Trang chủ » 2014 » Tháng Ba

Monthly Archives: Tháng Ba 2014

TÁN THUẬT VÀ BÀI CA CHÂU Á

Mới đây, khi lướt xem các báo cũ, tình cờ tôi được biết ngay năm 1938, tên tuổi Tán Thuật (Nguyễn Thiện Thuật) đã được khẳng định là tác giả bài “Á-Tế-Á ca” (bài ca châu Á), còn được gọi là bài “Hoán tỉnh quốc dân ca”.

 

Nơi xuất hiện tài liệu nói trên là tuần báo Cười ở Huế. Đây là tờ tuần báo văn chương trào phúng, do Lê Thanh Cảnh sáng lập. Ông Lê Thanh Cảnh khi đó đang làm chủ bút nhật báo Tràng An, ông xin xuất bản tuần báo Cười không phải như phụ trương của Tràng An mà như một tờ báo độc lập. Học giả Trần Thanh Mại được ông Cảnh mời làm chủ bút tuần báo Cười, ‒ tình tiết văn học sử (hay là báo chí sử) này, hầu như ít ai biết, cho nên trong các bản tiểu sử và tuyển tập của học giả Trần Thanh Mại, không hề thấy nói việc này.

 

Ở số 5 (ra ngày 22/4/1938) tuần báo Cười giành 2 trang giới thiệu xuất xứ và in toàn văn 200 câu bài “Á-Tế-Á ca”.

Tòa soạn báo Cười giới thiệu với độc giả:

 

“Chắc quốc dân ta còn nhớ, cụ Tán Thuật là một nhà đại cách mệnh ở nước ta trong khoảng người Pháp mới sang bảo hộ. Cụ theo đảng Cần vương lo việc khôi phục suốt mấy năm trời, chính người Pháp cũng phục tài dõng của cụ. Sau khi đảng Cần vương tan vỡ, cụ lặn lội qua Tàu, rồi sang Nhật, đầu quân giúp Nhật đánh Nga. Khi thắng trận cụ có dự vào tiệc hạ công, được vào bệ kiến hun chân Nhật hoàng.

Cụ ở Nhật, viết ra bài ca nầy gởi về cho quốc dân khuyên mau mau tỉnh cơn mê mộng lo việc tự cường.”

Tán Thuật tức Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926) quê làng Xuân Dục huyện Đường Hào tỉnh Hưng Yên, đậu Cử nhân khoa Bính Tý (1876), được cử làm Tri phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) rồi được bổ chức Tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương. Năm 1881 làm Chánh sứ sơn phòng tỉnh Hưng Hóa kiêm Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-83), Nguyễn Thiện Thuật kháng lệnh của nhà Nguyễn, tiếp tục tổ chức quân dân đánh Pháp. Ông liên kết với các thủ lĩnh quân sự khác, lập căn cứ chống Pháp ở Bãi Sậy (Hưng Yên), sau đó rút lên Hưng Hóa, Tuyên Quang, cùng Nguyễn Quang Bích tổ chức kháng chiến; Hưng Hóa thất thủ, ông rút lên Lạng Sơn phối hợp với Tuần phủ Lạng Bình Lã Xuân Oai tổ chức kháng cự. Khi thành Lạng thất thủ, 1885, ông trốn sang Tàu. Mấy chục năm sau, khi ông mất (1926) được an táng ở Quảng Tây, Trung Quốc.

Trong thời gian sống lưu vong, Nguyễn Thiện Thuật đã sang Nhật, đã sống ít lâu ở Nhật, ‒ đây là điều mà tòa soạn báo Cười của chủ bút Trần Thanh Mại cho biết. Đặc biệt, Nguyễn Thiện Thuật đã sung quân, làm một võ quan Nhật trong trận chiến Nga-Nhật (1904-1905). Khi chiến tranh kết thúc, ông có vinh dự của một người nước ngoài nhưng lại là một võ quan được dự tiệc khải hoàn, được vua Minh Trị ban rượu mừng thắng lợi. Đây là lời của tòa soạn báo Cười:  “Vua Minh Trị ban rượu thưởng rồi cụ ôm gối Thiên hoàng kể rõ tâm sự của mình”. “Ôm gối” là một nghi thức vinh dự trong trật tự đương thời ở Nhật.

 

Quá trình “giúp Nhật đánh Nga” này, chính trong bài ca Nguyễn Thiện Thuật đã kể rõ:

 

Thân phiêu bạt đã đành vô lại,

Bấy nhiêu niên Thượng Hải, Hoành Tân,

Chinh Nga trong lúc hoàn quân,

Tủi mình bôn bá theo chân khải hoàn.

Nâng chén rượu ơn ban hạ tiệp,

Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu.

Trời Nam mù mịt ngàn dâu,

Gió thu như thổi dạ sầu năm canh.

 

Có lẽ việc được “ôm gối” Thiên hoàng và giãi bày tâm sự vào năm kết thúc chiến tranh Nga Nhật (1905) đã kích thích Nguyễn Thiện Thuật đặt bút viết lại tâm sự mình gửi về đồng bào nơi cố quốc:

 

Biết bao nỗi bất bình khôn dãi,

Mượn bút hoa gởi lại quốc âm.

Thân già bao quản cát lầm,

Khuyên ai dốc chữ đồng tâm sau này

 

***

 

Được biết, trong nghiên cứu, ở miền Nam, học giả Nguyễn Hiến Lê trong sách khảo về “Đông Kinh Nghĩa Thục” (1956) đã sớm đặt vấn đề về tác giả của bài “Á-Tế-Á ca”: của một giáo sư trong nghĩa thục hay của Sào Nam, hay của Nguyễn Thiện Thuật, hoặc Tăng Bạt Hổ, hoặc Nguyễn Thượng Hiền? Ở miền Bắc, học giả Đặng Thai Mai đã đưa bài “Á-Tế-Á ca” vào phần văn tuyển của sách “Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX” (in lần đầu 1961), văn bản dựa vào bản chép tay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, về tác giả thì ghi chú: “tên tác giả bài này chưa biết là ai, có người nói là của Nguyễn Thiện Thuật, lại có người nói là của Tăng Bạt Hổ”. Cho đến gần đây, một số học giả lại đưa tác quyền bài ca này về cho Phan Bội Châu, tuy còn khá nhiều băn khoăn vì những điều vô lý trong các mạch suy diễn.

 

Nhưng tất cả những điều ấy đều là hậu quả của sự đứt gãy thông tin giữa các thời đại. Nếu là thông tin thì đó là những thông tin rất muộn so với thời điểm tuần báo Cười ở Huế công bố văn bản bài “Hoán tỉnh quốc dân ca”, cũng tức là “Á-Tế-Á ca” (= bài ca châu Á). Học giả Trần Thanh Mại thực hiện điều này vào năm 1938 ở Huế, không phải trong sự đơn độc để có thể tùy tiện. Rất gần ông khi đó có Phan Bội Châu ‒ ông già Bến Ngự đang ở ngay thành Huế, đã cộng tác với tuần báo Cười bằng thiên hồi ức rất giá trị (Đôi bạn giang hồ, đăng Cười s. 2., ngày 8/10/1937) về ông nghè Liên Bạt (Nguyễn Thượng Hiền). Rồi Huỳnh Thúc Kháng, khi đó là chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Dân, cộng tác với tuần báo Cười ngay từ số 1 (1/10/1937) với bài “Cái cười quá khứ”, dẫn các bài thơ gắn với nhiều kỷ niệm hoạt động thời trước.

Như vậy, tuần báo Cười ở Huế năm 1937-1938 đưa ra văn bản “Á-Tế-Á ca” và xác định đây là di bút của Tán Thuật, có thể nói, là sự thông tin của Phan Bội Châu, hoặc ít nhất, là thông tin lấy từ Phan Bội Châu.

Cho nên, quy tác quyền bài ca này về Phan Bội Châu, ‒ như một vài học giả làm gần đây, ‒ lại là một phán đoán sai lầm rất cần đính chính.

 

Và hiển nhiên, từ nay nên trả tác quyền bài “Á-Tế-Á ca” (Bài ca châu Á) về cho Nguyễn Thiện Thuật. Với bài ca này, có lẽ Tán Thuật là tác giả Việt Nam sớm nhất đã giành một nửa bài ca của mình, diễn ca về lịch sử nước Nhật từ quá khứ qua thời Minh Trị duy tân đi vào thế giới hiện đại, lấy đó làm tấm gương cho dân nước Việt noi theo.

20/8/2013

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

 

HOÁN TỈNH QUỐC DÂN CA

LTS. – Chắc quốc dân ta còn nhớ, cụ Tán Thuật là một nhà đại cách mệnh ở nước ta trong khoảng người Pháp mới sang bảo hộ. Cụ theo đảng Cần vương lo việc khôi phục suốt mấy năm trời, chính người Pháp cũng phục tài dõng của cụ. Sau khi đảng Cần vương tan vỡ, cụ lặn lội qua Tàu, rồi sang Nhật, đầu quân giúp Nhật đánh Nga. Khi thắng trận cụ có dự vào tiệc hạ công, được vào bệ kiến ôm chân Nhật hoàng.

Cụ ở Nhật, viết ra bài ca nầy gởi về cho quốc dân khuyên mau mau tỉnh cơn mê mộng lo việc tự cường. Bài nầy dù có nhiều câu khích liệt, nhưng trước sau vẫn khuyên người nước ta lấy nước Pháp làm thầy, không có ý phản kháng như trước nữa.

Nhân đó mà ta nghiệm thấy con đường tự cường tấn bộ của nước ta, ngoài việc cộng tác với nước Pháp để lo việc tự trị ra, tưởng không còn con đường gì khác. Cụ Tây Hồ tận tụy về nước hơn ba mươi năm, mà rút cục cụ cũng khuyên quốc dân “ỷ Pháp cầu tấn bộ”. Cụ Phan Sào Nam bôn tẩu quốc sự hơn hai mươi năm, mà sau cũng phải xướng cái thuyết “Pháp Việt đề huề”, nay xem cái đời cách mệnh của cụ Tán Thuật trung thành khích liệt biết chừng nào, mà trong bài đánh thức quốc dân nầy cũng đinh ninh đến câu:

“….Pháp là thầy / Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm”

Ấy đó, ba nhà cách mệnh tiên phong ở nước ta, sau khi xét rõ thời cuộc, hiểu thấu tiền đồ, đều phải nhận lấy nước Pháp làm thầy hướng đạo.

Bản báo kính lục bài nầy đăng lên mặt báo nhắc lại lời vàng ngọc của bậc tiền bối, để thức tỉnh đồng bào trong khi Đông Dương sắp tới thời kỳ nghiêm trọng vậy. Duy có một chỗ mà bản báo không biểu đồng tình với cụ là về phương diện thân Nhật!

CƯỜI

HOÁN TỈNH QUỐC DÂN CA

(Á-TẾ-Á CA)

Văn bản của báo “Cười” ở Huế, 1937-38,

chủ bút Trần Thanh Mại;

có đối chiếu với văn bản trong sách

“Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX” (1961)

do Đặng Thai Mai sưu tầm và tuyển chọn. 

 

Á-Tế-Á năm châu là bực nhất,                                 (1)

Người nhiều hơn mà đất cũng nhiều hơn.

Cuộc đời mở hội doanh hoàn,

Anh hùng bốn bể giang sơn một nhà.

Gẫm từ thuở Âu La tìm đất,                                     (5)

Vượt Chi Na qua Nhật đến Triều Tiên.

Xiêm La, Diến Điện gần liền,

Cao Man, Đại Việt thông miền Ai Lao.

Thịt một mảnh trăm dao xâu xé,

Chiếc kim âu chẳng mẻ cũng khôn lành.                  (10)

Tôi con Pháp, tớ thầy Anh,

Nín hơi đại Đức, nép mình cường Nga.

Gương Ấn Độ có xa đâu đó,

Chẳng máu đào nhưng cùng họ da vàng.

Mênh mông một dải Đông Dương,                         (15)

Nước non quanh quất trông càng thêm đau.

 

Cờ độc lập đứng đầu phất trước,

Nhật Bản kia vốn nước đồng văn.

Phương Đông nổi hiệu duy tân,

Nhật hoàng Minh Trị anh quân ai bì.                      (20)

Giống thần vũ riêng về một họ,

Vầng phù tang soi đỏ góc trời.

Kể đời trăm, hai mươi hai,

Năm, hai nghìn lẻ, năm mươi có thừa.

Sẵn cơ hội trời đưa lại đó,                                     (25)

Chốn Kinh thành Giang Hộ rời sang.

Dẹp Mạc phủ, bỏ Phiên bang,

Đổi giòng chính sóc, thay làng y quan.

Khắp trong nước lập đoàn kết hội,

Nha học đường đã ngoại ba muôn                       (30)

Việc kỹ nghệ, việc bán buôn,

Nơi lò đúc sắt, nơi khuôn nấu đồng.

Chè, tơ, lụa, gai, bông, nhung, vũ,

Với đồ sơn, vân mẫu, pha lê,

Gươm với tán, quạt với xe,                                   (35)

Đủ mùi hải lục, họp nghề nông thương.

Bốn mốt triệu cải lương nhân số,

Các sắc quân ước độ triệu người,

Chu vi mặt đất chạy dài,

Tính vuông pháp lý, bốn hai vạn thừa.                   (40)

Bốn mốt huyện năm xưa mới đổi,

Đầu Nại-Xuyên mà cuối Lộc-Nhì,

Đông Kinh ba phủ mười kỳ,

Trong thì Đại Bản, ngoài thì Kinh đô.

Sảnh Bắc Hải dư đồ quanh bể,                                 (45)

Huyện Xung Thằng chưa kể đất Lưu Cầu,

Gò Đối Mã bốn bề sâu,

Nghiêm nguyên đặt súng, Trúc phu đỗ tàu.

Nhà giây thép đâu đâu cũng đặt,

Thuyền thương luân khắp mặt đại dương.                 (50)

Kìa thiết lộ, nọ ngân hàng,

Đăng đài, báo quán, ngổn ngang phụ đầu.

Cuộc biến pháp năm đầu Minh Trị,

Ba mươi năm dân trí mở mang,

Chữ Hán tự, chữ Tây dương,                                     (55)

Mọi bài diễn thuyết, các trường chuyên môn.

Đất Đại Bản mở đồn đúc súng,

Xưởng Đông Kinh riêng cũng một tòa,

Trường Kỳ thuyền cục mở ra,

Dã Tân, Tu Hạ, ấy là hải quân.                                   (60)

Tàu với súng đã trăm phần chấn chỉnh,

Lại ngư lôi pháo đỉnh ai tày,

Quan quân luyện tập đêm ngày,

Mọi nghề so với Thái Tây kém gì.

Đội mã, bộ, lục sư các trấn,                                       (65)

Tự Ha-ri đến tận Tát-ma,

Tám đảo rộng, bốn gò xa,

Phú San cao ngất, Tỳ Bà trong veo.

Tướng, tá, úy, cũng theo Tây lệ,

Lại công binh, pháo vệ chỉnh tề.                               (70)

Đồng bào nghĩa khí gớm ghê,

Cái thù nô lệ quyết thề trả xong!

 

Năm Giáp Ngọ đùng đùng sóng gió,

Vượt quân sang thẳng trỏ Đài Loan,

Quân Lục ảo, tướng Đại San,                                   (75)

Ra tay cho biết cái gan anh hùng.

Đông tam tỉnh đã thu trong tay áo,

Bọn trắng da ngơ ngáo giật mình.

Cuộc hòa đâu khéo thình lình,

Chủ trương này bởi Nga đình vẽ khôn.                    (80)

Bụng cứu quốc ghê hồn Nhật Bản,

Giận xung quân khôn cản nghĩa đồng cừu,

Đã toan giở súng quay tàu,

Y Đằng khôn khéo mưu sâu vãn hồi,

Nhận bồi khoản lấy Bành, Đài nhượng địa,                (85)

Trong mười năm rồi sẽ xem nhau!

 

Nga kia nước lớn lại giàu,

Bên giường giấc ngáy dễ hầu chịu yên.

Hàn với Mãn lợi quyền thu sạch,

Xe Nhĩ Tân, tàu lạch Sâm Uy,                                 (90)

Cõi đông trong cuộc an nguy,

Có ta ta phải phù trì giống ta.

Việc khai hấn chắc là quyết liệt,

Đất Á Đông thấy huyết phen này,

Năm Giáp Thìn, tháng hai tây,                                 (95)

Chiến thư hai nước định ngày giao tuy.

Trận thứ nhất Cao Ly lừng tiếng,

Khắp hoàn cầu muôn miệng đều khen.

Sa trường xung đột mấy phen,

Ngọn cờ Áp Lục, tiếng kèn Liêu Dương.                  (100)

Cửa Lữ Thuận mơ màng khói bạc,

Thành Phụng Thiên ngơ ngác non xanh,

Hải quân một trận tan tành,

Thái Hoa cắt núi, Đông Thanh xẻ đường.

Sức hùng vũ ai đương lại được,                             (105)

May điều đình có nước Hoa Kỳ,

Khéo đem hòa ước giải vi,

Nếu không Bỉ-đắc còn chi là đời.

Hội Vạn quốc đặt bày công nghị,

Chấu đá voi sự ấy cũng nực cười.                           (110)

Kể trong hòa khoản hai mươi,

Bề nào Nga cũng chịu lui trăm phần.

Cuộc tang hải khuất thân từng lúc,

Trong liệt cường nay cũng chen vai.

Khen thay Nhật Bản nhân tài,                               (115)

Từ đây danh vị còn dài về sau.

 

 

Ngồi mà nghĩ thêm sầu lại tủi,

Nước Nam ta gặp buổi truân chuyên,

Dã man quen thói ngu hèn,

Cũng như Minh Trị dĩ tiền mấy năm.                    (120)

Từ Đại Pháp đem tân bảo hộ,

Mở trí khôn mới độ một và,

Non sông thẹn với nước nhà,

Quan là tượng gỗ, dân là thân trâu,

Việc giây thép việc tàu việc pháo,                       (125)

Việc luyện binh, việc giáo học đường,

Việc kỹ nghệ, việc nông thương,

Việc khai mỏ khoáng, việc đường hỏa xa,

Giữ các việc chẳng qua người nước,

Kẻ chức bồi, người tước cu li,                             (130)

Thông ngôn ký lục gì gì,

Mãn đời lính tập chọn vì quan sang.

Các hạng thuế các làng tăng mãi,

Hết đinh điền rồi lại trâu bò,

Thuế chó cũi, thuế lợn lò,                                  (135)

Thuế diêm, thuế rượu, thuế đò, thuế xe,

Thuế các chợ, thuế chè, thuế thuốc,

Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn,

Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền,

Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn,             (140)

Thuế rạ rơm thông luôn thuế rác,

Thuế mái hiên, thuế các hàng cơm,

Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn,

Thuế người chức sắc, thuế con đĩ đàn.

Thuế dầu mật, thuế sơn, mọi chỗ,                     (145)

Thuế cháo rau, thuế lúa, thuế bông,

Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng,

Thuế chim thuế cá khắp trong ba kỳ.

Nhiều hạng thuế kể chi cho xiết,

Thuế xia kia mới thật lạ lùng,                           (150)

Làm cho thập thất cửu không,

Làm cho xơ xác khốn cùng mới thôi.

Lại nghe nói Lào Kay, Yên Bái,

Mấy muôn người xẻ núi đào sông,

Khổ thay làm chướng nghìn trùng,                    (155)

Nước sâu quăng xác, hang cùng chất xương,

Nỗi diệt chủng vừa thương vừa sợ,

Người nước ta biết có còn không?

Nói ra ai cũng đau lòng,

Cha con khóc lóc, vợ chồng thở than,                 (160)

Cũng có lúc bầm gan tím ruột,

Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

Cũng xương cũng thịt cũng da,

Cũng hòn máu đỏ giống nhà Lạc Long,

Thế mà chịu trong vòng trói buộc                      (165)

Bốn mươi năm nhơ nhuốc lầm than,

Than ôi Bách Việt giang sơn,

Văn minh đã sẵn khôn ngoan có thừa.

Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?

Anh em ta rày tính sao đây?                             (170)

Nhật là bạn, Pháp là thầy,

Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm.

Việc tân học kíp đem dùng trước,

Hội dân đoàn cả nước cùng theo.

Sự buôn ta giữ làm đầu,                                   (175)

Mọi nghề cùng ghé địa cầu một vai.

Bây giờ kể còn dài khôn xiết,

Chữ tự do xin hết một lòng.

Gương Nhật Bản đất Á Đông,

Giống ta ta phải soi chung kẻo mà.                   (180)

Dạ học thử dần dà mở rộng,

Thày Lang Sa rồi cũng nể nang.

Có khi đặt chữ bằng hàng,

Thay đời nô lệ ra phường văn minh.

Kìa thuở trước như Anh, Pháp, Đức,                (185)

Cũng chẳng qua cùng cực tắc thông,

Họa may trời có chiều lòng,

Việt Nam đứng lại phương Đông một mình.

 

 

Thân phiêu bạt đã đành vô lại,

Bấy nhiêu niên Thượng Hải, Hoành Tân.         (190)

Chinh Nga trong lúc hoàn quân,

Tủi mình bô bá theo chân khải hoàn.

Nưng chén rượu ơn ban hạ tiệp.

Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu.

Trời Nam mù mịt ngàn dâu,                           (195)

Gió thu như thổi dạ sầu năm canh.

Biết bao nỗi bất bình khôn dãi,

Mượn bút hoa mà gởi lại quốc âm.

Thân già bao quản cát lầm,

Khuyên ai dốc chữ đồng tâm sau này.              (200)

 

TÁN THUẬT di bút

Nguồn:

Cười, Huế, s. 5 (22 Avril 1938), tr. 2 – 3.

Chú thích

Câu 1: Á-Tế-Á: Châu Á (phiên âm từ  “Asia”)

Câu 5: Âu La: Châu Âu (phiên âm từ  “Europe”).

Câu 19: Đặng Thai Mai (Văn thơ cách mạng việt Nam đầu thế kỷ XX) ghi là: Thái Đông.

Câu 20: Đặng Thai Mai (sđd.) ghi: Dòng Thần vũ…; Ý câu này: nước Nhật từ ngày thành lập đến nay chỉ có một dòng vua (Nhật hoàng).

Câu 23: Kể đời trăm hai mươi hai: Trần Thanh Mại (báo Cười) chú: “22 è siecle” (chữ Pháp) tức là 22 thế kỷ; Đặng Thai Mai (sđd.) chú: Minh Trị là đời vua thứ 122 trong dòng dõi Thiên hoàng Nhật Bản.

Câu 24: Năm: hai nghìn lẻ năm mươi có thừa: Trần Thanh Mại (báo  Cười) chú: “2050 années” (chữ Pháp): 2050 năm. Đặng Thai Mai (sđd.) chú: Tính cho đúng thì vào khoảng 1905, lịch sử Nhật Bản, kể từ Thiên hoàng thứ nhất (lên ngôi 600 năm Tr.CN) đã có 2.565 năm.

Câu 26: Trần Thanh Mại (bđd.) chú: Giang Hộ = Tokyo; Đặng Thai Mai (sđd.) cho biết: bản của trường Viễn Đông Bác Cố chép: Chốn kinh thành Thần Hộ mới dời sang, là lầm, vì Thần Hộ (= Kobe) là hải cảng phía bắc vịnh Đại Bản; còn Giang Hộ  là khu vực Edo, từ 1868 (Minh Trị thứ nhất) kinh đô mới dời đến đây, gọi là Đông Kinh (Tokyo).

Câu 30: ba muôn: 30.000.

Câu 32: Đặng Thai Mai (sđd.): Nơi lò hấp bát, nơi khuôn đúc đồng.

Câu 35: Đặng Thai Mai (sđd.): Dao với quạt, tàn với xe

Câu 37: Đặng Thai Mai (sđd.): Bốn nhăm triệu

Câu 40: Trần Thanh Mại chú: (420.000 km2)

Câu 42: Nãi Xuyên: Kanagawa; Lộc-nhì: đảo Kagoshima

Câu 43: Đặng Thai Mai (sđd.): Đông Kinh ba phủ cận kỳ; cận kỳ: sát với kinh thành.

Câu 44: Đại Bản: Osaka; Kinh đô: Kyodo, kinh đô Nhật trước lúc duy tân.

Câu 45: Bắc Hải: Hokaido

Câu 46: Xung Thằng: Okinawa, tức đất Lưu Cầu (Rioukiou) ngày trước.

Câu 47: Gò Đối Mã: đảo Tsushima.

Câu 50: Đặng Thai Mai (sđd.): Đội thương thuyền khắp mặt đại dương.

Câu 51: thiết lộ: đường sắt.

Câu 52: Đăng đài: đèn soi cho các tàu bè nơi bến tàu; phụ đầu: bến tàu trên bờ biển.

Câu 59: Trường Kỳ: Nagasaki.

Câu 60: Dã Tân: chính là Tiểu Dã Tân: Inohama; Tu Hạ: chính tên là Hoàng Tu Hạ: Yokosuka, quân cảng Nhật trước vịnh Tokyo.

Câu 66: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ Hà-di đến tận Tát-ma. Ha-di (hoặc Hari): tên đảo lớn Yeso ở phía bắc lãnh thổ Nhật Bản; Tát-ma: Satsuma.

Câu 68: Phú San: tên núi trên bờ tây đảo Hondo; Tỳ Bà: hồ Biwa gần Kyodo.

Câu 73: năm Giáp Ngọ: 1894. Đặng Thai Mai (sđd.) không tán thành thái độ tác giả bài ca trong việc này, lưu ý rằng đây là chiến dịch ăn cướp của đế quốc Nhật.

Câu 75: Đặng Thai Mai (sđd.): Quân Lục-úc, tướng Đại-sơn; Lục-úc (hay Lục-ảo): Mutsu; Đại-sơn: Oyama.

Câu 77: Đông tam tỉnh: ba tỉnh đông bắc Trung Quốc (Phụng Thiên, Cát Lâm, Hắc Long Giang).

Câu 81: Đặng Thai Mai (sđd.): Lòng ái quốc…

Câu 84: Y-đằng: Ito

Câu 85: Bành, Đài: Bành Hồ và Đài Loan.

Câu 89: Hàn: Triều Tiên; Mãn: Mãn Châu.

Câu 90: Nhĩ-tân: Cáp-nhĩ-tân (Harbine), thành phố ở Trung Quốc; Sâm-uy: tức Hải-sâm-uy (Vladivostok), hải cảng ở viễn đông của Nga.

Câu 91: Đặng Thai Mai (sđd.): Á Đông trong cuộc an nguy.

Câu 92: Đặng Thai Mai (sdđ.): Có ta ta phải phù trì chúng ta. Trần Thanh Mại (bđd.) chú: “Cụ Tán Thuật có làm quan võ Nhật đánh Nga”, giúp người đọc hiểu hai câu này là tâm niệm, là sự tự biện hộ của Tán Thuật về việc tham dự chiến tranh Nga-Nhật.

Câu 95: Đặng Thai Mai (sđd.) cho biết: bản chép tay của trường Viễn Đông Bác Cổ chép nhầm ra “tháng Chạp”. Năm Giáp Thìn: 1904.

Câu 96: giao tuy: bước vào tình thế chiến tranh.

Câu 97: Cao Ly: Triều Tiên.

Câu 100: Áp Lục: tên sông ở bắc Triều Tiên giáp Trung Quốc; Liêu Dương: thành phố ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

Câu 101: Lữ Thuận: tên cảng ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, người Tây gọi là Port-Arthur (cảng Arthur), nơi từng xảy ra trận đánh lớn giữa quân Nhật và quân nhà Thanh vào 21/11/1894.

Câu 102: Phụng Thiên: thành phố Thẩm Dương thuộc tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

Câu 105: Đặng Thai Mai (sđd.): Sức hùng vĩ…

Câu 108: Bỉ-đắc: tức thành phố Saint Petersbourg của Nga.

Câu 109: Đặng Thai Mai (sđd.): Hội Vạn quốc diễn bài công nghị.

Câu 111: Đặng Thai Mai (sđd.): Kể trong hòa khoản mười hai.

Câu 112: Đây là cuộc chiến giữa hai đế quốc nhằm tranh giành quyền kiểm soát vùng Mãn Châu và Triều Tiên. Đặng Thai Mai (sđd.) phê phán thái độ và sự đánh giá của tác giả bài ca này về ý nghĩa và kết cục chiến tranh Nga-Nhật (1904-05). Thật ra, tác giả Tán Thuật đứng trong hàng ngũ quân Nhật, cảm xúc về sự nổi lên hùng cường của Nhật Bản ở đây vừa thể hiện sự hân hoan của người trong cuộc, vừa bộc lộ mong ước của một người ngoại quốc, đến đây từ một nước chậm phát triển, đang bị đô hộ.

Câu 114: Đặng Thai Mai (sđd.): Đám liệt cường nay cũng chen vai.

Câu 115: Đặng Thai Mai (sđd.): Khen thay Nhật Bản anh tài.

Câu 116: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ đây danh dự còn dài về sau!

Câu 120: Đặng Thai Mai (sđd.): Cũng như Minh Trị dĩ tiền mọi năm.

Câu 121: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ nước Pháp đam tâm bảo hộ.

Câu 125: Đặng Thai Mai (sđd.): Vua là tượng gỗ…

Câu 128: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc khai mỏ quặng…

Câu 130: Đặng Thai Mai (sđd.): Người chức bồi…

Câu 131: Đặng Thai Mai (sđd.): Thông ngôn ký lục chi chi

Câu 141: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế đến cả phấn son phường phố

Câu 142: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế những anh thuốc lọ gầy mòn. Đặng Thai Mai ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ bỏ sót hai câu 141-142 này; không rõ người biên soạn lấy hai câu này từ nguồn nào.

Câu 144: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn.

Câu 146: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế gạo, rau, thuế lúa, thuế bông,

Câu 148: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế chim thuế cá khắp trong lưỡng kỳ.

Câu 149: Đặng Thai Mai (sđd.): Các hạng thuế…

Câu 152: Đặng Thai Mai (sđd.): Làm cho xơ xác khốn cùng chưa thôi.

Câu 155: Đặng Thai Mai (sđd.): Cực thay lam chướng nghìn trùng

Câu 156: Đặng Thai Mai (sđd.): Sông sâu ném xác, hang cùng chất xương.

Câu 157: Đặng Thai Mai (sđd.): Họa diệt chủng…

Câu 158: Đặng Thai Mai (sđd.): Nòi giống ta…; Đặng Thai Mai ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ sót mất đoạn từ “Làm cho thật thấp cửu không”  đến “Nòi giống ta biết có còn không”.

Câu 159: Đặng Thai Mai (sđd.): Nói ra ai chẳng sờn lòng; và ghi chú: bản viết tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ chép: “Thôi thì thôi, cũng dầu lòng!”

Câu 160: Đặng Thai Mai (sđd.): Cha con tủi nhục, vợ chồng lìa tan!

Câu 161: Đặng Thai Mai (sđd.): Nghĩ lắm lúc thâm gan tím ruột.

Câu 162: Trần Thanh Mại (bđd.) bỏ lửng 3 từ cuối; Đặng Thai Mai (sđd.): Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

Câu 163: Đặng Thai Mai (sđd.): Cùng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long.

Câu 166: Trần Thanh Mại (bđd.) bỏ lửng 4 từ cuối; Đặng Thai Mai (sđd.): Thế mà chịu trong vòng trói buộc.

Câu 169: Đặng Thai Mai (sđd.): Hồn mê mộng…

Câu 170: Đặng Thai Mai (sđd.): Anh em ta phải tính làm sao, và ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ là: Anh em ta phải tính sao đây?

Câu 171: Đặng Thai Mai (sđd.): Nhật là họ, Pháp là thù; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Nhật là họ, Pháp là thầy.

Câu 172: Đặng Thai Mai (sđd.): Mưu cao phải học, thù sâu phải đền; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm.

Câu 173: Đặng Thai Mai (sđd.): Nền tân học kíp nên dựng trước; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Việc tân học kíp đem dựng nước.

Câu 174: Đặng Thai Mai (sđd.): Hội dân đoàn, cả nước cùng nhau.

Câu 175: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc buôn ta lấy làm đầu.

Câu 177: Đặng Thai Mai (sđd.): Bây giờ kể còn dài chưa xiết.

Câu 178: Đặng Thai Mai (sđd.): Chữ tự do xin kết một lòng.

Câu 180: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc học thức dần dà mở rộng.

Câu 184: Đặng Thai Mai (sđd.): Thay đàn nô lệ làm phường văn minh.

Câu 188: Đặng Thai Mai (sđd.): Việt Nam đứng lại phương Đông có mình.

Câu 189: Đặng Thai Mai (sđd.): Thân xiêu bạt…

Câu 190: Thượng Hải: thành phố lớn, trung tâm thương mại ở miền Đông Nam Trung Quốc; Hoành Tân: tức Yokohama, thành phố lớn, có cảng biển lớn, thủ phủ tỉnh Kanagawa của Nhật Bản.

Câu 191: Đặng Thai Mai (sđd.): Chinh Nga nhân lúc hoàn quân.

Câu 192: Đặng Thai Mai (sđd.): Xót mình bôn bá, theo chân khải hoàn.

Câu 193-194: Trần Thanh Mại (bđd.) chú: “Vua Minh Trị ban rượu thưởng rồi cụ /tức Tán Thuật/ ôm gối Thiên hoàng kể rõ tâm sự của mình”; thông tin này phải chăng Trần Thanh Mại có được từ Phan Bội Châu?

Câu 197: Đặng Thai Mai (sđd.): Biết bao nỗi bất bình không giải.

Câu 199: Đặng Thai Mai (sđd.): Thân tàn bao quản cát lầm.

 

 

 

 

 

 

 

 

TUẦN BÁO “CƯỜI”, HUẾ, 1937

“Cười”, báo trào phúng, văn chương; ra hàng tuần. Năm thứ nhất, số 1 ra ngày 1/10/1937; số cuối cùng: s. 5 (22/4/1938). Sáng lập: Lê Thanh Cảnh; Chủ bút: Trần Thanh Mại; Tòa soạn: 58 Rue de Gia Long, Huế; sau là 47 Rue de Gia Hội, Huế.

 

Số 1 (thứ sáu, 1 er Octobre 1937): /16 trang A3/

-Tôn chỉ gì (Trần Thanh Mại);

-Tình xưa (truyện ngắn, Đỗ Đức Thu);

-Cười ra nước mắt (các mẩu chuyện; Thạch Đình, Ngạc Hoan);

-Tiếng “Cười” ở thần kinh (thơ, Tú Mỡ);

-Việc làng (điểm chuyện làng văn; Ly Đình);

-Lời bất hủ (dật sự; Thanh Thị);

-Đời nghệ sĩ (thơ; Thanh Tịnh);

-Cứu lấy thanh niên (Trần Thanh Mại phê bình “Thanh niên S.O.S.” truyện Trương Tửu); -Điểm sách (Thực Đức);

-Phê bình ngắn (Thực Đức);

-Án mạng xưa: Một gói dẻ rách (Thiếu Lăng);

-Cái cười quá khứ (Huỳnh Thúc Kháng);

-Tấn tuồng câm (truyện vui; Phan Văn Dật);

-Tấn kịch Trung Hoa (thời sự, Li Do);

-Ba viên ngọc bích (trinh thám; Phạm Cao Củng);

-Ông chả, bà nem (kịch vui; Thanh Tịnh);

-Thơ điên. Đau thương (thơ, Hàn Mặc Tử);

 

Số 2 (thứ sáu, 8 Octobre 1937): /16 trang A3/

-Huế già ? (luận; Trần Thanh Mại);

-Hoa cuối mùa (truyện ngắn; Phan Văn Dật);

-Cười ra nước mắt (các mẩu chuyện; Thúc Tề, Ngạc Hoan);

-Lời bất hủ (chuyện cười; Thanh Thị);

-Reo cười (thơ; Phỗng Đá);

-Ta. Cười (thơ; Chế Lan Viên);

-Khảo: Chiếc cung thần của An Dương Vương, làm sao cắt nghĩa được một đôi phần trong sự tích hoang đường ấy? (Trần Thanh Mại);

-Trước tòa Nam án: Cái vòng lẩn quẩn (chuyện cười; Thiếu Lăng);

-Đôi bạn giang hồ (ký ức về Nguyễn Thượng Hiền);

-Người mẹ (truyện ngắn; Thanh Tịnh);

-Việc làng (chuyện làng văn; Ly Đình, Ngạc Hoan);

-Nhanh trí khôn (mẩu vui; Thanh Thị);

-Huế (thơ; Phỗng Đá);

-Đức tính các dân tộc… (tạp trở; Thanh Thị);

-Hai đêm diễn kịch (Ly Đình);

-Ba viên ngọc bích (tr. trinh thám; Phạm Cao Củng);

Trung Nhật chiến tranh nhật ký (thời sự, Li Do);

-Ngày về (thơ; Lưu Trọng Lư);

-Số mục trong tên nhà báo VN (cười, Thanh Thị);

 

Số 3 (thứ bảy, 8 Janvier 1938): /2 trang A4/

-Cùng bạn đọc(về việc đình bản để chỉnh đốn bộ BT và tài chính, ra đời lần 2; Cười);

 

Số 4 (thứ sáu, 18 Janvier 1938): số mùa xuân:

-Cười là gì? (bài mở đầu; Cười);

-Quốc dân ta nên đi con dường nào (văn, ghép thành ngữ tục ngữ; Nguyễn Thượng Hiền);

-Tâm sự trên sông Hương (thơ; Nguyễn Tiến Lãng);

-Tôn ty trật tự (2 mẩu chuyện; BK.);

-Nghe … thấy (các mẩu vui cười, tranh vẽ);

-Chuyện cũ nước nhà (Hoài Nam, Th. M.,);

-Văn tuyển (thơ, văn vần; Triệu Khanh, Hoài Nam);

-Một cuộc đấu bóng tròn xuất quỷ nhập thần (chuyện vui thể thao, Thiếu Mai);

-Giọt lệ Tố Tâm (tiểu thuyết, ?);

-Trang phụ nữ: Tô điểm (Hoàng Sầm);

-Thông tin tìm bài vè chúa Nghĩa thầy Nghiêm (thông tin; Cười);

-Tập ảnh: Bà vợ (chuyện hài; Bửu Đá);

-Ba chủ nghĩa trêu ghẹo công chúng VN: quốc gia, đệ tam, đệ tứ (hài; BK.);

-Bách thần Đông Dương dự bị đối phó thời cuộc (thơ vui, Nguyễn Hưu);

 

 

Số 5 (thứ sáu, 22 Avril 1938): /32 trang A4/

-Hoán tỉnh quốc dân ca (ca, Tán Thuật);

-Bài phú hội chợ Huế (phú; phỏng Nguyễn Hàm Ninh; Tiểu Quỷ);

-Đức Minh Mạng đối với phụ nữ (các mẩu giai thoại, BK.);

-Vua Hàm Nghi đến Tân sở (thơ, Nguyễn Hưu);

-Cái nghiên xưa của đức Thiệu Trị (dật sự, Th. M.);

-Lấy khoa học mà trị nước (giai thoại, Th. M.);

-Thiệu Trị không chịu mắc lừa (giai thoại; Th. M.);

-Sự tích chùa bà Đanh (gia thoại, ?);

-Bài văn tế tướng sĩ của Nguyễn Văn Thành (sưu tầm);

-Phú thầy đồ đi trọ (sưu tầm; Phan Văn Ái);

-Giọt lệ Tố Tâm (t. thuyết; ?);

-Lễ lục tuần ngài Thành Thái (tin, );

-Cảm tác (thơ, Thương Thời Khách);

-An lăng hoài cổ (thơ, Bửu Tuyền);

-Bài ca Hương giang tiên nguyệt (Tuyên Hóa vương);

-Sự xích mích giữa Xiêm La và Đông Pháp (thơ, Nguyễn Hưu);

-Vợ chồng (chuyện vui, phỏng báo Pháp, Bửu Kế);

-Hò ô tát nước (lời hát, LK.);

-Cười (thơ, Hồ Triệu Khanh);

-Xót tình máu mủ (ca, chuyện mới xảy ra ở Hanoi, Thương Thời Khách);

-Vu thuong dac cach (Cóc Bịch);

-Con trùn Lang trả lời con trùn Phuong (Cóc Bịch);

-Trang phụ nữ (trang điểm; Hoàng Sầm);

-Bà gia (chuyện hài, Bửu Đá);

-Ngẫm sự đời (thơ nôm, vua Tự Đức);

-Chuyện điên (thơ, Bửu Kế);

-Hoài cổ (thơ, bà Huyện Thanh Quan);

-Văn tế thày chưa có vợ (văn tế, );

-Chuyện bâng quơ (ngụ ngôn, H.L.);

-Hội Đông sơn thi tửu (việc Đoàn Trưng,

-Đoàn Trực mưu nghịch; Th. M.);

 

NGUYỄN BÍNH VÀ TUẦN BÁO TRĂM HOA (1955-1957)

                                                                                               Lại  Nguyên  Ân

 

Hai mươi năm sau cái chết của Nguyễn Bính (20/1/1966), tác phẩm của nhà thơ này mới thoát khỏi cõi “im lặng đáng sợ” của sự quên lãng chẳng biết vô tình hay cố ý của những ai ai, trở lại được in ấn, đăng tải, bàn luận. Từ 1986, những sưu tập, tuyển tập thơ Nguyễn Bính liên tục được in ra, liên tục có mặt trên giá các quầy sách các hiệu sách. Tiếp đó cũng đã thấy xuất hiện nhiều cuốn sách nói về con người, cuộc đời và đặc sắc sáng tạo của nhà thơ này. Khá nhiều đoạn đời Nguyễn Bính đã được phác hoạ, dù có khi chỉ thông qua những giai thoại. Tuy vậy, có một loạt sự việc về hoạt động của Nguyễn Bính những năm 1955-57, tức là khi Nguyễn Bính từ miền Nam tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội, làm báo Trăm hoa, rồi  sau chừng như là bị an trí, nghĩa là bị buộc phải về sống ở Nam Định, − thì hầu như ít thấy ai nhắc đến. Những bài viết được gom vào các cuốn sách Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương ; Nguyễn Bính, đời và thơ ; Thơ và giai thoại Nguyễn Bính ; Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê, v.v… không nhắc gì đến sự việc này; những người được xem là từng có xúc tiếp thậm chí cùng làm việc với Nguyễn Bính thời gian nói trên như Trần Lê Văn, Hoài Việt,…nếu nhắc đến cũng chỉ bất đắc dĩ xác nhận “Nguyễn Bính làm báo Trăm hoa”, thế thôi.

Có lẽ, Tô Hoài là người trong cuộc duy nhất tính đến nay có hé ra đôi dòng hồi ức về hoạt động nói trên của Nguyễn Bính. Rải rác trong hai cuốn của Tô Hoài Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999), người đọc có thể nhặt được đôi chi tiết về Nguyễn Bính thời làm báo Trăm hoa, tất nhiên là được trình bày hoàn toàn theo cách nhìn của người kể chuyện.

Theo hồi ức của Tô Hoài : “không biết ai đã giúp tiền cho Nguyễn Bính ra những số báo Trăm hoa đầu tiên”, thế rồi “cấp trên” của Tô Hoài “có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà xuất bản giúp Trăm hoa” ( khi đó Tô Hoài làm việc ở Nhà xuất bản Văn nghệ, vậy nói “nhà xuất bản” đây có lẽ là NXB ấy – người viết bài này ghi chú), và chính Tô Hoài được giao nhiệm vụ “thuyết phục một tờ báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn”. Theo Tô Hoài, do sự can thiệp này, “tờ Trăm hoa rõ ra một vẻ khác. Không về bè với Nhân văn, như chẳng đi với ai”. Cấp trên của Tô Hoài  nhận xét từng số từng bài, “cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”. Tô Hoài đem nhận xét ấy bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính bảo Tô Hoài: “Trăm hoa phải thế mới là báo của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong!” Sáng kiến “đầu tư” cho Trăm hoa kết thúc ở đấy. Một buổi tối, Nguyễn Bính rủ Tô Hoài đến ăn ở nhà hàng Lục Quốc. Nguyễn Bính bảo: “Hôm nay ăn cỗ đám ma Trăm hoa !” (Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Hà Nội: Nxb Hội nhà văn, 1992, tr.56).

(Người viết ghi chú thêm, 23/12/2005 : ông Hoài Việt, người mà nhà riêng ở gần toà soạn Trăm hoa và đương thời là một trong những cộng tác viên thường xuyên gặp gỡ Trúc Đường và Nguyễn Bính ở toà soạn báo này, vừa sáng nay 23/12/2005 đã cho tôi biết 2 việc: 1/ chính Nguyễn Bính kể với Hoài Việt rằng người khuyến khích Nguyễn Bính tục bản Trăm hoa là Tố Hữu với cái lý: cần tiếng nói của báo chí bên ngoài (tức là không phải báo chí nhà nước) cự lại giọng điệu Nhân văn; như vậy người “cấp trên” mà hồi ký Tô Hoài nói đến chính là “anh Lành” của chàng Tô ; 2/  nguồn tiền mua giấy để làm hầu hết các số Trăm hoa tục bản là Nguyễn Bính vay của ông Quách Phác ở phố Hàng Khoai; đây mới là nguồn chính, còn lại, nguồn giấy do Tô Hoài  đưa tới, nếu có, cũng là về sau và vì là nguồn trợ giúp có điều kiện nên cũng rất ít và sớm bị cắt như chính Tô Hoài đã nói trong hồi ký của ông; − hết ghi chú 23/12/2005).

Phải chăng sự việc Nguyễn Bính với tờ Trăm hoa như trên đã dẫn tới những sự việc tiếp theo: do “không về bè với Nhân văn”  nên Nguyễn Bính đã không trở thành đối tượng phê phán trong vụ Nhân văn-Giai phẩm; tuy vậy, do tỏ ra “chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết” trước yêu cầu “chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn” nên tựu trung Nguyễn Bính vẫn bị đẩy khỏi Hà Nội, tức là vẫn bị trừng phạt, nhưng hình thức trừng phạt nhẹ hơn?

Tô Hoài cho rằng chỉ là giai thoại (lời đồn đại chứ không phải sự thật) những chuyện “Nguyễn Bính bị đầy phải xuống xin việc dưới quê, Nguyễn Bính chỉ được biên tập ca dao hò vè”. Theo Tô Hoài thì giản dị là “Nguyễn Bính về Nam Định rồi quyết định ở hẳn dưới ấy chỉ vì Nguyễn Bính đã sắp nên vợ nên chồng với cô hàng cà phê thành Nam. Nguyễn Bính đã bỏ không ở nhà xuất bản Hội Nhà Văn với tôi (tức Tô Hoài – người viết chú) để xin ra làm báo Trăm hoa. Khi Trăm hoa hết tiền phải đình bản, Nguyễn Bính không còn ở biên chế nào thì Hội Nhà văn đã giới thiệu Nguyễn Bính về Nam Định”; “thời kỳ ở Nam Định, Nguyễn Bính đã in nhiều sách trên nhà xuất bản Phổ Thông ở Hà Nội. Trường ca Tiếng trống đêm xuân, lại vở chèo Cô Son đương công diễn. Mỗi lần lên lấy nhuận bút kha khá, tôi được Nguyễn Bính và Trúc Đường rủ đi đánh chén” (Tô Hoài, Chiều chiều, Hà Nội: Nxb Hội  Nhà văn,  1999, tr. 228).

Thật ra, nếu đối chiếu thời gian thì người ta sẽ không dám tin hẳn lời Tô Hoài, là vì Nhà xuất bản Hội nhà văn được lập ra sau Đại hội thành lập Hội nhà văn (từ 01 đến  04/4/1957), khi đó tờ Trăm hoa do Nguyễn Bính đứng tên tục bản cũng đã chấm dứt hoạt động vài tháng rồi. Thời điểm mà Nguyễn Bính tham gia làm Trăm hoa có thể là giữa tháng 11/1955 (khi tên Nguyễn Bính xuất hiện với chức danh Chủ bút trên bìa tờ Trăm hoa cũ) hoặc muộn nhất là tháng 10/1956 (khi ra mắt số 1 tờ Trăm hoa tục bản do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm).  Có lẽ đúng ra cơ quan mà Nguyễn Bính đã rời bỏ để đi ra ngoài làm báo Trăm hoa là nhà xuất bản Văn nghệ. Còn chuyện Nguyễn Bính về Nam Định để tìm một công việc làm,  nếu không do Hội Văn nghệ Việt Nam thì cũng do Hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu, − điều này có thể suy ra từ hồi ức Tô Hoài.

Trên thực tế, Nguyễn Bính về Nam Định trước sau chỉ làm một nhân viên ngoài biên chế của ty văn hoá tỉnh, và ông trưởng ty Chu Văn dường như được giao đặc trách “chăm sóc” Nguyễn Bính, như Tô Hoài viết: “Những ai đã công tác cùng Nguyễn Bính ở ty văn hoá Nam Định có thể biết Chu Văn đã quần Nguyễn đến điều thế nào” (Chiều chiều, sđd, tr.228). Tô Hoài nói điều này trong Chiều chiều (1999) chứ không phải trong Cát bụi chân ai (1992), khi Chu Văn (1922-1994) còn sống; hãy nhớ rằng trước đó nữa, cả hai ông, Tô Hoài và Chu Văn, người đề tựa, kẻ viết lời bạt cho Tuyển tập Nguyễn Bính (1986), giọng điệu rất hoà hợp nhau, như đều là hai “cố nhân” của Nguyễn Bính.

Dù có thể là đáng tin cậy đến mức nào, “chứng từ” của Tô Hoài về Nguyễn Bính như trên vẫn là quá ít ỏi. Trong khi đó, những nhân vật chính từng chịu nạn Nhân văn-Giai phẩm, trong một vài cuộc trò chuyện tương đối cởi mở gần đây, khi được hỏi về trường hợp Nguyễn Bính thì dường như lại  không còn giữ được thông tin nào đáng kể.

Bởi vậy, cần tìm hiểu lại Trăm hoa.

***

Nếu ai quá tin vào những chỉ dẫn có sẵn hẳn sẽ nhận được thông tin sai lạc, ví dụ nếu tra trong Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam (Hà Nội: Nxb Văn hoá thông tin, 2001,  tr.652) sẽ chỉ biết có một tờ Trăm hoa của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nguyễn Bính, ra từ tháng 10/1956.

Trên thực tế có hai tờ Trăm hoa :

1/ Đầu tiên là tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường) làm Chủ nhiệm, ngoài tên gọi Trăm hoa (đặt theo tinh thần “trăm hoa đua nở” đang là khẩu hiệu đương thời ở Trung Quốc, tinh thần này được nói rõ ở lời mở đầu số 1 của toà soạn) còn có phụ đề là “tuần báo tiểu thuyết”, toà soạn  đặt tại 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội, gọi là tuần báo nhưng khuôn khổ lại có vẻ “tạp chí” nhiều hơn. Số 1 ra ngày 2/9/1955 (xin mở ngoặc nói thêm, ở bìa 1 số 1, dưới chỗ ghi “số 1” có in thêm chữ nhỏ : “tái bản”; chưa rõ liệu có phải Trăm hoa còn có một tiền sử xa hơn chăng? và điều này hẳn có liên quan với việc chính toà soạn Trăm hoa loại mới, tức là tờ tục bản sau này, − một vài lần viết rằng tờ báo của mình  ra mắt từ tháng 7/1955?). Tờ Trăm hoa  loại cũ cỡ nhỏ này ra được cả thảy 31 số, tồn tại từ tháng 9/1955 đến giữa tháng 5/1956; mỗi số thường có 26 trang ruột và 4 trang bìa, khổ báo 18x26cm; ban đầu trang bìa chỉ ghi chức danh Chủ nhiệm của Nguyễn Mạnh Phác; từ số 11 (19/11/1955) trên tiêu đề mới xuất hiện thêm chức danh Chủ bút của Nguyễn Bính.

2/ Tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là Trăm hoa loại mới, toà soạn đặt tại 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; số 1 loại mới ra ngày thứ bảy 20/10/1956; sau số 11 (chủ nhật 6/1/1957) là hai số cuối cùng, đều không đánh số: Trăm hoa  Xuân,Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, đều phát hành trước và sau Tết Đinh Tỵ. Trăm hoa số thường gồm 8 trang in typo 28x40cm giá bán 300 đ; hai số cuối là hai đặc san: Trăm hoa  xuân gồm 24 trang giá bán 1000 đ, phát hành từ 23 Tết ; Trăm hoa số đặc biệt đầu xuân gồm 16 trang giá bán 600 đ, phát hành đầu xuân Đinh Tỵ.

Cả hai tờ Trăm hoaTrăm hoa loại mới đều là báo tư nhân. Trăm hoa của ông anh là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường) bị “chết” vì lỗ vốn, thì ít lâu sau ông em là Nguyễn Bính tục bản thành Trăm hoa loại mới, và tờ này cũng lại “chết” vì lỗ vốn.  Ở miền Bắc đến lúc đó báo chí và xuất bản tư nhân còn được phép tồn tại, nhưng phải chịu nhiều thiệt thòi và bị chèn ép mạnh: phải mua giấy giá cao hơn so với  giá cung cấp dành cho các báo nhà nước và đoàn thể, do đó giá bán cao hơn; các cơ sở phát hành lớn của hệ thống “hiệu sách nhân dân” không nhận bán các báo tư nhân; ngoài ra còn một trở ngại đáng kể là cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương thường gây trở ngại cho phóng viên và người phát hành các báo tư nhân.

Đặt trong tình thế toàn bộ nền kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và nông nghiệp tư hữu lớn và nhỏ ở miền Bắc lúc đó đang bước vào “đêm trước” của sự giải thể tư doanh để công hữu hoá, công tư hợp doanh, tập thể hoá, hợp tác hoá, thì thất bại của cả hai tờ Trăm hoa cũng như của tất cả các tờ báo tư nhân ở miền Bắc lúc ấy là không thể tránh khỏi. Tất nhiên Trăm hoa đã “chết” khá lâu (nếu tính thời gian tồn tại bằng tháng chẳng hạn) có lẽ vì không chịu đựng nổi tình trạng báo chí tư nhân bị phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, trước khi người ta thực hiện chủ trương xoá sổ toàn bộ báo chí và xuất bản tư nhân trên miền Bắc.

***

Có một điều hơi khác lạ là một mặt thì Nguyễn Bính bỏ cơ quan (nhà xuất bản Văn nghệ hồi 1955 hoặc nhà xuất bản Hội nhà văn từ 1957, đều là đơn vị của đoàn thể, có thể xem là thành phần kinh tế nhà nước) để đi làm báo tư nhân (tờ Trăm hoa của anh ruột và về sau là của chính Nguyễn Bính) nhưng mặt khác ngòi bút Nguyễn Bính bộc lộ ra hồi này lại rất đậm chất cán bộ: các sáng tác đưa in lại hoặc viết mới thời kỳ này thường mang tình cảm chính trị của một chủ thể  “ta-dân tộc” chung. Ít ra điều này là nhất quán ở Nguyễn Bính tính đến hết năm 1955.

Trên tờ Trăm hoa (cũ) đăng một loạt sáng tác mới và sáng tác trong kháng chiến của ông. Đó là các bài thơ Nổi dậy (viết 1948 ở Nam Bộ; đăng TH s. 3 ngày 17/9/1955), Máu chảy trên đường phố (viết  ngay sau cuộc biểu tình của học sinh Sài Gòn-Chợ Lớn 19/1/1950; đăng TH s. 7 ngày 22/10/1955) với giọng điệu hào hùng tương tự  bài ca Tiểu đoàn 307.

Hai bài thơ viết tháng 10/1954 khi Nguyễn Bính còn ở Nam Bộ: Thao thức ( đăng TH s. 6 ngày 15/10/1955) là tưởng tượng của tác giả về không khí tưng bừng của những đoàn quân tiến về tiếp quản thủ đô.

                Từng lớp người vĩ đại

                 Cuồn cuộn đi trong một biển cờ

                 Đi giữa lòng ngưỡng mộ

                 Đi giữa tiếng hoan hô

                 Những bước chân chiến thắng

                 Rầm rập vang rền nẻo cố đô

                 Người Hà Nội vỗ tay trào nước mắt

                 Ôi ! Tám năm đằng đẵng mong chờ…

 

Bài thơ Hẹn hò làm lời một người ở lại miền Nam tiễn bạn tập kết  ra Bắc, xa nhau nay để mai gặp lại. Hai bài thơ viết tháng 11/1954 Thương nhauChiếc giường gỗ thông  (đăng TH  s. 2, ngày 10/9/1955) trên tàu thuỷ từ Nam ra Bắc, nói lòng biết ơn bạn bầu quốc tế   “…Đường dài nghĩa nặng tình sâu / Ăn cơm Trung Quốc đi tàu Liên Xô…

Ngay khi đã sống trong đời thường trên đất Bắc, nhà thơ vẫn sẵn sàng phổ dòng tình cảm chính trị sẵn có như trên vào những sự kiện như đón đoàn nghệ thuật Triều Tiên ( bài Thông cảm, đăng TH s.1, ngày 2/9/1955).

Thời gian này bài thơ dài Gửi người vợ miền Nam của Nguyễn Bính đã nhanh chóng được in thành sách riêng và ông trở thành một trong những tác giả nổi bật ngay từ đầu của mảng đề tài “thơ đấu tranh thống nhất”. Nhưng có vẻ như ông còn sẵn sàng nhúng bút vào nhiều đề tài thời sự khác của đời sống miền Bắc, ví dụ đề tài cải cách ruộng đất. Truyện ngắn Bức thư tuyệt mệnh (TH , s. 13, ngày 3/12/1955), bài thơ Hình ảnh chị (TH , s.14, ngày 10/12/1955) đều có chung mô tip tố cáo tội ác địa chủ.

Tuy nhiên, sang năm 1956, dường như ở Nguyễn Bính có những biến chuyển nào đó, − điều này bộc lộ rõ nhất ở những số đầu của tờ Trăm hoa loại mới do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm; thậm chí cũng đã bộc lộ ở một số bài  đăng ở những số Trăm hoa cũ ra đầu năm 1956 (Xin mở ngoặc để nói rõ rằng, thử tìm trong các nguồn lưu trữ Trăm hoa hiện có của Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội ở Hà Nội, phối hợp lại vẫn thấy thiếu 14 số Trăm hoa loại cũ từ số 18 đến số 31, tức từ đầu tháng 1/1956 đến tháng 5/1956).

Có thể tin rằng một trong những lý do đưa tới biến chuyển ấy là việc Giải thưởng văn học 1954-55 được Hội Văn nghệ Việt Nam công bố (15/3/1956), gây phản ứng mạnh trong giới văn nghệ sĩ. Tất nhiên chỉ trên báo hoặc ấn phẩm tư nhân mới thấy rõ sự phản ứng ấy mà rõ nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu tập I  (1956). Theo bài mở đầu Trăm hoa loại mới (20/10/1956)  thì Trăm hoa loại cũ cũng đã từng động đến giải thưởng này, cụ thể là đã đăng 3 bài phê thơ Xuân Diệu, hẳn là phê tập Ngôi sao, tuy chất lượng kém nhưng lại được trao giải nhì (3 bài phê bình này là của Trần Lê Văn, có lẽ Trăm hoa cũ đăng khoảng tháng 4 hoặc tháng 5/1956). Đọc một đoạn bài mở đầu mang tên Hoa lại nở  ấy ở trang đầu số 1 Trăm hoa loại mới cũng thấy một giọng điệu khác hẳn Trăm hoa cũ:

“Tuần báo văn nghệ Trăm hoa ra đời từ tháng bảy năm 1955. Nó ra đến số 31, sống gần một năm thì nó tạm đình bản. Nói cho văn hoa thì “Trăm hoa chết vì phương diện tài chính khó khăn”. Còn nói nôm na vắn tắt thì “Nó chết vì nó lỗ vốn quá !” Nó chết vì hết tiền. Than ôi! sớm nở tối tàn, thân Hoa thầm trách số phận mình sao lại sinh vào cửa tư nhân! Sung sướng thay những bạn đồng nghiệp cơ quan ngôn luận của đoàn thể! có bao giờ chịu cái số phận nửa chừng xuân như số phận Trăm hoa. (…) Một lần nữa xin nhắc lại, sở dĩ Trăm hoa chết là vì hết tiền, chứ không phải vì đã “ngạo mạn” dám đăng ba bài phê bình thơ Xuân Diệu, mà Xuân Diệu vốn là bạn thân của ông Huy Cận thứ trưởng bộ văn hoá, và ông Hoài Thanh trong Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam như một vài dư luận…”

Nguyễn Bính đã dành trang phê bình của 2 số đầu Trăm hoa loại mới cho bài viết của chính mình về giải thưởng văn học 1954-55,  nhan đề : Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955; dưới nhan đề là mấy dòng chapeaux in đậm: “Đề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng. Bổ sung một số tác phẩm khác”. Đây là bài tiểu luận vào loại khá hiếm hoi trong đời văn Nguyễn Bính, trong đó tác giả đã trình bày thẳng thắn ý kiến của mình về một sự kiện đang chia rẽ giới nhà văn vừa tập hợp về Hà Nội sau kháng chiến chín năm.

Xin dừng lại kỹ hơn ở bài này của Nguyễn Bính.

“Kết quả giải thưởng văn học 1954-55 đã gây nên rất nhiều dư luận, nhiều thắc mắc trong giới văn nghệ và yêu văn nghệ. Những dư luận và thắc mắc ấy đã kéo dài đến nửa năm nay. Dư luận càng sôi nổi từ sau lớp học tập lý luận văn nghệ 18 ngày và nhất là sau bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của ông Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu tập I.

Tại sao lại có nhiều dư luận thắc mắc? Chính vì căn cứ vào những tác phẩm trúng giải, người ta thấy có nhiều quyển không xứng đáng, nhiều quyển cần phải xét lại thứ bậc, nhiều quyển tại sao không trúng giải? Thành phần ban giám khảo cũng như lề lối làm việc độc đoán, hẹp hòi, xa rời quần chúng, bè phái, và có cả cái tệ sùng bái cá nhân nữa.

Nhờ có dư luận ấy mà ban giám khảo và Thường vụ Hội Văn nghệ đã kiểm điểm lại vấn đề giải thưởng. Mới đây Hội Văn nghệ có ra một thông báo và ông Nguyễn Tuân (vừa là trưởng ban giám khảo vừa là tổng thư ký) có viết một bài về giải thưởng văn học 1954-55. Theo tinh thần hai văn kiện ấy ta có thể kết luận là ban giám khảo và thường vụ Hội có nhận một số khuyết điểm về quan niệm, tổ chức và lề lối làm việc của giải thưởng.”

Sau khi trích dẫn một đoạn trong bài nói trên của Nguyễn Tuân và tóm tắt một số điểm trong thông báo của thường vụ Hội Văn nghệ, lưu ý đến một vài đề xuất sửa đổi (đưa tập Ngôi sao từ giải nhì xuống giải ba, sẽ cân nhắc trường hợp Người người lớp lớp), Nguyễn Bính cho rằng các đề xuất đó là quá ít, trong khi những khuyết điểm về nhận thức và tổ chức xét giải đã khiến toàn bộ giải thưởng “mất đi rất nhiều giá trị và tác dụng”.

Nguyễn Bính viết tiếp :

“Đã đến lúc rất cần và đến mức đòi hỏi phải xét lại toàn bộ giải thưởng, chứ không chỉ hạ xuống hoặc thêm vào một vài tác phẩm là đã đủ cứu vãn được giá trị và tác dụng của nó. Ông Nguyễn Tuân cũng đã nhận rằng “đã có những sai lầm nghiêm trọng”. Vậy thì những sai lầm nghiêm trọng ấy nó có tác hại đến việc chấm giải, cụ thể ra bằng việc cho giải các tác phẩm như thế nào? Không lẽ lại chỉ sai lầm vẻn vẹn ở mấy quyển Ngôi sao, quyển Nam Bộ mến yêu, truyện Cái lu mà thôi? Như vậy sao lại gọi là sai lầm nghiêm trọng? Chúng tôi tưởng đã luộm thuộm thì phải luộm thuộm hết chứ không lẽ chỉ luộm thuộm riêng khi nhận xét quyển Ngôi sao mà không luộm thuộm khi nhận xét các quyển Thơ chiến sĩ, thơ Việt Bắc, Chú Hai Neo. Chúng tôi tưởng đã thiếu trình độ nhận thức thì không lẽ chỉ thiếu khi nhận xét quyển Cái lu mà lại đầy đủ nhận thức khi nhận xét những quyển khác. Chúng tôi tưởng đã nể nang thì không lẽ chỉ nể nang khi muốn giữ địa vị cho quyển Nam Bộ mến yêu mà lại rất nghiêm khắc trong khi chấm quyển Anh Lục hay cái kịch Việt ơi ! Hơn nữa biết đâu chẳng có những tác phẩm còn trong bản thảo, gửi dự thi, có giá trị, mà đã phải vùi dập đi vì cái trình độ nhận thức kém, cái tính nể nang, thiếu tập trung, thiếu nghiêm chỉnh, cái lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, cái gò ép, cái gượng gạo, cả cái không lắng nghe ý kiến quần chúng và văn nghệ sĩ của ban giám khảo? Huống chi Thường vụ Hội lại thiếu kiểm tra đôn đốc, thì sao mà biết được rằng giải thưởng có chu đáo hay không? Hay đã bỏ rơi một cách không thương tiếc những tác phẩm dự thi có giá trị? Do đó, vàng thau lẫn lộn, mà đã làm chết yểu đi một số mầm non văn nghệ chăng?”

Tiếp đó Nguyễn Bính nói riêng về phần giải thưởng thơ mà ông lấy làm trọng điểm ý kiến của mình :

“…Khi bắt đầu đặt giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55, anh chị em văn nghệ gặp nhau thường hay nói đùa một câu: “Giải thưởng này, cái gì thì không biết, chứ tập thơ Việt Bắc thì chém chết cũng được giải nhất rồi !” Tất nhiên chúng ta cũng đều hiểu rằng câu nói đó không phải là một câu tán dương. Anh em còn nhớ mãi cái cuộc tranh luận về quyển thơ Việt Bắc, chưa ngã ngũ ra sao thì cac ông lãnh đạo Hội đã vội vàng đưa ra mấy bài “bịt lỗ châu mai” lại. Anh em không thể nào quên cái câu ông Hoài Thanh phát biểu: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu. Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung uỷ, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng. Trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất (không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?). Sở dĩ anh em biết trước thế nào tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu cũng được giải nhất là bởi anh em không còn lạ gì cái tệ sùng bái cá nhân của một số cá nhân lãnh đạo Hội Văn nghệ.”

Nguyễn Bính nói tiếp về tập Ngôi sao của Xuân Diệu:

 

“Bản thảo tập thơ Ngôi sao đã đưa cho nhà xuất bản Văn nghệ xem. Toàn thể anh  em văn nghệ công tác ở nhà xuất bản đều thấy là dở quá (Tô Hoài, Kim Lân, Phùng Cung, Nguyễn Bính, v.v…), không đồng ý cho in; quyển đó cứ bỏ lay lắt mãi 4 – 5 tháng. Nhưng cấp trên cứ giục phải in. Túng thế, anh em đành lựa một số bài không đến nỗi tồi lắm đưa sang nhà in Quốc gia (lúc ấy còn coi cả việc phát hành sách báo) thì bên đó cũng không chịu in. Vì lẽ “thơ Xuân Diệu không có độc giả”. Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1.500 quyển. Khi in ra, tập Ngôi sao đã bị dư luận chỉ trích rất nhiều. Điều đó thiết tưởng Thường vụ Hội phải biết rõ hơn ai hết. Xin nói thêm rằng hồi cho in tập Ngôi sao là hồi mà nhà xuất bản Văn nghệ cùng đóng chung một căn nhà với Thường vụ Hội (51 Trần Hưng Đạo), Thường vụ Hội mặc dầu có bưng tai bịt mắt đến đâu chăng nữa chắc cũng  phải nghe dư luận ở những anh em cùng chung một nhà ở, cùng chung một bàn ăn, đối với tập Ngôi sao. Vậy mà đến lúc chấm giải vẫn cứ để cho nó được giải. Mà lại giải nhì! Như thế thì hiền như bụt cũng phải thắc mắc.

Tập thơ Việt Bắc được giải nhất thì không ai lấy làm lạ (như đã trình bày) chứ đến như tập Ngôi sao mà đứng giải nhì thì anh em lấy làm lạ quá! Anh em lạ quá là vì anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn vào văn nghệ như thế? Anh  em lạ quá là vì anh em không thể ngờ ban giám khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy. Anh em cho đó là một cái nhục. Nhục cho anh em. Nhục cho văn nghệ. Nhục cho cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55. Anh em thắc mắc cao độ và thấy rằng cần phải đấu tranh. Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập Ngôi sao” (lời ông Nguyễn Tuân). Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hoá, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không? Theo ý chúng tôi, cái chuyện đó là bè phái rõ ràng chứ không phải nể nang luộm thuộm. Chúng tôi kết luận rằng : ở bộ môn nào thì chưa biết chứ trong việc chấm giải thơ thì nhất định là có bè phái.”

Cuối cùng, Nguyễn Bính nêu những đề nghị cụ thể.

“Muốn cho cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55 có giá trị toàn vẹn, chúng tôi có ý kiến đề nghị cụ thể như sau:

Về giải thơ: Nên đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì; tập thơ ấy tuy có giá trị thật, nhưng chưa xứng đáng được giải nhất, vì lẽ nó chưa hẳn là một tập thơ tiêu biểu. Loại tập thơ Ngôi sao và tập Thơ chiến sĩ ra khỏi giải thưởng. Tập thơ Chú Hai Neo và tập thơ của Tú Mỡ nên để xuống giải khuyến khích. Cả tập ca dao của Nguyễn Hiêm cũng nên loại ra khỏi giải thưởng.

Về giải bút ký và kịch: Nên loại tập bút ký Nam Bộ mến yêu và cái kịch Việt ơi ! ra khỏi giải thưởng.

Về giải tiểu thuyết : Nên loại tập truyện Cái lu ra khỏi giải thưởng. Xét lại tập truyện Đất nước đứng lên xen nên để giải nhất hay nên cho xuống giải nhì, vì tập truyện ấy chưa đúng nội dung một quyển tiểu thuyết. Xét lại thứ bậc quyển tiểu thuyết Anh Lục.

Về ngành nhạc xin nhường ý kiến cho các nhạc sĩ. Tôi vốn không rành về nhạc nên không dám có ý kiến. Và nên bổ sung một số tác phẩm có giá trị, cụ thể như những quyển tiểu thuyết Người người lớp lớp, tập thơ Hoàng Cầm, Lê Đạt, v.v…”           

Tờ Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính còn theo đuổi việc thảo luận về giải thưởng văn học này ở những số sau, chẳng hạn số 3 (4/11/1956) đăng ý kiến một cây bút miền Nam tập kết là Phạm Tường Hạnh, cho rằng bài nói lại của Nguyễn Tuân (tổng thư ký Hội Văn nghệ và trưởng ban giám khảo) bênh vực hai cuốn Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh và Ngôi sao của Xuân Diệu, “vô hình trung đã phủ nhận dư luận của anh chị em văn nghệ sĩ” về hai cuốn đó. Đến cuối năm 1956, có lẽ nhận thấy những hứa hẹn sửa lại giải thưởng đã gần như trở thành lời hứa hão, số 6 (2/12/1956) trong mục “Chuyện làng ta”, Tường Vi nhắc lại câu hỏi:  sau góp ý của văn nghệ sĩ và của dư luận, số phận giải thưởng văn học 1954-55 có gì thay đổi không, nhất là đối với cuốn bút ký Nam Bộ mến yêu và tập thơ Ngôi sao?

Nói chung, đọc lại tờ Trăm hoa, nhất là Trăm hoa loại mới, người nghiên cứu thời nay sẽ thấy rõ tờ báo này có vai trò bổ sung đáng kể cho một đời sống văn học đang bị chính thống hoá, phiến diện hoá, một số thông tin được tập trung tô đậm làm nổi bật trong khi  khá nhiều thông tin khác bị cố tình ém nhẹm vào bóng tối. Vai trò bổ sung này thể hiện ở nhiều bài mục, từ đưa tin và điểm tin văn nghệ, đăng bài điểm sách hoặc phê bình, đăng sáng tác mới, đến “nhặt sâu hoa”, − tên đề mục khá hay, lại gắn với tên ký giả Trại Hàng Hoa dành riêng cho mục này. Không có tờ báo loại này hẳn hậu thế không thể hình dung được rằng Tú Mỡ cũng bị phê phán đích đáng vì những chữ dùng “kém cỏi, tối tăm” trong thơ trào phúng (TH số 4, 11/11/1956).  Không có loại báo này sẽ ít ai biết là hồi ấy đã xuất hiện lối xin-cho sẽ rất phổ biến những năm sau: Hội Văn nghệ định cử Hoàng Cầm vào đoàn văn nghệ sĩ đi thăm Liên Xô, nhưng lại thôi, “chắc tại Hoàng Cầm còn bận việc viết báo Nhân văn”, lại định cử Hồ Dzếnh và Mộng Sơn đi thay, rồi lại thôi, “chắc tại Hội đã trả hai người lại cho văn nghệ sĩ Hà Nội rồi”, nghe nói sẽ cử Nguyễn Văn Bổng và Anh Thơ đi, vì hai người này “không bận viết báo như Hoàng Cầm” (bài của Tần Hoài trong mục “Việc làng việc nước”, TH số 5, 25/11/1956). Không có loại báo này sẽ ít ai biết chuyện hồi ấy một ty văn hoá nọ cố tình trao giải nhất một cuộc thi thơ cho một bài thơ kém cỏi chỉ vì tác giả của nó là một công nhân (bài của bạn đọc Bích Lục từ Nam Định, TH số 4). Trước sự kiện một Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956 ra mắt, nếu không có loại báo này hẳn sẽ rất khó lọt đến tay bạn đọc những bài điểm sách như bài của Lưu Thuỷ (TH số 7, ngày 9/12/1956), cho biết dư luận trong giới thấy tuyển tập này thể hiện tinh thần “thiếu đoàn kết”, hầu như chỉ chọn bài của những ai từ kháng chiến về, những ai ở trong biên chế; và không thể biết có bao nhiêu bài thơ hay bị bỏ quên, bao nhiêu bài thơ dở choán chỗ không hợp lý trong tuyển tập này, một tuyển tập mà “cái dở của một số thơ cũng như số lượng thơ dở trong tuyển tập rõ rệt quá”!

Vai trò bổ sung nói trên bộc lộ rất rõ ở việc báo Trăm hoa của Nguyễn Bính lên tiếng về trường hợp bài thơ dài Chiếc lược của Thụy An. Bài thơ kể chuyện một cô gái nghèo đi ở cho địa chủ, chỉ ước có cái lược chải tóc mà không thể có; một bữa nọ cô mượn trộm chiếc lược của mụ chủ chải tóc để đi dự hội làng, bị mụ bắt được, lấy dao cau gọt sạch tóc mai cô khiến cô không dám đi hội, cũng không dám đến chỗ hẹn gặp người yêu; khi cải cách ruộng đất thắng lợi, mụ chủ bị đấu tố, cô gái được người yêu tặng chiếc lược mà anh ta lấy được ở chỗ chia quả thực. Trăm hoa in toàn bộ bài thơ này (số 3, 4/11/1956) với phụ đề “Một bài thơ bị vùi dập” và sau đó có các bài nói rõ thêm. Nguyên tại lớp học chính trị cho một số văn nghệ sĩ, một cán bộ của Uỷ ban CCRĐ TƯ đến nói chuyện, có kể câu chuyện một chị cố nông lúc chia quả thực nói chỉ ước ao được một cái lược chải đầu vì từ bé tới giờ chị chưa hề có; cán bộ ấy nói thêm: câu chuyện này khiến Hồ Chủ tịch xúc động và tỏ ý nhắc văn nghệ sĩ khai thác đề tài này. Thuỵ An dự nghe buổi ấy, xúc động với câu chuyện, hăm hở ngày đêm viết xong bài thơ này, nhưng đưa đến Hội Văn nghệ chỉ được khen là khá rồi giới thiệu cho phòng văn nghệ quần chúng của vụ nghệ thuật, cơ quan ấy lại bảo rằng loại thơ này ở đây vô thiên lủng và trả lại, rốt cuộc để lay lắt gần một năm không được đăng. Lưu Thuỷ không bảo đây là tuyệt tác, là toàn bích, “nhưng ít nữa nó vẫn cứ hơn, hơn hẳn những loại thơ “tình Bắc Nam” của ông vụ trưởng Đào Duy Kỳ mà vụ văn hoá đại chúng đã cho in hàng vạn cuốn”; bài như thế của Thụy An thì bị hết cửa nọ đến cửa kia từ chối in, kể cả Hội Văn nghệ, thế mà “biết bao nhiêu bài thơ, chưa nói đến văn, dở òm và nhạt phèo của Xuân Diệu, của Nguyễn Đình Thi, của Huy Cận, vẫn được in ra một cách vô tội vạ”; “Chẳng cứ gì một bông hoa của chị Thụy An bị vùi dập. Vì cái tinh thần bè phái đương ngự trị trong đầu óc một số ông phụ trách báo và sách văn nghệ và văn hoá đại chúng, và trên hết là vì cái tinh thần bè phái ở ngay trong cơ quan lãnh đạo Hội. Tất cả rắc rối (hạn chế tài năng của cá nhân, kìm hãm sự tiến triển của phong trào, thiếu đoàn kết, gây phản ứng…) do đó mà ra cả” (bài của Lưu Thủy, TH số 4, 11/11/1956). Trăm hoa ( số 6, ngày 2/12/1956) còn cho biết, lúc bài thơ nằm mãi không được phổ biến, “chị Thụy An lấy làm ức lắm. Chị có làm ngay một bài thơ khiếu nại lên Hồ Chủ tịch, vì lẽ cái đề tài này Hồ Chủ tịch có nhắn nhủ anh chị em văn nghệ nên sáng tác”. Tiếp đó báo đăng toàn bộ bài thơ kiêm thư khiếu nại ấy, ký Thụy An tức Phương Thao, mà thực ra tác giả còn chưa gửi đi vì sợ làm phiền cụ Hồ. Đây là đoạn cuối : “Chuyện chiếc lược này đây / Viết thi đua sáng tác / Đợt đầu tiên chín ngày / Sau đó sẽ liên tục / Làng văn nhiều chuyện hay / Bảo nhau bỏ cả Tết / Hăm hở viết mê say / Vâng lời Bác căn dặn / Viết chuyện chiếc lược này / It lâu Hội trả lại / Với lời phê : Khá hay / Nhưng ý Vụ văn hoá: / Hay gì mà kêu hay / Loại này vô thiên lủng / Đem trả tác giả ngay / Nghe phê bình chẳng chuộc / Tác giả đâm ngẩn ngây / Lược đẹp hay không đẹp ? / Vứt bỏ hay dùng đây ?/ Luống thương công chuốt lược / Mà chẳng lọt đến tay / Sự tình kiện lên Bác / Hoạ có vơi hận này”.

Chuyện tờ Trăm hoa của Nguyễn Bính đưa ra ánh sáng một bài thơ không được đăng dù rất thích hợp về nội dung tuyên truyền đương thời, đã hé ra những phương diện khác của một cơ chế văn nghệ lúc ấy đang đi trên hướng nhà nước hoá, quan liêu hoá, với sự thao túng của những nhóm, những cá nhân nhất định, vốn là nhà văn nhưng đã trở thành quan chức cai quản guồng máy văn nghệ, với những ban phát, cho đăng hoặc không cho đăng, không chỉ căn cứ vào nội dung tác phẩm mà còn căn cứ vào “thành phần” tác giả (ví dụ Thụy An, Hồ Dzếnh, Ngân Giang… là nhà văn ở trong thành Hà Nội thời tạm chiếm, không được đối xử ngang với nhà văn đi kháng chiến trở về) hoặc tuỳ thuộc những  ác cảm, thiện cảm và định kiến cá nhân.

  

Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính chủ yếu là tờ báo về văn nghệ, diện tích trang in dành cho đề tài đời sống xã hội không nhiều, tuy vậy vẫn thấy khá rõ xu hướng bảo vệ cái không gian tự do của sinh hoạt dân sự bình thường khi ấy hoặc đang bị thu hẹp dần hoặc lúc thắt lúc nới. Chẳng hạn, báo đăng ý kiến “chúng tôi đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu” (TH số 1); báo nêu chuyện báo bạn đã nêu : tố cáo một vị thủ trưởng cấm một đôi trẻ ở cơ quan mình kết hôn với nhau với lý lẽ : “anh” xuất thân nông dân, “chị” là con một tiểu chủ, hoặc tố một thủ trưởng khác đòi kiểm thảo một đôi trẻ tìm hiểu nhau bằng thư từ lại còn gửi kèm những bưu ảnh Tháp Rùa tặng nhau, cho thế là tiểu tư sản! (TH số 2); báo đăng bài vè của bạn đọc trách mấy ông cán bộ dân phố cứ khuyên người ta đừng mua báo tư nhân (TH số 4), v.v… Báo cũng thường đăng ý kiến bạn đọc kêu ca tình trạng cửa quyền của mậu dịch quốc doanh. Tranh biếm hoạ thường nhắm vào đề tài này: chế diễu thói “chụp mũ” ( Bùi Xuân Phái vẽ, TH số 2); diễu kẻ tự xưng cán bộ khi đòi mua 2 gói Đại Tiền Môn ở quầy bách hoá nhưng lúc xông vào nhà dân hành hung người ta lại chỉ “lấy tư cách cá nhân” (Bùi Xuân Phái, TH số 3); tả nỗi mừng của các bà nội trợ từ nay khỏi phải dấu con gà con vịt mua được xuống đáy rổ tránh con mắt dò xét của cán bộ thuế và hộ khẩu như trước (Bùi Xuân Phái, TH số 4); nỗi mừng của người đàn ông từ nay tối về ngủ chỗ vợ khỏi lo trình báo hộ khẩu (Tê Hát vẽ, TH số 5), tả anh chàng lảo đảo như trúng gió khi vừa chen mua hàng mậu dịch (Văn Tôn vẽ, TH số 7), mô tả “quái vật hai đầu”, một đầu nịnh trên, một đầu nạt dưới (Trần Hưởng và Văn Tôn, TH số 10), v.v…Mục “Hoa cười” ở các số Trăm hoa cũng thường có các mẩu chuyện cười tương tự như vậy.

Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính chỉ tham gia một số chủ đề chính trị, ví dụ rõ nhất là đưa tin Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại hội nghị lần thứ 10 ra 3 bản thông cáo (1/ nhận định kết quả và nghiêm khắc kiểm điểm sai lầm trong công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức; 2/ cử lại Tổng bí thư sau khi cựu tổng bí thư Trường Chinh tự kiểm thảo và xin từ chức; 3/ thi hành kỷ luật 2 uỷ viên TƯ Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương), bày tỏ sự hoan nghênh nhiệt liệt trước “thái độ dũng cảm và chân chính cách mạng” của TƯ Đảng LĐVN “đã công khai tự kiểm điểm và đề ra những biện pháp cụ thể” để sửa chữa những sai lầm đã mắc phải, bày tỏ nhiệt liệt tin tưởng tài đức của Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ mới: Chủ tịch Đảng kiêm Tổng bí thư (bài của Trần Nguyên, TH số 3 và số 4). Tiếp tục chủ đề này, Trăm hoa có những bài khẳng định Toàn đảng toàn dân đoàn kết là yếu tố quyết định sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. “Phải nói rằng một trong những nguyên nhân mắc phải sai lầm là mũi nhọn chuyên chính đã chĩa cả vào ta và bạn” … “Máu và nước mắt đã chảy nhiều trong cuộc chiến tranh cách mạng. Máu và nước mắt của một số người lại chảy trong cải cách ruộng đất. Nỗi đau khổ của một số đồng bào nông dân, của một số đảng viên bị xử trí oan không phải là không chính đáng” … “Những hiện tượng rạch mồm, chửi bới, đánh xé, doạ nạt, những hiềm khích giữa nông dân và cốt cán, giữa nông dân với nhau, những mâu thuẫn ở trong Đảng ngoài Đảng lúc này đều không lợi cho việc sửa sai, cho việc củng cố miền Bắc, đấu tranh giành thống nhất” (bài ký Trăm Hoa, TH số 5). Cũng trên chủ đề này còn có bài báo dài 2 kỳ (TH số 6 và số 7) của Trăm Hoa (ký tên toà soạn nhưng chưa rõ ai viết) Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của Nhà nước, không những đặt vấn đề tiếp tục sửa sai trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, trong công tác kinh tế tài chính, mà còn nêu vấn đề “xây dựng một chế độ pháp trị dân chủ”.

Nếu nói riêng về thái độ của Trăm hoa đối với báo Nhân văn và các cuốn Giai phẩm của nhà xuất bản Minh Đức, thì ngay từ số đầu Trăm hoa loại mới đã có bài, không cổ vũ cũng không đả kích mà chỉ trêu chọc, cười cợt. Chẳng hạn số 1 đã có hí họa của Tê Hát “minh hoạ bài của Trương Tửu trong Giai phẩm mùa Thu tập II ”, vẽ Trương Tửu quỳ khấn trước 5 thần tượng (1- Mác-Lênin, 2- Khơrutsốp, 3- Đảng Lao động VN, 4- Đại hội 20 ĐCS Liên Xô, 5- Lục Định Nhất với khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”) xin được chư vị “phù hộ” để mình “choảng” bọn họ một trận cho mất cái thói sùng bái cá nhân! Cũng ở số 1 trong mục “Việc làng việc nước”, Trăm Hoa đùa Phan Khôi: trong bài Ông bình vôi đăng trên Nhân văn, ông bảo cái gì người ta sợ thì người ta gọi bằng ông, vậy gặp ông (Phan Khôi) bây giờ biết gọi bằng gì? Ngay khi thử đặt ra để giải đáp nghiêm túc câu hỏi: trong bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, ông Phan có nói xấu chế độ không? Hàm Tiếu (mục “Việc làng việc nước”, TH số 2) đem dư luận đang ồn ào về bài ấy so sánh với những lời bình “bách nhân bách khẩu” của hàng phố khi đứng xem cặp vợ chồng già nhà nọ cãi nhau. “Vậy thì ông Phan Khôi có nói xấu chế độ không? Có. Ông ví von chế độ dân chủ cộng hoà của chúng ta với chế độ triều Gia Long Tự Đức gì gì đó, thế là quả nhiên nói xấu chế độ rồi. Giấy trắng mực đen còn rành rành, ai mà cãi cho ông được! Nhưng nếu gán ghép cho ông tội này tội khác, thì cũng chẳng khác mấy người đứng xem cãi nhau lúc nãy lên án bà hàng xóm của tôi là đa ngôn đa quá, cố tình phá phách gia đình ruồng rẫy chồng con! Và có kẻ còn toan gieo tiếng cho bà là có cả chuyện ngoại tình (!) Không tin xin cứ đợi ông Phan Khôi đi Trung Quốc về mà hỏi, hay hỏi bà láng giềng tôi xem có phải mặc dầu có quá lời có mỉa mai soi móc chồng nhưng rồi lại mỉm cười với chồng, lại lọm khọm đi chợ xa mua sắm lại những thứ chính tay mình đã trót đập vỡ để bày biện lại cửa nhà cho đẹp? Hay, nói mới lạ làm sao chớ ? Quên nhau làm sao cho nỡ !  Ai bảo họ quên nhau được nào?”   Những tin tức về việc báo Nhân văn bị cảnh cáo được Trăm hoa (số 4, 11/11/1956) nói rõ với bạn đọc của mình : đó là vì nhân viên của báo này quên nộp lưu chiểu 3 số liền “chứ không phải tại báo Nhân văn nói mạnh quá, chứ không phải tại báo Nhân văn dám “xúc phạm” Nguyễn Chương tiên sinh của báo Nhân dân. Và cũng không phải tại sở Báo chí có thành kiến với báo Nhân văn đâu !”

Một thái độ khác hẳn, ngược hẳn thái độ trên đây, đối với báo Nhân văn và  các cuốn Giai phẩmĐất mới , đã xuất hiện trên Trăm hoa từ số 8 (16/12/1956). Điều này thật ra là hơi muộn nếu so với thời điểm báo Nhân văn ra số 5 (20/11/1956), số cuối cùng được phát hành, và ngay sau đó một chiến dịch phê phán Nhân văn được phát động mà cả giới báo chí phải hưởng ứng.

Chỉ có 3 số Trăm hoa có bài phê phán Nhân văn, Giai phẩm, Đất mới. Đó là bài của Thạch Lựu: Báo “Nhân văn” nên thành khẩn tự phê (số 8); bài điểm sách của Trần Nguyên: Phê bình “Đất mới” tập I (số 9) ; thư của bạn đọc Hoàng Đình Kính ở Hải Phòng phê bình Đất mới tập I : Độc giả vui lòng hoan nghênh các bạn nếu các bạn thành thực nhận khuyết điểm (số 10). Bên cạnh đó Trăm hoa đăng tải những thư từ kiến nghị của nhiều nhóm cán bộ các ngành, của một số tập thể văn nghệ sĩ, tố cáo báo Nhân văn (“gieo rắc tư tưởng lạc hậu, gây bi quan hoài nghi chế độ ta, khuyến khích những hành động tự do vô kỷ luật; lợi dụng chủ trương mở rộng dân chủ, bịa đặt một số việc không có thật, xuyên tạc một số sự việc khác, thổi phồng một số khuyết điểm nhỏ để đả kích vu cáo các cơ quan lành đạo của Đảng, chính quyền, quân đội, văn nghệ, công an, mậu dịch”, v.v…), kiến nghị đình chỉ cho phép xuất bản báo Nhân văn, đưa báo này ra trước pháp luật để trừng trị thích đáng, v.v…

Sau 3 số trên, Trăm hoa số 11 (6/1/1957) dành trang đăng văn kiện kỳ họp Quốc hội thứ 6 và không nhắc gì đến chuyện phê phán như đã làm ở 3 số trước nữa.

Như thế, câu chuyện Tô Hoài kể trong Cát bụi chân ai (1992) về việc báo Trăm hoa của Nguyễn Bính nhận tiền tài trợ (bằng giấy in báo) để viết và đăng bài phê phán báo Nhân văn, − nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì ngày nay người nghiên cứu đối chiếu sẽ thấy rằng, báo Trăm hoa của Nguyễn Bính thực hiện việc được giao ấy khá muộn, hầu như chỉ thực hiện vào lúc phong trào phê phán đã được phát động, khi hầu hết báo chí nhà nước và đoàn thể đã lên tiếng hưởng ứng. Và quả thật Trăm hoa đã làm việc đó một cách khá tắc trách, ít hiệu quả, “chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”, như cấp trên của Tô Hoài nhận xét.

Sau 3 số báo kể trên, Trăm hoa không còn được hỗ trợ giấy in, nhưng Chủ nhiệm Nguyễn Bính vẫn gắng tìm đường sống cho tờ báo. Số Tết đinh dậu (tức Trăm hoa Xuân) gộp 3 số thường lại (12, 13, 14) như một đặc san, một món quà Tết cho độc giả, với các sáng tác của Nguyễn Bính, Đoàn Giỏi, Yến Lan, Tô Hoài, Trúc Đường,… đồng thời thông báo dự định cải tiến tờ báo: sẽ đăng đều kỳ bản dịch tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa Hồng lâu mộng. Bài của Đặng Thai Mai (rút từ Tập san Đại học sư phạm số 2, tháng 6&7/1956) nói về những tranh cãi mới diễn ra cách đó ít lâu ở Trung Quốc xung quanh tác phẩm này, được Trăm hoa Xuân in lại, khởi động cho dự định ấy. Nhưng dự định đã không thành sự thật. Số tiếp theo, tức là số 15 và 16, được gọi là Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, cũng là một đặc san với các sáng tác của Nguyễn Bính, Phùng Cung, Tạ Hữu Thiện, Yến Lan, Trúc Đường…, đồng thời gửi đến bạn đọc thông tin không vui: ý định cải tiến nội dung và hình thức báo đã không thể làm được; nhiều khó khăn mới cộng vào những khó khăn cũ (giá giấy cao, công in tăng, giá sinh hoạt đắt đỏ, các nhà in đều bận những việc được đặt trước, Trăm hoa không có nhà in riêng, không tìm được nơi nào in báo hằng tuần, việc phát hành lại khó hơn trước…); toà soạn công bố dự định khác: chuyển Trăm hoa thành tạp chí ra hằng tháng. Tất nhiên đây chỉ là dự kiến thuần tuý, cũng tương tự một vài dự định khác, bộc lộ qua những khung chữ thông tin trên các trang báo này, ví dụ dự định lập nhà xuất bản Trăm Hoa! Trên thực tế, Trăm hoa kết thúc ở đấy.

Trước đó, Chủ nhiệm Nguyễn Bính như đã đã dự cảm được cái kết thúc của Trăm hoa đang đến gần. Ông dường như tập trung vào một vài quan tâm cuối cùng: tìm lại những tập thơ trước 1945 của mình để chuẩn bị cho việc tự soạn những tuyển thơ. Từ số 11 trên  Trăm hoa luôn có thông báo cần mua lại bản in các tập thơ Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ. Đồng thời Nguyễn Bính cũng gắng để  lại nét chữ của mình trên một số trang báo in (điều này kỹ thuật dùng bản khắc gỗ xen giữa khuôn in chữ chì xếp rời thời đó cho phép thực hiện được), ví dụ nhan đề hoặc chữ ký tên tác giả ở các bài thơ Tỉnh giấc chiêm bao (số 7), Tình quê (Trăm hoa Xuân), − kiểu cách làm thay hoạ sĩ trình bày như vậy chưa hề thấy ở nhiều số Trăm hoa trước.

Có thể nói Nguyễn Bính đã có những động tác chuẩn bị cho “cái chết được báo trước” của tờ Trăm hoa.

Trong đời ông, đây có lẽ là dịp duy nhất ông là chủ báo. Một tờ báo tư nhân. Ngay trước lúc báo chí tư nhân bị xoá sổ lâu dài trên miền Bắc.

Hà Nội, tháng Tám 2005

                                                                                               Lại  Nguyên Ân      

CHÚ THÍCH

Giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-55 :

Thơ — nhất : Việt Bắc của Tố Hữu ; nhì : Đồng tháng TámDặn con của Trần Hữu Thung ; Ngôi sao của Xuân Diệu ; Nụ cười chính nghĩa của Tú Mỡ ; ba : Thơ chiến sĩ của Hồ Khải Đại ; khuyến khích : thơ và ca dao về Nam Bộ kháng chiến của Nguyễn Hiêm ; Chú Hai Neo của Nguyễn Hải Trừng; Chiếc vai cày của Việt Dung ; Anh Ba Thắng của Việt Ánh.

Tiểu thuyết – nhất : Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc ; Truyện Tây Bắc của Tô Hoài ; nhì : Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng ; Con trâu của Nguyễn Văn Bổng ; ba : Vượt Côn Đảo của Phùng Quán ; Cái lu của Trần Kim Trắc ; khuyến khích : Đồng quê hoa nở của Hoàng Trung Nho ; Gặp gỡ của Bùi Hiển ; Cá bống mú của Đoàn Giỏi.

Ký sự , phóng sự – nhất : không có ; nhì : không có ; ba : Lên công trường của Hồng Hà ; Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh ; khuyến khích : Đường lên châu Thuận của Quang Dũng ; Trại di cư Pa-gốt Hải Phòng của Sao Mai ; Lòng mẹ của Bích Thuận.

Kịch nói – nhất : không có ; nhì : Lửa cháy lên rồi của Phan Vũ ; ba : Mở nông giang của Nguyễn Khắc Dực ; Chị Hoà của Học Phi ; Lòng dân của Nguyễn Văn Xe ; Ánh sáng Hà Nội của Hoàng Tích Linh ; Việt ơi ! của Bửu Tiến ; khuyến khích : Chiến đấu trong lòng địch của Lộng Chương ; Hai thái độ của Bàng Sĩ Nguyên ; Cai Tô của Nguyễn Văn Thương.

Dịch văn học – nhất : không có ; nhì : Chiến sĩ chân chính Đổng Tồn Thụy (tác giả Trung Quốc Đinh Hồng và Triệu Hoàn) của Lê Văn Cơ ; Chiến sĩ và Tổ quốc ( tác giả Trung Quốc Ngụy Nguy) của Đào Vũ ; Truyện vè Lý Hữu Tài (tác giả Trung Quốc Triệu Thụ Lý) của Đào Vũ ; Lưu Hồ Lan (tác giả Trung Quốc Lương Tinh) của Phan Sinh ; ba : Bản thoại Lý Hữu Tài (tác giả Trung Quốc Triệu Thụ Lý) của Xích Liên ; Vi-chi-a Ma-lê-ép(tác giả Liên Xô Ni-cô-lai Nô-xốp) của Hiệu đoàn trường Sư phạm ; Vương Quý và Lý Hương Hương ( tác giả Trung Quốc Lý Quý) của Hoàng Trung Thông.

(theo cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại do Hội Nhà văn Việt Nam biên soạn, Hà Nội, 1992, tr. 228-230)

HAI BÀI THƠ HỮU LOAN VIẾT VỀ HÀ NỘI

HAI BÀI THƠ HỮU LOAN VIẾT VỀ HÀ NỘI

Trong sáng tác thơ của Hữu Loan có hai bài thơ viết về Hà Nội, một bài viết những năm 1949-1950, một bài viết năm 1956, và cả hai bài cùng được công bố năm 1956. Bài Đêm, so sánh đêm Hà Nội thời bị quân Pháp chiếm đóng, với đêm Hà Nội sau ngày quân ta vào tiếp quản, đăng Giai phẩm mùa thu, tập 1 (sách ra ngày 29/8/1956); bài Tâm Sự Thủ Đô viết về Hà Nội những ngày kháng chiến, đăng tuần báo Trăm Hoa (s. 8, ra ngày 16/12/1956). Rất có thể do từng gắn với các ấn phẩm kể trên nên một thời gian dài, gần như không được ai nhắc đến, cũng không được đưa vào tập Màu Tím Hoa Sim (Nxb. Hội Nhà Văn, 1990). Nhân kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), xin giới thiệu lại với bạn yêu thơ hai bài thơ này của nhà thơ Hữu Loan.

LẠI NGUYÊN ÂN sưu tầm và giới thiệu

 

 

TÂM SỰ THỦ ĐÔ

 

Trên những chuyến xe bò

Đi về Kim Liên

Đi về Chèm, Vẽ

Những người thủ đô tản cư

Đoàn xe đi

Chở nặng tâm tư

Một góc nhà

Một hè phố

Mắt em biếc một chiều xưa

Quán Thánh, Cổ Ngư, Bạch Mai

Bóng liễu, tháp rùa

Một thằng bạn một thằng con ở lại

 

 

Khấp khểnh xe đi

Vấp vào đêm tối

 

 

Thủ đô

Ngày mùa thu

Cờ bốc lửa phố dài

Cờ bốc lửa công trường Nhà hát Lớn

 

 

Thủ đô

Ngày thủ đô chào đón

Đoàn giải phóng quân về

Qua cầu Long Biên

Sông bóng người đi

Vai cao rộng

Mang núi rừng Việt Bắc

Ai nhìn thủ đô

Lau thầm nước mắt

− Quốc ca mình

Người lính Việt đầu tiên

Rừng xanh thượng du

Lúa vàng bình nguyên

Giữa phố thủ đô chào nhau

− Đồng chí!

Có người làng đi

Trong đoàn lính trẻ…

 

 

 

Thủ đô

Quân lệnh đêm

Chuyền qua tường nhà

Lựu đạn đen ngòm trong nắm tay

Rình sau mái ngói

Nắng lóa tường vôi

Chữ cào xương nhức nhối

“Thanh niên sống chết

với thủ đô”

 

 

Đoàn xe đi

Về đường Kim Liên

Về đường Chèm, Vẽ

Việt Bắc âm u

Đường dài Thanh Nghệ

 

Đoàn xe đi

Sắt rít đường khuya

Giặc khởi hấn rồi !

Trong Hà Nội

Một thằng bạn

Một thằng con ở lại

 

Và bắt đầu

Những ngày đêm thủ đô ghê rợn

Khu Đồng Xuân

Lính trung đoàn thủ đô

Giết giặc, đuổi quanh bàn thịt bò

Giết giặc

Đạn là từ nóc chợ

Hai thằng với súng bom

Uất hận đương đầu…

 

Bỗng một đêm thủ đô

Có đoàn quân quyết tử

Cắt máu tay ăn thề

Ngõ vắng thủ đô

Những đơn vị rút đi

Góc phố thủ đô

Bóng những người đứng lại.

 

 

Lửa cháy thủ đô

Chân trời hấp hối

Xác thằng bạn

Xác thằng con

Trên hè phố thủ đô

 

 

Đường tản cư khuya

Lửa tóe sắt bánh xe bò

Xa cửa ô rồi

Trông về Kim Liên

Trông về Chèm, Vẽ …

Bóng hoàng hôn lên

Liệm tròn huyết thệ

Người quyết tử quân cuối cùng

 

 

Những người dân thủ đô

Phải về với giặc ở chung

Phải đốt cờ đỏ sao vàng

Thức đêm may cờ ba sắc

Và những sáng mai

Tay sót sa

Treo cờ giặc trước nhà

 

 

Ai về nội thành

Thấy Hà Nội xa hoa

Nhưng Hà Nội

Giặc xây thêm ngục tù

Xe phòng nhì

Chở từ ngoại ô

Từng đoàn người xiềng tay

Về qua phố tối

Ngồi thức đêm Hà Nội

Nhìn ra miền tự do

− Có thằng con

Theo chính phủ Cụ Hồ !

 

 

Ai về nội thành

Thấy Hà Nội xa hoa

Hà Nội hơn Hà Nội trước

Nhưng Hà Nội

Thủ đô trụy lạc

Hà Nội cũ

lầm than

Ngã Tư Sở

Khâm Thiên

Đèn khuya chảy vàng

Những tiệm hút

Những hộp đêm

Mọc theo tiếng gõ giày đinh

Của đoàn Tây mũ đỏ

Tiếng xe tăng viễn chinh

Chiều đi bụi phố

Và lần theo

Bóng đèn dâm ô

Lũ lượt kéo nhau về thủ đô

Từng đoàn thiêu thân

Sợ

Ánh sáng và gió lành

Tôi thành thép

Cánh tay người kháng chiến

 

 

 

Đêm thủ đô

rét đến

Trong chăn bông

Nghe lạnh chiến khu về

Cơm gia đình

đũa bát

nhớ người đi

 

 

Nhưng sáng mai thủ đô

Từng đoàn phi cơ giặc

Chở tang tóc

đầy

trong thân sắt

Ra những miền quê xanh

Tiếng bom dội về

Chuyển Hà Nội

mông mênh

Tim người thủ đô

Rung lên

như đất chuyển

 

 

Những người thủ đô tản cư

Những đồng bào kháng chiến

Từ những vùng tự do

Có người vào thủ đô

Nhìn chừng thư trôi

trên giòng sông

Chào thằng bạn chiến khu

Mà phục tấm lòng

 

 

Những đêm thủ đô

Mắt em biếc não nùng

Những giấc ngủ tơ nhung

Chập chờn về ác mộng

− Ai hát thì thào

Đêm thủ đô

cửa đóng

Bài ca của thủ đô

mùa thu

Bài trường ca của những người

Chiến thắng sông Lô ?

 

 

Người lính gác viễn chinh

Đêm nghe căm thù

Về năm đầu cửa ô

Quát thành tiếng súng

Và giữa Hà Nội trưa yên lành

Hồi còi rú thất thanh

Kêu như người tắc họng

Một xác Việt gian

ngã tư nắng đọng

 

 

Những em

mùa thu

Đi trong đoàn thiếu nhi

Lớn thành thanh niên

Bỏ nhà ra đi

Hỏi thăm

đường chiến khu Việt Bắc

Đời nội thành xa hoa

nặng nề

từng thời khắc

Những người ngày xưa

Chưa thù Việt Minh

Đã bắt đầu

đợi chờ

− Đến bao giờ

Biết đến bao giờ

Cho đêm sáng xa hoa

Vỡ

Rơi

Thành bóng tối

Xuống xác người máu me

ngổn ngang gạch ngói ?

− Đến bao giờ

Việt Minh mới đánh vào Hà Nội ?

 

 

Những người

Bắt sống Lơ-pa và Sác-tông

Những chiến sĩ

Cao Bằng

Đông Khê

Những binh đoàn biên giới

chuyển về trung du

Như đi từng dãy núi

Kẹp vòng quanh ngoại vi

Thủ đô

 

Em gái Hà Nội tản cư

đẹp trong màu áo vải

Rồi sẽ còn những ai

Trong số người ở lại ?

Ngày thủ đô chiến thắng

tưng bừng

Em về thủ đô

chân

− phố cũ −

ngập ngừng

 

1949-50

HỮU LOAN

Nguồn:

Trăm Hoa, Hà Nội, s. 8 (16.12.1956), tr. 3, 8.

 

 

 

 

ĐÊM

 

Những đêm Hà Nội ngày xưa

Trằn trọc

Không yên

Những cửa

Từ đầu hôm

Như những mắt nhắm nghiền

Bóng nhà bóng cây

Ôm nhau

Run sợ

 

Đêm Hà Nội ngày xưa

Như con bệnh hạt xoài

Nung mủ

Như một nhà thương điên

Lên cơn hôn mê

Thiết giáp

Xe tăng

Lính tẩy

Phòng nhì

Tiếng rú của người

Tiếng rít của xe

Những chiếc jeep điên

Đuổi gái

Nghiến người

Quắc mắt đèn pha

Đỏ tia đòng đọc

 

 

 

Đêm Hà Nội ngày xưa

Đầu người

Và tình yêu

Treo

Trên đầu sợi tóc

Và sau từng đêm

Mệt nhọc

Hốc hác

Hồ Gươm

Như mắt thâm quầng

 

 

Hốt hoảng gọi nhau

Không kịp vớ áo quần

Những đêm Hà Nội ngày xưa

Lõa lồ

Mình đầy ung độc

Đã xuống tàu đêm

Vào Sài Gòn

Tất cả

Những đêm Sài Gòn

Ngày nay

Đêm giang mai

Tẩu mã

Đang mưng

Cấp cứu gấp vạn lần

Những đêm xưa Hà Nội

“10$  1 cốc cà-phê

100$  1 con gái…”

Quảng cáo đóng đầy

Ngực đêm

Như áo ngủ Sài Gòn

 

 

 

 

Đêm Hà Nội

Ngày nay

Như em nhỏ nằm tròn

Ru trong nôi chế độ

Những đèn dài đại lộ

Như những tràng hoa đêm

Nở long lanh

Trong giấc ngủ

Bình yên

 

Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên

Nằm ngủ

Những đêm

Giữa những tình cảm lớn

Gió đem về

Thơm hoa rừng, lúa ruộng

Đặt bàn tay

Lên những cửa ô nghèo

 

Khi chúng ta về

Ánh sáng

Đã về theo

Và từng cặp người yêu

Đem về trong giấc mơ

Hình ảnh Hồ Gươm

Đẹp như hồ Thần Thoại

In bóng người yêu

Chung thủy

Đợi chờ

5/1956

HỮU LOAN

Nguồn: Giai phẩm mùa thu, tập 1, Nxb. Minh Đức, Hà Nội, 29/8/1956, tr. 27-29.

THƠ HỮU LOAN ĐĂNG BÁO “TRĂM HOA”

THƠ HỮU LOAN ĐĂNG BÁO “TRĂM HOA”

 

MÀU TÍM HOA SIM

 

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân

Nàng cười

xinh xinh

bên anh chồng “độc đáo”

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

 

Tự chiến khu xa

Nhớ về

ái ngại

“Lấy chồng đời chiến tranh

Mấy người đi, trở lại.

Lỡ khi mình không về

Thì thương người vợ

                             chờ

                                  bé bỏng

                                                chiều quê!”

 

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

Không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con

đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

Thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

Ngắn chưa đầy búi

Em ơi! Giây phút cuối

Không được nghe nhau nói

Không được

trông nhau

một lần.

Ngày xưa

nàng yêu hoa sim tím

Áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

Ngày xưa….

 

Một chiều rừng mưa

Ba người anh tự chiến trường Đông Bắc,

Biết tin em gái mất

Trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông.

 

Đứa em nhỏ lớn lên

ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

dài

trong chiều

không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang

biền biệt

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa:

“Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già xa lâu….”

                                                          Tháng 7.1951

HỮU LOAN

●  Nguồn: Trăm hoa, Hà Nội, s. 1 loại mới (20.10.1956), tr. 6.

Phóng tác hay bóp méo thế giới nghệ thuật Vũ Trọng Phụng


Lại Nguyên Ân

Série phim truyền hình “Trò đời” công chiếu trên VTV1 cuối năm 2013, dựa trên cốt truyện phóng tác từ ba tác phẩm “Số đỏ”, “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô” của nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939), về một mặt nào đó, nhắc cho người ta nhớ tới dòng phim truyện chuyển thể từ các tác phẩm văn học tiền chiến danh tiếng, như “Chị Dậu” của đạo diễn Phạm Văn Khoa (1980, chuyển thể tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, 1894-1954), “Làng Vũ Đại ngày ấy” cũng của Phạm Văn Khoa (1983, phóng tác từ 3 tác phẩm “Sống mòn”, “Chí Phèo”, “Lão Hạc” của Nam Cao, 1917-1951), “Đêm hội Long Trì” của đạo diễn Hải Ninh (1989, chuyển thể tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng, 1912-1960), “Số đỏ” của đạo diễn Hà Văn Trọng, Lộng Chương (1990, chuyển thể tiểu thuyết cùng tên của Vũ Trọng Phụng)…

Quả thật số lượng tác phẩm loại này chưa nhiều.

Nhớ lại, mỗi lần hoàn thành một tác phẩm, niềm hân hoan về việc vượt qua mọi nỗi khó khăn chồng chất của ê-kíp làm phim, dường như là âm hưởng nổi bật lên, lấn át tất cả. Cho nên không lạ là chỉ có rất ít, thậm chí không còn thời gian và không gian cho giới phê bình và sáng tác điện ảnh suy ngẫm về các mặt chất lượng của sáng tác chuyển thể. Hầu như chẳng ai nhận ra độ chênh rất đáng kể về tâm thế sáng tác giữa tác phẩm gốc và tác phẩm chuyển thể.

Sự thể là hầu hết những tác phẩm văn học kể trên đều xuất hiện trước khi có chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đều được giới nghiên cứu văn học định danh là thuộc dòng văn học hiện thực phê phán; trong khi đó, các bộ phim làm theo các tác phẩm hoặc nhóm tác phẩm ấy, đều được thực hiện bởi các nghệ sĩ và đơn vị nghệ thuật công lập, sáng tác trong tôn chỉ của văn nghệ xã hội chủ nghĩa. Vậy thì những nghệ sĩ (những người viết kịch bản, đạo diễn, diễn viên) sáng tác theo khuynh hướng XHCN này sẽ xử lý ra sao khi chuyển thể lên màn ảnh cái thể giới nghệ thuật vốn được mô tả trong ngôn từ nghệ thuật theo tâm thế tả thực phê phán kia? Điều này hầu như chưa hề được giải đáp sau khi các sáng tác chuyển thể kể trên được hoàn tất, rồi được công chiếu cho công chúng.

Tôi biết, trong giới làm nghệ thuật, cũng như giới viết văn, sẽ có người nói: tôi (hoặc “chúng tôi”) theo hiện thực XHCN là trên định hướng chung thôi, còn trong sáng tác thì linh hoạt lắm! Lại có người, sau chứ không phải trước thời điểm đổi mới (lấy mốc là những năm 1986-88), nói hùng hồn: tôi chưa bao giờ làm theo hiện thực XHCN!

Song, đối với các sáng tác thì cần xem xét trong cơ cấu nghệ thuật chứ không phải ở lời tuyên bố của những người làm ra tác phẩm.

Hiện thực phê phán là khuynh hướng có độ phổ biến ở văn chương toàn thế giới; người ta kể được rất nhiều tên tuổi xuất chúng thuộc trào lưu này, thử tạm kể, chẳng hạn, Thackeray và Dickens ở Anh, Balzac và Flaubert ở Pháp, L. Tolstoi, F. Dostoievsky, A. Chekhov ở Nga, v.v… Nét riêng, độc đáo ở văn phẩm hiện thực phê phán là vạch ra những khuyết tật của con người và xã hội đương thời, mô tả sống động cuộc đời thực tại trong tính vấn đề, trong sự xung đột đầy nguy cơ của nó, nêu ra những ung nhọt tật bệnh ở các quan hệ con người và xã hội. Và tất cả hứng thú sáng tạo của họ, có thể nói, tựu trung là chỉ làm như thế thôi. Nói như Nguyễn Tuân (1957) khi viết về Anton Chekhov, nhà văn hiện thực phê phán chỉ “bắt mạch, chẩn bệnh, chứ không kê đơn, bốc thuốc”. Vượt ra ngoài khuôn khổ của “thi pháp” đó sẽ không còn là nhà văn hiện thực phê phán nữa.

Vũ Trọng Phụng từng tuyên bố chỉ viết sự thực, tức là ông đã tự xác định mình là nhà văn hiện thực phê phán thuần thành. Giới nghiên cứu trước sau đều nhận định nhà văn này như một cây bút tả thực sắc sảo, vạch ra những hiện trạng và vấn đề cấp bách nhất trong các quan hệ xã hội và con người ở thời đại ông, thời bắt đầu xảy ra hiện tượng đô thị hóa, hiện tượng di cư nhập cư ở Việt Nam.

Nhìn vào ba tác phẩm được khai thác để phóng tác série phim “Trò đời” đã thấy rõ chất tả thực phê phán ấy.

“Kỹ nghệ lấy Tây” (đăng báo 1934) là thiên phóng sự dài, mô tả những mối quan hệ mà thông thường vẫn được gọi là sự hôn nhân, giữa những phụ nữ bản xứ Việt với những anh lính Tây viễn chinh đồn trú tại xứ này. Giống như hôn nhân nhưng không đáng gọi thế, là vì nó không đáp ứng tình yêu, cũng không nhằm sinh con – những mục đích vốn có của hôn nhân – mà chỉ là phương cách đáp ứng nhu cầu tình dục, ở phía những anh lính viễn chinh, hoặc đáp ứng phương tiện kiếm sống, tức là kiếm tiền, ở phía những phụ nữ bản xứ. Lấy Tây, vì vậy, trở thành một nghề nghiệp, một kỹ nghệ. Mô tả sinh động hiện trạng của thứ “kỹ nghệ” ấy, Vũ Trọng Phụng trở thành một trong những cây bút sớm phát hiện ra một trong những nét méo mó phi nhân, hậu quả của thời đại viễn chinh thực dân, báo trước những hậu quả tương lai của sự di dân, nhập cư. Không phải ngẫu nhiên nhà báo Phùng Tất Đắc, ngay từ đầu, đã xem tác phẩm này như một trong những “công trình có ảnh hưởng xa rộng, … giúp được tài liệu cho đời sau khảo xét về buổi này”.

“Cơm thầy cơm cô” (đăng báo 1936) cũng là một phóng sự mô tả hiện tượng những người dân thôn quê tìm ra đô thị do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, con sen thằng ở, thằng bồi thằng xe, bị bóc lột sức lực, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây ra bởi sự di dân, sự nhập cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa.

“Số đỏ” (đăng báo 1936-37) là tiểu thuyết viết về một góc xã hội Hà thành những năm 1930s đang nhộn nhịp trong xu trào “Âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung”. Cuốn truyện này dễ đọc, dễ gây thích thú nhưng lại không dễ nhận ra những chiều kích bề sâu. Đã và sẽ có những người đọc cảm thấy dường như cái xã hội và những con người đang sống mà như diễn những trò nhố nhăng kia, đã bị tác giả “Số đỏ” đả kích mãnh liệt, châm biếm sâu cay. Nhưng, như nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến từng chỉ rõ (1989), nhà văn Vũ Trọng Phụng ở “Số đỏ” đã tạo ra cả một xã hội hài hước, trong đó nhất cử nhất động nhân vật nào cũng đều khôi hài, lố bịch, từ “em chã” đến cụ cố tổ, từ trí thức đến bình dân, từ nhà sư đến cảnh sát, cả đến mấy người thợ hay vài đứa ở, con sen. Ấy là một thế giới được nhìn từ góc nhìn hoạt kê, trào phúng. Tác giả phê phán cả một loạt thói rởm tật xấu có thể trở nên phổ quát ở mọi chế độ xã hội: cấp tiến rởm, bình dân rởm, trí thức rởm, nghệ thuật rởm, khoa học rởm, hàm tước rởm, bằng sắc rởm…

Tóm lại, thế giới nghệ thuật Vũ Trọng Phụng là thế giới với những nét phi nhân, phản xã hội, nơi nhân phẩm bị tha hóa, nơi cuộc sống chỉ bày ra những cái xấu xa, đáng phê phán. Không phải là nhà văn họ Vũ không nhìn thấy một đôi chấm sáng trong cuộc sống và con người đương thời, nhưng trong bút pháp  một nhà văn tả thực phê phán như ông, đó chỉ là đôi nét vẽ hiếm hoi, không đặc trưng. Ở cả ba tác phẩm kể trên, không hề thấy những nét vẽ lạc ấy.

Ta hãy xem, trong série phim truyền hình “Trò đời”, cái thế giới nghệ thuật (như đã nhận xét ở trên) của Vũ Trọng Phụng, được xử lý ra sao.

Thật ra, qua những mẫu mực điện ảnh thế giới, ta biết rằng, chỉ có tái tạo theo đúng nguyên bản từng tác phẩm gốc, thì đó mới là hoạt động chuyển thể nghiêm túc, thể hiện sự tôn vinh thật sự của các nhà điện ảnh đối với tác gia và tác phẩm văn học có giá trị kinh điển.

Nhưng nhóm tác giả “Trò đời” không chọn chuyển thể nguyên vẹn một tác phẩm nào của Vũ Trọng Phụng. Thế tức là họ coi Vũ Trọng Phụng cũng chỉ như bất cứ người viết truyện nào, có một số tác phẩm tiện thể cho họ thì họ sử dụng, thế thôi. Họ chọn lối phóng tác, tức là đã tự cho mình rất nhiều quyền năng “linh hoạt” đối với các tác phẩm gốc, kể cả việc gạt bỏ hàng loạt yếu tố vốn có của nó!

Các thuộc tính văn chương đặc sắc trong mấy tác phẩm ấy, ví dụ hiện tượng “nói tiếng Tây bồi” ở người Việt và “nói tiếng Việt bồi” ở người Tây – trong “Kỹ nghệ lấy Tây” –  đã gần như bị bỏ qua. Khó khăn hơn nhiều, chính là cái thế giới của “Số đỏ” vốn được kể ra bằng khá nhiều giọng kể, nhiều cái nhìn khác nhau, và do chỗ là thế giới được dệt bằng ngôn từ, có thể khiến mỗi người đọc hình dung một cách khác nhau; sang thế giới của điện ảnh, của hình ảnh động, nó buộc những người sáng tác phải “định hình” trong một dạng thức duy nhất, một cách đầy tính độc đoán, đã thế này thì không thể thế khác. Ngay đối với những yếu tố siêu ngôn từ như cốt truyện, nhân vật, diễn biến…, những người phóng tác cũng tự mình soạn mới một câu chuyện, vừa dựa vào Vũ Trọng Phụng lại vừa tùy ý thêm thắt, sửa đổi ông.

Người viết những dòng này không định tham dự bàn luận về sự hay dở của série phim “Trò đời”, cũng không định khen chê tài năng đạo diễn hay diễn xuất. Tôi chỉ quan tâm đến việc, cái thế giới nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng, với tư cách một di sản sáng tạo của người xưa, đã được người ta dựng lại trong điện ảnh với những đặc tính nghệ thuật vốn có của nó, – như ứng xử quen biết của hầu hết các nhà điện ảnh thế giới đối với các kiệt tác văn học – hay đã làm sai lạc nó?

Ba tác phẩm của Vũ Trọng Phụng vốn là ba câu chuyện tách rời nhau. Các tác giả “Trò đời” đã gắn nối chúng thành một câu chuyện duy nhất. “Kỹ nghệ lấy Tây” chỉ cung cấp cho họ một me Kiểm, rồi me Kiểm lại được họ chuyển hóa thành bà Phó Đoan của “Số đỏ”, – chính tiểu thuyết này mới được mượn nhiều nhất để dàn thành câu chuyện chính cho “Trò đời”. Trong khi đó, “Cơm thầy cơm cô” chỉ cung cấp cho “Trò đời” một con sen Đũi, một tay nhà báo và vài góc chợ mua bán người.

Ở những phần série “Trò đời” khai thác lại “Số đỏ”, có lẽ không có gì nhiều để bàn luận, tuy từng sắc thái, từng tiết đoạn, từng nhân vật có rất nhiều điều để bàn, hoặc đơn giản là để lắc đầu hay gật đầu, nếu muốn so phiên bản điện ảnh với nguyên gốc văn chương. Có vẻ như khi nào các nhà điện ảnh dựa sát vào nhà văn, diện mạo cái xã hội thị dân đang nhảy nhót diễn trò cười bỗng trở nên sinh động hơn hẳn các đoạn khác.

Thế nhưng các nhà điện ảnh chừng như không muốn theo sát gót nhà văn họ Vũ; chừng như họ muốn chứng tỏ có cái gì đó “ưu việt” hơn, tầm nhìn xa hơn, và cũng bởi đây là phóng tác chứ không phải chuyển thể, nên họ có quyền làm mới lại – theo cách riêng – cái thế giới nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng.

Một nhóm nhân vật và sự việc được thêm thắt vào để thực hiện điều này. Con sen Đũi chỉ chiếm chừng vài ba ngàn chữ trong phóng sự Vũ Trọng Phụng, được các nhà làm phim chi tiết hóa lên gấp nhiều lần, thêm vai ông bố vì mua chức phó lý nên mất nhà mất ruộng, phải cho con đi ở, và chính ông cũng phải ra Hà thành làm phu xe rồi chết vì bệnh lao. Cạnh ông là vai người làm công cũ, đứa con rể tương lai, một bạn diễn trung thành. Cùng với Đũi, vai “tôi” nhà báo của thế giới “Cơm thầy cơm cô” cũng được dựng dõi thành một nhân vật chính, không chỉ quan sát, chứng kiến mọi sự mọi việc mà còn can thiệp, gắn nối, cứu cấp, phán xét…

Trong cách xử lý của các tác giả “Trò đời”, con sen Đũi trải qua một tiến trình gồm hai đoạn. Đoạn đầu, bị chà đạp, bị tha hóa, dùng các thủ đoạn lưu manh đáp trả những kẻ chà đạp hoặc lạm dụng mình, để tồn tại; chịu khó học nghề rồi làm nghề, lại may mắn gặp người tốt trong đám quan viên nghe hát, Đũi làm nên cơ nghiệp, thành cô đào Mộng Đài, thành bà chủ ca lâu. Đoạn thứ hai, khi đã thành đạt, đã giàu có, cô đào Mộng Đài đền ơn trả oán, rồi trở về làng, mua lại cơ ngơi cũ của cha mẹ, lại mua cho người yêu một chức phó lý…

Con đường hoàn lương của con sen Đũi được các tác giả ngầm đem đối sánh với con đường của Xuân Tóc Đỏ, khi chút thiên lương của chàng ma cô đô thị này cứ lần lần bị đánh mất trong thế giới thị dân.

Không khó để thấy mảng đời con sen Đũi, nhất là đoạn đền ơn trả oán và hoàn lương, là không hề có gì tương hợp với thế giới nghệ thuật Vũ Trọng Phụng, càng không thể có gì giống với đặc tính của bút pháp ông.

Nếu có thể đem định tính kiểu miêu tả mảng đời này trong nghệ thuật, chỉ có thể gọi đó là lãng mạn, nhưng không phải cái lãng mạn từng có ở các văn phẩm Tự Lực văn đoàn. Chỉ có thể gọi đó là kiểu lãng mạn mà đôi khi người ta gọi là “lãng mạn cách mạng”. Về nội hàm khái niệm, chất “lãng mạn cách mạng” này, theo cách định danh thời Diên An của Mao Trạch Đông, nó gần như đồng nghĩa với thuật ngữ “hiện thực xã hội chủ nghĩa” từng được các đồng nghiệp của M. Gorky nêu ra và được Stalin chấp thuận, nhằm xác định tôn chỉ sáng tác của nền văn học Xô-viết (1917-1991).

Vậy là, nói gọn lại, các nhà làm phim “Trò đời” đã mang kiểu sáng tác hiện thực XHCN vào để sửa đổi sáng tác hiện thực phê phán của Vũ Trọng Phụng.

Việc đưa vai nhà văn Phan Vũ vào phim “Trò đời” càng làm rõ thêm đường hướng sửa đổi vừa kể.

Ở các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, vai trò cái tôi của nhà văn là khá khiêm nhường, dù có lúc xuất hiện chút ít, như một nhân vật phụ trong truyện, nhưng thông thường chỉ như vị trí kẻ quan sát đứng bên lề trang sách. Trái hẳn lại, chàng nhà văn Phan Vũ ở phim “Trò đời”, là kẻ quá tự tin, lại đầy quyền năng, có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Nói không quá, vai nhà văn Phan Vũ ở đây, một cách vô thức, dường như là sự mô tả vai trò người cán bộ tuyên huấn của những thập niên 1960-80. Đây lại là một dấu hiệu nữa, cho thấy các tác giả phim “Trò đời” đã mang kiểu sáng tác hiện thực XHCN vào để sửa đổi các tác phẩm Vũ Trọng Phụng.

Công chúng và dư luận có thể đánh giá khác nhau về điều hay lẽ dở của cách làm kể trên.

Đứng về phương diện coi các tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng như một di sản cần được tôn trọng với những phẩm chất và đặc tính vốn của nó chứ không phải bằng cách làm mới nó, tôi cho là cách xử lý trên đây của các tác giả phim “Trò đời” là một sự bóp méo, xuyên tạc đặc tính nghệ thuật Vũ Trọng Phụng chứ không phải một sự tôn vinh thực sự.

Nếu liên tưởng đến nền điện ảnh Nga thời Xô-viết, có thể nêu câu hỏi: vì sao ngay trong thời Xô-viết, khi hiện thực XHCN gần như là một thứ pháp lệnh trong hoạt động nghệ thuật, vậy mà các nghệ sĩ của họ vẫn dám chuyển thể đúng phẩm chất những tác phẩm cổ điển thời trước, của L. Tolstoi, của F. Dostoievsky, v.v…; còn ở Việt Nam, đến thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, các nghệ sĩ điện ảnh vẫn cứ tự cho phép mình đưa những sửa đổi khá căn bản vào các tác phẩm của nhà văn hiện thực phê phán quá khứ, làm biến đổi hẳn tính chất, phẩm chất vốn có của nó?

Cách làm của các tác giả phim “Trò đời” khiến ta buộc phải nghĩ tới những kiểu “trùng tu” các di tích đền chùa gần đây, theo đó, thay vì thận trọng giữ nguyên đến mức tối đa những gì vốn có ở di sản, người ta lại chọn cách tệ nhất nhưng dễ nhất là phá đi rồi làm mới lại!

Chỉ tiếc là, không ít nhà báo, cách nay chưa lâu, từng đồng lòng tố giác kịp thời việc “phá dỡ để làm mới”, chẳng hạn, di tích chùa Trăm Gian, giờ đây lại lên tiếng khen ngợi những xử lý tương tự như thế, trong lĩnh vực điện ảnh, với phim “Trò đời”!

30/11/2013

LẠI NGUYÊN ÂN

● Đã đăng: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Xuân Giáp Ngọ, s.5&6-2014 (30.01.2014), tr. 62-64.