Trang chủ » Hà Minh Tuân

Category Archives: Hà Minh Tuân

Qua cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh

16/8/1963. Báo “Văn nghệ”, s. 16: Tổ phê bình báo “Văn nghệ”:

Qua cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm

trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh:

          Tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh tuân phát hành chưa được bao lâu đã bị dư luận lên án kịch liệt và phê bình nghiêm khắc. Đợt phê bình cuốn tiểu thuyết này thực chất là một cuộc đấu tranh tư tưởng sâu sắc, rộng rãi, mạnh mẽ. Đợt phê bình “Vào đời” chứng tỏ rằng các giới các ngành và bạn đọc khắp nơi đã hết sức quan tâm đến công tác tư tưởng và văn nghệ, tha thiết bảo vệ chế độ tốt đẹp của chúng ta, bảo vệ lập trường tư tưởng và quan điểm văn nghệ của Đảng. Đó cũng chính là kết quả của đường lối phương châm đúng đắn của Đảng trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng đã được phổ cập và thấm nhuần trong nhân dân ta.

          Cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm của cuốn tiểu thuyết “Vào đời”, trong một thời gian ngắn đã diễn ra sôi nổi, quyết liệt. Bài phê bình của báo “Nhân dân” đã vạch rõ thực chất nội dung tư tưởng trong cuốn “Vào đời” là tư tưởng phản động hằn học của những giai cấp bóc lột bị đánh đổ và đã đánh một đòn quyết liệt vào tư tưởng đó. Những tờ báo của các cơ quan đoàn thể: “Lao động”, “Tiền phong”, “Phụ nữ”, “Cứu quốc”, “Thống nhất”, “Quân đội nhân dân”, các tờ báo hàng ngày: “Hà nội”, “Thời mới”, các tạp chí: “Học tập”, “Tạp chí Văn học”, tạp chí “Văn nghệ quân đội”, đều đã có nhiều bài liên tục phê phán mạnh mẽ và sâu sắc những tư tưởng nguy hại của tiểu thuyết “Vào đời”. Báo “Văn nghệ” liên tiếp trong 6 số đã đăng ý kiến của các nhà văn và bạn đọc phê phán “Vào đời”. Ban Thường vụ Hội nhà văn đã phê bình nghiêm khắc ban biên tập Nhà xuất bản Văn học (cũ) và Nhà xuất bản đã có bài tự kiểm điểm về những sao sót của mình khi cho in cuốn sách đó. Tòa soạn các báo còn nhận được nhiều bài và thư của đông đảo bạn đọc khắp nói gửi để tỏ lòng căm phẫn với nội dung độc hại của tiểu thuyết “Vào đời”. Trong khi vạch ra những điểm xuyên tạc trong cuốn truyện, nhiều bạn đọc đã đưa ra những sự thực tốt đẹp của cuộc sống chúng ta và tâm hồn trong sáng của lớp thanh niên đang hăng hái đi xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có những cuộc thảo luận, trao đổi của những người công tác văn học nghệ thuật, của những bạn đọc ở nhiều tầng lớp khác nhau, về cuốn tiểu thuyết này.

          Có thể nói ai cũng nhất trí kết luận “Vào đời là một cuốn tiểu thuyết có hại”,  chứa đựng những nọc độc nguy hiểm của tư tưởng tư sản phảm động.

          1/ Trước hết qua cuốn “Vào đời”, mọi người đều thấy Hà Minh Tuân đã xuyện tạc hiện thực của chế độ chúng ta. Bức tranh xã hội miêu tả trong “Vào đời” u ám xám xịt đến nỗi những ai đã chứng kiến và tham dự những cuộc biến chuyển cách mạng to lớn và sâu sắc trong những năm 1956 đến 1960 đều lạ lùng ngơ ngác và phẫn nộ với cách miêu tả không trung thực của tác giả. Hiện thực khách quan của cách mạng ở Miền Bắc trong thời gian đó là nhân dân ta,, sau cuộc kháng chiến gian khổ và vĩ đại, đã bắt tay vào xây dựng lại đất nước bị tàn phá, vượt qua trăm nghìn khó khăn một cách vô cùng dũng cảm mà đạt được những thành tích hết sức lớn lao. Đồng thời đó cũng là thời kỳ hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất  (CCRĐ) vĩ đại, rồi tiến hành công cuộc cải tạo XHCN, cải tạo giai cấp tư sản ở thành thị, hợp tác hóa ở nông thôn, xóa bỏ nạn bóc lột, làm thay đổi hẳn toàn bộ cơ cấu của xã hội Việt Nam ta. Những nét cơ bản đó của hiện thực chảng hề được phản ánh trong truyện “Vào đời”. Trái lại, quyển “Vào đời” đã bóp méo, xuyên tạc tất cả những nét về bản chất đó, trình bày một bức tranh rối loạn về hiện thực, chắp và và thổi phồng những nét tiêu cực với một thái độ u uất, hằn học, soi mói, mỉa mai, nêu những khó khăn thành khuyết điểm của chế độ, thậm chí những cái phải cái đúng cũng bị xuyên tạc ra thành khuyết điểm sai lầm. Rất nhiều ý kiến của bạn đọc vạch rõ cái sai trái trong cách mô tả người thanh niên đi vào lao động, cách nhìn phẩm chất của người quân nhân cách mạng và của người công nhân… Ai nấy đều nhận thấy rằng trong “Vào đời” nhiều mặt của đời sống đã bị bóp méo và đả kích, khi thì qua những lời thốt ra từ miệng nhân vật xấu, khi thì mượn lời những nhân vật gọi là “tích cực”. Nhiều bài phê bình cho “Vào đời” là một tác phẩm “giương lên một chủ đề tốt” để luồn vào đó những tư tưởng xấu, những nhận thức lệch lạc độc hại. Điều này biểu hiện rõ rệt ở kiểu vào đời của Sen, động cơ chống đối phá phách của Hiếu, việc đưa chuyện chống quan liêu trong nhà máy lên thành một cuộc đấu tranh hằn học chống lại một loạt cán bộ lãnh đạo. Nội dung tư tưởng xấu cũng biểu hiện ở những nhận xét cay độc của tác giả “Vào đời” qua nhân vật tiêu cực lẫn nhân vật “tích cực” về nhiều mặt sinh hoạt, từ công trường, nhà máy đến hợp tác xã, đường phố, từ đời tư của các nhân vật đến hoàn cảnh công tác của họ, từ những đoàn thể như Đoàn thanh niên lao động đến các cơ quan như công an, báo chí, mậu dịch, v.v. Bỏ rơi mất lập trường tư tưởng cách mạng, tác giả “Vào đời” đã đi đến đảo ngược cả phải trái hết sức nguy hiểm, và nhìn vào nhiều mặt của đời sống với thái độ, quan điểm của giai cấp bóc lột bị đánh đổ.

          2/ Tư tưởng độc hại đã rải ra trong tiểu thuyết “Vào đời” còn biểu hiện nghiêm trọng ở một loạt sự việc chống đối đường lối chính sách của Đảng. Hình ảnh cái chết ghê rợn của người cha Hiếu và những lời chửi bới hằn học của nhân vật này đã gieo rắc cái thái độ chống chọi lại nhận định của Đảng về CCRĐ. Thanh niên, nhất là nữ thanh niên, trước cái “gương” hãi hùng vào đời của Sen, có thể bị “lung lay tinh thần trong các đợt vận động lớn hiện nay của Đảng”. Lời kêu gọi của Đảng về thái độ kiên quyết làm cách mạng triệt để, ra sức khắc phục khó khăn để xây dựng CNXH trong Hội nghị TƯ lần thứ 8 bị cái bình phong những nhận xét cay độc của “Vào đời” cản trở. Những lời mỉa mai chỉ trích vào nhiều cơ quan của Đảng và Nhà nước, trong “Vào đời”, đã đả kích vào nền chuyên chính dân chủ nhân dân của ta. Việc đấu tranh chống quan liêu theo kiểu “Vào đời” hoàn toàn không phù hợp với cách tiến hành cải tiến quản lý xí nghiệp. Những ý kiến của cô giáo Loan trong truyện về lao động, về cách sống, đi ngược lại với lời dặn dò học sinh lớp 7 và lớp 10 phổ thông của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Thanh niên học sinh phải sẵn sàng làm bất cứ việc gì và đi bất cứ nơi nào khi xã hội cần đến”. Chống đối lại đường lối chính sách của Đảng như vậy còn có gì khác, nếu không phải tư tưởng tư sản phản động?

          3/ Nọc độc của tiểu thuyết “Vào đời” không kém phần nguy hại ở những trang những đoạn tả lối sống lối nghĩ rất xa lạ với chúng ta. Nhiều bạn đã chỉ trích những chuyện xác thịt khêu gợi úp mở trong “Vào đời”, những cảnh ăn uống chơi bời, những triết lý hưởng lạc thô bỉ “bê nguyên vào trang giấy, không biết ngượng cho ngòi bút”. Có bạn còn nhắc đến cả những sách viết trước đây của tác giả và lấy làm lạ vì sao tác giả lại hầu như có một thích thú tả những nhân vật trong các tiểu thuyết của mình với những triết lý bẩn thỉu đó. Nhiều bạn đã vạch cái nhân sinh quan lạc lõng trong “Vào đời”. Chẳng phải riêng gì chỉ có bọn lưu manh côn đồ xướng lên cái triết lý hưởng lạc thấp hèn đê tiện, coi phụ nữ như đồ chơi, sống theo cái phương châm ích kỷ của giai cấp bóc lột, rất nhiều bạn đọc bực bội khi thấy tác giả miêu tả Sen có những ao ước thèm thuồng hưởng lạc cá nhân bên cạnh tâm lý chán chường, thụ động. Những cái xấu cái hỏng của cách nhìn bệnh tật về đời sống và con người được chế biến qua những tưởng tượng và suy luận chủ quan, bằng chủ nghĩa tự nhiên sa đọa, những cái “éo le, ly kỳ, hấp dẫn”, “đánh vào cái thị hiếu tầm thường nhất” đã chi phối tác giả; chỉ riêng những cái đó cũng đã không có chỗ đứng trong thời đại chúng ta và đáng phải phê bình nghiêm khắc, huống chi nguy hại nghiêm trọng nhất ở đây lại là nọc độc của những tư tưởng tư sản phản động đầy rẫy trong cuốn tiểu thuyết.

          4/ Với những sai lầm thể hiện trong lập trường tư tưởng nói trên, tác giả “Vào đời” rõ ràng đã đi ngược lại đường lối văn nghệ của Đảng đã được trình bày rõ ràng trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba và được các văn nghệ sĩ nhất trí tán thành.

          Nhiều bạn đã vạch ra rằng tiểu thuyết “Vào đời” đã làm trái hẳn với lời kêu gọi của Đảng mong mỏi những “tác phẩm văn nghệ miêu tả một cách chân thật và hùng hồn công cuộc lao động và đấu tranh vĩ đại của nhân dân ta, cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội ta ngày nay, mạnh dạn nêu lên và trả lời đúng những vấn đề lớn của cách mạng, của đời sống”. Cũng như báo “Nhân dân” đã nêu lên, vấn đề ở đây không phải là có được viết hay không được viết những mặt tiêu cực trong đời sống xã hội ta ngày nay. Đường lối văn nghệ của Đảng đã hết sức rõ ràng về điểm đó. Đảng kêu gọi các nhà văn chúng ta hãy đi vào đời sống và viết về những đổi thay lớn lao mới mẻ trong đời sống, đồng thời các nhà văn rất có thể miêu tả những hiện tượng tiêu cực còn tồn tại. Vấn đề là nhà văn phải có thái độ nào đối với chế độ ta, đối với cuộc sống mới của chúng ta, trong khi miêu tả những hiện tượng tiêu cực đó. Nếu có lòng trung thành và có tình cảm yêu mến thắm thiết đối với chế độ ta, đối với cách mạng, đối với những con người mới, thì ngòi bút nhà văn sẽ có trách nhiệm cao và có thái độ xây dựng chân thành. Khi ấy, nhà văn viết về cái tiêu cực là để lên án nó, đấu tranh với nó, để làm sáng tỏ làm nổi bật cái tích cực, cái mới nảy nở lớn mạnh. Trong cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, thắng lợi bao giờ cũng về cái mới. Đó là quy luật phát triển biện chứng của sự vật, trong xã hội mới do Đảng lãnh đạo. Thư của Ban chấp hành trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba đã vạch rõ: “Văn nghệ XHCN của ta phản ánh cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi. Không những nó thể hiện cuộc sống mới và con người mới, mà còn tích cực góp phần thúc đẩy cuộc sống mới phát triển, góp phần sáng tạo và giáo dục con người mới”.

          Cuốn “Vào đời” thì hoàn toàn làm ngược lại. Cuốn truyện này đã tập trung miêu tả những hiện tượng tiêu cực với một cách nhìn xuyên tạc bản chất của chế độ, lại còn nêu những cái xấu thành cái tốt để tán dương, khêu gợi, hoặc vẽ ra một bức tranh bịa đặt trong đó những cái tiêu cực hoành hành ngang ngược và chi phối nặng nề mọi mặt của đời sống, để lại một ấn tượng chung xấu xa, u ám. Như vậy chính là đi ngược hẳn lại đường lối sáng tác đã nêu lên trong Đại hội văn nghệ vừa qua.

          Vì sao tác giả “Vào đời” đã mắc phải những sai lầm nguy hiểm như trên? Phải chăng đây là vì tác giả mới bước vào công việc viết văn chưa được bao lâu, vốn sống thiếu sót và bàn tay nghệ thuật non yếu cho nên đã đi đến kết quả tai hại? Hoặc trái lại, đây là vì lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị và quan điểm văn học của tác giả đã sai lầm nghiêm trọng? Như trong bài đăng trên tạp chí “Học tập”  đã đặt vấn đề và phân tích xem đây là vấn đề tư tưởng hay là vấn đề nghệ thuật?

          Trả lời câu hỏi đó, nhiều bài phê bình cũng như ý kiến bạn đọc đã vạch rõ: đây chính là vấn đề lập trường, quan điểm. Một tác phẩm văn học, dù kém về nghệ thuật, nhưng nếu tác giả có lập trường đúng, có thái độ tốt, thì không thể chứa đựng những tư tưởng xấu xa độc hại như trong “Vào đời”.

Qua quyển tiểu thuyết này, người đọc thấy rõ tác giả nhìn vào CCRĐ và cuộc sống XHCN không phải đứng trên lập trường cách mạng của giai cấp vô sản, mà là theo cách nhìn và thái độ hằn học của giai cấp địa chủ và những phần tử tư sản phản động. Một số quan điểm chính trị của tác giả về vấn đề chống quan liêu phảng phất hơi hướng những luận điểm của bọn xét lại hiện đại.

Trong nhân sinh quan của tác giả đầy rẫy sự mơn trớn thi vị hóa chủ nghĩa cá nhân đồi trụy và hèn yếu, đòi hỏi hưởng lạc, sợ hãi lao động, phản ứng với đời sống tập thể. Về quan điểm văn học, người ta cũng thấy rõ trong “Vào đời” biểu hiện của thuyết “nhân tính” tư sản, xóa nhòa ranh giới giai cấp khi miêu tả nhân vật, xuê xoa và tỏ cảm tình với những tư tưởng thù địch xấu xa, dưới cớ là phải có “tính người”.

“Vào đời” là một quyển sách viết rất kém và cẩu thả, người viết mới bước vào nghề văn nhưng đã tỏ ra thiếu hẳn công phu lao động nghệ thuật nghiêm túc. Nhưng “Vào đời” trước hết là một quyển sách có hại, biểu hiện một lập trường tư tưởng xấu, mang nọc độc còn rớt lại của tư tưởng giai cấp bóc lột bị đánh đổ. Trong “Vào đời” lẻ tẻ cũng có những câu những đoạn ca tụng chế độ, nhưng đó chỉ là những khái niệm trừu tượng, khô khan, yếu ớt, không thể cưỡng lại chiều hướng tư tưởng chung xấu độc của cuốn truyện mà có thể làm cho người đọc lướt qua có thể không nhận thấy ngay nội dung tư tưởng nguy hại của quyển sách.

          Một cuốn sách đầy rẫy chất độc tư tưởng như thế tại sao lại có thể xxuaasst hiện được? Đó là trách nhiệm rất nặng của ban biên tập Nhà xuất bản Văn học (cũ). Vì mơ hồ về lập trường quan điểm, vì thiếu tinh thần phụ trách, các đồng chí trong ban biên tập đã không kiên quyết đấu tranh với tác giả mà lại nhân nhượng để cho một tác phẩm như vậy được in ra. Các đồng chí làm công tác biên tập và Nhà xuất bản Văn học cần rút ra bài học thấm thía để nâng cao tinh thần trách nhiệm, cải tiến lề lối làm việc cho tốt hơn.

***

Cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời” đã đem lại cho chúng ta những bài học quý. Trước hết, nó cho ta thấy rõ rằng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, cũng như mọi lĩnh vực khác, lập trường giai cấp vô sản, tính đảng, sự tỉnh táo và cảnh giác cách mạng là một điều then chốt, không thể thiếu được. Một tác giả, nếu để cho tư tưởng tư sản hoành hành trong thế giới quan và nhân sinh quan của mình, thì chỉ đẻ ra những tác phẩm độc hại. Tác giả “Vào đời” cần phải suy nghĩ kỹ và kiểm tra sâu sắc hơn nữa tư tưởng của mình, cần phải thấy hết trách nhiệm của mình khi viết ra một cuốn sách đầy chất độc tư tưởng như thế. Có như vậy, anh mới có thể sửa chữa và tiến bộ được. Trường hợp cuốc “Vào đời” còn là một bài học chung cho những người viết văn muốn đem ngòi bút của mình phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Các nhà văn chúng ta nói chung đều đã được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng và đã có ít nhiều cống hiến bằng văn học. Nhưng cách mạng luôn luôn phát triển, đời sống luôn luôn đổi mới. Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp diễn dưới những hình thức mới. Trong cuộc đấu tranh cách mạng, nếu tách rời đời sống nhân dân, tách rời đường lối cách mạng của Đảng thì không thể sáng tạo ra cái gì tốt đẹp, thậm chí đi ngược lại lợi ích của cách mạng và của nhân dân. Vì thế người viết văn chúng ta cần phải đi sâu vào cuộc sống hơn nữa, cần phải trau dồi tính đảng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa một cách thiết tha, bền bỉ, liên tục.

Qua đợt đấu tranh tư tưởng này, chúng ta càng thấy rõ ràng hơn bao giờ hết là văn học nghệ thuật không bao giờ tách rời khỏi chính trị được. Báo “Văn nghệ” và một vài bài phê bình lúc đầu đã có xu hướng nặng về nhận xét nghệ thuật kém cỏi của tác phẩm, coi nhẹ việc phê phán nội dung tư tưởng xấu của nó. Phê bình sự non kém nghệ thuật cũng cần thiết. Nhưng phê bình một tác phẩm văn nghệ trước hết phải quan tâm đến khuynh hướng chung toát ra từ tác phẩm đó, đến nội dung tư tưởng của tác phẩm đó. Và khi đã phát hiện ra tư tưởng chính trị sai lầm độc hại của cuốn sách thì không thể có thái độ khoan nhượng xuê xoa được. Bức thư của Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba cũng đã có nhắc nhở chúng ta: “Trên nguyên tác tính đảng, phê bình phải có tác dụng cổ vũ những cái tốt, cái hay, phát hiện những tài năng, phát huy những phong cách mới, đồng thời cần phân tích một cách đúng đắn, thẳng thắn, với thái độ chân thành những khuyết điểm sai lầm của tác phẩm và tác giả”. Chỉ nhẹ nhàng phê bình phần nội dung tư tưởng một tác phẩm có hại như cuốn “Vào đời” thì không giúp ích được gì cho tác giả của nó, càng không thể ngăn chặn được những tác hại mà cuốn sách đã gieo rắc và nhất là sẽ xóa nhòa ranh giới của một cuộc đấu tranh tư tưởng không thể khoan nhượng.

Chúng ta vừa trải qua một đợt đấu tranh tư tưởng bổ ích cho sáng tác và phê bình văn nghệ. Nền văn nghệ của chúng ta, đúng như sự nhận định của Đảng, là một nền văn nghệ XHCN, mặc dù còn non trẻ nhưng dồi dào sức sống và có nhiều triển vọng.

“Vào đời” chỉ là một chấm đen xấu mà chúng ta cần tẩy bỏ để cho nền văn nghệ chúng ta càng trong sáng và tươi đẹp hơn. Chúng ta không thể lơ là với tư tưởng tư sản và các tư tưởng sai lầm khác được. Chúng ta càng tin tưởng hơn bao giờ hết ở sự nghiệp văn nghệ XHCN do Đảng ta lãnh đạo. Vì đường lối văn nghệ đúng đắn của Đảng được phát biểu trong thư của Trung ương Đảng và được phát triển trong những văn kiện của Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba là cơ sở vững chắc để chúng ta có thể đấu tranh với những tư tưởng sai lầm còn rơi rớt, tiến lên mạnh mẽ trong lao động và sáng tạo, trong việc phấn đấu để đạt tới thành tựu mới rực rỡ hơn nữa.

          TỔ PHÊ BÌNH BÁO VĂN NGHỆ

Nguồn:Văn nghệ, Hà Nội, s. 16 (16.8.1963), tr. 12-13, 19.

Phải đấu tranh không khoan nhượng chống nội dung tư tưởng nguy hại của quyển truyện “Vào đời”

Tháng 8/1963: “Văn nghệ quân đội”, s. 8:

Hồ Phương: Phải đấu tranh không khoan nhượng chống nội dung tư tưởng nguy hại của quyển truyện “Vào đời”

Một quyển truyện rất có hại

          Hơn hai tháng nay, báo chí ta đã liên tục phê bình nghiêm khắc cuốn truyện “Vào đời” của Hà Minh Tuân. Cuộc đấu tranh phê bình này còn đang tiếp diễn. Không riêng các nhà văn nhà báo mà đông đảo người đọc ở nhiều nơi cũng đã và đang lên tiếng qua những bài phê bình và thư phản đối của họ gửi tới các tòa báo và nhà xuất bản Văn học.

          Có thể nói đây là một trong những cuộc đấu tranh quan trọng trên mặt trận tư tưởng của chúng ta hiện nay. Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc đấu tranh này không phải đơn thuần về mặt nghệ thuật. Đây là một cuộc đấu tranh để bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng, bảo về công cuộc xây dựng XHCN, giữ gìn sự trong sạch trong tư tưởng, tinh thần mỗi người chúng ta.

          Không phải “Vào đời” quá dở về mặt văn chương hoặc vô tình phạm một vài sơ hở, lệch lạc nào đó nên đã làm người đọc không hài lòng. Không! Không phải như vậy. “Vào đời” là một cuốn truyện có nội dung tư tưởng rất xấu, rất có hại. Nhiều người đã nói: nếu “Vào đời” có chút đặc sắc nào đó về mặt hình thức nghệ thuật thì tầm nguy hại của nó có lẽ còn lớn hơn nhiều.

“Vào đời” đã đả kích vào hầu hết các mặt chủ yếu của đời sống cách mạng ở miền Bắc

          Như những loạt đạn công khai của kẻ thù giai cấp, “Vào đời” ngang nhiên không úp mở tấn công thẳng vào rất nhiều dinh lũy chủ yếu của xã hội chúng ta.

          Công cuộc cải cách ruộng [sẽ đánh máy tắt: CCRĐ] đất ở miền Bắc nước nhà đã tiêu diệt hoàn toàn giai cấp phong kiến, phá bỏ một gông cùm nặng nề từ nghìn năm kẹp chặt lấy cổ người nông dân và mang lại ruộng đất cho họ. Thắng lợi ấy thật rực rỡ và vĩ đại. Những sai lầm trong một số biện pháp tiến hành không thể nào che lấp những thắng lợi căn bản ấy. Vậy mà đọc “Vào đời” người ta chỉ thấy công cuộc CCRĐ như là một tai họa. Với một thái độ rất chua cay, căm tức, tác giả “Vào đời” đã luôn luôn nhấn mạnh thổi phồng những sai lầm trong lúc thực hiện CCRĐ, để đi tới một kết luận hết sức phi lý: những sai lầm trong CCRĐ đã là nguyên nhân chủ yếu xô đẩy cán bộ đến chỗ sa ngã, chống đối chế độ.

          Chỉ cần có một đầu óc bình thường không phải thông minh sắc sảo lắm, người ta ai cũng đều có thể hiểu: nguyên nhân thúc đẩy một cán bộ trở nên hư hỏng rất phức tạp, không khi nào lại đơn giản chỉ có một, và không khi nào lại chính là những sai lầm trong CCRĐ.

          Rõ ràng trong “Vào đời” tác giả đã cường điệu và xuyên tạc sự thật, đả kích vào công cuộc cách mạng ruộng đất, và cố nhiên đã đả kích một đòn mạnh mẽ vào những ai đã lãnh đạo tiến hành cuộc cách mạng to lớn và nhân đạo ấy. Dùng những hình ảnh lắp đi lắp lại, tác giả tỏ ra hết sức cay chua, muốn kích động lòng người đọc, nhen lên ngọn lửa căm hờn, chống đối (tuy vậy, trừ bọn điạ chủ, tư sản và các phần tử chống đối cách mạng khác, không một ai bị kích động cả; ngược lại người ta đều phẫn nộ khi thấy “Vào đời” đã toát ra những tư tưởng thù địch, độc ác).

          Người ta nhận thấy có một lần, chỉ có một lần trong “Vào đời”, tác giả cho một nhân vật tốt nói một câu để bênh vực công cuộc CCRĐ và xác nhận thắng lợi của nó. Nhưng câu nói ấy mới nhạt nhẽo và gượng gạo làm sao! Người ta hiểu được rằng: thắng lợi của cuộc CCRĐ quá vĩ đại, vĩ đại đến nỗi tác giả dù rất cay chua, hằn học, cũng không thể làm lơ không nhìn thấy. Tác giả buộc phải nói tới thắng lợi của CCRĐ, nhưng nói một cách miễn cưỡng. Về căn bản, “Vào đời” vẫn toát lên một ý rất rõ ràng: CCRĐ đã tiến hành rất hỏng, hỏng là căn bản…

          Đối với sự lãnh đạo của Đảng và hệ thống cán bộ lãnh đạo của Đảng, “Vào đời” không trực tiếp, công khai đả kích, nhưng đã thể hiện một cách rất tẻ nhạt, gượng gạo. Từ bí thư chi bộ tới đảng viên… tất cả chỉ là những cái bóng, nói rất nhiều, nhưng chẳng đâu vào đâu. Những cán bộ đảng viên ấy còn xoa vuốt thậm chí vào hùa với bọn lưu manh côn đồ trong những hành động phá hoại, chống đối cán bộ chính quyền của xí nghiệp. Sự thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng trong “Vào đời” đã hoàn toàn sai lệch. Tác giả đã tạo ra một sự đối lập giữa Đảng lãnh đạo và bộ máy chính quyền. Đó là một điều hoàn toàn phi lý, một sự xuyên tạc nguy hiểm. “Vào đời” không dám tấn công thẳng vào sự lãnh đạo của Đảng, nhưng đã đả kích rất nặng nề vào toàn bộ cán bộ chính quyền của xí nghiệp. Cũng có thể coi như “Vào đời” đã đả kích thẳng vào chuyên chính vô sản của ta. Trong “Vào đời” tất cả các cán bộ nhà nước: từ giám đốc tới cán bộ tổ chức, cán bộ kỹ thuật, quản lý, thậm chí tới đồng chí thường trực gác cổng cũng bị bôi nhọ và châm biếm không thương tiếc. Tác giả nhìn họ toàn là những “vua liêu”, những phần tử thống trị độc đoán, vừa ngu dốt vừa tàn bạo. Tác giả vẽ diện mạo họ lố bịch và cục cằn lạ thường. Cố nhiên ở công trường nào đó, xí nghiệp nào đó cũng có một vài cán bộ có tác phong làm việc chưa tốt. Nhưng tuyệt nhiên không khi nào tất cả những cơ quan phụ trách, lãnh đạo ấy lại bao gồm những phần tử quan liêu tệ hại đáng ghê tởm như “Vào đời” đã dựng lên để đả kích. Tác giả “Vào đời” đã bóp méo tất cả sự thật, cố tình xuyên tạc một cách trắng trợn bộ máy chính quyền và tất cả những đồng chí cán bộ của chúng ta ở các công trường xí nghiệp.

          Người ta có thể nhận thấy sự vô lý và bóp méo xuyên tạc của “Vào đời” không khó khăn gì. “Miếng đòn” ác nhất mà tác giả vận dụng toàn lực để đánh vào tất cả những đồng chí cán bộ ở công trường xí nghiệp là tệ quan liêu. Nhưng thử xem các cán bộ ấy “quan liêu” ra sao? Trong “Vào đời” người ta chỉ thấy tác giả  luôn mồm kết án họ như vậy mà tuyệt nhiên không nêu lên được những hành vi cụ thể nào. Chỉ có một việc quan trọng nhất là đuổi thợ. Nhưng lý do đuổi thợ ra sao, tác giả viết rất mập mờ. Thực ra người ta rất có thể, và rất cần phải đuổi ra khỏi công trường tất cả những phần tử lưu manh côn đồ, những phần tử phá hoại. Trong “Vào đời” người ta đã đuổi những phần tử cố tình lười biếng, nhưng tên côn đồ rất tệ hại. Vậy có gì là quan liêu? Tác giả còn nêu lên vài việc khác: công nhân ăn ở khổ, sinh hoạt vui chơi không được chú ý. Điều này cũng rõ ràng là cố tình kết tội. Không, đời sống của công nhân chúng ta đã và đang được cải thiện rõ ràng. Nếu việc ăn uống, giải trí ở những xí nghiệp công trường nào đó còn kém cố nhiên cán bộ phụ trách phải chịu trách nhiệm một phần, nhưng thực ra ta cũng phải nhìn vào những khó khăn khách quan khác mà họ chưa vượt nổi. Tất cả quy vào “quan liêu” là không đúng.

          Hiển nhiên, “Vào đời” đã vu cáo những người cán bộ lãnh đạo một cách vô căn cứ và bất công. Không còn nghi ngờ gì nữa, “Vào đời” đã đả kích vào bộ máy chính quyền của chúng ta một cách căm ghét đến mù quáng, bất chấp cả sự thật.

          Những chính sách kinh tế khác cũng bị châm biếm và đả kích một cách hết sức tùy tiện. “Phở hợp tác nhạt thếch” – Không cần nhìn trước nhìn sau, không cần suy nghĩ thêm một chút, tác giả phóng bút chê bừa, gây một ấn tượng xấu đối với việc hợp tác hóa.

          Công an, báo chí, phát thanh…, nhiều cơ quan khác của Đảng, của Nhà nước cũng bị đả kích một loạt. Công an bị coi như là chuyên môn trấn áp và làm “mất vui” nhân dân. Báo chí Đảng bị coi là chuyên môn tô hồng, bịa đặt; công tác phát thanh cũng bị coi là chuyên môn nhồi nhét vào tai quần chúng những lời tuyên truyền mà người ta đã phát ngán.

          Người đọc có cảm giác: tác giả với một đầu óc ấm ức, hằn học, cầm một chiếc gậy nhắm mắt phang chí mạng, phang bừa bãi tất cả những cái gì ở chung quanh. Hiển nhiên không thể coi đây là một thứ “đấu tranh nội bộ”, “phê bình để sửa chữa”. Đây là “phang” chí mạng như một thứ đòn thù.

“Vào đời” đã lật ngược những quan điểm cơ bản của Đảng, gieo rắc những tư tưởng xấu

          Trước hết là quan điểm lao động. Trong “Vào đời”, công cuộc lao động ở các công trường bị miêu tả như một thứ khổ sai, hết sức cực nhọc, làm cho con người  bệu rệch đi. Cố nhiên tác giả muốn miêu tả một cô gái tiểu tư sản chưa quen lao động, bước vào công trường nhận lấy chiếc đòn gánh, không tránh khỏi vất vả, khó khăn lúc đầu. Tuy vậy, do cố tình cường điệu nên tất cả những khó khăn vất vả ấy, dưới ngòi bút lệch lạc của tác giả đã trở thành những cực hình đáng ghê sợ. Tuyệt nhiên không thấy le lói lên một chút nào tính chất vinh quang, tính chất sáng tạo của công cuộc lao động trên các công trường xí nghiệp ấy. Trên thực tế, những người lao động chúng ta đều rất hăng hái lao động, đều thấy nổi bật lên cái ý nghĩa to lớn của lao động, ngay cả những anh chị em tiểu tư sản chưa quen lao động cũng vậy; không có một ai lại cảm thấy chiếc đòn gánh như là “một con quái vật lồng lộn trên vai” như “Vào đời” đã viết.

          Bộ mặt các công trường trong “Vào đời” cũng bị miêu tả như là một cái gì hết sức bừa bộn, hỗn loạn, tăm tối. Tác giả đã nhắm mắt làm lơ không nhìn vào những cái gì là tốt đẹp, là kế hoạch, là thắng lợi ở những nơi đó, mà chỉ thấy toàn là những mồ hôi, những nước mắt…

          Nhân sinh quan trong “Vào đời” cũng là một thứ nhân sinh quan sa đọa, trái ngược hẳn với nhân sinh quan đẹp đẽ của Đảng ta. Với một sự tỉ mỉ hết sức tự nhiên chủ nghĩa, với một sự thích thú đặc biệt, tác giả đã miêu tả những quan hệ nam nữ, tình yêu bỉ ổi và sự ăn chơi, lừa đảo, trác táng của bọn lưu manh, côn đồ mà không có một thái độ phê phán rõ rệt. Thậm chí tác giả còn bê nguyên cả những mớ triết lý phản động, đê tiện về lẽ sống của lũ lưu manh côn đồ lên những trang sách mà không có một lời bình luận. Tất cả những tình tiết ly kỳ giật gân ấy lan tràn trong phần lớn quyển truyện, chúng chẳng có một tác dụng nào khác là khêu gợi những thú tính tầm thường của con người, gieo rắc những tình cảm lãng mạn đồi trụy, kích thích những dục vọng hết sức đen tối, xấu xa trong đầu óc người đọc, nhất là những bạn trẻ.

          Về nguyên tắc sinh hoạt tư tưởng cũng như quan điểm đấu tranh phê bình của chúng ta, “Vào đời” cũng thể hiện một cách rất lệch lạc, như một thứ áp bức tư tưởng thô bạo và lố bịch. Đọc “Vào đời” hẳn ai cũng nhớ đến đoạn cô Sen vì không quen lao động, ngại vất vả muốn trở về gia đình, đã bị Trần Lưu (bí thư thanh niên) đưa ra hội nghị phê bình như thế nào. Tác giả đã miêu tả cuộc họp, sự góp ý phê bình của tập thể công nhân bằng một ngòi bút châm biếm diễu cợt rất khó chịu. “Những ý kiến ấy cứ tô đi dạm mãi như những nét chì xanh đỏ cứ tô dạm mãi, cuối cùng cũng thành một hình gì đó. Những ý kiến nhạt nhẽo ấy rồi cũng thành ra có góc cạnh, có nội dung hẳn hoi”. Đại ý, tác giả đã nhận định về cuộc họp như vậy. Khi đọc đến đoạn này, tôi nhớ đến hồi cải tạo giai cấp tư sản ở thành phố có một tên tư sản ngoan cố đã phát biểu với công nhân: “Ý kiến các anh toàn là a dua nhau; các anh ăn không nên đọi, nói không nên lời mà cũng đòi phê phán, giải thích…” Cái đầu óc khinh miệt quần chúng, cái đầu óc kiêu ngạo, thống trị ấy té ra không phải chỉ có ở những tên tư sản ngoan cố chính cống.

“Vào đời” đã bôi nhọ những chiến sĩ Quân đội nhân dân

          Người ta nhận thấy một điều rất đặc biệt: Hầu hết những phần tử lưu manh côn đồ và chống đối chế độ, trong “Vào đời”, lại là những quân nhân phục viên.

          Nguyễn Mai (Võ Cảnh) mặc dầu trước đã làm cảnh sát cho Tây hồi tạm chiếm, nhưng sau đã vào quân đội. Mặc dầu tác giả đã tố cáo nó ăn cắp chứng minh thư của một liệt sĩ, đổi tên họ, giả mạo làm trung đội trưởng. Tuy vậy nó cũng đã ở quân đội một thời gian. Người ta đều biết bất cứ một ai đã đứng trong quân ngũ đều được sự dìu dắt, giáo dục của Đảng, của tập thể. Cố nhiên cũng có thể có người khi phục viên, chuyển ngành đã không giữ được truyền thống, để cho bản chất xấu xa cũ lại phục hồi. Nhưng thực ra những trường hợp ấy rất cá biệt. Người ta muốn đặt ra câu hỏi: Tại sao tác giả cố tình chọn một điển hình cực kỳ xấu xa, cực kỳ bỉ ổi, đê tiện, lại nhằm vào những người bộ đội phục viên? Vấn đề là ở chỗ đó.

          Hiếu là nhân vật xấu thứ hai, sau Nguyễn Mai (Võ Cảnh). Mặc dầu tác giả tỏ ra hết sức bênh che cho Hiếu, luôn luôn muốn chứng minh rằng: “Hiếu vốn là người cán bộ quân đội tốt, sở dĩ bây giờ về hùa với lưu manh côn đồ, chống phá xí nghiệp, chỉ vì CCRĐ có sai lầm”, người ta vẫn thấy rất rõ ràng: Hiếu là một phần tử chống đối chế độ kịch liệt, một phần tử hết sức nguy hiểm về chính trị cũng như về mặt xã hội. Bênh vực Hiếu, tác giả muốn tỏ ra sâu sắc, thấu tình đạt lý, một “tác giả có lòng nhân đạo to lớn”. Tiếc thay thứ nhân đạo ấy là thứ nhân đạo tư sản mà người ta đã vứt bỏ đi rồi. Mặt khác, sự bênh che ấy càng biểu lộ rõ ràng cái quan điểm của “Vào đời” là chống đối CCRĐ, chống đối tất cả đường lối lãnh đạo của chúng ta hiện nay.

          Theo quan điểm của chúng ta: Hiếu là phần tử rất tệ hại. Dứt khoát là như vậy.

          Đã Nguyễn Mai (Võ Cảnh), lại Hiếu! Hai phần tử nguy hiểm đều là quân nhân phục viên! Tại sao vậy? Tác giả đã hiểu gì về tất cả những người cán bộ quân đội phục viên, chuyển ngành? Tác giả có thấy biết bao nhiêu đồng chí đã nêu cao tấm gương chói lọi ở các công trường xí nghiệp, nông thôn không? Đã có biết bao đồng chí không những giữ vững truyền thống tốt đẹp của quân đội mà còn cố gắng phát huy nữa. Những tấm gương ấy đáng lẽ phải làm cho tác giả phải tỉnh táo, trái lại, tác giả chỉ thấy những con người ấy khi rời hàng ngũ trở về hoặc chuyển sang công tác khác, hầu hết đã hư hỏng, sa đọa. Có phải đây chỉ là cách nhìn phiến diện, dựa vào một vài hiện tượng cá biệt rồi thổi phồng lên không? – Không phải chỉ có thế! Đây chính là vấn đề tình cảm, vấn đề quan điểm và lập trường cơ bản của người nhìn, người viết.

          Cố nhiên trong “Vào đời” cũng có một nhân vật tốt là bộ đội cũ. Nhưng thảm hại thay, nhân vật này (Trần Lưu) lại là một anh chàng chuyên môn nói suông, làm thì làm hùng hục nhưng chẳng có một tác dụng gì đáng kể trong việc đấu tranh chống bọn phá hoại; và chính anh ta đã thốt lên những lời chỉ trích một loạt những cơ quan lãnh đạo, báo chí, và chính sách hợp tác hóa của chúng ta. Trần Lưu trong “Vào đời” rất giả tạo, mờ nhạt. Hình ảnh của anh ta bị chìm ngập bên cạnh những Nguyễn Mai (Võ Cảnh) và Hiếu.

          Không đáng ngạc nhiên gì khi ta thấy đông đảo chiến sĩ quân đội nhân dân đã tỏ ra rất căm phẫn đối với “Vào đời”, vì nó đã làm nhục thanh danh của quân đội và của họ.

Bài học “Vào đời” 

          Vì sao “Vào đời” lại mang một nội dung nguy hại như vậy?

          Các báo chí đã nêu rõ: “Vì nghệ thuật tác giả còn non yếu… vì tác giả nghèo vốn sống… nhưng nguyên nhân chính vẫn là tư tưởng lệch lạc nghiêm trọng của tác giả” (Tuần báo “Văn nghệ” số 10), vì “Hà Minh Tuân đã phản ánh vào tác phẩm mình tất cả thái độ hằn học của giai cấp bóc lột” (báo “Tiền phong”), vì “tác giả đã đứng trên lập trường của giai cấp tư sản…” (báo “Nhân dân”).

          Tóm lại tất cả mọi người đã khẳng định: tác giả đã xa rời lập trường của giai cấp công nhân, bỏ rơi mọi quan điểm của Đảng, mà đứng trên lập trường quan điểm của những giai cấp bóc lột để viết quyển sách này. “Vào đời” đã toát lên đầy đủ lập trường quan điểm của giai cấp tư sản, một lập trường hoàn toàn chống đối lại nhân dân, chống đối CNXH, một quan điểm hoàn toàn trái ngược với những quan điểm cách mạng của Đảng ta.

          Tư sản hay tiểu tư sản đây? Có thể còn có người nào đó phân vân đặt ra câu hỏi đó. Cái tâm lý phân vân ấy mới đúng là tiểu tư sản, không nhạy bén, không triệt để và rứt khoát đấu tranh.

          Tư tưởng chủ yếu trong “Vào đời” không phải là tư tưởng dao động hoài nghi của giai cấp tiểu tư sản trong lúc gặp khó khăn. Tư tưởng chủ yếu của “Vào đời” là đối lập với mọi đường lối xây dựng XHCN, mọi nguyên tắc, quan điểm của Đảng.

          “Vào đời” đã vẽ nên một bức tranh xã hội đen tối đầy rẫy bất công, áp bức, khổ cực, lừa đảo, một thứ xã hội hoàn toàn không đúng với xã hội chúng ta ở miền Bắc hiện nay.

          “Vào đời” tấn công, đả kích rất rõ ràng rứt khoát mọi dinh lũy của chế độ ta, không úp mở, không nhập nhằng nửa chê nửa thương. Thái độ ấy, quan điểm ấy, lập trường ấy dứt khoát là tư tưởng, thái độ, quan điểm thù địch, muốn phủ nhận tất cả.

          Hà Minh Tuân, tác giả “Vào đời” vốn là một cán bộ trong quân đội. Nhưng tiếc thay anh đã không trau dồi, giữ vững được lập trường quan điểm của chúng ta. Tư tưởng tư sản đã lũng đoạn đầu óc anh tới một mức độ nghiêm trọng, làm cho anh trở nên rất lệch lạc khi nhìn nhận đánh giá con người  và sự việc. Tư tưởng ấy đã làm dậy lên trong lòng anh những khoái cảm không trong sạch, những tình cảm ẩn ức hằn học, chua cay khi đặt bút viết.

          Bài học “Vào đời” đã nhắc nhở cho tất cả những người cầm bút cũng như những người đọc: cần phải luôn trau dồi lập trường quan điểm vô sản; không thể chủ quan ỷ vào trình độ sẵn có. Cuộc đấu tranh giai cấp mỗi ngày một quyết liệt. Tính chất đấu tranh quyết liệt ấy hàng ngày hàng giờ tác động đến mỗi người. Nọc độc của những giai cấp bóc lột không phải mỗi lúc đã gột rửa được ngay, trái lại nó vẫn không ngừng len qua những khe hở của mỗi trái tim mà thấm vào dần. Đến một mức độ nào đó, “máu của chúng ta có thể sẽ trở thành đen”. Đó là một điều nguy hiểm. Đến lúc đó mỗi lời ta nói, mỗi dòng chữ viết sẽ không tài nào tránh khỏi tình trạng nhuốm mầu đen tối. Nghệ thuật không bao giờ tách rời ý thức tư tưởng. Không có ai ngây thơ nghĩ rằng: “có thể vì nghệ thuật tôi non yếu mà phạm sai lầm nghiêm trọng về chính trị”.

          Có thể có người viết tự đánh lừa mình bằng những ý nghĩ ban đầu đẹp đẽ: “Tôi viết đây là để xây dựng…” Nhưng trong thực tế, khi lập trường quan điểm của nghệ sĩ đã xa lạ với nhân dân, với Đảng, thì những dòng chữ chảy ra sẽ không bao giờ theo một chiều hướng tốt đẹp, mà dứt khoát sẽ mang theo đầy đủ ý thức tư tưởng đen tối mà nghệ sĩ đã tiêm nhiễm trong đầu óc. Rất khó giả dối trong nghệ thuật. Tâm sự anh, ý chí của anh ra sao, trong tác phẩm đều phản ánh rất rõ.

          Có thể nói tóm lại: do mang nặng tư tưởng của giai cấp tư sản, do đứng trên quan điểm lập trường giai cấp tư sản mà nhìn nhận, đánh giá con người và sự việc, nên Hà Minh Tuân đã viết ra một quyển truyện rất có hại, cần phải chỉ trích nghiêm khắc./.

HỒ PHƯƠNG

Nguồn :Văn nghệ quân đội, Hà Nội, s. 8 (tháng 8.1963), tr. 57-61.

Tháng 8/1963: “Văn nghệ quân đội”, s. 8 : Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ CUỐN “VÀO ĐỜI”:

LÊ BÁ SÚY (Trường bổ túc văn hóa Quân khu 4):

…………………………………………………..

Riêng tôi khi đọc “Vào đời”, tôi có nghĩ đến một vấn đề là Hà Minh Tuân đã tập trung đả kích quân đội. Với thái độ hằn học lệch lạc khi nhìn nhiều sự việc trong xã hội ta, Hà Minh Tuân đều bóp méo thổi phồng, lầm lẫm giữa hiện tượng và bản chất, từ cán bộ nhà máy, mậu dịch, công an, loa phóng thanh, v.v., chủ yếu Hà Minh Tuân tập trung vào mấy nhân vật “bộ đội phục viên” mà vào đời, cô Sen đã gặp ngay. Đó là tên lưu manh Nguyễn Mai với cả một lai lịch ghê tởm mà tác giả khoác cho cái áo “bộ đội phục viên”, mặc dầu tác giả đã tự đặt cho đấy là một nhân vật phản diện có lai lịch rõ ràng, nhưng trên thực tế Nguyễn Mai hoạt động với danh nghĩa “bộ đội phục viên”. Nguyễn Mai là kẻ đầu tiên đã chà đạp lên tâm hồn và thể xác, phá hoại đời cô Sen. Nhân vật thứ hai là Đặng Đình Hiếu, đại đôi trưởng nhiều lần bị thi hành kỷ luật vì vô kỷ luật và cả quá trình phá phách thoái hóa một cách thảm hại, bạn tri kỷ, đồng hành của Nguyễn Mai. Với nhân vật này, Hà Minh Tuân đã khá công phu gọt đẽo tả một cách say sưa. Thực ra đấy là một tên thoái hóa, nhưng nguyên nhân thoái hóa theo tác giả cố gán cho vì sai lầm của CCRĐ, vì người cha “bị treo cổ”. Và tác giả cũng không dứt khoát đánh giá đúng ngay chính nhân vật mình nặn ra đó là người xấu hay tốt? − tốt, xấu đến mức độ nào? Có nên phê phán nghiêm khắc những sai lầm của Đặng Đình Hiếu không hay xoa vuốt nó, đồng tình với nó về những hoàn cảnh khách quan?

          Về nhân vật bộ đội phục viên tốt có Trần Lưu là một nhân vật gượng gạo, cứng đờ mà chính từ nhân vật tốt đó lại thốt ra những lời than thở, nhìn nhận lệch lạc về một số vấn đề của xã hội.

          Còn một nhân vật nữa, một liệt sĩ, Trà, anh ruột của Sen mà Sen thường yêu mến, Sen thường nhắc đến anh mình qua cuốn nhật ký để lại, − tác giả xây dựng hình tượng này như một nhân vật “lý tưởng”, xa xôi, mờ ảo – qua lối viết, lối xây dựng nhân vật của tác giả, tôi có ý nghĩ rằng Hà Minh Tuân muốn nói trắng ra rằng: Sen bước vào đời đã gặp phải những chướng ngại mà chướng ngại lớn nhất là Nguyễn Mai và Đặng Đình Hiếu, hai “bộ đội phục viên” như hai bóng ma đè nặng lên cả cuộc đời của Sen, còn người bộ đội tốt thực cchir có trong lý tưởng mà thôi (anh Trà, qua cuốn nhật ký)

……………………………………………………………………

Là một cán bộ của quân đội, khi đọc “Vào đời”, tôi không thể không có thái độ đối với cách nhìn nhận, cách viết, quan điểm lập trường của tác giả, mà nhất là khi cuốn sách đó lại đả kích mạnh nhất vào quân đội.

6-7-1963

NGUYỄN THANH TÙNG (công nhân xí nghiệp Bến Hòn Gia):

……………………………………………………..

Sự thực trong xã hội ta có thế không? Theo tôi nghĩ: Cũng có những con người xuống dốc. Những người ấy tự nguyện rời bỏ vị trí của mình mà chạy theo những lợi ích cá nhân ích kỷ. Con người đó không thể xuống dốc theo con đường của Hà Minh Tuân. Có thể họ tham ô, lãng phí, thiếu sâu sát quần chúng (như Cư, Chiến). Có thể họ phát ngôn bừa bãi thiếu tổ chức (không phải ý kiến của họ hoàn toàn sai, hoặc lúc nào cũng sai mà có những mặt đúng mặt tốt của nó), v.v. Nhưng quá trình giáo dục của quân đội, của Đảng, mặc dù họ là quần chúng, không phải là công cốc. Nhất định trong cuộc sống thực tế, những đạo đức cách mạng sẽ vùng dậy chống đối trong người họ kịch liệt. Những tác phong tốt trong quân đội gần như tập quán trong người họ không mất đi một cách dễ dàng như thế.

Một đồng chí bạn tôi khi xem xong tập “Vào đời” đã nói với tôi rằng: Hà Minh Tuân quả là thiếu một cái vốn của các nhà văn thường có, đó là “thực tế cuộc sống”. Mình xem xong có cảm giác rằng: Hà Minh Tuân quả là một đứa trẻ, − một đứa trẻ về chính trị. Chỉ đáng thương hại mà thôi.

Theo tôi, tôi có một ý nghĩ khác: “Vào đời” không có một tác dụng nào tốt mà chỉ có tác hại. “Vào đời” đã nói xấu chế độ, nói xấu quân đội và làm giảm nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng một cách có ý thức, Hà Minh Tuân đã đi theo con đường cũ của Nhân văn (qua các nhân vật chính, nhất là Hiếu). Hà Minh Tuân đã gieo một sự nghi ngờ đối với bản chất tốt đẹp của quân đội ta. Cả cuốn sách đã nêu lên một cái nhìn sai lầm đối với Đảng và quân đội. “Vào đời” đã gieo rắc một mối hoai nghi trong quần chúng về chế độ quản lý xí nghiệp. Với tính chất mập mờ của “Vào đời”, Hà Minh Tuân đã nêu lên, đã đề cao những thói hư tật xấu, trụy lạc, lưu manh đã bị xã hội ta đào thải.

Phải chăng Hà Minh Tuân đã nói xấu, bôi đen thực tế tốt đẹp của xã hội XHCN ở miền bắc nước ta hiện nay.

Tôi là một quân nhân chuyển ngành sang mặt trận công nghiệp, tôi đã thực tế sống và gần gũi tất cả mọi lớp người tiến bộ cũng như lạc hậu, tôi đã gặp những đồng chí bộ đội phục viên có sai lầm khuyết điểm nhưng tuyệt nhiên không bao giờ thấy một quân nhân nào như Hiếu trong “Vào đời”. Tôi cũng không thấy một nhân vật điển hình nào như những nhân vật trong “Vào đời”, kể cả những người tiến bộ, cán bộ lãnh đạo, như Hán (chỉ nhìn thấy sản xuất mà không quan tâm giáo dục quần chúng lạc hậu, mà quần chúng đó lại là một người đã đi theo Đảng từ trong kháng chiến đến hòa bình). Tôi cũng không hề thấy một cấp ủy đảng nào lãnh đạo kiểu Hà Minh Tuân trong “Vào đời”.

Xem xong “Vào đời”, tôi rất lấy làm căm phẫn. Căm phẫn về chỗ tác giả đã dùng ngọn bút của mình xuyên tạc sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và bôi nhọ lên truyền thống vẻ vang của quân đội và bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN mà quân đội và nhân dân đã xây dựng nên bằng bao nhiêu xương máu, mồ hôi.

25-5-1963

XUÂN NGỌC (xí nghiêp dệt Dân Sinh, Nam Định):

……………………………………………

Trước hết ta nói tới Hiếu, người đại đội trưởng chuyển ngành, có lẽ nào bị sa đọa tới mức ấy được chăng?

Giả định rằng ông giám đốc cũ và ông trưởng phòng tổ chức Cư và Chiến có sai lầm nghiêm trọng, nhưng tác phong một cán bộ quân đội của Hiếu không còn sao? Tinh thần tỉnh táo, suy nghĩ chín chắn của người đại đội trưởng đã từng chỉ huy cả đại đội trên chiến trường chẳng lẽ đã bị lu mờ rồi, mặc dầu rằng trước khi chuyển ngành Hiếu có phạm sai lầm mà hạ tầng công tác xuống đại đội phó. Chúng ta hãy nhìn lại những sai lầm chính của Hiếu từ sau ngày chuyển ngành lại đây: hai lần đánh người trái phép, hai lần ký kiến nghị phản đối lãnh đạo, chủ động cuộc nổi dậy định bắt Chiến, rồi viết khẩu hiệu… và một số hành động ngược đãi vợ con. Phải chăng tác giả dụng ý muốn đưa tình tiết này vào để nói lên Sen đã cay đắng sống bên người chồng vũ phu, sa đọa như Hiếu mà vẫn kiên trì phấn đấu đi lên. Nhưng không! Ở đây tôi thấy rằng người quân nhân nhiều năm tham gia cách mạng không thể nào lạc hậu tới mức tối đa như vậy được, mà hơn nữa Hiếu lại là một cán bộ đại đội. Chẳng lẽ rằng một lần Hiếu bị phê bình và một lần Hiếu bị đuổi không được học mà không đủ làm cho Hiếu sáng tỏ sai lầm hay sao? Trong công tác và sinh hoạt của Hiếu sút trông thấy mà lãnh đạo cùng tập thể bỏ cho Hiếu rơi xuống vực sâu mà đành lòng ư? Dù cho công trường nhà máy đó mới xây dựng có thể thiếu sót nhưng không thể xảy ra hiện tượng đau xót đó đối với Hiếu được.

……………………………………………………………………………………..

Tháng 5-1963

Nguồn:Văn nghệ quân đội, Hà Nội, s. 8 (tháng 8/1963), tr. 62-64.

“Vào đời”, cuốn truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi

Tháng 8/1963. “Tạp chí Văn học”, s. 2:

Nguyễn Phan Ngọc: “Vào đời”, cuốn truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi:

“Vào đời” kể chuyện cô Sen, một nữ sinh bị bố ép duyên nên buộc phải ròi khỏi nhà trường, trốn đi lao động tại một công trường nhà máy cơ khí tại Hà Nội. Ở miền Bắc nước ta, ngay cả trong những năm từ 1957 đến 1960, hàng vạn thanh niên nam nữ đã xung phong vào công trường nhà máy với một tinh thần cách mạng sôi nổi xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chuyện đi công trường vì bị ép duyên như cô Sen chỉ là trường hợp rất hiếm. Dù thế, nhà văn vẫn có thể miêu tả cuộc đời của những con người trong những trường hợp éo le đó được, miễn là qua diễn biến tính cách các nhân vật mà nói lên được cái lý tưởng thẩm mỹ, nêu lên bản chất tốt đẹp của xã hội mới ngày nay nhằm góp phần tích cực vào việc giáo dục tình cảm đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nếu thái độ và cách nhìn con người và cuộc sống mới của tác giả đúng đắn thì ít nhất cũng có thể đem lại cho người đọc những nhận thức tốt lành về vai trò đẹp đẽ của lao động, qua đó sẽ có tác dụng thiết thực thúc đẩy phong trào xung phong tình nguyện đi sản xuất, đi khai hoang hiện nay đang sôi nổi trong các tầng lớp nam nữ thanh niên. Tiếc rằng ẩn náu dưới chủ đề có vẻ tốt, những trang sách “Vào đời” lại đầy rẫy những nọc độc của tư tưởng tư sản phản động đã lỗi thời nhưng vẫn còn cố len lỏi tìm hoàn cảnh thuận tiện để xì hơi độc vào bầu không khí trong lành của nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa tươi trẻ của chúng ta.

          Qua diễn biến tính cách của hai nhân vật chính là Sen, Hiếu và xoay quanh hai nhân vật chính đó tất cả những bực bội, những dằn vặt bất mãn với cán bộ lãnh đạo, với xã hội và tất cả những quan niệm về lối sống về con người, v.v. của tác giả đã lộ ra. Không phải là thái độ và cách nhìn cuộc sống mới của tác giả chỉ thể hiện qua diễn biến của tính cách các nhân vật “tích cực” mà còn lộ ra qua tâm tư tình cảm, qua những ý nghĩ dằn vặt và thái độ hằn học của các nhân vật tiêu cực nữa. Thí dụ như đối với một người đã biến chất trở thành tên lưu manh thực sự mà thái độ của tác giả vẫn tỏ ra ủng hộ Sen trong cái ý nghĩ rằng “anh ta vẫn tốt” và “hào hiệp”, v.v. Tác giả đã viết lên những lời hằn học bất mãn của Hiếu đối với chế độ, với cải cách ruộng đất một cách buông trôi, lập lờ. Sở dĩ có thái độ đó phải chăng chỉ vì tác giả kém lý luận nên đã sa vào “khách quan chủ nghĩa” hay tác giả đã có một dụng ý nào nên mới dùng cách thể hiện lập lờ ấy để gửi gắm niềm tâm sự?

          Thật thế, trong khi hàng vạn nam nữ thanh niên đang say sưa bước vào lao động sản xuất với nhiệt tình xây dựng CNXH thì quyển truyện đã tả bước vào đời của một cô gái ngây thơ thật là gian truân khổ ải. Hàng ngàn thanh niên nam nữ đã lao động không mệt mỏi và đã đạt những thành tích to lớn trong công cuộc kiến thiết đất nước. Họ rất tự hào được đem mồ hôi và trí tuệ của mình vun đắp cho CNXH ngày càng vững chắc, ngày càng thắng lợi. Nhưng trong “Vào đời” thì lao dộng đối với Sen lại là một sự khổ sai rất kinh khủng riết chặt lấy thể xác và tâm hồn con người: “Sen rùng mình ghê sợ nghĩ tới những buổi nắng gắt như lửa đốt, gánh nặng đè chĩu trên vai tê cháy, mồ hôi đầm đìa như tắm, hơi thở ngột ngạt, đầu ù ì như một cái cối xay” (tr. 88). Dưới con mắt của tác giả, laao động ở công trường nhà máy đã “căng thẳng, đã nặng nhọc như vậy” mà cuộc sống lại rất ư là hỗn độn. Bọn lưu manh thì lừa gạt hầu hết nhgwxng cô gái thơ ngây: “Chưa ai tính được đã bao nhiêu cô gái nhẹ dạ bị hắn đưa vào cái vòng tăm tối ấy”. Những người đứng đắn như Sen thì chúng ngang nhiên “bắt cóc” hãm hiếp. Ai cũng rõ là sau khi tiếp quản Hà Nội ít ngày, một sự thay đổi rất lớn trong trật tự xã hội của thành phố là nạn mãi dâm, nạn lưu manh cao bồi đã được thanh toán về cơ bản. Thảng hoặc còn rơi rớt lại một số ít thì chúng cũng chỉ dám hoạt động rất lén lút ở một vài nơi nào đó mà thôi. Nhưng trong “Vào đời” tác giả đã chắp vá một vài hiện tượng lẻ tẻ đây đó lại và cường điệu thêm để vẽ ra một bức tranh đen tối và kinh sợ về lao động, về cuộc sống ở công trường nhà máy như thế thì làm sao các cô thanh nữ ngây thơ sắp sửa bước vào đời chẳng lo ngại, các bậc cha mẹ chẳng băn khoăn. Rõ ràng là “Vào đời” đã trực tiếp tấn công vào phong trào thanh niên xung phong tình nguyện đi sản xuất, đi khai hoang… mà Đoàn thanh niên lao động đang vận động. Không sao có thể chối cãi được những tác hại cụ thể về mặt này của quyển truyện.

          Thực tiễn cách mạng sinh động bảy tám năm qua đã hoàn toàn chứng minh rằng cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp rất cần thiết ở nông thôn nước ta. Và thắng lợi to lớn đó đã tạo ra điều kiện cơ bản cho nông thôn tiến lên hợp tác hóa, chuyển từ lối sản xuất cá thể sang lối sản xuất tập thể. Chí có những giai cấp bóc lột vốn hằn thù cải cách ruộng đất và những người chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản phản động mới không thấy được ý nghĩa và thắng lợi to lớn ấy. Họ chỉ nhìn thấy mặt sai lầm và tìm cách khoét sâu mặt sai lầm, gây thêm khó khăn cho Đảng và nhân dân ta. Rất tiếc là chúng ta chưa có một tác phẩm nào nói lên được ý nghĩa thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng vĩ đại đó. Giờ đây Hà Minh Tuân trong tác phẩm của mình (không biết do cách nhìn lệch lạc hay là sẵn có ác cảm bất bình với cải cách ruộng đất) đã không những không nêu lên được chút gì về mặt thắng lợi, mà còn khoét sâu vào những tổn thất đáng tiếc đã xảy ra. Thật vậy, qua tính cách của Hiếu rõ ràng là “Vào đời” đã cố tình quy mọi sự sa đọa của một cán bộ là do sai lầm cải cách ruộng đất chứ không phải là do những cái xấu của xã hội cũ tác động tới hoặc do sự đấu tranh tư tưởng của bản thân quá yếu ớt. Hơn thế nữa, nhà văn Hà Minh Tuân đã dùng hình tượng rất cụ thể để minh họa mặt sai lầm của cải cách ruộng đất. Hình tượng đó được lắp đi lắp lại nhiều lần trong suốt quyển truyện. Xoáy sâu vào tâm trí người đọc để lại một ấn tượng rất xấu về cải cách ruộng đất. Thậm chí hình tượng đó còn hiện lên trong óc chú rể Hiếu ở ngay giữa bàn tiệc hoa ngày cưới. Cái mà có người gọi là “mặt tốt được xếp lên một bên mặt xấu một cách khá thận trọng” cũng chỉ là mấy câu đối thoại nhạt nhẽo, yếu ớt và ngắn ngủi thoáng qua mắt người đọc, không để lại ấn tượng gì. Những nhân vật “tích cực” với một vài lý lẽ “tích cực” ấy, như tác giả tả, thì cũng tháo lui trước “lý lẽ” của nhân vật tiêu cực ấy rồi. Do đó mà mặt xấu lại càng nổi bật lên. Chẳng lẽ Hà Minh Tuân là nhà văn đã viết tới hai quyển truyện dài mà lại không hiểu điều rất sơ đẳng về đặc trưng của văn học nghệ thuật? Qua thái độ của tác giả bộc lộ trong những lời lẽ hằn học chua chát của nhân vật Hiếu nhiều bạn đọc có ý kiến cho rằng tác giả “Vào đời” đã cố tình gợi lại những thành kiến sai lầm đối với cuộc đấu tranh cách mạng ấy, điều đó cũng không phải là không có duyên cớ.

          Miêu tả một cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt như cải cách ruộng đất, nói lên những thắng lợi vĩ đại cũng như những sai lầm khuyết điểm của nó đúng là một vấn đề gai góc. Nhưng không phải nhà văn không thể phản ánh được hiện thực to lớn đó vào tác phẩm một cách đúng đắn. Nguyễn Khải chẳng đã viết khá thành công những đoạn nói về sai lầm của cải cách ruộng đất trong “Xung đột” đó sao! Ngòi bút của anh không chút ngần ngại khi viết về những cán bộ đảng viên bị xử trí oan, bị bắn nhầm. Nhưng cũng đã viết lên những trang rất say sưa, đầy nhiệt tình về thắng lợi tốt đẹp về cải cách ruộng đất, và của công tác sửa sai. Môn, một nhân vật chính của tập truyện, bị oan trong cải cách ruộng đất, dưới ngòi bút của Nguyễn Khải, là người đảng viên rất tích cực, đã đảm đương nhiệm vụ đấu tranh chống địch phá hoại trong sửa sai và sau sửa sai. Cho nên vấn đề cơ bản là ở thái độ yêu hay ghét cuộc đấu tranh cách mạng của nông dân do Đảng ta lãnh đạo để đánh đổ giai cấp địa chủ; là ở cách nhìn những tổn thất đó. Có đặt những sai lầm đó trong toàn bộ phong trào cải cách ruộng đất thì mới phản ánh được đúng đắn hiện thực khách quan to lớn ấy.

          Xã hội ta đã phải “tiếp thu” biết bao nhiêu cái xấu của chế độ cũ để lại. Trong việc làm của một số ngành công tác nào đó, trên một số việc nào đó cũng có những nhược điểm, những thiếu sót, hoặc do không nắm vững đường lối chính sách của Đảng, hoặc do không theo đúng đường lối quần chúng, hoặc do trình độ kiến thức (chính trị, nghiệp vụ, khoa học…) còn kém. Có ngành cũng có thể có khuyết điểm sai lầm tương đối nghiêm trọng mà nguyên nhân là do lập trường tư tưởng cán bộ phụ trách mơ hồ hoặc chịu ảnh hưởng thế giới quan và nhân sinh quan của các giai cấp bóc lột. Những khuyết điểm đó cũng đều là những hiện tượng sai sót đây đó ở lúc này hay lúc khác chứ không phải là bản chất của ngành đó, lại càng không phải là bản chất của xã hội ta. Nhưng tác giả đã tùy tiện chắp vá những hiện tượng tiêu cực, những mặt xấu cá biệt đó lại thành một nét chung và tô vẽ bịa đặt thêm thành một bức tranh xã hội khái quát, toàn một màu xám xịt. Những mặt “đen tối” đó lại được tác giả đặt vào mồm Trần Lưu, một nhân vật “tích cực”, và lại được ông bí thư chi bộ, ông giám đốc mới của nhà máy hưởng ứng nên càng dễ đánh lừa người đọc. Nhiều bộ máy, nhiều công cụ quan trọng của Nhà nước chuyên chính vô sản (công an, mậu dịch, báo chí, đài phát thanh, cơ quan văn hóa, v.v.) đã bị các nhân vật “tích cực” đả kích mãnh liệt. Rõ ràng đó là chủ nghĩa cá nhân tư sản, đòi hỏi được “tự do” thỏa mãn những cái gì hợp với sở thích cá nhân, những gì đi ngược lại thì cho là xấu tất. Cho nên trong “Vào đời” việc tốt cũng trở thành xấu và ngược lại. Các đồng chí công an ở các phố đông người giữ gìn trật tự là một việc làm rất tốt đẹp và đáng kính, thì tác giả “Vào đời” lại coi là một điều không vui. Ở một vài nơi công cộng việc đặt loa phát thanh để phục vụ cho những người lao động chưa có điều kiện sắm đài riêng là một việc làm đáng hoan nghênh thì tác giả lại khó chịu.

          Miền Bắc nước ta đang vươn lên từ nghèo nàn lạc hậu tiến thẳng lên CNXH. Bọn Mỹ-Diệm đang mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Do đó trong công cuộc xây dựng CNXH chúng ta đã và đang gặp phải những khó khăn và trở ngại khá lớn. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã anh dũng vượt qua các khó khăn đó, giành được những thắng lợi có tính chất quyết định: xóa bỏ các giai cấp bóc lột, biến đổi nền kinh tế từ cá thể sang nền kinh tế tập thể, v.v. Trên bước đường tiến lên, khó khăn khách quan vẫn còn lớn và nhiều. Nhược điểm và thiếu sót của ta về mặt chỉ đạo thực hiện cũng không ít. Nhưng toàn Đảng toàn dân ta quyết khắc phục mọi khó khăn giành những thắng lợi mới to lớn. Ai vào nhà máy, xuống nông thôn cũng thấy cái khí thế cách mạng sôi nổi của quần chúng quyết thắng nghèo nàn và lạc hậu. “Vào đời” không những không nêu được những thắng lợi vĩ đại của cách mạng, không nêu được phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng, mà cả những khó khăn trở ngại nhân dân ta đang và sẽ phải khắc phục trên bước đường công nghiệp hóa cũng chưa nói được. Quyển truyện chỉ tập trung moi móc bêu riếu và bơm to một vài thiếu sót, một số thiếu thốn tạm thời về đời sống. Do đó quyển truyện đã toát ra một không khí buồn nản. Vì vậy nó đã đi ngược hẳn lại với đường lối công tác tư tưởng của Đại hội Đảng lần thứ ba và các nghị quyết của Trung ương gần đây, đặc biệt là nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thứ tám. Hà Minh Tuân đã trắng trợn xuyên tạc hiện thực xã hội trong những năm 1957-1960 ở miền Bắc nước ta. Anh xuyên tạc cả cái hoàn cảnh nhà máy do chính anh bịa đặt ra. Cứ như hoàn cảnh xã hội cụ thể của nhà máy cơ khí mà tác giả đã bịa đặt ra thì những hoạt động phá rối của bọn lưu manh côn đồ, tình trạng công nhân đi sớm về muộn là phổ biến. Trong tình hình xã hội cụ thể ấy vấn đề dân chủ và quan liêu không thể nào trở thành một mâu thuẫn chính được. Nhưng tác giả bất chấp cả hoàn cảnh thực của xã hội và hoàn cảnh do chính mình bịa ra để cố dựng lên một “kẻ thù trước mắt là bệnh quan liêu”. Phải chăng là tác giả cố tình tìm mọi cách để làm sao đả kích được vào cán bộ? Vì thế tất cả mọi loại cán bộ đều được tác giả chụp chung cho một cái mũ “quan liêu”. Từ quản trị trưởng, phó giám đốc trường kỹ thuật cơ khí đến giám đốc nhà máy, trưởng phòng tổ chức, trưởng phòng kỹ thuật đều bị coi là đại diện cho “kẻ thù trước mắt”, đều bị đả kích mãnh liệt và độc ác bằng những hình ảnh, những lời lẽ chua cay, hằn học. Nhưng diện mạo cụ thể của kẻ thù quan liêu kia thì không ai nhìn thấy cả. Qua ý nghĩ của Hiếu và lời nói của người công nhân đứng ngoài cửa phòng tổ chức, tác giả quyển truyện đã soi mói các hình thức bề ngoài của những cán bộ như Chiến để chế diễu họ một cách cay độc và buộc cho họ cái tội “tày trời” là “quan liêu”. Phải chăng mua sách và chịu khó đọc sách lý luận Mác-Lênin, tuy chưa hiểu nổi, cũng là “quan liêu”? Phải chăng “mắt đỏ như tiết, râu đen tua tủa quanh mồm” là diện mạo cụ thể của “tệ quan liêu”? Thái độ đối với con người và cách nhìn người như thế chẳng phải là thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp tư sản hay sao? Tệ hơn nữa, tác giả lại bày ra một màn “kiểm thảo” các cán bộ lãnh đạo mà tác giả đã gán cho cái tội “quan liêu” để kéo cả phái viên Trung ương, đại diện Thành ủy vào casi việc tấn công “kẻ thù trước mắt” ấy. Khéo léo và độc ác, tác giả lại qua lời tự bộc lộ của giám đốc nhà máy để kết án cán bộ chỉ suốt tháng “tiếp khách”, “ăn tiệc” và “đi họp” rồi lại nhận phần công đầu, v.v.

          Người đọc càng kinh ngạc hơn nữa là dưới ngòi bút của tác giả địch ta đều lẫn lộn, chi bộ, chi đoàn thanh niên lao động và anh em công nhân lại theo đuôi bọn lưu manh trong các phong trào chống đối cán bộ ấy. Theo như tác giả viết thì cái tuyến nhân vật “tích cực” kia đã hoàn toàn ủng hộ nội dung đấu tranh mà chỉ không tán thành những phương pháp đấu tranh như “bắt giám đốc bỏ rọ” mà thôi.

          Quan liêu vốn là mặt bản chất của chế độ cũ và chỉ là những tàn tích của chế độ cũ còn rơi rác trong xã hội ngày nay. Trong cán bộ có một số người chưa gột sạch được ảnh hưởng tư tưởng và tác phong của các giai cấp bóc lột hoặc do trình độ chính trị, trình độ chuyên môn kém nên ít nhiều đã nhiễm phải cái tác phong xấu đó. Nhưng trong quần chúng công nhân cũng không phải là không có hiện tượng quan liêu. Ví như điều lệ công tác đã quy định trách nhiệm cụ thể của mỗi ca mỗi kíp trong sợi dây chuyền sản xuất. Nhưng vì lối làm việc luộm thuộm “gia đình” nên có những ca, kíp bàn giao cho nhau qua loa đại khái, sản phẩm làm ra hỏng không rõ trách nhiệm ở ai thì đó cũng là một kiểu quan liêu. Như vậy hỏi rằng đâu có phải quan liêu chỉ là căn bệnh riêng của cán bộ tuy rằng bệnh quan liêu dễ lây vào cán bộ nhiều hơn vì trách nhiệm và điều kiện làm việc có khác. Dưới chế độ XHCN, quyền lợi của cán bộ hoàn toàn nhất trí với quyền lợi của nhân dân. Cán bộ là từ nhân dân mà ra trở về phục vụ nhân dân. Họ là công bộc của nhân dân. Thực tế là đông đảo cán bộ của Đảng và Nhà nước đều hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, gần gũi nhân dân và được nhân dân yêu mến. Họ hoàn toàn khác với “ông quan đội khăn xếp mặc áo gấm dài, đeo bài ngà, quần ống sớ” (tr. 136). Ở chế độ ta quan liêu không bao giờ trở thành phổ biến, thành bản chất của cán bộ. Quan liêu chỉ là mặt thứ yếu trong một số cán bộ mà thôi. Một, hai người nào đó do tiêm nhiễm phải lối sống của giai cấp bóc lột trở thành quan liêu nặng thì cá nhân họ đã biến chất rồi mà không còn là người của giai cấp công nhân, của nhà nước vô sản nữa. Đội ngũ cán bộ là một bộ phận rất trọng yếu của nền chuyên chính vô sản. Mượn chiêu bài chống “tệ quan liêu” để đả kích vào cán bộ và đem đối lập cán bộ với quần chúng công nhân như trong “Vào đời”, thì tự giác hay không tự giác, tác giả quyển truyện đã rơi vào chủ nghĩa công đoàn.

          “Vào đời” còn phê phán khá nhiều đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước: nào là chế độ nằm giường hai tầng ở trường học, không có phân biệt cấp bậc cũ của học sinh và cho đó là “quan liêu không thể tưởng tượng được”; nào là sinh hoạt phê bình và tự phê bình của Đoàn thanh niên lao động chỉ là một thứ “mổ xẻ tư tưởng phức tạp mà thực ra chỉ nhắc lại nguyên xi điểm này hay điểm khác” mà người có lỗi đã trình bày. Ngay cả khẩu hiệu “chính trị là thống soái” cũng được đem ra bêu riếu. “Vào đời” cũng không quên đánh một chùy vào cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng là báo “Nhân dân”. Qua lời của một nhân vật trong tác phẩm của mình tác giả “Vào đời” đã công khai trắng trợn dựng đứng lên cái việc hoàn toàn khong bao giờ có là bài “lâm li thống thiết dài dòng… thì gửi cho báo “Nhân dân” đăng lại được cả nhuận bút”. Là một đảng viên mà bắt chấp cả nguyên tắc tổ chức sơ đẳng nhất của Đảng, lại công khai bịa đặt ra để bêu riếu báo Đảng như thế, phải chăng cũng là nhận thức giản đơn? Phải chăng cũng chỉ là thiếu hiểu biết cuộc sống hoặc kém tài năng? Phải chăng cũng chỉ vì phương pháp tư tưởng sai lầm hoặc chỉ vì muốn cho nhân vật “gồ ghề sắc cạnh”?

          Chúng ta mong chờ những tác phẩm miêu tả sâu sắc con người mới, cuộc sống mới. Chúng ta cũng chờ đón những tác phẩm nêu lên những khó khăn của xã hội và khí thế cách mạng của quần chúng vươn lên vượt những khó khăn ấy. Trong bức thư Trung ương Đảng gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 đã nói rõ: “Nhân dân ta yêu cầu văn nghệ không chỉ biểu dương những ưu điểm và thắng lợi, mà còn phải thẳng thắn phê bình những khuyết điểm và nhược điểm trên bước trưởng thành của cách mạng với một tinh thần xây dựng và thái độ chân thành”. Nếu chúng ta yêu thiết tha cuộc sống XHCN thì chúng ta sẽ thấy những khó khăn chỉ là mặt thứ yếu, những cái tiêu cực trong đời sống chỉ là một số nét mờ nhạt trong toàn bộ bức tranh xã hội tươi đẹp ngày nay. Với thái độ và cách nhìn đúng đắn của giai cấp vô sản, với một tinh thần xây dựng, nhà văn có thể miêu tả những khó khăn và những nét tiêu cực của xã hội một cách sâu sắc. Báo chí ta không ngừng cổ vũ cho thắng lợi, cổ vũ cho khí thế cách mạng của quần chúng chính là đã phản ánh trung thực bản chất con người và cuộc sống mới. Mặt khác, báo chí ta cũng đã không ngừng phát hiện những khó khăn và những mặt tiêu cực trong cuộc sống. Chúng ta cũng đã có những truyện dài truyện ngắn miêu tả những mặt tiêu cực của cuộc sống ngày nay một cách đúng đắn. “Người bạn cũ” của Nguyễn Thế Phương chẳng đã chỉ trích những nét xấu mới nảy sinh ra trong hoàn cảnh hòa bình ở một cán bộ cao cấp đó sao? Nhưng Nguyễn Thế Phương đã có cách nhìn đúng đắn không thể nào xem là anh đã bôi đen cán bộ. Trong “Xung đột” Nguyễn Khải cũng đã miêu tả bước sa đọa của một cán bộ đảng viên (Thụy) và cũng đã nói lên những mâu thuẫn ngay trong bản thân cơ quan lãnh đạo của đảng bộ làng Hỗ. “Những người thợ mở” của Võ Huy Tâm, tuy có vài mặt thiếu sót nghiêm trọng như đồng chí Trường Chinh đã phê phán trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, nhưng về mặt tả những khó khăn trong đời sống của nhân dân vùng mỏ thì lại xuất sắc. Anh đã vạch ra được cái mâu thuẫn trong đời sống và cách giải quyết mâu thuẫn đó một cách đúng đắn. Miêu tả những mặt tiêu cực, thành công hay thất bại, căn bản vẫn là do có đứng vững trên lập trường vô sản mà nhìn những khó khăn, nhưng mặt tiêu cực đó hay không? Cái quyết định vẫn là nhiệt tình đối với con người mới, cuộc sống mới.

***

          Tính nghệ thuật của một tác phẩm căn bản là ở chỗ phản ánh chân thật và sinh động hiện thực. Phản ánh chân thật hiện thực không có nghĩa là sao y như cuộc sống, mà phải từ các hiện tượng nêu lên cho được bản chất con người và cuộc sống bằng hình tượng cụ thể. Có thế tác phẩm nghệ thuật mới trở thành “cuốn sách giáo khoa của cuộc sống”. Lối sáng tác tùy hứng, tưởng tượng, chắp vá các hiện tượng, bóp méo và xuyên tạc hiện thực mà không đếm xỉa gì đến hiện thực khách quan như trong “Vào đời” là một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi của giai cấp tư sản phản động hoàn toàn ngược lại với chủ nghĩa hiện thực XHCN, với đường lối văn nghệ của Đảng ta. Mặt khác, nói tới nghệ thuật viết tiểu thuyết là nói tới việc xây dựng tính cách nhân vật. Ở “Vào đời” tính cách các nhân vật quá đơn điệu, bằng phẳng, thiếu hẳn tính sinh động của một con người cụ thể, nhất là các nhân vật “tích cực”, nhân vật công nhân. Vì quyển truyện sơ lược như thế nên ai đọc cũng phải kêu rằng nó dở quá! Đọc nó chật vật quá! Để che lấp những thiếu sót về vốn sống và sự kém cỏi về nghề nghiệp của mình, tác giả đã chạy theo khuynh hướng nghệ thuật suy đồi bịa đặt ra một cuộc đời éo le bi thảm “ba chìm bảy nổi” của cô Sen, để có thể gây nên những “xúc động” trong người đọc. Tô vẽ thêm cho cái cốt truyện éo le đó, tác giả còn tạo ra những pha hỗn hợp, những chi tiết ly kỳ chỉ thích hợp với những thi hiếu tầm thường: nào là bắt cóc hiếp dâm, nào là giả “đại tá”, “trung tá” ngồi xe ô tô đi tống tình, nào là giữa ban ngày mà một tên cho bà uống thuốc trên nhà thì một tên hiếp dâm cháu gái ngay dưới bếp, v.v. (thật là hệt Mỹ) có lẽ như thế cũng chưa đủ “thu hút” người đọc nên tác giả quyển truyện còn vẽ vời thêm ít chi tiết khiêu dâm nữa. Cả một “bài học” triết lý “sâu sắc” về lối sống trụy lạc cũng được nhắc lại trong quyển truyện, không một lời phê phán. Chúng ta không khô cằn đến nỗi phản đối tất cả các mẩu truyện, các đoạn thơ tả tình yêu trai gái. Trong ”Những người thợ mở” Võ Huy Tâm có một đoạn tả mối tình cuồng nhiệt giữa cô Nguồn và anh Quyết, nhưng theo tôi thật là linh hoạt sắc sảo mà vẫn không dâm không thấy khêu gợi. Mối tình thắm thiết giữa Khắc và An trong “Vờ bờ” của Nguyễn Đình Thi cũng thật là đẹp. Các mẩu chuyện tình đó đều làm rõ thêm tính cách nhân vật và chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhưng nêu lợi dụng sự va chạm giữa trai gái để “khêu gợi” những thị hiếu tầm thường mong hấp dẫn người đọc, như truyện “Vào đời”, thì là một khuynh hướng nghệ thuật xấu.

***

          “Vào đời” là một quyển truyện rất xấu. Nó chống lại nhiều nghị quyết và nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước, đả kích vào cán bộ thuộc nhiều bộ máy của nền chuyên chính vô sản. Nó gieo rắc một thứ khuynh hướng nghệ thuật xấu. Nó là biểu hiện tập trung của thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp tư sản phản động. Chính cái tư tưởng tư sản phản động ấy đang cố chống lại tất cả những đạo đức và tình cảm mới, tất cả những trật tự mới của xã hội XHCN. Nó căm ghét hết thảy những chính sách, những biện pháp và các hình thức đấu tranh giai cấp về mặt chính trị, kinh tế và tư tưởng mà Đảng và Nhà nước vô sản đã và đang tiến hành để xóa bỏ các giai cấp bóc lột, để chuyển biến nền kinh tế cá thể thành nền kinh tế tập thể, để nâng cao tư tưởng và đạo đức cộng sản làm cho nền chuyên chính vô sản được củng cố và tăng cường. Đối với chủ nghĩa cá nhân tư sản tất cả những cái gì đụng chạm tới sự hưởng lạc cá nhân, tới trật tự cá nhân đều là xấu xa đáng nguyền rủa. Tư tưởng tư sản phản động ấy, biểu hiện khá tập trung và bằng hình tượng nghệ thuật cụ thể trong “Vào đời”, đã bộc lộ một cách lộ liễu cái ý muốn đòi xét lại, xét lại tất cả. Vì vậy phê phán nghiêm khắc và không khoan nhượng truyện “Vào đời” nhằm đánh bại những tư tưởng và quan điểm tư sản phản động đang tìm cách len lỏi vào trong đời sống tinh thần lành mạnh của chúng ta là việc làm hết sức cần thiết.

NGUYỄN PHAN NGỌC

Nguồn:Tạp chí Văn học, Hà Nội, s. 2 (tháng 8/1963), tr. 1-7.

*

*  *

Tháng 8/1963.Tạp chí Văn học, s. 2:

Trung Ngôn: Sai lầm của Hà Minh Tuân trong quyển “Vào đời” là sai lầm về lập trường tư tưởng

          Từ khi quyển “Vào đời” xuất bản, nhiều tờ báo đã lên tiếng. Dư luận chung đều nhất trí nhận định rằng “Vào đời” là một tác phẩm xấu, có hại và non yếu về nghệ thuật. Hà Minh Tuân đã vẽ nên một bức tranh xuyên tạc về Hà Nội, về công trường xí nghiệp. Mặt tiêu cực, đen tối nổi hẳn lên và lấn át mặt tích cực. Song một câu hỏi được đặt ra: mặc dầu mặt tiêu cực là mặt thứ yếu của hiện thực mới trong xã hội ta, nhưng nhà văn có thể mô tả mặt thứ yếu đó không? Về phương diện này, tôi nghĩ câu trả lời đã khá rõ ràng. Đảng ta đã khẳng định rằng nhà văn chẳng những có thể mà còn cần phải chiến đấu với những tàn tích xấu tồn tại trong xã hội ta, làm cho xã hội thêm tốt đẹp!

          Nhưng trong thực tế sáng tác văn học của ta hiện nay, mô tả mặt tiêu cực như thế nào là một việc khó chứ không phải dễ. Viết mặt tiêu cực cũng như cầm một con dao mổ vậy. Nó sắc lắm. Nếu sử dụng không khéo chẳng những sẽ không cứu được con bệnh mà có khi còn đứt cả tay mình nữa. Nhà văn là một nhà giải phẫu, có trách nhiệm lớn trước đời sống tư tưởng của xã hội. Mổ xẻ đòi hỏi phải mạnh bạo, dũng cảm. Nhưng mạnh bạo, dũng cảm thôi, không đủ. Điều căn bản nhất là phải minh mẫn, thận trọng và sáng mắt sáng lòng. Cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng rất sâu sắc, triệt để. Nó đụng chạm đến lối làm ăn cũ của nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp, thay đổi cả nếp sống nếp nghĩ bao đời nay của họ. Nó phá vỡ cái cũ đồng thời xây dựng cái mới. Cái mới và cái cũ xen lẫn nhau, đấu tranh với nhau rất dai dẳng, quanh co và có khi rất quyết liệt. Tiểu thuyết bao giờ cũng là một bức tranh khái quát về cuộc sống (phạm vi của nó rộng hay hẹp là tùy theo nội dung bức tranh). Mà trong cuộc sống của chúng ta bên cạnh mặt tích cực là chủ đạo, cũng còn tồn tại những mặt tiêu cực. Vậy mô tả mặt tiêu cực như thế nào? Quan hệ giữa hai mặt tiêu cực và tích cực trong tác phẩm văn học phải ra sao? Quan hệ giữa nhân vật tiêu cực và môi trường xã hội cần thể hiện như thế nào? Đó là những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với sáng tác cần đặt ra để giải quyết.

          Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, Hồ Chủ tịch đã nói: “Trong thời kỳ quá độ, bên cạnh thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu xa của xã hội cũ như tham ô, lãng phí, quan liêu, đánh con đập vợ… Đối với những thói xấu đó, văn nghệ cũng cần phải phê bình nghiêm khắc nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh, tốt đẹp hơn”.

          Chỉ thị đó của Hồ Chủ tịch rất súc tích. Hồ Chủ tịch chẳng những đã vạch ra trách nhiệm của nhà văn mà còn chỉ cho ta rõ cách nhìn và viết mặt tiêu cực, quan hệ giữa mặt tiêu cực và tích cực, thái độ nhà văn…

          Như chúng ta đều biết, cách nhìn của nhà văn là một trong những yếu tố quyết định đối với chất lượng tác phẩm. Không có cách nhìn đúng thì hiện thực sẽ bị phản ánh một cách lệch lạc. Nhưng thế nào là cách nhìn đúng? Đảng ta đã chỉ rõ: Trong xã hội ta, cái mới là cái tất thắng. Cái tiêu cực là mặt thứ yếu, có tính chất cục bộ và tạm thời. Nó tồn tại một cách bất hợp pháp. Khi phản ánh hiện thực, nhà văn phải đứng vững trên quan điểm này và những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm phải được xây dựng trên cách nhìn đó.

Trong tiểu thuyết “Vào đời”, Hà Minh Tuân đã không làm như thế.

          Tình hình lộn xộn trong một số công trường xí nghiệp ở Hà Nội năm 1956-1957 lúc bọn Nhân văn tác oai tác quái là có thật, nhưng tình trạng đó không kéo dài và cũng không thể kéo dài cho mãi đến năm 1960 như tác giả đã mô tả. Đương nhiên lúc đầu có thể một số quần chúng thậm chí đảng viên mơ hồ địch, ta, nhưng chỉ qua một thời gian ngắn họ sẽ nhận ra và kiên quyết vạch mặt bọn chúng, đấu tranh với chúng dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Đó là tình hình thực tế ở hầu khắp (nếu không nói là tất cả) công trường xí nghiệp của chúng ta trong thời kỳ này. Mô tả công trường như trong “Vào đời” là phản hiện thực, là xuyên tạc.

          Cái môi trường xã hội mà cô Sen bước vào đời dưới con mắt của Hà Minh Tuân sao nó u ám thế! Nó có khác gì với xã hội tư bản? Mấy tên côn đồ lưu manh hoạt động một cách công khai trắng trợn như ở chỗ không người. Còn mấy nhân vật gọi rằng tích cực thì sao? Lưu, bí thư chi đoàn thanh niên là một người rất hăng hái, rất nguyên tắc nhưng ở cuối câu chuyện lại nói những câu mỉa mai sâu cay bực dọc về các “ông làm báo”, mậu dịch, công an. Bác Biền, một công nhân già đã đau khổ nhiều trong xã hội cũ, nghe thấy Lưu nói như vậy cũng không có phản ứng gì. Bổn là người thân nhất của Sen và không phải là không biết hành động tàn ác của Hiếu đối với Sen, nhưng Bổn cũng không vạch mặt Hiếu và không giúp đỡ Sen về phương diện nay. Hán và Bình, hai đồng chí lãnh đạo mới về xí nghiệp rất mờ nhạt. Và điều quan trọng hơn cả là cái tập thể đảng viên, tập thể quần chúng ở đấy đã không đấu tranh đến nơi đến chốn với Mai, Song, Hiếu, lại còn căm ghét các cán bộ lãnh đạo như Cư, Chiến… Cô Sen là một nhân vật nửa mới nửa cũ. Bản chất cô là tiểu tư sản. Tác giả hình như muốn cho Sen “vươn lên” để nói lên sự tất thắng của cái mới, tác dụng giáo dục của tập thể, ảnh hưởng tốt đẹp của lao động đối với việc cải tạo và rèn luyện con người. Nhưng kể cũng khó mà tin được sự “vươn lên” ở một con người như Sen, tình cảm vốn yếu mềm, lập trường tư tưởng không vững, lại gặp phải những tình cảnh éo le và phải sống trong một môi trường kỷ luật rất lỏng lẻo, bọn lưu manh thì tha hồ mà hoành hành ngang ngược như vậy. Sự vươn lên đó ngẫu nhiên lắm!

          Cho nên điều quan trọng ở đây không phải là mô tả nhiều hay ít hiện tượng tiêu cực mà điều quan trọng là đặt những hiện tượng tiêu cực ấy vào môi trường xã hội nào và mô tả cái môi trường ấy ra sao. Trong xã hội cũ có tham ô. Trong xã hội ta cũng có tham ô. Nhưng tham ô trong xã hội cũ là hiện tượng thuộc về bản chất, nó được pháp luật che chở. Nếu như bọn thống trị có trừng phạt một số tên nào đó thì chỉ là để lừa bịp dư luận hoặc để gạt một số người không thuộc phe cánh của chúng mà thôi. Còn tham ô trong xã hội ta là hiện tượng trái với bản chất của chế độ, nó là bất hợp pháp trong cái môi trường xã hội mới. Môi trường xã hội ví như cái nền nhà. Nếu việc xây dựng cái nền đó không vững chắc thì cả ngôi nhà sẽ sụp đổ. Tính chất của môi trường xã hội quyết định tính chất của hiện tượng và nguyên nhân đã sản sinh ra những hiện tượng ấy. Chính Hà Minh Tuân đã mơ hồ về điểm này do đó tác phẩm “Vào đời” của anh có khuynh hướng bôi đen mà không thể khác được!

          Nhưng muốn có cách nhìn đúng, phải có lập trường và thái độ đúng. Cách nhìn có liên quan đến lập trường nghĩa là thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn. Cách nhìn và thái độ không tách rời nhau.

          Thái độ của ta đối với cái xấu là phải kịch liệt lên án nó. Mô tả cái xấu là để đề cao và khẳng định cái tốt. Nói cái xấu trước hết phải nói cho đúng. Nhưng nói cái gì, đưa ra cái gì, nói đến đâu phải có mục đích rõ ràng, không phải nói cho sướng miệng hoặc để thỏa mãn nỗi bực dọc cá nhân làm cho kẻ thù khoái chí. Đó là tính đảng của nhà văn. Không thể có thái độ mập mờ hoặc đồng tình với cái xấu. Hồ Chủ tịch đã nói: văn nghệ cần phải “phê bình nghiêm khắc” những thói xấu còn tồn tại trong xã hội ta “nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh, tốt đẹp hơn…”. Nhưng Hà Minh Tuân đã đánh lộn sòng khó khăn với khuyết điểm, không phân biệt đâu là khách quan, đâu là chủ quan, không hiểu nguyên nhân của những khuyết điểm ấy, dó đó mà cái đáng lên án nghiêm khắc thì lại đồng tình, cái không đáng lên án thì lại cường điệu lên và phê phán một cách hàm hồ (thái độ với mậu dịch, công an, cán bộ lãnh đạo, báo chí,…). Đó là một thái độ hết sức sai lầm.

          Trong sự nghiệp xây dựng CNXH của chúng ta hiện nay, chúng ta có nhiều khó khăn khuyết điểm. Khó khăn khách quan là rất nhiều nhưng khuyết điểm chủ quan cũng không ít, và nguyên nhân cũng rất phức tạp. Có người rất nhiệt tình, tư tưởng rất tốt nhưng vì trình độ kém mà làm sai làm hỏng. Cũng có người vì ý thức xấu, vì vô trách nhiệm, vì quan liêu mà gây ra tham ô lãng phí. Bệnh quan liêu cũng có nhiều hình thức: anh thì quan liêu hống hách, anh thì quan liêu vất vả, anh thì quan liêu giấy tờ… Trong khi mô tả những hiện tượng tiêu cực đó, tôi nghĩ chúng ta phải hiểu cho kỹ nguồn gốc của nó, phân tích nguyên nhân cho thấu đáo, có tình có lý chứ không thể đả kích một chiều hoặc có thái độ giản đơn như Hà Minh Tuân. Nếu chỉ mô tả hiện tượng mà không thấy nguyên nhân phức tạp của chúng thì chẳng những không sâu mà cũng không hiện thực. Nếu bản thân người viết lại có thái độ bực dọc thì nhìn hiện tượng sẽ sai lệch hết, cái tốt có thể biến thành xấu và ngược lại. Thí dụ như câu nói của Lưu chẳng hạn. Tại sao lại trút cả cái bực dọc của mình vào đầu mấy cái loa mà đồng bào lao động nội ngoại thành rất thích vì họ muốn nghe tin tức, nghe sân khấu truyền thanh mà trong nhà không có đài? Anh thử đi gỡ một cái loa ở khu lao động đem đi chỗ khác xem họ có phản đối, thậm chí còn kiện anh không? Những cái loa để ở giữa phố nội thành có làm phiền cho một số nhà thật nhưng phải nói rằng sau tiếp quản ta đã dần dần gỡ đi và mấy năm nay hàng nghìn loa con đã được đưa vào các gia đình để thay thế cho các loa to ngày trước. Hà Minh Tuân không nhìn thấy cái đó nên bất kể là việc to hay nhỏ hễ không hợp với mình là anh đều bực dọc cả. Cách nhìn người công an ở phố Tràng Tiền huýt còi để giữ trật tự cũng không đúng. Tại sao lại cho rằng “cứ một chút một chút cũng huýt còi rinh lên, khiến mọi người trên đường phố đều cảm thấy kém vui đi…”? Việc huýt còi của công an đâu phải là một hiện tượng xấu! Có thật “mọi người” kém vui hay chỉ có một số người nào thôi? Vui hay buồn cũng tùy theo cách nhìn, thái độ của từng người. Chúng ta bảo rằng thành phố của chúng ta bây giờ đông vui hơn trước nhưng cũng có một số người không chịu. Bây giờ hàng của ta chưa nhiều và cũng chưa đẹp. Có một số người xưa nay vẫn mê tín “Gibb”, không thích “Ngọc lan”, [1] quá quen với “pô-pơ-lin-xuýt” không thích vải Nam Định nên họ khó chịu và cảm thấy kém vui. Ngày trước các cửa hiệu mở rất khuya. Bây giờ các ửa hiệu thường xuyên không mở khuya. Họ cũng cho như vậy là “kém vui”. Nhưng thử hỏi trước kia mở cửa khuya là để phục vụ ai? Phục vụ cho công chức, binh lính và sĩ quan Pháp, ngụy đi chơi đêm. Cả cái thành phố phồn vinh bề mặt đó là để phục vụ cho bộ máy chiến tranh của địch chứ không có gì khác! Bây giờ tất cả đều lao động. Nếu không phải ngày nghỉ hay ngày lễ, mở cửa khuya để làm gì? Bây giờ gót giày đinh của lính lê dương không còn nữa. Nó để lại hơn 10 vạn người thất nghiệp. Ta đã giải quyết trong 5 năm mới hết. Hàng năm chúng ta lại đưa vào sản xuất từ 2 đến 3 vạn người trong các công trường xí nghiệp hợp tác xã thủ công và xí nghiệp quốc doanh hoặc công tư hợp doanh. Đó là một lực lượng mới đang mỗi ngày một lớn mạnh cùng với thủ đô trên bước đường công nghiệp hóa. Ngay cả những cô gái nhảy, những cô gái “làm tiền” do xã hội cũ để lại nay cũng đã được cải tạo trong các công trường, xí nghiệp.

          Hà Nội của chúng ta đang biến đổi hàng ngày hàng giờ, biến đổi về chất lượng. Công trường xí nghiệp mọc lên khắp nơi. Đi ra khỏi năm cửa ô, ở đâu anh cũng thấy nhà cao, ngói đỏ, cửa xanh và ống khói! Cái thành phố tiêu thụ xa xỉ ngày trước đã trở thành một thành phố sản xuất, một trung tâm công nghiệp của miền Bắc. Chúng ta đã xây dựng được cơ sở cho một nền công nghiệp nặng và một nền cong nghiệp nhẹ ở thủ đô, mà gần một thế kỷ trước không làm được, không ai ước mơ đến. Thử hỏi như vậy không thấy phấn khởi và tự hào sao được! Có một số người khi nhìn sông Hồng, họ không thấy sức mạnh cuồn cuộn của cả dòng nước đang cuốn đi mà chỉ thấy mấy đám bọt bồng bềnh trên mặt.

          Diện tích xây dựng mới trong 8 năm hòa bình là 1.300 héc-ta, ngang với diện tích của cả thành phố Hà Nội trước tiếp quản. Như vậy là nếu so với Hà Nội cũ nghìn năm văn vật thì bây giờ chúng ta đã có thêm một thành phố mới.

          Công nhân và lao động khi mới vào tiếp quản suýt soát 1 vạn, bây giờ hơn 12 vạn! Cung cấp đủ bánh mì ăn sáng ca đêm cho 12 vạn người ấy cộng với hàng vạn cán bộ, học sinh, sinh viên thì phải có bao nhiêu lò bánh mì? Cung cấp thịt cho hơn 70 vạn người mỗi ngày dăm lạng thôi chứ chưa nói nhiều phải mổ mỗi ngày từ 400 đến 600 con lợn, một năm từ 12 vạn đến 20 vạn con lợn. Nếu không thấy tất cả những khó khăn đó cùng với nguyên nhân của nó thì không thể thấy thành tích của ta trong xây dựng, cố gắng của ta trong phân phối mà chỉ thấy mấy cái nhỏ mọn trước mắt và sinh bi quan dao động.

          Nếu Hà Minh Tuân đi vào các khu lao động mà hỏi thì tôi tin chắc rằng đại đa số bà con sẽ nói rằng: bây giờ vui gấp trăm lần trước tuy mức ăn còn thấp, nhà ở còn chật! Bây giờ có điện có nước dùng không phải đi mua, đi tranh từng gánh nước. Tết nhất mậu dịch về tận nơi bán thịt, bán nước mắm, miến và mấy chục lá gói bánh cùng với lạt buộc. Thật là chu đáo! Trước kia làm gì có chuyện đó? Hà Minh Tuân không có cái nhìn của nhân dân lao động. Anh cũng chưa hiểu nổi những nguyên nhân phức tạp của những khó khăn khuyết điểm hiện nay. Đôi mắt bực dọc đã không nhìn được cái lớn lao vĩ đại hay có nhìn mà cũng không thấy. Ngược lại chỉ thấy “kém vui”. Anh đã tự tách ra khỏi xã hội, đứng ngoài xã hội mà nhìn vào với một thái độ soi mói, khó chịu, thậm chí hằn học nữa. Anh đã nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của một số người hoài nghi bực dọc đang luyến tiếc cái “thời hoàng kim” của Hà Nội cũ. Thực chất đó là tư tưởng tư sản đang trỗi dậy trong những con người tiểu tư sản vốn chứa sẵn bất mãn cá nhân và dao động trước khó khăn, hoàn toàn không phải là một thái độ lo lắng có trách nhiệm.

          Không phải bây giờ chúng ta còn nhiều khó khăn khuyết điểm mà trong tương lai chúng ta vẫn còn gặp những khó khăn khuyết điểm trên bước đường phát triển của chúng ta. Nhưng dù có bao nhiêu khuyết đi nữa thì cái xã hội miền Bắc này, cái xã hội Hà Nội này cũng tốt gấp trăm gấp nghìn lần cái xã hội Hà Nội cũ hay cái xã hội miền Nam hiện nay, hơn bất cứ thành phố nào của “thế giới tự do”. Đó là cách nhìn của Đảng, cách nhìn của nhà văn, cách nhìn hiện thực và biện chứng. Đó là cơ sở của phương pháp sáng tác hiện thực XHCN, tiêu chuẩn về tính đảng trong văn học. Không có cách nhìn trong sáng ấy thì không thể phản ánh hiện thực một cách đúng đắn.

          Trong “Chiến bại” Fa-đê-ép đã mô tả một đội quân cách mạng rất lộn xộn với nhiều nét tiêu cực nhưng người đọc không thể hiểu lầm được bản chất của quân đội cách mạng vì cái mới tuy còn ít nhưng rất khỏe, rất vững, rất có tiền đồ. Cái mới tất thắng! “Chiến bại” nhưng sẽ chiến thắng…

          Lập trường quyết định phương pháp. Một khi lập trường, thái độ đã sai lầm thì phương pháp không thể đúng được. Thực chất sai lầm của Hà Minh Tuân là sai lầm về lập trường, tư tưởng. Tiêu biểu nhất là thái độ của anh đối với cải cách ruộng đất, đối với Hiếu và đối với cán bộ lãnh đạo… Tác giả đã tường thuật lại những lời lẽ rất phản động của Hiếu mà không phê phán gì hoặc phê phán rất yếu. Y chửi cốt cán, ném đá vào những cái loa đang tuyên truyền cho thắng lợi của cải cách ruộng đất. Hà Minh Tuân muốn cho người đọc thông cảm với Hiếu, tha thứ cho Hiếu. Trong câu chuyện, Hiếu là một phần tử bất mãn đến cao độ. Nhẽ ra thái độ của tác giả là phải nghiêm khắc lên án y. Nhưng Sen vẫn yêu y, vẫn nhìn Hiếu bằng con mắt rất khoan dung. Cuối câu chuyện tác giả còn để cho Sen trở lại với Hiếu. Thái độ đối với Hiếu như thế còn thái độ đối với cán bộ lãnh đạo thì sao? Người ta thấy anh căm ghét Cư, Chiến hơn là căm ghét Hiếu, căm ghét mấy cái loa, bực dọc với mậu dịch, với công an hơn là lên án Hiếu, đổ tội cho cải cách ruộng đất để bào chữa cho Hiếu. Căm ghét quan liêu là cần thiết, nhưng Cư, Chiến đã làm gì mà bảo là “quen ăn của dân”, mà phải “vả vào mồm” họ, quy cho họ là “sống chết mặc bay”? Tác giả còn quy cho Cư, Chiến mắc tội đuổi thợ, bắt người  và hay “chỉnh” thiên hạ. Nhưng bắt ai, đuổi ai, đuổi những người như thế nào? Trong “Vào đời” không thấy nói rõ. Sao không đuổi cổ mấy tên Mai, Song, Hiếu ra khỏi nhà máy? Có phải “đuổi thợ” đều là sai tất cả đâu! Đuổi mấy tên côn đồ lưu manh hồi đó là đúng, còn không đuổi chúng mới là hữu khuynh. Sao không “vả vào mồm” Hiếu, một tên đồi bại, vô ơn với cách mạng, sao không “chỉnh” cho Hiếu một cách đích đáng? Chẳng những Cư, Chiên không “chỉnh”, mà Lưu, Biền cũng làm ngơ cho Hiếu. Thật là vô lý. Thái độ của tác giả đối với Hiếu là một sự sai lầm không thể tha thứ được. “Truyện Kiều” mô tả xã hội cũ, đối với những con người như Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Tú Bà, tác giả lên án rất rõ ràng. Dư luận xã hội cũng lên án họ. Huống hồ đây là một chuyện về xã hội mới, lẽ nào dư luận chung quanh không lên án họ? Trong một vài đoạn, quần chúng cũng có đấu tranh, cũng tỏ ý không tán thành thái độ và hành động của Hiếu nhưng chẳng qua chỉ là lời giải thích chính trị chung chung không có sức thuyết phục. Ngược lại, để đả kích Cư, Chiến một cách không thương tiếc, Hà Minh Tuân đã dùng những hình nét, mầu sắc rất xấu, rất đen tối, rất cay độc mô tả từ “Cái kính cóc gậm” đến “bộ râu đen tua tủa quanh mồm cùng hai khóm lông mũi dài”… đến cái bản chất xấu xa về mọi mặt của họ (tự mãn, công thần, địa vị, đàn áp công nhân…). Trong dịp cải tiến quản lý xí nghiệp, Cư, Chiến đã bộc lộ chân thành những khuyết điểm của mình trước công nhân, Hà Minh Tuân cũng chưa tha và muốn truy kích “địch” tới cùng. Anh cho đó là “lâm ly”, là đạo đức giả. Đối với hành động của Cư, Chiến, tác giả cắt nghĩa nguyên nhân là do bản chất xấu. Đối với Hiếu, anh cắt nghĩa nguyên nhân là do sai lầm của cải cách ruộng đất. Đối với Mai, Song, anh cắt nghĩa nguyên nhân là do các ông “vua liêu”. Việc giải thích nguyên nhân như vậy rõ ràng là một việc thay đổi trắng đen rất tai hại, nó biểu thị một thái độ hằn học đối với cải cách ruộng đất, một mối ác cảm có suy nghĩ từ lâu đối với cán bộ lãnh đạo, đối với công an, đối với mậu dịch… Một thái độ phê bình như vậy sao có thể gọi là một thái độ nghiêm chỉnh được? Sao có thể gọi là xây dựng được? Rõ ràng là một thái độ thiên lệch, lầm lẫn bạn thù, muốn nói cho sướng miệng chứ không phải là muốn cho xã hội ta tốt đẹp hơn như lời dạy của Hồ Chủ tịch.

***

Trong xã hội miền Bắc nước ta, giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ nhưng cuộc đấu tranh giai cấp chưa hết, ý thức hệ tư tưởng tư sản chưa bị quét sạch. Đằng sau giai cấp bóc lột có hàng vạn hàng triệu quần chúng tiểu tư sản như Lê-nin nói: “Ngập ngừng và dao động, hôm nay theo giai cấp vô sản nhưng ngày mai sợ hãi, trước khó khăn của cách mạng thì run sợ, hoang mang, khi cách mạng vừa mới thất bại hoặc nửa thất bại, họ náo động, hoảng hốt, khóc lóc, chạy từ phía này sang phía khác” (“Cách mạng vô sản và tên phản bội Cao-sky”).

Mâu thuẫn giữa tư tưởng vô sản và tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, như Lê-nin nói, chỉ có thể giải quyết trên cơ sở “một cuộc đấu tranh có tính chất quần chúng lâu dài và khó khăn chống những aanhr hưởng tiểu tư sản trong đông đảo nhân dân” (“Bệnh ấu trĩ…”); kẻ thù của chúng ta, như Lê-nin nói, không phải là bọn bạch vệ như cũ mà là “yếu tố tiểu tư sản nó bao vây chúng ta như không khí và thâm nhập rất mạnh vào trong hàng ngũ giai cấp vô sản… và yếu tố tiểu tư sản trong nội bộ một nước được giaai cấp tư sản quốc tế ủng hộ…” (Lê-nin tuyển tập, quyển II, tập 2 – “Thời đại mới, sai lầm cũ”, viết năm 1921). Lời dạy đó của Lê-nin cách đây hơn 40 năm còn đầy đủ tính chất thời sự của nó. Ở Hà Nội chúng ta sống trong một cái bể tiểu tư sản thực sự. Giai cấp tư sản không nhiều và cũng không lớn lắm. Nhưng ý thức hệ tư tưởng tư sản vẫn tồn tại rất dai dẳng. Hiện nay cách mạng ta đang tiến lên không hề có thất bại hay nửa thất bại. Nhưng có một số người coi khó khăn khuyết điểm của ta gần như thất bại hoặc nửa thất bại. Họ so sánh với thời kỳ phồn vinh giả tạo trong hồi bị chiếm, họ luyến tiếc lề lối kinh doanh cũ, không muốn chuyển sang sản xuát. Trong khi xã hội đang tiến lên, mọi người đang tiến lên, con cái họ đang tiến lên, họ cảm thấy riêng họ không có “tiền đồ” và buồn phiền bực dọc. Một số gnwowif vì nhận thức không chuyển biến kịp, vì bực dọc cá nhân nên đánh giá con người, đánh giá sự vật một cách tĩnh và phát sinh thắc mắc, nhìn cuộc sống bằng con mắt bi quan xám xịt! Giai cấp tiểu tư sản vốn không có lập trường độc lập. Hoặc họ tiếp thu lập trường của giai cấp vô sản hoặc họ tiếp thu lập trường của giai cấp tư sản. Còn bọn bóc lột thì, như Lê-nin nói, “bây giờ lao vào cuộc chống đối với một nghị lực gấp chục lần trước để chiếm lại “thiên đường” đã mất, cho gia đình họ trước kia sống êm đẹp là thế mà ngày nay bị “bọn cùng khổ hèn hạ” làm cho phá sản phải sống khổ sở (hoặc lao động một cách “hèn hạ”)… Chính vì vậy mà Lê-nin đã nói rằng: “Chuyên chính vô sản chính là một cuộc chiến tranh anh dũng nhất, gay go nhất của giai cấp mới chống với một kẻ thù mạnh hơn, chống với giai cấp tư sản mà sự kháng cự tăng lên gấp bội do chúng bị lật đổ”, và: “Chuyên chính vô sản là một cuộc chiến đấu kiên trì, đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, quân sự và kinh tế, giáo dục và hành chính, chống lại những thế lực và tập tục của xã hội cũ”  (Lê-nin: “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cao-sky”, xem: Stalin: “Vấn đề chủ nghĩa Lê-nin”, bản chữ Pháp, Nhà xuất bản ngoại văn, Mat-xcơ-va, 1951, tr. 45, 46, 47). Phản ứng của giai cấp tư sản, tư tưởng tư sản trong thời kỳ Nhân văn đã bị lên án nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn. Trước kia họ chống đối cải tạo, bây giờ họ đã được cải tạo. Nhưng nhiều người vẫn “tiếc của”, tiếc bóc lột, tiếc lối sống cũ. Họ nuôi hy vọng “khôi phục”, nuôi hy vọng “có một sự gì thay đổi”… Xí nghiệp của họ bây giờ phát triển mạnh, họ lại càng đau sót, thấm thía và “ngốt của”! Có một số ít muốn vùng lên! Trước đây bọn Nhân văn là kẻ phát ngôn của họ. Bây giờ cũng vẫn là những phần tử trí thức tiểu tư sản bất mãn dao động phát ngôn cho họ. Một mặt khác thì chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng hòa bình hưởng lạc ở thành phố có điều kiện phát triển so với trước. Cái đó không thể không ảnh hưởng vào trong đảng, trong hàng ngũ giai cấp vô sản. “Vào đời” là tiêu biểu cho một khuynh hướng xấu, một hiện tượng tiêu cực trong văn học cần nghiêm khắc phê phán. Gần đây khuynh hướng bôi đen trong văn học, chủ nghĩa tượng trưng trong hội họa… đã phát sinh ở một số nước XHCN dưới chiêu bài “chống giáo điều”, “chống công thức”, hoặc “chống sùng bái cá nhân”!! Tư tưởng Nhân văn, trào lưu xét lại trong văn nghệ ở nước ta hồi 1956-57 đâu phải chỉ là hiện tượng riêng lẻ không liên quan đến tình hình quốc tế và những trào lưu tư tưởng xét lại hồi bấy giờ! Đó là tư tưởng tư sản, ảnh hưởng của mỹ học tư sản chứ không có gì khác! Đó là sản phẩm phụ của cuộc đấu tranh giai cấp dai dẳng, gay go trong phạm vi mỗi nước và trong phạm vi quốc tế trên lĩnh vực chính trị cũng như trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Đó chính là “sai lầm cũ, hình thức mới”, “thời đại mới, sai lầm cũ” như Lê-nin đã từng nói, không có gì khác. Chúng ta không thể lơ là thiếu cảnh giác trước những biểu hiện của tư tưởng tư sản, của mỹ học tư sản thâm nhập trong hàng ngũ chúng ta.

Chúng ta phản đối bôi đen. Điều đó không có nghĩa là chúng ta chủ trương tô hồng. Hiện thực mới của chúng ta tự nó rất đẹp, rất hùng vĩ, không cần phải tô son vẽ phấn. Bôi đen rất có hại. Nhưng tô hồng cũng không có lợi gì cho việc giáo dục quần chúng cả. Nó nuôi dưỡng tư tưởng hòa bình hưởng lạc làm cho quần chúng nhụt chí khí phấn đấu. Làm cách mạng không phải như người đi dạo mát ăn kem. Khó khăn, trắc trở là những điều không thể tránh khỏi. Khó khăn có thể làm cho một số người bi quan, hoài nghi. Nhưng khó khăn cũng là một sự thử thách, một lò luyện thép. Đạp lên đầu mọi khó khăn mà vươn lên thì sự vươn lên đó mới anh dũng và đáng được ca ngợi. Chiến đấu gan dạ với mọi khó khăn và khắc phục nó, hiến dâng tất cả sức lực, toàn bộ nghị lực của mình cho sự nghiệp cách mạng vì thắng lợi của CNXH, vì thống nhất tổ quốc, đó là đặc điểm của con người mới, con người XHCN ở miền Bắc. Nhân vật tích cực trong cuộc sống mỗi ngày một nhiều hơn, một lớn lên và trưởng thành. Sự phát triển về số lượng và chất lượng đó nhất định phải được phản ánh trong văn học. Đương nhiên sự phát triển ấy không thể là một con đường  thẳng tắp, nó phải trải qua đấu tranh. Hạt nhân của sự phát triển là mâu thuẫn và đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa cái tích cực và tiêu cực trong cuộc sống. Nhiệm vụ của văn học, nội dung của văn học về cơ bản là sự mô tả nhân vật tích cực, xây dựng hình tượng nhân vật tích cực, là sự khẳng định những lý tưởng và ước vọng tốt dẹp của con người trong thời đại chúng ta qua hình tượng nhân vật tích cực. Hiện tượng tiêu cực, nhân vật tiêu cực chỉ có thể coi như sản phẩm phụ của quá trình đấu tranh cách mạng. Ở một số nói nào đó trong một thời gian nào đó, cái cũ có thể thắng nhưng chỉ là cục bộ tạm thời. Nhà văn phải dứng trên lập trường của Đảng để nhìn mọi sự vật, phải có cái nhìn của nhân dân lao động, phải đứng trên lập trường của nhân dân lao động thì mới có thể thấy hết dược thành tích để ca ngợi, thấy rõ được khuyết điểm để phê bình. Không thể đem cái cục bộ làm cái toàn bộ cái bản chất, cái cá biệt hãn hữu ngẫu nhiên làm cái điển hình. Thái độ của nhà văn phải rõ ràng, phải kịch liệt lên án cái xấu, tuyệt đối không thể khoan nhượng với nó hoặc đồng tình với nó. Cái tiêu cực có nguồn gốc. Hiểu không đúng căn nguyên của nó thì việc mô tả hiện thực sẽ hời hợt, không sâu và trở thành xuyên tạc.

Sai lầm chủ yếu của “Vào đời” là sai lầm về lập trường, về thái độ. Không có một thế giới quan và nhân sinh quan đúng thì cách nhìn và sự rung động của nhà văn sẽ lệch lạc hết. Bài học “Vào đời” chẳng những bổ ích riêng cho Hà Minh Tuân mà cũng có thể giúp ích cho chúng ta trong việc suy nghĩ và viết về đề tài mới.

TRUNG NGÔN

Nguồn:Tạp chí Văn học, Hà Nội, s. 2 (tháng 8/1963), tr. 8-15.

Chú thích

[1]  Gibb: nhãn thuốc đánh răng có bán tại Hà Nội từ trước 1954; Ngọc Lan: nhãn thuốc đánh răng của nhà máy xà phòng Hà Nội (nhà máy này thành lập cuối 1960, trụ sở ở đường Nguyễn Trãi, Q.Thanh Xuân, Hà Nội. – L.N.Â.)

Quan điểm của cuốn “Vào đời” đối với phụ nữ như thế nào?

Tháng 8/1963. “Phụ nữ Việt Nam”:

Lê Đoan: Quan điểm của cuốn “Vào đời” đối với phụ nữ như thế nào?

       “Vào đời” của Hà Minh Tuân đã toát lên rất nhiều quan điểm sai lệch mà nhiều bạn đã phân tích, phê phán. Ngay cả quan điểm đối với phụ nữ của cuốn “Vào đời” cũng thật phản động.

          Sen, một người phụ nữ, được chọn làm nhân vật chính trong cuốn truyện “Vào đời”. Phải chăng đây là một vinh dự cho phụ nữ?! Phải chăng đây là dịp để nhà văn thể hiện đúng đắn vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng CNXH hiện nay?! Phải chăng đây là sự thiết tha của nhà văn muốn góp phần vào việc động viên giáo dục chị em phụ nữ đi vào lao động sản xuất để xây dựng cuộc sống mới cho đất nước, giải phóng triệt để cho phụ nữ?

          Không. “Vào đời” đã hoàn toàn đi ngược lại.

Đứng trên quan điểm nào mà “Vào đời” đã nhìn người phụ nữ?

          Từ năm 1930 đến nay, Đảng ta luôn luôn đả phá những quan điểm phản động của giai cấp phong kiến, tư sản đối với phụ nữ. Đảng từ đầu đã đề ra “nam nữ bình đẳng” và đấu tranh chống mọi biểu hiện coi khinh phụ nữ. Hiện nay, trên miền Bắc nước ta, bọn đế quốc phong kiến và giai cấp tư sản phản động đã bị đánh bại nhưng những tàn dư tư tưởng của chúng lúc nào cũng tìm cách trỗi đầu dậy. Tư tưởng cá nhân hưởng lạc suy đồi của giai cấp tư sản phản động đã lồng lộn lên rất dữ dội trong suốt cả cuốn truyện “Vào đời” sặc mùi khiêu dâm. Những sự thèm khát về nhục dục bộc lộ hết sức khả ố không những ở trong những nhân vật như Mai, Song, Hiếu, mà cả ở một số người khác nữa. Những đoạn văn luận về tình ái thật quá say sưa…! Từ đó mà quan điểm của giai cấp tư sản phản động đối với phụ nữ được tên Mai thuyết trình quá sức rõ ràng, đầy đủ. Chẳng những không có một nhân vật nào khác phản đối mà còn được sự đồng tình tán thưởng của Song và sự gật gù của mụ chủ cô đầu. Mai đã nói với một giọng thao thao bất tuyệt: “Phải tận hưởng cuộc đời, phải gấp gáp tạo cho mình mọi thứ lạc thú trước khi nhắm mắt. Trời sinh ra giống đàn bà để làm hương hoa cho cuộc sống, để nhận giống, thụ thai, rồi nuôi con cái. Giống đàn ông là giống mạnh, giống đàn anh, trời trao cho sứ mệnh thiêng liêng và vất vả là chuyên có việc gieo giống…”  Và còn nhiều lời lẽ hoạt bát khác của những nhân vật ấy đã là hiện thân của những tên tư sản phản động đang tiếc rẻ cuộc sống ăn bám, đang hậm hực vì chế độ ta không có những “hộp đêm”, gái điếm để thỏa mãn thú tính, nhục dục của chúng.

          Chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ chiếm hữu cá nhân phát triển đến tột bực. Cho nên ở chế độ tư bản chủ nghĩa, mọi thứ và đến người phụ nữ cũng trở thành một món hàng hóa. Quan hệ giữa người với người là quan hệ bóc lột, quan hệ chó sói với nhau. Chỉ có tiền chứ không có tình nghĩa gì cả, “có tiền mua tiên cũng được”. Phẩm giá của người phụ nữ thật rẻ mạt. Người phụ nữ lao động bị khinh miệt, bị vùi dập không thương tiếc. Một số chị em nào, bề ngoài được chúng ve vuốt tâng bốc, nhưng thực ra bị chúng coi như những món đồ chơi để giải trí, một cái máy đẻ không hơn không kém. Chính tư tưởng này chẳng những đã ngự trị trong đầu óc tên Mai, Song mà chi phối cả tâm địa của Hiếu đã dày vò, chà đạp, hành hạ tàn nhẫn Sen. Tên Mai đã từng hủy hoại không biết bao nhiêu cuộc đời phụ nữ, gây biết bao tội ác, nhưng tác giả vẫn nói về hắn: “Có điều lạ là người ta chẳng hề thấy một tia hung bạo nào ở cặp mắt ấy”. Cũng như đối với tên Hiếu thực chất có khác nào tên Mai, nhưng dưới ngòi bút tác giả thì đến lúc hắn đã rất xấu xa đồi trụy mà Sen vẫn nhận xét: “Dẫu sao đi nữa, anh vẫn là con người tốt”. Thực ra cái tốt, cái tình nghĩa của Hiếu đối với Sen như thế nào?

          Sau bao cơn xung đột bỏ nhà ra đi, Hiếu trở về: “Tay Hiếu đã nắm gọn cái chìa khóa cũ mà anh vẫn giữ. Anh ta tưởng chừng như đã động vào da thịt mát mẻ của Sen. Chỉ một vòng chìa khóa anh ta lại vào cái phòng êm ả cũ, ngày đêm thơm ngậy mùi đàn bà. Hiếu đã run lên vì xúc động và sốt ruột…”  Hiếu đã coi Sen, vợ hắn, chẳng qua cũng là một cái máy đẻ, một con vật để thỏa mãn thú tính của hắn. Trong lúc đó thì tác giả đòi hỏi Sen, người phụ nữ, phải như thế nào? Phải là “dòng suối mát lành, một bông hoa ngát hương thơm của hạnh phúc gia đình”, lúc nào cũng phải một mực dịu hiền, một mực chiều chồng chiều con, phục lụy chồng vô điều kiện, đến ngu xuẩn không còn phân biệt đúng sai. Ngay đến lúc Hiếu đã tỏ ra rất man rợ đối với mình và con mình, đã trằng trợn phản đối chế độ mà tác giả cũng bắt buộc Sen vẫn cảm thấy có sự hối hận nào trong việc đối xử với chồng chưa đủ, mà phải dù thế nào đi nữa vẫn “một mực yêu thương cho đến khi mãn chiều xế bóng”. Hạnh phúc gia đình phải do cả vợ chồng cùng xây dựng, quan hệ vợ chồng dưới chế độ ta là quan hệ yêu thương bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau để chung gánh vác việc gia đình, nuôi dạy con cái, tham gia công việc xã hội. Nhưng chính Mai dã hậm hực nói rằng: “đàn ông đâu có sinh ra để bế con, nuôi con, nên nhớ như thế”. Và Sen, nhân vật chính diện được tác giả rất yêu quý, cũng đã “khinh bỉ đến kinh tởm” những người phụ nữ đòi hỏi chồng phải cùng gánh vác công việc gia đình hơi quá đáng.

          “Vào đời” đã nhìn người phụ nữ như thế đấy.

Đứng trên quan điểm nào mà “Vào đời” đã đặt vấn đề phụ nữ?

          Đảng ta từ trước đến nay vẫn đặt vấn đề giải phóng phụ nữ đi đôi với giải phóng dân tộc, cho nên Đảng kêu gọi các tầng lớp phụ nữ tham gia vào công cuộc công nghiệp hóa XHCN và đấu tranh thống nhất nước nhà. Thực tế cho chúng ta thấy rõ chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ vùi dập người phụ nữ, chế độ XHCN là chế độ nâng cao người phụ nữ. Ở đất nước của CM tháng Mười vĩ đại mới có chị Va-len-ti-na đã bay vào vũ trụ. Ở miền Bắc nước ta, phụ nữ được học hành và ngày càng tham gia đông đảo và đắc lực vào các ngành hoạt động kinh tế, văn hóa. Chế độ ta vẫn chưa hết những kẻ xấu nhưng điều rất rõ ràng là hàng ngày trong lao động sản xuất, trong đời sống, ở đâu chị em cũng có cả một tập thể thương yêu giúp đỡ mình trên tinh thần bạn bè, đồng chí. Đảng và Chính phủ ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ được làm việc thuận lợi hơn như ban hành các chế độ phúc lợi về sinh đẻ, về nuôi con…Chính nhờ có chế độ tốt đẹp như thế mà hàng triệu phụ nữ chúng ta không ngừng lớn lên. Nhiều chị em đã trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua và lập được thành tích xuất sắc.

          Nhưng “Vào đời” đã lật ngược tất cả mọi thực tế của xã hội ta. Hà Minh Tuân đã phủ nhận bản chất tốt đẹp của xã hội ta và sáng tạo ra Sen đã sống trong một xã hội mà “ma đưa lối quỷ dẫn đường”, ngẫu nhiên trở thành người tốt. Chúng tôi không hiểu được tại sao Sen có thể trở thành một chiến sĩ thi đua? Chúng tôi không biết phải học gì ở con người phụ nữ mà từ đầu đến cuối tỏ ra rất nhu nhược, yếu hèn, thụ động, không có một chút cương nghị. Thái độ của cô rất mập mờ và đời cô gặp tuyền những chuyện éo le, cô luôn luôn là con người của định mệnh ly kỳ. Dứt khoát là nếu ở miền Bắc không có chế độ XHCN tốt đẹp thì phụ nữ chúng ta không thể trưởng thành được như ngày nay.

          Tác giả tỏ ra hết sức thương hại Sen vào đời phải lao động vất vả và tả lao động với hình thù của một con quỷ hung ác rắp tâm muốn giết chết Sen.

          Không. Với quan điểm của giai cấp vô sản và trong lịch sử của xã hội loài người thì lao động không phải là con đường dẫn đến chết chóc mà là con đường đưa đến cuộc sống xán lạn, sung sướng cho loài người. Đối với phụ nữ, lao động là con đường mang đến cho họ phẩm giá con người, sự tiến bộ, hạnh phúc. Nó mở đường cho giải phóng phụ nữ. Chỉ có giai cấp tư sản ăn bám và bóc lột sức lao động của nhân dân đau khổ mới khinh miệt và xa lánh lao động. Cho nên thái độ chúng ta không thể có cái kiểu giả vờ thương hại, mơn trớn chị em tiểu tư sản như vậy. Đó chỉ là phờ phỉnh và lừa gạt, rất nguy hại cho cuộc đời và tương lai họ. Chúng ta phải động viên khuyến khích họ dũng cảm xông vào lao động sản xuất dù có khó khăn gian khổ. Đó cũng là sự biểu thị lòng yêu nước tha thiết của người phụ nữ Việt Nam.

          Một điều nữa là vấn đề phụ nữ không phải là vấn đề giới tính chung chung mà nó là vấn đề gắn liền với giai cấp, với dân tộc. Cho nên nói phụ nữ thì phải biết cụ thể người phụ nữ ấy thuộc tầng lớp giai cấp nào thì mới hiểu được những ý nghĩ và việc làm của họ. Không thể có một thứ giới tính chung chung thoát ly giai cấp mà Hà Minh Tuân đã quan niệm khi giới thiệu mụ chủ cô đầu tán thưởng nhân sinh quan phản động của Mai: “Mụ tuy hồi địch tạm chiếm đã từng là chủ cô đầu nhưng vẫn giữ được ít nhiều giới tính”.  Cái giới tính của mụ chủ cô đầu đã từng sống bằng nghề bóc lột tàn nhẫn và bỉ ổi đó thì phụ họa rất tài tình quan điểm về phụ nữ của tên Mai: “đàn ông ối người chỉ thích làm con bướm liệng vành chơi nhởn hút hết nhị hoa này lại hút đến nhị hoa kia. Nhưng đến tuổi nào đó ai người ta cũng nghĩ đến thành lập gia đình, lấy nuôi con đẻ cái làm vui, mong nhờ vả trong lúc tuổi già”. Quan điểm đó chẳng qua cũng là thứ quan điểm cho phụ nữ là một món đồ chơi, là một cái máy đẻ. Chúng ta không thể đặt vấn đề phụ nữ là vấn đề giới tính xóa nhòa ranh giới giai cấp. Làm sao con mụ Lệ Xuân thâm độc giết người của giai cấp phong kiến tư sản mại bản lại có thể có lòng yêu nước và căm thù đế quốc Mỹ như người phụ nữ nông dân miền Nam bị bắt giam trong ấp chiến lược?! Ngày nay chúng ta không có một sự lẫn lộn nào khác, chúng ta không để cho bọn đế quốc tư bản đánh lừa, mơn trớn rằng: “Phụ nữ không nên làn chính trị mà chăm lo việc gia đình chồng con, sửa sang nhà cửa là đủ, là tốt lắm rồi”. Chính đó cũng là quan điểm của Sen với tên Hiếu, người chồng dù đã trở thành kẻ phá hoại cách mạng nhưng vẫn một lòng vị tha và yêu thương nó.

          Quan điểm tư tưởng của cuốn “Vào đời” là nguy hiểm, là phản động như vậy. Chúng tôi rất tiếc là trong thực tế sinh động, phong phú của hàng triệu phụ nữ đã và đang vào đời dũng cảm lao động sản xuất, dù gian khổ khó khăn mấy vẫn hăng say và nhiệt tình mà Hà Minh Tuân không chọn được một góc nhỏ để phản ánh, lại đi xếp đặt một câu chuyện trinh thám kiếm hiệp, éo le ly kỳ về cô Sen. Chúng tôi tha thiết mong rằng các bạn cầm bút nên đắn đo suy nghĩ hơn nữa về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với Cách mạng.

LÊ ĐOAN

Nguồn:Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, s.119 (tháng 8/1963), tr.22-23.

                              

Bàn thêm với tác giả cuốn “Vào đời”: Sai lầm của Hà Minh Tuân chủ yếu là sai lầm về quan điểm

27/7/1963. Báo “Lao động”:

Trần Dũng Tiến: Bàn thêm với tác giả cuốn “Vào đời”: Sai lầm của Hà Minh Tuân chủ yếu là sai lầm về quan điểm

       Theo ý kiến tôi, để thấy rõ được sai lầm và tác hại của cuốn sách này, trước hết phải nghiên cứu những vấn đề mà cuốn sách đề cập đến, so sánh với thực tế, đối chiếu với quan điểm của Đảng. Bởi vì, qua cuốn “Vào đời”, ai cũng nhận ra rằng Hà Minh Tuân không chỉ bóp méo và xuyên tạc một vài chính sách, mà đề cập tới hàng loạt vấn đề có tính chất nguyên tắc.

          Quan điểm của tác giả cuốn “Vào đời” là quan điểm ngược lại chẳng những trong việc xem xét thực tế, biểu hiện thực tế, mà còn nhằm uốn nắn lại thực tế theo ý muốn chủ quan của mình.

          Để làm sáng tỏ ý kiến trên, ta chỉ cần lược lại những chi tiết chính của cuốn sách từ lúc Sen bỏ nhà đi đến lúc Hiếu, chồng cô, bị bắt, cô còn ở lại một mình với danh hiệu “chiến sĩ thi đua”; ta chỉ cần chú ý tới cuộc đời và những sự kiện, những tính cách của hai nhân vật: Sen và Hiếu, được tác giả để nhiều tâm lực và nhiệt tình xây dựng nhất. Chính là qua cuộc đời và tình cảm của họ, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề rắc rối nhất. Và cố nhiên là qua họ, anh Hà Minh Tuân cũng mắc nhiều sai lầm nhất.

          Sen thì ngoài cái cố gắng yếu ớt để thoát khỏi cái “tiền oan nghiệp chướng”, để tỏ ra là một cô gái hiểu lẽ phải, phấn đấu vì lẽ phải, còn lại cái gì? Cô được là “chiến sĩ thi đua” (?) và cô mất: cha mẹ, trinh bạch, con, và cuối cùng là cả chồng!

          Hàng loạt “số phận” đã được đặt vào trong tác phẩm. Và từ đó Hà Minh Tuân đề cập tới hàng loạt vấn đề. Trước hết Hà Minh Tuân đã chặn một bưc tường xám xịt trước tiền đồ rộng lớn của lứa tuổi thanh niên như Sen. “Vào đời” gây hoang mang, gây khiếp sợ và làm nản lòng họ, gây nên những mối nghi ngại cho cha mẹ họ. “Vào đời” đã quét hắc ín vào truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, vào vai trò và sự đóng góp to lớn của bộ đội phục viên trong công cuộc xây dựng CNXH. “Vào đời” bôi bác chính sách phục viên. “Vào đời” nhói vào những sai lầm cải cách ruộng đất. “Vào đời” xuyên tạc sự săn sóc, trông nom của Đảng ta đối với đời sống và hạnh phúc riêng của công nhân. Hà Minh Tuân bôi bác lớp trẻ và bộ đội chuyển ngành là hai nguồn cung cấp lao động nhiều nhất cho công nghiệp nước ta và cho sự phát triển của giai cấp công nhân ta. “Vào đời” phê phán một cách vô tội vạ mậu dịch, hằn học nhìn những người công an gây dựng nếp sống văn minh cho nhân dân ta. “Vào đời” đả vào chính sách quản lý xí nghiệp, bỡn cợt đả kích báo chí. “Vào đời” tỏ ra không tán thành quan điểm và cách chống tham ô, lãng phí, quan liêu mà Đảng đã và đang tiến hành.

          Tóm lại, qua “Vào đời” Hà Minh Tuân đưa ra một bức tranh xám ngoét về xã hội ta, phơi bày một cách lộ liễu những quan điểm xa lạ của một văn nghệ sĩ khi nhìn vào xã hội tốt đẹp đáng yêu, đáng quý, đáng trân trọng của ta. Hà Minh Tuân viết như thế để làm gì, nếu không phải để chỉ trích và nhằm xét lại những chính sách lớn của Đảng?

          Thực tình tôi rất bực khi thấy có ý kiến cho rằng: hình như Hà Minh Tuân định viết với ý thức tốt, nhưng vì không vững tay cho nên hóa ra sai lầm! Tôi cũng không đồng tình khi thấy có người còn nói rằng: Hà Minh Tuân viết cẩn thận, bên cạnh mặt tiêu cực có ngay mặt tích cực đi kèm; hình như nói thế để thanh minh rằng Hà Minh Tuân không viết với dụng ý xấu. Tôi cũng không tán thành ý kiến cho rằng: Sai lầm của Hà Minh Tuân là do cách nhìn, vì khong muốn chuyện giản đơn nên viết lắt léo, làm cho chuyện ly kỳ để hấp dẫn người đọc, v.v. Theo ý tôi, giải thích như trên, dù giải thích xen kẽ vào những lời phê phán nghiêm khắc, là chưa thấy hết được tác hại của cuốn sách, chưa chỉ thẳng ra điều sai lầm cơ bản nhất của cuốn “Vào đời”. Một tác phẩm ra đời trước tiên là thể hiện tấm lòng, tình cảm, lòng yêu ghét các vấn đề khác nhau của cuộc đời mà tác giả đang sống. Cố nhiên nó cũng thể hiện cách nhìn, vốn sống của tác giả. Tài nhiều, tài ít, vốn nhiều, vốn ít, quyết định giá trị cao thấp của tác phẩm; nhưng điều đáng chú ý là tác phẩm nhạt nhẽo và tác phẩm xấu hoàn toàn khác nhau về căn bản. Hà Minh Tuân phải được coi là một nhà văn có ý thức với công việc mình làm.

          Từ quan điểm trên, tôi góp thêm ý kiến với Hà Minh Tuân. Thực tình, với “Vào đời”, Hà Minh Tuân đã gieo vào lòng tôi một mối ngờ vực rất lớn. Tôi hiểu rằng Hà Minh Tuân biết rõ tình hình xã hội ta, ngay cả những lúc khó khăn nhất, cũng không đen tối như tác phẩm của anh. Tôi tự hỏi, tại sao anh lại chỉ nhìn thấy những hiện tượng tiêu cực, rời rạc, và từ đó dựng lên một cuốn sách “hoàn chỉnh” hầu như không thiếu hiện tượng xấu nào? Tôi hoàn toàn tin rằng Hà Minh Tuân biết không ít những câu chuyện cảm động về tinh thần dũng cảm, hy sinh của anh chị em thanh niên công nhân mà đại biểu của họ là những anh hùng Phùng Văn Bằng, Trần Văn Giao, v.v.; chắc hẳn Hà Minh Tuân biết rất rõ rằng lớp công nhân trẻ hiện nay bước vào đời dễ dàng và lạc quan như thế nào. Có thể nói: trong lịch sử đất nước ta, chưa hề có giai đoạn nào đủ điều kiện như hiện nay để thanh niên thực hiện ước mơ và hoài bão của mình. Họ đang làm việc, học tập và sống trong hạnh phúc. Xã hội, mà trước hết là Đảng, luôn luôn săn sóc họ, giúp đỡ họ trong công tác, trong hạnh phúc riêng; săn sóc cả đến từng cái nôi cho các cháu nhỏ. Hà Minh Tuân chắc không lạ gì những điều đó. Hà Minh Tuân chắc chắn biết cần phải ca ngợi họ, bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp cho họ như thế nào để không phải là buộc đá vào chân họ mà là chắp cánh cho họ, giúp họ vững bước đi lên.

          Nhưng tại sao, vấn đề là ở chỗ này, tại sao anh lại say sưa gieo vào cuộc đời Sen nhiều cảnh ngộ éo le, nhiều nỗi cay cực giả tạo đến thế? Anh viết thế để “chuẩn bị tư tưởng” cho lớp thanh niên bước vào đời chăng? Bây giờ, bình tĩnh lại, Hà Minh Tuân có thể so sánh nhân vật Sen với những nhân vật của những cuốn tiểu thuyết rẻ tiền cũ, anh sẽ thấy ngay rằng: nếu bỏ những câu thuyết lý ra, bỏ danh hiệu “chiến sĩ thi đua” đi, thì Sen còn lại cái gì? : bỏ nhà, bỏ cha bỏ mẹ, bị hiếp dâm, đau khổ triền miên (!) Quá rõ ràng là tác giả cuốn “Vào đời” đã bày đặt ra những thảm khốc buộc nhân vật của mình phải vượt qua để chỉ làm nhụt chí khí của họ, vùi dập những hoài bão của họ, gây cho họ những nỗi đắn đo hoang mang, chứ tuyệt nhiên không ca ngợi gì họ, không giúp ích gì cho họ khi họ đang cần rèn giũa: sống và làm việc theo gương những người cộng sản. Quan điểm đó trái ngược với quan điểm và phương pháp giáo dục của Đảng ta, của Đoàn thanh niên, của công đoàn đối với thế hệ trẻ.

          Tôi cũng khó chịu và bất bình về dụng ý của anh Hà Minh Tuân khi bịa ra kiểu người như Hiếu với những tính cách: hảo hán, bất mãn, ghen tuông, dễ bị lừa gạt, liều lĩnh, hằn học và chống đối. Vấn đề không phải chỉ ở chỗ: tại sao lại có thể có một đại đội trưởng sa ngã như Hiếu, mà là: tại sao Hà Minh Tuân lại thích thú xây dựng Hiếu bằng những sự kiện và tính cách như thế. Anh muốn phát hiện ra những điều có thể xảy đến của một tâm hồn u uất và tù túng để giúp lãnh đạo chăng? Hay là anh muốn kích thích những nỗi u uất đi đến chống đối trong lòng những con người có hoàn cảnh như Hiếu? Buông cuốn “Vào đời” xuống, tôi có cảm giác rằng: Hà Minh Tuân muốn làm cố vấn cho nhân vật của mình, có lúc lại chạy theo những tư tưởng chống đối của nhân vật, và mặc dù cuốn truyện “thủ tiêu” nhân vật của mình đi bằng cách để Hiếu bị bắt, thì vẫn toát ra sự nhân nhượng và nâng niu tính cách phản bội của nhân vật (!). Một nhà văn có thể dựng lên nhân vật này hay nhân vật kia, điều đó không ai bắt bẻ. Nhưng vấn đề là ở chỗ: dựng nhân vật đó lên để làm gì? Tác giả muốn đề cập đến vấn đề gì xuyên qua cuộc đời và tính cách của nhân vật đó? Tôi nghĩ rằng, Hà Minh Tuân không chạy theo những chi tiết ly kỳ để hấp dẫn người đọc. Vì nói thế thì không cắt nghĩa được tại sao anh lại chọn những chi tiết: đánh lãnh đạo, biểu tình, viết khẩu hiệu, đả kích cải cách ruộng đất, mà không chọn những chi tiết khác. Tại sao nhân vật của anh lại là cô Sen, một cô gái trong trắng, Hiếu, một đại đội trưởng có công lao chứ không phải những người khác? Đó là chưa kể tới những chi tiết hoàn toàn không dính dáng gì tới nội dung của cuốn sách như là: vô cớ đả kích báo chí, vô lý công kích mậu dịch, phê phán công an, v.v. Qua nhân vật, Hà Minh Tuân đã gửi gắm tâm tư và bực dọc của mình.

          Cho nên, dẫn ra hai nhân vật trên, tôi nghĩ rằng để phê phán nghiêm khắc cuốn sách tai hại này, phải vạch ra những quan điểm chống đối đầy rẫy từ đầu đến cuối cuốn sách. Hà Minh Tuân đã thiếu thiện chí khi nhìn cuộc đời. Cuộc sống tốt đẹp không lọt nổi vào mắt anh. Người ta dựng nhà, dựng không phải là ít nhà cho công nhân, đưa những cặp vợ chồng trẻ vào những căn phòng sáng sủa thì anh cho nhân vật dẫn nhau “mò mẫm trong đêm” (!) Công nhân và cán bộ đồng tâm nhất trí với nhau, dìu dắt nhau ra sức khắc phục những khó khăn đang cản bước chân họ để xây dựng đất nước, để thống nhất đất nước, thì anh tạo nên những chống đối và biểu tình, tạo nên sự đối địch trong nội bộ. Đáng lẽ cần ca ngợi truyền thống tốt đẹp của bộ đội thì, trừ Trần Lưu có một số nét tích cực cứng đờ ra, tất cả các nhân vật bộ đội trong “Vào đời” đều là những tên đầu trâu mặt ngựa. Người ta nói đến nỗi khổ của công nhân xưa bằng những hình ảnh bị áp bức bóc lột tàn nhẫn và do đó có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng, thì Hà Minh Tuân dựng lên hình ảnh một người bí thư chi bộ trước kia “ở cho Tây đã húp trộm phở của chó”.

          Đây không còn là vấn đề có nên viết mặt tiêu cực của xã hội nữa không, mà hoàn toàn là vấn đề tấm lòng thiết tha, yêu thương và trân trọng đối với xã hội của mình, đối với giai cấp công nhân. Viết mặt tiêu cực để khắc phục nó hoàn toàn khác với bêu xấu. “Vào đời” là cuốn sách bêu xấu, xuyên tạc cái môi trường mà Hà Minh Tuân cho diễn ra những bi kịch trên kia. Tôi góp ý kiến phê bình anh Hà Minh Tuân và các đồng chí biên tập đã duyệt cho in cuốn sách tai hại này.

TRẦN DŨNG TIẾN

Nguồn:Lao động, Hà Nội, s. 1242 (27.7.1963), tr.3.

          

Cuốn truyện “Vào đời” đã chống chọi lại nhiều chủ trương chính sách hiện nay của Đảng

26/7/1963: báo “Văn nghệ” s. 13:

Đông Hoài: Cuốn truyện “Vào đời” đã chống chọi lại nhiều chủ trương chính sách hiện nay của Đảng:

          Nếu như cần phải nói tới nghệ thuật viết tiểu thuyết trong cuốn “Vào đời” thì có thể nói đó là một lối phản ánh sự vật một cách chủ quan tùy tiện theo ý muốn riêng của tác giả, một lối xây dựng nhân vật bằng cách chắp vá những hiện tượng ngẫu nhiên, cá biệt, chẳng kể gì đến nguyên tắc sáng tạo điển hình, đến lô-gic và bản chất của đời sống hiện thực. Chỉ cần đọc kỹ và theo dõi sự phát triển tính cách các nhân vật Hiếu, Trần Lưu, Sen, Nguyễn Mai, Cư, Chiến… thì sẽ thấy rõ điều đó.

          Nhiều bài phê bình trên các báo đã tập trung phê phán những nọc độc tư tưởng trong cuốn sách ấy. Tôi hoàn toàn tán thành cách làm như vậy. Vì “Vào đời” chỉ là một cuốn sách chứa đựng những quan điểm phi chính trị. Ở đây, ngoài cái nhìn đen tối, hằn học, phá phách đối với xã hội miền Bắc, ngoài những tư tưởng lập trường chống đối của các giai cấp bóc lột toát ra từ tác phẩm mà nhiều bài phê bình đã phê phán nghiêm khắc, theo tôi, còn có một vấn đề lớn: cuốn truyện “Vào đời” đã chống chọi lại nhiều chủ trương chính sách quan trọng hiện nay của Đảng. Chúng ta thường nói văn nghệ phải là một “cái đinh ốc”, một “cái bánh xe” của toàn thể guồng máy cách mạng. Chúng ta cũng vẫn thường nói chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi văn nghệ phải có tính đảng… Tất cả những cái ấy cũng chỉ để nói: văn nghệ phải phục vụ chính trị, phải có tác dụng giáo dục tư tưởng cho nhân dân hoàn thành tốt những nhiệm vụ cách mạng.

          Cố nhiên văn nghệ chỉ có thể phục vụ chính trị bằng những khả năng chiến đấu riêng biệt, đặc thù của nó. Đường lối văn nghệ của Đảng không bao giờ tán thành những loại sáng tác theo lối minh họa chính sách. Nhưng đường lối văn nghệ của Đảng cũng kiên quyết chống những loại sáng tác văn nghệ, dù vô tình hay cố ý, đi ngược lại, chống chọi lại các chủ trương chính sách của Đảng, làm hại tới công cuộc vận động chính trị và tư tưởng của Đảng. Về mặt này, trong cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân, đã tập trung những quan điểm xấu ấy.

          Cải cách ruộng đất (CCRĐ) của ta căn bản thắng lợi, mặc dù có sai lầm nghiêm trọng. Nhận định ấy của Trung ương Đảng đã được thực tiễn đời sống chứng minh. Ngày nay, không ai có thể chối cãi được rằng, với khí thế của phong trào thi đua Đại Phong, nông dân miền Bắc nước ta đang phấn khởi xây dựng cuộc đời mới tươi đẹp. Ở đây, áp bức và bóc lột, khổ đau và tăm tối của mấy nghìn năm phong kiến cũ đã vĩnh viễn bị xóa bỏ. Thử hỏi, nếu không có CCRĐ thì làm sao có thể có được cuộc đời mới hôm nay?

          Phải có một tinh thần trách nhiệm rất cao, phải có một bản lĩnh vững chắc về tư tưởng và nghệ thuật mới có thể phản ánh tốt và đúng thành quả của CCRĐ. Đối với một ngòi bút vô trách nhiệm, nhất là đối với những luồng tư tưởng xấu, chống đối thì nhất định CCRĐ chỉ có thể trở thành đối tượng để tố cáo và đả kích. Tại sao tác giả “Vào đời” lại có thể để cho nhân vật của mình hoành hành như vậy? Tại sao anh lại có thể tán thành những lời tố cáo sai lầm trong CCRĐ, thậm chí còn kết án nó một cách cay độc như vậy? Với những hình ảnh ghê rợn, với những lời buộc tội hằn thù, năm lần nhắc tới sai lầm CCRĐ là năm lần anh day đi day lại như một lưỡi dao nhọn hoắt lùa sâu vào thớ thịt buồng tim của người đọc. Thật tình mà nói, sai lầm trong CCRĐ vẫn chưa mờ hẳn trong tâm trí của nhân dân ta. Không góp phần khẳng định thành quả của CCRĐ mà lại còn khoét sâu thêm vào sai lầm của nó, tác giả “Vào đời” không thấy việc làm của mình mang lại tác dụng kích động những tư tưởng và tình cảm xấu, phá phách, chống đối hay sao?

***

          Ai đã dự “Đại hội những người xuất sắc trong phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” vừa qua, chắc đã thấy tất cả những gì đẹp đẽ nhất, đáng quý đáng yêu nhất  trong chí hướng “vào đời” của thế hệ thanh niên ta ngày nay. Sáu trăm đại biểu tới dự đại hội tiêu biểu cho một triệu thanh niên xung phong tình nguyện là sáu trăm cuộc đời chiến đấu dũng cảm, sáu trăm bài ca chiến thắng vinh quang. Hàng triệu thanh niên miền Bắc nước ta hiện nay đang cần được bồi dưỡng tinh thần cách mạng và chí khí phấn đấu kiên cường như thế, đang chờ đợi ở văn học ta những tác phẩm nói lên những tấm gương “vào đời” đẹp đẽ, những điển hình sáng chói của những người thanh niên xung phong tình nguyện như thế.

          “Vào đời” của Hà Minh Tuân không những không làm được điều đó, mà còn làm ngược lại. Nhiều thanh niên, nhất là nữ thanh niên, xem xong “Vào đời”, bỗng dưng thấy nhụt chí khí hoặc lo lắng, sợ hãi. Một người con gái vừa mới đến tuổi bước vào đời nhìn thấy cái “gương” vào đời của cô Sen, không hoang mang sợ hãi sao được?

          Phê phán cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân, báo “Tiền phong” đã tỏ ra hết sức phẫn khích. Vì Đoàn Thanh niên lao động (mà báo “Tiền phong” là cơ quan của Đoàn) chịu trách nhiệm thi hành nghị quyết của Ban bí thư TƯ Đảng về việc vận động thanh niên tham gia phong trào thanh niên xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Có nhiều người nói rằng tác giả “Vào đời” đã “thọc gậy bánh xe” vào công việc làm của Đoàn thanh niên cho nên họ phản ứng là rất chính đáng. Nói như vậy cố nhiên là đúng. Nhưng theo tôi, muốn cho thật chính xác thì phải nói cuốn “Vào đời” đã “thọc gậy bánh xe” vào chủ trương vận động thanh niên nói trên của Đảng.

***

          Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 vừa mới công bố là một sự kiện vô cùng quan trọng trong đời sống của nhân dân miền Bắc nước ta hiện nay. Hội nghị đã kêu gọi toàn Đảng và toàn dân “phải thấu suốt hơn nữa quan hệ khăng khít giữa hai nhiệm vụ chiến lược của nhân dân ta, ra sức củng cố miền bắc làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc”, “phải nâng cao tinh thần phấn khởi cách mạng và chí khí chiến đấu, ra sức phát huy thắng lợi, khắc phục khó khăn, tập trung lực lượng vào việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH, xây dựng một đời sống ấm no, hạnh phúc lâu dài cho toàn dân” (Nghị quyết 8). Xây dựng CNXH ở miền bắc trong những điều kiện: nông nghiệp lạc hậu và phân tán; đất nước tạm thời chia hai miền; không qua phát triển tư bản chủ nghĩa, nhất định đòi hỏi toàn Đảng và toàn dân ta phải ra sức khắc phục khó khăn, vượt qua gian khổ.

          Trước tình hình tư tưởng cán bộ đảng viên và nhân dân ta hiện nay, nhận thức cho đúng đắn, thấm nhuần cho sâu sắc tinh thần căn bản của nghị quyết 8 của Trung ương Đảng không phải là một việc giản đơn.

          Trong tình hình ấy, cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân vừa mới xuất bản gần đây đã nêu lên những vấn đề gì, tác động vào tư tưởng người đọc ra sao?

          Đương nhiên là nó không thể giúp gì cho người đọc nhận thức được những thắng lợi chủ yếu trong công cuộc xây dựng kinh tế của ta mấy năm qua là “từ một nền kinh tế phụ thuộc, lạc hậu, chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế tự chủ, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội” (Nghị quyết 8). Ngược lại, nó đã nêu lên biết bao hiện tượng khó khăn trong đời sống mà không hề chỉ rõ nguyên nhân của những khó khăn ấy là do đâu, làm cho người đọc có thể hiểu một cách sai lầm là do Đảng, do chế độ. Thậm chí lại lấy khó khăn làm khuyết điểm để đả kích.

          Phản ánh một cách trần trụi, bâng quơ những khó khăn ấy, cuốn “Vào đời” đã gây nên tác dụng xấu là kích thích những kêu rên về đời sống khó khăn, khơi gợi những đòi hỏi về nhu cầu vật chất của đời sống hàng ngày.

          Phải chăng, đúng như lời nhiều người đã nói, cuốn “Vào đời” là một vật chướng ngại cho việc nhận thức và thi hành Nghị quyết 8 của Trung ương Đảng?

***

          “Vào đời” của Hà Minh Tuân còn “đụng” tới một số chính sách khác như chính sách đối với quân nhân chuyển ngành, chính sách đối với công nhân…

          Ở chỗ nào người đọc cũng thấy tác giả “Vào đời” phản ánh các chính sách của Đảng bằng một cách nhìn sai lệch thiếu tinh thần xây dựng.

          Đối với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội mới của ta, nhà văn không phải chỉ có quyền mà còn có nhiệm vụ phê phán. Nhưng điều quan trọng là phê phán nó như thế nào, trên nguyên tắc nào, lập trường nào. Trong thư Ban chấp hành trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 có nói rõ: “Nhân dân ta yêu cầu văn nghệ không chỉ biểu dương những ưu điểm và thắng lợi mà còn phải thẳng thắn phê bình những khuyết điểm và nhược điểm trên bước trưởng thành của cách mạng với một tinh thần xây dựng và một thái độ chân thành”.

          Phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội mới của ta phải làm cho người đọc vẫn thấy rõ được “bước trưởng thành của cách mạng” tức là làm thế nào cho người đọc vẫn thấy rõ được chế độ ta căn bản là tốt đẹp.

           Phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội mới của ta mà lại trở thành đả kích chế độ, bôi đen chế độ, như vậy tuyệt nhiên không phải là “tinh thần xây dựng”, không phải là “thái độ chân thành” của người viết, mà là ngược lại.

***

          Bức thư Ban chấp hành trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 là một văn kiện quan trọng về đường lối văn nghệ của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, đã được Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 nhất trí tán thành và ủng hộ.

          Cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân đã hoàn toàn đi ngược lại đường lối văn nghệ của Đảng đã được vạch ra trong bức thư ấy.

          “Vào đời” là một cuốn sách văn nghệ rất có hại. Cần phải nghiêm khắc phê phán nó.

Không phải chỉ vì nó đã xuyên tạc hiện thực của miền Bắc XHCN mà còn vì nó đã chống chọi lại nhiều chủ trương chính sách quan trọng của Đảng.

Không phải chỉ cần phê phán cách nhìn và thái độ của tác giả mà trước tiên là phải phê phán những tư tưởng và lập trường thù địch của các giai cấp bóc lột toát ra từ tác phẩm này.

Không phải chỉ phê phán về mặt nghề nghiệp mà trước hết là phải phê phán quan điểm và khuynh hướng văn nghệ tư sản trong cuốn “Vào đời” đã chống lại đường lối văn nghệ của Đảng.

Không phải phê phán chỉ là do yêu cầu nghệ thuật, mà chủ yếu là do yêu cầu chính trị.

ĐÔNG HOÀI

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 13 (26.7.1963), tr. 4, 19.

26/7/1963: báo “Văn nghệ”, s. 13: Bạn đọc phê phán nghiêm khắc cuốn “Vào đời”:

Dương Văn Hùng (hòm thư 7394 – Hà Nội):

Tôi và một số bạn tôi sau khi hoàn thành nhiệm vụ của những năm học dưới mái trường Đại học Bách khoa, chúng tôi bước vào đời. Chúng tôi chộp ngay “Vào đời” của Hà Minh Tuân đọc. Đọc xong một lần các bạn tôi đều có một nhận xét: Đúng là tác giả đang “gói” mình trong bốn bức tường, rồi nghe ngóng lượm lặt chắp vá lại, không có chỗ đứng để giải quyết vấn đề. Tại sao Nhà xuất bản Văn học lại cho xuất bản một cuốn sách như vậy nhỉ?

          … Tác giả đã không phân biệt được đau là bản chất cuộc sống, đâu là hiện tượng nhất thời. Rõ ràng trong tác phẩm “Vào đời” cái xấu thì bới ra nói cho đậm nét, cho thật sâu, đả cho thật đau, còn cái tốt thì nói chung chung hoặc lập lờ để độc giả hiểu thế nào cũng được. Và thường thường cái tốt lại bị coi là cái xấu để tác giả tha hồ chế diễu chỉ trích.

          … Không biết ngẫu nhiên hay dụng ý mà “Vào đời” ra đúng lúc mùa phượng nở. Bao nhiêu nam nữ thanh niên tốt nghiệp lớp 7, lớp 10 hay không tốt nghiệp, họ cũng bước vào đời đầy tin tưởng và lạc quan. Họ đã, sẽ, đang đọc “Vào đời”. Tiếc rằng “Vào đời” không giúp ích gì cho họ, mà còn ngược lại, vì mặt xấu của nó… “Vào đời” có tác dụng ngăn chặn thanh niên đi vào cuộc sống để xây dựng đất nước./.

Tô Minh Trung (số 1 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội):

        Một tác phẩm tốt phải là một tác phẩm phản ánh được hiện thực của cuộc sống. Với đầu đề “Vào đời” Hà Minh Tuân có thể đề cập đến mọi hoạt động trong cuộc sống hiện nay, của tất cả mọi người. “Vào đời” dưới chế độ xã hội này, sự thật của nó phải giống như những tấm gương lao động sáng ngời của Trương Thị Len, của Nguyễn Văn Bôn và v.v.

          Thế nhưng Hà Minh Tuân viết “Vào đời” không đúng sự thật của cuộc sống phổ biến, anh đã lấy cái riêng lắp lên cái chung, lấy cái xấu trùm lên cái tốt, lấy bóng đen bao lấy ánh sáng.

          Chúng ta hãy nhìn đây, hình ảnh cô Sen quằn quại trong bao đau thương, nhớp nhơ vì ngòi bút của nhà văn “hiện thực”. Hà Minh Tuân muốn dùng hình ảnh vào đời ảm đạm của một nữ thanh niên, những nét đen xạm của cuộc đời cô Sen để làm gì?

          … “Vào đời” là một viên đá cản bánh xe, một sợi dây dụi giật lùi những người đang tiến lên. Tóm lại: “Vào đời” đã đem lại cho thanh niên một hoài nghi thật sự với cuộc sống mới hiện nay./.

Đào Phương (Trường lý luận nghiệp vụ, Bộ Văn hóa):

Đáng buồn thay! Tác giả chưa hiểu rõ thế hệ thanh niên mới. Viết về thanh niên mà tác giả “ngoại đạo” về những thắc mắc, ước mơ, nguyện vọng, hoài bão điển hình của tuổi trẻ ngày nay, thật là một điều đáng chê trách biết chừng nào. Có những trang, tôi đọc mà tưởng chừng có thể lùi lại thời Pháp thuộc hoặc tạm chiếm, tự nghĩ truyện chỉ có thể xảy ra ở thế giới “không quý trọng con người” như chế độ miền Nam ngày nay chẳng hạn.

Tuổi trẻ là tuổi của những ước mơ lớn. “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên!” Cái khí thể hăng say ấy, dũng cảm tuyệt vời ấy sao lại có thể xa lạ với “Vào đời”. Hồi ấy (năm 1958) tôi có dịp thăm nhiều công trường miền Bắc, ở rừng núi cũng có, ở đồng bằng cũng có. Đâu đâu tôi cũng thấy một không khí tươi vui lành mạnh, thanh niên yêu nước nồng nàn, yêu CNXH.  Có một số thanh thiếu nhi ở trại mồ côi Kim Đồng xung phong lên công trường 126, qua lao động, đã từ bỏ được nhiều căn bệnh rất “nặng căn”, vươn lên trở thành cán bộ lãnh đạo, chấp hành công đoàn, đoàn viên thanh niên lao động, chiến sĩ thi đua…./.

ĐÀO PHƯƠNG

(Trường lý luận nghiệp vụ Bộ Văn hóa)

Nguyễn Thanh Dân (thôn Nhân Nội, xã Tân Tiến, Văn Giang, Hưng Yên):

        Dưới ngòi bút của Hà Minh Tuân, từ nhân dân cho đến công nhân, cán bộ, từ chuyện gia đình đến chuyện xã hội, đều là hỏng ráo cả! Kể chuyện một thanh niên vào đời dưới chế độ mới của chúng ta mà ông Tuân lại đưa vào toàn những chuyện lục đục, nhỏ nhen, thối nát như vậy ư? Những chuyện đánh vợ, chửi chồng, bê tha, ăn cắp, là những tàn tích của xã hội cũ còn rớt lại. Những chuyện đó có thật, nhưng chỉ là hiện tượng lẻ tẻ, vụn vặt, chứ không phải là bản chất của chế độ ta. Vả lại, chúng ta đang ra sức trừ bỏ những hiện tượng đó chứ đâu phải là ừ hữ bỏ qua, phớt lờ đi, như ông Tuân nói.

          … Kể chuyện về quá trình vào đời của một thanh niên ngày nay, lẽ ra tác giả phải trình bày rõ, người thanh niên đã vượt khó khăn và trưởng thành trong lao động như thế nào, chị ta được Đảng và Đoàn giúp đỡ dìu dắt ra sao, và đặc biệt chị ta đã nuôi dưỡng lý tưởng gì làm đôi cánh giúp mình bay bổng… Trái lại trong quyển truyện Sen hầu như không có một chút lý tưởng cách mạng nào hết…

          Trong lao động, Sen có những ước mơ vô cùng quái gở và lạc lõng: “Ước gì được ngủ một giấc thật dài, ngủ tràn cung mây bất kể ngày đêm, không ăn uống gì cả; ước gì được nằm ườn ra cả ngày chẳng nghĩ ngợi, chẳng lo lắng gì cả, chỉ việc đói ăn khát uống mà ở đầu giường lại đầy ắp những bánh kẹo, những hoa quả, những chai nước chanh nước cam giải khát”.

          Có thể nói rằng hầu hết thanh niên hiện nay khi bước vào đời đều mang trong lòng cái lý tưởng xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà, trái tim của họ nóng hổi nhiệt tình cống hiến sức lực và trí tuệ cho nhân dân, cho Đảng. Họ có đâu như bọn người ăn bám chuyên môn ước ao: “Ăn no rồi lại nằm khoèo, đâu rung trống chèo bế bụng đi xem” ! Người ta không hiểu vì sao Sen chỉ như con cá lúng túng trong cái lưới bao vây của kẻ xấu, suốt năm suốt tháng chỉ loay hoay dằn vặt về chuyện gia đình, chồng con, bước vào đời không có chút lý tưởng cách mạng của người đoàn viên Thanh niên Lao động, cuối cùng lại có thể trở thành chiến sĩ thi đua?

          Không ai phủ nhận cái quyền chính đáng của người viết văn trong việc miêu tả cái xấu. Không triệt để phê phán cái xấu do xã hội cũ để lại thì không thể xây dựng tốt xã hội mới. Mấu chốt của vấn đề là nhà văn phải giữ vững tính đảng, phê phán không thương tiếc những cái gì có hại cho cách mạng chứ không phải đả kích lung tung để làm lợi cho kẻ thù của cách mang. Trong khi phê phán cái xấu, cần luôn luôn nhìn thấy mặt bản chất tốt đẹp của xã hội ta. Phê phán cái xấu là để làm nổi rõ cái tốt. Phương pháp miêu tả và phê phán cái xấu cũng không phải là xen kẽ một đoạn xấu một đoạn tốt, cũng không phải là xây dựng cái đuôi “có hậu” một cách giả tạo. Miêu tả xen kẽ xấu tốt mà khuynh hướng tư tưởng không rõ ràng thì người đọc sẽ lẫn lộn, bỡ ngỡ như đứng giữa ngã ba đường. Kết thúc “có hậu” mà không đúng với quy luật của cuộc sống thì chỉ là công thức, nhạt nhẽo. Không ai tin được việc Sen trở thành chiến sĩ thi đua một cách dễ dàng như thế, vì rằng tác giả “Vào đời” đã xuyên tạc quy luật cuộc sống. Khuynh hướng tư tưởng của Hà Minh Tuân không “có hậu” gì cả.

          ……..

NGUYỄN THANH DÂN

(thôn Nhân Nội, xã Tân Tiến, Văn Giang, Hưng Yên)

Lương Sĩ Cầm (Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ, Hội nhà văn Việt Nam):

          Sai lầm của Hà Minh Tuân phải chăng chỉ nằm trong phạm vi nghề nghiệp? Không phải. Một tác giả chỉ yếu nghề nghiệp, kỹ thuật non, thiếu vốn sống, thường đẻ ra những tác phẩm kém chứ không đến nỗi xấu và có hại như “Vào đời”. Ở đây phải nói đến lập trường tư tưởng và thái độ của tác giả trước cuộc sống nữa.

          Người đọc thắc mắc tại sao lúc tả những nhân vật tiêu cực, lúc phản ánh những ý kiến thắc mắc về đời sống hàng ngày, tác giả lại viết sắc và ác đến thế. Ngược lại, lúc nói về mặt tích cực, nói về sự phản kích của những tư tưởng tiến bộ, tác giả lại đuối tay thực sự. Điều ấy không khó hiểu.

          Thường thường trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống những tư tưởng phi vô sản, những người tham gia đấu tranh hoặc tiếp thu hoặc củng cố được tư tưởng mới, nắm vững thêm chân lý cách mạng. Nhưng cũng không ít người trong quá trình đấu tranh, sợ hãi sóng gió cách mạng, ngoài mặt thì hăng hái đấu tranh, nhưng trong lòng đã bị những tư tưởng phi vô sản chinh phục từng phần, ngấm ngầm mà không hay. Trong những người ấy, con ma cá nhân chủ nghĩa trỗi dậy đã bám chặt lấy bạn đồng minh bên ngoài. Đó là biểu hiện dao động, đầu hàng về tư tưởng.

          Từ hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã trải qua bao cuộc đấu tranh, kể cả cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tư tưởng tình cảm XHCN, chúng ta thấy có nhiều người đã biến chất như vậy.

          Qua cách miêu tả đời sống miền Bắc ta trong “Vào đời”, tôi thấy tác giả nằm trong số những người ấy. Điều ấy giải thích vì sao lúc miêu tả mặt tiêu cực cũng như phê phán nó, tác giả đã tỏ ra tình cảm cách mạng của mình hời hợt đến thế, tư tưởng và nhận thức của người viết không vươn lên cao hơn nhân vật thì làm sao ngăn cản được nó phá hoại tác phẩm? Mặc dù tác giả đã đặt những ý nghĩ những lời nói xấu chế độ vào tâm tư, vào miệng các nhân vật, nhưng qua tác phẩm, tôi thấy tác giả có hòa mình vào trong đó một phần, − cái lệch lạc của tác phẩm xuất phát từ nguyên nhân tư tưởng của tác giả.

          Cũng do lập trường tư tưởng lệch lạc và thái độ thiếu trách nhiệm, tác giả đã xếp ngang nhau trong “Vào đời” hai loại biểu hiện tiêu cực bản chất khác nhau. Một là hành động phá hoại, chống đối giai cấp của bọn lưu manh, hai là thái độ quan liêu của cán bộ phụ trách xí nghiệp. Tác giả đã đem cán bộ đối lập với công nhân và có khi làm lẫn lộn hoạt động chống phá của bọn lưu manh với hành động đấu tranh chống quan liêu. Sự nhập nhằng ấy đã làm mờ ý thức đấu tranh giai cấp cần thiết lúc bấy giờ…./.

LƯƠNG SĨ CẦM

(Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ, Hội nhà văn Việt Nam)

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 13 (26.7.1963), tr. 5.

Cần vạch ra thêm các loại tư tưởng xấu trắng trợn và cài ngầm trong cuốn “Vào đời”

25/7/1963: báo “Lao động”:

Nguyễn Anh Tài: Cần vạch ra thêm các loại tư tưởng xấu trắng trợn và cài ngầm trong cuốn “Vào đời”

          Nói về tác phẩm của bạn bè, chưa bao giờ chúng ta phẫn nộ như khi đọc “Vào đời” của Hà Minh Tuân. Thật không thể nào nới tay được với tư tưởng trong sách của anh, một thứ tư tưởng chống đối, quá khích, trắng trợn và ngấm ngầm, nó tác động vào tinh thần người đọc chẳng kém gì văn nghệ phẩm phản động. Nếu không mất công vạch đến cùng thứ tư tưởng quá khích, chống đối, hòng lấy cớ “mạnh dạn nêu lên và trả lời đúng những vấn đề của cách mạng, của đời sống” (trích bức thư Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba) mà tác quái, hòng lấy sự khuyến khích, độ lượng của anh chị em công nhân chúng ta mà ẩn nấp, nếu không làm như thế, thì còn có phen thứ tư tưởng này lại lọt lưới, phá hoại, làm mất công việc, mất ăn mất ngủ nữa.

Lệch cái tâm đầu tiên

          Câu chuyện cô Sen nữ sinh Hà Nội “vào đời” có vẻ oan nghiệt do Hà Minh Tuân dựng đứng lên, thực ra chỉ là cái cớ để anh thổi vào đấy một luồng tư tưởng xấu đã phục kích từ trước. Vì toàn bộ câu chuyện là phi lý, cái lý bình thường chứ chưa nói đến cái lô-gich của phương pháp nghệ thuật, chưa bàn đến cái chân thành với hiện thực của xã hội ta trong giai đoạn ấy (1956-1960). Cô Sen của Hà Minh Tuân ra đi công trường là để thoát ly một cuộc ép duyên của cha mẹ, động cơ đi vào công nhân như thế, qua mấy năm tai nạn khủng khiếp như thế ấy mà cuối cuốn sách, Sen trở thành chiến sĩ thi đua một cách ngon lành! Chúng ta không hẹp hòi gì về động cơ tư tưởng trong bước đầu, về thành phần gốc gác của chiến sĩ, nhưng cái lý tối thiểu của cô Sen trở thành chiến sĩ, cái lý của Hà Minh Tuân ở đây không có. Cô Sen của Hà Minh Tuân vào đời gặp vô số tai họa, lại chỉ khắc phục bằng nước mắt (!) Người đọc luôn gặp cô ta úp mặt xuống gối, mặt gối đầm đìa, mắt chảy máu ra. Thử hỏi, cái gì nâng cô Sen lên hàng ghế chiến sĩ thi đua? Một vài dòng bút ký công thức khô khan của anh Trà (bộ đội đã hy sinh) ư? Một buổi “xây dựng tư tưởng” của anh Trần Lưu bí thư chi đoàn thanh niên mà Hà Minh Tuân vẽ ra y như mẫu người hề kia ư? Chẳng có nhân tố nào cả! Quá trình lớn lên rất đẹp, rất tất nhiên của hàng vạn chiến sĩ thi đua từ trước đến nay không hề chứng nhận điều đó. Thực tiễn của phong trào như ta biết đã dễ dàng bác bỏ cái “hoàn cảnh điển hình, trường hợp điển hình” của Hà Minh Tuân rồi. Đấy là nói về nhân vật trung tâm mà quanh đó, anh đặt ra quan hệ giữa người với người để dựng tiểu thuyết. Như một bài toán, con số đầu đã trật thì giải đáp cuối cùng làm sao mà đáng tin? Như một vật bắc lên bàn tiện, cái đường tâm đã lệch thì tránh sao khỏi phế phẩm?

          Nhưng thực chất luồng tư tưởng ở đây lại không nằm trong nhân vật Sen “có cặp mắt to tròn” kia đâu. Cái độc hại trong “Vào đời” không thể gói trong một cô nữ sinh chỉ biết phản kháng bằng cách úp mặt xuống gối; anh phải gửi công khai, gửi bí mật nó rải rác vào những nhân vật khác. Mà như thế mới nguy hiểm.

Tư tưởng quá khích dưới lá bài “chống quan liêu”

          Chúng ta hiện nay cũng đang tiếp tục chống quan liêu. Không phải bây giờ mới chống, mà Đảng đã đề ra từ lâu. Nhưng ta chống thế nào, có phải chống kiểu Hà Minh Tuân không?

          Ai cũng biết quan liêu là một di sản còn lại của xã hội phong kiến đế quốc, đến nay ta quét chưa sạch. Ai cũng biết cán bộ lãnh đạo của ta tuyệt đại đa số là tích cực tận tụy, đúng là “trung với nước, hiếu với dân” như lãnh tụ hằng dạy dỗ. Điều đó phải khẳng định trước hết. Nhưng, mặt khác, quan liêu cũng lại còn do trình độ quản lý, trình độ công tác, lề lối làm việc của cán bộ không chạy kịp với yêu cầu của cách mạng ngày càng lớn, càng khó khăn. Đây là vấn đề khả năng lãnh đạo mâu thuẫn với yêu cầu mới. Trong xã hội chúng ta, trường hợp này là phổ biến. Ở “Vào đời”, Hà Minh Tuân cũng có nói đến công việc túi bụi của Cư, Chiến (mà anh cho là cán bộ quan liêu), nhưng nói một cách ghét cay ghét đắng. Mặt khác anh lại tưởng tượng ra thứ quan liêu “đội khăn xếp, quần là ống sớ”, “khách khứa tiệc tùng”, anh lại cộng thêm cho tội “đuổi thợ như bọn chủ Pháp ngày trước” (tr. 179), tội “không giải quyết quyền lợi quân nhân phục viên” (tr. 179) và để cho nhân vật chống đối quá khích “bỏ rọ” cán bộ “biểu tình lên tận thủ tướng phủ” (!)

          Những tội “quan liêu” trên đây của cán bộ không hề được chứng minh có lý bằng hình tượng nghệ thuật, mà khi thì anh cho nhân vật tốt thốt ra, như Trần Lưu bí thư chi đoàn thanh niên nói: “Anh (tức Cư và Chiến) là cái thá gì, có giỏi hãy mó tay vào mà làm” (tr. 185), hoặc như Hán, quản đốc mới nói quản đốc cũ: “cái thói quan liêu hống hách đàn áp thợ” ; khi thì anh cho nhân vật Hiếu chửi rủa có vẻ tỉnh táo: “Hừ! mẹ kiếp! … Chỉ tay năm ngón, hống hách, tác hại… ăn lương cao!” Rất nhiều, rất nhiều, cứ thế cho đến khi bọn chống đối quá khích này ra tố cán bộ giữa đại hội công nhân viên chức và kéo nhau bắt cán bộ “bỏ rọ trả bộ công nghiệp”  để xung đột mạnh ở dưới chân cầu thang (tr. 191). Tội quan liêu mà Hà Minh Tuân lu loa là như thế, còn mặt mũi hình thù họ ra sao? Anh tả phó giám đốc trường kỹ thuật (nơi bọn chống đối quá khích học) thì “hai con mắt gườm gườm, đôi môi mím chặt”, tả nhân viên thường trực thì “mặt lưỡi cày xanh rớt”, tả Chiến trưởng phòng tổ chức thì “dưới cặp kính đen (kính cóc gặm!) là nửa khuôn mặt trắng bệch như nến, nghiêm quá thành đuồn đuỗn như mặt hình nhân”  (tr. 145) đến nỗi “Hiếu ngứa tay muốn vả vào cái miệng ấy một cái” (tr. 145); tả Cư, giám đốc đang đứng chịu tội (?) trước công nhân thì “mớ tóc hoa râm lộn xộn trên khuôn mặt lưỡi cày mấy ngày nay càng tóp đi” (tr. 242).

          Cái điều rất lạ ở đây là: hình thù cán bộ lãnh đạo thì thế, nhưng đến bọn chống đối, quá khích kia thì dáng dấp chẳng thằng nào xấu cả. Ngòi bút của Hà Minh Tuân đến đây sao duyên dáng, nhiệt tình thế? Tên Nguyễn Mai, cảnh sát ngụy quyền đã từng bóp mũi giết đồng chí thương binh, đã từng hiếp cô Sen, đã phá hoại nhà máy, côn đồ đủ thứ, thì “mắt một mí đen sâu thăm thẳm, trán cao hơi gồ, loại trán ấy là trán thông minh; … thân hình dong dỏng rắn chắc, mũi miệng xinh xẻo; tóm lại là một gã đẹp trai” (tr. 56); còn Hiếu, thằng chồng sa đọa, phá máy, tống tiền, chống đối cải cách ruộng đất, quá khích chính cống, thì hiện lên luôn với “cặp mắt đen thẫm và táo bạo”; cho đến khi hắn đã phá phách ra mặt, “cặp mắt đen thẫm táo bạo… hiền hậu … như mắt búp bê”, lại vẫn được ngòi bút Hà Minh Tuân tả thật say sưa.

          Chúng ta không thể thay tạo hóa cấm bọn thù địch không được đẹp dáng, nhưng cái điều lạ cần hỏi ra đây là: sao ngòi bút Hà Minh Tuân lại say sưa nhiệt tình đến thế khi tả phần tử chống đối, và tàn nhẫn thù hằn đến thế khi tả ta? Ở đây rõ ràng không còn phải là con mắt Hà Minh Tuân đã lệch, mà trái tim anh đã méo, đã nhiễm chất độc thật sự.

          Mỉa mai thay, những “cán bộ quan liêu” ghê gớm ấy lại được cử lãnh đạo một nhà máy đầu tiên của chúng ta vào cỡ hiện đại nhất Đông Nam Á. Chúng ta không phải đối chiếu với thực tế, mà chỉ muối hỏi: Sao Đảng và Chính phủ lại đi giao cho cán bộ như vậy lãnh đạo một nhà máy hiện đại? Và nếu cần phải nghĩ như thế, có phải anh Hà Minh Tuân định gián tiếp hay ngầm nói gì đến sự quan tâm hết sức của Đảng, Chính phủ đối với việc lãnh đạo công nghiệp nặng? Ý đồ của Hà Minh Tuân tưởng như là tốt (vì cũng chống quan liêu!) nhưng lại rất xấu, rất ác. Chúng ta không nói đây là trường hợp thầy phù thủy non tay bị âm binh quật ngã, mà chính là thầy cốt thả cái lũ âm binh này ra để tác quái xã hội.

Vẫn là đả kích và thụi ngầm

          Đã nói đến tiểu thuyết là nói đến nhân vật. Nhân vật mặt chính, mặt trái, tốt còn rơi rớt xấu, nghĩa là có thể có đủ phức tạp mà tác phẩm yêu cầu. Nhưng dù nhân vật có phức tạp, cuộc đời trong tác phẩm có trùng điệp mấy đi nữa, người đọc cũng đòi cho được người viết phải “rọi ánh sáng mới vào nhận thức tư tưởng và tình cảm của xã hội, cổ vũ nhân dân phấn khởi tiến lên”  (trích bức thư Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba). Ở đây Hà Minh Tuân không làm thế. Anh không làm sáng ra lẽ phải mà làm tối sầm đi, không rọi ánh sáng mới vào, mà lại cài ngầm, lập lờ những ý xấu, rất xấu. Thử điểm lại nhân vật của anh mà xem. Tuyến nhân vật mặt trái (Mai, Song, Hiếu… làm đại biểu) không chỉ tác quái trong nhà máy; chúng còn triết lý hưởng lạc, chửi bới thắng lợi của cải cách ruộng đất, đả kích trật tự xã hội, đả kích sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Những câu độc địa từ mồm chúng (mà Hà Minh Tuân mượn gượng), ta đã có dịp bàn đến, ở đây chỉ thử điểm “nhân vật mặt chính” của anh.

          Trần Lưu, nhân vật đầu mà Hà Minh Tuân nêu ra rõ nét, thì lại cứ thích “triệt để xây dựng” đến nỗi anh thợ khác bạn cùng giai cấp phải vác dao đuổi chém (!) Chính Trần Lưu cũng ngồi trên bàn chủ tịch đoàn đại hội công nhân viên chức “đả” như tát nước vào mặt giám đốc. Anh lại cho chị Bổn (cũng tốt) lý giải việc Trần Lưu bị đuổi chém là vì “Lưu ta đi đâu cũng chúa là nói giai cấp công nhân lãnh đạo”. Đọc đến đây, ai cũng phẫn nộ, không phải do Bổn độc mồm, mà là Hà Minh Tuân độc địa, vì những đoạn này không dính gì đến tư tưởng và nghệ thuật của câu chuyện cả. Rồi đến bác Biên, bí thư chi bộ, phái viên Trung ương Đảng, đại diện thành ủy…; anh đã vừa cho nhân vật đối thoại, tự sự, hoặc anh hùng biện giùm cho nhân vật nói lếu láo một cách say mê. Mới đọc qua, tưởng nhân vật của anh “đa dạng”, nhưng xâu nó lại, thấy tòi ra thêm mũi mác chọc ngầm vào sườn cán bộ lãnh đạo, vào sườn nền chuyên chính vô sản.

          Vẫn còn nhiều lắm, nhưng xin ngắt lại để nói một chi tiết quan trọng: Hà Minh Tuân, vì không nắm vững quy trình kỹ thuật, đã đả kích luôn vào kỷ luật sản xuất. Đồng ý với “sáng kiến” của chiến sĩ Trần Lưu là “tiện trục ngắn có thể dùng vấu cặp chặt vào mâm”, có khi không cần phải chống hai đầu “poanh” mà chậm; đồng ý với sự cải tiến ấy, nhưng từ chỗ ấy mà cho chiến sĩ Trần Lưu nói bừa “bản vẽ không phải là luật pháp!” thì không ổn. Phát ngôn như vậy là vi phạm quy trình sản xuất đang rất cần đề cao trong lúc này. Công nhân nhất thiết phải làm đúng bản vẽ, nếu có sáng kiến, phát hiện gì mới, phải đề đạt và thông qua phòng kỹ thuật duyệt và sửa lại mới được làm. Còn nếu lấy cớ Quang, kiểm soát viên đã bảo vệ quy trình sản xuất mà gọi là “tự ái bảo thủ” thì coi chừng nhà văn sẽ phá hoại nặng cơ đồ của chúng ta. Từ chỗ quy là “tự ái bảo thủ” đến chỗ đặt biệt hiệu “Quang ba tam giác ngược” (ký hiệu chỉ độ láng cấp 7 khi tinh chế máy móc) cho anh kiểm soát viên ấy thì, nếu Hà Minh Tuân không xỏ xiên, cũng ăn nói rất thô lỗ, khó nghe.

***

          Chưa nói đến phương pháp nghệ thuật của anh phải dùng đến cái ngón “ly kỳ trinh thám” làm người đọc có suy nghĩ phát chán, chỉ nói đến “tinh thần xây dựng và thái độ chân thành” của anh trong việc “thẳng thắn phê bình những khuyết điểm trên bước trưởng thành của cách mạng” (trích bức thư Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba); nội điểm này đã không chỉ ra hết vô số ý xấu và độc của anh. Sách anh đã làm tốn nhiều giấy mực quá để nói bậy cho nên sự phẫn nộ của người đọc lại phải nhân lên nữa. Trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, anh đã được nghe Đảng ta yêu cầu nhà văn phải làm sao cho “tư tưởng xã hội như nắng mùa xuân đang ngày càng tỏa sáng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta” (trích bức thư Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba); trong Đại hội nhà văn vừa qua, chính anh cũng đọc tham luận về cuộc sống mới con người mới trong giai cấp công nhân. Thế mà chẳng bao lâu anh đã tuồi ra cuốn “Vào đời” tai hại này.

          Cán bộ công nhân viên chức chúng ta rất say đọc những sách báo viết về mình, không phải vì chỉ thích ca ngợi một chiều, mà còn sẵn sàng muốn được nghe “thẳng thắn phê bình những khuyết điểm và nhược điểm” với một thái độ chân thành để sửa chữa. Aanh Hà Minh Tuân đã rõ ràng không chân thành với chúng ta. Hỏi làm sao không phẫn nộ, không tiếp tục lên tiếng được với các loại tư tưởng xấu nhất, nguy hại nhất mà anh đã say mê gửi gắm vào nhân vật, vào toàn bộ “tác phẩm” hàng ba trăm trang của anh?

NGUYỄN ANH TÀI

Nguồn:Lao động, Hà Nội, s.1241 (25.7.1963), tr. 3.               

“Vào đời” dưới mắt nhà giáo chúng tôi

21/7/1963. Báo “Cứu quốc”:

Hoàng Thiếu Sơn: “Vào đời” dưới mắt nhà giáo chúng tôi

          Thanh niên có quyền đòi hỏi gì ở cuốn “Vào đời”?

          Mọi cuốn sách mới xuất bản đều được bạn trẻ chăm đọc. Cuốn “Vào đời” đáng lẽ càng thu hút bạn trẻ vì đề tài của nó. Học sinh, nhất là học sinh lớp bảy, lớp mười đọc nó với cái mong muốn chính đáng, bồi dưỡng nhân sinh quan của mình, trước khi chính bản thân cũng sắp bước chân “vào đời”. Nhân vật chính trong truyện lại là một cô học sinh lớp tám, nạn nhân của một tấn bi kịch ép duyên đã bỏ nhà, giã trường, đi tham gia sản xuất trước ở công trường, sau ở nhà máy.

          Thiết tưởng đề tài thanh niên tham gia sản xuất trên các công trường, trong các xí nghiệp, không khư khư đòi hỏi nhất định phải vào đại học để có một địa vị cao và được đãi ngộ nhiều, — thiết tưởng đề tài ấy là tốt nhất và hiện thời là thích hợp nhất với việc giáo dục thanh niên góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, tiến lên CNXH.

          Với đề tài ấy, thanh niên có quyền đòi hỏi cuốn truyện phải đem đến cho họ một ấn tượng lạc quan phấn khởi và tự hào: lạc quan ở tương lai của đất nước, phấn khởi ở tiền đồ của thanh niên, và tự hào vì chính bàn tay và khối óc của thanh niên sẽ xây dựng nên tương lai tiền đồ ấy. Thanh niên lại có quyền đòi hỏi ở cuốn truyện những nhân vật điển hình tích cực tốt đẹp và gương mẫu, những Pa-ven Coóc-sa-ghin, Trần Văn Giao, Trương Thị Len… mà họ có thể học tập những đức tính cao quý.

Nhưng đọc hết 330 trang của “Vào đời”, thanh niên đã rút ra được gì từ những cảnh tả trong truyện?

          Để tránh một tấn bi kịch gia đình, Sen, người nữ thanh niên ấy bước vào đời và sa ngay vào một tấn bi kịch ghê gớm hơn: ở công trường, đêm tối đi dạy học bổ túc về, Sen bị hai tên lưu manh hiếp dâm, rồi… chửa! Một sĩ quan phục viên, là Hiếu, “hào hiệp” yêu thương Sen và kết hôn với Sen để che đậy cho cái hoang thai, những tưởng rằng cái bước vào đời của Sen đã hết ba đào. Nào ngờ các diễn biến oái oăm của cuốn truyện lại đưa Hiếu đến chỗ câu kết với chính hai tên lưu manh đã hiếp vợ mình để tuột không phanh xuống cái dốc lỗi lầm ghê gớm rồi quay về hành hạ vợ tàn nhẫn, độc ác và cuối cùng thì ly dị nhau.

          Mới “vào đời” có hơn bốn năm mà cô nữ sinh ấy đã gặp phải bao nhiêu là biến cố là gian truân: bị ép duyên, bị hãm hiếp, bị tình phụ, bị hắt hủi, phải ly hôn, tựa hồ có một cái số kiếp nghiệt ngã nào đã quyết định như vậy.

          Đành rằng tác giả câu chuyện có cho cô Sen vượt mọi đau khổ, vươn lên thành chiến sĩ thi đua, trong một buổi sản xuất mở đầu hội thi đua phá chỉ tiêu giành kiện tướng mà ngực gắn những bốn bông hồng… Nhưng cái phút phấn khởi ấy đánh tan đâu được cái ấn tượng bi quan nặng nề mà các tai biến liên tiếp của Sen đã để lại trong óc người đọc?

          Anh chị em học sinh sắp từ giã nhà trường, theo tiếng gọi của Đảng, của Đoàn, về hợp tác xã, lên công trường, đi khai hoang, đọc “Vào đời” để sống cái không khí phấn khởi của những cuộc xuất quân hòa bình, đi thay da đổi thịt cho đất nước, đã nhiều người, nhất là các nữ sinh, đã không khỏi bồi hồi theo dõi các biến cố xảy ra trong đời cô Sen rất thân thuộc với họ và gấp sách lại, nhiều người đã không khỏi tần ngần liên tưởng đến bước “vào đời” của chính bản thân họ.

          Cũng có người hiểu rằng nhiều hiện tượng xấu xa, nhiều hoàn cảnh ngang trái dựng nên trong truyện chỉ là con đẻ của trí tưởng tượng của tác giả, chứ không phải là phản ánh trung thành hiện thực xã hội. Nhưng tác giả đã đưa vào truyện nhiều cảnh ra vẻ như là cảnh thật, nhiều người ra vẻ như là người thật, từ con sông Tân không buồn trôi vì dòng nước bế tắc những “rau muống chen lẫn với cỏ dại và bèo tây”, đến “cuộc mít-tinh mở đầu hội thi đua phá chỉ tiêu giành kiện tướng có cả Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị… về dự”, từ những lời rao vặt tìm con trong báo “Thời mới” đến “mục thơ xướng họa đả đảo ông quan liêu trên báo Văn nghệ của ông Nguyễn Đình Thi”… cho nên không ít bạn đọc đã lầm nghĩ rằng những hành động sai trái, xấu xa, bậy bạ, khốn nạn tả trong truyện cũng đều là việc thật, thật từ việc học sinh trường chuyên nghiệp đánh phó giám đốc “chảy cả máu mồm máu mũi”, đến việc công nhân biểu tình đòi bắt người lãnh đạo “bỏ rọ đưa lên ô tô đem quẳng giả trước cửa Bộ công nghiệp”. Cái xã hội bịa đặt mô tả trong truyện nhiều nét tối tăm, u ám, có khi ghê rợn và chứa đựng những bất trắc có thể thình lình đổ xuống đầu người ta như những cơn giông tố bất ngờ mà tác giả tả đi tả lại nhiều lần trong truyện. Bức tranh xã hội ấy đã gieo bi quan hoài nghi vào đầu óc nhiều thanh niên hăng hái sắp lên đường đi sản xuất, đối với không ít thanh niên còn do dự, nó làm cho ngại ngùng và chùn bước. Nhưng tai hại hơn cả là cuốn “Vào đời” đã cung cấp cho một số bậc làm cha làm mẹ lý lẽ để bài bác, cản trở việc con cái đi tham gia lao động xây dựng đất nước.

          Một người bố ở Hà Nội đã ngăn con:

— Ối chào! Nông trường với công trường, cái gương cô Sen tầy liếp chưa đủ làm cho chúng mày sáng mắt ra hay sao?

Người con cãi lại là cô Sen nhờ có đi công trường mới thành chiến sĩ, kiện tướng, thì bố tiếp tục:

— Trước khi thành được chiến sĩ, kiện tướng thì đã “còn gì là thân”.

Rồi bồi thêm một đòn độc ác:

— Tiểu thuyết ngày nay người ta tả là có thật, vì nhà văn theo chủ nghĩa hiện thực, chứ đâu phải bịa đặt như cái thời “Hồn bướm mơ tiên” của thế hệ chúng tao!

          Cô Sen trong truyện là một thiếu nữ đã quả cảm chống lại chế độ hôn nhân ép buộc của gia đình phong kiến. Bước “vào đời” của Sen là do cuộc đấu tranh để thoát ly gia đình, bảo vệ quyền tự do hôn nhân ấy quyết định. Nhưng tình tiết ly kỳ của cuốn truyện ngờ đâu đã tạo cơ hội cho một bà mẹ đang ép duyên con gái ở Hà Nội, đàn áp tinh thần con gái một cách nói có sách mách có chứng bằng những câu mát mẻ như sau:

— Thoát ly gia đình thì có mà tránh cho khỏi tay Nguyễn Mai, Nguyễn Song! Tự do hôn nhân thì làm thế nào để khỏi phải rước lấy một ông Đặng Đình Hiếu, con ạ!

          Cái nhìn của người chậm tiến đối với xã hội đã được cuốn truyện làm cho lệch lạc, sai lầm thêm, cụ thể qua những trường hợp như thế đấy. Và tất nhiên là không cần phải nói rằng đối với những thanh niên đang hăm hở bước vào tham gia sản xuất của chúng ta, cuốn “Vào đời” là một món quà không những không gây ra phấn khởi mà lại còn đem đến cho họ hoài nghi và chán nản.

… Và những người trong truyện 

          Trong truyện tác giả đã xây dựng một số nhân vật phản diện rất đậm nét, đặc biệt là Nguyễn Mai, “mười lăm tuổi đã phạm tội hiếp dâm một em gái mười ba”, “trong đám cưới người anh con bác” đã “lẻn vào buồng cô dâu dở trò cưỡng hiếp” và bắn chết chú rể, gặp một thương binh đồng ngũ thì “đánh tráo chứng minh thư và bịt mũi bịt miệng cho người bị cháy tắt thở hẳn”… Nó bước vào truyện bằng một vụ cưỡng hiếp. Trong những tội ác của nó do công an điều tra ra, không kể hết những vụ hiếp dâm, dụ dỗ phụ nữ, giả mạo kỹ sư, bác sĩ, trung tá, đại tá… Nhiều chi tiết ghê gớm như vậy đã làm cho nhân vật có tính cách “quái vật”. Chưa bàn đến vấn đề một quái vật như thế mà ngang nhiên làm loạn trong xã hội hiện nay là có chân thực hay không, ta cũng thấy rằng có người thầy giáo nào là không thấy sự tồn tại một tính cách quái vật như thế trong một tác phẩm văn học, đối với thanh niên, học sinh tránh sao khỏi có tác động kích thích không lành mạnh?

          Cả đến những nhân vật như Hiếu, mà tác giả luôn luôn gọi là “anh”, thì cái mức độ bất mãn, hậm hực, cái tính cách bạ ai đánh nấy… cũng không phải là bình thường. Tính cách ấy là một tính cách bệnh hoạn. Đối với việc giáo dục thanh niên, đào tạo con người mới, có ý thức tập thể và ý thức kỷ luật cao, thì những tính cách bệnh hoạn như hình tượng đại đội trưởng đánh tiểu đoàn phó, học sinh đánh phó giám đốc, công nhân muốn tát vào mồm và đòi bắt bỏ rọ cán bộ lãnh đạo, sĩ quan quân đội nhân dân mà lấy đá ném loa phóng thanh, lấy phấn viết bậy vào cửa nhà xí… những hình tượng ấy, không người cán bộ giáo dục nào là không thấy tác hại đối với những tâm hồn bồng bột dễ bắt chước cái hay cũng như cái dở của anh chị em học sinh.

          Nhân vật tích cực nhất trong truyện, người bí thư chi đoàn Trần Lưu mà kết thúc cuốn tiểu thuyết, tác giả đã giành cho những lời thật là trân trọng xuất phát từ quả tim của một phụ nữ chiến sĩ và kiện tướng: “suốt đời Sen sẽ vô cùng mến phục và kính trọng anh”, hình tượng người thanh niên gương mẫu về rất nhiều mặt ấy, dưới ngòi bút của tác giả, đã được pha trộn nhiều nét làm cho người đọc khá ngạc nhiên và làm cho cái vai trò gương mẫu của nhân vật tích cực ấy đã bị tổn thương khá trầm trọng. Trả lởi một đồng chí về những việc cần xây dựng trong xã hội hiện nay, anh ta nói một thôi: “Biết bao nhiêu chuyện hả bác? Bán thịt theo phân phối mà tuồn những miếng ngon cho người quen! Bán nước mắm pha nhiều nước muối với nước lá chuối! Nhiều hiệu ăn “tiến bộ giật lùi”, phở vừa đắt vừa nhạt nhẽo! Ngày chủ nhật trong chợ ngoài đường loa phóng thanh oang oang nhức óc mà mấy ai nghe? Có những buổi chiều thứ bảy công an đứng hàng loạt ở đường phố Tràng Tiền cứ một chút một chút cũng huýt còi rinh lên khiến mọi người trên đường phố đều cảm thấy kém vui đi!…”

          Ý thức xây dựng chả biết có chân thành, nhưng lời ăn giọng nói rõ ràng là của kẻ bất mãn. Chủ nghĩa tự nhiên có tác dụng của nó, nhưng tác dụng với phản tác dụng đi liền với nhau như hình với bóng và thường là bóng trùm lên che khuất hết hình. Ở những trường hợp khác nó đã biến anh bí thư chi đoàn của chúng ta thành một cái đề tài để cười cợt, với những cái “thộn” và cái “hố” của anh ta. Tôi đã được nghe một học sinh bảo người bạn cũng là bí thư chi đoàn rằng:

— Này mày làm “cây xây dựng” vừa vừa, không chúng nó “cầm dao bầu” nó rượt cho như cái thằng Trần Lưu đấy!

          Được tiếp xúc với anh chị em thanh niên học sinh trong những buổi nói chuyện về cuốn “Thép đã tôi…” phục vụ cho sinh hoạt tinh thần của họ, đã có nhiều lần tôi được nghe các bạn trẻ nói rằng:

          — Hình tượng Pa-ven dù có những nét du kích, vô kỷ luật đấy, nhưng có tác dụng gương mẫu lôi cuốn chúng em mãnh liệt vì làm chúng em xúc động và khâm phục; hình tượng Trần Lưu đáng lẽ phải gần gũi với chúng em hơn lại làm cho chúng em buồn cười chẳng có mấy tác dụng.

          Cũng có bạn đã phát biểu rất đúng rằng:

          — “Thép đã tôi…” là câu chuyện “vào đời” của thanh niên Xô-viết trong hoàn cảnh đại loạn của thời nội chiến và Tân kinh tế chính sách, khó khăn không thể kể hết được, thế mà câu chuyện “vào đời” của họ để lại cho chúng ta một ấn tượng say sưa, lạc quan, hùng tráng. Cô Sen “vào đời” giữa thời thái bình trong cảnh an ninh trật tự của thủ đô chúng ta, sao mà câu chuyện “vào đời” của cô chỉ để lại cho người đọc cùng lứa tuổi với cô những dư vị chua chát như vậy?

          Trong xã hội ta, nhà văn là người kỹ sư tâm hồn, người cán bộ giáo dục đào tạo thanh niên với những của cải tinh thần mà nhà văn, nhà nghệ sĩ sáng tạo ra. Một tác phẩm có giá trị ra đời trong xã hội là một niềm vui lớn cho người dạy học chúng tôi vì đó là một thức ăn tinh thần bổ, quý cho mọi người, nhất là cho thế hệ trẻ. Nhưng một tác phẩm không tốt ném ra trong xã hội không những làm mọi người bất mãn, mà riêng những người dạy học chúng tôi lại càng xót xa lo lắng vì tác dụng của nó không thể tránh được đối với thế hệ trẻ mà họ có trách nhiệm trực tiếp đào tạo. Cuốn “Vào đời” chính là một tác phẩm gây tác hại xấu đối với học sinh, phá hoại công phu của cán bộ giáo dục chúng tôi đang ngày đêm lo lắng đào tạo những lớp người ngùn ngụt chí khí xây dựng đất nước XHCN của chúng ta.

          HOÀNG THIẾU SƠN

Nguồn:Cứu quốc, Hà Nội, s. 3129 (21.7.1963), tr.12-13.

   

  

Tiểu thuyết “Vào đời” và trách nhiệm của nhà văn

19/7/1963: báo “Văn nghệ”, s. 12:

Xuân Cang: Tiểu thuyết “Vào đời” và trách nhiệm của nhà văn

          Đọc tiểu thuyết “Vào đời”, tôi thấy anh Hà Minh Tuân đã bỏ rơi mất trách nhiệm của nhà văn là phản ánh chân thực cuộc sống. Anh đã chọn lựa một cách trình bày hoàn toàn sai lệch để miêu tả đời sống lao động của chúng ta, chắp nhặt những hiện tượng xấu trong nhiều công trường khác nhau, chế tạo lại thành một câu chuyện có nhiều tình tiết ly kỳ, thành một cuộc sống “giả vờ là có thực” ở một công trường XHCN. Đọc “Vào đời”, một sự phản ứng sâu xa bắt nguồn từ đời sống chúng tôi, nổi dậy trong lòng. Nhiều bạn đọc đã nói to lên rằng: không phải như vậy, không phải đời sống chúng tôi dù vào những năm 1956-59 lại chỉ như những miệng hùm nọc rắn đón cô Sen bước vào đời như vậy. Chính là tác giả đã đánh lừa bạn đọc, nhưng chỉ đánh lừa được những bạn đọc trẻ tuổi mới lớn dậy, chưa đủ một sự hiểu biết về đời sống, và những bạn đọc mang nặng một cái nhìn hoài nghi đen tối như cách nhìn của tác giả trong quyển sách. Aanh đã đánh lừa bạn đọc bằng những sự việc có vẻ như là éo le, ly kỳ, những cảnh đời bi lụy, những cảnh trùm chăn bắt cóc con gái đem ra giữa cánh đồng hãm hiếp, những cảnh đánh cắp “com-măng-ca” đi tống tình con gái nhà tư sản…

          Mấy năm nay, anh Hà Minh Tuân là một trong những người cũng có đi vào đời sống công nghiệp để sáng tác về đề tài mới mẻ đó. Nhưng ở đây ta thấy anh thiếu một sự gắn bó mình trong cuộc sống chiến đấu lao động của quần chúng.

          Thông qua một cách nhìn đặc biệt, anh đánh giá sự vật theo lối nghĩ chủ quan của mình. Tôi nghĩ đó là nguồn gốc của những cảm xúc của anh, những cảm xúc không lành mạnh. Từ những cảm xúc đó mà đẻ ra những kiểu nhân vật như cô Sen, như Hiếu, đẻ ra tình tiết giả tạo trong “Vào đời”.

          Không những anh không phê phán nổi mà lại còn tỏ ra đồng cảm đồng tình với những người như Hiếu, một nhân vật kiểu Nhân văn-Giai phẩm đang lưu manh hóa. Cô Sen, nhân vật chính trong tác phẩm, lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ, sẵn sàng thông cảm với Hiếu, mong khêu gợi được ở Hiếu một chút tình cảm tốt đẹp bằng cái quan hệ vuốt ve mơn trớn thuần túy xác thịt của cô ta. Thái dộ ấy đã được tác giả nâng lên như một thứ “nhân đạo chủ nghĩa” nào đó.

          Với những cảm xúc tiểu tư sản như vậy, ngay đến việc ca ngợi những cái tốt, anh cũng không nhìn được đúng. Việc cô Sen tìm ra sáng kiến chẳng hạn, rất tài tử. Trong một hoàn cảnh đầy những bi kịch trong gia đình, “cứ mỗi lần có chuyện không vui với chồng, Sen lại tìm đến nguồn an ủi hay ít nhất là một sự quên lãng ở máy, ở xưởng…”. Một sáng kiến đã ra đời, một chiến sĩ thi đua đã lớn lên trong nhà máy theo kiểu như thế đấy. Các bạn đọc là chiến sĩ thi đua xem đến đó sẽ buồn đi biết bao. Một công việc lao động sáng tạo được tả như một cách “để khuây khỏa, để quên lãng”.

          Chính là những cách nhìn, những cảm xúc xa lạ ấy đã chi phối toàn bộ nội dung câu chuyện, trong tất cả các chi tiết, cho đến từng câu văn một; chính nó đã gây nên sự phản ứng mạnh, nhạy bén của bạn đọc khắp nơi biểu lộ ra trên báo chí.

          Thật là một điều đáng mừng. Nhà văn nước ta sung sướng có những bạn đọc có tinh thần chiến đấu, cảnh giác cách mạng rất cao, hiểu biết sâu sắc về đời sống của mình và đòi hỏi các nhà văn của mình phải có trách nhiệm lớn trước đời sống. Rất đáng tiếc, những người đọc đầu tiên của quyển truyện “Vào đời” ở Nhà xuất bản Văn học (cũ) lại thiếu sự phản ứng mạnh mẽ, nhạy bén ấy.

          Tôi không muốn làm công việc phê bình. Tôi chỉ muốn nói lên một ít cảm nghĩ của một người đọc và một người viết trẻ, những cảm nghĩ đối với riêng tôi, tôi cho là rất có ích với bản thân. Thật ra, phải phê bình đấu tranh với một quyển sách ở một trình độ nghệ thuật kém cỏi, vuốt ve vào những thị hiếu không lành mạnh của một số người đọc, đó là một điều không thích thú gì lắm. Tuy nhiên, cái hiện tượng “Vào đời” ấy cũng đặt ra cho mỗi người viết văn thấy rõ hơn trách nhiệm lớn lao của mình./.

19/7/1963: báo “Văn nghệ”, s. 12:

Văn Dân (công tác văn nghệ quân đội): Anh bộ đội trong “Vào đời” bị bóp méo, xuyên tạc:

          Tôi chỉ nói một số nhân vật là bộ đội trong truyện.

          Sau tháng 7-1954, miền Bắc nước ta chuyển từ chiến tranh sang hòa bình. Anh bộ đội đang cầm súng đánh giặc cũng chuyển sang mặt trận sản xuất, xây dựng đất nước. Hình tượng ấy, theo tôi, tiêu biểu cho sự chuyển biến của xã hội miền Bắc trong giai đoạn lịch sử này. Nhưng trong “Vào đời” những người bị mang danh bộ đội thì sống chẳng hề tiêu biểu cho cái gì cả, vì một lẽ giản đơn: họ không phải là bộ đội.

          Theo tác giả, Trần Lưu trước là chiến sĩ thi đua. Lưu là một “nhân vật tích cực” trong “Vào đời”. Nhưng xét cho kỹ, Lưu ăn nói lỗ mãng thô bạo, phê bình giúp đỡ một nữ sinh mới bước vào nghề thì chụp tư tưởng này tư tưởng nọ (trang 38) không phân tích lý lẽ cụ thể. Phê bình cấp trên thì nói năng vô trách nhiệm (trang 185), coi báo chí của Đảng thì … “chõm toàn những chuyện cảm động với những chuyện tròn trĩnh tươi hồng đưa lên mặt giấy” (trang 326), nói đến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thì hằn học vơ đũa cả nắm (trang 327). Yêu đương thì vừa như cậu học sinh trước cách mạng lại vừa là một thằng thộn, ngô nghê. Nhìn Sen, Lưu chỉ thông qua đôi mắt “đen láy to tròn của Muôn” là người yêu cũ của anh, suốt một thời gian dài không dám tỏ tình với Sen. Nhưng khi Sen lấy chồng, anh lại “lẳng nhẳng tình cảm” như một gã si tình Âu châu, mặc dù cái si ấy được lồng trong cái vỏ công tác, giúp đỡ.

          Lưu có ưu điểm, cái ưu điểm làm hùng hục, nhưng tài lãnh đạo của một bí thư chi đoàn như thế nào, cụ thể phát huy sáng kiến ra sao thì chỉ là qua giới thiệu của tác giả. Phải chăng một người như thế đã xứng đáng là bí thư chi đoàn, là chiến sĩ thi đua? Nếu ở trong quân đội, Lưu chỉ là loại chiến sĩ kém, thiếu ý thức chính trị nữa là đằng khác.

          Tên Võ Cảnh tức Nguyễn Mai được tác giả giới thiệu rất lắt léo nhưng dù thế nào người ta cũng không tin là tên này đã ở bộ đội từ năm 1952 đến 1955. Tác giả giới thiệu hắn là cảnh sát địch bỏ trốn vào bộ đội ta. Tôi tưởng từ năm 1952 trở đi, bộ đội ta đâu còn cái kiểu lấy người vào ẩu như thế. Hắn vào bộ đội với mục đích gì tác giả không nói. Trong 4 năm trời bao nhiêu sự kiện lớn lao xảy ra tác động mạnh vào tư tưởng quân đội và nhân dân như chỉnh huấn, giảm tô, tình hình nhiệm vụ mới, CCRĐ, v.v., tư tưởng Mai lên xuống như thế nào không rõ. Chỉ biết tác giả nói đấy là bộ đội nhưng hành động hiện nay của hắn thì lại trăm phần trăm là lưu manh.

          Tôi muốn đi sâu vào nhân vật Đặng Đình Hiếu. Hiếu được tác giả mô tả ngược chiều với Sen. Sen từ dưới vươn lên còn Hiếu là từ trên tụt xuống. Ngay cách xếp đặt hai nhân vật này tôi thấy tác giả đã muốn phủ nhận nhân tố rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, vấn đề giáo dục chính trị liên tục trong quân đội. Không phải trong quân đội ai cũng giác ngộ giống ai. Nhưng ai đã thực tình đi chiến đấu đều phải trải qua thử thách. Có người đi trước mà tụt sau, có người đi sau mà vượt trước, nhưng khi miêu tả những hiện tượng đó, nhà văn đều gửi gắm với những điều kiện của nó. Cách sắp đặt có tính chất khẳng định trên này thật quá chủ quan và máy móc.

          Theo tác giả gia đình Hiếu là trung nông lớp trên bị quy oan trong CCRĐ, nhưng tư tưởng hành động của Hiếu lại là thứ tư tưởng hành động của sự phản ứng của giai cấp thù địch. Tác giả biện bạch cho Hiếu sa ngã vì sai lầm trong CCRĐ, nhưng thật ra tác giả đã lẫn lộn tư tưởng địch ta. Nếu quả như trong truyện thì Hiếu phải có một nguồn gốc giai cấp khác kia, chứ không phải là trung nông. Tất cả những lý do tác giả đưa ra để đẩy Hiếu xuống dốc đều không đứng vững. Nếu nói sai lầm CCRĐ đã đẩy Hiếu đến bất mãn có tính chất dây chuyền thì thật là cường điệu lên đến mức không thể có được. Trong CCRĐ, có một số cán bộ trong quân đội gia đình bị quy oan, số xuất thân thực sự là địa chủ cũng có, nhưng không ai nghĩ như Hiếu. Nhất thời có người bất mãn tiêu cực nằm dài, nhưng lúc ấy nếu kẻ địch nói xấu Đảng, âm mưu tấn công cách mạng thì họ sẽ thẳng tay đập cho nát ra. Họ có thắc mắc có đau xót nhưng nằm trong sự thông cảm với đau xót chung lớn lao của Đảng, họ suy nghĩ và tìm ra chân lý. Nhất là năm 1956, sau nghị quyết Trung ương lần thứ 10, thì vết thương trong lòng họ mỗi ngày một liền lại. Nhưng Hiếu thì hình như sống ở đâu chứ không phải ở quân đội, không phải ở miền Bắc nữa. Hắn nằm ở cái thế giới riêng nào mà đến năm 1959-1960 vẫn còn thấy “bố thè lè lưỡi” chết trong CCRĐ?

          Không hiểu trước đây tư cách của Hiếu như thế nào mà được đề bạt lên đại đội trưởng và được thưởng huân chương chiến sĩ hạng 3. Từ đấy tụt xuống dốc, thành như một tên côn đồ, lưu manh: đánh tiểu đoàn phó, đánh quản trị trưởng, đánh phó giám đốc, thì không hiểu con đường Hiếu đã đi như thế nào. Có thật là vì đánh tiểu đoàn phó bị kỷ luật rồi quân đội thải ra cho nhà máy không? Không đúng, đánh cả cấp trên không phải chỉ là hạ tầng công tác rồi cho ra mà còn phải trải qua giáo dục trong quân đội chứ không phải được đi học như trong truyện đâu!

          Đối với chế độ, Hiếu đã lộ rõ chân tướng một tên phản động có ý thức. Đối với gia đình, Hiếu lại không có lấy một chút tình người. Ở Hiếu mặc dù có những vướng mắc trong tư tưởng nhưng tại sao không bao giờ hắn nhìn vợ bằng cái tình của một chiến sĩ. Đặc biệt, đối với bé Hồng lúc nào hắn cũng như thù hằn?

          Hiếu từ nông thôn ra nhưng yêu đương lại rất lai căng, vừa khoan dung độ lượng “con thiếp con chàng, con chung”, nhưng rồi lại dã man như lang sói. Tôi đồng ý là biểu hiện con người không nên thẳng đuột mà phải miêu tả cho đúng với những tình huống, tâm tư phức tạp với cái nó có, đằng này, “sự phức tạp” trong “Vào đời” lại thằng đuột từng đoạn và từng đoạn ấy lại chắp vào nhau một cách ngoắt ngoéo, năm cha ba mẹ cho có vẻ phức tạp.

          Tóm lại tôi thấy Hiếu cũng như một số “bộ đội” khác trong “Vào đời” không thành hình người, mà chỉ là những cái bóng sống quắt queo. Đó là những con đẻ của tư tưởng tư sản còn rớt lại đã lỗi thời.

7-7-1963

 Nguồn:Văn nghệ, Hà Nội, s. 12 (19.7.1963), tr. 18.

         

Cần vạch trần hệ tư tưởng tư sản phản động trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời”

19/7/1963. Báo “Tiền phong”:

Xã luận: Cần vạch trần hệ tư tưởng tư sản phản động trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời”

          Trong mấy tuần qua, báo chí và dư luận xã hội rộng rãi ở miền Bắc nước ta đã nghiêm khắc phê phán cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của nhà văn Hà Minh Tuân. Mỗi ngày Bộ biên tập báo “Tiền phong” chúng tôi nhận được từ 20 đến 30 bài của thanh niên thuộc đủ các thành phần xã hội: công nhân, nông dân, bộ đội, học sinh, sinh viên, cán bộ, giáo viên, v.v. gửi đến phát biểu ý kiến phê phán cuốn tiểu thuyết này. Qua những bài phát biểu đó chúng tôi thấy rõ sự phẫn nộ của mọi người đối với những tư tưởng độc hại mà cuốn tiểu thuyết chứa đựng, đối với sự xuyên tạc cuộc sống mới ở miền Bắc và đối với sự tác hại của cuốn sách trong một bộ phận thanh niên đang chuẩn bị bước vào đời.

          Tiếng nói mạnh mẽ của dư luận xã hội đối với cuốn tiểu thuyết “Vào đời” chứng tỏ rằng nhân dân và thanh niên ta không bỏ qua bất cứ một hành động nào có hại đến đời sống tinh thần của xã hội và do đó có hại đến sự nghiệp cách mang XHCN ở miền Bắc nước ta cũng như đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam Việt Nam.

          Điều đó cũng chứng tỏ một sự thật là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng đã và đang còn diễn ra khá gay go và phức tạp trong quá trình của cuộc cách mạng ở miền Bắc.

          Việc phê phán cuốn tiểu thuyết “Vào đời” cho đến nay chưa phải là đã đủ; chúng ta cần phải tiếp tục phê phán tác phẩm xấu này một cách triệt để hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, không những trên báo chí mà cả trong các cuộc sinh hoạt của Đoàn thanh niên. Lẽ tất nhiên việc vạch rõ những tác hại của cuốn sách cũng như vạch ra tất cả những cái gì mà nhà văn Hà Minh Tuân đã xuyên tạc sự thật là một điều rất cần thiết. Song có một điều quan trọng hơn, đáng chú ý hơn là phải vạch ra được tất cả những khía cạnh, những ngóc ngách của hệ tư tưởng tư sản phản động ẩn náu trong cuốn sách và trên cơ sở đó tăng cường hơn nữa sự giác ngộ giai cấp của chúng ta, đồng thời quán triệt hơn nữa đường lối chung xây dựng CNXH ở miền Bắc và các chính sách của Đảng.

          Chúng ta cần phải phê phán một cách có tình và có lý. Nhưng có tình và có lý không có nghĩa là xoa dịu đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng.

          Tình của chúng ta là tình cảm cách mạng, là thái độ không khoan nhượng đối với tư tưởng độc hại của giai cấp bóc lột chứ không phải sự nể nang gượng nhẹ.

          Lý của chúng ta là thế giới quan mác-xít, là phương pháp phân tích giai cấp, chứ không phải là thế giới quan tiểu tư sản và sự phân tích phi giai cấp.

          Chỉ có phê bình một cách có tình và có lý như vậy thì chúng ta mới phê phán được triệt để cuốn tiểu thuyết “Vào đời” là cuốn tiểu thuyết mang những tư tưởng độc hại của giai cấp tư sản phản động.

TIỀN PHONG

Nguồn: Tiền phong, Hà Nội, s. 1064 (19.7.1963), tr. 3.  19/7/1963.

Báo “Tiền phong”:

Nguyễn Lương (Cục vật liệu kiến thiết, Bộ Nội thương): “Vào đời” đã xuyên tạc hết sức bỉ ổi bản chất tốt đẹp của các quân nhân phục viên, chuyển ngành

          Nếu như mấy năm về trước, bọn Nhân văn-Giai phẩm có thể lung lạc, lừa bịp được một số người nông nổi và nhẹ dạ nào đó, thì bây giờ đã khác hẳn, ai đọc “Vào đời” cũng tỏ ý bất bình với việc làm sai trái của Hà Minh Tuân trong cuốn sách đó. Điều này biểu hiện rõ trình độ chính trị, tư tưởng, và trình độ thưởng thức nghệ thuật của nhân dân ta đã ngày càng nâng cao. Thật là đáng mừng!

          Chúng tôi sẽ không nhắc lại những ý kiến phê bình xác đáng của các bạn đã phát biểu, mà chỉ muốn phê phán Hà Minh Tuân ở một điểm sau đây:

          Tác giả đã xuyên tạc hết sức bỉ ổi bản chất tốt đẹp của các quân nhân phục viên, chuyển ngành. Người đọc không khỏi bất bình và phẫn nộ khi thấy các nhân vật quân nhân cũ trong truyện đã bị tác giả bịa đặt và thêu dệt một cách giả tạo tới mức không thể tưởng tượng được, hoàn toàn trái với bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân.

          Hành động và thái độ của các nhân vật Hiếu, Mai, Song hoàn toàn đại diện cho bọn phản động, lưu manh côn đồ một trăm phần trăm! Chúng luôn luôn âm mưu phá hoại tài sản của Nhà nước, chia rẽ lãnh đạo với công nhân, đả kích sự lãnh đạo của Đảng, khích bác, xúi giục công nhân manh động, tự do vô chính phủ. Chúng lừa đảo, hiếp dâm… sa đọa hết mức về tinh thần và vật chất. Với bản chất xấu xa ấy, chúng không thể cầm súng như những chiến sĩ chân chính chiến đấu cho một lý tưởng cao quý trong quân đội cách mạng, chịu đựng thử thách qua cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc, mà sớm muộn trong thời kỳ gian lao đó chúng sẽ tự phơi trần bộ mặt phản động của chúng, và tất nhiên cuộc sống sẽ xử trí chúng một cách thích đáng. Đó là lô-gich của đời sống xã hội và cũng là lô-gich của nghệ thuật.

          Thế mà Hà Minh Tuân đã để cho chúng vượt được chặng đường kháng chiến vô cùng gian khổ vừa qua, thậm chí còn được đề bạt sĩ quan, và cắt nghĩa nguồn gốc của những hoạt động đen tối xấu xa của chúng trong những năm 1957-1960 là do điều kiện xã hội miền Bắc sau ngày hòa bình lập lại! Đây là một sự tác động tinh thần khá thâm độc đối với những người chưa kiên định lập trường tư tưởng, đồng thời cũng đả kích trực diện vào trật tự xã hội mới.

          Theo dõi nhân vật Hiếu, nhiều lúc người đọc cứ mong cho hắn sẽ ít nhất nói một vài lời tử tế nhẹ nhàng với người vợ hiền, mà những người chồng bình thường nào cũng có thể nói được. Nhưng họ đã thất vọng; hết trang này sang trang khác, Hiếu dần dần mất hết lương tri, đi đến những hành động bản năng, thú tính và rất phản động. Hiếu không thể là một chiến sĩ quân đội bình thường, nói gì đến một đại đội trưởng (!) Bao nhiêu công lao giáo dục, dìu dắt của Đảng xưa nay không thấy có một tác dụng nhỏ nào đến Hiếu. Như vậy chẳng khác nào Hà Minh Tuân đã xui mọi người phủ nhận tác dụng lãnh đạo và giáo dục của Đảng đối với các quân nhân phục viên, khuyến khích sự chống đối và đòi hỏi hưởng thụ vật chất.

          Nhân vật quân nhân Trần Lưu được tác giả xây dựng cho “tương phản” với nhân vật Hiếu. Lưu được giới thiệu như một người tiên tiến, một nhân vật “chính diện”. Nhưng thực ra người đọc không có cảm tình với anh ta, bởi chưng anh ta hay cau có, gắt gỏng, nói năng cộc lốc, làm hùng hục, tính tình khô khan, khó khăn… Vậy thì phải chăng tác giả cố minh họa cho danh từ “con người máy” mà trước đây bọn Nhân văn đã tung ra để ám chỉ nói xấu cán bộ và công nhân ta? Tới mức cao hơn, tác giả đã bất chấp cả nguyên tắc sơ đẳng về tính nhất quán của nghệ thuật, gán bừa vào miệng Lưu những lời lẽ hằn học đả kích mậu dịch và công an của ta. Vậy thì nhân vật Trần Lưu có đúng là tích cực, là “chính diện” không, hay cũng là sự xuyên tạc theo cách khác của tác giả đối với người quân nhân chuyển ngành?

          Sau khi gấp cuốn “Vào đời” lại, người đọc phải tự hỏi: những nhân vật quân nhân mà Hà Minh Tuân xây dựng nên trong “Vào đời” như Hiếu, Mai, Song, Lưu đại diện cho loại người nào trong xã hội miền Bắc hiện nay? Có đúng là điển hình của những quân nhân cũ không? Chúng tôi trả lời dứt khoát để tác giả rõ: Không đúng lấy một phần trăm! Trong thực tế ai cũng có thể bắt gặp trên khắp các hoạt động sản xuất và xây dựng các quân nhân cũ, đa số đang hăng hái lao động, không ngừng phát huy đức tính tốt đẹp của quân nhân cách mạng, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tác phong khiêm tốn và thân ái, sinh hoạt giản dị. Hà Minh Tuân cũng đã công tác lâu năm trong quân đội, thế mà đã nhắm mắt bóp méo sự thật, bôi nhọ đồng chí, đồng đội của mình! Người đọc không  khỏi ngạc nhiên về việc làm kỳ quặc đó của anh.

          Thế mà có người đã muốn xoa dịu công luận, chống đỡ cho tác giả khi cho rằng nguyên nhân việc làm của Hà Minh Tuân là do nhà văn không lý giải được cuộc sống nên đã xây dựng những nhân vật giả tạo. Có đúng vậy không? Chúng tôi nghĩ rằng ở đây không phải là vấn đề vốn sống hay kỹ thuật của người viết văn mà là vấn đề thuộc về thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn để nhìn con người xây dựng CNXH bằng con mắt nhìn của giai cấp tư sản phản động. Rõ ràng các nhân vật quân nhân trong “Vào đời” chỉ là công cụ để tác giả phát biểu một hệ thống quan điểm sai lệch của mình, tuyên truyền xuyên tạc chính sách và trật tự xã hội mới, phổ biến những quan niệm và triết lý sống rất lạc loài, xấu xa của giai cấp tư sản phản động. Những người quân nhân phục viên chúng tôi cực lực phản đối sự xuyên tạc trắng trợn của ông Hà Minh Tuân.

          Như trên đã nói, chúng tôi không có ý phê phán toàn bộ tiểu thuyết “Vào đời”, một cuốn sách đầy rẫy sự vu khống và xuyên tạc, đả kích, mà chỉ phát biểu về một mặt nhất định của nó nói đến các quân nhân cũ. Và, chúng tôi cũng không khỏi suy nghĩ về sự dễ dãi, thiếu trách nhiệm của Nhà xuất bản Văn học (cũ), đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết “Vào đời”.

NGUYỄN LƯƠNG

(Cục vật liệu kiến thiết, Bộ Nội thương)

Nguồn:Tiền phong, Hà Nội, s. 1064 (19.7.1963), tr. 3.