Trang chủ » Posts tagged 'Trần Thanh Mại'

Tag Archives: Trần Thanh Mại

TRẦN THANH MẠI PHÊ BÌNH TIỂU THUYẾT “THANH NIÊN S.O.S.” CỦA TRƯƠNG TỬU

 

Nhân nói về Trần Thanh Mại (3/2/1911 – 2/2/1965), một tên tuổi gắn với thời đầu của Viện Văn học, xin giới thiệu thêm một bài Trần Thanh Mại phê bình Trương-Tửu-nhà-tiểu-thuyết (chứ không phải Trương-Tửu-nhà-lý-luận). Bài này đăng năm 1937 trên tuần báo “Cười” ở Huế.

Theo mục từ “Trần Thanh Mại” trên Wikipedia.org, tác gia Trần Thanh Mại có bài đăng báo từ 1932.

Theo phạm vi tìm hiểu còn chưa đầy đủ của tôi (L.N.Â.), những năm 1935-37, Trần Thanh Mại cộng tác với nhật báo “Tràng An” thời Phan Khôi là chủ bút (tháng 3/1935 – tháng 2/1936), sau đó cũng cộng tác với tuần báo “Sông Hương” (tháng 8/1936 – tháng 3/1937) của chủ nhiệm kiêm chủ bút Phan Khôi, công bố ký sự lịch sử “Tuy Lý Vương” trên “Sông Hương”  trước khi in thành sách riêng.

 

Thời kỳ nhật báo “Tràng An” do Lê Thanh Cảnh làm chủ bút, Trần Thanh Mại tiếp tục cộng tác với “Tràng An”. Khi Lê Thanh Cảnh lập ra tuần báo “Cười”, ông đã mời Trần Thanh Mại làm chủ bút. Đây có lẽ là lần thứ nhất (và duy nhất?) nhà nghiên cứu này điều hành một tòa soạn; thế nhưng vai trò này thậm chí còn chưa được giới nghiên cứu văn học sử ghi nhận (các bản tiểu sử chính thức trong “Lược truyện các tác gia Việt Nam”, trong danh mục hội viên Hội nhà văn VN, trong “Tuyển tập” dành riêng cho tác gia này đều chưa ghi việc này).

 

Hiện tại Thư viện Quốc gia ở Hà Nội còn lưu chừng 5 số “Cười”. Điều thú vị là trên các trang báo “Cười” lại hơi ít bài mục cười cợt, và hơi nhiều hơn những bài nghiêm túc, thậm chí là các bài hiếm hoi và có giá trị tư liệu văn học sử, ví dụ tư liệu khẳng định Nguyễn Thiện Thuật là tác giả của bài ca “Hoán tỉnh quốc dân”, hoặc một số bài của Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, v.v…

 

Bài Trần Thanh Mại phê bình tiểu thuyết “Thanh niên S.O.S.” (Minh Phương xb., Hà Nội, 1937) của Trương Tửu là một trong số khá ít bài của tuần báo “Cười” về văn học đương đại. Ở đây người ta thấy tác gia họ Trần quan tâm đến hiện tại không kém gì đến quá khứ. Có lẽ điều này sẽ ít nhiều tiên liệu sự việc, về sau này, vào những năm 1956-58 ở Hà Nội, Trần Thanh Mại lại trở thành cây bút đắc lực hưởng ứng việc “đấu tố” các nhân vật thuộc phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Theo nhà nghiên cứu Lê Hoài Nguyên thì bút danh Hồng Quảng ở các bài phê phán Phan Khôi, Trương Tửu thời kỳ ấy, chính là bút danh của Trần Thanh Mại.

Nhưng ta hãy trở lại đọc bài báo đăng năm 1937 này để thấy ngay từ năm ấy, Trần Thanh Mại đã nhận ra: ngòi bút viết văn xuôi tự sự của Trương Tửu lại có sự gần gũi với văn xuôi tả chân của Vũ Trọng Phụng! Đây là một nhận xét mà những người đã và sẽ nghiên cứu cả hai nhà văn này cần phải xác nhận hoặc bác bỏ.

Xin trân trọng giới thiệu.

24/11/2013

LẠI NGUYÊN ÂN         

 

 

 

CỨU LẤY THANH NIÊN!

Trần Thanh Mại

 

          Nếu như có một nhà văn, trong một thuở đã làm náo động làng văn vì cách hành văn mới lạ của mình, vì những lời phê bình táo bạo, vì những sự phán đoán quả quyết, người ấy hẳn là ông Trương Tửu.

 

Ông Trương đã khêu gợi tánh hiếu kỳ của ta trong khi ông viết, ông đã kêu gọi sự chăm chú của ta khi ông phê bình. Với một sự tự tin chắc nhiều khi có hơi quá đáng ở thiên tài, ở học lực của ông, những lời ông nói ra hầu như có cái mãnh lực chém sắt chặt đinh. Nó có cái dạng cứng cát, xác đáng như không còn lý lẽ nào lay chuyển được nữa.

 

Cuộc khảo sát, hay cái luận thuyết của ông về nền “Văn học Việt Nam hiện đại” mà ông đã khởi đầu trong báo “Loa” quá cố và bỗng nhiên ông lại cắt ngang bỏ dở, kể cũng là một việc đáng tiếc, đáng tiếc không phải vì những điều phán đoán của ông đã hoàn toàn hợp với chân lý, mà chính vì nó vẫn có một phần đặc sắc, nó cho ta thấu rõ cái nhân cách cương quyết mạnh mẽ của ông.

 

Ngày nay Trương quân cũng dùng lối hành văn mới lạ ấy, cũng lấy cách phán đoán táo bạo ấy mà viết quyển Thanh Niên S.O.S.  (tiểu thuyết, Minh Phương xuất bản, 1937) mà thử giải quyết vấn đề thanh niên ở xã hội Việt Nam.

 

Thanh Niên S.O.S.  là chuyện một anh chàng trẻ tuổi thuộc về thời đại sau mấy cuộc biến động chính trị 1929-1931, giữa lúc nạn khủng hoảng về kinh tế đang kềm hãm người ta. Liêu, anh chàng ấy tự tìm cho mình một con đường đi, tự lựa chọn một lý thuyết để làm tôn chỉ cho sự sống.

 

Giữa khi đang ngập ngừng bất định ấy, thì Văn và đồng lõa, đều là một bọn thanh niên bị hoàn cảnh xã hội biến thành những con quỷ sứ ranh mãnh, cẩu hạnh, lôi kéo vào cuộc sống ô trọc của chúng qua các nhà thổ, tiệm hút, đăng-xinh… Liêu rơi từ hầm sâu này xuống hầm sâu hơn nữa, đến chán cả tình yêu, vật mà chàng đã rắp ranh đem làm lý tưởng cho đời mình, đến làm cho người yêu của mình vừa thành mẹ thì đá quách người ta đi, rồi sau đến mắc phải bệnh loạn óc, có lẽ đến chết cũng nên.

 

Cái luận thuyết của ông Trương Tửu, nên nói ngay ra, chỉ gồm được một vài phần chân lý, hay chỉ có một vài hình dạng chân lý mà thôi! Thật ra sự trụy lạc của thanh niên không phải chỉ kể từ sau cuộc chính biến 1929-1931 và sau cuộc kinh tế khủng hoảng.

 

Ông Trương Tửu ngờ thế, tin chắc thế, là bởi vì ông quá chịu ảnh hưởng của phương pháp phê bình phân loại của khoa học Âu Tây. Ồng bị mấy con tỉ số, mấy đoạn lịch sử ám ảnh đó thôi. Xét ra, sau khi người Pháp đã thiết lập cuộc bảo hộ trên đất nước Việt Nam và sau trận Âu chiến 1914-1918, nghĩa là trong khi toàn quốc đã hầu như được hưởng một cuộc thái bình tàm tạm, thì vấn đề trụy lạc thanh niên đã có thể có được rồi.

 

Qua đến 1935, nạn kinh tế khủng hoảng đã bớt dần, hầu hết các hạng trí thức trong nước đều được chính phủ bổ dụng, hoặc cũng đã tự kiếm được việc làm trong những công cuộc kinh doanh thương mại kỹ nghệ; cái tương lai về phương diện vật chất hầu đã được chắc chắn lắm rồi; ấy thế mà sự trụy lạc của thanh niên hình như càng ngày càng bành trướng. Hiện bây giờ trở đi, ta có thể nói mà không sợ sai lầm quá đáng rằng, một người Việt Nam lớn lên là xã hội Việt Nam thêm một người hư; một người rời khỏi ghế nhà trường, bước khỏi nhà cha mẹ, là thành một người bỏ. Mấy người ấy họ chỉ từ cái khuôn khổ luân lý đã dung đúc họ tự nhỏ đến giờ, bước qua cái chỗ không luân lý một tý nào ở gác nhảy, tiệm hút, nhà gá bạc, hay xóm gái đĩ, mang một cái dương dương tự đắc không quan tâm, không chủ nghĩa, không biết ngày mai! S.O.S.! Thật không bao giờ thanh niên cần phải kêu mấy tiếng S.O.S. như lúc này.

 

Từ mấy năm nay cái nền tảng xã hội do những lý thuyết Nho giáo xây nên, đã bị những tư tưởng tàn phá của văn hóa Âu Tây tràn vào lung lay đạp đổ; mỗi một ông cụ nho chết là một người lính ngã ở trong đạo quân cuối cùng không điền thế. Không kể dở hay, hợp thời với không, Nho giáo ở trong cái phạm vi chật hẹp yếu đuối của nó cũng đã làm một chiếc trói cho đám thanh niên thời đại trước dựa vào. Nếu như nó là tảng đá chặn đường không cho người ta tiến, thì ít ra nó cũng là sợi dây giằng giữ đám thanh niên kia khỏi sa ngã vào hầm trụy lạc.

 

Những học thuyết khoa học thực nghiệm du nhập ở xứ ta, trong khi khắp xứ đều bao bọc một màn tin mê u muội, những sự chung đụng, những điều kinh nghiệm trong cuộc đời mới khiến cho ta mất thói dị đoan, đến không còn tin ở cả tôn giáo nữa; mà bây giờ nếu thanh niên còn phải tuân theo một quy tắc của đạo Phật hay đạo Trời, cũng chỉ theo bề ngoài vậy thôi, chớ riêng họ, họ đã phỉ báng tự bao giờ.

 

Còn lại cái phương diện chính trị.

Thì nước Việt Nam đang ở vào một tình thế rất buồn cười, là không phải lo đến chính trị. Chính trị đã có nước Pháp trông nom hộ. Chúng ta mất đứt cái dịp để hiến tấm lòng hâm mộ của ta; ta không có cái đích để noi chí hướng chính trị của ta, cái cớ để ta dùng tất cả năng lực hoạt động của tuổi ta.

 

Thì…

Luân lý rỗng không, tôn giáo rỗng không, chính trị rỗng không, mọi sự cần đến lòng hăng hái nhiệt thành của ta, đều không có cả. Ta thấy trơ trọi một mình, trơ trọi với cái bản năng đã xấu sẵn của con người. Với cái bản năng thú vật, lẽ tất nhiên bao nhiêu lòng hăng hái, bao nhiêu sức hoạt động đương bồng bột sôi, đang mạnh bạo chuyển ấy, ta phải bất lực mà thấy nó trở về phụng sự nhục dục, giúp việc cho Dâm Thần.

 

Vì đó: Trụy lạc.

Một khi người ta đã thấy rõ nguyên nhân trong vấn đề trụy lạc kia rồi, thì tự nhiên thấy ngay cái phương pháp cứu vãn.

 

Vì không xét cho đầy đủ nguồn gốc của sự trụy lạc như trên đã nói, quyển Thanh Niên S.O.S. đã bày ra một khuyết điểm lớn. Ông Trương Tửu ra cái vấn đề nhưng ông không giải quyết. Ông đặt câu hỏi mà ông không cho câu trả lời. Người ta nghe ông hùng hồn hô hào đánh đổ xã hội này mà làm lại xã hội khác. Nhưng làm lại bằng cách gì? Phải dụng tâm thế nào? Đó là những câu mà người ta tự hỏi khi đọc Thanh Niên S.O.S.

 

Không nỡ trách Trương quân đã khéo trình ra một câu chuyện treo chuông cổ mèo, người đọc sách cũng không khỏi lấy làm bực tức mà nhận thấy cái thiếu lớn ấy trong công trình mà tác giả đã hướng dẫn một cách thông minh, can đảm và nhiệt thành.

 

Nay ta hãy bàn đến cách ông Trương Tửu mô tả sự trụy lạc ấy như thế nào.

Tuy ông Trương Tửu kéo chúng ta qua đủ các lò trụy lạc: tiệm nhảy, buồng hút, nhà săm, nhưng hình như ông chỉ cốt áp dụng cái nghệ thuật tài tình của cây bút ông về việc giải phẫu những cử chỉ dâm dục, những sự rẫy rụa băn khoăn của xác thịt mà thôi.

 

Viết quyển Thanh Niên S.O.S. Trương quân đã vận áo một nhà luân lý, một nhà đạo đức. Nhưng ông lại còn là một nhà văn tả chân. Cái nghệ thuật tả chân can đảm đến táo bạo, thiết thực đến sống sượng, tỉ mỉ đến thô tục. Đọc sách ông, người ta ngờ cho ông bị nhiều ảnh hưởng xấu của các nhà văn sĩ Victor Marguerite, Georges Anquetil, [1] hay là gần một bên ta hơn, Vũ Trọng Phụng. Đứng về mặt đạo đức luân lý và để đánh đổ những tội ác nhục dục, tác giả đã làm cho người ta lắm khi có cái cảm tưởng rằng ông tả lấy những việc ấy là vui thích, rằng ông muốn tìm trong sự mô tả căn vặn đầy đủ ấy một mối khoái trá ích kỷ. Có lúc người ta phải tự hỏi không biết sách có ích hay là vô ích, chỉ vô ích suông mà thôi hay là còn di hại cho thanh niên?

 

Nhưng ngày nào mà con người lấy riêng phần sinh lý mà nói thả luống cho cái bản năng vật dục của mình, còn ưng dòm qua lỗ thìa khóa để xem một cặp trai gái làm những gì trong buồng tối, thì người ta còn tìm mà đọc những cuốn sách như cuốn Thanh Niên S.O.S. của Trương quân. [2]

Nguồn: Cười, Huế, s. 1 (1er Octobre 1937), tr. 4.

Chú thích

[1]  Victor Margueritte (1866-1942), nhà văn, kịch tác gia Pháp; Georges Anquetil (1888-?) nhà văn Pháp.

[2]  Bài này đăng tuần báo Cười, xuất bản ở Huế, báo do Le Thanh Cảnh sáng lập, Trần Thanh Mại là chủ bút.

CHIẾC CUNG THẦN CỦA AN DƯƠNG VƯƠNG

 Làm sao cắt nghĩa được đôi phần trong sự tích hoang đường ấy?

TRẦN THANH MẠI

          Còn nên kể lại không, sự tích vua An Dương Vương, thần Kim Quy và chiếc cung mầu nhiệm ấy? Còn nên nhắc lại không, cuộc tình duyên giữa cặp tài tử giai nhân Trọng Thủy, Mỵ Châu nó đã cung bao mối cảm hoài cho bao nhà thi sĩ?

Người học sử, nếu có chút ít trí phán đoán phê bình, hẳn không sao công nhận được những việc hoang đường huyền hoặc của “thời đại nghi sử” mà một việc là sự tích vua Thục An Dương Vương.

An Dương sau khi đã chinh phục được nước Văn Lang, bèn nghĩ đến việc dựng kinh đô, nhưng thành xây lên chừng nào, đều bị kỳ tinh ác quái đổ sụp đi chừng nấy. Một hôm kia, ưu phiền quá, An Dương Vương ngồi than thở một mình thì có một ông già đến truyền cho một phép mầu để xây thành được kiên cố, lại cho một vút rùa, bảo tra vào cung thì tự khắc cung ấy bắn ra một phát đủ giết chết vạn người. Hỏi tung tích thì ông già xưng mình là Giang sứ, là một con rùa thần trấn ở sông gần đấy.

Xây được thành Cổ Loa, và nhờ chiếc thần cung ấy, thanh thế của An Dương Vương càng ngày càng thêm mạnh. Triệu Đà, tướng của nhà Tần sai qua đánh Thục, bao phen thất trận đành phải cầu thân. Nhưng chẳng hiểu sự cầu thân của Triệu khôn khéo đến bực nào mà An Dương còn gả con gái mình là Mỵ Châu cho con Triệu Đà là Trọng Thủy nữa, để cho Trọng Thủy có dịp đánh tráo cái móng rùa thần rồi trốn về cất binh mã qua diệt nước Văn Lang. An Dương Vương mất chiếc nỏ thần, đại bại, bỏ kinh đô, mang con gái trên mình ngựa chạy về sông Bích thì gặp thần kim quy ở dưới nước hiện lên, tố cáo tội trạng của Mỵ Châu. An Dương bèn rút gươm giết chết con rồi theo giang sứ đi về thủ phủ. Trọng Thủy làm xong nhiệm vụ tôi trung con thảo của mình, cũng không tiếc gì mà không tự tử để cho được tiếng chồng tình.

Sự tích là như thế. Nó hay lắm, nó hay quá chừng.

Nhưng nay ta hãy tự hỏi một vài câu: An Dương Vương được chiếc cung bắn một phát chết vạn người, vì sao An Dương lại chịu lấy mỗi một xứ Văn Lang, không dùng phép mầu nhiệm của mình mà khuếch trương thanh thế, lấy thành thâu lũy, làm bá chủ cả thiên hạ cho sướng thân. Hay là tính vua không tham lam, không tàn bạo, nhân đức từ bi, chỉ hành động vừa đủ phòng bị cho mình mà không muốn hại nhiều sinh mạng? Điều ấy đáng nghi lắm, nếu ta biết cái tính tình con người thượng cổ nó thô lỗ đơn sơ đến chừng nào, gần con thú vật đến chừng nào, nói một cách khác, nó hung tợn, bạo ngược, khát máu, thèm giết chừng nào!

Đến như Triệu Đà thì tấm lòng tham đã có chứng cứ rõ ràng. Chinh phục được Văn Lang rồi, Triệu trở mặt với Tần Thủy Hoàng ngay. Thế thì vì cớ gì, khi Triệu Đà đã có trong tay chiếc thần nỗ lại không nghĩ đến việc dùng nó để đánh thâu luôn cả đế quốc nhà Tần? Móng chân rùa đã hết thiêng chăng? Nhà chép sử có cái u mê đành bỏ dở nửa chuyện mà không cần đến luận lý.

Vậy thì nghi chăng? Tin chăng? Cả câu chuyện hoàn toàn hoang đường huyễn hoặc chăng? Hay là vẫn có một phần chân lý, có một phần ít đã quả thực có xảy ra chăng? Vậy thì người học sử bây giờ, người viết sử sau này nên bỏ hẳn đi, hay nên để nguyên vẹn đầu đuôi sự tích?

Ông Tùy Viên là một nhà trứ tác Trung Hoa về đời nhà Thanh. Ai ngờ trong bản sách của ông, bản Tùy Viên Thi Thoại  mà không mấy nhà nho Việt Nam là không biết, ai ngờ trong bản ấy lại có nhắc đến câu chuyện nó đương làm ta phân vân nghi hoặc. Câu chuyện đành rằng không giống nhau từng chữ một, nhiều tên người tên đất có khác, một đôi đặc điểm cũng không in. Nhưng đọc qua ta cũng biết đó là sự tích An Dương, Triệu Đà, Mỵ Châu, Trọng Thủy, đích xác đi rồi, không còn lầm lộn được.

Một điều nên ghi nhớ nữa là, câu chuyện ấy, Tùy Viên nhân đọc một quyển sách đời trước, thấy hay hay mà trích lục ra. Tin ở nhà trứ tác ấy, ta biết được rằng quyển sách kia nhan đề “Việt Kiệu Chí” [1] và chỉ biết thế thôi, chứ sách viết từ đời nào, do người nào viết, và có thể tìm ở đâu có, thì Tùy Viên dấu kín. Không hiểu tại vì người Á Đông không biết cách làm việc khảo cứu, hay là vì một cái thâm ý của tác giả. Dẫu sao đoạn văn trong “Việt Kiệu Chí” được Tùy Viên dẫn ra như sau này:

南 越 古 蠻 洞 , 秦 辰 最 彊 , 俗 尤 美 , 弩 每  發  銅  箭 , 軍 十 餘 人 , 趙 柁 畏 之 ,  蠻  王 有 女 蘭 珠 ,  美  而  艷 , 製  弩  尤  精 , 柁  乃 遣 子 某 , 贅  其 家 , 不 三 年 盡 得 製  弩  破 弩 之 法 , 遂 起 兵 伐 之,  虜  蠻  王 以 歸 

(Phiên: Nam Việt cổ man động, Tần thời tối cường, tục vưu mỹ, nỗ mỗi phát đồng tiễn, quân thập dư nhân, Triệu Đà úy chi. Man Vương hữu nữ Lan Châu, mỹ nhi diễm, chế nỗ vưu tinh. Đà nãi khiển tử mỗ, chuế kỳ gia, bất tam niên tận đắc chế nỗ phá nỗ chi pháp, toại khởi binh phạt chi, lỗ Man Vương dĩ quy)

(Dịch: Về đời nhà Tần, nước Nam Việt có động Cổ Man mạnh lắm, phong tục rất tốt. Có một thứ cung bắn tên đồng, mỗi phát bắn thâu hơn mười người. Triệu Đà sợ lắm. Man Vương có con gái tên là Lan Châu đẹp diệm lắm, lại rất tinh về việc chế cung. Triệu Đà bèn khiến con là mỗ đến làm rể. Không được ba năm, đã học được phép chế cung, phá cung. Rồi khởi binh qua đánh, bắt sống Man Vương đem về)

Nhân đọc thấy sự tích ấy, Tùy Viên vịnh một bài thơ, mà chính vì bài thơ ấy tác giả mới đem dẫn sự tích vào trong thi thoại.

Thơ rằng:

Triệu vương phụ tử khai biên giới            趙  王  父  子  開  邊

          Lai chủng Lan Châu nhất đóa hoa            賴 種  蘭  珠  一 朶  花 

          Đồng nỗ tam thiên tùy tế khứ                  銅  弩  三  千  隨  壻 去

          Nữ nhi tâm thái vị phu gia                      女  兒  心  太  為 夫  家

         

Dịch:

Cha con vua Triệu mở non sông

          Một đóa Lan Châu thực khéo trồng

          Ba ngàn cung đồng theo chú rể

   Gớm thay lòng gái vị nhà chồng

Nếu như phải tin theo Tùy Viên, thì sự tích Trọng Thủy, Mỵ Châu vẫn có thật, nên sách Tàu mới nói. Cái tên đất Văn Lang, đổi làm Cổ Man, những tên người: An Dương hóa ra Man Vương, Mỵ Châu thành Lan Châu, việc ấy không quan trọng. Có điều cái phần dị đoan mầu nhiệm thì ở đây tuyệt nhiên không thấy đả động đến, mà cái cung vút rùa, té ra chỉ là cung bắn tên đồng!

Nếu phải như thế thì có lẽ chúng ta đã đi gần đến sự thực rồi đấy. Sự thực ấy, nó có thể mày mạy như thế này:

An Dương Vương nhờ có một vị quân sư lão luyện dạy cho cách xây thành Cổ Loa và cái bí mật chế cung đồng mà đánh hơn được giặc. Triệu Đà biết vậy, bèn cầu thân, cho con sang làm rể, nhưng cốt để do thám, ăn trộm cách chế cung. Ta có thể bảo rằng Trọng Thủy là ông tổ thám tử của nước Tàu, có là tên thám tử đầu tiên của thế giới, của lịch sử loài người nữa!

Bày mưu lập kế để lấy lòng người yêu là Mỵ Châu (hay Lan Châu cũng không hại, nhưng Mỵ Châu thì hơn vì cái tên nầy ta đã quen rồi). Trọng Thủy, một đêm kia, lần mò đến kho trữ cung, ăn trộm hết bao nhiêu chiếc cung đã chế ra được, ước chừng ba ngàn, hay chắc chắn hơn nữa, là phá hoại không còn để một cái nào dùng được. Thế rồi trốn về nước, cùng cha cất quân sang đánh ông gia. An Dương mất nước. Các chuyện sau như lông ngỗng dẫn đường, máu Mỵ Châu hóa thành hạt trai trong miệng hến, tên bạc tình lang tự tử trong giếng sâu, là chuyện thêm thắt, do khối óc đầy thơ mộng của người đời xưa, thêu dệt sao cho nên một thiên diễm tình tiểu thuyết, đủ trung đủ hiếu đủ tình. Về việc tạo tác này thì ta có thể nói rằng tiểu thuyết kia đã là một thiên lâm ly tuyệt diệu trong các thiên khác của óc con người đã kết cấu được. Như trên kia đã nói, câu chuyện đã gợi bao mối cảm hoài ngậm ngùi thương tiếc cho biết bao thi sĩ văn nhân.

Không tin là cái quyền nơi ta, người học sử, chỉ muốn đánh truồng chân lý và bắt nó quay đủ phía để tìm một cái trẽn trơ thô lỗ chán chường. Nhưng đó không phải là phần việc của thi nhân.

Một nhà danh nho đời Tự Đức, ông Nguyễn Tư Giản, bán tín bán nghi, nhưng phải cái khiếu thơ của ông nó không cho ông suy nghĩ cho ra lẽ, đã vịnh hai câu đối nơi đền thờ Mỵ Châu ở huyện Đông Thành (Nghệ An):

千  載 下 是  耶  非 ,  誰  能  辨  之 ,  龜  爪  鵝  毛  傳  舊  史

五 倫 中, 父  與  夫 , 孰  為  親  也 ,  蚌  珠  井 水  獨   深   情

Thiên tải hạ thị da phi, thùy năng biện chi, quy trảo nga mao truyền cựu sử;    

Ngũ luân trung, phụ dự phu, thụcvi thân dã, bạng châu tỉnh thủy độc thâm tình!

(Dịch:

Dưới nghìn thuở, phải hay trái sao biết cho chừ, lông ngỗng vút rùa truyền sử cũ;

Trong năm luân, cha với chồng ai thân hơn nhỉ; hạt trai nước giếng một tình thâm).

 

Nhưng gần một bên Nguyễn Tư Giản lại còn có một nhà thi sĩ trăm phần trăm, cảm khái về cuộc tình duyên oái oăm đau đớn đã thốt lên những lời thống thiết bi ai đáng làm một áng văn bất hủ. Nhà thi sĩ ấy chẳng ai khác hơn là vua Dực Tôn. [2] Bài văn ấy nhan đề “An Dương thần nỗ”, gồm trong bộ “Ngự chế Việt sử tổng vịnh”, nó như thế này:

 

Loa thành tùy trúc tùy phục băng                    螺  城 隋 築  隋  復  崩

Giang sứ hà lai khoa kỳ năng                          江  使  何  來 誇  

Quỷ công nhân xảo giải cấu tựu                       鬼  工  人 巧  邂  逅  就

Kiên thành linh nỗ trường kham bằng              堅  城  靈  弩 長 堪  憑

Triệu binh quy                                               趙  兵  歸

Trọng Thủy nhuế,                                          仲  始  贅

Hữu giai nhi                                                  有  佳  兒

Đắc giai tế                                                    得  佳  壻     

Quân vương ký bất nghi                                 君  王  既  不  疑

Nhi nữ cánh hà tri                                         兒  女  更  何  知

Bắc Nam hữu thời thất hòa hảo                       北  南  有  辰 失 和  好

Phu phụ sinh tử chung tương tùy                    夫 婦 生  死  相 隨

Sàng đệ tình thân thiệt                                  床  第  情  親 

An tri nỗ cơ chiết                                           安  知  弩  機   折

Tặc binh dĩ bức thành                                    賊  兵  已  逼  城

Nhất phát phi sơ liệt!                                     一  發  非  初  烈 

Thông thông thất mã khứ hà chi                     匆  匆  匹  馬  去  何  之

Mã thượng nhưng nhiên ủng họa my               馬  上  仍   然  擁  畫  眉

Cẩm nhục tùy thân thiếp nhất khứ                   錦  褥   隨  身  妾  一  去

Nga mao dẫn lộ lang lai truy                           鵝  毛  引  路  郎  來  追

Nhi da? Tặc da? Hối dĩ hồi                              兒  耶  賊  耶  悔  已  迴

Ai tai! Nhất kiếm ân tình đoạn                        哀  哉  一  劍 恩 情 

Mỵ Nương vi,                                                 媚   娘  違

Mỵ Châu bi                                                    媚   珠   悲

Thủy chung tầm hấn do nữ nhi.                       始      由 女  兒

 

Ông Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn, tác giả quyển thi “Tiếng cuốc canh khuya”  [3] rất xinh kia, có dịch bài ấy ra quốc văn, bằng cái giọng văn trong trẻo nhẹ nhàng của ông. Xin lục ra đây để các bạn cùng hưởng chung cái hương vị thanh tao nó là sở trường của một nhà thơ ít ai biết tiếng:

 

Thành ốc xây xây lở lở hoài,

          Giang sứ từ đâu đến trổ tài.

          Công người sức quỷ hợp làm một,

          Thành bền cung báu tốt hòa hai.

          Binh Triệu về,

          Trọng Thuỷ tới.

          Cô gái ngoan,

          Chàng rể mới.

          Vua cha đã chẳng nghi,

          Trẻ con có biết gì?

          Bắc Nam dù có lỗi hòa ước,

          Vợ chồng sống chết quyết không ly!

          Chiếu chăn tình nóng nảy,

          Biết đâu máy cung gãy!

          Binh giặc đã sáp thành,

          Ôi thôi! Cò chẳng nẩy!

          Vội vàng lên ngựa biết đi đâu?

          Thương con cha cũng dắt theo hầu,

          Nệm gấm bên mình thiếp đi trước,

          Lông ngỗng chỉ lối chàng rượt sau!

          Con ư? Giặc ư? Hối chậm rồi!

          Thương thay ân ái chặt làm đôi!

          Mỵ Nương thôi!

          Mỵ Châu ôi!

         Nên hư vì một gái,

          Sau trước chửa báo bồi.  

 

TRẦN THANH MẠI

 

Chú thích

[1] Việt kiệu chí : không rõ; hiện người ta biết có tên sách Việt kiệu thư của tác giả Lý Văn Phượng, người thời Minh.

[2]  Vua Dực Tôn: Nguyễn Phúc Thì (1829-1883), hoàng tử Hồng Nhậm, lên ngôi vua đặt niên hiệu Tự Đức (ở ngôi: 1848-1883), sau khi chết được đặt miếu hiệu Nguyễn Dực Tông.

[3] Tập thơ Tiếng cuốc canh khuya của Nguyễn Trọng Cẩn, do Trung Kỳ thư xã ở Huế ấn hành năm 1937.

Nguồn:  Tuần báo Cười, Huế, s. 2 (thứ sáu, 8 Octobre 1937), tr. 4-5. Bản vi tính do Hồ sơ văn học thực hiện.