Trang chủ » 2015 » Tháng Tám

Monthly Archives: Tháng Tám 2015

MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI

Nguyễn Hữu Đang – Nguyễn Đình Thi

MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI

Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam

(trong Mặt trận Việt Minh)

Hà Nội, 1945

————————————————–

 

CUỘC VẬN ĐỘNG VĂN HÓA DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC

 

Một số đồng bào của chúng ta thường cho rằng: cuộc đấu chống kẻ thù chỉ là cuộc vật lộn về chính trị, về quân sự; công tác quan trọng và độc  nhất chỉ hướng về mặt khuếch trương các tổ chức, sắm võ khí, phát triển các bộ đội; còn văn hóa thì có đồng bào cho là một món “lý luận suông”, một món “xa xỉ phẩm” không thể có được và cũng không nên nghĩ tới trong lúc này.

Chủ trương hẹp hòi đó làm cho ảnh hưởng cách mạng kém sâu, kém rộng trong dân chúng, nhất là trong các tầng lớp trí thức.

Ách xâm lược không phải chỉ thu hẹp trong phạm vi kinh tế và chính trị; bọn thống trị có cả một chính sách văn hóa để ngu dân, lừa dân, kìm hãm và làm tê liệt chí khí tiến thủ của đồng bào ta. Chính sách văn hóa là cả một “đạo quân thứ năm” vô cùng lợi hại để bảo vệ chủ quyền xâm lược. Muốn trừ khử kẻ thù bằng súng đạn ngoài mặt trận, chúng ta không thể để “đạo quân thứ năm” đó len lỏi và gieo hại trong hậu phương của chúng ta được.

Cho nên không phải chỉ cuộc cải tạo quốc gia độc lập sau này mới cần đến cuộc cách mạng văn hóa để hoàn thành; ngay trong lúc này muốn cho nền độc lập thực hiện hoàn toàn, chúng ta phải làm sóng đôi với công tác chính trị và quân sự, một cuộc vận động ráo riết về văn hóa.

Cuộc chiến đầu giải phóng của chúng ta phải là một cuộc vật lộn về mọi phương diện!

“Chúng ta phải đánh kẻ thù bất cứ ở chỗ nào mà chúng ẩn núp”.

 

 

I.TÌNH HÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM

 

A.Văn hóa công khai

Vậy tình hình văn hóa xứ ta như thế nào? Trả lời câu hỏi ấy, tức là nhận định rõ những điều kiện cụ thể mà trong đó chúng ta đang phải khuếch trương cuộc vận động văn hóa.

Trong 80 năm Pháp thuộc, tình trạng học thuật, tư tưởng, văn nghệ xứ ta luôn luôn biến đổi. Tuy nhiên, chúng ta có thể căn cứ vào những đặc tính riêng biệt mà chia ra hai giai đoạn lớn: “giai đoạn Pháp thuộc cho tới trước cuộc chiến tranh” và “giai đoạn chiến tranh hiện tại”.  

1.Giai đoạn Pháp thuộc cho tới trước cuộc chiến tranh

Trong giai đoạn “Pháp thuộc cho tới trước cuộc chiến tranh”, chủ quyền thực dân Pháp trên xứ ta vững vàng; phong trào cách mạng không được sâu rộng và trong những năm đầu thường có ít nhiều tính chất cần vương. Chính sách văn hóa của bọn thực dân Pháp nhằm hai mục đích cốt yếu là ngu dân và gây ảnh hưởng cho chủ nghĩa xâm lược.

Để chìm đắm dân ta trong vòng ngu muội, dốt nát, chúng áp dụng chính sách kìm hãm về giáo dục, về báo chí cũng như về học thuật, tư tưởng. Chương trình giáo dục bình diện của tên Toàn quyền Méc-lanh (Merlin) và đạo nghị định Va-ren (Varenne) về báo chí là những biểu tượng rõ rệt của chính sách kìm hãm khốc liệt đó.

Một mặt khác, chúng cho thâm nhập một thứ dân chủ giả trá, hòa hợp với chính sách thực dân. Chúng tự nhận có “nhiệm vụ khai hóa” đối với xứ ta, cốt để chứng tỏ rằng sự xâm lược là chính đáng và nền bảo hộ là cần thiết.

Tập sách Âu Tây tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh và tạp chí Nam phong của Phạm Quỳnh chỉ là những lợi khí tuyên truyền của bọn thống trị mà ta không cần đếm xỉa tới. Nhưng chúng ta cũng nên nhắc qua đến một số trí thức độc lập chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp, đã nhập cảng vào xứ ta một xu hướng dân chủ tương đối cấp tiến, như các nhóm Thần chung, Tiếng chuông dè (Cloche fêlée), Diễn đàn Đông Dương (Tribune Indochinoise), Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Tự lực văn đoàn, v.v…

Trong khi đó, tinh thần dân ta vẫn luôn luôn gắng gỏi ngoi lên để đón tiếp những trào lưu tư tưởng tiến bộ ngoại lai. Nhờ sự gắng gỏi ấy, nhờ sức chiến đấu không ngừng của đồng bào ta, lần đầu tiên, trong những năm 1936-1939, chúng ta có một số sách báo công khai phản ảnh rõ rệt tinh thần dân chủ, cấp tiến. Tinh thần dân chủ, cấp tiến ấy, mặc dầu mọi sự đàn áp của bọn thống trị, đã lan tràn mau lẹ trong các tầng lớp dân chúng. 

2.Giai đoạn chiến tranh hiện tại

Sau ngày chiến tranh bùng nổ, văn hóa xứ ta đã bước sang giai đoạn thứ hai, giai đoạn chiến tranh hiện tại.

Bọn thực dân Pháp được dịp công nhiên lộ hình để triệt để thi hành chính sách phát-xít mà trước kia chúng phải áp dụng dưới một nhãn hiệu xảo trá. Phát-xít Nhật cũng bắt đầu đặt chân lên xứ ta. Bên cạnh chính quyền Pháp, chúng thiết lập một chính quyền đối lập. Dưới hai tầng áp bức Nhật-Pháp, tình cảnh cơ cực của dân ta có thể nói là chưa từng thấy trong lịch sử. Phong trào cứu quốc trỗi dậy, thu hút các tầng lớp dân chúng. Chính quyền thực dân Pháp bị lung lay hơn lúc nào hết. Chính sách văn hóa của chúng vì vậy, phải biến chuyển theo tình thế đổi mới.

Trong giai đoạn trước, một vài xu trào độc lập hay cấp tiến còn có thể len lỏi và nẩy nở, văn hóa xứ ta còn có thể phát triển một phần nào.

Trong giai đoạn này, trái lại, văn hóa xứ ta bị dày xéo dưới gót sắt của chính sách văn hóa thực dân.

Văn hóa phát-xít đã chế ngự rõ rệt.

Song cùng với nhịp hưng vong của chủ nghĩa phát-xít, sự chế ngự đó đã biến đổi ít nhiều tính cách mà chúng ta có thể nhân đó chia ra “thời kỳ mở đầu”, “thời kỳ độc tôn” và “thời kỳ suy tàn” của văn hóa phát-xít. 

a/ Thời kỳ mở đầu

Cuộc chiến tranh hiện tại vừa mở đầu, thì chính phủ thực dân Pháp bắt đình bản, cấm lưu hành và tàng trữ các báo chí có tính chất cấp tiến và dân chủ. Các nhà văn, nhà báo độc lập bị hăm dọa hay hạ ngục. Các nhóm chính trị công khai và các tổ chức quần chúng đều bị giải tán. Tất cả những điều mà bọn thực dân Pháp bất đắc dĩ phải thi hành trong những năm 1936-1939, thì nay đều bị thủ tiêu. Bọn thực dân Pháp đã công nhiên phát-xít hóa. Tuy nhiên chúng vẫn chưa dám tung ra những khẩu hiệu phát-xít, chỉ sai các cây bút nô dịch ca tụng một cách mơ hồ văn minh nước Pháp, lực lượng chiến đấu của chính quốc hay sự kiên cố của phòng lũy Ma-gi-nô (Maginot). Sự ngừng trệ, buồn tẻ của thời kỳ này chính là màn đầu sửa soạn cho thời kỳ độc tôn của văn hóa phát-xít. 

b/ Thời kỳ độc tôn

Thời kỳ độc tôn kéo dài từ khi Pháp thỏa hiệp với Đức Quốc Xã cho tới khi chính phủ Pê-tanh (Pétain) bị đổ.

Từ chỗ mập mờ, chính sách văn hóa thực dân Pháp trong thời kỳ này đã thành một hệ thống rõ rệt, mục đích để công phá tinh thần dân chủ trong văn hóa Việt Nam, đem văn hóa phát-xít nhồi sọ dân chúng và lợi dụng văn hóa để trực tiếp phá hoại những chủ trương chính trị chân chính.

Bọn thực dân Pháp, một mặt, thủ tiêu những di tích dân chủ còn lại, giải tán cả các hội đồng tư vấn chỉ có vỏ dân chủ như hội đồng thành phố, nghị viện dân biểu Bắc và Trung kỳ, hội đồng quản hạt Nam kỳ, hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương…, một mặt khác, chúng thẳng tay công phá tinh thần dân chủ đã in dấu rõ rệt trên văn hóa Việt Nam những năm 1936-1939. Thậm chí, chúng phủ nhận cả giá trị cấp tiến của cuộc Cách mạng 1789 mà trước kia chúng vẫn coi là “vinh dự bất hủ” của nước Pháp cộng hòa.

Nhưng, một hệ thống tư tưởng khi đã thành hình, người ta không thể thủ tiêu nó nếu không đem một hệ thống khác thay thế vào. Cho nên ngoài phương kế công phá và kìm hãm, bọn thực dân Pháp còn phải dùng phương pháp nhồi sọ. Bằng mọi phương tiện, chúng tuyên truyền, chúng nhồi nhét những tư tưởng nô dịch, những luận điệu phát-xít.

Chủ nghĩa “quốc gia cách mạng” của Pê-tanh (Pétain) được đem phổ biến khắp nơi, để xuyên tạc tinh thần quốc gia chân chính đang sôi nổi trong các từng lớp dân gian.

Lòng yêu “tổ quốc” của người Việt, theo chúng, phải gồm cả lòng yêu “mẫu quốc”; cuộc “phục hưng nước Việt” cũng phải thực hành trong khuôn khổ “Pháp-Việt Phục hưng”.

Tinh thần “ái quốc” do đó đã biến thành tinh thần “phản quốc”.

Bọn chuyên môn nô dịch như Phạm Xuân Độ, Nguyễn Tiến Lãng thi nhau quảng cáo cho chủ nghiã Pê-tanh. Vài nhà trí thức quá dễ tính như Nguyễn Mạnh Tường, Tôn Thất Bình kính cẩn “chứng nhận” công cuộc Pháp-Việt phục hưng (Témoignages).

Chân dung Pê-tanh và khẩu hiệu “cần lao, gia đình, tổ quốc” nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm, lẫn cả với gà lợn trong các tranh Tết của trẻ con. Nhưng những mánh khóe che đậy, khoe khoang ấy không giấu nổi tình hình nguy ngập của đế quốc Pháp. Nhận rõ sự suy nhược của bọn thống trị và xu trào thế giới, dân chúng càng thêm tinh thần quật khởi. Cả những kẻ trước kia là tay sai trung thành cho bọn thực dân Pháp, đến nay cũng tìm đường xa lánh, để tham gia vào mặt trận cứu quốc hoặc để bám chân phát-xít Nhật mà họ tin là sẽ nhẩy lên địa vị chủ mới. Bọn thực dân Pháp, trước tình thế đó, phải cố tìm vây cánh trong hàng ngũ quan lại. Đồng thời với sự lập lại chế độ hương thôn cũ trong dân quê, chúng cố làm sống lại những giá trị tàn tạ của thời Trung cổ Á-Đông.

Tư tưởng phong kiến được dịp tái khởi. Người ta hô hào trở lại với đạo đức, với tôn ti trật tự của Khổng, Mạnh, với gia đình cũ, với hương thôn, với quan trường. Phạm Quỳnh xuất bản học thuyết bảo hoàng của Mô-rát (Maurras), Nguyễn Công Hoan cho in Thanh đạm, Nho giáo của Trần Trọng Kim được tái bản, Ngô Tất Tố dịch Kinh dịch, Phan Văn Hùm viết Triết lý Phật giáo.

Để đánh lạc tinh thần thanh niên, bọn thực dân Pháp còn thi hành cả một chương trình thể thao rộng lớn, một thứ thể thao trọng phô trương biểu diễn hơn là sự trau dồi thân thể. Chúng mở thêm sân vận động, khuyến khích điền kinh, rầm rộ tổ chức các cuộc đua xe đạp… Chúng hy vọng chìm đắm thanh niên trong các môn vận động để họ sao lãng nhiệm vụ cứu quốc hay để họ tưởng rằng tập rượt các môn thể thao hữu danh vô thực đó tức là đã làm trọn nhiệm vụ đối với giống nòi.

Song song với hai chính sách nhồi sọ và công phá tinh thần dân chủ, bọn đế quốc, để thực hiện mục đích phá hoại những chủ trương cách mạng chân chính, đã khôn khéo lợi dụng sự học và phong trào nghiên cứu.

Những tác phẩm và những bài nghiên cứu các chiến công oanh liệt của những anh hùng cứu quốc thời xưa không phải để kích thích và nung đúc tinh thần quật khởi mà, trái lại, để hòng chia rẽ hai dân tộc Hoa-Việt khỏi thành một khối duy nhất chống phát-xít. Đại biểu cho phong trào này là nhóm Tri tân. Chúng ta còn có thể kể những bản ca kịch và âm nhạc mà chủ đích là gợi mối thù cũ của ta đối với dân Tàu.

Nhóm Thanh nghị trong khi đó được tự do tuyên truyền một tinh thần khiếp nhược, đắn đo, chờ thời, và mơn trớn các tầng lớp tư sản bằng những bài trình bày một thứ dân chủ nửa chừng, thỏa hiệp với chính sách phát-xít.

Nhóm Hàn Thuyên đã đề xướng một phong trào duy vật mác-xít nệ sách, và chủ trương giai cấp tranh đấu không hợp thời của họ rất có thể chia rẽ mặt trận cứu quốc thống nhất của dân tộc.

Tóm lại, chính sách văn hóa thực dân đã chăng một màng lưới bao trùm các ngành học thuật, tư tưởng, văn nghệ… Nó đã đưa văn hóa phát-xít lên địa vị độc tôn trên văn hóa nước nhà.

Một số nhà văn cấp tiến đã cố len lỏi hoạt động, nhiều khi bằng những lối quanh co, khôn khéo mà vẫn không tránh khỏi sức đàn áp của bọn thực dân. Họ đã xuất bản được một số tác phẩm, nhưng chưa đủ để gây một xu trào rõ rệt.

Các văn nhân, nghệ sĩ còn muốn giữ nghề bị dồn tới chỗ phải chọn một trong hai ngả đường:

− hoặc đem bán rẻ tài năng cho chính sách thực dân tự chôn mình trong hố đầu hàng nhục nhã;

− hoặc phải lui vào phạm vi bí mật để gìn giữ cốt cách tự do độc lập của cây bút biết trọng mình và trọng nghề. 

c/ Thời kỳ suy tàn

Cuộc giải phóng nước Pháp và sự thành lập chính phủ Đờ Gôn (De Gaulle) đã chấm dấu hết cho thời kỳ độc tôn và mở đầu cho thời kỳ suy tàn của văn hóa phát-xít.

Bọn thực dân Pháp bị kẹp giữa hai gọng kìm là phát-xít Nhật và chính phủ Đờ Gôn (De Gaulle), đã thi hành chính sách mập mờ về mặt chính trị cũng như về mặt văn hóa.

Các cây bút nô dịch chỉ biết nhai lại một vài vấn đề phụ thuộc như ảnh hưởng văn chương Pháp đối với văn chương nước Việt, công trình kiến thiết của bọn thực dân Pháp ở Đông Dương.

d/ Chính sách văn hóa Nhật

Nói đến chính sách văn hóa thực dân, chúng ta không thể không nói tới chính sách văn hóa Nhật, dù nó sơ sài và ít hiệu quả.

Ngay sau khi đặt chân lên xứ ta, bọn phát xít Nhật mở trường dạy tiếng, trao đổi nghệ sĩ và học sinh, trưng bầy tranh ảnh, chiếu phim Nhật, tổ chức ca vũ, lập viện văn hóa, đặt giải thưởng văn chương để cổ động chủ nghĩa Đại Đông Á, đỡ đầu một vài tờ báo tay sai.

Sau cuộc đảo chính, trong cái hoàn cảnh bối rối do mặt trận Việt minh gây ra, phương kế độc nhất của chính sách văn hóa Nhật là sự kiểm duyệt hạn chế gắt gao các sách báo xuất bản.

Trên đàn văn hóa công khai, chúng ta thấy toàn một loài xu thời, bợ đỡ, tuyên truyền cho nền “độc lập” giả dối, cho “công ơn” cướp nước của bọn quân nhân xâm lược, cho chủ nghĩa phát-xít náu hình trong lý thuyết “Á Đông của người Đông Á”.

Nhưng tình hình  quân sự và chính trị trong “khối thịnh vượng chung” đã khủng hoảng tới cực độ, nên diễn ra cả một tình trạng hỗn loạn: lũ giặc văn hóa xu thời vừa ngợi khen Nga Xô-viết, vừa tán tụng phát-xít xâm lược, hô hào nguyên tắc mập mờ “dân vi quý” để rồi chủ trương quân chủ độc tài.

Cho nên cái làn sóng tuyên truyền cổ động ấy không át nổi tiếng nói của thực tế phũ phàng.

Cái bánh vẽ “độc lập”, cái ảo ảnh “bồng lai Đại Đông Á” họa chăng chỉ còn ảnh hưởng tới một số đầu óc cấu tạo toàn bằng tế bào nô lệ.

Chính sách văn hóa của phát-xít Nhật có thể chế ngự nhóm văn hóa công khai nô dịch, nhưng nó không thể đàn áp ý thức của dân tộc ta. 

3.Kết luận

Sau khi đã xét qua tình hình văn hóa công khai, chúng ta thấy cả một bức “vạn lý trường thành” trên đường văn hóa.

Thật vậy, chính sách thực dân có thể tóm tắt trong một định thức: kìm hãm về kinh tế, kìm hãm về chính trị, kìm hãm về văn hóa.

Mà điều kiện phát triển văn hóa đâu có phải chỉ thuộc riêng về phạm vi học thuật hay văn nghệ.

Dưới ách ngoại xâm, văn hóa xứ ta chẳng những vấp phải chính sách văn hóa thực dân khốc liệt; nó còn có những trở lực ghê gớm hơn nữa trong các hệ thống tổ chức của xã  hội.

Những trở lực ấy còn, chúng ta không thể mơ tưởng một văn nghệ phong phú và sầm uất, hay một lâu đài khoa học xán lạn trên đất xứ ta vẫn trì trệ trong trạng thái sơ khai.

Chính sách thực dân đã huy động toàn lực để cản đường.

Hay cho được đúng hơn, nó chỉ mở lối phát triển cho văn hóa đầu hàng, nô dịch.

B.Văn hóa bí mật

Một điều đáng mừng và cũng đáng tự cao cho dân tộc ta là văn hóa đầu hàng, nô dịch đó không phải là tất cả văn hóa nước nhà.

Chúng ta còn có văn hóa bí mật mà phần đông thường đã lãng quên hay không biết tới. Văn hóa bí mật có từ lâu, nó là con đẻ của tình trạng mất nước, nó phát sinh với phong trào cách mạng.

Dưới sự đàn áp liên miên của bọn thực dân, những cây bút cấp tiến, còn biết tự trọng, không chịu uốn mình theo vòng lưới của uy quyền chính trị, thường phải lui vào bóng tối của sự hoạt động văn hóa bí mật.

Văn hóa công khai nô dịch bị khinh miệt và chán ghét bao nhiêu thì văn hóa bí mật được tìm tòi và trìu mến bấy nhiêu. Nó thỏa mãn nhu cầu của dân chúng đang khao khát ánh sáng tự do, khao khát những tư tưởng mạnh bạo.

Một nhà nghiên cứu, dù chỉ có đôi chút thực tâm, cũng không thể chối cãi địa vị lớn lao của văn hóa bí mật được.

1.Giai đoạn Pháp thuộc cho tới trước cuộc chiến tranh

Nhưng nếu, trải qua những biến chuyển chính trị, cái địa vị lớn lao ấy của văn hóa bí mật không lúc nào suy giảm, thì, trái lại, những khẩu hiệu và tính chất của văn hóa bí mật đã tùy theo từng giai đoạn mà thay đổi.

Trong giai đoạn Pháp thuộc cho tới trước cuộc chiến tranh hiện tại, văn hóa bí mật thường chỉ được coi là một phương tiện vận động chính trị. Một bài thơ hay một bài phú làm ra thường không phải để thỏa mãn một nhu cầu về văn hóa, mà chủ đích chỉ để kích thích lòng người, kêu gọi dân gian lên đường tranh đấu giải phóng.

Xu hướng văn hóa cũng thường biến đổi, ăn nhịp với tính chất giai cấp lãnh đạo trong cuộc vận động chính trị.

Nó có xu hướng cần vương với phong trào Hàm Nghi, Duy Tân; xu hướng Âu hóa với nhóm Đông duĐông kinh nghĩa thục; trong khoảng 1925-1930, xu hướng quốc gia chiếm phần ưu thắng với những tờ Phục quốcViệt Nam hồn, sách báo của Việt Nam Quốc dân đảng và Nam Đồng thư xã. Trái lại, trong khoảng những năm 1930-1940, văn hóa bí mật có xu hướng quốc tế với những tờ tạp chí Búa liềm, Công hội đỏ, Tiên phong, Hướng đạo, tờ báo xí nghiệp Si-măng ở Hải Phòng, tờ Máy sợi ở Nam Định, Tin tranh đấu  của Nghệ Tĩnh, tờ Giải phóng xuất bản năm 1937-1938… 

2.Giai đoạn chiến tranh hiện tại

Bước sang giai đoạn chiến tranh hiện tại, cuộc vận động chính trị đã thống nhất dưới ngọn cờ Việt Minh cứu quốc để thực hiện cách mạng dân tộc giải phóng. Văn hóa bí mật hướng về hai tính chất dân tộc và tân dân chủ. Một mình nó dẫn đạt phong trào quần chúng. Có thể nói nó trả lời một cách tương đối đầy đủ những vấn đề cấp bách do tình thế đặt ra. Nó phong phú hơn văn hóa bí mật hồi trước, nó thỏa mãn được nhu cầu của quảng đại quần chúng đã cách mạng hóa.

Ảnh hưởng của nó vừa sâu vừa rộng hơn lúc nào hết trong lịch sử văn hóa bí mật nước nhà.

So sánh với văn hóa công khai, những ưu điểm của văn hóa bí mật hiện tại lại càng thêm rõ rệt.

Văn hóa công khai, nói chung, chỉ biết bợ đỡ, xu nịnh cường quyền như ta đã thấy. Trái lại, văn hóa bí mật cương quyết chống mọi sự áp bức, bóc lột, mọi hiện trạng bất công của xã hội. Nó không chịu lùi bước trước một đe dọa nào. Nó thẳng tay đả phá tất cả những cái gì cổ hủ, thoái hóa, để đưa xã hội tiến lên ánh sáng công bằng, nhân đạo.

Văn hóa công khai phần lớn là để thỏa mãn nhu cầu của các nhà quyền chính hay của một số trí thức. Nó chỉ là một món độc quyền của thiểu số. Trái lại, văn hóa bí mật là của đại chúng. Nó lấy đại chúng làm đầu đề cốt yếu. Nó phản ảnh những nguyện vọng thiết tha của đại chúng. Nó thâm nhập rộng rãi trong đại chúng. Nó sống sát bên đại chúng, hiểu đại chúng và được đại chúng hiểu lại nó.

Văn hóa công khai hỗn loạn, phức tạp, khi ngả về phía này, khi nghiêng về phía khác. Chưa nói chi đến quan điểm nhóm này chống lại quan điểm nhóm khác, nhiều khi một quyển sách hay một tờ báo cũng chứa đựng những điều trái ngược. Trái lại, văn hóa bí mật duy nhất. Từ bài xã thuyết, cho tới bức hội họa hay trang truyện ngắn, hết thảy đều hướng về một mục đích. Một yếu tố xán lạn luôn luôn điều hòa các bộ phận hoạt động của văn hóa bí mật.

Với những ưu điểm đó, văn hóa bí mật không những được lòng mến phục của dân chúng trong khi văn hóa công khai bị rẻ rúng, mà nó còn chiếm địa vị trọng yếu trong nền văn hóa chung của toàn quốc.

Điều kiện hiểm nghèo của sự hoạt động đã cản trở khá nhiều công việc tiến hành của văn hóa bí mật(1).

Tuy nhiên, mặc dầu nhiều điều khuyết điểm, những thành tích của văn hóa bí mật không phải ít và là một vinh dự chung trong lịch sử tranh đấu của dân tộc.

Nếu chỉ kể những báo xuất bản gần đây, chúng ta thấy: Cứu quốc, Cờ Giải phóng, Việt Nam độc lập đồng minh, Độc lập, Hồn nước, Tạp chí Cộng sản, Tiên phong, Tiếng chuông, Bãi Sậy, Kèn gọi lính, Hiệp lực, Mê Linh, Lao động, Nước Nam mới, Kháng địch, Giải phóng, Khởi nghĩa, Đuổi giặc nước, Quyết thắng, Quân Giải phóng…

Ở Trung Hoa có Tiếng gọi của Việt kiều, ở Thái Lan có tờ Độc lập. Trong nhà tù và các trại tập trung có: Lao tù Tạp chí (Hà Nội), Ánh Bình minh (Hòa Bình), Sông Gầm (Bá Vân), Ngàn thông (Chợ Chu), Suối reoTự chỉ trích (Sơn La)…

Ngoài báo chí chúng ta còn phải kể một số khá nhiều sách vở nghiên cứu về các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, quân sự, và các bài thơ, ca và tranh ảnh cách mạng.

Với những đặc tính kể trên, văn hóa bí mật là kết tinh của tinh thần dân tộc. Nó phát huy một cách rõ rệt những tư tưởng về tự do, về công lý.

Nó rọi đường cho công tác vận động chính trị. Nó gây lòng tin tưởng vững vàng cho các chiến sĩ và quần chúng cách mạng.

Nó tác động bằng cả một sức mạnh phi thường.

Và, thêm nữa, nó là mầm văn hóa mới của nước Việt Nam cộng hòa dân chủ.

***

Đồng bào đã thấy trong văn hóa bí mật thành tích của mặt trận Việt Minh thực là rực rỡ. Nhưng không phải Việt Minh không tìm cách tranh đấu với quân thù ngay trên đàn văn hóa công khai mà chúng kiểm soát chặt chẽ vô hạn. Cuộc tranh đấu văn hóa của Việt Minh ngoài phương diện phát triển văn hóa bí mật, còn những phươn diện vận động văn hóa công khai nữa. Cuộc vận động đó, vì những lẽ thuộc về chính trị, không tiện vạch rõ chi tiết ra đây, nên đáng lẽ chúng tôi được cái vui trình bày cùng anh chị em đồng bào tất cả những kết quả đã đạt được một cách đầy đủ, lại đành phải tóm tắt sơ lược và kín đáo.

Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam thành lập từ năm 1943, với mục đích là lợi dụng tất cả mọi khả năng công khai và bán công khai để, một mặt, cổ động tuyên truyền văn hóa mới trong dân chúng chống với những xu trào phong kiến thoái bộ, hoặc hoạt đầu, giả dối, do đế quốc phát-xít trực tiếp hay gián tiếp chỉ huy, một mặt nữa, hết sức phổ thông chính sách cứu quốc của mặt trận dân tộc thống nhất trong giới tư tưởng, văn nghệ. Nhóm văn hóa đó lúc đầu gồm một số nhà văn, nhà báo, và những người hoạt động trong các công cuộc xã hội.

Sau ba năm hoạt động, những kết quả lượm được, tuy không thể so sánh với thành tích của văn hóa hoàn toàn bí mật, nhưng cũng chứng minh được một sự phấn đấu không ngừng. Nhóm văn hóa cứu quốc đã ảnh hưởng được ít nhiều các ngành học thuật, văn nghệ, ảnh hưởng bằng sự giao thiệp cá nhân, và bằng những công trình sáng tác, tuy bắt buộc phải đi bằng những đường lối quanh co mà không tránh được sự đàn áp của quân thù. Gần đây, một tờ báo bí mật chuyên về văn hóa đã xuất bản để vạch ra con đường phải đi và cổ động việc sửa soạn kiến thiết văn hóa mới.

Chung quanh tổ chức hoàn toàn bí mật trên đây, còn phải kể những tổ chức bán công khai, những nhóm khảo cứu tìm học.

Trong cả hai hình thức tổ chức, bí mật và bán công khai, việc sửa soạn kiến thiết văn hóa mới được theo đuổi khá ráo riết, và những chương trình đã khá dồi dào. Đáng chú ý hơn cả trong những kết quả đạt được về phương diện này, là những bản phân tích và mở rộng một đề cương của Đảng Cộng sản Đông Dương về văn hóa mới. Nhờ những cố gắng đó, nhóm văn hóa cứu quốc đã có một chủ trương rõ rệt, và đã qua được thời kỳ băn khoăn, tìm tòi.

Nói như thế không phải là chúng tôi đã làm trọn được cái trách nhiệm nặng nề mà đoàn thể giao cho. Chúng tôi đã cố gắng nhưng kết quả chưa được như ý, vì sự tổ chức Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam chưa chặt chẽ và rộng rãi. Một điều đáng tiếc nữa là nhiều đồng chí có năng lực về văn hóa còn phải gánh vác những công việc khác, không kém phần cấp bách, và vì thế, những cây bút già dặn của chúng ta chưa được tập trung đầy đủ để đưa phong trào văn hóa mới tới những kết quả rực rỡ, xứng đáng với sự tín nhiệm của đoàn thể.

II.TRIỂN VỌNG

Cuộc vận động văn hóa mới của chúng ta đang phải tiến hành trên bước đường gồ ghề, trắc trở. Những trắc trở, gồ ghề ấy, như chúng ta đã biết, chính là hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, chính sách văn hóa thực dân, điều kiện hiểm nghèo của sự hoạt động bí mật.

Song, trắc trở không có nghĩa là không thể vượt qua.

Không một sức mạnh nào có thể chặn đường tiến triển của một dân tộc đầy sinh lực.

Vả chăng, điều kiện bất lợi đó đã được bù lại bằng những hoàn cảnh vô cùng thuận lợi nằm ngay trong sự suy tàn của văn hóa phát-xít.

Mọi tiến bộ đều bao hàm sự đả phá tất cả cái gì bảo thủ, thoái hóa. Cuộc vận động văn hóa mới của chúng ta phải thành tựu trong sự đả phá các xu trào văn hóa nô dịch, phản động.

Những xu trào ấy chỉ có thể ảnh hưởng tạm thời và mỏng manh tới một số người chậm tiến, nông nổi hay ít bị điều kiện sinh sống hằng ngày bức bách. Nó không thể lấn át được những tư tưởng tự do chân chính một khi các hoàn cảnh thuận lợi đẩy tới. Với bản chất thoái hóa, nó không thể đương đầu với cuộc công phá của tự do, của tiến bộ.

Thật vậy, văn hóa phát-xít trên xứ ta phá sản hoàn toàn. Lý thuyết “quốc gia cách mạng” của Pê-tanh không còn một tiếng vọng trong dân chúng. Chủ nghĩa “Đại Đông Á” cũng đã hết thời huyễn hoặc.

Những xu hướng lưng chừng và khiếp nhược của các nhóm Thanh nghị, Tri tân và quá trớn của nhóm Hàn Thuyên đều hầu như những tiếng vang trên sa mạc.

Tình trạng suy tàn của văn hóa phát-xít, của những xu hướng lưng chừng và khiếp nhược, ngày thêm trầm trọng; điều kiện gián tiếp giúp cho cuộc vận động văn hóa mới của chúng ta do đó càng ngày càng nhiều và thêm thuận lợi.

Một mặt khác, trào lưu văn hóa cấp tiến trên thế giới và cao trào cách mạng đang tiến tới trong xứ ta, cống hiến thêm vào cho cuộc vận động văn hóa mới những đà tiến mãnh liệt. Tài liệu văn hóa giúp cho các chiến sĩ trau dồi trí tuệ. Trở lại, mỗi một chiến sĩ là một tên lính tiên phong của cuộc vận động văn hóa mới đầy triển vọng, đầy những hứa hẹn lạc quan.

Trong “khu giải phóng” mà các đồng chí anh dũng của chúng ta đã dành giật bằng xương bằng máu thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù, cuộc vận động văn hóa mới đã tiến tới bước xây dựng.

Không một ai chối cãi được rằng: lâu đài văn hóa mới mà chúng ta thấy hình ảnh lộng lẫy trong triển vọng và đang được đặt viên gạch đầu tiên trong “khu giải phóng”, sẽ là công trình vĩ đại của chung chúng ta và đặc biệt của những nhà chuyên môn về vấn đề này.

Nó đòi hỏi nỗ lực phi thường của các bạn nhà văn chung đúc trong sức chiến đấu của tất cả đồng bào.

Nhưng cũng không một ai có thể chối cãi được rằng: công việc dọn đường sửa móng để xây nền cho văn hóa mới chỉ có thể hoàn thành sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi đã quét sạch những trở lực xã hội mà cuộc vận động văn hóa tự nó không đủ lực san bằng.

Các bạn văn hóa,

Chúng ta hãy sáng suốt nhận lấy nhiệm vụ tích cực chiến đấu, nhận lấy nhiệm vụ của người dân vong quốc cộng thêm nhiệm vụ của một chiến sĩ văn hóa mới.

Nói khác ra, để thực hiện nền văn hóa mới, trước hết chúng ta phải củng cố nền độc lập hoàn toàn và làm thực hiện chính thể dân chủ cộng hòa triệt để.

***

MỘT CHƯƠNG TRÌNH KIẾN THIẾT VĂN HÓA VIỆT NAM MỚI

 

Nếu trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, văn hóa chẳng may đã bị đôi người trong chúng ta coi như một món xa xỉ phẩm, thì trái lại, sau khi cuộc chiến đấu đã thành công, chắc hẳn văn hóa sẽ không còn bị một ai coi thường nữa. Bởi ai cũng hiểu rằng dành cướp lấy chính quyền là cốt để kiến thiết quốc gia; mà trong việc kiến thiết quốc gia thì văn hóa quan trọng chẳng kém gì kinh tế.

Trước hết chúng ta không quên rằng nếu văn hóa bắt gốc rễ ở những điều kiện kinh tế, thì trở lại, văn hóa cũng ảnh hưởng đến đời sống vật chất một cách mật thiết; thí dụ sự thịnh vượng của nông nghiệp, kỹ nghệ, thương mại phải nhờ một phần lớn ở kỹ thuật; kỹ thuật lại nhờ khoa học, một bộ phận của văn hóa, mà phát triển. Vả lại hạnh phúc của dân chúng đâu chỉ có là no ấm! Thật là một sự thiếu thốn nguy hiểm nếu nền độc lập không mang đến cho dân chúng những mối dường của một cuộc sinh hoạt mới vừa thỏa mãn được những đòi hỏi của tâm hồn họ, vừa hấp dẫn được họ tiến mạnh trên đường văn minh. Cho nên nếu rồi đây chúng ta không triệt bỏ ngay được cái tình trạng bế tắc, thối nát của những nền giáo dục, văn học, nghệ thuật, luân lý, phong tục mà quốc dân đã phải đắng cay chịu đựng từ trước tới giờ, và thi hành trên những địa hạt ấy những chính sách thích đáng có thể đem lại những kết quả thiết thực, thì chẳng những chính phủ nhân dân khó lòng giữ được hoàn toàn tín nhiệm, ngay đến sự tin tưởng ở tương lai nền độc lập cũng sẽ bắt đầu lung lay.

Vậy cuộc cách mạng văn hóa phải tiếp theo liền cuộc cách mạng chính trị để củng cố nền độc lập và hoàn thành việc cải tạo xã hội.

A.TÍNH CHẤT VĂN HÓA MỚI

Nói cách mạng văn hóa ấy là nói đem một nền văn hóa mới thay cho nền văn hóa cũ đã thoát thai trong hoàn cảnh nô lệ, đã gói ghém những tàn tích phong kiến cùng với những sản phẩm đế quốc.

Tinh thần của nền văn hóa mới ấy sẽ là sự hòa hợp của những nguyên tắc ăn nhịp với cuộc tiến hóa xã hội nói chung, mà xét ra lại không có gì trái với cuộc phục hưng cấp bách của nước ta trong trường hợp đặc biệt này.

Phân tích sức tiến hóa trong giai đoạn lịch sử hiện thời, ta thấy ba yếu tố chính: một là trình độ khoa học, hai là năng lực của đại chúng cần lao, ba là hoàn cảnh sẵn có của dân tộc. Dưới quyền chỉ đạo của khoa học, đại chúng vịn vào những điều kiện cụ thể của dân tộc mà đẩy bánh xe lịch sử, đó là cái thế vững vàng của toàn thể trào lưu cấp tiến thế giới, mà đó cũng là cái thế vững vàng của riêng chúng ta khi trỗi dậy. Tất cả vấn đề là xoay văn hóa lại cái thế ấy. Cố nhiên là cái ý nghĩ một sự thay đổi từ gốc đến ngọn và những tiếng “phá bỏ”, “thủ tiêu” có thể làm cho nhiều khối óc bảo thủ phải thương tiếc, run sợ vì họ tưởng ta sẽ làm cỏ sạch sành sanh những giá trị mà họ hằng yêu dấu, những thần tượng mà họ hằng tôn thờ.

Nhưng, cũng như trong phong trào chính trị, chúng ta chẳng thể chiều ý những phần tử quá hủ lậu, mà chỉ có thể tuyên bố rõ rằng về cái di sản của tiền nhân, phần nào còn hợp thời, còn bổ ích sẽ được giữ lại và sẽ có một địa vị xứng đáng trong cái đại cục mới đã được khoa học hóa, đại chúng hóa và dân tộc hóa. 

Khoa học hóa vì khoa học là mẹ đẻ của nền văn minh, là ngọn đuốc đưa đường cho chúng ta theo kịp các nước tiên tiến, đặng góp sức cùng họ trong cuộc phấn đấu với tạo vật để mưu hạnh phúc cho nhân quần. Nhưng không phải khoa học hóa chỉ có nghĩa chuyên về khoa học thực nghiệm để đạt đến một trình độ kỹ thuật cao mà nền kinh tế trong nước cần đền. Khoa học hóa nói đây còn là vận dụng những kiến thức khoa học, những phương pháp quan sát và phê bình khách quan vào tất cả mọi ngành hoạt động tinh thần, đem vào đó những ánh sáng mà các nhà thông thái đã dày công kiếm được, để mọi sự tìm tòi, sáng tác khỏi lạc đường, khỏi hư ngụy. Quan trọng hơn nữa là việc gây dựng và phổ thông tinh thần khoa học là cái tinh thần quy củ, tiến tới và chiến đấu, trọng thực tế, lý trí và nhân sinh.

Trong một nền văn hóa có tính chất khoa học sẽ không còn những lối phô diễn tối tăm, rối loạn, những tư tưởng thần bí, những xu hướng giật lùi, những chủ trương bông lông, những cách sống sa đọa. Và chúng ta có thể nói trước rằng ngày mà đội Giải Phóng Quân oanh liệt của chúng ta ca khúc khải hoàn sẽ là ngày cuối cùng của nền văn học, nghệ thuật ốm yếu.

Đại chúng hóa vì đại chúng là nền tảng xã hội, là lớp người mang cái sức sống tiềm tàng của dân tộc. Sau bao cuộc hưng vong, bao thời đô hộ, hai chữ “Việt Nam” vẫn còn trên bản đồ thế giới, đó là nhờ sức phấn đấu của đại chúng dưới quyền lãnh đạo của những đại biểu anh tuấn của giống nòi. Trong cuộc giải phóng quốc gia ngày nay lực lượng chiến đấu ở trong tay đại chúng. Trong cuộc kiến thiết kinh tế ngày mai, sức cần lao vẫn ở trong tay đại chúng. Phong tục cũng như tiếng nói đều phát sinh và hoàn thành giữa đại chúng. Cho ngay đến tư tưởng của đại chúng trong phong dao, tục ngữ cũng làm mạnh, sáng suốt hơn những tư tưởng nghèo nàn, cằn cỗi của những khối óc nô lệ kinh sách tự nhận là thức giả. Âm điệu thơ lục bát, thể thi ca đặc sắc của ta, vốn nhờ công của nông dân. Và sau hết, nhà nghệ sĩ hiện đại có khi phải nghiêng mình trước mỹ thuật của “bác phó cả” thời xưa mà những ngôi đình, chùa, miếu, mộ cổ còn giữ được tang chứng.

Nếu ta lại nhận định thêm rằng lớp người lao động là lớp người đang tiến phát, càng ngày càng có ý thức, có tổ chức, rằng phong trào tranh đấu của họ trên mặt trận quốc tế đã làm thắng dân quyền ở khắp các nước, và do đó, họ dần dần bước tới địa vị quan trọng nhất trong xã hội, thì ta không thể nào chối cãi khả năng rất lớn của đại chúng về văn hóa.

Nền văn hóa mới của ta muốn có nguồn sinh lực súc tích không thể nào không rút tài liệu ở cuộc sinh hoạt đại chúng, muốn có giá trị thực tiễn không thể nào không lấy vận mệnh đại chúng làm trung tâm, và muốn phụng sự tiến bộ, không thể nào không gắng gỏi thâm nhập đại chúng, để nâng cao trình độ họ lên bằng những tổ chức rộng rãi, bằng những công trình phổ thông.

Hết thảy mọi người đều nhận được và hiểu được văn hóa, đó không phải là cái lợi một chiều, cái lợi riêng cho phe bình dân, riêng cho hạng người hưởng thụ. Chính ngay những trào lưu học thuật sẽ nhờ thế mà được sự phê bình và sức ủng hộ của quảng đại quần chúng hướng dẫn và nâng đỡ để phát triển mạnh mẽ.

Nói tóm lại, chủ nghĩa tân dân chủ chỉ có thể quan niệm một nền văn hóa do đại chúng và vì đại chúng. 

Dân tộc hóa vì dân tộc là gốc rễ và là phạm vi hoạt động gần gũi nhất của con người. Giống nòi, cảnh thổ, khí hậu, di sản tinh thần, trình độ văn minh, chế độ kinh tế, tình hình chính trị, bấy nhiêu điều kiện của một nước đã định rõ dân nước ấy ở thời nào đó, có thể tạo tác những gì và cần được hưởng thụ những gì. Văn hóa không treo lơ lửng giữa giời thì tất phải thích nghi với cái khung khổ dân tộc, theo sát hoàn cảnh thực tế để việc xây dựng được thuận tiện và ảnh hưởng được trực tiếp ngay đến đời sống hiện tại.

Chúng ta phải chú trọng đến những phương tiện bản xứ có công dụng trường cửu và sức truyền dẫn sâu rộng. Liệu còn có cách cảm hóa đồng loại nào mầu nhiệm hơn cách gửi tình đẹp ý cao vào những hình, sắc, âm thanh đối với họ đã quen biết thân mật như hơi thở? Ta thử tưởng tượng nếu các bậc túc nho xưa kia không khinh văn Nôm thì kho tài liệu mà các cụ để lại cho ta đặc sắc, dồi dào đến thế nào? Ta lại nghĩ xem nếu trong thời Pháp thuộc bọn trí thức đã để tâm bồi bổ chữ quốc ngữ thì ngày nay họ đâu đến nỗi phải lúng túng trước vấn đề dùng toàn tiếng ta trong các bậc học? Vẫn biết những hoạt động trí thức cần phải vươn tới chân trời xa, nhưng trước hết những hoạt động trí thức ở nước Việt Nam có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề Việt Nam. Nhà khảo cổ sẽ làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam và những hiện tượng xã hội trên giải đất Đông Dương này. Nhà nghệ sĩ sẽ tô điểm cuộc đời Việt Nam bằng những tác phẩm hàm xúc tính tình, chí khí người Việt Nam. Nhà giáo dục sẽ đào tạo những người công dân Việt Nam bằng những phương pháp thích hợp với tâm lý thanh niên Việt Nam và hoàn cảnh xã hội Việt Nam. Nhà học giả sẽ khơi những dòng tư tưởng căn cứ vào cái lịch trình tiến hóa của giống người Việt Nam kéo dài trên bốn ngàn năm và bắt nguồn từ những ước vọng thiêng liêng của dân chúng Việt Nam đau khổ.

Tất cả hệ thống ý thức ấy, tuy lấy dân tộc làm kim chỉ nam, tuy tẩy trừ hết vết tích nô lệ về hình thức cũng như về nội dung, nhưng không phải vì thế mà đi đến những chủ trương vị quốc hẹp hòi cố ý sùng bái bất cứ cái gì của nước mình, bài xích bất cứ cái gì của nước ngoài. Trong cái vốn cố hữu, ta hãy để cho mọi sự đào thải tự nhiên gạt bỏ vào viện bảo tàng những phần đã quá mùa và trở nên phản tiến bộ, chỉ còn chút giá trị lịch sử. Trong các ảnh hưởng ngoại lai, ta hãy để những nhu cầu tất yếu mới của thời đại đón lấy những phần thích hợp, phong phú đã dần dần đồng hóa.

Một mặt nữa, những người tin tưởng ở nền văn hóa đại đồng mai sau cũng không phải lo tính cách dân tộc sẽ là một trở lực cho sự giao hòa giữa mọi nền văn hóa qua các biên giới. Trái lại, nền văn hóa đại đồng sẽ chỉ thực hiện được mỹ mãn khi nào mỗi nền văn hóa riêng biệt đã phát triển đến tận lượng trên địa hạt dân tộc, không bỏ sót một kho tàng, báu vật nào.

Với ba tính chất khoa học, đại chúngdân tộc, nền văn hóa Việt Nam mới sẽ có đủ tư cách phụng sự độc lập, tự do và hạnh phúc mà các chiến sĩ cứu quốc đang xây đắp dưới bóng cờ đỏ sao vàng. Đồng thời đời sống sung túc, nền tự chủ hoàn toàn và những quyền tự do được đảm bảo trong chế độ tân dân chủ lại chính là những điều kiện thiết yếu để tiến hành việc kiến thiết nền văn hóa mới kia một cách nhanh chóng, rộng rãi, và đến nơi đến chốn.

Vì vậy chúng tôi mới dám đề nghị một dự án đại cương dưới đây, mà chúng tôi tin là không trái với nguyện vọng quốc dân, và sẽ giúp được một phần vào việc nghiên cứu của những ủy ban chuyên môn sau này.

B.PHƯƠNG SÁCH CẤP BÁCH

Cũng như ở tất cả mọi phạm vi khác, việc kiến thiết trong phạm vi văn hóa phải bắt đầu bằng sự phá hoại: văn hóa mới muốn phát triển, cần đến một miếng đất quang quẻ, không mang một dấu vết cổ hủ, nô dịch nào. Vì vậy công việc đầu tiên là phải làm thủ tiêu cho kỳ hết những nọc độc của bọn phong kiến và bọn thực dân.

Một mặt chính phủ sẽ cương quyết đàn áp bọn văn hóa phản quốc, tịch thu và quốc hữu hóa những cơ quan văn hóa của đế quốc và của Việt gian.

Một mặt sẽ mở một cuộc tuyên truyền lớn lao, vạch rõ các tai hại của những chính sách văn hóa phong kiến thoái hóa và đế quốc dã man, cùng là cổ động cho chính sách văn hóa mới của chính phủ Việt Nam độc lập.

Một mặt nữa, trong phạm vi có thể, chính phủ sẽ bài trừ ngay những phong tục, tập quán nào trực tiếp cản trở những công cuộc cấp bách trong việc xây dựng quốc gia.

Những việc phá hoại cương quyết đó tất nhiên sẽ làm cho một số người không bằng lòng, nhất là những kẻ nô lệ của chế độ cũ. Họ sẽ lên tiếng chỉ trích: “Ấy đấy, bọn cách mạng, bọn phá hoại”. Nhưng việc làm sẽ cải chính lời dèm pha đó một cách rực rỡ, vì phần kiến thiết trên mặt trận cách mạng văn hóa sẽ quan trọng hơn phần phá hoại gấp bội, cũng như trên tất cả các mặt trận khác của cách mạng. Không! Cách mạng không phải chỉ là phá hoại. Cách mạng còn là kiến thiết, cách mạng cốt yếu ở kiến thiết, và kiến thiết những công trình vĩ đại không thể thấy được dưới những chế độ phản tiến bộ.

Kiến thiết văn hóa mới, cũng như kiến thiết chính trị hay kinh tế, là cả một mặt trận, chứ không phải chỉ là dăm ba cách khuyến khích học thuật, nâng đỡ văn chương hay nghệ thuật chút đỉnh như trong quan niệm của những người đã quen coi văn hóa là một thứ cây cảnh trồng trong chậu sứ, làm của riêng cho một vài kẻ tốt số thỉnh thoảng đến ngắm chơi. Không nói đến những việc kiến thiết kinh tế, chính trị, là những việc căn bản cung phụng cho văn hóa đủ điều kiện vật chất để phát triển, ta chỉ đứng trong phạm vi tinh thần cũng thấy rằng muốn cho văn hóa nảy nở tốt tươi, cần phải cải tạo hẳn tâm trí của mọi người trong xã hội. Làm cho nhân dân no ấm, tự do, ấy là sửa soạn miếng đất để trồng cây văn hóa; còn thay đổi những giá trị đạo đức, nâng cao ý thức toàn dân, ấy là đem ánh sáng, đem không khí đến cho cây văn hóa mọc và lớn lên.

Bởi vậy chương trình kiến thiết văn hóa mới không những phải định rõ việc xây đắp một học thuật Việt Nam, mà còn phải là một chương trình cải tạo luân lý, phong tục và giáo dục nhân dân nữa.

C.GIÁO DỤC

Nước Việt Nam là một nước cộng hòa dân chủ nghĩa là một nước mà sự sống và sức mạnh hoàn toàn trông cậy vào ý thức và lòng kiên quyết của người dân. Vì đó, làm cho nhân dân có trình độ hiểu biết cao, có ý thức chính trị vững vàng là một điều kiện sống còn của quốc gia tân dân chủ. Nền giáo dục tương lai sẽ phải thực xứng đáng là một nền giáo dục chứ không thể là một phương pháp mê hoặc lòng dân, kìm hãm trí dân như trong những nước phát-xít. Điều đó đã đủ khiến cho việc xây đắp nền giáo dục của ta là một công việc nặng nề, lớn lao. 

1.Giáo dục ngoài xã hội

Nạn thất học ghê gớm của dân ta lại khiến cho việc ấy nặng thêm và rắc rối thêm một bậc. Bên nền giáo dục chính thức, đầy đủ, áp dụng trong học đường cho lớp người trẻ tuổi còn nguyên sức tiến hóa, nước ta sẽ phải lo lập ngay cả một nền giáo dục tắt, nhanh chóng, cho lớp người lớn thất học, cả một nền giáo dục xã hội ở ngoài học đường cho tất cả đám người cần lao vô cùng đông đảo xưa nay vẫn phải sống một đời u tối hoàn toàn.

Khẩu hiệu đầu tiên của nền giáo dục xã hội, của nền giáo dục quần chúng ấy, là chống nạn thất học. Bọn thực dân dùng những chính sách gì để giam hãm dân ta trong vòng ngu dốt, chúng ta đã biết rõ, nạn mù chữ ở xứ ta đau đớn đến thế nào, chúng tôi cũng không phải nói dài. Cái đích thứ nhất mà chúng ta phải nhằm là làm cho không còn một người Việt Nam nào mù chữ. Bằng mọi phương sách, − tổ chức việc dạy quốc ngữ và học quốc ngữ, dùng pháp luật bắt buộc học đọc, học, viết trong một kỳ hạn vài ba năm, làm cho phong trào học chữ quốc ngữ lan rộng khắp nước và vào sâu khắp đại chúng − bằng tất cả những phương sách đó, chúng ta sẽ nhất định đạt đến đích. Chúng ta sẽ còn phải đi xa hơn thế nữa mà đặt nền móng cho cả một nền học bình dân, một nền học thức phổ thông, thích hợp với dân chúng. Nền học ấy sẽ được truyền bá trong những câu lạc bộ, nghĩa là những “viện văn hóa” nhỏ, mở tại thôn quê hoặc trong xưởng máy, để hiến cho người dân cày hay người dân thợ những giải trí bổ ích sau giờ làm việc, như đàn hát, ca kịch, thể thao, diễn thuyết. Để trau dồi cho họ những kiến thức phổ thông về địa dư, sử ký, công dân giáo dục để giúp họ hiểu biết xã hội, về khoa học, về nghề nghiệp, và để giúp cho họ phát triển tài năng, tăng thêm khéo léo, nền học bình dân đồng thời sẽ được đem dạy trong những lớp học buổi tối, và bồi bổ bằng những thư viện bình dân tổ chức cấp tốc và rộng rãi theo hai hình thức: phòng đọc sách và xe đi rong cho mượn sách.

Khẩu hiệu thứ hai của nền giáo dục xã hội, của nền giáo dục quần chúng tương lai là tuyên truyền, cổ động. Trong khi kiến thiết nền học bình dân, trong khi đợi cho nền học đó nở những hoa trái đầu tiên, muốn dìu dắt nhân dân, hướng dẫn dư luận, huy động lực lượng quần chúng vào việc kiến thiết quốc gia, không thể thiếu một hệ thống tuyên truyền cổ động lớn lao, luôn luôn trực tiếp với dân chúng, để giải thích chính sách của quốc gia về mọi phương diện, kinh tế, chính trị, văn hóa. Chính phủ sẽ dùng đến đủ mọi cách tuyên truyền: báo chí, truyền đơn, triển lãm, diễn thuyết, phòng chiếu bóng và xe chiếu bóng, rạp hát bình dân, vô tuyến điện, phòng thông tin… Tất cả những phương tiện tuyên truyền của đế quốc sẽ bị quốc hữu hóa ngay sau giờ giải phóng. Làm cho cuộc tuyên truyền âm vang khắp chợ cùng quê và len lỏi vào khắp các xí nghiệp, học đường và hoạt động xã hội, để gieo rắc tinh thần mới, ấy là nâng cao được ý thức dân chúng một cách mau chóng nhất là về phương diện chính trị.

Nâng cao trình độ hiểu biết, hướng dẫn ý thức quần chúng, nền giáo dục xã hội còn phải chú trọng đến một khẩu hiệu thứ ba là thể dục quốc dân. Chính phủ sẽ phải hết sức gây một phong trào “nòi giống khỏe mạnh” thực rộng rãi, và đến nơi đến chốn. Bắt buộc phải có chứng chỉ thể thao mới được chọn vào các nghề nghiệp và các phận sự − tuyên truyền hoạt động − lập sân vận động khắp nơi − mở trường đào tạo huấn luyện viên thể dục − tổ chức những buổi hội họp thể thao, những cuộc đua tranh sôi nổi, − đó là những phép nhiệm mầu để sau một thời hạn ngắn ta đã có thể thấy khắp nơi cái quang cảnh rộn rịp và khỏe mạnh: những sân vận động đông đúc lực sĩ thân hình cân đối và nở nang tập luyện sáng chiều.

Được huấn luyện thân thể, lại được nâng cao trình độ hiểu biết, người dân cần lao, người dân mà hiện nay đời sống thấp kém và u tối vô hạn, sẽ có đủ điều kiện, cả về phần hồn lẫn phần xác, để gánh vác những nhiệm vụ nặng nề và để nhận thấy nhiều ý nghĩa mới của cuộc đời.

Riêng người thanh niên Việt Nam tương lai, − người thanh niên mà bọn thực dân đã cố công cùng sức dìm vào vòng trụy lạc, giam hãm trong ngu tối hoặc xiềng xích vào cái học khoa cử và cái lý tưởng gia đình hẹp hòi, − người thanh niên mà sức phấn đấu đã phá tan tất cả mọi gông cùm để trỗi dậy hòa với sức chiến đấu chung của dân tộc, người thanh niên mà lòng hy sinh và dũng cảm đã vượt một cách rực rỡ lên trên hẳn những lời hoài nghi và khinh miệt, người thanh niên mang tất cả hy vọng của chúng ta ấy, trong một xã hội mới, tất nhiên phải được rèn luyện một cách thực xứng đáng. Cả một nền tổ chức thanh niên thật rộng rãi sẽ được dựng lên để đào tạo những người mới cho xã hội mới, và đồng thời huy động lực lượng thanh niên vào những công việc kiến thiết về tất cả mọi mặt.

Ngay hồi còn nhỏ, trong các ấu đoàn, các trẻ em sẽ được làm quen với cuộc sống rộng rãi, chung đụng đoàn thể. Lòng yêu nước, yêu tự do sẽ nhờ cuộc sống phóng khoáng này mà sớm nẩy nở cùng một lúc với những năng khiếu đặc biệt mà trường học không thể nào chú ý làm cho phát triển một cách xứng đáng. Lớn lên vào thiếu đoàn, người trẻ tuổi được tập sống cuộc đời của một chiến sĩ để luyện tinh thần kỷ luật, lòng hi sinh, chí kiên quyết, óc trách nhiệm và tất cả những đức tính khác của người chiến sĩ. Thiếu đoàn đồng thời sẽ là một trường huấn luyện chính trị và xã hội: người thanh niên không những sẽ thực sự sống một đời tự trị, dưới sự dìu dắt của đoàn trưởng, mà sẽ đồng thời được trau dồi một ý thức chính trị rõ ràng, và được tham dự vào những công việc xã hội. Ngoài ra, mỗi năm một lần, người thanh niên sẽ còn đem sức lực góp vào việc kiến thiết thực sự của quốc gia bằng cách sống một đời cần lao và bằng đẳng với hàng trăm thanh niên khắp các nơi, khắp các giới, ở những trại thanh niên. Cách huấn luyện có tính cách chính trị rõ rệt, cách tổ chức bán quân sự, và cách sinh hoạt cần lao trong những trại đó sẽ đủ hiệu quả để rèn đúc người thanh niên thành một chiến sĩ quả cảm trong mặt trận thanh niên duy nhất của dân tộc. Người thanh niên chiến sĩ ấy sau này sẽ xứng đáng là người “công dân chiến sĩ” của nước Việt Nam mới, cộng hòa và dân chủ, tranh đấu trên khắp các mặt trận để diệt hết những khuynh hướng phản động, đánh bại hết những mưu xâm lược, và để thiết tha xây dựng cho kỳ được một nước Việt Nam mạnh mẽ, tự do, sung sướng. 

2.Giáo dục ở học đường

Địa vị vô cùng quan trọng của tất cả nền giáo dục xã hội trên đây không làm giảm thanh thế của nhà trường tương lai. Nền giáo dục xã hội với nền giáo dục học đường cùng nhằm một mục đích, nhưng để đi tới mục đích ấy mỗi bên được lợi thế về một phương diện. Vì vậy đôi bên đều cần lẫn đến nhau và phải bổ túc lẫn cho nhau. Cũng vì vậy việc xây dựng một nền học chính mới, sau khi phá sạch nền học nô lệ cũ, sẽ phải tiến hành gấp rút và rộng rãi, cùng một nhịp với việc kiến thiết nền giáo dục xã hội.

Nguyên tắc đầu tiên sẽ hướng dẫn việc kiến thiết học chính tương lai là một khẩu hiệu nhuộm thẫm tinh thần dân chủ mới: nền học mai sau phải xứng đáng là nền học một nước cộng hòa, dân chủ và cách mạng. Nó sẽ không miệt thị nhân cách như những nền học ngu dân của các nước phát-xít, nó sẽ không hạ con người xuống làm bộ máy thụ động, một đồ dùng chính trị, cúi đầu chịu nô lệ cho một thiểu số quân phiệt hay tài phiệt tham tàn, giả dối. Không, không, trong nước Nam mai sau, giá trị con người phải được tôn trọng, cá tính người dân phải được phát triển tự do, tài năng mọi phần tử của quốc gia phải được nảy nở đến tột bực. Người “công dân chiến sĩ” phải là một người, một phần tử có ý thức, đủ năng lực tham dự tích cực vào đời sống quốc gia, biết nhận rõ quyền lợi và bổn phận của mình cùng là quyền lợi chung và đường tiến hóa chung.

Mục đích giáo dục mới mẻ cần đến một phương pháp giáo dục mới mẻ. Cái lối dạy học nhồi sọ, cái phương pháp giáo khoa viển vông xa thực tế, nó khiến cho học sinh chỉ là những con vẹt để rồi một ngày kia vui lòng làm trâu ngựa, ta sẽ quét hết khỏi tất cả các bậc học để thay vào đó một phương pháp dạy học hợp lý, hiệu nghiệm. Phương pháp mới sẽ hoạt động: trong lớp học, vai chính nói nhiều, hoạt động nhiều, sẽ không còn là thầy giáo mà phải là học sinh, bài học sẽ không còn là một bài giảng đạo, mà phải là một cuộc tìm tòi, nghiên cứu thú vị có tất cả lớp tham dự, dưới sự chỉ đạo của ông thầy. Phương pháp mới sẽ thiết thực: đầu đề các bài học là những vấn đề thực tế, và mục đích những bài  học cũng là thực hành. Người học trò nhờ vậy sẽ được dần dần đưa đi khám phá cuộc đời thực ở chung quanh mỗi ngày một sâu hơn, rộng hơn, chứ không còn bị u mê trong những lý thuyết giữa trời lơ lửng.

Sang đến phạm vi tổ chức các bậc học, và xếp đặt các chương trình học, nguyên tắc dân chủ mới dẫn đến hai kết quả lớn: một là làm cho học vấn hết sức phổ thông bằng cách bỏ học phí, bắt đi học và cố gắng rút thật ngắn những bậc học; hai là làm cho học vấn hết sức bình đẳng bằng cách áp dụng ở khắp nơi một chương trình học duy nhất cho tất cả các hạng người, và hết sức hoãn chậm thời kỳ phải chia ngành chuyên môn, trong phạm vi có thể, để cho tất cả mọi phần tử của quốc gia, dù ở nghề nghiệp nào, cũng có một học lực căn bản kha khá.

Nền học phổ thông và bình đẳng mai sau ấy sẽ chia làm ba bậc cũng như ở hầu khắp các nước.

Bậc tiểu học bắt buộc và không mất tiền, sẽ chiếm địa vị quan trọng hơn cả. Muốn cho toàn thể các gia đình xứ ta có thể để cho con em, cả trai lẫn gái, học trọn bậc thứ nhất này, chính phủ cần rút ngắn thời hạn học và hết sức giúp đỡ cho học trò nghèo những vật liệu cần dùng như sách, vở, giấy, bút, hoặc cho không, hoặc bán thật rẻ.

Nền tiểu học sẽ giữ công đầu trong công cuộc khai thác dân trí. Nó nhằm mục đích mang lại cho đứa trẻ những kiến thức thông thường cần thiết để sống trong cuộc đời hằng ngày, − sống làm một người, sống làm một phần tử sản xuất, và sống làm một công dân. Vì vậy, trong một thời hạn không được dài quá bốn năm, người học trò phải đi đến chỗ biết đọc, viết thông thạo tiếng mẹ đẻ, có ít nhiều kiến thức sơ đẳng về khoa học, kỹ thuật, và biết những điều thiết yếu về đời sống xã hội trong phạm vi quốc gia như lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, bổn phận công dân, chính thể dân chủ mới, v.v… Chương trình mới mẻ đó, đối với người học trò sẽ không có gì là nặng nề, vì dạy toàn bằng tiếng Việt Nam và theo một phương pháp hoạt động và thực tế thì dễ thâu thái lắm.

Trước khi vào năm thứ nhất bậc tiểu học, đứa trẻ có thể qua những lớp đồng ấu, tổ chức theo hình thức ấu trĩ viên, để chơi đùa, tập tành, trong một hoàn cảnh tốt lành.

Lớp đồng ấu và trường tiểu học, sẽ vừa do chính phủ vừa do các công xã mở cấp tốc khắp nơi, để trong một thời hạn ngắn, có thể tiến đến cái đích: “mỗi làng một trường tiểu học”. Thày dạy trong buổi đầu sẽ là những giáo viên cũ, hoặc những người có học lực tương đương với bực trung học cũ, do chính phủ kén chọn và huấn luyện cấp tốc trong vài tháng cho hiểu rõ mục đích nền học mới và phương pháp giáo khoa mới. Sách học cũng sẽ thay đổi hẳn: việc soạn những cuốn sách giáo khoa thấm nhuần tinh thần tự do, cấp tiến, tự cường, và trình bày một cách thú vị, khoa học, sẽ trao cho những ủy ban gồm những nhà giáo có kinh nghiệm và những nhân vật có năng lực trong giới tư tưởng, văn nghệ, cộng tác chặt chẽ với những ủy viên chính trị. 

Bậc trung học chia làm hai cấp: cấp thứ nhất, lâu chừng ba năm, chú trọng rèn luyện não phê bình và mở mang thêm những kiến thức mà người học sinh đã lượm được ở bậc tiểu học, đồng thời lại rèn đúc cho người thanh niên một quan niệm chính trị rõ ràng. Cấp thứ hai, lâu chừng hai năm, bắt đầu chia thành chuyên khoa, để sửa soạn cho những học sinh xuất sắc tiến lên bậc đại học hay lên chuyên môn cao đẳng. Chương trình học gồm một phần giáo dục quốc gia, một phần giáo dục chính trị và một phần giáo dục khoa học và chuyên môn, trong đó môn sinh ngữ sẽ chiếm một phần đáng kể.

Trong bậc trung học, chính phủ phải đảm nhận phần lớn nhất công việc mở trường. Sự cộng tác của tư gia và của địa phương sẽ giúp cho chóng đi đến trình độ “mỗi tỉnh một trường trung học”. Giáo sư trong buổi đầu cũng sẽ là những giáo sư cũ và những người có học lực tương đương với bậc đại học cũ, do chính phủ kén chọn và huấn luyện cho có đủ năng lực dạy học bằng tiếng Việt Nam, và đủ ý thức chính trị dìu dắt những người thanh niên đã biết phê bình, và sớm hăng hái muốn góp phần vào việc kiến thiết quốc gia. Còn sách giáo khoa sẽ do những ủy ban chuyên môn biên soạn, gồm những nhà chuyên môn và những ủy viên chính trị. Trong khi chờ đợi, để giúp đỡ cả thầy giáo lẫn học trò, sẽ có thể cho xuất bản ngay một tờ học báo.

Đi sóng đôi với nền tiểu học và trung học tổ chức như trên đây lại còn có một nền học thực hành tổ chức chu đáo để chọn lấy những học sinh tốt nghiệp ở các trường ra, đào tạo thành những người cần lao, những phần tử sản xuất đắc lực. Học sinh tốt nghiệp tiểu học, nếu muốn phá ngang vào đời, sẽ vào các trường dạy nghề nhằm mục đích đào tạo những người thợ giỏi trong tất cả mọi ngành sản xuất. Học sinh tốt nghiệp cấp thứ nhất bực trung học, nếu cần vào đời, sẽ có những trường chuyên nghiệp đón lấy để rèn luyện thành những thợ chuyên môn, những nhân viên chỉ huy trung bình trong các xưởng thợ, và các sở công, tư.

Xem tổ chức học chính như trên, cái lý tưởng của người học trò tương lai sẽ thực lành mạnh. Mộng mũ cao áo dài sẽ bị đạp xuống tận bùn đen, khoa cử sẽ không còn là trung tâm học vấn. Người thanh niên tương lai đến trường không phải để giật một mảnh bằng mà là để được huấn luyện nên một người có năng lực hiểu rõ bổn phận và quyền lợi của mình rồi chọn lấy một phần việc hợp với mình trong xã hội Việt Nam.

Cái lối học khoa cử bị lật đổ hẳn như vậy nên bậc đại học tương lai sẽ hiến ta một quang cảnh khác hẳn những ngày trước đây. Với nền đại học, chúng ta đã bước đến giới hạn của vấn đề giáo dục, vì hệ thống đại học không những là nơi đào tạo những người chỉ huy trong các ngành sinh hoạt của quốc gia, mà còn là một lò rèn để đúc lấy nền học thuật Việt Nam tương lai, để làm cho nền học thuật ấy có thể sánh vai với những nền học thuật ngoại quốc.

Trong nền đại học mới mẻ mai sau, học vấn sẽ không còn tính chất “vườn cảnh” như dưới chế độ thực dân trước. Những ban đại học và trường chuyên môn cao đẳng về đủ các môn khoa học, pháp lý, văn học, chính trị, xã hội, kỹ thuật, quân bị sẽ mở ra thực đầy đủ, để cung phụng nhân viên chuyên môn cho tất cả mọi ngành sinh hoạt.

Trong thời kỳ đầu tiên của việc kiến thiết nền đại học, vì thiếu giáo sư, nên ngoài những nhân tài nước ta đã có, chính phủ sẽ phải mượn nhiều giáo sư ngoại quốc. Những bài học vì vậy sẽ hoặc giảng bằng tiếng Việt Nam, hoặc giảng bằng tiếng ngoại quốc, nhất là bằng tiếng Pháp, tiếng Anh là hai thứ sinh ngữ đã khá phổ thông trong giới học sinh ta. Nhưng việc đào tạo nhân tài và bồi bổ quốc ngữ sẽ phải tiến hành rất gấp, để ta có thể tiến tới một nền đại học do toàn người Việt dạy toàn bằng tiếng Việt.

Những nhân viên chuyên môn xuất sắc nhất trong nước, những nhà bác học về các ngành học thuật, lại còn được chính phủ giúp đỡ cho đủ điều kiện theo đuổi việc khảo cứu bằng cách lập ra những viện khảo cứu cho từng ngành và đặt những giải thưởng phát minh.

Một phương tiện đào tạo nhân tài đáng chú ý đặc biệt nữa là gửi học sinh ra nước ngoài. Chính phủ sẽ phải hết sức khuyến khích và nâng đỡ việc du học bằng cách cấp học bổng, lập những hội bảo trợ du học sinh, v.v… Một phong trào xuất dương bồng bột phải nhóm lên trong giới thanh niên để những nhân tài tương lai của nước ta sốt sắng đi học cho kỳ được những cái hay của tất cả các cường quốc, đem về gom góp vào việc kiến thiết nước nhà.

D.LUÂN LÝ, PHONG TỤC

Đi đôi với những cố gắng về giáo dục ở học đường và ngoài xã hội mà mục đích là tạo nên lớp người Việt Nam mới, phải có những cố gắng về luân lý, phong tục mà mục đích là tạo nên những giá trị tinh thần Việt Nam mới để làm mực thước cho mọi sự hành động trong cuộc sống mới.

Cuộc sống mới trước hết, không còn nghi ngờ gì mà sẽ phải thoát khỏi những vết thương xã hội của đời sống cũ cho kỳ được, nên mở đầu cho việc kiến thiết, chúng ta sẽ phải lo bài trừ triệt để những nạn mãi dâm, thuốc phiện, cờ bạc, rượu chè. Bằng pháp luật nghiêm ngặt, bằng tuyên truyền rộng rãi, bằng những công cuộc xã hội lớn lao, chúng ta sẽ nhất định lọc cho trong trẻo cái làn không khí đã bị bọn thực dân làm cho sặc mùi thuốc độc, chúng ta sẽ phải quét cho sạch sẽ miếng vườn bị bọn đế quốc đổ rác ô uế.

Để đào thải những phong tục hủ lậu hoặc đồi bại, chúng ta sẽ dùng đủ mọi phương tiện công, tư, gây một “phong trào đời sống mới” bồng bột khắp mọi nơi và mọi tầng lớp dân chúng. Cách sống của người dân trong gia đình, ngoài xã hội sẽ cải tổ hẳn lại về mọi phương diện. Nhà ở mới, cách ăn mặc mới sẽ sửa đổi cho giản dị và hợp vệ sinh mà không mất vẻ đẹp riêng của dân tộc; ngôn ngữ mới, cử chỉ mới sẽ biểu lộ một tinh thần tự cường và trọng bình đẳng, tự do, mà không kém vẻ thanh nhã; xã giao mới sẽ giản dị hơn, thành thực hơn; lễ nghi mới, trong nhà hay ngoài xã hội, cũng sẽ trang nghiêm hơn, sơ sài hơn, mạnh mẽ hơn, có ý nghĩa hơn và hợp với điều kiện sinh hoạt mới hơn.

Đồng thời, cái lý tưởng sống, trong nước Nam mới, cũng không thể là những quan niệm hẹp hòi, hèn yếu, trụy lạc, vị kỷ nó đã làm hại dân tộc ta bao lâu nay. Muốn tiến, dân tộc ta phải gắng sức đi tới một nền luân lý mới, rộng rãi, hợp với đời đoàn thể mới, − một nền luân lý lấy một lý tưởng quốc gia chân chính, rộng rãi thay vào cái lý tưởng gia đình hẹp hòi, hoặc cá nhân vị kỷ cũ, lấy tinh thần tự do, bình đẳng thay vào tôn ti phong kiến cũ. Làm việc cho nước Nam mới, trong nền luân lý ấy, sẽ phải trở nên mối thắc mắc thường trực của tất cả mọi người, − và phụng sự cho nước Nam dân chủ cộng hòa, phải là cả một thứ tôn giáo hấp dẫn mạnh mẽ tất cả mọi công dân, cũng như nó đã hấp dẫn tất cả các đồng bào cùng tất cả các đồng chí đã chiến đấu với kẻ thù trên khắp các mặt trận.

Nói đến một nền luân lý mới, chúng ta không thể quên vấn đề phụ nữ, nó sẽ chỉ định một phần lớn cái đà tiến hóa tương lai của dân ta. Chúng ta làm sao có tự do, bình đẳng thực, nếu chưa giải phóng cho bạn gái − tức là một nửa dân tộc − khỏi những sự đè nén, do những quan niệm khắc nghiệt, thiên lệch còn sót lại của một thời đã chết. Chúng ta làm sao có thể tiến mau chóng đến ánh sáng, nếu cả một nửa dân tộc còn lãnh đạm với những công việc kiến thiết? Đời sống đoàn thể mai sau sẽ nhất định lôi cuốn phụ nữ ra khỏi gia đình, bắt gánh vác những trách nhiệm xã hội ngang với đàn ông, thì nền luân lý mai sau còn ngại gì mà không trừ bỏ hẳn cái tinh thần bất bình đẳng giữa nam, nữ trong gia đình và ngoài xã hội, còn ngại gì mà không bài xích những chế độ làm giảm giá trị người đàn bà, như những phong tục đa thê, cưới xin mua bán? Sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam nữ trong luân lý, phong tục phải hoàn thành cho sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam nữ về phương diện chính trị.

Đ. VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT

Trong cái đời sống tinh thần hoạt động sôi nổi, và rộng rãi, tự do, mà dân tộc ta sẽ tự kiến thiết, nền văn học, nghệ thuật mới, nhất định sẽ gặp những điều kiện thuận tiện, và nhất định sẽ lớn lên vùn vụt, theo kịp nền văn học, nghệ thuật của bất cứ nước nào. Sách, báo, tác phẩm mỹ thuật, trong nước Nam mới ấy sẽ không còn là đầu đề riêng cho một thiểu số trí thức bàn cãi, mà trái lại, sẽ được toàn thể dân tộc chú ý và sẽ thấm nhuần vào ý thức quần chúng, nghĩa là sẽ hợp với nhu cầu đại chúng, sẽ giải cho đại chúng được những mối băn khoăn. Cái khối người thưởng thức đông đảo và có ý thức cũng sẽ lại là lực lượng mạnh mẽ nhất để đập tan hết cả những xu trào thoái hóa, phản động, phong kiến.

Về mặt văn học và nghệ thuật, sự giúp rập của quốc gia có nhiều cách.

Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, chính là cởi mở cho văn hóa trở nên sầm uất, và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hóa đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú. 

Trợ cấp cho những nhà văn và nghệ sĩ có tài, về tất cả mọi ngành như hội họa, điêu khắc, ca kịch, gây những nghệ thuật chưa có ở ta, nhất là nghệ thuật chiếu bóng, làm cho đời sống những người phụng sự văn hóa được một đôi chút thoải mái, nâng cao địa vị của họ trong xã hội, khuyến khich những hội văn hóa mới ấy là gây đủ điều kiện cho nước ta có những tác phẩm sản xuất lâu dài, kỹ lưỡng, dư giá trị. Bênh vực quyền lợi, chẳng lấy gì làm nhiều nhặn, của những nhà văn nghệ, của những “kỹ sư linh hồn” bị bạc đãi, cũng là một việc mà nhà lập pháp cần nghĩ đến.

Muốn cho đàn văn nghệ hoạt động một cách chưa từng thấy, muốn khuyến khích sự sản xuất những tác phẩm công phu và giá trị, chính phủ còn có thể đặt những giải thưởng toàn quốc về văn chương, mỹ thuật, tổ chức những cuộc trưng bầy lớn lao, lập những viện bảo tàng để bảo tồn tinh hoa nghệ thuật, và lập nhà in và nhà xuất bản quốc gia theo lối làm việc tập đoàn.

Để gây cho văn học một thanh thế đặc biệt, ta sẽ còn thấy mở những viện văn học, đỉnh cao nhất của nền văn học tương lai. Những viện đó có thể chia làm nhiều ban, gồm những “ngôi sao” về mỗi ngành văn học, nghiên cứu về tiếng nói, lịch sử, triết lý, văn chương v.v… Các ban chuyên môn trong những viện văn học sẽ có thể giúp một phần rất lớn vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách có quan hệ đến văn hóa của ta, như cải cách chữ viết, thống nhất tiếng nói, đặc chuyên ngữ khoa học, hay ấn định chính tả và văn phạm. Tổ chức khéo léo, viện văn học sẽ có thể là một lò đúc lớn lao của nền văn học mới.

Sau hết, muốn thổi vào nền văn hóa của ta những luồng gió mới lạ từ phương xa tới và đồng thời mở rộng ảnh hưởng văn hóa của ta ra ngoài cả biên giới dân tộc, quốc gia sẽ lập nên những cơ quan trao đổi văn hóa với ngoại quốc, gửi những phái bộ văn hóa của ta ra nước ngoài, đón tiếp đại biểu văn hóa các nước, hết sức tìm thâu thái những cái hay của người, gây một phong trào thành thực tìm hiểu nhau giữa các dân tộc, để góp một phần vào công cuộc kiến thiết nền văn hóa chung của cả thế giới.

***

Chúng ta cùng nhau nhìn hướng về cái quang cảnh đời sống văn hóa trong nước Nam ngày mai. Cả một dân tộc, sau khi đã đứng thẳng lên, đạp sang bên những đoạn xiềng xích lả tả mà tiến lên. Khắp các làng, các tỉnh, khắp các lũy tre, các xưởng máy, bùng lên một phong trào đi học, tìm học sôi nổi và lôi cuốn. Kẻ đi trước dắt người đi sau, kẻ sáng dìu người tối, lớp học chữ quốc ngữ mở khắp nơi, câu lạc bộ, thư viện bình dân mọc lên như nấm; sân vận động, phòng thông tin, nhà chiếu bóng, rạp hát bình dân cuồn cuộn hấp dẫn người; đoàn, trại thanh niên tới tấp hoạt động; trường học mở rộng cửa đón chào nhộn nhịp; tầu đi xa chở đầy du học sinh… cái sức sống của dân tộc được cởi mở, vùng dậy và tìm hết cách để tự giải phóng, tự giác ngộ cho thực hoàn toàn. Những ánh sáng mới, những luồng gió mới, nhờ đó ào đến, quét sạch mây mù, thay đổi hẳn bầu trời, biến cái quang cảnh sinh hoạt tối tăm, trì trệ, vắng vẻ hôm qua thành một đời sống sáng láng, hoạt động, sầm uất, rộng rãi. Một tin tưởng mới, đầm ấm, mạnh mẽ, hòa hợp mọi tâm hồn, thiết tha tìm xây dựng tự do, hạnh phúc chung và giằng đứt tất cả những giây ràng buộc khắc nghiệt, thiên lệch, của thành kiến cũ, để sáng tạo những thói quen mới, giản dị, bình đẳng và mạnh dạn. Rồi trong cái đời sống tinh thần sôi nổi và rộng rãi ấy, văn chương, nghệ thuật, khoa học, tư tưởng, vụt lớn lên, nẩy nở đẹp đẽ. Những công trình văn hóa tràn ngập khắp chợ, khắp quê, lớp đại chúng khao khát đón từng cuốn sách, từng số báo, từng điệu hát, từng bài thơ, từng bản kịch, từng phim ảnh, cả từng phát minh nhỏ về khoa học hay kỹ thuật, đem ra áp dụng, phê bình sôi nổi, trong các câu lạc bộ, các thư viện, các trường học, các xưởng máy, các cánh đồng.

Cái quang cảnh tràn đầy sức sống ấy, chúng ta sẽ phải trông thấy trong nước Việt Nam độc lập dân chủ cộng hòa.

Cái hình ảnh rực rỡ ấy khiến chúng ta thêm vững lòng và vui sướng đem hết não tủy, xương máu ném vào cuộc chiến đấu cuối cùng diệt hết quân thù.

Tháng 6 năm 1945

  • Nguồn:Sách in: Một nền văn hóa mới, của Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Đình Thi, Hội Văn hóa Cứu quốc (trong Mặt trân Việt Minh) xuất bản, Hà Nội, 1945; 50 trang 18,5 x 25 cm

  • Chú thích:

(1) Báo Cứu quốc trước ngày tổng khởi nghĩa của mặt trận Việt Minh, nếu theo sự đòi hỏi của độc giả thì mỗi số phải in tới trên dưới một triệu tờ mới đủ, thế mà kỳ nào cũng chỉ phát hành được đến vài vạn là cùng. (nguyên chú)

 

PHỤ CHÚ

MỘT SỐ BÀI BÁO CỦA NGUYỄN HỮU ĐANG

(mà tôi biết):

 

Nguyễn Hữu Đang: Trở lực của văn hóa dưới ách đế quốc // Tiên phong, Hanoi, s. 1 (10/11/1945)

 

– ————— : Hội nghị văn hóa toàn quốc và nền độc lập Việt Nam // Tiên phong, Hanoi, s. 2 (1/12/1945)

 

– —————- : Văn hóa tức là…. //Tiên phong, Hanoi, s. 3 (16/12/1945)

 

– —————- : Hội nghị văn hóa toàn quốc sẽ tổ chức như thế nào? // Tiên phong, Hanoi, s. 3 (16/12/1945)

– Nguyễn Hữu Đang: Nhớ tiếc Tô Ngọc Vân // Văn nghệ, Hanoi, s. 57 (1/11/1954)

– Nguyễn Hữu Đang: Một bức vẽ: Chị cốt cán // Văn nghệ, H., s. 58 (15/11/1954),tr. 3

– Nguyễn Hữu Đang: Tin tưởng và quyết tâm // Văn nghệ, H., s. 61 (1/11/1955), tr.1

– Nguyễn Hữu Đang : Nguyễn Hiêm, họa sĩ của nhân dân // Văn nghệ, H., s. 61 (1/ 11/ 1955), tr. 7; s. 62 (15/1/1955) tr. 11; s. 63 (15/2/1955), tr. 9

– Nguyễn Hữu Đang: Nhân dân Pháp của chúng ta // Văn nghệ, H., s. 66 (21/3/1955), tr.1

– [Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Duy]: Trả lời bạn Nguyễn Chương và báo Nhân dân: Chúng tôi cực lực phản đối luận điệu vu cáo chính trị // Nhân văn, H.,   s. 2  (30. 09. 1956) tr. 1, 6, 5. (bài này do Ng. H. Đang viết, tuy đứng tên 3 người nói trên)

– Nguyễn Hữu Đang:: Cần phải chính quy hơn nữa // Nhân văn, H.,  s. 4 (05. 11. 1956), (tr. 1, 5)

– Nguyễn Hữu Đang: Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào? // Nhân văn, s. 5 (20/11/1956), tr. 1, 2.

– Nguyễn Hữu Đang: Từ Prô-lê-kun đến trăm hoa đua nở // Văn nghệ, H., s. 145 (2/11/1956), tr.2, 11; s. 147 (16/11/1956), tr. 3; s. 148 (23/11/1956), tr. 3.

– Nguyễn Hữu Đang (kể): Cổ tích: Vừng khoai lang; Hoa gạo, cỏ may; Chồng cũ chồng mới (minh họa của Bùi Xuân Phái) // Sách tết 1957, Nxb. Minh Đức, 1957, tr. 24

 

MỘT CÁI BỆNH DỊCH TRONG LÀNG VĂN NÊN CÙNG NHAU SỚM TÌM THUỐC CHỮA

Vài điều kiến giải hùn với bài “Khái luận về văn học

chữ Hán ở nước ta” của ông Phan Khôi

HUỲNH THÚC KHÁNG

 

Tao đàn tạp chí số 1 và số 2 ra ngày 1er và 16 Mars 1939, ông Phan Khôi có bài “Khái luận về Hán học ở nước ta”, một bài đại luận, trưng dẫn xác lạc, lời lẽ rành rẽ, bản ý muốn chữa cái thông bệnh lưu truyền trong văn học giới nước ta.

Hán học ở nước ta ngày nay đã thành vật cổ bỏ xó, lớp thiếu niên tân học phần đông không rõ lai nguyên là thế nào, mà lớp cựu học sống sót không còn mấy người. Tôi là một người trong đám sống sót – trước ông Phan Khôi không bao năm – đối với bài khái luận của ông, đại thể vẫn tán đồng, song có một vài điều kiến giải gọi là bổ chỗ thiếu trong bài ấy.

Một cái thông bệnh trong làng văn từ xưa đến nay, văn nhân Đông phương – không nói Tây phương – ít ai tránh khỏi, gần như bệnh dịch truyền nhiễm và di truyền cứ thấy lan rộng, in sâu và kéo dài. Chính cái bệnh ấy làm cho văn học giới hiện ra cái cảnh tượng “vàng thau lẫn lộn, lúa cỏ xô bồ”, che lấp cái chân giá trị cùng chân tướng của văn người xưa đã là một cái tội, mà cái lối “thả trái mù, đánh trống lấp” làm cho người đồng thời cùng lớp sau mang cái nạn choáng tai lòa mắt, không biết đường nào chân chính mà theo, không biết điều gì mậu ngộ mà tránh, di hại trong học giới, cái tội ấy thật không đáng dung thứ chút nào!

Cái bệnh dịch ấy là gì? Tôi xin cả tiếng hô lớn là cái bệnh KHEN CHÊ QUÁ ĐÁNG.

Văn giới Hán học phương Đông có cái tập quán đã thành di truyền tánh là cùng khinh rẻ nhau   (văn nhân tương khinh) và cùng tâng bốc nhau

      (hỗ tương tiêu bảng). Nói riêng về đời Hán học ở nước ta, cái bệnh ấy cũng kèm với Hán học mà truyền nhiễm rất chóng và in vào rất sâu. Bởi vậy, làng Hán học ta trải mấy trăm đời, trừ ra một số rất ít, –  ít đến muôn một, – nhờ tư chất thông minh dĩnh ngộ, cùng đặc tánh ham học, ra công nghiên cứu, tự tìm lấy đường lối, phăng đến nguồn gốc mà tự chữa lấy mình, may ra tránh được cái bệnh đó, đã khó lắm rồi. Ngoài ra, biết bao kẻ tuấn tú học nhiều – không kể hạng ít học – mang cái xác văn nhân mà cái hồn bị con ma dịch kia hớp từ lúc nào mà không tự biết!

Bệnh dịch ấy truyền nhiễm đến cả Tây học và Quốc văn học!

          Từ có Tây học truyền sang, may phúc lại có thứ chữ quốc văn thay cho học chữ Hán trước kia, riêng tôi là một người sống vào giữa khoảng quá độ ấy, được thấy cái phong khí “văn học phê bình công khai” phương Tây truyền sang, có lòng mừng thầm, ngày đêm cầu khấn cho con ma dịch nói trên cùng đi đời với số kiếp Hán học, không còn khuấy rối trong làng Tây học và Quốc văn học, nhứt là cái nền quốc văn mới gầy dựng như đứa trẻ con trong lúc ngày tháng còn non.

          Nhưng khốn thay! Chữ Hán đi đời mà cái bệnh dịch di truyền in sâu trong mạch máu người mình làm sao! Không những không thấy giảm bớt chút nào, lại càng thạnh hành hơn trước. Một cái cớ dễ hiểu là chữ quốc ngữ ngày nay dễ học hơn chữ Hán ngày xưa xấp mười xấp trăm, gia dĩ máy in hoạt bản tiện lợi cho đường trứ thuật và ấn hành, thành ra văn sĩ và tác giả ngày nay xuất hiện càng nhiều, con ma dịch “khen chê quá đáng” kia đã làm hại cho Hán học ngày xưa, nay lại được cái nhịp tốt và hoàn cảnh thuận tiện mà hoành hành trong học giới quốc văn hiện thời, làm cho đứa con quý báu ta đương còn thời kỳ ấu trĩ đã mang phải bệnh di truyền ấy, nguy hại cho văn học giới ta biết bao!

 

Thái độ tôi đối với bệnh di truyền ấy   

          Vì cái cớ nguy hại nói trên, đối với môn học quốc ngữ truyền bá mau chóng, tôi mừng bao nhiêu, thì đối với bệnh dịch truyền nhiễm lan rộng, tôi lo bấy nhiêu. Trên 10 năm nay, tôi chủ trương tờ báo Tiếng Dân, đối với các sách quốc văn xuất bản, lời khen tiếng chê rất là dè dặt, dè dặt cho đến nhiều người gia cho cái tiếng “nguội lạnh”, “hà khắc”, tôi vẫn vui lòng nhận, mà không khi nào dám buông ngòi bút vượt ra ngoài cái giới hạn mà tự lương tâm tôi cho là “quá đáng”. Xin nói thực tình, tôi tuyệt nhiên không có ý lập dị, mà cốt là tự vệ, sợ con ma dịch kia ám ảnh đấy thôi.

          Cái mãnh lực con ma dịch đương hoành hành trong học giới quốc văn ta – cả Pháp văn – tôi tự xét tôi có sức tự vệ là may, chưa biết chắc đã tránh khỏi chưa. Đến muốn đánh đổ nó không phải sức riêng một người cùng công phu một mai một chiều mà mong có thực hiện, rất trông anh em thức giả trong nước có lòng lo cho văn học giới sau nầy mong cùng nhau hùn sức tìm phương cứu chữa. Đó là việc hiện tại và tương lai, tôi nói thế đã nhiều. Đây xin quay lại đời dĩ vãng nói vài điều kiến giải về đời Hán học, hùn vào bài “Khái luận…” của ông Phan Khôi.

Một vài văn phẩm của tiền nhân trong đời Hán học      

          Trong đám Hán học còn sót lại hiện thời mà lưu tâm cứu chữa cái bệnh dịch truyền nhiễm nói trên, trước hết phải kể ông Phan Khôi. Ông đã từng vài lần khuyên tôi hùn một phần trong công việc ấy, mà tôi vì bận việc, ứng phó nhiều phương diện, không chuyên tâm làm việc được. Huống công việc phê bình văn học, cần phải sưu tầm tài liệu và có con mắt quan sát khắp cả thời đại, hoàn cảnh và lịch trình, mới rõ cái chân tướng của nó, không phải thấy đâu nói đó, cử một ngón tay mà đoán cả toàn thân, nên lâu nay tôi không bàn.

          Nay nhân bạn đồng nghiệp Tao đàn tạp chí đứng ra chủ trương công việc quan hệ đó, mà trong 2 số đầu có bài đại luận của ông Phan Khôi. Trong bài ấy chỉ rõ những chỗ thi văn của người Nam ta kém xa người Tàu như văn của cụ Phan Bội Châu mà Lương Khải Siêu gọi là “bất nhã thuần”, thi của Lê Thánh Tôn cùng Thân Nhân Trung rất tầm thường mà dám so với thi Lý Thương Ẩn cùng các nhà viết sử sai văn pháp… Ông cho thi văn ta chỉ độc chiếc có thi văn Cao Bá Quát là đáng sánh với người Tàu mà không thẹn, v.v.

Về chỗ khen

          Những tác phẩm ông đã trích ra mà có lời khen chê trên, tôi vẫn đồng tình. Trước nói về phần khen, ngoài thi văn Cao Bá Quát ra, tôi muốn thêm 2 tác phẩm của tiền nhân ta mà tôi cho là dám địch với văn người Tàu (chỉ nói văn chớ không nói học thuyết):

          1/ Chinh phụ ngâm 征婦  của ông Đặng Trần Côn;

          2/ Ngũ ngôn cổ 言古詩  của cụ Phan Thanh Giản.

          Một áng văn như bài Chinh phụ ngâm – các bạn trẻ chỉ đọc bản dịch quốc văn mà ít hiểu Hán văn – tôi dám cho là sáng cách, hợp cả lối văn “Tao, Tuyển, Đường, Tống” chung vào một lò mà đúc ra, trong gồm đủ mỗi cách, từ câu 3 chữ 4 chữ cho đến đoạn văn dài đối chiếu nhau, không thiếu một cách điệu gì, mà nhập lại thành một tác phẩm trường giang đại hải, khiến cho các tay văn hào trông mà ngợp, không kể hạng thông thường. Áng văn ấy dầu đem liệt vào tác phẩm văn Tàu mấy ngàn năm, cũng dành được một vị trí xứng đáng. (Bản này phần đông đã biết, không đợi nói nhiều).

          Người mình học thi văn Tàu, ngoài văn cử nghiệp ra, chỉ học văn thù ứng đã được tiếng nổi rầm, chớ không mấy ai học thi văn cổ. Duy cụ Phan Thanh Giản, có khổ công học văn đó. Cụ không có thi thù ứng, thi luật cụ vẫn sàn sàn như các thi nhân ta khác, đến thi ngũ cổ thì dám liệt vào thi Tấn Ngụy 晉魏 mà không kém; xin dẫn 2 bài trong tập Bắc sứ thi loại   使 :

A.

   /kim niên hành tận sơn/

     /khứ niên hành tận hải/

    /bình sinh tại hành dịch/

     /văn kiến đa vị tái/

榜人     /bất cảm bàng nhân thuyết/

     /tự gia sở bất giải/

B.

  /triêu pháp thanh sơn khúc/

宿  /mộ đáo thanh sơn túc/

/nhân sinh bất xuất môn/

谿 /yên tri đa khê cốc/

/sở đắc phi sở tư/

/thanh khiếu chấn giang úc/

(nhiều bài như thế, xin dẫn 2 bài)

          Bài thứ nhứt câu (Bất cảm… bất giải) làm cái chân lý của nhà triết học cùng hoài nghi của nhà khoa học.

          Bài thứ hai 5 chữ  得 非  /sở đắc phi sở tư/ tả rõ cái cảnh huống của nhà du lịch hay khách phiêu lưu, những hoàn cảnh tiếp xúc ở ngoài dầu vui đẹp thế nào cũng không giải được cái mối hoài bão riêng của mình, 5 chữ hàm súc vô hạn, mà toàn bài có cái nhân sanh quan và vũ trụ quan.

Về chỗ chê

          Về những điều ông chê như văn không nhã thuần, thi sáo lại tầm thường mà tự phụ, cùng ký sự không đúng văn pháp, tôi vẫn tán đồng mà như cần kể thêm lối văn “Pas-chinois” đó nữa, tôi có thể trích ra vô số. (1)

                Đáng lẽ bài tôi đến đây là chấm dấu hết. Nhưng tiếc một điều là ông đã có công viết một bài đại luận khái luận văn học đời Hán học ta mà bỏ sót một điều rất quan trọng, cái điều quan trọng mà nhà phê bình văn học sử không thể thiếu được, ấy là nguồn gốc, chế độ và hoàn cảnh thời đại làm nền cho môn văn học ấy, mà toàn bài trước sau không thấy ông nói đến, rõ là một điều khuyết điểm lớn.

          Điều khuyết điểm đó mà phải như trong bài kia, ông chỉ luận độc chiếc cái học “Pas-chinois” ở về đời Hán học của nước ta, thì tôi không phiền phải dài dòng. Song vì đoạn sau, ông có nói đến chuyện người mình học văn Tây mà ôm mối lo “Pas-franҫaise” sau nầy, tức là ông đã động chạm đến cái phần thời đại. Tôi dám nói quyết rằng trong khi dưới ngòi bút ông chỉ trích cái “Pas-chinois” về thời Hán học mà liên tưởng bắc cầu sang cái “Pas-franҫaise” về thời Tây học, trong cái não ông vẫn vạch ra cái giới hạn hai thời đại và hai hoàn cảnh khác nhau rất rõ ràng. Mà không rõ ông vô tình hay hữu ý, tuyệt nhiên không nói đến chỗ khác nhau đó, nên bài luận ông, người ta có thể cho là thiếu phần con mắt “đọc sách xem đời” 讀 書論世 /độc thư luận thế/, “so bề ngọn mà không so bề gốc”  不 揣 其 本 而 齊 其 末 /bất sủy kỳ bản nhi tề kỳ mạt/

          Chỗ thiếu đó có thể di hại trong làng Tây học – và cả Quốc văn học – sau nầy. Khiến cho bọn mới đọc vần ABC cùng một quyển mẹo văn Tây và ít bài tiểu thuyết, ngụ ngôn trên các báo, đã sanh lòng tự túc và tự thủ, cùng nhau phô rằng: Ông bà ta trước học Hán văn trên mấy trăm đời mà còn là “Pas-chinois” thì chúng ta mới học Tây mới học Quốc văn trên vài ba mươi năm nay, có “Pas-franҫaise” hay “Pas-annamite” đâu phải là điều đáng trách. Nếu như văn học giới ta hiện thời và sau nầy mà có cái lối “tự kiến tự thư”, phòng hại trên đường phát triển, đều khuyết điểm của bài luận ông Phan Khôi, phải chịu một phần trách nhiệm, không nhiều thì ít.

          Vì thế nên buộc tôi kéo dài đoạn sau nầy. Tôi xin thú thực là không có ý gì binh cho cái lối “Pas-chinois” về đời Hán học trước, song chỉ rõ cái nguồn gốc, chế độ và hoàn cảnh thời đại Hán học trước với thời Tây học và Quốc văn học ở nước ta, hai đường khác nhau thế nào, gọi là bổ chỗ thiếu trong bài ông Phan Khôi cho người sau khỏi lầm.

1/ Văn pháp – Ngày nay được văn pháp chữ Tây truyền sang, có sách dạy luật phép làm văn, về cách dùng chữ đặt câu thay lên đổi xuống gì gì đều có quy tắc chỉ vạch rõ ràng, vỡ lòng đã học sách đó. Còn Hán văn ngày xưa, tuyệt nhiên không có sách dạy làm văn, chỉ tự tìm mò suy xét mà biết, cũng không bằng đâu làm chuẩn. Chính nhà nho Tàu danh tiếng như Châu Hy mà có chỗ dùng không đúng văn pháp, nói chi nhà nho ta. (2)

2/ Sách vở Ngày nay học chữ Tây, chữ Quốc ngữ, trẻ con ôm vở vào trường, đã có quyển sách chữ in rõ ràng, kẻ lớn muốn học sách gì mua được sách ấy. Đời Hán học xưa, quyển sách không phải vật dễ kiếm, chính sách Tứ truyện Ngũ kinh mà không mấy nhà nho đủ, nhà nghèo lại không trơn; người học chỉ mượn những quyển sách bìa rách chữ mòn mà sao tay (nực cười, tôi học đậu hương nguyên hội nguyên mà trong nhà, ngoài bộ Kinh Thi thể chú ra, không có một quyển sách gì! 21 tuổi vào học sanh mới mua được bộ Đường thi hợp tuyển và bộ Cổ văn thích nghĩa, còn thì chỉ học lóm!)

3/ Thày dạy – Ngày nay học Tây thì có ông thầy Tây ở bên cạnh, lại sang học tận bên Pháp, nhà trường thì bao nhiêu sách vở nghi khí, đồ bản, không thiếu cái gì. Đời Hán học, cái trường học trống trơn, không có một người thày Tàu nào sang dạy, mình cũng không có ai sang học tận bên Tàu.

4/ Trứ tác và soạn thuật – Ngày nay nhờ máy in hoạt bản, ấn hành đã dễ dàng, gia dĩ xe, tàu, bưu điện, đường giao thông tiện lợi, lại có báo chí nầy nọ, một cậu mới học viết văn, câu được câu mất, hụt đầu thiếu đuôi, cũng ấn hành phát bố truyền khắp nơi…; về sự trao đổi ý kiến, mở mang tri thức được xa rộng. Đời Hán học đâu có sự tiện lợi đó! Một danh sĩ tỉnh trong với một danh sĩ tỉnh ngoài, có khi trọn đời không gặp nhau. Cái hoàn cảnh “độc học cô lậu” đó, dầu kẻ thông minh háo học cũng không khỏi mậu ngộ. Đến làm sách như ông Lê Quý Đôn mà không có một bản sách nào ấn hành, còn ai có hứng thú soạn thuật mà mong ai đính chỗ mậu ngộ?

5/ Quy chế. – Ngày nay người nào viết một bài tiểu thuyết hay một bài luận, đăng trên các báo, được công chúng phê bình, dầu khen hay chê, cũng dẫn khởi văn hứng của tác giả. Đời Hán học, trừ văn cử nghiệp và thi thù ứng ra, gần như khắp cả trong nước không ai nói đến triết học, luận lý; đến văn ký sự, truyện, thuật, cũng không ai màng đến, nên học giới không ai học. Không cày, không gieo giống mà trách sao không gặt lúa, có oan cho người xưa không?

          Chỉ cử mấy điều, chứng rõ cái nguồn gốc, chế độ và hoàn cảnh về thời đại Hán học, khác với thời đại Tây học và Quốc văn học ngày nay là thế nào! Cái học Hán văn ở thời tiền nhân ta, kể công phu khó nhọc và hoàn cảnh bất tiện lợi xấp trăm xấp mười thời Tây học và học Quốc văn ngày nay, mà trong làng học ấy còn xuất hiện được những cái áng văn như thứ văn Cao Bá Quát, Phan Thanh Giản, Đặng Trần Côn, đáng quý biết bao! (3)

Như làng thi văn Hán học mà người sau tuyển trạch có con mắt tinh một chút, chọn để một ít bài có giá trị thì không đến đỗi lòi cái dở dốt ra nhiều. Khổ vì nhiều tập thi văn, giống gì cũng dồn lại mà in ra cả tập, thành thấy những cỏ mà không thấy lúa. (Tôi thấy chỉ có tập thi văn ông Kỳ Xuyên Nguyễn Thông là khá hơn hết, không có bài nhảm. Cái không biết chọn cũng là bệnh to trong làng văn).

Vậy cái bệnh “Pas-chinois” ở đời Hán học còn có chỗ đáng thứ. Đến học Pháp văn và học Quốc văn ngày nay, hoàn cảnh dễ dàng, trăm điều đầy đủ, mà còn mang cái bệnh “Pas-franҫais”, “Pas-annamite”, đáng hổ thẹn biết chừng nào!

Cái bệnh “Pas-chinois”, như truy nguyên gốc bệnh, chỉ vì cái dịch “khen chê quá đáng” truyền nhiễm mà lan rộng ra; nay Hán học đã thành vật cổ rồi, mà hiện ngày nay trong văn học mới ta, con ma dịch di truyền và truyền nhiễm đó còn hoành hành, tôi cũng ôm mối lo như ông Phan Khôi về cái bệnh “Pas-franҫais”, − cả “Pas-annamite”, − sau nầy, mà buộc phải so sánh như trên, để bổ chỗ thiếu trong bài khái luận của ông. Xin mượn câu ông Viên Liễu Phàm làm kết luận: “Bao nhiêu cái ngày trước là cái đã chết hôm qua; bao nhiêu cái sau nầy là cái sống ngày mai”.

Rất trông văn học giới ta sau nầy không diễn lại cái tuồng như người đời Hán học trước; mà muốn được thế, trước nhứt là trừ tiệt con ma dịch “khen chê quá đáng”. (4*)

HUỲNH THÚC KHÁNG

Nguồn:

Tiếng dân, Huế, s. 1334 (30 Mars 1939), tr. 1; s. 1335 (1er  Avril 1939), tr. 1;  s. 1336 (4 Avril 1939), tr. 1.

Chú thích

(1) (nguyên chú của Huỳnh Thúc Kháng) Tôi có thấy bản sách nọ, của ông khoa giáp nào đó chép một câu: 西  /hữu Tây Dương thuyền bạc vu Đà Nẵng tấn khán Ngũ Hành sơn/ tôi bắt cười mất một giờ đồng hồ rồi không xem nữa nên quên tên sách.

(2)  (nguyên chú của Huỳnh Thúc Kháng) “Luận ngữ” bài  /kỳ vi nhân dã hiếu đễ/ sau rút lại    /hiếu đễ dã giả, kì vi nhân chi bản dư?/ theo văn pháp thì câu tiền đề với câu đoán án chiếu ứng nhau. Chữ sau không thể đem chữ  仁  giữa không rơi cái độp vào đấy được, mà Châu chu cứ giải nghĩa chữ  仁.  

Câu    /quân tử bất khả tiểu tri nhi khả đại thụ/  Chữ «  quân tử » làm chủ động, cái «  , khả, bất khả » đó còn thuộc vào ai nữa, mà Châu chu giải :  ,  / tri ngã tri chi, thụ bỉ sở thụ/

(3) (nguyên chú của Huỳnh Thúc Kháng) Văn Cao Bá Quát trầm hùng, lăng lệ và hào phóng. Văn Đặng Trần Côn triền miên diệm lệ, dầu ở trong nó chỗ hoa mỹ thừa ra. Văn cụ Phan Thanh Giản bình đạm và hàm súc. Tôi cử ra cho đủ ba thể văn.

(4*) Các đoạn chữ Hán trong bài này là do bạn Phạm Văn Ánh thực hiện giúp; người biên soạn xin cảm ơn (LNA)


KHÁI LUẬN VỀ VĂN HỌC CHỮ HÁN Ở NƯỚC TA

 

 PHAN KHÔI

 

Nhớ lúc bấy giờ đâu là năm 1928, tôi ở Sài Gòn có viết mấy bài bằng chữ Hán, ký tên Khải Minh Tử, gửi cho Hoa kiều Nhật báo ở Chợ Lớn, được họ lần lượt đăng tải và có để lời khen tặng ở một cái mào đầu. Trong mấy bài ấy có một bài đầu đề giống như đầu đề trên đây, đại ý tôi khoe với người Tàu rằng văn học chữ Hán ở nước Việt Nam thuở xưa phát đạt lắm. Tôi lược cử ra những thi văn đời Lý, đời Trần cho đến đời Nguyễn gần đây. Cuối cùng, tôi cho họ biết rằng các nhà văn chữ Hán xứ này có một cái đặc sắc là hay tự tạo ra văn thể mới. Tức như Thu dạ lữ hoài ngâm  秋 夜  旅  懷  吟 làm bằng thể lục bát gián thất; lại hai bài ca trù: một bài đề là Bùi viên đối ẩm  裴  園  對  飲 của Nguyễn Văn Thắng; một bài đề gì và của ai không biết, mở đầu là Phong thanh nguyệt bạch, Tô Đông Pha xích bích chi du…  風 清 月 白 , 赤 壁 之 遊   Các văn thể ấy có phải là chính bên Tàu không hề có, mà nhờ tác giả Việt Nam chế tạo ra làm cho cái kho văn học chữ Hán thêm giàu?

Lại nhớ như bài ấy, tôi đã có lần dịch ra quốc ngữ đăng lên một tờ báo nào đó mà tôi quên. (1*)

Lần này tôi viết bài này ở đây, tuy đầu đề giống nhau mà lập ý thì khác.

Từng có người nói: Lòng ái quốc không thể cứ một mực, có khi bởi nó mà mình nói tốt cho nước mình, cũng có khi bởi nó mà mình lại nói xấu cho nước mình. Hai lần tôi viết đây, chính tôi cũng không tự biết có phải bởi lòng ái quốc hay không; tôi chỉ thấy rằng lần trước viết bằng chữ Hán, đăng báo Tàu, đối với người Tàu, tôi có ý tuyên truyền cho tổ quốc Việt Nam; lần này viết bằng chữ ta, đăng báo ta, tôi muốn chỉ cho đồng bào thấy cái chân tướng của văn học cổ xứ mình.

Như vậy chẳng là mâu thuẫn nhau? Tôi tưởng chả có gì đến nỗi. Một cái mề đay, hôm qua cho người ngoại quốc xem, tôi chỉ đưa bề mặt, hôm nay cho người bản quốc xem, tôi đưa luôn cả bề trái nữa, thế thôi.

Trước hết tôi muốn bạn đọc biết rằng, viết bài này, tôi rứt không có ý chê hay trách các bậc văn sĩ tiền bối xứ ta. Nếu có những chỗ chỉ trích ít nhiều khuyết điểm của họ là chính để thấy rằng nền văn học của một nước nếu không lập lên trên tiếng nói của nước ấy thì đừng có mong nó được vững bền và rực rỡ. Người nước Nam, nói thì nói tiếng nước mình, viết thì viết chữ nước khác, tay còn không theo được miệng thay, bảo sao lời cho đạt được ý? Chính vì đó mà văn học chữ Hán của ta đã không thành ra một văn học chân chánh xứng với danh từ nó như của Trung Hoa. Ấy là một cái lầm chung của cả một thời đại từ xưa, chứ chẳng phải cái dở, cái bất tài riêng của từng người một mà đáng để cho chúng ta ngày nay chê hay trách vậy.

Cái văn học cổ ấy hiện nay đã tiêu diệt đi, nhường chỗ cho văn học quốc ngữ, đó thật là một điều may mắn cho dân tộc chúng ta. Tuy vậy, đã có quan hệ với nhau một ngàn năm, trong cơn vĩnh biệt, chẳng nhiều thì ít, nó há lại chẳng có cái gì làm cho ta quyến luyến? Tôi muốn nói đương lúc văn học chữ Hán của người Việt Nam tàn tạ, đáng lẽ, trong nó, nếu có tác phẩm gì hay, cần phải dịch ra quốc ngữ để làm hòn đá tảng, không thì cũng một viên gạch, một tấm ngói cho cái lâu đài văn học mới sau này.

Nhưng than ôi! Theo tôi thấy thì hình như không có, và nếu có cũng ít lắm! Cả thảy chỉ một món lịch sử, bòn đãi lắm may ra còn hữu dụng; kỳ dư, những thi, những văn, những tiểu thuyết, cái đáng gọi là văn học thực mặt, thì lại vắng vẻ làm sao! Thử hỏi từ thời Lý đến nay có một cuốn sách nào về hạng ấy có thể đại biểu cho một thời đại hay cho một cá nhân mà bây giờ chúng ta cần phải dịch ra mới được? Thật không có! Người Pháp sang đây, muốn biết văn chương tiếng An Nam thế nào thì họ đã dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra, vì nó xứng đáng đại biểu cho tiếng An Nam; còn chúng ta, chúng ta muốn biết văn chương chữ Hán của tổ tiên mình trong khoảng một ngàn năm vừa qua thì lại không tìm được một cuốn sách nào mà dịch hết! Đó chẳng phải một cái chứng cứ hiển nhiên, đủ thấy văn học chữ Hán của ta hồi trước còn ở dưới mực thủy bình?

Nhưng không có thể chê trách những người học và viết chữ Hán trong một ngàn năm ấy được. Là vì chữ Hán không đủ dịch hết tiếng nói An Nam, không đủ ghi hết sự vật trong xã hội An Nam; ý tưởng của người An Nam không ngẫm nghĩ và phô bày bằng nó, thì làm sao hai đằng thân thiết với nhau cho được? Học sách vở của thánh hiền ngoại quốc, rồi nghĩ và viết ra cũng theo tư tưởng của thánh hiền ngoại quốc; những kẻ ấy khi họ hạ bút, họ có thể quên cả sự vật chung quanh mình và quên luôn cả mình nữa; những tác phẩm của họ không đại biểu cho thời đại được mà cũng không đại biểu được cho cá nhân, là lẽ tất nhiên. Cái công dụng của văn học là ở sự biểu hiệu và phê bình; mà, cho được biểu hiệu và phê bình, người mình lại dùng một thứ chữ không quen, không sành, hóa ra mất cả hai cái công dụng ấy.

Chữ Hán ở bên Tàu lập nên nền văn học thế nào, còn ở bên ta thế nào, chỗ đó, phần nhiều người mình còn chưa thấy đến nơi.

Ở bên Tàu tuy cũng có văn chương khoa cử, tức những bài làm để đi thi, lại cũng có văn chương thù ứng, tức như ở ta câu đối bức trướng; nhưng thứ văn chương ấy, họ không kể cho vào văn học. Văn học của họ đại khái chia làm hai hạng: một về nghĩa lý, là những tác phẩm có quan hệ với kinh sử học thuyết; một về từ chương, là những tác phẩm thuần có tính chất mỹ văn. Ở đây, những người xưng là đại nho, như Chu Hy, Vương Thủ Nhân, phải có những trứ thuật về hạng trên; những người xưng là văn hào, như Hàn Dũ, Tô Thức, phải có những trứ thuật về hạng dưới.

Nước ta, về hạng trên, phải kể như là không có. Vì dù có mà nó thấp thỏi, vụn vặt, không ra gì, thì cũng không kể được với ai. Cuốn Nho giáo  của Trần Trọng Kim mới xuất bản gần đây, cho đi rằng nó không hoàn toàn nữa, thử hỏi một ngàn năm nay đã có người An Nam nào làm được cuốn sách bằng Hán văn nào như nó? Minh đạo 明 道 mười bốn thiên của Hồ Quý Ly, dám nghi bốn điều trong Luận ngữ và công kích Tống nho, có lẽ còn đỡ đỡ, nhưng tiếc thay lại không truyền! Ngoài ra, những sách như Quần thư khảo biện  群 書 考 辩  của Lê Quý Đôn cùng những bài biện thuyết ngăn ngắn về sách xưa như trong tập Vĩ giã  葦 野 thì chưa hề phát minh được nghĩa gì to tát, chỉ đáng coi là một mớ tháp ký của học sinh, chẳng có giá trị là bao. Hồi nhà Trần có Chu An, trước đây bờ một trăm rưỡi năm ở Gia Định có Võ Trường Toản, đều là bậc đại sư nho, nổi tiếng như cồn, mà rủi cho dân tộc này làm sao, các ngài lại chẳng để lại một chữ gọi là có!

Về hạng dưới, từ chương, để rồi dưới đây tôi sẽ nói đến. Ở đây tôi muốn cho bạn đọc biết ngay thử trong một ngàn năm ấy người mình học chữ Hán đã có sở đắc những gì.

Hầu hết người đi học ở nước ta chỉ biết có một lối văn khoa cử. Xưa nay những người nổi tiếng học giỏi và hay chữ đều chỉ bởi nhớ nhiều điển cố để làm bài và làm bài hay. Cho đến các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng gần đây cũng đều thế cả.

Tôi còn nhớ trong sách dã sử có một nơi chép truyện ông Bảng nhãn gì đó ở làng Mộ Trạch, lúc chưa đỗ, đã lừng tiếng một thời. Một hôm có vị danh sĩ gặp ông, muốn thử tài, ra cho một bài phú, đề là Kỳ lân du uyển hựu     遊 苑 囿. Tức thì ông cất bút thảo ngay bốn câu mở: Qui phi xuất lạc, long bất trình hà, y bỉ hữu hùng chi quốc, đô vu trác lộc chi a  龜 非 出 洛 , 龍 不 呈  河 , 意 彼 有 熊 之 國 , 都 于  涿 鹿   (1). Vị danh sĩ kia thấy viết đến đó đã kinh hoàng sửng sốt, bái phục là thiên tài rồi, không để làm hết bài nữa! Xem ý người chép sử như cho cái việc ông Bảng nhãn làm đó là một kỳ công trong học giới và bốn câu phú đó là một kiệt tác trên văn đàn, không thể không trịnh trọng chép vào sách của mình để truyền cho hậu thế!

Đến các ông trạng, như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, ông nào cũng sính câu đối, đã làm cho một nhà viết văn khảo cứu, ông Trần Thanh Mại, có lần phải gắt lên trong một bài ở báo Phụ nữ thời đàm. Rồi đến Nguyễn Thị Điểm, một nữ tài tử nổi danh thuở Hậu Lê, cũng tại câu đối mà thôi: Bạch xà đương đạo, Quí bạt kiếm nhi trảm chi; Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết  白 蛇 當 道 , 季 坺 劍 而 斬 之 , 黃 龍 負 舟 , 禹 仰 天  而  嘆 曰 cùng với Đối kính họa my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm; Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân           ,   翻  成     ,    玩   , 隻       雙   (2), thế là đã rất mực tài tình, làm cho tác giả Nam hải dị nhân liệt truyện tỏ ý phục lăn ra!

Giữa cuộc bang giao hai nước, muốn khoe tài văn học của nhau, người ta cũng đã sính chữ Hán một cách oái oăm đáo để. Đây là hai truyện có chép trong Tiền biên liệt truyện  前 編 列 傳

Dưới triều chúa Nguyễn Hy tôn, (2*) chúa Trịnh lấy danh nghĩa vua Lê, sai sứ mang tờ sắc vào phong cho chúa Nguyễn chức Thái phó quốc công. Bấy giờ Chúa Nguyễn có vị mưu thần Đào Duy Từ khuyên hãy tạm nhận rồi sau sẽ trả. Đến khi trả sắc, Duy Từ vẽ làm một cái mâm đồng hai đáy, bỏ tờ sắc vào trong, kèm một mảnh giấy có viết mười sáu chữ, luôn với lễ vật, sai sứ đêm ra bắc dâng Chúa Trịnh. Sau, cái mâm đồng khui ra, thấy mười sáu chữ ấy là: Mâu nhi vô dịch, mịch phi kiến tích, ái lạc tâm trường, lực lai tương địch  而 無 腋 , 覓 非 見 跡 , 愛 落 心 腸 , 力 来 相 敵  Chúa Trịnh cùng cả đình thần đều chẳng hiểu nghĩa chi. Chỉ một mình Thiếu úy Phùng Khắc Khoan biết được mà thôi, ông ấy giải ra thành bốn chữ Dư bất thụ sắc   予 不  受  敕, nghĩa là ta chẳng nhận lời sắc. (3)

Lần khác, dưới triều Chúa Nguyễn Thái tôn, (3*)  người Trịnh muốn thử nhân vật Nam triều, bèn đưa vào tặng một cái trống lớn với một phiến gỗ vuông dài chừng một thước, trên mặt gỗ viết ba chữ Hồ bất thực, 狐 不  食 thếp vàng. Chúa Nguyễn hỏi khắp mặt triều thần, không ai biết gì cả. Sau hỏi đến Võ Đình Phương là tay bác học thời ấy, Đình Phương thưa rằng: “Ba chữ ấy chỉ là người Bắc nói lái để thử ta có biết không mà thôi. Hồ bất thực  狐 不  食 nghĩa là cáo chẳng ăn. Mà cáo chẳng ăn thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo. Vậy phiến gỗ này nó là bằng cây gạo”. Nghĩa lý mắc mỏ chỉ có thế; còn cái trống thì khi đem đánh, nó cũng chẳng khác gì cái trống thường.

Từ đoạn dẫn dã sử đến đây, tôi muốn trưng ra mấy cái chứng cứ để thấy rằng cái sở đắc của mình học chữ Hán chỉ có thế. Chỉ có một cái tiểu xảo trong văn học, tiếng Pháp gọi là “Jeu de mots” (4*)  là người mình hơi có khiếu sở trường. Thì đó, bốn câu phú của ông Bảng nhãn, hai câu đối của Nguyễn Thị Điểm, mười sáu chữ nọ với ba chữ kia làm cho Phùng Khắc Khoan và Võ Đình Phương có dịp trổ tài, hết thảy đều là một cách “Jeu de mots” chứ có gì lạ!

Ở nước ta, kẻ học khi chưa đỗ thì chăm về văn khoa cử, khi đỗ rồi thì chăm về văn thù ứng. Hay chữ có tiếng nhất nước như ông Vũ Phạm Hàm cũng chỉ nhờ bài phú Điệu cao sơn đại xuyên trong khoa đậu hội, như ông Phan Bội Châu cũng chỉ nhờ bảy bài kinh nghĩa kiêm trị trong khoa đậu giải nguyên. Ông Vũ Phạm Khải được đức Dực Tôn ban khen là thế, tưởng có cái đặc sắc thế nào, ngờ đâu đọc văn tập của ông làm cho mình thất vọng: Nhan nhản, hết bài tự tặng người này, đến bài khải dâng người khác, té ra trời phó cho ông ấy cái văn tài lỗi lạc là chỉ đi thù phụng thiên hạ mà thôi!

Vậy nếu tôi nói một ngàn năm nay người An Nam làm văn chữ Hán chỉ chuyên có hai lối khoa cử và thù ứng, và trong văn học, họ chỉ sở trường một cách “Jeu de mots” mà thôi thì cũng chẳng quá nào!

Nói về thi, văn, tiểu thuyết, không kể phần dở, dù phần hay là phần rất ít đi nữa là của người mình cũng không sánh kịp của người Tàu. Bởi chúng ta cứ rập theo khuôn sáo họ, hứng lấy cặn bã họ, người An Nam mà văn chương chẳng có một chút gì là đặc tính của An Nam, thành thử chúng ta, dù đến trên loài mỹ văn ấy, cũng không lập nổi một nền văn học riêng cho mình.

Một vài ông vua nước Nam đã làm cho thần dân của các ngài tưởng lầm rằng văn học nước mình cũng ngang hàng với Trung Quốc. Sự thác giác ấy làm hại cho quốc dân từ lâu nay, cái hại chẳng phải nhỏ.

Vua Lê Thánh Tôn một đêm ngự bóng mát chốn nội đình, trông lên trời thấy vầng trăng đương sáng tỏ bỗng bị che khuất bởi đám mây bay ngang, đám mây bay khỏi rồi, vầng trăng lại sáng tỏ như trước, cảm xúc làm nên hai câu: 素  浩 浩 玉  盤 ,   “Tố thiềm hạo hạo ngọc bàn thanh, vân lộng hàn quang ám phục minh” .(4) Thế mà ngài dám tự phụ rằng không ai làm được, cho đến Đỗ Phủ cũng không, chỉ một mình ngài làm được mà thôi. Ngài lại còn đem hai câu ấy so sánh với bốn câu giữa trong bài 錦  瑟  “Cẩm sắt” (5)  của Lý Nghĩa Sơn mà nói rằng bốn câu ấy của Lý, về phần mầu lạ xinh xắn thì bằng hai câu của ngài, nhưng về phần sáng suốt trong trẻo thì hãy còn kém. Lần khác, Thánh Tôn phê bình hai câu của Thân Nhân Trung, quan đại học sĩ tại triều mình: 琼  島  夢  殘  春  萬  頃 , 寒  江  詩  落 夜 三 更 Quỳnh đảo mộng tàn xuân vạn khoảnh, hàn giang thi lạc dạ tam canh”, (6) cũng hợm hĩnh rằng dù cho Lý Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Thức cũng vị tất đã nghĩ được ra. (Mẩu truyện này có chép trong sách Việt sử thực lục cuốn 13, tôi nhớ mà thuật ra đây chứ không dịch đúng nguyên văn).

Gần nay người ta còn truyền tụng hai câu thơ phê bình thi văn bản triều: 文 如 超 适 無 前 漢 , 詩 到  從  緌 失 盛 唐  “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán, thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” (7) mà nói là của vua Thiệu Trị hay của vua Tự Đức. Của vua nào cũng thế, cái công hiệu thổi phỉnh lòng tự khoa của người nước cũng chẳng kém mẩu chuyện vừa kể của Lê Thánh Tôn.

Dưới triều vua này, vũ công với văn trị đều cực thịnh. Bao lần đánh Chiêm Thành, Bồn Man, Lão Khoa, đánh đâu thắng đó, làm cho vua Tàu cũng phải nể. Sử chép ngày 27 tháng 8 năm Hồng Đức 11, sau khi đại phá Lão Khoa, vua nhà Minh có đưa sang một tờ sắc, nói: “Vừa rồi tỉnh thần Vân Nam có tâu về, nói An Nam quốc vương đã vô cớ cử binh công phạt xứ Lão Khoa, hiện chưa lui binh, còn muốn sang xâm lược xứ Bát Bách Tức Phụ nữa. Vì vậy sắc sang hỏi vua: nếu có, phải lui binh ngay; còn không thì phúc tấu lại, để triều đình xét và bắt tội kẻ man báo”. Liền ngày ấy vua Thánh Tôn họp triều thần lại thảo lời phúc tấu, đại ý nói: “Có 13 tên dân bản quốc trốn sang bên Lão Khoa; nhân đó sai người đến tại biên giới đòi về, thì đã đem xe chở chúng về rồi; chứ còn những việc đánh Lão Khoa và Bát Bách Tức Phụ vốn không biết tới”. Bản phúc tấu ấy đưa sang, vua nhà Minh vẫn làm thinh, coi như là sự thực. Nhưng sự thực của sự thực là: trước đó một năm, tháng 8 năm Hồng Đức thứ 10, vua Thánh Tôn quả có sai các tướng đem mười tám vạn binh, chia làm năm đạo đi đánh Lão Khoa, vào tận đô thành nước ấy, đuổi vua, bắt nhân dân của họ, rồi còn đánh dốc đến ranh sông Trường Sa, nơi Lão Khoa giáp với Diến Điện, khi được văn thơ người Diến kháng nghị mới chịu rút quân về.

Ấy, vua Thánh Tôn ngài đã quen mui, tưởng việc văn cũng như việc võ: về việc đánh Lão Khoa, có nói làm không mà vua Minh cũng nghe được, thì về việc thi văn, dở nói làm hay, người Tàu còn có ai dám cãi lại ngài? Nhưng “văn chương là việc ngàn xưa”, dở hay còn có đó, không ai nói theo ý riêng mình được.

Thực ra thì câu thơ của vua không đến nỗi dở chứ nó khí tầm thường quá. Nội bảy chữ đầu đã trùng điệp với nhau rồi: “tố thiềm hạo hạo” có khác gì với “ngọc bàn thanh”, chỉ có một nghĩa là vầng trăng sáng. Thế mà câu dưới còn tiếp hai chữ “hàn quang” nữa, cũng lại sáng trăng! Về ý thì rất xoàng, có gì lắm mà bảo không thi nhân nào làm nổi? Đến đem mà sánh với bốn câu của Lý Nghĩa Sơn thì thật là quá phận. Bốn câu này hay mà có vẻ thần bí, đến nỗi từ đời Tống đến nay có bao nhiêu nhà chú thích đã giải nghĩa không giống nhau. Còn câu của vua rất dễ dàng, hễ ai biết chữ là hiểu được. Nó vốn không đồng một tánh chất, đem mà sánh nhau, khác nào đem cái đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm sánh với Kim tự tháp bên Ai Cập!

Sau nữa, câu của Thân Nhân Trung, nếu cho vế trên là được thì vế dưới thật không xứng. Nhất là hai chữ “thi lạc” e đến không có nghĩa. “Thi” làm sao lại “lạc” được? Chỉ hai chữ không có nghĩa đủ làm hỏng cả câu. Thế thì hẵng làm cho có nghĩa đã rồi hãy nói chuyện bầy vai với Lý, Đỗ, Âu, Tô!

Văn học chữ Hán đến triều Nguyễn, đáng gọi là thịnh hơn các triều trước; nhưng nếu bảo vượt quá cả Hán, Đường thì lố quá. Nguyễn Văn Siêu còn có Phương Đình văn tập truyền lại, thức giả còn có thể đem đọ với văn Tiền Hán thử ra sao. Tùng Thiện Vương có tập thi Thương Sơn, Tuy Lý Vương có tập thi Vĩ Giã, muốn biết giá trị nó đối với Thịnh Đường thế nào, đọc qua thì biết. Tôi thì tôi tin quyết rằng Hán Đường là kẻ sáng tạo, Siêu, Quát, Tùng, Tuy là kẻ học đòi; không bao giờ kẻ học đòi lại vượt qua kẻ sáng tạo cho được. Nói cho công bằng ra thì trong ngần ấy tác giả, duy có Cao Bá Quát, là cả thi lẫn văn đều đáng sắp ngang hàng với đệ nhất lưu tác giả ở Trung Quốc mà không hổ mà thôi. Rủi cho ông, vì mang tội “đại nghịch” nên tập không được in, tên họ bị vùi dập đi hơn nửa thế kỷ đến gần nay mới có người nhắc đến!

Những lời tự khoa thái quá ấy cần phải cải chánh. Sau khi cải chánh chúng ta mới có thể tìm thấy cái mực thực của văn chương chữ Hán nước mình.

Đại để trong các món, duy món thi, người mình còn có thể làm được. Vì thi có khi dùng một số chữ rất ít, chỉ mười mấy hay vài mươi chữ cũng thành một bài, không cần phải có cái lực lượng hùng vĩ mới làm nổi; lại trong thi, về mặt văn pháp cũng rộng rãi, không nhặt nhiệm lắm như tản văn. Hai điều kiện khoan dung đó thích hợp với cái tài vận dụng chữ Hán của người An Nam, cho nên về văn chương chữ Hán, người An Nam đã làm món thi nhiều hơn các món khác, và về món thi cũng có sở trường hơn các món khác.

Trừ ra thơ của một hạng thi nhân gọi là “thợ thơ” thì trong làng thơ chữ Hán của ta không phải không có thơ hay. Nhất là vào hồi Lý Trần, bấy giờ kẻ học chưa nhiễm phải cái độc khoa cử nên trong ngâm vịnh thường có nhiều tánh tình và phong thú. Bạn đọc hãy tìm chứng cứ trong pho Hoàng Việt thi tuyển. Tiếc thay hạng thơ ấy, chúng ta chỉ có thể thưởng thức ở các tác phẩm rải rác mà không thể chỉ hẳn ra  được một tác giả nào.

Mãi đến gần đây mới được một Cao Bá Quát. Ông này, theo thời luận thì nổi tiếng về văn, nhưng văn của ông ít truyền lắm, ngày nay chỉ còn bộ Cao Chu Thần thi thảo chép tay, ấy là thơ của ông, chừng được ba bốn trăm bài. Ba bốn trăm bài ấy giá ở bên Tàu thì nó đã được in ra, làm cho tác giả nhảy lên đứng ngang hàng với Đỗ Thiếu Lăng, Tô Đông Pha chẳng hạn, nhưng ở nước ta phải đành mai một!

Đọc Cao Chu Thần thi thảo, thấy cái thân thế, cái phẩm cách, cái tư tưởng của tác giả nó mà khiến mình trạnh lòng tương cảm ở sau sáu, bảy mươi năm. Con người ấy mà ở vào thời đại ấy trong đất nước này, nếu chẳng phải thi đỗ làm quan cho tột bực đi thì còn làm gì nữa mà không làm giặc!

Ngoài ra, cũng có những thi tập của những người khác đã được ấn hành, nhưng lại không vì cớ ấn hành mà không mai một! Hạng thơ ấy nói vượt qua Thịnh Đường thì khí quá, dù cho giống hệt với Thịnh Đường đi nữa mà không có ngụ một chút tánh tình quan hệ mảy may với thời đại thì cũng bị đào thải bởi luật tự nhiên. Trái lại, một vài câu xuất sắc, khiến người ta cảm được, như “Học đắc trường sinh bí, bất cầu thiên hạ văn” (thơ hái thuốc), “Sơn nhân tự lai vãng sơn thâm nhân bất tri” (thơ đi đường núi) của Nguyễn Hương; “Cô phẫn khí thành thiên khả vấn, độc tinh nhân khứ quốc cơ không” (thơ vịnh Khuất Nguyên) của Phạm Lam Anh thì lại nhờ được người ta truyền tụng mà còn ghi trong sử sách. (8)

Văn, tản văn hay biền văn cũng vậy, như trên đã nói, khó hơn thi, cho nên người mình ít làm và làm cũng ít hay.

Phú của Mạc Đĩnh Chi thì sao cho bằng phú của Giả Nghị, của Tô Thức? Ký của Trương Hán Siêu thì sao cho bằng ký của Hàn Dũ, của Âu Dương Tu? Chính người An Nam lại ưa phóng tụng văn Tàu mà nhãng quên văn nước mình, chẳng phải là không có cớ. Hịch của Trần Quốc Tuấn, đại cáo của Nguyễn Trãi mà được chúng ta coi làm báu, chẳng qua nhờ trong đó nhuộm đậm màu quốc gia đấy thôi, chứ cứ kể văn chương còn chưa thấm vào đâu.

Tiểu thuyết, không có trường thiên, chỉ có đoản thiên mà cũng không được đúng với tên ấy lắm, tức như Truyền kỳ mạn lục  và Vân nang tiểu sử  (9) v.v… Những tác phẩm ấy, thứ thì tuyệt bản rồi, thứ thi còn chép tay, nhưng, giả sử từ trước người ta đã in ra cho thật nhiều là cũng không bán tranh nổi với Liêu trai chí dị hay Tử bất ngữ  của Tàu.

Kể ra thì hết thảy văn chương các món, đằng lượng cũng như đằng phẩm, ta đều còn kém Tàu xa. Cái kém ấy đáng lắm, không ai tránh được. Chỉ trách sao còn có người không chịu là kém mà lại kiếm lời tưng bốc nhau, nói trái với sự thực, đã gieo một sự mậu ngộ lớn vào trong óc mọi người luôn với sự kiêu căng nữa.

Bài này vì đầu đề là khái luận, cho nên về các tác phẩm và tác giả không thể nói tường tận hơn, tôi cũng lấy làm đáng tiếc, nhưng tôi phải ngừng bút ở đây để bắt đầu kết luận đi.

Lúc hai mươi tuổi, tôi được đọc cuốn Việt Nam vong quốc sử  ở Nhật Bản gởi về; ngoài cái cảm tưởng mới lạ nẩy ra cho tôi lúc bấy giờ, tôi còn nhờ đó bắt đầu có một điều xét nhận về sự người An Nam viết chữ Hán.

Cuốn sách ấy, ông Lương Khải Siêu đứng tác giả, nhưng cả phần chính văn do cụ Phạn Bội Châu soạn, ông Lương chỉ viết mấy tờ đầu như cái tiểu dẫn. Trong phần như tiểu dẫn ấy, ông Lương có nói một cậu tợ hồ phân bua với độc giả người Tàu mà rằng, trong sách nếu có chỗ văn không được nhã thuần, ấy là vì muốn để y cho còn cái chơn tích của tác giả, cụ Phan, nên không hề sửa chữa một chữ nào.

Đọc câu phân bua đó tôi phải ngẩn người ra, tôi phải đánh dấu trong đầu một sự chú ý rất lớn: à, té ra học giỏi như Phan Bội Châu của An Nam, văn hay như Phan Bội Châu của An Nam mà viết ra người Tàu còn bảo là có chỗ không được nhã thuần!

Nhã là nhã nhặn, đối với tục; thuần 馴  là như con thú rừng đem về tập luyện đã lành đi (dompté). Viết văn mà không được nhã thuần, nghĩa là còn pha giọng tục, còn như con voi lung lăng chưa chịu vố, bành; con ngựa hay cất hay đá, chưa chịu cương, khớp.

Người ngoại quốc viết tiếng Pháp, có nhiều câu không sai mẹo, không tối ý, người Pháp xem vẫn hiểu nhưng không cho là được, gọi là pasfrançais. Thì khi người ngoại quốc viết văn Tàu mà bị phê là không được nhã thuần, cũng có nghĩa như thế, nghĩa là paschinois vậy.

Sau khi tôi thấy ông Lương Khải Siêu phê văn cụ Sào Nam rằng còn có chỗ paschinois, tôi bèn để ý xem lại văn của những người An Nam khác viết thì quả nhiên thấy ra có nhiều chỗ paschinois lắm.

Lấy ví dụ gần đây cho bạn đọc có thể kiểm soát được, thì không đâu bằng lấy ở phần chữ Hán của tạp chí Nam phong. Trong đó nhan nhản những chữ người ta đã dùng chẳng ra Tàu chút nào cả. Nhất là chữ nhưng đem dùng như chữ nhiên  , chữ sí  啻  đem dùng như chữ thí  譬  thì đến ông Lương Khải Siêu cũng không hiểu nếu hồi còn sống ông có đọc!

Nhưng cái thời đại báo Nam phong là thời đại chữ Hán ở nước ta đã tàn tạ rồi, không đáng trách lắm; tôi xin trình bạn đọc một bộ sách do Sử quán làm ra hồi Tự Đức mà trong đó còn có nhiều câu đầy những lỗi về văn pháp, không thể dung thứ được.

Ấy là bộ Đại Nam chánh biên liệt truyện sơ tập, biên tập xong năm Tự Đức thứ năm, do hai ông Trương Đăng Quế và Võ Xuân Cẩn làm tổng tài, còn các quan toản tu toàn là người khoa giáp. Đây, tôi trích ra một vài cái lỗi của sách ấy:

Cuốn 23, truyện Lê Văn Duyệt, tờ 31, chỗ nói chuyện ông Duyệt để năm chục quan tiền giữa nhà, thình lình mất đi, đi tìm thì thấy “có người lót tiền mà ngồi trên nóc nhà” v.v… mà biên rằng 有 屋 上 者 載  錢  踞  坐 hữu ốc thượng giả tại tiền cứ tọa  thì thật là không có nghĩa. Vì theo văn pháp, khi đặt ….   cách ấy thì giữa nó phải có verbe mới được, mà ở đây chẳng có verbe nào hết. Nếu chữa lại: 有 載 錢 踞  坐 於 屋 上 者 hữu tại tiền cứ tọa ư ốc thượng giả  thì có nghĩa hơn.

Cuốn 30, truyện Nguyễn Văn Nhạc, tờ 15, chỗ nói Nhạc nghe Huệ chết, chính mình đem hơn ba trăm liêu thuộc cùng em gái ra thăm, đi đến địa đầu Quảng Ngãi thì “bị viên đồn trưởng của Huệ ngăn lại” mà biên là  爲 惠  屯  將 阻 之  “vi Huệ đồn tướng trở chi”  cũng lại không trôi nữa. Theo văn pháp, câu này muốn đặt lối actif  thì nói: 惠  屯  將 阻 之  “Huệ đồn tướng trở chi”; muốn đặt lối passif thì nói: 爲 惠  屯  將 “Vi Huệ đồn tướng sở trở”,  chứ không ai lại đặt câu bằng lối passif lại còn để chữ  chi  là chữ chỉ có thể dùng được trong câu actif mà thôi.

Cuốn 31, truyện Cao Man, tờ 8, chỗ nói ba người em khác mẹ của vua Cao Man chạy sang Xiêm, bầy tôi cũ trong nước “có nhiều kẻ lẻn theo họ” mà biên là: 多 有 潛 往 之 者 “đa hữu tiềm vãng chi giả” cũng không đúng mẹo. Theo văn pháp, vãng  là verbe intransitif, theo sau nó phải để chữ yên, không được để chữ chi. Thế thì nên chữa lại: 多 有 潛 往 焉  đa hữu tiền vãng yên giả ; nhưng như thế, đúng mẹo mà chưa đủ nghĩa, vậy phải chữa nữa là: 多 有 潛 往 從  “đa hữu tiềm vãng tòng chi giả”.

Thôi, không lẽ cứ thế này mà kéo dây ra mãi, chỉ trích ba chỗ cũng là đủ rồi. Nhân tiện, tôi nắm lấy lẽ này làm kết luận:

Hơn một ngàn năm học chữ Hán, vẫn có nhờ nó lập cho ta một nền văn hóa khả quan, nhưng nếu nói ta đã lập nên trên thứ chữ ấy một nền văn hóa xứng đáng thì tôi tưởng rằng chưa chắc. Bởi một thứ chữ mà ta viết hãy còn chưa được nhã thuần, chưa đúng văn pháp, thì làm sao cho thành văn học được?

Tội không tại người mà cũng không tại chữ. Tội tại người nước này mà lại dùng chữ nước kia!

Bởi vậy tôi nói nước ta từ ngày có văn học quốc ngữ là một hạnh phúc ở đâu đưa đến cho chúng ta! Ở người ta, nước mất thì sợ cho chữ cũng theo mà mất; còn mình, trong khi nước mất lại có quốc văn sản xuất và mỗi ngày một thịnh, ấy chẳng phải là điều may mắn lạ?

Nhân chữ Hán suy ra, tôi biết chữ Pháp rồi cũng thế. Cái trạng huống của văn học chữ Pháp ở nước ta mai sau ra thế nào, tôi có thể đoán biết từ hôm nay. Văn của ông Nguyễn Mạnh Tường hay của ông Phạm Duy Khiêm, mãi đến sau đây vài mươi năm rồi người ta sẽ tìm thấy nó pasfrançais cũng như văn cụ Sào Nam đã không được nhã thuần, của các quan Sử quán đời Tự Đức đã sai văn pháp! Thế thì sao người ta còn sính chữ Tây cũng như ngày xưa đã sính chữ Tàu?

Rút lại, một thứ chữ ngoại quốc nào cũng chỉ hành dụng bởi sự nhu cầu của thời đại mà thôi, còn muốn lập nên văn học thì ắt phải là văn tự bản quốc mới được. Vậy chúng ta nên đồng thanh kêu: Hỡi, người Việt Nam, trở về với quốc văn!

PHAN KHÔI

Nguồn:

Tao đàn, Hà Nội, s. 1 (1er Mars 1939), tr.13 -18;

  1. 2 (15 Mars 1939), tr. 107 -114.

Chú thích

(1*)  Chỗ này có thể Phan Khôi đã nhớ lầm; thật ra bài báo chữ Hán của ông nhan đề Chánh trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử đăng 2 kỳ trên tờ Quần Báo (báo chữ Hán ở Chợ Lớn, s. 140 ngày 11.1.1929 và s. 141, ngày 18.1.1929), sau đó lược dịch đăng lại trên tờ Thần Chung (chữ Việt, s. 11, ngày 18.1.1929). Xem : Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929, / Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn/ Đà Nẵng – Hà Nội, 2005: Nxb. Đà Nẵng & Tr.tâm VH-NN Đông Tây, tr. 16-20. Bản điện tử :  http://lainguyenan.free.fr/pk1929/index.html

(1) (nguyên chú của Phan Khôi): Nhân đề có chữ kỳ lân nên bài làm mỗi câu có tên một con vật để chọi quy, long, hùng (gấu), lộc (hươu); vì thế mà cho là hay, phục là tài.

(2) (nguyên chú của Phan Khôi): Xem sách Nam hải dị nhân liệt truyện về truyện ba người: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Điểm. Ở đó có giải rõ nghĩa các câu đối này.

(2*) Nguyễn Hy Tông tức là Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi chúa: 1558-1612)

(3) (nguyên chú của Phan Khôi): Xem Nam hải dị nhân liệt truyện về truyện Đào Duy Từ.

(3*) Nguyễn Thái Tông tức là Nguyễn Phúc Tần (ở ngôi chúa: 1648-1687)

(4*) Jeu de mots (chữ Pháp): chơi chữ.

(4) (nguyên chú của Phan Khôi): Nghĩa là: Mặt trăng sáng và trong, bị đám mây đùa bỡ làm cho tối lại sáng.

(5) (nguyên chú của Phan Khôi): Bốn câu giữa của bài Cẩm sắt : (Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp, Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên. Thượng hải nguyệt mình châu hữu luy, Lâm Điển nhật hoãn ngọc sinh yêu). Xin khỏi thích nghĩa, vì khó quá mà lại lôi thôi nữa.

(5 *) Nghĩa là người trong núi tự đi qua đi lại, vì núi sâu nên người ngoài chẳng ai biết. Thơ của Phạm Lam Anh (***), nghĩa là cái khí phẫn uất lồng lên, trời cũng có thể hỏi được; cái người một mình tỉnh đã đi rồi, trong nước trống trơn. Hai mẩu này đều thấy trong sách Đại Nam Triều Biên (?) liệt truyện.

(6) (nguyên chú của Phan Khôi): Chắc nghĩa thế nào mà thích được!

(7) (nguyên chú của Phan Khôi): Nghĩa rõ rồi, không cần thích!

(8) (nguyên chú của Phan Khôi): Thơ của Nguyễn Hương, nghĩa là: học được cái bí quyết sống lâu mà chẳng cầu cho thiên hạ biết mình.

(9) (nguyên chú của Phan Khôi): Truyền kỳ mạn lục  của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê; Vân nang tiểu sử    có in trong Nam Phong mấy số đầu.