Trang chủ » 2015 » Tháng Bảy

Monthly Archives: Tháng Bảy 2015

PHAN KHÔI VÀ NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN VỀ “TRUYỆN KIỀU” NHỮNG NĂM 1920-1930

 

Lại Nguyên Ân

 

Những năm 1920-1930, trên báo chí ở ba miền Việt Nam đã nổ ra khá nhiều cuộc tranh luận xung quanh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Một số công trình nghiên cứu và tư liệu nhiều năm qua đã đề cập đến những tranh luận ấy. (1) Tuy vậy, một phần do quan điểm nghiên cứu, một phần do những thiếu hụt đáng kể về nguồn tài liệu, không ít dữ kiện đã bị bỏ sót, sự đánh giá không hiếm khi bị thiên lệch.

Một điều dễ thấy nhất là, hầu như chưa công trình nghiên cứu nào ghi nhận đầy đủ vai trò học giả-nhà báo Phan Khôi (1887-1959) trong những cuộc tranh luận ấy.

Người viết những dòng này, từ năm 2000 đến nay đã giành thời gian tìm hiểu và sưu tầm để tái công bố một cách hệ thống các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, (2) nhận thấy rằng, Phan Khôi đã có vai trò rất đáng kể trong các cuộc tranh luận kể trên.

Dưới đây xin điểm lại những cuộc thảo luận, tranh luận ấy.

Vào năm 1924, Hội Khai trí tiến đức (thành lập 2/5/1919, tên tiếng Pháp:  Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, viết tắt AFIMA, một hiệp hội dân sự, thành viên là những trí thức, quan chức người Việt, và cả một số người Pháp; hội nhằm tới những hoạt động giao lưu văn hóa giữa xu hướng Tây học đang mạnh lên và nền học thuật truyền thống Việt Nam) chủ trương một lễ kỷ niệm tôn vinh thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” rất phổ cập trong cộng đồng người Việt.

Lễ kỷ niệm được tổ chức nhân ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, nhằm ngày 10 tháng 8 năm Giáp Tý (tức ngày 8/9/1924) tại hội quán Khai trí tiến đức, trên bờ hồ Gươm, Hà Nội. Tại lễ kỷ niệm này, tổng thư ký Khai trí tiến đức đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Nam phong” là Phạm Quỳnh (1892-1945) đọc diễn văn tôn vinh thiên tài Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Hiện tượng dân Việt, từ người học thức cao đến kẻ lam lũ, già trẻ lớn bé, ai ai cũng biết cũng thuộc cũng kể cũng ngâm Kiều, − được diễn giả ghi nhận như cái công “tác thành cho tiếng nước nhà” của Nguyễn Tiên Điền; từ đây diễn giả cho Truyện Kiều là “quốc hoa, quốc túy, quốc hồn” của nước Việt; “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”…

Tinh thần bài diễn văn của Phạm Quỳnh là nhất quán với chủ trương của ông và của nhiều trí thức người Việt đương thời: đặt niềm tin sự phát triển văn hóa dân tộc từ nay về sau vào văn quốc ngữ, vào chữ quốc ngữ, tuy là văn tự chỉ mới được phổ biến dăm ba chục năm, nhưng lại gắn với tiếng nói từ xa xưa đến hiện tại của người bản ngữ ở Việt Nam. Trong một ý hướng như thế, việc chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du làm điểm tựa trong truyền thống hầu như là lựa chọn tối ưu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác giả đương thời như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, v.v., vào dịp đó đều có những việc làm góp phần phổ biến Truyện Kiều, những bài viết đề cao giá trị Truyện Kiều.

Tuy nhiên, đó không phải là thái độ duy nhất trong dư luận xã hội Việt Nam, khi ấy đã là một xã hội dân sự khá phát triển; hầu hết các vấn đề văn hóa xã hội (trừ một vài đề tài chính trị quá nhạy cảm như tuyên truyền cộng sản, đả kích thực dân Pháp) đều có thể được đưa ra tranh cãi, các ý kiến khác nhau đều có thể được bày tỏ, với diễn đàn là các cơ quan báo chí khác nhau, phần lớn là của các nhóm tư nhân, dân sự.

Chính trong không khí ấy đã xuất hiện bài báo tỏ rõ một thái độ ngược hẳn lại với loại thái độ kể trên. Ấy là bài viết của Tiến sĩ Nho học Ngô Đức Kế (1878-1929) nhan đề “Luận về chính học cùng tà thuyết. Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” (“Hữu thanh”, H., s. 21, ngày 1/9/1924; bán nguyệt san “Hữu thanh”, 1921-24, là cơ quan của Hội ái hữu công thương Bắc Kỳ, lúc này do Ngô Đức Kế làm chủ bút).

Phương pháp luận then chốt của tác giả Ngô Đức Kế là đem nhuộm màu chính/tà cho hoạt động học thuật mỗi thời đại; “hễ nước nào khi vận nước thịnh cường tất khi ấy trong nước chính học sáng rệt; nước nào khi vận suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành”. Vận dụng vào xã hội Việt Nam, Ngô Đức Kế cho rằng đến lúc này người Việt vẫn còn chưa nắm vững được nền “Âu học”, trong khi những “chân nho chính sĩ Hán học thì đã quá nửa mòn mỏi điêu linh”, tóm lại nền “chính học” đang sa sút, – đó chính là cơ hội cho “tà thuyết” lưu hành, mà việc đề cao Truyện Kiều, theo ông, chính là biểu hiện rõ rệt nhất!

Ngô Đức Kế hoài nghi giá trị bản “Kim Vân Kiều” gốc Trung Hoa, cho rằng ngay đặt nhan đề truyện đã không ổn, “càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một một anh Tàu dốt nào đó mà thôi”; còn “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du, ông Nghè Ngô công nhận đó là áng văn chương quốc âm “hay thật”, nhưng ông không quên nhắc: đó chỉ là một truyện phong tình, không thể tránh khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, tóm lại chỉ là thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời “chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học mà đem ra dạy đời được đâu”! Tất cả những sự trân trọng, tôn vinh mà Phạm Quỳnh giành cho Truyện Kiều ở lễ kỷ niệm tại Khai trí tiến đức, dưới mắt Ngô Đức Kế đều là tà thuyết “xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng”, mê hoặc dân chúng!

          Việc Ngô Đức Kế lên tiếng hạ thấp giá trị Truyện Kiều không chỉ có căn cứ từ quan niệm nhà nho, đề cao văn chương đạo lý, hạ thấp văn chương ngâm vịnh chơi bời; phát ngôn của Ngô Đức Kế chống phong trào sùng bái Truyện Kiều còn bộc lộ một tương quan đối nghịch giữa hai bộ phận kẻ sĩ trí thức người Việt đương thời, một bộ phận hợp tác với chính quyền thực dân, một bộ phận khác thì bất hợp tác với chính quyền ấy, công kích tất cả những ai hợp tác với chính quyền thực dân, những ai tham dự các hoạt động văn hóa được chính quyền thực dân bảo trợ. Tạp chí “Nam phong” hay Hội khai trí tiến đức và các hoạt động của hội này, trong mắt những sĩ phu bất hợp tác với thực dân, đều là công cụ, đều phục vụ những mục đích của thực dân, do đó, họ đều tìm cách tẩy chay, bất hợp tác.

          Mặc dù trong tay có tạp chí “Nam phong”, nhưng Phạm Quỳnh đã im lặng trước sự đả kích của Ngô Đức Kế.

          Phan Khôi thời gian đó (1920-24) cũng đang ở Hà Nội nhưng hầu như không viết báo mà dành thời gian cộng tác với vợ chồng mục sư W.C. Cadman dịch Kinh Thánh đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt.

Mấy năm sau Phan Khôi vào Sài Gòn, cộng tác với một số tờ báo ở thành phố này, trong đó có tuần báo “Phụ nữ tân văn” (1929-1935); tại đây, ông và Đào Trinh Nhất được xem như hai người chèo lái chính cho tòa soạn tờ báo này, nhất là mấy năm đầu. Trong số rất nhiều bài báo Phan Khôi viết và đăng trên tuần báo này, có những bài ông điểm bình cuốn “Nho giáo” mới ra mắt của Trần Trọng Kim, trao đổi với tác giả chuyên khảo này về các vấn đề Nho giáo. (3) Việc Trần Trọng Kim nhã nhặn đáp lại Phan Khôi và thảo luận về các vấn đề ông nêu ra, đã khiến Phan Khôi nghĩ tới những yêu cầu thuộc phương diện “học phong sĩ tập” của giới trí thức, theo đó, các chất vấn nêu ra trước các nhận định đã có, cần phải được đáp lại, để đẩy học thuật đi tới; những kiểu im lặng trước các ý kiến chất vấn, như việc Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế hồi 1924, theo Phan Khôi, là việc không thỏa đáng, không thể chấp nhận; ông gọi đó là thói “học phiệt” (liên hệ tình trạng cát cứ của các tay “quân phiệt” trên đất Trung Hoa đương thời) và lên tiếng cảnh cáo trước dư luận (Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh: Cảnh cáo các nhà “học phiệt” // “Phụ nữ tân văn”, S.G., s. 62, ngày 24/7/1930; “Trung lập”, S.G., 26/7; 28/7; 29/7; 30/7/1930).

          Chính bài báo của Phan Khôi đã khiến ông chủ nhiệm “Nam phong” phải lên tiếng, ít ra là để giải thích lý do đã im lặng hồi 1924 trước lời phê phán của Ngô Đức Kế. Đến lượt bài trả lời này của Phạm Quỳnh lại khiến ông chủ nhiệm báo “Tiếng dân” (1927-1943) là Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) lên tiếng với lý do cần “chiêu tuyết” cho ông nghè Ngô Đức Kế vừa quá cố, vì cho rằng lời giải thích của Phạm Quỳnh có những chỗ xúc phạm ông nghè Ngô. (4) Rồi Phan Khôi cũng lên tiếng thêm mấy lần, khi thì đáp lại các ý kiến, các lập luận trong bài của Phạm Quỳnh, lúc lại góp ý với Huỳnh Thúc Kháng về những chỗ ông này hoặc thiên vị Nghè Ngô, hoặc xoi mói họ Phạm, (5) − những sự chấn chỉnh mà Phan Khôi từng cho là cần thiết trong thảo luận, tranh luận, bút chiến. (6)

          Những ý kiến và bài báo kể trên, tuy đều xa gần gắn với sự kiện tôn vinh Nguyễn Du và Truyện Kiều hồi mùa thu năm 1924 của Khai Trí tiến đức và Phạm Quỳnh, song nội dung các ý kiến ấy đã tiến triển sang nhiều hướng khác, nhiều đề tài khác, có khi không dính gì đến Truyện Kiều nữa.

          Phạm Quỳnh cho rằng đối với “một nền văn chương kiệt tác” như Truyện Kiều thì phải “đứng về phương diện văn chương mà xét”, nhưng họ Ngô hồi đó lại đứng về phương diện đạo đức, mà lại là cái đạo đức hẹp hòi, thì lập luận thiên đi, không còn là một vấn đề văn chương học thuật nữa.

          Trong khi đó, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục dùng quan niệm đạo đức để công kích việc phổ biến Truyện Kiều vào công chúng: “Sau nầy tôi xin chánh cáo cho anh em trí thứ trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải thứ sách học; mà nói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại”. Theo ông, từ khi Truyện Kiều được tán dương, − ý chỉ thời điểm 1924 với lễ kỷ niệm Nguyễn Du do hội Khai trí tiến đức tổ chức − “đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình”!

          Phan Khôi trước sau thừa nhận ý nghĩa chính đáng của việc Ngô Đức Kế nêu vấn đề “chính học – tà thuyết”, “là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập”, do vậy, Phan Khôi cũng thừa nhận sự chính đáng của việc Huỳnh Thúc Kháng lên tiếng bênh vực Ngô Đức Kế, sau khi đọc những lời Phạm Quỳnh giải thích chuyện cố ý im lặng dăm năm trước. Tuy vậy, Phan Khôi không đồng tình với việc Huỳnh Thúc Kháng mạt sát Truyện Kiều và lên án những ai tán dương Truyện Kiều.

          Phan Khôi nêu ra một tiền đề mới về quan niệm có thể dùng để xem xét vấn đề:

    “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiêu biểu rằng: Nghệ thuật vì nhân sanh (l’ art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại, nói rằng: Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’ art pour l’ art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.” (7)

          Phan Khôi viết ý kiến này vào năm 1930. Vậy những ai quan tâm khía cạnh “kỷ lục” của việc đưa các luận thuyết mới từ bên ngoài vào Việt Nam, phải chăng nên ghi nhận ông mới là người sớm nói đến các thuyết nghệ thuật vị nhân sinh và nghệ thuật vị nghệ thuật trên báo chí Việt Nam, sớm hơn hẳn những tên tuổi vẫn thường được gắn cho cái công trạng du nhập lần đầu các lý thuyết này, mặc dù họ sẽ lên tiếng muộn hơn Phan Khôi dăm bảy năm?!

          Vận dụng quan niệm lý thuyết kể trên, Phan Khôi cho rằng:

    “Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không; nếu vậy thì đáng công kích thật; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.” (7)

    Về việc Huỳnh Thúc Kháng lo sợ sự phổ biến Truyện Kiều sẽ có hại cho phong hóa, Phan Khôi xếp mối lo của họ Huỳnh vào cùng với mối lo của những nho gia Trung Hoa xưa như Hàn Dũ, Tăng Củng, “lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm”. Cái ý ấy là tốt nhưng lại không hợp trào lưu văn học của thế giới ngày nay. Tóm lại, theo Phan Khôi: “Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi”. (7)

 Việc họ Huỳnh cho rằng phong trào tán dương Truyện Kiều đã khiến nhiều lớp thanh niên vì say mê tình ái mà dứt bỏ cả nền nếp gia đình lẫn trật tự xã hội, Phan Khôi nói ông chưa dám tin. Ông đề nghị họ Huỳnh thực hiện những thống kê về tình hình tội ác trước và sau thời điểm đó thì nhận định của họ Huỳnh mới có thể tin được!

          Những biện bác như trên của Phan Khôi, tất nhiên chưa thể lay chuyển được một nhà nho thâm sâu đạo Khổng như Huỳnh Thúc Kháng. Vả chăng, đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du, đương thời những năm 1930, những người công khai tỏ rõ thái độ hạ thấp và phản đối việc phổ biến Truyện Kiều không chỉ là giới nhà nho như Huỳnh Thúc Kháng hay Võ Liêm Sơn, Nguyễn Mạnh Bổng, v.v. Dư luận công chúng xung quanh kiệt tác này của Nguyễn Du vẫn phân tán trong một phổ rộng từ thích đến không thích; không hiếm khi, sự yêu thích những vần thơ giản dị đã nhập tâm, bỗng chao đảo khi người ta bị đặt trước những câu hỏi về đạo đức nhân vật nữ chính của tác phẩm. (8)

Nhưng, khác với giới nhà nho, thế hệ nhà văn xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt và bước vào làng văn làng báo bằng văn chương quốc ngữ, sẽ ngày càng thấy gắn bó nhiều hơn với văn chương Truyện Kiều.

Lưu Trọng Lư là một trong số họ.

Năm 1933, khi Phan Khôi đang làm chủ bút tuần san “Phụ nữ thời đàm” ở Hà Nội, ông đã đăng khá nhiều cho tác giả trẻ Lưu Trọng Lư, bên cạnh sáng tác văn thơ, còn có cả thiên tiểu luận “Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều” (“Phụ nữ thời đàm”, H., s. 13, ngày 10/12/1933), công kích thái độ của Huỳnh Thúc Kháng trong chùm thơ “Vịnh Kiều” (“Tiếng dân”, 1/11/1933). Điều làm Lưu Trọng Lư ngạc nhiên là cuộc đời chí sĩ họ Huỳnh gian lao không kém cuộc đời cô Kiều trong truyện, thế mà họ Huỳnh lại là người sỉ mắng nữ nhân vật kia tàn nhẫn hơn ai hết! Điểm qua cuộc đời Kiều như một nhân vật sống thật, Lưu Trọng Lư như là muốn gửi lời khuyên can tới nho sĩ họ Huỳnh: “Nói tóm lại, muốn xét thân thế Kiều, chớ đứng hẳn trong những lễ giáo nghiêm ngặt chật hẹp của nho giáo…”.

Lời phê bình của Lưu Trọng Lư được chủ nhiệm “Tiếng dân” đáp lại bằng một nụ cười: đối với ông, đây chẳng qua là cơn mê của người mê tiểu thuyết, tựa như kiểu người mê tuồng hát, thế thôi. (“Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát”. Thuyết chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều của ông Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép đóng vai Tần Cối. // “Tiếng dân”, 24/1/1934).

Nhưng Phan Khôi thì nghĩ khác.

Gần như ngay sau khi cho đăng bài của Lưu Trọng Lư, chủ bút Phan Khôi đưa đăng tiếp bài của chính mình (“Rìu búa của nhà nho” // Phụ nữ thời đàm, H., s. 17, ngày 7/1/1934). Ông cho rằng việc “chiêu tuyết” hay là phê bình nhân vật trong truyện chỉ là thủ thuật “giá đó mà đánh chỗ khác”; chỗ khác ấy, theo ông, Lưu Trọng Lư nhắm vào cái tâm thuật, cái tâm địa của cả một giới người mà họ Huỳnh chỉ là một. Những sự “tàn nhẫn” thể hiện trong thơ vịnh Kiều của họ Huỳnh, được Lưu Trọng Lư nhận định: “Cái lòng người ta có là sắt đá lắm mới thở ra cái giọng tàn nhẫn như thế được…”, và: “Chỉ có những người nhác nhớn, buồn rầu, bi quan mới hay ghen ghét quạu quọ…” – Nhận định này, Phan Khôi cho rằng họ Lưu nhắm vào giới nhà nho. Phan Khôi đồng tình với ý kiến này. Bài của ông sẽ phát triển nhận định ấy.

Tất nhiên là điều này đã ít nhiều đi ra ngoài giới hạn của việc bình luận Truyện Kiều, nhưng lại là việc truy tìm cái căn cứ, cái cơ sở của việc, một bộ phận nhà nho, nối tiếp nhau, muốn phủ định giá trị của kiệt tác này, muốn dứt bỏ nó khỏi sự đọc sự biết của công chúng.

Phan Khôi vạch rõ: từ xưa giới nhà nho đã xem việc Khổng Tử làm kinh Xuân thu như là việc thưởng phạt, “bao phong người hoặc tru lục người”, “dùng một chữ mà nhấc một ông quan nhỏ lên, cũng dùng một chữ mà hạ một ông vua chư hầu xuống”, nhân danh “phù trì cương thường luân lý, bồi thực thế đạo nhân tâm”; nói khác đi, là diễn ngôn quyền lực được trao cho giới nhà nho, do hệ quả của việc tầng lớp quân chủ chuyên chế đã lấy nho giáo làm quốc giáo, dùng dư luận của giới nho sĩ làm công cụ hỗ trợ cho nền “đức trị” của vua chúa. Phan Khôi nêu ra những sự việc giới nho sĩ các đời sau, theo gương Khổng Tử, dùng khen chê để thưởng phạt, nhưng nhà nho không bao giờ khen ai, chỉ có trách phạt thôi, mà ví dụ sớm nhất là việc Mạnh Tử công kích thuyết “vị ngã” của Dương Chu là “vô quân”, thuyết “kiêm ái” của Mặc Địch là “vô phụ”, xóa bỏ được ảnh hưởng của hai thuyết ấy, bảo vệ sự độc tôn Nho giáo. Sau này, Hàn Dũ thời Đường đòi đốt sách Phật, bắt thầy tu trở về làm dân, rồi các nho sĩ thời Tống tiếp tục công việc “tịch Phật, bài Lão”, tuy không có hiệu quả gì, nhưng vẫn được giới nho sĩ tôn sùng là có công “vệ đạo”.

“Tôi đã kể qua những cái sử tích trên đó để cho biết rằng nhà nho từ Mạnh Tử về sau ai nấy đều có một cái tâm lý chung là: Không dung nạp kẻ khác với mình.  Việc họ làm có giống với đức Khổng chăng thì không biết; duy người nào đã làm cái việc như thế thì cũng vin lấy đức Khổng, mượn bửu bối của kinh Xuân thu. Kỳ thực thì cái áo hoa cổn ngài dùng để đôi khi ban thưởng cho người đời, họ đành bỏ mốc meo ra, mà chỉ chăm một sự dùng rìu búa để chặt người này, bổ trên đầu người khác. Cái tâm lý ấy thấm mỗi ngày một sâu vào đầu kẻ học, tự nhiên luyện nên cái tánh hay gây, hay đỗ cáu, không chịu “hẩu” với đời. Người ta ở đời, có thể sống một trăm cách, một nghìn cách khác nhau; nhưng theo ý nhà nho, chỉ muốn ai ai cũng sống một cách như mình. Không cần xét đến lý, cứ hễ ai sống khác mình thì ấy là dị đoan, là tà thuyết, là dâm hạnh, tương rìu búa ra mà trị nó chết đi cho rảnh! Dương, Mặc, Phật, Lão, có phải là rắn rết hại người đâu, chỉ là một cách sống, có điều sống khác với nhà nho, thế thôi, có việc gì mà phải cự, phải tịch? Cũng như nàng Kiều, một người con gái lỡ bước, có việc gì mà phải mắng? Có phải chăng, cự Dương, Mặc, tịch Phật, Lão thì mình mới trở nên á thánh đại nho, và mắng Thúy Kiều thì mới tỏ ra mình là chánh nhân quân tử?”

Vậy là rốt cuộc, Phan Khôi đã tìm ra cái cơ sở tư tưởng tâm lý của giới nhà nho trong hành động của họ công kích Truyện Kiều và những ai cổ xúy phổ biến Truyện Kiều; để bảo vệ sự độc tôn ý thức hệ nho giáo, họ cự tuyệt, hết sức công kích mọi tư tưởng, mọi lối sống khác. Ngay khi Nho giáo đã suy tàn, nhà nho vẫn cố chấp, thu mình lại trước mọi đổi thay. Họ vẫn chủ “kính”, chủ “tịnh”, quá mực thước, không thích vui mà cũng không muốn cho ai vui; họ phản đối hát bội, hát cô đầu, xi-nê-ma, nhảy đầm; kiểu người quay lưng với sự sống như vậy “thì cái lòng yêu đời phải càng ngày càng kém đi, gìn lòng thì sắt đá mà mở miệng ra thì tàn nhẫn”!

***

Như vậy, bằng một loạt bài báo, trong khoảng 4 năm (1930-1934), Phan Khôi đã can dự những tranh luận xung quanh di sản Truyện Kiều theo hướng “giải hoặc” đối với luận đề về “chính học/tà thuyết” của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và một bộ phận nhà nho còn quá gắn bó với các giáo điều đạo Khổng. Phan Khôi cảm thông với các nhà nho này về tình trạng nền học vấn mới còn yếu, nền học vấn cũ – Hán học – đã tàn, song ông không xem những hiện tượng như tôn vinh Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều là “tà thuyết” như các nhà nho ấy lo ngại và công kích. Trước những phản bác rất dai dẳng của phía bảo thủ (mà tiêu biểu là các bài luận và thơ vịnh của Huỳnh Thúc Kháng), Phan Khôi đã đưa ra những phúc đáp thực tế, có sức nặng; cuối cùng, ông đưa ra sự cắt nghĩa nguồn gốc những phản đối dai dẳng từ phía giới nhà nho đối với Truyện Kiều và việc phổ biến Truyện Kiều, – ấy là di sản của tình trạng độc tôn ý thức hệ nho giáo, chính ý thức hệ ấy đã cấp cho nhà nho cái vũ khí để họ vô hiệu hóa tất cả những gì khác với tôn chỉ nho gia, ngay khi nho giáo đã lỗi thời cũng vẫn cố chấp quay lưng với thực tế, với mọi sắc thái mới của đời sống. Việc “giải hoặc” này vốn được Phan Khôi thực hiện đối với toàn bộ di sản Nho giáo nói chung, suốt những năm 1930-40, chứ không chỉ với những tranh luận về Truyện Kiều.

Riêng về kiệt tác này của Nguyễn Du, nếu ta có dịp đọc tạp văn Phan Khôi, ta sẽ thấy ông luôn luôn coi Truyện Kiều như một tập đại thành của văn hóa người Việt, của ngôn ngữ Việt, ông thường xuyên dẫn trích tác phẩm này như một nguồn văn, nguồn di sản không gì thay thế được đối với người viết văn tiếng Việt. Nhưng đây là chuyện đã xa so với đề tài đang bàn.

28/6/2015

Chú thích

(1) Ví dụ:

Vũ Đức Phúc (1971): Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, 1930-1954. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr. 19-41;

Thanh Lãng (1972-73): Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn: Phong trào văn hóa xb., t.1- t.2;

 Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan (2002): Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. [thư mục, văn tuyển]. Hà Nội: Nxb. Lao động, t. I, tr. 371-891.

(2) Các sưu tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo [= PK, TPĐB] do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn đã tái công bố gồm:

PK, TPĐB 1928 (Nxb. Đà Nẵng, 2003, 444 tr.);

PK, TPĐB 1929 (Nxb. Đà Nẵng- TT.VH-NN Đông Tây, Hà Nội, 2005, 780 tr.);

PK, TPĐB 1930 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1024 tr.);

PK, TPĐB 1931 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1032 tr.);

Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 530 tr.);

PK, TPĐB 1932 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, 896 tr., tái bản 2014);

PK, TPĐB 1933-1934 (Nxb. Tri thức, 2013, 575 tr.);

PK, TPĐB 1935 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2013, 463 tr.);

PK, TPĐB 1936 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 600 tr.);

PK, TPĐB 1937 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 356 tr);

(3) Các bài thảo luận giữa Phan Khôi và Trần Trọng Kim gồm: 1/ Phan Khôi: Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 54 (29/5/1930); 2/ Trần Trọng Kim: Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 60 (10/7/1930); 3/ Phan Khôi: Về bài phê bình sách “Nho giáo” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 63 (31/7/1930), s. 64 (7/8/1930); 4/ Trần Trọng Kim: Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 71 (25/9/1930), s. 72 (2/10/1930), s. 74 (16/10/1930).  

(4) Gồm các bài chính: 1/ Phạm Quỳnh: Trả lời bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 67 (28/8/1930); 2/ Huỳnh Thúc Kháng: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời // Tiếng dân, Huế, s. 317 (17/9/1930); Phụ nữ tân văn, S.G., s. 72 (2/10/1930); 3/ Huỳnh Thúc Kháng: Biện chánh lại mấy lời phê bình của ông Phan Khôi // Tiếng dân, Huế, s…. (18/10/1930); đăng lại: Trung lập, S.G., s. 6284 (28/10/1930); s. 6285 (29/10/1930); s. 6289 (4/11/1930); s. 6291 (6/11/1930).

(5) Gồm các bài: Phan Khôi: Về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 70 (18/9/1930); Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng // Trung lập, S.G., s. 6266 (7/10/1930); s. 6267 (8/10/1930); s. 6268 (9/10/1930);

(6) Năm 1929 Phan Khôi có bài Bàn thêm về bút chiến, không ký tên tác giả, đăng 4 kỳ báo Thần chung, từ s. 106 (28/5/1929) đến s. 114 (6/6/1929).    

(7) Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, kỳ III // Trung lập, S.G., s. 6268 (9/10/1930)

(8) Xem các bài trả lời tòa soạn “Phụ nữ tân văn” (thời kỳ đầu, 1929) về câu hỏi “Kiều nên khen hay nên chê?”, có thể thấy sự khác biệt đáng kể giữa các ý kiến người đọc tham gia.

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY

VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU

Nhân đọc lại báo “Tiếng dân” (Huế, 1927-1943) để tìm một vài tài liệu, tôi thấy có bài sau đây, nói về việc cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn (1866-1923) bình phẩm Truyện Kiều.

Sáng tác và trứ thuật của cụ Thai Sơn mới chỉ được thấy trích trong cuốn “Thi tù tùng thoại” (1939) của Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, hoặc “Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX”  (1961) của Đặng Thai Mai (học giả Đặng Thai Mai chính là con trai cụ Thai Sơn).

Điều hơi ngạc nhiên là thời gian trước đây, dù giới nghiên cứu đã chú ý khảo sát lịch sử việc biên khảo và bình luận Truyện Kiều, song tài liệu này vẫn chưa hề được tìm ra và ghi nhận.

Bài này không phải do đích thân cụ Thai Sơn viết ra, chỉ là do một học trò của cụ là Tùng Ngư (đây là tự hoặc hiệu, chưa rõ họ tên thật) hỏi chuyện cụ, nghe cụ giảng giải thuyết minh rồi về nhà nhớ ra mà ghi lại. Tuy vậy, có thể tin rằng bài này đã ghi được một số nét thuộc quan niệm của cụ Thai Sơn về Truyện Kiều. Nếu các nhà nho ở ta xưa thường hay bàn về phương diện thơ ca của tác phẩm Truyện Kiều, thì trong buổi trò chuyện với anh học trò đã thuộc về thời đại chữ quốc ngữ này, cụ Thai Sơn lại đề cập một phương diện mà thường khi không phải sở trường nhà nho, − phương diện nghệ thuật tự sự. Cụ gọi là “văn pháp” Truyện Kiều, phiên sang hệ thuật ngữ hiện đại, có lẽ cần phải gọi là “thi pháp” hoặc “nghệ thuật” Truyện Kiều. Thiết nghĩ, những điều cụ Thai Sơn nhận xét về “văn pháp” (hay là nghệ thuật) Truyện Kiều, trong tài liệu này, đương nhiên không còn gì mới so với các quan niệm nghiên cứu của tự sự học ngày nay, song chính những luận bàn của cụ, do một học trò cụ ghi lại, cách nay 80 năm, lại cho thấy điều người ta ít biết, ít có tài liệu, ấy là quan niệm về văn tự sự ở giới nhà nho, thông qua một trong những nhà nho được xem là uyên bác và rất có ảnh hưởng trong giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX.

Để hoàn thành bản đánh máy tài liệu đăng báo này, nhất là các đoạn có chữ Hán, tôi đã được sự giúp đỡ của GS. Trần Đình Sử, của TS. Phạm Văn Ánh. Nhân đây xin tỏ lời cảm ơn.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

5/7/2015

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

 

VĂN PHÁP TRUYỆN KIỀU

TRONG CON MẮT CỤ THAI SƠN ĐẶNG NGUYÊN CẨN

 

Lâu nay kể chuyện mấy nhà tiên thời nhân vật thường hay nhắc đến các cụ Tập Xuyên, Mai Sơn, Hải Ngư, v.v. mà có một nhân vật rất quan hệ rất ảnh hưởng trong khoảng tân cựu giao thời, bạn thiết với cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ, không chỉ là bạn, tự hai cụ Phan còn xem như bậc thầy, mà ít kẻ thuật đến.

Ấy là cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn.

Cụ Thai Sơn, một nhà lão học trứ danh đất Nghệ, đỗ Phó bảng năm 1895 (Ất Vị), làm quan đến Đốc học Nghệ, đổi vào Bình Thuận. Năm 1908, cuộc dân biến, vì học trò cụ nhiều người cổ động tân học và có người em xuất dương nên cụ bị đày ra Côn Lôn; năm 1921 được tha về, vài năm sau thì cụ mất.

Đời cụ, nói Hán học thì uyên bác lão luyện, mà nói tân học thì mở mang phong khí lúc đầu tiên, nhứt là truyền bá học thuyết Khương, Lương cùng cách giáo dục Phúc-trạch Dụ-cát của người Nhật, thì cụ có công rất nhiều. Trong đám Hán học mà có tân tư tưởng, tưởng không ai không biết đến cụ.

Văn chữ Hán cụ có lưu truyền nhiều, điển nhã thâm thúy, thoát hẳn lối sáo thường, mà văn quốc ngữ cũng già dặn.

Đây có một bài của một người bạn, học trò cụ ở Nghệ gởi vào, thuật lời phê bình của cụ về Truyện Kiều, về mặt văn pháp rất là rành mạch, rõ là có con mắt xem văn đặc biệt khác với bao nhiêu nhà phê bình nhảm mà chúng ta thường thấy lâu nay. Dưới nầy là bức thư của người bạn.

TIẾNG DÂN [1*]

Thưa quý Báo,

Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sản ở đất Nghệ chúng tôi, phần đông độc giả trong tỉnh nhiều người thuộc và thích đọc. Thích, không phải sùng bái con đĩ Kiều, mà chính mê văn của cụ Nguyễn Du.

          Chính ký giả thuở 15 tuổi đã thuộc cả toàn bộ, dầu là trong có lắm điển sách Tàu mà tự mình không hiểu.

          Một điều in sâu vào não ký giả là ngày theo học với cụ Thai Sơn, từ lúc cụ làm giáo thọ phủ Hưng Nguyên cho đến ngày làm Đốc học tỉnh Nghệ, đã 4 – 5 năm, nào Hán học, nào tân học, cụ thường giảng luôn mà không nghe khi nào cụ nói đến Truyện Kiều. Ký giả nghi cụ là một người cang giới nghiêm chỉnh, không thích lối văn phong tình chăng, nên không khi nào dám giở truyện ấy ra hỏi cụ điều gì.

          Năm 1921, cụ ở Côn Lôn về, ký giả thường lại hầu chuyện. Nhân lúc ấy ngoài Bắc có phong triều kỷ niệm Truyện Kiều, tán dương Truyện Kiều một cách rất bồng bột, ký giả nhân hỏi cụ đối với văn Truyện Kiều thế nào. Khi ấy cụ mới giảng cho một bài học về văn pháp rất là rành mạch. Ký giả mới biết: Riêng về một nghề văn chương, chỉ những người đã đào luyện tinh thâm, trải mùi cay đắng trong nghề ấy mới hiểu được chỗ dụng ý sâu sắc của tác giả; còn những kẻ thấy đâu nói đó, toàn không căn để, gọi là phê bình, không khác chi là gãi ngứa ngoài giày vậy.

          Một tòa kiến trúc rất công phu và tài tình, ở trong chứa những giống gì mặc dầu, cái công và cái khéo của tay kiến trúc kia, chúng ta không đáng để mai một. Cụ Tập Xuyên trước có bài bác Truyện Kiều, cho là không phải chính học, chẳng qua vì phản niệm đối với kẻ “không biết xem văn, chỉ tán con đĩ Kiều” mà có lời quá khích ấy.

          Dưới nầy tôi xin thuật lời phê bình văn pháp Truyện Kiều của cụ Thai Sơn, một là phát xiển chỗ khổ tâm của soạn giả Truyện Kiều, hai là biết văn pháp có nhiều lối, mở đường làm văn cho người sau.

TÙNG NGƯ

Van phap TK

THUẬT LỜI ĐÀM THOẠI CỦA CỤ THAI SƠN

          Ai đã gần gũi cụ Thai Sơn, cũng biết tính cụ rất nghiêm xẵng, trong đám học trò mà có điều sai quấy thì cụ mắng ngay giữa mặt, nhưng đến khi bình luận văn chương mà động đến chỗ hứng của cụ thì cụ kéo mấy ngàn quyển sách trong bụng ra, thôi thao thao bất tuyệt, nói nghe không chán.

          Thuật chuyện đàm thoại nầy, có một điều mà ký giả không quên được là hình vóc cụ nhỏ, má cóp, miệng lớn, trông bộ hết sức xấu, chính cụ Tập Xuyên đã có câu rất thú: “Nếu ai gặp cụ Thai Sơn mà bình nhật chưa quen biết, chắc cho là người không biết chữ nhất là một, nào ai có biết cái bụng nhỏ xép kia trong chứa vô số sách và văn!”

          Xin vào đề:

          Trước hết ký giả hỏi:

          − Thưa cụ, bình nhật, tôi học với cụ đã mấy năm, cụ giảng cổ văn tân thơ nhiều mà không nghe cụ nói đến Truyện Kiều, ý kiến cụ đối với Truyện Kiều thế nào?

          − Anh hỏi chuyện con đĩ Tàu, muốn học nó sao? − Cụ trả lời có hơi gắt.

          − Dạ không, tôi muốn nói văn Nguyễn Du, văn quốc ngữ.

          −  Quốc ngữ, anh tưởng ông Nguyễn Du cũng học quốc ngữ như anh mà viết được Truyện Kiều sao? – Cụ cũng còn hơi gắt.

− Dạ gần đây nhân phong triều học quốc ngữ, người ta phê bình, giải thích Truyện Kiều nhiều, tôi muốn biết ý cụ đối với những lối tán và phê kia thế nào?

−  Tán với phê! May nhờ ông Đinh Đào có thích điển một ít, nhưng mười phần chưa được năm, còn văn pháp thì chả ai nói đến, mà văn pháp ấy học nát sách Tàu mà chưa hiểu được, lựa là phê với tán!

Giọng nói cụ gắt mà đã hơi dịu như ngày giảng học thường.

−  Thế ra cụ thục Truyện Kiều mà bạn học trò chúng tôi không biết vì không nghe cụ nói đến.

−  Mình đây thục Truyện Kiều từ thuở 13 tuổi, đến nay không quên một câu nào, nhưng ghét người đời không biết chỗ khổ tâm của tác giả, không biết văn pháp, chỉ đọc một ít câu để ve gái, nên không khi nào nói Truyện Kiều với các anh.

− Vâng, xin cụ chỉ rõ một ít về văn pháp cho nghe.

− Văn pháp nói ra thì dài lắm, từ cách kết cấu gian giá cho đến luyện tự luyện cú, luyện cuộc, cùng thứ lớp, chiếu ứng, nói sao hiểu được, nhứt là người không hiểu văn Tàu.

− Tôi có học văn Tàu, xin cụ chỉ rõ đôi chỗ.

−  Ừ, ta chỉ nói một trương đầu cho anh nghe xem:

1/ Khởi đầu. – Một truyện gì hay là một bài trường thiên, khó nhứt là khởi đầu, như bài Bình Hoài Thai Bia, [2*] của ông Hàn Dũ, khởi đầu 7 chữ    [Thiên dĩ Đường khắc tiếu kỳ đức] người ta cho là xưa nay không mấy tay danh thủ làm được; như bài Chinh Phụ Ngâm, mở đầu 8 chữ: 風 塵 [Thiên địa phong trần hồng nhan đa truân] bao quát đại ý cả toàn bài, lực lượng biết bao!

Truyện Kiều, ông Nguyễn Du lấy bốn chữ Tài mạng tương đố mở đầu. Nhãn lực và mạng ý đã cao, gồm được tinh thần toàn thiên, đó là đại cương toàn truyện.

(Cụ có đọc cả bài thi 8 câu của Bạch Cư Dị cho nghe).

Cụ đã hơi hứng, nói tiếp:

 2/ Phản chiếu. – “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,

Bốn phương bằng lặng, hai Kinh vững vàng”,

– Anh tưởng là câu nhàn thoại sao? Câu ấy chính là phản chiếu với đoạn Từ Hải nổi giặc, đạp đổ năm tòa cõi nam, ở sau.

3/ Phc mch. – “Có nhà viên ngoại họ Vương,

Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”,

– Câu “gia tư thường thường” đó, không phải câu nói phiếm, chính là dựng cái chứng cho chuyện “không có 300 lượng bạc chuộc tội mà Kiều đến nỗi phải bán mình”. Ví như đánh cờ cao, đặt một con cờ, người ngoài xem như không ý nghĩa quan hệ gì mà kỳ thực không thiếu được, thiếu là mất chiếu ứng. (Cách này gọi là Phục mạch, cũng gọi là Trương bổn).

4/ Tá khách hình chủ. – Chủ trong truyện là Thúy Kiều, tả Kiều đẹp biết tả bao cho vừa, cái nầy trước tả chung cả Vân và Kiều gọi là “bình tả”.

“Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Một người một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Rồi tả cái đẹp con Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời,

Khuông trăng đầy đặn nét người nở nang.

Hoa cười ngọc tuyết đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Rồi chỉ hạ một câu:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn”.

Thế là cái đẹp của Vân tức là đẹp của Kiều mà Kiều lại xấp mấy nữa, rút được biết bao nhiêu cái đẹp ở ngoài ngòi bút kia. Cách nầy cũng gọi là “gia bội tả pháp”.

5/ Cân lượng từng chữ. – Tả Vân thì:

“Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

Đến tả Kiều:

“Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Trên nói “thua”, “nhượng”, sắc trung chi hiền, đến chữ “ghen” chữ “hờn” thì rõ ràng là sắc trung chi thánh; trong sắc giới mà có phân bậc thánh bậc hiền thì mấy chữ đó chính là tác giả đã khổ tâm chọn lựa, nấu nướng, un đúc để tả cho rành, không lẫn nhau.

Đó, chỉ nói mấy câu ở trương đầu Truyện Kiều anh đã thấy tay thợ của tác giả chưa? Thật con đĩ Tàu tu phúc mấy đời mới được ngọn bút lão học của ông Nguyễn Du tô vẽ, mới được truyền tụng đó, chớ bản thân con Kiều ở nước Tàu, đầu trong làng đĩ cũng không đáng nửa đồng kẽm, việc gì mà tán trinh tán hiếu? tán nhảm cả.

Nói đến đây cụ nghỉ một hồi rồi hỏi:

–  Sao? Anh nghe những câu tôi nói đó, có hiểu được văn pháp chút nào không?

–  Thưa, những câu cụ giảng đó, thật tôi mới nghe lần đầu, chỉ một trương đầu mà đã thú, ước gì được nghe cụ giảng cả toàn bộ thì quý biết bao!

–  Dài lắm, chỉ nói đại lược chỗ [chỗ này báo rách, mất 1 dòng – NST.]

6/ Chẩm phong tương đối. – Sau khi Kim Trọng, Túy Kiều gặp nhau, tựu trong tâm tưởng Kiều mà tả Kim Trọng:

“Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên gì hay không”

Thì bên kia, tựu trong tâm tưởng Kim Trọng mà tả Kiều:

“Ví chăng duyên nợ ba sinh,

Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.”

Hai bên gặp nhau không nói một lời, chỉ sự ao ước nồng nàn trong tim đen, mà ngòi bút nhà văn tả thấu chỗ tâm sự kín của hai bên đối nhau, rõ là “một mũi kim thấy huyết”.

7/ Tằng thứ phân minh. – Làm văn cần nhứt là có tầng thứ, do cạn vào sâu, do gần đến xa. Nếu tằng thứ lộn xộn là mất hẳn cách kiết cấu và lòi những điều vô ý thức ra, như: đồng là tả tâm sự Túy Kiều nhớ nhà trong khi lưu lạc quê người mà tả có thứ lớp:

a/ Trước hết, ở lầu Ngưng Bích:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rầy trông mai chờ,

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Xót người dựa cửa hôm mai,

Quạt nồng đắp lạnh những ai đó giờ.

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”

Đấy là lần đầu, tình nặng hơn lý nên nhớ Kim Trọng trước mà nhớ cha mẹ sau.

Van phap TK 2

b/ Lần thứ hai, khi ở lầu xanh:

“Nhớ ơn chín chữ cao sâu,

Một ngày một ngã bóng dâu tà tà.

Dặm ngàn nước biếc non xa,

Nghĩ đâu thân phận con ra thế nầy.

Sân hòe đôi chút thơ ngây,

Trân cam ai kẻ đỡ thay cho mình.

Nhớ lời nguyện ước ba sanh,

Xa xuôi ai có thấu tình chăng ai.

Khi về hỏi liễu chương đài,

Ngành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.

Tình sâu mong trả nghĩa giày,

Hoa kia đã chắp ngành nầy cho chưa.”

Đó lại nhớ cha mẹ trước mà nhớ Kim Trọng sau.

c/ Lúc đã gặp Thúc Sinh thì tình có chia ra nên chỉ nhớ nhà:

“Bóng dâu đã xế ngang đầu,

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi.

Tóc thề đã chấm quanh vai,

Nào người non nước, nào người sắt son”

d/ Lúc đã gặp Từ Hải, Hải bỏ nhà đi, tả cảnh Kiều nhớ nhà:

“Xót thay xuân cội huyên già,

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.

Chốc đà mười mấy năm trời,

Còn ra khi đã da mồi tóc sương.

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Duyên em như nối chỉ hồng,

May ra khi đã tay bồng tay mang”.

Đây lần đầu tiên chỉ nhớ suông, đến lần thứ hai mới tưởng việc em chắp duyên mình, lần sau mới tưởng tượng đến em đã có con. Còn bên cha mẹ, đầu tiên nói: “Gốc tử vừa ôm”, thứ nữa nói: “bóng dâu tà tà”, sau hết nói: “da mồi tóc sương”… chỉ trong tư tưởng mà từ cạn đến sâu, có thứ lớp, có ngăn nắp, đường đi trong óc như sợi tơ, rành mạch biết bao! Có đâu nói “hổ lốn xáo bần” như truyện văn sĩ ta thường thấy.  

8/ Sử bút, sử nhãn. – Về nhà làm sử nhứt là lấy con mắt bàng quan mà xem người xét việc, ở đời quân chủ chuyên chế, trừ nhà vua ra, ai cũng là giặc [mất 1 dòng, chừng 4-6 từ – NST.] “được vua thua giặc” đó in sâu vào não nhà làm sử. Xưa nay duy Tư-mã Thiên là có con mắt đặc biệt: Trần Thiệp là một tên dân xâu khởi binh đánh Tần Thỉ Hoàng, Tư-mã Thiên không gọi là giặc, mà nêu là Trần Vương và liệt vào hàng thế gia, v.v.

Về đoạn trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng học bút pháp Tư-mã Thiên, không chỉ không gọi Từ Hải là giặc, lại tả rõ một tay anh hùng, như:

“Đội trời đạp đất ở đời,

Họ Từ tên Hải, vốn người Việt-đông,

Giang hồ quen thói vẫy vùng,

Đờn gươm nửa gánh, giang sơn một chèo”…

“Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những đồ giá áo túi cơm sá gì…

Đục trời khuấy nước mặc dầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.”

Ai đọc đoạn nầy cũng sinh lòng khẳng khái. Nhứt là chỗ tả Hồ-tôn Hiến với Từ Hải, hai bên cầm ngang nhau: bên nầy gọi “Hồ công” thì bên kia cũng gọi “Từ công”, xem bình đẳng nhau, không có ý nâng cao bên nầy đè thấp bên kia như các nhà sử “a dua” kia. Mà theo văn tả đó thì Từ Hải cử chỉ quang minh lội lạc, khi làm giặc thì làm giặc, mà khi hàng thì hàng, còn bên Hồ-tôn Hiến làm việc ám muội phỉnh lừa, giết một anh tướng đã về đầu hàng, đê tiện biết bao!

Nói dài hơi mệt, cụ uống chén nước, hút điếu thuốc lá (cụ không hút thuốc lào, khác thói quen các quan Nghệ) rồi tiếp:

–  Thôi, nói nấy đã nhiều, nay nói đoạn kiết truyện cho anh nghe.

–  Xin cụ dạy.

–  Theo thực tế thì phần con Kiều đến “nhảy sông Tiền-đường” là hết, mà bên Kim Trọng đi tìm cũng đến đó là rồi chuyện, nên văn Truyện Kiều cũng có ý vị đến đoạn ấy thôi. Còn đoạn sau, nào Giác Duyên vớt Kiều, nào Kim Trọng gặp Kiều, chỉ là theo lối sáo nhà tiểu thuyết xưa, mượn cớ “báo ứng” để khuyên răn đời, đoạn ấy rõ là “vẽ rắn thêm chưn” nên tự nhà thức giả cho đoạn văn sau là “không mùi” (vị sách, ). Mà người sau thêu thùa phụ họa, nào “phật lý”, nào “tu”, nào “phúc”, đều là thừa cả. Vậy nói “kiết truyện” mình chỉ nói đến chỗ Kim Trọng biết Kiều chết ở Tiền-đường, không nói đoạn sau.

Trước kia mình nói một bộ truyện khởi đầu khó, mà kiết sau cũng không dễ: đoạn kiết văn Kiều, ông Nguyễn Du đã khéo dùng các lối văn.

–  Thế nào? cụ chỉ rõ cho.

–  Anh phải biết làm văn kỵ nhứt là một ngòi bút thẳng đơ    (nhất bút trực hạ) không có hồi co lại, như giòng nước chảy xuôi, mà hồi co lại lại kỵ “nói lặp”. Nên kiết một bài đại luận có đủ mấy lối:

a/ Mau lẹ như luồng gió cuốn mo nang   (tật phong quyển thác)

b/ Khúc chiết như sông Hoàng Hà trăm dặm, một đoạn quanh nhỏ, ngàn dặm một đoạn quanh lớn  ,     [Bách lý nhất tiểu khúc, thiên lý nhất đại khúc]

c/ Triền miên. – Lời ít mà ý nhiều, khiến người đọc như ăn mía, càng nhai càng nghe mùi ngon, cứ dẫn tới mãi.

d/ Giáp tự giáp nghĩ. – Cụ kể chuyện mà tự nhiên có lời nghị luận ở trong.

Đoạn kiết Truyện Kiều nầy, ông Nguyễn Du toàn mượn lời kẻ bàng quan để thu thúc, trước hết là lại già họ Đô. Họ Đô kể một đoạn dài gần hết ba phần đời con Kiều, toàn là chiếu ứng về mấy đoạn đã thuật trước, tuy là kể chuyện mà trong câu văn đã có lời bình phẩm.

Đến đoạn gặp Từ Hải, như [mất 2 từ – NST] thì có ý vị gì đâu, nên dứt ra một khúc, bắc cầu sang Thúc Sanh.

Thúc Sanh kể thêm một đoạn đến chỗ Từ Hải gặp Kiều nói rõ hơn họ Đô một tý. Như kể ngay đến đoạn Từ chết Kiều nhảy sông… thì văn ra xuôi quá, nên lại ngừng lại một đoạn nữa, đến sau sang Hàng Châu mới biết rõ lai lịch mà câu: “Nàng đà gieo ngọc trầm châu, Sông Tiền-đường đấy là mồ Hồng nhan, Than ôi không hiệp mà tan”  ấy là hết chuyện.

Một đoạn vừa kể chuyện vừa thu thúc toàn truyện mà chia ra ba đợt, lời văn khúc chiết, càng đọc càng có vị; lối văn ấy, tác giả đã hấp thụ nhiều tinh túy văn Tàu mà có mấy kẻ để ý.

 

Những đoạn văn nồng thấu trong truyện

Đến đây, nghe cuối chuyện, ký giả bèn khêu thêm một câu hỏi nữa:

– Thưa cụ, cụ giảng văn pháp Truyện Kiều, tôi nghe rất mới. Vì lâu nay tôi thấy vô số là lời phê câu giải mà không ai nói chỗ văn pháp thâm thúy ấy. Vậy toàn cả Truyện Kiều cụ cho đoạn nào là hay hơn cả?

–  Văn hay không phải độc chiếc do sức nhà văn mà nhờ tình cảnh cùng sự cố làm nền. Người xưa nói “Văn sinh bởi tình”, nên gặp cái cảnh khác thường, gặp cái chỗ tình cảnh khó xử, cay chua đắng chát, nồng nàn đằm thắm, thì văn tả mới có hứng vị, có chí tình. Bằng chỗ bình thường thì văn cũng bình thường. Duy đã là tay thợ văn, dầu gặp chỗ thường cũng dùng cách phu diễn thêu thùa để che mắt độc giả không thấy chỗ thường đó thôi, như toàn Truyện Kiều chỉ được 4 đoạn văn nồng thấu, còn ngoài ra lối văn thêu cả.

–  Thưa 4 đoạn nào?

–  Một là lúc Kiều đã thề với Kim mà rủi gặp gia biến trao lời cho em là Túy Vân.

Hai là lúc Kim Trọng trở sang nhà Kiều mà Kiều đã bán mình.

Ba là khi mới vào lầu xanh, lấy thân khuê các mà sa vào cái hầm lửa kia.

Bốn là Từ Hải bị giết mà mình bị ép, định nhảy sông Tiền-đường. (1)

Ngoài 4 đoạn ấy là văn phu diễn tự sự, nhưng nhờ tài văn ông Nguyễn Du lưu hoạt nên không thấy chỗ dở, chớ không nơi nào nồng thấu.

***

Đấy là xong một bài giảng, ký giả từ cụ ra về, chép vào một bản riêng để học lối xem văn – không chỉ văn Kiều, văn gì cũng thế – lâu nay không nói với ai. Gần đây ký giả có gặp con cụ là ông Đặng Thai Mai, hỏi tìm thêm di trước của cụ nhưng ông nói bị đốt mất cả. Ký giả còn bản thảo nầy, xin tuyên lên báo chương để lưu một dấu tích “luận văn bình văn” của một nhà lão học tiên thời nhân vật ta.

  • Nguồn:

Tiếng dân, Huế, s. 1021 (số Tết Đinh Sửu, 9 Fevrier 1937), tr. 5, 7.

  • Chú thích:

(1) Cả 4 đoạn văn, cứ xem trong truyện, không dẫn ra đây vì dài quá. (nguyên chú của Tùng Ngư)

[1*] Lời dẫn của tòa soạn “Tiếng dân” có lẽ do Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng viết.

 [2*] Tác phẩm này của Hàn Dũ nguyên gốc chữ Hán là 平 淮 西 碑 /Bình Hoài Tây bi/, tức là bài văn bia về việc bình định Hoài Tây; chưa hiểu vì sao các cụ lại đọc là “Bình Hoài Thai Bi”, tạm đoán là do người ghi (Tùng Ngư) nghe hơi lầm (Tây nghe thành Thai) nên viết ra như vậy chăng. Đây là bài văn bia Hàn Dũ viết để ghi công lao của vua Đường Hiến Tông đã dẹp yên phiên trấn Hoài Tây. Nguyên sau vụ biến loạn An Lộc Sơn, nhà Đường suy yếu, các phiên trấn lộng quyền, không sợ Trung ương. Nhân dịp một trấn đem quân quy phục, Đường Hiến Tông sai quan đi dẹp Hoài Tây. Gọi là bình, tức bình định, nhưng do chọn tướng không tinh chiến dịch kéo dài, sau phải sai tướng khác, 4 năm sau mới dẹp xong, coi như một sự kiện lớn, sai Hàn Dũ viết văn bia. Câu mở đầu (Thiên dĩ Đường khắc tiếu kỳ đức, nghĩa là Trời lấy nhà Đường làm kẻ kế thừa đức của Trời) nói cái lý để về sau các việc dù gặp khó mà sau lại thành công. – Chú thích này là do nhà giáo Trần Đình Sử tìm và giải giúp; xin cảm ơn anh Sử.