Trang chủ » Tác phẩm

Category Archives: Tác phẩm

TIẾP CẬN VĂN BẢN HỌC TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VÀ XUẤT BẢN: MUỘN CÒN HƠN KHÔNG!

LẠI NGUYÊN ÂN

Thực tiễn đời sống văn hóa văn nghệ gần đây cho thấy cả công tác xuất bản lẫn công việc nghiên cứu phê bình đều cần đến góc tiếp cận văn bản học.

Thật ra thì tiếp cận văn bản học là không thể tránh đối với tất cả những lĩnh vực có liên quan đến ngôn ngữ văn tự. Các tác phẩm chữ viết, khi được truyền bản, nhân bản, dù dưới dạng chép tay hay in ấn, đều đứng trước nhu cầu phải được xử lý về văn bản. Tuy vậy, những việc ấy, ở xứ ta, thường được thực hiện một cách “tự nhiên nhi nhiên”, với những xử lý hoặc bị coi là quá thông thường, hoặc buộc phải tuân thủ những quy tắc tối thiểu nào đó, nên người ta cảm thấy dường như chẳng có vấn đề gì!

Cho đến gần đây, chỉ mới duy nhất có các văn bản thuộc loại hình chữ Hán-Nôm của người Việt, là được công nhiên thừa nhận cần thiết phải xử lý về văn bản học. Đã có một viện nghiên cứu riêng được nhà nước lập ra (Viện nghiên cứu Hán-Nôm), giành cho việc khảo cứu loại hình di sản này của văn hóa chữ viết. Thế nhưng, loại chữ viết kể trên (chữ Hán-Nôm) chỉ được người Việt dùng từ xa xưa cho đến thế kỷ XIX, số lượng tác phẩm Hán-Nôm của tác giả Việt còn tính đếm được có lẽ không quá 5 chữ số. Từ cuối thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX trở đi, xã hội người Việt chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ, tức tiếng Việt ghi bằng các ký hiệu Latin của người châu Âu, và nay ta gọi tắt là chữ Việt. Số lượng tác phẩm đủ loại do người Việt viết ra in ra bằng chữ Việt, nay nếu tính đếm, chắc phải dùng đến 10 chữ số.

Và điều đáng nói hơn, những sự cố liên quan đến văn bản (như hai dị bản “bùn”/”đất cày” trong một bài thơ Lưu Quang Vũ gây xôn xao dư luận mới đây) đôi khi ám ảnh cả một công chúng rộng; trong lúc bàn cãi nhau quanh sự cố ấy, người ta mới nhận thấy ở lĩnh vực này dường như đang trống vắng những hiểu biết căn bản có thể làm nền cho những hướng xử lý thích đáng.

Tôi từng nghe kể, có lần, một công chức ở Cục xuất bản bị một người, nhân danh thân nhân tác giả X., đến chất vấn và yêu cầu xử lý, tức là ra lệnh phạt một nhà sách kia, vì đã phạm tới vài trăm lỗi dị bản, khi tái bản tác phẩm của tác giả X. Viên chức nọ không biết xử lý ra sao, đành để vị khách kia ngồi lỳ ở đó!

Câu chuyện hình như được một số nhà văn quan tâm, và người ta vội làm một hội thảo, nêu lên một loạt những lời ta thán, trách cứ giới làm sách, nêu cao những đòi hỏi “chuẩn mực”, “chính xác”, v.v… Thế rồi người ta định lập ra một trung tâm trực thuộc Hội nhà văn với công việc chính sẽ là cung cấp văn bản chuẩn mực các tác phẩm cho xuất bản! Thật may là trung tâm ấy chưa ra đời, bởi nếu nó đi vào hoạt động thì, giới văn chương và công chúng hẳn sẽ được thấy những cảnh ngộ dở cười dở khóc với cái sẽ được gọi là “văn bản chuẩn mực”! Phải chăng các vấn nạn xung quanh câu chuyện tạm gọi là “in sai” văn bản tác phẩm, lại có thể giải quyết dễ dàng như thế hay sao? Và nếu quả thật các vấn đề là dễ xử lý thì vì sao mỗi khi nó  xuất hiện lại thường gây ách tắc đến vậy?

Nếu muốn tìm kinh nghiệm từ giới chuyên gia văn bản học người Việt, chắc hẳn trước hết phải tìm tới các nhà Hán-Nôm học; song ngoài các vấn đề chung ra, loại hình văn bản Hán-Nôm gắn với một thời đại kỹ nghệ khác (viết tay, chép tay, in khắc ván, v.v.), khó mà đủ để xử lý loại văn bản của các thời đại in máy (typographie), in sắp chữ rời, từ thủ công, bán thủ công sang tự động hóa, rồi công nghệ in thời đại internet.

Tất nhiên ngọn nguồn mọi tác phẩm là từ tác giả. Phải có văn bản của tác giả rồi mới có các văn bản in.

Song, ngay văn bản của tác giả (có khái niệm “bản thảo”) cũng đã không đơn giản; hầu như ít tác phẩm nào chỉ duy nhất có một văn bản; một bài thơ ngắn, trong sổ tay tác giả có thể cũng đã có vài dị bản ở câu này chữ kia, do tác giả cân nhắc giữa vài ba từ khả dĩ đáp ứng chiến lược diễn ngôn của mình. Khái niệm “văn bản gốc”, đi vào nghiên cứu cụ thể, sẽ thấy không hề đơn giản. (Vả chăng, đến khi tác phẩm được xem là thành tựu thì tác giả đã đi xa, cả bản nháp lẫn “bản gốc” hầu hết đều không còn).

Sang giai đoạn văn bản được nhân bản, từ một bản của tác giả được in thành ngàn bản, chục ngàn bản, tức là văn bản đăng báo, in sách, thì tuy mỗi lần in tạo ra một văn bản đồng nhất, bởi đều được dập ra từ một bộ khuôn chữ, nhưng những lần in khác nhau lại tạo ra những văn bản khác nhau, mỗi lần in lại tạo cho tác phẩm thêm một loạt dị bản.

Tôi đã nghiệm thấy rõ điều này khi khảo sát tình trạng văn bản một số tác phẩm cụ thể. Không bao giờ văn bản một tác phẩm ở các lần in khác nhau lại đồng nhất, trùng khít nhau; đó gần như là quy luật.

Tựu trung tôi thấy có hai loại nguyên nhân khiến cho mỗi lần in, cùng một tác phẩm sẽ tạo ra thêm một dị bản mới.

Thứ nhất là loại nguyên nhân “chủ quan”, do chủ ý của những người tham gia công việc xuất bản: 1/ tác giả (nếu còn sống khi tác phẩm của mình được in lại) có thể (và có quyền) sửa chữa tác phẩm của mình; 2/ người xuất bản có thể đề xuất những thay đổi nhất định trong văn bản tác phẩm đưa in, vì những lý do nào đấy, chí ít là quy tắc chính tả, quy tắc viết tên riêng, v.v.; 3/ cơ quan kiểm duyệt (chính quyền đương thời cấp giấy phép in) có thể cắt bỏ những câu chữ, đoạn văn nhất định.

Thứ hai là loại nguyên nhân “khách quan”, vô tình, ngoài ý muốn: tác giả có khi vô tình viết sai một vài từ nào đấy (câu “Người là đấng tinh truyền thanh vẹn” bị ngờ là do Hàn Mặc Tử viết nhịu cái câu có lẽ nguyên là “Người là đấng trinh tuyền thánh vẹn”!); thợ sắp chữ có thể sắp sai những chữ, câu, đoạn nhất định mà thợ sửa in không phát hiện ra nên đã không sửa trên khuôn in; nhân viên đánh máy cũng có thể vô tình phạm những lỗi tương tự thợ sắp chữ; trên máy in thủ công và bán thủ công còn xảy ra việc chữ rơi khỏi khuôn in, đôi khi thợ trực máy in sẽ cứu nguy bằng cách vuốt trở lại những con chữ nhảy ra ngoài ấy trở vào khuôn, nhưng chưa chắc nó đã về đúng chỗ cũ mà có thể lại nhập vào dòng khác, tạo ra những sai biệt độc đáo trên trang sách in ra…

Vậy là nếu ở thời đại chỉ có thể truyền bản các tác phẩm bằng cách chép tay đã tiềm ẩn nguy cơ tạo dị bản, từng được tổng kết là “tam sao thất bản”, thì sang các thời đại nhân bản bằng in khắc ván, in máy, tác phẩm được nhân bản cũng vẫn đứng trước nguy cơ có thêm dị bản như xưa, không thể tránh được. Sản phẩm in là sản phẩm của con người, nó tùy thuộc hàng loạt nhân tố con người, như ta vừa thử hình dung.

Xin nêu một dẫn chứng dị bản “sai”, xuất hiện hồi 1976, chứ nếu xuất hiện bây giờ, chắc sẽ “vỡ chợ” văn!

Đọc vào truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, in trong tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” của Nxb. Tác Phẩm Mới (1976), thấy câu này về lai lịch chị Đào:

… được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng, khi ngược Lào Cai buôn gà vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn…”   (“33 truyện ngắn chọn lọc, Nxb. TPM., 1976, tr. 199)

Đang mạch văn kể lể từa tựa giọng thổ lộ tâm tư giữa đám đàn bà xứ Bắc, nhưng sao lại có sự việc “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy chồng”?  Tra lại mấy cuốn khác nhau có in truyện này mới vỡ lẽ, chỗ ấy đúng ra là “khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy muồng”! Muồng, có lẽ là tên một thứ cây lá hay hoa quả, tóm lại là tên mặt hàng. Chị này đi làm nghề buôn mà lại! Thế mà in lầm ra “lấy chồng”, rõ thật tai hại. Mà cái sai này, tuyển “33 truyện ngắn chọn lọc” (Nxb. Tác Phẩm Mới, 1976) chỉ tiếp tục cái sai đã có từ một tập sách khác, chứ không phải sách này là nơi phát sinh chữ sai ấy!

Công bằng mà nói, ở thời dùng máy in với các khuôn chữ chì, các công đoạn làm việc được phân định rất tách bạch; do vậy sách báo in sai khá ít; sách in ra thường có bản đính chính các lỗi in sai dán kèm, tức là nhà xuất bản thường cho nhân viên đọc lại ngay sau khi sách in xong, rồi đưa ra những “tờ rơi” đính chính cần thiết.

Sách in sai nhiều nhất, theo tôi, là hồi ta chuyển từ kiểu in sắp chữ chì sang kiểu làm chế bản trang in trên máy vi tính; tức là những năm 1990s. Nhân viên đánh máy chế bản lúc ấy chưa biết cách làm chủ các kỹ thuật trên computer nên gây ra lỗi sai đầy rẫy; nhiều khi cả người sửa in lẫn biên tập viên đều ghi rõ yêu cầu sửa lên các bản “bông”, nhưng các lỗi sai vẫn rất nhiều, chủ yếu do nhân viên đánh máy chưa làm chủ kỹ thuật chỉnh sửa, định dạng đúng cho các trang sách sẽ in. Một số bạn thân quen trong giới với tôi hồi ấy thường nhận xét với nhau: các bộ “tuyển”, bộ “tổng” dày trang, nhiều tập, làm trong những năm này, có một nét chung: văn bản trong đó không đủ độ tin cậy để ta sử dụng!

Dăm bảy năm gần lại đây, nghề sách có những tiến triển thấy rõ, nhất là về kỹ nghệ in ấn. Song tình trạng lỗi in sai vẫn còn khá trầm trọng. Có những nguyên nhân thuộc về thương mại, khi người buôn bán sách không còn trực tiếp gắn với việc sản xuất sách nữa, người ta chỉ lo mấy yếu tố bề ngoài, cái bìa, bố cục chung, loại giấy in, v.v., còn nội dung chữ nghĩa thì khoán trắng cho một vài đầu mối vốn tương đối yếu về năng lực thẩm định chất lượng. Lại có những nguyên nhân thuộc về tầm hiểu biết chung quá hạn hẹp của những nhân viên tham gia các công đoạn làm sách. Tất nhiên trong nghề sách cũng đang diễn ra sự phân hóa về đẳng cấp; ta nên trông đợi những nhân tố ưu tú vượt lên.

Liên quan đến những phàn nàn trong dư luận về lỗi in sai, tôi không cổ động cung cách “quân phiệt” là xử phạt; tôi cho là cần tăng cường phê bình chất lượng sách, tăng cường phản hồi của bạn đọc, nhất là xung quanh những lỗi in. Điều căn bản hơn là nên khuyến khích người làm xuất bản, khi tái bản tác phẩm, học lấy cách tìm tới những sản phẩm in uy tín trước kia, học lấy sự kỹ tính khi lựa chọn bản cũ để in lại; cũng nên nhắc họ nghiêm khắc hơn đối với đám nhân viên mới dự vào nghề làm sách, đừng chấp nhận lối ỷ vào quê quán để đưa những sai lệch ngữ âm vùng miền, những lối nói sai nói ngọng vào sách báo in. Cũng nên nhắc lại rằng: Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải được đặt trong mục tiêu đưa lại cho công chúng một văn bản gần nhất với văn bản của tác giả; xin chớ nệ vào những toan tính “sửa thế này sẽ hay hơn” để làm lệch khỏi văn bản của tác giả.

Song song với các nỗ lực trong giới xuất bản, thì các giới nghiên cứu phê bình cũng nên dành thời gian và nỗ lực cho góc tiếp cận văn bản học. Trước hết, các tác phẩm chữ Việt đã đạt được sự công nhận ở mức nào đó của công chúng (qua các chỉ số xã hội học như số lần in, số bản in, hoặc sự đánh giá của giới phê bình) thì cần được khảo sát về mặt văn bản. Phải thấy, tình trạng một loạt tác phẩm xuất hiện từ những năm 1930s, được công chúng nhớ tên, mà cho đến nay vẫn chưa được khảo sát tình trạng văn bản qua các lần in khác nhau, — là điều khó có thể chấp nhận. Giới nghiên cứu các ngành xã hội-nhân văn trong nước hiện giờ không đến nỗi quá ít oi về nhân sự để không thể đào tạo lấy một số chuyên gia có năng lực giải quyết các vấn đề văn bản học. Ta đã có một số chuyên gia có uy tín về văn bản học Hán-Nôm; bây giờ cần có thêm những chuyên gia lành nghề về văn bản học chữ Quốc ngữ (= chữ Việt).

Chỉ các kết quả những khảo sát văn bản học cụ thể, đối với từng tác phẩm, mới cho phép hình dung tiến triển về văn bản của mỗi tác phẩm khi được truyền bản ở các lần in sau, qua đó có thể thấy ít nhiều diễn biến về thị hiếu, về ngôn ngữ xã hội, tâm lý xã hội, v.v.

Nếu trong một tác phẩm qua các lần in sau xuất hiện những dị bản trái với lối viết ban đầu của tác giả thì có thể coi dị bản là quá trình làm sai khác văn bản tác giả.

Công việc tái bản, in lại tác phẩm phải nhằm đưa lại cho công chúng văn bản gần nhất với văn bản của tác giả.

Trong nghiên cứu phê bình, đôi khi ta còn có thể đọc ra những xu thế, xu hướng văn hóa xã hội khác nhau hiển thị ở lịch trình làm lệch đi, sai khác đi đối với văn bản ban đầu một tác phẩm.

16/7/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN

 

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY

VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU

Nhân đọc lại báo “Tiếng dân” (Huế, 1927-1943) để tìm một vài tài liệu, tôi thấy có bài sau đây, nói về việc cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn (1866-1923) bình phẩm Truyện Kiều.

Sáng tác và trứ thuật của cụ Thai Sơn mới chỉ được thấy trích trong cuốn “Thi tù tùng thoại” (1939) của Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, hoặc “Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX”  (1961) của Đặng Thai Mai (học giả Đặng Thai Mai chính là con trai cụ Thai Sơn).

Điều hơi ngạc nhiên là thời gian trước đây, dù giới nghiên cứu đã chú ý khảo sát lịch sử việc biên khảo và bình luận Truyện Kiều, song tài liệu này vẫn chưa hề được tìm ra và ghi nhận.

Bài này không phải do đích thân cụ Thai Sơn viết ra, chỉ là do một học trò của cụ là Tùng Ngư (đây là tự hoặc hiệu, chưa rõ họ tên thật) hỏi chuyện cụ, nghe cụ giảng giải thuyết minh rồi về nhà nhớ ra mà ghi lại. Tuy vậy, có thể tin rằng bài này đã ghi được một số nét thuộc quan niệm của cụ Thai Sơn về Truyện Kiều. Nếu các nhà nho ở ta xưa thường hay bàn về phương diện thơ ca của tác phẩm Truyện Kiều, thì trong buổi trò chuyện với anh học trò đã thuộc về thời đại chữ quốc ngữ này, cụ Thai Sơn lại đề cập một phương diện mà thường khi không phải sở trường nhà nho, − phương diện nghệ thuật tự sự. Cụ gọi là “văn pháp” Truyện Kiều, phiên sang hệ thuật ngữ hiện đại, có lẽ cần phải gọi là “thi pháp” hoặc “nghệ thuật” Truyện Kiều. Thiết nghĩ, những điều cụ Thai Sơn nhận xét về “văn pháp” (hay là nghệ thuật) Truyện Kiều, trong tài liệu này, đương nhiên không còn gì mới so với các quan niệm nghiên cứu của tự sự học ngày nay, song chính những luận bàn của cụ, do một học trò cụ ghi lại, cách nay 80 năm, lại cho thấy điều người ta ít biết, ít có tài liệu, ấy là quan niệm về văn tự sự ở giới nhà nho, thông qua một trong những nhà nho được xem là uyên bác và rất có ảnh hưởng trong giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX.

Để hoàn thành bản đánh máy tài liệu đăng báo này, nhất là các đoạn có chữ Hán, tôi đã được sự giúp đỡ của GS. Trần Đình Sử, của TS. Phạm Văn Ánh. Nhân đây xin tỏ lời cảm ơn.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

5/7/2015

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

 

VĂN PHÁP TRUYỆN KIỀU

TRONG CON MẮT CỤ THAI SƠN ĐẶNG NGUYÊN CẨN

 

Lâu nay kể chuyện mấy nhà tiên thời nhân vật thường hay nhắc đến các cụ Tập Xuyên, Mai Sơn, Hải Ngư, v.v. mà có một nhân vật rất quan hệ rất ảnh hưởng trong khoảng tân cựu giao thời, bạn thiết với cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ, không chỉ là bạn, tự hai cụ Phan còn xem như bậc thầy, mà ít kẻ thuật đến.

Ấy là cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn.

Cụ Thai Sơn, một nhà lão học trứ danh đất Nghệ, đỗ Phó bảng năm 1895 (Ất Vị), làm quan đến Đốc học Nghệ, đổi vào Bình Thuận. Năm 1908, cuộc dân biến, vì học trò cụ nhiều người cổ động tân học và có người em xuất dương nên cụ bị đày ra Côn Lôn; năm 1921 được tha về, vài năm sau thì cụ mất.

Đời cụ, nói Hán học thì uyên bác lão luyện, mà nói tân học thì mở mang phong khí lúc đầu tiên, nhứt là truyền bá học thuyết Khương, Lương cùng cách giáo dục Phúc-trạch Dụ-cát của người Nhật, thì cụ có công rất nhiều. Trong đám Hán học mà có tân tư tưởng, tưởng không ai không biết đến cụ.

Văn chữ Hán cụ có lưu truyền nhiều, điển nhã thâm thúy, thoát hẳn lối sáo thường, mà văn quốc ngữ cũng già dặn.

Đây có một bài của một người bạn, học trò cụ ở Nghệ gởi vào, thuật lời phê bình của cụ về Truyện Kiều, về mặt văn pháp rất là rành mạch, rõ là có con mắt xem văn đặc biệt khác với bao nhiêu nhà phê bình nhảm mà chúng ta thường thấy lâu nay. Dưới nầy là bức thư của người bạn.

TIẾNG DÂN [1*]

Thưa quý Báo,

Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sản ở đất Nghệ chúng tôi, phần đông độc giả trong tỉnh nhiều người thuộc và thích đọc. Thích, không phải sùng bái con đĩ Kiều, mà chính mê văn của cụ Nguyễn Du.

          Chính ký giả thuở 15 tuổi đã thuộc cả toàn bộ, dầu là trong có lắm điển sách Tàu mà tự mình không hiểu.

          Một điều in sâu vào não ký giả là ngày theo học với cụ Thai Sơn, từ lúc cụ làm giáo thọ phủ Hưng Nguyên cho đến ngày làm Đốc học tỉnh Nghệ, đã 4 – 5 năm, nào Hán học, nào tân học, cụ thường giảng luôn mà không nghe khi nào cụ nói đến Truyện Kiều. Ký giả nghi cụ là một người cang giới nghiêm chỉnh, không thích lối văn phong tình chăng, nên không khi nào dám giở truyện ấy ra hỏi cụ điều gì.

          Năm 1921, cụ ở Côn Lôn về, ký giả thường lại hầu chuyện. Nhân lúc ấy ngoài Bắc có phong triều kỷ niệm Truyện Kiều, tán dương Truyện Kiều một cách rất bồng bột, ký giả nhân hỏi cụ đối với văn Truyện Kiều thế nào. Khi ấy cụ mới giảng cho một bài học về văn pháp rất là rành mạch. Ký giả mới biết: Riêng về một nghề văn chương, chỉ những người đã đào luyện tinh thâm, trải mùi cay đắng trong nghề ấy mới hiểu được chỗ dụng ý sâu sắc của tác giả; còn những kẻ thấy đâu nói đó, toàn không căn để, gọi là phê bình, không khác chi là gãi ngứa ngoài giày vậy.

          Một tòa kiến trúc rất công phu và tài tình, ở trong chứa những giống gì mặc dầu, cái công và cái khéo của tay kiến trúc kia, chúng ta không đáng để mai một. Cụ Tập Xuyên trước có bài bác Truyện Kiều, cho là không phải chính học, chẳng qua vì phản niệm đối với kẻ “không biết xem văn, chỉ tán con đĩ Kiều” mà có lời quá khích ấy.

          Dưới nầy tôi xin thuật lời phê bình văn pháp Truyện Kiều của cụ Thai Sơn, một là phát xiển chỗ khổ tâm của soạn giả Truyện Kiều, hai là biết văn pháp có nhiều lối, mở đường làm văn cho người sau.

TÙNG NGƯ

Van phap TK

THUẬT LỜI ĐÀM THOẠI CỦA CỤ THAI SƠN

          Ai đã gần gũi cụ Thai Sơn, cũng biết tính cụ rất nghiêm xẵng, trong đám học trò mà có điều sai quấy thì cụ mắng ngay giữa mặt, nhưng đến khi bình luận văn chương mà động đến chỗ hứng của cụ thì cụ kéo mấy ngàn quyển sách trong bụng ra, thôi thao thao bất tuyệt, nói nghe không chán.

          Thuật chuyện đàm thoại nầy, có một điều mà ký giả không quên được là hình vóc cụ nhỏ, má cóp, miệng lớn, trông bộ hết sức xấu, chính cụ Tập Xuyên đã có câu rất thú: “Nếu ai gặp cụ Thai Sơn mà bình nhật chưa quen biết, chắc cho là người không biết chữ nhất là một, nào ai có biết cái bụng nhỏ xép kia trong chứa vô số sách và văn!”

          Xin vào đề:

          Trước hết ký giả hỏi:

          − Thưa cụ, bình nhật, tôi học với cụ đã mấy năm, cụ giảng cổ văn tân thơ nhiều mà không nghe cụ nói đến Truyện Kiều, ý kiến cụ đối với Truyện Kiều thế nào?

          − Anh hỏi chuyện con đĩ Tàu, muốn học nó sao? − Cụ trả lời có hơi gắt.

          − Dạ không, tôi muốn nói văn Nguyễn Du, văn quốc ngữ.

          −  Quốc ngữ, anh tưởng ông Nguyễn Du cũng học quốc ngữ như anh mà viết được Truyện Kiều sao? – Cụ cũng còn hơi gắt.

− Dạ gần đây nhân phong triều học quốc ngữ, người ta phê bình, giải thích Truyện Kiều nhiều, tôi muốn biết ý cụ đối với những lối tán và phê kia thế nào?

−  Tán với phê! May nhờ ông Đinh Đào có thích điển một ít, nhưng mười phần chưa được năm, còn văn pháp thì chả ai nói đến, mà văn pháp ấy học nát sách Tàu mà chưa hiểu được, lựa là phê với tán!

Giọng nói cụ gắt mà đã hơi dịu như ngày giảng học thường.

−  Thế ra cụ thục Truyện Kiều mà bạn học trò chúng tôi không biết vì không nghe cụ nói đến.

−  Mình đây thục Truyện Kiều từ thuở 13 tuổi, đến nay không quên một câu nào, nhưng ghét người đời không biết chỗ khổ tâm của tác giả, không biết văn pháp, chỉ đọc một ít câu để ve gái, nên không khi nào nói Truyện Kiều với các anh.

− Vâng, xin cụ chỉ rõ một ít về văn pháp cho nghe.

− Văn pháp nói ra thì dài lắm, từ cách kết cấu gian giá cho đến luyện tự luyện cú, luyện cuộc, cùng thứ lớp, chiếu ứng, nói sao hiểu được, nhứt là người không hiểu văn Tàu.

− Tôi có học văn Tàu, xin cụ chỉ rõ đôi chỗ.

−  Ừ, ta chỉ nói một trương đầu cho anh nghe xem:

1/ Khởi đầu. – Một truyện gì hay là một bài trường thiên, khó nhứt là khởi đầu, như bài Bình Hoài Thai Bia, [2*] của ông Hàn Dũ, khởi đầu 7 chữ    [Thiên dĩ Đường khắc tiếu kỳ đức] người ta cho là xưa nay không mấy tay danh thủ làm được; như bài Chinh Phụ Ngâm, mở đầu 8 chữ: 風 塵 [Thiên địa phong trần hồng nhan đa truân] bao quát đại ý cả toàn bài, lực lượng biết bao!

Truyện Kiều, ông Nguyễn Du lấy bốn chữ Tài mạng tương đố mở đầu. Nhãn lực và mạng ý đã cao, gồm được tinh thần toàn thiên, đó là đại cương toàn truyện.

(Cụ có đọc cả bài thi 8 câu của Bạch Cư Dị cho nghe).

Cụ đã hơi hứng, nói tiếp:

 2/ Phản chiếu. – “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,

Bốn phương bằng lặng, hai Kinh vững vàng”,

– Anh tưởng là câu nhàn thoại sao? Câu ấy chính là phản chiếu với đoạn Từ Hải nổi giặc, đạp đổ năm tòa cõi nam, ở sau.

3/ Phc mch. – “Có nhà viên ngoại họ Vương,

Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”,

– Câu “gia tư thường thường” đó, không phải câu nói phiếm, chính là dựng cái chứng cho chuyện “không có 300 lượng bạc chuộc tội mà Kiều đến nỗi phải bán mình”. Ví như đánh cờ cao, đặt một con cờ, người ngoài xem như không ý nghĩa quan hệ gì mà kỳ thực không thiếu được, thiếu là mất chiếu ứng. (Cách này gọi là Phục mạch, cũng gọi là Trương bổn).

4/ Tá khách hình chủ. – Chủ trong truyện là Thúy Kiều, tả Kiều đẹp biết tả bao cho vừa, cái nầy trước tả chung cả Vân và Kiều gọi là “bình tả”.

“Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Một người một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Rồi tả cái đẹp con Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời,

Khuông trăng đầy đặn nét người nở nang.

Hoa cười ngọc tuyết đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Rồi chỉ hạ một câu:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn”.

Thế là cái đẹp của Vân tức là đẹp của Kiều mà Kiều lại xấp mấy nữa, rút được biết bao nhiêu cái đẹp ở ngoài ngòi bút kia. Cách nầy cũng gọi là “gia bội tả pháp”.

5/ Cân lượng từng chữ. – Tả Vân thì:

“Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

Đến tả Kiều:

“Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Trên nói “thua”, “nhượng”, sắc trung chi hiền, đến chữ “ghen” chữ “hờn” thì rõ ràng là sắc trung chi thánh; trong sắc giới mà có phân bậc thánh bậc hiền thì mấy chữ đó chính là tác giả đã khổ tâm chọn lựa, nấu nướng, un đúc để tả cho rành, không lẫn nhau.

Đó, chỉ nói mấy câu ở trương đầu Truyện Kiều anh đã thấy tay thợ của tác giả chưa? Thật con đĩ Tàu tu phúc mấy đời mới được ngọn bút lão học của ông Nguyễn Du tô vẽ, mới được truyền tụng đó, chớ bản thân con Kiều ở nước Tàu, đầu trong làng đĩ cũng không đáng nửa đồng kẽm, việc gì mà tán trinh tán hiếu? tán nhảm cả.

Nói đến đây cụ nghỉ một hồi rồi hỏi:

–  Sao? Anh nghe những câu tôi nói đó, có hiểu được văn pháp chút nào không?

–  Thưa, những câu cụ giảng đó, thật tôi mới nghe lần đầu, chỉ một trương đầu mà đã thú, ước gì được nghe cụ giảng cả toàn bộ thì quý biết bao!

–  Dài lắm, chỉ nói đại lược chỗ [chỗ này báo rách, mất 1 dòng – NST.]

6/ Chẩm phong tương đối. – Sau khi Kim Trọng, Túy Kiều gặp nhau, tựu trong tâm tưởng Kiều mà tả Kim Trọng:

“Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên gì hay không”

Thì bên kia, tựu trong tâm tưởng Kim Trọng mà tả Kiều:

“Ví chăng duyên nợ ba sinh,

Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.”

Hai bên gặp nhau không nói một lời, chỉ sự ao ước nồng nàn trong tim đen, mà ngòi bút nhà văn tả thấu chỗ tâm sự kín của hai bên đối nhau, rõ là “một mũi kim thấy huyết”.

7/ Tằng thứ phân minh. – Làm văn cần nhứt là có tầng thứ, do cạn vào sâu, do gần đến xa. Nếu tằng thứ lộn xộn là mất hẳn cách kiết cấu và lòi những điều vô ý thức ra, như: đồng là tả tâm sự Túy Kiều nhớ nhà trong khi lưu lạc quê người mà tả có thứ lớp:

a/ Trước hết, ở lầu Ngưng Bích:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rầy trông mai chờ,

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Xót người dựa cửa hôm mai,

Quạt nồng đắp lạnh những ai đó giờ.

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”

Đấy là lần đầu, tình nặng hơn lý nên nhớ Kim Trọng trước mà nhớ cha mẹ sau.

Van phap TK 2

b/ Lần thứ hai, khi ở lầu xanh:

“Nhớ ơn chín chữ cao sâu,

Một ngày một ngã bóng dâu tà tà.

Dặm ngàn nước biếc non xa,

Nghĩ đâu thân phận con ra thế nầy.

Sân hòe đôi chút thơ ngây,

Trân cam ai kẻ đỡ thay cho mình.

Nhớ lời nguyện ước ba sanh,

Xa xuôi ai có thấu tình chăng ai.

Khi về hỏi liễu chương đài,

Ngành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.

Tình sâu mong trả nghĩa giày,

Hoa kia đã chắp ngành nầy cho chưa.”

Đó lại nhớ cha mẹ trước mà nhớ Kim Trọng sau.

c/ Lúc đã gặp Thúc Sinh thì tình có chia ra nên chỉ nhớ nhà:

“Bóng dâu đã xế ngang đầu,

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi.

Tóc thề đã chấm quanh vai,

Nào người non nước, nào người sắt son”

d/ Lúc đã gặp Từ Hải, Hải bỏ nhà đi, tả cảnh Kiều nhớ nhà:

“Xót thay xuân cội huyên già,

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.

Chốc đà mười mấy năm trời,

Còn ra khi đã da mồi tóc sương.

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Duyên em như nối chỉ hồng,

May ra khi đã tay bồng tay mang”.

Đây lần đầu tiên chỉ nhớ suông, đến lần thứ hai mới tưởng việc em chắp duyên mình, lần sau mới tưởng tượng đến em đã có con. Còn bên cha mẹ, đầu tiên nói: “Gốc tử vừa ôm”, thứ nữa nói: “bóng dâu tà tà”, sau hết nói: “da mồi tóc sương”… chỉ trong tư tưởng mà từ cạn đến sâu, có thứ lớp, có ngăn nắp, đường đi trong óc như sợi tơ, rành mạch biết bao! Có đâu nói “hổ lốn xáo bần” như truyện văn sĩ ta thường thấy.  

8/ Sử bút, sử nhãn. – Về nhà làm sử nhứt là lấy con mắt bàng quan mà xem người xét việc, ở đời quân chủ chuyên chế, trừ nhà vua ra, ai cũng là giặc [mất 1 dòng, chừng 4-6 từ – NST.] “được vua thua giặc” đó in sâu vào não nhà làm sử. Xưa nay duy Tư-mã Thiên là có con mắt đặc biệt: Trần Thiệp là một tên dân xâu khởi binh đánh Tần Thỉ Hoàng, Tư-mã Thiên không gọi là giặc, mà nêu là Trần Vương và liệt vào hàng thế gia, v.v.

Về đoạn trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng học bút pháp Tư-mã Thiên, không chỉ không gọi Từ Hải là giặc, lại tả rõ một tay anh hùng, như:

“Đội trời đạp đất ở đời,

Họ Từ tên Hải, vốn người Việt-đông,

Giang hồ quen thói vẫy vùng,

Đờn gươm nửa gánh, giang sơn một chèo”…

“Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những đồ giá áo túi cơm sá gì…

Đục trời khuấy nước mặc dầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.”

Ai đọc đoạn nầy cũng sinh lòng khẳng khái. Nhứt là chỗ tả Hồ-tôn Hiến với Từ Hải, hai bên cầm ngang nhau: bên nầy gọi “Hồ công” thì bên kia cũng gọi “Từ công”, xem bình đẳng nhau, không có ý nâng cao bên nầy đè thấp bên kia như các nhà sử “a dua” kia. Mà theo văn tả đó thì Từ Hải cử chỉ quang minh lội lạc, khi làm giặc thì làm giặc, mà khi hàng thì hàng, còn bên Hồ-tôn Hiến làm việc ám muội phỉnh lừa, giết một anh tướng đã về đầu hàng, đê tiện biết bao!

Nói dài hơi mệt, cụ uống chén nước, hút điếu thuốc lá (cụ không hút thuốc lào, khác thói quen các quan Nghệ) rồi tiếp:

–  Thôi, nói nấy đã nhiều, nay nói đoạn kiết truyện cho anh nghe.

–  Xin cụ dạy.

–  Theo thực tế thì phần con Kiều đến “nhảy sông Tiền-đường” là hết, mà bên Kim Trọng đi tìm cũng đến đó là rồi chuyện, nên văn Truyện Kiều cũng có ý vị đến đoạn ấy thôi. Còn đoạn sau, nào Giác Duyên vớt Kiều, nào Kim Trọng gặp Kiều, chỉ là theo lối sáo nhà tiểu thuyết xưa, mượn cớ “báo ứng” để khuyên răn đời, đoạn ấy rõ là “vẽ rắn thêm chưn” nên tự nhà thức giả cho đoạn văn sau là “không mùi” (vị sách, ). Mà người sau thêu thùa phụ họa, nào “phật lý”, nào “tu”, nào “phúc”, đều là thừa cả. Vậy nói “kiết truyện” mình chỉ nói đến chỗ Kim Trọng biết Kiều chết ở Tiền-đường, không nói đoạn sau.

Trước kia mình nói một bộ truyện khởi đầu khó, mà kiết sau cũng không dễ: đoạn kiết văn Kiều, ông Nguyễn Du đã khéo dùng các lối văn.

–  Thế nào? cụ chỉ rõ cho.

–  Anh phải biết làm văn kỵ nhứt là một ngòi bút thẳng đơ    (nhất bút trực hạ) không có hồi co lại, như giòng nước chảy xuôi, mà hồi co lại lại kỵ “nói lặp”. Nên kiết một bài đại luận có đủ mấy lối:

a/ Mau lẹ như luồng gió cuốn mo nang   (tật phong quyển thác)

b/ Khúc chiết như sông Hoàng Hà trăm dặm, một đoạn quanh nhỏ, ngàn dặm một đoạn quanh lớn  ,     [Bách lý nhất tiểu khúc, thiên lý nhất đại khúc]

c/ Triền miên. – Lời ít mà ý nhiều, khiến người đọc như ăn mía, càng nhai càng nghe mùi ngon, cứ dẫn tới mãi.

d/ Giáp tự giáp nghĩ. – Cụ kể chuyện mà tự nhiên có lời nghị luận ở trong.

Đoạn kiết Truyện Kiều nầy, ông Nguyễn Du toàn mượn lời kẻ bàng quan để thu thúc, trước hết là lại già họ Đô. Họ Đô kể một đoạn dài gần hết ba phần đời con Kiều, toàn là chiếu ứng về mấy đoạn đã thuật trước, tuy là kể chuyện mà trong câu văn đã có lời bình phẩm.

Đến đoạn gặp Từ Hải, như [mất 2 từ – NST] thì có ý vị gì đâu, nên dứt ra một khúc, bắc cầu sang Thúc Sanh.

Thúc Sanh kể thêm một đoạn đến chỗ Từ Hải gặp Kiều nói rõ hơn họ Đô một tý. Như kể ngay đến đoạn Từ chết Kiều nhảy sông… thì văn ra xuôi quá, nên lại ngừng lại một đoạn nữa, đến sau sang Hàng Châu mới biết rõ lai lịch mà câu: “Nàng đà gieo ngọc trầm châu, Sông Tiền-đường đấy là mồ Hồng nhan, Than ôi không hiệp mà tan”  ấy là hết chuyện.

Một đoạn vừa kể chuyện vừa thu thúc toàn truyện mà chia ra ba đợt, lời văn khúc chiết, càng đọc càng có vị; lối văn ấy, tác giả đã hấp thụ nhiều tinh túy văn Tàu mà có mấy kẻ để ý.

 

Những đoạn văn nồng thấu trong truyện

Đến đây, nghe cuối chuyện, ký giả bèn khêu thêm một câu hỏi nữa:

– Thưa cụ, cụ giảng văn pháp Truyện Kiều, tôi nghe rất mới. Vì lâu nay tôi thấy vô số là lời phê câu giải mà không ai nói chỗ văn pháp thâm thúy ấy. Vậy toàn cả Truyện Kiều cụ cho đoạn nào là hay hơn cả?

–  Văn hay không phải độc chiếc do sức nhà văn mà nhờ tình cảnh cùng sự cố làm nền. Người xưa nói “Văn sinh bởi tình”, nên gặp cái cảnh khác thường, gặp cái chỗ tình cảnh khó xử, cay chua đắng chát, nồng nàn đằm thắm, thì văn tả mới có hứng vị, có chí tình. Bằng chỗ bình thường thì văn cũng bình thường. Duy đã là tay thợ văn, dầu gặp chỗ thường cũng dùng cách phu diễn thêu thùa để che mắt độc giả không thấy chỗ thường đó thôi, như toàn Truyện Kiều chỉ được 4 đoạn văn nồng thấu, còn ngoài ra lối văn thêu cả.

–  Thưa 4 đoạn nào?

–  Một là lúc Kiều đã thề với Kim mà rủi gặp gia biến trao lời cho em là Túy Vân.

Hai là lúc Kim Trọng trở sang nhà Kiều mà Kiều đã bán mình.

Ba là khi mới vào lầu xanh, lấy thân khuê các mà sa vào cái hầm lửa kia.

Bốn là Từ Hải bị giết mà mình bị ép, định nhảy sông Tiền-đường. (1)

Ngoài 4 đoạn ấy là văn phu diễn tự sự, nhưng nhờ tài văn ông Nguyễn Du lưu hoạt nên không thấy chỗ dở, chớ không nơi nào nồng thấu.

***

Đấy là xong một bài giảng, ký giả từ cụ ra về, chép vào một bản riêng để học lối xem văn – không chỉ văn Kiều, văn gì cũng thế – lâu nay không nói với ai. Gần đây ký giả có gặp con cụ là ông Đặng Thai Mai, hỏi tìm thêm di trước của cụ nhưng ông nói bị đốt mất cả. Ký giả còn bản thảo nầy, xin tuyên lên báo chương để lưu một dấu tích “luận văn bình văn” của một nhà lão học tiên thời nhân vật ta.

  • Nguồn:

Tiếng dân, Huế, s. 1021 (số Tết Đinh Sửu, 9 Fevrier 1937), tr. 5, 7.

  • Chú thích:

(1) Cả 4 đoạn văn, cứ xem trong truyện, không dẫn ra đây vì dài quá. (nguyên chú của Tùng Ngư)

[1*] Lời dẫn của tòa soạn “Tiếng dân” có lẽ do Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng viết.

 [2*] Tác phẩm này của Hàn Dũ nguyên gốc chữ Hán là 平 淮 西 碑 /Bình Hoài Tây bi/, tức là bài văn bia về việc bình định Hoài Tây; chưa hiểu vì sao các cụ lại đọc là “Bình Hoài Thai Bi”, tạm đoán là do người ghi (Tùng Ngư) nghe hơi lầm (Tây nghe thành Thai) nên viết ra như vậy chăng. Đây là bài văn bia Hàn Dũ viết để ghi công lao của vua Đường Hiến Tông đã dẹp yên phiên trấn Hoài Tây. Nguyên sau vụ biến loạn An Lộc Sơn, nhà Đường suy yếu, các phiên trấn lộng quyền, không sợ Trung ương. Nhân dịp một trấn đem quân quy phục, Đường Hiến Tông sai quan đi dẹp Hoài Tây. Gọi là bình, tức bình định, nhưng do chọn tướng không tinh chiến dịch kéo dài, sau phải sai tướng khác, 4 năm sau mới dẹp xong, coi như một sự kiện lớn, sai Hàn Dũ viết văn bia. Câu mở đầu (Thiên dĩ Đường khắc tiếu kỳ đức, nghĩa là Trời lấy nhà Đường làm kẻ kế thừa đức của Trời) nói cái lý để về sau các việc dù gặp khó mà sau lại thành công. – Chú thích này là do nhà giáo Trần Đình Sử tìm và giải giúp; xin cảm ơn anh Sử.

TÁN THUẬT VÀ BÀI CA CHÂU Á

Mới đây, khi lướt xem các báo cũ, tình cờ tôi được biết ngay năm 1938, tên tuổi Tán Thuật (Nguyễn Thiện Thuật) đã được khẳng định là tác giả bài “Á-Tế-Á ca” (bài ca châu Á), còn được gọi là bài “Hoán tỉnh quốc dân ca”.

 

Nơi xuất hiện tài liệu nói trên là tuần báo Cười ở Huế. Đây là tờ tuần báo văn chương trào phúng, do Lê Thanh Cảnh sáng lập. Ông Lê Thanh Cảnh khi đó đang làm chủ bút nhật báo Tràng An, ông xin xuất bản tuần báo Cười không phải như phụ trương của Tràng An mà như một tờ báo độc lập. Học giả Trần Thanh Mại được ông Cảnh mời làm chủ bút tuần báo Cười, ‒ tình tiết văn học sử (hay là báo chí sử) này, hầu như ít ai biết, cho nên trong các bản tiểu sử và tuyển tập của học giả Trần Thanh Mại, không hề thấy nói việc này.

 

Ở số 5 (ra ngày 22/4/1938) tuần báo Cười giành 2 trang giới thiệu xuất xứ và in toàn văn 200 câu bài “Á-Tế-Á ca”.

Tòa soạn báo Cười giới thiệu với độc giả:

 

“Chắc quốc dân ta còn nhớ, cụ Tán Thuật là một nhà đại cách mệnh ở nước ta trong khoảng người Pháp mới sang bảo hộ. Cụ theo đảng Cần vương lo việc khôi phục suốt mấy năm trời, chính người Pháp cũng phục tài dõng của cụ. Sau khi đảng Cần vương tan vỡ, cụ lặn lội qua Tàu, rồi sang Nhật, đầu quân giúp Nhật đánh Nga. Khi thắng trận cụ có dự vào tiệc hạ công, được vào bệ kiến hun chân Nhật hoàng.

Cụ ở Nhật, viết ra bài ca nầy gởi về cho quốc dân khuyên mau mau tỉnh cơn mê mộng lo việc tự cường.”

Tán Thuật tức Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926) quê làng Xuân Dục huyện Đường Hào tỉnh Hưng Yên, đậu Cử nhân khoa Bính Tý (1876), được cử làm Tri phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) rồi được bổ chức Tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương. Năm 1881 làm Chánh sứ sơn phòng tỉnh Hưng Hóa kiêm Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-83), Nguyễn Thiện Thuật kháng lệnh của nhà Nguyễn, tiếp tục tổ chức quân dân đánh Pháp. Ông liên kết với các thủ lĩnh quân sự khác, lập căn cứ chống Pháp ở Bãi Sậy (Hưng Yên), sau đó rút lên Hưng Hóa, Tuyên Quang, cùng Nguyễn Quang Bích tổ chức kháng chiến; Hưng Hóa thất thủ, ông rút lên Lạng Sơn phối hợp với Tuần phủ Lạng Bình Lã Xuân Oai tổ chức kháng cự. Khi thành Lạng thất thủ, 1885, ông trốn sang Tàu. Mấy chục năm sau, khi ông mất (1926) được an táng ở Quảng Tây, Trung Quốc.

Trong thời gian sống lưu vong, Nguyễn Thiện Thuật đã sang Nhật, đã sống ít lâu ở Nhật, ‒ đây là điều mà tòa soạn báo Cười của chủ bút Trần Thanh Mại cho biết. Đặc biệt, Nguyễn Thiện Thuật đã sung quân, làm một võ quan Nhật trong trận chiến Nga-Nhật (1904-1905). Khi chiến tranh kết thúc, ông có vinh dự của một người nước ngoài nhưng lại là một võ quan được dự tiệc khải hoàn, được vua Minh Trị ban rượu mừng thắng lợi. Đây là lời của tòa soạn báo Cười:  “Vua Minh Trị ban rượu thưởng rồi cụ ôm gối Thiên hoàng kể rõ tâm sự của mình”. “Ôm gối” là một nghi thức vinh dự trong trật tự đương thời ở Nhật.

 

Quá trình “giúp Nhật đánh Nga” này, chính trong bài ca Nguyễn Thiện Thuật đã kể rõ:

 

Thân phiêu bạt đã đành vô lại,

Bấy nhiêu niên Thượng Hải, Hoành Tân,

Chinh Nga trong lúc hoàn quân,

Tủi mình bôn bá theo chân khải hoàn.

Nâng chén rượu ơn ban hạ tiệp,

Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu.

Trời Nam mù mịt ngàn dâu,

Gió thu như thổi dạ sầu năm canh.

 

Có lẽ việc được “ôm gối” Thiên hoàng và giãi bày tâm sự vào năm kết thúc chiến tranh Nga Nhật (1905) đã kích thích Nguyễn Thiện Thuật đặt bút viết lại tâm sự mình gửi về đồng bào nơi cố quốc:

 

Biết bao nỗi bất bình khôn dãi,

Mượn bút hoa gởi lại quốc âm.

Thân già bao quản cát lầm,

Khuyên ai dốc chữ đồng tâm sau này

 

***

 

Được biết, trong nghiên cứu, ở miền Nam, học giả Nguyễn Hiến Lê trong sách khảo về “Đông Kinh Nghĩa Thục” (1956) đã sớm đặt vấn đề về tác giả của bài “Á-Tế-Á ca”: của một giáo sư trong nghĩa thục hay của Sào Nam, hay của Nguyễn Thiện Thuật, hoặc Tăng Bạt Hổ, hoặc Nguyễn Thượng Hiền? Ở miền Bắc, học giả Đặng Thai Mai đã đưa bài “Á-Tế-Á ca” vào phần văn tuyển của sách “Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX” (in lần đầu 1961), văn bản dựa vào bản chép tay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, về tác giả thì ghi chú: “tên tác giả bài này chưa biết là ai, có người nói là của Nguyễn Thiện Thuật, lại có người nói là của Tăng Bạt Hổ”. Cho đến gần đây, một số học giả lại đưa tác quyền bài ca này về cho Phan Bội Châu, tuy còn khá nhiều băn khoăn vì những điều vô lý trong các mạch suy diễn.

 

Nhưng tất cả những điều ấy đều là hậu quả của sự đứt gãy thông tin giữa các thời đại. Nếu là thông tin thì đó là những thông tin rất muộn so với thời điểm tuần báo Cười ở Huế công bố văn bản bài “Hoán tỉnh quốc dân ca”, cũng tức là “Á-Tế-Á ca” (= bài ca châu Á). Học giả Trần Thanh Mại thực hiện điều này vào năm 1938 ở Huế, không phải trong sự đơn độc để có thể tùy tiện. Rất gần ông khi đó có Phan Bội Châu ‒ ông già Bến Ngự đang ở ngay thành Huế, đã cộng tác với tuần báo Cười bằng thiên hồi ức rất giá trị (Đôi bạn giang hồ, đăng Cười s. 2., ngày 8/10/1937) về ông nghè Liên Bạt (Nguyễn Thượng Hiền). Rồi Huỳnh Thúc Kháng, khi đó là chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Dân, cộng tác với tuần báo Cười ngay từ số 1 (1/10/1937) với bài “Cái cười quá khứ”, dẫn các bài thơ gắn với nhiều kỷ niệm hoạt động thời trước.

Như vậy, tuần báo Cười ở Huế năm 1937-1938 đưa ra văn bản “Á-Tế-Á ca” và xác định đây là di bút của Tán Thuật, có thể nói, là sự thông tin của Phan Bội Châu, hoặc ít nhất, là thông tin lấy từ Phan Bội Châu.

Cho nên, quy tác quyền bài ca này về Phan Bội Châu, ‒ như một vài học giả làm gần đây, ‒ lại là một phán đoán sai lầm rất cần đính chính.

 

Và hiển nhiên, từ nay nên trả tác quyền bài “Á-Tế-Á ca” (Bài ca châu Á) về cho Nguyễn Thiện Thuật. Với bài ca này, có lẽ Tán Thuật là tác giả Việt Nam sớm nhất đã giành một nửa bài ca của mình, diễn ca về lịch sử nước Nhật từ quá khứ qua thời Minh Trị duy tân đi vào thế giới hiện đại, lấy đó làm tấm gương cho dân nước Việt noi theo.

20/8/2013

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

 

HOÁN TỈNH QUỐC DÂN CA

LTS. – Chắc quốc dân ta còn nhớ, cụ Tán Thuật là một nhà đại cách mệnh ở nước ta trong khoảng người Pháp mới sang bảo hộ. Cụ theo đảng Cần vương lo việc khôi phục suốt mấy năm trời, chính người Pháp cũng phục tài dõng của cụ. Sau khi đảng Cần vương tan vỡ, cụ lặn lội qua Tàu, rồi sang Nhật, đầu quân giúp Nhật đánh Nga. Khi thắng trận cụ có dự vào tiệc hạ công, được vào bệ kiến ôm chân Nhật hoàng.

Cụ ở Nhật, viết ra bài ca nầy gởi về cho quốc dân khuyên mau mau tỉnh cơn mê mộng lo việc tự cường. Bài nầy dù có nhiều câu khích liệt, nhưng trước sau vẫn khuyên người nước ta lấy nước Pháp làm thầy, không có ý phản kháng như trước nữa.

Nhân đó mà ta nghiệm thấy con đường tự cường tấn bộ của nước ta, ngoài việc cộng tác với nước Pháp để lo việc tự trị ra, tưởng không còn con đường gì khác. Cụ Tây Hồ tận tụy về nước hơn ba mươi năm, mà rút cục cụ cũng khuyên quốc dân “ỷ Pháp cầu tấn bộ”. Cụ Phan Sào Nam bôn tẩu quốc sự hơn hai mươi năm, mà sau cũng phải xướng cái thuyết “Pháp Việt đề huề”, nay xem cái đời cách mệnh của cụ Tán Thuật trung thành khích liệt biết chừng nào, mà trong bài đánh thức quốc dân nầy cũng đinh ninh đến câu:

“….Pháp là thầy / Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm”

Ấy đó, ba nhà cách mệnh tiên phong ở nước ta, sau khi xét rõ thời cuộc, hiểu thấu tiền đồ, đều phải nhận lấy nước Pháp làm thầy hướng đạo.

Bản báo kính lục bài nầy đăng lên mặt báo nhắc lại lời vàng ngọc của bậc tiền bối, để thức tỉnh đồng bào trong khi Đông Dương sắp tới thời kỳ nghiêm trọng vậy. Duy có một chỗ mà bản báo không biểu đồng tình với cụ là về phương diện thân Nhật!

CƯỜI

HOÁN TỈNH QUỐC DÂN CA

(Á-TẾ-Á CA)

Văn bản của báo “Cười” ở Huế, 1937-38,

chủ bút Trần Thanh Mại;

có đối chiếu với văn bản trong sách

“Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX” (1961)

do Đặng Thai Mai sưu tầm và tuyển chọn. 

 

Á-Tế-Á năm châu là bực nhất,                                 (1)

Người nhiều hơn mà đất cũng nhiều hơn.

Cuộc đời mở hội doanh hoàn,

Anh hùng bốn bể giang sơn một nhà.

Gẫm từ thuở Âu La tìm đất,                                     (5)

Vượt Chi Na qua Nhật đến Triều Tiên.

Xiêm La, Diến Điện gần liền,

Cao Man, Đại Việt thông miền Ai Lao.

Thịt một mảnh trăm dao xâu xé,

Chiếc kim âu chẳng mẻ cũng khôn lành.                  (10)

Tôi con Pháp, tớ thầy Anh,

Nín hơi đại Đức, nép mình cường Nga.

Gương Ấn Độ có xa đâu đó,

Chẳng máu đào nhưng cùng họ da vàng.

Mênh mông một dải Đông Dương,                         (15)

Nước non quanh quất trông càng thêm đau.

 

Cờ độc lập đứng đầu phất trước,

Nhật Bản kia vốn nước đồng văn.

Phương Đông nổi hiệu duy tân,

Nhật hoàng Minh Trị anh quân ai bì.                      (20)

Giống thần vũ riêng về một họ,

Vầng phù tang soi đỏ góc trời.

Kể đời trăm, hai mươi hai,

Năm, hai nghìn lẻ, năm mươi có thừa.

Sẵn cơ hội trời đưa lại đó,                                     (25)

Chốn Kinh thành Giang Hộ rời sang.

Dẹp Mạc phủ, bỏ Phiên bang,

Đổi giòng chính sóc, thay làng y quan.

Khắp trong nước lập đoàn kết hội,

Nha học đường đã ngoại ba muôn                       (30)

Việc kỹ nghệ, việc bán buôn,

Nơi lò đúc sắt, nơi khuôn nấu đồng.

Chè, tơ, lụa, gai, bông, nhung, vũ,

Với đồ sơn, vân mẫu, pha lê,

Gươm với tán, quạt với xe,                                   (35)

Đủ mùi hải lục, họp nghề nông thương.

Bốn mốt triệu cải lương nhân số,

Các sắc quân ước độ triệu người,

Chu vi mặt đất chạy dài,

Tính vuông pháp lý, bốn hai vạn thừa.                   (40)

Bốn mốt huyện năm xưa mới đổi,

Đầu Nại-Xuyên mà cuối Lộc-Nhì,

Đông Kinh ba phủ mười kỳ,

Trong thì Đại Bản, ngoài thì Kinh đô.

Sảnh Bắc Hải dư đồ quanh bể,                                 (45)

Huyện Xung Thằng chưa kể đất Lưu Cầu,

Gò Đối Mã bốn bề sâu,

Nghiêm nguyên đặt súng, Trúc phu đỗ tàu.

Nhà giây thép đâu đâu cũng đặt,

Thuyền thương luân khắp mặt đại dương.                 (50)

Kìa thiết lộ, nọ ngân hàng,

Đăng đài, báo quán, ngổn ngang phụ đầu.

Cuộc biến pháp năm đầu Minh Trị,

Ba mươi năm dân trí mở mang,

Chữ Hán tự, chữ Tây dương,                                     (55)

Mọi bài diễn thuyết, các trường chuyên môn.

Đất Đại Bản mở đồn đúc súng,

Xưởng Đông Kinh riêng cũng một tòa,

Trường Kỳ thuyền cục mở ra,

Dã Tân, Tu Hạ, ấy là hải quân.                                   (60)

Tàu với súng đã trăm phần chấn chỉnh,

Lại ngư lôi pháo đỉnh ai tày,

Quan quân luyện tập đêm ngày,

Mọi nghề so với Thái Tây kém gì.

Đội mã, bộ, lục sư các trấn,                                       (65)

Tự Ha-ri đến tận Tát-ma,

Tám đảo rộng, bốn gò xa,

Phú San cao ngất, Tỳ Bà trong veo.

Tướng, tá, úy, cũng theo Tây lệ,

Lại công binh, pháo vệ chỉnh tề.                               (70)

Đồng bào nghĩa khí gớm ghê,

Cái thù nô lệ quyết thề trả xong!

 

Năm Giáp Ngọ đùng đùng sóng gió,

Vượt quân sang thẳng trỏ Đài Loan,

Quân Lục ảo, tướng Đại San,                                   (75)

Ra tay cho biết cái gan anh hùng.

Đông tam tỉnh đã thu trong tay áo,

Bọn trắng da ngơ ngáo giật mình.

Cuộc hòa đâu khéo thình lình,

Chủ trương này bởi Nga đình vẽ khôn.                    (80)

Bụng cứu quốc ghê hồn Nhật Bản,

Giận xung quân khôn cản nghĩa đồng cừu,

Đã toan giở súng quay tàu,

Y Đằng khôn khéo mưu sâu vãn hồi,

Nhận bồi khoản lấy Bành, Đài nhượng địa,                (85)

Trong mười năm rồi sẽ xem nhau!

 

Nga kia nước lớn lại giàu,

Bên giường giấc ngáy dễ hầu chịu yên.

Hàn với Mãn lợi quyền thu sạch,

Xe Nhĩ Tân, tàu lạch Sâm Uy,                                 (90)

Cõi đông trong cuộc an nguy,

Có ta ta phải phù trì giống ta.

Việc khai hấn chắc là quyết liệt,

Đất Á Đông thấy huyết phen này,

Năm Giáp Thìn, tháng hai tây,                                 (95)

Chiến thư hai nước định ngày giao tuy.

Trận thứ nhất Cao Ly lừng tiếng,

Khắp hoàn cầu muôn miệng đều khen.

Sa trường xung đột mấy phen,

Ngọn cờ Áp Lục, tiếng kèn Liêu Dương.                  (100)

Cửa Lữ Thuận mơ màng khói bạc,

Thành Phụng Thiên ngơ ngác non xanh,

Hải quân một trận tan tành,

Thái Hoa cắt núi, Đông Thanh xẻ đường.

Sức hùng vũ ai đương lại được,                             (105)

May điều đình có nước Hoa Kỳ,

Khéo đem hòa ước giải vi,

Nếu không Bỉ-đắc còn chi là đời.

Hội Vạn quốc đặt bày công nghị,

Chấu đá voi sự ấy cũng nực cười.                           (110)

Kể trong hòa khoản hai mươi,

Bề nào Nga cũng chịu lui trăm phần.

Cuộc tang hải khuất thân từng lúc,

Trong liệt cường nay cũng chen vai.

Khen thay Nhật Bản nhân tài,                               (115)

Từ đây danh vị còn dài về sau.

 

 

Ngồi mà nghĩ thêm sầu lại tủi,

Nước Nam ta gặp buổi truân chuyên,

Dã man quen thói ngu hèn,

Cũng như Minh Trị dĩ tiền mấy năm.                    (120)

Từ Đại Pháp đem tân bảo hộ,

Mở trí khôn mới độ một và,

Non sông thẹn với nước nhà,

Quan là tượng gỗ, dân là thân trâu,

Việc giây thép việc tàu việc pháo,                       (125)

Việc luyện binh, việc giáo học đường,

Việc kỹ nghệ, việc nông thương,

Việc khai mỏ khoáng, việc đường hỏa xa,

Giữ các việc chẳng qua người nước,

Kẻ chức bồi, người tước cu li,                             (130)

Thông ngôn ký lục gì gì,

Mãn đời lính tập chọn vì quan sang.

Các hạng thuế các làng tăng mãi,

Hết đinh điền rồi lại trâu bò,

Thuế chó cũi, thuế lợn lò,                                  (135)

Thuế diêm, thuế rượu, thuế đò, thuế xe,

Thuế các chợ, thuế chè, thuế thuốc,

Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn,

Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền,

Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn,             (140)

Thuế rạ rơm thông luôn thuế rác,

Thuế mái hiên, thuế các hàng cơm,

Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn,

Thuế người chức sắc, thuế con đĩ đàn.

Thuế dầu mật, thuế sơn, mọi chỗ,                     (145)

Thuế cháo rau, thuế lúa, thuế bông,

Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng,

Thuế chim thuế cá khắp trong ba kỳ.

Nhiều hạng thuế kể chi cho xiết,

Thuế xia kia mới thật lạ lùng,                           (150)

Làm cho thập thất cửu không,

Làm cho xơ xác khốn cùng mới thôi.

Lại nghe nói Lào Kay, Yên Bái,

Mấy muôn người xẻ núi đào sông,

Khổ thay làm chướng nghìn trùng,                    (155)

Nước sâu quăng xác, hang cùng chất xương,

Nỗi diệt chủng vừa thương vừa sợ,

Người nước ta biết có còn không?

Nói ra ai cũng đau lòng,

Cha con khóc lóc, vợ chồng thở than,                 (160)

Cũng có lúc bầm gan tím ruột,

Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

Cũng xương cũng thịt cũng da,

Cũng hòn máu đỏ giống nhà Lạc Long,

Thế mà chịu trong vòng trói buộc                      (165)

Bốn mươi năm nhơ nhuốc lầm than,

Than ôi Bách Việt giang sơn,

Văn minh đã sẵn khôn ngoan có thừa.

Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?

Anh em ta rày tính sao đây?                             (170)

Nhật là bạn, Pháp là thầy,

Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm.

Việc tân học kíp đem dùng trước,

Hội dân đoàn cả nước cùng theo.

Sự buôn ta giữ làm đầu,                                   (175)

Mọi nghề cùng ghé địa cầu một vai.

Bây giờ kể còn dài khôn xiết,

Chữ tự do xin hết một lòng.

Gương Nhật Bản đất Á Đông,

Giống ta ta phải soi chung kẻo mà.                   (180)

Dạ học thử dần dà mở rộng,

Thày Lang Sa rồi cũng nể nang.

Có khi đặt chữ bằng hàng,

Thay đời nô lệ ra phường văn minh.

Kìa thuở trước như Anh, Pháp, Đức,                (185)

Cũng chẳng qua cùng cực tắc thông,

Họa may trời có chiều lòng,

Việt Nam đứng lại phương Đông một mình.

 

 

Thân phiêu bạt đã đành vô lại,

Bấy nhiêu niên Thượng Hải, Hoành Tân.         (190)

Chinh Nga trong lúc hoàn quân,

Tủi mình bô bá theo chân khải hoàn.

Nưng chén rượu ơn ban hạ tiệp.

Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu.

Trời Nam mù mịt ngàn dâu,                           (195)

Gió thu như thổi dạ sầu năm canh.

Biết bao nỗi bất bình khôn dãi,

Mượn bút hoa mà gởi lại quốc âm.

Thân già bao quản cát lầm,

Khuyên ai dốc chữ đồng tâm sau này.              (200)

 

TÁN THUẬT di bút

Nguồn:

Cười, Huế, s. 5 (22 Avril 1938), tr. 2 – 3.

Chú thích

Câu 1: Á-Tế-Á: Châu Á (phiên âm từ  “Asia”)

Câu 5: Âu La: Châu Âu (phiên âm từ  “Europe”).

Câu 19: Đặng Thai Mai (Văn thơ cách mạng việt Nam đầu thế kỷ XX) ghi là: Thái Đông.

Câu 20: Đặng Thai Mai (sđd.) ghi: Dòng Thần vũ…; Ý câu này: nước Nhật từ ngày thành lập đến nay chỉ có một dòng vua (Nhật hoàng).

Câu 23: Kể đời trăm hai mươi hai: Trần Thanh Mại (báo Cười) chú: “22 è siecle” (chữ Pháp) tức là 22 thế kỷ; Đặng Thai Mai (sđd.) chú: Minh Trị là đời vua thứ 122 trong dòng dõi Thiên hoàng Nhật Bản.

Câu 24: Năm: hai nghìn lẻ năm mươi có thừa: Trần Thanh Mại (báo  Cười) chú: “2050 années” (chữ Pháp): 2050 năm. Đặng Thai Mai (sđd.) chú: Tính cho đúng thì vào khoảng 1905, lịch sử Nhật Bản, kể từ Thiên hoàng thứ nhất (lên ngôi 600 năm Tr.CN) đã có 2.565 năm.

Câu 26: Trần Thanh Mại (bđd.) chú: Giang Hộ = Tokyo; Đặng Thai Mai (sđd.) cho biết: bản của trường Viễn Đông Bác Cố chép: Chốn kinh thành Thần Hộ mới dời sang, là lầm, vì Thần Hộ (= Kobe) là hải cảng phía bắc vịnh Đại Bản; còn Giang Hộ  là khu vực Edo, từ 1868 (Minh Trị thứ nhất) kinh đô mới dời đến đây, gọi là Đông Kinh (Tokyo).

Câu 30: ba muôn: 30.000.

Câu 32: Đặng Thai Mai (sđd.): Nơi lò hấp bát, nơi khuôn đúc đồng.

Câu 35: Đặng Thai Mai (sđd.): Dao với quạt, tàn với xe

Câu 37: Đặng Thai Mai (sđd.): Bốn nhăm triệu

Câu 40: Trần Thanh Mại chú: (420.000 km2)

Câu 42: Nãi Xuyên: Kanagawa; Lộc-nhì: đảo Kagoshima

Câu 43: Đặng Thai Mai (sđd.): Đông Kinh ba phủ cận kỳ; cận kỳ: sát với kinh thành.

Câu 44: Đại Bản: Osaka; Kinh đô: Kyodo, kinh đô Nhật trước lúc duy tân.

Câu 45: Bắc Hải: Hokaido

Câu 46: Xung Thằng: Okinawa, tức đất Lưu Cầu (Rioukiou) ngày trước.

Câu 47: Gò Đối Mã: đảo Tsushima.

Câu 50: Đặng Thai Mai (sđd.): Đội thương thuyền khắp mặt đại dương.

Câu 51: thiết lộ: đường sắt.

Câu 52: Đăng đài: đèn soi cho các tàu bè nơi bến tàu; phụ đầu: bến tàu trên bờ biển.

Câu 59: Trường Kỳ: Nagasaki.

Câu 60: Dã Tân: chính là Tiểu Dã Tân: Inohama; Tu Hạ: chính tên là Hoàng Tu Hạ: Yokosuka, quân cảng Nhật trước vịnh Tokyo.

Câu 66: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ Hà-di đến tận Tát-ma. Ha-di (hoặc Hari): tên đảo lớn Yeso ở phía bắc lãnh thổ Nhật Bản; Tát-ma: Satsuma.

Câu 68: Phú San: tên núi trên bờ tây đảo Hondo; Tỳ Bà: hồ Biwa gần Kyodo.

Câu 73: năm Giáp Ngọ: 1894. Đặng Thai Mai (sđd.) không tán thành thái độ tác giả bài ca trong việc này, lưu ý rằng đây là chiến dịch ăn cướp của đế quốc Nhật.

Câu 75: Đặng Thai Mai (sđd.): Quân Lục-úc, tướng Đại-sơn; Lục-úc (hay Lục-ảo): Mutsu; Đại-sơn: Oyama.

Câu 77: Đông tam tỉnh: ba tỉnh đông bắc Trung Quốc (Phụng Thiên, Cát Lâm, Hắc Long Giang).

Câu 81: Đặng Thai Mai (sđd.): Lòng ái quốc…

Câu 84: Y-đằng: Ito

Câu 85: Bành, Đài: Bành Hồ và Đài Loan.

Câu 89: Hàn: Triều Tiên; Mãn: Mãn Châu.

Câu 90: Nhĩ-tân: Cáp-nhĩ-tân (Harbine), thành phố ở Trung Quốc; Sâm-uy: tức Hải-sâm-uy (Vladivostok), hải cảng ở viễn đông của Nga.

Câu 91: Đặng Thai Mai (sđd.): Á Đông trong cuộc an nguy.

Câu 92: Đặng Thai Mai (sdđ.): Có ta ta phải phù trì chúng ta. Trần Thanh Mại (bđd.) chú: “Cụ Tán Thuật có làm quan võ Nhật đánh Nga”, giúp người đọc hiểu hai câu này là tâm niệm, là sự tự biện hộ của Tán Thuật về việc tham dự chiến tranh Nga-Nhật.

Câu 95: Đặng Thai Mai (sđd.) cho biết: bản chép tay của trường Viễn Đông Bác Cổ chép nhầm ra “tháng Chạp”. Năm Giáp Thìn: 1904.

Câu 96: giao tuy: bước vào tình thế chiến tranh.

Câu 97: Cao Ly: Triều Tiên.

Câu 100: Áp Lục: tên sông ở bắc Triều Tiên giáp Trung Quốc; Liêu Dương: thành phố ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

Câu 101: Lữ Thuận: tên cảng ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, người Tây gọi là Port-Arthur (cảng Arthur), nơi từng xảy ra trận đánh lớn giữa quân Nhật và quân nhà Thanh vào 21/11/1894.

Câu 102: Phụng Thiên: thành phố Thẩm Dương thuộc tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

Câu 105: Đặng Thai Mai (sđd.): Sức hùng vĩ…

Câu 108: Bỉ-đắc: tức thành phố Saint Petersbourg của Nga.

Câu 109: Đặng Thai Mai (sđd.): Hội Vạn quốc diễn bài công nghị.

Câu 111: Đặng Thai Mai (sđd.): Kể trong hòa khoản mười hai.

Câu 112: Đây là cuộc chiến giữa hai đế quốc nhằm tranh giành quyền kiểm soát vùng Mãn Châu và Triều Tiên. Đặng Thai Mai (sđd.) phê phán thái độ và sự đánh giá của tác giả bài ca này về ý nghĩa và kết cục chiến tranh Nga-Nhật (1904-05). Thật ra, tác giả Tán Thuật đứng trong hàng ngũ quân Nhật, cảm xúc về sự nổi lên hùng cường của Nhật Bản ở đây vừa thể hiện sự hân hoan của người trong cuộc, vừa bộc lộ mong ước của một người ngoại quốc, đến đây từ một nước chậm phát triển, đang bị đô hộ.

Câu 114: Đặng Thai Mai (sđd.): Đám liệt cường nay cũng chen vai.

Câu 115: Đặng Thai Mai (sđd.): Khen thay Nhật Bản anh tài.

Câu 116: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ đây danh dự còn dài về sau!

Câu 120: Đặng Thai Mai (sđd.): Cũng như Minh Trị dĩ tiền mọi năm.

Câu 121: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ nước Pháp đam tâm bảo hộ.

Câu 125: Đặng Thai Mai (sđd.): Vua là tượng gỗ…

Câu 128: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc khai mỏ quặng…

Câu 130: Đặng Thai Mai (sđd.): Người chức bồi…

Câu 131: Đặng Thai Mai (sđd.): Thông ngôn ký lục chi chi

Câu 141: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế đến cả phấn son phường phố

Câu 142: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế những anh thuốc lọ gầy mòn. Đặng Thai Mai ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ bỏ sót hai câu 141-142 này; không rõ người biên soạn lấy hai câu này từ nguồn nào.

Câu 144: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn.

Câu 146: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế gạo, rau, thuế lúa, thuế bông,

Câu 148: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế chim thuế cá khắp trong lưỡng kỳ.

Câu 149: Đặng Thai Mai (sđd.): Các hạng thuế…

Câu 152: Đặng Thai Mai (sđd.): Làm cho xơ xác khốn cùng chưa thôi.

Câu 155: Đặng Thai Mai (sđd.): Cực thay lam chướng nghìn trùng

Câu 156: Đặng Thai Mai (sđd.): Sông sâu ném xác, hang cùng chất xương.

Câu 157: Đặng Thai Mai (sđd.): Họa diệt chủng…

Câu 158: Đặng Thai Mai (sđd.): Nòi giống ta…; Đặng Thai Mai ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ sót mất đoạn từ “Làm cho thật thấp cửu không”  đến “Nòi giống ta biết có còn không”.

Câu 159: Đặng Thai Mai (sđd.): Nói ra ai chẳng sờn lòng; và ghi chú: bản viết tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ chép: “Thôi thì thôi, cũng dầu lòng!”

Câu 160: Đặng Thai Mai (sđd.): Cha con tủi nhục, vợ chồng lìa tan!

Câu 161: Đặng Thai Mai (sđd.): Nghĩ lắm lúc thâm gan tím ruột.

Câu 162: Trần Thanh Mại (bđd.) bỏ lửng 3 từ cuối; Đặng Thai Mai (sđd.): Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

Câu 163: Đặng Thai Mai (sđd.): Cùng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long.

Câu 166: Trần Thanh Mại (bđd.) bỏ lửng 4 từ cuối; Đặng Thai Mai (sđd.): Thế mà chịu trong vòng trói buộc.

Câu 169: Đặng Thai Mai (sđd.): Hồn mê mộng…

Câu 170: Đặng Thai Mai (sđd.): Anh em ta phải tính làm sao, và ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ là: Anh em ta phải tính sao đây?

Câu 171: Đặng Thai Mai (sđd.): Nhật là họ, Pháp là thù; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Nhật là họ, Pháp là thầy.

Câu 172: Đặng Thai Mai (sđd.): Mưu cao phải học, thù sâu phải đền; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm.

Câu 173: Đặng Thai Mai (sđd.): Nền tân học kíp nên dựng trước; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Việc tân học kíp đem dựng nước.

Câu 174: Đặng Thai Mai (sđd.): Hội dân đoàn, cả nước cùng nhau.

Câu 175: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc buôn ta lấy làm đầu.

Câu 177: Đặng Thai Mai (sđd.): Bây giờ kể còn dài chưa xiết.

Câu 178: Đặng Thai Mai (sđd.): Chữ tự do xin kết một lòng.

Câu 180: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc học thức dần dà mở rộng.

Câu 184: Đặng Thai Mai (sđd.): Thay đàn nô lệ làm phường văn minh.

Câu 188: Đặng Thai Mai (sđd.): Việt Nam đứng lại phương Đông có mình.

Câu 189: Đặng Thai Mai (sđd.): Thân xiêu bạt…

Câu 190: Thượng Hải: thành phố lớn, trung tâm thương mại ở miền Đông Nam Trung Quốc; Hoành Tân: tức Yokohama, thành phố lớn, có cảng biển lớn, thủ phủ tỉnh Kanagawa của Nhật Bản.

Câu 191: Đặng Thai Mai (sđd.): Chinh Nga nhân lúc hoàn quân.

Câu 192: Đặng Thai Mai (sđd.): Xót mình bôn bá, theo chân khải hoàn.

Câu 193-194: Trần Thanh Mại (bđd.) chú: “Vua Minh Trị ban rượu thưởng rồi cụ /tức Tán Thuật/ ôm gối Thiên hoàng kể rõ tâm sự của mình”; thông tin này phải chăng Trần Thanh Mại có được từ Phan Bội Châu?

Câu 197: Đặng Thai Mai (sđd.): Biết bao nỗi bất bình không giải.

Câu 199: Đặng Thai Mai (sđd.): Thân tàn bao quản cát lầm.