Trang chủ » Posts tagged 'Truyện Kiều'

Tag Archives: Truyện Kiều

ĐÔNG HỒ BÀN VỀ QUỐC VĂN, bài 2

QUỐC VĂN NAM VIỆT

                        Có nhờ học bằng tiếng nước nhà thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được

C’ est parce que nous avons été instruits dans notre propre langue que nos esprite se sont éveillée

RABINDRANATH  TAGORE

 

Khi một dân tộc đã phải mắc vào vòng nô lệ mà còn khéo giữ được tiếng nước nhà thì cũng như còn giữ được cái chìa khóa để mở cửa ngục giam mình

Quand un people tombe en esclavagetant quil tient bien sa languecest comme sil tenait la clef de sa prison

ANPHONSE DAUDET

 

LỜI NÓI ĐẦU. – Bài trước đã lược thảo qua cái đại để sự cần yếu và sự lợi ích việc học chữ quốc ngữ. Bài này hẵng xin phân tích ra từng điều từng lẽ mà bàn lại một lần nữa cho thật rõ ràng tường tận, mong được nhiều thức giả chú ý đến. Theo như lời Anphonse Daudet tiên sinh vừa kể trên kia thì vấn đề quốc ngữ là vấn đề quan trọng nhứt mà cũng là khó khăn nhứt. Hễ vấn đề nầy mà giải quyết xong thì mọi cái vấn đề khác trong nước sớm trưa rồi tất cũng giải quyết được. Như thế thì ta há dám khinh thường mà không lưu tâm chú ý đến ru?

                                                                                                    ĐÔNG HỒ    

Cổ kim đông tây đều thường nói, nước sống được là nhờ ở quốc hồn. Nhưng quốc hồn là một khối hồn nhiên một khối siêu hình, chỉ lấy trí từng người mà tưởng tượng thì cũng còn mơ màng phảng phất quá, không lấy gì làm bằng cớ nhứt định được. Tất cũng phải có một cái gì làm tiêu biểu rõ ràng, bằng cớ hiển nhiên cho cuộc sinh hoạt của một dân tộc một quốc gia mới được. Muốn biểu lộ cái quốc hồn ấy cho rõ ràng đích đáng thì chỉ có lấy quốc âm mà thôi. Quốc âm tức là cái tiếng nói riêng của một giống dân, hình như Tạo Vật đã uốn đầu lưỡi mà khẩy lên cái tiếng thiên nhiên kia, trong trí nghĩ được thế nào là tự nhiên buột miệng nói lên thế ấy, khỏi phải tập luyện sửa sang gì cả. Tiếng nói ấy là tiếng nói riêng của một giống dân không có giống dân nào bắt chước nói cho rõ ràng đúng hệch tiếng nói của một giống khác được.

Nhưng tiếng nói chỉ thoáng qua là hết. Nay muốn giữ lại tiếng nói ấy thì tất phải có một thứ chữ để ghi chép lại. Chữ ấy tức là quốc văn vậy. Chữ của một nước nào, là quốc văn của nước ấy, từ những câu ca dao thật thà ở chốn thôn quê mộc mạc cho đến lời văn thơ chải chuốt chỗ thi xã văn đàn đều là quốc văn cả. Quốc văn mà được phong phú tốt đẹp thì quốc hồn mới được tươi tỉnh sáng suốt, quốc vận mới nhơn đó mà được vẻ vang rực rỡ. Đã làm người dân trong nước thì ai lại không muốn cho nước mình vẻ vang vì nước có vẻ vang thì mình sống ở trong ấy mới được thảnh thơi.

Nay muốn cầu cho quốc vận được vẻ vang rực rỡ thì tất phải giữ cho có quốc hồn được tỉnh tươi sáng suốt, mà muốn giữ cho quốc hồn tỉnh tươi sáng suốt là phải bồi luyện cho quốc văn được phong phú tốt đẹp. Thế thì nghĩa vụ trách nhiệm của người dân trong nước là phải học tập lấy chữ quốc ngữ mình để bồi đắp cho nước nhà có một nền quốc văn cho thật xứng đáng vững vàng. Nước sống được là ở đó.

Nay người nước Nam tất cũng muốn cho nước mình sống được vẻ vang thì tất ai cũng muốn lo học tập chữ quốc ngữ để tu luyện lấy cái hồn mình tức là bồi dưỡng lấy cái hồn nước Nam Việt nầy để khỏi bị đào thải trong trường thiên diễn.

Lý thuyết thì phân minh ra như thế, nhưng đã có thể thực hành được chu tất hay không?

Nước ta lập quốc hơn bốn ngàn năm nhưng dân ta chưa từng có cái thời kỳ nào được công nhiên học chữ quốc ngữ. Trước kia nước nội thuộc Tàu thì dân phải học chữ Tàu, sau nầy nội thuộc Pháp thì dân phải học chữ Pháp. Thỉnh thoảng cũng có xuất thế mất vài áng văn quốc ngữ là do những nhà văn gia thi sĩ trong lòng đã chứa chan cái hồn của non sông nòi giống mà phát lộ ra lời thơ văn, nhưng đó chỉ đủ làm những món ngâm nga trong khi tửu hậu trà dư, chớ chưa phải là có một nền quốc văn xứng đáng để làm món quốc dân giáo dục được. Nếu cứ như thế mãi thì hai mươi triệu người Việt Nam trước kia là hai mươi triệu người Hán sau nầy là hai mươi triệu người Tây, tiếng Việt Nam sẽ không còn người nói nữa, chữ Việt Nam sẽ không còn người học nữa. Tiếng Việt Nam mà đến ngày tiêu diệt thì nước Việt Nam cũng chẳng còn là nước Việt Nam nữa rồi. Than ôi! chẳng phải tiêu diệt là gì! Nhưng mà may, non sông Việt Nam còn thiêng, nòi giống Việt Nam chưa dứt, khiến cho dân Việt Nam còn có người biết giựt mình trong giấc mơ màng thì cái “hang tiêu diệt” kia đã sờ sờ trước mắt, nếu còn bước tới nữa thì tất sa ngay vào cái gành sâu vực thẳm kia! May mà cũng còn ngày giờ để hồi đầu lại mới kêu gọi dắc dìu nhau mà chạy về để giữ lấy cái căn bổn của mình. Người tỉnh trước thì kêu gọi cho người tỉnh sau, để lo việc học tập quốc ngữ, bồi luyện quốc văn cho trong nước có một nền quốc dân giáo dục bằng chữ “mẹ đẻ” cho xứng đáng. [hết kỳ 1]

Hầu mười năm nay, các báo chí trong nước đều hô hào cổ động về việc “người Việt Nam phải học chữ Việt Nam” luôn. Một mặt thì phân trần cho người mình hiểu mọi lẽ lợi hại, một mặt trình bày hơn thiệt với chánh phủ để sửa đổi lại chương trình học trong nước, xin lấy chữ quốc ngữ làm món học chánh để chữ Pháp làm món học phụ như chữ ngoại quốc mà trước kia từ khi nhà nước Pháp đặt bảo hộ chỉ cho dạy ròng một món chữ Pháp mà thôi. Về phần chánh phủ thì sau khi một thời kỳ quốc dân bàn bạc yêu cầu, kẻ tán thành cũng lắm, mà người phản đối cũng nhiều, mãi đến ngày 18 tháng 9 tây năm 1924 nha học chánh Đông Pháp mới ký nghị định sửa đổi lại điều thứ 134 trong học chánh tổng quy, cho lấy chữ quốc ngữ dạy ba lớp dưới bậc tiểu học. Đó cũng chưa phải là đủ, nhưng được chút nào nên mừng chút ấy mà lợi dụng, dần dần rồi cũng sẽ đến ngày được hoàn toàn. Thế là từ ba năm nay, con trẻ trong nước Nam đã được công nhiên học tiếng mẹ đẻ mà chữ quốc ngữ từ đó cũng đã có một cái địa vị xứng đáng trong học giới và dân Việt Nam đã cũng có một nền quốc dân giáo dục hẳn hòi, không phải cái thân phận ăn gởi nằm nhờ như trước nữa.

Nhưng việc gì cũng vậy, làm ra tất cũng có chuyện ngăn trở mà không được trót lọt bao giờ. Về phần chánh phủ thì nhọc nhằn trong bao nhiêu lâu mới được đến ngần ấy. Còn về phần quốc dân thì không phải ai ai cũng đồng như một ý kiến cả thảy, tất cũng còn có người phản đối luôn. Phản đối về việc nầy thì rất nhiều phương diện, bàn đi nói lại cũng đã lắm nhưng xem chừng cái phong trào phản đối cũng chưa tắt hẳn. Nay tôi xin chia ra từng phương diện mà bàn lại một lần nữa, cũng chẳng phải là mới lạ gì, nhưng người ta thường coi qua rồi bỏ, nên đây cũng chỉ là ôn lại những ý kiến của các nhà mà thôi.

Những người phản đối việc học quốc ngữ là định muốn lấy chữ Pháp thay vào làm quốc văn Nam Việt, và ngờ cho tiếng nước nhà về mấy lẽ nầy:

1/ Chữ Việt Nam còn nghèo ngặt thiếu thốn, sao cho bằng sẵn chữ Pháp là một thứ chữ phong phú phong thú, ta lấy đó làm quốc văn khỏi phải tầm kiếm sưu tập công phu gì nữa, thì chẳng là tiện lợi dễ dàng hơn ru?

2/ Chữ Việt Nam chưa có thế lực gì, chỉ quanh quẩn trong một khoảng đất nước nhà, sao bằng chữ Pháp là một thứ chữ đã có thế lực lan rộng hầu khắp thế giới, thì học chữ Pháp chẳng là có ích lợi nhiều hơn ru?

3/ Nước Nam ngày nay ở dưới quyền nước Pháp bảo hộ thì chữ Pháp đã thành một thứ chữ “quan thoại” một thứ chữ “cai trị” thì người mình phải học chữ ấy mới có thể giao thiệp với chánh phủ mà vận động việc chánh trị được.

4/ Việc cho dân Việt Nam học chữ quốc ngữ ở lớp dưới bậc tiểu học là làm trở ngại việc học trong nước; đó chỉ là làm mất thì giờ học chữ Pháp của con trẻ mà thôi.

5/ Những khoa học chuyên môn mới: cơ xảo, kỹ nghệ là những cái học giàu dân mạnh nước ngày nay, chữ quốc ngữ không thể diễn dịch hết được những danh từ chuyên môn ấy thì nếu không học trực tiếp ngay với chữ Pháp thì dân ta biết đến ngày nào mới theo kịp bằng người?

 

Nay đem từng lẽ ra mà bàn giải:

1/ “Chữ Việt Nam nghèo ngặt thiếu thốn” là một câu đầu lưỡi của phần nhiều người mình. Có suy nghĩ cho kỹ một chút thì thấy câu ấy là một câu thậm vô lý. Vả nói chữ Việt Nam nghèo thiếu đó là đem so sánh với chữ Pháp chữ Tàu chớ không bao gờ chữ trong một nước nào mà không đủ cho người trong nước ấy dùng bao giờ. Tùy trình độ dân trí, nếu trình độ dân trí còn thấp hẹp quá thì chữ tự nhiên phải thiếu kém, nếu trình độ dân trí cao được đến ngần nào thì chữ tự nhiên cũng nhiều được đến ngần ấy và bao giờ cũng đủ chữ diễn xuất được các tư tưởng cả.

Thiếu kém hay giàu đủ đó là do tư tưởng tri thức của người ta thấp hẹp hay cao rộng chớ nào phải tại chữ. Phàm trong trí tư tưởng suy nghĩ đã chánh rồi thì tự nhiên muốn nói ra cũng rõ ràng mà chữ dùng cũng tự nhiên đến dễ dàng. Có người nói ra ba câu tiếng ta chưa xong, rồi lại đổ vạ rằng: “Tôi thiệt không sao nói bằng tiếng Việt Nam được, vì nó không đủ để diễn xuất những tư tưởng cao kỳ”. Khôn nói được bằng tiếng nước nhà là bởi trong óc không tư tưởng bằng tiếng nước nhà mà những người nói như thế vị tất đã là có tư tưởng gì cao kỳ, vì nếu họ thật có tư tưởng gì cao kỳ thì họ đã không nói ra những câu quá ư vô lý vô vị mà chê bai khinh rẻ chữ nước nhà như thế bao giờ. Thế thì tiếng nói của một nước không đủ dùng là không đủ dùng cho người không biết dùng, chớ vẫn đủ dùng cho người biết dùng. [hết kỳ 2]

Lợi việc so sánh: Lấy một câu chữ Tàu hay một câu chữ Pháp mà dịch ra tiếng ta không được hết ý tứ trong nguyên văn mà nói đó là tiếng ta nghèo cũng vị tất là chánh đáng, vì nay thử lấy một câu ca dao hay một câu ngạn ngữ ta mà dịch ra chữ Tàu hay là chữ Pháp thì tưởng cũng không bao giờ dịch sao cho hết được ý tứ tinh thần trong nguyên văn, như thế thì chẳng là chữ Tàu chữ Pháp nghèo hơn chữ ta hay sao? Sự dịch một thứ chữ qua một thứ chữ mà không được đúng là do cái tinh thần riêng của từng thứ chữ, chớ nào phải chữ nào nghèo hơn chữ nào đâu, mà nói cho đúng hơn nữa thì cái tinh thần ấy cũng không phải là cái tinh thần của chữ mà chính là cái tinh thần của cả một non sông nòi giống thì không bao giờ có tinh thần của một dân tộc nào mà giống cái tinh thần của dân tộc nào được. Lẽ ấy là một lẽ hiển nhiên rồi tưởng ai tri thức tầm thường thế nào cũng phải công nhận lẽ ấy là đúng vậy.

Còn nói chữ Pháp tốt đẹp thì không ai dám cãi, nhưng nói chữ Pháp giàu dư tốt đẹp mà muốn lấy làm quốc văn Nam Việt thì nếu người biết nghĩ một chút còn ai dám công nhận được. Nói như thế thì có khác gì nói như thế nầy: “Cái nhà tranh của ông cha cất ra cho ta ở đây thấp hẹp xấu hèn. Chà, đàng kia có cái lâu đài cao rộng quá, vậy ta hãy bỏ cái nhà xấu hẹp nầy mà ta nhắm mắt cắm đầu chạy liều lại trong lầu đài kia mà ở với họ, chẳng là sung sướng yên ổn hơn ru?” Ta nên biết rằng cái nhà tranh của ta kia tuy nó có thấp hẹp xấu xa mặc dầu chớ đó là cái của tổ tiên ta gây dựng ra trong mấy ngàn đời, nó cũng đã từng che chở đắp điếm nắng mưa cho ta được yên lành ấm áp cho đến ngày nay, nó có xấu hèn một chút thì ta phải cố mà sửa sang bồi bổ cho nó tốt đẹp vững vàng lên, chớ cớ gì ta phải ruồng bỏ nó?

Nay ta mà bỏ nó đi ở nhờ trong cái lầu đài kia thì lầu đài kia cũng đã có chủ rồi, người ta họ há có để cho mình trọn quyền làm chủ hay sao, có khéo chìu chuộng cầu lụy lắm thì bất quá chỉ được một bên chái một góc hè mà chịu cái thân phận ăn ghé nằm nhờ đó thôi. Đã phải cái thân phận ăn ghé nằm nhờ thì bao giờ mà được an vui; mới tỉnh hồn nghĩ lại cái nhà tranh kia, tuy là thấp hẹp hèn xấu mà ở vẫn được an ổn sung sướng hơn, mới quay đầu chạy về, nhưng than ôi! cái nhà tranh kia trong bao lâu nay không người ở, đã không có tay người giữ gìn sửa sang đến thì nó đã hư sập đổ nát tự bao giờ rồi, chừng đó nhìn nhau mà ngơ ngác ngẩn ngơ, chân trời góc bể biết đâu là nhà, mới ngồi lại dựa bên đường mà khóc cái thân phận của mình phải vô cùng oán hối. Nhưng trót vì tay đã nhúng chàm dại rồi còn biết khôn làm sao đây! Ấy đại để cái chuyện người muốn bỏ chữ Việt Nam đi mà lấy Pháp làm quốc ngữ thì cái tình cảnh ấy có khác nào cái tình cảnh mất nhà vừa kể trên kia đâu. Cái tình cảnh lui tới không nhà dở dang ấy ta đã biết rồi thì khá sớm liệu mà vãn hồi, chớ để đợi cho nước đến lưng dầu có muốn nhảy cũng không kịp nữa! Đó là lấy lý mà luận, còn lấy tình mà nói thì nếu chữ quốc ngữ là xấu xa nghèo hèn, muốn bỏ đi mà lấy chữ người tốt đẹp giàu có hơn, như thế thì có khác nào một người kia có vợ từ thuở hàn vi, tuy là hèn xấu nhưng trong lúc khốn cùng vẫn có với nhau, nay lại thấy có người tốt đẹp giàu sang lại toan bỏ vợ cũ mà lấy vợ mới thì thử nghĩ việc ấy thế nào! Than ôi! Muốn giữ gìn cho tròn chung thì khó, chớ muốn phụ phàng ruồng rẫy thì có khó gì, nhưng người có lương tâm một chút thì sao có làm việc ấy cho đặng. [hết kỳ 3]

2/ Thứ đến, “chữ Việt Nam chưa có thế lực lan rộng ra ngoài thế giới bằng chữ Pháp”. Lẽ nầy thì cũng như một lẽ chữ quốc ngữ còn nghèo như trên kia vừa giải. Chữ Việt Nam sở dĩ chưa có thế lực lan rộng ra ngoài thế giới là bởi nước Việt Nam chưa có thế lực, quốc dân Việt Nam chưa có thế lực đó thôi.

Nhưng việc gì cũng vậy, không bao giờ trong một thời gian ngắn ngủi mà thành công được đâu. Nói rằng người mình học tập quốc ngữ không phải là ngày nay năm nay học mà tháng sau năm sau hay mươi năm sau mà nước Việt Nam có một nền quốc văn hoàn toàn đâu. Cái công trình ấy phải là cái công trình trong ba bốn trăm năm mới mong được thành công mà còn vị tất là thật được hoàn toàn xứng đáng thay. Ta nên biết rằng chữ Pháp mà có cơ sở vững vàng như ngày nay đó không phải là họ học tập trong ba bốn chục một trăm năm gần đây đâu. Người Pháp ngày xưa hạng người trí thức họ cũng nghiên cứu học tập chữ Latin làm cái học cổ điển như mình học chữ Hán, mà cái tiếng “mẹ đẻ” tức là tiếng Pháp ngày nay đó họ cũng cho là một thứ tiếng “nôm na mách qué” không thể diễn xuất được ý kiến tư tưởng gì cả. Duy trong đám bình dân là còn nói đến, như những hạng Trouvères hay Trouvadours đặt ra những thơ ca văn vắn để ngâm vịnh những chuyện cổ tích, tả thú điền viên hay là hát trong khi hội hè đình đám, tức như ca dao tục ngữ của ta lưu hành truyền tụng trong dân gian thôi, còn những văn gia thi sĩ thì không bao giờ dám dùng đến vì dùng đến thì cho là một việc hèn xấu. Mãi đến trong khoảng thế kỷ thứ 15 – 16 mới có những nhà nghiệm ra bèn đoạn tuyệt với cái học cổ điển là chữ Latin kia, mà trước tác sách vở bằng tiếng thổ âm; tức như bọn ông Rabelais, Ronsard và hô hào cổ xúy cho quốc dân dùng tiếng thổ âm. Từ ấy kế tiếp nhau, đời này truyền sang đời khác, đặt hội hàn lâm, ban tu thơ, treo giải khuyến khích cho quốc dân làm sách, dịch sách, trau dồi luyện tập mãi mãi đã gần bốn, năm thế kỷ nay thì cái tiếng “nôm na mách qué” ở nước Pháp trước đời ông Rabelais, Ronsard xưa kia nay đã thành một thứ chữ phong phú văn vẻ mà mình phải cung tụng là thần thánh đấy.

Chữ Việt Nam ta nay cũng thế, kể từ thế kỷ thứ 13 là từ đời Trần, quốc văn mới bắt đầu phôi thai, cũng đã có người làm qua thơ văn nôm như bài “Văn tế cá sấu” của ông Hàn Thuyên đời Trần Nhân Tôn (1278-1293), thơ “Bán than” của ông Trần Khánh Dư. Qua đến thế kỷ thứ 15 – 16 đời Hậu Lê thì như “Hồng Đức quốc âm thi tập” của vua Lê Thánh Tôn, “Bạch Vân thi tập” của cụ Nguyễn bỉnh Khiêm, các bài tinh nghĩa văn sách của ông Lê Quý Đôn cho đến mấy khúc “Chinh phụ”, “Cung oán”, v.v. ở về cuối đời Hậu Lê. Nhưng đó chỉ là những bài thơ ca ngâm khúc ngăn ngắn chưa đủ làm tài liệu mô phạm cho một nền quốc văn cho xứng đáng được. Mãi đến thế kỷ mới rồi đây mới có một nhà đại thi hào là cụ Nguyễn Du đem hết tài tình nhỏ máu làm mực trước tác ra một thiên văn chương tuyệt bút là quyển “Kim Vân Kiều” được ngót ba ngàn rưởi câu thơ lục bát phát biểu diễn xuất được hết cái tinh hoa của non sông nòi giống, để chứng nhận rằng những tiếng Việt Nam không phải là nghèo hèn thiếu thốn gì, nói ra cũng vẫn được thanh thoát nhẹ nhàng, tả mạc bức tranh tình tính người ta cũng rất là thanh tao êm ái… Thế là từ ấy tiếng Việt Nam mới có cái cơ sở vững vàng, kẻ sau nầy học tập quốc ngữ mới có chỗ làm nền nếp mẫu mực chắc chắn mà noi theo, như thế thì quốc văn ta phát đạt mới từ hơn một trăm năm nay, sánh với chữ Pháp thì còn phải kém người ta hơn hai ba trăm năm. Muốn so sánh là so sánh như thế đó, nghĩa là chữ nước mình sở dĩ còn kém cỏi hơn chữ người ta là bởi cái công phu học tập của mình chưa bằng người ta vậy. Nhưng nếu chúng ta nay nhân đã sẵn cái nề nếp ấy mà tu bổ lại cho hoàn toàn thêm, phát huy cho tăng tiến lên thì trong vài ba trăm năm nữa quốc văn Việt Nam sao lại không đến được thời đại toàn thạnh.

Có sách hay tất có người muốn học, người nước khác muốn học tất phải dịch ra chữ nước họ. Xem như Phạn Kinh của Ấn-độ, Ngũ Kinh Tứ Thơ của Tàu cũng đã thấy dịch hầu khắp các thứ tiếng trên thế giới. [hết kỳ 4]

Truyện “Kim Vân Kiều” của Việt Nam ta nay cũng đã có người Pháp dịch, người nước khác cũng có đọc đến mà cũng đều phải xưng tụng tác giả quyển văn chương Việt Nam kia là “thần thơ”. (Tháng 7 năm 1927 nầy, ông Hoàng Tích Chu thuật rằng trong khi hội đàm /interview/ với nhà đại thi hào Ấn-độ là cụ Rabindranath Tagore ở trên Ấn-độ-dương, được tiếp chuyện với một người môn đồ của cụ là ông giáo trường đại học Calcutta Suniti Kumar Chetterji, ông giáo nói rằng: ông đã có được đọc bản dịch “Kim Vân Kiều” bằng chữ Pháp và ông cũng biết được ít nhiều cái phong thú tinh hoa thâm trầm về văn chương, triết lý của quyển sách ấy. – Echo Annamite, 2.8.1927). Nếu từ đây chữ Việt Nam còn người luyện tập đến luôn, văn chương Việt Nam sẽ ngày một phồn thịnh phong thú hơn lên, thì sẽ còn sản xuất ra mấy mươi quyển văn chương có giá trị như quyển “Kim Vân Kiều”. Khi ấy văn tự Việt Nam tất sẽ dịch khắp chữ thế giới, hội hàn lâm Việt Nam thanh danh giá trị cũng chẳng kém gì hội hàn lâm các nước Âu Mỹ. Người Âu Mỹ họ muốn khảo sát văn minh văn hóa Việt Nam thì họ tất phải tìm đến mà học chữ Việt Nam. Chừng ấy trên văn đàn thế giới thế lực chữ quốc ngữ lo gì không rộng lớn, địa vị chữ quốc ngữ lo gì không cao quý.

Sự nghiệp ấy là sự nghiệp vĩ đại, công trình ấy là công trình dài lâu thì phải có cái chí hướng rộng rãi, cái tư tưởng cao xa một chút mới được, chớ chỉ khư khư trong vòng chật hẹp nhỏ nhen như những việc cạnh hư danh tranh tiểu lợi hằng ngày mãi thì đã nên công chuyện gì mà còn mong gì nữa.

3/ Thứ nữa đến chữ Pháp là một thứ chữ “quan thoại”, người mình muốn vận động việc chánh trị thì đều phải học chữ Pháp. Ừ, thì đã đành, vì muốn trình bày ý kiến yêu cầu quyền lợi của dân cho thông đạt được đến chánh phủ, có lẽ phải cho thông đạt đến tận bên Pháp nữa mới được, thì người mình không sao không học chữ Pháp được. Nhưng ta nên biết rằng: chẳng phải cả thảy hai mươi triệu người Việt Nam đều có thể ra vận động việc chánh trị hết. Bất quá cũng chỉ trong một hạng người rất ít mà thôi. Hạng người ấy thì lại càng nên cần học chữ Pháp cho thật đến nơi đến chốn, cho thật tinh thông để có đủ tư cách giao thiệp với chính phủ và giao thiệp với cả thế giới nữa. Hạng người ấy chẳng những phải học chữ Pháp cho thông mà lại còn phải biết chữ mình cho thạo nữa mới được. Có biết được rõ chữ nước mình, mới am tường được dân tình thì mới đủ tư cách làm môi giới cho quốc dân với chính phủ. Hoặc có những ý kiến những vấn đề gì muốn vận động truyền bá cho quốc dân thì chỉ có dùng chữ nước nhà, tiếng “mẹ đẻ” mà nói ra thì mới chóng phổ cập được khắp trong dân gian. Trừ ra một hạng người cần phải giao thiệp với chánh phủ với thế giới còn thì quyết không thể lấy chữ Pháp làm món phổ thông giáo dục được. Mấy chục năm nay người mình học chữ Pháp thì đã có mấy ai học được đến nơi đến chốn, bất quá trong trăm người mới được một đôi người, còn thì đã sở đắc được những gì, đã đem dùng vào được việc gì mà đối với cái quốc túy cái văn hóa cũ của nước nhà thì tuyệt nhiên không biết đến, gây thành một giống người Tây không ra Tây, Nam không ra Nam, lố lăng không tư cách gì cả. Về việc nầy thì ông Roland Dorgelès là một nhà văn sĩ có tiếng ở Pháp ngày nay, năm 1925 khi du lịch bên ta về làm sách có phê bình về Việt Nam mấy câu, thật là cực tả cái tư cách cái tính chất người mình học chữ Pháp ngày nay.

“Có nhiều người Việt Nam lịch sự lắm, ăn bận như người kinh thành Paris, cho con sang học bên ta, khi một người đồng bào nói với họ bằng tiếng bổn quốc thời tảng lờ không nghe hiểu, mà tự mình nói, thì cũng ấp úng như phải tìm chữ dịch tiếng Tây ra tiếng Nam vậy…” (… Des Annamites élégants, vêtus comme les Parisiens, et qui envolent leurs fils faire leurs études chez nous, affectent de ne plus rien comprendre quand un compatriot leur parle dans leur langue et s’yexpriment péniblement, cherchant leur mots comme s’ils étaient obligés de traduire… sur la route mandarine). Kết quả đã rõ ràng ra đấy còn ai không thấy nữa. Học như thế là chỉ đủ đi làm việc biên chép với chánh phủ ở các ty các sở. Ta nên biết rằng đi học là cầu thu hoạch được những cái trí đức thông thường để có đủ tư cách mà gây dựng nghề nghiệp làm ăn chớ có lẽ ỷ lại vào chánh phủ hết cả hay sao. [hết kỳ 5]

4/ Học chính trong nước Việt Nam sẽ phân làm ba cấp: Thứ nhứt là bực sơ đẳng học, bực phổ thông giáo dục, các trường học nhiều nhứt trong nước, cho dạy toàn bằng chữ quốc ngữ. Tốt nghiệp các trường sơ đẳng ra, người nào không có thể đeo đuổi theo học nghiệp được nữa thì thôi ra cũng tùng tiệm có đủ trí đức mà làm các nghề nghiệp được. Còn người nào có thể học được nữa thì cho vào bực trung đẳng học. Bực nầy cái cách chế độ và cách tổ chức phải châm chước theo như các trường “lycée” bên Âu Mỹ phân làm hai ban: một ban cổ điển (classique) một ban tân học (moderne), cả hai ban nầy đều phải lấy chữ quốc ngữ làm món học chánh. Nhưng ban cổ điển một nửa thì dạy chữ Hán, cho học lịch sử văn chương, văn hóa nước Tàu, tức như bên Pháp ban “latin-grèce”, còn ban tân học một nửa thì dạy chữ Pháp làm tiếng ngoại quốc, cho học khoa học toán pháp (sciences math), học thuật mới ngày nay. Học sanh tốt nghiệp ra trường trung học rồi không muốn lên cao đẳng thì cũng đủ tư cách dạy lại các trường bực sơ học. Còn muốn theo lên bực cao đẳng thì các ông Tú cổ điển cho vào ban Sư phạm, Pháp chánh, sau nầy sẽ là giáo sư hay quan phụ mẫu có tư cách; còn các ông Tú tân học cho vào ban y học, số học, mỹ thuật, canh nông, thương mãi, kỹ nghệ, thì sau nầy ra sẽ là các ông bác sĩ, kỹ sư có giá trị. Chừng ấy nước Việt Nam sẽ có những ông Cử ông Nghè quốc ngữ có giá trị, những ông Cử ông Nghè ấy cũng chẳng kém gì những ông Cử ông Nghè ở các nước văn minh trong thế giới.

Ấy cái chương trình học trong nước được đến như thế thì mới thật hoàn toàn. Nhưng bây giờ mà nói ra thì cũng chẳng khác nào một giấc mộng “hoàng lương”. Sự học trong nước hiện chưa đâu vào đâu cả mà mơ ước những trung học, đại học, ông Cử, ông Nghè viễn vông chẳng là cuồng dại lắm ru!

Nhưng hy vọng mà cho ra hy vọng, mơ ước mà ước những chuyện đích thực hiển nhiên thì biết đâu lại không có ngày hy vọng được thành tựu, chớ nào phải mơ ước những chuyện bâng quơ không đậu, không dựa vào một bằng cớ chắc chắn nào; mà tưởng mê tín hy vọng như thế còn hơn mê tín những kim hài bội tinh, mê tín những vinh hoa phú quý hão huyền.

Cũng vì thế mà có người nói rằng: “Nay lòng quốc dân nguyện vọng sở cầu thì như thế mà chính phủ không bao giờ thi hành cho được chu tất. Như việc cho dạy quốc ngữ hay chỉ cho dạy có ba lớp dưới bực tiểu học rồi lại bắt học chữ Pháp nữa thì chỉ tổ làm ngăn trở cho những người có chí muốn theo học chữ Pháp đến bực trung đẳng, cao đẳng mà thôi, nếu sửa đổi được thì sửa đổi cho trọn vẹn bằng không thì thà là để cho học chữ Pháp như trước còn hơn. Nói như thế mới nghe tựa hồ hữu lý nhưng nghĩ kỹ mới biết là một lời ngụy biện chi cực. Đây lại phải nói qua vấn đề chánh trị vì việc học trong nước mình tuy là nói việc học chớ cũng có can thiệp đến chánh trị. Vậy thì ta nên biết rằng việc chánh trị trong nước nào cũng vậy, không bao giờ mà được hoàn toàn, như nước đã tự trị độc lập rồi cũng vậy, chẳng những là nước ở dưới quyền thuộc địa bảo hộ mà thôi. Nếu không thế thì các nước không phải phân tranh nhau hàng ngày, mà các nước cũng không đặt ra hội “Vạn quốc” làm gì. Nếu không thế thì nước Đức không yêu cầu nước Pháp rút binh ở tại hạt sông Rhur, nước Pháp không phải khẩn khoản hẹn nợ với nước Mỹ, nước Mỹ không lo hạn chế nước Nhật đóng thuyền “khinh chiến hạm”, nước Tàu không vận động cho liệt cường thủ tiêu các điều ước bất bình đẳng, v.v. Tổng chi nước nào cũng còn mất một đôi cái quyền lợi gì đó, chớ không bao giờ được hoàn toàn; nhưng nước đã được tự do độc lập rồi thì bị người ta hạn chế ít, mà nước còn trong vòng lao lung thì bị người ta hạn chế nhiều đó thôi. Nay việc chánh trị trong nước mình cũng thế, ta há có lấy nễ rằng chưa được hoàn toàn viên mãn mà không lo đến nữa hay sao. Lại nếu bị hạn chế, chưa được hoàn toàn thì phải cố mà vận động cho được hoàn toàn chớ ngồi mà đợi người ta đưa đến cho mình hay sao? Lẽ ấy thì tưởng không bao giờ có. Nếu không tin thì thử hỏi dân Triều-tiên, dân Phi-luật-tân, dân Ấn-độ hay dân Ai-cập thì biết họ có phải ngồi khoanh tay mà bỗng dưng có người đưa đến cho hay không? Nhưng đây là một việc khác. [hết kỳ 6]

Bây giờ chữ quốc ngữ chỉ cho học ở ba lớp dưới bậc tiểu học thì được bấy nhiêu ta nên lợi dụng bấy nhiêu; được một bực rồi, dần dần ta sẽ yêu cầu chánh phủ đặt thêm cho bậc khác nữa. Nói rằng học quốc ngữ ở ba lớp dưới đó là trở ngại cho người muốn đeo đuổi học chữ Pháp lên bậc trên. Người mà nói như thế là những người còn hiểu lầm hay là chưa từng thực nghiệm qua mà thôi, chớ thực không có gì là trở ngại cả.

Tiếng nói là ba lớp dưới học quốc ngữ chớ không phải là tuyệt nhiên không học đến chữ Pháp. Chữ quốc ngữ là để dạy các món trong chương trình mà chữ Pháp kể như một món học trong các món học khác dạy làm tiếng ngoại quốc. Nghĩa là lấy quốc ngữ làm món học chánh, chữ Pháp làm món học phụ mà trước kia, trái lại, chữ Pháp ở vào địa vị chánh.

“Có nhờ học bằng tiếng nước nhà thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được”, ấy là lời của một nhà đại thi hào nước Ấn-độ, ông Rabindranath Tagore. Thật thế, một đứa trẻ mới bắt đầu học ngay bằng tiếng ngoại quốc thì không tài nào hiểu được rõ ràng, truyền đọc ngoài miệng mà trong trí não vẫn mơ màng là vì cái tiếng ngoại quốc đó không phải là cái tiếng nói thường nghe thường nói hàng ngày với người trong họ hàng ngoài làng xóm. Nay nếu bắt đầu cho nó học bằng tiếng nước nhà trong mấy năm, thì học gì chẳng hiểu được nấy, mà hiểu được rõ ràng, trí khôn nó nhân đó mà mỗi ngày mới vỡ vạc ra. Nó đã có chút tri thức rồi mới cho học tiếng ngoại quốc thì học vừa mau vừa dễ. Như thế thì vụ học chữ quốc ngữ ở ba lớp dưới chẳng những là không ngăn trở sự học chữ Pháp mà chính là dự bị tri thức để sau nầy học chữ Pháp cho dễ hiểu mau thông vậy. Vả lại, tuy là gọi ba lớp đầu chớ trẻ con, trừ những đứa thông minh quá thì không kể, còn thì không thể nào lên lớp năm được. Thế nào cũng phải ở lại một lớp nào đó hai năm, thành ra ba lớp mà thiệt là phải bốn năm năm học mới thi bằng tiểu học (Certificat d’ études élementaires) được. Trong bốn năm năm học bằng tiếng bổn xứ ấy nếu dạy cho thiệt châu tất kỹ càng thì tri thức cũng đã khai thông, mà chữ Pháp trong bốn năm năm ấy chỉ học theo một lối lịch thiệp, như tiếng ngoại quốc thì cũng biết được kha khá, đến khi lên lớp trên không phải là tuyệt nhiên không biết một chữ Pháp nào. Còn hai lớp trên đây, tiếng là hai lớp chớ thiệt là ba năm. Theo lời nghị định quan Học chánh thì lớp nhì chia làm hai ban, ban dưới để cho học trò ôn lại bằng tiếng Pháp những món đã học bằng tiếng bổn xứ ở ba lớp dưới, rồi từ ban trên trở lên đến lớp nhứt mới theo đúng chương trình thi tốt nghiệp bằng sơ học (Certificat d’ etudes primaires). Như thế thì trong ba năm sau chỉ học ròng chữ Pháp mà là học ôn lại những món đã có học ở ba lớp dưới rồi. Nhưng có khác nhau là trước học bằng tiếng bổn xứ mà sau nầy học tiếng Pháp thì trong ba năm sau nầy chỉ là dịch ôn lại những món đã học ở bốn năm năm trước mà thôi. Như vậy thì dầu học cách nào, con trẻ cũng phải bảy tám năm học mới tốt nghiệp bậc sơ học. Nhưng học như cách trước thì khi tốt nghiệp sơ học rồi tiếng Pháp vị tất đã thông mà tiếng ta thì vẫn mơ hồ không hiểu chỉ gây thành một lũ Tây giả như đã kể trên kia. Còn học theo cách sau nầy thì phần quốc ngữ chắc hẳn thông thạo, có thành hiệu mà phần chữ Tây cũng chẳng kém gì trước, vì trong khi học chữ Tây ấy, tuy ít năm học hơn trước chớ đã sẵn trí khôn để đón hiểu được dễ dàng. Trong hai cách học đã biện giải như trên kia thì cách nào là hơn, tưởng không nói mà ai cũng rõ cả vậy.

Việc là việc hay, tình lý thỏa hợp cả, nhưng có chỗ còn chưa thấy có kết quả là bởi thi hành không được châu tất đó thôi. Cái trách nhiệm ấy là trách nhiệm ở các ông giáo bà giáo. Hay dở là trách cứ ở đó chớ há phải bởi tại phương pháp không hay đâu. Phàm việc gì cũng vậy, bụng đã tin rằng làm được, tận tâm mà làm thì dầu khó đến đâu cũng làm được thành hiệu, chớ trong bụng còn hoài nghi do dự thì dầu việc thật dễ cũng thấy khó, mà việc khó lại càng thêm khó bội phần, có khi hay mà phải hóa ra dở nữa, thì các nhà giáo dục ta hữu tâm với non sông nòi giống há không nên nhận lấy cái trách nhiệm mà cẩn trọng trong khi thi hành việc nghĩa vụ của mình dư?

Duy còn hai điều nầy đã phải nhiều người còn lấy làm ngại là việc các thầy giáo và sách giáo khoa. Nhưng “vạn sự khởi đầu nan”, mới bắt đầu việc gì mà lại không có khuyết điểm, nhưng rồi đây sẽ hoán cải dần dần cho đến được hoàn thiện. [hết kỳ 7]

Các thầy giáo đã nhận trách nhiệm mình rồi tất cũng phải lo tu luyện để cho có đủ tư cách dạy dỗ lại con em. Sách giáo khoa thì nha Học chính Đông Pháp ở Hà-nội cũng đã lần lượt xuất bản, cũng tùng tiệm đủ cho các trường bậc tiểu học dùng. Còn bậc trên nữa thì như sách “Việt văn hợp tuyển giải nghĩa” của hai ông Lê Thành Y, Nguyễn Hữu Tiến, sách “Quốc văn trích diễm” của ông Dương Quảng Hàm và như sách “Cổ học tinh hoa” của hai ông Trần Lê Nhân, Nguyễn Văn Ngọc, sách “Quốc văn khảo biện” của ông Nguyễn Ứng, v.v. cũng đều có thể châm chước làm sách giáo khoa được cả. Tổng chi, việc thầy dạy và việc sách giáo khoa thì tùy cái trình độ học cao thấp mà đặt định cũng không phải là một việc khó. Có người học thì tất có thầy dạy, có sách dùng. Không thấy có nước nào sắm thầy sắm sách trước khi định chương trình học bao giờ. Thế thì việc ấy cũng không có gì mà phải quá ái ngại nữa.

5/ Thứ nữa đến việc dịch các danh từ về khoa học mới. Phàm muốn gọi tên một sự vật gì thì trước có biết rõ cái sự vật ấy đã, nhiên hậu mới đặt tên mà gọi lên được. Mình chưa biết xe điện, tàu bay là vật gì thì sao có tiếng “xe điện”, “tàu bay” được, mình chưa biết thuốc ký-ninh, rượu sâm-banh là vật gì thì sao có tiếng “ký-ninh”, “sâm-banh” được, mình chưa biết được rõ lý học (physique), hóa học (chimie) là  món học gì thì chữ “lý học”, “hóa học” sao có thể thông dụng được, mình chưa được hiểu rõ cái thuyết đối đích (relativité) hay là chủ nghĩa lập hiến thì những chữ “đối đích”, chữ “lập hiến” sao có thông dụng được, v.v. Tổng chi, có rộng biết, có nghĩ nhiều, vật gì đã từng biết, sự gì đã nghĩ tới thì thể nào cũng tìm được tiếng nói cho gọn ghẽ. Vậy cách trí toàn pháp, cơ xảo, kỹ nghệ, nếu người mình cứ giảng cứu cho thật thâm, và thứ nhứt là phải có chí muốn đem những điều mình đã học đã biết, dịch ra tiếng nước nhà cho bao nhiêu người đồng bang mình dầu không đi học mà cũng hiểu biết được. Ông Nguyễn Triệu Luật đã dịch được sách tâm lý học, ông Trương Cam Khuyên đã dịch được sách điện học (Nam phong), hai khoa học ấy ai bảo rằng không đầy dẫy những danh từ mới mà cũng vẫn dịch được thanh thoát, gọn gàng, ông Phan Văn Trường đã dịch được sách luật học và ông đã chắc rằng “tiếng Việt Nam ta dùng mà dịch sách chi cũng được hết cả”, mới đây ông Nguyễn Háo Vĩnh mới soạn được sách “Cách vật trí tri”. Chữ mình không đủ gọi thì hãy châm chước tùy nghi mà đặt chữ mới hay là mượn chữ nước ngoài. Việc mượn chữ nước ngoài đây cũng là một lệ thường, chữ nước nào cũng thế, ngay như chữ Pháp mình thường thấy đây, hầu hết là mượn chữ latin, grec. Đặt chữ mới hay mượn chữ nước ngoài thì không có phương hại gì đến quốc âm cả, miễn là những chữ ấy cho gọn ghẽ rõ ràng, cho dễ kêu dễ gọi, cho thành thanh âm Việt Nam là được. Ông Ronsard nói rằng: “Tôi khuyên ai cũng nên cứ đánh bạo mà đặt ra tiếng mới, miễn là phải đặt sao cho nó hợp với cái thể cách của dân gian đã công nhận” (Je te veux bien encourager de prendre la sage hardiesse d’ inventer des vocables nouveaux pourvu qu’ils soient moulez et fanconnez sur un patron dejà recue du peuble. – đây là viết theo cổ văn Pháp). Nếu mỗi người đều có công có chí như thế cả thì chữ Việt Nam lo gì không đủ dùng và lo gì không phong phú bằng chữ nước người.

Nói đến khoa học lại phải nói luôn qua việc học chuyên môn và học phổ thông mà người mình vẫn thường lầm tưởng. Phàm phép giáo dục trong thế giới, nước nào cũng vậy, cũng chia ra làm hai phép học: học phổ thong và học chuyên môn.

Học phổ thông là cái học của bọn bình dân, là giáo dục thông thường, giáo dục cả toàn quốc, còn học chuyên môn là cái học của bọn thượng lưu trí thức, là giáo dục đặc biệt, giáo dục một hạng người thông minh lội lạc.

Nói rằng: các học thuật chuyên môn mới mẻ ngày nay là những cái học giàu dân mạnh nước, ta không thể không có được thì đã đành rồi, không ai dám cãi. Nhưng có lẽ khắp các hạng người trong nước đều có thể cho học các khoa chuyên môn hết cả được sao? Các nước Âu Mỹ ngày nay cũng thế, chẳng phải là bốn triệu người Pháp hay bốn mươi lăm triệu người Anh đều là kỹ sư bác sĩ cả, bất quá cũng là chỉ một phần rất ít mà thôi. Những hạng người ấy là những hạng thông minh tuấn tú, hạng người ấy không phải là có nhiều được. Nếu hai mươi triệu người Nam mà đều cho học chuyên môn mà học được thành đạt cả thì nhân tài nước Nam đẻ mà cả thế giới dùng cũng không hết? [hết kỳ 8]

Một nước mà được văn minh giàu mạnh đã đành là bởi một hạng người trong thượng lưu trí thức kia làm then chốt làm chủ nhân ông cho một cõi sơn hà, nhưng không phải là không có nhờ ở đám bình dân hạ lưu rất nhiều.

Có người nói rằng nước Mỹ sở dĩ được văn minh sớm, được chóng phú cường là bởi nước Mỹ tuy tổng số trí thức ít hơn ở Pháp, ở Đức, ở Anh, mà vì ban bố phổ cập cả các hạng người trong xã hội. Các nước kia tuy tổng số trí thức có nhiều mà chỉ khu khu trong một hạng người mà thôi. Xem thế thì muốn cho nước giàu dân mạnh cũng phải lấy cái phổ thông làm gốc, mà như nước Nam hiện nay lại càng cần có cái giáo dục phổ thông lắm nữa. Vì đám bình dân ở chốn thôn quê, trong chỗ tre gai đất bùn kia nếu còn ngây ngô ngơ ngác, say say mê mê, dầu có người trí thức cao sâu tài giỏi như thần thánh đi nữa cũng không mong vận động được việc gì, mà cũng đành khoanh tay mà thôi!

Nay lấy chữ quốc ngữ làm món sơ học phổ thông cho người mình là tài bồi trí đức cho bọn bình dân Nam Việt, gây cho có một cái cơ sở vững vàng, khiến cho bất cầu người nào cũng đều có cái đạo đức giản đan, có tri thức thông thường, đều tiệm biết được các sự vật, các tình hình trong hoàn cảnh của mình trong cuộc đời, cho biết chỗ mà trông, biết lối mà theo, hành vi sanh hoạt cho phải đường cho khỏi quay cuồng xuẩn động. Cái học phổ thông ấy là cái nguồn gốc cho nhân tính nhân cách, là cái nền nếp cho sự nghiệp văn minh của một nước, thì nước ta không sao không có được.

Còn thì những người có thiên tư tốt, tài lược nhiều thì nên theo học các chữ ngoại quốc, khảo biện, nghiên cứu các khoa học cho thật tinh thật thâm, rồi dịch ra chữ quốc ngữ truyền bá lại cho đồng bào thì trong nước không lo gì không có nhân tài.

Nay kết luận bài nầy, còn mấy lời tâm huyết trung cáo với quốc dân, mong rằng trong anh em cũng có người xét đến.

Việc học quốc ngữ vừa biện luận như trên kia là việc ích lợi cho tôn bang tổ quốc, ích lợi cho cả một nòi giống, dầu người tri thức tầm thường thế nào cũng biết được cả.

Nhưng từ thuở nay không mấy người là dám đeo đuổi về đường ấy là bởi lòng người ta phần nhiều quá vì tư lợi đó mà thôi. Có con cho đi học trong bảy tám năm cũng có thể kiếm được mỗi tháng ba bốn chục bạc lương, trong 12-13 năm cũng có thể kiếm được 8 – 9 chục, một trăm đồng bạc lương, chớ đeo đuổi theo cái chữ “mẹ đẻ” kia đã biết rằng có ích cho gia quốc thực, nhưng cái lợi ích ấy là về lâu xa ở đâu đâu chớ nào có ích lợi gì cho nhà cửa vợ con bây giờ đâu. Đã đành rằng người ta không thể nhịn đói mà bàn triết lý giảng đạo đức được, nhưng ngoài cái kế mưu sinh nhỏ hẹp hàng ngày cũng phải hoài bão một cái chí hướng gì cao thượng, gây dựng một cái sự nghiệp gì bất hủ về sau nầy chớ đời người ta sống có phải là chỉ khu khu trong vòng y thực đâu? Lại ở đời cũng phải nên vị tình hơn vị lợi mới được. Dân nào mà chỉ biết vị lợi hơn vị tình là dân ấy sắp đến ngày tiêu diệt vậy. Vua Lương Huệ Vương hỏi thầy Mạnh về cái thuật giàu dân mạnh nước mà nói đến lợi thì thầy Mạnh bẻ rằng: “Nhà vua hà tất phải hỏi đến lợi, chỉ nên nói nhân nghĩa mà thôi” (Vương hà tất viết lợi, diệc hữu nhơn nghĩa nhi dĩ hĩ). Ta học chữ Việt Nam là vì non sông, vì nòi giống, vì tổ tiên, vì hậu thế, là vì tình nghĩa vì công ích mà học, còn học chữ Pháp là vì kiếm ăn, vì tiền của, vì quyền thế, là vì tư lợi mà học. Nói rằng: Vị cận lợi chẳng hơn là vị tình vị nghĩa suông đấy dư? Nhưng ta mà cứ giữ cái tư tưởng nông nổi, cái chí hướng nhỏ hẹp như thế mãi thì dân Việt Nam tất phải chịu vĩnh kiếp trầm luân, vĩnh kiếp nô lệ đi mà thôi.

Vậy người nước ta ai cũng nên nhận mình, nhận cái bổn thân mình đây là cái của báu của giang san chủng tộc, mấy ngàn đời tổ tiên ủy thác ở mình, mấy ngàn đời hậu thế hy vọng ở mình, phải biết cân nhắc chuyện lớn chuyện nhỏ, lẽ gần xa, và tùy tài tùy lực mà đương lấy cái trách nhiệm nghĩa vụ ấy sao cho xứng đáng. Sanh ra làm kiếp người Việt Nam ngày nay trách nhiệm lớn lao, nghĩa vụ nặng nề như thế, ta há có dám không đương chịu, mà chỉ cứ riêng mình, cao lâu nghênh ngang, ô-tô chạy tít mà an vui sung sướng mãi, thì người Việt Nam sao có nỡ làm như thế cho đành?

ĐÔNG HỒ

Hà Tiên

Nguồn:

Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.626 (7.9.1927); s.627 (9.9.1927);

s.628 (12.9.1927); s.629 (14.9.1927); s.630 (16.9.1927);

s.631 (19.9.1927); s.632 (23.9.1927); s.633 (26.9.1927); s.634 (28.9.1927)

 

 

PHAN KHÔI VIẾT VỀ NGUYỄN DU VÀ “TRUYỆN KIỀU” (1955): PHÊ BÌNH “TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI” CỦA LÊ VĂN HÒE

PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI

CỦA LÊ VĂN HÒE

 

 

Ông Lê Văn Hòe có xuất bản cuốn Truyện Kiều chú giải ở Hà Nội từ năm 1953, sách khổ lớn, dày 772 trang, là một cuốn sách viết rất có công phu, kỹ càng và đầy đủ, so với loại sách ấy đã ra từ trước đến giờ. Muốn viết bài phê bình nó, tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới dám hạ bút, tức là bài này. Với sự thận trọng ấy, tưởng cũng đủ tỏ một độc giả là tôi, biết quý chuộng và không phụ công lao của tác giả.

Nhan sách là Truyện Kiều chú giải, nhưng mở đầu ra, người chú giải có đánh giá Truyện Kiều. Phần đánh giá chỉ có 2 trang mà thôi, nhưng tôi, tôi lại coi phần ấy là trọng yếu còn hơn 770 trang chú giải kia. Tôi chưa có thì giờ để thảo luận tỉ mỉ về phần chú giải vì nó khí bề bộn quá, cho nên trong bài phê bình này tôi chỉ mới nói trước về phần đánh giá.

***

Dưới cái phó đề Truyện Kiều ở đầu sách, ông Hòe nói Truyện Kiều lấy sự tích ở Phong tình lục, một tiểu thuyết Trung Hoa “chẳng có giá trị gì mấy”, mà nhờ “ngọn bút tài tình của cụ Nguyễn Du đã biến hóa … thành một áng văn chương kiệt tác”.

Ông Hòe nói phải. Tôi hồi trước từng đọc Phong tình lục sách in, và mới đây, năm 1948 lại được đọc bản sách ấy chép tay của một nhà ở Yên Bái, thì thấy quả thật không có giá trị. Có lẽ vì nó không có giá trị cho nên mấy trăm năm nay nó đã tuyệt bản ở Trung Quốc. Đọc cả hai sách đem đối chiếu nhau, thì thấy Truyện Kiều cắt xén xê dịch nguyên văn Phong tình lục rất nhiều. Có những tình tiết ở nguyên văn không có thì thêm vào, hay là ở nguyên văn có rất rườm rà mà bớt đi. Do đó, chúng ta có thể nói Truyện Kiều không phải một tiểu thuyết dịch, cũng không phải phóng tác, mà là hoàn toàn sáng tác. (1)

Tiếp theo đó, ông Hòe tổng luận tánh chất và giá trị Truyện Kiều bằng ba đoạn văn rất gọn nhưng rất dứt khoát mà tôi phải sao lục đúng từng chữ ra đây để làm căn cứ cho sự thảo luận của tôi. Ông viết:

“Tác giả (chỉ Nguyễn Du) hình như muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác.

Nhưng giá trị Truyện Kiều không ở tư tưởng đạo đức, luân lý hay triết học, cũng không ở cốt truyện hay bố cục, kết cấu, chi tiết. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả.

Người ta tán thưởng Truyện Kiều, người ta học tập Truyện Kiều, là tán thưởng và học tập văn chương Truyện Kiều. Chính phần văn chương đó đã làmTruyện Kiều bất hủ”.

Theo đó, có thể đặt ra ba câu hỏi: 1/ Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? 2/ Có phải cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là chỉ ở văn chương không? 3/ Có phải người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập ở văn chương Truyện Kiều mà thôi không? Ba câu hỏi ấy, tôi muốn đảo ngược thứ tự lên, từ thứ ba đến thứ nhất mà giải đáp, tự nhiên thấy sự đánh giá của người chú giải là có đúng được phần nào hay hoàn toàn không đúng.

***

Từ có Truyện Kiều gần một trăm rưởi năm nay, một số rất đông người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác đều ham đọc nó, đến nỗi có nhiều câu trong đó đã thành ra ca dao và nhất là người ta đã dùng nó làm sách bói. Một số rất đông ấy gồm người gọi là thượng lưu cả đến người đàn bà nông thôn, người biết chữ cả đến người không biết chữ. Nói rằng tán thưởng học tập về văn chương, đối với người thượng lưu biết chữ còn có lẽ, chứ đối với người đàn bà nông thôn thì – văn chương, theo ông Hòe là kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm – họ có biết đâu mà tán thưởng và họ có cần học tập làm gì? Thế mà tôi thấy chẳng những có người biết chữ đọc trầm từng đoạn Truyện Kiều, mà đàn bà nông thôn cũng có người đọc trầm được từng đoạn Truyện Kiều. Vậy thì chúng ta phải tìm cho thấy trong Truyện Kiều có cái gì đó đã nói được cái điều trong lòng mọi người muốn nói, có cái gì đó đã thông cảm với mọi người, nên họ mới ưa thích đến như vậy, chứ còn văn chương chỉ là một phần phụ, một phần nhỏ mà thôi.

Tôi tin quyết như thế. Một tác phẩm được truyền tụng là nhờ nội dung của nó có chỗ thông cảm với mọi người, nếu không, chỉ có văn chương suông mà thôi, không được truyền tụng.

Lấy ca dao làm ví dụ. Có những câu ca dao truyền khẩu từ đời xưa mà bây giờ người ta vẫn nhắc đến, lại có những câu ca dao của văn sĩ làm ra in vào sách mà cho đến nay vẫn không ai nhắc đến, nó không thể thành ra được là ca dao. Ngồi trong một đám đông, ta thử hỏi xem có ai biết câu này không, thì chắc có người biết:

Râu tôm nấu với ruột bầu

          Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon (2)

Nhưng, thử hỏi có ai biết câu này không, thì tôi dám quyết mười mươi rằng không có ai biết cả:

Cảnh trời ai bán ta mua

          Mua non non Thúy, mua chùa chùa Hương

          Mua hoa mới nở giữa vườn

          Mua trăng mới mọc trên sườn núi cao

Câu sau đó của Đoàn Như Khuê in trong tập Bể thảm của ông trước đây chừng hơn ba mươi năm. Văn chương của Đoàn Như Khuê cố nhiên là “kém” văn chương Nguyễn Du, nhưng cứ kể một câu ca dao này thì cái hay về văn chương của nó không kém câu nào trong Truyện Kiều hết, nhưng nó không được truyền tụng là vì nó không thông cảm với ai được hết. Với người giàu thì họ để tiền mua ruộng, với người nghèo thì họ đang ăn canh tôm nấu với ruột bầu, cả hai đều không thiết đến chuyện mua non Thúy, mà chùa Hương, mua hoa, mua trăng. Trái lại, câu trên có thể thông cảm với một số rất đông người Việt Nam là người nghèo, và thông cảm đến những người giàu mà biết nghĩ đến người nghèo nữa.

Theo kinh nghiệm và chứng cứ đưa ra đó, tôi dám quả quyết nói cái kết luận của ông Hòe bảo rằng người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập về mặt văn chương của nó là không đúng. Do đó, cũng lại quả quyết rằng Truyện Kiều sở dĩ bất hủ không phải chỉ cậy ở phần văn chương.

Đã thế thì câu hỏi thứ hai cũng phải bị phủ nhận. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều không phải ở văn chương. Một tác phẩm, không cứ tác phẩm gì, đều có hai phần: nội dung và hình thức. Nội dung là tư tưởng của tác phẩm, nó phải hợp với chân lý, có ích cho đời sống của mọi người, thì tác phẩm mới có giá trị. Còn hình thức, gồm thể tài, kỹ thuật của tác giả, tức ông Hòe gọi là văn chương, nó có giá trị chỉ khi nào nó đi đôi với cái nội dung lành mạnh làm cho tác phẩm đã có giá trị rồi. Nay tư tưởng của Truyện Kiều, theo ông Hòe thấy là tư tưởng triết học tôn giáo, đã bị ông chê là tầm thường, chưa đúng xác, thì chỉ một mình văn chương làm sao cho có được giá trị tuyệt đối? Chúng ta khi đọc một bài báo, một cuốn sách, dám bĩu môi chê rằng thứ đồ văn chương rỗng toách, thế là bởi nó không có nội dung, không có tư tưởng, thì cũng không có giá trị.

Câu hỏi thứ nhất phải đặt lại một cách ngay thật hơn: Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? Và tư tưởng ấy có phải cũng tầm thường và chưa đúng xác không? Nếu thế thì tôi xin nhận phần nửa dưới, chịu ông Hòe phán đoán là đúng, nhưng vẫn phủ nhận phần nửa trên.

Tôi rất đồng ý với lời phán đoán ấy của nhà chú giải. Trong Truyện Kiều, những cái triết lý “tài mạng ghét nhau”, “muôn sự tại trời”, rồi lại “quả kiếp nhân duyên”, “tu là cội phúc”, rồi lại “chữ tâm bằng ba chữ tài”, nhồi chung Nho, Phật với Đạo, thật là “lúng túng chẳng xong bề nào”. Cuối phần chú giải, ông Hòe có chỉ ra nhiều cái mâu thuẫn trong lý luận của Nguyễn Du, cho rằng lý luận ấy không đi đến đâu hết, không giải quyết được gì hết, thật là xác đáng.

Nhưng có phải Nguyễn Du định bụng chứng minh và truyền bá cái triết lý lúng túng vô giá trị ấy không? Điều này chúng ta nên xét lại.

Tôi thấy không phải thế. Cái mà Nguyễn Du muốn tuyên truyền là cái gì kia, nội dung tư tưởng của Truyện Kiều là ở chỗ nào kia, chứ không phải ở triết học tôn giáo muốn chứng minh và truyền bá như ông Hòe nói. Ông Hòe nói mà còn dè dặt bằng hai chữ  “hình như”, nghĩa là ông còn chưa dám chắc, thì hình như ông cũng đã rắp muốn hiểu như tôi hiểu.

Muốn biết Nguyễn Du tại sao vấp phải cái lúng túng ấy mà không gỡ mình ra được, thì phải biết Nguyễn Du là một nhà nho chánh tông, mà nhà nho thì thường mang trong mình một cái mâu thuẫn lớn, hễ gặp hồi khó xử thì đâm ra lúng túng. Cái mâu thuẫn ấy mang từ đời Khổng Tử thẳng đến hết thảy các nhà nho, đến Nguyễn Du, cho nên chúng ta cũng không thể trách Nguyễn Du. Về điểm này, tôi sẽ nói rõ ở một đoạn dưới.

Một tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều, được cả nước yêu chuộng từ xưa đến nay, tất nhiên là có cái nội dung cao quý của nó, ta phải tìm để hiểu. Còn cái điều ta thấy là tầm thường, chưa đúng xác, chưa phải là nội dung đâu, đó là những cái nhược điểm bởi tác giả bị thời đại hạn chế mà phải có, nên được khoan thứ. Ở Trung Quốc hiện nay, Thủy hử, Hồng lâu mộng được đề cao lắm, mà hai cái tiểu thuyết ấy đều có những chỗ lệch lạc chẳng khác gì Truyện Kiều.

***

Trước khi trình bày cái nội dung, cái tư tưởng tiến bộ dễ thông cảm của Truyện Kiều, tôi cần phải chỉ ra cái động cơ Nguyễn Du viết Truyện Kiều, để thấy rằng không phải vì muốn chứng minh và truyền bá một triết học tôn giáo nào, và cũng để thấy rằng cái nhược điểm trong Truyện Kiều là do bản chất của tác giả nó mà phải có.

Nguyễn Du thi đỗ làm quan từ hồi còn nhà Lê, và cha anh đều làm quan to thời Lê mạt, triều vua Cảnh Hưng. Nhà Lê từ trung hung đến triều Cảnh Hưng, bị họ Trịnh cướp cả chính quyền; cả gia đình Nguyễn Du tự nhận mình là làm tôi nhà Lê, chứ kỳ thực là làm tôi nhà Trịnh. Bản lãnh của nhà nho là trung và hiếu, đã nêu lên cái nguyên  tắc “trung thần bất sự nhị quân”, mà như thế, là đã phản nguyên tắc rồi, tự mình đã mâu thuẫn với mình rồi. Chúng ta muốn hiểu Nguyễn Du, muốn hiểu Truyện Kiều, trước hết phải nắm lấy chỗ đó, đó là cái thai đẻ ra mọi nhược điểm.

Nguyễn Huệ diệt Lê Trịnh, Nguyễn Du từng toan chống lại, nhưng bị thất bại. Lui về quê, tự xưng là “Hồng Sơn lạp hộ”, Nguyễn Du tỏ ý không chịu thần phục Tây Sơn. Tây Sơn thống trị nước Nam chỉ độ mươi năm, giá còn thống trị mãi thì Nguyễn Du có sẽ ra làm tôi Tây Sơn không, tôi không dám biết. Cái nghĩa lớn “tùy thời” và cái chí lớn “đắc quân hành đạo” của nhà nho ghê gớm lắm, không ai có thể đoán trước được.

Nguyễn Phúc Ánh, thế tổ Cao Hoàng đế triều Nguyễn diệt Tây Sơn, thống trị nước Nam, Nguyễn Du cực chẳng đã phải ra làm quan. Ấy, đừng ai tưởng tôi trách Nguyễn Du về chỗ đó, lúc bấy giờ những người gân guốc như Phạm Quý Thích, Võ Trinh, Phạm Đình Hổ đều phải ra làm quan, họ cũng đều vì cực chẳng đã cả.

Nguyễn Du thấy mình vốn là tôi nhà Lê mà bây giờ lại làm tôi nhà Nguyễn, như thế, khác nào một con đĩ “sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Ấy đó là động cơ viết Truyện Kiều. Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều vì cực chẳng đã mà phải làm đĩ, thì Nguyễn Du cũng vì cực chẳng đã mà phải làm đĩ, nghĩa là làm tôi nhà Nguyễn.

Ở “Truyện Nguyễn Du” trong sách Chánh biên liệt truyện, nói Nguyễn Du khi làm tham tri bộ Lễ ở triều Gia Long, mỗi lần triều hội, ít nói năng gì, không kiến minh điều gì, có vẻ “lừng khừng”, làm nhà vua phải giáng chỉ dụ “đả thông” đến mấy lần. Cái thái độ ấy y hệt như cái thái độ của cô Kiều: “Đuốc hoa để đỏ mặc nàng nằm trơ”; “Nỗi mình còn biết cái xuân là gì”.

Ngô Đức Kế, ông cụ này từng vì công kích Phạm Quỳnh mà công kích Truyện Kiều, chứ thực ra, ông cụ cũng là một người tán thưởng học tập Truyện Kiều như chúng ta. Ông cụ từng thuật lại một vài điều các bô lão ở Nghệ Tĩnh ngày xưa nói về Truyện Kiều cho tôi nghe: Cái câu “Giờ ra thay mặt đổi ngôi, dám xin gửi lại một lời cho minh” là Nguyễn Du muốn nói về Gia Long: Gia Long khi còn ở Gia Định truyền hịch ra Bắc Hà nói “phù Lê” mà về sau lại tự xưng hoàng đế. Còn câu “Phòng khi nước đã đến chân, dao này thì liệu với thân sau này”, chữ “sau” nguyên văn của Nguyễn Du là chữ “phận”. Lúc bấy giờ, Nguyễn Du vẫn còn sống, một ông bạn của Nguyễn Du, cũng tự nhận mình là di thần nhà Lê, chữa lại thành “sau”, có ý buộc Nguyễn Du cuối cùng phải tử tiết vì nhà Lê. Câu chuyện này chẳng biết có thật không, nếu thật thì cái ông bạn ấy cũng lại lôi thôi lắm nữa: sao tự mình không tử tiết mà lại buộc người khác phải tử tiết? Hỏi như thế để tỏ ra rằng hết thảy nhà nho một thời ấy, từ ông bạn ấy đến Phạm Quý Thích, Võ Trinh, Phạm Đình Hổ đều mang cái mâu thuẫn trong mình, đều lúng túng, chứ không phải một mình Nguyễn Du.

Bấy nhiêu đó đủ chứng tỏ rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều là muốn bộc bạch tâm sự của mình, làm đĩ là vì cực chẳng đã; nhưng có cái chứng cứ này do Nguyễn Du thân cung ra, còn chắc hơn nữa: Trong một bài thơ, Nguyễn Du có câu kết rằng: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như!”  Tố Như là tên tự Nguyễn Du. Ý câu ấy muốn nói: sau Thúy Kiều chết hơn ba trăm năm, có Tố Như bộc bạch cái tâm sự cực chẳng đã và khóc cho Thúy Kiều, chẳng biết sau hơn ba trăm năm nữa có ai biết tâm sự của Tố Như mà bộc bạch và khóc cho chăng? (3)  Nguyễn Du chưa hề nói cho ai biết động cơ mình viết Truyện Kiều là vì đâu, nhưng làm một cuộc khảo chứng như trên đây, chúng ta biết rõ và chắc rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều cốt muốn bộc bạch tâm sự, cái tâm sự cực chẳng đã phải làm tôi nhà Nguyễn. Nguyễn Du hẹn đến hơn ba trăm năm, không ngờ mới chưa đầy một trăm rưởi năm chúng ta đã biết mà còn biết hơn Nguyễn Du tự biết mình nữa, có biết như thế thì mới hiểu được tất cả Truyện Kiều.

Cái động cơ ấy chỉ có ngấm ngầm trong ý thức Nguyễn Du khi chưa viết Truyện Kiều, khi đã viết rồi thì Truyện Kiều lại phải làm nhiệm vụ của nó, hoàn thành sứ mạng của nó, động cơ của tác giả chỉ còn lộ ra trong đó một chút. Mỗi người chúng ta đọc Truyện Kiều thì cứ đọc, hiểu thế nào thì cứ hiểu, cũng không ai hề hỏi đến động cơ làm gì.

Nói thế, mới nghe, như là vô lý, nhưng sự thực là thế.

Một tác giả toan viết ra một tác phẩm, khi có chủ đề, có nhân vật, xây dựng đâu ra đó rồi thì viết, chứ không cần bởi có một động cơ nào. Nhưng ở trường hợp đặc biệt, có một động cơ như Nguyễn Du, thì khi viết, cũng lại phải xây dựng tác phẩm của mình bằng chủ đề và nhân vật, chứ không thể làm khác được. Chủ đề đã định rồi, còn có nhân vật, giữa nhân vật còn có sự kiện. Đối với nhân vật và sự kiện, thế nào tác giả cũng phải bằng ở quan niệm và nhận thức của mình hồi bình nhật mà biểu lộ ra ai là xấu, ai là tốt, ai là thiện, ai là ác, cái gì là hay, cái gì là dở, cái gì nên ủng hộ, cái gì nên phản đối. Chính chỗ đó là nội dung tư tưởng của tác phẩm, không có nó tức thì tác phẩm không có linh hồn.

Vai chính trong Truyện Kiều là Thúy Kiều, nhân vật mà Nguyễn Du đưa ra định làm cái bóng của mình. Nhưng một mình Thúy Kiều thì không thành chuyện được, chung quanh Thúy Kiều phải có người này người khác, do đó sinh ra việc này việc khác, câu chuyện thành ra câu chuyện xã hội. Đã là câu chuyện xã hội thì tác giả phải rút lui cái ý của động cơ ra đằng sau tác phẩm, nhường cho tác phẩm tiến hành nhiệm vụ và sứ mạng của nó, tức là quan niệm và nhận thức về xã hội của tác giả.

Tào Tuyết Cần, tác giả Hồng lâu mộng, là con cháu của một nhà thế gia sa sút, mà Hồng lâu mộng cũng kể chuyện một nhà thế gia sa sút, vì vậy có nhiều người nhận rằng Hồng lâu mộng là “tự truyện” của tác giả, nhắc lại chuyện mình và chuyện nhà mình. Nhận như thế, dầu đúng nữa cũng chỉ là cái động cơ của tác giả mà thôi; hiện nay chúng ta đọc Hồng lâu mộng chỉ thấy là một tiểu thuyết hiện thực xã hội, phản đối mọi lề thói của chế độ phong kiến. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng vậy.

***

Đến đây xin bắt đầu trình bày nôi dung tư tưởng chân chính của Truyện Kiều.

Truyện Kiều mở đầu ra, đã phải đả động đến vấn đề luyến ái, vấn đề hôn nhân, vấn đề phụ nữ, là những vấn đề xã hội làm người ta ngột thở dưới chế độ phong kiến hàng ngàn năm ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Xã hội Việt Nam đến thời đại Nguyễn Du, thời đại Lê Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, phong kiến đổ nát, mất lực lượng tập trung, bọn chúa phong kiến phải tăng cường guồng máy thống trị, gia khẩn sự áp bách. Theo lịch sử, dưới chính quyền lúc bấy giờ ở miền Nam và miền Bắc đều có vô số người được phong tước quận công, khiến dân chúng oán ghét đến khinh miệt bằng những câu thô tục, như là “Nhất quận công, nhì ỉa đồng”, “Ỉa đồng một bãi bằng vạn đại quạn công”, thì đủ biết họ bị áp bách mà thống khổ đến chừng nào.

Phụ nữ là hạng người ở từng lớp bét trong xã hội phong kiến, họ bị áp bách nặng nề hơn và chịu thống khổ nhiều hơn. Thuở đó ở miền Bắc thì ông Nghè bắt hiếp con gái đồng trinh:

Em là con gái đồng trinh

          Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè

          Ông Nghè sai lính ra ve

          Trăm lạy ông Nghè, tôi đã có con

          Có con thì mặc có con

          Thắt lưng cho giòn, theo võng cho mau

                                                          (ca dao)

Ở miền Nam thì quan Chánh (chánh cai bộ) cưỡng đoạt đàn bà có chồng có con:

Mẹ ơi quan Chánh đòi hầu

          Mua chanh mà gội cái đầu cho trơn

                                                          (ca dao)

Họ còn bị áp bách trong gia đình cũng khắc nghiệt nữa. Cha mẹ gả con lấy chồng tức là bán con, như đời xưa bán nô lệ, cho nên nói “gả bán”. Theo một cái nguyên tắc từ đời nào để lại không biết: “phụ mẫu sở sinh sở định”, đặt đâu ngồi đó, người con gái không được tự chủ việc trăm năm của mình. Bởi vậy mới có tiếng than:

Mẹ em tham thúng xôi rền

          Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

          Em đã bảo mẹ rằng đừng

          Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào

Bây giờ chồng thấp vợ cao

          Như đôi đũa lệch so sao cho bằng!

                                                (ca dao)

Khoan nói chưa hề yêu nhau, đến nỗi chưa hề thấy mặt nhau cũng bắt phải lấy nhau:

Lấy chồng chẳng biết mặt chồng

          Đêm nằm mơ tưởng nghĩ ông láng giềng.

                                                (ca dao)

Pháp luật cho đàn ông chết vợ, sau một năm được lấy vợ khác, mà đàn bà thì sau ba năm mới được lấy chồng. Họ phải kêu:

Gió đưa cành trúc ngã quỳ

          Ba năm trực tiết còn gì là xuân

                                                (ca dao)

Lại còn nêu lên “chữ trinh” bắt phụ nữ phải giữ trinh nữa. Đây là một giáo điều:

Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng

                                                                   (tục ngữ)

Ở dưới chế độ, lễ giáo, pháp luật vô lý và bất công như vậy, hết thảy phụ nữ phải cúi đầu mà chịu. Nếu có người không chịu, tháo cái ách tròng trên cổ, tự do yêu, là chết đấy. Cái đối tượng yêu là ai? Là người con trai. Thế thì sự yêu nhau đó nếu vỡ lở ra, hai bên cùng chịu trách nhiệm mới phải. Nhưng không, dư luận cứ đổ tội trên đầu người con gái: Tại chị bẩy nhà ta, không phải tại chi anh ba nhà người (tục ngữ), thậm chí nói: Con chó cái có ngoe nguẩy thì con chó đực mới vẫy đuôi          (tục ngữ).

Trong Hồng lâu mộng, Bảo Ngọc, con trai của bà Vương phu nhân, một hôm, nắm tay Kim Xuyến, con nhài của bà mà nói chuyện. Sau đó bà mắng Kim Xuyến là đồ đĩ thõa, làm hư con trai bà. Kim Xuyến không chịu nhục được, nhảy giếng mà chết. Tôi lại từng thấy ở làng quê tôi, một cô con gái “theo trai”, bị bố mẹ buộc phải chết, cô uống thuốc độc mà chết.

Đối với những vấn đề trên đó, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa hề giải quyết, nhưng đã tỏ thái độ của mình ra trong khi đối đãi với vấn đề. Cứ theo cái thái độ ấy mà suy luận ra, có thể nói Nguyễn Du đòi giải phóng phụ nữ, cho kết hôn tự do, luyến ái tự do. Về điểm này, chúng ta thấy Nguyễn Du đã bạo gan vượt ra ngoài lễ giáo của thánh hiền.

Thúy Kiều mới có mười lăm tuổi, cái tuổi mà các bà cụ ta ngày xưa thường nói, “Chúng tao hồi bằng ấy đang còn ở truồng”, thế mà ra đường thấy trai đã mắt măng mắt vược “nghé theo”, về nhà nằm đêm còn mơ tưởng “Người đâu gặp gỡ làm chi”. Nguyễn Du đã thản nhiên thuật lại những điều ấy, chẳng những không thấy ngượng ngập mà còn như lấy làm hể hả. Rồi hơn trăm năm nay những người đọc truyện hình như cũng đều hể hả theo. Nếu có người chê là “mất nết” (4) thì lại có những ông khoa bảng, quyền uy trong giới ngôn luận, như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh bênh vực cho. Cả đến ông Lê Văn Hòe, trong Truyện Kiều chú giải, ông mắng Kim Trọng là thằng con trai “hư sớm” (tr. 40) nhưng ông cũng không mắng Thúy Kiều là đứa con gái hư sớm. Thì ra “thiên lý tại nhân tâm”, Nguyễn Du muốn giải phóng phụ nữ, cho luyến ái tự do, là điều hợp với lẽ trời, cho nên cảm được lòng người.

Đến lúc hai trẻ giáp mặt nhau lần thứ nhất dưới cây đào, mới nói qua nói lại mấy câu với nhau, đã trao của tin cho nhau, ước hẹn lấy nhau. Ông tham tri bộ Lễ nức nở khen: “Cho hay là giống hữu tình”, bất chấp cả “phụ mẫu chi mạng, mai ước chi ngôn”, vứt mẹ nó cả lễ. (5)  

Nguyễn Du cho Thúy Kiều nói những câu ngộ nghĩnh đến buồn cười, mà cả nữ giới tiến bộ tự do ngày nay cũng không ai dám nói. Ở lần thứ nhất gặp nhau ấy, sau khi Kim Trọng tán mãi, Kiều đáp lại:

Rằng: trong buổi mới lạ lùng,

          Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang. 

Câu  nói thật chẳng lô-gic chút nào cả. Buổi mới lạ lùng thì việc quái gì mà phải nể lòng? Việc quái gì mà cầm lòng không đang? Nói thế, khác nào một người bán rau nói với một bạn hàng mới: Thôi lần thứ nhất tôi bán cho chị một mớ làm quen? Nhưng tình yêu có phải là thứ bán như bán rau? Thì hình như tác giả cố ý định làm dễ dãi, thúc giục cho cuộc luyến ái của hai người được thành công sớm ngày nào càng hay ngày ấy.

Cái hôm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng tự tình với nhau từ sáng sớm cho đến chiều tối, lúc đứng dậy ra về, có câu: “Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai”. Vả, ngồi từ sáng đến chiều, chẳng đã là dai rồi sao, mà đến lúc ra về mới thấy là chằng tiện? Ai thế nào không biết, chứ tôi, tôi phải cảm đội tấm lòng từ bi của tác giả bởi tác giả còn muốn chúng tôi ngồi dai hơn. Tấm lòng từ bi đó, tôi muốn nói tấm lòng từ bi của Phật. Phật thương xót con trai con gái chúng ta, nên đã dạy rằng đời người có ba cái khổ mà hai cái là: yêu nhau mà không được ở với nhau (ái tương ly khổ), và, ghét nhau mà phải ở với nhau (tăng tương hội khổ). Khi tôi chịu cái giáo dục ấy rồi, tôi muốn vứt Kinh Lễ của Nho giáo xuống ruộng khoai, vì trong đó dạy: “Người con yêu vợ mà cha mẹ không yêu nàng dâu thì người con phải rẫy vợ”. Ôi! Nó bất cận nhân tình là dường nào! Nó độc ác là dường nào! Không trách Nguyễn Du là nhà nho mà trong Truyện Kiều lại hay nói triết lý nhà Phật.

Nguyễn Du không chịu nhìn nhận cái quyền nam nữ kết hôn là quyền riêng của bố mẹ. Khi Thúy Kiều bị bán mình sắp đi khỏi nhà, dặn lại Thúy Vân phải lấy Kim Trọng thay cho mình, thì ông bà Viên ngoại nghe theo răm rắp như một việc cố nhiên và đương nhiên. Đó là tư tưởng lãng mạn cách mạng của tác giả, chứ xã hội đời Minh hay xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du cũng không có thể nào như thế được.

Nguyễn Du lại cố ý đặt Kim Trọng, tình nhân của Thúy Kiều trên lòng nàng ngang với cha mẹ nàng, có khi còn trỗi hơn. Trong mười năm lưu lạc, có sáu lần Thúy Kiều nhớ cha mẹ thì cũng nhớ Kim Trọng, mà đặc biệt có hai lần nói đến Kim Trọng trước rồi mới nói đến cha mẹ sau. Tức là lần đi đường từ Bắc Kinh xuống Lâm Tri:

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

          Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

          Rừng thu từng biếc chen hồng

          Nghe chim như giục tấm lòng thần hôn

Một lần nữa ở lầu Ngưng Bích:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

          Tin sương luống những rày trông mai chờ

          Bên trời góc biển bơ vơ

          Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

          Xót người tựa cửa hôm mai

          Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

          Sân Lai cách mấy nắng mưa

          Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Phụ nữ Việt Nam đã bày tỏ cái ẩn tình của mình ra trong câu ca dao:

Mẹ cha bú mớm nâng niu

          Tội trời thì chịu, không yêu bằng chồng

Kim Trọng thực ra không những tình nhân mà là chồng chưa cưới của Thúy Kiều. Nguyễn Du cho nàng nhớ Kim Trọng hơn nhớ cha mẹ là hợp với ẩn tình phụ nữ lắm.

Dưới chế độ phong kiến, luân lý Nho giáo, hết thảy nam nữ thanh niên, không luận con cái ông gì bà gì, đều bị áp bách về luyến ái hôn nhân. Truyện Kiều hé ra cho họ một tia sáng như trên đây, cho nên, chỉ trừ ra người nào không biết cái yêu là gì thì không kể, còn thì hết thảy đều mở lòng ra mà đón lấy ánh mặt trời chói lói ấm áp của tác giả. Nguyễn Du đã thành công trong tác phẩm của mình, đã đạt được mục đích của mình là bởi đó.

***

Chung quanh Truyện Kiều là chuyện xã hội. Đối với cái xã hội ấy, xã hội Gia Tĩnh triều Minh hay xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du cũng thế, Nguyễn Du đã tỏ ra rất chán ghét nó, đã tố cáo bao nhiêu tội ác của nó.

Cứ xem nhân vật trong Truyện Kiều thì đủ biết. Kể cả nhân vật không lấy gì làm nhiều lắm, nhưng hầu hết đều là người xấu; lấy những người ấy tổ chức xã hội thì làm sao cho xã hội tốt được?

Cái cốt cán của xã hội phong kiến là nhà nho, vì có người của Nho giáo thì mới duy trì được chế độ phong kiến. Mà hễ chế độ phong kiến thối nát thì ắt nhà nho thối nát trước, trước hơn từng lớp khác. Đó là sự thực lịch sử. Hẵng kể chuyện lịch sử phong kiến thoi thóp triều Nguyễn gần đây cho dễ thấy. Dưới hai triều Thành Thái và Duy Tân, những ông quan lớn ở triều ở tỉnh, đồng tình với thực dân Pháp ký giấy phế vua; đào mả vua, bắt bớ giết hại người cách mạng, toàn là nhà nho cả, chẳng ai vào đó. Đó còn chưa kể người thi đem tiền đút cho quan trường, quan trường ăn tiền lấy đậu, bị kiện, đưa ra xử trước mặt người Pháp mà không thấy xấu hổ, thật không còn một chút nào là lễ nghĩa liêm sỉ, chứ đừng nói đến trung hiếu.

Nhà nho trong Truyện Kiều cũng thế. Mã Giám sinh, theo cái danh ấy là sinh viên trường Quốc tử giám, ngang với đại học sinh ở trường đại học quốc lập thời sau này. Thế mà vì kiếm ăn đã chung lưng với một mụ dầu, cái cử chỉ từ đầu đến cuối toàn là vô liêm sỉ. Sở Khanh từng ứng khẩu họa thơ dưới lầu Ngưng Bích, phải nhận hắn là một tay học khá mặc dù hành vi của hắn là lưu manh. Thúc Sinh cũng lại là tay học khá, hay thơ, thì vác tiền của cha đi nằm nhà thổ, lại còn dám gây ra vụ cha con kiện nhau. Đến Kim Trọng, một văn nhân có tài danh, đã bị mắng là “hư sớm” rồi; Vương Quan cũng chẳng “nên” chi, lạ cho một thằng bé mới 12-13 tuổi mà sao đọc trầm được chuyện Đạm Tiên như người khác đọc trầm được sách Mạnh Tử.

Đó là những nhà nho thất thời hay chưa đắc thời; khi họ đắc thời ra làm quan thì là hai ông quan: một ông xử vụ bán tơ, một ông xử vụ cha con Thúc Sinh; khi họ làm to lên nữa thì là cụ lớn Hồ Tôn Hiến. Ông thứ nhất ăn tiền ra mặt; ông thứ nhì tùy ý phán đoán vụ tố tụng dân sự, coi như trò đùa; đến tổng đốc Hồ thì khiếp nhược, đểu giả, thêm cái vẻ có máu dê.

Tôi thấy chỉ có Mã Kiều và mụ Quản gia, hai người ở từng lớp bét trong xã hội, là có lòng nhân đạo, biết đồng tình với một nạn nhân xã hội là Thúy Kiều mà tùy cơ cứu giúp cho. Còn ngoài ra, đều là hùm sói cả. Tú Bà độc ác vì cái nghề của mụ; Hoạn Thư nham hiểm vì thường tình ghen tuông; hai thằng Ưng, Khuyển với một bầy côn quang, như thiên lôi sai đâu đánh đó, chẳng nói làm chi. Khả ố nhất là bà vợ Thiên quan Trủng tể, ngồi trên giường thất bảo giữa ban ngày sáp thắp hai bên mà ra oai với một thiếu phụ lưu ly thất sở, bị phù lỗ trong tay mình. Nhìn qua một bận hết thảy nhân vật ấy, Nguyễn Du không thể không khen Chung công là “từ tâm”, Giác Duyên là “lành lòng”, thật là vớt vát hết sức mà cũng mỉa mai hết sức. Thực ra, Chung công chỉ là một tên cò mồi, dẫn tang cho quan trên; Giác Duyên cũng có thể bị tình nghi là đồng lõa với Bạc Bà, Bạc Hạnh, thừa dịp đuổi Thúy Kiều đi để chiếm lấy chuông vàng khánh bạc. Bởi vì, theo Giác Duyên thì nhà họ Bạc quen với nhà chùa, lẽ đâu không biết nhà ấy là nhà bán thịt buôn người?

Những nhân vật vô nhân đạo ấy thế nào cũng sẽ tạo ra những sự kiện vô nhân đạo.

Thằng bán tơ, theo Phong tình lục, là một thằng kẻ trộm hay buôn lậu gì đó, nó chỉ gặp Vương ông trong quán rượu một lần, khi việc gian lậu của nó vỡ ra, bị quan xúi khai cho nhà giàu để làm tiền, nó tưởng Vương ông nhà giàu nên nó cung chiêu cho. Rồi Chung công là tay trong của quan đứng ra dàn xếp. Cái thủ đoạn tàn nhẫn ấy cũng chẳng lạ gì ở nước Việt Nam thời trước, nơi mà dân chúng đã kêu:

Sướng chi mà sống đời nay

          Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

                                                                   (ca dao)

Mã Giám sinh, Bạc Hạnh công nhiên đi làm cái nghề mua bán người mà pháp luật cứ để yên cho làm, chẳng hề hỏi đến, mặc dầu sự mua bán ấy đã bị pháp luật nghiêm cấm từ lâu rồi. Cũng như ở nước ta, luật Hồng Đức, luật Gia Long đều có điều cấm “mại nhân vi nô”, triều vua Cảnh Thống nhà Lê lại còn cấm nhân dân Quảng Nam không được bắt người Mọi bán làm con đòi đứa ở, nhưng mà cái nạn mẹ mìn cứ còn mãi cho đến cả thời Pháp thuộc.

Thúy Kiều bị đánh đòn bốn lần. Một lần ở sân phủ đường, chịu “cứ phép gia hình”, một lần ở nhà mẹ Hoạn Thơ, không chống lại nổi với cái “gia pháp” nhà quyền thế, chẳng nói làm chi. Hai lần ở nhà Tú Bà, bị đánh gần chết, lần trước Kiều tự lấy dao cắt cổ, gần xảy ra án mạng, thế mà không hề có một ai can thiệp. Nếu nói đó là việc riêng trong nhà Tú Bà, thì còn đang đêm mụ suất một đoàn gia nhân với gậy đuốc đuổi theo bắt người, làm náo động từ phố phường đến làng xóm, sao người ta cứ để mặc mụ làm tự do? Thì ra, cái thời bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng ấy, một con mẹ trùm đĩ vẫn được làm gió làm mưa trong cái vùng nó chiếm đóng.

Sau khi giấu Thúy Kiều một nơi, theo Phong tình lục, Thúc Sinh cho người đến bảo Tú Bà rằng hắn sẽ kiện mụ chiếu theo điều luật “dĩ lương vi xương” (lấy con gái lương gia làm đĩ), nếu mụ cho chuộc Thúy Kiều ra thì thôi không kiện. Ấy tức là trong Truyện Kiều nói hai bài chiến và hòa. Rốt cuộc Tú Bà phải cầu hòa, là vì mụ nghĩ tiền mụ không nhiều bằng nhà Thúc Sinh, thế mụ không mạnh bằng nhà vợ Thúc Sinh, nếu gặp tay khác thì với ông quan mặt sắt ấy, mụ thò ra một ít bạc cũng làm phi được điều luật. Ở dưới nhiều thứ áp lực nặng nề khó ngóc đầu ấy, Thúy Kiều phải nhận Thúc Sinh, anh chàng ngu ngốc bạc bẽo làm ân nhân mà đền đáp có hơi quá cũng không nên trách.

Khuyển, Ưng và một lũ côn quang đã vượt biển từ Vô Tích sang Lâm Tri đốt nhà bắt người, gây một vụ hành hung to như thế mà cũng không ai hỏi đến. “Sẵn thây vô chủ bên sông”, là thây nào? Sao lại sẵn? Không lấy gì làm lạ: nếu người ta hỏi đến vụ hành hung thì người ta đã hỏi đến cái thây này rồi. Thật đáng gọi là đời loạn, ai muốn phóng hỏa thì phóng hỏa, ai muốn sát nhân thì sát nhân.

Dưới ngòi bút mình đã vẽ ra một xã hội có những nhân vật và sự kiện như thế, người có tâm sự, có hoài bão như Nguyễn Du phải nghĩ thế nào chứ. Theo Nho giáo, gặp đời loạn, cái nguyện vọng cao nhất là “bát loạn phản chánh”; nhưng trước còn phải “đắc quân” rồi sau mới “hành đạo” được. Cái chuyện “đắc quân” thì từ đời Khổng Tử đã thấy khó, cho nên cái thuyết của Nho giáo không thể áp dụng cho trường hợp này mặc dầu Nguyễn Du là nhà nho.

“Trăm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy gươm làm sạch” (tục ngữ), ấy là một thứ triết học bình dân của bình dân Việt Nam. Trong cơn phẫn uất, tác giả Truyện Kiều không cần nghĩ đến nơi đến chốn, cứ tạm theo thứ triết học ấy mà cho lưỡi gươm của Từ Hải vung lên.

Tôi không nói Nguyễn Du muốn làm cách mạng. Bởi vì Nho giáo không chủ trương cách mạng. Khổng Tử từng tán dương vua Thang vua Vũ cách mạng, nhưng đó là vua cách cái mạng của vua, chứ Khổng Tử thì ngài chỉ mong làm tôi để phò vua, không hề dám có mộng tưởng cách cái mạng của vua. Khi không phò được vua thì ngài lại rắp toan cộng tác với mấy kẻ bạn thần như Công-sơn Phất-nựu, Bật-nật mà trong sách Luận ngữ có nói. “Rắp toan” thế thôi, rốt cuộc rồi ngài cũng không cộng tác. Chịu ảnh hưởng của thứ tư tưởng truyền thống, nói là trung dung mà thực là mâu thuẫn ấy, Nguyễn Du có vẻ lúng túng trong khi viết đoạn chuyện Từ Hải. Nhân vật Từ Hải đã được đặt trên một lập trường không minh bạch, vua không ra vua, giặc không ra giặc, thành thử làm đến Kiều cũng loạn trí, đã tự nhận mình giết chồng là có tội, nhưng lại tự nhận có công phần nào.

Mặc dầu Nguyễn Du cho Từ Hải làm kinh thiên động địa đến đâu, là thực sự, Từ Hải cũng không anh hùng bằng Nguyễn Huệ, con người có thật đứng trước mặt Nguyễn Du mười lăm năm. Thế sao Nguyễn Du đã chống vua Quang Trung mà lại hâm mộ và đề cao Từ Hải? Thì ra trong khi Nguyễn Du nhận Nguyễn Huệ là kẻ thù của nhà Lê, lại muốn cậy tay Từ Hải rửa sạch cái xã hội nhà Minh. Chỗ này thấy thêm một mâu thuẫn nữa.

Từ Hải phải thất bại, Nguyễn Du biết thế, nhưng cứ đề cao, hình như chỉ để khoái ý nhất thời. Mà giá phỏng Từ Hải có thành công, thì cái xã hội vạn ác kia cũng vẫn cứ vạn ác. Trong một cuộc đền ơn báo oán, tiêu đến ba ngàn cân vừa vàng vừa bạc, một trăm cuốn gấm, vẫn là của bóc lột dân nghèo; không đụng đến Hoạn phu nhân, tha bổng thủ phạm Hoạn Thư mà lại giết Khuyển Ưng, vẫn là cái thói “quan vị quan”, bênh vực kẻ cùng giai cấp, tàn sát kẻ khác giai cấp. Tư tưởng không triệt để thì nó phải thế; nhưng nói thế, không phải buộc Nguyễn Du phải có tư tưởng triệt để cách mạng xã hội.

Nói gì thì nói, chứ so sánh hết thảy tác phẩm cổ điển của ta, như những Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên, Lục Vân Tiên… về phương diện ý thức xã hội, ý thức chính trị, phải kể Truyện Kiều là tiến bộ hơn hết. Trong các truyện kia, nhân vật đều sống hiền lành ngoan ngoãn dưới chế độ áp bách, cắn răng bấm bụng để chờ một cuộc đại đoàn viên; duy Truyện Kiều còn có ý vươn lên, tuy vươn lên chưa đến đâu.

“Con giun bị xéo còn biết quậy” (tục ngữ), đó là cái tâm lý của người Việt Nam từ xưa đến nay, bởi đó mà trong lịch sử đã có bao nhiêu lần nông dân khởi nghĩa. Quậy, có khi chỉ để khoái ý nhất thời như Nguyễn Du, không hẳn có được việc gì, nhưng họ cứ quậy. Nguyễn Du cho Từ Hải vung gươm lên trong lúc xã hội bị giày xéo, cái đó hiệp với tâm lý mọi người lắm, cho nên người ta hoan nghênh Truyện Kiều không luận Từ Hải thành công hay không thành công. Đó lại là một khía tư tưởng dễ thông cảm của Truyện Kiều làm nó được truyền tụng.

Ngoài ra, Nguyễn Du còn xây dựng Truyện Kiều đúng với hiện thực, nhân vật nào cũng ra con người có xương có thịt, làm cho người đọc tin là thực nên dễ mê. Tức như vai chính Thúy Kiều, khi ở với Thúc Sinh, ở với Từ Hải thì không nhớ Kim Trọng nữa, lúc mới gặp Từ Hải mong Từ làm Đường Cao tổ mà đến lúc khuyên hàng lại ví Từ với Hoàng Sào. Đó thật là lòng dạ đàn bà (tôi nói đàn bà thời trước) mà Từ Hải đã gọi là “nữ nhi thường tình”. Thúy Kiều tuy hiếu nghĩa nhưng vẫn là một người đàn bà có lòng tự tư tự lợi như mọi đàn bà khác (tôi cũng nói đàn bà thời trước), Nguyễn Du không chịu làm nàng thành ra một tiết phụ hay một nữ hiệp sĩ xa cách với chúng ta nên dễ lấy được đồng tình của chúng ta. Điểm này thuộc về văn chương, kỹ thuật của tác giả, ông Hòe đã khẳng định rồi, không cần nói thêm; dưới đây xin nói đến chỗ ông Hòe bảo tư tưởng tầm thường và không đúng xác.

***

Trên kia đã nói rõ Nguyễn Du viết Truyện Kiều không phải để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo nào dù chỉ “hình như” như ông Hòe nói. Nếu gọi nó là tư tưởng thì cũng không phải phần tư tưởng chính, đại biểu nội dung của tác phẩm. Ở đây tôi muốn cắt nghĩa tại sao Nguyễn Du có thứ tư tưởng tầm thường, không đúng xác ấy, theo lời phán đoán của ông Hòe mà tôi đã đồng ý ở trên.

Đó không phải cái lỗi của Nguyễn Du mà là cái lỗi của Nho giáo, hầu hết nhà nho từ trước đến sau đều mắc phải.

Nho giáo không có gì khác hơn là một thứ lợi khí để duy trì chế độ phong kiến. Chung cho trật tự xã hội, nó dựng lên thuyết tam cương, riêng cho phụ nữ, nó lập ra luật tam tùng, thu quyền vào trong tay vua, cha, chồng, trong tay đàn ông, mà rốt cuộc lại là trong tay vua. Nó có những giáo điều nghiệt ngã nói là lý trí không phải lý trí mà bóp chết người ta về phương diện tình cảm. Sống trong cái vòng bị trói buộc về phần xác ấy, giá có nới cho về phần hồn, phần tư duy tưởng tượng thì còn khá. Nghiệt thay đức thánh Khổng lại không chịu nói đến thần (Luận ngữ: bất ngữ thần), không chịu nói đến cái chết (Luận ngữ: yên tri tử), bắt người ta sống chịu khổ trọn đời, dù chỉ muốn giải thoát nội tâm cũng không phương giải thoát. Nho giáo thật là một cái đạo khắc nghiệt, khô khan, bất cận nhân tình.

Ở trong Nho giáo thấy ngột thở, thấy thiếu thốn, tự nhiên người ta phải tin Phật giáo, Đạo giáo, mà có lẽ nhà nho tin trước hơn ai hết, tin sâu hơn ai hết. Đã tin như thế, sợ mang tiếng phản lại giáo của mình, người ta bèn làm hỗn hợp giáo nọ với giáo kia, kết cuộc là cái thuyết “tam giáo nhất lý” hay “tam giáo đồng nguyên”.

Lịch sử làm chứng rõ ràng điều đó. Nhà nho từ đời Đường về sau, hầu như đều thế cả. Hàn Dũ ban đầu chống Phật mà đến lúc bị đày đọa ghe phen rồi cũng phải vò vè muốn tin Phật. Các nhà nho đời Tống đời Minh còn trắng trợn hơn, công nhiên rút triết lý của Thiền tông làm học thuyết của mình, như hai họ Trình và Vương Dương Minh. Đến đời Mãn Thanh, thôi không còn dè dặt gì nữa, hết thảy nhà nho khi trong nhà có việc tang, đều rước hoà thượng, đạo sĩ đến cầu cúng, gọi là “tố pháp sự”. Ở Việt Nam cũng vậy, từ đời Trần đã thi tam giáo, đến Lê Nguyễn mới chuyên trọng một đạo Nho. Nhưng cứ kể trong khoảng bảy tám mươi năm trước đây, hai ông nhà nho được coi là người khá, được tôn là bậc thầy: tổng đốc Nguyễn Khoa Luận thì xuất gia và tịch ở chùa, đốc học Trần Viết Thọ thì tu tại gia và cuối cùng lên giàn hỏa.

Nhà nho, đàn ông còn như thế, huống chi phụ nữ. Từ nay giở về trước, nếu ai trách đàn bà Việt Nam hay mê tín, tin bói khoa, tướng số, đồng bóng, hay đi chùa lễ Phật, vái lạy tam phủ tứ phủ, cầu con cầu của, là người không biết điều.

Nguyễn Du là một nhà nho trong hạng nhà nho ấy, về ý kiến chính trị đã mâu thuẫn, về tín ngưỡng lại không đơn thuần. Giá như Nguyễn Du có tư tưởng triệt để thì Truyện Kiều đã thành ra một tác phẩm có ý nghĩa phản phong kiến rồi, bọn Hồ Tôn Hiến đã bị chửi cho tàn tệ rồi, luồng gió cách mạng đã thổi lên rồi; nhưng không có thể được, trước đây một trăm rưởi năm, ở nước Việt Nam không thể có cái tư tưởng ấy.

Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng mà bị giết là công hay tội, tác giả nói rất mập mờ. Chuyện là chuyện xã hội mà cuối cùng lại giải quyết bằng phương thức cá nhân: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, thì cũng như không giải quyết gì cả. Ông Hòe chê rằng tầm thường, không đúng xác là phải lắm. Nhưng đó không phải là cái lỗi riêng của Nguyễn Du; giá chúng ta ở thời đại Nguyễn Du viết Truyện Kiều thì cũng thế (nói thế, chứ chúng ta chưa chắc đã viết được bằng).

Cứ theo lẽ thẳng mà nói thì như thế, nhưng chúng ta cũng còn có chỗ đáng dè dặt phần nào. Ở phần chú giải, dưới câu “một niềm vì nước vì dân”, ông Hòe lấy làm lạ về Nguyễn Du trước đã tỏ mối thiện cảm với Từ Hải bao nhiêu, thì sao đến sau lại cho Tam Hợp, Đạm Tiên nói những câu rất khinh miệt, ác cảm với Từ Hải bấy nhiêu, rồi ông viết: “Có phải tác giả làm ra như vậy để đánh lạc dư luận về thái độ của ông đối với Từ Hải? Có phải tác giả cố ý làm ra như vậy để đánh loãng cái cảm tình nồng hậu của ông đối với nhân vật Từ Hải? Và tất nhiên là vì lý do tự vệ” (tr. 646).

Chỗ này, ông Hòe nói rất có lý. Theo như chứng cứ dưới đây thì sự nghi ngờ ấy chính đáng lắm.

Người ta phải lấy làm lạ, sao hầu hết văn chương cổ điển nước ta không lấy đề tài ở bản quốc mà đều lấy ở ngoại quốc: Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên, Truyện Kiều lấy ở Trung Quốc, Quan âm Thị Kính lấy ở Triều Tiên. Đến thơ phú, sĩ phu nhà Trần phản đối sự Huyền Trân gả về Chiêm Thành thì mượn chuyện Chiêu Quân cống Hồ; Nguyễn Hữu Chỉnh muốn tỏ tâm sự chí khí của mình thì làm “Hàn vương tôn phú”, Nguyễn Nghiễm muốn ngụ ý phò Lê thì làm “Khổng Tử mộng kiến Chu Công phú”. Chinh phụ ngâm, một tác phẩm phản đối chiến tranh Trịnh-Nguyễn thì tên người tên đất cũng đánh lạc đi đâu, những là Phục Ba, Giới Tử, Lũng Hải, Cam Tuyền, làm như việc đó không phải xảy ra ở xứ ta. Thậm chí không lấy đề tài ở người mà lấy ở thú vật, như Lục súc tranh công, Trinh thử truyện, Trê cóc. Tại sao vậy? Có phải tại cấm lệnh của nhà vua nghiêm ngặt quá, không ai dám đả động đến việc trong nước chăng?

Pháp luật phong kiến, như luật Đại Thanh, luật Hồng Đức, luật Gia Long, đều có điều “cấm yêu thư yêu ngôn”. Luật Gia Long về điều này: Kẻ tạo ra yêu thư yêu ngôn bị tội trảm giam hậu, chưa truyền bá thì bị lưu tam thiên lý, kẻ tàng trữ thì trượng nhất bách, đồ tam niên. Lúc bấy giờ không có cái gọi là quyền ngôn luận, chứ chưa nói tự do hay không tự do. Không cứ văn bài sách vở gì, hễ vua chúa thấy là xúc phạm quyền thống trị của mình, đều chiếu vào luật này trị tội. Tuy vậy, ở Trung Quốc, vào thời Kiền Long, Ưng Chánh, có phát ra nhiều cái án gọi là “văn tự ngục”, mỗi cái chết đến hàng trăm người. Nhưng nước ta, từ triều Lê về trước, trong sử hình như không có cái án nào như vậy cả. Có lẽ tại nước ta là nước nhỏ, quyền lực phong kiến càng phải giữ chặt chẽ hơn, sự đề phòng càng nghiệt ngã hơn, thành thử ai nấy khiếp sợ, có viết thì viết những chuyện Hàn Tín, Trương Lương hay là những chuyện con trâu, con gà, con chuột, con cóc, thì làm sao cho có “văn tự ngục” được?

“Văn tự ngục” ở nước ta, theo tôi biết, hình như bắt đầu có từ triều Gia Long, việc xảy ra ngay trước mắt Nguyễn Du. Lúc đó, con trai của Nguyễn Văn Thành, một đại thần có công đang tại triều, vì một bài thơ tám câu mà bị tội trảm quyết, còn liên lụy đến anh em khác nữa, cả đến Nguyễn Văn Thành cũng phải uống thuốc độc mà chết. Nguyễn Văn Thành thủy chung theo phò vua Gia Long mà con trai còn như vậy, huống chi Nguyễn Du đã là thần tử nhà Lê, lại vốn có thái độ “lừng khừng”, bảo sao không né mình trước cái thảm họa ấy? Ở Huế có lời truyền thuyết rằng về sau vua Tự Đức xem Truyện Kiều đến câu “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, ném sách xuống mà rằng: “Phải chi Nguyễn Du còn sống, nọc nó ra mà đánh ba chục”. Ngài nói nhũn mà chơi đấy, chứ nói thực thì nói “chặt đầu”. Có một bản Truyện Kiều gọi là “bản Kinh”, tức là bản Tự Đức bảo chữa lại.

Ông Hòe nói phải lắm. Rất có lẽ Nguyễn Du vì tự vệ mà cố ý nói những câu trái với bản tâm để đánh loãng cái tình cảm nồng hậu của mình đối với Từ Hải.

Những cây cỏ mọc dưới đống đá, tất nhiên nó không thể vươn thẳng lên được, nó phải lựa chiều, uốn mình trồi lên giữa kẽ đá, trồi lên được chút nào hay chút ấy. Tuy e dè tránh tránh ghé, Nguyễn Du cũng đã để cái thâm ý của mình trồi lên cho chúng ta thấy.

Kể công Thúy Kiều bốn lần hết thảy mà đều do từ miệng người khác: Hồ Tôn Hiến, Tam Hợp, Đạm Tiên và người Hàng Châu, chứ Thúy Kiều thì cũng biết nói: “Khéo khuyên kể lấy làm công…. Xét mình công ít tội nhiều”, thủy chung tác giả vẫn nghiêng lòng về Từ Hải một cách khúc chiết.

Có những điểm khác cũng tương tự như thế. Ở giữa một xã hội sặc mùi mê tín, hình như Nguyễn Du không tán thành mà cũng không phản đối ra mặt, chỉ biểu lộ vi ý của mình phớt qua một vài nét. Sau khi Thúy Kiều thuật lời đoán của tướng sĩ, Kim Trọng nói “Nhân định thắng thiên”; sau khi Thúy Kiều kể chuyện chiêm bao thấy Đạm Tiên, Vương Bà bảo “Mộng ảo cứ đâu”; hơi xẵng là câu “chẳng qua đồng cốt quàng xiên” nói về cuộc đánh đồng thiếp. Mà thực sự thì tác giả đã phô tự ba việc ấy theo với chứng cứ thấy có linh nghiệm hoàn toàn. Nguyễn Du đã muốn giải phóng phụ nữ thì tất nhiên cũng phản đối sự “giữ trinh đơn độc”, vì nó là vô lý, tại sao chồng không giữ trinh đối với vợ mà vợ lại phải giữ trinh đối với chồng? Tại sao Kim Trọng nghiễm nhiên lấy vợ đẻ con mà Thúy Kiều lại cứ phải áy náy về sự mình thất tiết? Tuy vậy, Nguyễn Du không táo tợn hỏi như thế mà cứ để cho Thúy Kiều áy náy, áy náy đến nhiều lần, rồi cuối cùng đặt vào miệng Kim Trọng một câu: “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường” là xí xóa tất cả, không còn áy náy nữa. Qua câu ấy và mấy câu tiếp theo, chúng ta phải hiểu rằng Thúy Kiều vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải làm đĩ là không mất trinh.

Lấy những điều đó án chứng cho nhau, thấy ngòi bút của tác giả vẫn trung thành với ý chí tình cảm của tác giả, chỉ vì lẽ này lẽ kia như trên đã nói làm cho phần kết thúc của Truyện Kiều không được sáng sủa cho lắm, thật đáng tiếc. Cái khổ tâm của tác giả thấy trong câu kết: “Mua vui cũng được một vài trống canh”, truyện từ đầu đến cuối đau đớn như thế mà lại nói “mua vui”, đại thi hào của Việt Nam chúng ta muốn đánh lừa chúng ta chăng!                               

                                                       Hà Nội, tháng Tư năm 1955   

PHAN KHÔI

Nguồn:

Tập san Đại học Sư phạm, Hà Nội, s. 3 (tháng 8, 9, 10/1955), tr. 53-77.

Chú thích:

(1) Chuyện Thúy Kiều có mấy thứ sách đã chép, có người đã cử ra, đây tôi không nói đến, chỉ nói riêng về Phong tình lục. Nó là một bộ tiểu thuyết hai cuốn, khổ lớn, đề tên tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân, viết bằng bạch thoại đá văn ngôn, xuất bản từ đời nào thì không rõ. Nhà ông đốc học Lương Văn Nhã ở làng tôi có bộ sách ấy mà đã cũ lắm, tôi đã được đọc nó trước đây 50 năm. Tôi có người bạn Hoa kiều ở Hội An, tên là La Doãn Khiêm, biết thưởng thức Truyện Kiều của Nguyễn Du lắm, muốn in chung nó với Phong tình lục làm một tập, bèn mượn sách của nhà Lương Văn Nhã đem về Trung Quốc, vì nói rằng đã tìm ở nhiều hàng sách cũ bên ấy mà không có. Việc ông La Doãn Khiêm định làm đây về sau cũng không thành.

Tên sách là Phong tình lục. Truyện Kiều mở đầu nói: “Phong tình có lục”, nó là chữ “có”, không phải chữ “cổ”. Chữ “có” ấy cũng như chữ “có” ở câu “Họ Chung có kẻ lại già” và câu “Họ Đô có kẻ lại già thưa lên” ở bổn truyện, và câu “Mị nương có ả tư phong khác thường” trong Nam sử diễn ca; chứ Nguyễn Du không có thể thêm vào một chữ trong cái tên sách sẵn có mà nói “Phong tình cổ lục” được. Vậy mà ở Truyện Kiều chú giải, ông Hòe chép là “Phong tình cổ lục” rồi chú rằng “Phong tình cổ lục là bộ sách chép chuyện phong tình đời cổ” thì thật là bướng.

Còn có một bản Truyện Kiều viết bằng chữ Hán (văn ngôn) chép tay, không thấy tên người viết, trước kia tôi ở Hà Nội có được đọc. Bản này văn dở lắm, tôi tưởng đó là do một người Việt Nam nào thuở trước không hay chữ lắm, đã do theo Truyện Kiều Nguyễn Du mà dịch ra, xin đừng ai nhận lầm đó là Phong tình lục.

Theo Phong tình lục, chỗ Thúc Sinh lập mưu chuộc Thúy Kiều ra, chỗ Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am, chỗ Hồ Tôn Hiến sai thuyết hàng Từ Hải, đều nói rất ngô nghê, tốn nhiều bút mực mà vô vị, những chỗ ấy Nguyễn Du đều bỏ hết mà chỉ nói phớt qua một vài lời. Còn những chỗ khác tả tình tả cảnh như chỗ Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, đều là tự tay Nguyễn Du viết ra.

Về gốc tích Truyện Kiều, ông Đào Duy Anh thấy biết nhiều hơn tôi, theo lời ông Đào thì: Bộ tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân hiện ông thấy có một bản nhan đề là Quán hoa đường bình luận Kim Vân Kiều truyện, trong số tập san này [Tập san Đại học sư phạm số 3 này là số chuyên đề kỷ niệm 150 năm sinh Nguyễn Du – L.N.A.] sẽ trích dịch nhiều đoạn. Còn quyển Truyện Kiều bằng chữ Hán tôi nói trên thì hiện ông Đào cũng thấy có bản in, nhan đề chỉ có hai chữ là Kim Vân.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(2) Câu này có nơi hát là “Râu tôm nấu với ruột /Chồng chan vợ húp gậtkhen ngon”. Quả bầu, hình như ở miền Nghệ Tĩnh gọi là , cho nên lấy vần với . Chua thêm vào đây để thấy câu ca dao ấy truyền bá phổ biến lắm, đến mỗi nơi theo ngữ âm mà đổi khác. (nguyên chú của Phan Khôi)

(3) Câu thơ này ở bài “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du. Tiểu Thanh cũng là một người con gái đời Minh, có tài nghệ, làm vợ lẽ Phùng sinh ở Hàng Châu, bị vợ cả đày đọa mà chết lúc mới 18 tuổi. Đây tôi đem dùng vào chuyện Nguyễn Du đối với Thúy Kiều, tuy có hơi ép, song chắc Nguyễn Du không trách tôi, vì hai người ấy đều là con gái đời Minh, đều là bạc mạng, đều được Nguyễn Du thương tiếc mà gợi ra động cơ sáng tác.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(4) Năm 1907, ông Từ Đạm làm án sát Nam Định, bắt giam một người tình nghi về chính trị; trong chuồng giam, người ấy hay kể Kiều, ông đòi ra, bắt làm một bài thơ vịnh Kiều, người ấy làm:

Khép cửa buồng xuân để đợi chờ,

                        Mà em mất nết tự bao giờ

                        Chàng Kim mê gái công đeo đẳng

                        Viên ngoại chiều con chết ngất ngơ

                        Nợ trước hẹn hò con đĩ Đạm

                        Duyên sau gặp gỡ bố cu Từ

                        Mười lăm năm ấy bao nhiêu sướng

                        Còn trách làm chi đứa bán tơ.  (nguyên chú của Phan Khôi)

(5) Theo ông Đào Duy Anh, Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi làm tham tri bộ Lễ. Song ở đây tôi làm văn chứ không làm việc khảo cứu.  (nguyên chú của Phan Khôi)

 

PHAN KHÔI VÀ NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN VỀ “TRUYỆN KIỀU” NHỮNG NĂM 1920-1930

 

Lại Nguyên Ân

 

Những năm 1920-1930, trên báo chí ở ba miền Việt Nam đã nổ ra khá nhiều cuộc tranh luận xung quanh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Một số công trình nghiên cứu và tư liệu nhiều năm qua đã đề cập đến những tranh luận ấy. (1) Tuy vậy, một phần do quan điểm nghiên cứu, một phần do những thiếu hụt đáng kể về nguồn tài liệu, không ít dữ kiện đã bị bỏ sót, sự đánh giá không hiếm khi bị thiên lệch.

Một điều dễ thấy nhất là, hầu như chưa công trình nghiên cứu nào ghi nhận đầy đủ vai trò học giả-nhà báo Phan Khôi (1887-1959) trong những cuộc tranh luận ấy.

Người viết những dòng này, từ năm 2000 đến nay đã giành thời gian tìm hiểu và sưu tầm để tái công bố một cách hệ thống các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, (2) nhận thấy rằng, Phan Khôi đã có vai trò rất đáng kể trong các cuộc tranh luận kể trên.

Dưới đây xin điểm lại những cuộc thảo luận, tranh luận ấy.

Vào năm 1924, Hội Khai trí tiến đức (thành lập 2/5/1919, tên tiếng Pháp:  Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, viết tắt AFIMA, một hiệp hội dân sự, thành viên là những trí thức, quan chức người Việt, và cả một số người Pháp; hội nhằm tới những hoạt động giao lưu văn hóa giữa xu hướng Tây học đang mạnh lên và nền học thuật truyền thống Việt Nam) chủ trương một lễ kỷ niệm tôn vinh thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” rất phổ cập trong cộng đồng người Việt.

Lễ kỷ niệm được tổ chức nhân ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, nhằm ngày 10 tháng 8 năm Giáp Tý (tức ngày 8/9/1924) tại hội quán Khai trí tiến đức, trên bờ hồ Gươm, Hà Nội. Tại lễ kỷ niệm này, tổng thư ký Khai trí tiến đức đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Nam phong” là Phạm Quỳnh (1892-1945) đọc diễn văn tôn vinh thiên tài Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Hiện tượng dân Việt, từ người học thức cao đến kẻ lam lũ, già trẻ lớn bé, ai ai cũng biết cũng thuộc cũng kể cũng ngâm Kiều, − được diễn giả ghi nhận như cái công “tác thành cho tiếng nước nhà” của Nguyễn Tiên Điền; từ đây diễn giả cho Truyện Kiều là “quốc hoa, quốc túy, quốc hồn” của nước Việt; “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”…

Tinh thần bài diễn văn của Phạm Quỳnh là nhất quán với chủ trương của ông và của nhiều trí thức người Việt đương thời: đặt niềm tin sự phát triển văn hóa dân tộc từ nay về sau vào văn quốc ngữ, vào chữ quốc ngữ, tuy là văn tự chỉ mới được phổ biến dăm ba chục năm, nhưng lại gắn với tiếng nói từ xa xưa đến hiện tại của người bản ngữ ở Việt Nam. Trong một ý hướng như thế, việc chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du làm điểm tựa trong truyền thống hầu như là lựa chọn tối ưu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác giả đương thời như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, v.v., vào dịp đó đều có những việc làm góp phần phổ biến Truyện Kiều, những bài viết đề cao giá trị Truyện Kiều.

Tuy nhiên, đó không phải là thái độ duy nhất trong dư luận xã hội Việt Nam, khi ấy đã là một xã hội dân sự khá phát triển; hầu hết các vấn đề văn hóa xã hội (trừ một vài đề tài chính trị quá nhạy cảm như tuyên truyền cộng sản, đả kích thực dân Pháp) đều có thể được đưa ra tranh cãi, các ý kiến khác nhau đều có thể được bày tỏ, với diễn đàn là các cơ quan báo chí khác nhau, phần lớn là của các nhóm tư nhân, dân sự.

Chính trong không khí ấy đã xuất hiện bài báo tỏ rõ một thái độ ngược hẳn lại với loại thái độ kể trên. Ấy là bài viết của Tiến sĩ Nho học Ngô Đức Kế (1878-1929) nhan đề “Luận về chính học cùng tà thuyết. Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” (“Hữu thanh”, H., s. 21, ngày 1/9/1924; bán nguyệt san “Hữu thanh”, 1921-24, là cơ quan của Hội ái hữu công thương Bắc Kỳ, lúc này do Ngô Đức Kế làm chủ bút).

Phương pháp luận then chốt của tác giả Ngô Đức Kế là đem nhuộm màu chính/tà cho hoạt động học thuật mỗi thời đại; “hễ nước nào khi vận nước thịnh cường tất khi ấy trong nước chính học sáng rệt; nước nào khi vận suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành”. Vận dụng vào xã hội Việt Nam, Ngô Đức Kế cho rằng đến lúc này người Việt vẫn còn chưa nắm vững được nền “Âu học”, trong khi những “chân nho chính sĩ Hán học thì đã quá nửa mòn mỏi điêu linh”, tóm lại nền “chính học” đang sa sút, – đó chính là cơ hội cho “tà thuyết” lưu hành, mà việc đề cao Truyện Kiều, theo ông, chính là biểu hiện rõ rệt nhất!

Ngô Đức Kế hoài nghi giá trị bản “Kim Vân Kiều” gốc Trung Hoa, cho rằng ngay đặt nhan đề truyện đã không ổn, “càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một một anh Tàu dốt nào đó mà thôi”; còn “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du, ông Nghè Ngô công nhận đó là áng văn chương quốc âm “hay thật”, nhưng ông không quên nhắc: đó chỉ là một truyện phong tình, không thể tránh khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, tóm lại chỉ là thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời “chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học mà đem ra dạy đời được đâu”! Tất cả những sự trân trọng, tôn vinh mà Phạm Quỳnh giành cho Truyện Kiều ở lễ kỷ niệm tại Khai trí tiến đức, dưới mắt Ngô Đức Kế đều là tà thuyết “xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng”, mê hoặc dân chúng!

          Việc Ngô Đức Kế lên tiếng hạ thấp giá trị Truyện Kiều không chỉ có căn cứ từ quan niệm nhà nho, đề cao văn chương đạo lý, hạ thấp văn chương ngâm vịnh chơi bời; phát ngôn của Ngô Đức Kế chống phong trào sùng bái Truyện Kiều còn bộc lộ một tương quan đối nghịch giữa hai bộ phận kẻ sĩ trí thức người Việt đương thời, một bộ phận hợp tác với chính quyền thực dân, một bộ phận khác thì bất hợp tác với chính quyền ấy, công kích tất cả những ai hợp tác với chính quyền thực dân, những ai tham dự các hoạt động văn hóa được chính quyền thực dân bảo trợ. Tạp chí “Nam phong” hay Hội khai trí tiến đức và các hoạt động của hội này, trong mắt những sĩ phu bất hợp tác với thực dân, đều là công cụ, đều phục vụ những mục đích của thực dân, do đó, họ đều tìm cách tẩy chay, bất hợp tác.

          Mặc dù trong tay có tạp chí “Nam phong”, nhưng Phạm Quỳnh đã im lặng trước sự đả kích của Ngô Đức Kế.

          Phan Khôi thời gian đó (1920-24) cũng đang ở Hà Nội nhưng hầu như không viết báo mà dành thời gian cộng tác với vợ chồng mục sư W.C. Cadman dịch Kinh Thánh đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt.

Mấy năm sau Phan Khôi vào Sài Gòn, cộng tác với một số tờ báo ở thành phố này, trong đó có tuần báo “Phụ nữ tân văn” (1929-1935); tại đây, ông và Đào Trinh Nhất được xem như hai người chèo lái chính cho tòa soạn tờ báo này, nhất là mấy năm đầu. Trong số rất nhiều bài báo Phan Khôi viết và đăng trên tuần báo này, có những bài ông điểm bình cuốn “Nho giáo” mới ra mắt của Trần Trọng Kim, trao đổi với tác giả chuyên khảo này về các vấn đề Nho giáo. (3) Việc Trần Trọng Kim nhã nhặn đáp lại Phan Khôi và thảo luận về các vấn đề ông nêu ra, đã khiến Phan Khôi nghĩ tới những yêu cầu thuộc phương diện “học phong sĩ tập” của giới trí thức, theo đó, các chất vấn nêu ra trước các nhận định đã có, cần phải được đáp lại, để đẩy học thuật đi tới; những kiểu im lặng trước các ý kiến chất vấn, như việc Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế hồi 1924, theo Phan Khôi, là việc không thỏa đáng, không thể chấp nhận; ông gọi đó là thói “học phiệt” (liên hệ tình trạng cát cứ của các tay “quân phiệt” trên đất Trung Hoa đương thời) và lên tiếng cảnh cáo trước dư luận (Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh: Cảnh cáo các nhà “học phiệt” // “Phụ nữ tân văn”, S.G., s. 62, ngày 24/7/1930; “Trung lập”, S.G., 26/7; 28/7; 29/7; 30/7/1930).

          Chính bài báo của Phan Khôi đã khiến ông chủ nhiệm “Nam phong” phải lên tiếng, ít ra là để giải thích lý do đã im lặng hồi 1924 trước lời phê phán của Ngô Đức Kế. Đến lượt bài trả lời này của Phạm Quỳnh lại khiến ông chủ nhiệm báo “Tiếng dân” (1927-1943) là Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) lên tiếng với lý do cần “chiêu tuyết” cho ông nghè Ngô Đức Kế vừa quá cố, vì cho rằng lời giải thích của Phạm Quỳnh có những chỗ xúc phạm ông nghè Ngô. (4) Rồi Phan Khôi cũng lên tiếng thêm mấy lần, khi thì đáp lại các ý kiến, các lập luận trong bài của Phạm Quỳnh, lúc lại góp ý với Huỳnh Thúc Kháng về những chỗ ông này hoặc thiên vị Nghè Ngô, hoặc xoi mói họ Phạm, (5) − những sự chấn chỉnh mà Phan Khôi từng cho là cần thiết trong thảo luận, tranh luận, bút chiến. (6)

          Những ý kiến và bài báo kể trên, tuy đều xa gần gắn với sự kiện tôn vinh Nguyễn Du và Truyện Kiều hồi mùa thu năm 1924 của Khai Trí tiến đức và Phạm Quỳnh, song nội dung các ý kiến ấy đã tiến triển sang nhiều hướng khác, nhiều đề tài khác, có khi không dính gì đến Truyện Kiều nữa.

          Phạm Quỳnh cho rằng đối với “một nền văn chương kiệt tác” như Truyện Kiều thì phải “đứng về phương diện văn chương mà xét”, nhưng họ Ngô hồi đó lại đứng về phương diện đạo đức, mà lại là cái đạo đức hẹp hòi, thì lập luận thiên đi, không còn là một vấn đề văn chương học thuật nữa.

          Trong khi đó, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục dùng quan niệm đạo đức để công kích việc phổ biến Truyện Kiều vào công chúng: “Sau nầy tôi xin chánh cáo cho anh em trí thứ trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải thứ sách học; mà nói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại”. Theo ông, từ khi Truyện Kiều được tán dương, − ý chỉ thời điểm 1924 với lễ kỷ niệm Nguyễn Du do hội Khai trí tiến đức tổ chức − “đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình”!

          Phan Khôi trước sau thừa nhận ý nghĩa chính đáng của việc Ngô Đức Kế nêu vấn đề “chính học – tà thuyết”, “là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập”, do vậy, Phan Khôi cũng thừa nhận sự chính đáng của việc Huỳnh Thúc Kháng lên tiếng bênh vực Ngô Đức Kế, sau khi đọc những lời Phạm Quỳnh giải thích chuyện cố ý im lặng dăm năm trước. Tuy vậy, Phan Khôi không đồng tình với việc Huỳnh Thúc Kháng mạt sát Truyện Kiều và lên án những ai tán dương Truyện Kiều.

          Phan Khôi nêu ra một tiền đề mới về quan niệm có thể dùng để xem xét vấn đề:

    “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiêu biểu rằng: Nghệ thuật vì nhân sanh (l’ art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại, nói rằng: Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’ art pour l’ art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.” (7)

          Phan Khôi viết ý kiến này vào năm 1930. Vậy những ai quan tâm khía cạnh “kỷ lục” của việc đưa các luận thuyết mới từ bên ngoài vào Việt Nam, phải chăng nên ghi nhận ông mới là người sớm nói đến các thuyết nghệ thuật vị nhân sinh và nghệ thuật vị nghệ thuật trên báo chí Việt Nam, sớm hơn hẳn những tên tuổi vẫn thường được gắn cho cái công trạng du nhập lần đầu các lý thuyết này, mặc dù họ sẽ lên tiếng muộn hơn Phan Khôi dăm bảy năm?!

          Vận dụng quan niệm lý thuyết kể trên, Phan Khôi cho rằng:

    “Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không; nếu vậy thì đáng công kích thật; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.” (7)

    Về việc Huỳnh Thúc Kháng lo sợ sự phổ biến Truyện Kiều sẽ có hại cho phong hóa, Phan Khôi xếp mối lo của họ Huỳnh vào cùng với mối lo của những nho gia Trung Hoa xưa như Hàn Dũ, Tăng Củng, “lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm”. Cái ý ấy là tốt nhưng lại không hợp trào lưu văn học của thế giới ngày nay. Tóm lại, theo Phan Khôi: “Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi”. (7)

 Việc họ Huỳnh cho rằng phong trào tán dương Truyện Kiều đã khiến nhiều lớp thanh niên vì say mê tình ái mà dứt bỏ cả nền nếp gia đình lẫn trật tự xã hội, Phan Khôi nói ông chưa dám tin. Ông đề nghị họ Huỳnh thực hiện những thống kê về tình hình tội ác trước và sau thời điểm đó thì nhận định của họ Huỳnh mới có thể tin được!

          Những biện bác như trên của Phan Khôi, tất nhiên chưa thể lay chuyển được một nhà nho thâm sâu đạo Khổng như Huỳnh Thúc Kháng. Vả chăng, đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du, đương thời những năm 1930, những người công khai tỏ rõ thái độ hạ thấp và phản đối việc phổ biến Truyện Kiều không chỉ là giới nhà nho như Huỳnh Thúc Kháng hay Võ Liêm Sơn, Nguyễn Mạnh Bổng, v.v. Dư luận công chúng xung quanh kiệt tác này của Nguyễn Du vẫn phân tán trong một phổ rộng từ thích đến không thích; không hiếm khi, sự yêu thích những vần thơ giản dị đã nhập tâm, bỗng chao đảo khi người ta bị đặt trước những câu hỏi về đạo đức nhân vật nữ chính của tác phẩm. (8)

Nhưng, khác với giới nhà nho, thế hệ nhà văn xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt và bước vào làng văn làng báo bằng văn chương quốc ngữ, sẽ ngày càng thấy gắn bó nhiều hơn với văn chương Truyện Kiều.

Lưu Trọng Lư là một trong số họ.

Năm 1933, khi Phan Khôi đang làm chủ bút tuần san “Phụ nữ thời đàm” ở Hà Nội, ông đã đăng khá nhiều cho tác giả trẻ Lưu Trọng Lư, bên cạnh sáng tác văn thơ, còn có cả thiên tiểu luận “Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều” (“Phụ nữ thời đàm”, H., s. 13, ngày 10/12/1933), công kích thái độ của Huỳnh Thúc Kháng trong chùm thơ “Vịnh Kiều” (“Tiếng dân”, 1/11/1933). Điều làm Lưu Trọng Lư ngạc nhiên là cuộc đời chí sĩ họ Huỳnh gian lao không kém cuộc đời cô Kiều trong truyện, thế mà họ Huỳnh lại là người sỉ mắng nữ nhân vật kia tàn nhẫn hơn ai hết! Điểm qua cuộc đời Kiều như một nhân vật sống thật, Lưu Trọng Lư như là muốn gửi lời khuyên can tới nho sĩ họ Huỳnh: “Nói tóm lại, muốn xét thân thế Kiều, chớ đứng hẳn trong những lễ giáo nghiêm ngặt chật hẹp của nho giáo…”.

Lời phê bình của Lưu Trọng Lư được chủ nhiệm “Tiếng dân” đáp lại bằng một nụ cười: đối với ông, đây chẳng qua là cơn mê của người mê tiểu thuyết, tựa như kiểu người mê tuồng hát, thế thôi. (“Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát”. Thuyết chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều của ông Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép đóng vai Tần Cối. // “Tiếng dân”, 24/1/1934).

Nhưng Phan Khôi thì nghĩ khác.

Gần như ngay sau khi cho đăng bài của Lưu Trọng Lư, chủ bút Phan Khôi đưa đăng tiếp bài của chính mình (“Rìu búa của nhà nho” // Phụ nữ thời đàm, H., s. 17, ngày 7/1/1934). Ông cho rằng việc “chiêu tuyết” hay là phê bình nhân vật trong truyện chỉ là thủ thuật “giá đó mà đánh chỗ khác”; chỗ khác ấy, theo ông, Lưu Trọng Lư nhắm vào cái tâm thuật, cái tâm địa của cả một giới người mà họ Huỳnh chỉ là một. Những sự “tàn nhẫn” thể hiện trong thơ vịnh Kiều của họ Huỳnh, được Lưu Trọng Lư nhận định: “Cái lòng người ta có là sắt đá lắm mới thở ra cái giọng tàn nhẫn như thế được…”, và: “Chỉ có những người nhác nhớn, buồn rầu, bi quan mới hay ghen ghét quạu quọ…” – Nhận định này, Phan Khôi cho rằng họ Lưu nhắm vào giới nhà nho. Phan Khôi đồng tình với ý kiến này. Bài của ông sẽ phát triển nhận định ấy.

Tất nhiên là điều này đã ít nhiều đi ra ngoài giới hạn của việc bình luận Truyện Kiều, nhưng lại là việc truy tìm cái căn cứ, cái cơ sở của việc, một bộ phận nhà nho, nối tiếp nhau, muốn phủ định giá trị của kiệt tác này, muốn dứt bỏ nó khỏi sự đọc sự biết của công chúng.

Phan Khôi vạch rõ: từ xưa giới nhà nho đã xem việc Khổng Tử làm kinh Xuân thu như là việc thưởng phạt, “bao phong người hoặc tru lục người”, “dùng một chữ mà nhấc một ông quan nhỏ lên, cũng dùng một chữ mà hạ một ông vua chư hầu xuống”, nhân danh “phù trì cương thường luân lý, bồi thực thế đạo nhân tâm”; nói khác đi, là diễn ngôn quyền lực được trao cho giới nhà nho, do hệ quả của việc tầng lớp quân chủ chuyên chế đã lấy nho giáo làm quốc giáo, dùng dư luận của giới nho sĩ làm công cụ hỗ trợ cho nền “đức trị” của vua chúa. Phan Khôi nêu ra những sự việc giới nho sĩ các đời sau, theo gương Khổng Tử, dùng khen chê để thưởng phạt, nhưng nhà nho không bao giờ khen ai, chỉ có trách phạt thôi, mà ví dụ sớm nhất là việc Mạnh Tử công kích thuyết “vị ngã” của Dương Chu là “vô quân”, thuyết “kiêm ái” của Mặc Địch là “vô phụ”, xóa bỏ được ảnh hưởng của hai thuyết ấy, bảo vệ sự độc tôn Nho giáo. Sau này, Hàn Dũ thời Đường đòi đốt sách Phật, bắt thầy tu trở về làm dân, rồi các nho sĩ thời Tống tiếp tục công việc “tịch Phật, bài Lão”, tuy không có hiệu quả gì, nhưng vẫn được giới nho sĩ tôn sùng là có công “vệ đạo”.

“Tôi đã kể qua những cái sử tích trên đó để cho biết rằng nhà nho từ Mạnh Tử về sau ai nấy đều có một cái tâm lý chung là: Không dung nạp kẻ khác với mình.  Việc họ làm có giống với đức Khổng chăng thì không biết; duy người nào đã làm cái việc như thế thì cũng vin lấy đức Khổng, mượn bửu bối của kinh Xuân thu. Kỳ thực thì cái áo hoa cổn ngài dùng để đôi khi ban thưởng cho người đời, họ đành bỏ mốc meo ra, mà chỉ chăm một sự dùng rìu búa để chặt người này, bổ trên đầu người khác. Cái tâm lý ấy thấm mỗi ngày một sâu vào đầu kẻ học, tự nhiên luyện nên cái tánh hay gây, hay đỗ cáu, không chịu “hẩu” với đời. Người ta ở đời, có thể sống một trăm cách, một nghìn cách khác nhau; nhưng theo ý nhà nho, chỉ muốn ai ai cũng sống một cách như mình. Không cần xét đến lý, cứ hễ ai sống khác mình thì ấy là dị đoan, là tà thuyết, là dâm hạnh, tương rìu búa ra mà trị nó chết đi cho rảnh! Dương, Mặc, Phật, Lão, có phải là rắn rết hại người đâu, chỉ là một cách sống, có điều sống khác với nhà nho, thế thôi, có việc gì mà phải cự, phải tịch? Cũng như nàng Kiều, một người con gái lỡ bước, có việc gì mà phải mắng? Có phải chăng, cự Dương, Mặc, tịch Phật, Lão thì mình mới trở nên á thánh đại nho, và mắng Thúy Kiều thì mới tỏ ra mình là chánh nhân quân tử?”

Vậy là rốt cuộc, Phan Khôi đã tìm ra cái cơ sở tư tưởng tâm lý của giới nhà nho trong hành động của họ công kích Truyện Kiều và những ai cổ xúy phổ biến Truyện Kiều; để bảo vệ sự độc tôn ý thức hệ nho giáo, họ cự tuyệt, hết sức công kích mọi tư tưởng, mọi lối sống khác. Ngay khi Nho giáo đã suy tàn, nhà nho vẫn cố chấp, thu mình lại trước mọi đổi thay. Họ vẫn chủ “kính”, chủ “tịnh”, quá mực thước, không thích vui mà cũng không muốn cho ai vui; họ phản đối hát bội, hát cô đầu, xi-nê-ma, nhảy đầm; kiểu người quay lưng với sự sống như vậy “thì cái lòng yêu đời phải càng ngày càng kém đi, gìn lòng thì sắt đá mà mở miệng ra thì tàn nhẫn”!

***

Như vậy, bằng một loạt bài báo, trong khoảng 4 năm (1930-1934), Phan Khôi đã can dự những tranh luận xung quanh di sản Truyện Kiều theo hướng “giải hoặc” đối với luận đề về “chính học/tà thuyết” của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và một bộ phận nhà nho còn quá gắn bó với các giáo điều đạo Khổng. Phan Khôi cảm thông với các nhà nho này về tình trạng nền học vấn mới còn yếu, nền học vấn cũ – Hán học – đã tàn, song ông không xem những hiện tượng như tôn vinh Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều là “tà thuyết” như các nhà nho ấy lo ngại và công kích. Trước những phản bác rất dai dẳng của phía bảo thủ (mà tiêu biểu là các bài luận và thơ vịnh của Huỳnh Thúc Kháng), Phan Khôi đã đưa ra những phúc đáp thực tế, có sức nặng; cuối cùng, ông đưa ra sự cắt nghĩa nguồn gốc những phản đối dai dẳng từ phía giới nhà nho đối với Truyện Kiều và việc phổ biến Truyện Kiều, – ấy là di sản của tình trạng độc tôn ý thức hệ nho giáo, chính ý thức hệ ấy đã cấp cho nhà nho cái vũ khí để họ vô hiệu hóa tất cả những gì khác với tôn chỉ nho gia, ngay khi nho giáo đã lỗi thời cũng vẫn cố chấp quay lưng với thực tế, với mọi sắc thái mới của đời sống. Việc “giải hoặc” này vốn được Phan Khôi thực hiện đối với toàn bộ di sản Nho giáo nói chung, suốt những năm 1930-40, chứ không chỉ với những tranh luận về Truyện Kiều.

Riêng về kiệt tác này của Nguyễn Du, nếu ta có dịp đọc tạp văn Phan Khôi, ta sẽ thấy ông luôn luôn coi Truyện Kiều như một tập đại thành của văn hóa người Việt, của ngôn ngữ Việt, ông thường xuyên dẫn trích tác phẩm này như một nguồn văn, nguồn di sản không gì thay thế được đối với người viết văn tiếng Việt. Nhưng đây là chuyện đã xa so với đề tài đang bàn.

28/6/2015

Chú thích

(1) Ví dụ:

Vũ Đức Phúc (1971): Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, 1930-1954. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr. 19-41;

Thanh Lãng (1972-73): Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn: Phong trào văn hóa xb., t.1- t.2;

 Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan (2002): Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. [thư mục, văn tuyển]. Hà Nội: Nxb. Lao động, t. I, tr. 371-891.

(2) Các sưu tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo [= PK, TPĐB] do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn đã tái công bố gồm:

PK, TPĐB 1928 (Nxb. Đà Nẵng, 2003, 444 tr.);

PK, TPĐB 1929 (Nxb. Đà Nẵng- TT.VH-NN Đông Tây, Hà Nội, 2005, 780 tr.);

PK, TPĐB 1930 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1024 tr.);

PK, TPĐB 1931 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1032 tr.);

Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 530 tr.);

PK, TPĐB 1932 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, 896 tr., tái bản 2014);

PK, TPĐB 1933-1934 (Nxb. Tri thức, 2013, 575 tr.);

PK, TPĐB 1935 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2013, 463 tr.);

PK, TPĐB 1936 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 600 tr.);

PK, TPĐB 1937 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 356 tr);

(3) Các bài thảo luận giữa Phan Khôi và Trần Trọng Kim gồm: 1/ Phan Khôi: Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 54 (29/5/1930); 2/ Trần Trọng Kim: Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 60 (10/7/1930); 3/ Phan Khôi: Về bài phê bình sách “Nho giáo” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 63 (31/7/1930), s. 64 (7/8/1930); 4/ Trần Trọng Kim: Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 71 (25/9/1930), s. 72 (2/10/1930), s. 74 (16/10/1930).  

(4) Gồm các bài chính: 1/ Phạm Quỳnh: Trả lời bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 67 (28/8/1930); 2/ Huỳnh Thúc Kháng: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời // Tiếng dân, Huế, s. 317 (17/9/1930); Phụ nữ tân văn, S.G., s. 72 (2/10/1930); 3/ Huỳnh Thúc Kháng: Biện chánh lại mấy lời phê bình của ông Phan Khôi // Tiếng dân, Huế, s…. (18/10/1930); đăng lại: Trung lập, S.G., s. 6284 (28/10/1930); s. 6285 (29/10/1930); s. 6289 (4/11/1930); s. 6291 (6/11/1930).

(5) Gồm các bài: Phan Khôi: Về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 70 (18/9/1930); Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng // Trung lập, S.G., s. 6266 (7/10/1930); s. 6267 (8/10/1930); s. 6268 (9/10/1930);

(6) Năm 1929 Phan Khôi có bài Bàn thêm về bút chiến, không ký tên tác giả, đăng 4 kỳ báo Thần chung, từ s. 106 (28/5/1929) đến s. 114 (6/6/1929).    

(7) Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, kỳ III // Trung lập, S.G., s. 6268 (9/10/1930)

(8) Xem các bài trả lời tòa soạn “Phụ nữ tân văn” (thời kỳ đầu, 1929) về câu hỏi “Kiều nên khen hay nên chê?”, có thể thấy sự khác biệt đáng kể giữa các ý kiến người đọc tham gia.