Trang chủ » Posts tagged 'thụy an'

Tag Archives: thụy an

Truyện ngắn Thụy An: TRƯỜNG HỢP TÒNG QUÂN CỦA THIẾU ÚY NGUYỄN LÂM

TRƯỜNG HỢP TÒNG QUÂN CỦA THIẾU ÚY NGUYỄN LÂM

Truyện ngắn của Thụy An

Thế là hắn tỉnh dậy, bất chợt miệng hắn đang lắp bắp: “Je suis fier … je suis fier…” (1) Hình như trong mơ, hắn nhớ mãi không ra câu nói tiếp, nên vừa tỉnh, hắn vội đọc trơn tru: “Je suis fier d’ avoir offer ten holocauste à ma patrie et la France un de mes fils” (2) Bài đáp từ hắn mới đọc hồi chiều trước mộ con hắn, hắn đã quên thế nào được. Rồi làm như thức dậy chỉ cốt khảo trí nhớ, thấy không suy suyển gì, hắn yên tâm ngủ lại.

Chưa thiếp hẳn mà tiếng ngáy của hắn đã nổi lên, khò khò khoan nhặt, tai hắn vẫn thấp thoáng nghe, và óc hắn lang bang nghĩ đến con nhân tình pa-ri-diên bé bỏng từng ví tiếng ngáy của hắn du dương như tiếng thủy triều lên xuống. Con bé có đôi môi cong. Đôi vú cũng cong lên theo chiều môi. Tiếng ngáy của hắn dộ cao gừ gừ như tiếng thở dài. Mắt díp chặt.

Bỗng cả người hắn giật nẩy lên, mắt mở choàng. Rõ ràng có ngón tay vừa búng vào mí mắt hắn. Thế là nghĩa lý gì? Trong gian phòng và chiếc giường rộng chỉ có độc mình hắn, không lẽ hồn con hắn hiện về trêu cợt. Hắn không tin có ma, mà ví phỏng có thực, con hắn cũng không dám tinhg nghịch đến thế. Hắn là người cha nghiêm khắc, thằng Lâm mới chết có hai ngày, hắn chưa quên điều đó.

Hắn xoay người, tìm một chiều nằm thuận tiện hơn. Đầu hắn đang rức như búa bổ. Hắn cần ngủ. Luôn hai hôm nay, hắn đã nhược người vì những bổn phận của một tang chủ thuộc giới cầm đầu Bắc Việt, con lại chết trên bãi chiến trường “chống cộng sản Việt Minh”. Thằng bé đã mồ yên mả đẹp. Còn hắn bảy giờ sáng mai phải có mặt ở sân bay Bạch Mai, cùng với bọn tướng tá Pháp đi kinh lý mặt trận Nam Định, chính nơi con hắn tử nạn. Hắn cần lấy lại sức để lúc ấy trước mặt mọi người, giữ được cái vẻ “mang nỗi đau đớn vĩ đại một cách uy nghi và gan dạ”, đúng như lời viên sĩ quan đại diện quân đội viễn chinh đã ca tụng hắn trong bài điếu văn đọc trươc mộ con hắn.

Cái vẻ ấy hắn đã học được ở nhiều sĩ quan cao cấp Pháp có con bị đạn Việt Minh bắn gục ngay trong trận do bố chỉ huy. Nghĩa là có vẻ buồn nghiêm trang, giọng nói hơi trễ nải, khóe mắt ngùi ngùi, nhận những lời phân ưu một cách kẻ cả, cám ơn phớt qua rồi lảng sang chuyện khác. Hắn phân vân không biết có nên bắt chước bọn quan thầy ấy, cả việc cầm chiếc ba-toong không… Trong trường hợp tang tóc này, chiếc ba-toong thật là đắc vị. Ra điều tâm hồn đau đớn lắm, gục rũ xuống phải có chiếc ba-toong vực đỡ mới giữ được vẻ uy nghi, gan dạ. “Con người” biết bao! Thiên hạ nhìn vào sẽ ái ngại, thương cảm. Thuật câu nhân tâm, hắn tự phụ không kém Carnégie bên Mỹ. (3)

Những ý nghĩ như đàn kiến bò miên man trong đầu óc làm đôi mắt hắn gờ gờ. Chợt ngón tay lại búng nẩy ra. Lần này trống ngực hắn đổ hồi, gân thái dương giật mạnh. Hắn linh cảm có sự khác thường. Kẻ thù thừa dịp tang tóc, dinh cơ trễ nải canh phòng, định ám hại hắn cũng nên. Nhưng vào được phòng hắn, phải bước qua hai vệ sĩ, trung thành với hắn hơn hai con béc-giê đêm đêm nằm canh trước phòng ngủ của hắn. Mắt hắn đảo khắp gian phòng sáng ánh trăng thượng tuần rõ từng góc tường kẹt tủ. Đảo đến những khuôn cửa kính chạy dài suốt bề mặt gian phòng hắn há miệng suýt kêu… Bên ngoài áp vào cửa kính những con mắt dài có đuôi đen đặc những đồng tử đang nghiêng nghé chớp nháy, động cửa đòi vào. Tay hắn lẩy bẩy tìm bấm điện. Đèn bật sáng choang. Những con mắt chỉ là những lá cây ngọc lan hắt bóng lên mặt kính. Ánh sáng lại đánh thức, khua to những âm thanh thiêm thiếp trong bóng tối, đưa lọt vào tai hắn tiếng khóc rền rĩ. Nghe tưởng từ đâu xa vẳng tới, thoắt lại quanh quất ngay bên. Mang máng giống tiếng thằng Lâm. Hắn rợn người nhận ra chính tiếng khóc ấy đã xói vào giấc ngủ của hắn, búng nẩy mi mắt hắn.

Hắn ngồi nhỏm dậy, mở tủ đầu giường lấy chai cô-nhắc rót luôn mấy cốc uống. Rượu vào, đầu càng rức, nhưng người hắn trấn tĩnh hơn, sống lưng bớt ớn lạnh, và miệng lưỡi thuần lại. Hắn nghiêm nghị gọi: “Lâm ơi! Đêm hôm mày về quấy cậu làm gì! Mai cậu kinh lý chỗ mày bị nạn, mày hãy về đấy trước mà đón cậu”.

Hắn đi lại mở tung cửa sổ, như để hồn con hắn lấy lối ra. Tiếng khóc liền ùa vào, to dội. Tiếng của vợ hắn khóc con từ dưới phòng khách vẳng lên. Hắn cau mày. Ngót ba chục năm hắn luôn luôn nghe tiếng vợ khóc. Người đàn bà ấy từ khi lấy hắn, hình như không làm việc gì ngoài việc khóc. Khóc vì mẹ chồng cay nghiệt, khóc vì chồng chơi bời. Bây giờ tiếng khóc cũng không làm cho thần kinh hắn bớt dấm dứt.

Dưới đường, ngoài cửa dinh, tên lính gác bồng súng đang dòm vào trong tò mò nghe. Hắn càng bực mình như hồi chiều hắn đã bực mình vì vợ hắn cứ lăn lộn kêu gào bên mộ con, giữa lúc bài điếu văn tới đoạn: “mang nỗi đau đớn vĩ đại một cách uy nghi gan dạ”.

Hắn đóng sạp cửa sổ. Người lính gác nhìn lên, thấy hắn, vội quay lưng, lủi vào vọng canh. Hắn xăm xăm xuống phòng khách. Mỗi bước chân động lên thái dương nhức buốt. Nếu vợ hắn không im, hắn sẽ không tài nào ngủ được. Mai đến quỵ.

Hai tay ôm đầu, hắn đứng cửa phòng bảo vợ đang ngồi phục trước bàn thờ con:

– Mợ! Người chết rồi, không lấy lại được. Mợ nên về buồng nghỉ đi.

Vợ nghe tiếng chồng, nín bặt, nhưng vẫn ngồi nguyên chỗ, tóc xõa che kín lưng. Buồng nực mùi hoa úa bày la liệt trên bàn thờ, chồng chất cả dưới đất. Hoa, bọn thuộc hạ các nơi xa không về kịp đám, mới đem phúng hồi tối. Hắn nói them:

– Mợ cũng nên an ủi là thằng Lâm chết danh chết giá. Quốc ca, quốc kỳ, đủ cả. Lại truy tặng huân chương. Bố tôi xưa tứ trụ triều đình cũng chả được thế. Mợ còn nhớ đấy chứ…

Hắn đến gần bàn thờ, nhìn bức ảnh thằng con mặt non măng, người bé nhỏ, bộ quân phục thiếu úy mặc trên người trông loạc choạc như bộ quần áo đi mượn để chụp ảnh chơi, hay để hóa trang làm trò trong một cuộc thi trá hình. Hắn sửa ngay ngắn lại tấm huân chương treo dưới bức ảnh, thở dài:

– Thằng bé này không có phúc tướng. Tử vi của nó, mẹ mượn thày tướng nào xem cũng bảo nó phi bần tắc yểu…

– Câm ngay! Đừng nhắc đến mẹ mày nữa. Mẹ con mày giết con tao!

Hắn trố mắt kinh ngạc nhìn người vợ vụt đứng phắt dậy, xông đến trước mặt hắn, hàm răng nghiến chặt như đã ngoạm vào da thịt hắn. Hắn tỉnh ngay cơn kinh ngạc, một tay vội giơ ra đề phòng cử chỉ bạo động của vợ, một tay quơ chiếc chân nến trên bàn thờ, ra tay trước. Vợ hắn kêu thất thanh “Lâm ơi!” Hắn cười gằm trong bụng: “Mày gọi nó để dọa ông à! Ông cho mày xuống âm phủ mẹ con gặp nhau một thể”. Mắt hắn ngước lên, chợt gặp mắt thằng Lâm trong ảnh, lừ lừ nhìn hắn. Cái nhìn thản nhiên mặc kệ của đứa trẻ không hiểu những việc mình chứng kiến, hay tự biết mình không thể can thiệp được, nhưng vẫn chăm chăm theo dõi, không bỏ sót một chi tiết nhỏ, như ghi giữ để dành lại, ngẫm nghĩ về sau. Hắn bàng hoàng. Con mắt ấy, thằng Lâm vẫn có từ ngày bé, có cả trong những lúc đứng nhìn bố hành hạ mẹ; con mắt thường làm hắn điên tiết dừng tay đánh vợ, quát đuổi nó đi nơi khác.

Nhưng dù nó đã chạy trốn rồi, hắn biết một lát nó sẽ mon men trở lại, và cứ con mắt ấy, nhìn nữa… Lớn lên nó vẫn nhìn hắn như thế, có hắn, có nó, hắn đang làm gì, quay lại, thế nào cũng bất chợt nó nhìn hắn… Cho đến bây giờ lại cái nhìn ấy, người thợ ảnh ghi vĩnh viễn trên bức ảnh sau trót của nó dùng làm ảnh thờ, để nó lại tiếp tục chứng kiến bố mẹ xung đột nhau.

Hắn ngồi phịch xuống ghế trước bàn thờ:

– Nhà đang có việc tôi để tội đấy cho mợ.

Vợ hắn chồm lên:

– Để tội cho tao? Còn tao thì tao không để yên cho cái tội mẹ con mày giết con, giết cháu.

A, thế này thì quá lắm. Chưa bao giờ vợ hắn dám xưng mày tao với hắn, dám nói nặng lời với mẹ chồng. Thị điên rồi chắc. Hắn đứng dậy… Dầu sao cũng phải giữ nếp nhà. Đôi mắt thằng Lâm liền dõi theo hắn lăm lăm như đôi ống kính ảnh giơ sẵn để chụp. Hắn nhích phía nào ống ảnh chuyển theo phía ấy… Hắn biết hắn đang bị hãm trong vòng nhỡn giới của ống ảnh, không thể nào lánh lên gác được. Phải để nó thu những hình những nét nào đấy của hắn đã, y như bọn phóng viên nhiếp ảnh bám sát hắn, chụp hắn, trong mỗi cuộc kinh lý. Chỉ khác, hắn biết bọn phóng viên nhiếp ảnh ghi những dáng điệu cử chỉ nào đẹp nhất của hắn và họ chụp để đăng báo, tuyên truyền, toàn những việc có lợi cho uy tín của hắn. Còn đôi ống ảnh câm lặng này, hắn cảm thấy nó bất chấp hắn, dấu kín những cái nó ghi được để đe dọa về sau, bắt hắn phải e dè nơm nớp. Tự dưng hắn phân tích được rõ ràng cái cảm giác từ bé đến lớn, thằng Lâm với con mắt nhìn kỳ lạ, đã gieo cho hắn như một ám ảnh.

Hắn ngó ảnh con, giận giữ:

– Tại sao mày cứ nhìn cậu thế? Mày nhìn để làm gì?

Câu hỏi chỉ thốt trong cuống họng mà hắn nghe oang oang khắp phòng đập vào tai hắn nhức nhối. Miệng thằng Lâm mím chặt không trả lời hắn. Lúc nó còn sống, hắn đã không căn vặn. Giờ, nó đem điều bí mật ấy xuống mộ. Cái chết che chở cho nó những cơn lôi đình thịnh nộ của bố. nó thản nhiên đứng trên bàn thờ ngó thẳng mặt bố.

Hắn lại nói thầm:

– Mày có biết cậu ghét mày cũng vì cái nhìn của mày không?

Hắn gai người, rõ ràng thằng Lâm đang trả lời hắn qua tiếng nói hằn học của mẹ nó:

– Cậu ghét thằng Lâm bắt nó tòng quân vì nó xấu xí nhất nhà, học kém nhất nhà, vì hồi đẻ nó cậu đang muốn bỏ mẹ con nó. Để lấy con nhân tình trên Hà Nội. Lấy không được lại bị con đĩ theo thằng khác đi Sài Gòn cuỗm của cậu hết tiền bán nhà, tiền bán ô tô. Cậu ghét tôi, cậu ghét lây nó…

Hắn đứng phắt dậy, mắt thằng Lâm lại trì hắn xuống… Hắn lẩm bẩm:

– Không phải… không phải, nó cũng là một đầu con.

– Một đầu con à! Có vong linh nó kia cậu còn dám nói thế à? Cậu có nhớ cái tối hôm hai nhăm tháng ba không? Hôm giỗ bố cậu ấy, mẹ con cậu bàn gì với nhau không? Bàn xem trong năm thằng con, biết thằng nào vào quân đội quốc gia. Cậu bảo giá không làm chính trị thì thôi có thể rẫy tiền chạy cho cả năm đứa khỏi động viên, nhưng cậu là chính khách cao cấp, không có một đứa tòng quân không xong, sợ phe đảng khác có cớ gièm pha và còn để bọn Pháp trông vào. Mẹ con cậu bàn nhau, cân nhắc…

Đầu hắn nhức như sắp vỡ đôi. Hắn bưng lấy trán mà nói:

– Nhức đầu lắm. Im đi. Lính gác ngoài kia nghe thấy…

Thằng Lâm không im. Hắn đang sống, tiếng nói của hắn chỉ tắc ở cuống họng. Thằng Lâm đã chết, bất động trong bức ảnh mà nó vẫn nói dẽo dọt:

– Mẹ con cậu không chọn thằng Phan vì nó đã đỗ cử nhân, nó đang ở Pháp, mẹ con cậu cần nó để vận động, giao thiệp bên ấy, nó có thớ người. Mẹ cậu bảo thêm, thằng Phan là cháu đích tôn nối dõi tông đường họ Nguyễn. Nuôi nó nên tấm nên món như thế rồi, không mỗi chốc…

Hắn ngẩng nhìn thằng Lâm, hoảng hốt. Từ ngày nó bé, hắn vẫn sợ con mắt nó là đúng lắm. Con mắt ống ảnh của nó theo dõi, rình mò hắn khắp nơi, không những chỉ ghi cử động, còn thu cả lời nói của hắn. Bây giờ ống ảnh đang phóng Ra những hình những tiếng nó đã thu được, thành cuốn phim nói, bắt tai hắn nghe, bắt cả mắt hắn nhìn.

Đúng rồi, tối hôm hai nhăm tháng ba, mẹ hắn ngồi góc kia, hắn ngồi đối diện. Mẹ hắn minh mẫn sáng suốt hơn bao giờ, hắn vừa ngỏ câu chuyện chọn một đứa tòng quân, mẹ hắn đã bàn đâu ra đấy. Bảy mươi tuổi mà mẹ hắn vẫn sắc sảo như ngày bốn, năm mươi, một tay làm quan cho chồng, trông coi năm bảy ấp, điều khiển mấy dinh cơ. Về già thoát khỏi cuộc cách mạng tháng Tám, thoát khỏi vùng kháng chiến, mẹ hắn giống một cây cổ thụ đã thành tinh, tự bật gốc rễ khỏi cái tỉnh sinh cơ lập nghiệp hàng ngót thế kỷ để bốc lên Hà Nội. Tại đấy, một lớp thực dân mới đang tụ tập lớp quan lại phong kiến do bọn thực dân cũ, toàn quyền, thống sứ, công sứ tạo nên, để thếp lại vàng son dùng làm tay chân cho chắc ý. Mẹ hắn lợi dụng ngay cơ hội, mau chóng gây được một thế lực cho hắn. Có thế bên trong rồi, mẹ ở lại vun quén, con sang Pháp cầu viện vây cánh. Ở Pháp hơn một năm về, hắn đã nghiễm nhiên thành một chính khách dự vào công việc cầm đầu Bắc Việt. Cho nên mỗi việc nhỏ to, hắn đều bàn với mẹ. Hắn chỉ tin tài cố vấn của mẹ. Cũng lại mẹ hắn duyệt đến thằng thứ hai, thằng Thường:

– Nó đang học luật, được miễn động viên. Dại gì lại ngửa tay xin việc. Tao xem ý con gái ông tổng trưởng Thanh tháng trước theo bố ra đây, có vẻ mê cậu chàng lắm, về vẫn viết thư ra. Ông tổng trưởng Thanh là chủ đồn điền lớn, có hàng dẫy nhà ở Sài Gòn. Nội các kỳ này thay đổi, ông ta có cơ làm thủ tướng không chừng. Cậu phải dành cho tôi thằng Thường vào cái đám ấy.

Hắn phục mẹ, không việc gì không biết. Còn hơn cả đám thám tử riêng của hắn.

– Thế còn thằng Quý, thằng Vũ…

Mẹ hắn cười xòa, nhe hai hàm răng còn cắm nguyên trên lợi:

– Đứa nào động đến hai thằng cháu vàng cháu bạc của tao đấy. Thằng Quý tử vi “tam hỏa liên châu” (3) đấy nhé, đủ quyền đủ lộc, gọi là sau này cậu có thua mạt chược, ru-lét (4)  ức triệu nó cũng giả cho cậu như bay. Còn thằng Vũ có cái sống trâu giữa trán là có tất, phú, quý, thọ, khang. Cơ đồ họ Nguyễn sau này phát ở nó đấy…

Hắn cúi xuống dấu cái mỉm cười hoài nghi. Mẹ hắn có sáng suốt cũng chỉ tới chừng mực nào. Riêng hắn không tin lắm vào cơ đồ họ Nguyễn mai sau. Cái túi đồng bằng Bắc Bộ, Việt Minh ngày càng thắt, họ Nguyễn sẽ như một thứ đựng trong đó, bắn phọt đi nơi khác. Pháp, Mỹ, Phi châu… Con đường phiêu lưu… Hắn khó lòng tưởng tượng cơ đồ họ Nguyễn lại có thể phát được ở những nơi ấy. Cầu sống ung dung là may… Và muốn thế, bây giờ phải biết nhân cơ hội làm giàu, làm giàu… không từ một thủ đoạn, một hy sinh nào. Mặt hắn co lại, môi mím chặt. Hắn nhìn lên và thấy tất cả những ý nghĩ quyết liệt thầm kín của hắn đang soi trên nét mặt của mẹ hắn… Quai hàm mẹ hắn bạnh ra nhai trầu nhóp nhép như đang ngốn ngấu một mưu đồ ghê gớm… Hắn bỗng hồi hộp, biết rằng mẹ hắn ngừng nhai, là mưu kia cũng vừa chín nục. Quả nhiên nhả miếng bã trầu ra, mẹ hắn nói:

– Nhà này có một đứa xoay sang võ cũng hay. Thằng Lâm không có khiếu học, cho theo học nữa chỉ tổ vất vả…

Hắn không nói gì… Nghĩa là hắn đồng tình với mẹ để thằng Lâm tòng quân.

Cuốn phim bỗng ngừng lại giữa sự yên lặng ghê rợn của phiên tòa vừa tuyên xong án tử hình.

Vợ hắn không khóc được nữa. Nỗi phẫn uất tung ra cặn lại sự chua xót làm giọng người đàn bà chìm hẳn xuống:

– Tôi ở bên ngoài, tôi nghe thấy hết. Tôi đẻ ra cả năm thằng: Phan, Thường, Lâm, Quý, Vũ mà mẹ con người ta bàn bạc tính mạng của chúng nó không thèm hỏi đến tôi một lời… Đợi còn mình cậu, tôi vào van xin cậu đừng bắt thằng Lâm động viên, tôi chỉ còn có mình nó, mẹ con có gì than thở với nhau. Mấy thằng kia, thằng thì cậu tống đi Pháp, thằng thì mẹ cậu dậy khinh tôi… Chỉ còn mỗi thằng Lâm nó xót tôi… Thế mà cậu không nghe, cậu bảo: “Có đi lính thay được nó thì đi”. Giời ơi! Nếu tôi thay được các con tôi, tôi không đợi ai bảo…

Cơn rức đầu kinh niên đã tới mực độ không chịu được. Hắn gục xuống tay ghế. Vợ hắn đã thôi không xưng mày tao với hắn nữa, nhưng giọng vợ hắn dịu đi càng sắc nhọn như những mũi dùi xiên vào tai hắn. Hắn nói:

– Thằng Lâm nó cũng thích tòng quân. Bảo nó đi, nó có nói gì đâu!

– Vì nó sợ cậu, vì cậu bảo nó vào Thủ Đức học ra, cậu sẽ xin cho nó giải ngũ hay làm việc văn phòng, không phải đi trận…

– Tôi… tôi cũng đang vận động.

Hắn cố ngẩng đầu lên nói với thằng Lâm. Hai mắt thằng Lâm vẫn giữ cái nhìn cũ, thản nhiên và lăm lăm, lời chống chế của hắn dù thật dù dối cũng không hề động được tới… Hắn bỗng lúng túng như người ném ra một món đồ mà không ai thèm nhận, bỏ lửng, trơ trẽn…

Hắn gượng cãi:

– Nó không thích đánh nhau mà tháng trước nó lại được tuyên dương vì dám anh dũng một mình một xe jeep xông vào vùng Việt Minh sâu sáu bảy cây số…

Vợ hắn nhìn chòng chọc vào mặt hắn, khinh bỉ:

– Anh dũng! Nó không biết anh dũng! Lần ấy nó tìm đường ra với Việt Minh… Nó không muốn đem thân hứng đỡ đạn cho cả nhà… cho… cho…

Vợ hắn đứng lên, giật phắt tấm bội tinh xuống:

– Để làm gì cho ức vong hồn nó.

Hắn nhỏm người lên… Cơn đau nhức lại chúi hắn xuống… Hắn không còn cả sức để tỏ sự ngạc nhiên việc đứa con trai đã có lần suýt làm hại hắn. Hắn không còn cả sức để nhặt tấm bội tinh lên. Cơ thể hắn cực kỳ mỏi mệt. Giá có chiếc ba-toong vực đỡ, hắn cũng không đứng lên nổi… Mắt hắn mờ đi hay sao mà trông ra mọi sự vật chung quanh hắn đều lềnh bềnh mờ xám như làn khói hương tỏa trên đám hoa úa.

Chỉ hai con mắt thằng Lâm sao cứ bám riết lấy hắn, sao tiếng nói của vợ hắn không buông tha hắn. Nhưng chính hắn cũng đang cần hai thứ ám ảnh đó. Mắt thằng Lâm biến đi, tiếng nói vợ hắn im đi… Cái gì sẽ còn lại với hắn?

“Nói đi? Nói nữa về thằng Lâm đi, mợ”. Hắn giục thầm trong lòng… Hắn đang đuổi theo một người khách qua chơi nhà hắn. Người ấy bỏ đi rồi, mới có người giới thiệu với hắn, hắn mới nhớ còn có rất nhiều chuyện phải nói với khách. Chẳng hạn, khách đến nhà hắn làm gì? Chẳng hạn, nếu đuổi kịp, hắn cần vạch lại áo thằng Lâm, người khách ấy, xem có phải đúng nó có một nốt ruồi to ở mạng sườn tay phải như hắn không… Nhưng đường dài vun vút… Lại có người lính bồng súng ngăn chặn hắn. Chân hắn thì bủn nhủn như đã rút hết xương sống.

Mấy cốc rượu bây giờ mới thật ngấm hay sao. Hắn đang lảo đảo trên những con sóng ngầm với cảm giác sắp chết đuối. Cả vợ hắn ngồi nép dưới góc bàn thờ kia cũng sắp lún xuống nước. Hắn thương lắm. Nhưng hắn không giơ tay cứu được. Tiếng nói của vợ hắn vọng lên chới với nghẹn sặc:

– Mìn nào Việt Minh đặt. Chính bà, chính bố đặt để giết cháu, giết con đấy. Thế mà con tôi vẫn hiếu hạnh… Con tôi sợ đào ngũ ra ngoài kia thì bố bị liên lụy, bố ghét bỏ thêm… Nó vẫn biết từ bé nó không được bố thương yêu, nên cố chiều bố.

Hắn đã gần ngụp… Câu nói cuối cùng của vợ hắn bỗng như một tiếng gọi làm hắn lại cựa quậy đầu ngẩng lên, cố ngoi khỏi mặt nước… Hắn vừa chợt hiểu một điều rất lạ lùng. Mắt hắn liền bám lấy mắt thằng Lâm như bám neo bờ.

Thằng Lâm từ trong ảnh bước ra càng đến gần hắn càng bé lại dần dần, bộ binh phục thiếu úy trút đi đâu mất, mặc mỗi chiếc quần yếm, mẹ nó cẩn thận còn may hổng đít, dù nó đã lên sáu lên bảy. Nó đứng nép chỗ bậc cửa nhìn hắn, vẫn cái nhìn hắn ghét nhưng tay nó cầm chặt đôi guốc của hắn. Hắn vừa cởi giầy ra, nhanh như cắt, nó chạy vào đặt đôi guốc dưới chân hắn, rồi lại chạy vút ra nấp bậc cửa nhìn hắn như cũ.

Có một hôm – sao tự dưng hắn nhớ lại rõ rệt như đang diễn ra trước mắt – thằng Lâm vừa đặt guốc xuống, hắn nắm ngay nó, bế nó lên ống chân, đu đưa. Thằng Lâm cười khanh khách, nó ngửa mặt ra đằng sau nhìn hắn, đôi mắt long lanh ngời sáng. Cái vẻ ngạc nhiên rình mò biến đâu mất.

Nhưng chỉ có một lần ấy thôi, hắn âu yếm thằng Lâm. Rồi sau đó, đôi mắt thằng Lâm lại trở lại vẻ thản nhiên rình mò, đúng như trên ảnh kia. Bây giờ thì hắn vụt hiểu, vẻ rình mò của cái nhìn từ ngày bé, rình đúng lúc đặt đôi guốc vào chân bố, rình một dịp nữa để bố đu đưa trên ống chân.

Hắn khóc nấc lên. Con hắn chết đã hai ngày, lúc ấy hắn mới khóc…

THỤY AN

Nguồn:

Văn, tuần báo của Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, s. 26 (1.11.1957), tr. 4-5.

Chú thích:

(1) “Je suis fier … je suis fier…” (chữ Pháp): Tôi tự hào… tôi tự hào…

(2) “Je suis fier d’ avoir offer ten holocauste à ma patrie et la France un de mes fils” (chữ Pháp): Tôi tự hào đã hiến làm vật hy sinh cho nước Pháp và cho tổ quốc tôi một đứa con.

(3) Một tướng quý nhất trong tử vi.

(4) Một môn cờ bạc 1 ăn 35.

BICH-XU-RA, truyện ngắn Thụy An

BICH-XU-RA

Truyện ngắn của Thụy An

Tôi không biết chị ta vào bệnh viện đã bao lâu. Chiều kia, sau một trận ốm dài, được phép ra hóng mát ngoài hành lang tầng gác trên bệnh viện, nhìn xuống dưới sân, tôi đã thấy chị ngồi trên chiếc ghế đá, ngảnh mặt về phía tây mặt trời đang lặn.

Lúc ấy, những người cuối cùng vào thăm thân thích ốm đã ngảnh lưng lại cổng bệnh viện, các bác sĩ y tá lục tục ra về, bộ thường phục thay cho chiếc ao bờ-lu trắng, làm họ thốt nhiên thành xa lạ với bệnh nhân.

Không khí tĩnh mịch thường lệ của bệnh viện càng lắng xuống, chìm sâu trong cô quạnh hoàn toàn. Người bệnh trở về riêng mình với bệnh não của mình thấy buồn tủi như bị bỏ quên, đồng thời cũng kiêu hãnh được đối mặt với cái chết, kẻ thù tối hậu. Kẻ thù bỗng không còn đáng khiếp hãi nữa. Người bệnh thuận nhận cuộc chiến đấu, liền vận vào bên trong vẻ thản nhiên ê ẩm của mình, tất cả nghị lực để ghìm giữ cái chết không cho nó mượn bóng tối, thừa dịp mình cô quạnh mà sà xuống vừng trán, con tim.

Không biết bao nhiêu buổi chiều, tôi đã trải qua cuộc chiến đấu như thế. Bây giờ nhìn chị ta, trong cái khoái cảm mình đã thoát vòng, tôi càng rộn rịp niềm hồi hộp xót xa cho con người đang đương diện với cái chết, đang nghe luồng hơi tun hút, lạnh ngăn ngắt của nó phả gần mãi vào mặt mình. Một cái gì trong dáng ngồi của chị ta, trong cách chị ta nhìn mặt trời chiều, thổ lộ với tâm linh tôi chị ốm nặng, rất nặng.

Tôi quên chưa nói chị là người da đen. Nhưng giữa lúc Hà Nội tạm chiếm, nhan nhản những quân lính đủ các sắc da vàng, đen, trắng bị dụ đến Việt Nam đánh nhau thuê và chết thay cho quân đội viễn chinh Pháp, thì sự có mặt một phụ nữ da đen trong một bệnh viện không gợi chi tò mò, ngạc nhiên. Chị là ai? Từ miền nào ở Phi châu hay ở Ấn-độ đến? Đến để làm gì? Tôi chưa tự hỏi. Tôi chỉ chú ý tình trạng hiện giờ của chị ta. Ai đã ốm lâu tất đôi khi chợt thấy đời người quan hệ nhất, có ý nghĩa nhất, chỉ ở những phút giây mình tự giành với cái chết từng vi ti tế bào của mình.

Chị ta ngồi như vậy, xếp bằng tròn trên tấm ghế, thân mình quấn chằng chịt trong những lớp vải trắng toát, kéo lên phủ kín cả đầu, chỉ để hở mỗi khuôn mặt. Da mặt không đen cháy, đen nâu, mà xám màu chì, vầng trán còn bôi thêm một thứ phẩm hay phấn lam đục, làm khuôn mặt chị càng giống một phiến đá lầm lì nguội lạnh, không gợn một ý tình. Chỉ hai con mắt sâu thăm thẳm viền hàng mi rất cong, mở to như bám sát lấy cảnh vật, không muốn rời, không muốn khép lại là biểu lộ bên trong cơ thể cuộc chiến đấu với cái chết đang khốc liệt.

Nắng quái chiều hôm như một bó đuốc lớn, chúc xuống mà soi cuộc chiến đấu ấy giữa người với cái chết.

Lửa đuốc mòn dần, mặt trời tụt xuống thấp, xối lên mặt đất một thứ ánh sáng đỏ úa. Toàn thân người nữ bệnh nhân da đen cũng ánh lên sắc đỏ. Sắc đỏ tráng lên sắc da xám xanh, tráng đầy đôi mắt vẫn ngước nhìn không chớp vầng mặt trời lúc đó chỉ còn là một vệt đỏ trát lem nhem trên da trời. Hàng mi dài vun vút chạm sát chân mày tô thành vòng cong đậm nét, tối sẫm quanh mắt, cái nhìn càng nồng nhiệt càng gợi một vẻ gì thần bí, man rợ. Người như đang gằm gằm khoán ước với mặt trời một điều dữ dội.

Thình lình người rú lên một tiếng, một tiếng ngắn thảng thốt, rụng rời của kẻ sểnh tay đánh xổng con mồi. Bóng tối vừa nuốt nhanh xong những tia sáng cuối. Mặt trời đã tắt hẳn, nhưng không gian còn ngân dư âm tiếng rú của chị da đen, tiếp hơi cho tiếng rú của tổ tiên từ ngàn vạn đời xưa khiếp hãi trước cảnh mặt trời tắt trên sa mạc.

Một vài bệnh nhân yếu bóng vía nghe ra điềm gở lạ, khép vội cửa buồng.

***

Tôi đã biết rõ lý lịch của chị da đen. Không phải lý lịch nàng công chúa một ngàn một đêm lẻ, nhưng cũng là lý lịch của một phụ nữ từ tấm bé đầu đã quen gối trên võng cát sa mạc mà mơ những giấc mơ cũng mênh mông như sa mạc, cát rợn đẩy lùi xa mãi chân trời, rồi chợt giấc mơ bị hung thần ác quỷ bắt cóc mang đi.

“Nhà binh Pháp mang nó sang đây nó sang đây để…” – Bà Phước, người cho tôi biết về chị da đen, nói đến chỗ ấy, lúng túng, ngập ngừng. Bà chợt xấu hổ cho hành động dã man của những người mà dù đã tự coi như đứng ngoài đời, bà vẫn không thể không nhận là đồng bào, đồng chủng, hay bà chỉ có cái hổ ngươi của người phụ nữ phải nói đến một việc gì nhơ nhớp? Bà nói tiếp, giọng khấp khởi đã tìm ra được một cách tả bớt thô tục hơn cái công việc nhà binh bắt chị da đen phải làm: “Trong quân đội viễn chinh có lính Phi châu, đưa nó với chị em nó sang đây là dành riêng cho bọn ấy. Con bé này bị bệnh đau tim và mất máu đỏ, nhà binh mới gởi nó từ bên Gia Lâm sang đây chữa… nhưng bệnh trầm trọng lắm, không có hy vọng gì… Chỉ còn trông nhờ Chúa”. Bà làm dấu câu rút, mặt nghiêm lại, băn khoăn: “Nhưng làm thế nào cho nó nghe được tiếng Chúa? Nó không hiểu một tiếng ngoại quốc nào cả, và cũng không ai ở đây hiểu tiếng nó… Đến săn sóc cho nó cũng khó… Nó không chịu cho bác sĩ mó vào người. Tôi, nó cũng không cho mó… Nó thuộc một giống dân Phi châu nào đó rất kỵ người da trắng…”

Chuyện chị da đen, ở miệng bà Phước đến đấy là hết. Nhưng ra đến cửa, bà còn ngoái lại, dặn tôi: “Cầu nguyện cho nó nhé”.

Tôi suýt bật cười. Tiếng cười ắng trong cổ. Tôi cũng chợt thấy tôi phải làm một cái gì cho chị da đen, dẫu không phải là những lời cầu nguyện đi nữa. Làm gì? Nước mắt tôi chầm chậm ứa. Tôi muốn đến ngay phòng chị da đen, nắm tay chị, cám ơn chị từ phương nào lạc đến đây, chia sẻ đau thương chung của dân tộc tôi đương quằn quại dằng xé với nanh vuốt bọn ác quỷ… Tôi lại thấy như chính tôi có trách nhiệm với số phận chị, nó ràng buộc mật thiết lạ lùng với số phận của dân tộc tôi, của tôi… Tôi phải làm một cái gì? Tôi không hiểu từ đâu, tôi có cái ý nghĩ đột ngột ấy, nó day dứt tôi xa xót như vết thương bị lưỡi dao lia đi lia lại.

Trong bóng tối, những tầng gác bệnh viện đùn lên cao ngất, sừng sững án nền trời làm thành những tường lũy vây vây hãm lấy tôi. Ngoài hành lang, lũ ngoại nhân to lớn qua lại hung hãn như bọn lính canh, tiếng nói xi xô ồm ồm, rồi âm nhạc từ các tiệm khiêu vũ ngoài phố đổ vào dậm dật, cuồng khấu: rõ ràng tôi cũng như chị da đen bị bắt cóc lạc đến nơi này, ở giữa quê hương tôi mà thấy không còn phải quê hương tôi nữa. Chị da đen, chúng đã dùng vào những việc ô nhục, còn tôi, những mũi hàn nung đỏ của chúng cũng đã áp vào tâm hồn tôi những vết bỏng cháy rát, vết những con dấu từ ngàn xưa bọn chủ nô lệ vẫn đóng lên da thịt người nô lệ.

Không một đêm nào tôi lại mơ hoảng nặng nề như đêm ấy. Tôi mơ thấy tôi và chị da đen cố vần hòn đá tảng đè trên ngực chúng tôi. Máu đỏ từ miệng chị da đen tuôn ra như suối, thấm hết cổ hết vai tôi.

***

Những chiều sau, chị da đen vẫn ngồi trên ghế đá mà vọng mặt trời. Khôn mặt chị càng mảnh đi, sắc da bớt đen, xanh xạm thêm, thì đôi mắt càng sâu, cái nhìn càng xa vời vợi, tưởng chừng quyện sát lấy mặt trời. Chị nhìn thấy những gì trong trong ánh mặt trời tà, mà nhìn mãi chiều này qua chiều khác? Nhìn như từ ở đấy sẽ nhỏ xuống cho chị những giọt máu đỏ, như từ đấy sẽ phóng ra một sự xuất hiện nhấc bổng chị khỏi nơi đây, đưa về sa mạc sáng ngời cát trắng…

Tôi bỗng thấy chị giống nàng thiếu nữ trong câu chuyện thần thoại Tây phương, sắp bị Yêu Râu Xanh đem cắt cổ, hy vọng thoát chết trông cả ở người anh từ xa đến cứu, nên lát lát lại hỏi cô chị đứng trên cồn cát ngóng bóng người anh trong ánh chiều tà. “Chị An ơi, chị An ! (1) Chị có thấy gì không?” Đôi môi tôi bất giác thốt lên se sẽ câu hỏi tự thuở nào vẫn là câu hỏi của nhân loại, của những con người trong vòng tù hãm tâm hồn, tù hãm thể chất, khắc khoải thăm tìm phương giải cứu…

Giấc mơ đêm nọ thêm ám ảnh tôi, chị da đen và tôi cùng vần hòn đá tảng đè trên ngực… Bây giờ chị nhìn mặt trời và tôi nhìn chị, cùng vang vang trong tâm hồn câu hỏi: “Chị An ơi! Chị An! Chị có thấy gì không?”

***

Một hôm từ phía mặt trời chị vẫn kiên nhẫn nhìn mỗi chiều, xuất hiện một người lính da đen, từ từ đi vào sân bệnh viện, mắt dớn dác kiếm tìm. Anh nhìn thấy chị. Họ lăn sả vào tay nhau cùng rú lên tràng tiếng rú. Bệnh viện, người xung quanh, tất cả đối với họ đều như không có. Anh buông tay chị. Tôi tưởng sau phút giây tỏ tình sôi nổi, họ sắp nói với nhau những chuyện thương nhớ êm đềm. Nhưng không, họ buông tay nhau để dễ vật vã, kêu gào. Thân mình khổng lồ của anh da đen đứng trước mặt chị, quay đảo như bị ốp đồng, hai tay lúc vò đầu bứt tóc, lúc đấm ngực thùm thụp, những tiếng từ miệng anh thốt ra vẫn là những tiếng rú liên hồi. Chị dãy dụa trên ghế, trán dập vào thành ghế, miệng cũng không ngớt the thé… Hai người như không ai nghe ai nói gì kêu gì. Tôi nhìn họ, có cảm tưởng họ là hai vai kịch, mỗi vai một góc sân khấu thở than kể lể nỗi riêng, những nỗi riêng tách ra từ cái thảm kịch chung của hai người.

Anh chắc đang nói nỗi thất vọng của mình một sống trăm chết, từ chỗ bọn chỉ huy chúng nó đưa đi đánh nhau, trở về tìm người yêu, không thấy người yêu ở chỗ cũ, nỗi vất vả thăm dò từ nhà thương này qua nhà thương khác, nỗi đau xót gặp được người yêu thì người yêu võ vàng ốm yếu, gần kề cái chết. Chị thở than những chiều dài gượng cầm hơi sống, đợi anh. Chị ngồi thẳng lên, tay trỏ mặt trời, mượn mặt trời chứng giám.

Người tình quân nào giữa nỗi đau thương nhất, nghe người yêu nhắc sự nhớ nhung mình, cũng nguôi dịu dịu… Giọng anh nhỏ lại… Tôi nghe luôn láy âm Bích-xu-ra… Tên chị da đen chắc là Bích-xu-ra… Âm hưởng róc rách như nước giếng giữa lòng sa mạc, nhẹ nhõm và long lanh như một hạt cát… Aanh ngồi xuống cạnh chị. Chị cúi đầu trong cái dáng e lệ phục tùng… Tôi mỉm cười. Như một khán giả thuộc lớp, tôi biết đoạn này người đàn ông sắp làm cái việc ngàn đời là tặng một vật chi cho người đàn bà, để tỏ khi xa nhau vẫn âu yếm ân cần nhau.

Anh da đen thò bàn tay to tướng vào tận túi áo áp ngực, lúng túng rút ra một đồ vật trắng loáng loáng mà đưa đi đưa lại trước mắt người yêu. Tôi không kịp nhìn vai nữ. Trọng tam vở kịch thốt rời hai vai chủ động, bắn sang tôi… Cổ họng tôi tắc nghẹn, mắt nghe có lửa cháy nóng bỏng. Món đồ người lính da đen cầm trên tay rỡn người yêu là một bộ xà-tích bạc, lồng quả đào, lồng mấy chiếc khoá đồng. Lửa trong mắt tôi bốc lên ngùn ngụt… ánh lửa chập chờn xác những bọn quỷ trắng quỷ đen lông lá xồm xoàm cúi xuống dằng nốt bộ xà-tích bạc còn vướng ở một mảnh quần sót trên xác chết. Có lẽ tôi đã không khóc nổi ra tiếng, mà chỉ ừng ực trong họng, trong tim.

Thế rồi… có ai đã gặp trạng thái đang độ tột cùng của sự đau đớn, chợt có cảm giác cuộc đời quanh mình đã biến đâu mất, chỉ còn độc trọi mình bơ vơ với nỗi đau đớn – cái bơ vơ so với đau đớn còn ghê rợn gấp vạn – vội vàng níu lấy bất kỳ ngoại cảnh nào của đời để chứng thực đời vẫn dính liền với mình, ai đó mới hiểu tại sao tôi lại còn nhìn lại cặp nhân tình người da đen, đúng hơn, nhìn Bich-xu-ra, Bich-xu-ra giữa lúc biểu hiện những tình cảm cực độ dằn vặt. Tay chị níu khít vai anh, khi tự dằng xé ngực, khi giơ tay lên trời chỉ trỏ tứ phía. Chị vừa thở dốc vừa nói, hối hả, nhanh biên biến như tranh cướp lời với chính ngay hơi thở của mình, kẻo sợ bất thình lình nó tắt mất. Đôi mắt chị không một ánh nước mắt, bỏ mặt trời không nhìn nữa, nhìn anh, khẩn thiết lạ lùng. Anh ngẩn mặt nghe, bàn tay thỉnh thoảng vò món tóc loăn xoăn, mắt cúi xuống, tránh mắt chị, nhìn đăm đăm dưới đất như dõi một vật gì. Tôi nhìn theo. Dưới đất chùm xà-tích bạc nằm đấy từ bao giờ.

Tôi thốt hiểu toàn vẹn lớp kịch tôi mới chỉ hiểu một nửa qua động tác bên ngoài của hai vai. Bich-xu-ra nhìn thấy bộ xà tích bạc, nghĩ liền ngay đến cuộc đời đánh nhau thuê của người yêu… Chị ném bộ xà tích xuống đất. Đã bao nhiêu người đàn ông đồng chủng của chị đêm nay còn gợi tình quê hương trong cánh tay chị, nhưng đêm mai và mãi mãi không bao giờ nữa còn trở lại bên gối chị… Họ chết giữa một trận đánh nhau thuê trên một đất nước có lẽ họ cũng không biết đến cả tên gọi. Thịt xương họ vùi dưới đất lạ và cũng vùi theo với họ, dưới đất lạ, từng mảnh hy vọng của chị… Bich-xu-ra… Tên chị là giếng nước sa mạc, là hột cát sa mạc, Bich-xu-ra phải về với sa mạc. Những người đàn ông kia, người nào cũng hứa với chị như thế, rằng họ sẽ đem chị về sa mạc. Chị hy vọng vào họ lắm, vì họ cũng nhớ thương sa mạc như chị. “Anh ôi! Nếu anh còn đi đánh nhau cho chúng nó anh sẽ lại chết như những người kia. Anh cũng biết chứ, tha hương đất lạ, chết mất của nhau một người đồng chủng, đồng hương, đau đớn xót xa tới độ nào. Huống nữa anh lại là người tôi yêu… Không, không, anh đừng đánh nhau nữa. Tôi không muốn đến lượt anh lại chết. Anh chết, ai đưa tôi về sa mạc?”

Bich-xu-ra đã nói như thế…, đã khẩn cầu người yêu như thế… Từng lời như giọt nước thấm tí tách trong lòng anh, tụ dần thành dòng nước mắt chảy chan hòa trên đôi má đen cháy… Chiếc giày đinh nhè nhẹ dẫm lên bộ xà tích… Mặt trời như một bọng máu đỏ lơ lửng sắp đổ tóc xuống đầu ai…

Cặp nhân tình ôm nhau khóc… Tay Bich-xu-ra dằng, bứt bộ quần áo nhà binh của tình nhân. Những tiếng nức nở của chị, tôi nghe thành điệp khúc láy đi láy lại: “Đừng đánh nhau cho chúng nó nữa! Đưa tôi về sa mạc! Đưa tôi về sa mạc!”

***

Bich-xu-ra chết ngay đêm ấy. Chết không một ai hay biết, chết trong cái dáng điệu truyền thống của những người sa mạc: tự kéo áo, liệm kín mặt. Hôm sau, bà Phước băn khoăn: “Tôi thật có tội với Chúa, làm mất một linh hồn của Chúa… Nếu tôi kịp biết lúc nó sinh thì mà rửa tội cách thiêng liêng cho nó…”

Bà chợt nhìn mặt tôi. Mặt tôi để lộ một vẻ gì khiến bà vội vã bỏ đi không kịp nói hết câu.

Tôi bỗng lắng nghe. Dưới sân vẳng lên những tiếng kêu rống. Tiếng anh da đen. Xác Bich-xu-ra người ta đã đưa đi đâu từ lúc trưa. Anh da đen đến không được nhìn thấy thi thể người yêu. Anh chạy vung khắp sân, kêu gào, đập đầu chan chát xuống ghế đá, đấm ngực, dằng xé áo quần. Con người to lớn hôm qua, giờ tọp lại bụng nhụng như một cái túi đã dốc hết chứa đựng bên trong… Anh bắt đầu đập phá, trước hết là những luống hoa. Bác sĩ, y tá ùa ra ngăn cản anh. Anh đứng vùng dậy lăm lăm lay nhổ tấm ghế đá…

Mặt trời lặn gần hết… Nền mây chỉ còn vương những vệt đỏ sẫm rời rạc, như những vệt máu ở một con vật bị thương nhễu ra… ròng ròng trên đường về ổ.

Đôi mắt tôi lạnh khô… Tôi phải làm một cái gì… Vần hòn đá tảng đè trên ngực. Lại một lần nữa tôi chiến đấu với cái chết.

THỤY AN

Nguồn:

Văn, tuần báo của Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, s. 2 (17.5.1957), tr. 8, 7.

Chú thích:

(1) Tên một nhân vật trong truyện Yêu Râu Xanh (nguyên chú của tác giả).

 

 

Một truyện ngắn cho thiếu nhi của THỤY AN: CHUYỆN BỐ, MẸ, BÉ VÀ CON BÚP BÊ

Bố chải tóc cho Bé xong, bèn ấy cái gương giơ trước mặt Bé: “Con gái của bố xem này, có xỉnh xình xinh không nào?” Bé nhìn vào gương, lắc đầu bên phải, lắc đầu bên trái, ngoe nguẩy hai cái đuôi sam tí teo, ngọn thót như đuôi chuột, có buộc hai chiếc nơ đỏ, giống như hai cánh hoa rất to, đóng khuôn lấy mặt Bé. Bé nhoẻn miệng cười, vẻ bằng lòng lắm.

Bố vẫn chịu khó lồng ngón tay vào cái móc sau chiếc gương, giữ cho Bé soi. Bé nghĩ: “Phải vẽ con bé trong gương này. Một khoanh tròn to là mặt, hai chấm tròn nhỏ là mắt, một vạch dài xuống là mũi, một khoanh tròn vừa là miệng. Con bé nó lại cười, mình phải vẽ cả mấy chiếc răng. Còn hai cái nơ đỏ nữa, lấy gì mà tô màu?” Thò hộp bút chì nào mẹ mua cho, Bé cũng làm cùn cụt. Bé nhớ ra rồi, Bé bỏ gương chạy tót đến bàn, vơ chiếc bút chì đỏ to gộc của bố, thủ luôn vào nách rồi mới quay ra hỏi bố: “Cho Bé mượn chiếc bút chì đỏ bố nhé”. Bố ngần ngừ: “Ừ, nhưng mà hãy để đấy, còn đi chơi với bố nữa kia mà”.

Lập tức Bé bỏ rơi cái bút chì và quên ngay cả con bé trong gương định vẽ. Bé nhảy cẫng lên: “Rồi bố mua kem cho Bé, bố nhớ!” Miệng Bé tắc lẻm, đánh lưỡi choẹt một cái: Kem thì còn phải kể. Cắn khấc một cục, buốt lạnh lưỡi, rụt cả đầu cả cổ, cục kem tan dần ngọt lự… Thật không có gì bằng kem, vừa được ăn lại vừa được chơi với nó. Bố cũng thích kem lắm nhớ! Hai bố con hai que kem ngồi ở ghế bờ hồ, nhẩn nha… Chao! Những lúc ấy sao mà Bé yêu bố thế. Bé không cần mẹ. Mẹ cứ việc đi công tác xa nhà bao nhiêu đêm Bé cũng không cần. Kem và Bố đủ rồi…

Mẹ thì ghét kem lắm. Mẹ bảo: “Bé ăn kem, chỉ tổ té re”. Nghĩ thế, mặt Bé đỏ đỏ. Thôi, thèm vào, chả nhớ chuyện xấu hổ ấy. Bé níu chặt bàn tay Bố, thỏ thẻ: “Hôm nay Bố mua kem xanh Bố nhé!” Bố trả lời: “Bố còn mua cho Bé một thứ thích hơn kem cơ. Đố Bé biết là cái gì nào?” Trí khôn ngắn ngủn của Bé đoán làm sao được. Bé bảo: “Con chỉ thích kem thôi”. Bố quệt vào má Bé: “Con nhà khờ dại quá”.

Hai bố con lại ngồi trên ghế trông ra hồ. Bố cũng mua kem cho Bé như mọi khi, chiếc kem xanh mà Bé đang ao ước. Nhưng khác mọi khi, hôm nay Bố không ăn. Bé nghĩ: Hay tại Bé chọn kem xanh, Bố không biết ăn chăng? Lập tức, Bé thẩy que kem giả chú bán kem: “Bé ăn kem “tắng” cơ, cho bố ăn mấy”. Bố hiểu lòng thảo của Bé, bố ấn lại que kem xanh vào tay Bé, hôn chụt má Bé, hít hà: “Con gái tôi, con gái tôi, khôn láu quá!” Bé chẳng hiểu ra sao nữa. Hồi nãy Bố vừa chê Bé dại khờ xong.

Bố ngồi bên cạnh Bé, không ngớt ngắm Bé, Bố tư lự lắm. Bé có vẻ rất bằng lòng, rất sung sướng với chiếc kem. Bé không còn một đòi hỏi nào, một ước mơ nào khác! Vậy thì Bố có nên cứ mua cho Bé cái mà Bố bảo là còn “hơn cả kem” không? Bố bỗng thấy những nét phả phê hớn hở trên mặt Bé mờ dần, nhường chỗ cho những nét phụng phịu thèm muốn hôm nào Bố và Mẹ dắt Bé đi xem búp-bê Tiệp-khắc ở cửa hàng mậu dịch Tràng Tiền.

Lần thứ nhất Bé nhìn thấy những búp-bê to và đẹp đến thế, biết thức biết ngủ. Bé thích nhất cái con bê có hai đuôi sam vắt vẻo như Bé. Nó cũng có áo mới váy mới bằng vải hoa như Bé. Bé bảo Mẹ mở tủ lấy bê cho Bé mang về. Mẹ sùy: “Phải có tiền mua chứ?” Bé trỏ vào túi tay của Mẹ: “Tiền trong ấy đấy thôi”. Bố bảo: “Ngần ấy không đủ, phải có nhiều hơn thế”. Bé đứng ngẩn người, gọi thầm bê: “Bê ơi! Bê ra với tôi… tôi cho ăn kem”. Bê bị nhốt trong tủ kính, không nhúc nhích. Bé thương bê quá, thèm bê nhiều hơn thèm kem. Nhưng phải nhiều tiền mới mua được bê thì… chịu thôi.

Những việc những lời xảy ra quanh Bé, lọt vào tai Bé đã làm Bé biết được rằng: những cái gì nhiều tiền thì Bố, Mẹ chưa mua được, còn đợi để chính phủ giàu đã, nhân dân giàu đã. Đến Bé muốn ăn hai chiếc kem, Bố cũng bảo: “Hạn quà của con chỉ có một trăm thôi, đợi chính phủ giàu, nhân dân giàu, con tha hồ ăn”. Bé quay lại hỏi Bố: “Bố ơi! Thế bao giờ chính phủ giàu, nhân dân giàu hả Bố?” Bố thuận miệng đáp: “Ít nữa thôi”.

Ít nữa đối với Bé là lâu lắm. Bé thì muốn có bê ngay bây giờ. Bé cứ đứng thần ra ngắm, Bố Mẹ giục không đi. Mẹ sốt ruột dọa: “Này người ta sắp đóng cửa hàng đấy. Hay Bé ở lại đây một mình với búp-bê”. Bé yêu bê thật, nhưng ở lại đây một mình với bao nhiêu cái lạ này, lỡ lại bị nhốt vào cái tủ như bê thì Bé chịu thôi, sợ lắm. Bé đành thui thủi theo Bố Mẹ đi. Chỗ lông mày giao nhau ửng đỏ, triệu chứng Bé chỉ chờ cơ hội là khóc.

Về nhà, Bé cũng còn ngơ ngẩn nhớ búp-bê, ôm cái gối dài của Bé nựng nịu. Tối đi ngủ Bé không rời con búp-bê tưởng tượng. Bố Mẹ suy nghĩ lắm. Mẹ chép miệng: “Tội nghiệp nó thèm con búp-bê quá. Chắc ngủ mê cũng thấy”. Vì chuyện con búp-bê, Bố Mẹ mới nhận ra một điều là lấy nhau chín năm rồi, đã có mụn con là Bé đấy, lên bảy tuổi, đã biết về nhau tất cả mọi nỗi cực khổ vất vả, nhất là từ trong cuộc phát động quần chúng hồi đầu năm ngoái ở quê nhà, cả Bố cũng được về phối hợp đấu tranh, thế mà vẫn còn một cái khổ Mẹ quên chưa nói với Bố.

Mẹ kể: “Chả phải bây giờ ra Hà Nội công tác, em mới được ngắm búp-bê to như thế đâu. Em nhìn thấy từ ngày xưa, em chỉ nhỉnh hơn cái Bé nhà ta một hai tuổi. Nhìn con búp-bê của con lão chủ đồn điền ấy mà. Bố con nó về chơi đồn điền, búp-bê để ngoài ô-tô hòm, cửa kính đóng kín. Em trèo lên bệ xe nhìn vào. Con búp-bê to như đứa bé mới đẻ. Em nghĩ giá được bế một cái, nhịn ăn cả tháng cũng được. Bất đồ, mải ngắm thì bố con thằng chủ điền ra, mở cửa xe đằng trước, leo lên. Em chỉ còn kịp ngồi thụp xuống bệ, chưa nhẩy được ra thì thằng chủ mở máy cho xe chạy, hất em ngã sóng soài xuống đường, đầu va vào đá toạc mảng to, còn cái sẹo đây này”.

Mẹ nhấc bàn tay Bố luồn qua tóc sau ót, sờ chiếc sẹo, tóc không bao giờ mọc lên nữa. Mẹ nghe thiếng ực ực, không biết có phải tiếng Bố khóc hay tiếng Bé thổn thức trong mơ. Kết quả câu chuyện là gần về sáng, Bố Mẹ bảo nhau: “Thôi, kỳ truy lĩnh này, hai vợ chồng thế nào cũng có hai phiếu mua hàng mậu dịch, sẽ nhịn một phần mua cho Bé con búp-bê. Con đã có áo hoa, giầy da, nơ buộc tóc. Con còn phải có búp-bê chơi”.

Bố Mẹ quyết định thì bên gối Bé thiêm thiếp giấc nồng. Nhưng càng gần ngày được nhận truy lĩnh, Bố thấy Mẹ hình như có vẻ giãn quyết định ra. Không hẳn là Mẹ bảo không mua búp-bê cho Bé nữa, Mẹ chỉ dáo lên những thứ cần phải mua với hai phiếu mua hàng, đại để như vải, ấm nhôm, thau chậu. Mẹ bảo: “Rồi sắp một cái thau cũ không đủ đâu”. Tính những thứ Mẹ muốn mua thì đến bốn phiếu cũng hết. Bố vốn cái tính tẩm ngẩm, cứ để cho Mẹ toan tính. Bố cũng không nhắc gì chuyện con búp-bê hai người đã ước hẹn thầm với Bé.

Cho đến chiều nay, Bố về nhà với tấm phiếu mua hàng trong túi. Bố chải đầu làm dáng cho con gái, dắt con gái đi, lén Mẹ. Thế nào Bố cũng mua cho con gái Bố con búp-bê. Bố không sợ người khác mua mất. Chị bán hàng đã bảo Bố: “Mậu dịch biết thế nào cũng có nhiều người bố mua búp-bê cho con nên mậu dịch đặt mua bên Tiệp-khắc về nhiều lắm”. Bố chợt mỉm cười: “Một nông dân Việt Nam mua búp-bê của Tiệp-khắc cho con chơi. Du thật. Chuyện ấy xưa kia có ai dám nghĩ đến không?” Bố bảo Bé: “Đi con!” Bé lơn tơn cạnh Bố. Ăn hết que kem rồi, nghe chân đi kém dẻo dang. Bố nhấc bổng Bé lên như nhấc bổng chiếc ba-lô. Hai bố con vào mậu dịch.

Bé nhẩy cẫng, trụt khỏi tay Bố. Con búp-bê của Bé vẫn ở trong tủ. Khác cái, lần này Bé đứng mãi chắc mỏi chân, đã ngồi xuống rồi, chân duỗi dài ra như đang chơi nu na nu nống. Bé dán mũi vào cửa kính, tìm chuyện nói với búp-bê. Chợt một bàn tay lạ kéo Bé lùi xa cửa kính, thò tay vào trong tủ, nhấc đúng bê của Bé ra và đặt vào tay Bé. Bé ôm lấy không chút ngỡ ngàng. Bé nhìn Bố khoe: “Bố ơi! Cô này cho con búp-bê”. Cô bán hàng cười: “Bố em mua cho em đấy!” Bé cuống quýt giục Bố: “Về bố, về bố, về khoe mẹ!”

Hai bàn tay Bé khư khư ôm búp-bê vào ngực. Có lúc Bé quên cả Bố đi bên cạnh. Bé còn mải nói chuyện với bê. Rằng: “Bê về nhà phải ngoan nhé, đừng quấy, mẹ hay mắng lắm. Khi nào mẹ mắng thì túm lấy quần bố. Mẹ đi công tác đã có bố ở nhà, bố đi công tác đã có mẹ, cả mẹ, bố cùng đi thì đã có các cô các chú, nhiều cô chú lắm”.

Bé mới nói chuyện đến đấy thì đã lại đến bờ hồ rồi. Bố nói: “Nghỉ một tí Bé ạ”. Bé đồng ý ngay, được dịp cho bê xem bờ hồ. Bê ở lâu trong tủ kính chắc nóng lắm. Bé đưa bê ra bờ cỏ sát hồ. Hai chị em ngồi giãi thẻ, ngoảnh mặt ra hồ ngắm cảnh.

Bố ngồi xuống thì lấy tay vỗ đùi, một cử chỉ đã thành thói quen từ khi thương tích ở đùi của Bố bị trong một cuộc xung kích ở đồn Tây được mổ ra lấy đạn đã lành. Vết thương đồng thời cũng đổi Bố từ một chiến sĩ chiến đấu thành ra một thương binh chuyển ngành và làm cho Bố đi một quãng đường lại thấy mỏi mỏi. Nhưng bây giờ Bố ngồi nghỉ, còn vì bỗng thấy ngại gặp Mẹ, ngại nghe Mẹ phê bình. Phê bình đúng hẳn chứ. Thực tế Bố Mẹ đã đến mức mua đồ chơi đắt tiền hàng vạn bạc cho con đâu. Kế hoạch 56 chưa xong, mọi người còn thắt lưng buộc bụng, nhà còn thiếu đồ thiết dụng… Một vạn bạc là … hai yến rưỡi gạo. Bố nhìn Bé đang cười rúc rich với búp-bê. Bố bèn nhẩm lại những lý lẽ đanh thép để tự bào chữa: cái sẹo trên đầu Mẹ, vết thương ở đầu gối Bố, tất cả để cho Bé được sung sướng. Bố không ngại gặp Mẹ nữa.

Bố vừa toan gọi Bé đi về, thì Mẹ từ đâu ùa tới, đặt phịch một gói lên lòng Bố, tíu tít:

–  Về nhà không thấy bố con đâu, biết ngay lại chỉ ra đây. Anh mở xem…

Chưa hết câu, lại gọi Bé:

–  Bé ơi! Lại đây! Lại đây!

Bé ôm búp-bê khệ nệ bước lại. Mẹ nhìn búp-bê trên tay Bé, đờ người, thốt tiếng: “Ơ hay!…” Bố mở gói ra thấy con búp-bê cũng “Ơ hay!” Duy có Bé không ngạc nhiên gì cả, reo một tràng dài: “A! Cả mẹ cũng mua búp-bê cho Bé nữa!” Bé điềm nhiên dang tay ôm nốt con búp-bê mẹ vừa mang lại, đi về chỗ cũ, đặt song song xuống cỏ. Con Bố bên này, con Mẹ bên này. Sao hai con giống nhau thế, Bé lầm rồi đây này. Bé thích con bê của Bố hơn. Nó đã thân với Bé trước. Bé phải làm thế nào để khỏi lẫn với con của Mẹ? Bé nghĩ nhạy lắm. Bé sẽ tháo nơ đỏ của Bé buộc sau lưng cho bê Bố làm khăn quàng đỏ. Bé bảo con bê Mẹ mua: “Còn mày đến sau phải quàng khăn đỏ sau nghe chưa?”

Bé liếc nhìn Mẹ, Mẹ mà biết thì Mẹ giận đấy. Mà Mẹ đang giận thật, có điều là đang giận Bố chứ không phải giận Bé. Mẹ nói lầm bầm. Bố cũng nói lầm bầm. Bé nghe loáng thoáng những lời gắt gưởi: lãng phí, đem giả đi, đừng trẻ con, mua rồi còn đem giả, chiều con lắm vào.

Nghe đến câu chiều con thì Bé chán quá, không nghe nữa. Vì Bé nghĩ mãi rồi. Lúc thì là Bố cự Mẹ thế, lúc thì là Mẹ cự Bố thế, nguy hiểm là có lúc cả hai cùng nhận lỗi với nhau đã chiều Bé. Thật làm Bé nghĩ phen này có dễ cả Bố cả Mẹ cùng sẽ ghét mình. Nhưng chỉ một lát, phi Bố tất Mẹ lại ôm Bé nựng nịu, quà quà bánh bánh cho Bé. Người lớn, chịu, không hiểu họ ra sao cả.

Bố Mẹ thôi không lầm bầm nữa, thì lại thừ ra, mặt Bố cau lại, mặt Mẹ đỏ phừng phừng. Hai bê của Bé mà cũng giống thế kia thì xấu quá. Bé không thích đâu. Bé nhìn hai bê thần người nghĩ ngợi: Nếu hai bê cãi nhau thì Bé làm thế nào nhỉ?

Bé nghĩ một lát, đứng phắt dậy ôm một con – bây giờ thì con của Bố hay của Mẹ cũng chẳng hề gì. Bé phăng phăng chạy lại trước mặt Mẹ, đặt vào lòng Mẹ nói một hơi:

– Hai con bê này nó cứ cãi nhau, con không dỗ được, con giả mẹ con này để mẹ cho em bé trong bụng.

Bố Mẹ nhìn nhau một giây rồi cùng phá lên cười.

Tiếng cười của Bố Mẹ làm xao gợn cả sóng Hồ Gươm. Mấy con chim trên cành vội cất cánh bay, đánh rơi lộp độp trên đầu Bé những đốm trắng trắng… Khách qua lại lây cái cười của Bố Mẹ cũng nhoẻn miệng cười theo.

THỤY AN

Nguồn:

Trăm Hoa, loại mới, Hà nội, s. 5 (25.11.1956), tr. 6-7.

NỮ TÁC GIẢ THỤY AN TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BÁO “VĂN NGHỆ” NHÂN DỊP CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI VĂN NGHỆ TOÀN QUỐC LẦN 2

CẦN ĐẨY MẠNH PHÊ BÌNH, TẤN CÔNG

VĂN HÓA PHẢN ĐỘNG VÀ TĂNG CƯỜNG

VIỆC XÂY DỰNG TƯ TƯỞNG CHO VĂN NGHỆ SĨ

 

Mặc dầu chúng ta thường phàn nàn văn nghệ chưa có tác phẩm lớn, biểu hiện được tới một mực độ khả quan, cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến vĩ đại của đất nước, nhưng nhìn khái quát tình hình văn nghệ từ cách mạng đến giờ, ta phải công nhận nó đã nhận thức rõ ràng con đường đi của nó, nó đã có hướng đi lên rất vững chắc: hướng văn nghệ nhân dân. Trên con đường tiến lên hướng đó, văn nghệ như một đứa trẻ đã qua thời kỳ sài đẹn, nếu nay còn những cơn trái gió dở trời, chắc chắn ta sẽ kịp thời cứu chữa, không thể thành những biến chứng trầm trọng làm tổn thương đến sinh mạng nó được.

Tôi rất lạc quan mà nhận định như vậy. Mối lạc quan càng thêm có căn cứ, với sự ra đời của cuốn Đất nước đứng lên, với sự xuất hiện của một tài năng trẻ tuổi, Nguyên Ngọc. Tôi coi như những gì chúng ta còn chờ đợi ở văn nghệ, những gì còn ấp ủ nung nấu trong thẳm cùng của văn nghệ, đang bắt đầu nở. Nói thế không có nghĩa là tôi phủ nhận giá trị những sáng tác đã có trước tác phẩm Đất nước đứng lên. Ở đây tôi chỉ muốn ghi một biến chuyển quan trọng trong văn nghệ: từ giai đoạn mượn nhân vật, mượn con người để đóng khung chính sách và nhân văn của chúng ta, đang chuyển sang giai đoạn: chính sách, nhân văn xuất phát từ con người đã trở vào con người như thế nào. Đó là một tiến bộ sâu sắc của văn nghệ mà tôi muốn dành cho tác phẩm Đất nước đứng lên cái vinh dự là một dấu hiệu, nó sẽ dắt thêm một cuộc liên khai huy hoàng, vì thời đại chúng ta không phải là thời đại một anh hùng, một tác phẩm.

Tuy nhiên, văn nghệ hiện thời của ta vẫn bị thiếu thốn lớn: thiếu các nhà phê bình chuyên môn. Hiện tượng này thật là kỳ quái khi cả cuộc sống chúng ta đều lấy sự phê bình và tự phê bình làm đòn bẩy tiến bộ. Hoặc giả sự thiếu thốn này chứng tỏ chúng ta còn non yếu về lý luận chăng? Thiếu các nhà phê bình, một cuộc phê bình tác phẩm có biết lúc mở ra, mà không biết sẽ đóng thế nào; không đưa nổi một ý kiến ít nhiều có giá trị quyết định để cho tác giả và độc giả một ý niệm tương đối rạch ròi về tác phẩm được phê bình. Những nhà phê bình là những người làm vườn tốt nhất của vườn hoa văn nghệ, là người trực tiếp cống hiến vào việc viết các cuốn vào lịch sử văn học. Mong rằng tại Đại hội vấn đề này sẽ được đề ra, bổ cứu.

Vấn đề xử dụng vốn cũ dân tộc cũng cần đem ra đại hội duyệt lại, để nó khỏi sa vào tư tưởng sùng cổ trưởng giả, ỷ lại. Trên địa hạt này, theo thiển ý tôi, những người tìm tòi cũng như xử dụng cần phải nghiêm nhặt với tình cảm của mình, một thứ tình cảm nó không xa với óc kỳ thị dân tộc là bao! Dĩ vãng không thể bao giờ trùm lên hiện tại. Vốn cũ dân tộc có tác dụng nhất định của nó: làm bàn tựa cho văn nghệ đương thời lấy thế mà thẳng vút tới tương lai, chớ không phải là những hòn chì làm quẩn chân ta, là cái ngai thờ để ta cứ quỳ mà chiêm ngưỡng.

Tại đại hội tôi thấy cũng cần đề cập một vấn đề nữa: vấn đề tấn công vào văn hóa phản động. Cho đến bây giờ, về phương diện này, chúng ta chỉ mới trong chiến lược “đứng thế thủ”, “ta cứ làm tốt phía ta”; tôi thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nhận định, nghiên cứu có hệ thống đặc tính của văn hóa đế quốc phong kiến, cần tách bạch từng bộ môn văn hóa phản động mà tấn công thẳng vào.

Về phần lãnh đạo của Hội, các bạn văn nghệ đã đưa nhiều ý kiến phê bình, nhiều thắc mắc, nó cũng là thắc mắc của tôi. Nhưng tôi cần nhắc lại: điểm giáo dục lập trường, tư tưởng các văn nghệ sĩ Hà Nội bao năm sống xa rời Đảng và Chính phủ phải là công tác hàng đầu của Hội. Chúng tôi rất lấy làm lạ trong văn nghệ, vấn đề phục vụ kịp thời được đề ra mà lại không đề ra vấn đề học tập kịp thời. Là những người văn nghệ có nhiệm vụ truyền đạt phát huy, cuộc sống đang đà dũng tiến của đất nước, của nhân loại, chúng tôi phải được học tập sớm hơn ai hết, những tư tưởng, những chính sách đã tác động của cuộc sống ấy.

Khuyết điểm này của Hội – liệt vào khuyết điểm xao nhãng xây dựng những con người – chúng tôi có ý nghĩ Hội chỉ chú ý đến những vấn đề, những tổ chức hình thức, mà không chú ý đến bản thân những con người văn nghệ. Chúng tôi thắc mắc ra sao, nghĩ ngợi những gì, sinh sống thế nào, Hội không hề chú trọng một cách liên tục. Do đó vai trò lãnh đạo của Hội trong thời gian vừa qua, nhất là trong hai năm nay, rất khó mà thấy rõ, nếu không là chỉ rõ trên những bản thống kê: Hội đã in bao nhiêu sách, của bao nhiêu nhà văn, thuộc bao nhiêu loại, đã tổ chức bao nhiêu cuộc triển lãm, nói chuyện, v.v.

Tôi mong vấn đề lãnh đạo của Hội sẽ được đặt lại tại đại hội thành khẩn hơn, hữu hiệu hơn. (1)

THỤY AN

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 128 (5.7.1956), tr. 5.

Chú thích:

(1) Nhằm chuẩn bị cho Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, báo Văn Nghệ phỏng vấn các văn nghệ sĩ với 3 câu hỏi: 1 và 2/ Theo ý bạn thì từ Cách mạng tháng Tám đến giờ, phong trào văn nghệ Việt Nam cóa những ưu, khuyết điểm gì? 3/ Bạn thấy trong Đại hội văn nghệ toàn quốc sắp đến nên bàn đến những vấn đề gì? Trên đây là trả lời của Thụy An, một nhà văn thuộc khối những văn nghệ sĩ ở ngoài biên chế ở thành phố Hà Nội.  (L.N.A.)

MỘT BÀI THƠ CỦA NỮ TÁC GIẢ THỤY AN VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, 1956

CHIẾC LƯỢC

MỘT BÔNG HOA BỊ VÙI DẬP – Bài thơ “Chiếc lược” của chị Thụy An sáng tác đã gần một năm nay. Theo lời chị thì bài này từ lâu đã đưa cho hội Văn nghệ và nhà xuất bản Văn nghệ. Hội Văn nghệ không có ý kiến gì. Các bạn trong nhà xuất bản Văn nghệ thì nhận xét thấy “tương đối khá” và chuyển sang vụ Văn hóa đại chúng đề nghị cho in vào loại phổ thông. Nhưng vụ Văn hoá đại chúng lại cho là bài thơ không hay, có trả lời rằng: “những bài thơ loại thế này chúng tôi có nhiều, vậy xin trả lại…”

TRĂM HOA được đọc “Chiếc lược”, nhận thấy bài thơ loại thế này rất hiếm. Thật là một bài thơ giá trị. Chúng tôi rất mong nhận được những sáng tác giá trị như thế này của chị Thụy An cũng như của các bạn khác, để vườn hoa được thêm nhiều hương sắc. – TRĂM HOA

 

CHIẾC LƯỢC

Lược em bé nhỏ

Lược em thanh thanh

Công ai đẽo gỗ chuốt thành

Để em chải mớ tóc xanh rà rà

Tóc em nuột nà

Em chửa muốn rời tay lược

Lược với tóc vân vi thỉ thót

Những năm dài mơ ước khát khao

 

Tóc em khi cun cút trái đào

Chiếc lược trong ô cô hàng xén

Thường đêm đêm hiển hiện trong mơ

Lược không đáng giá vài xu

U vẫn khất lần khất lữa

Khất ngày tóc chấm đầu vai

Đói cơm đói cháo anh ơi!

Lấy gì nuôi được tóc dài cho mau.

U dỗ: “Con sang hầu cụ Chánh

Kiếm cơm ăn, nhẹ gánh cho u

Cuối năm công bớt vài xu

Con mua lược chải tha hồ đẹp xinh”

Em đang mơ ước đinh ninh

Về nhà thằng địa chủ

Em đem mái tóc xanh

Về nhà thằng địa chủ

Hơi trâu thay hơi mẹ

Đòn vọt thay áo cơm

Đêm nằm gỡ cỏ gỡ rơm

Bám đầy trên tóc

Hẹn với tóc cuối năm mua lược

Làm tốt làm xinh

Năm lại năm tóc đã quấn vành

Thấy cô hàng xén mà đành ngoảnh đi

Nóng tai tiếng riễu tiếng chê

Con đầu bù quạ đánh

Áo tả tơi trăm mảnh

Hở cả ngực cả vai

Em càng biết hổ ngươi

Càng xót xa tủi cực

Đầu có bao nhiêu tóc

Là bấy nhiêu tội tình

Nhưng địa chủ tàn ác

Không cấm nổi tóc xanh

Đêm kia trống rộn mái đình

Bỗng xui em nhớ tuổi mình tròn trăng

Chỉ thô khíu vội áo quần

Em tưng bừng đi hội

Chợt nhớ đầu bù tóc rối

Chùn bước chân thui thủi phận mình

Hội làng đông ả đông anh

Em muốn chút xinh chút lịch

Mượn trộm lược của con mụ Chánh

Chải vội chải vàng

Tóc bóng mặt gương

Đầu ngôi thẳng tắp

Ra đình che áo rách

Tìm nơi tối nhất ngồi nghe

Tiếng hát giao duyên gió động cành tre

Gió đưa cành trúc tình ngơ ngẩn tình:

“Hỡi cô tóc tựa mây xanh

Đường ngôi như sợi chỉ mành mới ngâm

Có duyên xa cũng như gần…”

Em thẹn cúi gằm không hát đối

Nhưng từ đấy suốt trong đám hội

Bốn mắt trộm nhìn nhau

Lòng muốn nói trăm câu

Muốn hội dài mãi mãi

Trống rã đám còn hát với:

“Hẹn xuân sau ta lại với mình

Xuân sau tóc hẳn thêm xanh

Đường ngôi bắc nhịp cho mình gặp ta”.

 

Xuân sau áo rách xơ

Không tài gì khâu vá

Tóc rối bù tổ quạ

Lấp mất cả đường ngôi

Địa chủ ăn cướp công tôi

Tiền đâu mua lược đi chơi hội làng?

Trống đình giục nhớ giục thương

Gió đưa tiếng hát trách hờn của ai:

“Hẹn lời lời lại đơn sai

Đường ngôi rẽ lệch duyên hài đôi ta”

Vẳng nghe tiếng hát

Nước mắt như mưa

Cảm thương tóc rối đầu bù

Lấy gì dáng sớm duyên trưa với chàng?

Ai ngăn được kén đừng vàng?

Ai ngăn được suốt đừng ràng với thoi?

Em nửa sợ nửa vui

Lại đi mượn trộm lược

Nghe trống giục tay run cầm cập

Chiếc lược rơi đánh chát xuống sân

Thế là tai họa khôn ngăn

Vợ thằng Chánh túm lấy em đập đánh

Đánh chưa đã nó còn ác khoảnh

Lấy dao cau gọt sạch tóc mai

Sót công mười mấy năm trời

Cơm thiu cháo hẩm tôi nuôi tóc thề

Ngoài đình tiếng hát não nề:

“Tưởng đêm mở hội đi về có nhau

Bây giờ lược chẳng giắt đầu

Hội vui thiên hạ phải đâu của mình

Anh về tát nước thâu canh

Ngắm sao mà hỏi sao đành phụ nhau?”

Em quên tóc cụt đòn đau

Chạy vùng lên đình Thượng

Ai vì tôi ngăn cản

Cho ai đừng bỏ về

Đường đồng nhạt ánh sao khuya

In dài chiếc bóng

Đầu nửa trọc nửa buông sõng tóc

Áo quần tơi tả xác xơ

Khác gì xác quỷ hồn ma

Chạy ra đám hội để mà nát ai

Em nức nở từng hồi

Nằm vật bờ ruộng thấp

Khóc sưng vù đôi mắt

Chả thấy Bụt hiện lên

 

 

Hôm nay trống nổi liền liền

Tiếng gọi đi chia quả thực

Vợ chồng thằng Chánh ác nhân ác đức

Rẽ lứa duyên em

Đã gục xuống bùn đen

Không bao giờ ngóc nữa

Em đã hồng đôi má

Em đã thắm đôi môi

Tóc em đã mọc dài

Em đi nhận quả thực

Em chọn thêm chiếc lược

Về chải mãi chải hoài

Chúng chị em chớ cười

Em se sua làm dáng

Mười mấy năm mơ tưởng

Giờ lược mới về tay

Hẳn tiếng hát từ nay

Không bao giờ đứt khúc

Mái tóc mây em cài vành lược

Em ra đồng tát nước gầu đôi

Nhịp gầu tiếng hát đầy vơi

“Ước gì anh hóa lược cài tóc em

Tóc với lược liền liền sớm tối

Như ruộng đồng ở mãi với ta”

Nước rềnh giăng ngả đầu bờ

Mạ non gặp nước đôi vừa xứng đôi…

THỤY AN

Nguồn:

Trăm Hoa, loại mới, Hà nội, s. 3 (4.11.1956), tr. 3.