Trang chủ » 2017 » Tháng Hai

Monthly Archives: Tháng Hai 2017

MỘT GHI CHÉP CỦA CHẾ LAN VIÊN 1951: VĂN NGHỆ SĨ CHÀO MỪNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

VĂN NGHỆ CHÀO MỪNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TẠI HỘI NGHỊ CHẤP HÀNH MỞ RỘNG (LẦN THỨ 5) 18 – 20.3.1951

Buổi sáng, thường vụ Hội Văn nghệ đã giới thiệu Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị đã chào mừng. Giới thiệu trân trọng tâm thành. Chào mừng còn chân thực thiết tha, sôi nổi. Ở trong ta, văn nghệ và chính trị không cái nào trước cái nào sau, cái nào trong cái nào ngoài. Thì ở hội trường, hai vấn đề ấy, hai con người ấy đã hòa lẫn với nhau làm một. Giới thiệu và chào mừng là một. Văn nghệ và chính trị là một.

Anh Thế Lữ nói: “…Trước kia thời Pháp thuộc, tôi cho người văn nghệ không cần tham gia cách mạng”. Bác Phan Khôi nói: “Lâu nay tôi nói chuyện với các bạn nhiều lần nhưng chưa nói chính trị bao giờ…”. Đó có phải đâu là lời Thế Lữ, bác Phan Khôi…? Ngày xưa, chúng ta, ít nhiều, ai không nghĩ thế.

Nhưng sáng hôm ấy thì chúng ta đã nói chính trị. Lời nói chân thành là một việc làm. Bác Phan đã nói những lời chân thành nhất:

– Đảng Lao động Việt Nam ra đời. Nó tiếp tục các đảng cách mạng khác, nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương. Thế thì chúng ta phải hoan nghênh… nhưng không phải hoan nghênh vu vơ đâu! Phải biết vì sao chúng ta hoan nghênh? Từ hồi kháng chiến đến giờ ai lãnh đạo kháng chiến? Có phải những người mác-xít không? Mặc dầu chiến tranh, mà ta vẫn thạnh trị, thái bình. Có người nói cái bắp cải năm trăm đồng. Năm trăm đồng nhưng ta cũng đủ tiền mua. Không ai đói! Không ai cực. Mà chúng ta lại thắng giặc. Lãnh đạo như thế, không biết có ai bất đồng ý kiến không? Cho dù bất đồng ý kiến cũng phải hoan nghênh Đảng…

Tôi không được dự cái buổi bác Phan đi chiến dịch năm nào. Nhưng xem tả trong báo, thì đó là một hình ảnh đẹp. Tôi tưởng hình ảnh bác Phan hôm nay ở giữa hội trường, râu dài, tóc trắng, nói lên những lời rung động cả tâm can hội nghị, tôi tưởng hình ảnh ấy có lẽ còn đẹp hơn. Và nó cho tôi thấy lại cả cái quắc thước của bác Phan đi chiến dịch hôm nào nữa. Bác Phan ơi, bác đã già nhưng đường bác còn dài lắm, cây gậy của bác còn phải khỏe mới chống nổi bác đấy chứ chẳng chơi đâu.

Bác Ngô Tất Tố, anh Đào Duy Anh, anh Thế Lữ… Cứ như thế chúng ta lần lượt đua nhau lên phát biểu ý kiến.

Cụ đầu xứ thời nho học, tác giả “Lều chõng” và “Tắt đèn”, đã so sánh cuộc đời viết báo của mình ngày trước và bây giờ để kết luận:

– Đảng đã nêu ra khẩu hiệu dân tộc, khoa học, đại chúng, văn nghệ nhân dân. Những chủ trương ấy đã soi sáng đường đi cho văn hóa và văn nghệ…

Họa sĩ Sỹ Ngọc, đôi mắt cháy sáng dằn từng lời: “Chúng tôi là những người đã nửa kiếp sống trong xã hội Pháp thuộc. Chính sách văn hóa của Đảng Cộng sản Đông Dương đã cởi mở cho tinh thần và nghệ thuật chúng tôi! Đảng Lao động tiếp tục chính sách văn hóa ấy. Tôi xin chào mừng, hoan nghênh sự lãnh đạo của Đảng…”

Anh Đào Duy Anh chậm rãi, hiền hòa:

– Tôi thấy ở Đảng hai điều. Cơ sở tinh thần hay chủ nghĩa Mác-Lênin, và thứ hai là tổ chức. Chủ nghĩa ấy đã giúp rất nhiều cho sự nghiên cứu các khoa học, và riêng tôi, đã nhờ ánh sáng Mác-Lênin mà đã thu được kết quả trong việc tự học về khoa lịch sử. Về tổ chức thì tôi thấy với Đảng Lao động người trí thức có cảm giác là đoàn thể của mình, gần mình, rất có lợi cho sự đoàn kết nhân dân, đẩy kháng chiến đến thành công, đầy đủ, triệt để.

Đại biểu miền núi, anh Nông Ích Đạt, nói những câu chất phác nhưng thấm thía biết bao:

– Dưới Pháp thuộc, toàn dân lẹt đẹt. Miền núi lại càng lẹt đẹt. Bây giờ Đảng Lao động ra đời, tôi cũng hoang mang. Nhưng sau biết nó tiếp tục sự nghiệp của các đảng cách mạng trước, trong đó có Đảng Cộng sản Đông Dương, chúng tôi càng tin tưởng.

Chị Bích Thuận, nhanh, tươi:

– Không còn ai bị áp bức! Phụ nữ là một nửa số dân tộc cũng không còn bị áp bức. Đảng bảo vệ quyền lợi phụ nữ. Phụ nữ hoan hô Đảng là lẽ dĩ nhiên…

Cứ như thế, say sưa, tha thiết. Đảng bảo vệ nhân dân, Tổ quốc. Đảng giúp ích cho văn hóa, văn nghệ hay sự học của mình. Đảng giải phóng cho dân tộc hay giới mình… Đảng đã cứu vớt đời mình ra khỏi ngục tù nô lệ…

Mỗi người thấy Đảng một cách khác. Nhưng sung sướng bao nhiêu khi chúng ta tìm thấy trong Đảng hình ảnh của Cha Già. Họa sĩ Tô Ngọc Vân bằng những lời nhỏ nhẹ, thiết tha, sẽ kể:

– Ngày toàn quốc kháng chiến, tôi nghĩ: Tây mạnh lắm, đánh được nó phải có sức mạnh. Những chiến sĩ mác-xít là sức mạnh đó. Quả thật, mấy năm nay, chúng ta đã thành công. Bây giờ thấy trong chính cương của Đảng Lao động có nói: Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tôi càng tin tưởng…

Anh khẽ thấp giọng, ấm áp hơn, ngọt ngào hơn:

– Nhất là thấy sự có mặt của Hồ Chủ tịch. Tôi càng vững dạ thêm.

Hoan hô anh Vân! Cái chân lý giản dị nhưng to lớn ấy anh đã tìm ra. Phải rồi, ở đâu có Hồ Chủ tịch, ở đó ta phải vững dạ, an tâm. Ở đâu có Hồ Chủ tịch, ở đó ta phải tin tưởng. Phòng họp vỗ tay ran ran… Không là một cuộc phát biểu ý kiến nữa! Mà là một cuộc tự sự. Chúng ta đã nhìn Đảng bằng nhiều cách. Giờ là cách nhìn Đảng bằng trái tim. Đảng ràng buộc với chúng ta bằng những giây liên hệ riêng. Càng lâu chúng ta càng thấy những giây liên hệ ấy buộc vào những cảm tình sâu kín nhất.

Hội trường hẳn không bao giờ quên những lời của kiến trúc sư Luyện: “Tôi không sáng tác được gì, tôi rất khổ tâm cho đến gần đây được biết rằng văn nghệ cũng là những người lao động trí óc, chúng tôi được yên tâm hơn ở giữa những nặng nề của kháng chiến… Tôi là lao động trí óc, tôi thấy tôi có bổn phận, có quyền lợi đối với Đảng Lao động Việt Nam. Tôi sung sướng hoan nghênh Đảng”.

Và Nguyên Hồng. Những chữ nói dồn dập xô bồ vào nhau. Nguyên Hồng đã làm xúc cảm mọi người. Mọi người cùng với anh như đụng phải máu thịt của chính cuộc sống, của nhân dân đương quyết liệt kháng chiến dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam.

Buổi họp là một buổi tự sự lớn lao. Hơn thế nữa, đó là một cuộc tự kiểm thảo sôi nổi. Trong khi nhìn Đảng, chúng ta nhìn thấy chúng ta.

Bác Phan Khôi nhắc đến thời…

–… Tôi cũng dự vào cách mạng. Thế rồi có vợ có con! Tôi xin với anh em cho tôi thôi… Vì sao? Vì tôi sợ chết chém, ở tù… Tôi sợ gian khổ.

Anh Thế Lữ nói: “…Tôi đã bỏ bao nhiêu năm để tìm tòi hoạt động cho một nền kịch không phục vụ cho ai. Tôi đã quan niệm sai lầm về nghệ thuật”.

Chị Phan Thị Nga nói: “Tôi cũng có tham gia cách mạng hồi còn con gái mười sáu, mười bảy tuổi. Rồi có gia đình… Rồi những ý nghĩ lo lắng về gia đình làm mình xa đoàn thể…”

Tôi tưởng như đây là một buổi kết nạp hay tự phê bình của các đoàn thể nhân dân trong đó các đoàn viên đưa lên xốc xổ cuộc đời mình và tư tưởng mình. Ở đây cũng là một sự xốc xổ thanh toán như vậy.

Chúng ta không những có cảm tình, chúng ta còn phải có trách nhiệm. Chúng ta không những nói lên những cảm tình đó, chúng ta còn phải đi đến những hành động gì ngày mai đây… Đảng là quần chúng, Đảng là nhân dân. Đảng là sự mất còn của đất nước, của chúng ta. Không một ai có thể dửng dưng trước nó…Cuộc xốc xổ này chỉ là để thanh toán những cái cũ, trước khi đi đến những hành động mới, đánh dấu một giai đoạn mới của mình…

Bác Phan nói: “…Trước kia tôi không nói mác-xít. Vì theo mác-xít, nói thì phải làm. Tôi không làm được, không dám chịu chết chém, ở tù, thì tôi không nói… Nhưng bây giờ thì tôi sẽ nói mác-xít đây”.

Chị Phan Thị Nga: Tôi mong muốn có ngày được đứng trong hàng ngũ.

Anh Thế Lữ nói: Tôi sẽ cố gắng học tập.

Anh Tô Ngọc Vân nói: Trong hoàn cảnh kháng chiến, chúng ta không nên khó tính, đòi hỏi nhiều. Dù một việc nhỏ giao cho chúng ta, chúng ta cũng hết sức làm! Đó là cách chúng ta tin tưởng Đảng, hợp tác với Đảng.

Chúng ta đã nói hết lòng tin tưởng của chúng ta, nói hết sự thống nhất ý chí của chúng ta.

Tôi nhìn ra anh em. Cảm giác như mực nước đã cao thêm. Chúng ta đã trưởng thành! Cảm giác như rừng đã dày. Chúng ta là một! Tôi cảm thấy có đông người vây bọc lấy chúng ta… Đảng là ngọn lửa… Chúng ta cầm tay nhau làm một vòng quanh Đảng… Nhân dân quần chúng là một vòng ngoài ôm ấp lấy chúng ta. Đó là cái hình ảnh đến với tôi khi tôi đứng dậy ra khỏi phòng họp…

CHẾ LAN VIÊN

Nguồn:

Văn nghệ  [Việt Bắc], s. 29 (15.8.1951)

[Rút từ Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, tập 4: 1951, tập 5: 1952, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 2003, tr. 17-20]