Bắc Kinh”,  “Sân khấu Trung Quốc”…  Ở đâu cũng thấy Nguyễn Tuân đề cao công ơn của Đảng cộng sản Trung Quốc mang tới cho nhân dân Tàu. Chẳng chịu kém thi sĩ Chế Lan Viên trong hai câu thơ để đời :

“ Bác Mao nào ở nơi xa…

Bác Hồ ta đó cũng là bác Mao…”

Nguyễn Tuân cũng phóng bút:  “Trong cuộc sống tưng bừng ngày nay của Trung Quốc có Mao Chủ tịch và Đảng cộng sản Trung Hoa luôn đem vui tươi ấm no đến cho nhân dân, tôi cảm thấy cây liễu đã trổ hoa thật và bóng liễu ngày nay xanh rờn  bắt nắng hơn bao giờ hết…” . Ôi chao ôi, công ơn Mao Chủ tịch và Đảng  cộng sản Trung Quốc cao đẹp đến nỗi cây liễu cũng ra hoa thì thật là bốc phét đến … tàu cũng phải cười. “Nhà tiên tri giả” Nguyễn Tuân liệu có biết chỉ không đầy chục năm sau, Mao Chủ tịch và Đảng cộng sản Trung Quốc đã dìm chết cả chục triệu người vô tội trong biển máu của “Cách mạng văn hoá” ?

Vậy nhưng bổng lộc Hội nhà văn Việt Nam đâu có nhiều cho Nguyễn Tuân “xê dịch” khắp thế giới dẫu đã tình nguyện làm con hoạ mi ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Và dường như Đảng đã nhận ra chàng Nguyễn  “đấu hót” về tình quốc tế vô sản vĩ đại như thế đủ rồi nên “mời” chàng lên rừng để làm nhiệm vụ “tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc” và chẳng ai ngờ, dẫu phải rời đất thánh Hà Nội, chàng cũng đã hoàn thành công tác một cách xuất sắc….

 

                     

Đó là vào dịp đi thực tế sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Thực ra trong vụ này, Nguyễn Tuân cũng có “tham gia”  vài bài như “Quanh việc phê bình tờ báo Văn”, “Phê bình nhất định là khó”, “Tìm hiểu Sê-khốp”, “Cây Hà Nội”, v.v., nhưng cũng chỉ ở mức độ “em xin thưa lại với Đảng” kiểu như “tình trạng lệch lạc trên mặt sáng tác của báo Văn là do trình độ yếu” hoặc “đến với nghệ phẩm, anh đến với nó mà anh tham lam quá đáng hoặc  hung hăng một cách không cần thiết thì nó biến mất” … thượng số chỉ thế, chứ chẳng phải đòi  tự do sáng tác, dân chủ xã hội gì ghê gớm như bà Thuỵ Khuê đã viết trong “Thi pháp Nguyễn Tuân”: “Thời kỳ Nhân văn Giai phẩm, Nguyễn Tuân trở lại với tính nghệ sĩ cứng đầu, viết những bài tiểu luận khá ngang tàng, phê bình chế độ và một số lãnh đạo văn nghệ “. Ôi chao là ngộ nhận! Bởi lẽ ngay sau khi được đồng chí Như  Phong (GĐ NXB Văn Học) uốn nắn trên báo Nhân Dân, đầu chẳng cứng mà khí phách cũng chẳng ngang tàng (từ sau cách mạng chưa bao giờ chàng có được cả hai phẩm chất này để mà “trở lại”), Nguyễn Tuân sám hối ngay một bài “ Nguyễn Tuân tự phê bình” in trên Văn Nghệ, tự nhận “hồi Nhân văn Giai Phẩm tôi đã có sai lầm hữu khuynh…”,”trong lòng mình thẩm lậu một con đê chưa hàn khẩu” (riêng câu này, bà Thuỵ Khuê có thể dùng để minh chứng thêm cho cái bà gọi là “thi pháp Nguyễn  Tuân”, nhưng “thi pháp” nào cũng còn có ý nghĩa gì khi nó gói ghém một điều giả dối?), thành khẩn không thua gì trong “Lột xác”, báo cáo thu hoạch sau đợt học tập chính trị hồi còn ở Việt Bắc. Tuy nhiên lần này có khác, lần này kiểm điểm xong, Đảng mời Nguyễn Tuân “đi thực tế mãi trên Điện Biên” và lại còn dặn dò: “Các đồng chí mắc sai lầm lần này phải cố gắng đi thực tế…”. Những tưởng cái “ngang tàng, cứng đầu” trong con người Nguyễn Tuân vùng dậy mà quăng đi cái mũ cối bị chụp lên đầu, hoặc chí ít cũng có một lần thở dài trong trang viết của mình, nào ai có ngờ, những bài viết của Nguyễn Tuân trong đợt đi thực tế này lập tức được các nhà văn hoá của Đảng vỗ tay reo mừng.

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ sốt sắng: “Chưa bao giờ câu văn Nguyễn Tuân có được cái âm điệu hùng tráng vui tin và lạc quan đến thế. Đáng quý ở đây là sự hoà hợp với cuộc sống mới xung quanh, ý thức đóng góp phần mình vào cái công trường không lồ của chủ nghĩa xã hội”.

Nhà nghiên cứu Trương Chính khẳng định: “Chính trong chế độ mới, ông đã tìm ra con người chân thực của ông”.

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng tâng bốc : “…tôi muốn chào mừng ở anh Nguyễn Tuân một cách đứng mới, một vị trí mới, không những chỉ là một vị trí mới của anh trong tác phẩm mà trước hết là một vị trí mới của anh trong cuộc sống mới. Anh đã nói rất nhiều, rất say sưa về những con người mới mà lòng hy sinh cao cả của họ đã hiến dâng hết cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.”

Tập “Tuỳ bút Sông Đà” của Nguyễn Tuân  viết sau đợt đi Tây Bắc đã được dán rất nhiều tem đỏ kiểu như thế. Bởi lẽ, vượt cả yêu cầu của đồng chí Tố Hữu, ông đã coi những người bị đầy đi làm kinh tế mới, những công nhân đập đá vá đường trên những vùng rừng núi xa xôi, heo hút là “những thỏi vàng của một khối vàng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đem đầu tư vào Tây Bắc”. Niềm tin yêu Đảng lúc này chẳng biết thực hay vờ làm Nguyễn Tuân cất lên những dòng viết đầy hào sảng:  “tâm hồn tôi đã in sâu và vang động tất cả cái ý thức xã hội chủ nghĩa của người đi mở đường miền Tây”,”Tiếng máy nổ của kế hoạch kinh tế sẽ trùm lên tiếng cối nước. Ba năm chưa được thì lại năm năm và cuối cừng là rừng ở đây sẽ quấn quanh lấy người, lấy hơi người, mười đầu ngón tay con người sẽ giao hoà với cuống hoa đầu quả, hoa không còn là hoa ngàn vô định, cỏ cũng không còn là cỏ dại dặm dài. Hoa chẩu, hoa các cây công nghiệp, cây ép dầu, cây bóng mát, cây ăn quả sẽ đua tươi với mọi thứ hoa hương và hoa sắc. Hẳn vì đã thấy trước cái triển vọng thơm ngọt tươi thắm ấy của lũ chúng ta ngày nay trên con đường lớn này, mà trên đồi ngục Sơn La, từ những ngày hoa cỏ bị dập vùi, các đồng chí tiên liệt Đảng ta đã tượng trưng giồng lên mấy gốc đào…”

Ôi chao ôi là chàng Nguyễn, lên cơn “thi pháp Nguyễn Tuân” mà vẫn không quên cả cây đào của đồng chí Tô Hiệu, tiền bối cộng sản, trồng ở nhà ngục Sơn La ngày trước. Chỉ tiếc không đầy 20 năm sau  giá như ông lại ngược sông Đà chuyến nữa để thấy các đồng chí cán bộ Đảng tại nơi ông đã đi qua cùng với đám lâm tặc phá rừng như thế nào – hơn 10 triệu ha rừng nguyên sinh, rừng gỗ quý, rừng phòng hộ đã bị chặt nát để biến thành những “phủ” lộng lẫy, những tiện nghi sa hoa, những xe hơi đắt tiền.

Ngày nay đọc lại những “ Sông Đà”,” Tờ hoa”, “Tình rừng”  của Nguyễn Tuân, người ta chỉ còn thấy đôi chút giá trị ở những tư liệu dư địa chí mà ông đã thừa nhận “Tôi đọc ở Thư viện khoa học một bộ bảy quyển dày và to “La mission Pavie” của một học giả thực dân Pháp viết rất kỹ về Lai Châu. Những kiến thức ấy cho tôi những trang viết sinh động trong tập Sông Đà…”, còn phần lớn là những trang tán nhăng tán cuội về những “con người giả” như anh bộ đội Điện Biên trở về quê “vận động cả gia đình lên Tây Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, lấy núi rừng miền Tây làm quê hương thứ hai…” hoặc như anh cán bộ Phương, người Kinh lên vùng cao công tác, được Nguyễn Tuân ca ngợi: “Cán bộ Đảng ta, nhất là ở Tây Bắc, nhất là đối với một số đồng chí gây cơ sở ở vùng địch hậu cũ, cán bộ Đảng nó cứ như là một con dao pha ấy. Vứt đâu cũng được, cái gì rồi cũng làm. Loay hoay ngày đầu, nhưng có ý thức trách nhiệm, rồi cũng tìm ra, vừa làm vừa học…”. Giá như Nguyễn Tuân thành thực với chính ông, chắc chắn ông sẽ thấy “cán bộ Đảng ta” không phải là như vậy.

Tuy nhiên, dẫu đã hót hay thế mà Nguyễn Tuân vẫn bị “bắt bẻ” trong “Tờ hoa”, “ Tình rừng” vì dám lên án kẻ đốt rừng. Ô hay, bác Hồ đã dạy:  “Dẫu có phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn để thống nhất đất nước thì vẫn cứ phải đốt” rồi kia mà. Bởi thế nhà thơ Xuân Sách mới làm thơ chân dung Nguyễn Tuân :

“ Vang bóng một thời đâu dễ quên,

Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên

Chén rượu Tình rừng cay đắng lắm

Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền”

Sau hai “tai nạn nghề nghiệp” này, Nguyễn Tuân thôi không chơi “cảnh”, chơi “rừng” nữa, ông dứt khoát trở thành một chiến sĩ dùng ngòi bút làm vũ khí xông xáo trên mặt trận “chống Mỹ cứu nước”: “Cho giặc Mỹ ăn một cái Tết ta”, “Hà Nội ta diệt B52”, “Hà Nội giải tù Mỹ đi qua phố Hà Nội”… chửi Mỹ như một bà nhà quê mất gà.

Nào là “những tên phát xít Hoa kỳ hợm hĩnh về súng đạn và du côn du kề lộng hiểm”;

nào là: “từ lòng đường xông lên mùi của Thần Chết, một cái thứ khắm thối Hoa Kỳ mà không thứ nước huê đế quốc nào tẩy tan được…”

nào là “Thằng Tổng thống kẻ cướp Mỹ ấy càng leo thang xâm lược càng nện dùi mạnh vào cái mặt trống hòa bình…”, “Nước Hoa Kỳ đã đi một lèo từ man rợ thẳng tới đoạ lạc mà không có thông qua giai đoạn văn minh, văn hiến nào…”.

Cứ như thế “cơn bão ngôn từ” của Nguyễn Tuân lên tới đỉnh điểm ở bài ký nổi tiếng “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”. Trong bài này ngoài giọng chửi Mỹ xoe xoé, Nguyễn Tuân còn phủ lên cái chết tang thương của bao người Hà Nội một thứ “lạc quan cách mạng” phi nhân:

“Chợ Ngọc Hà không phải là vỡ chợ mà là xác thù đã vỡ tan trên buổi chợ chiều”.

Ô hay, bom rơi xuống chợ, người chết, nhà cháy, toàn là dân ta cả, có “xác thù” nào đâu mà nhà văn khéo tưởng tượng.

Rồi thì “cô gái trại hàng hoa vứt đó cái ô-doà sắp tưới vườn chiều, cầm vội tay súng…”,

hi hi, chắc cô này không chồng, không con, không nhà, không cửa nên bom ném vào xóm là cầm ngay lấy…cây súng.

Rồi thì “Tôi đi giữa Hà Nội hôm nay đã chói thắm Huân chương Độc Lập hạng Nhất. Hà Nội phấn khởi đón mừng Huân Chương thi đua lập thành tích mới… Hoa sấu vẫn nở vãi vương khắp thủ đô tưng bừng chiến thắng…”.

Lạy đức Chuá nhân từ, máu đổ, người chết, nhà sập…bao nhiêu bi thương đó ông không thấy, chỉ thấy có “thành tích với huân chương” ? Phải chăng tâm hồn nghệ sĩ của “thiên tài Nguyễn Tuân” (nói theo bà Thụy Khuê)  đã trơ như đá, rắn như sắt, cứng như thép mất rồi.

Người ta có thể tôn vinh Nguyễn Tuân như một “phù thuỷ ngôn từ”, một “Thần bút và một thi pháp đặc biệt” ( bà Thuỵ Khuê), người ta có thể ví ông như “một nhà làm xiếc chữ ở trên dây”, tiếc thay, từ sau năm 1945, cái dây đó đã đặt xuống đất rồi mà ông cứ vờ như nó vẫn dăng cao để ông cứ còn uốn éo mãi trên cả ngàn trang chữ. Phải chăng đó là “thi pháp Nguyễn Tuân”?

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tập tiểu luận văn học của Nhật Tuấn,

(bản Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

 

            

 

TRÍ KHÔN BÁC ĐỂ ĐÂU?

 

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Công Hoan

 

Dân gian có chuyện một con hổ cứ lẽo đẽo theo bác thợ cày đang làm ruộng hỏi bằng được: “Trí khôn mày để ở đâu ?”. Bác thợ cày đáp: “Trí khôn tao để ở nhà”. — “Về lấy tao coi đi” — “Không được, tao về mày ăn thịt con trâu của tao thì sao, phải để tao trói lại đã…”. Chú hổ bùi tai bằng lòng cho bác thợ cày trói lại. Trói hổ xong, bác thợ mới cầm cày phang túi bụi, vừa phang vừa la lớn: “Trí khôn của tao ở đây …”.

Vậy còn  trí khôn các bác nhà văn ta để đâu?

Xin bắt đầu từ nhà văn Nguyễn Công Hoan, người được bác Tô Hoài thổi lớn: “Truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan sừng sững tạo thành một thế Tam Đảo, Ba Vì hùng vĩ, vượt qua hai thời kỳ kháng chiến, tiến vào cách mạng tháng Tám…”.

Ái chà chà, “trái núi biết đi” này tiến vào cách mạng liệu có từ Tam Đảo, Ba Vì  biến thành Everest ?

Trả lời được câu hỏi này không gì bằng những tác phẩm của ông viết sau cách mạng.

Tiếc thay, “bệ đỡ văn hoá” lại là cái nền móng cho nhà văn xây nên ngôi nhà  của mình. Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp Sơ học yếu lược (cấp 1 bây giờ), sau đó vào trường sư phạm ra dậy tiểu học tại hầu hết các tỉnh lẻ: Hải Dương, Lào Kai, Nam Định  rồi đảo Trà Cổ ( Móng Cái) … vừa dậy học vừa hoạt động cách mạng, khó mà có thời gian, điều kiện mà nghiên cứu,  tự học. Sau năm 1946, ông cũng lên rừng như các văn nghệ sĩ khác, học tập chủ nghĩa Mác và đường lối văn nghệ Diên An là chính, về Hà Nội sau năm 54 cũng vậy, cũng miệt mài vào chủ trương chính sách của Đảng; các trào lưu tư tưởng và nghệ thuật hiện đại chỉ là vầng ánh sáng mờ mờ nơi bên kia đại dương.

Văn chương Nguyễn Công Hoan bởi thế trở nên “phú quý giật lùi” so với thời ông viết những “Bước đường cùng”, “Cô giáo Minh”, “Kép Tư Bền”, “Lá ngọc cành vàng” … và hàng trăm truyện ngắn ghi lại được phần nào bộ mặt xã hội thời đó.

Từ sau 1945 (khi đó Nguyễn Công Hoan mới 42 tuổi), “tiến vào cách mạng tháng Tám” rồi “vượt qua hai thời kỳ kháng chiến” đánh Pháp và đánh Mỹ, ngòi bút Nguyễn Công Hoan cứ cạn mực dần.

“Mở hàng” cho cách mạng, năm 1946, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết “Đồng chí Tơ”, kể một anh tù hình sự, trong nhà giam được giác ngộ trở thành người cách mạng, viết dở tới mức chỉ in 20  kỳ trên báo Sao Vàng rồi biến mất tiêu, không tái bản, cũng không ai nhắc tới. Sang năm 1947, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết  “Xổng cũi” thuộc tủ sách Vệ Quốc Đoàn, cũng không để lại dấu vết gì trên chặng đường sáng tạo. Rồi mãi tới năm 1952, Nguyễn Công Hoan mới lại cho ra lò tiểu thuyết “Bà Năm di cư”, năm 1955 tập truyện ngắn “Nông dân và địa chủ” mà chỉ nội hai cái nhan đề cũng đủ biết nó chết yểu. Năm 1963, Nguyễn Công Hoan xuất bản “Đống rác cũ” tập 1 “viết về mặt trái của quan lại phong kiến”, sách ra lập tức bị thu hồi, không phải vì “nghĩ ra ngoài những điều Đảng nghĩ”  mà chính vì dơ dáy,  “tự nhiên chủ nghĩa” quá. Sau này, 1988, cả hai cuốn “Đống rác cũ” 1 và 2 đều được xuất bản và cũng chẳng gây được tiếng vang nào vì … dở quá. Bản kê “sáng tác phẩm” của Nguyễn Công Hoan sau nửa đời đi theo cách mạng chỉ có bấy nhiêu còn lại toàn những “sổ tay văn học”, “kinh nghiệm sáng tác”, “nghĩ gì viết nấy”…

Sau năm 1975, Nguyễn Công Hoan có viết “di bút”: “Hiện nay, truyện ngắn viết dài mà truyện dài cũng viết dài. Rõ ràng cái viết dài này có dụng ý là khoe vốn sống. Kiếm được bao nhiêu vốn, khi cầm bút thì lôi tiệt ra. Hàng tràng, hàng tràng. Vốn bị vét đến tận đáy. Thứ vốn sống …sượng cũng bị lôi ra tuốt…”

Than ôi, những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan viết sau chuyến đi thăm “miền Nam hoàn toàn giải phóng” lại rất tiêu biểu cho  “thứ vốn sống…sượng” mà ông vừa cao giọng lên án.

“Trên chuyến xe lam” (truyện ngắn, 9-1975) đang bon bon về Sài Gòn có  “đại tá Đôn trong ngụy quân của tên đại Việt gian Nguyễn văn Thiệu”. Ông Đôn đang lo “đi trình diện” sẽ bị bắt, ngồi tù và sẽ phải “tẩy não” vì thế ông nhất quyết  trốn và tập hợp chiến hữu âm mưu lật đổ cách mạng.

“May thay” chiếc xe lam ghé lại bến đón khách …một anh bộ đội. Thế rồi trên đường, anh này kể chuyện “xung phong đi đánh Mỹ chứ không phải bị bắt lính” rồi anh lại  đọc cả …. tiểu thuyết Pháp nữa làm một bà mẹ trên xe nắc nỏm: “Cụ Hồ khéo dạy người thật. Tôi thấy anh bộ đội ngoài ấy cũng như quân giải phóng trong này, anh nào cũng hiền lành tử tế”.

Sự việc chỉ có nhiêu đó đập vào mắt ông đại tá làm ông “tỉnh ngộ”, thức tỉnh chính nghĩa cách mạng đến mức sáng hôm sau ông đi trình diện sớm, dứt khoát từ bỏ ý định trốn cải tạo làm phản loạn. Truyện ngắn này nếu che đi tên tác giả, người đọc sẽ tưởng là một cây bút “thông tin văn hoá phường” chứ chẳng ai ngờ người viết nó  lại là một nhà văn lớn như “Tản Viên – Ba Vì”.

Sang truyện ngắn “Nỗi day dứt của một đại tá tỉnh trưởng ngụy quyền”, vốn sống của nhà văn Nguyễn Công Hoan  lại càng …kinh dị hơn. Ông đại tá này ở lớp cải tạo “học đến bài thứ bảy, anh ta càng thấy sỉ nhục về cái tội làm tay sai cho đế quốc Mỹ xâm lược”. Nỗi xấu hổ này làm ông “mất ngủ, ít nói, ít cười… vắt tay lên trán, thở dài thườn thượt…”  Thế rồi không chịu nổi nỗi ăn năn, ông ta phải gặp cán bộ để thổ lộ “Tôi biết là bọn Mỹ-Ngụy đã đào tạo khiến chúng tôi không còn là người, nhưng cách mạng giáo dục để chúng tôi trở lại thành người. Tôi vô cùng cảm ơn cách mạng…”  Tiến lên ta quyết tiến lên làm người …cách mạng, ông đại tá lại thú nhận: “Hồi tôi làm tỉnh trưởng tỉnh XX, thì trong những ngày cách mạng đến giải phóng thị xã, tôi và anh Xiêm cũng học lớp cải huấn này …đã lấy hết công quỹ gồm 13 triệu đồng”. Nay xin “lập công chuộc tội” với cách mạng, ông đại tá đề nghị : “Lấy uy thế tỉnh trưởng, tôi chỉ chia cho Xiêm 5 triệu, tôi giữ 8 triệu. Tám triệu không nuôi sống đời tôi nhưng giữ nó, tôi bị day dứt suốt đời. Tôi cần rũ sạch vết  nhơ, vết ô nhục ấy … tôi xin phép được hiến cho chính phủ số tiền 8 triệu đồng …” Cán bộ còn đang tuyên dương tinh thần “giác ngộ cách mạng qua học tập” thì chợt nghe tiếng gõ cửa cạch cạch. Ai thế? Tưởng ai hoá ra anh Xiêm, đồng sự với ông đại tá, cũng tìm tới cán bộ để xin nộp lại 5 triệu kẻo nó thành vết nhơ ở trong lòng.

Than ôi, to như trái núi Tam Đảo – Ba Vì mà sao đẻ ra hai con chuột nhắt bé xíu thế? Riêng cái truyện “ông đại tá…”  chẳng phải vốn sống đang còn …sượng , bởi lẽ Nguyễn Công Hoan đã bao giờ đặt chân tới trại tập trung cải tạo mà biết mặt mũi, tâm trạng mấy ông “đại tá tỉnh trưởng” ra sao, chẳng qua ông tưởng tượng vậy thôi. Mà trí tưởng tượng của ông lại bắt nguồn từ một hiểu biết quá nghèo nàn.

Sau gần nửa thế kỷ “hành trình tư tưởng”, lẽ ra ông nhà văn phải khôn ra rất nhiều để thấy cái thứ văn chương tuyên truyền trắng trợn đó là một thứ giả nghệ thuật, mà với nhà văn không gì dị ứng cho bằng sự giả dối. Vậy thì trí khôn của bác ở đâu mà đến nỗi “nhận thức” về “kẻ thù” ngớ ngẩn vậy?

Ông tiến sĩ văn học Nikulin (Liên Xô cũ) ca ngợi nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Thời buổi này, phải có lòng dũng cảm không nhỏ, niềm tin lớn lao mới dám bước lên con đường của Ông” (Nguyễn Công Hoan). Ông đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng khen ngợi: “Nguyễn Công Hoan là người không viết theo chiều gió, mà viết theo lý tưởng của mình, có nghị lực, có lòng dũng cảm…”.

“ Có lòng dũng cảm” mà lại viết lách ngu ngơ  đến thế  ư ?

Thì ra trí khôn của bác nhà văn nằm ở …cái gan. Chỉ tiếc cái gan của bác hơi bị bé nên sự nghiệp văn chương theo cách mạng của bác cũng chẳng có gì là …lớn!

NGUỒN:

biên tập từ bản tác giả cung cấp