Trang chủ » 2015 » Tháng Mười Một

Monthly Archives: Tháng Mười Một 2015

Lập trường tư tưởng tư sản phản động trong cuốn “Vào đời”

18/7/1963. Báo “Quân đội nhân dân”. Ý kiến bạn đọc.

Phương Tống: Lập trường tư tưởng tư sản phản động trong cuốn “Vào đời”

          … Là một quân nhân chuyển ngành, xem xong cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân, tôi rất căm phẫn là tác giả đã dùng ngòi bút của mình để xuyên tạc sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, để bôi nhọ truyền thống vẻ vang của quân đội và in một vết đen lên hình ảnh đẹp đẽ của người bộ đội chuyển ngành đã từng cống hiến rất nhiều trên mặt trận sản xuất sau khi hòa bình đã lập lại.

          Nhưng vượt lên trên vấn đề bóp méo hiện thực công tác, sinh hoạt và tư tưởng của người quân nhân chuyển ngành, tác giả “Vào đời” còn dùng chiêu bài “chống quan liêu” để đả kích hầu như vào toàn bộ các loại cán bộ của Đảng và Nhà nước ta, từ người lãnh đạo chính trị đến người phụ trách chuyên môn, quản lý ở công trường. Tác giả đã miêu tả họ không khác gì những người chủ nhà máy, những công chức dưới chế độ tư bản mà quần chúng công nhân và nhân dân lao động phải coi là “kẻ thù số 1”.

          Hơn nữa tác giả còn hằn học đánh vào một loạt các cơ quan chủ yếu của chuyên chính vô sản một cách tinh vi và khéo léo qua bức tranh xám xịt xuyên tạc hiện thực tươi đẹp của miền Bắc từ quân đội đến công an, mậu dịch, v.v. Và thật là hiểm độc khi những ý kiến đen tối ấy lại từ mồm nhân vật “tích cực” phát ra, có vẻ như là “khách quan”, có “tính chất xây dựng”. Tác giả còn chĩa mũi nhọn thù hằn của mình vào các đường lối chủ trương chính sách cụ thể của Đảng như đường lối đấu tranh tư tưởng, phương pháp mổ xẻ phân tích tư tưởng (qua những hành động “xây dựng” rất sống sượng thô lỗ của Trần Lưu mà tác giả hầu như cố tình đưa ra để mỉa mai, diễu cợt tinh thần phê bình và tự phê bình tốt đẹp của chúng ta), như đường lối báo chí (qua việc xuyên tạc các nhà báo “tô hồng”), v.v.

          Nhìn chung lại, tôi thấy cuốn tiểu thuyết “Vào đời” không những không giúp đỡ gì cho người đọc nhận thức thêm về cuộc sống mà ngược lại nó còn gieo rắc những hoang mang, truyền bá những mối hoài nghi đối với bản chất tốt đẹp của chế độ mới, đối với trật tự xã hội, đối với nền chuyên chính dân chủ nhân dân của chúng ta bằng cách bôi nhọ và bóp méo hiện thực. Ngụy trang đằng sau những vấn đề có vẻ tích cực và những nhân vật có vẻ tích cực, nó đã đả kích một cách tập trung vào những đường lối chính sách chủ yếu của Đảng và Nhà nước từ những đường lối chung đến những chủ trương chính sách cụ thể, nó đã phủ nhận những thành tích tốt đẹp mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, nó phủ nhận khí thế cách mạng của nhân dân ta, không hề nêu lên một khó khăn nào trong quá trình tiến lên XHCN ở một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta, nó đả kích vào một loạt các cơ quan chủ yếu của nền chuyên chính vô sản của nước ta. Qua con mắt nhìn bất mãn, qua thái độ ác độc và qua cách đả kích kịch liệt, tập trung và trắng trợn của tác giả đối với mọi mặt của cuộc sống của chúng ta hiện nay, một cuộc đấu tranh gian khổ nhưng rất vinh quang để tiến lên CNXH. Tác giả đã đứng trên lập trường của tư tưởng thù địch với chế độ ta, với nhân dân ta để chọn lọc vấn đề, xây dựng hình tượng trình bày trong cuốn sách; đó là lập trường tư tưởng tư sản phản động rất nguy hại mà riêng bản thân tôi thấy không thể làm ngơ được. Cần phải vạch những luồng tư tưởng xấu ấy ra để phê phán, để đấu tranh, để xua tan những ảnh hưởng tai hại đối với những bạn đọc ít suy nghĩ sâu xa. Và nhất là để bảo vệ chân lý chói ngời nằm trong cuộc sống tuy còn những khó khăn nhưng vô cùng tươi đẹp của chúng ta.

PHƯƠNG TỐNG

(nông trường Mộc Châu)

Nguồn:

Quân đội nhân dân, Hà Nội, s.1229 (18.7.1963), tr.3.

“Vào đời” của ông Hà Minh Tuân chỉ là câu chuyện bịa đặt, xuyên tạc sự thật mà thôi

17/7/1963: báo “Tiền phong”:

Nguyễn Thị Phương Hoa: “Vào đời” của ông Hà Minh Tuân chỉ là câu chuyện bịa đặt,  xuyên tạc sự thật mà thôi

          Xem cuốn sách “Vào đời” của ông Hà Minh Tuân, tôi không thể không công phẫn thấy ông Hà Minh Tuân đã nêu lên câu chuyện hoàn toàn sai sự thật về đời sống trên công trường. “Vào đời” đã có ảnh hưởng rất xấu. Cách đây ba hôm, tôi nhận được thư của thày mẹ tôi tỏ ra rất lo lắng cho cuộc sống của tôi ở công trường (?) Tôi vô cùng ngạc nhiên vì trong thư có đoạn thày mẹ tôi viết:

…“Con mới lớn lên chưa hiểu nhiều về cuộc sống, con sẽ dễ bị lừa gạt và rồi con sẽ phải đau khổ nhiều, nếu con không biết suy nghĩ. Từ trước tới nay, qua các lá thư của con, gia đình vẫn tin tưởng công trường là nơi đào tạo các con trở thành con người mới. Không ngờ con đã nói dối gia đình. Từ hôm thày mẹ nghe nói về cuốn sách “Vào đời” tới nay, trong gia đình ai cũng lo lắng cho con. Sự thực ở công trường có đúng như vậy không con? … Con cần phải cẩn thận hơn nữa trong cuộc sống…”

Đọc xong thư của thày mẹ tôi, tôi cảm thấy phẫn nộ vô cùng về cuốn sách “Vào đời” đã xuyên tạc sự thật đời sống trên công trường. Tôi biết đây không phải chỉ riêng gia đình tôi đã tỏ ra lo ngại cho tôi như vậy, mà có lẽ đó còn là sự lo lắng chung của nhiều gia đình khác hiện có con (nhất là con gái) đang tham gia xây dựng trên các công trường, nông trường.

Là một nữ thanh niên đã thực tế được sống 3 năm liền trên công trường và cũng là một trong hàng nghìn, vạn nữ thanh niên đã bước vào đời, tôi xin thành thật nhờ báo Đoàn nêu lên những điều thực tế của công trường mà tôi đã được trải qua, để các bạn nữ thanh niên sắp bước vào đời yên tâm và gia đình chúng tôi khỏi lo lắng về chúng tôi.

Tôi đã bước vào đời như thế nào? Năm 18 tuổi, học hết lớp 7, tôi đã cùng với nhiều bạn nam nữ khác, theo tiếng gọi của Đoàn, xung phong tình nguyện đi xây dựng đường sắt Đông Anh-Thái Nguyên. Lúc mới tới công trường, tôi rất bỡ ngỡ. Tuy sống trong một gia đình nghèo, nhưng tôi là con gái út, được gia đình nuông chiều. Tôi không phải làm việc gì nặng nhọc nên chưa quen lao động. Tuy đã 18 tuổi, nhưng đây mới là lần đầu tiên tôi bắt tay vào lao động thực sự. Mấy hôm đầu đi gánh đất đau vai thật, nhưng chỉ hơn một tuần sau, tôi đã làm quen với nó; và sau đó ít lâu, tôi đã lao động rất giỏi. Tôi thấy tự hào vì mình đã lớn lên, không còn dáng điệu ẻo lả của cô nữ sinh ngày nào nữa.

Khi tôi đã biết lao động giỏi và đang đà vươn lên thì tôi được đơn vị cho đi học lớp thống kê kế hoạch của Tổng cục đường sắt. Lớp học bế mạc, tôi trở về công trường làm việc vừa được tròn một tháng thì được tín nhiệm bầu vào ban chấp hành chi đoàn, được phân công làm phó bí thư chi đoàn từ đó đến nay.

Ba năm sống trên công trường, tôi thấy vô cùng vui vẻ, thoải mái trong tình thương yêu trìu mến của bạn bè cùng lứa tuổi, trong sự giáo dục ân cần của Đảng, của Đoàn. Cũng ba năm sống ở công trường, tôi đã thấy cụ thể hơn sự nghiệp vĩ đại công nghiệp hóa XHCN nước nhà.

Cũng ở nơi công trường này, tôi đã được học bổ túc văn hóa tới lớp 9 và có nhiều hoạt động lành mạnh bổ ích như bóng chuyền, bóng bàn, ca nhạc, v.v. Cho đến tháng 9/1962, do yêu cầu công tác, tôi chuyển về làm việc tại phòng kế hoạch xưởng đóng tàu 3. Theo tôi được biết thì trong đơn vị cũ của tôi một số bạn bè khác cũng đã chuyển đi học các lớp như: mỹ thuật, kế toán, cơ khí, v.v. Số bạn còn lại tiếp tục nỗ lực lao động phấn đấu và vinh dự thay, họ đã được Đảng, Chính phủ tặng 2 huân chương Lao động hạng nhì và họ được nhận danh hiệu đội lao động XHCN. Đó là đơn vị C9 của Tổng cục đường sắt.

Đấy là thực tế của công trường mà chính tôi đã được sống trong 3 năm qua. Tuy nhiên, đời sống trên công trường không phải là hoàn toàn tốt đẹp cả. Bên cạnh tuyệt đại đa số anh chị em thanh niên tốt không tránh khỏi còn có một số nhỏ người chây lười, còn tiêm nhiễm tính hư tật xấu này khác. Nhưng họ cũng không thể nào ngang nhiên hoành hành được giữa một tập thể mà tuyệt đại đa số là những người tốt, có sự lãnh đạo của Đảng, của Đoàn, như tên Mai tên Song trong “Vào đời”. Họ cũng dần dần được tập thể giáo dục và trở nên tiến bộ được.

Là một nữ thanh niên đã thực tế bước vào đời, đã làm việc ở nhiều công trường, tôi phản đối ông Hà Minh Tuân đã bịa đặt ra một số phận hẩm hiu, đen tối của cô Sen trong cuốn “Vào đời”, vì trong thực tế đời sống trên công trường của ta hiện nay hoàn toàn không có và không thể có cảnh sống bị chà đạp vùi dập như thế được.

Tôi mong gia đình tôi cũng như tất cả các gia đình có con em đi công trường hãy tin tưởng và không phải lo lắng gì, vì ở đâu anh chị em chúng tôi cũng có sự giáo dục của Đảng, của Đoàn. Mong rằng các bạn nữ thanh niên đừng tin cảnh ngộ của cô Sen trong “Vào đời” là có trong thực tế trong đời sống trên công trường. Đó chỉ là một sản phẩm méo mó do óc tưởng tượng lệch lạc của ông Hà Minh Tuân nặn ra theo cách nhìn hằn học của giai cấp tư sản phản động mà thôi.

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

(Phòng kế hoạch, Xưởng đóng tàu 3, Hải Phòng)

17/7/1963: báo “Tiền phong”: Kim Thoa: Những bài báo phê bình cuốn “Vào đời” đã giúp tôi lấy lại lòng tin và hiểu rõ cuốn sách đó hoàn toàn xuyên tạc sự thật

          Là một nữ sinh vừa tốt nghiệp lớp 10, tôi xin đi tham gia công tác theo lời kêu gọi của Đảng. Nhà trường và chi đoàn đã chuẩn bị cho học sinh lớp 10 chúng tôi “vào đời” rất đầy đủ: nào là giới thiệu đi công trường Thác Bà, đi khai thác rừng, nào là công trường làm đường Lai Châu… Và tôi đã quyết định rồi: Tôi sẽ lên công tác ở nông trường Mộc Châu theo lời giới thiệu của anh M., một người bạn cũ hiện đang công tác trên đó. Anh M. trước học cùng trường và trên tôi hai lớp. Hai năm nay anh công tác ở nông trường Mộc Châu. Anh ta ca ngợi rất nhiều cuộc sống sôi nổi trên đó.

Tôi phấn khởi đợi chờ một cuộc sống mới vì tôi tin vào lời anh M., tin vào rất nhiều sách báo nói về cuộc sống lao động trên các nông trường và công trường… Tuy nhiên, là một nữ sinh từ bé chỉ sống với gia đình ở Hà Nội, chưa quen công tác lao động, nên tôi không khỏi có những lo lắng. Lao động thì nhất định là vất vả rồi, nhưng liệu mình có vượt qua được không? Rời gia đình rồi thì sinh hoạt hàng ngày sẽ ra sao? Cuộc sống tập thể sẽ như thế nào? Tôi vấn vương với những câu hỏi đó.

Giữa lúc ấy, tôi được xem “Vào đời”! Thấy đề tài hấp dẫn này, tôi đã xem nghiến ngấu trong suốt một ngày. Nhưng càng xem, tôi càng thương cuộc đời chị Sen trong truyện. Hình ảnh cái đòn gánh “không những đè năng trên vai, mà đè nặng cả tim óc” chị Sen, những hành vi bỉ ổi của Song, Mai… đã làm tôi lo sợ. Không biết cuộc sống thực tế có như vậy không?  Gấp quyển sách lại, tôi thấy đầu óc nặng trĩu và mệt mỏi.

Tôi đâm nghi ngờ cái mộng tưởng của tôi về những ngày sắp tới trên nông trường. Mấy cô bạn cùng lớp cũng chung cái lo sợ như tôi khi đọc “Vào đời”. Họ nói: Sau này bọn mình không biết có đứa nào chung số phận như cô Sen trong truyện này không nhỉ?

Giữa lúc chúng tôi hoang mang như vậy thì được đọc liên tiếp những bài báo phê bình cuốn sách độc hại đó, đăng trên báo Đảng và báo Đoàn. Chúng tôi tìm đọc rất kỹ lưỡng, và thấy rất rõ sự xuyên tạc cuộc sống mới của cuốn truyện thật trắng trợn. Tôi tin rằng khi chúng tôi “vào đời” sẽ không bao giờ gặp những điều bất hạnh như nàng Kiều Sen của ông Hà Minh Tuân, vì tôi tin rằng những người sắp bước vào đời như chúng tôi sẽ được Đảng, Đoàn và bao nhiêu người tốt khác nữa giúp đỡ, chăm sóc.

Với những ý kiến của các bài báo đã phân tích, tôi đã đọc lại cuốn truyện một lần nữa. Đọc lần này, tôi không thấy hoang mang lo lắng như lần trước. Trái lại, tôi thấy hết sức bực mình với tác giả cuốn “Vào đời” đã gây nên tâm lý chán chường lo sợ cho người đọc, nhất là đối với chúng tôi, những người học sinh còn non trẻ đang chuẩn bị “vào đời”.

Tôi xin cảm ơn các đồng chí, cảm ơn báo Đảng và báo Đoàn đã vạch rõ cho tôi tác hại nghiêm trọng của cuốn sách. Lúc này tôi đã chuẩn bị sẵn sàng phấn khởi chờ ngày lên đường đi nông trường Mộc Châu, nhất là đã chuẩn bị đầy đủ lòng tin vào cuộc sống mới khi tôi bước chân “vào đời”.

KIM THOA

(10, Hàng Bông, Hà Nội)

Nguồn:

Tiền phong, Hà Nội, s. 1063 (17.7.1963), tr.3.

Cần vạch trần hệ tư tưởng tư sản phản động trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời”

19/7/1963. Báo “Tiền phong”: Xã luận:

Cần vạch trần hệ tư tưởng tư sản phản động trong cuốn tiểu thuyết “Vào đời”

          Trong mấy tuần qua, báo chí và dư luận xã hội rộng rãi ở miền Bắc nước ta đã nghiêm khắc phê phán cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của nhà văn Hà Minh Tuân. Mỗi ngày Bộ biên tập báo “Tiền phong” chúng tôi nhận được từ 20 đến 30 bài của thanh niên thuộc đủ các thành phần xã hội: công nhân, nông dân, bộ đội, học sinh, sinh viên, cán bộ, giáo viên, v.v. gửi đến phát biểu ý kiến phê phán cuốn tiểu thuyết này. Qua những bài phát biểu đó chúng tôi thấy rõ sự phẫn nộ của mọi người đối với những tư tưởng độc hại mà cuốn tiểu thuyết chứa đựng, đối với sự xuyên tạc cuộc sống mới ở miền Bắc và đối với sự tác hại của cuốn sách trong một bộ phận thanh niên đang chuẩn bị bước vào đời.

          Tiếng nói mạnh mẽ của dư luận xã hội đối với cuốn tiểu thuyết “Vào đời” chứng tỏ rằng nhân dân và thanh niên ta không bỏ qua bất cứ một hành động nào có hại đến đời sống tinh thần của xã hội và do đó có hại đến sự nghiệp cách mang XHCN ở miền Bắc nước ta cũng như đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam Việt Nam.

          Điều đó cũng chứng tỏ một sự thật là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng đã và đang còn diễn ra khá gay go và phức tạp trong quá trình của cuộc cách mạng ở miền Bắc.

          Việc phê phán cuốn tiểu thuyết “Vào đời” cho đến nay chưa phải là đã đủ; chúng ta cần phải tiếp tục phê phán tác phẩm xấu này một cách triệt để hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, không những trên báo chí mà cả trong các cuộc sinh hoạt của Đoàn thanh niên. Lẽ tất nhiên việc vạch rõ những tác hại của cuốn sách cũng như vạch ra tất cả những cái gì mà nhà văn Hà Minh Tuân đã xuyên tạc sự thật là một điều rất cần thiết. Song có một điều quan trọng hơn, đáng chú ý hơn là phải vạch ra được tất cả những khía cạnh, những ngóc ngách của hệ tư tưởng tư sản phản động ẩn náu trong cuốn sách và trên cơ sở đó tăng cường hơn nữa sự giác ngộ giai cấp của chúng ta, đồng thời quán triệt hơn nữa đường lối chung xây dựng CNXH ở miền Bắc và các chính sách của Đảng.

          Chúng ta cần phải phê phán một cách có tình và có lý. Nhưng có tình và có lý không có nghĩa là xoa dịu đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng.

          Tình của chúng ta là tình cảm cách mạng, là thái độ không khoan nhượng đối với tư tưởng độc hại của giai cấp bóc lột chứ không phải sự nể nang gượng nhẹ.

          Lý của chúng ta là thế giới quan mác-xít, là phương pháp phân tích giai cấp, chứ không phải là thế giới quan tiểu tư sản và sự phân tích phi giai cấp.

          Chỉ có phê bình một cách có tình và có lý như vậy thì chúng ta mới phê phán được triệt để cuốn tiểu thuyết “Vào đời” là cuốn tiểu thuyết mang những tư tưởng độc hại của giai cấp tư sản phản động.

TIỀN PHONG

Nguồn:

Tiền phong, Hà Nội, s. 1064 (19.7.1963), tr. 3.

19/7/1963. Báo “Tiền phong”: Nguyễn Lương (Cục vật liệu kiến thiết, Bộ Nội thương): “Vào đời” đã xuyên tạc hết sức bỉ ổi bản chất tốt đẹp của các quân nhân phục viên, chuyển ngành

          Nếu như mấy năm về trước, bọn Nhân văn-Giai phẩm có thể lung lạc, lừa bịp được một số người nông nổi và nhẹ dạ nào đó, thì bây giờ đã khác hẳn, ai đọc “Vào đời” cũng tỏ ý bất bình với việc làm sai trái của Hà Minh Tuân trong cuốn sách đó. Điều này biểu hiện rõ trình độ chính trị, tư tưởng, và trình độ thưởng thức nghệ thuật của nhân dân ta đã ngày càng nâng cao. Thật là đáng mừng!

          Chúng tôi sẽ không nhắc lại những ý kiến phê bình xác đáng của các bạn đã phát biểu, mà chỉ muốn phê phán Hà Minh Tuân ở một điểm sau đây:

          Tác giả đã xuyên tạc hết sức bỉ ổi bản chất tốt đẹp của các quân nhân phục viên, chuyển ngành. Người đọc không khỏi bất bình và phẫn nộ khi thấy các nhân vật quân nhân cũ trong truyện đã bị tác giả bịa đặt và thêu dệt một cách giả tạo tới mức không thể tưởng tượng được, hoàn toàn trái với bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân.

          Hành động và thái độ của các nhân vật Hiếu, Mai, Song hoàn toàn đại diện cho bọn phản động, lưu manh côn đồ một trăm phần trăm! Chúng luôn luôn âm mưu phá hoại tài sản của Nhà nước, chia rẽ lãnh đạo với công nhân, đả kích sự lãnh đạo của Đảng, khích bác, xúi giục công nhân manh động, tự do vô chính phủ. Chúng lừa đảo, hiếp dâm… sa đọa hết mức về tinh thần và vật chất. Với bản chất xấu xa ấy, chúng không thể cầm súng như những chiến sĩ chân chính chiến đấu cho một lý tưởng cao quý trong quân đội cách mạng, chịu đựng thử thách qua cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc, mà sớm muộn trong thời kỳ gian lao đó chúng sẽ tự phơi trần bộ mặt phản động của chúng, và tất nhiên cuộc sống sẽ xử trí chúng một cách thích đáng. Đó là lô-gich của đời sống xã hội và cũng là lô-gich của nghệ thuật.

          Thế mà Hà Minh Tuân đã để cho chúng vượt được chặng đường kháng chiến vô cùng gian khổ vừa qua, thậm chí còn được đề bạt sĩ quan, và cắt nghĩa nguồn gốc của những hoạt động đen tối xấu xa của chúng trong những năm 1957-1960 là do điều kiện xã hội miền Bắc sau ngày hòa bình lập lại! Đây là một sự tác động tinh thần khá thâm độc đối với những người chưa kiên định lập trường tư tưởng, đồng thời cũng đả kích trực diện vào trật tự xã hội mới.

          Theo dõi nhân vật Hiếu, nhiều lúc người đọc cứ mong cho hắn sẽ ít nhất nói một vài lời tử tế nhẹ nhàng với người vợ hiền, mà những người chồng bình thường nào cũng có thể nói được. Nhưng họ đã thất vọng; hết trang này sang trang khác, Hiếu dần dần mất hết lương tri, đi đến những hành động bản năng, thú tính và rất phản động. Hiếu không thể là một chiến sĩ quân đội bình thường, nói gì đến một đại đội trưởng (!) Bao nhiêu công lao giáo dục, dìu dắt của Đảng xưa nay không thấy có một tác dụng nhỏ nào đến Hiếu. Như vậy chẳng khác nào Hà Minh Tuân đã xui mọi người phủ nhận tác dụng lãnh đạo và giáo dục của Đảng đối với các quân nhân phục viên, khuyến khích sự chống đối và đòi hỏi hưởng thụ vật chất.

          Nhân vật quân nhân Trần Lưu được tác giả xây dựng cho “tương phản” với nhân vật Hiếu. Lưu được giới thiệu như một người tiên tiến, một nhân vật “chính diện”. Nhưng thực ra người đọc không có cảm tình với anh ta, bởi chưng anh ta hay cau có, gắt gỏng, nói năng cộc lốc, làm hùng hục, tính tình khô khan, khó khăn… Vậy thì phải chăng tác giả cố minh họa cho danh từ “con người máy” mà trước đây bọn Nhân văn đã tung ra để ám chỉ nói xấu cán bộ và công nhân ta? Tới mức cao hơn, tác giả đã bất chấp cả nguyên tắc sơ đẳng về tính nhất quán của nghệ thuật, gán bừa vào miệng Lưu những lời lẽ hằn học đả kích mậu dịch và công an của ta. Vậy thì nhân vật Trần Lưu có đúng là tích cực, là “chính diện” không, hay cũng là sự xuyên tạc theo cách khác của tác giả đối với người quân nhân chuyển ngành?

          Sau khi gấp cuốn “Vào đời” lại, người đọc phải tự hỏi: những nhân vật quân nhân mà Hà Minh Tuân xây dựng nên trong “Vào đời” như Hiếu, Mai, Song, Lưu đại diện cho loại người nào trong xã hội miền Bắc hiện nay? Có đúng là điển hình của những quân nhân cũ không? Chúng tôi trả lời dứt khoát để tác giả rõ: Không đúng lấy một phần trăm! Trong thực tế ai cũng có thể bắt gặp trên khắp các hoạt động sản xuất và xây dựng các quân nhân cũ, đa số đang hăng hái lao động, không ngừng phát huy đức tính tốt đẹp của quân nhân cách mạng, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tác phong khiêm tốn và thân ái, sinh hoạt giản dị. Hà Minh Tuân cũng đã công tác lâu năm trong quân đội, thế mà đã nhắm mắt bóp méo sự thật, bôi nhọ đồng chí, đồng đội của mình! Người đọc không  khỏi ngạc nhiên về việc làm kỳ quặc đó của anh.

          Thế mà có người đã muốn xoa dịu công luận, chống đỡ cho tác giả khi cho rằng nguyên nhân việc làm của Hà Minh Tuân là do nhà văn không lý giải được cuộc sống nên đã xây dựng những nhân vật giả tạo. Có đúng vậy không? Chúng tôi nghĩ rằng ở đây không phải là vấn đề vốn sống hay kỹ thuật của người viết văn mà là vấn đề thuộc về thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn để nhìn con người xây dựng CNXH bằng con mắt nhìn của giai cấp tư sản phản động. Rõ ràng các nhân vật quân nhân trong “Vào đời” chỉ là công cụ để tác giả phát biểu một hệ thống quan điểm sai lệch của mình, tuyên truyền xuyên tạc chính sách và trật tự xã hội mới, phổ biến những quan niệm và triết lý sống rất lạc loài, xấu xa của giai cấp tư sản phản động. Những người quân nhân phục viên chúng tôi cực lực phản đối sự xuyên tạc trắng trợn của ông Hà Minh Tuân.

          Như trên đã nói, chúng tôi không có ý phê phán toàn bộ tiểu thuyết “Vào đời”, một cuốn sách đầy rẫy sự vu khống và xuyên tạc, đả kích, mà chỉ phát biểu về một mặt nhất định của nó nói đến các quân nhân cũ. Và, chúng tôi cũng không khỏi suy nghĩ về sự dễ dãi, thiếu trách nhiệm của Nhà xuất bản Văn học (cũ), đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết “Vào đời”.

NGUYỄN LƯƠNG

(Cục vật liệu kiến thiết, Bộ Nội thương)

Nguồn:

Tiền phong, Hà Nội, s. 1064 (19.7.1963), tr. 3.

Ông Hà Minh Tuân đã làm tổn thương đến danh dự chúng tôi

14/7/1963: báo “Tiền phong”: Ý kiến một nữ thanh niên công nhân về cuốn “Vào đời:

Nguyễn Thị Hồng Tuyến: Ông Hà Minh Tuân đã làm tổn thương đến danh dự chúng tôi

          Gần đây các báo chí phân tích, phê phán nhiều về cuốn “Vào đời”, và cô Sen, nhân vật chính trong truyện, cũng được nhiều người chú ý. Chị em nữ thanh niên công nhân nhà máy cơ khí Hà Nội chúng tôi, người đã đọc truyện hoặc người mới đọc những ý kiến phê phán đều tỏ thái độ rất bất bình với nhà văn Hà Minh Tuân. Có thể nói, qua nhân vật cô Sen, nhà văn Hà Minh Tuân đã thể hiện lệch lạc hẳn về những người nữ công nhân trẻ chúng tôi. Là một trong những nữ công nhân ở nhà máy cơ khí Hà Nội đã thoát ly gia đình, tới công trường xây dựng, được đi học kỹ thuật rồi vào nhà máy làm việc, tôi thấy cần phải nói lên sự thực “vào đời” của chị em chúng tôi và bầy tỏ thái độ của mình đối với tác phẩm “Vào đời”.

          Cũng như cô Sen trong “Vào đời”, tôi đang đi học thì phải nghỉ vì gia đình neo đơn. Năn 1959, khi tôi vừa tròn 18 tuổi gia đình cũng định ép gả tôi cho một người mà tôi không có cảm tình gì cả. Giữa lúc ấy Đoàn mở cuộc vận động thanh niên xung phong đi xây dựng khu gang thép và một số nhà máy lớn khác. Tôi là người xung phong ghi tên đầu tiên với ý định là trốn khỏi cảnh ép duyên của gia đình. Nhưng các cán bộ Đoàn đã hiểu thấu rõ động cơ muốn thoát ly gia đình của tôi và đã giải thích cho tôi nhận thức rõ ý nghĩa của việc đi xây dựng công nghiệp: đi để đem sức thanh niên ra xây dựng lò cao, nhà máy của đất nước, đi để xông vào những nơi khó khăn gian khổ nhất, chứ không phải đi chỉ để trốn tránh nỗi buồn khổ riêng của mình. Khi đã thật hiểu ý nghĩa của việc mình sắp làm, tôi hăm hở lên đường. Thày mẹ tôi liền tìm mọi cách giữ tôi lại, kể cả biện pháp hứa sẽ không ép gả chồng nữa. Nhưng tôi vẫn cương quyết lên đường vì bây giờ tôi đã hiểu mục đích to lớn của việc đi xây dựng đất nước chứ không phải tôi chỉ ra đi vì trốn ép duyên như thày mẹ tôi vẫn nghĩ.

          Suốt dọc đường đi, đoàn chúng tôi ca hát vang trời. Đến công trường, chúng tôi càng phấn khởi hơn khi thấy chỗ nào cũng có cổng chào, cờ, khẩu hiệu hoan nghênh “đội quân xây dựng” chúng tôi. Ra đón chúng tôi có các đồng chí công nhân cũ và tôi đặc biệt xúc động khi thấy trong số đó có nhiều các anh bộ đội phục viên ngực đầy huân chương, huy chương, huy hiệu Điện Biên Phủ. Tôi tự nhủ: trong kháng chiến các anh đã hy sinh xương máu để giành độc lập cho tổ quốc, bây giờ các anh lại đến nơi gian khổ nhất để kiến thiết đất nước. Các anh thật đáng kính phục quá. Mình phải làm sao học được một phần tinh thần phục vụ vô điều kiện của các anh. Các anh đón tiếp chúng tôi nồng nhiệt như đón những người em mới đi xa về. Các anh dành lấy việc đeo ba-lô cho chúng tôi, quạt mát cho chúng tôi và trao tận tay chúng tôi những bát nước chè thơm ngát. Sau 3 giờ nghỉ ngơi, đồng chí bí thư Đảng ủy công trường đã tới thăm hỏi và động viên chúng tôi. Cho đến nay chúng tôi vẫn nhớ như in những lời nói quý báu của đồng chí: “Anh chị em thanh niên ngày nay thật đáng tự hào với thế hệ của mình, các bạn được lớn lên trong chế độ mới, lại được đem bàn tay lao động của mình góp phần xây dựng những công trình vĩ đại đầu tiên của đất nước. Các bạn cũng còn phải phấn đấu gian khổ đấy, nhưng gian khổ chính là những điều kiện để rèn luyện thanh niên”. Trước không khí đầm ấm tập thể, trước những lời nhắc nhở chân thành của đồng chí bí thư đảng ủy mái tóc điểm hoa râm, chúng tôi xúc động quá. Ai cũng muốn chóng được ra hiện trường để lao động ngay. Tất cả những tình cảm yêu thương, nhiệt tình của lãnh đạo Đảng, Đoàn, của tập thể công nhân đối với chúng tôi, nhưng người em mới vào đời, trong thực tế cuộc sống của chúng tôi ngày nay ở đâu cũng dễ thấy. Vậy mà trong “Vào đời” của Hà Minh Tuân, sao tuyệt đối chúng tôi không thấy nhà văn viết được lên mà chỉ thấy cô Sen vào đời gặp toàn bi đát thế? Đó là một điều khiến chúng tôi đọc sách đã rất bất bình.

          Tất nhiên khi mới bắt tay vào lao động và làm quen với cuộc sống tập thể, chúng tôi cũng đã gặp không ít khó khăn. Mấy ngày đầu tiên tập gánh, hai vai chúng tôi cũng đỏ ửng, người chúng tôi cũng đau như dần. Ở nhà đang quen muốn làm lúc nào thì làm, muốn chơi lúc nào thì chơi, nay nhất nhất đều phải theo giờ giấc, chúng tôi cũng cảm thấy gò bó thế nào ấy. Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi thấy đau khổ, tủi thân mà trái lại, sau giờ làm việc chúng tôi vẫn học tập, ca hát, chơi thể dục thể thao. Nhất là khi đã quen vai đượm sức rồi, chúng tôi thấy đời tươi đẹp quá. 8 tiếng lao động chúng tôi cảm thấy qua nhanh quá. Nhiều bạn cứ đề nghị cho làm thêm. Chả là hồi ấy, nữ thanh niên chúng tôi lập một đội riêng lấy tên là đội Trưng Nữ Vương và thách thức thi đua với nam giới, do đó nhiều khi tinh thần thi đua lên cao quá, chị em cứ có ý muốn làm thêm giờ để đạt thành tích cao. Trong giờ nghỉ chị em chúng tôi cũng họp nhau suy nghĩ bàn cách cải tiến cách làm việc và cải tiến công cụ lao động. Thành tích rèn luyện và lao động của chúng tôi đã Đảng đánh giá thích đáng. Đội Trưng Nữ Vương chúng tôi giành được cờ thi đua khá nhất của công trường và trong chúng tôi nhiều chị em được khen thưởng, riêng tôi được bầu làm chiến sĩ thi đua. Tôi nói như thế có phải “tô hồng” quá tinh thần lao động của chị em chúng tôi không? Không phải thế! Một dẫn chứng hùng hồn là suốt từ ngày tới công trường, trong số hơn 100 chị em trong đội chúng tôi (phần lớn là học sinh Hà Nội, Hải Phòng) không hề có ai bỏ công trường hoặc có ý định bỏ công trường về cả. (Chỉ trừ có 2 trường hợp: một chị bố bị chết, chị phải về thu xếp gia đình một thời gian, và một em bé mới 15 tuổi, vì biết em đã khai tăng tuổi để đi công trường nên ban chỉ huy khuyên em về tiếp tục đi học. Khi phải về 2 chị em này đều tỏ ý rất lưu luyến chúng tôi).

          Đấy, thực tế những ngày “vào đời” làm quen với lao động của chúng tôi là như vậy đấy. Tại sao nhà văn Hà Minh Tuân không hề tả vào trong truyện của ông khí thế bừng bừng ra đi xây dựng đất nước của thanh niên, niềm tự hào của thanh niên được xông vào nơi gian khổ, sao ông không tả những nữ thanh niên mang dòng máu Trưng nữ vương đã dám hăng hái thách thi đua tập thể với các bạn nam giới và đã thắng nam giới, mà chỉ tả cô Sen như một nữ thanh niên ra đi không có lý tưởng, lao động cô đơn, âm thầm, cực nhục và không có một tý nào cái khí thế khỏe mạnh tự cường của lớp nữ thanh niên lớn lên dưới chế độ mới được Đảng giáo dục. Đó cũng là điểm khiến chúng tôi đọc sách đã rất bất bình.

          Có thể nói, về đoạn tả cô Sen lao động, nhà văn Hà Minh Tuân đã tỏ ra không hiểu tý gì về lớp nữ thanh niên mới chúng tôi và đã làm tổn thương đến danh dự chúng tôi, những người thanh niên đang dũng cảm lao động vì chủ nghĩa xã hội, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

          Một trong những điểm nhà văn Hà Minh Tuân làm chúng tôi bực mình nữa là thái độ nhìn tập thể của ông. Có thể nói như các nhà phê bình đã nói: ông Tuân đã tả tập thể công nhân như “hang hùm nọc rắn” và thân phận cô Sen như thân phận cô Kiều, hết rơi vào tay Sở Khanh lại gặp những gian truân khác. Đời cô Sen như cánh hoa trôi bèo giạt. Lối tả cuộc sống tập thể như ông Hà Minh Tuân đã tả làm nhiều chị em sắp sửa bước vào đời lo ngại, hoang mang. Là những người đã được sống trong tình tập thể ấm áp, được tập thể rèn giũa nên người, chúng tôi thấy cần phải phê phán lối tả tập thể theo ý định chủ quan của ông Hà Minh Tuân và nói lên sự thực về tập thể đáng quý của chúng tôi. Tập thể của chúng tôi như một gia đình lớn hoà thuận mà Đảng là cha mẹ, Đoàn là anh chị cả. Tất cả những vui buồn, thắc mắc, tập thể đều ở bên tôi. Không phải như trong truyện “Vào đời” chỉ thấy Bổn, mà quanh mỗi chúng tôi có hàng chục hàng trăm đảng viên, đoàn viên, công nhân tốt. Một người ốm, cả tổ thay nhau thức đêm thức hôm, chăm sóc lo lắng. Chị em đã góp tiền gửi giúp gia đình nhau lúc gặp khó khăn và khi cần, anh chị em còn sẵn sàng hiến cả máu mình cứu bạn lúc hiểm nghèo. Riêng tôi, tôi đã quen và thân với nhiều bạn nam và nữ. Họ đều thẳng thắn, vô tư và không hề tỏ ra vụ lợi nhau. Điều đó cũng dễ hiểu. Vì cuộc sống lao động lành mạnh có lý tưởng, có tổ chức kỷ luật đã đào tạo cho lớp người mới chúng tôi những đức tính tốt đẹp ấy. Ở đây tôi muốn nói riêng về những anh bộ đội phục viên. Các anh thật đã không phụ với niềm cảm phục tin tưởng ban đầu của tôi. Trong sản xuất, các anh gương mẫu, dũng cảm, trong cuộc sống hàng ngày, đối với đồng chí, bạn bè, các anh cũng tỏ ra có rất nhiều đức tính tốt đẹp. Chính vì thế mà từ chỗ mến phục thông cảm tôi đã chọn được một người bạn trăm năm ý hợp tâm đầu là một cán bộ bộ đội phục viên. Từ khi sống chung với nhau, trong quan hệ vợ chồng, tôi càng thấy chồng tôi là một người đáng quý trọng. Anh đã tìm mọi cách động viên giúp đỡ tôi học tập, công tác và hết sức thương yêu, tôn trọng tôi. Các bạn nữ đã thoát ly gia đình mà được tự ý lựa chọn người yêu hợp ý mình trong lao động sản xuất thì hạnh phúc biết chừng nào! Vì chính trong chiến đấu, sản xuất, trong những nơi gian khổ nhất thì những tính xấu, nết tốt của các chàng trai đã có dịp thử thách và thể hiện bản chất người rõ nhất cho bạn nữ chúng ta lựa chọn người bạn trăm năm. (Từ khi yêu nhau, cả 2 vợ chồng tôi luôn là lao động tiên tiến và hiện nay chúng tôi đều là công nhân cơ khí).

          Tất nhiên 5 ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn. Trong tập thể của chúng tôi cũng còn có những người mặt này mặt khác chưa tốt. Nhưng số đó chỉ là rất ít và tập thể chúng tôi đã tìm mọi cách giáo dục và hiện nay họ đều trở thành những người tốt. Chính vì nhờ tập thể tốt, có kỷ luật chặt chẽ nên chị em nữ chúng tôi đã gặp được nhiều bạn tốt và không hề có ai bị chà đạp, lừa dối rủi ro, tủi nhục âm thầm như cô Sen cả.

          Ngoài những điểm trên, nhà văn Hà Minh Tuân còn có nhiều cái nhìn lệch lạc khác về Đảng, về Đoàn, về thủ đô Hà Nội… nhiều bài báo đã nói, tôi thấy không cần nói thêm.

          Phát biển những ý kiến trên, tôi chỉ có ý định nói để các bạn nữ thanh niên sắp bước vào đời biết rằng: cuộc đời của thanh niên chúng ta ngày nay rất hạnh phúc chứ không giống tý nào như cuộc đời cô Sen đâu. Xin mời các bạn hãy đến nhà máy chúng tôi. Thực tế sẽ làm các bạn tin tưởng và thích thú cuộc đời nữ công nhân. Chúng tôi cũng xin mời cả các nhà văn, nhất là các nữ văn sĩ, về nhà máy chúng tôi. Chị em chúng tôi đang đợi những tác phẩm tốt, viết về cuộc sống lành mạnh, lạc quan và rất đáng tự hào của thế hệ thanh niên chúng tôi.

NGUYỄN THỊ HỒNG TUYẾN

(nữ công nhân xưởng có khí, nhà máy cơ khí Hà Nội)

NguồnTiền phong, Hà Nội, s. 1062 (14.7.1963), tr.3, 2.

Trong “Vào đời” hình ảnh anh bộ đội đã bị bôi một vết nhơ

14/7/1963. Báo “Cứu quốc”:

Dân Hồng: Trong “Vào đời” hình ảnh anh bộ đội đã bị bôi một vết nhơ

          Gần đây nhiều người đọc đã lên tiếng phê phán tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh Tuân, cho đó là một tác phẩm tồi về nghệ thuật và phản động về nội dung tư tưởng. Nhiều bạn đã vạch rõ những hình ảnh màu xám, những cái xấu nhiều mặt đầy rẫy trong tác phẩm. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với những ý kiến xác đáng đó, và ở đây muốn đi sâu vào một vấn đề: việc thể hiện con người bộ đội trong tác phẩm.

          Hà Minh Tuân đã miêu tả cái công trường xây dựng, cái xí nghiệp cơ khí Tháng Tám với tất cả những rối loạn, xấu xa của nó; ở đó có một cô gái mới bước vào đời bị vùi dập, bị chà đạp, hạnh phúc gia đình tan vỡ, còn những tên lưu manh thì mặc sức tung hoành, làm mưa làm gió, dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Đó chẳng phải là một công trường cá biệt có những điều kiện khó khăn phức tạp nào. Tác giả cho biết đó là một nơi mà “già nửa số công nhân là bộ đội chuyển ngành”,  một bộ phận tiên tiến của nhân dân, một đội ngũ đã được Đảng vô sản tổ chức và giáo dục, là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước. Ngay điều đó cũng đã có ý nghĩa xuyên tạc hiện thực một cách trắng trợn và bôi nhọ vinh dự của quân đội.

          Rồi trong khung cản hỗn độn của công trường, người ta thấy xuất hiện Nguyễn Mai, tên lưu manh vào bậc đàn anh, khoác áo bộ đội bốn túi và đeo huy hiệu “chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Tác giả có vạch rõ rằng hắn nguyên là một tên cảnh sát ngụy quyền lọt vào bộ đội, đã bóp mũi chết một cán bộ bị thương, tước đoạt giấy tờ để nghiễm nhiên trở thành một trung đội trưởng (và qua một thời gian dài không bị lộ). Nhưng đây lại là một điều trái với hiện thực, nó không phản ánh được tính chất trong sạch của quân đội cách mạng ta.

          Bên cạnh Mai, trung đội trưởng giải hiệu, là Hiếu, đại đội trưởng chính tông. Nhân vật này đã nổi bật lên, lấn át mọi nhân vật khác trong truyện. Đặt trước nó, nhân vật trung tâm cô Sen chỉ là một cái bóng mờ nhạt. Từ đầu đến cuối truyện, Hiếu lộ ra là một tên lưu manh sừng sỏ.

          Trước nhất, Hiếu xuất hiện với tư thế rất yêng hùng: dùng quả đấm để khuất phục tên Mai, chiếm lấy trái tim của cô Sen, rồi sau đó không lâu, Hiếu lại bị chính tên Mai xỏ mũi dắt đi. Chỉ cần Mai nói khích vài câu là Hiếu nổi khùng, đi gây gổ với cán bộ, đánh vỡ mũi viên giám đốc. Chỉ cần Mai tâng bốc, phỉnh nịnh một chút là Hiếu lao vào một hành động phạm pháp: đóng giả đại tá đi tống tiền, tống tình. Tiến thêm một bước nữa, Hiếu hò hét, tập hợp quần chúng đi biểu tình, đòi bắt bỏ dọ cán bộ lãnh đạo nhà máy; rồi phá máy móc, viết khẩu hiệu chống đối lãnh đạo… Cuối cùng Hiếu sa đọa đến mức ruồng bỏ vợ, rồi lại lẻn vào toan hiếp vợ để “trừng phạt”, “trả thù”; khi bị đuổi bắt, chạy trốn, nằm úp mặt xuống rãnh, còn “thích thú tự ví như một chiến sĩ du kích gan dạ vừa đánh thắng một trận quấy rối kiểu mẫu”.

          Tác giả cho biết Hiếu không có gì xấu lắm; hắn ta có lần bị kỷ luật nhưng cũng nhiều trận chiến đấu dũng cảm và được tặng thưởng huân chương. Và tác giả tìm cách lý giải sự chuyển biến, bước sa đọa của nhân vật đó.

          Hãy xem tác giả miêu tả Hiếu sau một lần phạm tội:

          “Lúc này đây Hiếu vẫn là búp bê trong tròng mắt đọng đầy bóng tối của Sen.

          Toàn thân anh rõ ràng đang toát ra một sức mạnh hừng hực, một sức mạnh hỗn độn mông muội như sức mạnh gớm ghê của dã thú.

          Phải chăng anh đã biết sử dụng chính cái sức mạnh ấy trên các trận địa quật vào đầu giặc”. (tr. 235)

          Theo tác giả, hẳn là bây giờ Hiếu đã mang cái “sức mạnh mông muội” ấy vào những hành động tội lỗi. Hơn nữa Hiếu là một con người nóng nẩy, lại bị oan trong cải cách ruộng đất, có người bố treo cổ chết le lưỡi; chính điều đó đã đốt cháy ruột gan anh, làm cho anh hành động liều lĩnh, mù quáng. Tác giả tỏ thái độ thông cảm, đúng hơn là dung túng, đối với mọi tội lỗi của Hiếu. Cho đến khi Hiếu bị thi hành kỷ luật, tác giả còn để viên giám đốc biện hộ rằng anh ta đã hành động “ngốc nghếch”, “mù quáng”. Theo tác giả, tên lưu manh Hiếu chỉ là một con “búp-bê” ngây thơ, thậm chí còn “ngồ ngộ” nữa. Và đã như vậy, hắn ta có quyền phạm tội, chẳng đáng lên án làm gì!

          Hiếu của Hà Minh Tuân rõ ràng là một nhân vật hoàn toàn giả tạo. Bước sa đọa của Hiếu thật trái với lô-gich. Một người cán bộ, đã được giáo dục, từng được giao nhiệm vụ chỉ huy một đại đội, tất phải có một phẩm chất chính trị nhất định, tại sao có thể rơi xuống vực thẳm của sự sa đọa nhanh chóng như vậy. Sao anh ta lại lăn mình xuống vực chẳng hề cưỡng lại? Sao anh ta cứ phạm hết tội này đến tội khác, không hề có dằn vặt, suy nghĩ, đấu tranh tư tưởng? Sao ở cái công trường già nửa là bộ đội phục viên ấy không thấy một đảng viên hay một đồng chí bộ đội nào tìm cách dứt anh ta ra khỏi bàn tay độc địa của bọn lưu manh, đưa anh ta vào con đường ngay thẳng?

          Với hình tượng Hiếu, tác giả “Vào đời” có dụng ý gì? Vạch ra bước đường sa đọa tất yếu của một con người với ý nghĩa phê phán, giáo dục? Không phải thế. Dưới ngòi bút của Hà Minh Tuân, người ta chỉ thấy hiện thực bị xuyên tạc, hình ảnh đẹp đẽ của “anh bộ đội” bị bôi nhọ, cái xấu đã thắng cái tốt, và tệ hơn thế nữa, kẻ phạm tội đã được bênh vực, được biện hộ.

          Tác giả “Vào đời” cũng đưa ra một nhân vật tích cực: bi thư chi đoàn Trần Lưu. Nhưng đó là một cái bóng mờ nhạt và yếu ớt đến thảm hại. Ngòi bút của Hà Minh Tuân còn làm cho Trần Lưu trở thành một con rối, một thằng hề đáng cười và đáng thương hại nữa: Trần Lưu động mở miệng là nói “giai cấp công nhân lãnh đạo”; anh ta còn ngốc nghếch xông ra “xây dựng” cho một bọn lưu manh và bị chúng đánh sưng mồm sưng mắt; lại “xây dựng” cho một mụ béo và bị nó chửi bóng chửi gió; lại “xây dựng” cho một anh thợ say rượu và bị hắn xách dao bầu đuổi…

          Trong tác phẩm “Vào đời”, bên cạnh những cái xấu khác, người ta thấy hình ảnh anh bộ đội đã bị ngòi bút của Hà Minh Tuân bôi một vết nhơ.

          Những người đọc có thiện chí, nhất là những người quân nhân cách mạng chúng tôi, đọc xong tác phẩm “Vào đời”, không thể không đặt với tác giả một số câu hỏi:

          Tại sao anh Hà Minh Tuân lại vẽ lên những con người bộ đội méo mó như vậy? Tại sao trong cái xí nghiệp già nửa là bộ đội chuyển ngành, anh chỉ thấy những con người xấu xa như vậy? Anh thiếu một vốn hiểu biết về con người bộ đội ư? Tôi cho rằng cũng có phần nào như thế, nhưng chắc chắn không hẳn là như thế. Hà Minh Tuân đã sống trên dưới mười năm trong bộ đội, tất phải hiểu những người bộ đội từ cái bản chất tốt đẹp của họ, từ sự giáo dục của Đảng đối với họ, từ sự tôi luyện của họ trong máu lửa chiến đấu. Từ ngày ra công tác bên ngoài, ít nhiều anh cũng có dịp gần gũi những người bộ đội phục viên, tất phải hiểu họ đã lao động, cống hiến như thế nào. Vả chăng trong thực tế cuộc sống, hình ảnh “anh bộ đội” của nhân dân ta dẹp đẽ quá, trong sáng quá, bất cứ một người có thiện chí nào cũng nhìn thấy rõ. Nếu những hình ảnh trong sáng đó khi vào tiểu thuyết “Vào đời”, xuyên qua con mắt của tác giả, đã trở thành xám xịt, đó là vì con mắt của nhà văn, cái nhân sinh quan của nhà văn đã có những lệch lạc nghiêm trọng. Tác giả đã xem xét thực tế xã hội miền Bắc chúng ta, trong đó có những người bộ đội, bằng cái nhìn xa lạ, không phải cái nhìn qua giai cấp vô sản, cũng không phải cái nhìn của một người có thiện chí.

DÂN HỒNG

Nguồn:Cứu quốc, Hà Nội, s. 3128 (14.7.1963), tr.12-13.            

“Vào đời” xuyên tạc sự thật của chế độ ta

13/7/1963. Báo “Nhân dân”: Ý kiến bạn đọc:

Trần Hạnh (bộ đội): “Vào đời” xuyên tạc sự thật của chế độ ta

          “Vào đời”, một cuốn sách dày hơn 300 trang tràn ngập những cảnh tượng lộn xộn, tiêu cực, khổ nhục, khủng khiếp. “Vào đời” không những không có lòng chân thành, trân trọng với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng, trái lại còn đả kích từng bước thắng lợi của cách mạng. “Vào đời” không những không ca ngợi tính chất ưu việt của chế độ ta, trái lại đã bóp méo sự thật, bôi đen chế độ xã hội ta. Do đó tác dụng khách quan của “Vào đời” là không góp phần bảo vệ chế độ xã hội ta, trái lại còn kích thích những yếu tố lạc hậu còn rơi rớt lại trong xã hội, gây thù hằn đối với chế độ xã hội.

          Một trong những điểm cần phải chú ý là trong tác phẩm này tác giả đã luôn luôn gào thét chống chủ nghĩa quan liêu. Chúng ta biết rằng, chính đảng của giai cấp công nhân sau khi giành được chính quyền thì sự lãnh đạo của Đảng khi ấy chủ yếu là thông qua chính quyền bằng đường lối, chính sách, thông qua những cán bộ của Đảng phụ trách từng bộ phận. Trong tác phẩm này, tác giả đã biến các cán bộ phụ trách ở công trường, xí nghiệp từ người lãnh đạo chính trị đến cán bộ chuyên môn, quản lý thành một bọn quan liêu, và kêu gọi chống bọn quan liêu đó như chống bọn chủ tư bản, như một tập đoàn mà lợi ích căn bản đối lập với nhân dân lao động như “một kẻ thù số 1”.

          Đi xa hơn nữa, tác giả đã tập hợp một lực lượng không kể địch hay là ta đều chống quan liêu cả, từ phái viên trung ương, thành ủy, bí thư chi bộ, bí thư chi đoàn, công nhân tích cực, cho đến bọn lưu manh.

          Trong khi đó, đối với bọn lưu manh, bọn phá hoại thì tác giả đã để cho chi bộ và chi đoàn thanh niên trong truyện không những đã khoanh tay làm ngơ trước những hành động chống đối lãnh đạo của chúng, mà lại còn đồng tình và còn cho rằng chúng dù có “lệch lạc” cũng vẫn chỉ là ở trong nội bộ nhân dân, nội bộ giai cấp, nên thương yêu giai cấp, v.v.

          Ngụy trang sau chiêu bài chống chủ nghĩa quan liêu, để đả kích không thương xót những cơ quan lãnh đạo, dùng danh nghĩa nội bộ giai cấp để bao che cho kẻ thù, thử hỏi đó là lập trường giai cấp nào?

          “Vào đời” ra đời năm 1963 mà vai trò lãnh đạo của Đảng luôn luôn bị hạ thấp, ngọn cờ tư tưởng của Đảng không được giương cao: chân lý không đủ soi rọi cho tối tăm, phi nghĩa lấn át chính nghĩa, cái tiêu cực lấn át cái tích cực. Trong cuốn truyện từ đầu đến cuối, ta thấy nhan nhản những quan điểm tư tưởng của giai cấp tư sản, địa chủ, của bọn lưu manh côn đồ, bọn bất mãn với chế độ không bị phê phán, trái lại có chỗ tác giả lại tỏ ý đồng tình.

          Cần phải vạch rõ đặc điểm và tính chất của sự xuyên tạc sự thật trong “Vào đời” là: ngụy trang là cách mạng để công kích cách mạng. Cái nguy hại của nó là ở chỗ này. Ta thấy rải rác trong truyện cũng có những lời lẽ đề cao sự lãnh đạo của Đảng, nhưng thực chất là công kích sự lãnh đạo của Đảng dưới hình thức “chống quan liêu”. Cũng có chỗ tác giả ca ngợi giai cấp công nhân, nhưng toàn bộ cuốn sách đã bôi nhọ giai cấp công nhân, vì đã miêu tả giai cấp công nhân như một lớp người lộn xộn, vô tổ chức, vô kỷ luật.

          Từ đầu đến cuối, tác giả đã bố trí hai tuyến tốt xấu chặt chẽ, nhưng không phải nhằm đề cao mặt tốt, phê phán mặt xấu, trái lại, nhằm giương cao mặt tiêu cực, đả kích mặt tích cực cho có hiệu quả hơn.

          Ngoài ra, tác giả toàn mượn lời của chính những nhân vật tích cực để công kích chế độ ta, để cho nhân vật tích cực hễ phát lên những lời lẽ có vẻ là đúng đắn, thì lại thô lỗ sống sượng, như Trần Lưu, hoặc phát ra không đúng chỗ như bí thư chi bộ giáo dục quần chúng bằng cách lên lớp chính trị cho hai họ trong đám cưới Sen một cách dài dòng và lạc lõng mà quần chúng không hưởng ứng, hoặc giả tác giả dùng hình tượng em bé bán lạc rang khổ sở giữa thủ đô năm 1960 gây cho người đọc cảm giác bùi ngùi thương sót, giống như đối với những em nhỏ dưới thời thuộc địa trước đây. Những cách như vậy trong “Vào đời” có rất nhiều và rất nguy hiểm.

          Từ bản thân cuốn sách rất có hại ấy, tôi cho rằng không phải “Vào đời” thuộc loại chỉ có những thiếu sót nhất định bên cạnh ưu điểm là căn bản, không phải vào loại trong cuốn sách ấy có đoạn này đoạn khác hỏng, còn nhìn toàn bộ thì được, thậm chí cũng không phải là xuất phát từ thiện ý nhưng do trình độ có hạn mà phạm phải sai lầm. Không phải như vậy. Hoàn toàn không phải như vậy. Toàn bộ cuốn sách đã nói lên sự bất mãn, phát lên được tất cả những bực bội đối với lãnh đạo, chế độ, cách mạng.

          Vì sao giữa năm 1963 này Hà Minh Tuân lại có thể cho ra đời một cuốn sách mang nhiều độc tố như vậy?

          Có người cho rằng vấn đề chủ yếu là sự tích lũy vốn sống còn ít. Cần phải vạch ra rằng: ở đây không phải là vấn đề tích lũy vốn sống, vì nếu xuất phát từ thiện ý mà thiếu vốn sống thì chỉ đưa đến những trang sách công thức khô khan nhạt nhẽo, chứ chắc chắn không đưa đến một cuốn sách đầy hằn học như “Vào đời”. Có người lại cho rằng chủ yếu là do tư tưởng tiểu tư sản, do phương pháp tư tưởng lệch lạc chi phối. Tôi cho rằng tư tưởng của “Vào đời” còn đi xa hơn nữa. Nếu tư tưởng tiểu tư sản và phương pháp tư tưởng lệch lạc chi phối thì chỉ có thể dẫn đến những lệch lạc chứ quyết không thể đến mức táo bạo và trắng trợn công kích kịch liệt từng bước thắng lợi của cách mạng như “Vào đời”.

          Tôi cho rằng cái chi phối quyết định những tư tưởng xấu của “Vào đời”, chủ yếu là sự bất mãn và hằn học của những tư tưởng thù địch với nhân dân, Đảng, cách mạng, chế độ, những tư tưởng đối lập với CCRĐ, cải tạo XHCN, chuyên chính vô sản.

          Tại sao một cuốn sách xấu xa, thù địch và có hại nghiêm trọng như vậy lại có thể lọt lưới, ra mắt bạn đọc, gây nên những tác dụng tiêu cực? Phải chăng đó là tư tưởng hữu khuynh tiêu cực, một thái độ vô trách nhiệm, tác phong không nghiêm túc của Nhà xuất bản Văn học?

          Tôi nghĩ rằng Nhà xuất bản Văn học cùng với các cơ quan xuất bản khác của Đảng và nhân dân đều nằm trong hệ thống chuyên chính vô sản, đều là vũ khí của giai cấp công nhân, của quần chúng nhân dân trên mặt trận tư tưởng, do đó những đồng chí đã được Đảng và nhân dân tín nhiệm trao cho nhiệm vụ lãnh đạo Nhà xuất bản Văn học cần phải có tinh thần phụ trách cao.

          “Vào đời” lại là một dẫn chứng mới cho tính chất gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài trong cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng, trên mặt trận văn học nghệ thuật trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm phải kiên quyết đấu tranh đập tan mọi khuynh hướng tư tưởng sai lầm bằng cách không ngừng giương cao ngọn cờ tư tưởng của Đảng.

TRẦN HẠNH

(bội đội, hòm thư 1230, Hà Nội)

Nguồn:Nhân dân, s. 3394 (13.7.1963), tr. 5.

    

Tư tưởng sai lầm nguy hại của cuốn truyện “Vào đời”

12/7/1963. “Văn nghệ”, s. 11:

Hoàng Trung Thông: Tư tưởng sai lầm nguy hại của cuốn truyện “Vào đời”

          Cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh Tuân với nội dung tư tưởng xấu và có hại của nó đã gây một luồng sóng bất bình chính đáng trong đông đảo bạn đọc. Nhiều bài báo đã phê phán nghiêm khắc cuốn sách đó để ngăn chặn những tác hại do cuốn sách đó gieo rắc ra. Việc tiếp tục phê phán những tư tưởng sai lầm biểu hiện trong “Vào đời”, bảo vệ nguyên tắc tính đảng trong sáng tác văn học vẫn là cần thiết.

Bóp méo sự thực, đặt ngược vấn đề

        Nếu câu chuyện một cô gái tiểu tư sản đi vào đời với những cảnh ngộ éo le, tai họa, đầy bi kịch và phải vượt qua những cảnh ngộ đó để trưởng thành là chủ đề của tác phẩm “Vào đời”, thì cuộc sống, – hiện thực xã hội trong đó những nhân vật hoạt động – không phải chỉ là cái cớ phụ thuộc mà chính là cái nền cho chủ đề của tác phẩm đó.

          Cách đặt vấn đề trong một tác phẩm xuất phát từ việc tác giả của nó nhìn nhận, phân tích đánh giá hiện thực đời sống như thế nào. Không phải bỗng nhiên mà anh Hà Minh Tuân tìm ra một chủ đề cô Sen đi vào cuộc sống rồi cuộc tình duyên Sen Hiếu và những gì đã chi phối cuộc đời của họ và cuộc sống ở công trường xí nghiệp thủ đô. Không phải bỗng nhiên vấn đề quan liêu và “chống quan liêu” được nổi bật lên như một vấn đề then chốt của cuốn truyện bên cạnh những hoạt động phá hoại của bọn lưu manh, đến mức huy động được quần chúng tập hợp chống lãnh đạo.

          Chính là vì tác giả đã có một con mắt nhìn hiện thực quá đặc biệt, hoàn toàn xa lạ với chúng ta. Nhìn vào bức tranh đời sống mà tác giả đã vẽ ra trong cuốn truyện “Vào đời”, một bức tranh xám xịt đầy những màu sắc u ám nặng nề, chúng ta thấy rằng cuốn sách đã phản ánh hiện thực một cách xuyên tạc.

          Thời gian trong truyện là những năm 1956-1957 đến 1960, những năm mà xã hội miền Bắc nước ta đang trải qua những biến chuyển cách mạng to lớn và sâu sắc. Chúng ta sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất [CCRĐ] đã khôi phục lại nền kinh tế từ trên một nửa đất nước bị chiến tranh tàn phá và bắt đầu một cuộc đấu tranh mới để cải tạo giai cấp tư sản và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, mở rộng phong trào hợp tác hóa nông thôn, thủ tiêu chế độ bóc lột, tạo ra một quan hệ hoàn toàn mới mẻ giữa người với người. Những biến chuyển cách mạng đó đã có những ảnh hưởng lớn lao trong đời sống và tình cảm tư tưởng con người, đã đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ mà vấn đề trung tâm nổi bật nhất là vấn đề hai con đường: XHCN hay TBCN. Nhưng, hiện thực cách mạng lớn lao đó không hề được phản ánh trong tác phẩm “Vào đời”, những vấn đề cấp bách đó không hề được đặt ra trong cuộc sống mà tác giả đã miêu tả. Trái lại, cuốn truyện đã dựng lên một khung cảnh đời sống ở công trường và nhà máy cơ khí hết sức rối ren hỗn độn và phức tạp theo trí tưởng tượng và dụng ý xếp đặt của tác giả. Người ta cũng thấy đây đó một vài hình ảnh về lao đọng sản xuất, về lòng thương người… nhưng tất cả những cái đó không hề được lóe sáng lên, mà đã chìm đi trong hàng loạt những hiện tượng tiêu cực đen tối bị dồn đống lại và thổi phồng lên: bọn lưu manh ngang nhiên chửi bới và hành động phá hoại, lôi kéo được cả công nhân vào việc chống đối lãnh đạo, trật tự an ninh không bảo đảm, kỷ luật lao động lỏng lẻo, đời sống công nhân không được cải thiện, các chính sách chế độ không được thực hiện và bao trùm lên tất cả, chi phối tất cả là tệ quan liêu của lãnh đạo đã đè nặng xuống cuộc đời của những nhân vật trong truyện.

          Bằng những hình tượng nghệ thuật, và bằng sự phân tích tâm lý và lời nói của nhân vật, tác giả đã quy tất cả đầu mối vào cái mà tác giả gọi là bệnh “quan liêu”. Chính Hán, người giám đốc mới của nhà máy, người mà tác giả coi như một “cán bộ mẫu mực” cũng đã tuyên bố: “phải đánh thọc sâu vào những lô-cốt chính của kẻ thù trước mắt: bệnh quan liêu”.

          Nhưng hiện thực khách quan của cách mạng vào những năm 1956-1960, và ngay cả hiện thực đã bị miêu tả xuyên tạc trong cuốn sách cũng đã bác bỏ lập luận nguy hiểm đó của tác giả rồi. Chúng ta ai nấy đều biết những sự việc trong cuốn sách đều xảy ra trong thời kỳ mà giai cấp tư sản lợi dụng một số khuyết điểm của ta đã tấn công ta trên các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa. Chủ trương của Đảng ta lúc bấy giờ đâu phải là chĩa mũi nhọn vào bệnh quan liêu coi như “kẻ thù trước mắt”. Chỉ có giai cấp tư sản phản động mới chủ trương như vậy. Đảng ta chủ trương phải tập trung đấu tranh mạnh mẽ cải tạo giai cấp tư sản đồng thời khắc phục những khuyết điểm trong công tác của mình. Tác giả “Vào đời” đã không hề nói gì đến cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt đó. Tác giả đã cố vẽ bọn Mai, Song như những tên lưu manh khiêu khích và Hiếu như một tên bất mãn cá nhân, nhưng qua những quan điểm mà chúng phát ra, thái độ hằn học với chế độ và hành động phá hoại mà chúng tỏ rõ, cũng như qua chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc cực độ đến tàn nhẫn của chúng, người đọc không thể không thấy ngay bản chất giai cấp đối địch của những tên này. Thế thì tại sao anh Hà Minh Tuân lại đặt ngược vấn đề như vậy? Tại sao anh lại không thấy việc chĩa mũi nhọn vào bọn phản động đại diện cho tư tưởng tư sản phản động là phản ánh chân thực cuộc sống lúc bấy giờ? Tại sao anh lại thêu dệt ra một cuộc “chống quan liêu” trong lãnh đạo, một cuộc chống quan liêu hoàn toàn do bọn phản động dựa vào “bất mãn” của công nhân gây ra, lại được chi bộ và phái viên Trung ương (?) đồng ý, mà chỉ khác bọn chúng về “phương thức đấu tranh”?

          Nếu chúng ta còn nhớ luận điệu xảo quyệt của giai cấp tư sản phản động vào những năm 1956-1957 thì rõ ràng đề ra chống bệnh quan liêu “kẻ thù trước mắt” trong quyển “Vào đời” là hoàn toàn trái ngược với chủ trương và quan điểm của Đảng ta lúc bấy giờ, mà là chứng minh cho những luận điệu thù địch đã bị bác bỏ và lên án. Chúng ta có thể nêu vấn đề phê phán bệnh quan liêu vào những năm đó trong tác phẩm văn học được không? Được, nhưng tác giả phải giới hạn việc phê phán bệnh quan liêu trong phạm vi cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt lúc ấy, và nhất là không thể tùy tiện để việc “chống quan liêu” lên hàng đầu và lờ đi không nói gì đến cuộc đấu tranh giai cấp cả.

Chỗ đứng sai lầm của tác giả

          Việc bóp méo hiện thực, đặt ngược vấn đề, “sáng tạo” ra một chủ đề sai lạc như vậy có liên quan đến chỗ đứng của tác giả.

          Tiểu thuyết “Vào đời” đã đề cập đến nhiều mặt, đến nhiều vấn đề nóng hổi của đời sống. Từ CCRĐ, quản lý xí nghiệp, cải thiện đời sống, chế độ phục viên, mậu dịch, công an, tuyên truyền báo chí, cho đến hội nghị phê bình, đám cưới đời sống mới…, ở đâu tác giả cũng đã nhìn hiện thực với một con mắt rối loạn, lung tung, thậm chí không phải là không có lúc để lộ ác cảm của mình. Trong vấn đề gì tiếng đả kích cũng nổi lên, tiếng đáp lại cũng chỉ yếu ớt và có nhiều khi không có tiếng gì đáp lại.

          Điều làm cho người đọc chú ý nhất là vấn đề CCRĐ đã được tô khá đậm nét với những hình tượng và tiếng chửi rủa độc địa của Hiếu mà tác giả đã miêu tả một cách chi tiết và cụ thể trong quá trình diễn biến tư tưởng của nhân vật này. Mặc dù tác giả cũng có rào đón, cũng có giải thích và đôi lúc cũng có phê phán nhưng tất cả những hình tượng sắc nhọn được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần, những suy nghĩ, những đau đớn, dằn vặt, uất ức, căm phẫn của Hiếu được tác giả phân tích và cảm thông đã làm cho người đọc có một cảm giác hết sức nặng nề về tình hình tiến hành CCRĐ. Người đọc không còn phân biệt được đúng và sai, thắng lợi và khuyết điểm. Cái còn lại ở người đọc là những giọng điệu hằn học, những suy nghĩ cực kỳ phản động của nhân vật Hiếu về CCRĐ. Những hình tượng ghê rợn được gợi lên nhiều lần như một ám ảnh. Sai lầm của CCRĐ ở đây đã bị tác giả quy kết thành thành nguyên nhân của sự biến chất sa ngã của Hiếu, có một ảnh hưởng đau đớn đến cuộc đời của Sen.

          Một loạt cán bộ quản lý xí nghiệp trong “Vào đời” đã bị tác giả bôi nhọ thành ra một bọn quan liêu tồi tệ với những nét bút biếm họa hằn học mà phần lớn là nhìn qua con mắt của Hiếu. Sau đây là vài ví dụ:

          “Trong giây lát, Bân, phó giám đốc, trước mắt Hiếu bỗng thành một ông quan đội khăn xếp mặc áo gấm dài đeo bài ngà, quần ống sớ…

          … Đến cổng công trường, anh (Hiếu) vào phòng thường trực đưa giấy giới thiệu. Nhân viên thường trực mặt lưỡi cày xanh rớt nhận giấy vừa nheo mắt lẩm nhẩm đọc thì chuông điện thoại réo gọi…

          Người đeo kính đen nghiêm mặt ra hiệu cho Hiếu ngồi chờ ở ghế dài bên tường rồi lại cắm cúi tiếp đọc giấy tờ. Trán anh ta bị tóc xòa che mất quá nửa dưới cặp kính đen là một nửa khuôn mặt trắng bệch như nến, nghiêm quá thành đuồn đuỗn như mặt hình nhân. Cái miệng anh ta mím lại, chằng thốt một lời, sao có vẻ kiêu kỳ hách dịch! Hiếu ngửa tay muốn vả vào cái miệng ấy một cái cho nó bớt làm bộ đi…”

          Tác giả đã vẽ nên những hình ảnh xấu xí bề ngoài của một số cán bộ “quan liêu”, còn thực chất bệnh quan liêu là gì, tác giả cũng không hiểu nổi. Hà Minh Tuân chỉ nêu lên được một cách giản đơn về bệnh giấy tờ, thói hách dịch và và một vài hành động sai lầm đuổi thợ, về lỗi ăn cắp của công nhân và đi muộn về sớm, nhưng anh lại hết sức cường điệu bệnh quan liêu, trút hết sự căm tức của mình vào bệnh quan liêu hách dịch qua mắt nhìn và miệng nói của một số phần tử xấu. Anh đã chụp bệnh quan liêu lên đầu tất cả những cán bộ phụ trách của nhà máy, coi họ như thù địch, tô vẽ ra sự “bất mãn” của công nhân và đẩy công nhân vào một cuộc đấu tranh giả tạo. Sau cuộc đấu tranh “chống quan liêu” đó rồi, thì cả xí nghiệp ửng lên một màu hồng, mọi sự việc đều tốt đẹp cả lên.

          Trong hàng loạt những vấn đề khác, có khi Hà Minh Tuân đã lấy lời những người “tích cực” mà chỉ trích chua cay về mậu dịch, về công an, về tuyên truyền báo chí, về sự chăm lo đời sống cho công nhân, có khi tác giả động đến các vấn đề đó qua giọng lưỡi của những phần tử xấu. Có khi đó là những lời phàn nàn bực dọc, có khi đó là những tiếng đả kích chua chát. Tác giả đã đưa vào tác phẩm của mình hàng loạt sự việc, không phân biệt được hiện tượng và bản chất, khó khăn và khuyết điểm, tốt và xấu.

          Vậy thì trong khi vẽ ra một bức tranh đời sống, nhìn nhận địch ta, đánh giá thành quả và sai lầm, chỗ đứng của tác giả “Vào dời” là ở đâu?

          Rõ ràng chúng ta thấy lập trường tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm “Vào đời” không phải là lập trường tư tưởng của Đảng và của nhân dân ta. Đôi lúc Hà Minh Tuân cũng cố gắng phần nào để giữ lập trường, để thuyết lý, để giải thích vấn đề, nhưng nhìn chung trong nhiều trường hợp anh đã bỏ mất chỗ đứng của mình mà rơi vào lập trường tư tưởng của giai cấp đối địch.

Nhân sinh quan tư sản đã dẫn tác giả “Vào đời” đi đến đâu?

          Trong tiểu thuyết “Vào đời” Hà Minh Tuân đã tập trung vào việc miêu tả số phận của hai nhân vật Sen và Hiếu. Cả hai người tuy không cùng một nguồn gốc, cùng một tâm trạng nhưng bọn họ đều đi vào đời và cùng bị những hoàn cảnh éo le phức tạp chi phối. Việc chọn họ làm nhân vật trung tâm trong một giai đoạn lịch sử đó vốn không phải là ngẫu nhiên chút nào.

          Tác giả muốn mượn tất cả những éo le, phức tạp, tai họa của đời sống để nói lên sự trưởng thành hay là sự sa đọa của hai nhân vật đó. Cũng có thể nói tác giả mượn hai nhân vật khá tiêu biểu đó để biểu hiện cuộc đời theo cách nhìn riêng của mình. Tôi không muốn nói đến những cái giả tạo, vụng về, kém cỏi trong việc xây dựng nhân vật, trong việc miêu tả quá trình chuyển biến về tư tưởng, tình cảm và tâm lý của hai nhân vật này. Tôi chỉ muốn nói đến quan điểm của tác giả trong việc xây dựng và đánh giá hai nhân vật Sen và Hiếu.

          Nhiều người đã nói đến việc tác giả tạo ra những bước ngoặt tai ác trong cuộc đời của Sen và đem bao nhiêu tai họa trong đời sống úp chụp xuống đầu cô bé non yếu này. Tác dụng của việc làm đó là sẽ gây nên những sự lo ngại hoang mang cho từng lớp thanh niên sắp sửa vào đời đi xây dựng đất nước. Tôi muốn nói về một khía cạnh khác. Tác giả từ quan điểm nào mà nhìn nhận vấn đề đưa từng lớp thanh niên tiểu tư sản vào con đường lao động? Từ quan điểm giáo dục tinh thần yêu nước, yếu chế độ, yêu lao động, phát huy tính tích cực hăng hái sẵn có của họ, và giúp họ khắc phục sửa chữa những tư tưởng, tình cảm, tác phong tiểu tư sản để họ qua lao động mà trở thành người công nhân thực sự như quan điểm của Đảng ta? Hay là tạo ra những cảnh ngộ éo le, những lao động khổ cực, những tai họa bất ngờ trong bước ngoặt cuộc đời của họ để bi đát hóa những tâm trạng, để vuốt ve những tình cảm yếu đuối của họ? Phải chăng cứ bi đát hóa cực độ tất cả những cảnh ngộ trong đời họ như trong trường hợp “Vào đời” là biểu hiện của lòng thương người hay chính đó là biểu hiện của sự tàn nhẫn tư sản? Chúng ta thật rùng mình và ghê tởm khi thấy những giày vò độc ác, những đối xử vô nhân đạo của tên Hiếu đối với Sen, thế mà tác giả vẫn để cho Sen chịu đựng một cách thụ động (mặc dù Sen đã được là chiến sĩ thi đua) và cuối cùng Sen vẫn còn có cảm tình với hắn. Phải chăng như thế mới là “người”?

          Ở nhân vật Hiếu, tác giả “Vào đời” còn bộc lộ những quan điểm sai lầm nghiêm trọng hơn.

          Trong khi trao đổi ý kiến với một số bạn viết văn, anh Hà Minh Tuân đã nói ý định xây dựng nhân vật Hiếu của mình. Đại ý anh muốn tạo ra một nhân vật vốn cũng là tốt nhưng vì bất mãn cá nhân rồi cứ bất mãn này chồng lên bất mãn khác cuối cùng sa ngã và bị phần tử xấu lôi kéo. Trong nhân vật Hiếu anh vừa muốn nêu lên trách nhiệm tự thân hắn ta, vừa muốn nói đến trách nhiệm của xã hội. Anh vừa phê phán lại vừa thương hại hắn… Thật ra tạo cho nhân vật có một số phận, có một đời sống bên trong, hay có một tấn bi kịch gay go về tư tưởng không phải hoàn toàn là sai lầm. Nhưng vấn đề chính là phải từ lập trường quan điểm nào mà nhìn nhân vật, mà đánh giá tư tưởng của nó, mà tạo nên số phận? Cái khuynh hướng chỉ muốn tạo nên những “số phận”, “bi kịch” mà không phân tích cơ sở giai cấp, bản chất giai cấp của nhân vật là một khuuynh hướng rất sai lầm nguy hiểm.

          Qua tác phẩm “Vào đời”, Hiếu là hạng người gì? Phải chăng hắn là một thứ cá nhân bất mãn? Không! Chính hắn là đại diện thực sự cho những tư tưởng phản động nhất của giai cấp thù địch. Những suy nghĩ, những ngôn luận của hắn về CCRĐ, về cán bộ lãnh đạo, về các mặt đời sống là xuất phát từ những quan điểm hết sức phản động. Đối với cuộc sống hắn tỏ rõ một thái độ thù hằn giai cấp. Hắn ném đá vào ống loa, căm ghét cả những người đọc sách Mác-Lê-nin, thấy cán bộ lãnh đạo là muốn vả vào mặt (mà thực sự là hắn đã làm), hắn đã phá hoại máy móc, đã ký vào kiến nghị, đã thúc đẩy biểu tình, đã viết khẩu hiệu chống đối… Quan niệm và thái độ của hắn đối với phụ nữ hết sức tàn nhẫn và thô bỉ. Ở trong con người của hắn phải chăng là một tấn “bi kịch” của một người vừa tốt lại vừa xấu, vừa yêu chế độ lại vừa bất mãn, vừa muốn tiến bộ lại vừa muốn trụy lạc. Tấn “bi kịch” mà Hà Minh Tuân dựng lên cho hắn rõ ràng chỉ là một sự vật lộn điên cuồng của một chí căm thù giai cấp ghê gớm, một sự chống đối không khoan nhượng, một sự xuống dốc tuồn tuột không hề có một chút đấu tranh tư tưởng bên trong nào. Cho nên ở hắn, việc bọn lưu manh lôi kéo chỉ là một yếu tố rất phụ. Sự căm thù đối với CCRĐ, đối với lãnh đạo mới là phần bản chất nhất của hắn. Hiếu là một nhân vật rất giả mà lại rất thật. Rất giả là vì sự thoái hóa của một quân nhân chuyển ngành ở đây khá kỳ quặc; mà thật là ở chỗ tác giả đã thể hiện lên rất đầy đủ bản chất hết sức phản động của một phần tử đối địch.

          Hà Minh Tuân đã tạo ra một nhân vật phản động trắng trợn như vậy mà lại muốn phân tích những bi kịch, mổ sẻ những dằn vặt đau đớn căm hờn của hắn, muốn cảm thông, thương sót với số phận của hắn, muốn đổ trách nhiệm cho xã hội và nhất là lại dùng lời của hắn mà vạch ra một cách xuyên tạc những sai lầm của CCRĐ, của chế độ thì thật là khó hiểu.

          Chủ nghĩa “nhân đạo” tư sản với quan niệm con người trừu tượng không đủ giúp tác giả cắt nghĩa những tâm lý, tư tưởng con người trong đời sống đang diễn ra một cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt mà chỉ dắt dẫn tác giả đi vào con đường sai lầm, đảo ngược phải trái, lẫn lộn trắng đen, mất cả ranh giới địch ta hết sức nguy hiểm.

          Trong khi tác giả tập trung biểu hiện những “bi kịch” trong hai nhân vật Sen và Hiếu, thì những nhân vật được gọi là “tích cực” nhất chỉ là những cái xác không hồn, chỉ là những hình nhân để cho tác giả mượn lời mà giải thích điều này điều nọ có khi rất bậy bạ. Những con người này không có một cuộc sống riêng, không có một thế giới tâm hồn riêng, không có lý tưởng, chỉ xuất hiện như những bóng người đi qua trong cuộc đời Sen và Hiếu. Người đọc rất lấy làm lạ là tại sao tác giả đã tập trung phần lớn giấy mực vào việc biểu hiện những đau khổ dằn vặt chán chường, uất ức bẩn thỉu và tàn nhẫn của “con người”, vào việc tô đậm những triết lý hưởng lạc, những tâm trạng đòi hưởng thụ kỳ quặc đánh vào những thị hiếu tầm thường nhất, còn những cái tốt đẹp mới mẻ trong tâm hồn con người, những phẩm chất cách mạng của người công nhân thì lại hết sức mờ nhạt hầu như không thấy? Từ lâu trong các truyện “Trong lòng Hà Nội” và “Hai trận tuyến” của Hà Minh Tuân chúng ta cũng đã bắt gặp những kiểu người là lạ với đủ các thứ triết lý hưởng lạc, với các kiểu yêu đương mã thượng và khêu gợi nhục dục. Nhưng ở cuốn “Vào đời” những triết lý hưởng lạc, những thái độ đối với “người đàn bà” được phơi bày ra một cách trắng trợn nhất.

          Cuốn sách này đã toát ra một nhân sinh quan cá nhân bất mãn và đòi hưởng thụ nồng nặc. Cố nhiên đó không phải là nhân sinh quan cách mạng, cũng không phải chỉ là nhân sinh quan tiểu tư sản. “Vào đời” sặc lên những mùi vị uất ức bất mãn, đòi hưởng thụ đến tàn nhẫn của giai cấp ăn bám.

Cần phê phán nghiêm khắc cuốn “Vào đời”, giữ vững nguyên tắc tính đảng trong sáng tác

          Trong cuộc đấu tranh xây dựng CNXH ở miền Bắc nước ta hiện nay, không phải đã hết những luồng tư tưởng xấu của giai cấp đối địch nhìn mọi thắng lợi của cách mạng một cách đen tối, coi mọi thay đổi cách mạng như một tai họa, lấy sự hưởng thụ cá nhân làm cơ sở để đánh giá cuộc sống, để trốn tránh mọi khó khăn gian khổ của cách mạng, thậm chí tìm mọi cách để đả kích vào những gì không phù hợp với ý muốn riêng của nó. Cuốn truyện “Vào đời” đã biểu hiện khá nhiều mặt và tập trung những ảnh hưởng nghiêm trọng của luồng tư tưởng độc hại này. Người đọc dễ dàng nhận thấy những biểu hiện đó trong việc day đi day lại một cách hằn học những sai lầm của CCRĐ, trong việc tập trung chống chủ nghĩa quan liêu coi như “kẻ thù trước mắt”, trong việc chỉ trích một cách cay độc mọi mặt đời sống, nhất là những vấn đề thuộc về “hạnh phúc cá nhân”, trong việc đả kích vào mọi cơ quan và tổ chức.

          Chống lại luồng tư tưởng xấu biểu hiện trong cuốn truyện “Vào đời” là một nhiệm vụ cần thiết. Không những việc làm đó có tác dụng ngăn chặn những nọc độc tai hại trong người đọc mà còn giữ vững những nguyên tắc tính đảng trong sáng tác văn học của chúng ta.

          Trong bức thư của BCH TƯ Đảng gửi ĐH văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 có đoạn viết: “Chúng ta mong mỏi có thêm nhiều tác phẩm văn nghệ miêu tả một cách chân thật và hùng hồn công cuộc lao động và đấu tranh vĩ đại của nhân dân, cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội ta ngày nay, mạnh dạn nêu lên và trả lời đúng những vấn đề lớn của cách mạng, của đời sống. Nhân dân ta yêu cầu văn nghệ không chỉ biểu dương những ưu điểm và thắng lợi mà còn phải thẳng thắn phê bình những khuyết điểm và nhược điểm trên bước đường trưởng thành của cách mạng với một tinh thần xây dựng và một thái độ chân thành”.

          Đó là phương hướng sáng tác của chúng ta. Phương hướng đó không hề bó tay chúng ta trong việc miêu tả nhiều mặt của đời sống, trả lời những vấn đề lớn của đời sống, không hề hạn chế việc thể hiện những mặt tiêu cực của đời sống. Nhưng trách nhiệm của nhà văn chúng ta là phải biết tìm ra những cái mới, cái tốt, cái lớn lao của những đổi thay trong đời sống trong tư tưởng và tâm hồn con người mà thể hiện, phân tích, sáng tạo. Và trong khi viết về những mặt tiêu cực, mặt xấu còn tồn tại trong đời sống con người, chúng ta phải đứng trên lập trường cách mạng kiên định của Đảng, chứ không phải đứng trên lập trường bấp bênh dao động của giai cấp tiểu tư sản thậm chí đứng trên lập trường đối địch của giai cấp bóc lột.

          Sai lầm nghiên trọng nhất của “Vào đời” vẫn là ở chỗ đứng và cách nhìn của tác giả. Chủ nghĩa sơ lược và chủ nghĩa tự nhiên cũng có ảnh hưởng phần nào đến sai lầm của cuốn truyện. Nhưng căn bản không phải là ở đó. Rõ ràng cách làm việc bôi bác vô trách nhiệm không điều tra nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ con người và cuộc sống, sự lao động nghệ thuật cẩu thả, vội vàng, việc kéo dài cuốn truyện ra hàng mấy trăm trang một cách không cần thiết là nguyên nhân đẻ ra một tác phẩm sơ lược kém cỏi giả tạo như thế. Nhưng sai lầm về chính trị về tư tưởng lại cần phải tìm thấy ở thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả.

          Phê phán nghiêm khắc cuốn “Vào đời” chính là để rút ra bài học về lập trường tư tưởng, về tính đảng của nhà văn, về trách nhiệm cách mạng của người cầm bút. Cách mạng XHCN ở miền Bắc nước ta đang phát triển mạnh, đang phá tung đi một quan hệ xã hội cũ, một quan hệ đã có dấu ấn sâu sắc hàng nghìn năm trong tư tưởng con người, để xây dựng nên một quan hệ xã hội hoàn toàn mới mẻ, tạo ra những tư tưởng tình cảm hoàn toàn mới mẻ. Phải đứng ở đâu để mà nhìn những sự đổi thay kỳ lạ đó, để phân biệt cái mới và cái cũ, cái tốt và cái xấu, cái đi lên và cái tàn tạ, cái cách mạng và cái lạc hậu, phản động? Đó chính còn là vấn đề rèn luyện lâu dài của nhà văn. Đừng chủ quan với những thu hoạch về tư tưởng và tình cảm trong quá trình tham gia cách mạng của mình.

          Những sai lầm nguy hại về tư tưởng của cuốn “Vào đời” là một bài học thấm thía chung của chúng ta.

HOÀNG TRUNG THÔNG

Nguồn:Văn nghệ, Hà Nội, s. 11 (12.7.1963), tr.4-5, 19.                

Nâng cao hơn nữa tính đảng trong văn nghệ

12/7/1963: “Văn nghệ”, s. 11: xã luận:

Nâng cao hơn nữa tính đảng trong văn nghệ

Một điểm quan trọng và nổi bật trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III là cần phải nâng cao tính đảng trong văn nghệ.

Thư của Ban chấp hành trung ương Đảng gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc, sau khi nêu những thành tích to lớn của văn nghệ, đã có nhận xét rất đúng là “nhiều tác phẩm chưa có tính đảng rõ rệt”, và “còn những hiện tượng phê bình và tiếp thụ phê bình chưa phù hợp với nguyên tắc tính đảng và tinh thần đồng chí.”

Đảng kêu gọi chúng ta phải “không ngừng nâng cao tính đảng trong hoạt động văn học nghệ thuật”, “văn nghệ phải là vũ khí sắc bén giúp cho chế độ ta, nhân dân ta đánh bại những tư tưởng thù địch, đẩy lùi những tư tưởng ích kỷ, lười biếng ươn hèn, những thói tục xấu xa, giúp cho cái mới luôn luôn nẩy nở và con người mới phát triển không ngừng”.

Nền văn nghệ của chúng ta hiện nay nói chung đang phát triển theo phương hướng đó và có nhiều tác phẩm tốt. Tuy vậy, chúng ta cũng đã thấy xuất hiện đó đây một vài tác phẩm tính đảng không rõ rệt, thậm chí có tác phẩm đã đi ngược lại nguyên tắc tính đảng. Đó là trường hợp cuốn tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh Tuân, một cuốn tiểu thuyết đã bộc lộ những tư tưởng xấu, những quan điểm sai trái hiện đang bị dư luận nghiêm khắc phê phán.

Việc phê phán tác phẩm “Vào đời” chứng tỏ chúng ta đang nắm vững nguyên tắc tính đảng, đẩy lùi những tư tưởng sai lầm, xác định lại đường lối và quan điểm văn nghệ của Đảng.

 Việc phê phán tác phẩm “Vào đời” càng giúp cho người làm công tác văn nghệ chúng ta đứng vững chắc trên vị trí tư tưởng cánh mạng của mình mà sáng tạo và phấn đấu.

Kinh nghiệm của phong trào văn nghệ chúng ta đã chứng minh rằng cứ sau mỗi lần phê phán những tác phẩm có tư tưởng xấu hoặc lệch lạc, các văn nghệ sĩ chúng ta lại nâng cao hơn nhận thức của mình, lại nhìn rõ hiện thực, phân biệt rõ đúng sai, phải trái hơn. Và không phải nền văn nghệ của ta sẽ nghèo nàn đi mà hàng loạt tác phẩm tốt lại xuất hiện.

Hiện nay, rất đông anh chị em viết văn đang phấn khởi đi vào cuộc sống và hăng hái sáng tác. Rất nhiều tác phẩm được đăng báo hay in thành sách đã chứng tỏ các nhà văn chúng ta quan tâm đến những cái mới tốt đẹp trong đời sống và trong tâm hồn con người như thế nào.

Trong tình hình hiện nay, giúp đỡ các văn nghệ sĩ đi vào đời sống là cần thiết, nhưng đồng thời chúng ta còn phải giúp đỡ các văn nghệ sĩ học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập đường lối chính sách của Đảng để cho các tác phẩm viết ra càng có tính đảng sâu sắc hơn nữa.

VĂN NGHỆ

Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, s. 11 (12.7.1963), tr. 1.   

“Vào đời” của Hà Minh Tuân đã xuyên tạc bản chất truyền thống của quân đội

9/7/1963. Báo “Quân đội nhân dân” /Ý kiến bạn đọc về cuốn “Vào đời”/:

Nguyễn Thiều, Võ Xuân Viên (hòm thư 4108 Hanoi):

“Vào đời” của Hà Minh Tuân đã xuyên tạc bản chất truyền thống của quân đội

          Gần đây dư luận rộng rãi của báo chí đã và đang nghiêm khắc phê phán cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân, coi đó là một tác phẩm có nội dung tư tưởng rất có hại. Vì trong tác phẩm này của mình, Hà Minh Tuân đã mô tả không chân thực một số hiện tượng xấu ở công trường xí nghiệp và thủ đô Hà Nội trong quãng thời gian 1956 đến 1960, làm cho người đọc có một ấn tượng toàn cục sai lệch về xã hội miền Bắc; có một sự hiểu biết sai lệch về truyền thống bản chất tốt đẹp của quân đội nhân dân.

          Ở đây chúng tôi không phân tích toàn diện cuốn “Vào đời” của Hà Minh Tuân, mà chỉ muốn đi vào xem Hà Minh Tuân đã mô tả truyền thống vẻ vang của quân đội, mô tả các quân nhân phục viên và chuyển ngành trên mặt trận kinh tế cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc thế nào.

          Ở một đơn vị pháo binh mà chúng tôi đang công tác, những người đã đọc “Vào đời” đều tỏ ra hết sức phẫn nộ vì nội dung tư tưởng nguy hại của quyển truyện, đều cho là tác giả đã có những quan điểm tư tưởng mơ hồ lệch lạc, xuyên tạc và bôi nhọ truyền thống của quân đội và của các cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân phục viên và chuyển ngành.

          Được Đảng Tổ chức, giáo dục và rèn luyện trong thực tế của cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, quân đội chúng ta đã có một truyền thống hết sức vẻ vang: tuyệt đối trung thành với cách mạng, với nhân dân, dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu, có tinh thần tổ chức và kỷ luật cao, quân dân đoàn kết rất chặt chẽ… Nhân dân ta rất tự hào về quân đội cách mạng của mình. Từ ngày hòa bình được lập lại, hàng vạn cán bộ và chiến sĩ, theo tiếng gọi của Đảng, đã rời tay súng sang chiến đấu trên mặt trận sản xuất, ở khắp miền Bắc nước ta, từ miền xuôi đến miền ngược, ở đất liền cũng như hải đảo, ở đâu cũng có bộ đội phục viên chuyển ngành, ở đâu khó khăn gay go nhất Đảng cần tới bộ đội phục viên chuyển ngành là những anh em đó sẵn sàng có ngay. Các quân nhân phục viên chuyển ngành đã anh dũng vượt mọi khó khăn, giữ vững và phát huy truyền thống, bản chất của quân đội cách mạng, lập được nhiều thành tích xuất sắc trên mặt trận kinh tế, cùng với toàn dân góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất và bắt đầu xây dựng CNXH, củng cố miền Bắc vững mạnh làm cơ sở cho đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiều đồng chí giữ những trọng trách của Đảng và Nhà nước, nhiều đồng chí đã trở thành anh hùng hoặc chiến sĩ thi đua. Ngay đơn vị pháo chúng tôi cũng có một quân nhân phục viên làm chủ nhiệm hợp tác xã đã được tuyên dương anh hùng lao động: đồng chí Lê Văn Toán.

          Hãy xem truyền thống vẻ vang ấy của quân đội ta đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm “Vào đời” mà đối tượng là một công trường “già nửa là quân nhân chuyển ngành”?

          Hà Minh Tuân là một cán bộ cũ của quân đội, – hẳn là phải có một số vốn hiểu biết về quân đội đáng tin cậy, – đã dành phần khá lớn tác phẩm “Vào đời” nói về quân nhân phục viên chuyển ngành.

Trong tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh Tuân có hai vai chính diện và phản diện của quân nhân chuyển ngành đáng chú ý là vai Đặng Đình Hiếu và Trần Lưu.

Ở phần đầu cuốn sách, Hà Minh Tuân đã giới thiệu Đặng Đình Hiếu là một đại đội trưởng đã qua rèn luyện và thử thách trong chiến đấu, được một số giấy khen và 1 huân chương chiến sĩ hạng ba, chuyển ngành học kỹ thuật rồi về công trường nhà máy cơ khí. Nói chung thì đó là một cán bộ tốt. Thế nhưng sau đó, khi tả Hiếu sa ngã, tác giả đã mô tả Hiếu thành một phần tử hoàn toàn sa đọa không còn mảy may giữ lại được một chút phẩm chất của người quân nhân cách mạng. Tác giả đã tỏ ra “thông cảm” với Hiếu, quy mọi sự sa đọa của hắn là do sai lầm của cải cách ruộng đất gây nên. Hiếu đã tuyên truyền phủ nhận thành quả của cải cách ruộng đất, hằn học đối với lãnh đạo, tụ tập những phần tử xấu nhiều lần chống đối lại tổ chức, gây ra bè phái chia rẽ trong nội bộ nhà máy. Nhìn vào thực tế, ta thấy như thế nào? Trước sai lầm cải cách ruộng đất, một số cán bộ chiến sĩ ta cũng có một vài thiệt thòi nhưng hầu hết đều tỏ ra tin tưởng ở Đảng, nhiều đồng chí còn tự nguyện đi tham gia sửa sai một cách tích cực. Hiếu là một cán bộ quân đội tương đối tốt lại có thể có nhiều tư tưởng hành động chống đối vậy hay sao? Rõ ràng là một sự xuyên tạc nghiêm trọng.

Về nhân cách con người cách mạng, Hiếu đã tỏ ra là một con người xấu xa đầy tội lỗi, phục tùng một cách ngoan ngoãn tên Mai, tên Song (lưu manh, côn đồ chui vào nhà máy), sống hủ hóa trụy lạc, lừa dối bạn, tống tiền, tống tình,… Đối với vợ con thì ghen tuông, giằn vặt vợ, làm cho Sen phải sống rất cực khổ. Đối với trẻ em ngây thơ – cháu Hồng, con riêng của Sen – Hiếu đã tỏ ra độc ác phũ phàng. Được Đảng giáo dục, các cán bộ chiến sĩ quân đội ta có một vũ khí sắc bén để đấu tranh tư tưởng, đó là phê bình và tự phê bình để xây dựng cho bản thân và giúp đỡ bạn và đồng chí tiến bộ. Ở Hiếu từ đầu đến cuối không có một sự đấu tranh tư tưởng nào hợp với bản chất của quân đội. Tác giả đã tả Hiếu ngày càng sa đọa và không còn lương tri nữa.

Ta hãy nghe tác giả tả nguồn gốc của tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân đội ta qua miệng của Sen: “Toàn thân anh rõ ràng đang toát ra một sức mạnh hừng hực, một sức mạnh hỗn độn, mông muội như sức mạnh của dã thú. Phải chăng anh đã biết sử dụng chính cái sức mạnh ấy trên các trận địa quật vào đầu giặc?… Tại sao chồng chị chẳng còn biết sử dụng đúng đắn cái sức mạnh ghê gớm ấy vào lao động xây dựng như trong chiến đấu trước kia, tại sao chính cái sức mạnh quý giá ấy lại quay lui làm hại ngay cả những giờ phút êm đẹp của gia đình và bản thân” (tr. 235)

Ai cũng biết sở dĩ quân đội ta là vô địch chính vì nó có một trình độ giác ngộ cách mạng cao. Chẳng nhẽ tác giả không thấy rõ điều đó hay sao, mà cho một đại đội trưởng đã được Đảng rèn luyện giáo dục bao nhiêu năm trời chiến đấu với một bản năng súc vật như thế hay sao? Trong miệng của nhân vật Sen, tác giả đã nâng niu trân trọng cái sức mạnh “mông muội” của “dã thú” đó, coi nó là một sức mạnh “quý giá”, là cơ sở của hành động hy sinh, dũng cảm trong chiến đấu, và là cơ sở của tinh thần lao động trong hòa bình. Tác giả đã phân trần cho những hành động đê tiện của Hiếu, coi những hành động xấu xa đó chẳng qua chỉ là sự đi lạc hướng của cái “sức mạnh quý giá” ấy mà thôi. Cái thứ “triết lý” ấy, nếu không cho nó là một sự xuyên tạc trắng trợn thì ít nhất phải đánh giá nó là một thứ “triết lý” rẻ tiền, rập theo luận điệu của giai cấp tư sản.

Đối với nhân vật chính diện là Trần Lưu thì những hình tượng tác giả mô tả như là tích cực thì đều nhạt nhẽo, nhiều chỗ lố lăng. Ví như thái độ cương trực đấu tranh của Lưu đã bị tác giả bóp méo đi, mô tả sự lãnh đạo của người bí thư chi đoàn thanh niên này thành khắt khe, lạnh lùng, mô tả thái độ của Lưu thành ra những hành động ngờ nghệch làm trò cười cho mọi người. Tác giả đã tả Sen khi gặp khó khăn thì không được sự giúp đỡ của Đoàn, nhưng khi có khuyết điểm về tư tưởng thì Trần Lưu “lấy tập thể, lấy nguyên tắc ra dọa” (tr. 38). Tác giả đã tả Lưu như một con người chuyên môn đi “xây dựng” cho người khác một cách lố lăng, và đặt anh ta vào những hoàn cảnh không lấy gì làm đẹp đẽ lắm: một lần đi “xây dựng” cho một bọn cao bồi đá bóng phá rối trật tự, đã bị chúng đánh sưng mặt; một lần “xây dựng” cho một mụ béo chua ngoa bị mụ ta chửi lại; một lần “xây dựng” cho một công nhân nát rượu hay đánh vợ và bị anh ta vác dao bầu đuổi chém; đi báo cáo với đại diện chính quyền thì không đâu người ta nghe anh… Trong việc đấu tranh vạch mặt bọn lưu manh phá hoại thì Trần Lưu thường tỏ thái độ bực dọc tiêu cực. Nghiêm trọng hơn là khi Lưu đã trở thành một chiến sĩ thi đua được nhiều người ca ngợi và khi sắp kết cuốn truyện, thì dưới chiêu bài đấu tranh với khuyết điểm, tác giả đã để cho Lưu phát ngôn những câu phủ nhận thành tích vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp cải tạo và xây dựng XHCN, nhìn Hà Nội với một con mắt hậm hực, bất mãn, và chỉ toàn thấy một màu đen xám. Cái gọi là “thái độ phê phán đối với khuyết điểm” ấy mang tính chất đả kích chứ không phải xây dựng. Đây toàn là cách nhìn của những hạng người bất mãn, bực dọc chứ không phải là cách nhìn của Trần Lưu chất phác thuần hậu như tác giả đã giới thiệu lúc đầu. Chính sự phát triển thiếu lô-gich của nhân vật Trần Lưu này đã nói lên cả một mâu thuẫn nghiêm trọng trong quan điểm và lập trường của tác giả. Có thể nói ở đây lập trường tư tưởng tư sản đã giành lấy phần thắng, nó chồm lên trong con người viết và thống trị ngòi bút của anh rồi.

Tác giả dùng nhân vật Trần Lưu để tiêu biểu cho con người bộ đội phục viên chuyển ngành, nhưng kết quả đã phản lại ý muốn của tác giả: nhân vật chính diện đã được thể hiện ra nhu nhược, máy móc, dại dột, lố lăng, thậm chí có những tư tưởng lạc hậu nghiêm trọng khiến cho người đọc thương hại anh ta, giận anh ta hơn là có cảm tình.

Đọc toàn bộ cuốn sách chúng tôi không tìm thấy một hình ảnh nào tiêu biểu cho bản chất và truyền thống của quân đội. Trong một tập thể công trường lớn như vậy, trong nhà máy cơ khí Tháng 8 mà một nửa là bộ đội chuyển ngành, mà trước sự ngỗ ngược phá hoại của bọn lưu manh côn đồ, tuyệt nhiên không thấy bóng một anh bộ đội nào lên tiếng phản ứng hoặc có những hành động đập lại ngoài Trần Lưu phản ứng một cách yếu ớt ra. Bản chất quân đội ta là luôn luôn đề cao ý thức tổ chức và kỷ luật, đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, lẽ nào những anh em bộ đội phục viên ở đây lại có thể thờ ơ để mặc cho tụi phá hoại hoành hành phá rối trật tự xã hội, phạm vào đời sống tình cảm của nhân dân, phá hoại tổ chức của nhà máy, công trường?

Người ta lại thắc mắc tên Nguyễn Mai là một tên cảnh sát ngụy quyền, lưu manh côn đồ, tại sao được tác giả đưa vào câu chuyện và khoác cho nó một cái áo bộ đội phục viên, khiến cho người đọc có thể nghi ngờ tính chất chặt chẽ của tổ chức quân đội? Tác giả đã thông qua mồm tên Mai đưa ra thứ triết lý về cuộc sống rất phản động nhưng lại không thể hiện được một nét gì đáng kể để đập tan thứ nhân sinh quan phản động ấy. Đây là gì nếu không phải là một thái độ đầu hàng về tư tưởng?

Tóm lại trong cuốn “Vào đời”, Hà Minh Tuân không những đã không nói lên được sự đóng góp lớn lao của anh em quân nhân chuyển ngành và phục viên vào mặt trận kinh tế, không những đã không khẳng định được bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội, mà trái lại, Hà Minh Tuân đã bôi nhọ xã hội miền Bắc tốt đẹp, đã thông qua những hình tượng nghệ thuật của mình xuyên tạc bản chất và truyền thống quân đội.

Về điểm này mà nói, có cái gì khả dĩ bênh vực nổi cho tác giả không? Chúng tôi được biết Hà Minh Tuân không phải là thiếu vốn hiểu biết thực tế về con người bộ đội, về truyền thống quân đội. Cái chủ yếu ở đây là do quan điểm lập trường lệch lạc nghiêm trọng của tác giả. Đọc “Vào đời” chúng ta thấy tư tưởng xấu quán xuyến từ đầu đến cuối câu chuyện. Ngoài một số cái tốt rất mờ nhạt, còn mọi sự việc, con người của tác giả nêu ra đều sặc sụa mùi vị tư sản. Tác giả đã mô tả lãnh đạo khắt khe, quan liêu, đối lập quần chúng với lãnh đạo, lao động nặng nề cực nhọc quá mức, xã hội miền Bắc đen tối đầy cạm bẫy.

Những tư tưởng sai lầm của Hà Minh Tuân là rất tai hại. Đối với các nhà văn, mỗi lời nói đều phải cân nhắc kỹ lưỡng: có những lời nói cổ vũ nhiệt tình cách mạng, có những lời nói làm giảm lòng hăng hái, gây bi quan tiêu cực và hoài nghi. Chúng ta không sợ nói khuyết điểm, nhà văn có quyền viết khuyết điểm, nhưng phải có quan điểm lập trường giai cấp vô sản rõ ràng để động viên cổ vũ quần chúng tiến lên.

Hiện nay hàng vạn thanh niên đang hăng hái vào đời, đang đi trên con đường rộng thênh thang đầy ánh ban mai của CNXH. Họ sẽ nghĩ gì khi đọc “Vào đời”? “Vào đời” mang lại cho họ được nghị lực gì hay chỉ làm lung lay tinh thần họ? Còn đối với những kẻ thù của chúng ta đang lợi dụng mọi cơ hội để tuyên truyền nói xấu miền Bắc, thì chắc đây là dịp tốt để chúng mở rộng giọng lưỡi tuyên truyền xấu của chúng.

Riêng đối với quân đội ta, nơi Hà Minh Tuân đã sống lâu dài, nơi Hà Minh Tuân đã được nuôi dưỡng và trưởng thành, chúng tôi đợi tác giả nhận rõ bài học đau đớn và đáng hổ thẹn về thái độ vô trách nhiệm của anh sau khi ra ngoài quân đội đã trở lại viết về những đồng đội của mình như trong tác phẩm.

NGUYỄN THIỀU và VÕ XUÂN VIÊN

(Hòm thư 4108 Hà Nội)

Nguồn:Quân đội nhân dân, Hà Nội, s. 1225 (9.7.1963), tr.3, 4.                       

Bàn thêm với Hà Minh Tuân tác giả “Vào đời”:

9/7/1963. Báo “Lao động”. Đặng Chính (công đoàn nhà máy tơ Nam Định):

Bàn thêm với Hà Minh Tuân tác giả “Vào đời”:

Cần phải đánh bại những loại tư tưởng ngược dòng ấy!

          “Vào đời”, cái tên khá hấp dẫn đối với lứa tuổi mười tám, hai mươi mới bước vào đời. Đọc xong “Vào đời”, gấp sách lại, người đọc chỉ thấy cuộc đời một nữ thanh niên học sinh (Sen) bỏ gia đình đi công trường vì một chuyện ép duyên, rồi bị hiếp dâm và chịu nhiều cay đắng trong cuộc đời lao động. Người đọc còn thấy cảnh hỗn độn phức tạp, lừa dối phỉnh phờ, côn đồ lưu manh hoành hành, phá phách máy móc, đánh phó giám đốc chảy máu mồm, dọa bắt giám đốc bỏ dọ… và những cán bộ quan liêu từ trên xuống dưới ở ngay giữa thủ đô Hà Nội vào những năm 1957 đến 1960!

          Sự thực có phải như thế không? Nếu những hành động xấu ấy được phát triển, thử hỏi trong mấy năm qua làm sao ta thu được những thắng lợi vĩ đại liên tiếp trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế?

          Những ngôn ngữ, hành động mà tác giả xây dựng gán ghép cho các nhân vật biểu hiện nhân sinh quan của giai cấp tư sản đã bị đánh lui và đang bị tiêu diệt định luồn qua văn học nghệ thuật để khích động và đầu độc nhân dân, nhất là tuổi trẻ.

          “Vào đời” còn tệ hơn nữa là làm cho nhụt chí khí thanh niên, nhất là nữ, trong lúc Đảng đang kêu gọi họ cùng với nhân dân lao động đi xây dựng quê hương mới, làm giàu cho tổ quốc. Thông qua “Vào đời” của Hà Minh Tuân, họ chỉ thấy cuộc sống lao động ở những nơi đó là khổ ải. Tác giả đã không nhìn thấy sự thật: ở ngay thủ đô Hà Nội có hàng ngàn nam nữ thanh niên hăng hái tự nguyện nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Đoàn, từ giã thủ đô yêu quý đi khắp các nẻo đường tổ quốc, đem khối óc, bàn tay lao động ngày đêm không mệt mỏi làm giàu cho đất nước quê hương. Những chuyện ấy có xa lạ gì đâu mà không biết?

          Tác giả còn thông qua nhân vật Hiếu, một quân nhân chuyển ngành, gợi lại những sai lầm trong cuộc cải cách ruộng đất (tr. 164-165) để rồi muốn hay không, có thể làm khó khăn cho việc cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, một chủ trương lớn của Đảng tiến hành trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Đồng thời cũng thông qua nhân vật Hiếu, đã làm giảm giá trị phẩm chất của người quân nhân cách mạng, xúc phạm tới lòng trìu mến yêu thương của nhân dân đối với quân đội.

          Trong cuốn “Vào đời”, tác giả đã hiểu và thể hiện người công nhân quá mờ nhạt, yếu ớt. Bác Biền là một chi ủy viên, công nhân lâu năm, đã biết rõ bọn lưu manh quá khích có âm mưu chống phá làm cho sản xuất phải ngừng trệ. Tác giả đã dùng mấy tiếng “Bác Biền rủ rỉ” bàn với Lưu xong lại bỏ đi làm. Không! Công nhân chúng tôi không như thế! Chúng tôi kiên quyết vạch trần bộ mặt của bọn đó ra trước dư luận quần chúng, trước pháp luật. Chúng tôi không dung tha những hành động công khai ngang nhiên chống phá sản xuất, chống phá lãnh đạo. Chúng tôi có đủ khả năng bắt bọn họ phải tuân theo pháp luật, làm ăn lương thiện, không thể hung hãn côn đồ như Hà Minh Tuân đã quan niệm và viết lách. Hiện nay chúng ta phải đấu tranh chống quan liêu để làm cho công cuộc xây dựng CNXH đạt nhiều thắng lợi, đó là đường lối đúng đắn của Đảng. Nhưng trong “Vào đời”, tác giả đều cho: hễ là cán bộ lãnh đạo là quan liêu tất; ông nọ đi ông kia về cũng cứ quan liêu (!). Mà về bệnh quan liêu trong tác phẩm, nhà văn chỉ nêu có mỗi việc đuổi công nhân, sự việc nêu một cách “ú ớ”, chẳng có đầu đuôi xuôi ngược ra sao cả.

          Một tác phẩm đã thiếu tính đảng sẽ mất phương hướng, không tìm ra lối thoát. Chính vì thế mà cuốn “Vào đời” đã đi từ sai lầm nọ đến sai lầm kia.

          Trước những hành động ngang nhiên công khai của bọn Hiếu, Mai, Song,…, chủ trương của Đảng, của công đoàn, Đoàn thanh niên đối với những phần tử ấy ra sao, không được tác giả miêu tả rõ nét. Chỉ nêu bật cá nhân Trần Lưu, mà nêu cũng chưa trung thực. Như vậy chứng tỏ tác giả hiểu quá ít về các chức năng của tổ chức quần chúng ở các xí nghiệp, công trường. Tệ hơn nữa, lại nói: bọn  lưu manh, bất mãn lôi kéo được đặc phái viên của Trung ương Đảng, và thành ủy cũng tán thành sai lầm của Cư, Chiến về việc đuổi người, thì thật là hồ đồ (tr. 213 đến 217)

          Còn một khía khác, chỉ một đoạn ngắn thôi, tác giả đã nhắc tới lời của tên lưu manh Mai nói với Hiếu, chồng Sen, về quan điểm đối với phụ nữ. Tác giả viết: “… tôi thì tôi cho rằng ở đời này không có người đàn bà nào trung thành với chồng suốt đời cả” (tr. 195). Cho dù là lời lẽ của tên lưu manh, người ta vẫn thấy cách đem ra của tác giả thật là quái gở kỳ lạ! Nếu đem đoạn này đọc cho vợ tác giả nghe, tất chị ấy cũng phải chau mày, bảo xé đi.

          Rõ ràng “Vào đời” là một tác phẩm xấu có hại, có tác dụng bôi đen chế độ. Nó đã biểu lộ rõ quan điểm, lập trường của tác giả thông qua ngôn ngữ, hành động của nhân vật. “Vào đời” không có tác dụng giáo dục, mà còn khích động lứa tuổi trẻ và khơi lại những gì không lành mạnh của quá khứ.

          Thế mà trước tình hình ấy, trong “Văn nghệ” số 9, bạn Trần Hữu Thung viết bài phê bình chỉ nặng về phần nghệ thuật trong tác phẩm, chưa vạch rõ những sai lầm về quan điểm, lập trường của tác giả.

          Kiểu vào đời như Hà Minh Tuân mô tả, chính là kiểu làm tôi tớ cho tư tưởng phản động lỗi thời mà chúng ta trước đây đã có dịp lên án. Bây giờ đây lại càng cần phải đánh bại không cho những loại tư tưởng xấu xa ấy ngóc đầu dậy hoành hành trong nền văn học XHCN tươi trẻ, lành mạnh của chế độ ta.

ĐẶNG CHÍNH

(công đoàn nhà máy tơ Nam Định)

Nguồn: Lao động, Hà Nội, s. 1234 (9.7.1963), tr.3.