Trang chủ » 2014 » Tháng Hai

Monthly Archives: Tháng Hai 2014

Cần quan tâm nhiều hơn đến công tác di sản văn học


Tham luận tại hội thảo “Nâng cao chất lượng và hiệu quả

hoạt động lý luận phê bình văn học trong tình hình hiện nay”

do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức, Tam Đảo, 4&5/06/2013

Lại Nguyên Ân

 

Trong giới văn học chúng ta, ngành lý luận phê bình gồm có ba chuyên ngành vừa tách biệt vừa liên can chặt với nhau: lý luận (lý thuyết văn học), phê bình (bình luận về văn học đương thời) và nghiên cứu (nghiên cứu lịch sử văn học). Tuy vậy, hoạt động của giới nhà văn chúng ta thường chỉ chú trọng phê bình, xem nhẹ hai lĩnh vực còn lại, nhất là nghiên cứu văn học, do quan niệm rằng đây thuộc phạm vi của các nhà nghiên cứu ở các viện hoặc các khoa văn trường đại học.

 

Quả là đối với giới nhà văn thì mạch đập chính của đời sống văn học là những tác phẩm mới được công bố trên báo, nhất là in thành sách, và những phản hồi của dư luận đối với các tác phẩm mới ấy. Do vậy, phê bình dễ được xem là hoạt động thường ngày của đời sống văn học, dù rằng những người sáng tác thường xuyên không thỏa mãn với những phản hồi mà phê bình đem lại về các tác phẩm của họ.

 

Đời sống văn nghệ vốn đa dạng. Nhịp sống thường ngày không chỉ có việc phản hồi với sự ra mắt các sáng tác mới, mà còn thường xuyên có sự đọc lại, đọc mới những cái đã từng có, ‒ những tác phẩm đã từng xuất hiện sẽ có lúc được nhắc lại, những tác giả đã từng góp mặt trong văn học các thời kỳ…

Chính giới nhà văn hội viên gắn với Hội nhà văn Việt Nam cũng gồm nhiều thế hệ, trong đó có đến vài thế hệ đã đóng xong vai trò của mình trong sự phát triển văn học; sáng tác của họ, con đường văn học của họ, đã đến lúc trở thành đối tượng cần được khảo cứu, mô tả, nhận định dưới góc độ tiến trình văn học sử; rồi chính tổ chức hội nhà văn như là nhân tố tổ chức hàng loạt hoạt động văn học, hỗ trợ cho sự ra đời và định hình những tên tuổi, những phong cách, những mảng văn học,… cũng đã đến lúc trở thành đối tượng của những nghiên cứu, khảo sát, mô tả, ghi nhận…

 

Nhìn rộng ra, chúng ta, những nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu Việt Nam, đương nhiên phải chịu trách nhiệm hàng đầu đối với tất cả những gì đã từng được các tác gia người Việt ở mọi thời kỳ lịch sử viết ra, ‒ có thể gọi chung đó là di sản văn học của người Việt. Trong di sản này, có những tác phẩm đang được hậu thế ghi nhớ và sử dụng, lại cũng có không ít những tác phẩm của không ít tác giả đã không có được sự may mắn ấy, do rất nhiều loại nguyên nhân, mà hậu quả là những tác phẩm ấy đã không còn vẹn toàn, đã và đang bị mất mát, thất lạc, rất cần được tìm lại, văn bản và lai lịch tác phẩm cần được xác minh, tác quyền, tiểu sử và nhân thân tác giả cần được minh định để khỏi bị lầm lẫn.

Nếu khu vực trứ tác bằng chữ Hán chữ Nôm hiện đã có cơ quan chuyên trách của nhà nước là Viện Hán Nôm, thì khu vực trứ thuật và sáng tác bằng chữ Quốc ngữ ‒ tính đến nay cũng đã có chiều dày thời gian gần 150 năm, lại trải qua nhiều biến động xã hội gây bất lợi cho sự bảo tồn các dạng hiện vật chứa đựng tác phẩm ‒ là khu vực chưa có cơ quan chuyên trách. Do vậy, có hàng loạt tác gia, tác phẩm, hàng loạt hoạt động văn học, báo chí, xuất bản từng diễn ra sôi động trên những vùng miền nhất định trong những thời gian xác định, ‒ thì nay đã hoặc đang dần dần mất dấu.

 

Ngay những hoạt động viết văn, làm báo, in sách của văn nghệ sĩ thời kháng chiến 9 năm ở Việt Bắc hay ở bưng biền Nam Bộ, thời làm báo viết văn dọc Trường Sơn và các chiến trường Quảng Đà, Cực Nam Trung Bộ, Nam Bộ giai đoạn 1954-75, tính đến nay chỉ còn được biết trong khá ít sách vở tài liệu.

 

Tôi từng có lúc viết báo than phiền: những cái tên như “Nhà xuất bản Giải phóng”, “Nhà xuất bản Văn nghệ giải phóng” hoàn toàn không hề tìm thấy trong bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam” (4 tập, 1995-2005, cả bản sách in giấy lẫn bản hiện có trên mạng internet). Mà đây có lẽ chỉ là một ví dụ ngẫu nhiên, bởi không khó để mỗi chúng ta đụng chạm hàng ngàn những ví dụ tương tự.

 

Thay vì than thở, có lẽ nên bắt tay vào hành động.

Một vài dấu hiệu đáng khích lệ là mối quan tâm đến di sản dường như đang ít nhiều tăng lên trong giới nhà văn. Không ai khác, chính trong giới chúng ta đã có sự tìm tòi để làm rõ tác quyền thực sự, tác giả thực sự của những bài thơ khúc ca mà một thời gian dài từ khi xuất hiện vẫn được coi là “của tác giả dân gian”, là “dân ca mới, dân nhạc mới” (thơ “Em tắm”, lời ca “Núi Mường Hung dòng sông Mã”, thơ “Bóng cây Kơ-nia”, v.v…). Không ai khác, chính trong giới chúng ta đã và đang diễn ra việc tìm lại di sản sáng tác, trứ thuật của nhiều tác gia đã quá cố.

Tuy vậy, thiết nghĩ chúng ta chưa thể hài lòng với một vài kết quả dù sao cũng còn là nhỏ bé so với những gì đã mất mát.

Nhân hội thảo này, tôi xin đề nghị mấy việc sau:

1/ Hội nhà văn Việt Nam nên tiến tới có một Hội đồng về di sản văn học;

2/ Nên sớm đưa Bảo tàng văn học vào hoạt động, tức là khai trương đón công chúng vào xem các trưng bày chung và trưng bày chuyên đề;

3/ Cùng trên hướng này, Hội nhà văn nên tổ chức biên tập và xuất bản một tạp chí “Di sản văn học”, có thể ban đầu chỉ 2 kỳ/năm trên sách giấy, nhưng nên mở tạp chí này trên mạng internet, tập trung vào nội dung tìm lại di sản, thông tin về các nguồn tư liệu có thể khai thác, diễn đàn trao đổi giữa các nhà nghiên cứu, sưu tầm, nhà văn, thân nhân các tác gia, chủ nhân các kho sách báo tư nhân, v.v… nhằm trợ giúp cho việc làm thông thoáng các thông tin về những tác phẩm, tác giả đang bị rơi vào lãng quên…

Những hoạt động kể trên tất nhiên cũng đòi hỏi một kinh phí nhất định, song, bên cạnh đó cần triển khai hoạt động này theo hướng xã hội hóa, chẳng những để có nguồn kinh phí hoạt động mà còn là để đưa hoạt động tìm tòi và bảo tồn di sản văn học về với cộng đồng.

 

08/5/2013

LẠI NGUYÊN ÂN

TRĂM HOA, loại mới

MỤC LỤC

TRĂM HOA, loại mới

 

 

− 20.10.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày thứ bảy ; chủ nhiệm kiêm chủ bút : Nguyễn Bính ; tòa báo : 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội ; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 1 :

Trăm Hoa : Hoa lại nở (lời ra mắt)

Tê Hát : Tú Mỡ không chịu ở chung một bị với Hoài Thanh, Ng. Đ. Thi (biếm họa)

Nguyễn Bính: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ Giải thưởng văn học 1954-1955 (tr.2-3)

Tr.H. : Kỷ niệm ngày nhà văn Vũ Trọng Phụng từ trần, 13-10-1939

Vũ Trọng Phụng : Số đỏ, tiểu thuyết, trích (tr. 3, 7)

Tê Hát : Da ngựa bọc thây (biếm họa về lời Yến Lan)

‟Tầm vông vạt nhọn” : Sơn Nhân (Văn minh Hoa kỳ đã mang vào miền Nam nhiều thứ hoa … kỳ)

‟Việc làng việc nước” : Trăm Hoa (Tin mừng ; Lại miễn thuế ; Ông bình vôi ; Ông Phan Khôi có nói xấu chế độ ta không ?)

Người Hà Nội (Chúng tôi đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu)

Tê Hát : Trương Tửu khấn 5 vị để đả tệ sùng bái cá nhân (biếm họa)

Hữu Loan : Màu tím hoa sim, thơ

Sê-cốp (A. Tchekhov) : Cái hắt hơi (truyện ngắn, Triêu Dương dịch)

“Chuyện vặt hàng tuần” : Diêm Thống nhất giá ao không thống nhất – Đại tiền môn sao lại ra cửa sau – Báo Trăm Hoa ra câu đối

“Hoa cười”: Lê Thị Thảo (Đừng khóc thế) ; Lân (Em đừng sợ) ; Ngô Hòa (Kiểu cách không phải lối ; Khó gì ; Thất chính trị) ; Lê Tiến (Tiện quá) ; Vũ Hoàng (Hao tài tốn của ; Thầy số mới ; Ma ngoan cố) ;

 

 

− 28.10.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút : Nguyễn Bính ; tòa báo : 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội ; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 2 :

Nguyễn Bính (Câu chuyện anh Tố tức Thiết Vũ đến sinh sự tại trụ sở báo  “Trăm Hoa”  chiều thứ hai 22-10-1956);

Vương Cầm Thi (Tay lại cầm tay, thơ)

Nguyễn Bính: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ Giải thưởng văn học 1954-1955 (tiếp, hết)

Hương Mai (Bức tranh ở viện bảo tàng, về buổi diễn của đoàn Chim Sơn Ca, Romania tại Nhà hát nhân dân Hà Nội)

Trại Hàng Hoa (Nhặt sâu hoa) ;

“Chuyện thời xưa”: Xuân Thu (dịch)Đồ vật cũ, trích “Đông Chu liệt quốc”

‟Tầm vông vạt nhọn” : Sơn Nhân (Quân dịch hay ôn dịch ?)

“Chuyện vặt hàng tuần” : Trường An (Diêm Thống nhất giá đã thống nhất ; Hoài Minh (Chuyện đôi đũa)

‟Việc làng việc nước” : Hàm Tiếu (Ông Phan Khôi có nói xấu chế độ không ?) ; Vũ Y, Khả Phượng, Lân (Hai thái độ thô bạo đối với tình yêu của thanh niên) ; Mộ Thanh (Phải tôn trọng quyền tự do luyến ái và hôn nhân của thanh niên)

Pha Y (Thiên hạ đua nhau chụp mũ sằng, biếm họa)

Yến Lan (Tái bút, thơ)

Nguyễn Thành Long (Gặp lại, truyện ngắn)

 

 

− 04.11.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 3 :

Phạm Tường Hạnh (Một vài ý kiến về bài Giải thưởng văn học 54-55 của Nguyễn Tuân, báo « Văn nghệ » s. 140) ;

Pha Y (biếm họa : lấy tư cách cán bộ khi hỏi mua thuốc lá, lấy tư cách cá nhân khi hành hung dân) ;

Hồng Cầu (Lê-nin hết sức chú ý đến văn học) ;

Tr.H. (Một bông hoa bị vùi dập : bài thơ « Chiếc lược »)

Thụy An (Chiếc lược, thơ)

‟Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Vợ bắt thói chồng)

‟Việc làng việc nước”: Trần Nguyên (Những bản thông cáo quan trọng của BCH TƯ Đảng Lao động VN) ; Trăm Hoa (Việc làng báo).

‟Thi họa thơ”: Trần Văn Quát (Cảnh giác !!!)

‟Chúng tôi đề nghị”: Trần Văn Huy (Cần phải thực hiện tinh thần bác ái nhân đạo, tôn trọng con người trong chính sách y tế của Đảng và Chính phủ)

Đỗ Văn (Bài thơ  ‟Mùa thu đến‟, truyện)

‟Cuộc thi câu đối‟: giải nhất : Lê Kim

‟Chuyện thời xưa‟: Xuân Thu (Bổ óc chữa bệnh, trích Tam quốc chí)

‟Hoa cười‟: Nguyễn Thưởng (Chuyển hướng); Trần Huyền (Hai bố con); Phạm Long (Nhấm nháp cho vui); Thọ Cao (Đường); Thu Tâm (Câu chuyện tiền đồ); Sơn Giao (Gả cho ai); Lương Gia Minh (Không phải kim đâm); Hát Ca (Bệnh giấy tờ);

 

− 11.11.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 4 :

Thanh Châu (Chỉ có kẻ nào yêu tha thiết mới có quyền trách móc và sửa đổi, thư gửi “Trăm Hoa”);

Bích Lục (Nặng về “thành phần chủ nghĩa” nên đã có những sai lầm lệch lạc trong chấm giải cuộc thi sáng tác văn nghệ, do Ty Văn hóa Nam Định tổ chức năm 1956?)

Lưu Thủy (Nhân đọc bài thơ “Chiếc lược”: Chẳng cứ gì một bông hoa đó bị vùi dập!);

Lê Cẩm Hồ (Chiều, thơ)

Trần Lê Văn (Rang thóc, thơ ngày kháng chiến)

Bùi Xuân Phái (biếm họa: Hậu quả của những cuộc “chụp mũ”)

“Việc làng việc nước”: Nguyễn Thị Đông (Lệch lạc đấy); Lưu Văn Vinh (Quốc doanh rượu nhiều lãi quá!)

“Dự thi họa thơ”: Văn Trào (Cảnh giác)

“Chúng tôi đề nghị”: Trần Nguyên (Trừng trị kịp thời đúng mức những hành động vi phạm pháp luật /Hoan nghênh bản thông cáo của TƯ Đảng v/v thi hành kỷ luật trong sai lầm cải cách ruộng đất/);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Loạn gái lầu xanh);

Sê-cốp (A. Tchekhov): Con chó (truyện ngắn, Triêu Dương lược dịch)

Thanh Châu (Đêm Kiếp Bạc, phóng sự ngắn)

Trăm Hoa (Tại sao báo “Nhân Văn” bị cảnh cáo – Chúng tôi xin có lời khen Sở báo chí)

“Hoa cười”: Phạm Anh Việt (Bị chỉnh); Sơn Giao (Rét; Ngã mất); Tiếu Tâm (Chiếu điện toàn phần); V.Đ. (Rào đón); Cao Sơn (Không sợ nữa); Nhật Thanh (Kén vợ); Lương Gia Ninh (Bổ sung); Thọ Cao (Tâm sự);

Trạn Hàng Hoa (“Nhặt sâu hoa”)

 

− 25.11.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in Trần Hữu Tích, 59 Phan Thanh Giản, Hà Nội ; 8 trang 42x29cm ; giá 300 đồng), s. 5:

Thạch Lựu (Tiếng nói);

Tê Hát (biếm họa: Nỗi vui anh chồng từ nay đêm về ngủ nhà với vợ khỏi lo trình hộ khẩu);

Trăm Hoa (Một vấn đề chính trị trọng yếu: Toàn Đảng toàn dân đoàn kết là yếu tố quyết định sửa chữa sai lầm trong CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức);

“Chuyện thời xưa”: Xuân Thu (Dùng người hiền, trích Đông Chu liệt quốc);

Hà Nhật (Mưa Huế, thơ)

Hồ Thiện Ngôn (Chiếc chăn hoa, thơ)

“Việc làng việc nước”: Trần Nguyên (Biến Hỏa Lò thành trường học); Trăm Hoa (Báo “Nhân văn” kháng cáo); Tường Vy (Mạc Tư Khoa, Ma-scơ-va); Tần Hoài (Đi Liên Xô); Người Hà Nội (Một việc được đổi mới);

“Chúng tôi đề nghị”: Nguyễn Văn Điều (Sở thuế trung ương xét lại bản lề thuế xuất lợi tức đối với hộ nhỏ);

Thụy An (Chuyện Bố, Mẹ, Bé và con búp bê, truyện ngắn);

“Chuyện vặt hàng tuần”: Mai Sinh (Thuốc lá đắt, thuốc lào cũng đắt);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Đại Sở khanh);

“Hoa cười”: Hoàng Lê (Con nhà vô phúc); Tiếu Tâm (Sao không thấy; Chí công vô tư); Thảo (Thành phần tiểu tư sản); D.L. (Khó tính quá); Trân Huyền (Đi vào thực tế);

Cuộc thi xướng họa: Trần Văn Quát (Bài xướng); Dương Hiệp, Long Thu, Yên Sơn (Các bài họa có hy vọng vào chung khảo);

 

 

− 02.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật ; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 6:

Thạch Lựu (Nói để xây dựng);

T.H. (Đầu đuôi câu chuyện “Bài thơ chiếc lược” và bài thơ khiếu nại lên Hồ Chủ tịch);

Trăm Hoa (Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của nhà nước);

Thơ: Tạ Hữu Thiện (Xem lá thư tình của Bích);

Dịch thơ Đường: Nguyễn Bính (Nửa đêm cái hẹn sai rồi…)

Ca dao kháng chiến: Nguyễn Ngọc Tấn (Chén cơm);

“Nói gần nói xa”: Trần Nguyên (Kết 7 năm tù còn nhẹ quá, về vụ tên Đỗ Văn Long cướp của);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Hiến pháp hay hiến… Mỹ);

“Việc làng ta”: Tường Vi (Số phận giải thưởng ấy ra sao?); TH (Nhận định của Thủ tướng về việc sở báo chí TƯ thi hành kỷ luật báo “Nhân văn”);

Đỗ Văn (Một bài tính sai, truyện ngắn)

“Học người xưa”: Hải Đường (Vì lợi nước bỏ thù riêng);

Thơ họa: Vương Duy, Cao Chi, Lê Năng Cảnh, Cao Thị Minh Châu

“Hoa cười”: Lương Gia Ninh (Trong phòng chụp ảnh; Tính cẩn thận); Thọ Cao (Cụt hứng); Thuần Tăng (Bình luận sư); Đ. (Sửa sai); Đặng Sư Đạo (Tự do); Bình (Hũ nút… nút hũ);

 

− 09.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 7:

Thạch Lựu (Nói để xây dựng);

V. Tôn (biếm họa: như trúng phong do chen mua hàng mậu dịch);

Trăm Hoa (Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của nhà nước, tiếp);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Hung tinh chiếu mệnh);

Thơ: Nguyễn Bính (Tỉnh giấc chiêm bao);

“Việc làng ta”: Lưu Thủy (Một vài nhận xét về “Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956”); N.H.L. (Cần sửa lại một số chữ dùng sai);

“Nói gần nói xa”: Mai Sinh (Chuyện rượu, thuốc lào, thuốc lá);

Truyện dịch: Quách Mạt Nhược (Tư Mã Thiên bất mãn, Đỗ Quyên dịch);

Thơ dịch: Tường Vi (Dịch bài thơ Đường “Quân tri thiếp hữu phu…”);

“Hoa cười”: Trần Văn Lý (Tranh luận nhiều rồi), Nguyễn Khuê (Tiểu tư sản; Mất lập trường; Trăm nhà đua tiếng), Trọng Điều (Bệnh gì), Trọng Khôi (Hai bức thư), Đặng Văn Nhậm (Mấy gánh);

 

 

− 16.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 8:

Thạch Lựu (Báo “Nhân văn” nên thành khẩn tự phê);

V. Tôn (biếm họa: cùng đẩy con rùa “chính sách cán bộ”, chính sách y tế, v.v..)

Ban chấm thi (Kết quả cuộc thi họa thơ “Cảnh giác”);

Truyện dịch: Sê-cốp /A. Tchekhov/ (Sách dạy gửi thư theo lối mới, Triêu Dương dịch);

Thơ: Hữu Loan (Tâm sự thủ đô);

Trăm Hoa (Phải làm gì để cải thiện đời sống nhân dân?);

Thơ vui:  Mai Sinh (Thuốc /lá/ Trung Quốc);

“Nói gần nói xa”: Đồng Ký (Kiến nghị của Công đoàn vụ tổ chức Bộ Thương nghiệp về báo “Nhân Văn”);

Thơ ngày kháng chiến: Nguyễn Bính (Phá đồn giặc, /1949/);

Truyện ngắn: Trúc Đường (Sẵn sàng tha thứ cho em);

“Học người xưa”: Hải Đường (Trò chơi nguy hiểm);

“Tầm vông vạt nhọn”: Sơn Nhân (Người hay thú);

“Hoa cười”: Búa Tạ (Phải xét lại; Nổi tiếng rồi), Ngô Quốc Kiệm (Khuyết điểm trầm trọng; À ra thế; Mưu Gia Cát), H.M. (Như của mình);

− 23.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 9:

Thạch Lựu (Nói và làm);

Biếm họa: Trích báo Trung Quốc (Nói và làm; Phê và tự phê);

Đọc sách báo: Trần Nguyên (Phê bình “Đất Mới” tập 1, Nxb. Minh Đức, 1956);

Thơ: Võng Xuyên (Bút tung hoành); Nguyễn Bính (Chim thêu);

Trăm Hoa (Phải làm gì để cải thiện đời sống nhân dân?, tiếp);

Thơ vui: Tùng Quân (Tự thán: Thuốc lào đắt);

“Nói gần nói xa”: Những kiến nghị và thư phản đối báo Nhân Văn: (Tuyên bố của các nhà báo ở Hà Nội; Tuyên bố của anh chị em công tác văn nghệ LK5; Bản tuyên bố của các bạn văn nghệ Nam Bộ); Tin (Báo “Nhân Văn” đã bị đình bản và cấm lưu hành);

Truyện ngắn: Trúc Đường (Sẵn sàng tha thứ cho em, tiếp);

Thơ họa dự thi “Cảnh giác”: Tú Sụn (Bài họa giải nhì), Lê Năng Cảnh (Bài họa giải nhì), Ngô Thụy Khánh (Bài họa giải ba);

“Hoa cười”: Trần Quang (Tự lực cánh sinh), Lê Hòa (Khoét sâu; Vừa đủ);

 

− 30.12.1956: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 10:

Thạch Lựu (Nguyện vọng thiết tha, chân chính);

Biếm họa: Trần Hưởng, V. Tôn (Quái thai nịnh trên nạt dưới);

Trăm Hoa (Phải làm gì để cải thiện đời sống nhân dân?, tiếp, hết);

Thơ: Nguyên Thủy (Xuống trần); Phác Văn (Cây giang xanh vỏ; Gác đêm; Nếu cần em cứ gọi);

“Nói gần nói xa”: Trần Nguyên (Quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí đã được sắc lệnh đảm bảo /về sắc lệnh 282 ngày 14/12/11956 của Chủ tịch nước VNDCCH/);

Bạn đọc phê bình Đất Mới: Hoàng Đình Kính (Độc giả vui lòng hoan nghênh nếu các bạn thành thực nhận khuyết điểm);

Thơ vui: Thái Lang (Họa bài “Thuốc lào đắt”);

Truyện dịch: Lu-i A-sơ-kê-na-si /Ashkenazi, Tiệp Khắc/ (Chiếc hôn đầu, Mai Thúc Luân dịch);

“Hoa cười”: Tùng Quân (Được cái áo mất cái quần);

 

 

− 06.01.1957: (tuần báo) Trăm hoa (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 8 trang 42x29cm; giá 300 đồng), s. 11:

Báo cáo của Ban Thường trực QH khóa /=kỳ họp/ thứ 6 (do ô. Tôn Quang Phiệt đọc sáng 29/12/1956);

P.V. (Hồ Chủ tịch chào mừng Quốc hội);

Thơ: Hoàng Yến (Mưa rừng); Tạ Hữu Thiện (Tôi tìm em);

Truyện ngắn: Đỗ Văn (Nhớ nhà);

Thơ dịch: Thanh Hương (Dịch “Độc tọa Kính Đình sơn” của Lý Bạch);

“Hoa cười”: Mai Sinh (Năm đợi mười chờ); Hà Thị (Giờ lại thối rồi);

 

−23.01.1957: (tuần báo) Trăm hoa Xuân Đinh Dậu (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; bìa in tại nhà in Ngô Viết Viễn, 58 Hàng Trống, Hà Nội; 24 trang 42x29cm; giá 1.000 đồng), s. 12+13+14:

Thạch Lựu (Mùa xuân năm nay);

Tường Vi (Đầu năm xông các báo, hay là một giấc mơ xuân);

Trăm Hoa (Cùng bạn đọc thân mến /Trăm Hoa sẽ đổi mới/);

Thơ: Nguyễn Bính (Tình quê; Mùa xuân xanh /1941/); Yến Lan (Bên đường chiến khu /1948/); Văn Tôn (Tình lũy tre xanh);

Bút ký: Tô Hoài (Cùng lứa tuổi /1947/);

T.H. (“Trăm Hoa” sẽ đăng “Hồng lâu mộng”);

Đặng Thai Mai (Nếu không xem hết “Hồng lâu mộng”, xem hết thi thư cũng uổng công);

Thơ vui: Tùng Quân (Khấn Táo quân); Minh Sính (Tờ tấu của Táo quân); Đông Hoa (Họa thơ “Thuốc lào đắt”); Huyền Thanh (Họa thơ “Thuốc lào đắt”);

“Hoa cười”: Z.Z. (Xếp xó), Nguyễn Khuê (Căm thù), Ngọc Uẩn (Tú gì?);

Truyện ngắn: Đoàn Giỏi (Theo thời),

Thơ dịch: Vân Thanh (Dịch thơ Đường “Nhất áp xuân giao vạn lý tình…”)

Truyện vui: Trúc Đường (Chấp một xe);

 

 

− Trong tháng 02. 1957: (tuần báo) Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân (loại mới, ra ngày chủ nhật; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính; tòa báo: 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; in tại nhà in riêng Trăm Hoa; 16 trang 42x29cm; giá 600 đồng):

Trăm Hoa (Kính cáo bạn đọc /”Trăm Hoa” sẽ chuyển thành tạp chí từ đầu tháng 4/1957/);

Thơ: Nguyễn Bính (Xuân nhớ); Tạ Hữu Thiện (Mỗi khi vò trang lịch); Yến Lan (Chiếc quả sơn);

Thơ dịch: Tường Vi (Dịch thơ Đường “Xuân miên bất giác hiểu…”);

Truyện ngắn: Phùng Cung (Quản Thổi); Trúc Đường (Lên xe xuống ngựa);

Câu đối: Nghè Bùn (Mừng báo “Nhân dân”; Mừng báo “Nói thật”; Mừng Nxb. Minh Đức; Mừng báo “Độc lập”; Mừng Sở báo chí TƯ);

“Họa thơ”: Đoàn Văn Nhĩ (Thuốc lào đắt);

“Chuyện thời xưa”: Hải Đường (Bệnh đa nghi);

Nguyễn Bính (Lời thanh minh: Tôi không dự, không ứng cử BCH Hội Liên hiệp văn nghệ);

Truyện dịch: I. Ê-ren-bua /Ilya Ehrenburg/ (Cô đào hát);

“Hoa cười”: Tùng Quân (Di chúc của Ngô Đình Diệm);

Trăm Hoa: Cuộc thi câu đố và câu đối ngày xuân còn hạn nộp bài.

(sau số này, “Trăm Hoa” chấm dứt hoạt động trên thực tế)

HÀ NỘI BÁO 1936 – 37

 HÀ NỘI BÁO 1936-37

HANOI BÁO

Số 1 (01 Janvier 1936)

Ra ngày thứ Tư –  01 Janvier 1936) –  88 Route de Hue – Tel. 755 – 3 xu

Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
1  (bìa 1)3 – 4

5 – 6

 

 

7 – 8

8

9 – 13

14 – 17

18 – 19

20 – 21

23 – 24

24

25 – 27, 29 – 32

q/cáo sách “Tiếng thu”, Phương Đông xb.[chưa biết]

Dưới bóng trăng tà

 

Nhà văn bình dân

Thông báo “đã in xong Dứt tình, tâm lý t.thuyết của V.Tr. Phụng”; thông báo“Những cuộc thi hàng tháng của Hanoi Báo: thi thơ và tr. ngắn”

Mộng ngày hè

Cô hàng thịt ở ngoại ô

Bó lan trắng

Lượm lặt trong 7 ngày

Huyền ảo

“Ai muốn có tập “Tiếng thu” gửi về Lê Tràng Kiều, 88 phố Huế, Hanoi

Giông tố

  

 

[ sưu tập bị mất các trang này]

Thơ

 

 

Chính luận

q. cáo

Truyện dài

Truyện ngắn

Truyện ngắn

Điểm tin văn nghệ

Ký về sinh hoạt văn nghệ sĩ

q. cáo

Truyện dài

  

 

 

 

Thái Can

Lê Tràng Kiều

Trần Bình Lộc

Nguyễn Văn Kiện

Lưu Trọng Lư

Lưu Lê

Lê Tràng Kiều

Vũ Trọng Phụng

 

 

 

HANOI BÁO

Số 2 (08 Janvier 1936)

Ra ngày thứ Tư, 8 Janvier 1936 – 88 Route de Hue – Tel. 755 – 3 xu

Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
 2(bìa 2)

3 – 4

4 – 7

7

8 – 11

13 – 20

21 – 23

24-25,31

26 – 31

 

giới thiệu sách báo: “Kiến văn” sẽ ra số đầu, TS: 5 đường Phạm Phú Thứ; Sách: “sơ học yếu lược Sử ký” của Lê Công Đắc; “Cứu nạn kinh tế” của Nguyễn văn Bân, “Tiếng thơ” của Dương Lĩnh Nguyễn Đức Hợp; “Nghè bùn chơi xuân” sách tết.Giới thiệu “Huyền Không động” của L.T. Lư

Huyền Không Động: 1/Trà Hoa Nữ

Cái áo thâm đen

Mộng ngày hè, tiếp

Tiếng địch sông Ô

Nghệ thuật

Cầu sương điếm cỏ

Giông tố, tiếp

 Phê bình

Truyện

Tản văn /tranh luận văn nghệ

Truyện dài

Thơ

Luận

Truyện

Truyện dài

  

Lê Tràng Kiều

Lưu Trọng Lư

Văn Tệ

Trần Bình Lộc

Phạm HuyThông

Lê Tràng Kiều

Lưu Trọng Lư

Vũ Trọng Phụng

 

 

 

 

HANOI BÁO

Số 3 (15 Janvier 1936)

– Bìa 1: Ra ngày thứ tư – 15 Janvier 1936 – 88 Route de Hue – Tel. 755 – 3 xu

– Bìa 2 (tr. 2): q.cáo Hanoi Báo số Xuân

– Tuyệt vọng / 3 –6/ Tr. ngắn / Lưu Trọng Lư

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 7 –8/ truyện 2 đứa trẻ phiêu lưu/ Lưu Trọng Lư

– Đêm khuya ở những góc phố tối tăm/ 9 – 10, 13 / truyện / Lan Đình

– Huyền Không Động: 1. Trà Hoa Nữ, tiếp / 11 – 13/ truyện / Lưu Trọng Lư

– Cảnh đoạn trường / 14 –15/ thơ / Thái Can

– Mộng ngày hè, tiếp / 16 – 19/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– “Dứt tình” /19/ phê bình / Lê Tràng Kiều

– Chó hay beo / 20 / tạp văn / Văn Tệ

– Truyện Ba Tư: Mưu đàn bà /21 – 25/ V.N.P. thuật (trích P.V.T.C.)

– Giông tố, tiếp / 26-30/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Tr. 31 (bìa 3): g.thiệu sách: “Bâng khuâng” thơ Phan Văn Dật; “Giang hồ”, t.thuyết, Trần Bình Lộc; “Dứt tình” tâm lý t.thuyết, Vũ Trọng Phụng; “Kiến văn” số 1; “Tiếng trẻ, tập mới” số 1 /Nguyễn Vỹ, Trương Tửu, Vũ Trang, Ng. Đ. Quỳnh chủ trương/; “Mơ mộng” thơ mới, Nguyễn Văn Phúc;

– Bìa 4: q.cáo nhà thuốc “Hồng Khê” Lê huy Phách

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 1

 

Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
     

 

 
Số trang Tên bài Thể loại Tác giả(bút danh) Ghi chú
     

 

 

HANOI BÁO

Số 4 (số Xuân 1936)

– Xuân / 1/ tùy bút/ Lê Tràng Kiều

– Tranh tết / 2-3, 20/ bình điểm mỹ thuật/ Nguyễn Đỗ Cung

– Bao la sầu /4/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Đêm giao thừa /4/ văn/ Hoài Thanh

– Người mua hoa /5 – 7/ Trọng Lư và Tràng Kiều

– Những mầu tươi /7/ thơ/ Nguyễn Văn Kiện

– Tết ăn mày! / 8 – 11/ truyện ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Một giấc mộng xuân /12 – 15/ truyện / Nguyễn Văn Nam

– “Giang hồ” của Trần Bình Lộc /16 – 17/ phê bình / Lê Tràng Kiều

– Mơ ngày Tết /18 – 20/ truyện ngắn/ Thiên Hư

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 21 – 23/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– 15 truyện ngắn/ 24 – 25/ truyện/ Lưu, Lê

– Hoa đào rụng / 26 – 29, 30/ truyện/ Phạm Thái

– Áo xuân / 30-31/ thời trang/ Cô Tô

– Hyền Không động: 1. Trà Hoa nữ, tiếp /32 – 36/ Lưu Trọng Lư

– Tết với nhất / 37 – 39/ ký/ Anh Vũ

– Vườn xuân / 39/ thơ/ Thái Can

– Mấy trang nhật ký / 40 – 41/ ký/ Vi Lan

– Anh Nga / 42 – 45/ thơ/ Huy Thông

– Buổi chiều xuân / 46 – 48/ truyện ký/ Vân Huỳnh

– Tr. 48: q.cáo Nhà xuất bản Phương Đông, 99 phố Huế, Hanoi sẽ xb: “Trong rừng sim”, tr.dài Lưu Trọng Lư; “Gái chưa chồng”, kịch Đoàn Phú Tứ; “Kỹ nghệ lấy Tây”, phóng sự, Vũ Trọng Phụng

– Một nụ cười xuân trong bóng tối / 49 – 52/ tr. ngắn/ Nguyễn Văn Kiện

– Một cái nhà mát trên đồi / 53 – 54/ kiến trúc/ Ng.X.Tùng, Võ Đức Diên

– Mộng ngày hè, tiếp / 55 -59/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Giông tố, tiếp / 60 – 64/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Hoa đào với má đào xuân / 65/ văn/ cô Trương Lệ Dung

– Bên khóm mai / 65/ thơ/ Vi Lan

– Cái vinh cái nhục của Táo Quân/ 66 – 72/ kịch/ Đoàn Phú Tứ

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 2

HANOI BÁO

Số 5 (5 Février 1936)

– Bìa 2: q.cáo “Dứt tình”, Hanoi báo xb., tựa Lê Tràng Kiều, giá 0$40; “40 bài tập đọc lớp trung đẳng năm thứ nhất” của Tô Hữu Trác và Nguyễn Đức Phong, nhà in Lê Cường, 88 Route de Hue, Hanoi

– Sau ngày Tết / 1 – 2/ văn / Vi Lan

– Thư xuân / 2/ thơ/ cô Mộng Tuyết

– Đời tình ái của nhà chí sĩ Phan Sào Nam /3 – 4, 18/ phỏng vấn/ Phan Thị Nga

– Từ đấy / 5 – 6/ thơ/ Phạm Đình Bách

– Lời cuối cùng / 6/ thơ/ Thanh Tịnh

– Lê thiên đường / 7 – 8/ tr. ngắn / Phổ Chiếu

– Dưới trăng xuân / 8/ thơ/ Bá Lộc

– Lượm lặt trong 7 ngày/ 9 -11, 28/ điểm tin văn giới/ Văn Tệ

– Báo Phong Hóa dốt / 12/ bút chiến/ Văn Tệ

– Mộng ngày hè, tiếp / 13 – 16/ truyện giài / Trần Bình Lộc

– Đọc “Giang hồ”, truyện của Trần Bình Lộc / 17 – 18/ phê bình/ Trương Lệ Dung

– Huyền Không động: 1. Trà Hoa nữ, tiếp /19 – 22/ truyện / Lưu Trọng Lư

– Tội ông trời / 23 – 24/ truyện/ Thanh Tư

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 25 – 28/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Viết sử thêm buồn cho bác Chúc…/ 28/ lượm lặt/ Văn Tệ

– Giông tố, tiếp / 29 -32/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Tr. 22: Sách mới: “Bồng Lai hiệp khách”, t. 4; “Một đêm trước”, tập truyện, Tam Lang, Mai Lĩnh xb.; “Vết tay trên trần”, 2 truyện trinh thám, Phạm Cao Củng; “Histoire de Cleopatre”, chữ Pháp, Lê Công Đắc; “Đường ngay” tạp chí Công giáo, Vinh; “Người cá voi”, truyện, Văn Tuyền, Mai Lĩnh xb.; “Dạ quang kiếm hội”, truyện, Văn Tuyền, Mai Lĩnh xb.; “Với sơn hà”, thơ, Trần Tuấn Khải; “Le Cygne” tạp chí của Nguyễn Vỹ, Trương Tửu; “Tiến bộ” tức “Bắc Ninh tuần báo”; “Thi sĩ với giai nhân”, bài diễn thuyết của Ngô Ngọc Kha tại Nam định ngày 19/2; “Ba Giai Tú Xuất chơi xuân”, Nguyễn Nam Thông, Bảo Ngọc văn đoàn xb.;

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 3

HANOI BÁO

Số 6 (12 Février 1936)

– Bìa 2: q.cáo “Dứt tình”, “40 bài tập đọc lớp trung đẳng năm thứ nhất” [như s.5]

– Một việc tối quan trọng trong làng văn /1/ kiến nghị giới nhà văn nhà báo về việc Phong Hóa vu Ng. Công Hoan ăn cắp “Nửa chừng xuân” và “Đoạn tuyệt” để viết “Lá ngọc cành vàng” và “Cô giáo Minh”/ Hanoi Báo

– Đóa vân côi / 2 – 4/ bút ký/ Nguyễn Xuân Huy

– Những đêm giài hiu quạnh / 5/ thơ/ Tri Chơn

– Với bóng trăng suông / 6, 24/ truyện ngắn / Tri Chơn

– Huyền Không động: 1. Trà Hoa nữ, tiếp / 7 – 9/ truyện / Lưu Trọng Lư

– Em buồn / 9/ thơ/ Thúc Tề

– Xuân lên đường / 10/ thơ/ Thúc Tề

– Báo “Tràng an” phê bình quyển “Dứt tình”/ 10/ phê bình/ [Hoài Thanh]

– Lượm lặt trong 7 ngày / 11/ điểm tin văn/ Văn Tệ

– Trả lời cho báo “Phong hóa”: lời vu cáo ấy vẫn là hèn / 12-13/ bút chiến/ Văn Tệ

– Quan đêm / 14 – 15, 30/ chuyện vui/ Hoàng Tế Mỹ

– Chàng Lưu / 16 – 17/ thơ/ Huy Thông

– Mộng ngày hè / 18 -21/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Cầu sương điếm cỏ / 22 – 24/ Lưu Trọng Lư

– Giông tố, tiếp / 25 – 30/ truyện giài /Vũ Trọng Phụng

– Tiếng thu / 31/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Lơ đãng / 31/ thơ/

– tr. 31: q.cáo Nxb. Phương Đông

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 4

HANOI BÁO

Số 7 (19 Février 1936)

– Một sự chưa từng có /1 – 2/ ký/ Phan Thị Nga [về 1 phụ nữ Gò Công dự hội nghị Phật học ở Madras, Ấn-độ]

– Lượm lặt trong 7 ngày /3 – 5/ điểm tin văn giới/ Văn Tệ

– Chuyện hèn của báo “Phong hóa”: Tổ ong vỡ /6 -7/ bút chiến/ Lê Tràng Kiều;

– Chuyện hèn của báo “Phong hóa”: Vì lẽ gì Phong Hóa không trả lời?/ 7 – 8/ bút chiến, Thơ sách họa / Lưu Trọng Lư

– Tin làng văn /8/: báo “Mai” của Đào Trinh Nhất; “Ích Hữu” ra số 1; “La Nouvelle Revue Indochinoise” ở Sàigon; “Đông Dương chiếu bóng” ra 3 kỳ/tháng; “Cậu ấm”, báo nhi đồng; “Thơ Bạch nga”; “Văn sĩ”, kịch Hồng Quang; hoàng anh gãy cánh”, tâm lý tiểu thuyết của Mai Sơn

– Thuyền mộng / 9/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Lâu đài trên không / 10 – 11/ thơ/ Phạm Đình Bách

– Tình nhân của em tôi / 12 – 19/ truyện ngắn/ Trần Bình Lộc

– “Vết tay trên trần”/ 20/ điểm sách/ Hanoi Báo [về sách trinh thám Ph. Cao Củng]

– Mộng ngày hè, tiếp / 21 – 24/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp / 25 – 26/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Giông tố, tiếp / 27 – 32/ truyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 5

HANOI BÁO

Số 8 (26 Février 1936)

– Lượm lặt trong 7 ngày / 2 – 4/ điểm thời sự/ Văn Tệ [thi tri huyện; Tr. Tửu diễn thuyết về thơ “Bạch nga”; Đ.D.Anh làm từ điển]

– Những phút vinh nhục của nghề báo: lời giáo đầu / 5/ văn hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Trên sông Hương / 6/ thơ/ Thái Can

– Có duyên / 7 – 11/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Mộng ngày hè, tiếp / 12 – 14/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Ngoại tình / 15-16/ truyện ngắn/ V.T.-T.K.

– Cầu sương điếm cỏ, tiếp, hết / 17 – 18/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Cô Nhung / 19 -22, 26/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Lòng thương / 23 -25/ kịch ngắn/ Tri Chơn

– tr. 26: Tin làng văn: “Ích hữu”; “Ông vua thầu khoán ở xứ Bắc”, truyện, Yên Sơn; “Học sinh tuần báo”; “Pháp-Việt-Hán từ điển” của Đào Duy Anh

– Giông tố, tiếp / 27-31/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 6

HANOI BÁO

Số 9 (4 Mars 1936)

– Lượm lặt trong 7 ngày / 2-3/ điểm tin văn / Văn Tệ

– Những phút vinh nhục của nghề báo / 4-5, 15/ hoạt kê, tự truyện/ Lê Tràng Kiều

– Cái thái độ hèn nhát của báo “Phong hóa”/ 6-7/ Hanoi Báo

– Từ “Đoạn tuyệt” đến “Cô giáo Minh”/ 8-9/ bút chiến/ Nguyễn Công Hoan

– Tần Hồng Châu / 10-13/ thơ/ Huy Thông

– Giọt lệ sau cùng / 14-15/ tr. ngắn/ Trương Lệ Dung

– Khách sông Chu / 16-17/ truyện ngắn/ V.T. – T.K.

– Cô Nhung, tiếp / 19 -21, 31/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Trong bầu giời đen kịt / 22-23/ truyện/ Tri Chơn

– Mộng ngày hè, tiếp, hết / 24-26/ truyện giài/ Trần Bình Lộc

– Giông tố, tiếp / 27-31/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 7

HANOI BÁO

Số 10 (11 Mars 1936)

– Lối tự học của những bực đàn anh nước ta: Ông Phan Khôi tự học chữ Tây / 2-4/ ký/ Phan Thị Nga

– Trên hồ / 4/ thơ/ N. H. Du

– Lượm lặt trong 7 ngày / 5-6/ điểm tin văn / V.T.

– Những phút vinh nhục của nghề báo: II/ Thám hiểm /7-8/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Chuyện tình chung / 7-8/ thơ/ Tri Chơn

– Nhân xem “Anh nga”/ 9-11/ phê bình; trích lại “Tràng an”/ Hoài Thanh

– Dưới bóng giăng vàng/ 11/ thơ/ Tri Chơn

– Kinh Kha/ 12-15/ thơ/ Huy Thông

– Mộng hoa / 16-18/ truyện ngắn/ Trần Quang Viễn

– Lê Yên /19-21, 26/ kịch/ Phạm Huy Thái

– Cô Nhung, tiếp / 23-26/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Giông tố, tiếp / 27-31/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 8

HANOI BÁO

Số 11 (18 Mars 1936)

– Lượm lặt trong 7 ngày / 2-4/ điểm tin/ Văn Tệ

– Những phút vinh nhục của nghề báo, III / 5-6/ Lê Tràng Kiều

– Tấm gương / 7-8/ truyện ngắn/ Nguyễn Khương

– Việc Phong hóa – Nguyễn Công Hoan: ô. Khái Hưng lên tiếng / 9-11/ tranh luận/ Khái Hưng, Văn Tệ

– Bức thư gửi ô. Ng. T. Tam chủ nhiệm ‘Phong hóa’ / 12/ bút chiến/ Hanoi Báo

– Lòng hối hận/ 13-16/ kịch thơ/ Huy Thông

– Mấy vần huyền diệu/ 16/ thơ/ Thái Can

– Họa thơ L.Tr. Lư số 7/ 16/ thơ/ Chu Hà, Lã Xuân Choắt

– Cô bạn một đêm/ 17-20/ tr. ngắn/ Phạm Huy Thái

– Giông tố, tiếp/ 21-25/ chuyện giài/ Vũ Trọng Phụng

– Cùng các bạn trong làng văn/ 26/ về tr. luận ngh.thuật/ H.Thanh, L.Tr.Kiều, L.Tr. Lư

– Thời xưa/ 27/ thơ/ Tri Chơn

– Cô Nhung, tiếp/ 28-30/ chuyện giài/ Lưu Trọng Lư

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 9

HANOI BÁO

Số 12 (25 Mars 1936)

– Lối tự học của những bực đàn anh nước ta: Cụ Huỳnh Thúc Kháng học chữ Tây/ 2-3/ ký/ Phan Thị Nga

– Mấy vần huyền diệu (in lại, đính chính)/ 3/ thơ/ Thái Can

– Những phút vinh nhục của nghề báo, IV/ 4, 29/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Lòng hối hận, tiếp/ 5-6, 30/ kịch thơ/ Huy Thông

– Nàng tiên bên sông/ 7/ thơ/ K. Khanh

– Cùng ô. Ngộ Không, báo “Phong hóa”/ 8/ bút chiến/

– Tâm hồn nghệ sĩ/ 9-13/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Huyền Không động: II. Người nữ tỳ của bà chúa Liễu/ 14-17/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Bắt dơi/ 18-20/ bút ký/ Mộng Tuyết

– Vì lòng trắc ẩn/ 20-21/ tr. ngắn/ Trương Lệ Dung

– Cơm thầy cơm cô/ 22-25/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

– Cô Nhung, tiếp/ 26-29/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– “Giông tố” không còn ra được nữa/ 30/ thông báo/ Hanoi báo

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 10

HANOI BÁO

Số 13 (1er Avril 1936)

– Tiểu thuyết/ 2-3/ luận/ Lê Tràng Kiều

– Lòng xuân/ 4-5/ truyện/ Mộng Tuyết

– Đêm trăng mờ/ 6/ thơ/ Thu An

– Hoa giấy và hoa đồng quê/ 6/ thơ/ Thanh Tịnh

– Người nữ tỳ của bà chúa Liễu, tiếp/ 7-10/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Tội trạng báo “Phong hóa”/ 11-12/ bút chiến/ Hanoi báo

– Phong hóa diễu cái ngu dốt của dân quê/ 11-12/ bút chiến/ Thiện Quả

– Chúng tôi trị báo “Phong hóa”/ 13/ bút chiến/ Lê Tràng Kiều

– Báo “Phong hóa” vu cáo hèn/ 14-15/ bút chiến/ Lê Tràng Kiều

– Những cái dốt của “Phong hóa”/ 15-16/ độc giả

– Những phút vinh nhục của nghề báo/ 16-17/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Cô Nhung, tiếp/ 18-21/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Hai tâm hồn/ 22-26/ kịch/ Trọng Phi

– Cơm thầy cơm cô, tiếp/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 11

HANOI BÁO

Số 14 (8 Avril 1936)

– Thơ mới/ 2-3/ luận/ Lê Tràng Kiều

– Giới thiệu sách “Văn chương và hành động”, tuyên ngôn của văn phái Phương Đông/ 3/ Nguyễn Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư

– Ông Phạm Quỳnh nói chuyện lối “tự học”/ 3-4/ ký/ Phan Thị Nga

– Trên dòng sông Nhuệ “Tình già”/ 7/ truyện ngắn/ V.T.- T.K.

– Tội trạng báo “Phong hóa”/ 8/ bút chiến/ Hanoi báo

– Vì vu cáo hèn, “Phong hóa” ngày càng xuống/ 9-10/ bút chiến/ Văn Tệ

– Tôi không muốn/ 10/ thơ/ N. Nhuệ Thủy

– Thơ sách họa: họa thơ L.T.Lư số 7/ 10/ thơ/ T.L., học sinh trường Caolao

– Lòng hối hận, tiếp/ 11-14/ kịch thơ/ Huy Thông

– Cô Nhung, tiếp/ 15-18/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Người nữ tỳ của bà chúa Liễu, tiếp/ 19-21/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– tin: Vũ Lang, q.lý “Ích Hữu” mất 5.4.1936/ 22/tin buồn/ Lưu Trọng Lư

– Lời thú tội/ 23-26/ truyện/ Huy Thái và Tiểu Thu

– Cơm thầy cơm cô, tiếp/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

– Bình phẩm “Dứt tình”/30/ phê bình/ Cô Lệ Chi, báo “Đông tây”

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 12

HANOI BÁO

Số 15 (15 Avril 1936)

– Ngày 2 Mai / 2/ luận thời sự/ Lưu Trọng Lư

– Ý kiến ông Phạm Quỳnh đối với ái tình/ 3/ phỏng vấn/ Phan Thị Nga

– Phê bình “Thuyền mơ” của Thao Thao/ 4-6/luận/ Lê Tràng Kiều

– Một cuốn tiểu thuyết của dân quê/ 6-7/ luận/ Thu An

– Khúc ái ân (8 bài thơ tình yêu dân gian) / 7/

– Nắng mới/ 8/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Nắng mới/ 8/ thơ/ Nguyễn Vỹ

– Tiếng gọi của đồng quê/ 8-9/ thơ/ Thanh Tịnh

– Trăng mờ/ 9/ thơ/ Thúc Tề

– Xuân hoài/ 9/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Họa thơ L.Tr. Lư, số 7/ 9/ thơ/ Kỳ Lộc, Kỳ Linh, Bửu Hiệp

– Người nữ tỳ của bà chúa Liễu, tiếp/ 10-12/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Tình yêu/ 13-15/ tr. ngắn/ Thanh Tử

– Những phút vinh nhục của nghề báo/ 16-17/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Cô Nhung, tiếp/ 18-20/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Tội trạng báo “Phong hóa”/21-22/ bút chiến/ Đặng Thế Xương, Hanoi báo

– “Phong hóa” với dân quê/ 23-24/ bút chiến/ Thiện Quả

– Báo “Phong hóa” cầu chính phủ trị/ 24/ bút chiến/ Văn Tệ

– Một bức thư/ 25-26/ thư/ bạn đọc Hà Tĩnh

– Cơm thầy cơm cô, tiếp/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 13

HANOI BÁO

Số 16 (22 Avril 1936)

– Không còn ngày 2 Mai nữa/ 2-3/ luận/ Lưu Trọng Lư

– Báo “Phong hóa” đi kiện/ 3/ bút chiến/ Hanoi báo

– Đời tình ái của cụ Huỳnh/ 4-5/ Phan Thị Nga

– Tặng hương hồn anh Vũ Lang/ 5-7/ văn/ Nguyễn Tuân

– Giận em/ 8/thơ/ Tri Chơn

– Mơ hoa/ 8/ thơ/ Kỳ Linh

– Tiếng động ban đêm/ 8/ họa LT Lư/ Thanh Tịnh & Ng. Anh

– Đìu hiu/ 8/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Lòng hối hận, tiếp/ 9-10/ kịch thơ/ Huy Thông

– Cô Nhung, tiếp/ 11-14/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Sư Tĩnh Không/ tr. ngắn/ V.T. – T.K.

– Cùng hai ông Nhất, Nhị Linh/ 17/ ý k.bạn đọc/ Đức Thành

– Những vinh nhục của nghề báo, tiếp/ 18-19/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Vài trang nhật ký/ 19-21/ truyện/ Cô…

– G.thiệu sách, báo

– Chuyện Ả-rập/ 22-23/ truyện/

– Một ngày mưa/ 24-27, 30/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Cơm thày cơm cô, tiếp/ 28-30/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 14

HANOI BÁO

Số 17 (29 Avril 1936)

– Cần phải hành động/ 2-3/ trích sách “Văn chương&hành động”/ H.Thanh, L.T.Lư, L.Tr.Kiều

– Anh Quang/ 3-4/ tr.ngắn/ P.T.Cung

– Con voi già của vua Hàm Nghi/ 5-7/ tr.giài/ Lưu Trọng Lư

– Lời than thở của đồng quê/ 8/ thơ/ Thanh Tịnh

– Cô láng giềng/ 8/ thơ/ Thanh Tịnh

– Em trả thù/ 8/ thơ/ Mộng Tuyết

– Cô Nhung, tiếp/ 9-12/ tr. giài/ Lư Trọng Lư

– Vạn vật/ 12/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Một me tây thuở Gia Long- Minh Mạng/ 13-15/ Phan Khôi

– Thơ mới/ 15-16/ ph.bình/ Lê Tràng Kiều

– Chuyện Ả-Rập, tiếp/ 17-18/ truyện/ Mai Thuật

– Thế rồi im lặng/ 20-22/ tr. ngắn/ Đỗ Ngọc Quỳnh

– Tôi đi yến lão/ 24-26/ chuyện vui/ Hoàng Tế Mỹ

– Cơm thày cơm cô, tiếp/ 26-30/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 15

HANOI BÁO

Số 18 (6 Mai 1936)

– Cùng một bạn độc giả ở Huế/ 3/ về diễn thuyết của Hoàng Tân Dân tại Huế/ Phương Đông

– Đôi ta/ 4/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tuổi ngây thơ/ 4/ văn/ Phan Thị Nga

– Con voi già của vua Hàm Nghi/ 5-7/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Kỷ niệm ngày xuân/ 8-10/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Thơ mới/ 11-12/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Tin: Ô. Nguyễn Văn Vĩnh tạ thế/ 12/ Hanoi Báo

–  Cô Nhung, tiếp/ 13-15, 22-23/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Không hiểu văn, người ta chữa văn/ 16-17/ phê bình/ Trương Tửu

– Thị Mịch/ 18-22/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Báo “Tin văn” phê bình “Khói lam chiều”/ 23-25/ phê bình/ Lê Thanh

– Cơm thầy cơm cô, tiếp, hết/ 27-30/ phóng sự/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 16

HANOI BÁO

Số 19 (13 Mai 1936)

– Ô. Nguyễn Văn Vĩnh không còn nữa!/ 2/ văn/ Trương Tửu

– Tặng hương hồn ông Ng. V. Vĩnh/ 3/ thơ/ Vũ Đình Liên

– Về sự thay đổi mấy vần quốc ngữ/ 3-5/ luận/ Phan Khôi

– Em xấu hổ/ 6/ thơ/ Mộng Tuyết

– Nắng mai/ 6/ thơ/ Thanh Tịnh

– Nhớ/ 6/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

–  Cô Nhung, tiếp, hết/ 7-10/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Không hiểu văn, người ta chữa văn, tiếp, hết/ 11-12/ phê bình/ Trương Tửu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 13-15/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Những phút vinh nhục trong nghề báo, tiếp/ 16-17/ hoạt kê/ Lê Tràng Kiều

– Báo “Đông tây” phê bình “Khói lam chiều”/ 17-18/ Lệ Chi

– Kỷ niệm ngày xuân, tiếp, hết/ 19-20/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Thơ mới/ 20-21/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Em buồn/ 23-24/ tr. ngắn/ Thuận Lương

– Câu truyện đêm khuya hay là: Giấc mộng của tuổi trẻ/ 24-25, 30/ truyện/ Tri Chơn

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 17

HANOI BÁO

Số 20 (20 Mai 1936)

– Thơ tình trong kinh điển/ 2-4/ luận/ Phan Khôi

– Sắp ra “Kỹ nghệ lấy Tây”/ 4/giới thiệu/ Phương Đông

– Thất vọng trên thất vọng/ 5/ thơ/ Thanh Tịnh

– Làm cô gái Huế/ 5/ thơ/ Mộng Tuyết

– Trong vườn mai/ 5/ thơ/ N. Nhuệ Thủy

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 9-8/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Me Tây đời Gia Long-Minh Mạng: Bà Magdeleine Sen Dõng vợ Philippe Vannier/ 9-11/ ký/ Cô Lệ Chi

– Thơ mới Thái Can/ 12-15/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Cùng ông Đào Duy Anh/ 16-17/ L.T.L. (v/việc Lệ Chi đề nghị dịch chữ “nouvelle”?)

– Vô đề/ 18-21/ truyện vui/ Lê Thanh

– Kiếp gió mây/ 21-22/ truyện thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Cảnh cũ/ 23-25/ tr. ngắn/ Tchya

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ bản: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 18

HANOI BÁO

Số 21 (27 Mai 1936)

– Văn học tiểu thuyết là cái quái gì?/ 2-3/ luận/ Phan Khôi

– Kiếp gió mây, tiếp/ 3/ truyện thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Ô. Đào Duy Anh với chữ nouvelle/ 4-5/ thảo luận/ Lưu Trọng Lư

– Cảnh cũ, tiếp, hết/ 6-8/ tr. ngắn/ Tchya

– Một truyện săn bắn/ 9-12/ tr. ngắn/ Trần Quang Viễn

– Ái tình giữa bạn gái/ 12-13/ phản ứng bài “Vô đề”, Lê Thanh vu cho bạn gái yêu nhau/ M.T.

– Tiếng sáo chiều hôm/ 14/ thơ/ Kim Thanh (cảm đề “Khói lam chiều”)

– Năm ấy tôi 18/ 14/ thơ/ Tri Chơn

– Thơ mới Nhược Pháp/ 15-17/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Muốn chữa văn, phải hiểu cách làm văn đã/ 18-20/ luận/ Trương Tửu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 21-24/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Các bạn đồng nghiệp phê bình “Khói lam chiều”/ 24/ Đức Ninh, “Tràng an báo”

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 19

HANOI BÁO

Số 22 (3 Juin 1936)

– Nghề làm báo làm sách ở xứ ta/ 2/ ký/ Lê Tràng Kiều

– Một me tây thuở Gia Long-Minh Mạng/ 3-4/ ký tư liệu/ Thanh Tịnh

– Truyện thần tiên/ 5/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 6-8/ tr. giài/ Lưu Trọng Lư

– Cùng các anh em công nghệ thương mại nước nhà/ 9/ bút chiến: báo “Ph. Hóa” chế riễu nghề thủ công…/ Bất Nhược

– Cho ông Thái Phỉ biết làm văn và chữa văn/ 9-10/ luận/ Trương Tửu

– Lá vàng rơi/ 11-13/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Cùng ô. Đào Duy Anh và ô. Lưu Trọng Lư/ 14/ thảo luận/ Lệ Chi

– Cùng ô. Đào Duy Anh/ 14/ thảo luận/ Lưu Trọng Lư

– Tin: cụ bà Phan Bội Châu tạ thế/ 14/ Hanoi Báo

– Thị Mịch, tiếp/ 19-24/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Tin: cuốn “Văn chương và hành động” bị Thống sứ Bắc Kỳ cấm/ 24/ Nxb. Phương Đông

– Rừng đào tiên/ 25-26/ truyện/ Trương Lệ Dung

– Núp bóng bồ đề/ 27-30/ truyện/ Nguyễn Đình Miến

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 20

HANOI BÁO

Số 23 (10 Juin 1936)

– Cái ác ý bởi nghề nghiệp/ 2-3/ luận/ Phan Khôi

– Dấu con tìm mẹ, hay là gốc tích tên tỉnh người Pháp đặt/ 4-6/ khảo/ Thanh Tịnh

– Nhà t.th. tr. thám Thế Lữ phê bình “Khói lam chiều”/ 6-10/ tranh luận/ Lê Tràng Kiều

– Thơ mới Nguyễn Vỹ/ 11-15/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 16-18/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Mường Lô/ 19-20/ truyện/ Văn Tuyền

– Lá vàng rơi, tiếp/ 21-24/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Người hàng xóm/ 25-29/ truyện/ Mộng Tuyết

– Lại chuyện dịch chữ; Ít nhiều thi sĩ; Máu Cao-mên/ 29-30/ điểm tin văn/ Thành Hoàng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 21

 

HANOI BÁO

Số 24 (17 Juin 1936)

– Hài cốt anh em Tây Sơn hiện ở đâu?/ 2-3/ khảo/ Thanh Tịnh

– Tin “Ngọ báo” bị đình bản/ 3/ Ngọ Báo

–  Tiếng tiêu/ 4-5/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Má… đỏ/ 5/ thơ/ cô Hồng Anh

– Cô bạn Triều Châu/ 6-9/ truyện/ Ngô Chung Tử

– Trong năm năm…/ 9-10/ truyện ngắn/ Tri Chơn

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 11-15/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Thơ mới Thế Lữ/ 16-19/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Lượm lặt/ 20/ điểm tin/ Văn Tệ

– Lá vàng rơi, tiếp/ 21-23/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Các đồng nghiệp phê bình “Khói lam chiều”/ 24-25/ trích “Gazette de Hue”, “Annam Nouveau”, “Patrie annamite”

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 22

HANOI BÁO

Số 25 (24 Juin 1936)

Báo quốc ngữ đã làm được gì?/ 2/ luận/ Lê Tràng Kiều

– Vì đàn câm tiếng/ 4/ thơ/ Thanh Tịnh

– Rừng sim/ 4/ thơ/ Nguyễn Anh, cảm đề “Khói lam chiều”

– Tiếng tiêu, tiếp/ 5/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 6-10/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Tuyết Nga/ 10-14/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Lá vàng rơi, tiếp/ 15-18/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Lạnh lùng/ 18-21/ truyện ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Báo và sách mới/ 23/ “Tình yêu”, thơ Ng.Trọng Quỳ; “Indochine la Douce”, Nguyễn Tiến Lãng; “Nữ lưu” tuần báo; “Trong bóng tối” tập truyện Thanh Châu; báo “L’ Oeuvre”, SG; sách “Parfume des Humanites” của Emile Vayrac; “Đời đạo lý” bản dịch “La vie du Sage” của Paul Carton do Ph. Quỳnh thực hiện

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Q.cáo “Giết mẹ” kịch V. Hugo, bản dịch Vũ Trọng Phụng, Lê Cường xb.

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 23

HANOI BÁO

Số 26 ( 1er Juillet 1936)

– Cái chỗ buồn cười của ông Lương Khải Siêu/ 3-5/ luận/ Phan Khôi

– Trả lời ô. Huyền Mặc Đạo Nhân về việc Phan Khôi bác bỏ từ “văn học tiểu thuyết”/ 6-7/ Lê Tràng Kiều

– Tuyết Nga/ 8-12/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Khóc thầm/ 13/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tình yêu/ 13/ thơ/ Thanh Tịnh

– Thơ mới Vũ Đình Liên/ 14-17/ phê bình/ Lê Tràng Kiều

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 17-21/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Nụ cười/ 21-23/ kịch/ Tri Chơn

– Thư của cô Lệ Chi/ 23/ tin cho L.T.Lư & L.Tr.K. sẽ viết “Thi sĩ Kỳ Phong”

– Lá vàng rơi, tiếp, hết/ 24/ truyện/ Trần Bình Lộc

– Thị Mịch, tiếp/ 25-29/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 24

HANOI BÁO

Số 27 ( 8 Juillet 1936)

– Sau những ngày đình đám/ 2-4/ phóng sự/ Văn Thu

– Thi sĩ Kỳ Phong/ 5-8/ truyện dài/ cô Lệ Chi

– Tàn tạ/ 9- 13/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Lạc loài/ 14-15/ thơ/ Nguyễn Xuân

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 16-18/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Anh Lưu/ 19-21/ truyện/ Tri Chơn

– Thật thà và đoán tuổi/ 21-22/ chuyện vui/ Thanh Tịnh

– Tr. 22: Tin báo: tờ “Sông Hương” sắp ra đời; báo “Ngày nay” sẽ tái bản vào 11/7/36; tờ “Đông tây” của Dương Tụ Quán bị thu giấy phép;

– Thiếu niên anh dũng/ 23/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Vàng, máu/ 24/ thơ/ Bích Đào, Thanh Tịnh

– Ngập ngừng/ 25-26/ tr. ngắn/ Hoài Dự

– Thị Mịch, tiếp/ 27-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 25

HANOI BÁO

Số 28 (15 Juillet 1936)

– Lòng xưa/ 2-4/ truyện ngắn/ Tri Chơn

– Thi sĩ Kỳ Phong, tiếp/ 5-8/ truyện dài/ cô Lệ Chi

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 10-12/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Tuổi thơ/ 12/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tàn tạ, tiếp/ 13- 15/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Một người xấu số/ 16-17/ truyện dài/ Trương Tửu

– Lạc loài, tiếp/ 18/ thơ/ Nguyễn Xuân

– Cô bán nhẫn/ 19-22/ truyện ngắn/ Kim Luân (phỏng theo André Birabeau)

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 23-25/ phóng sự/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 26

HANOI BÁO

Số 29 (22 Juillet 1936)

– Người có đuôi/ 2-6/ khảo/ Thanh Tịnh

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 6-10/ phóng sự/ Văn Thu

– Tàn tạ, tiếp/ 13- 14/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 15-17/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Một người xấu số, tiếp/ 18-22/ truyện dài/ Trương Tửu

– Vết nhơ trong giòng máu/ 23-24/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Lạc loài, tiếp/ 25/ thơ/ Nguyễn Xuân

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 27

HANOI BÁO

Số 30 (29 Juillet 1936)

– Một người xấu số, tiếp/ 2-7/ truyện dài/ Trương Tửu

– Vết nhơ trong giòng máu, tiếp/ 8-9/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Giăng mờ/ 9/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Tàn tạ, tiếp/ 10-12/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Lạc loài, tiếp/ 13/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Một nhà thơ mới rất chú trọng về âm điệu: Lưu Trọng Lư/ 14-17/ Lê Tràng Kiều

– Tr. 17: Sách báo mới: “Nắng chiều”, tập truyện, Trần Kim; “Mộng hoa”, thơ Viên Hàn; “Lối nhảy 1936”; “Mặt trận bình dân Pháp và nguyện vọng của quần chúng Đ.Dương”, nhóm La Lutte do Ng. V. Tạo viết, Xã hội tùng thư xb.; “Thế giới tân văn”, tuần báo, Phan văn Thiết chủ nhiệm, SG; “Grandeurs et servitudes de Nguyen-van-Nguyen”, của Nguyễn Vỹ, tựa René Crayssac;

– Chiều mẹ/ 18-20/ tr. ngắn/ Phạm Thấp Cốc

– Anh muốn say/ 19/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 21-23/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– sách mới: “Mặt trận bình dân Pháp và nguyện vọng của quần chúng Đ.Dương”, nhóm La Lutte do Ng. V. Tạo viết/ 24/ Hanoi báo

– Thanh niên/ 25-27/ tr. ngắn/ Tri Chơn

– Thị Mịch, tiếp/ 27-31/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 28

HANOI BÁO

Số 31 (5  Aout 1936)

– Một người xấu số, tiếp/ 2-5/ truyện dài/ Trương Tửu

– Những áng mây chiều/ 6-7/ tr. ngắn/ cô Chiêu Minh

– Tàn tạ, tiếp/ 8-10/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Trên bãi bể/ 11- 13/ tr. ngắn/ cô Trương Lệ Dung

– Lạc loài, tiếp/ 16/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Biệt ly/ 16/ thơ/ Lam Sơn Tử

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 15-17/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Người đêm ấy/ 18-19/ tr. ngắn/ Wyhao

– Vết nhơ trong giòng máu, tiếp/ 19-21/ tr. ngắn/ Nguyễn Đình Miến

– Mộng tàn/ 22/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Thơ bốn câu/ 22/ Nguyễn Triệu

– Thời gian qua/ 24-25/ tr. ngắn/ H.H. Hạnh

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 29

HANOI BÁO

Số 32 (12  Aout 1936)

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 2-5/ phóng sự/ Văn Thu

– Đã bao lần/ 6-8/ tr. ngắn/ Sơn Lang

– Lạc loài, tiếp/ 9/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Bức thư tình/ 10-11/ tr. ngắn/ cô Chiêu Minh

– Bou-dzou/ 12-14/ tr. ngắn/ Vũ Trực

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp/ 15-17/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

– Tàn tạ, tiếp/ 18-20/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Tr. 20: Thông báo: “Một người xấu số” phải cắt đoạn, không đăng được nữa

– Tiếng gọi của con tim/ 21/ thơ/ Thanh Tịnh

– Hồ Tây hay tiếng hát của người hàn sĩ/ 22-24/ tr. ngắn/ Ng. V. Phong

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 30

HANOI BÁO

Số 33 (19  Aout 1936)

– Sóng biển chiều hôm/ 2-5/ tr. ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Lỗi hẹn/ 5/ thơ/ Trọng Diên

– Em ngủ rồi/ 5/ thơ/ Nguyễn Triệu

– [mất tr. 7-8]

– Cô thôn nữ/ ?-9/tr. ngắn/ Trương Lệ Dung

– Tàn tạ, tiếp/ 10-12/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Nàng Vân may áo cho chồng/ 13-16/ tr. ngắn/ Lưu Trọng Lư

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 17-18/ phóng sự/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp/ 19-24/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– [mất tr. 25-26]

– Lỡ lời/ ?- 27- 30/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 31

HANOI BÁO

Số 34 (26  Aout 1936)

– Hoa xuân tàn tạ/ 2-5/ tr. ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Cát bụi, người lại trở về cát bụi/ 6-7/ kịch ngắn/ Tiêu Liêu

– Em bé/ 8, 30/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Tàn tạ, tiếp/ 9-10/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Nghĩ đến già/ 11/ thơ/ Nguyễn Triệu

– Cô bán cam/ 11/ thơ/ Thanh Tịnh

– Bộ răng vàng/ 12-13/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Sầm Sơn vui thú xiết bao/ 14-16/ truyện vui/ Lưu Trọng Lư

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 17-19/ phóng sự/ Văn Thu

– Báo “Tin văn” với “Kỹ nghệ lấy Tây”/ 19-22/ Nguyễn Thanh [bài trên “Tin văn”]

– Lạc loài, tiếp/ 23/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Tình lụy/ 24-25/ truyện ngắn/ Lưu Văn Hồ

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Con voi già của vua Hàm Nghi, tiếp, hết/ 31/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư

Phụ trương: “Võ Đang hào hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 32, hết

HANOI BÁO

Số 35 (2  Septembre 1936)

– Tấn Khanh/ 2-5/ tr. ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Tình điên, gửi anh Kiến Mỹ/ 5/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Lạc loài, tiếp/ 6/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Hồ sê líu hồ líu sê sàng/ 7-9/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Thằng bé ăn cắp/ 10-13/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Sầm Sơn vui thú xiết bao, tiếp, hết/ 14-16/ truyện vui/ Lưu Trọng Lư

– Tàn tạ, tiếp/ 17-19/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Tình… trong giây lát/ tr. ngắn/ 19-24/ Lưu Trọng Lư

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 1

HANOI BÁO

Số 36 (9  Septembre 1936)

– Một buổi sớm trong vườn xuân/ 2-4/ truyện ngắn/ Lê Tràng Kiều

– Với một chút tình/ 5-7, 10/ kịch/ Tri Chơn

– Giáo sư … chim gái/ 8-10/ truyện ngắn/ Phạm Thấp Cốc

– Tàn tạ, tiếp/ 11-13/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Hai linh hồn/ 14-18/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Cái vò sữa của cô Perrette/ 19-20/ tr. ngắn/ Lưu Trọng Lư

– Sau những ngày đình đám, tiếp/ 21-23/ phóng sự/ Văn Thu

– tr. 24: q. cáo sách nhà Lê Cường in: “Trước giờ lên máy chém”, Nguyễn Văn Kiện dịch; “Giết mẹ”; sách nhà in Nam Tân, Hải phòng: “Sách dạy khiêu vũ”.

– Lạc loài, tiếp/ 25/ truyện thơ/ Nguyễn Xuân

– Thị Mịch, tiếp/ 26-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 2

HANOI BÁO

Số 37 (16  Septembre 1936)

– Thư ngỏ gửi anh em Trung Bắc ở Nam kỳ/ 2-3/ Lê Tràng Kiều [về “Đông Dương đại hội nghị”]

– Gió cuốn bụi đời/ 3-4/ điểm tin/ Lưu Thần

– Một buổi dưới Diêm Cung/ 5-9/ phóng sự vui/ Văn Thu

– Con người điêu trá/ 10-15/ tr. ngắn/ Vũ Trọng Phụng

– Về việc thảo những điều yêu cầu đệ lên Ủy ban điều tra của Nghị viện Pháp/ 17-18/ Hanoi Báo

– Mấy lời bá cáo của UB lâm thời gửi các giới…/18/

– Mấy câu hỏi về “UB lâm thời”/ 19-20/ Hanoi báo

– Số sau “Hanoi Báo” đổi mới: thêm chính trị-xã hội và trào phúng /20/

– Sau những ngày đình đám, tiếp, hết/ 21-23/ phóng sự/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp/ 25-30/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 3

HANOI BÁO

Số 38 (23  Septembre 1936)

(thêm 8 trang, bán đặc biệt 3 xu)

– Hà nội hà ngoại: Cái nhiệm vụ của các nhà làm báo trong những phút nghiêm trọng này/ 2-3/ Lê Tràng Kiều;

– Mà tại sao chúng tôi phản đối ô. Phạm Huy Lục?/ 3/ Hanoi Báo

– Chung quanh việc UB điều tra sắp tới Đ. Dương/ 4-5/Hanoi Báo

– Gió cuốn bụi đời/ 6-8/ điểm tin/ [vụ hối lộ ở Trung Kỳ; thư cô A.P. đại biểu giới cô đầu gửi ô. Lê Thăng]

– Cộng sản thắng hay là tư bản thắng?/ 9-12/ bình luận thời sự q.tế/ Lưu Thần

– Hà Nội 100%: Thu sang; Nón Huế/ 13-14/ tạp văn/ Cô Thúy

– Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ báo “Tin văn” về bài “Văn chương dâm uế”/ 15-16/ luận/ Vũ Trọng Phụng

– Đếm sỉa: Com bướm và ô. Thế Lữ; Xứ Bắc Kỳ có bao nhiêu nhà viết báo; ô. Ph. Tr. Chúc được khen; ô. Ng. T. Tam phân trần/ 17-18/ Ngọa Triều, Lê Tràng Kiều

– Một chút tình/ 19/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Ngày ấy/ 19/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Công chúa Lã Mai/ 20-24/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Dưới cầu nước chảy trong veo/ 25-29/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Tàn tạ, tiếp/ 30-32/ truyện giài/ Công tôn nữ Quỳnh Diêu

– Thị Mịch, tiếp/ 33-37/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 4

HANOI BÁO

Số 39 (30  Septembre 1936)

(38 trang, bán 3 xu)

– Hà nội hà ngoại: Chung quanh việc phái bộ điều tra sắp tới Đông Dương/ 2-4/ Hanoi báo; Lê Tràng Kiều

– Gió cuốn bụi đời: Chúng tôi xin nhường; Trâu đi lọng; Dư luận thế giới…/ 5-6/ Lưu Thần

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 7-11/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Chiều hôm nay/ 12-13/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Hà Nội 100%: Yêu đương; Ngày vui; Mái tóc Huế và chiếc kiềng/ 14-15/ Cô Đào; Huy Kiều; Cô Thúy

– Đợi đàn…/ 16/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Bóng giáng nàng/ 16/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Đếm sỉa: ô. Bùi Xuân Học đê tiện; Báo “Le Cygne” kể về Ng. T. Tam; ô. Thế Lữ kêu “tôi mù rồi”; ô. Thái Phỉ vẫn đạo đức; ô. Thái Phỉ thú tội; ô. Tr. Th. Mại xưng tớ; …/17-22/  điểm tin văn/ Ngọa Triều [= V. Tr. Phụng?]

– Đứt đường tơ/ 23/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Thị Mịch, tiếp, hết/ 29-35/ xã hội tiểu thuyết/ Vũ Trọng Phụng

– Tàn tạ, tiếp/ 36-38/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư [kỳ này ký ở cuối trang]

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 5

HANOI BÁO

Số 40 (7  Octobre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Bạc nhược lắm rồi; Cuộc Đông Dương đại hội nghị có thành được không?/ bình luận thời sự/ Lê Tràng Kiều; Hanoi báo

– Gió cuốn bụi đời: Nội chiến Tây-ban-nha; một ô. huyện khôn khéo/ 7-8/ bình luận thời sự/ Lưu Thần

– Tây Thi giặt lụa/ 9/ thơ/ Thái Can

– Hà nội 100%: Dưới trăng; Tình và tứ; Ăn chơi lối Mỹ/ 10-13/ điểm tin văn/ Cô Đào; Ánh Xuân; Cô Thúy

– Đếm sỉa… người và vật: Ba nhân vật; Ô. Lê Công Đắc làm thơ; Hội đền Bảo Lộc; Đọc báo; Bệnh Thái Phỉ/ 14-18/ Ngọa Triều

– Hạnh phúc gia đình/ 19-22/ kịch ngắn/ Lưu Trọng Lư

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 23-26/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Chiếc đầu sư tử/ 27-30/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Tàn tạ, tiếp, hết/ 31-33/ truyện giài/ Lưu Trọng Lư [kỳ này ký ở cuối trang]

– Số đỏ/ 34-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 6

HANOI BÁO

Số 41 (14  Octobre 1936)

– Tr. 2: tranh biếm: thi nhân khóc thu; lá thu thành mồ thi nhân

– Hà nội hà ngoại: Cái thái độ hèn nhát của báo “Ngày nay” đối với cuộc hội họp phụ nữ/ 3-4/ Lê Tràng Kiều/

– Hà nội hà ngoại: Đồng phật-lăng sút giá và kinh tế Đông Dương/ 5-6/ b.luận/ Hanoi báo

– Gió cuốn bụi đời: Việc Tây-ban-nha/ 7-8/ bình luận/ Lưu Thần

– Ngày vui/ 10/ tản văn/ Ánh Xuân

– Thuyền mơ/ 11/ thơ/ Thái Can

– Đếm sỉa, người và vật: Dân biểu Ng. H. Tiệp; Trung bắc journal; chưa hết; Khôi hài; có nên đuổi dân Annam sang Madagasca…/ 12-15/ Ngọa Triều

– Số đỏ, tiếp/ 16-20/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

– Hà nội hà ngoại: “salon”; mẩu chuyện; Ăn chơi lối Mỹ/ 22-24/ Ánh Xuân; Cô Thúy

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 25-28/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

–  Nghỉ hè/ 29-32/ truyện ngắn/ Trần Quang Viễn

– Gió cây trút lá/ 33-38/ chuyện dài/ chuyện một cô lái đò sông Hương/ Lưu Trọng Lư

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 7

HANOI BÁO

Số 42 (21 Octobre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Cái tinh thần quốc gia ở nước ta bạc nhược lắm rồi/ 3-4/ luận/ Lê Tràng Kiều;

– Hà nội hà ngoại: “Cộng sản” nghĩa khác”, trích Phan Khôi /4-5/ Ngọa Triều

– Cái thái độ hèn nhát của báo “Ngày nay” đối với cuộc hội họp phụ nữ, tiếp/ 6-7/ trích cô Tâm Kính; phản hồi của báo Ngày nay/ Lê Tràng Kiều

– Gió cây trút lá, tiếp/ 9-12/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Trang thơ bạn gái: Bóng mây chiều/ 13/ thơ/ Vân Ngọc

– Đếm sỉa: luật lao động; dân viện Trung Kỳ; …./ 14-17/ điểm tin/ Ngọa Triều

– Hà nội 100%: những ngày vui; mẩu chuyện/ 18-22/ điểm tin/ Nguyễn Thị Đào; Ánh Xuân

– Khi thu rụng lá/ 22/ thơ/ Vi Lan

– Nguyện vọng của một người vú/ 22/ thơ/ Mai Tú Oanh

– [?] / 23-25/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 26-29/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– báo “Tràng an” với “Kỹ nghệ lấy Tây”/ 30-31/ phê bình/ Mai Xuân Nhân

– Tình yêu/ 32-33/ truyện ngắn/ Hải Lộc

– Số đỏ, tiếp/ 34-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 8

HANOI BÁO

Số 43 (28 Octobre 1936)

– Ông Thượng Nguyễn Khoa Kỳ/ 3/ bìnhluận/ Lê Tràng Kiều

– Trả lời bạn đồng nghiệp “Ngày nay”/ 4-6/ Lưu Trọng Lư

– Nhóm Nguyễn Tường Tam công khai tâm thuật/ 7-10/ bình luận/ Như Tiết

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 11-12/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Gió cây trút lá, tiếp/ 13-15/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa: tội báo “Trung Bắc”; quan Thượng tốt bụng; vẫn còn chuyện vỡ đê…/ 16-18/ điểm tin/ Ngọa Triều

– Gió cuốn bụi đời: Vì đón tiếp một người của Hitler; thủ tướng Blum trả lời M. Thorez…/ 20-21/ điểm tin nước ngoài/ Lưu Thần

– Con én liệng/ 22/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Mỗi lần tôi đi qua/ 23-28/ truyện/ Lưu Trọng Lư

– Ba chuyện tâm tình, tiếp/ 29-32/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 9

HANOI BÁO

Số 44 (4 Novembre 1936)

– Chủ nghĩa quốc gia của họ Phạm (Quỳnh)/ 34/ bình luận/ Lê Tràng Kiều

– Gió cây trút lá, tiếp/ 6-9/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa: Chính trị phạm được tha; Sách chưa viết đã cấm; “Tự lực VĐ” với các báo đã chết;…/10-13, 19/ điểm tin văn/ Ngọa Triều

– Ba chuyện tâm tình, tiếp/ 14-18/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 23-26/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Trước khi tàn/ 27-32/ kịch/ Tri Chơn

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 10

HANOI BÁO

Số 45 (11 Novembre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Thâu-Ninh-Tạo; …./ 3-6/ bình luận/ Lê Tràng Kiều

– Gió cuốn bụi đời: Chiến tranh!/ 7-9/ bình luận ch.trị n. ngoài/ Lưu Thần

– Sách báo mới: “Hương lửa”; “Gái quê”, thơ Hàn Mặc Tử/ 9-10/ H.B.

– Gió cây trút lá, tiếp/ 11-14/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa: Không khí ở HĐ quản hạt Nam kỳ; Đang CS lập ở Senegal…/ 15-16/ điểm tin/ Ngọa Triều

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 17-20/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Buồn/ 20/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Vườn đào/ 20/ thơ/ Nguyễn Xuân Huy

– Hà nội 100%: Lịch sự; Mẩu chuyện/ 22-24/ tạp văn/ Cô Đào; Ánh Xuân

– Tắm/ 24/ thơ/ Bạch Mai thôn nữ

– Mấy đoạn nhật ký của một người tân phụ/ 26-28/ truyện ngắn/ Ngô Chung Tử

– Chàng rể hiền/ 29-32/ kịch/ Cô Hoàng Oanh, phỏng theo Tristan Bernard

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 11

HANOI BÁO

Số 46 (18 Novembre 1936)

– Hiệu triệu các bạn đồng nghiệp/ 3/ Hanoi Báo

– Cần có những tranh luận…/ 3-4/ b.luận/ Lê Tràng Kiều

– Tự do lập nghiệp đoàn/ 5-6/ luận/ ?

– Gió cây trút lá, tiếp/ 7-10, 14/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 11-14/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– tr. 15: q.cáo doanh nghiệp Bùi Đức Dậu

– Chàng và Nàng hay là: Hai vợ chồng người sẩm Tàu/ 16-21/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Từ giã Phong Nha/ 21/ thơ/ Kỳ Linh

– Trả thù/ 22-27/ tr. ngắn/ Văn Thu

– Q.cáo sách NXB. Phương Đông

– Chùa Bảo Liên/ 28-32/ tr. ngắn ly kỳ, Soulié de Morant phỏng tác “Kim cổ kỳ quan”, Vũ Ngọc Phan dịch/ in lại của “La revue Franco-annamite”/ “Hanoi báo” ghi lời bạt về “bệnh Thái Phỉ” dị ứng các cảnh dâm ô trong văn chương

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 12

HANOI BÁO

Số 47 (25 Novembre 1936)

-Hà nội hà ngoại:

+ “Chủ nghĩa quốc gia” đang phá sản/ 2-5/ luận/ Hải Khách

+ Trả lời Hải Khách…/ 5-6/ Lê Tràng Kiều

+ Chúng tôi muốn; Ô. Babut phân trần/ 7-8/ Lưu Thần

– Đi thăm ô. Phạm Tuấn Tài/ 9-10/ ký/ Hải Khách

– Năm đồng xu cuối cùng/ 10-13/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Trước Thâu, Ninh Tạo 28 năm đã có người bãi thực/ 14/ rút của “Sông Hương”

– Đếm sỉa, người và vật: Đình chiến; Việt kiều ở Siam bị ngược đãi…/ 15-17/ điểm thời sự/ Ngọa Triều

– Bắt đền/ 17/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Gió cây trút lá, tiếp/ 18-21/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Tự do lập nghiệp đoàn, tiếp/ 22/ luận/ V.Đ.

– Bên hồ/ 23/ thơ/ Thái Can

– Mùa đông/ 24/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Hanoi 100%: Mẩu chuyện; mấy kẻ nịnh…/ 25-26/ tạp văn/ Trọng Chính

– Gió chiều thu lạnh/ 26-28/ truyện/ Cô Trg Khanh

– Công chúa Lã Mai, tiếp/ 30-32/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 13

HANOI BÁO

Số 48 (2 Décembre 1936)

– Đếm sỉa: Thợ mỏ đình công; 2 mạng đồng bào ở Siêm; Hy vọng “Đ. Dương đại hội” được lập lại; tính mạng Salengro tổng trưởng nội vụ Pháp bị vu bội phản/ 3-9/ điểm tin thời sự/ Lưu Thần

– Q.gia hay q.tế, trả lời Hải Khách/ 9-11/ tr. luận/ Lê Tràng Kiều

– Cụ Phan Sào Nam kể lược sử bà cho hai con trước khi bà mất/ 12-13/ Phan Bội Châu

– Công chúa Lã Mai, tiếp, hết/ 14-15/ truyện dài/ Lưu Trọng Lư

–  Bà Hai/ 16-18/ truyện ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Gió cây trút lá, tiếp/ 19-22/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– tr. 23: q.cáo chè Đồng Lương; hãng Bùi Đức Dậu

– Hà nội 100%: Mùa cúc; Mẩu chuyện…/ 24-26/ tạp văn/ Cô Đào; Ánh Xuân

– Chiều xuân/ 26/ thơ/ Lan Sơn

– Tiếng ly uyên/ 27/ thơ/ Đào Tiến Đạt

– Những trang giấy trắng/ 28-32/ truyện/ Lê Thưởng

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 14

HANOI BÁO

Số 49 (9 Décembre 1936)

– mất 6 trang đầu

– nhận xét “Chiêm Thành lược khảo” của H. T. Bảo Hòa/ ?-7/ Lệ Chi

– Hoa đào/ 8-11/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Suối mây/ 12/ thơ/ Lưu Trọng Lư

Hà Nội 100%:

+ Đi xem “Ớt không cay”, kịch Tương Huyền” diễn ở nhà hát Tây, tối 5 Décembre/ 12-15/ phê bình/ Lưu Thần

+ Chuyện tâm tình/15-16/ Lệ Chi

– Ngại ngùng/ 16/ thơ/ Vĩnh Quảng

– Gió cây trút lá, tiếp/ 17-20/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Đếm sỉa…:

+ Ô. Moutet nói với báo “Populaire”…/ 21-22/ L.T. dịch

+ Ô. Diệp Văn Kỳ bị trục xuất khỏi Nam Kỳ/22/

– Cái chuyện ngắn của những người bảo hoàng/ 23-24, 38/ Lưu Thần

– tr. 25: q.cáo hãng Bùi Đức Dậu

– Dicke và Linh/ 26-28/ truyện/ Năng An

– Người học vẽ/ 29-32/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

HANOI BÁO

Số 50 (16 Décembre 1936)

– Q.gia hay q. tế: Phải là q. gia/ 3-4/ tr. luận với Hải Khách/ Lê Tràng Kiều

– Đếm sỉa: Đôc lý Virgiti trù với tính; những cuộc đình công kết liễu/4-5/ Ngọa Triều

– Hà nội 100%:

+ Phòng triển lãm 1936/ 6-8/ ph.bình mỹ thuật/ Cô Đào

+ Chuyện tâm tình/ 8-9/ Lệ Chi

– Hoa đào, tiếp/ 10-14/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Gió cây trút lá, tiếp/ 14-16/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Tình duyên trắc trở/ 17-20/ tr. ngắn/ Vũ Ngọc Phan dịch, đăng lại “Franco-annamite”

– Sách: “Mấy đường tơ”, thơ Dương Lĩnh; “Bên đường thiên lôi”, truyện, Thế Lữ/ 21/ Lệ Chi

– Hai chuyện nhỏ của 2 độc tài/ 22-23/ Trọng Chính thuật

– Ra đi/ 23/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Người học vẽ, tiếp/ 24-28, 32/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Lữ khách với ái tình/ 29/ thơ/ Thái Can

– Trọn đời phiêu dạt/ 30-32/ truyện/ Vĩnh Phúc

– tr. 33: q.cáo hãng Bùi Đức Dậu

– Số đỏ, tiếp/ 34-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

[Vạn lý tình hiệp, nghỉ 1 kỳ]

HANOI BÁO

Số 51 (23 Décembre 1936)

– Hà nội hà ngoại:

+ “Rối cuộc trị an”/3/

+ Chuyện Tàu: Tưởng và Trương Học Lương/3-4/

+….

– Chị cùng em/ 5/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Gió cây trút lá, tiếp/ 6-9/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Sách mỗi tuần: “Tắt lửa lòng”, tr. dài, Ng. Công Hoan; “Mạc Tin”, kịch Bernard J. J., bản dịch Vy Huyền Đắc/ 10-11/ Lệ Chi

– Tình duyên trắc trở, tiếp, hết/ 12-16/ tr. ngắn/ Vũ Ngọc Phan dịch, đăng lại của “Franco-annamite”

– Hà nội 100%: Gió lạnh; Mẩu chuyện/ 17-19/ tạp văn/ Đào; Lu

– Sóng lòng/ 20-22/ truyện/ Cung Trọng Hưng

– Đào Quân, hay là Vui sống/ 23-24/ thơ/ Daotiendat [= Đào Tiến Đạt]

– Người học vẽ, tiếp/ 25-31/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Số đỏ, tiếp/ 32-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

Phụ trương: “Vạn lý tình hiệp”, tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, kỳ 15

HANOI BÁO

Số 52 (30 Décembre 1936)

– Hà nội hà ngoại: Hai ô. Hoàng Gia Hội và Hoàng Thụy Ba ganh nhau chức tiên chỉ làng Phù Lưu; Ô. Diệp Văn Kỳ bị bắt; Lại Đông Dương đại hội; La Ve giết đồng bào; Báo mới ra, báo bị cấm/ 3-6/

– Gió cây trút lá, tiếp/ 7-10/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Mấy bức thư/ 11-13/ truyện/ Cung Trọng Hưng

– Xin hoa/ 14/ thơ/ Thái Can

– Héo tàn/ 14/ thơ/ Lưu Kỳ Linh

– Thoảng qua/ 14/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Tựa cuốn “Tiếng Thu”/ 15/ văn/ Lưu Trọng Lư

– Hà nội 100%:

+ Đi xem hội chợ Hanoi/ 16-18/ Lệ Chi

+ Chuyện tâm tình/ 18-19/ Thúy

+ Ngoại tình vô tội/ 20-21/ Tiêu Liêu

– Hoa đào, tiếp/ 21-23/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Ái tình hạnh phúc/ 24-25/ truyện/ Tiến Ích

– Người học vẽ, tiếp/ 26-29/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Chuyện ngăn ngắn: Bé cái lầm; Bố con Nã-phá-luân/ 30-31/ Trọng Chính

– tr. 32: q. cáo hãng Bùi Đức Dậu

– Số đỏ, tiếp/ 33-38/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

HANOI BÁO

Số 53 (6 Janvier 1937)

– Hanoi Báo đầy tuổi/ 2/ Hanoi báo

– Đếm sỉa: 1936 đã qua/ 3/ Ngọa Triều

– Hoa đào, tiếp, hết/ 4-6/ tr. ngắn/ Nguyễn Xuân Huy

– Lòng trần/ thơ/ 7/ Đỗ Huy Nhiệm

– Người học vẽ, tiếp, hết/ 8-9/ kịch/ Nguyễn Nhược Pháp

– Hận tình/ 10-11/ truyện ngắn/ Văn Thu

– Số đỏ, tiếp/ 12-14/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

– Hà nội 100%: Sách “Thiên diễm tuyệt”, thơ Đỗ Huy Nhiệm, Nxb. Hội ký, Nam Định/ 15/ Lệ Chi

– Bạn tôi cưới vợ/ 16-18/ truyện ngắn/ Lưu Trọng Lư

HANOI BÁO

Số 54 (13 Janvier 1937)

– Tự do báo chí ở Sài Gòn/ 2/ Lê Tràng Kiều

– Một vạn người đi đón rước ông Godard/ 2-4/ tường thuật/ Ngọa Triều

– Hiện nước Pháp có một đạo binh cộng sản…/5-6/ biên dịch/ Lưu Thần

– Hà nội 100%: Chuyện tâm tình/ 7/ tạp văn/ Lệ Chi

– Nga của tôi/ 8-9/ tr. ngắn/ Như Hà

– Gửi em/ 9/ thơ/ Lưu Trọng Lư

– Tú Hòe xem hội chợ/ 9/ thơ/ Tú Hòe

– Một đêm/ 10-11, 19/ chuyện vừa/ Văn Thu

– Số đỏ, tiếp/ 12-14/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng

– Chuyện Tàu; chuyện Tây-ban-nha/ 15/ thời sự/ Lưu Thần

– Gió cây trút lá, tiếp/ 16-17/ chuyện dài/ Lưu Trọng Lư

– Hai bức thư/ 18/ truyện ngắn/ Tâm

HANOI BÁO

Số 55 (20 Janvier 1937)

– Q.cáo tuần báo “Nhi đồng” /2/

– Bởi vì/ 2/ thơ/ Đỗ Huy Nhiệm

– Sự thực và thi ca/ 3/ thơ/ Thái Can

– Cũng tiễn cụ Bùi Quang Chiêu/ 3/ thơ trào phúng/ Đồ Phồn

– Chút lòng thơ/ 8-9/ truyện ngắn/ Tri Chơn

– Một đêm, tiếp/ 10-12, 19/ chuyện vừa/ Văn Thu

– Số đỏ, tiếp/ 12-14/ chuyện cười dài/ Vũ Trọng Phụng  [mất tr. 15-18]

Lại Nguyên Ân: Phải làm những việc mang tính chất sửa lỗi hệ thống

Miệt mài “tìm lại người xưa, đọc lại người xưa”, nhà nghiên cứu văn bản Lại Nguyên Ân mang trong mình niềm tin hiện đại rằng buộc phải nghiên cứu thận trọng tài liệu gốc để hiểu lịch sử.

“Liệu có thể xem Phan Khôi như một tác gia văn học quốc ngữ Nam bộ?” là tên tham luận, cũng là câu hỏi ngược của Lại Nguyên Ân cho hội thảo Văn học quốc ngữ Nam bộ.

Hỏi ngược, bởi nghiên cứu trong nước có một “tập quán” không mấy khoa học nhưng khá thông dụng. Đó là dựa vào quê quán hoặc việc có sống tại địa phương hay không để tính danh sách tác gia ở đó. “Phân loại, biên khảo như trên làm đơn giản hóa, thậm chí méo mó diện mạo thực của đời sống văn học ở những đô thị lớn qua những giai đoạn khác nhau. Mặc dù vậy, những bộ địa chí văn hóa vô nguyên tắc như thế thường được xếp vào loại công trình quốc gia, được ngân sách công cấp tiền tỉ”, nhà nghiên cứu độc lập Lại Nguyên Ân nói trong cay đắng.

  • Sự không toàn vẹn của văn chương mới là sự sống trong sáng tạo… Thành ra, nghiên cứu văn bản cho tôi thấy tác giả, thấy mạch cảm xúc thời đại, thấy nó thay đổi ra sao. Và mạch văn ấy có thể bị kiểm duyệt chém như thế nào

Sự coi thường nghiên cứu văn bản còn thể hiện ở sự phân biệt, kỳ thị, rẻ rúng nhiều tác gia, tác phẩm khác nhau. Kỳ thị, rẻ rúng bởi khi nói đến văn bản học, người ta chỉ nhắc tới mảng Hán Nôm. Trong khi đó, những di sản quốc ngữ rồi cũng trở thành di sản ngôn ngữ nói chung. Do đó, theo ông Ân, việc nghiên cứu văn bản di sản quốc ngữ rồi sẽ phải trở thành một phần của chính sách ngôn ngữ. “Nhìn thấy ngay, đối với quốc ngữ thời đầu, nếu không bảo quản sẽ mất”, ông Ân phân tích. “Mà việc bỏ quên lại chính là thái độ của người quản lý văn hóa với di sản trước năm 1945. Chỉ những tác gia đi theo cách mạng thì di sản của họ mới được vớt vát theo như Huy Cận, Xuân Diệu chẳng hạn. Còn những người về sau chẳng theo cách mạng hoặc lỡ chết mất rồi thì thiệt thòi”, ông chỉ rõ.

Hậu quả những kỳ thị và rẻ rúng nghiên cứu văn bản dẫn đến việc hàng ngàn tác phẩm chữ viết của hàng trăm tác gia người Việt, nếu chưa mất hẳn thì đang bị lấp sâu đâu đó trong các đống sách báo cũ. Chúng đang đối diện nguy cơ mất mát vụn nát từng ngày. Người làm chính sách, khoa học đã vậy, người làm xuất bản cũng thế. Hầu như tất cả sách đưa vào tổng tập đều không qua khảo văn bản. Họ cứ lấy một bản bất kỳ rồi đưa vào. Nhân viên đánh máy, cập nhật hóa rồi đổi từ cổ sang từ mới một cách vô nguyên tắc. “Những công trình tôi đã thực hiện, tựu trung chỉ nhằm trục vớt di sản ngôn ngữ văn tự của các tác gia Việt Nam, giữ lại cho hậu thế”, nhà nghiên cứu chia sẻ.

Oái oăm ở chỗ tài nguyên cần “trục vớt” càng “vô biên” bao nhiêu, việc ông làm càng đơn độc, lẻ loi bấy nhiêu. Đặc biệt, theo ông Ân, những di sản thời kỳ cuối thế kỷ 19 – giữa thế kỷ 20 đang ở trạng thái cực kỳ nguy hiểm. “Nằm phủ bụi trong đống báo là hàng trăm tác gia, mà giờ không ai nói đến. Chẳng hạn, cụ Nguyễn Khắc Nhanh, người từng dịch rất nhiều tác phẩm, trong đó có Kim Vân Kiều truyện. Cuốn đó, cụ Nhanh dịch cùng Nguyễn Đức Vân ở Viện Văn học. Thế mà giờ không có bất cứ dòng nào của cụ lưu lại”, ông Ân nói.

Một tác gia đã được ông Ân trục vớt văn bản thành công là Phan Khôi – người được nhà văn hóa Nguyên Ngọc đánh giá là một trong những nhà báo giỏi nhất của Việt Nam. Không chỉ giỏi, Phan Khôi cũng “thuộc diện” không được ưu ái nghiên cứu do nhiều thành kiến. Việc theo dấu Phan Khôi cũng từng tưởng không xin nổi tiền để thực hiện, bởi đồng ý nghiên cứu một nhân vật của Nhân văn giai phẩm rất dễ bị vạ lây. Sau nhiều năm, tổng tập Phan Khôi cũng ra đời.

Đổi lại bao trắc trở, nghiên cứu văn bản cho Lại Nguyên Ân những cảm xúc mà một câu văn đơn lẻ không mang đến được. “Chỉ tìm kiếm những câu văn hay hoàn mỹ chính là biểu hiện của sự suy đồi. Nó cũng là cách tìm cái đẹp của người tiểu nhãn”, ông nói.

Ông Ân nói tiếp: “Sự không toàn vẹn của văn chương mới là sự sống trong sáng tạo. Chẳng hạn, trong nhiều tác phẩm của Vũ Trọng Phụng viết cho Thời đàm chấm sai rất nhiều dấu câu. Đến mức, ông Phan Khôi phát cáu. Nhưng ông Phụng cũng chỉ sửa được thời gian ngắn, sau rồi lại chứng nào tật nấy. Thành ra, nghiên cứu văn bản cho tôi thấy tác giả, thấy mạch cảm xúc thời đại, thấy nó thay đổi ra sao. Và mạch văn ấy có thể bị kiểm duyệt chém như thế nào”.

Chính vì thế, nghiên cứu của ông là nguồn tư liệu quan trọng cho người nước ngoài nghiên cứu Việt Nam. “Trong thập niên vừa qua, nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân là học giả có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới tôi trong việc nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của Vũ Trọng Phụng”, PGS-TS Sử học Mỹ Peter Zinoman, Đại học Berkeley, California, Mỹ cho biết. So sánh bốn văn bản Giông Tố khác nhau, ông Ân giúp thấy rõ kiểm duyệt và biên tập đã thay đổi tiểu thuyết này như thế nào kể từ cuối thập niên 1930.

“Mối liên hệ xuyên suốt khối lượng công việc phong phú và đồ sộ của Lại Nguyên Ân chính là niềm tin hiện đại và tiến bộ của ông rằng hiểu biết lịch sử thực sự bắt buộc phải được dựa vào việc nghiên cứu thận trọng các tài liệu gốc”, TS Peter Zinoman nói. Và nhấn mạnh: “Việc Lại Nguyên Ân tìm lại và công bố các tài liệu gốc này cho thấy ông rất hào phóng tri thức. Nó cũng biểu lộ một lòng xác tín đáng kính phục, rằng trí thức cần quyết tâm tìm hiểu sự thực không bị che đậy về lịch sử của chính họ nếu muốn hướng tới xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai”.

Mặc dù vậy, nói về tương lai của nghiên cứu văn bản học nước nhà, ông Ân rất buồn. “Về nguyên tắc mà nói, Việt Nam phải làm những việc mang tính chất sửa lỗi hệ thống, bằng cách đưa vào giảng dạy ở đại học. Hiện nay, khi một danh nhân nằm xuống, chúng ta đối xử rất kỳ lạ. Đám ma trọng thể, tác giả có thể được tổ chức hội thảo, thậm chí được giải thưởng lớn. Nhưng không ai sờ đến di sản tại chỗ, là văn bản, của tác giả đó cả. Dường như, việc đó quá xa xỉ. Các tập thể không làm, khoa học cũng không luôn”.

“Có lẽ, với nỗi lo nghiên cứu văn bản học, tôi có chết cũng khó mà nhắm mắt”, nhà nghiên cứu từng nhận giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2010 nói, giọng lặng đi.

Nguồn:http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121113/lai-nguyen-an-phai-lam-nhung-viec-mang-tinh-chat-sua-loi-he-thong.aspx

Nên xem Tự Lực văn đoàn như một “nhóm lợi ích” trong đời sống văn nghệ

Lại Nguyên Ân

Trong dịp nhớ về 80 năm ra đời Tự Lực văn đoàn (TLVĐ), có khá nhiều bài viết, nghiên cứu thảo luận về văn đoàn này; song như thường lệ, số lớn ý kiến thường chỉ thiên về kể công lao, đóng góp của TLVĐ, xem nó như một tấm gương; ít thấy ai đặt hoạt động TLVĐ vào đời sống văn nghệ đương thời để mô tả, nhận định các hoạt động cụ thể của nó; cũng ít thấy ai chú ý tìm hiểu xem TLVĐ được cảm nhận ra sao trong tầm nhìn của những người đương thời, nhất là những đồng nghiệp viết văn làm báo, hoặc công chúng văn nghệ thời ấy.

Thiết nghĩ, nếu xem xét hoạt động của TLVĐ từ tầm nhìn gần, không lý tưởng hóa, người ta sẽ thấy TLVĐ ra đời và hoạt động như một nhóm lợi ích.

Khái niệm “nhóm lợi ích” được sử dụng vào nghiên cứu ở lĩnh vực xã hội nhân văn, song chỉ mới thường được dùng để xem xét các hoạt động kinh tế xã hội hơn là các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Nhưng thật ra, trong loại hình đa dạng các nhóm lợi ích, bên cạnh nhiều loại khác, người ta cũng kể tới các nhóm có tổ chức trong các lĩnh vực tôn giáo, khoa học và văn hóa (nhà thờ, các giáo phái, các hiệp hội khoa học, các hội văn nghệ sĩ, v.v…). [1]

Những nhóm văn nghệ sĩ được liên kết một cách tự do, tự nguyện, theo đuổi các hoạt động văn hóa-xã hội có hoặc không có lợi nhuận, hầu hết đều có thể xem như các nhóm lợi ích. Ta thấy rõ, chẳng hạn, một tờ báo tư nhân không thể là một “xí nghiệp công ích”; nó do một người hoặc một nhóm bỏ vốn đầu tư và điều hành hoạt động, hưởng lợi hoặc chịu thiệt hại từ kết quả hoạt động của mình.

TLVĐ gồm 7 thành viên: 1/ Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), 2/ Khái Hưng (Trần Khánh Giư), 3/ Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), 4/ Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), 5/ Thế Lữ (Nguyễn Đình Lễ), 6/ Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), 7/ Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu); các thành viên này cùng với nhiều người khác trong gia đình Nguyễn Tường và một số người thân khác của các thành viên, hoạt động trên 2 tờ tuần báo Phong Hóa (1932-1936), Ngày Nay (1935; 1936-1940), và nhà xuất bản Đời Nay (1934-1945).

So với nhiều nhóm nhà văn khác, khi tụ khi tán, suốt những năm 1930-1945, thì cơ sở ấn loát kể trên của TLVĐ tỏ ra vững vàng hơn hẳn. Tuy nhiên, các cơ sở báo chí xuất bản này không hoạt động như một cơ sở kinh doanh ấn loát bất kỳ nào đó.

Người ta biết, chẳng hạn, nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long hoạt động xuất bản sách báo như một tổ chức sản xuất kinh doanh ấn phẩm, chủ yếu là các loại ấn phẩm văn học; doanh nghiệp này làm ra khá nhiều loại ấn phẩm, cả đều kỳ (tuần san, bán nguyệt san, nguyệt san) lẫn không đều kỳ (sách), quy tụ sự tham gia của khá nhiều nhà văn, dịch giả, nhà biên khảo; tuy vậy, doanh nghiệp này lại không tính đến, thậm chí không chấp nhận sự tập hợp các nhà văn tại đây theo các dấu hiệu đồng thuận về những tư tưởng hay thị hiếu nghệ thuật nhất định. Do vậy, giữa ông chủ Tân Dân và các nhà văn cộng tác với các ấn phẩm của nhà Tân Dân chỉ có các quan hệ lao động (thuê người làm và làm thuê) hoặc thương mại (mua bản thảo, bán bản thảo) mà trong đó sự xung đột lợi ích là khá thường trực (dù không lớn, chủ yếu chỉ xoay quanh vấn đề định mức hoặc cách tính nhuận bút), sự cộng đồng lợi ích tuy vẫn có nhưng là tương đối nhỏ; còn lại, hầu như không có gì gắn bó họ với nhau thành một nhóm lợi ích.

Trong khi đó, các tờ Phong Hóa, Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay ưu tiên hoạt động như công cụ, như phương tiện của nhóm tác gia trong TLVĐ. Nó ưu tiên đăng tải tác phẩm của các thành viên trong nhóm, sau đó mới dành chỗ đăng một số tác phẩm của các cộng tác viên, tức là những người ngoài nhóm ấy, chỉ có liên hệ hoặc thân hoặc sơ với hầu hết hoặc một vài thành viên của nhóm. Ngay sau khi sắp hoàn tất việc đăng báo, các tác phẩm của các thành viên sẽ được chuyển sang khâu in thành sách. Chính nhờ được đặt vào quy trình liên tục này về ấn loát nên các tác phẩm của các nhà văn trong TLVĐ đều được công bố trọn vẹn, hầu như không tác phẩm nào bị dở dang, mất mát (trừ những tác phẩm mới chỉ đăng trên Ngày Nay, kỷ nguyên mới, 1945, ví dụ truyện dài Xiềng Xích của Khái Hưng). Trong sự tiếp cận của các giới sự tầm nghiên cứu hậu thế, đây là một lợi thế khá lớn của các nhà văn trong TLVĐ so với phần đông tác giả đương thời, tác phẩm thường đăng tải trên nhiều tờ báo khác nhau, thường bị gián đoạn do các báo bị đóng cửa hoặc có thay đổi thành phần tòa soạn, rốt cuộc là số tác phẩm bị thất lạc, mất mát không ít.

Cùng với việc đảm bảo tốt khâu công bố tác phẩm cho các nhà văn trong nhóm, TLVĐ còn chú trọng tạo dư luận, gây tiếng vang cho các nhà văn thành viên, xây dựng uy tín, giá trị cho sự nghiệp văn chương của họ. Đây là một chiến lược nhiều mặt, được hai tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay và các thành viên TLVĐ ráo riết thực hiện theo nhiều cách, nhất là trong dăm bảy năm đầu từ khi nhóm này xuất hiện.

Chẳng hạn, người ta có thể thấy, từ khi ra đời (1933) đến khoảng 1938, TLVĐ có chiến lược hạ uy tín những tác gia khác, ngoài văn phái mình.

Trước hết, việc này nhắm vào những người già, những tác gia thuộc thế hệ trước.

Vì sao một trong những thói tật khá phổ biến ở xã hội đương thời là tật nghiện rượu, lại không được các biếm họa trên Phong Hóa gán cho hai gã Lý Toét, Xã Xệ hư cấu, như đối với nhiều thói tật khác, mà lại gán cho một Tản Đà cụ thể? Điều này, vào năm 1937, Vũ Trọng Phụng có lời giải:

“Xưa kia, muốn cho Thế Lữ nổi tiếng về thơ mới, Tự Lực văn đoàn đã phải dùng đến cách làm cho thiên hạ tưởng Nguyễn Khắc Hiếu là một kẻ không có tư cách nhân phẩm gì nữa, khốn nạn vô cùng”. [2]  

 

Cố nhiên, đến những năm 1938-39, TLVĐ sẽ thay đổi thái độ, trên Ngày Nay sẽ có những bài khen ngợi thơ Tản Đà, rồi nhà Đời Nay đề nghị in thơ Tản Đà thành các tập tuyển, v.v… Nhưng ở thời đầu TLVĐ, việc nhóm này đả kích Tản Đà, là điều thấy rõ; đó cũng là lúc phong trào thơ mới đang khởi lên, việc bài xích thơ cũ, khuếch trương thơ mới được xem là một nhiệm vụ lớn mà TLVĐ muốn giành lấy trọng trách.

Có thể nói, TLVĐ, thông qua các biếm họa, hý họa, các mục vui cười trên Phong Hóa, đã tỏ rõ một ý hướng liên tục bôi nhọ thể diện khá nhiều nhân vật uy tín đương thời. Trong số ấy, Tản Đà chỉ là một, và hẳn chưa phải là đối tượng hàng đầu. Bởi, ngay từ đầu, được nhắm đến thường xuyên ở các trang châm biếm, hý hước của Phong Hóa là bộ đôi Vĩnh – Quỳnh.

Nước Nam có hai người tài

Thứ nhất sừ Ĩnh thứ hai sừ Uỳnh  

Một sừ béo múp rung rinh  

Một sừ lểu đểu như hình cò hương 

Không vốn liếng chẳng ruộng nương

Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu 

Bây giờ đang xỉa xói nhau

Người cầu lập hiến, kẻ câu trực quyền

“Thưa các ngài, thực vi tiên,

Muốn xem chiến đấu, quẳng tiền vào đây”  [3]

 

 Bài thơ châm biếm này phải chăng là “hiền lành”, “vô hại”, theo như lời bình của không ít phê bình gia hậu thế? Thưa không! Bởi sự lược quy nghề làm báo vào nghề “buôn bán dư luận”, – xưa cũng như nay, dù là câu đùa cũng vẫn cứ nhuốm màu xuyên tạc độc ác; vả chăng, tại sao văn phái Tự Lực lại loại trừ mình khỏi nghề “buôn bán dư luận” trong khi chính mình cũng làm báo? Ở đây, tư tưởng chính trị của Phạm Quỳnh về một nền “quân chủ lập hiến”, của Nguyễn Văn Vĩnh về thiết chế “cai trị trực tiếp” của chính quyền Pháp, – vốn là hai đề xuất có trọng lượng trong những thảo luận đương thời về tương lai chính trị Đông Dương, – đã bị nhóm Tự Lực đả kích phủ định. Vậy nên, có thể nói, nếu từ thời ấy cho đến tận cuối thế kỷ XX, một bộ phận lớn của công chúng người Việt vẫn còn giữ những định kiến bất công đối với hai nhân vật hàng đầu này của văn hóa Việt Nam thời hiện đại (Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh), thì, góp vào việc xây dựng những định kiến ấy, phổ cập định kiến ấy vào công chúng, không thể không có phần công sức đáng kể của Phong Hóa, Ngày Nay, hai cơ quan của TLVĐ!

Ngay Phan Khôi, cùng thế hệ Tản Đà, người đã rất sớm nhận ra và lên tiếng khen giọng điệu báo chí mới mẻ của Phong Hóa, [4] nhưng đáp lại, Phong Hóa luôn dùng lối diễu cợt để giữ khoảng cách, để dứt khoát gạt Phan Khôi về phái già. Bỏ qua rất nhiều trò chọc ghẹo vốn là đương nhiên khó tránh khỏi của thể tài hài báo, ít ra vẫn có một sai lạc không thể biện hộ, ấy là việc Phong Hóa và TLVĐ tạo ra thành ngữ “lý luận Phan Khôi” với hàm ý chế nhạo.

Trong khi tư duy lô-gích là cái thiếu nhất ở người Việt, trong khi Phan Khôi là nhà báo thể hiện sự cố gắng nhiều hơn hết để nghĩ mới về mọi sự mọi việc, trong khi chính TLVĐ cũng hướng tới cái mới, duy lý, tiến bộ cho văn hóa xã hội Việt, thì chính họ lại dựng lên thành ngữ này, hùa theo luồng định kiến thông tục cũ kỹ trong giới cầm bút vốn đặc trưng cho xu thế thù ghét lý tính, bài xích lý luận của số đông với tâm thế gia trưởng thủ cựu; ở phương diện này, Nhất Linh (nếu ông là tác giả chính của thành ngữ này) chỉ đứng ngang với những cây bút tầm thường, và tỏ ra thấp hơn Phan Khôi rõ rệt.

Nhưng khi đó Nhất Linh và các thành viên TLVĐ đã hành động theo lợi ích nhóm, mà chiến lược là hạ uy tín của những “đàn anh” trong báo giới văn giới, bất kể là ai.

Mãi đến năm 1939, người ta mới thấy Ngày Nay in một bài của Phan Khôi về “lịch sử tóc ngắn” với lời dẫn vừa phải. [5] Đó có thể xem là cử chỉ giải hòa của TLVĐ đối với người đàn anh này chăng?

Một trong những cách nữa để TLVĐ tạo sự chú ý đến sáng tác của các nhà văn trong nhóm là gây ra những sự cố. Tố cáo cây bút nào đó, càng có tên tuổi càng tốt, dường như đã “ăn cắp” tác phẩm của nhà văn nhóm mình, ‒ là một thủ đoạn đắc sách. Theo cách này, đầu năm 1936, Phong Hóa phao lên rằng Nguyễn Công Hoan đã “chịu khó sưu tầm để viết Lá Ngọc Cành Vàng giống Nửa Chừng Xuân, Cô Giáo Minh giống hệt Đoạn Tuyệt”. [6]

Cách tạo dư luận ở đây là tận dụng, lạm dụng văn trào lộng, hý hước, để khi bị chất vấn theo lối nghiêm chỉnh thì trả lời: đấy chỉ là một câu khôi hài. Nhưng họ biết, lời nói đùa có thể được công chúng tin chắc hoặc ngờ ngợ tin là thật, vì thế dù sao Nguyễn Công Hoan cũng phải lên tiếng, tuy ông chỉ nhấn mạnh rằng ý tứ truyện Cô Giáo Minh trái hẳn với Đoạn Tuyệt. [7] Đến lượt Khái Hưng đáp lại, khăng khăng giữ nhận định riêng: hai cuốn Cô Giáo MinhĐoạn Tuyệt  “giống nhau lắm”, rồi đánh trống lảng, chuyển câu chuyện sang trò chơi phán đoán về giá trị: cuốn nào hay hơn sẽ còn lại, tất nhiên là lộ rõ cái ý: sách của tác giả TLVĐ nhất định phải hay hơn! [8]

Đặt trong tình trạng khá đa dạng về văn phái, về báo chí văn học đương thời, giọng điệu khẳng định tác phẩm của văn phái mình hay hơn các văn phái khác, báo mình xử sự tốt đẹp hơn báo khác, ‒ hầu như là một kỹ thuật phòng ngự-phản công rất mực phổ cập. Các báo Phong Hóa, Ngày Nay của TLVĐ không nằm ngoài ứng xử ấy. Khác với thái độ công bằng của Phan Khôi trong vai trò “Ngự sử đàn văn”, các trang Phong Hóa trên đó Hàn Đãi Đậu nhặt nhạnh “những hạt đậu dọn” trong vườn văn thiên hạ, thường lưu ý bắt bẻ những sai sót, lầm lạc trong thơ văn các tác giả khác, chứ gần như không khi nào động đến tác phẩm các thành viên TLVĐ.

Sự hoạt động liên tục của các trang này – bên cạnh tác dụng cảnh báo giới viết văn viết báo đương thời về nhiệm vụ làm sáng sủa câu văn tiếng Việt – còn mang lại những kết quả chỉ có lợi riêng cho TLVĐ, tạo cho văn đoàn này và các thành viên của nó một thế đứng trên, thế đứng đàn anh, áp đảo đối với các cá nhân nhà văn cũng như các văn phái khác, đương thời. Các tờ báo của TLVĐ có mặt liên tục trong gần 10 năm, cho nên áp lực mà họ tạo ra trong đời sống văn nghệ đương thời là rất mạnh, khiến họ mặc nhiên được xem như nhóm văn nghệ chi phối diện mạo văn học những năm 1930-40. Chỉ cần đọc hồi ức Nguyên Hồng về lần đầu tiên được gặp Thế Lữ, khoảng 1934-35 ở Hải Phòng, cảm nhận cảnh người anh họ sang trọng, tài cao, học cao, hỏi han ban phát và khích lệ người em họ nghèo khó ham học ham viết, [9] là có thể hiểu vì sao, khi nói tới Vũ Trọng Phụng, báo Ngày Nay lại sẵn sàng miệt thị ông là “nhà văn xã hội kỳ quặc” chuyên “lòe độc giả bằng cái học vấn sơ học của mình”. [10]

Giới nghiên cứu hậu thế hiện nay thường hướng cái nhìn ngưỡng mộ về di sản của TLVĐ, song cũng nên biết một phần dư luận đương thời đối với văn đoàn này ra sao. Người ta không khó để thấy được tìm được những ví dụ loại này ở báo chí Hà Nội đương thời.

Xin dẫn một số ý kiến độc giả gửi tới Hà Nội Báo, biểu đồng tình với việc báo này phê phán TLVĐ, nhân những tranh luận giữa tuần báo này với Phong Hóa, từ đầu năm 1936 cho tới khi Phong Hóa bị đóng cửa.

 Các độc giả này kể ra ba cái tội của báo Phong Hóa là:

1/ chế diễu cái ngu dốt của dân quê:

“Bọn Lý Toét, Xã Xệ không phải là bọn độc ác, không phải là cái “họa” cho xã hội, trái lại họ hiền lành, tâm hồn ngay thật, một hạng người vô sản khổ sở đáng thương hơn đáng cười […] Thế sao Phong Hóa lại nêu ra làm trò? [….]  lấy cái thông minh (!) của mình mà chế diễu cái ngu dốt của người, có nên không?”  (ý kiến ông Thiện Quả); [11]

2/ chế diễu những người tàn tật:

“Chế diễu cái say của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã là quá lắm rồi, vì đó là cái đời tư của người ta, nhưng đến cái lỗ mũi to và hơi đỏ đỏ ở trên mặt nhà thi sĩ ấy, thì đã có tội tình gì, mà có một độ, các ông đưa ra làm đầu đề cho biết bao bức hí hước? […] Trên mặt báo Phong Hóa, đã biết bao lần, các ông đưa những người ấy ra làm trò cười cho một hạng người dư ăn dư để! Thật ra cái pha trò ấy, người có chút ít giáo dục, ai chịu được? Một bức tranh vẽ một người mù bị sa hố chẳng hạn, có thể làm cho một đám trẻ con đua nhau cười rũ rượi. Rồi đám trẻ con ấy hẳn phải nhờ Phong Hóa mà biết khinh ngạo người tàng tật nghèo khổ?!” (ý kiến ông Phạm Văn Tính); [12]

3/ dìm đồng nghiệp: “Không có một cách cạnh tranh bất chính nào là Phong Hóa không dùng tới, để dìm đồng nghiệp xuống. Bất kỳ một tờ báo nào mới ra cũng bị Phong Hóa nói xỏ nói xiên, nói châm nói chọc, có khi kéo cả đại đội ra để công kích. Họ công kích như vậy để làm gì? Cốt cho đồng nghiệp lùi đi, để trên bãi cỏ xanh, chỉ còn một mình họ ăn…” (ý kiến ông ĐặngThế Xương).[13]

Như vậy, có thể nói, trong tầm nhìn của công chúng đương thời, tiếng nói của TLVĐ không phải chỉ có một chiều được hưởng ứng, đồng tình, mà còn gây không ít những phản cảm, phản kháng.

Nhìn vào hoạt động ngôn luận của các thành viên TLVĐ, có thể thấy rõ rằng, khi đang hoạt động trong văn đoàn, họ luôn luôn giữ thái độ nhất quán của văn đoàn đối với mọi vấn đề, mọi sự việc trong đời sống văn nghệ. Chỉ sau khi đã ra khỏi quỹ đạo của TLVĐ, họ mới bộc lộ ý kiến riêng, thái độ riêng.

Trường hợp Thế Lữ hay Xuân Diệu bộc lộ khá rõ ứng xử ấy.

Đứng trong TLVĐ, Xuân Diệu trước sau bảo vệ quan niệm thơ mới của “trường phái Tự Lực”, tức là bảo vệ lối thơ mới kiểu Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận,… chứ không thừa nhận thành tựu sáng tác thơ của các tác giả ngoài văn đoàn, bất kỳ là ai. Xuân Diệu từng viết các bài mang tính luận chiến chống kiểu thơ tượng trưng, siêu thực của Hàn Mặc Tử, Bích Khê, điều này có thể giải thích được, vì hướng của các nhà thơ này đưa thơ đi ra khỏi phạm vi lãng mạn duy lý quen thuộc với “trường phái Tự Lực”. Nhưng ngay đối với những nhà thơ khá tương đồng về kiểu sáng tác, ví dụ Huy Thông, thì “trường phái Tự Lực” cũng bài xích. Thế Lữ trong vai Lê Ta của những dòng “tin văn … vắn” đã không ít lần bới móc những ý tứ tiểu tiết dường như là vô lý trong thơ Huy Thông, chẳng hạn Lê Ta rất cố gắng chứng minh cô Tần Ngọc mà nhà thơ Huy Thông gửi gắm tâm sự kia, thật ra là một nữ nhân vật bịa tạc! Sự việc ấy xét ra chẳng có gì hại gì đến luân lý, nhưng sở dĩ bị bới móc, có thể chỉ vì Huy Thông là người thuộc nhóm Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, nhóm gắn với tờ Hà Nội Báo vốn xung khắc với TLVĐ.

Mãi đến năm 1946, khi Xuân Diệu là nhà báo tham gia phái đoàn Phạm Văn Đồng sang Pháp, có gặp Phạm Huy Thông và đem bài thơ “Chào sứ giả của tự do” thi sĩ này tặng phái đoàn về đăng bán nguyệt san Tiên Phong (của Hội văn hóa cứu quốc). Rồi năm 1955, cựu thành viên TLVĐ ấy mới lần đầu tiên viết về nhà thơ này, khẳng định “Huy Thông là một thi sĩ Việt Nam nổi tiếng đã gần 25 năm nay. Tác giả Tiếng địch sông Ô để lại cho những người đã đọc thơ mình một cảm tưởng hùng mạnh, trẻ trung đến nay chưa xóa nhòa trong trí nhớ.” [14] Vẫn còn “trong trí nhớ”, tức là Xuân Diệu đã biết từ lúc Tiếng địch sông Ô  ra đời, nhưng nhất quyết không nói đến viết đến, khi Xuân Diệu còn là người của TLVĐ, vì đó là thành tựu sáng tác của một tác gia ngoài văn đoàn mình!

Nhìn chung, thái độ thường là kẻ cả, trịch thượng của các thành viên TLVĐ đối với các nhà văn và các nhóm văn nghệ khác đương thời, một mặt tạo cho họ uy thế, sự thán phục, sự lắng nghe, sự bắt chước, học theo làm theo, từ phía những cây bút khác, nhất là số người đang tập tành nghề viết; nhưng mặt khác cũng tạo khoảng cách giữa các nhà văn trong TLVĐ đối với các nhà văn khác. Khoảng cách này có thể đã khiến hầu hết các nhà văn trong TLVĐ xem thường, không tính đến, không xem xét, không tiếp nhận kinh nghiệm từ các nhà văn ngoài TLVĐ; đây là điều không hay, thậm chí có hại cho con đường sáng tác của họ.

Các nhà thơ mới trong TLVĐ, – chủ yếu là Thế Lữ và Xuân Diệu – chứng tỏ được vai trò dẫn đầu ở giai đoạn đầu của phong trào thơ mới; sáng tác của hai ông có thể được xem là đỉnh cao của thơ mới thời đầu, tạm gọi là kiểu thơ lãng mạn duy lý (cảm xúc lãng mạn, ngôn ngữ duy lý).

Nhưng phong trào thơ mới không dừng lại ở đó. Từ những năm 1938 – 1940, trong phong trào vừa thấy có hướng siêu thực, tượng trưng (trường thơ Bình Định, “trường thơ loạn”, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên), vừa thấy có hướng tìm lại chất trừu tượng phương Đông (nhóm Xuân Thu Nhã Tập, với Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh), vừa thấy có hướng tìm lại hồn thơ và chất liệu thơ Việt dân gian (nhóm Bắc Hà với Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Giản Chi, Nguyễn Bính), v.v…

Trong tình hình ấy, nhóm thơ TLVĐ tuy có phát hiện thêm được một số giọng thơ mới (Huy Cận, Tế Hanh) làm tăng thanh thế cho nhóm mình, nhưng có vẻ như cả hai người chủ trì, Thế Lữ, Xuân Diệu, quá tự tín, chỉ lên tiếng phê phán chứ không thừa nhận sự hữu lý của các hướng phát triển mới trong phong trào thơ tiếng Việt. Việc nhà Đời Nay in tập thơ Mây (1943) của Vũ Hoàng Chương chưa đủ tỏ độ cởi mở của TLVĐ đối với các nhà thơ ngoài nhóm ấy. Trong khi đó, chính sáng tác thơ của hai cây thơ chủ chốt này của TLVĐ đã bắt đầu tỏ ra khô cạn. Sau khi cho in Mấy vần thơ, tập mới (1941), Thế Lữ cạn nguồn thơ, chuyển sang hoạt động sân khấu, và trên thực tế cũng dần dần rời khỏi TLVĐ. Còn Xuân Diệu thì sau tập Thơ Thơ (1938), bản thảo tập Gửi hương cho gió đã không được nhà Đời Nay của TLVĐ đứng in, phải đưa in ở nhà xuất bản Thời Đại (1945), tên tác giả Xuân Diệu ở tập này không còn gắn với TLVĐ như tập trước mà chỉ còn gắn với bộ đôi Huy – Xuân. Sau tháng Tám 1945, Xuân Diệu dần dần gắn với bán nguyệt san Tiên Phong của Văn hóa Cứu quốc, và hoàn toàn cách ly với địa chỉ 80 Grand Buddha (Quán Thánh) khi ấy là tòa soạn của tờ Ngày Nay, kỷ nguyên mới !

Các nhà văn trong TLVĐ từng khiến giới viết truyện đương thời cảm phục và gắng sức đua theo, vì kiểu tiểu thuyết luận đề là do họ đề xướng và cho ra mắt những sản phẩm đầu tiên. Song, mô hình tiểu thuyết luận đề chỉ có thể là điểm xuất phát chứ chưa thể là giải pháp cho mọi vấn đề của sáng tác văn xuôi tự sự bằng tiếng Việt ở thời đại mới. Những tiểu thuyết luận đề đầu tiên ra mắt chừng vài ba năm là đã thấy xuất hiện các sáng tác cùng kiểu thức ấy của những cây bút ngoài TLVĐ. Quá trình văn học diễn ra trong chưa đầy 20 năm đã làm xuất hiện một nền tiểu thuyết khá phong phú với rất nhiều tác giả và tác phẩm. Tuy vậy, điều đáng nói lại là, nếu như các cây bút văn xuôi trong TLVĐ đã in dấu vào mô hình thể tài tự sự này ở điểm khởi đầu, thì chính họ lại không có sản phẩm nào nằm trong sự kết tinh của cả quá trình phát triển ấy. Quả thật, không có tác phẩm nào đáng gọi là kiệt tác trong số các tiểu thuyết TLVĐ. Bởi nếu nói đến kiệt tác ở văn xuôi tự sự hư cấu giai đoạn ấy, người ta chỉ kể được Số Đỏ (của Vũ Trọng Phụng) và Chí Phèo (của Nam Cao), hai tác phẩm của hai nhà văn ngoài văn đoàn Tự Lực.

Lý giải điều này là việc không dễ.

Tuy vậy, có thể nghĩ tới một trong những lý do là sự quá tự tín của các nhà văn trong TLVĐ. Họ đã nghĩ một cách nghiêm chỉnh đến việc tiếp nhận kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn Âu Tây, nhưng họ lại hầu như hoàn toàn xem thường kinh nghiệm sáng tác của giới viết văn người Việt cùng thời với mình.

Chẳng hạn, về ngôn ngữ, họ chủ trương và thực hành việc viết bằng một thứ tiếng Việt trong sáng, giản dị, dễ hiểu, song họ hầu như không để ý đến việc những người viết văn đương thời thể nghiệm hoặc xử lý ra sao đối với chất liệu đời sống Việt Nam hoặc chất liệu ngôn ngữ tiếng Việt. Hoặc, họ có hầu như ngay từ đầu những ý tưởng về nhu cầu thoát khỏi chế độ đại gia đình để tìm đến kiểu gia đình hạt nhân, vốn phù hợp với sự phát triển con người cá nhân của một lớp thanh niên mới xuất hiện trong xã hội thuộc địa Âu hóa những năm 1920-30; song họ có khá ít sự hiểu biết về các tầng lớp dưới, ở cả thôn quê lẫn đô thị cũng đương thời ấy. Thế nhưng họ lại xem thường những khảo sát về những lớp người ấy do các nhà văn nhà báo bên ngoài văn phái họ thực hiện.

Công việc viết phóng sự cho báo chí chẳng hạn, đem lại cơ hội cho người viết đến trước ít ra hai vấn đề lớn của sáng tác tiểu thuyết: sự nghiên cứu đời sống và sự miêu tả ngôn ngữ.

Đời sống mà nhà văn nhà báo tiếp cận theo lối phóng sự đưa lại những nhận xét, nhận định về người và việc, những xu hướng, thói tật, vấn đề, v.v… mà rồi ra chính họ có thể đưa trở lại trang viết với mức độ hư cấu rộng rãi hơn.

Cũng chính diện mạo cụ thể của con người các vùng miền mà nhà văn nhà báo xúc tiếp khi thực hiện các phóng sự buộc họ phải xử lý các dạng biệt ngữ, phương ngữ (so với các chuẩn mực nào đó), phải dần dà làm công việc miêu tả ngôn ngữ – tức là cho thấy những con người đương thời đang nói năng ra sao. Những thực hành loại này đã từ báo chí đi vào văn chương, từ phóng sự đi sang tiểu thuyết. Từ Nguyễn Công Hoan đến Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, rồi Vũ Bằng, Nguyễn Đình Lạp, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, v.v…, trên thực tế đã thể nghiệm cái thao tác mà M. Bakhtin coi như một trong những nội dung chính của sự sáng tạo trong nghệ thuật viết tiểu thuyết. [15] Một trong những điểm đặc sắc của Số Đỏ  và Chí Phèo, có thể nói, là đặc sắc về ngôn từ tự sự, những đặc sắc cho phép các tác phẩm này không chỉ tiêu biểu cho xu hướng “tả thực” mà còn có khả năng mở sang văn xuôi tư sự thuộc các xu hướng hiện đại, thậm chí “hậu” hiện đại !

Trong khi đó, có vẻ như các tác gia trong TLVĐ hầu như đứng ngoài sự nghiên cứu đời sống, đứng ngoài hoạt động miêu tả ngôn ngữ. Mấy tác gia hàng đầu của tiểu thuyết TLVĐ như Nhất Linh, Khái Hưng dường như quá tự tín khi đưa ra các luận đề mà họ cho là các vấn đề chính của xã hội và con người Việt Nam đương thời. Cố nhiên họ đã có lý – và đã đắc thắng – trong một thời gian nhất định. Song việc coi thường những đồng nghiệp “học vấn sơ học” tìm tòi ra sao trên những vấn đề của đời sống Việt, và cả những màu sắc ngôn từ, ở những vùng miền cụ thể, đã khiến những sáng tác về sau của họ yếu dần về độ sâu sắc của các vấn đề đời sống con người, nhạt nhòa dần về màu vẻ của ngôn từ nghệ thuật.

Các tiểu thuyết của họ có văn phong sáng sủa, mực thước, nhưng cả tác giả, người kể chuyện lẫn các nhân vật trong truyện đều nói cùng một giọng, mọi nhân vật đều nói như nhau, hầu như không cho thấy các sắc thái giọng nói.

Đấy chỉ là một trong số những dấu hiệu về sự khác biệt, song lại là khác biệt về “bí kíp” của sự nhạt nhẽo ngày càng lộ rõ trong ngôn ngữ của các tác gia văn xuôi TLVĐ, so với những sắc giọng đậm và mặn, có khi thô lỗ, có khi tục tằn, in dấu khẩu ngữ, biệt ngữ, phương ngữ trong mạch văn của không ít tác gia ngoài TLVĐ.

Mà đấy chỉ là một trong những ví dụ về hệ quả của thế đứng cách bức, trịch thượng và xa lạ, của TLVĐ so với những nhà văn đương thời ngoài nhóm ấy.

Điều đó gây thiệt hại cho họ, cho văn chương, chứ không phải cái gì khác.

Tháng Tám – tháng Chín 2013

LẠI NGUYÊN ÂN

đã đăng tạp chí NGHIÊN CỨU VĂN HỌC,Hà Nội, s. 12 (tháng 12/2013), tr. 112-121.

Chú thích

[1]  Về khái niệm “nhóm lợi ích”, tác giả có tham khảo 2 tài liệu: 1/ V.I. Pantin, Gruppy interesov // Federalnyj obrazovatelnyj portal, 14 Maja 2012 (chữ Nga); 2/ Alan Phan, Lợi ích từ … các nhóm lợi ích // tuanvietnam.vietnamnet.vn, 26/5/2011 (chữ Việt).

[2]  Vũ Trọng Phụng: Để đáp lời báo “Ngày Nay”: Dâm hay là không dâm // Tương Lai, Hà Nội, s. 9 (25.3.1937)

[3]  Phong dao mới // Phong Hóa, Hà Nội, s. 14 (22 Septembre 1932), tr. 2. 

[4]  Bài có lẽ sớm nhất của Phan Khôi về Phong Hóa là bài “Vẽ hình” trong mục “Những điều nghe thấy” ký Thông Reo (Trung Lập, Sài Gòn, ngày 5 và 6 Février 1933).

[5]  Xem: Phan Khôi: Lịch sử tóc ngắn // Ngày Nay, Hà Nội, s. 149 (15 Fevrier 1939).

[6]  Xem: Xuân thủ đâm ân // Phong Hóa, Hà Nội, s. 172 (31 Janvier 1936), tr. 3 (Lưu ý: đây là nhại mấy từ “Xuân thủ đàm ân” /= đầu xuân nói việc ơn ích/ mà các báo đương thời thường đặt làm tên mục thông tin những việc thăng thưởng cho quan lại, viên chức; tòa soạn Phong Hóa ghi chú từ “đâm” là “nẩy ra đâm ra”; đây là một trong rất nhiều mục châm biếm, hài hước  thường xuyên trên báo Phong Hóa).

[7]  Nguyễn Công Hoan: Từ “Đoạn Tuyệt” đến “Cô Giáo Minh” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 9 (4 Mars 1936), tr. 8-9. 

[8] Khái Hưng: Cùng ông Nguyễn Công Hoan // Phong Hóa, Hà Nội, s. 177 (6 Mars 1936), tr. 4 (đăng lại trên Hà Nội Báo, s. 11, ngày 18 Mars 1936, tr. 9-11)

[9] Nguyên Hồng: Nhà thơ ở Ngõ Nghè (trích hồi ký “Bước đường viết văn”, 1970) trong sách: Thế Lữ, Cuộc đời trong nghệ thuật, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 1991, tr. 57-68. 

[10] Nhất Chi Mai: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không dâm? // Ngày Nay, Hà Nội, s. 51 (14 Mars 1937), tr. 137 [báo đánh số trang theo thứ tự trong bộ báo cả năm] 

[11]  Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 13 (1 April 1936), tr. 11 – 12.

[12]  Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 14 (8 April 1936), tr. 8.

[13]  Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 15 (15 April 1936), tr. 21.

[14] Xuân Diệu: Thi sĩ Phạm Huy Thông, chiến sĩ của hòa bình // Văn nghệ, Hà Nội, s. 65 (11.3.1955), tr. 1, 8. 

[15]  M.M. Bakhtin: Ngôn ngữ tiểu thuyết, in trong: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu. Hà Nội: Trường Viết văn Nguyễn Du, 1992, tr. 78-139.