Trang chủ » Posts tagged 'phê bình văn học'

Tag Archives: phê bình văn học

NHẬT TUẤN viết về LƯU TRỌNG LƯ: “Con nai… vờ ngơ ngác”

CON NAI … VỜ NGƠ NGÁC

 

 

Ngay sau khi giành được chính quyền ở Sài Gòn, nhà nước VN đã tổ chức “một khoá học tập gọi là khoá bồi dưỡng chính trị dành cho văn nghệ sĩ”, “cấp tốc đưa từ Hà Nội vào những nhân sự có vai vế trong giới văn học của miền Bắc như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bảo Định Giang, v.v.” nhà thơ Lưu Trọng Lư  “đã kể lại con đường phục vụ “cách mạng” của mình và kêu gọi văn nghệ sĩ miền Nam hãy mạnh dạn đi theo con đường mà ông đã trải qua”.

Thực ra chẳng phải chờ tới “khoá bồi dưỡng chính trị” này, ngay sau ngày Huế rơi vào tay “bộ đội giải phóng”, đứng trước cảnh nhà cháy, người chết, gia đình ly tán, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã “kể lại con đường của mình” bằng những lời sảng khoái, mừng rỡ trong bài thơ “Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi” :

“Đất này không phải xứ sở của thần tiên,

                    Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…

                    Đường ta đi thế đấy

                    Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi…”

Ba ngày sau khi tiếng súng đã tắt trên cố đô, đặt chân trên đường phố Huế, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã bịt tai che mắt sao mà không nhìn thấy những dấu tích máu còn lại sau tết Mậu Thân, những thảm trạng người với người giết nhau, giành giật nhau cơ hội sống còn trong trốn chạy, tưởng như “Thượng đế đã chết trong thành phố”, vậy mà trái tim thi nhân của nhà thơ vẫn reo vui:

“ Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…”

Phải đặt câu thơ vào thời khắc của lịch sử, người đời sau mới thấy hết được trái tim đen của thi nhân, ngòi bút của ông ta đã chấm vào mực hay máu để mà cười vui trước nỗi đau của dân tộc ?

“Như con ngựa đường trường

                    Ta về đây gõ móng

                    Trời cao đất rộng

                    Mở phanh vạt áo của hồn ta…”

Tháng Tư 1975, từ biệt thự cơ quan Hội nghệ sĩ sân khấu 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, “con ngựa đường trường” Lưu Trọng Lư đã phi thẳng tới “cố đô Huế” hỗn loạn để … gõ móng. Ông gõ vào ai vậy? Tất nhiên không phải vào “Ban quân quản thành phố”, không phải “đoàn quân chiến thắng xạm màu súng đạn”, cũng không phải  Đại Nội rợp trời cờ đỏ ? Vậy thì nó chỉ còn gõ móng vào nỗi đau của đồng loại trong “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng”, và liệu ông có coi những mẹ, những em, những nỗi đau “bọt bèo số phận” là “đồng loại” không? Chắc là không? Đồng loại của nhà thơ phải là những “mũ tai bèo đôi cánh đang bay”, những “em băng trong lửa đạn chiến hào, tóc nữ sinh cuốn theo vành mũ vải…”

Vô cảm với nỗi đau con người trong loạn lạc, Lưu Trọng Lư lại còn tự đấm ngực, bứt tóc, rên rỉ, gào rú cho thân phận của chính mình trước ngày ông có Đảng:

“Ôi ! bé bỏng một tấm thân người

Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết

Có nỗi thương của Giê-su, có nước mắt của Phật

Và trên tay áo này,

Trên tay áo này

Những giọt đau !

Những giọt đau !

…Trong cõi lạnh hư vô

Một con đò, ôi một con đò…”

Viện cả đức Chúa Giê-su và đức Phật Thích-ca ra để mà “phản tỉnh con người cũ” liệu có lôi kéo được ông Nguyễn Khắc Viện (người được Lưu Trọng Lư tặng bài thơ này) đi theo “Đường ta đi thế đấy…”:

“Ta một giang hồ thi sĩ

Dừng nghe tiếng gọi từ xoáy hồn ta

Hay tiếng gọi từ một bến bờ xa

Tiếng gọi từ một bến bờ xa

Tiếng gọi từ một bến bờ quang đãng

Trận gió Thu và những ngày Tháng Tám

Đắng cay sực tỉnh, mình lạnh mồ hôi…”

Đó, một “giang hồ thi sĩ” lớn như Lưu Trọng Lư còn đi theo Cách mạng Tháng Tám, huống hồ nhà viết sách “học làm người” như Nguyễn Khắc Viện còn chần chừ làm chi ? Thôi thôi hãy cùng nhà thơ lên đường:

“Rồi với kẻ cùng đi

Với những tấm lòng theo nhau vào trận đánh

Thế thôi ! mà sao vất vả rộn ràng…

Một ngày qua nhanh, tiếc ngẩn…”

Lời rủ rê này chẳng  riêng gửi bác Nguyễn Khắc Viện mà cho cả trên 400 văn nghệ sĩ Sài-gòn trong “khoá học chính trị” ngày đó. Các quý vị còn chần chừ gì nữa, hãy “theo nhau vào trận đánh”, chậm một ngày là tiếc ngẩn một ngày, đơn giản thế thôi mà sao cứ “vất vả” chần chừ mãi thế ? Tiếc thay, bỏ ngoài tai lời kêu gọi của nhà thơ, chỉ vài năm sau, gần 400 văn nghệ sĩ này đã bỏ của chạy lấy người, rủ nhau biến sạch ra…hải ngoại.

Làm thơ chưa đã, Lưu Trọng Lư còn diễn dịch ra 80 trang văn xuôi “Đường ta đi thế đó bạn lòng ơi…” để “giác ngộ thanh niên Huế”.

“ Sau khi Huế giải phóng được vài hôm, giữa phố Paul Bert cũ, tôi đã gặp mấy thanh niên… Cũng không hiểu sao, họ đã nhận ra tôi và điều đầu tiên là họ muốn biết từ “Tiếng thu” những bước đi của tôi như thế nào ?”

Và nhà thơ hãnh diện trả lời:

“Còn thế nào nữa ?

Tôi ngày nay đã là một người cộng sản. Với những người bạn trẻ ở miền Nam vừa được giải phóng, những bạn đã từ một đêm dài trở lại với ánh sáng, hôm nay tôi muốn có đôi lời gửi gắm…”

Nào các bạn thanh niên miền Nam vừa từ “đêm dài” trở lại “ánh sáng”, sắp được rời thành phố lên rừng đi kinh tế mới, sắp được khăn gói đi học tập cải tạo, sắp  được bước vào công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền Nam, các bạn hãy lắng nghe nhà thơ “Tiếng thu” ngày xưa, “cộng sản” ngày nay gửi gắm những lời lẽ gì?

Sau khi nhắc lại hình ảnh ông là chiếc thuyền nhỏ bé đi giữa hai bờ sống chết, nhà thơ tâm sự: “Câu thơ này thật ra có thể tổng kết cả một thời trai trẻ của tôi, nói lên cả một chân lý cuộc đời tôi…Thật là lênh đênh giữa hai bờ sống chết. Không phải thân thế tôi chỉ “giang hồ”  trong cuộc sống , mà tâm tư tôi còn “phiêu bạt” trong cõi đất trời mông lung mà tôi không hiểu nổi…”

Trong cả chục triệu thanh niên miền Nam trước 1975, liệu có được bao nhiêu người “lênh đênh giữa hai bờ sống chết”, “giang hồ” trong cuộc sống”, “tâm tư phiêu bạt trong trời  đất” như nhà thơ ? Khéo lắm chỉ có đám đâm thuê chém mướn, “đá cá lăn dưa” ở chợ Cầu Muối mới có cùng tâm trạng với ông, còn tuyệt đại đa số thanh niên miền Nam vốn chí thú làm ăn và coi gia đình là gốc,  vậy lời “gửi gắm” của ông còn có tác dụng gì? Thế nhưng ông vẫn kiên trì kể lể:

“Tôi có thể nói từ thủa nhỏ, từ nhà tôi, một nhà quan cũng như từ cung vua của Thái tử đi ra tám hướng, hướng nào cũng ngập những nỗi khổ đau của con người… Tôi đi tới phương nào cũng gặp những nối khổ đau của con người. Nào tôi đã làm gì để giảm nhẹ, để xoá bỏ nỗi đau khổ của con người ?”

“Đời là bể khổ” mà, Phật đã dạy rồi. Vậy là mang lý tưởng của Đức Như Lai, cậu bé Lưu Trọng Lư  lên đường để “xoá bỏ nỗi đau khổ của con người”. Ôi cao quý thay… Vậy cậu đã làm gì?

“Cũng chỉ đến đổ nước mắt thôi! Chỉ có nước mắt thôi, không cứu nổi con người đâu …”

Vậy thì cái gì cứu nổi con người?

Chẳng vòng vo gì nhiều, ông nhà thơ huỵch toẹt:

“Sau này khi tôi có bài thơ nói về Đảng của tôi, trong đó có câu:

                    “Mẹ không cho nhiều nước mắt Như Lai…”

Là ý nghĩa như thế, Đảng trân trọng những giọt nước mắt nhưng Đảng không khuyên con người cứ chết chìm trong nước mắt. Niệm một nghìn lần câu “Đời là bể khổ” cũng không cứu đời ra bể khổ…”.

Vậy là đã rõ, đứng trước mọi khổ đau của kiếp người cho dù bố đi cải tạo, mẹ vất vả thăm nuôi, chị gái ra đứng đường, em gái liếm lá ngoài chợ… thì cũng không nên “chết chìm trong nước mắt”. Vậy phải làm gì? Ông nhà thơ đã vạch cho tuổi trẻ miền Nam một lối thoát: tin yêu vào cuộc sống.

“Sự tin yêu cuộc sống đã cho tôi sức trẻ…Trong thơ văn tôi đã nhắc nhiều lần đến hai chữ “hồi sinh”. Trong bài thơ “Tiếng thu II” tôi có câu :

                    “ Những kiếp người tất tả hồi sinh”

Vậy “hồi sinh” tôi hiểu thế nào? Là từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn…” 

Rất chí lý, hàng triệu thanh niên miền Nam đã thực hiện y như lời gửi gắm của nhà thơ Lưu Trọng Lư, họ cũng từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối, xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn, chỉ tiếc rằng họ “hồi sinh” bằng “đôi chân” chạy trốn khỏi cái xứ sở thời đó mà đến cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ đi…

Tất nhiên ông nhà thơ không đời nào muốn tuổi trẻ miền Nam “hồi sinh” theo kiểu “bỏ phiếu bằng đôi chân” đó, ông muốn  các em trước hết hãy đi vào …nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê mà ông kêu to lên như người mới phát hiện ra chân lý:

“Ôi! Duy vật biện chứng pháp, bao nhiêu ngày tháng tôi triền miên trong cái trầm hương đó toát ra từ cái cốt lõi sự vật. Và mỗi ngày tôi ngắm xung quanh tôi muôn vàn biểu hiện, vô vàn biểu hiện phong phú, rực rỡ của cái người đời gọi là vật chất, cái duy nhất có thật ở đời…”

Ôi, ở miền Bắc sau hơn 20 năm nghiên cứu học tập, chẳng còn mấy ai tin vào cái “biện chứng pháp” ấy nữa, bởi vậy nhà thơ mới mang nó vào miền Nam, thật đúng là “củi mục bà để trong rương, hễ ai hỏi đến trầm hương của bà”…

 

Đặt chân rất sớm vào Sài gòn sau Tháng Tư 1975, từ Hội trường Khoá bồi dưỡng chính trị cho gần 400 văn nghệ sĩ  “chế độ cũ”, nhà thơ Lưu Trọng Lư  đi thẳng tới khám Chí Hoà …làm bài thơ “Tìm anh”:

“Đập cổng Chí Hoà không thấy bóng

                    Tay cầm hoa trắng , đi tìm anh…”

Nhà thơ tìm ai vậy? Có phải một bạn thơ cũ ngày trước làm việc cho Mỹ-ngụy hoặc họ hàng thân thuộc có dính dáng tới chính quyền cũ nay bị cách mạng bắt giam ?

                    “Qua cầu Công Lý nhìn mây nước

                    Tưởng thấy hình anh giữa biếc xanh…”

Hoá ra không phải, người mà nhà thơ cất công tới tận nhà ngục tìm chính là anh… Nguyễn văn Trỗi, chưa một lần gặp mặt mà chỉ biết tới qua bút ký “Sống như anh” của Trần Đình Vân. Trong thời điểm các nhà thơ miền Bắc mới đặt chân vào Sài gòn ngay sau ngày ông Dương Văn Minh tuyên bố “bàn giao chính quyền”, cũng nên nhắc tới Huyền Kiêu, một nhà thơ lão thành miền Bắc, khi vào Sài gòn đi ra ngoại ô đã cảm thán làm bài thơ “Gặp người thương binh  nguỵ trên cầu Bình Triệu”  với chút cảm thông, lập tức nhà thơ bị phê phán và bị đưa về “ngồi chơi xơi nước” tại NXB Văn Học.

Suốt cả đời thơ, Lưu Trọng Lư tuyệt nhiên không va vấp, không có câu thơ nào làm mếch lòng Đảng, không có bất kỳ một “tai nạn nghề nghiệp” nào như rất nhiều đồng nghiệp khác. Ngay cả mấy năm sau, năm 1979, nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, được lên Cao Bằng để chứng kiến bọn bành trướng Trung Quốc giết hại các em nhỏ ở một lớp học, được giao làm thơ để tố cáo bọn bá quyền dã man, nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng tính rằng đây chỉ là “ngọn gió quái”, sẽ qua mau, Trung Quốc vẫn “vừa là đồng chí vừa là anh em”, nên ông làm một bài thơ  giữ kẽ, rất chung chung, không dám nêu đích danh kẻ thù lúc đó là quân xâm lược Trung Quốc:

Tội giặc

                    Từ chiến địa trở về

                    Ngủ một đêm Đèo Gió

                    Trăng như vừng gương nhỏ

                    Trên tay em gái sàn

                    Nước máng từng giọt tràn

                    Như đàn tranh tưng tửng

                    Hương bưởi gần thoang thoảng

                    Nằm nghe gió rúc xa

                    Dưới ánh lửa hồng cô giáo Thuỷ

                    Nhớ trò, nhớ lớp ngồi ngẩn ngơ.

                                                      Cao Bằng 3-79

Với bọn Khơ-me đỏ, Pôn-pốt, Iêng Xa-ry cũng vậy, dẫu sao các “đồng chí” đó vẫn là cộng sản, chửi đích danh đâu có được:

Tới đây mắc võng Trường Sơn

Có thu trước mặt, có xuân bên mình

 … Sáng nay con đến ven rừng

Thấy cành hoa đẹp vết thương trên người

Chết rồi còn đỏ làn môi

Thấy sỗ sàng thân ngọc, con nghiêng cài áo khuy…

1981

Chỉ chung chung thế thôi, đâu có dám vạch mặt chỉ tên những đứa nào đã làm nhục mẹ. Cứ “giữ  kẽ”  vậy cho an toàn, biết đâu vài năm nữa các đồng chí đó lại “bốn phương vô sản đều là anh em” thì sao? Quả nhiên những bài văn thơ nêu tội ác đích danh bọn Trung Quốc xâm lược đều lặng lẽ biến mất khỏi sách báo, riêng có bài của Lưu Trọng Lư vẫn được in vào tuyển tập. Ca ngợi người anh hùng trong chiến tranh với Khơ-me đỏ và Trung Quốc cũng vậy, chẳng bù cho ngày trước lớn tiếng vạch mặt Mỹ-ngụy, nay không một chữ nào điểm mặt, chỉ tên quân thù :

Anh không ngồi đếm bao thu còn lại

                    Bao tuần lá đổ, vàng rơi

                    Khi cánh song anh khép kín cõi đời

                    Anh vẫn không tin: mình chết…

                    Khi gà mai mỗi ngày còn đập cánh

                    Ai tắt được lửa bình minh…

                                                     (Lẽ nào anh chết – 1981)

Cứ làm thơ theo định hướng chiến lược phân biệt “bạn thù” của Đảng kiểu “kẻ thù lâu năm của nhân dân ta vẫn là đế quốc Mỹ”, trái tim nhà thơ liệu có còn đập  theo những buồn vui trần thế nữa chăng? Trong những năm chiến tranh, đời sống  dân miền Bắc rất thê thảm, con nít sinh ra không đủ sữa, nhiều người phải giã đậu phọng thành nước cho con bú, triết gia Trần Đức Thảo ngày ngày đạp chiếc xe “Pơ-giô” con vịt – tức xe đạp con nít Liên Xô từ Khu tập thể Kim Liên tới Thư viện Khoa học xã hội, mang theo cái cặp lồng trong có hai cục bột mì luộc, trên đường ghé nhà ăn tập thể tranh thủ xin… bi-đông nước chè “một hào ba gói”. Trong khi đó Lưu Trọng Lư sống trong khu Ba Đình giành cho các quan, mua bán tại cửa hàng Tôn Đản là “chợ vua quan” làm sao thấu hiểu nỗi khổ dân chúng nên thơ ông tuyệt nhiên không một câu cảm thông những cảnh đời khốn khó. Suốt cả chục năm 1975-1986, ông vẫn  náu mình trong “Hoành sơn nhất đái” – ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng muôn thủa. Năm 1982, một anh bạn đi Pháp về cho coi ảnh chụp … bác Hồ ngủ trưa giữa ổ rơm ngoại thành Paris, Lưu Trọng Lư liền cảm khái thành thơ:

Giữa ổ rơm

Nằm nơi đất lạ, tình không lạ

                    Giấc ngủ tìm về giữa ổ rơm

                    Một đời gắn bó mùi rơm rạ

                    Mắt nhắm còn lo chuyện áo cơm…

Thế đấy, hàng triệu người già, trẻ con trong những năm tháng đó lấy rơm làm giường sao nhà thơ không buông một tiếng thở dài? Tiếc thay đó là điều cấm kỵ trong văn chương miền Bắc nên ông cứ ngó lơ, ngậm miệng “giữ ghế” cho … con cái đi học Liên Xô, dân chúng có khổ sở vì “giá, lương, tiền” ông vẫn reo vui :

“Đẹp lắm! trên đời những vấn vương

                    Chao ôi thiên lý một con đường…

                    Đi trong trời đất từ duyên ấy…”

Thưa vâng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “thiên lý” lắm, nếu cứ ở khu Ba Đình, hưởng sổ cung cấp Tôn Đản thì nhà thơ cứ đi mãi được và lại còn hô hào thanh niên:

“Chút lửa hồng, em hỡi

                    Ngày ấy, còn đỏ trên tay

                    “Nào lên đường đi! người trai trẻ !”

                    …Ta đi như một hiệp sĩ hôm nào…

                                                                               1986

Thày giáo dạy văn bình giảng bài này cho học sinh ắt hẳn sẽ tán “truyền thống cách mạng vẫn còn trong tay, nào lên đường noi gương các anh hùng liệt sĩ”. Nhưng lên đường đi đâu, chiến tranh đã qua rồi đâu còn mặt trận nữa? Chỗ này thì nhà thơ…tắc tị, đành lờ đi chứ còn biết nói sao? Không lẽ hô hào lên đường làm giàu, cái đó khỏi cần nhà thơ hô hào, hàng chục ngàn các cô gái nông thôn đã chẳng lên máy bay sang Đài Loan lấy tàu rồi đó sao?

Vậy nhưng thời thế rồi cũng đổi thay, sang kỳ kinh tế thị trường, đề tài “ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng”  xem ra mất khách, dải “Hoành sơn nhất đái” không còn là nơi dung thân vạn đại cho những con chim chỉ biết hót véo von trong lồng son cóng sứ. Ngay nhà văn quân đội gạo cội Nguyễn Minh Châu cũng phải đọc “Lời ai điếu cho văn chương minh hoạ”,…

Và, “theo phong trào” Lưu Trọng Lư cũng viết sách thị trường. Năm 1989 cho ra đời cuốn hồi ký “Nửa đêm sực tỉnh”. Ai chà, đọc cái tựa sách cũng đã thấy đậm màu “phản tỉnh” – nửa đêm chợt tỉnh giấc để suy nghĩ gì đây? Ăn năn, sám hối về quãng đời đã qua? Xét lại đường lối  văn nghệ của Đảng  đã đưa Lưu Trọng Lư đến chỗ bạt vía nàng thơ? Không phải! Để làm yên lòng tuyên huấn và gây tò mò cho độc giả bỏ tiền mua, sách có ghi rõ phụ đề “Hồi ký – Nhớ lại những mối tình”. Vậy một mũi tên trúng cả hai đích, ổn thoả đôi đường, Đảng yên tâm mà đầu nậu bỏ tiền in sách cũng yên trí.

Gọi là “nhớ lại những mối tình” nhưng tác giả đã bỏ qua cái phần hay nhất là những “cuộc tình cô đầu”  để kể chuyện hai bà vợ chính thức và những giao tiếp các tên tuổi nổi danh như Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đỗ Cung, Điềm Phùng Thị… qua đó nêu bật được con đường từ dòng dõi danh gia vọng tộc đến với cách mạng như thế nào. Bà vợ đầu là một cô gái Hội An, sau một lần gặp ở Huế đã lặn lội ra tận Hà Nội gặp nhà thơ để “ngày nào cũng đi chơi với nhau”. Hoá ra cô Tài là người hùn vốn sản xuất dầu tràm nhãn hiệu Thanh Thuỷ, trùng với một bút hiệu của nhà thơ bởi thế đem lòng quý mến. Cưới cô Tài ít lâu, nhà thơ đưa vợ về quê Quảng Bình sống trong ngôi nhà nhỏ ven sông Gianh; nhờ vào tiền vợ nên ngày ngày chỉ “sớm leo núi, chiều bơi thuyền”. Khi tiền cạn, vợ chồng đành dọn về Huế tìm kế sinh nhai. Thời gian này Lưu Trọng Lư cho ra đời truyện ngắn “Người sơn nhân” mà theo lời tác giả được cụ Phan Khôi “đã đưa cuốn truyện của tôi lên mây xanh” với lời tâng bốc “văn đàn cho đến nay chưa có tác phẩm nào có giá trị sáng tạo như thế…”.  Cùng lúc đó những bài thơ mới đầu tiên của Lưu Trọng Lư ra đời gây xôn xao dư luận tạo đà cho nhà thơ đưa cả gia đình ra Hà Nội, nơi phồn hoa đô hội, đâu ngờ ra đó “khác gì số phận một chiếc thuyền nan bé nhỏ giữa ngàn sóng đại dương”. Lúc đầu nhiều người tìm tới để “mua lúa non”, giao tiền chưa cần bản thảo, chỉ cần “khi hứng ông viết vài câu để lại cho đời”. Thế rồi “cơm áo không đùa với khách thơ”, nhà thơ than thở: “Bên những bài thơ trong sạch là “ Khói lam chiều”, “Voi già vua Hàm Nghi”, “Cầu sương điếm cỏ”….lương tâm nhà văn đã qua những bước chán chường mệt mỏi. Tôi sẵn sàng viết những tiểu thuyết để làm vui lòng những tiểu thư, những bà lớn, những cô gái tân thời…”.

Một lời tự thú thật hiếm hoi trong sự nghiệp văn chương Lưu Trọng Lư!

Tiếc thay, giá lời tự thú này được viết 50 năm sau đó, thì trước khi trở về với đất, “con nai vàng” còn lưu lại chút ngậm ngùi trong lòng người đọc.

Nhưng rồi dù có viết để “vui lòng các bà các cô” đi chăng nữa, nhà thơ cũng không trụ nổi đất Hà thành, đành dắt díu nhau về Thanh Hoá dạy học, sống đời công chức tỉnh lẻ. Dăm năm sau, bà vợ đầu mất đi, để lại cho nhà thơ hai đứa con nhỏ, và như lời tác giả: “kết thúc mười năm tình nghĩa” “một chương mới của đời tôi đã mở ra”.

Chương mới đó là chuyện tình thứ hai và cũng là sau cùng, chiếm tới 9/10 “Nửa đêm sực tỉnh”. Lúc này nhà thơ đã vào tuổi tam thập, đang thất vọng vì thơ không nuôi nổi người, “cái buồn, cái đau, cái tuyệt vọng để bán liệu có ai mua?”. Có lần, đọc vài đoạn trong kịch thơ “Ngọc Du, Ngọc Duệ” trước một cử toạ ít người, nhà thơ cảm thán thân phận “không còn một chỗ ngồi, chỗ đứng, một nẻo đi…” đến mức  “như không còn kiểm soát được mình nữa, sẵn có bao quẹt trong túi, tôi đốt luôn tập thơ của tôi trên tay…”.

Đó là lần duy nhất đốt bản thảo! Tiếc thay, từ đó về sau, nhà thơ không lặp lại cái việc đáng làm này nữa. Chắc vì đã có “một chỗ ngồi, một chỗ đứng” trong làng thơ và đã có “một nẻo đi” theo cách mạng chứ không bế tắc như hồi chưa có Đảng nữa. Tất nhiên,  giúp nhà thơ thoát khỏi bế tắc lúc đó chưa phải Đảng mà vẫn là… tình yêu.

Cô gái đó – tên Mừng và là bà vợ sau chót, cũng dòng hoàng tộc, con gái một thày đờn, trước khi chết đã kịp truyền cho con gái mọi ngón nghề đàn tranh để sau này cô dạy cho giới quan lại, quý tộc, “dạy  cho cả con gái Phạm Quỳnh, quen vào ra các nơi dinh thự”,  và sau cách mạng được “anh Nguyễn Chí Thanh cũng như anh Tố Hữu thường khen: đàn của Mừng rất lạc quan, rất tươi”.

Sau khi bố chết, cô Mừng được mẹ hứa gả cho một công chức giàu có, “môn đăng hộ đối”. Ấy thế rồi chẳng hiểu có ma đưa lối tiên dẫn đường, hay vì tâm hồn lãng mạn, trái tim cô “lạc nẻo” sang chàng thi sĩ nghèo kiết xác, đáng tuổi cha chú, đã một đời vợ và hai con riêng. Tất nhiên bà mẹ phản đối quyết liệt mối tình trong con mắt bà là cọc cạch và phi đạo đức. Nhưng ngăn sao được ma lực của những vần thơ rót vào tai, chảy xuống tim con gái bà? Theo nhà thơ kể lại, một ngày nọ, chẳng hiểu thi sĩ dỗ ngon dỗ ngọt ra sao, cô gái con nhà gia giáo tên Mừng đó đã nói dối mẹ để hẹn hò người tình “qua đêm” trên một chiếc thuyền nhỏ đi xa khỏi Huế.

“Đêm ấy, gió cứ thổi. Thuyền cứ trôi. Chúng tôi không cần biết thuyền ngược lên Tuần hay xuôi tới cửa Thuận. Nếu tình yêu có đỉnh cao, thì đây là đêm thiên thai của chúng tôi…”.

Vậy là sau cái đêm “động phòng” trên sông ấy, “chẳng cần những cái gọi là lễ hỏi, lễ cưới ở trên đời”, ông nhà thơ đã phỗng tay trên cô vợ sắp cưới của anh công chức và đứa con gái rượu của một bà mạ xứ Huế hết lòng thương con. Bù đắp lại, cô gái được nhà thơ ca ngợi :

“Em là chim ý nhi

                    Vơ vẩn dưới gốc thuỳ

                    Thẩn thơ tình nghệ sĩ

                    Thơ thẩn cơn chia ly

                    Em chở một hồn đầy…”

Vậy mới biết, “dùng bút làm đòn xoay chế độ” chưa thấy đâu, nhưng cứ rót vào tai nàng những vần thơ như thế thì đến mười bà mẹ cũng phải chào thua chịu mất con gái cho thi sĩ.

Riêng bà mẹ cô Mừng không dễ chịu thua, bà phản kháng quyết liệt. Sau đêm đi hoang, cô gái viết thư cho nhà thơ: “Ra đến giữa sân mạ gọi lại: Mừng vào đây tao hỏi. Một buổi chiều, một ngày, một đêm mày đi với ai, mày đi những đâu… đừng nói nữa tao biết cả rồi. Dưới nhà “anh ấy” (tức chồng sắp cưới) cũng biết cả rồi, khỏi phải nói. Mày đi với “chú mày” (tức nhà thơ), mày đi giữa phố có thèm tránh ai đâu. Từ lúc nào mạ chuẩn bị sẵn một thanh củi. Cứ thế mà phang vào em, bên hông trái, bên hông phải. Em nói: mạ cứ đánh đi… Mạ giựt tóc em, bứt đừng khuy áo em ra, giựt cả vòng ngọc em đeo nơi cổ. Những hạt ngọc văng ra tung toé…”. Đúng là một bi kịch Romeo và Juliette thời “thơ mới” ở Việt Nam. Duy có điều chàng Romeo xứ Mít  chẳng hành động gì hết, chẳng tới dàn xếp với vị hôn phu của người yêu, cũng chẳng tới quỳ xuống xin “mạ” tha thứ, chàng chẳng làm gì ngoài… làm thơ. “Quả tình tôi là một kẻ bất lực. Tôi chỉ biết ngồi chờ Mừng đối phó, chờ Mừng hành động. Tôi bị gạt ra ngoài vùng lo toan, mưu kế của Mùng. Tôi tin rằng trước bao sự doạ dẫm hay doạ nạt của người mẹ, Mừng chẳng đầu hàng. Đau đớn càng nhiều, Mừng càng gắn bó, chung thuỷ với tôi…”. Nhà thơ đã tiên đoán đúng, chỉ một tháng sau, nàng Juliette đã trốn nhà đi theo chàng Romeo trên chuyến tàu lửa về Đà Nẵng xây tổ ấm…

“Mừng quyết định bứt đồ trang sức ra khỏi thịt da, đem đi cầm đi cố. Cả vòng chuỗi ngọc cũng đã ra đi…”. Rồi đến lúc chẳng còn gì để bán nữa, hai trái tim vàng không thể uống nước lã cầm hơi trong túp lều tranh, và  cô gái đã quyết định: “Không thể như thế này được nữa đâu. Em phải về thôi”, Mừng khóc ré lên như một đứa trẻ…”.

Cô gái trở về không phải để xin xỏ mẹ mà vì – theo tác giả “Mừng đã sung sướng rỉ vào tai tôi: Cụ Hồ Chí Minh đã về ngoài ấy…”.

Ôi chao ôi, tiền hết gạo cạn thì cái sự “trở về” của cô gái chẳng qua để xin tiền mẹ là rõ rồi, vậy mà ông nhà thơ lại bịa ra một cái cớ tận đẩu tận đâu. Rồi hứng lên, ông đặt vào miệng người yêu lời lẽ chỉ có ở nữ nhân vật tiểu thuyết những năm 1960 sau này:

“Mừng còn nói thêm: Em tin cách mạng sẽ đến, em sẽ đứng trước toà án cách mạng, em bảo vệ tình yêu của em…”.

Và thế là bi kịch Romeo Juliette thời tiền chiến ở Việt Nam nay đã có “ông Bụt”… cách mạng hiện lên để gỡ rối mọi chuyện. Nàng trở về nhà, ít ngày sau chàng cũng về theo và phép mầu thần kỳ của “ông Bụt” đã xảy ra, khi nhà thơ về tới Huế:

“Thành phố đã lên đèn đã lâu. Tôi đứng nhìn xuống sông, hứng ngọn gió thì nghe có tiếng trống nhịp. Khúc hát hành quân. Tôi ngẩng lên bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người cầm cờ đi trước…một cô gái mặc cái áo thô đen trông giống Mừng và tôi phóng mắt nhìn kỹ lại: Mừng. Tôi không chạy tới Mừng. Tôi cũng chẳng kêu to tên Mừng…Tôi cứ thế, bước theo đám biểu tình …”.

Ôi trời ôi, sao mà “tốc độ” quá vậy? Một người con gái hoàng tộc, bỏ nhà theo trai, hết tiền quay về với mẹ mà thoắt cái, hôm trước hôm sau đã trở thành… nữ chiến sĩ cách mạng cầm cờ đi đầu đoàn biểu tình, thì quả thực trí tưởng tượng của nhà thơ đã vượt quá sức chịu đựng của người đọc.

Ấy vậy mà “cảm hứng bốc phét ” của thi sĩ vẫn chưa chịu dừng lại, ông còn đi tới luôn, “sáng tác” ra câu chuyện:

“Sau khi ở cửa Ngọ môn, Bảo Đại tuyên bố thoái vị để được làm người dân của một nước tự do thì một hôm người con gái cũng ở trong hoàng tộc được gọi ra trước một toà án, trước công chúng đông đảo, trẻ trung và nàng đã dõng dạc tuyên bố: “Người chồng chưa cưới của tôi là một người đáng quý trọng, nhưng duyên chẳng đưa, phận không đẩy, tôi bị ép một bề. Tiền dặm hỏi, tôi xin trả lại. Bây giờ cách mạng đến rồi. Tôi yêu ai tôi lấy người ấy. Đó là việc của tôi. Cách mạng đã giải phóng đất nước, lẽ nào chẳng giải phóng trái tim tôi. Xin cám ơn cách mạng đã  mở ra toà án này cho tôi được nói rõ lòng tôi. Tôi chẳng có gì tội lỗi hết, phong kiến bắt tôi bỏ người tôi yêu để lấy người tôi không yêu”. Quần chúng vỗ tay… nhìn lên các quan toà, người nào người nấy mặt mày đều hớn hở. Mừng về báo cho tôi biết: Mừng thắng rồi…”

Tội nghiệp bà mẹ mang nặng đẻ đau bị con gái yêu kết ngay cho cái tội “phong kiến”, một trọng tội thời bấy giờ, và từ lúc đó bà cũng biến luôn khỏi tâm trí đôi vợ chồng trẻ. Tội nghiệp vị hôn phu, cách mạng nổ ra lo giữ cái thân hoàng tộc chẳng xong, còn đâu dám kiện một “nữ chiến sĩ cách mạng” tội từ hôn. Vả chăng đôi uyên ương tiền ăn còn chẳng có lấy đâu ra trả lại “tiền dặm cưới” ?

Cuốn “Nửa đêm sực tỉnh”  của Lưu Trọng Lư không còn là “hồi ức”  nữa, nó là một thứ “truyện tưởng tượng” thì đúng hơn. Tới đây, nhà thơ “hồi ức” toàn chuyện cách mạng. Nào “Như một luồng gió cách mạng thổi tới, tôi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh và anh Tố Hữu. Anh Thanh xông xáo, chân thành chân thật. …Tố Hữu mũm mĩm, tráng trẻo thư sinh…các anh là những người còn rất trẻ, rất nhanh nhẹn, linh hoạt, có nhiều tài năng – những con người của mọi tình thế…” − hết mức tán dương. Nào là “chúng tôi ở chung, ăn chung với anh Lưu Quý Kỳ, anh Trần Hữu Dực …”

Thế là “Hồi ký, nhớ lại những mối tình” của Lưu Trọng Lư  đã biến thành hồi ký cách mạng! Thảo nào nó chỉ được xuất bản có mỗi một lần thời xoá bao cấp chuyển sang kinh tế thị truờng. Từ đó đến nay chẳng còn thấy ló dạng trên các quầy tầng tầng lớp lớp những sách tái bản của các nhà văn nhà thơ tiền chiến…

 

 

Vậy là trên “mặt trận” thơ và văn xuôi, dẫu có hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, nhưng cái cốt lõi làm nên văn chương là giá trị nghệ thuật của nó thì Lưu Trọng Lư chẳng tạo được bao nhiêu để ít ra cũng được báo chí Nhà nước tung hô một thời. Trong khi đó các nhà văn, nhà thơ cùng trang lứa như Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài … lại nổi đình đám với những “Vỡ bờ”, “Truyện Tây Bắc”, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… tuần nào cũng có bài nghễu nghện trên báo Văn Nghệ. Thêm nữa Hội nhà văn VN là chỗ “quần hùng tụ hội”, những chiếc ghế béo bở đã bị mấy cha từ Việt Bắc trở về giành hết, chen chân vào đó dẫu có anh Lành bảo kê, “con nai vàng” dù có vờ ngơ ngác cũng chẳng kiếm được bao nhiêu bổng lộc. Thôi thì “đầu gà hơn đuôi trâu” làm anh hùng nhất khoảnh ở Hội sân khấu lại chẳng hơn một xuất Uỷ viên Thường vụ Hội nhà văn ư? Thế là ông nhà thơ quyết tiến công vào một mặt trận mà chẳng mấy anh nhà văn muốn chen chân vô: viết kịch, nhất lại là kịch thơ.

Và thế là văn chương Lưu Trọng Lư có một mảng ít người biết nhưng nếu không nhắc tới thì việc đánh giá sự nghiệp thật oan uổng cho thi sĩ  lắm. Kịch phẩm hàng đầu của Lưu thi sĩ là “Tuổi hai mươi” – kịch thơ dài viết trong những năm 1966-1971 mà khi ra đời, thi sĩ Chế Lan Viên đã xỏ ngọt rằng: “Các em mà anh Lư nói đó bây giờ cũng ngoại sáu mươi chứ không còn tuổi hai mươi như anh viết nữa”. Thi sĩ Lưu Trọng Lư nóng mặt, đáp lại rằng “Đây là tôi viết cho lứa tuổi hai mươi còn lứa tuổi sáu mươi phải nhờ ông vậy…”

Vậy Lưu Trọng Lư đã viết gì cho “tuổi hai mươi”?

Mở màn  chị Trăng “giao lưu” với các cây Mận, Đào, Xoan, Trúc.. Chị than thở:

Từ trong hoàn vũ vô biên

                    Ta lăn quanh bóng chị dâu hiền

                    Chị yêu dấu muôn vàn: Chị Đất

                    Ôi nửa mình chị chảy đầy nước mắt

                    Chìm đi trong bóng tối đặc dày…

Hoá ra “chị Trăng” cũng mang nỗi đau…chia cắt, y hệt “cảm hứng thời đại” lúc đó Đảng quy định cho văn nghệ sĩ. Nửa đêm về sáng rồi cuộc trò chuyện giữa Trăng và Cây vẫn còn rôm rả. Bất chợt ở ngoài cầu ao có tiếng chân khua xuống nước. Ai vậy nhỉ? Ai mà giữa đêm hôm khuya khoắt còn chưa đi ngủ còn ra ngoài ao vầy nước nhỉ ? Cô Đào nói rằng chắc cô con dâu nhà mẹ Xuân, xa chồng không ngủ được nên mới ra tắm ao vậy thôi. Cô Mận mới hỏi rằng bà Xuân có những 3 cô dâu, vậy cô nào “khó ngủ vì vắng chồng”. Lập tức bác Mít nổi giận “con Mận con Đào hay nói tào lao”, xúc phạm phụ nữ cách mạng:

“làng này ai không biết

                    Ba cô dâu đẹp nhà mẹ Xuân

                    Tái nhập ngũ một lần

                    Cả ba ông đều đi bộ đội

                    Cơm chung nấu một nồi

                    Con: chẳng con chị con tôi

                    Xóm dưới làng trên thảy đều mến phục…”

Ba cô vợ bộ đội mẫu mực như vậy, làm gì có chuyện nửa đêm nửa hôm còn ra cầu ao “chao chân” làm gì ? Vậy thì người đó là ai ? Cô Đào dự đoán :

“Đúng rồi! Trót thả măng (cá măng) với trắm mè sợ măng già sục sạo đêm khuya. Cô kỹ thuật phải  ra cầu ao ngồi gác..”

Các cô cãi nhau loạn cào cào, “cô dâu” bà mẹ Xuân chẳng phải, cô kỹ thuật nuôi cá cũng không, vậy thì ai là người đó ? Cô Trúc lại đoán:

“Chắc mẹ Đối lo cho con

                    Sáng nay đã lên đường

                    Lo cho dâu: hoa đến thì, xuân đợi

                    Và thương cho mình tóc đã điểm sương…”

Lo lắng trăm bề vậy chắc nửa đêm chẳng ngủ được nên mẹ ra cầu ao rửa chân hẳn? Không phải, bà mẹ VN có con đi bộ đội thì phải hãnh diện tự hào chớ, làm gì có chuyện “lo lắng cá nhân” vậy ? “Tính kịch” mỗi lúc một tăng cao khi  cái bóng người ngoài cầu ao hiện rõ ra là một…ông già. Mà cũng không phải ông già, chính là hồn của bố bà Xuân, tức người ông trong gia đình hiện về thăm con cháu.  Lão Mít lập tức nhớ lại cảnh khổ thời phong kiến, trước khi có Đảng phát động cải cách ruộng đất :

“Thuở thằng Chánh Yên …mùa vừa chín tới

                    Sóc trên cây chưa ngửi thấy mùi

                    Thằng Chánh Yên dẫn xác tới rồi

                    Lấy sào chọc đếm từng quả…

                    Quả đầu mùa màng biếu nó

                    Quả cuối mùa màng biếu nốt mới yên…”

Tội ác địa chủ ghê gớm chưa, nhưng bác Mít cho biết nay đã đổi đời rồi, “thằng Chánh Yên: của trời trả đất, giặc Pháp cũng lui rồi..”. Lúc này, người ông mới cho biết ông cũng là dân binh đánh Tây:

“Một đời ta trải bao nhọc nhằn gian khổ

                    Mắt từng quen cảnh sống chết chiến trường

                    Hạt gạo dân binh từng quẩy gánh

                    Súng trên tay từng gác núi Vụ Quang…”

Vậy là “người ông” đã một đời đánh Tây, cay đắng đủ mùi, lẽ ra chỉ mong con cháu sống thanh bình, sinh con đẻ cái, vậy mà không, ông chỉ  trở lại xem con cháu có “tiếp nối cha anh”  lên đường đánh Tây  không hay là an phận thủ thường. Và ông mừng rỡ khi đứa cháu cũng lại “tay súng lên đường”:

“Ai thế nhỉ ? Khăn gói lên đường

                    Lại trên vai khẩu súng

                    Chắc sắp sửa lên đường…”

Và người ông reo mừng :

“Chà! dáng đi vẻ đứng hiên ngang

                    Cháu yêu ta đó!

                    Đúng rồi: cháu yêu ta đó…”

Ôi chao ôi, ông ơi là ông, sao chỉ thích cháu “cầm súng ra chiến trường”, sao không mong đời cháu sung sướng, mát mặt hơn đời ông? Quả nhiên, đúng ý ông, đứa cháu cũng sắp lên đường nhập ngũ, nó ra đây để chờ chia tay người yêu. Trong giờ phút ly biệt này, nó nghĩ gì vậy? Nó không nghĩ vì sao nó phải dứt ruột chia tay mẹ, chia tay người yêu, nó không lo khi nó đi rồi, mẹ già có mạnh khoẻ, người yêu liệu còn trung thành với nó, mà chỉ nghĩ:

“Thương mẹ khi tắt đèn tối lửa

                    Cũng thương em khi “việc đội”, “việc đoàn”

                    Việc chung cũng trọn, việc riêng cũng tròn…”

Vậy là nó chỉ lo người yêu không hoàn thành nhiệm vụ sản xuất chiến đấu của người “em gái hậu phương” chứ đâu có bịn rịn, lưu luyến lúc sắp chia xa. Và rồi người con gái cũng xuất hiện…súng trên vai làm “người ông” khoái trá:

“Cô nào đấy nữa

                    Mặt mày coi sáng sủa

                    Cũng lại súng trên vai…”

Rặt những… súng là súng, đi đến chỗ hẹn người yêu chia tay đi xa, cũng không quên mang súng theo. Cô gái này thật đã làm đúng y boong lời dạy của Mao Chủ tịch: “Bất ái hồng nhan, ái…vũ trang…”. Người con gái chẳng cần son phấn gì hết, cứ khoác súng lên vai là…đẹp rồi. Và bác Mít trả lời “người ông”:

“Cháu dâu bác đó, bác ơi

                    Và người trai kia, thật cháu bác

                    Người thanh niên của Tổ Quốc

                    Súng trên vai sắp sửa lên đường…”

Rồi sợ “người ông” chưa hiểu lên đường đánh ai, bác Mít giảng giải :

“Nhưng bác ơi! Giặc Pháp đuổi rồi

                    Giặc Mỹ đến liền

                    Hai mươi năm đường đầy lang sói

                    Hai mươi năm sông đỏ oán hờn…”

Rồi như  sợ “người ông” chưa thấu rõ “tội ác giặc Mỹ xâm lược”, mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc xúm vào kể lể:

“Con nai gầy bên suối

                    Cành hoa héo giữa đồi

                    Lúa vàng đốt dưới ruộng

                    Nụ cười chết trên môi…

                    Ruột liền cắt đoạn

                    Giọt máu cắn đôi…”

Kinh khủng chưa, giặc Mỹ tới thì đến…con nai cũng gầy, hoa cũng héo, lúa cũng cháy và đến nụ cười  cũng…chết. Chỗ này ông nhà thơ quên dứt chủ nghĩa lạc quan cách mạng với hình tượng “nụ cười Võ thị Thắng” trước họng súng quân thù. Giặc giã độc ác vậy nên các cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đồng thanh:

Trai “sẵn sàng” băng miền hoả tuyến

                    Gái “đảm đang” ở lại hậu phương

                    Vì Tổ Quốc, đi, ở, đôi đường

                    Tuổi thanh niên đã nguyện xem thường…

“Người ông” còn thắc mắc nếu chiến tranh kéo dài liệu con cháu có còn coi rẻ tuổi thanh niên nữa không? Ông hỏi :

Dẫu mười năm xa cách

                    Tuổi thanh niên đã nguyện coi thường ?

Bác Mít trả lời ngay :

Vâng, đã nguyện xem thường

                    Dẫu ràng giữa tuổi yêu đương

                    Cốc rượu hồng bên môi mới bén

                    Khúc hát đêm qua vừa trao hẹn

                    Sáng nay hoa tiễn, vẫn tươi cười…

Đó “người ông” cứ yên tâm, con cháu chúng ta như thế đấy. Dù chỉ mới qua một đêm tân hôn, sáng mai phải ly biệt nhưng đôi trai gái vẫn…tươi cười. Nhà thơ “mô tả tâm lý nhân vật” như vậy thì…hết chỗ nói.

Lúc này  “người mẹ” cũng đã bước ra, bởi lẽ bà đang ngủ “nửa đêm sực tỉnh, bên cầu ao, ta nghe có tiếng chân chao, ai thế nhỉ ?”. Bà quên phứt ngay con trai mờ sáng nó sẽ dứt áo ra chiến trường, bà cứ đánh một giấc ngon lành mãi khi nghe tiếng chân khua nước ngoài cầu ao mới tỉnh dậy ra coi sao? Bà quanh quẩn một hồi chẳng thấy ai, sờ vào quả mít, bà mới nhớ ra con sắp đi chiến trường :

“Mít kia chẳng mai kia sẽ chín

                    Cũng muốn con ăn một miếng cho vui

                    Nhưng việc dân, việc nước lửa bỏng nước sôi…”

Vậy thì con cứ đi cho nhanh nhé, việc nước quan trọng hơn…ăn mít. Than ôi, có bà mẹ nào sốt ruột cho con đi ngay vào nơi mũi tên hòn đạn như ngày nay giục con đi lĩnh xổ số giải độc đắc vậy? Viết lách như thế, trách gì thể loại kịch thơ đã…chết bất đắc kỳ tử trên sân khấu Việt Nam kể từ khi nhà thơ Lưu Trọng Lư chiếm lĩnh “trận địa” này ?

 

 

“Bà mẹ” đã “cách mạng” tới mức đó, ấy vậy mà vẫn còn bị ông nhà thơ trách móc:

“Sao không học gương mẹ già thuở trước

                    Cũng thức suốt đêm thâu

                    Nhưng để may cờ cứu nước

                    Kịp cho con gà gáy lên đường…”

Chẳng hiểu có “cái thuở nào”  lại có bà mẹ “quái thai” đến thế, sáng sớm hôm sau con trai đã đi vào tử địa mà đêm đó bà vẫn còn ngồi…may cờ? Cảm hứng “ra trận” quá đà làm ông nhà thơ cứ bịa ra những chuyện trời ơi đất hỡi vậy.

Rồi cũng tới cảnh “chinh phu, chinh phụ” thời chống Mỹ. “Người con trai” và “người con gái” ngồi xuống một tảng đá. Ôi chao, trong lúc tử biệt sinh ly, lẽ ra hai con tim phải hoà chung thống khổ, ngờ  đâu cô gái mở miệng:

“Anh ra đi mẹ có dặn gì ?”

Chàng trai phấn khởi:

“Mẹ cười, mẹ bảo

                    Việc nước con cứ đi

                    Việc hợp tác, việc nhà                                    

Có tao có nó…”

Bất chấp tình cảm tự nhiên trai gái khi ly biệt, ông tác giả kịch bản bắt đôi uyên ương sắp rời cánh …ca bài sản xuất và chiến đấu. Cô gái nức nở:

“Nhớ anh em mở một đường cày

                    xách dăm gầu nước tưới cây anh trồng

                         … Em đi đón dòng “cá bột”

                    Mang giống về chọn lọc em ươm

                    Một năm anh về, hai năm anh về

                    Mười  năm anh về, cá lớp lớp sinh sôi

                    Nhớ anh thế đó, anh ơi…”

Chàng trai cũng sụt sùi:

“Kẻ địch nào chẳng thắng em ơi,

                    Khó khăn nào anh không vượt nổi ?

                    Nhớ lời Bác dạy

                    Nghìn sông anh cũng lội

                    Vạn đèo anh cũng băng…”

Tâm tình lâm ly xong rồi, tới “tiết mục tặng quà”. Cô gái  tặng “gói kim chỉ” để áo rách anh tự vá, còn anh trai tặng gì ? Cô gái đoán …  cuốn sách dạy trồng dâu ? Không phải. Thôi đúng hạt giống rau rồi ? Cũng không phải, cô lại đoán:

“Phải rồi , anh cho em chiếc lược

                    Bằng thép mỏng máy báy?”

Anh con trai nổi tự ái :

“Nếu là chiếc lược em ơi,

                    Thì hãy đợi một ngày

                    Khi tự tay anh hạ lấy

                    Con “thần sấm” giữa trời

                    Và tự tay anh chuốt thành lược…

Ghê chưa, nếu em muốn anh tặng lược thì đợi anh bắn rơi máy bay Mỹ lấy mảnh nhôm đã. Các nhà chế tạo máy bay Mỹ cần chú ý chi tiết này, nên làm sẵn vài ngàn chiếc lược, phòng khi máy bay hạ cánh khẩn cấp trên đất Việt, còn có cơ đàm phán cẩu nguyên chiếc về kẻo máy móc bị xả thịt làm… lược. Khi cô gái chịu thua không đoán được, chàng trai mới “bật mí”. Tưởng gì quý báu, hoá ra là…chiếc gương. Đã vậy còn dặn dò:

“Những khi cày xong một buổi

                    Em ra gốc muỗm em ngồi

                    Em lấy gương đẹp ra soi

                    Trận đấu chiều đã vãn

                    Em lấy gương đẹp ra soi

                    Em gỡ những vết bùn trên tóc…”

Vậy em nhớ nhé, gương này anh tặng chỉ  dùng trong…sản xuất chiến đấu, còn sáng ngủ dậy, hoặc đình đám hội hè chớ dùng tới nó. Thật biểu hiện sinh động của một nền văn minh “đứng đầu nhân loại”. Ấy thế mà cho dù chịu thắt buộc “nội quy sử dụng gương”  vậy, cô gái vẫn vui vẻ:

“Anh ra đi mưa nắng chiến trường, sao cho tròn nhiệm vụ

Em ở nhà, một niềm chung thuỷ hai chữ “đảm đang”

Dẫu năm năm, mười năm, nhìn gương em chẳng hổ,

Đường chiến đấu, dài lâu gian khổ…”

Một cuộc chia ly màu siêu đỏ, đến “người ông” vốn là chiến sĩ Cần Vương cũng phải ngỡ ngàng, phấn khởi :

“Thậm chi ( không có dấu)  là khoái trá

Con trai con gái bây giờ

Tiễn đưa nhau đi đánh giặc mà cứ như là…”

… là đưa nhau tới… phòng cưới vậy. Thế là cả ông lẫn cháu đều ra sa trường, để  hoàn chỉnh “bức tranh gia đình cách mạng”, cha truyền con nối đánh giặc, tất nhiên phải có ông bố nữa, thế là ông nhà thơ cho “hồn người cha” ra sân khấu cho đủ tam đại cầm súng:

“Ta người chiến sĩ Điện Biên,

                    Về đây, thăm vườn cũ

                    Mười mấy năm cách mặt chẳng xa lòng…”

Gặp lại bố ngày xưa, cha con chưa kịp hàn huyên, người cha đã mang chiếc ba lô xưa chống Pháp, nay con sắp mang đi chống Mỹ kể lể:

    “Ôi, Chiếc ba lô ngày cũ

                        Giữa chiến trường Điện Biên Phủ

                        Còn nguyên đây: dấu đạn giặc xuyên qua

                        Chiếc ba lô đã từng thấm máu hồng  ta…”

Và khoe với người ông :

“Cha hãy trông đây

                        Chiếc ca bác Hồ gửi tặng

                        Còn nguyên hai chữ Điện Biên…

                        Con qua cháu lại

                        Lớp lớp tay chuyền…”

Mười mấy năm cách trở quay về, hồn “người cha” chẳng thiết nhòm ngó vợ sống ra sao, ở vậy hay đi bước nữa, con cái, nhà cửa thế nào, chỉ chăm chăm chuyện “đánh giặc”:

“Lòng con bao xiết tự hào

                        Nhà ta ba đời vằng vặc trăng sao

                        Ông đến cháu dốc một lòng đại nghĩa…”

Cũng may vở kịch viết vào năm 1971, nếu chậm lại ngót chục năm nữa, nhất định ông nhà thơ đưa thêm ‘thằng chắt” lại vác ba lô đi đánh … giặc Tàu thì lớp lang, ra vào sân khấu còn phức tạp nữa. Lúc này con chưa ra chiến trường, cháu chưa lọt lòng mẹ, bởi vậy chỉ có hai thế hệ cha ông tranh nhau kể lể thành tích chiến đấu. Người cha khoe:

    “Vâng, giữa chiến trường con đã ngã

                        Vết đạn đã xuyên mình

                        Nhưng Điện Biên Phủ quang vinh

                        Đã ra đời một hành tinh mới…”

“Thế hệ cha” ghê gớm chưa, hy sinh thân mình làm mới bộ mặt hành tinh. Bốc phét cỡ vũ trụ thế này thật xứng tầm…ếch ngồi đáy giếng. Nghe thằng con thổi thành tích lên hết cả cỡ giành cho cha, người ông đâm bực mình :

NGƯỜI ÔNG (động lòng tự ái):

                                Con ơi. Thuở cha đứng lên

                                Cũng trời nghiêng, đất ngả

                                Oanh oanh liệt liệt một trường

                                Mật nào chẳng nếm, gai nào chẳng nằm

                                Gươm đại nghĩa mười năm không nao núng…”

 

Lúc này mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đành phải nhảy vào can khéo hai cha con:

“Chị em “bầy tui” : Mận, Đào, Xoan, Trúc

                        Lại xin nghiêng đầu trước đầu bạc Vụ Quang

                        Mười năm gian khổ kiên cường…”       

(và tất cả lại đến bên người chiến sĩ Điện Biên )

“và trước người chiến sĩ Điện Biên anh dũng

                        Chị em ‘bầy tui” xin thân mến cúi chào:

                        Một trận long trời dậy sóng năm châu

                        Thực dân quen thói đè đầu

                        Việt Nam đứng dậy phất cao cờ hồng…”

Vậy là…huề, cả “ông” lẫn “cha” thành tích “chống quân ngoại xâm”  đều tầm cỡ “long trời lở đất” cả, ngang sức ngang tài anh hùng cách mạng, khỏi tranh cãi ai hơn ai. Người ông phấn khởi :

“Cha chả là vui. Nhưng mà…

                        Nghe, để bác nghe cho hết lỗ tai

                        Nhìn, để bác nhìn cho suốt con mắt…”

“Người mẹ” bước vào, khán giả chờ đợi một cuộc trùng phùng cảm động sau mấy chục năm âm dương cách trở giữa đôi  vợ chồng “người cha”, tiếc thay ông tác giả kịch bản đã dấu biến “tình huống nhạy cảm” này để cho bà vợ “trữ tình bay bổng” trong nỗi niềm “chống Mỹ cứu nước”:

“Con ơi, giặc trước tan

                        Ruộng vườn vừa cướp lại

                        Giặc sau đã tới…

                        Nhưng con ơi. Tội giặc ngập núi ngập sông

                        Thương hận: tràn Nam, tràn Bắc

                        Mẹ thương con phải giục bước lên đường…

                        Con ơi, ơn Đảng đi về, bao xiết công lênh…”

“Hồn chồng” gặp lại vợ chăng mảy may da diết nghĩa phu thê lại chăm chăm vào …cái ba lô vợ khoác lên vai con trai :

“Ôi, rộng lớn hai vai con

                        mẹ khoác lên một niềm đại nghĩa

                        Vườn cũ gió bay vờn tóc mẹ

                        Suối ngàn, cất bước đẹp tình con…”

Và sau cùng “người ông” bật mí kẻ khua nước dưới cầu ao giữa đêm khuya chẳng phải con gái, cháu dâu động tình mất ngủ mà chính là …ông đó:

  “Chao nước đêm khuya chính là lão đó

Ta nghe đất nước, cơn bão trước, cơn bão sau

Dức dối thân mình, bàng hoàng giấc ngủ

Nay ta về đây,

Tai đã sướng lỗ tai

Mắt đã no con mắt…”

Vâng, khán giả đã “no con mắt” cả chục nhân vật thuộc ba thế hệ ra vào sân khấu trong một hoàn cảnh rất kịch mà người xưa từng nói “Thùng thùng trống đánh ngũ liên, bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…”, đã “sướng lỗ tai” những những ngôn từ vĩ đại, vậy mà tiếc thay, người xem chỉ thấy quay đi quay lại có mỗi một nhân vật : chính là ông tác giả kịch bản. Ông đã chui vào hình hài của vợ chồng ông, cha, con người ta để làm mỗi một việc là động viên tuyên truyền “Tuổi hai mươi” lên đường chống Mỹ bằng những lời thơ lủng củng, sáo mòn, ngôn từ khẩu hiệu.

Kịch chẳng có, thơ cũng không – vở kịch thơ “Tuổi hai mươi”, tác phẩm chính đã đưa thi sĩ Lưu Trọng Lư lên chiếc ghế Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã nhanh chóng rơi vào thùng rác thi ca của lịch sử giống y như giấc mộng kê vàng của ông vậy.

Những năm 1980, không khí sáng tác trong nước đã sặc mùi “cởi trói” tới mức các nhà văn nhà thơ cây đa cây đề cũng lăm le “phản tỉnh”. Chế Lan Viên có bài thơ “Bánh vẽ”, Nguyên Ngọc có “Đề dẫn”, Nguyễn Minh Châu “Đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh hoạ”…Những lộn xộn  tràn lan đó không thể không thôi thúc Lưu Trọng Lư “làm một cái gì đó” cho hợp “phong trào” cho dù ông vẫn âm thầm nghe ngóng theo kiểu “cứ để yên coi sao”.

Không dám ra mặt thực hiện “sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút” chống lệnh “cấp trên” viết sao cho khỏi cắn dứt “lương tâm thời đại”, ông len lén dùng miếng võ cũ rích từ thời Nhân văn Giai phẩm “mượn xưa nói nay” trong vở kịch nửa nói nửa thơ “Bình minh anh vũ” và cũng chỉ dám xẹt qua, mượn lời vai phụ “gài mìn” qua vài câu thoại bóng gió.

Truyện kịch kể rằng ở thời Trần Duệ Tôn, có ông Nguyên soái họ Nguyễn, vào một tối cao hứng, sai treo tranh “Nắng hè tuyết bay” mời tài tử văn nhân tới đề thơ. Đề tài thật trái khoáy, tuyết sao còn sống sót sang mùa hè và lại còn “bay” trong nắng? Ngụ ý gì đây?

Mở đầu cuộc hội, “Trần Doãn, nhà thơ đứng tuổi, ra dáng một quan thơ, áo quần trau chuốt, dáng vẻ đường bệ, “ đề thơ và được một  nàng “vũ nữ áo xanh” cất giọng ngâm lớn :

“Tuyết sao có tuyết giữa hè

                        Có chăng tuyết cũng tan đi với chiều…

                        Cánh bèo chỉ đẻ cánh bèo

                        Là hoa thiên lý mới leo đỉnh giàn…”

khẩu khí rất “bé ngoan”, tôn trọng “cấp trên”, hợp “quy luật” làm một “nhà thơ già”  đứng dậy vỗ tay khen rối rít:

“Đúng như vậy. Tuyết nào lại có tuyết giữa hè ? Như thế là trái đạo trời. Thơ này mới phải đạo, tranh kia không nên có…”. Bức tranh “nắng hè tuyết bay” này thật ngang trái với lẽ trời. Lẽ đời cũng vậy, có trước có sau, có ngôi có thứ, đổi ngôi, vượt phận, sang  hèn lẫn lộn là điên đảo thế tình…”

Cái thói “cừu con” “giữ trật tự”, “ổn định chính trị” này lập tức bị một “nhà thơ trẻ” phất tay áo cãi lại :

“Thế nào là điên đảo thế tình?

                        Thế nào là ngửa nghiêng trời đất?

                        Đông mà cứ tuyết lạnh mà nói

                        Hè mà cứ nắng gió mà ca

                        Thơ văn như thế là có mùi thiu đấy…”

Than ôi, nếu nhà thơ trẻ nói đúng thì sự nghiệp văn thơ sau cách mạng của chính ông tác giả kịch bản hẳn đã nồng nặc lên rồi. Bởi thế “nhà thơ già” lên tiếng chửi lại :

“Chuyện thơ văn  mà như chuyện nơi sông chợ…”

Lúc này quan Nguyên soái mới can đôi bên và mời người tiếp theo là Dư  Sinh, còn trẻ, áo quần xuềnh xoàng, dáng người bình dị đề thơ và được một cô “vũ nữ áo vàng”  cất tiếng ngâm :

“Tuyết từ giá rét đêm đông

Vẫn trong áo trắng sang sông với hè

Vẫn trong nắng cháy tuyết đi

Một lòng trinh tiết chẳng hề chịu tan…”

Bài thơ thật “ngạo ngược”, bóng gió văn nghệ sĩ dưới chế độ “quản lý tư tưởng”  chẳng khác gì “tuyết giữa mùa hè” đi trong “nắng cháy”, mặc dầu vậy, cần giữ lấy bản chất “nghệ sĩ” chớ có chịu “tan”. Ngay lập tức “nhà thơ già” đập mạnh chén rượu xuống bàn quát to:

“ Bạo thiên nghịch địa, bạo thiên nghịch địa…”

hống hách, cha bố thiên hạ chẳng khác gì mấy ông nhà văn già xúm vào đánh đòn hội chợ nhóm viết trẻ Nhân Văn Giai Phẩm và tất nhiên trong số đó phải có nhà thơ Lưu Trọng Lư dấu mặt chỉ đạo. Tuy nhiên lúc này đã đêm trước của ngày cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ, lớp “nhà văn già” không còn độc diễn, Lưu Trọng Lư  đành đưa ra sân khấu “lớp trẻ” cho hợp “thời thượng”:

“MỘT NHÀ THƠ TRẺ đứng lên phất cao tay áo: “Thơ như thế là bạo thiên nghịch địa ư ? Các vị bảo : “Đạo người có trên có dưới. Khi đánh giặc thì kẻ trên dưới một lòng. Đánh xong giặc thì lại đạp cổ xuống bùn, kẻ thì “toạ hưởng kỳ thành” ấp này ấp nọ. Quý hoá thật, hay ho thật. Muốn leo đến đâu thì leo, nhưng khi đạp lên lưng những đứa nô tỳ cũng thử nhìn xuống xem: Cánh tay thằng dân đen ấy, cánh tay cha anh họ cũng còn  nguyên hai chữ “Sát Thát” đấy. Ấp ruộng các ngài cò bay sã cánh, các ngài  có nghĩ đến giun dế dưới  bùn đen…”

Lời tố cáo thật đanh thép từ thời Trần Duệ Tông vẫn còn “tươi rói” tới tận bây giờ khi giai cấp tư sản đỏ cầm quyền ngày càng cách biệt với đám dân đen đã từng cầm súng đi “chống  Mỹ cứu nước”. Hãy thử hỏi các “đồng chí”  chủ trang trại hàng trăm héc ta cà phê, cao su, tiêu, điều “cò bay sã cánh”, các đồng chí “chủ vườn” hàng chục mẫu Bắc bộ xanh tươi và béo bở, có khi nào ngó xuống đám dân đen một thời “Sát Mỹ” hiện sống ra sao với thu nhập 30 USD/ tháng ?

E rằng ý kiến của “nhà thơ trẻ” đã đi quá đà, “mượn xưa” thì mượn nhưng nói năng liều mạng quá e cấp trên phật ý, bởi thế Lưu Trọng Lư  vội vàng xí xoá :

NHÀ THƠ GIÀ (đập cốc rượu vỡ choang): “ Giọng lưỡi sông chợ, đâu phải chuyện thơ văn …”

Cái kiểu “bí cờ văng tục”, đá trái banh “chính trị” vào vườn văn thơ là thủ đoạn quen thuộc từ thời vu vạ nhóm Nhân Văn – Giai phẩm tội phản động, chống chế độ chứ không phải “đòi tự do sáng tác”. Dẫu sao, Lưu Trọng Lư cũng đưa được lên sân khấu cuộc tranh luận nảy lửa giữa “nghệ thuật vị cấp trên”,  đại diện là ông “quan thơ” Trần Doãn với “nghệ thuật vị dân đen” người phát ngôn là chàng nho sinh họ Dư nghèo. Tới đây lẽ ra Lưu Trọng Lư  không được “náu mình” đứng giữa hai phe nữa, ông phải bày tỏ quan điểm của mình, phải chọn hoặc “quan thơ” chính thống hoặc chàng nho sinh nghèo làm thơ “ngạo ngược”. Tiếc thay nỗi sợ cố hữu thường trú trong các nhà thơ cách mạng đã giữ ông lại, chỉ “tự cởi trói” được tới đó, chỉ đưa ra cuộc tranh cãi giữa đôi bên mà lờ đi không bênh vực và cũng chẳng lên án bên nào.

Từ đây kết thúc “câu chuyện thơ thẩn” để bắt đầu chuyện tình ai oán của Dư Sinh  qua nhân vật này bộc lộ khá rõ “con người thật” thi sĩ Lưu Trọng Lư. Nguyên trong hội đề thơ, chàng Dư chẳng thèm chú ý tới cuộc tranh cãi giữa hai nhà thơ già-trẻ, chỉ…nhìn lom lom vào cô “vũ nữ áo xanh” trẻ đẹp – người ngâm bài của ông quan thơ Trần Doãn. Cô này cũng cảm thấy chàng Dư chết mệt vì mình nên trong lúc múa hát đã gửi gắm những động tác chỉ riêng chàng nhận ra. Tiệc tàn, Dư Sinh lân la hỏi dò người hầu gái mới được biết

“Nàng tên gọi Tuý Tiêu, quê ở Nam Sách. Nguyên soái nhân một ngày đi săn chim Anh Vũ gặp nàng mang về. Nàng được học múa, học ca, học chữ. Học đâu nhớ đấy, nhận một trả mười.” . Chàng Dư nổi hứng làm sẵn một bài thơ :

“Sương bay vườn Tuý

                        Nặng giọt ba Tiêu

                        Trời mờ mịt tối

                        Hồn lạc tìm nhau…”

Thói hám gái của chàng Dư không lọt khỏi mắt quan Nguyên suý, ông tới gặp chàng nói thẳng:

“Ta đoán sau buổi ca vũ, ngươi có điều vương vấn. Nay ta có điều muốn nói với ngươi: trong dinh ta có mười ca vũ nữ, toàn là những người hát hay, múa giỏi. Cô nào đẹp mắt ngươi cứ nói…”

Lẽ ra là “kẻ sĩ”, chàng Dư phải thấy hổ thẹn, chân ướt chân ráo được mời tới dự tiệc nhà người ta đã tính “chôm” ngay mỹ nhân, vậy nhưng chàng Dư được lời như cởi tấm lòng, vội vàng chộp ngay cơ hội :

“Thưa nguyên soái…người làm kẻ hậu sinh bàng hoàng chính là người vũ nữ áo xanh…”

Sống sượng vậy, rồi để chắc ăn, chàng  trình ngay Nguyên soái bài thơ vừa làm còn chưa ráo mực trong có tên Tuý Tiêu mà lẽ ra phải trao tặng nàng trước đã. Ông quan võ tốt bụng không ngờ, bằng lòng gả ngay cô gái cho chàng và còn vỗ vai dặn :

“Mọi việc đều ở tay ta. Người cứ về phòng khách đánh một giấc ngon lành. Mai sớm khi bình minh qua cửa sổ, Anh Vũ hót vang. Thì ngươi hãy sửa khăn cài áo đón tin vui…”

Chàng Dư mừng hết biết, mới gặp chặp tối, sáng sớm hôm sau đã được ôm người đẹp, một cuộc tình, một hôn nhân tốc độ còn chớp nhoáng hơn cả mấy ông Đài Loan sang Việt Nam lấy vợ thời nay. Dĩ nhiên, suốt đêm hôm đó chàng Dư sao mà “đánh một giấc ngon lành” được, cứ phấp phỏng đốt nến ngồi chờ tiếng chim Anh Vũ mà đón nàng. Khổ nỗi chàng cứ chờ hoài, chờ hoài chẳng thấy chim lẫn người đâu ra:

“Ta về mái tây, không hề nhắm mắt

                        Mấy lần đốt nến lên, mấy lần thổi tắt

                        Nào hay Anh Vũ chẳng hót cho

                        Tin mừng chẳng có

                        Có phải trời đã ngủ quên

                        Đất không thức dậy ?

Vậy là chưa hết đêm, bình minh chưa tới mà chàng Dư đã than trời trách đất,  “nghi ngờ” lòng tốt ân nhân, thật chẳng “quân tử” chút nào. Thế rồi có tiếng chân động ngoài thềm, mặc dù chưa đúng “ám hiệu”, chàng cũng “ vội đứng dậy, cài áo sửa khăn bước ra” hoá ra là…gió. Lại thấp tha thấp thỏm chờ đợi. “Bỗng có tiếng chim hót. Dư lại một lần nữa cài áo sửa khăn. Nhưng khi nhận ra không phải tiếng chim Anh Vũ, Dư lại một lần nữa bàng hoàng thất vọng:

“Tiếng hót sao nghe như rối rít bàng hoàng

Mà đâu phải tiếng chim Anh Vũ…”

Mới chưa qua một đêm chờ đợi, tính cách chàng nho sinh họ Dư đã bộc lộ cái phần “kém trượng phu” trong nhân vật chính vở kịch “Bình Minh Anh Vũ” làm người coi ngờ ràng nó phản chiếu chính ông tác giả.

 

Thế còn nàng Tuý Tiêu ?

Xuất thân nhà nghèo nơi thôn dã, bố chết sớm năm 17 tuổi, lọt vào tay một gã thuyền chài, sau được quan Nguyên soái chuộc về dạy múa, dạy ca…theo kiểu “đào tạo” kỹ nữ làm vui trong phủ. Trong tối hội thơ, vừa nhìn thấy Dư Sinh lần đầu nàng đã ưng trong bụng, đã “nhấm nháy”, ngầm đánh “tín hiệu” đủ thấy gốc gác chẳng phải gia giáo. Tan hội, đêm về, được quan Nguyên soái báo tin gả nàng cho Dư sinh, lại được đọc bài thơ chàng làm có ghép tên mình, nàng mừng rỡ OK liền và xin vâng theo đúng kịch bản quan nguyên soái đề ra khi có tiếng chim anh vũ cất lên nàng sẽ đi “tìm cọc” ở phòng chàng Dư.

Đêm đó, cũng giống chàng thi sĩ, nàng bồn chồn, sốt ruột chẳng ngủ được, chờ hoài chẳng thấy chim chóc nào cất tiếng hót. Thế là nàng đành  phớt lờ “kịch bản”:

“Băng sương vượt lối

                  Ta đến với người

                  Chân không bước mạnh

                  Sợ động hồn mai…”

Xăm xăm tới phòng Dư Sinh, chàng lại đang … ngủ khì, nàng đành đánh động tự giới thiệu mình là “người áo xanh” trong tối hội và tên Tuý Tiêu trong bài thơ chàng mới làm. Những tưởng chàng sẽ mừng quớ, ai ngờ lại vô tâm, hỏi cắc cớ: “Áo nào ? Thơ nào?”, rồi còn nghi ngại :

“Nguyên soái đã dặn

                  Khi nắng sớm trên cành

                  Và Anh Vũ hót inh

                  Thì nàng sẽ đến…”

Tới nước này, nàng Tuý Tiêu đành phải giải thích chắc là chim anh vũ…ngủ quên nên :

“Chẳng ngại sương đêm

Thiếp đến với chàng tưởng như đi trong bình minh rạng rỡ…”

Có lý do chính đáng “chim ngủ quên”, lúc này chàng Dư mới như người ngủ dậy nghe tin trúng số, vội vàng:

“Tuý Tiêu!Tuý Tiêu!

                  Chuyện trong mơ, mà quả người đã đến thật…”

Thế là tình lớn gặp nhau, đồng lòng gặp gỡ khỏi chờ tiếng chim anh vũ như lời dặn quan nguyên soái, chàng nàng tranh nhau kể lể. Nàng thì than vãn “mười hai bến nước lênh đênh, không cội không cành, dạt đâu là phận đó, kể sao cho hết nỗi niềm” và thổ lộ từ xưa,  từ trước khi gặp chàng, nàng chửa hề yêu ai:

“Uốn khúc tim mình

                  Mắt xanh chẳng gặp mắt xanh

                  Canh khuya chỉ thấy lệ quanh gối nằm”

Còn chàng lại khoe chí khí nam nhi :

“Lòng ta chỉ muốn được rong chơi

                  Ném quản bút tre vào mực đen thế sự

                  Giấy nhân tình nhoè đỏ

                  Cười  khóc chuyện người…”

Í trời ơi, giá như thi sĩ Lưu Trọng Lư cũng làm được như nhân vật của mình “ném bút vào thế sự” thì nay người đọc hẳn đã được hưởng một di sản thơ giàu có chứ chẳng phải trắng tay như ông để lại. Tỏ vẻ lấy bút chống trời xong rồi, chàng dùng nó chinh phục người đẹp:

“Nghe lời ca ai não nuột

                  Nhìn điệu múa ai uốn đau

                  Ruột này cũng quặn héo…”

Và chàng thề thốt:

“Hãy sáng lên hỡi ngọn đèn

                  Ta nguyện vì em làm phên che gió…”

Chàng nàng đang nỉ non tình sự, hốt nhiên Nguyên soái xuất hiện tay xách lồng chim. Người ta tưởng đòn trừng phạt tội cãi lời quan, không chịu chờ chim anh vũ lên tiếng sẽ giáng xuống đôi tình lang, may thay ông quan là người tử tế, chẳng những không bắt lỗi mà còn cho ngựa, cho kiệu để chàng rước nàng về quê lại kèm theo quà tặng cưới chiếc lồng chim anh vũ ghi lại kỷ niệm ngày quan đi săn loại chim này, chuộc nàng về.

Tuy nhiên chẳng phải ông quan nào gặp được trong đời cũng độ lượng, tử tế như quan nguyên soái. Cái ông quan thứ hai làm thay đổi cuộc đời Dư Sinh và Tuý Tiêu lại là một bạo quan – Thân Trụ Quốc từng khoe khoang :

“Trong triều ngoài quận đều biết tiếng ta

Có trầm quý nào trong rừng mà ta không kiếm được

Tội nặng như núi, một chữ của ta còn xoá được nữa là…”

So với ngày nay, ông quan này có khả năng “chạy án” phải ngang cỡ….Uỷ viên Bộ chính trị. Nghe tin chùa Phổ Tế mới có ni cô xinh đẹp, ngài cũng dẹp ngay việc quan, lên kiệu mò tới coi. Cô này được một anh nho sinh ca ngợi:

“Hôm nay thỉnh chuông mới thì nhà chùa cũng thỉnh về một cô tiểu thư mới. Cứ nghe cô cất giọng kệ thì Phật có cho vào Niết Bàn cũng chẳng thiết vào nữa. Còn quan to quan nhỏ trong triều, cứ thấy mặt cô một lần, cũng không muốn rời khỏi cửa  tam quan…”

Khi quan Thân Trụ Quốc vừa đi kiệu tới, nhà chùa vội bắc loa nói vọng ra  giữ trật tự: “Tướng  công sắp qua. Ai ở đâu ở đấy. Già không lẫn trẻ.Nữ chẳng kể nam…”

Thế rồi lính trước lính sau, Thân Trụ Quốc bước  ra. Tiếng “A di đà Phật “râm ran.”. Không may cho vợ chồng  Dư Sinh, cũng đi vãn cảnh chùa trong tuần trăng mật nhằm lúc đó. Vừa nhìn thấy Tuý Tiêu đứng bên hồ tay cầm đoá sen, tướng công đã hồn xiêu phách lạc, quên bẵng mất ni cô trong chùa.  Ngài “nhìn sững, rồi đưa tay về phía Tuý Tiên ra lệnh: “Cứ cho lên kiệu về kinh ngay. Gấm vóc sẽ ban sau cho cha mẹ”. Bọn lính dạ ran. Trong nháy mắt, chúng làm theo ý Thân Trụ Quốc. Tuý Tiên kêu la, chống lại nhưng chúng đã ép nàng lên kiệu khiêng đi. Mọi người chỉ biết nhìn theo. Đây đó một vài tiếng niệm: A di đà Phật…”

Chứng kiến cảnh bắt người ngay trước cửa Phật, thiện nam tín nữ chỉ biết niệm kinh. Thế còn Dư Sinh, người chồng mất vợ, chàng thi sĩ mất người yêu ? Không chạy theo kiệu quan mà giải thoát Tuý Tiêu, không vạch mặt chỉ tên quan cướp ngày Thân tướng công, chàng  chỉ đành ngửa mặt kêu trời :

“Xanh xanh! Xanh xanh! Trời rất xanh

Gíó như không gió vẫn đưa cành

Ta đi đi về đâu? Lội xuống hồ sen hay vào Tây Trúc ?

Miệng ta mắc niệm Phật

Ai khóc cho ta nỗi bất bình ?”

Cái kiểu cam chịu trước cường quyền bạo ngược, chỉ biết “khóc” và hỏi “trời xanh” này, chẳng riêng nhân vật chàng Dư mà ngay ông tác giả đẻ ra nó và cả sĩ phu Bắc Hà ngày nay, hỏi ai là không có ? Bởi vậy nàng Tuý Tiên còn mong gì được giải thoát ?

Quả nhiên sống trong dinh Trụ Quốc Công, ngày đêm nàng chỉ còn biết giữ chặt “chữ trinh” khiến quan lớn trong triều phải đặt mình ….ngoài vòng chăn gối của nàng tới đêm thứ …109  và “chiến công” đó làm nàng thích chí.

TUÝ TIÊU (cười ngặt nghẽo) :”Thế đêm nay là đêm thứ mấy ?”

THANH THẢO  (con hầu) : “Một trăm lẻ chín.”

TUÝ TIÊU: “Thiếu một đêm nữa là trăm lẻ mười…”

Nhưng rồi một trăm đêm, một ngàn đêm, liệu giữ mãi được không, nàng than:

“Thảm thương số kiếp hoa cành

                  Làm sao giữ mãi hương trinh hở trời ?”

Vậy là nàng chỉ còn biết trông vào trời, chứ còn cái anh chồng Dư Sinh  chỉ  đánh võ mồm “Ném quản bút tre vào mực đen thế sự”, chỉ “cười  khóc chuyện người…” chứ còn chuyện của chính mình thì …thua, lại đành phó thác cho trời chứ biết sao ?

Quả nhiên suốt trong thời gian đó, chàng Dư mất vợ chỉ quẩn quanh xó nhà “áo để buông không thắt giải, trên đầu đội một cái mũ cỏ, dáng đi thất thểu”  và than vãn :

“Một ngày xa vợ hết khôn

                  Ta đi lùng hoa dại

                  Vò nát giữa bàn tay

                  Máu trong hồn rỉ mãi…”

Rồi gặp vợ ngồi kiệu đi trên đường, chàng cũng chỉ đành trố mắt:

“Ngồi trên kiệu đúng người thương

                  Người vũ nữ, chính áo vàng đau chưa ?

                  Nhìn lên chẳng thấy mắt xưa

                  Ta đành cúi mặt, miệng uà lệ thương…

                  Rõ ràng ta đó, ai kia ?

                  Tay nào xé rách trăng thề đó ai ?”

Hoá ra không những chàng quên phứt lời thề làm phên liếp che mưa cho cuộc đời nàng mà còn trách móc nàng “đã khác xưa”. Thói cam chịu, than vãn trời đất của chàng Dư Sinh khiến người bõ già của chàng cũng phải bực mình. Ông mượn lời mắng chim anh vũ, nhưng chính là nhằm vào chàng :

NGƯỜI BÕ GIÀ (lấy mấy con cào cào cho chim ăn) :

“Lão nói cho mà biết

                  Làm chim thì phải bay

                  Có cánh thì phải đạp mây.

                  Ngày hai buổi tốn công lão…”

Vậy đó, làm đàn ông phải vẫy vùng trời đất, chống lại tham quan, bạo quyền, làm chồng phải bao bọc, cưu mang được vợ, tiếc thay những lời răn chí tình đó chẳng lọt lỗ tai chàng thi sĩ Dư Sinh, ngày ngày chàng cứ điên điên :

“ Áo đứt khuy đành để vậy

                  Khăn tóc vướng cỏ rơm

                  Cơm bữa chẳng thành cơm

                  Gặp hoa nào cũng hái…”

Lạ thay, điên vậy mà từ miệng chàng chẳng khi nào thốt ra được một lời oán trách, chửi bới Thân tướng công – kẻ đã cướp vợ, gây cho chàng nỗi thống khổ “máu trong hồn rỉ mãi”. Hoá ra không dám vạch mặt chỉ tên những kẻ gây nên bao đau đớn khiến thế gian này ngập tràn nước mắt chính là nỗi khiếp sợ thâm căn cố đế chẳng riêng thời nào, cho tới tận bây giờ cố tật đó vẫn còn ăn sâu trong những người cầm bút.

Trong lúc chàng Dư nửa điên nửa khùng, lầu phía đông dinh quan Thân Trụ Quốc, nàng Tuý Tiêu vẫn dựng “thành đồng vách sắt”  cố thủ không cho quan xâm phạm tới “cái ngàn vàng”. Tới đêm thứ 100 nàng doạ treo cổ tự vẫn, quan mới dỗ dành:

“Việc gì mà khinh sinh uổng mạng ?

Có việc gì mà ta không làm được để chiều ý nàng ?”

Cho dù là gái có chồng bị quan bắt sống giữa ban ngày ban mặt ngay cổng chùa, nàng cũng phải nói thác :

“Từ buổi đầu gặp Dư Sinh…

                    vì lời thơ tiếng hát mà chăn gối mặn nồng…

                    Nay lầm đường lạc lối sa vào cửa tướng công

                    Hoạ phúc hợp tan đều ở tay tướng công cả…”

Thân tướng công cười thâm hiểm:

“Ngỡ là chuyện gì, đêm nay ta sẽ xuống trát tìm “chàng bán thơ”, triệu về dinh này. Nàng  ở mái đông, chàng ở mái tây, đông tây tha hồ… xướng hoạ…”

Nàng Tuý Tiêu được lời như cởi tấm lòng, nào trang điểm, nào thay áo mới, nào đòi tấu nhạc. Riêng có cô hầu tên Thuý Bình cảnh giác:

“Chị tin rằng trát đòi “người thơ” sẽ đến ư? Lại đoàn viên chăn gối ư?”

Thật chẳng ngờ, được  trát đòi vào dinh chàng Dư Sinh vội vàng khăn gói ra đi, chỉ có lão bộc nhận ra chân tướng quan Thân Trụ Quốc. Nhưng nỗi niềm riêng chẳng  dám tỏ bày với ai, lão đành trò chuyện với con chim anh vũ :

“Mình đổ máu đánh giặc, giữ giang sơn nhà nó, cho nó vợ đẹp con khôn, cho nó nhà cao cửa rộng. Đánh được giặc rồi, đứa nào đứa ấy phong ấp có hàng nghìn mẫu . Chú mày bay cũng xoạc cánh. Trốn đâu cũng là ấp chúng nó. Ruộng tay người ta canh phá ra, nó cướp làm ấp của nó…”

Lời lẽ này đặt vào miệng một cụ cựu chiến binh thời bây giờ xem ra vẫn còn tươi roi rói. Ông lão bộc lại vạch ra cái mặt quan nham hiểm :

“Lại vợ người ta nó cướp làm vợ nó không cheo không cưới. Cái giống đó đã kẹp vào tay rồi đừng có hòng. Tao hỏi chú mày, có ai đời vào tận hàm con ly con long mà đòi lại ngọc trai? Thò tay vào, nó không ngoạm cả tay đó ư ? Ấy thế mà thấy trát đòi ba chân bốn cẳng chạy ngay vào trấn…”

Lão bộc thật sáng suốt và chí lý. Chỉ có điều ông không ngờ tới là chàng Dư vào dinh quan, được khoản đãi ở lầu tây, ngày đêm có cô Thuý Hường hầu hạ, nên chẳng có đòi “ngọc trai”, cũng chẳng yêu cầu trả vợ, chẳng đòi gì hết ngoài…uống rượu say tít cung thang suốt tháng ngày. Một tối, Thân tướng công sai Thuý Hường trang điểm thật lộng lẫy, bày tiệc chờ chàng Dư. Đi uống rượu về ngà ngà say, nhìn thấy cô hầu gái xinh đẹp, cầm lòng chẳng đậu, chàng “ôm đại” làm cô ta giãy nảy:

“Em đây mà. Thuý Hường đốt nến chờ chàng từ đầu hôm. Thuý Hường chớ nào phải ai khác. Chàng quá say nên lầm lẫn đó thôi…”

Lẽ ra chàng Dư phải xấu hổ, xin lỗi rối rít, vợ đang bị giam cầm mà lại “vồ” hầu gái còn gì đểu cáng cho bằng, nào ngờ chàng  giở giọng tán tỉnh :

“Cho ta được giây phút lầm lẫn…”

Đến đây mới thấy văn chương chữ nghĩa như tấm gương hiện rõ chân tướng người viết, thi sĩ Lưu Trọng Lư cố vẽ cho được một chàng nho sinh tiết nghĩa, chung thuỷ nhất mực,  khổ nỗi  đôi khi cứ lộ ra chất “đểu giả”. Nghe vậy, Thuý Hường ỡm ờ:

“Hà tất chơi trò lầm lẫn…”

Hoá ra đây là âm mưu hiểm độc của Thân tướng công, dùng sắc đẹp con hầu mê hoặc làm chàng mất mặt khỏi đi tìm vợ cũ. Mang rượu cho chàng uống, Thuý Hường lại báo trước:

“nửa đêm nay sẽ có tin mừng…”

Chàng Dư giả bộ ngây thơ:

“Tin mừng gì đây ? Nào ta uống nữa! Uống nữa đi !”

Quả nhiên tới nửa đêm Thân tướng công cho người mang tới tặng chàng một cành hoa quỳnh trong chậu nhỏ phủ khăn điều làm chàng Dư mừng rối rít :

“Xin người về trình lại Tướng công, khách mái Tây muôn vàn cảm tạ tướng công…”

Ôi chao ôi, lẽ ra đúng tính cách nho sinh, chàng phải quăng trả chậu quỳnh, lớn tiếng chửi quân cướp ngày, đòi trả lại cô vợ yêu, ngược lại, đã không phản kháng còn “tri ân” rối rít, khác gì thoả thuận ngầm dâng vợ cho quan.

Đêm hôm đó Thuý Hường nào ca, nào đàn, nào dâng rượu cho chàng Dư  ngắm hoa quỳnh nở. Đúng nửa đêm, nàng đến bên chàng suồng sã:

“Hương quỳnh toả ngát trời

                    Nào chàng cùng em cạn chén …”

Rồi nàng dắt Dư Sinh “nửa tỉnh nửa say” lên giường, vừa quạt màn cho chàng vừa hát ru:

                    Ru người tình, ấp người say

                    Hai tay đưa quạt đã rời cánh chim…”

Quạt mỏi tay rồi nàng xoay qua…tắt nến. Có 12 cây nàng đã tắt tới cây thứ 11, chỉ còn một cây nữa thôi là sáng sớm mai chàng Dư chỉ còn nước khăn gói về quê, mặt mũi nào mà dám đòi vợ. May thay tới “phút 89”, nàng Thuý Hường lại nổi máu … lương tâm:

“Bốn điều Tướng công ra, ta đã làm xong ba

Duy còn một điều nữa, cuốn tóc trăm vòng

Ta xin chịu tội

Trời đất quỷ thần soi sáng lòng dạ này…”

Nói rồi nàng ra khỏi màn, gài cửa đi sang phòng khác. Vậy là nhờ lòng tốt của cô hầu gái, chàng Dư vẫn giữ được lòng “thuỷ chung son sắt” với nàng Tuý Tiêu yêu quý chứ chẳng phải gan vàng dạ sắt gì. Rõ đẹp mặt “anh hùng”. Điều này hẳn ngoài ý định ông tác giả kịch bản, nếu không ông đã chẳng bôi bác “hình tượng nhân vật” của mình đến thế.

Gần sáng, thật bất ngờ, nàng Tuý Tiêu bên mái đông sốt ruột sốt gan, đang bệnh cũng liều mình đi tìm chồng bên mái tây. May mắn thay chắc vì “miếng ăn đến miệng còn tuột mất”, sau lúc Thuý Hường rút khỏi màn, chàng  Dư  hẳn “tiếc của trời” chẳng ngủ được mới mò dậy làm thơ dán lên vách, chứ không, nàng Tuý Tiêu bước vào chứng kiến cảnh chồng mình đang ngủ với hầu gái chắc nàng  tự tử thiệt chứ chẳng còn doạ.

Khá khen thay chàng nho sinh, Tuý Tiêu vừa xuất hiện trong màu áo xanh, tay cầm bông sen, chàng  ca ngay được bài ca thương nhớ :

“Chết lòng trong ngóng đợi

                    Người  vẫn đến bất ngờ

                    Đúng màu xanh đêm trước

                    Đối mặt vẫn là mơ…”

Vợ chồng gặp lại chưa kịp hàn huyên, bên ngoài đã có tiếng dặng hắng rồi hầu gái của Tuý Tiêu là Thuý Bình chạy vào báo: “Kiệu tướng công đã xịch trước cổng, xin chàng…”. Rồi cô ta nhìn Dư Sinh như cầu khẩn chàng đưa vợ  trốn ngay. Lạ thay chàng cứ đứng như bụt mọc, cô hầu gái thương chủ quá khóc nấc lên. Chàng Dư vẫn trơ mắt ếch đứng nhìn; hai người đành dắt díu nhau trở về mái đông. Vợ đi rồi chàng mắm môi mắm lợi cầm bút làm thơ dán lên vách:

“Trăng đến tận giường múa

                    Chưa hát trọn bài ca

                    Nỗi đau không câm mãi

                    Tức nước phải vỡ bờ…”

Ai chà chà, có áp bức là có đấu tranh đây, tinh thần quật khởi hẳn đã thức dậy, phen này chắc chàng đâm chết tên quan dâm đãng đã phá tan hạnh phúc đời chàng. Nào ngờ khi Thân tướng công bước vào, chàng lại cung kính :

“Cũng là duyên đưa đẩy

Đêm trăng lại quá nhàn rỗi. Đang mong ân nhân đến…”

Ôi chao ôi, chàng “tri ân” con cọp dữ đã cho rượu, cho hoa quỳnh, cho gái đẹp mà quên mất thù bị cướp mất vợ sao? Tính cách này phải chăng bộc lộ từ tác giả  phẩm chất dễ dàng “hoà đồng với cái ác” miễn sao được yên thân,  tiềm ẩn sâu bên trong con người thi sĩ họ Lưu? Nó cũng chính là “chủ nghĩa cầu an”, sao cũng được miễn cứu được “bộ da” của chính mình, căn bệnh trầm kha của “trí thức Bắc Hà”.

Cái hành động phản kháng cao nhất chàng Dư có thể đạt tới là rụt rè mời ông quan:

“Vào dinh tướng công lâu ngày

                    Hôm nay cũng như ngày hôm trước

                    Quá nhàn rỗi, có bốn câu thơ

                    Xin trình tướng công …”

Đọc liếc câu thơ “tức nước phải vỡ bờ”  Dư Sinh “trình” lên, ông quan coi như tiếng muỗi vo ve, cười khảy:

“ Chị Hằng từ cung Quảng sa xuống để chú Cuội trơ thân Cuội một mình, nhưng chú Cuội có giận người giận mình mà chặt mất cành đa thì cũng chỉ thiệt mất cành đa thôi…”

Rồi bất chợt phát hiện ra mùi hương quen thuộc của Tuý Tiêu, vợ chàng Dư phảng phất đâu đây, lão sầm mặt, phảy tay ra lệnh: “mãn trà”. Đây là giây phút cuối cùng để chàng Dư có thể bộc lộ sự kiên cường phản kháng của mình, vậy mà không, “Dư sinh tiến vội đến trước mặt Thân, cung kính bái biệt”. Thật đúng là một cử chỉ hèn đớn khán giả ai cũng nhận ra, chỉ riêng ông tác giả kịch bản là không thấy.

Chờ cho viên quan đi khuất, chàng Dư mới dám “cởi áo, xé thơ”  theo đúng phép “thắng lợi tinh thần” của dân Mít chỉ dám xì xào sau lưng người ta, chàng cầm bút làm bốn câu thơ khác dán lên tường và ngâm lớn :

“Đọc hết vạn kinh sách

                    Mà nhân nghĩa vẫn cúi đầu

                    Hỏi thần thánh ở đâu ?

                    Hay đã bị vùi dưới đất…”

Nghe thơ chàng Dư, hốt nhiên nhớ tới mấy câu thơ chân dung hoạ phê bình gia Hoài Thanh của nhà thơ Xuân Sách :

“Bình thơ đến thủa bạc đầu

                    Cũng chưa thể tất nổi câu nhân tình…”

Vâng, ngày nay có biết bao sĩ phu đọc vỡ tới cả vạn cuốn sách, liệu đã có mấy ai ngẩng cao đầu đòi cho được chữ “nhân”, chữ “nghĩa” cho đám dân đen con đỏ ?

Ngay sáng hôm sau, quan Thân Trụ Quốc lôi ngay gã “mật vụ phòng” ra đánh đòn tan xương nát thịt về tội không kịp thời báo cáo việc nàng Tuý Tiêu lẻn tới tìm chàng Dư. Quan vứt ngay bộ mặt giả nhân giả nghĩa, nói toẹt ra rằng:

“Ta đón hắn về mái Tây này chẳng phải là để chúng lén sau lưng ta. Sao trong dinh ta, việc lớn việc nhỏ lại dám để  lọt khỏi tai mắt ta ? Ta cho hai đứa được gần mà chẳng được xáp mặt. Thể như con mèo trước bóng mỡ chớm mãi mà không bắt được. Hoa mắt sùi mép mà phải buông…”

Nói xong làm liền, quan bày trò dã man, đêm trước ngày Dư Sinh bị đuổi về “địa phương”, quan cho chăng một sợi dây ngay trước cửa phòng nàng Tuý Tiêu, cho phép chàng Dư tới từ biệt vợ nhưng cấm… bước qua dây và chỉ được tới khi đèn phòng thắp sáng. Thắt buộc nhau vậy khác nào “đặt mỡ miệng mèo mà chỉ cho ngửi”. Lẽ ra đạo làm người quân tử đời nào chịu làm phận “con mèo”. Ấy thế mà đêm đó chàng Dư vẫn vâng lệnh quan theo chân con hầu Thuý Bình mon men tới phòng Tuý Tiêu ở “mái đông”. Vừa nhìn thấy đèn còn sáng chàng đã hí hửng: “Đèn còn sáng, hẳn nàng có ý đợi?”. Con hầu lắc đầu: “Việc đường đột này tuyệt nhiên chị tôi không được báo trước. Ngày mai chàng về nơi cũ, đêm nay quan cho giáp mặt người xưa…”. Gọi là “giáp mặt” nhưng chỉ đến chỗ căng dây mà ngó lên thôi, chàng Dư đâu dám trái lệnh quan vượt qua, đành đứng bên “giới tuyến” ngước cổ than vãn :

“Ôi người bước trước cửa buồng

                    mà chân đành chôn đất lạnh”

Khi vợ xuất hiện nơi cửa sổ, chàng Dư  cũng chỉ dám đứng bên dây thừng mà kêu:

“Tuý Tiêu ! Tuý Tiêu !

                    Dẫu đất trời tan tác

                    Nàng ơi ta không thể nào quay bước

                    Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”

Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”

                    “Tuý Tiêu! Tuý Tiêu ! Người khuất đâu rồi ?

                    Khoan đừng lay động , ngọn đèn ơi…”

Vậy là chàng chỉ sợ bên trong vợ tắt đèn phải quay lui theo đúng lệnh quan mà thôi, không hề dám có ý định  vượt qua “vạch dây thừng” mà lao tới với nàng. Đến khi con hầu báo tin:

“Chàng trông ! Đèn đã lụi dần

                    Dám xin chàng hãy kịp lui chân…”

Cũng đành, chứ biết làm sao ? Chơi cái trò “ mỡ quệt mũi mèo” này, quan Thân Trụ Công quả là cao mưu. Chàng Dư cam tâm làm “chú mèo ngoan”, đứng bên sợi dây chăng mà vuốt bụng thở dài:

“Đau lòng thân nam tử

                    Chân cóng giữa vòng vây…”

Tấm thân ngọc ngà của vợ yêu chỉ trong gang tấc mà người “quân tử” ngày xưa của Lưu Trọng Lư cũng chẳng dám vượt rào đón lấy huống hồ ngày nay, các bậc hiền nhân quân tử  “chân ấm giữa tiền dự án, tiền tài trợ” Nhà nước rót dài dài, đời nào dám “vượt dây thừng” nói chuyện đa nguyên đa đảng với các quý vị  hải ngoại?

Quay về nhà, chàng Dư mang lòng căm thù, trút giận vào… đôi chim Anh Vũ, quà tặng cưới của quan Nguyên soái, người đã tác hợp Tuý Tiêu với chàng :

“Chém cha cái giấc mộng

                    Tưởng đôi chim nhỏ chết rồi

                    Thế mà vẫn nguyên đó

                    Nhảy đi hót đi…”

Thật đúng y tính cách “lưu manh Bắc Kỳ” của giới trí thức ngày nay, khi “mộng không thành” chẳng dám vạch mặt kẻ phá thối mà chửi ngay mộng tưởng đẹp đẽ của chính mình. Rồi đến đêm, nằm mơ thấy quan Nguyên soái, ân nhân ngày trước, chàng vội vàng kể lể sự tình, nhờ quan ra tay giải cứu nàng Tuý Tiêu. Thực chẳng ngờ khi nghe xong, Nguyên soái cũng chân giò lảng ra :

“Ta chỉ biết điều tác hợp

                    Còn như giữ trọn lứa đôi

                    Là tự ở các ngươi

                    Quả điều ta không liệu nổi…”  

Vậy là vô phương cứu…vợ, chàng Dư chẳng còn biết trông đợi vào ai, lại đành chỉ ngồi nhà kêu trời :

“Thần thánh hết thiêng khôn

                    Chữ nghĩa văn chương như của thiu đốt sạch

                    Trăm sách muôn nghìn sách

                    Hỏi còn sách nào hơn ?”

Trời Phật, thần thánh, văn chương chữ nghĩa rồi cả quan Nguyên soái chẳng cứu được chàng, rốt cuộc chính những người dân đen lại ra tay nghĩa hiệp. Ông lão bộc đã tuyển mộ được hơn 20 nghĩa sĩ, móc nối với con hầu của nàng Tuý Tiêu hẹn ngày hội đốt cây bông nàng sẽ mặc đồ trắng nhường cho con hầu mặc đồ xanh, khi kiệu đi vào đám đông, thừa cơ lộn xộn  sẽ cướp nàng Tuý Tiêu trả về cho chàng Dư. Kế hoạch sắp xếp xong xuôi, chàng Dư chẳng mất công mất sức gì, cứ ngồi nhà chờ nghĩa sĩ khiêng kiệu nàng Tuý Tiêu trở về :

“Lòng ta bồn chồn

                    Rối rít tiếng chim Anh Vũ

                    Canh đà chuyển sang canh

                    Sao kiệu nàng chưa về tới

                    Hay đường đi nhiều trở ngại ?”

Rồi đang nước sôi lửa bỏng, chẳng nghĩ gì tới những người vì mình xả thân nơi đao kiếm, chàng chỉ nghĩ tới nỗi sung sướng gặp lại vợ :

“Hót inh lên anh vũ ơi

                    Kiệu hoa đã đến rồi

                    Nến ơi bừng sáng

                    Đào ơi, khoe hết màu tươi…”

Thế rồi đúng ý nguyện của chàng, kiệu hoa đã đến, nàng áo xanh cũng bước xuống, chàng Dư mừng rỡ :

“ Tuý Tiêu…Tuý Tiêu…”

Nhưng hỡi ôi không phải Tuý Tiêu vợ chàng mà là con hầu mặc áo của nàng theo kiểu “Lê Lai liều mình cứu chúa”. Cô ta cho biết :

“Chị Tuý Tiêu trong cơn xô xát hỗn loạn

                    Bị một nhát thương

                    Qua dòng nước trong

                    Chị gieo mình tuẫn tiết…”

Hay tin dữ, chàng Dư chưa kịp thắp cho nàng nén hương đã vội vàng khăn gói xuống đò theo chân lão bộc chạy trốn khỏi địa phương. Kết thúc vở kịch tác giả ca ngợi:

“Tuý Tiêu! Tuý Tiêu! Ngọn đèn không tắt

                    Lửa hồn đốt kiếp

                    Trao nhau trọn xác trọn hồn…”

Còn nhân vật chính, chàng Dư Sinh, dẫu có làm cả ngàn bài thơ nghĩa khí, rút cuộc vẫn lộ ra chàng nho sinh hám gái và hèn nhát.

Rút cuộc Lưu Trọng Lư cố tô vẽ chân dung người quân tử nhưng vô tình cứ lộ ra chân tướng kẻ tiểu nhân. Mô tả người anh hùng lắm khi cứ thò ra tính cách một “thằng đểu” − thực ra chẳng phải căn bệnh của riêng thi sĩ Lưu Trọng Lư  mà là cố tật chung cho mọi văn nhân thi sĩ một  khi đã cam chịu viết văn chương phải đạo, răm rắp tuân thủ những yêu cầu tức thời của chính trị.

Trên trang thờ thi sĩ Lưu Trọng Lư tại nhà lưu niệm ở ngoại thành Sài gòn có treo bài thơ di cảo tự tay ông viết:

“Đi dưới vườn nhân dạ ngẩn ngơ

                    Vì thương người lắm mới say thơ

                    Phên thưa đã có bàn tay đỡ

                    Đêm lạnh phăng lần những mối tơ

Đẹp lắm trên đời những vấn vương

                    Chao ôi thiên lý một con đường

                    Đi trong trời đất từ duyên ấy

                    Sớm tối không rời một chữ thương…”

Vậy là chẳng sám hối quyết liệt được như Chế Lan Viên trong bài thơ “Bánh vẽ”, đến tận cuối “con đường thiên lý” thi sĩ họ Lưu vẫn thương trời, thương đất, thương người chung chung mà chẳng dám buông một tiếng thở dài, tự vấn về con đường mình đã đi.

Cũng trong nhà lưu niệm này, có treo một tấm liễn ghi bút tích Lưu Trọng Lư :

“Tôi thà bị lừa còn hơn không tin vào con người…”

Than ôi, bằng chữ nghĩa và sự nghiệp lãnh đạo văn hoá văn nghệ  của mình, chính ông đã lừa biết bao thế hệ độc giả mà ông đâu có biết. Bởi thế, nhiều năm qua, thân nhân và tỉnh uỷ Nghệ An cố dựng lên “Giải thương văn học Lưu Trọng Lư” mà chẳng mấy ai biết tới.

“Con nai vờ ngơ ngác

                    Nó ca bài cải lương…”

Lưu Trọng Lư chẳng  ca “cải lương” đâu ông Xuân Sách ơi, ông ấy ca bài “khôn ngoan” đó…

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Huy Tưởng:

NGƯỜI “SỐNG MÃI VỚI HỘI NHÀ VĂN”

 

 

Họa chân dung Nguyễn Huy Tưởng trong tập thơ “Chân dung nhà văn”, nhà thơ Xuân Sách hạ mấy câu:

 

Anh chẳng còn Sống mãi

                          Với Thủ đôLuỹ hoa

                          Để những người ở lại

                         Bốn năm sau khóc oà…”

 

Xin lưu ý những từ gch chân là tên những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng (“Những người ở lại”, “Bốn năm sau”, “Lũy hoa”, “Sống mãi với thủ đô”) viết từ sau khi tham gia cách mạng mà nếu kiên nhẫn đọc cho hết, tuy không “khóc oà” thì trong lòng cũng…sụt sịt.

Trên bầu trời văn học của Đảng, Nguyễn Huy Tưởng được coi là một vì sao sáng, trên chiếu văn của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng được ngồi dãy đầu, trên cả Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi… chỉ dưới có Trường Chinh và Tố Hữu.

Ông quê ở ngoại thành Hà Nội, sinh năm 1912, xuất thân trong gia đình nhà nho, 30 tuổi mới viết được “Đêm hội Long Trì”, tiểu thuyết “feuilleton” (đăng báo nhiều kỳ) (1942-43), “Vũ Như Tô”, kịch lịch sử “feuilleton” (1943-44), “An Tư”, tiểu thuyết cũng “feuilleton” (1944-45).

“Đêm hội Long Trì” xoay quanh tội ác của Đặng Mậu Lân, em trai Đặng Thị Huệ, vợ yêu của chúa Trịnh Sâm. Chúa có con gái yêu là Quỳnh Hoa cũng phải ép gả cho tên dâm tặc này khiến quận chúa buồn phiền mà chết. Nguyễn Huy Tưởng hư cấu ra một viên tướng tài là Nguyễn Mại vào tận phủ giết Đặng Mậu Lân và được chúa chẳng những tha bổng mà còn khen thưởng trong tiếng hoan hô của nhân dân. “Đêm hội Long Trì”  thực ra là truyện dã sử, viết vội vã để đăng theo kỳ báo, thiếu hẳn  tầm khái quát  để có thể trở thành một tiểu thuyết lịch sử có giá trị văn chương.

Kịch lịch sử “Vũ Như Tô” còn có chất tư tưởng cao hơn “Đêm hội Long Trì”. Kiến trúc sư Vũ Như Tô bị tên hôn quân Lê Tương Dực bắt vào cung ép xây Cửu Trùng Đài cho hắn cùng lũ cung nhân vui chơi, hưởng thụ. Thoạt đầu Vũ Như Tô khước từ không xây vì không muốn mang nghệ thuật phục vụ bạo chúa.  Thế rồi Vũ Như Tô gặp nàng cung nữ Đan Thiềm, nàng này xui rằng “Đây là lúc ông nên mượn tay vua mà thực hành mộng lớn của ông. Vua và đám cung nữ kia sẽ mất đi nhưng tác phẩm của ông sẽ còn lại đến muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện. Hậu thế sẽ xét công cho ông và nhớ ơn ông mãi mãi…”.  Thế là nghe lời nàng Đan Thiềm, Vũ Như Tô lao vào xây Cửu Trùng Đài với niềm say mê nghệ thuật không kể đến bao nhiêu đau thương chết chóc của hàng vạn con người. Rồi nhân dân nổi lên trừng trị hôn quân, đốt cháy Cửu Trùng đài đẩy Vũ Như Tô vào cơn mê hoảng: “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài…”.  Bi kịch của Vũ Như Tô thực ra chỉ là bi kịch của một kiến trúc sư muốn mượn tay bạo chúa để xây dựng một công trình nghệ thuật để lại cho hậu thế, lấy cứu cánh là “cái đẹp” biện minh cho phương tiện “dã man”. Bởi  thế hình tượng Vũ Như Tô chỉ là một “ca đặc biệt” của người kiến trúc sư chứ chưa khái quát được thân phận người nghệ sĩ khao khát sáng tạo trong một xã hội hà khắc, tự do bị bóp nghẹt; giá trị nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô chính vì thế mà bị hạn chế.

Tiểu thuyết lịch sử “An Tư” lại mở ra một không gian rộng hơn. Đó là thời vua Trần Thiệu Bảo, quân Nguyên sang cướp nước ta. Cuốn truyện đề cập tới hầu hết các nhân vật lịch sử trong thời kỳ này: Hưng Đạo vương Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản … các sự kiện lịch sử như Hội nghị Diên Hồng, trận chiến trên sông Bạch Đằng… về phía quân Nguyên thì có Thoát Hoan, Toa Đô, Ô Mã Nhi… và hai nhân vật chính là công chúa An Tư và tướng Chiêu Minh Vương Trần Thông. Hai người này vốn yêu nhau và đã đính hôn nhưng Thoát Hoan mang 50 vạn sinh mạng tù binh để đánh đổi lấy An Tư. Triều đình buộc phải chấp thuận. Thế là nàng công chúa tuyệt sắc, tài hoa và giàu lòng yêu nước đành gạt nước mắt vĩnh biệt người yêu để sang trại quân Nguyên làm vợ kẻ thù. Tướng Trần Thông trúng tên chết ngay trước ngày quân ta đại thắng, công chúa An Tư hổ thẹn không muốn nhìn mặt ai lẳng lặng nhảy xuống sông tự vẫn. Cuốn truyện dầy có 115 trang mà dàn trải đủ các nhân vật, các sự kiện trong một thời kỳ chống ngoại xâm hào hùng nhất của dân tộc đồng thời lại muốn đi sâu vào bi kịch cá nhân của công chúa An Tư và tướng Trần Thông, bởi thế người đọc thấy rõ sự sơ lược và sự tuỳ tiện trong việc đưa các tình tiết lịch sử vào truyện, – dường như có cũng được mà không có cũng không sao. Tác phẩm lại vẫn dừng ở truyện dã sử hơn là một pho tiểu thuyết lịch sử như các nhà phê bình cách mạng gán cho nó.

Vậy là sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Tưởng thời trước cách mạng chỉ có 3 tác phẩm loại “thường thường bậc trung” như đã nêu trên, thiếu hẳn “một cuốn để đời” như  Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan… hoặc cả một sự nghiệp đồ sộ như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…

Vốn tham gia cách mạng từ rất sớm, năm 1942, Nguyễn Huy Tưởng đã gia nhập tổ chức Văn hoá Cứu quốc  của Đảng cộng sản, sang năm 1945 được  cử đi dự Đại hội Tân Trào, năm 1946 được  kết nạp Đảng, được vào Quốc hội, năm 1949 được cử vào Tiểu ban văn nghệ trung ương của Đảng… Tham gia chặt chẽ vào các công tác của cách mạng như vậy, Nguyễn Huy Tưởng gần với nhà chính trị hơn là nhà văn.

Ấp ủ chủ đề Hà Nội kháng chiến, Nguyễn Huy Tưởng viết khá nhiều về đề tài này nhưng đều thất bại. Năm 1948, ông viết kịch “Những người ở lại” mô tả gia đình bác sĩ Thành với những quan hệ tình ái giữa bác sĩ Thành và Ngọc Cẩm rồi Ngọc Cẩm lại “quan hệ” với Phủ Dương… làm người đọc thấy vở kịch của ông chịu ảnh hưởng quá rõ của vở kịch “Lôi Vũ” của Tào Ngu. Chính Nguyễn Huy Tưởng sau này cũng thừa nhận về giá trị của vở kịch “Những người ở lại”: “Những chuyện nhỏ gia đình, công chúng ngày nay đi xem đều thờ ơ lãnh đạm. Kịch “Những người ở lại” chỉ nói lên được cái băn khoăn của vài cá nhân, không nói lên được những băn khoăn của quần chúng cho nên đối với công chúng bấy giờ, kịch của tôi đã đặt ra những vấn đề không quan thiết tới vận mệnh của số đông…”

Không nói được những băn khoăn của đám đông tức là gián tiếp thừa nhận thiếu sự khái quát. Chính vì căn bệnh đó mà chỉ một năm sau viết “chuyện nhỏ gia đình” trong “Những người ở lại”, năm 1950, Nguyễn Huy Tưởng đã mở rộng đề tài sang viết về cả một vệt  chiến trường. Tập “Ký sự Cao Lạng” nhằm phản ánh “Chiến dịch Biên giới” từ lúc chuẩn bị chiến trường, chiến dịch mở màn, các trận đánh quyết định, những ngày truy kích giặc và niềm vui chiến thắng của quân và dân. Tất cả diễn ra khá gấp rút nên Nguyễn Huy Tưởng đành phải dùng lối viết “ghi chép” chứ chưa hẳn đã là “ký sự”. Chẳng hạn bức tranh về tinh thần anh dũng của quân ta:

“Những báng súng đập nhau chan chát. Lực dằng  khẩu súng trong tay một thằng Đức cao lớn trên miệng hầm. Cả hai ngã lộn xuống hầm, ôm nhau, đấm nhau, cắn nhau. Lực gỡ ra được, ngồi trên ngực nó, nghiến răng bóp cổ thằng giặc nhầy nhụa mồ hôi…”

Hoặc cảnh đoàn dân công tải đạn ra chiến trường được khắc hoạ nặng về “ca ngợi tình đoàn kết giữa các dân tộc chung một quyết tâm tiêu diệt kẻ thù”:

“Mấy chị Mán đỏ khăn áo sặc sỡ, trán cạo nhẵn, nhễ nhại mồ hôi  đang còng lưng đeo sọt đi giữa đám đông. Những chị Nùng áo ngắn tay rộng. Những chị Thổ tay chẽn áo dài. Những anh Mán cao lớn để hồng mao. Số đông áo chàm. Khi tản, khi chụm, khi lố nhố dưới thung lũng, khi thoăn thoắt lên đèo cao, khi tản vào rừng cây chuyển động, khi xoá đi, hoà vào những hàng dài đá xám lởm chởm bên đường, thỉnh thoảng bật lên vải chàm trắng của người đàn bà Mán Lài áo pha mầu đất,váy nhiều nếp xùm xoà…”

“Các chị đi hành quân, dài và lủng củng, ngoằn ngoèo, nối rừng nọ với rừng kia, đèo này với đèo khác, ngày đêm không nghỉ…”

Cứ như thế, toàn bộ tập bút ký giống như những “ký hoạ” thiên về nhãn quan phục vụ chính trị chứ  ít đi sâu vào tâm tư, tình cảm cá nhân để từ đó phảng phất sắc màu thân phận con người trong chiến tranh.

Tập “Ký sự Cao Lạng” dầy hơn trăm trang được hoàn thành ngay trong không khí chiến thắng của chiến dịch Biên giới tháng 9/1950, bởi thế nó được coi như một minh chứng mẫu mực về “lý thuyết sáng tác kịp thời” của Đảng. Quả thực đi sâu vào nội dung “Ký sự Cao Lạng”, người ta nhận thấy ngay “tính kịp thời” của nó. Với cảm hứng đầy “hồ hởi” và phấn khởi, Nguyễn Huy Tưởng phác hoạ lại toàn bộ diễn biến của chiến dịch từ lúc chuẩn bị tới khi kết thúc lúc quân ta thắng lớn, đánh tan cả hai binh đoàn thiện chiến Pháp bắt sống hai quan năm của Pháp là Charton và Lepage giải phóng cả một giải biên giới Từ Cao bằng tới Lạng Sơn.

“Ký sự Cao Lạng” gồm 6 phần trong đó 2 phần đầu mô tả không khí chuẩn bị nhộn nhịp của quân dân Cao Lạng “tự vắt mình để dốc hết người và của vào trận đánh”, dù hết sức khó khăn gian khổ nhưng đâu đâu cũng “thấy hiện lên tinh thần phấn khởi, hào hứng, đâu đâu nghe những tiếng hò hẹn, động viên nhau “quyết giật giải của Hồ Chủ tịch, quyết thi đua lập công, trận này phải thắng…”. Phần thứ ba ghi lại cuộc chiến đấu mở màn, trận công kiên đồn Thất Khê, chủ nghĩa anh hùng cách mạng chiến đấu dũng cảm và nhiều gương anh hùng đã xuất hiện: Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, La Văn Cầu chặt tay bị thương cho khỏi vướng víu xông lên đánh bộc phá tạo cửa mở cho xung kích hạ đồn Đông Khê. Cho tới ngày nay chuyện anh hùng La Văn Cầu tự chặt tay mình vẫn còn được nhắc tới, riêng chuyện Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai thì không, có lẽ vì sự tích phi thường này phải nhường cho anh Bế Văn Đàn người dân tộc thiểu số, chắc để cho phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng trong khen thưởng thành tích chiến đấu. Điều này cho thấy những chất liệu Nguyễn Huy Tưởng viết trong “Ký sự Cao Lạng”  thường được lấy từ …báo cáo thành tích thi đua của các đơn vị bộ đội và vì phải phục vụ cho công tác tuyên truyền nên nó thường được thêm mắm muối và phóng đại. Gương anh “Trần Cừ lấp lỗ châu mai” cũng tương tự như gương em bé đuốc sống Lê Văn Tám tẩm dầu vào người chạy vào đốt kho xăng Nhà Bè do nhà sử học Trần Huy Liệu “sáng tác” ra để phục vụ công tác tuyên truyền theo sự xác nhận mới đây của Giáo sư Phan Huy Lê. Phần 4 và 5 ghi lại cuộc vận động chiến của bộ đội đuổi theo và nghiền nát hai binh đoàn thiện chiến của Pháp tại vùng núi Khua Luông, Quý Châu. Phần 6 ghi lại không khí chiến thắng tại vùng Cao Lạng trong đó nổi bật hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị quân đội “Bác không đứng trên lễ đài. Bác đi thẳng xuống bãi cỏ. Bác không đội mũ. Mặt Bác sạm phong trần. Đầu hoa râm đã bạc nhiều. Bác mặc áo hở ngực. Quần bác nhàu, chân bác đi dép cao su trắng, đứt quai sau. Bác đến với bộ đội như cha đến với con: vui vẻ, thân mật, tạo một nguồn phấn khởi mạnh mẽ…”

Đọc tới chi tiết tác giả ca ngợi “chiếc dép cao su trắng đứt quai sau” của bác Hồ, người ta mới hiểu vì sao trong tất cả những bộ tuyển tập và toàn tập về Nguyễn Huy Tưởng và trong tất cả những bộ lịch sử văn học, bao giờ người ta cũng nhắc tới “Ký sự Cao Lạng”   như là một thành tựu không chỉ của riêng Nguyễn Huy Tưởng mà còn là của chung nền văn học cách mạng. “Hình tượng bác Hồ” không phải là hiếm hoi trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Tháng 9/1950 ông hoàn thành “Ký sự Cao Lạng” thì trước đó vài tháng vào dịp “sinh nhật Bác 19 tháng 5” ông có bút ký “Hồ Chủ tịch năm nay”, sau này cũng được đưa vào các bộ tuyển văn học. Bài viết kể lại nhân ngày sinh nhật Bác tác giả vinh dự được tới thăm nhà Bác ở trong rừng  chiến khu Việt Bắc. Ngôi nhà giữa rừng được tác giả diễn tả:

“Một con đường sạch và dài dẫn tôi vào. Tôi có cảm tưởng đi giữa một công viên Hà Nội với rất nhiều péc-gô-la. Sự thực hai bên tôi toàn là rau rền, rền xanh, rền tía, rền đỏ; giàn toàn thị là giàn mướp, giàn bầu. Một vài giàn mướp đã trổ hoa vàng, bướm lượn tíu tít. Máy bay không làm vẩn trước sau lễ chúc thọ. Chiều hôm nay bình tĩnh lắm. Sau một trận mưa, trời bắt đầu hửng nắng. Ánh hồng trên các thân cây…”

Sắp được đặt chân vào nhà Bác, tâm sự của tác giả thật phức tạp:

“Tôi lâng lâng vui, đồng thời cũng ngài ngại, cái ngại dĩ nhiên của một người sắp đến trước một vĩ nhân. Tôi đã được gặp Cụ ở Bắc Bộ phủ, ở các cuộc mít tinh, ở mấy cuộc hội nghị, những buổi dạ hội tại Nhà hát Lớn Thủ đô. Nhưng từ ngày kháng chiến, tôi không được gặp Cụ và bị kích thích mạnh mỗi khi nghe các bạn kể lại những chuyện về Cụ: Cụ đánh bóng vô lê, Cụ tăng gia. Cụ đi kinh lý mặt trận. Cụ đem cái vui và niềm tin đến cho bao nhiêu hội nghị. Cụ tiễn chân các cán bộ tới thăm Cụ một buổi chiều lẫn lộn cây cối và mưa gió của chiến khu …Cho nên lần này đi chúc thọ Cụ, tôi vẫn có cái náo nức của những buổi đầu tiên gặp Cụ…”

Rồi Nguyễn Huy Tưởng nhớ lại kỷ niệm một đêm ở hội nghị dân quân, các nhà văn, nhà báo xúm nhau lại để viết những chuyện anh hùng của bộ đội và nhân dân, những chuyện tàn ác của giặc Pháp mà các đại biểu đã kể lại trong hội nghị. Mọi người hăm hở viết suốt đêm trắng, hoàn thành “năm chục truyện căm thù và anh dũng” để kịp tinh mơ sáng hôm sau đưa cho người du kích cưỡi ngựa chạy đi …dâng Bác. Sau cùng Nguyễn Huy Tưởng cũng kể tới giây phút đặt chân vào nhà Bác:

“Vườn rền dẫn đến một khu rất đông người, nhiều cây và rất nhiều khoảng nắng. Chỗ nào cũng có thiếu nhi. Chúng nhảy tung tăng. Chỉ nhìn theo chiều mắt lóng lánh của chúng cũng biết Cụ ở chỗ nào. Và tôi gặp Cụ. Một cái bắt tay. Chụp ảnh. Những nụ cười chung quanh. Tôi trở về với gia đình…”

Khi mọi cảm giác hồi hộp đã tan biến, Nguyễn Huy Tưởng đã tưởng như ở nhà mình, ông mới tả Bác:

“Trán Cụ chiều nay không có nét răn. Nước da hồng sáng. Bộ áo kaki cũ và mềm, phơn phớt trắng hồng càng tôn nước da và làm cho cử chỉ thoải mái, thanh niên. Có một cái gì quyến rũ trong đôi mắt thẳm sâu, phản ánh những khóc cười của dân tộc…”

Quả thực những văn thi sĩ quán quân về ca ngợi Bác như nhà thơ Tố Hữu “Bác ơi trán bác mênh mông thế ?” hoặc như  nhà thơ Chế Lan Viên gọi Bác là “Người đi tìm hình của nước” …cũng chưa ai bằng được Nguyễn Huy Tưởng có một chi tiết thật đắt nhìn thấy “sự khóc cười  của dân tộc” trong đôi mắt sâu thẳm của Bác.

Tiếp đến Nguyễn Huy Tưởng tả phòng khách của Bác:

“Bao vây Hồ Chủ tịch là cả Việt Nam thu gọn do những đại biểu muôn vẻ muôn mầu….”

Trước hết phải kể đến cán bộ cao cấp: Cụ Tôn Đức Thắng “người công nhân lão đại”, ông Trường Chinh “nhỏ nhắn nói chuyện vui vẻ”, ông Phan Anh thấp, vững “đang nghĩ tới một tập Kiều tặng Cụ”,  ông Hoàng Quốc Việt “nhanh nhẹn như một gia trưởng”…Rồi đến đại biểu thanh, công, phụ, trước hết là… thiếu nhi. “Thiếu sinh quân. Thiếu nhi nghệ thuật. Thiếu nhi địa phương. Cháu nhìn Bác không chớp mắt. Cháu bên vai bác nũng nịu. Cháu ngồi dưới chân Bác, nghểnh cổ há mồm. Cháu biếu bác một bài hát. Cháu dâng bác một cây sáo mộc…”. Rồi đến anh hùng lao động, anh hùng của vùng tạm bị giặc chiếm… “Lá cờ đỏ thêu chỉ vàng “vạn thọ vô cương” chói lọi gian phòng…”

Nguyễn Huy Tưởng tả Bác vui với thiếu nhi thì thấy Bác giản dị, gần gũi  nhưng khi nói tới lá cờ “vạn thọ vô cương”  thì lại thấy Bác như một… Hoàng Đế. Không hiểu “lá cờ đỏ thêu chỉ vàng” này có thật không hay là Nguyễn Huy Tưởng đã… bịa ra để “nịnh khéo” Bác, có điều từ đầu đã ca ngợi Bác là “giản dị vô cùng” vậy sao còn bầy đặt ở phòng Bác một lá cờ viết chữ Hán rắc rối vậy thì quần chúng công nông hiểu làm sao?

Rồi cụ Hồ ngồi nói chuyện với một anh chiến sĩ cụt tay trong đại đoàn 308. Nguyễn Huy Tưởng viết:

“Tôi không nghe rõ câu chuyện giữa Cụ và người chiến sĩ, chỉ thấy sau lưng Cụ, cửa sổ tròn, để lọt một mảnh trời sao lấp lánh…”

Tới đây người ta thấy được cái “thủ pháp nghệ thuật” hoặc nôm na là “cái mẹo ca ngợi” của Nguyễn Huy Tưởng. Khi vẽ chân dung bác Hồ ông thường gắn với khi thì “sự khóc cười của dân tộc” khi thì cả một trời sao…

 

Cuộc chúc thọ bác Hồ tạm lắng xuống để nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có thể nhìn thấy cả một mảnh trời sao sau lưng bác, mãi đến khi “ông Trần Văn Giàu  đọc những điện văn của các chính phủ, đoàn thể các nước bạn chúc mừng ngày lục tuần đại khánh của Cụ, phòng họp mới trở lại cái tíu tít ban nãy”. Lúc này người ta nghe thấy “những tên Staline, Hồ Chí Minh quyện nhau trong một tinh thần quốc tế mà cảnh sum vầy ở góc trời này, hôm nay càng làm bật ý nghĩa thâm trọng”,  nghe thấy “những lời hô khẩu hiệu”, “bài hát Hồ Chí Minh muôn năm cất lên vang lừng”…Hoá ra người vinh dự nhất được cụ Hồ bắt tay trong buổi chúc thọ lại là linh mục Phạm Bá Trực, ngày đó còn đang thay mặt Quốc hội.

“Cụ bước lại bắt tay cha Trực rồi nói:

“Tôi bắt tay Quốc hội tức là bắt tay toàn dân…”

Chỗ này mới thấy tính “mặt trận” của cụ Hồ – cụ bắt tay một linh mục làm hả dạ giáo dân nhưng cụ lại nói cụ bắt tay “Quốc hội”; như vậy mấy ông “sư quốc doanh” cũng không có gì phải ghen tị.

Được “bác Hồ bắt tay”, cha Trực sướng quá, “hát ngay một đoạn thánh ca mừng Cụ”:

“O Remus

Pro Domino notio Ho Chi Minh…

Dominus conservet eum, et

Vìvifice sum et Beetam…”

Linh mục hát bằng tiếng la tinh được tác giả dịch ra như sau:

“Hỡi các giáo hữu ta hãy nguyện chúc cho vị Chủ tịch quý mến của chúng ta Hồ Chí Minh, xin Thiên Chúa hằng gìn giữ cho Người, xin Thiên Chúa hãy ban cho Người hưởng trường thọ và được hạnh phúc thật trên cõi đời, xin Thiên Chúa hằng hộ vực và che chở Người cho khỏi mọi mưu chước của kẻ thù của Người (cũng là kẻ thù chung của Nhân loại).

Chẳng hiểu tiếng tây tiếng u ra sao, chỉ thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dịch ra thành bài “lãnh tụ ca” bốc Người lên tầm cỡ thay mặt cho nhân loại mới ghê. Ông lại còn tả tiếng hát của linh mục:

“Tiếng hát âm vang trang nghiêm. Phòng thốt nhiên im lặng phảng phất  một cái gì cao rộng, bao trùm. Cụ nắm tay cha Trực rất lâu…”

Nhiệt tình ca ngợi lãnh tụ của cha Trực  đã được  đền đáp kịp thời, được “Cụ nắm  tay rất lâu”, vậy hẳn là một ân sủng lớn đối với linh mục.

Sau người già ắt phải đến con nít.

“Bác lại ngồi giữa các cháu”  để coi “dạ hội nhạc kịch do các Thiếu sinh quân và Thiếu nhi nghệ thuật trình bầy”. Lẽ ra lúc này Bác phải khen ngợi cháu này hát hay, cháu kia múa giỏi, lạ thay “lúc buông màn tôi nghe Bác nói với các huynh trưởng của hai đoàn: đừng để các cháu đói. Phải lo  cho các cháu được học, tiến bộ…”. Rất có thể bác Hồ sẽ ra chỉ thị cho huynh trưởng thiếu nhi như vậy, nhưng chắc chắn phải vào lúc “khai hội nhận chỉ thị” chứ không phải lúc vừa coi xong các cháu biểu diễn như thế. Chỗ này tác giả “hơi  vụng” trong ca ngợi đức độ của bác Hồ.

Rồi sau cùng “ân sủng của bác” cũng tới với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng:

“Buổi chiều tôi đang ăn cơm, Cụ đến sau lưng, đặt tay lên vai hỏi:

“ Chú ăn được mấy bát ?”.

Chúng tôi hỏi lại Cụ, Cụ nói:

” Tôi ăn được  hai bát…”

Tôi se se trong lòng…”

Nhà văn ngậm ngùi thương Bác “ăn có hai bát cơm” nhưng không dám nói ra. Rồi trước khi trở về đơn vị, nhà văn được cụ Hồ nhắc nhở về 4 điểm thi đua giữa các …báo: “đúng chính trị – văn chương hoạt bát – ít tếu – hình thức giản đơn”

Cho tới ngày nay, hơn nửa thế kỷ sau, báo chí Việt Nam về căn bản vẫn  tuân theo những chuẩn tắc trên, đặc biệt là “đúng chính trị” – tức là phải tránh né những vấn đề nhạy cảm, phải tuân thủ sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, chỉ được phép đưa tin có lợi cho Đảng, cho “ổn định chính trị” của Đảng.

Sau cùng đã tới lúc nhà văn phải chia tay cụ Hồ với cảm giác được  ông diễn tả: “Nhiều tiếng nói trong tôi một lúc: Phố Lu – Bắc bộ phủ – Ba Đình – Bác – Chú – Tổng phản công – Tôi ăn được hai bát. Cụ sáu mươi. Cụ đã sáu mươi…”.

Đúng là một thứ tình cảm “đa chiều”, trong đó nổi lên tình cảm thương “cụ Hồ ăn được hai bát cơm”  và lo lắng “Cụ đã sáu mươi…Cụ đã sáu mươi…”. Ôi ước gì, Cụ sống lâu vài trăm tuổi. Đó là mơ ước trong sâu thẳm nhà văn và ta đành phải nói ra hộ ông.

Bài báo “Hồ chủ tịch năm nay”  được Nguyễn Huy Tưởng ghi ngày viết đúng vào sinh nhật lần thứ 60 của cụ Hồ : “19-5-1950”.

55 năm rồi, hơn nửa thế kỷ  đã trôi qua, một tháng nữa lễ “Kỷ niệm 105 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” lại diễn ra rầm rộ trên khắp đất nước Việt Nam. Hoá ra ở cụ Hồ cái gì cũng vĩ đại, cũng kiệt xuất, cũng thiên tài cả, chỉ trừ có mỗi tuổi thọ của cụ là cũng như người đời thôi. Ông nhà văn hình như cũng cảm thấy điều đó nên kết thúc bài viết người ta thấy rõ ông thật xót xa trong lòng.

Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn  Huy Tưởng, vở kịch “Bắc Sơn” được công diễn năm 1946 và được  báo chí cách mạng rối rít khen  ngợi : “Bắc Sơn ra đời đã đặt nền móng cho một nền kịch mới … Bắc Sơn đã cảnh tỉnh cho những người còn nghi ngờ kịch cách mạng  và xứng đáng là vở kịch cách mạng thành công nhất từ trước tới nay …”  ( Báo Vì nước – 1946).

Kịch “Bắc Sơn” viết thế nào mà được báo chí ca ngợi ghê gớm vậy?

Kịch lấy cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn làm bối cảnh, thời gian vẻn vẹn có mấy tháng từ lúc khởi nghĩa nổ ra (27-9-1940) cho tới lúc du kích thất bại phải bỏ Vũ Lăng rút lên rừng (đầu 1941). Diễn tả cuộc xung đột giữa hai phe cách mạng và phản cách mạng qua đó khẳng định cách mạng nhất định thắng, báo hiệu cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sẽ nổ ra.

Câu chuyện kịch “Bắc Sơn” xoay quanh “hai phe” đối nghịch trong gia đình người dân tộc Tày – ông cụ Phương, vợ, con trai, con gái và con rể. Cụ Phương và con trai là Sáng hăng hái tham gia cách mạng. Cô con gái là Thơm và mẹ thuộc phe lừng chừng đứng giữa. Chàng rể, chồng của Thơm là Ngọc thuộc phe đối lập, từ chỗ chế giễu cách mạng đến chỗ dẫn đường cho Pháp đàn áp du kích và trở thành một tên Việt gian nguy hiểm. Sáng bị Pháp bắn chết gây cho cụ Phương hiểu lầm bà vợ dắt Pháp về bắn con bèn rút súng bắn vợ. Rất may cô con gái Thơm xông vào gạt ra cứu sống mẹ. Cụ Phương sau khi bắn chết một tên Pháp cũng bị tử thương. Có hai cán bộ cách mạng  là Thái, Cửu chạy vào nhà Thơm trốn Pháp được cô dấu trong buồng, chờ chồng bỏ đi, Thơm mới chỉ đường cho cán bộ chạy thoát. Sau Thơm theo cách mạng, lên căn cứ tiếp tế muối và báo tin Pháp sắp vây lùng. Vừa lúc đó Ngọc, chồng Thơm mò tới bị Thơm dõng dạc tố cáo bộ mặt Việt gian của chồng. Ngọc rút súng bắn vợ. Nhờ Thơm, quân du kích diệt được giặc Pháp….

Vở kịch “Bắc Sơn” chia đôi hai loại người rạch ròi: cách mạng và phản cách mạng – ngay cả trong quan hệ vợ chồng, người ta cũng có thể bị phân hoá thành hai phe:

THƠM ( nói với chồng): “Thôi, đến lúc này tôi cũng chẳng còn úp mở làm gì nữa. Tôi biết anh lắm rồi… Anh giấu ai chứ giấu tôi thế nào được ? Ba tháng nay tôi ăn chung ở đụng với anh tôi khổ sở biết là chừng nào. Anh giết cha tôi, anh giết em tôi, anh làm tan nát cửa nhà tôi, anh làm hại bao nhiêu người, anh tưởng tôi không biết nhục à ? Vợ một thằng chó săn (khóc). Sao tôi lại theo anh kia chứ? Sao tôi với anh ở lại Bắc Sơn kia chứ ? (khóc nức nở) Anh có phải là người nữa không? Phải, tôi giúp quân du kích đấy; tôi biết tin anh dắt Tây đến đánh úp, tôi đi báo quân du kích đấy. Tôi đố anh phá nổi quân du kích. Mở mắt ra! Nó sai như con chó, nó khinh như con chó mà không biết đời à? Các ông đồng chí đâu! Bắt lấy nó. Nó đây rồi…Nó đây rồi… đừng thương nó…”

Thế là cô vợ hô hoán lên cho du kích chạy tới bắt chồng…

Anh chồng – tên Ngọc, không còn tin vào mắt vào tai mình nữa. Chính cô vợ chung chăn chung gối của mình lại dâng mình cho cách mạng.

NGỌC – (mất sắc)Con kia, mày định giết tao phải không ?

THƠM (lăn xả vào Ngọc hú lên): Anh em ơi, nó đây rồi. Chú ơi…ông Thái ơi…”

Thế là chồng rút súng bắn vợ và liền đó bị Tây… bắn nhầm chết. Tuy nhiên, sau đó cô vợ – Thơm, không chết, cô vẫn sống để chỉ vào xác chồng mà căm thù:

“ Chính nó bắn tôi  (chỉ về phía Ngọc) Thằng  Ngọc… Chúng nó bắn nhầm phải thằng Ngọc. Không biết nó đã thấy nhục chưa? Chỉ tiếc là mình không được xử tội nó…”

Rồi quên cả đau đớn và cũng chẳng hiểu sao lúc này cô nàng lại nghĩ tới…bộ đội:

“Tôi chết mất…Quân ta thế nào ?”

Và rồi cô nàng như mê sảng hướng ra mặt trận:

“Cho tôi đi xem đi. Chú tôi với em Sáng đang bắn chúng nó đấy. Trường Vũ Lăng ta lại chiếm được kia. Đi mau lên các ông. Các ông cố lên nhớ. Mau lên, có phải cờ ta đấy không ? Được thật rồi…”

( Thơm lả ra sau sự kích thích mãnh liệt của tinh thần. Tiếng hát vang lừng hùng dũng).

Than ôi, ông Nguyễn Huy Tưởng ép uổng “bông hoa rừng” giác ngộ cách mạng và bày tỏ cái sự giác ngộ ấy một cách lố bịch đến thế thì thôi. Giữa đôi vợ chồng chẳng hiểu sao không mảy may chút nghĩa tình phu thê mà chỉ có “cách mạng” hoặc “phản cách mạng”. Giả dối đến thế không hiểu trong lòng ông có thấy xấu hổ khi đặt bút viết ?

Kịch “Bắc Sơn” đã đặt “nền móng cho kịch cách mạng” như thế đấy. Nó được đám văn nô bốc lên mây xanh. Nguyễn Đình Thi reo hò:

“Viết Bắc Sơn, Nguyễn Huy Tưởng muốn bày giãi lòng tin chắc của mình (vào cách mạng). Không, nghệ thuật với cuộc sống không thể nào rời nhau, nhất là trong lúc này… Kịch Bắc Sơn đưa lên sân khấu những sự việc mới, những đám đông, những con người mới của cách mạng: người cán bộ, ông già nông dân khẳng khái, anh du kích, bà cụ có tấm lòng yêu nước trung thực. Đấy là điều đáng chú ý nhất và cần nhấn mạnh nhất…” .

Nhà phê bình mác-xít hơn cả ông Trường Chinh là giáo sư Hà Minh Đức cũng bốc thơm:

“Qua vở kịch Bắc Sơn, lần đầu tiên Nguyễn Huy Tưởng xây dựng thành công những con người mới xuất thân từ quần chúng lao động. Phần lớn họ là những người nghèo  khổ  bị áp bức, vùng lên làm chủ vận mệnh mình…”

Sự thực, đó là một bước lùi vĩ đại, trong khi kịch nói thế giới từ thời Shakespeares đã đưa lên sân khấu những nhân vật khổng lồ với tính cách phong phú và phát triển phức tạp, thì ở Việt Nam vào những năm sau đại chiến thế giới thứ hai, người ta mới bắt đầu xây dựng một thứ sân khấu mà tính cách nhân vật bị vót nhọn chỉ còn nhân vật “ta” hoặc “địch”. Nền kịch cách mạng này với “phương pháp sáng tác “ như vậy, nhất định sẽ đưa sân khấu tới… tắc tị. Quả nhiên một loạt vở kịch dẫm theo vết Nguyễn Huy Tưởng như “Chị Hoà” của Học Phi, “Bức tranh mùa gặt” của Trần Vượng, “Tiền tuyến gọi” của Trần Quán Anh sau này …đều mau chóng bị vứt vào sọt rác của lịch sử.

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn được Đảng khen luôn luôn bám sát đời sống, tác phẩm nóng bỏng tính thời sự. Quả vậy, sau “Ký sự Cao Lạng”, Nguyễn Huy Tưởng đi theo đoàn cải cách ruộng đất xuống ba cùng với bần cố nông và có ngay tiểu thuyết  “Truyện anh Lục” (1955) viết về người nông dân bị địa chủ, cường hào bóc lột đến tận xương tuỷ, nay nhờ có Đảng đã vùng lên đập tan giai cấp bóc lột, làm chủ cuộc đời mình. Tác phẩm… dở đến nỗi bị nhà phê bình Phan Cự Đệ chê là…. “tác phẩm còn lẫn lộn giữa việc tường thuật về người thật và xu hướng tiểu thuyết hoá, nhưng điều đáng quý là sự nỗ lực của Nguyễn Huy Tưởng đi vào một đề tài mới mẻ với ý thức phục vụ sát yêu cầu cách mạng…”. Thế thôi, chỉ là phục vụ cách mạng chứ đâu phải làm văn chuơng? Thực ra “húc” vào đề tài cải cách ruộng đất nhà văn nào cũng phải bịt mắt bưng tai để nói theo giọng điệu tuyên truyền của cán bộ Đội cải cách, bởi thế các tác phẩm viết ra đều “chết non” như “Tranh tối tranh sáng”, “Hỗn canh hỗn cư” của Nguyễn Công Hoan, “Mẹ con đồng chí Chanh” của Nguyễn Đình Thi, “Con trâu” của Nguyễn văn Bổng, “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài…

Sau hoà bình năm 1954, các nhà văn được  Đảng yêu cầu viết về sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc, Nguyễn Huy Tưởng đã hưởng ứng nhiệt tình, viết ngay tiểu thuyết “Bốn năm sau”  (1959). Cuốn truyện xoay quanh công cuộc xây dựng lại Điện Biên Phủ, nơi chiến trường vừa lặng im tiếng súng, vẫn còn chằng chịt giây thép gai và bom mìn để thử thách tinh thần người lính phục viên, rời tay súng, cầm tay cầy. Cuốn sách  được  các nhà phê bình của Đảng “nâng bi” là “Bốn năm sau” mang theo cảm hứng mới phơi phới tinh thần lạc quan cách mạng của những con người làm chủ hiện tại và tương lai…”.  Có lẽ vì cái cảm hứng đó mà không đầy “bốn năm sau” ra đời, tiểu thuyết “Bốn năm sau” đã chết ngóm chẳng còn ma nào muốn đọc.

Là nhà văn đi hàng đầu theo chủ trương “sáng tác” kịp thời của Đảng, Nguyễn Huy Tưởng luôn luôn được báo chí bốc thơm theo kiểu:

“Chất hiện thực trong những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng ngày càng được tăng cường qua những đợt đi thực tế, tham gia chiến dịch, những ngày lăn lộn với phong trào. Anh thấy rõ cuộc sống mới không ngừng phát triển. Đang từng ngày thay da đổi thịt. Ở đâu trong cuộc sống cũng phấp phới cái “cánh bay của một thứ lãng mạn cách mạng ngay trong những công việc hàng ngày”. Đó chính là cơ sở khách quan để nảy sinh chất lãng mạn cách mạng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng…”  

Tuy nhiên  sự “đoản thọ” của những sáng tác kịp thời kiểu như “Ký sự Cao Lạng”, “Truyện anh Lục”, “ Bốn năm sau”…  cũng làm Nguyễn Huy Tưởng phải nghĩ ngợi, nhất là văn chương của ông nâng bi cách mạng quá đà đến độ nhà phê bình “bảo hoàng hơn cả nhà vua” Phan Cự Đệ cũng phải than:

“Nguyễn Huy Tưởng đến với cuộc đời mới với bao cởi mở và tin cậy, không có những khoảng cách giữa nhà văn và cuộc sống qua những dằn vặt cá nhân, những ngại ngùng xa lạ …Nguyễn Huy Tưởng thích khai thác những mặt đẹp của đời sống, cái đẹp của con người mới đang sáng tạo nên những trang sử của dân tộc. Anh nhìn cuộc sống một cách xuôi chiều và có phần lý tưởng hoá. Nguyễn Huy Tưởng chưa thấy hết những mặt phức tạp của cuộc đấu tranh xã hội nên trong một số trường hợp, cách nhận thức và giải quyết vấn đề của anh hời hợt và dễ dãi…”

Tóm lại nói theo ngôn ngữ thời nay là anh viết quá…phải đạo, quá an toàn, luôn luôn đeo chữ “thọ” cho ngòi bút rồi mới tung hoành trên trang giấy. Sau cuốn “Bốn năm sau”, Nguyễn Huy Tưởng hiểu rằng “sáng tác kịp thời” chỉ là sự xui dại của Đảng muốn nhà văn phục vụ chính trị hiệu quả hơn, tức thời hơn và chỉ đẻ ra thứ văn chương “báo tường”. Từ đó ông bỏ hẳn “những chuyến đi thực tế” nhằm cho ra những “sáng tác kịp thời”, bỏ qua những “đề tài khôi phục kinh tế” nóng hổi tính thời sự, ông trở lại đề tài quá khứ với độ lùi đủ để có thể nhìn lại một cách bao quát, tỉnh táo từ đó xây dựng nên một tiểu thuyết sử thi, đồ sộ vừa đi sâu vào số phận cá nhân vừa mang tính hoành tráng của cơn bão táp của cách mạng.

Và Nguyễn Huy Tưởng bắt tay vào tiểu thuyết được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của ông: “Sống mãi với Thủ đô”.

Năm 1958 sách viết xong, 1961 sách ra mắt bạn đọc, được nhà văn Nguyễn Tuân viết lời bạt, nhà văn Nguyễn Khải viết bài khen ngợi cũng rất nhiều nhà báo, nhà phê bình khác bốc thơm.

Vậy thực chất giá trị của “Sống mãi với thủ đô”  của Nguyễn Huy Tưởng là thế nào?  Cuốn sách dày 450 trang mở đầu là cuộc tản cư của người Hà Nội về nông thôn tránh bom đạn giặc Pháp và kết thúc ở một đơn vị tự vệ đã bước vào ngày thứ hai của cuộc kháng chiến.

 

Trên sân ga Hàng Cỏ hai tháng sau ngày Quốc khánh mồng 2 tháng 9, giữa đám đông chạy loạn người ta thấy Trần Vinh, thầy giáo đưa mẹ xuôi tàu Nam tản cư về quê. Anh gặp lại Trinh người yêu cũ  đã  lấy chồng giàu có. Lúc này trụ lại Hà Nội và xin vào tự vệ dường như là thước đo giá trị của thanh niên Hà Nội; bởi vậy khi nghe Trinh hỏi mẹ:

“Tự vệ phải đánh nhau, sao các anh ấy lại thích vào mợ nhỉ ?”

Trần Văn cau mặt. Trinh không những tỏ ra thờ ơ với thời cuộc mà còn ngu nữa. Hồi yêu Trinh, anh tưởng Trinh thông minh, có ngờ đâu lại thảm đến như thế này…”

Không phải chỉ có Trinh là thờ ơ với thời cuộc, trên sân ga, Trần Văn còn thấy “một đám thanh niên mặc tây đi xích lô từ phía Hàng Lọng tới. Họ vội vã, hấp tấp, hốt hoảng. Họ cuống cuồng bước lên thềm, chạy vào ga lấy vé, mặt tái nhợt, hơi thở dốc ra. Trông thấy Trần Văn họ bẽn lẽn xấu hổ, người cúi mặt xuống, người ngoảnh mặt đi. Trần Văn cười trong bụng. Chắc chắn họ cũng cùng một loại với mấy anh thanh niên theo gia đình đi tản cư mà anh gặp lúc nãy ở ngoài ke, các anh chàng phải giấu mặt đi để cho đồng bào khỏi trông thấy và xỉ vả là đồ hèn nhát….”

Vậy Trần Văn dĩ nhiên  là một thầy giáo giác ngộ cách mạng nên mới có cái nhìn khinh bỉ đối với đám thanh niên cầu an, tản cư khỏi Hà Nội như vậy. Anh là giáo viên sử, dạy trường tư của một “nhà trí thức cách mạng”. “Anh đã được giảng sử nước nhà bằng tiếng Việt Nam một cách đường hoàng, không phải dè dặt quanh co. Cách mạng tháng Tám đã mở cho anh một cuộc đời mới”. 

Học trò của thầy Trần Văn cũng “cách mạng” không thua gì thầy.

Trước hết là cô Quyên, nữ sinh Hà Nội. “Một chị cán bộ đã giới thiệu Quyên vào làm mật mã nhưng Quyên khóc xin thôi. Quyên cho là chị cán bộ khinh mình, vì Quyên thấy cái công tác được giao cho chẳng có gì là chiến đấu cả. Quyên nghĩ rằng đánh nhau thì phải nằm gai nếm mật, mặt trận thì phải là màn sương gối đất chứ có đâu lại đi làm một công việc chẳng có gì là khó nhọc, ro ró ở một xó nhà…” . Thế rồi trong tường tượng, hình ảnh người chồng tương lai của cô nữ sinh này cũng phải là …một người cách mạng. “Người ấy đã phải bị đầy ra Côn Đảo, đã phải vượt  tù trốn về khu giải phóng, và lúc này phải gánh vác những công việc lớn lao. Người  chồng lý tưởng ấy của chị có thể không còn trẻ nữa, nhưng chị sẽ yêu với tất cả lòng yêu của chị, chị sẽ hy sinh tất cả cho anh để bù lại trăm nghìn gian khổ mà anh đã phải chịu trong bao nhiêu năm…”

Một quan niệm về tình yêu “lãng mạn cách mạng” ghê gớm chưa? Còn nam sinh của thầy như anh chàng tên Loan thì cũng bị “trí tưởng tượng đưa anh từ cuộc đời còn thơm tho mùi sách vở tới những trận chiến đấu ngổn ngang xác giặc và chính anh có thể chết dưới đống gạch ngói của phố xá điêu tàn…”.

Đứng giữa đám học sinh “mắt long lanh như sắp xông lên chiến đấu”, anh giáo Trần Văn bỗng “thèm làm một người cán bộ nắm được hết tình hình, biết mình sẽ làm gì và đi tới đâu. Anh cảm thấy con người mới phải là con người chẳng kể trường hợp nào, đều làm chủ được tình thế …”. Và rồi để “động viên tinh thần chiến đấu” cho đám học trò, anh giáo kể câu chuyện cái lỗ đạn Pháp bắn vào thành Hà Nội ngày 20-11-1873 bị một nhà nho nào đó lấp đi để “nhân dân hàng ngày khỏi trông thấy mà thêm nhục”. Mấy hôm sau, một ông nhà nho khác lại khoét cái lỗ ấy ra với lý lẽ “phải để đấy cho mọi người luôn luôn trông thấy cái nhục mà nghĩ đến việc cứu nước…”. Hai ông cứ người lấp người phá cho đến khi Pháp biết chuyện đem rào kín cổng thành lại (!). Câu chuyện thực hư không biết ra sao, nhưng người Hà Nội mỗi lần đi qua phố Cửa Đông đều nhìn thấy cái lỗ đạn ấy và không hiểu Pháp đã rào nó lại bằng cách nào?

Anh giáo Trần Văn kể xong câu chuyện, kết  luận:

“Tôi nghĩ lúc này là lúc chúng ta lấp cái nhục bằng gươm bằng súng đấy… chúng ta sẽ cho chúng nó biết rằng chúng ta không phải là một lũ hèn…”.

Ngoài đám thầy trò Trần Văn sôi sục tinh thần yêu nước, người ta còn thấy cô Nhân, bán hoa ở Ngọc Hà, thầm yêu anh giáo, chị họ cô Nhân có chồng chết trong khi Nam tiến, đứa con trai tuổi còn con nít tên Dân cứ nằng nặc xin đi… bộ đội vì nhớ bố quá, tất cả đều trong không khí sẵn sàng… đánh Pháp. Ở vườn hoa Cửa Nam, Trần Văn gặp một người thợ nặn các tượng Quan Công,  Hạng Vũ… bằng bột bán cho con nít. Khi một đoàn xe “chở toàn Tây mũ đỏ, kèm theo mấy con nhà thổ, me tây loè loẹt” chạy qua, anh thợ nặn bột lên tiếng chửi theo kiểu rất …“trí thức”:

“Đánh Đức thua Đức, đánh Nhật thua Nhật, đánh đâu thua đấy, bắt nạt Việt Nam. Mẹ cha mày, bố mày cũng không dám đánh đêm…”

Được nghe chửi như vậy, anh giáo càng thêm phấn chấn. Anh bĩu môi lẩm bẩm: “Mọi bạo lực, mọi cường quyền mạnh đến như sấm như sét rồi cũng tan đi như bọt. Hạng Vũ, Attila, Nã Phá Luân, Hitler và Lơ Cléc, tất cả, trước hay sau, chóng hay muộn tất cả đều đổ sụp. Chỉ có nhân tâm là muôn thủa…:”

“Quần chúng nhân dân” Hà Nội được Nguyễn Huy Tưởng mô tả thành những con người yêu nước, nóng  bỏng lòng căm thù như vậy, còn giặc Pháp, ngược lại được mô tả như bọn thú dữ uống máu người không tanh:

“Cánh cửa mở ra, giữa tiếng kêu hãi hùng của một người đàn bà và hai đứa con luống cuống trong một gian nhà nhỏ tối mờ mờ, đồ đạc đã thu dọn cả, chỉ còn trơ một cái giường. Tên lính Pháp hỏi Việt Minh, người mẹ không biết tiếng Pháp quỳ xuống  chắp tay vái lia lịa miệng van lạy: Quan lớn làm phúc tha cho mẹ con chúng tôi… Tên lính hỏi dồn. Nó nắm lấy tóc người mẹ lôi dậy, gật gật đầu cười …”

Và cái cảnh sau đây, thật chỉ có trong phim…kinh dị :

“Nhưng tên lính cười gằn, lật mặt người mẹ ngửa ra đằng sau. Cái cổ tròn căng thẳng, thoi thóp, gợn mấy đường gân xanh. Một bàn tay chới với nắm lấy cái bàn tay của đứa con trai chừng năm tuổi. Đứa con gái nhỏ mới hai tuổi giẫy đành đạch hờn với mẹ, hai tay bíu vào cái gấu quần lụa trắng: “Mợ ẵm con…mợ ẵm con…”. Tên lính tháo đôi hoa tai của người mẹ, thản nhiên đút vào túi. Mặt người đàn bà trắng như tờ giấy, thân oãi cong lên. Môi tên lính rung rung. Nó tuốt lưỡi lê, đâm gọn vào cái cổ, tay nắm tóc buông ra. Đầu người mẹ gieo mạnh xuống sàn gạch. Không một tiếng kêu. Lưỡi lê lại vung lên. Đứa con lớn đứng bên xác mẹ vừa khóc vừa đưa hai bàn tay nhỏ bé lên đỡ. Một ánh chớp loáng. Hai bàn tay vụng dại nắm chầm lấy cái lưỡi  lê đâm mạnh, thọc sâu vào ngực nó…”

Cái cảnh chém giết rợn tóc gáy như trên còn kéo dài cả hai trang nữa khiến người đọc căm thù giặc Pháp đâu chưa biết chỉ thấy khiếp hãi cho ngòi bút của nhà văn dường như cũng đang chấm vào máu  mà viết nên những trang …kinh dị đến mức khó tin. Sau cùng, để “tố cáo tội ác giặc xâm lược” sâu sắc hơn nữa, ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã mô tả chi li một cảnh còn kinh hoàng hơn dưới địa ngục mà có lẽ trong văn chương kim cổ chưa ai dám viết:

“Lưỡi  lê đỏ máu của tên lính hung ác dứ dứ mấy cái rồi đâm phập vào cổ ằng ặc của người thanh niên. Nó xoay nghiêng cái cổ cho máu ồng ộc chảy xuống cái âu trầu. Mấy ông già run rẩy ngồi thụp xuống nhắm nghiền mắt. Một ông cụ râu tóc đều bạc xô một thằng Pháp đứng sau để chạy. Bên xác người mẹ, đứa con gái khóc bằn bặt không thành tiếng. Bỗng tên lính giết người kéo ông già râu bạc lại. Nó cầm cái âu đầy máu ngầu bọt kề vào miệng cứng đờ của ông cụ nói: “Mày húp đi. Mày húp trước đi. Rồi chúng mày thay nhau mà húp…”. Những tiếng cười  của bọn giết người lại nổi lên trong cái gian nhà lênh láng máu…”

Sự thực tội ác của giặc Pháp ở phố Yên Ninh vào tháng 10/1945 dã man đến đâu, rồi đây các nhà sử học sẽ làm rõ, riêng nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thật đáng mặt bậc thầy về phương pháp sáng tác tự nhiên chủ nghĩa và xứng đáng được tặng một…cây bút vấy máu.

Tất nhiên vào thời điểm đó vì “yêu cầu chính trị” phải kích động nhân dân Hà Nội căm thù giặc Pháp, những người làm công tác tuyên truyền có thể bịa đặt hoặc thổi phồng vụ tàn sát để trương biểu ngữ  “Trả thù cho 23 đồng bào bị giết ở ngõ Yên Ninh” trên ô tô chạy khắp Hà Nội, nhưng cả 15 năm đã qua đi, yêu cầu tuyên truyền bôi đen quân xâm lược không còn đặt ra nữa, nhà văn khi đặt bút viết tiểu thuyết cần phải trả lại sự thực cho các sự kiện. Tiếc thay Nguyễn Huy Tưởng không làm được  điều đó, ông vẫn viết đầy hứng khởi theo kiểu…tuyên truyền y như một nhà báo của Đảng đang hoạt động vào tháng 12/1946 chứ không phải nhà văn viết tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô” mười hai năm sau đó. Chính vì vậy những sự kiện ông đưa ra có vẻ thiếu xác thực vì người đọc đã có độ lùi 15 năm sau để nhìn nhận nó.

Chẳng hạn câu chuyện ông kể về nỗi khao khát của đồng bào miền Nam được trốn ra Bắc sau khi thực dân Pháp trở lại chiếm đóng:

“Cái hồi vỡ mặt trận Ninh Hoà, quân Pháp sắp kéo đến. Đồng bào không ai ở lại. Từng đoàn người lũ lượt tản cư, theo nhau băng rừng lội suối đi tìm miền tự do. Có một cụ già tám mươi tuổi cũng chống gậy đi. Mọi người bảo cụ: Cụ đã già nua tuổi tác, nó dù có tàn ác đến đâu cũng không giết cụ làm gì. Cụ đừng đi cho vất vả. Đường đi nhọc nhằn, cụ sẽ chết dọc đường mất…”

    Cứ tưởng bà lão tám mươi gần kề miệng lỗ, lúc này ham muốn tột bậc chỉ  là được chết ở quê nhà gần gũi với ông bà, tổ tiên, nào ngờ cụ lại hăng hái:

“Bà cụ nói: Cảm ơn các ông các bà tỏ lòng thương. Nhưng tôi không ham sống làm gì nữa. Chỉ muốn đến những nơi nào không có giặc Pháp, những nơi nào còn có ngọn cờ đỏ sao vàng…”

Rõ khổ, đã “không ham sống làm gì” lại còn bỏ làng bỏ xóm để đi tìm… “cờ đỏ sao vàng” thì quả thật thế gian này… chưa hề thấy. Hư cấu quá đà như vậy, ông nhà văn vừa làm khổ “bà cụ” vừa làm khổ cả người đọc. Vậy nhưng chưa hết, ông Nguyễn Huy Tưởng vẫn chưa tha cho “bà cụ”, ông bắt:

“Thế rồi bà cụ cứ đi. Sau mấy ngày bà cụ đi trong rừng, cụ đã kiệt sức quá. Cụ đã nằm chết ở bên cạnh đường mòn, lối lên đèo Cả. Cụ đã chết trên con đường đi tới tự do…Nhưng nét môi đã rụng hết răng như bằng lòng mình đã thở cái hơi cuối cùng ở trên một miền đất trong sạch, không có dấu  chân quân Pháp…”

Than ôi, một bà cụ tám mươi, cái quà tặng nhân đạo nhất ông nhà văn cần mang tới cho cụ lúc đó là một bát cháo nóng cho đỡ đói lòng chứ đâu phải thứ “tự do” ở trên trời và lá cờ đỏ sao vàng ở tận đẩu tận đâu. Mà rồi lúc thở hơi cuối cùng bà lão tám mươi sao còn nghĩ được nơi bà nằm xuống không có dấu chân quân Pháp? Lúc đó hoặc chẳng nghĩ gì hoặc nghĩ tới ông bà cha mẹ chớ ?  Ông nhà văn tính ca ngợi mà hoá ra lại thành mỉa mai bà cụ. Thế rồi để biến cụ thành “tượng đài của lịch sử”, ông nhà văn “đắp một nấm mồ chôn cụ, cài một mảnh giấy chẳng biết bây giờ có còn không, đề mấy dòng: “Mồ một bà cụ đã đi tìm tự do. Đèo Cả ngày 8-2-1946…”

Câu chuyện “bà cụ đi tìm tự do” chẳng biết có được mấy phần trăm sự thực, chỉ tiếc  cuốn truyện của ông nhà văn chưa tới được tay mấy ông trong Viện bảo tàng cách mạng tỉnh Trị Thiên-Huế, nếu không vào cái thời buổi “rút ruột công trình này” họ đã tìm tới tận nơi thực hiện ngay một dự án đúc tượng và xây mộ bà cụ để cho tỉnh có thêm một điểm tham quan du lịch trên đèo Cả.

Để tăng thêm tính lãng mạn cách mạng cho những người tình nguyện ở lại Hà Nôi chiến đấu chống Pháp, ông tác giả đưa ra nhân vật Hiền, nữ sinh năm thứ nhất thành chung, là người yêu của Nhật Tân, một anh tự vệ thành luôn bày tỏ lòng căm thù giặc Pháp.  Cô này đã đưa bố mẹ đi tản cư, ra tới bến sông, cô quăng cả xe đạp lẫn các bậc sinh thành để trốn về Hà Nội. Giữa khi phố xá hỗn loạn, xung quanh đầy hòn tên mũi đạn, cô nữ sinh này bỏ bố mẹ bơ vơ quay lại Hà Nội làm gì vậy ?

“ Đứng trên sập, Hiền đang soi vào một cái gương lớn. Hiền là một cô gái mới lớn, mặt bàu bàu hơi to so với khổ người tầm thước… Chị mặc chiếc áo nhung đỏ, quần xa tanh là, chân đi hài con bướm vàng rung rinh. Đầu Hiền vấn một chiếc khăn nhung lam, cổ đeo kiềng vàng trơn. Chung quanh Hiền treo lủng lẳng chiếc áo nhung lam, chiếc măng tô màu tím sẫm và các áo len hoa mùa hoa dâu, màu vàng, màu đỏ….”

Trời đất đang loạn lạc, cô Hiền trốn tản cư quay về nhà tưởng làm chuyện gì ghê gớm hoá ra để mặc … bộ đồ cưới mà nếu chiến tranh không xảy ra chỉ một tuần lễ nữa thôi cô sẽ mặc nó lên xe hoa. Vừa lúc đó anh chồng sắp cưới là Nhật Tân ghé đến. Chẳng hiểu sao một con người  trí thức tiểu tư sản Hà Nội như anh mà lại hỏi vợ sắp cưới đang mặc đồ cô dâu một câu lãng xẹt:

“Hiền nghĩ thế nào mà lại thắng bộ cưới vào thế ? Buồn hay vui?”

Thật đúng giọng một anh nhà báo qua đường, không mảy may mang một chút tâm tình của người trong cuộc, hạnh phúc đã nằm trong tầm tay vậy mà chiến tranh làm tuột mất. Rồi anh an ủi người yêu theo cái cách “cán bộ làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng”:

“Nếu chiến tranh không xảy ra thì chúng mình cưới. Nếu xảy ra thì chúng mình đợi sau chiến tranh. Lo gì ?”

Thế rồi lẽ ra trong khung cảnh đầy phập phồng của nỗi chết đang rình sẵn, trong căn nhà giưã khu phố vắng vẻ, đôi tình nhân phải ghì chặt nhau, che chở cho nhau, và đốt cháy nhau trong ngọn lửa của tình yêu trước lúc…tận thế. Đằng này không, ông nhà văn không mảy may cho hai con tim rung động và thổn thức, ngược lại ông chỉ cho hai cái miệng bàn chuyện…chính trị. Nàng thì thổn thức:

“Không có gì quý bằng tự do anh nhỉ. Em không thể nào quên được những ngày Quốc Khánh vừa qua, bày tiệc ra đường ăn uống. Em không thể nào quên được những ngày biểu tình hồi cách mạng, đoàn nữ sinh chúng em có hàng nghìn, đều để tóc thề, mặc toàn trắng, xinh lắm, đi đến đâu người ta hoan hô đến đấy…”

Còn chàng thì cao giọng:

“Đúng rồi. Đồng bào miền Nam khao khát ngoài này lắm mà họ gọi là đất tự do. Anh kể cho Hiền nghe cái hồi vỡ mặt trận ở Ninh Hoà, quân Pháp kéo đến…”

Rồi cứ thế chàng thao thao bất tuyệt về tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân ta khiến cuộc gặp gỡ giữa hai kẻ đang yêu trong khung cảnh đầy bi tráng biến thành một cuộc “bày tỏ lập trường yêu nước” giữa hai con người đang căm thù giặc Pháp đến quên cả… yêu. Những trang viết thế này bộc lộ chất “tuyên huấn” trong ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng đậm đặc gấp nhiều lần chất “nhà văn” mà ông ta được mệnh danh và trên hết, nó phơi bày một tài năng văn học kém cỏi.

Cái anh chàng Nhật Tân này đối với “vợ sắp cưới” còn “chính trị” huống hồ với người ngoài. Và đây là dịp anh thể hiện lòng nhiệt huyết yêu nước và căm thù giặc:

“Trước cửa nhà hát Tố Như, một toán người kéo đi, ùn ùn, lộn xộn. Người  xách vali, người đeo đẫy, người gồng gánh, phần lớn là những anh em lao động….”

Giữac lúc nước sôi lửa bỏng, là thanh niên phải ở lại sống chết với thủ đô chứ, sao lại kéo nhau đi tản cư ? Lập tức Nhật Tân đứng ra hò hét:

“Thanh niên phải sống chết với thủ đô. Các anh đi đâu? Các anh không biết bỏ đi là hèn à ? Trở về ngay. Tôi bảo…”

Người mũ xanh giơ tay lên :

“Chính phủ không hề ép buộc ai ở lại. Anh là gì mà giữ được chúng tôi ?”

“ Tôi là gì ấy à? Tôi chỉ nhân danh là một thanh niên Hà Nội, tôi không cho các anh về…”

Và thế là chàng tự vệ khăng khăng bắt mọi người quay lui.

Đám tự vệ tản cư  bộc bạch :

“ Nhưng chúng tôi có được như các anh đâu. Không có cái gì vào miệng thì không ai nói cứng được. Chúng tôi không có hạt cơm nào vào bụng từ hôm qua rồi.”

Chàng tự vệ Nhật Tân quát tháo:

“Sắp đánh nhau với Pháp mà các anh còn nói chuyện cơm áo à? … Các anh lại sợ phản động nó bảo tự vệ đi làm bia đỡ đạn cho Việt Minh chứ gì ?”

“ Anh không được nói láo.”

“ Một lần nữa tôi bảo các anh về. Nếu không tôi sẽ…”

Người thanh niên mũ xanh quăng cái va li xuống đất, tay đưa mũ cho người khác:

“ Anh sẽ làm gì ? Khai trừ chúng tôi chắc ?”

Nhật Tân thét:

“Khai trừ à ? Không, khai trừ một tự vệ không phải bằng một lời tuyên bố. Khai trừ tự vệ bằng súng đạn….”

…Anh rút khẩu súng lục giơ lên trời”…

Ghê chưa, giặc Pháp chưa thấy đâu, chưa chi chàng chiến sĩ tự vệ đã bộc lộ cái tính sắt máu ra với đồng đội rồi. Chẳng hiểu ngoài đời có chàng tự vệ nào như chàng Nhật Tân này không, chỉ thấy cái căn bệnh thích “nói quá”, khuếch đại tính cách nhân vật làm giảm đi rất nhiều tính chân thật của tác phẩm.

“Sống mãi với Thủ đô” được Nguyễn Huy Tưởng viết vào năm 1958, thời điểm này đang là thời của căn bệnh “vót nhọn tính cách nhân vật” của các nhà văn Hà Nội – tước đi mọi suy tư, tước đi mọi vật vã cá nhân, tước đi mọi biểu hiện bản năng, mọi tính người – để tập trung duy nhất vào một tính cách: “yêu nước và căm thù giặc” mà đôi khi hoặc không có hoặc chỉ ẩn khuất trong từng mỗi người.

Trong cái tiểu đội tự vệ mà Nguyễn Huy Tưởng dụng công đưa ra, gồm tới 8 – 9 con người rất khác nhau về đủ mọi phương diện. Trước hết là tiểu đội trưởng Tu, “anh phu khuân vác ở Cột đồng hồ, một người trạc bốn mươi tuổi, hai vai rộng và chắc như lực  điền, da mặt dày lên vì sự vất vả và tính thật thà…”. Chẳng hiểu anh phu khuân vác này bỏ mặc bố mẹ, vợ con ở đâu mà chẳng thấy lo lắng gì chỉ thấy nói chính trị chẳng khác gì cán bộ Việt Minh với một chú bé đang đòi ở lại với tự vệ: “Vào tự vệ là cầm bằng cái chết trong tay. Các anh lớn phải ở lại. Em còn nhỏ ở lại làm gì? Con anh bằng tuổi em, anh cũng phải cho nó đi tản cư với mẹ nó…”..

Người thứ hai là Mộng Xuân, “anh kép cải lương , khoảng mười bảy mười tám, người ẻo lả, mặt trắng bệu, tóc mai dài, ăn mặc chải chuốt một cách lẳng lơ…”. Tính cách có vẻ “bóng” (bisexual) vậy nhưng lại nói chính trị rất hùng hồn, mùi mẫn:

“Xin các huynh cho đệ ghi tên đã. Lần này chúng ta ở lại là sống chết với thủ đô thật, dù phải da ngựa bọc thây, thịt nát xương tan cũng không lùi bước. Trước đây ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra . Các huynh hiểu cho, như thế là không được. Các huynh đến là mừng rồi  …”

Người thứ ba là Long đen “bộ răng vàng của anh rít chặt, cái mặt choắt đen thui, trước làm nghề nặc nô, sau làm yêu Nhà máy nước đá. Hồi cách mạng anh ta lấy cắp súng của Tàu trắng bán cho Cục Quân giới. Gần đây, anh đã báo cho công an bắt được ổ in bạc giả và làm giấy cải tà quy chính.” . Do xuất thân lưu manh, có thành tích bất hảo nên Long đen tuy đã được nhận vào tiểu đội tự vệ nhưng chưa được tin cậy hẳn. Bởi vậy cả tiểu đội đều được phát giấy chứng minh thư, chỉ riêng Long đen là chưa được. Anh chàng tức quá, kêu lên:

“Các anh còn đòi Long đen cái gì nữa? Bao giờ mới hết nghi cái thằng Long đen chó má này? Chả nhẽ tôi lại chờ để bị bắt. Không đâu, tôi không để cho ai bắt tôi như một đứa lưu manh nữa. Tôi không đến nỗi là không biết nghĩ đâu các anh ạ…”

Bàn tay Long vả vào má đôm đốp…”

Vậy là lòng yêu nước trong Long đen đã nổi lên làm anh cụt cả máu giang hồ hảo hớn tự rủa xả mình khi chưa gây được lòng tin nơi cách mạng.

Người thứ tư là Sởn “trạc ngót ba mươi tuổi, mặt vuông, cằm bạnh, thớ thịt hai bên quai hàm luôn luôn đụng đậy như đang nhai phải cái gì. Anh như không biết rét, chỉ phong phanh một bộ quần áo nâu, cổ quàng một cái khăn mặt bông còn mới…” . Cũng như những người khác, Sởn không mảy may lo lắng gì về gia đình bản thân ngoài lo…đánh giặc.

Người thứ năm là Loan – chàng học sinh tiểu tư sản đặc sệt “trí tưởng tượng đưa anh từ cuộc đời còn thơm tho mùi sách vở tới những trận chiến đấu ngổn ngang xác giặc và chính anh có thể chết dưới đống gạch ngói của phố xá điêu tàn…”. Bây giờ Loan sống trong tiểu đội tự vệ làm chân vẽ bản đồ. “ Mơ mộng gì nữa khi bầu trời Tổ quốc không còn là bình minh của hương sắc mà đục ngầu những hình thù tối đen của mũ đỏ và thổ phỉ… Anh  gắn mình vào cuộc sống chung quanh. Anh cố rập khuôn theo nguyên bản, sợ sai một tý thì ảnh hưởng đến những kế hoạch  quân sự sau này…”.

Vậy là cái bước đầu tiên của một anh học sinh tiểu tư sản khi tham gia cách mạng là phải “từ bỏ mình” để hoà mình vào quần chúng:

“Loan cảm động nhìn mọi người đang đứng sát lại. Những thân hình còn mảnh dẻ  tương phản với những cái vóc nặng nề, cục mịch, những đầu bóng mượt với những mớ tóc rối. Những thư sinh mặt trắng mới từ bỏ mái trường họp với những người phu, người thợ chỉ có hai bàn tay trắng…”

“Những thư sinh mặt trắng này” rồi đây sẽ phải “rập theo khuôn của nguyên bản” là mấy anh thợ anh phu này đây. Một quá trình “tự cải tạo” không mấy dễ dàng và đầy khổ ải nhưng lại  được  ông nhà văn nói tới một cách vui vẻ và đầy nhiệt thành.

Người thứ sáu là Lai, “một đứa trẻ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, mặc một cái quần cộc, một cái áo sơ mi người lớn bằng kaki vàng, lùng bùng sau cái áo sợi đan màu đỏ kệch. Một tay nó cầm con dao, một tay xách một caí hòm nhỏ. Tóc nó dài đến mái tai, ngả nghiêng như lúc bị bão” . Chú bé này từa tựa như  nhân vật Gavơrốt  trên chiến hào Paris trong truyện “Những người khốn khổ” của Victor Hugo. Chú khăng khăng đòi ở lại để …đánh Tây:

“Cháu đã đi tản cư với u. U cháu chẳng buôn bán gì được. Cháu nói với u cháu lại cho cháu ra Hà Nội. U cháu cho cháu một đồng bạc. Cháu đi qua chợ, mua được con dao này…”

Vậy là bao nhiêu tiền mẹ cho, chú bé Lai dốc hết cả vào việc … mua dao để giết Tây. Yêu nước ghê gớm vậy đó. Rồi khi bị tiểu đội tựï vệ từ chối không cho gia nhập, chú Lai phẫn uất:

“Ở đây cũng không nhận cháu ư? Xin vào bộ đội, các anh ấy cũng không nhận, các anh ấy chỉ nhận con nhà giàu, chúng nó có quần áo, chúng nó biết hát. Nghèo thì Tây cũng khinh mà ta cũng khinh…”

Chú bé Lai đã nói vậy, tất nhiên tiểu đội tự vệ phải nhận chú chứ còn biết nói sao ?

Người thứ bảy không được tác giả đặt tên chỉ cho nói chuyện chính trị:

“Nó gây ra vụ Yên Ninh thì là nó chết. Bộ đội  kéo về đông lắm rồi, đông hơn hôm qua, đông hơn hôm kia. Trong thành chúng nó lục  đục, lính Đức nổi loạn, nó giết nhau chí choé, giải phóng Thủ đô đến nơi rồi…”

Một anh khác cũng hăng hái:

Mình chết “Cụ Hoàng Diệu thì hơi bi. Cụ chết nhưng thằng Pháp nó vẫn hạ được thành Thăng Long. nhưng không để mất Hà Nội…”

“ Cốt nêu cái tinh thần cảm tử thôi. Lính nhà Trần thích chữ Sát Thát thì mình viết lời thề sống chết…”

Cứ như vậy ông nhà văn cho dù đang miêu tả nhiều nhân vật với nhiều xuất thân khác nhau nhưng thực ra ông chỉ xây dựng có một nhân vật: đó là lòng yêu nước  một chiều – yêu cầu hàng đầu của Đảng đối với công việc sáng tác của các nhà văn trong vòng tay của Đảng.

Trong cộng đồng người Hà Nội, không hiểu sao những thương gia,  doanh nhân giàu có luôn luôn bị các nhà văn cộng sản coi là xấu xa, tiến thân bằng lừa gạt phản trắc. Ông Cự Lâm là một thương gia có xuất thân như thế:

“ Một người chú họ làm ở Hồng Kông mua được nhiều hàng quý như gương, thảm, giường Hồng Kông, len, dạ, tơ lụa, đồng hồ, bút máy… hàng tháng gửi về nhờ ông giữ hộ. Có hàng chục năm như vậy. Nhưng ông Cự Lâm đã bội tín, chiếm hẳn những của ấy làm của mình, và từ một người buôn chè nhỏ, ông cứ phất mãi lên. Ông chú tiếc của phát điên lên rồi tự tử. Ông có một ông bạn người Tàu. Ông này muốn tậu một cái đồn điền ở Bắc Ninh, nhưng người ngoại quốc không có quyền mua đất ở Việt Nam. Ông Cự Lâm nhận đứng tên thay, bên trong đồn điền vẫn là của người bạn. Giấy má làm xong, ông Cự Lâm lật mặt nghiễm nhiên làm chủ cái đồn điền. Những mánh khoé làm ăn tương tự nhiều không kể hết…”

Ông Cự Lâm đã xấu vậy, bà vợ ông cũng chẳng tốt đẹp gì:

“Bà trông bệ vệ nhưng đần độn. Bà chỉ là một cái máy đẻ. Việc kinh doanh của chồng thì bà không biết gì, việc trông nom trong nhà, từ tiêu pha trong nhà đến bếp nước giỗ chạp thì đều do bà giáo (em chồng) mà bà ta cũng rất sợ”.

Bà em gái ông Cự Lâm thì:

“Sau khi bà được triều đình Huế ban tặng bốn chữ: “tiết hạnh khả phong” mà cả họ được thơm lây thì bà lại càng nghiêm khắc với các cháu, nhất là cháu gái. Lan không được ra khỏi nhà, không được đọc sách báo, thấy đàn ông phải cúi mặt xuống không được nhìn. Bà goá chống từ năm mười tám tuổi và ở vậy giúp anh, nuôi cháu. Bà thường lấy cái gương trinh tiết của mình ra mà răn chúng nó. Trước đây Lan vẫn sợ bà, đùng một cái, mới gần đây thôi, Lan có ý định cưỡng lại lời bà. Bà lo cho Lan thì ít mà lo cho quyền lực của bà bị thương tổn thì nhiều…”

Thế hệ bố mẹ đã như vậy, tất nhiên con cái phải khác, phải giác ngộ cách mạng thì mới phù hợp với chiều hướng xã hội mới chứù – bởi vậy nhà văn đã cho cậu con trai tên Phúc và hai cô con gái tên Lan và Hương khăng khăng ở lại Hà Nội xin vào tự vệ. Hành động cách mạng đầu tiên của Phúc là “chơi” bố một vố choáng váng đúng vào ngày giỗ bà nội:

“Đêm hôm qua trong lúc ông Cự Lâm đang nằm nghe bên ngoài người nhà làm cỗ, lòng ngổn ngang vì tình hình, não ruột vì khu phố thúc giục tản cư thì một tin đưa tới làm cho ông rụng rời đổ đốt: Phúc đã tự tiện đến nhà Quảng Xương  Long bắt người gác phải mở cửa và cùng một số đông tự vệ xông vào kho. Người gác giữ lại thì Phúc chửi mắng thậm tệ, đành phải báo bằng dây nói cho ông biết.”

Hoá ra tự vệ đang rất cần cuốc xẻng để đào hầm hào, ông Cự Lâm có cả một kho nhưng không chịu ủng hộ nên con trai ông kéo tự vệ tới phá kho:

“Cửa hiệu lúc ấy như đang bị bọn kẻ cướp đánh phá. Phúc đứng ở ngoài vỉa hè hò hét giục mọi người. Cự Lâm nghe rõ tiếng Phúc oang oang: Cần bao nhiêu cứ lấy. Càng nhiều càng tốt. Ông cụ đã muốn keo bẩn thì cho keo bẩn một thể…”

Đã dắt tự vệ về phá kho của bố lại còn chửi bố là đồ keo bẩn, ông con trai làm ông bố nổi giận:

“Bên hè, hai xe bò chất đầy những dụng cụ mới lấy ở trong kho ra. Một đám đông xúm quanh giơ tay tua tủa, người xin cái xẻng, người xin cái cuốc. Phúc nói: “Trong nhà còn nhiều, vào mà lấy chỗ này để đem đi.” Cự Lâm đã tới gần thét: “Phúc mày làm cái trò gì thế ?” Phúc giật mình quay lại thì bố đã giơ ba toong quật ngang lưng anh. Phúc nhanh nhẹn tránh được, cuống quít hô: “Đẩy xe đi! Đẩy xe đi !” . Và Phúc chạy biến vào đám đông. Cự Lâm đuổi theo, giơ ba toong vụt lia lịa, miệng chửi: “Mẹ cha thằng vô phúc. Mày đánh bạn với những quân du thủ du thực à ? Đứa nào xui mày? Tao không bố con gì với mày nữa. Mày đứng lại không mày chết!”. Một tốp thanh niên giữ rịt lấy Cự Lâm để cho anh em đẩy cái xe bò đi. Chỉ trong nháy mắt đám đông đã giải tán…”

Phúc thoát ly gia đình đi tự vệ còn ngoái cổ lại chửi bố. Anh thổ lộ với đồng đội:

“Các anh nên hiểu cho tôi. Tôi ngồi trên đống của thật đấy, nhưng tôi không muốn nối cái nghiệp làm giàu của cậu tôi. Cái dịp ấy bây giờ đã đến với tôi…” 

Cái dịp ấy chính là “Anh đã vào làm giáo viên hội truyền bá mặc dầu nhà cấm vì sợ mật thám theo dõi. Đã có lúc anh đóng cửa buồng lại, đứng trước gương tập diễn thuyết để sau này ra làm việc xã hội …”

Vợ chưa cưới của Phúc là Oanh, một cô gái làm cán bộ phụ nữ. Trong một cuộc hội nghị quân sự của Liên khu 1 Hà Nội, khi nghe Hồng Lưu, tiểu đoàn trưởng vệ quốc quân đứng lên nói xấu người Hà Nội:

“Thì Hà Nội là đất của tiểu tư sản, bấp bênh và quay quắt, cách mạng lên thì nó ào ào đi, cách mạng xuống thì nó quay lưng lại, Pháp cũng theo, Nhật cũng theo, Tàu trắng cũng theo, Việt Minh cũng theo và nếu Mỹ vào thì cũng đi với Mỹ…”

Hậm hực vì Hồng Lưu  động đến người Hà Nội, Oanh nói thêm, cái bàn tay rất thon xoè ra trước ngực:

“ Tôi là người Hà Nội, tôi cũng bấp bênh ư ?”

Liên khu 1 là phân vùng đông bắc Hà Nội, đông và bắc giáp cầu Long Biên, sông Hồng, đê Yên Phụ, tây giáp thành Hà Nội hiện Pháp đóng, nam giáp khu Hoàn Kiếm là nơi có các cơ quan Chính phủ, Quốc hội. Hội nghị quân sự của Liên khu 1 vào trước đêm nổ súng toàn quốc kháng chiến gồm phần lớn các nhân vật quan trọng cấp liên khu và cấp thành phố bàn về tác chiến, mà lạ thay, trong suốt  hơn 30 trang diễn tả cuộc hội nghị này, tác giả phần lớn chỉ cho các nhân vật hô khẩu hiệu suông:

“Đồng chí Bí thư nói:

“ Vì quyền lợi của dân tộc, Hồ Chủ tịch và Hội đồng Chính phủ vừa họp đã bác bỏ tối hậu thư láo xược và hạ lệnh cho toàn thể quân đội và nhân dân sẵn sàng. Nếu nó liều lĩnh gây ra cuộc chiến tranh xâm lược thì tiếng súng kháng chiến của chúng ta sẽ lập tức nổ vào đầu chúng nó… Dân tộc Việt Nam chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hoà bình. Nhưng với cái chí khí quật cường mà tổ tiên ta đã hun đúc cho những anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, dân tộc chúng ta có một tinh thần bất khả diệt. …Chúng ta phải làm những người tiên phong đi giải phóng dân tộc chúng ta. Trong ngày vừa qua, nhiều đảng phái đối lập công kích ta, hòng làm giảm uy tín của Đảng ta. Họ đòi chia quyền lãnh đạo, thậm chí đòi Đảng ta bỏ quyền lãnh đạo. Nhưng trong lúc Tổ quốc lâm nguy này thì họ ở đâu? Người  đứng mũi chịu sào trung thành với dân tộc vẫn chỉ có Đảng ta. Trong cuộc kháng chiến này, một lần nữa, Đảng ta lại làm cái sứ mạng là  lái con thuyền Tổ quốc vượt qua bão táp phong ba tới bờ thắng lợi …”

Hoá ra trong lúc nước sôi lửa bỏng, Đảng ta vẫn lo tới việc giữ độc quyền lãnh đạo, và suy cho cùng, chính cuộc kháng chiến chống Pháp đã giúp Đảng loại bỏ các đảng đối lập một cách dễ dàng.

“Ông Khu phó phát biểu:

“Nói tóm lại, nếu các đồng chí có một quyết tâm thật là sắt đá, nếu các đồng chí dựa được vào lòng yêu nước của bộ đội, của nhân dân, nếu các đồng chí biết phát huy những điều kiện thuận lợi đặc biệt của Liên khu 1 thì các đồng chí nhất định chiến đấu lâu dài trong thành phố được. Chính phủ, Hồ Chủ tịch giao cho các đồng chí một nhiệm vụ rất vinh quang. Các đồng chí cố lên. Dù có phải hy sinh thế nào cũng phải cầm cự tới cùng…”

“Ông Hồng Lưu, tiểu đoàn trưởng:

“Chúng tôi, những người Vệ quốc quân, chúng tôi quyết không để cho Pháp thực hiện cái ý đồ của chúng. Chúng tôi chỉ xin nhắc lại một đề nghị là cho chúng tôi thêm người và võ khí. Hiện nay không nói là về võ khí, phi cơ, đại bác, xe tăng, Pháp nó trội hơn ta hẳn, chỉ riêng về số lượng người, chúng ta cũng rất kém. Súng trường của ta không đầy một nghìn rưởi khẩu súng mà phần lớn là cũ. Vệ quốc đoàn và tự vệ chiến đấu thì không được bốn tiểu đoàn…Ý kiến tôi đã rõ. Nghĩa là chúng tôi sẽ hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi xin thề như thế trước chân dung Hồ Chủ tịch, trước mặt đồng chí Bí thư, đồng chí Khu phó và tất cả các đồng chí…”

 

Ngày nay, khi đã có một “độ lùi” nhất định để nhìn lại các sự kiện lịch sử, người ta lấy làm lạ rằng trong những ngày đầu rơi máu chảy, biết bao nhiêu bà già con trẻ lạc lõng bơ vơ, biết bao gia đình tan nát như những tổ chim trước bão….Một xã hội đang vỡ tung trong loạn lạc, bi kịch về thân phận con người đang bị đẩy tới đỉnh điểm. Một khoảnh khắc lịch sử tràn đầy máu và nước mắt. Vậy mà thật đáng ngạc nhiên, ngòi bút của ông nhà văn không đi sâu khai thác những nỗi bất hạnh trong chiến tranh, ngược lại dùng rất nhiều trang giấy để ghi lại những lời phát biểu “đao to búa lớn” của mấy ông cán bộ Đảng, khi súng sắp nổ trên toàn thành phố rồi vẫn còn cà kê ngồi khai hội. Ông Bí thư lại nói nữa:

“Chúng ta muốn hoà bình. Đến phút cuối cùng Hồ Chủ tịch vẫn cố gắng duy trì hoà bình. Nhưng chúng nó cố tình cướp nước ta lần nữa . Chúng đã khai chiến ở Hải Phòng, chúng đã khai chiến ở ngõ Yên Ninh rồi. Chúng ta muốn hoà bình, nhưng không phải hoà bình trong nô lệ. Chúng ta quyết đứng lên chiến đấu, bảo vệ quyền lợi cho dân tộc, đập tan sự nguy hại cho nền dân chủ và hoà bình …”

Người ta thật không hiểu vì sao phần lớn các ông cán bộ Đảng cứ thích nói dài, nói dai, nói chính trị, quanh đi quẩn lại có vài điều mà người nghe dường như đã “biết rồi, khổ lắm…”. Rất có thể trong khi nói, khoái  cảm “đứng trên đầu thiên hạ” tràn trề trong người làm cán bộ khó mà dứt lời cho được.

Sau khi nhắc đến cụ Hồ rồi, ông Bí thư thấy cần phải nhắc tới tên lãnh tụ khác:

“Như  đồng chí Trường Chinh đã nói, chúng ta sẽ làm cho giặc đói không có ăn, khát không có uống, có chân như què, có mắt như mù, có miệng như câm. Các đồng chí hãy nêu cao tinh thần dũng cảm của người cộng sản quyết chiến quyết thắng…”

Cứ như thế ông Bí thư độc chiếm diễn đàn cho tới khi cuộc họp kết thúc sau suốt một ngày một đêm “hô khẩu hiệu suông”.

Lúc này ngoài cổng trụ sở đã có một cô gái chờ sẵn suốt trong lúc các cán bộ đang họp. Đó là cô Quyên, nữ sinh Hà Nội, đang muốn “nằm gai nếm mật, ở mặt trận thì phải là màn sương gối đất  chứ có đâu lại đi làm một công việc văn phòng chẳng có gì là khó nhọc, ro ró ở một xó nhà…”.  Cô nữ sinh ôm ấp hình ảnh người chồng tương lai phải là “đã  bị đầy ra Côn Đảo, đã phải vượt  tù trốn về khu giải phóng, và lúc này phải gánh vác những công việc lớn lao”  để cô có thể “hy sinh tất cả cho anh để bù lại trăm nghìn gian khổ mà anh đã phải chịu trong bao nhiêu năm…”.

Với nhân vật Quyên, Nguyễn Huy Tưởng đã báo hiệu sự xuất hiện của thế hệ thứ nhất của hồng vệ binh Việt Nam theo sau những tên tuổi như Lý Tự Trọng và sau này là Võ Thị Sáu.

Vậy trong suốt một ngày một đêm cô Quyên chờ ai vậy?

Đó là “chị Oanh”, nguyên nữ sinh trường Đồng Khánh, “đã dẫn đầu các bạn học đi dự lễ kỷ niệm Gian Đa và Hai bà Trưng do trường Anbe Xarô và trường Bưởi cùng làm chung. …Thế rồi Oanh bị đuổi. Trước ngày Nhật đảo chính, Oanh tham gia cách mạng. Sau đảo chính Oanh càng hoạt động tích cực. Bị Nhật lùng bắt, Oanh phải thoát ly gia đình ra ngoại ô. Trước ngày cách mạng, Oanh là một trong những người  phụ nữ cứu quốc đứng trên gác Nhà hát thành phố, diễn thuyết hô hào ủng hộ Việt Minh trước đám biểu tình ngày 17 tháng 8….”

Vậy Oanh là một nữ cán bộ khá to, được dự Hội nghị quân sự Liên khu 1 lại được ngồi xe ô tô về Bắc Bộ Phủ. Gặp được Quyên, cô kéo Quyên tiện thể ngồi ô tô luôn. Khi xe chạy qua Trường nữ học Đồng Khánh vốn là trường cũ của Quyên,

“cô bỗng vịn lên vai Oanh, kêu:

“Chị ơi, trường Đồng Khánh của chúng ta đây này…”

Oanh nói:

“Đừng gọi cái tên thằng vua ấy nữa. Bây giờ là Quận uỷ hội…”

“Không hiểu sao, em nhớ trường cũ qua, chị ơi…”

Vậy là cô Quyên “lính mới” vẫn còn một chút nhớ nhung, xao xuyến về “mái trường xưa”, còn cô cán bộ Oanh, phản xạ đã sặc mùi chính trị, nghe nhắc tên trường đã giãy nảy vì nó là tên “cái thằng vua” bất chấp nó là “mái trường xưa đầy kỷ niệm”… Có thể tiên đoán được rằng, sau này “khi cách mạng thành công” loại nữ cán bộ như Oanh sẽ trở thành những Bộ trưởng, Thứ trưởng và với cung cách suy nghĩ  “lấy chính trị làm thống soái”, như vậy, có thể thấy trước họ sẽ đưa đất nước đi tới đâu.

Lần trước, cô Oanh đã giao cho cô Quyên làm nhân viên mật mã, cô không chịu vì không thích làm ở văn phòng, cô thích ra chiến đấu ngoài chiến trường kìa. Lần này Oanh lại giao cho Quyên nhiệm vụ khác, “oách” hơn nhiều:

“Quyên này, em sẽ đóng vai thư ký cho một nhà trí thức mới ở Pháp về, một bác sĩ rất giỏi, rất có tiếng nhưng cũng khó hiểu lắm. Bề ngoài là thư ký, nhưng bề trong là theo dõi, có gì thì báo cho chị biết…”

Thế là bỗng chốc cô nữ sinh Đồng Khánh trở thành… nữ tình báo viên, nhận nhiệm vụ làm thư ký moi tin của một tay bác sĩ ở nước ngoài về. Đây chính là sự “phân công” tuỳ tiện của ông nhà văn, chứ thực tế, vai trò điệp báo nằm vùng như nhiệm vụ Oanh giao cho Quyên phải là một nữ đảng viên trung kiên, đã kinh qua công tác và được đào tạo công phu chứ đâu có “ngơ ngác con nai vàng” như Quyên; khác nào đưa gà con vào miệng cáo? vả lại cô Oanh đang là cán bộ phụ vận, đùng cái đã trở thành tổ trưởng tổ tình báo từ lúc nào mà nhanh quá thế?

Một yếu nhân cũng vừa ra khỏi cuộc họp quân sự – Quốc Vinh, Chủ tịch Liên khu 1. Vừa nãy trong hội nghị khi nghe tiểu đoàn trưởng vệ quốc quân Hồng Lưu nói xấu dân Hà Nội, ông cũng đã phản bác rất hùng hồn:

“…đại đa số nhân dân Hà Nội , tôi khẳng định là tốt. Đấy là những tiểu thương, tiểu chủ, những viên chức những trí thức, những anh chị em nghèo, nhất là nam nữ học sinh và anh chị em thợ thuyền, công cũng như tư. Phải kể cả những anh chị em phu phen, những anh xích lô, hàng phở, những em nhỏ đánh giày, bán báo…. Ngay cả tư sản cũng có một số người hăng hái vào tự vệ, đặc biệt là con cái họ thì rất nhiều người có lòng yêu nước ví dụ như con trai Cự Lâm…”

Rồi ông làm một bản “báo cáo thành tích” của quân và dân thủ đô dài dằng dặc gần hai trang in.  Hoá ra mấy ông cán bộ chóp bu  rất giống nhau: từ lời ăn tiếng nói cho đến suy nghĩ, cảm xúc… Nếu như cho rằng nhân vật tiểu thuyết là sự tổng hoà giữa tính cách cá lẻ với đặc tính chung của gốc gác xuất thân thì tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô”  hầu như không có… nhân vật hoặc chính xác hơn  chúng không có cá tính, mà ngược lại, chúng giống nhau như đúc một khuôn. Trong con người của mỗi nhân vật chỉ thấy duy nhất đang hoạt động là cái “siêu ngã”– tức là cái con người xã hội, con người công dân, yêu nước, căm thù giặc Pháp; ngoài ra hoàn toàn không thấy dấu vết của sự hoạt động bản năng, nguồn gốc của mọi vượt trội, gây mất trật tự trong bầy đàn.

Ta thấy câu nói  sau đây đặt vào mồm ai cũng được – ông Bí thư, ông Khu phó, ông Chủ tịch Liên khu 1, ông Tiểu đoàn trưởng bảo vệ Bắc Bộ phủ:

“Tất cả những con người ấy, bị áp bức, bị bóc lột, bị đày đoạ về tinh thần và vật chất, dưới thời nô lệ, đã thấy rõ cách mạng đem lại quyền lợi cho mình. Từ ngày tiền khởi nghĩa đến giờ họ đã được  giáo dục, được động viên, được tổ chức, nên họ có một lòng căm thù đối với giặc, một lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chính phủ vào Hồ Chủ tịch…”

Quả thật cái đoạn thoại này giống y như xã luận báo Đảng chứ chẳng phải ngôn ngữ của nhân vật. Giá trị văn chương của cuốn tiểu thuyết do vậy mà chẳng được  bao nhiêu…

 

Từ hội nghị ra, ông Liên khu trưởng Liên khu 1 ngồi ô tô về cơ quan. Ông nhìn thấy “đầu phố hàng Đào, phía Cầu Gỗ, sừng sững đỏ tươi, hai chữ CẢM TỬ kẻ từ bao giờ, chiếm cả cái bề dài bề rộng của bức tường vôi nham nhở của một dãy quán bán sách đã dọn đi. Hai chữ “cảm tử” như đôi mắt nhỏ máu lừ lừ nhìn Quốc Vinh. Dưới là một hàng chữ đen: “Chúng tôi, những thanh niên Hà Nội nguyện hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Thề sống chết với Thủ đô!”. Phố hàng Gai, một biểu ngữ nữa kẻ bằng chữ đỏ: “Mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài !” 

Thực ra nếu cần ca ngợi tinh thần “sống chết bảo vệ thủ đô” của thanh niên Hà Nội thì khỏi cần “đi sâu” vào những khẩu hiệu vốn là thứ thật khó đưa vào tiểu thuyết – một thể loại văn học cần tình tiết sống động nhiều hơn là những từ ngữ chính luận khô khan. Tiếc thay sau khi đã dẫn tràng giang đại hải những phát biểu đậm đặc chính trị của các cấp cán bộ Đảng, ông nhà văn vừa cho độc giả thoát ra khỏi cái nặng nề u ám của không khí cuộc họp thì lại ấn cổ người ta vào ngay thế giới của những khẩu hiệu khô khan cho dù nó nói lên tinh thần quyết tử của thanh niên Hà Nội lúc đó.

Vậy nhưng người ta thừa biết có phải tất cả bọn họ đều quyết tử cả đâu, một bộ phận không nhỏ thay vì nghĩ tới số phận của Hà Nội, của cách mạng họ lo tới bản thân và gia đình trước đã. Đó là quyền được sống, được tồn tại chính đáng của con người. Vậy nhưng cuộc đào thoát khỏi tử thần trong cái cối xay thịt Hà Nội vào những ngày mới bùng nổ chiến tranh của hàng ngàn hàng vạn người dân không được  ông nhà văn nhắc tới hoặc giả có nhắc tới thì cũng với giọng khinh miệt coi họ là những kẻ đào nhiệm hèn nhát.

Vậy rõ ràng ông tác giả tiểu thuyết đã chọn một chỗ đứng trong chiến hào chỉ để nhìn địch ta giết nhau và nhất định không chịu xê dịch đi đâu để thấy biết bao cảnh đời khổ ải trong cõi nhân sinh mà máu và nước mắt đã chảy thành sông thành suối.

Trở lại với anh giáo Trần Văn, người đưa mẹ ra ga để về quê, gặp lại và coi khinh người yêu cũ khi cô cũng hoà vào dòng người chạy loạn. Hoá ra chính anh và mấy người học trò của anh đã viết những khẩu hiệu nêu trên ở phố hàng Đào. Một anh giáo trường tư  chưa bao giờ “tham gia cách mạng” ấy thế mà tâm tình lúc này còn rào rạt tinh thần cách mạng hơn cả mấy anh cán bộ Việt Minh:

“Anh thấy rực rực trong người cái vinh quang của một dân tộc hiền hậu mà tự cường, cần cù mà tế nhị…Một dân tộc mà lòng yêu hoà bình cũng lớn như lòng yêu các dân tộc khác nhưng luôn luôn bị chà đạp, bị khinh miệt, bị chia rẽ, bị tàn phá và khi bắt đầu được thấy loé cái ánh sáng của tương lai thì kẻ ngoài lại đến để tiếp tục vùi dập… Cách mạng Việt Minh mới ra đời trong lụt lội, trong đói khổ và trong kiệt quệ, Hà Nội chưa hồi sinh đã lại chứng kiến đạo quân Tàu phù của Tiêu Văn, Lư Hán, nhiễu nhương, bòn vét, giết người và ỉa bậy…. Bóng ma thanh thiên bạch nhật vừa mờ đi thì đạo quân thiết giáp kéo cờ tam tài lại xuất hiện trên các đường phố Hà Nội …”

Còn dài, còn miên man như vậy nữa khiến tâm trạng một anh giáo viên tiểu học người Hà Nội chẳng khác gì tâm trạng một chính uỷ lão luyện của Đảng quanh năm chỉ lo việc Đảng việc nước. Người ta càng lấy làm lạ tại sao các nhân vật trong “Sống mãi với thủ đô” của Nguyễn Huy Tưởng giống nhau đến thế? Chúng cứ như những hạt ngô trong cùng một bắp vậy. Viết lách thế này mà cũng mang danh “tác phẩm lớn” trong văn học Việt Nam thì kể cũng lạ!

Tuyệt nhiên không nghĩ tới mẹ già đang sống ra sao nơi tản cư, anh giáo Trần Văn cho đầu óc phiêu diêu tới miền tưởng tượng:

“Trần Văn nhìn cái ụ bao cát …anh sẽ nấp ở đấy mà ném lựu đạn vào quân Pháp tiến vào… Khi xe tăng giặc đến thì mình phải nhảy ra mà ném chai ét xăng cơrếp rồi quăng lựu đạn. Dũng cảm hơn, phải lao vào xe, cầm một khúc gỗ đút vào xích xe cho nó bật ra khỏi bánh. Anh vốn chậm chạp, anh không hiểu con người phải nhanh đến như thế nào mới làm được ngần ấy việc trong nháy mắt…”

Sau suốt nửa cuốn tiểu thuyết toàn mô tả các nhân vật sục sôi tinh thần cách mạng, ông nhà văn chợt thấy bức tranh của mình không khéo chỉ được vẽ bằng thuần một mầu đỏ, ông vội đưa ra một nhân vật “phản diện” để phá thế đơn điệu của tác phẩm. Đó là Tân – bạn của Nhật Tân, anh chàng tự vệ đòi bắn những thanh niên tản cư, anh chàng nói chuyện chính trị cả với vợ chưa cưới khi chia tay.

“Nhật Tân với Tân là đôi bạn chí thiết từ nhỏ. Nhà giàu, Tân thường giúp đỡ Nhật Tân. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Nhật Tân vào Việt Minh, Tân không đồng ý nhưng vẫn giúp…”

Vào lúc gần nổ ra chiến tranh, Nhật Tân tới nhà Tân để lôi kéo bạn vào tự vệ. Anh nói:

“Có thể đêm nay nó đánh mình…”

“Trời ơi, trời ơi, trời  ơi ! Mày doạ một thằng trẻ con đấy à, Nhật Tân?”

Rồi Tân vứt cái cốc xuống sàn vỡ tan, huỵch toẹt:

“Tao đi với Việt Minh thì rồi cũng thế này thôi. Nghĩa là đánh xong Pháp thì đến lượt chúng tao họ làm cỏ, của cải họ đem chia. Đấy, rồi mày xem, có đúng không ?”

Nhật Tân cãi bừa:

“Còn có cụ Hồ…”

“Có thể ông ấy là một anh hùng, một ông hiền, một ông thánh nữa. Nhưng cái lối sống khắc khổ, nhạt nhẽo và gò bó, ăn không cần ngon, mặc không cần đẹp, hùng hục làm việc, mày nghĩ xem, còn có cái thú gì ?”

Nhật Tân nhìn Tân, con mắt nhỏ chứa cả giận và tuyệt vọng:

“Mày thích cái lối sống của mày, tao thích cái lối sống đời mới. Mày muốn sống thế nào? Như Nguyễn Hải Thần nhà mày bói toán hút thuốc phiện ư? Như Nguyễn Tường Tam thụt két của Chính phủ ư? Như Trịnh Thục Oanh đưa gái cho Saten ư? cái thời đại nhơ nhuốc ấy đã qua rồi. Thế mày đứng đâu. Phía Pháp à? tao rùng mình cho mày đấy…”

Thế là hai người bạn thân đứng về hai phe đối nghịch nhau, ngược nhau về quan niệm sống, về quan điểm chính trị. Hoá ra cái nhân vật “phản diện” mà Nguyễn Huy Tưởng đưa ra, cũng chỉ là “con người chính trị”  giống y nhân vật chính diện, duy chỉ khác dấu nhau mà thôi. Nói cách khác, dù là nhân vật cách mạng hay phản cách mạng, chúng đều được xây dựng từ những sơ đồ chính trị-xã hội theo nhãn quan cộng sản mà Đảng buộc mọi nhà văn trong xã hội đều phải tuân theo.

Để cho nhân vật phản diện có vẻ có “tính người”, Nguyễn Huy Tưởng đã cho Tân làm một việc độc đáo. Vào ngày hoà bình cuối cùng của Hà Nội, Tân ra đầu phố mời 4 người đi qua đường, cho dù không quen biết, vào nhà để dự một bữa tiệc cuối cùng. Tân mở đầu bữa tiệc:

“Chúng ta không cần biết tên tuổi, nghề nghiệp, gia đình của nhau làm gì. Cần gì phải biết anh đang làm tự vệ hay sắp tản cư, anh là Việt Minh hay là Quốc dân đảng, anh có vợ hay chưa bị bó buộc, anh đang lo tình hình hay nhởn nhơ với nó, anh lạc quan hay bi quan, anh muốn sống hay muốn chết? tất cả những cái đó không cần thiết …chỉ cần biết rằng lúc này – Tân xem đồng hồ – là năm giờ mười lăm, có năm người Hà Nội còn sống, rất hay, toàn con số năm cả, năm người cùng họp với nhau, cùng ăn với nhau, ngay trên đất Hà Nội… trong khi ở phố Tràng Tiền bên trái, đường Trần Hưng Đạo bên phải, xe Pháp đang chạy ầm ầm, trong khi ở ngoài kia rất lạnh mà trong này còn ấm cũng. Để rồi chúng ta chia tay nhau như là đã không biết nhau…”

Một trò chơi thật lãng mạn, thật độc đáo của người Hà Nội trước lúc cơn bão lửa nổ ra. Chỉ có điều 5 con người tập trung ở mâm rượu này, nếu do chủ nhà ra đầu phố chọn tuỳ hứng thì ông tác giả lại phải định hướng cho cuộc chọn lựa. Như vậy hiển nhiên 5 con người đó không được gồm toàn những người “phản động” như Tân, hoặc những người cầu an sắp tản cư khỏi Hà Nội. Quả nhiên Nguyễn Huy Tường đã cho Tân chọn đúng ngay …anh giáo Trần Văn, một người đầu óc lúc nào cũng phiêu diêu trong giấc mơ làm liệt sĩ cách mạng. Rút cuộc lúc vào tiệc, Trần Văn đã giơ cao cốc:

“Đúng rồi. Chúng ta nâng cốc vì Tổ quốc, vì cụ Hồ. Vận mạng  của dân tộc chúng ta quyết định trong những ngày sắp tới, có khi ngay trong đêm nay. Sống chết vì Tổ quốc, sống chết vì cụ Hồ, linh hồn của dân tộc…”

Lẽ ra bữa tiệc 5 người này sẽ rất hay, sẽ đầy những tâm tình của người Hà Nội khi quê hương sắp chìm trong máu lửa. Tiếc thay, ông nhà văn đã “chính trị hoá” nó khiến nó trở nên giả tạo, sống sượng đến  khó chịu…

 

Giữa lúc Hà Nội sắp chìm trong bom đạn, dân tình nháo nhác tản cư, đời sống rất khó khăn, thiếu thốn, nhưng ông Tân chủ nhà cũng bày tiệc rất rôm rả: “nem chua, chim quay, vịt hầm, thang, thịt gà luộc, cơm trắng, tráng miệng cà phê…”  và mời mọc rất hào phóng:

“Tất cả những chai rượu đây là để thết các bạn. Nút đã mở sẵn. Các bạn cứ tự ý rót, hoàn toàn tự do. Uống bằng hết. Không uống hết thì ta đổ đi. Bởi vì ngày mai, và có thể ngay lúc này, không có gì là chắc cả. Các món ăn, cũng gầy còm thôi, tôi sẽ đem hết lên đây, các bạn muốn ăn gì trước, muốn ăn gì sau, tuỳ hết. Bữa tiệc cuối cùng không có gì là gò bó…”

Khách dự tiệc ngoài anh chỉ huy tự vệ Trần Văn ra còn có Vũ Minh, một học sinh ở phố Nhà Thờ. Anh chàng này chẳng biết nói gì, chỉ thốt lên :

“Quái dị…”

Người  khách bất đắc dĩ thứ hai là nhạc sĩ Thu Phong “trong lúc buồn rầu nhớ tiệm và dàn nhạc, anh thuê xe lần xuống Bạch Mai để hát cô đầu giải muộn và dối già …anh đang đói nên Tân mời là vào ngay…”

Người khách thứ ba là Ben-la, một chủ hiệu ảnh “đi mua được mấy chục cuốn phim dự trữ  để tính chuyện về quê làm ăn …Vẻ mặt nhạt nhẽo, tầm thường không có cá tính. Anh đeo cái máy Kodak một bên, một bên là cái túi da đựng phim, sẵn sàng có gì là chạy…”

Tất cả bốn người, người nào cũng như tôn trọng đề nghị của ông chủ nhà kỳ dị, không ai tự giới thiệu với ai. Không ai muốn phá cái không khí bí mật, gần như hoang đường ấy. Bởi thế Tân, chủ nhà phải khuyến khích mọi người nói:

“Các bạn cứ hoàn toàn tự do. Ta nói chuyện đi, chuyện trời đất, chuyện  trai gái, chuyện dâm dục, chuyện chính trị, tha hồ. Miễn là tiệc của năm người Hà Nội không chết …”

Người cao giọng, cà kê dê ngỗng dạy dỗ thiên hạ lại vẫn là anh cán bộ Trần Văn.  Anh trách cứ  thanh niên Hà Nội không có lý tưởng “thường chỉ đuổi theo cái ăn cái mặc, lao tâm khổ tứ vì cái ăn cái mặc, cả cuộc đời rút lại chỉ là cái ăn cái mặc”.  Anh trách“cô tân thời ăn mặc sang trọng, ngồi trên xe tay nhà gọng đồng sáng loáng đi chợ Đồng Xuân”  sống làm gì ? Anh chê “anh công tử một sơ mi hàng ngày chải đầu bóng mượt, thắng bộ quần áo bảnh bao đi diện phố, lậu vé xinê rồi buổi tối về, chờ cho mọi người đi ngủ, mới cởi áo đem giặt, phơi phóng rồi nằm ngủ cởi trần, kết thúc một ngày vô lý  …”  Anh cán bộ tự vệ này phàn nàn: “Tôi đã từng trông thấy những người Hà Nội suốt đời chỉ có một mục đích là cái bát phở buổi sáng, họ đem hành tây, họ đem trứng đi, đến hàng phở quen, họ đánh dấu bát để đưa chan, họ hỏi hồ tiêu, họ đòi ít ớt, họ xin ít nước béo, họ vùi đầu vào bát phở một cách thô tục, xấu xí, rồi họ ra đi một cách tự mãn …Con người mà thế thì buồn lắm….Phải khác …”

Nhân danh một người Hà Nội lại mạt sát văn hoá ẩm thực của Hà Nội, ông nhà văn tưởng rằng hạ thấp cách sống của người Hà Nội sẽ tôn vinh được “văn hoá cách mạng” vốn có cốt lõi là “diệt trừ sự hưởng thụ”, ngờ đâu, khi “cơn bão táp” cách mạng đi qua, cái còn lại với thời gian lại chính là những giá trị văn hoá. Nếu còn sống đến ngày nay, chắc chắn ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sẽ đục bỏ những lời lẽ xúc phạm nghệ thuật ăn phở của người Hà Nội thô bạo đến thế.

Vậy ông nhà văn đòi hỏi người Hà Nội phải sống khác ra sao? Ông nói:

“Ngoài cái ăn cái mặc ra, còn phải suy nghĩ làm sao có thể giúp ích cho đời, phải có cái gì đó để lại, nó đánh dấu sự tồn tại của một con người, nó nâng con người lên trên cái ăn cái mặc. Đấy là lý tưởng, đấy là lý do sự có mặt của mình trên trái đất…”

Lời lẽ của anh cán bộ tự vệ lúc đã ngà ngà say thật đúng là văn…bia. Chỉ buồn một điều là cả cái thế hệ “tự vệ thủ đô” ngày ấy  đã để lại được cái gì có ích cho đời? Đưa cả dân tộc vào khói lửa 9 năm chinh chiến chống Pháp, 10 năm chống Mỹ, đói nghèo vẫn hoàn đói nghèo và chính họ lao vào cuộc đấu đá giành giật “cái ăn cái mặc” dẫn tới quốc nạn tham nhũng ngày nay.

Có lẽ do ngán ngẩm bài “diễn văn” sặc mùi chính trị của ông cán bộ tự vệ, ông thợ ảnh rút lui trước, còn cậu học sinh ở phố  nhà thờ Vũ Minh bỗng dưng cũng nổi máu “yêng hùng” đứng dậy hùng hồn:

“Rất đồng ý, nâng cốc vì Tổ quốc, vì cụ Hồ. Tôi cũng rất phục cụ Hồ, hai tháng trước đây, tôi đã làm hàng rào danh dự đón ông Cụ ở Pháp về. Nhưng xin nói thêm: nâng cốc vì thắng lợi  nữa…”

Tuy thế, trong lời lẽ của anh học trò này còn có đôi chút “lãng mạn”:

“Nếu có đánh nhau thì những người đã dự bữa tiệc này không ai chết… và ông chủ sẽ có thể một ngày nào đó lại cho chúng ta ăn một bữa cơm no say như thế này…”

Ông nhạc sĩ sau lúc đã qua cơn đói rồi, cũng bắt chước ông cán bộ tự vệ, đứng dậy hùng hồn:

“Tôi nói thật bởi vì trong cái đời giang hồ của tôi, hết bar này tới bar khác, Pháp đánh cũng có, Nhật chửi cũng có, Tàu bợp tai cũng có, trong nam ngoài bắc, cả cái đất của Thống chế họ Tưởng nữa, ở đâu cũng thế thôi, chưa bao giờ tôi được sống cái phút say sưa như thế này …”

Bữa tiệc gặp gỡ ngẫu hứng của 5 văn nghệ sĩ trí thức Hà Nội là như thế, họ toàn nói những câu nặng mùi chính trị, bày tỏ lòng căm thù giặc Pháp, lòng tôn kính cụ Hồ, bài bác tính cách hưởng thụ của người Hà Nội. Khi tưởng tượng ra bữa tiệc đầy ý nghĩa này, ông nhà văn thiếu hẳn cái tình cảm xót xa của người Hà Nội khi Thăng Long sắp trở thành chiến địa, thiếu hẳn những phản ứng tâm lý, những hành vi rất riêng, đầy tính lãng mạn của người Hà Nội – nhất là văn nghệ sĩ trí thức – trong giờ phút hiểm nghèo này, thiếu hẳn những dự cảm tương lai của Hà Nội khi bước vào cuộc chiến đẫm máu. Với một tài năng văn học thực sự thì nhất định người đọc sẽ được thưởng thức một “bữa tiệc cuối cùng” của 5 người Hà Nội lãng mạn hơn, “con người” hơn là những đối thoại dài dòng, chính trị một chiều này.

Không khí chuẩn bị chiến đấu mỗi lúc khẩn trương khắp thành phố và lạ thay càng tới gần giờ G đó, người Hà Nội càng có vẻ … hăng hái giác ngộ cách mạng, thấm nhuần tư tưởng “quốc tế vô sản”  mácxít-lêninnít. Anh học sinh đặc sệt tiểu tư sản tên Loan, đang ở trong tiểu đội tự về làm chân vẽ bản đồ khi nhìn thấy người mẹ Tàu cho quà con nít Việt Nam đang theo mẹ tản cư cũng làm ngay một thuyết lý chính trị với cô Quyên – nữ sinh tham gia cách mạng:

“ …Chị có thấy không, người mẹ Tàu chẳng khác gì mẹ Việt Nam. Các bà mẹ đều là hiện thân của sự hy sinh lặng lẽ…”

Vậy là đã có sự phân biệt giữa bọn Tàu ô mang cờ thiên thanh bạch nhật sang cướp bóc nước ta với người Trung Quốc chân chính như “người mẹ tàu” cho quà con nít Việt Nam kia. Cô Quyên vốn được chị Oanh, cán bộ phụ nữ giao nhiệm vụ làm thư ký cho ông bác sĩ Pháp mới về để “khám phá ra một tổ chức phá hoại”. Ai ngờ, vừa gặp , ông bác sĩ – tên Pha, đã xổ ra một tràng “lập trường cách mạng” làm cô Quyên cứ tròn xoe cả mắt:

“Tôi đã sống những ngày kháng chiến Pháp ở Paris. Không có những việc đục tường, đào hố như ta. Thanh niên Pháp cũng không có những lời thề đanh thép: “Sống chết với Thủ đô” như thanh niên ta. Làm gì họ có người mẹ sắm súng cho con  ở lại, chồng cho vợ về quê để vào tự vệ, em bé nằn nì xin vào bộ đội. Cả một dân tộc đứng lên. Quây chung quanh một chính phủ, thà hy sinh tất cả chứ không chịu trở về đời nô lệ, mais c’est inoui, c’est  magnifique …”

Một ông bác sĩ Việt kiều vừa ở Pháp trở về mà ăn nói không thua gì một ông cán bộ Việt Minh ở trong nước. Điều này càng chứng tỏ Nguyễn Huy Tưởng tuy đưa ra nhiều loại nhân vật trong tiểu thuyết mà rốt cuộc người ta chỉ thấy có một mà thôi: người công dân yêu nước, yêu cụ Hồ, giác ngộ cách mạng  và nói năng như… cán bộ.

 

 

Tất nhiên để xây dựng nhân vật ông bác sĩ mới từ Paris trở về  theo lời kêu gọi của cụ Hồ, ông nhà văn phải cho nhân vật nói năng có tí ti tiếng tây không thì lẫn với các cán bộ :

“Tôi rất vui được sống ở Hà Nội những ngày tuyệt đẹp như thế này. Những cái phố rất Việt Nam, đi đâu về mới càng thấy quý, những tên phố rất nên thơ, những con người rất sympathiques, tout pour une noble cause, như cô chẳng hạn, gentile mademoiselle… C’est de quoi nous enorgueillir…”

Rồi ông bác sĩ Việt kiều còn khuyên cả mấy anh cán bộ … “làm thơ” nữa:

“Phải làm thơ chứ. Kháng chiến Pháp buồn lắm. Paris vẫn yên như không, chẳng có gì là kháng chiến cả. Thế mà những nhà thơ của nó làm như đẹp lắm, to lắm. Cả thế giới biết. Huống chi là ta …”

Tính cách ông này giống như một tay bẻm mép, một gã ba hoa, nhiều hơn là một ông đốc tờ… Ấy thế mà những lời “vàng ngọc” của ông bác sĩ ở Pháp về lại làm rúng động tâm can anh tự vệ tên Loan, vốn là học sinh đặc sệt tiểu tư sản, “từ hôm đến đây, Loan đã cho rằng chẳng bao giờ mình còn làm thơ nữa. Cuộc đời sẽ chỉ còn chém giết, là đổ nát, là căm thù, là chết chóc, chẳng có gì là đẹp”; anh còn cực đoan hơn nữa khi  cho rằng:  “Mơ mộng gì nữa khi bầu trời Tổ quốc không còn là bình minh của hương sắc mà đục ngầu những hình thù tối đen của mũ đỏ và thổ phỉ…”.  Những tưởng anh chàng Loan này từ nay sẽ trở thành một chiến sĩ không tim, chỉ biết nhắm mắt cầm súng bắn quân thù, “may thay”, được nghe ông bác sĩ Việt kiều “diễn thuyết”, Loan bỗng tỉnh ngộ “bàng hoàng như người tìm thấy một vật quý tưởng như đã mất…”.

Mặc dầu sự “giác ngộ” của Loan là đáng ngờ, nhưng ông nhà văn đã quên khuấy mất “phận sự” nhà văn cách mạng của mình, bởi lẽ vai trò “đả thông tư tưởng” cho cán bộ, nhân dân là thuộc về người của Đảng chứ không phải ông bác sĩ Việt kiều. Ông này mặc dầu đã về nước tham gia cách mạng theo lời kêu gọi của cụ Hồ nhưng vẫn thuộc “phần tử đáng ngờ”, bởi thế cô cán bộ Oanh phải cử hẳn cô nữ sinh Quyên luôn đi cặp kè để giám sát coi ông bác sĩ có “ tổ chức phá hoại” nào không? Ở đây ông nhà văn vô tình đã phản ánh cái bản tính luôn luôn nghi kỵ của Đảng, luôn luôn ngờ vực và không tin bất kỳ ai ngay cả khi  họ chỉ mang tới những điều tốt đẹp cho xã hội.

Quả nhiên cô giám sát viên tên Quyên “đưa mắt nhìn Loan như để bảo bạn không nên tin cái ông bác sĩ. Xui người ta làm thơ là để quên việc chuẩn bị đánh. Đi lang thang ngoài phố là để nghe ngóng tình tình hình. Khen mình giỏi để không ai nghi ngờ nữa…”.

Đọc tới đây người đọc phải thắc mắc không hiểu Đảng giáo dục cách nào mà cô nữ sinh Hà Nội tên Quyên này có được “tính Đảng” nhanh quá vậy? Cô nhìn nhận mọi sự ở trên đời qua đôi mắt “cảnh giác” của công an. Người ta khuyên nên làm thơ cô lại cho rằng đó là xui dại để quên chiến đấu, người ta đi lang thang phố cô lại nghi rằng đi nghe ngóng tình hình. Cô lại còn tự hào “giấu thế nào được  Quyên. Sắp đánh nhau rồi còn đi mua táo, kháng chiến gì những người này. Lại vẫn còn nói tiếng Pháp, chỉ riêng việc này cũng chứng tỏ rằng lão này nặng tình cảm với địch. Mới ở Pháp về yêu nước làm sao được?”. Than ôi, có một “nữ giám sát viên” như cô nữ sinh Quyên này người ta thấy rõ ông bác sĩ Pha khó mà sống sót được với cách mạng và chẳng bao lâu nữa chắc chắn ông sẽ phải hối hận đã nghe theo cụ Hồ về nước tham gia kháng chiến. Rất may cuốn “Sống mãi với Thủ đô” mãi tới năm 1960 mới xuất bản chứ nếu nó ra đời từ năm 1946 là năm cụ Hồ kêu gọi trí thức Việt Nam ở Pháp về nước đóng góp cho cách mạng thì sau khi đọc tiểu thuyết của ông Nguyễn Huy Tưởng chắc bà con Việt kiều sẽ “bỏ của chạy lấy người” về Pháp.

Càng gần tới giờ G, giờ nổ súng đánh Pháp, người bận rộn nhất trong hàng ngũ cách mạng phải kể tới ông Liên khu trưởng Liên khu 1 Quốc Vinh. Tất nhiên, ông phải là cộng sản gộc với đầy đủ phẩm chất của một cán bộ lãnh đạo Đảng. Ông nguyên là một thợ nhà in rồi đi làm cách mạng. “Hồi bí mật, có nhiều lúc khó khăn, anh bị đói khát, bị truy nã, nhưng việc tuyên truyền, vận động quần chúng thẳng một chiều anh thấy còn dễ. Ngày bị bắt, vấn đề chỉ là cắn răng chịu đựng để không phản bội…”. Vậy là ở cái cương vị Liên khu trưởng Liên khu 1, Nguyễn Huy Tưởng đã đặt một nhân vật đúng khuôn mẫu lý thuyết  của cán bộ cộng sản: xuất thân công nhân, đi làm cách mạng, bị địch bắt, bị tra tấn vẫn giữ khí tiết cách mạng. Thế nhưng ở cái ghế lãnh đạo cao nhất một liên khu quan trọng nhất ở Hà Nội,  cái ông xuất thân thợ in ấy, rồi biết xoay xở ra sao?

“Nhưng bây giờ thì công việc như rừng. Anh chỉ nghĩ chung chung mấy điểm, nắm vững lực lượng đồng chí, dựa vào quần chúng, bồi dưỡng tinh thần kháng chiến quyết tâm diệt địch đến cùng…”.

Vậy tức là “đồng chí” Liên khu trưởng chẳng cần tới kế hoạch tác chiến, nắm vững tình hình địch ta, chẳng cần suy nghĩ gì về chiến lược chiến thuật, chỉ cần nắm chung chung, nắm các đồng chí và dựa vào quần chúng giáo dục họ tinh thần quyết chiến là… hoàn thành nhiệm vụ. Ta hãy xem ông cán bộ lãnh đạo giải quyết sự vụ hàng ngày:

“Đồng chí thư ký đọc từng việc ghi trong sổ :

− Tuyên truyền đang bí bài hát. Đề nghị giải quyết…

− Có Diệt phát xít, Bao chiến sĩ anh hùng, còn gì nữa…

− Không đủ ạ…

− Thì có cậu gì mới đến đấy, bảo làm thơ thêm vào…

− Các chị đề nghị hát Suối mơ, Đàn chim Việt…

− Đánh nhau mà lại Suối mơ …”

Rõ đúng tính cách một anh cán bộ cộng sản, tình hình đang dầu sôi lửa bỏng mà vẫn không quên “lãnh đạo toàn diện”, cấm đoán cả đến một bài hát. Vậy là ngay khi Đảng vừa cầm quyền, những nhạc phẩm bị quy là “nhạc vàng” đã bị bỏ tù dài hạn mãi gần nửa thế kỷ sau vào thời đổi mới lần lượt mới được tha bổng.

Vào trước ngày toàn quốc kháng chiến, người ta cứ tưởng sau lời hiệu triệu của ông Hồ Chí Minh muôn người sẽ kề vai sát cánh, chung một chiến hào mà đánh giặc Pháp. Sự thực nếu đi sâu vào cơ cấu quyền lực ta sẽ thấy đó chỉ là cái vỏ ngoài, thực chất những người cộng sản nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối, thiết lập một ranh giới “trong Đảng – ngoài Đảng” trong mọi công việc. Bởi thế ông Uỷ viên quân sự Văn Việt là người ngoài Đảng nên “mù tịt” chẳng biết sẽ đánh đấm ra sao.

“Văn Việt đẩy cửa chạy vào nét mặt hầm hầm. Cái ve áo bludông tím của Văn Việt đã đính cái huy hiệu Hồ Chủ tịch mà anh chỉ đeo khi có việc quan trọng hay trong ngày lễ. Văn Việt hỏi:

“Ông Quốc Vinh, tôi muốn ông nói rõ cho tôi.”

“Cái gì thế, tôi tưởng anh đang bố trí ở hãng Sauvage.

Quốc Vinh bắt tay Văn Việt có điều không hài lòng. Văn Việt nói:

− Chúng ta chủ động đánh nó hay nó đánh ta? Tối nay, mình hay là nó? Tôi là uỷ viên quân sự, tôi phải biết chứ ?”

Ông uỷ viên quân sự nhầm lẫn ở chỗ dù ông có là uỷ viên trời, nhưng không phải là đảng viên cộng sản thì ông chỉ được biết những gì Đảng cho phép thôi. Bởi thế nghe ông Uỷ viên quân sự cằn nhằn, ông cán bộ cộng sản vẫn điềm nhiên:

“Tất cả những điều anh muốn biết rồi anh sẽ biết. Không có điều gì giấu anh cả. Kế hoạch sáng ngày đã bàn rồi, anh cứ làm như thế…”

Vậy là ông uỷ viên quân sự không phải đảng viên chỉ được phép biết đến đó, cứ theo đó mà làm đừng có đòi cái quyền được cung cấp thông tin như của cán bộ đảng viên khác.

“Văn Việt cau mặt, nhún vai, tay đập mạnh vào bao súng. Lời nghẹn trong cổ:

“Được. Các ông bảo làm gì, tôi làm cái ấy. Tôi hoàn toàn chịu quyền chỉ huy của các ông kia mà. Cái kiếp một thằng quần chúng vĩnh viễn là như thế thôi. Nó có được  biết cái  gì đâu ?”

Thật đúng là một ví dụ cụ thể và sinh động về việc Đảng đã chiếm đoạt quyền lực của nhân dân từ rất sớm, từ ngay trong những ngày cần thiết phải huy động toàn dân tộc đương đầu với ngoại xâm. “Cái kiếp một thằng quần chúng vĩnh viễn” càng về sau càng thê thảm hơn: những giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, Bùi Huy Đáp, Lương Định Của, luật sư Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Hữu Thọ… những trí thức “ngoài Đảng” chắc sẽ thấm thía hơn ai hết khi đọc đoạn này trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng.

 

Thế rồi cái giờ G., giờ tự vệ Hà Nội nổ súng vào quân đội Pháp cũng đã tới. Vào cái giờ phút long trọng này, ông Liên khu trưởng Quốc Vinh ngồi với chị cán bộ Oanh và nói vào máy điện thoại:

“Pháo đài Láng chuẩn bị pháo lệnh kháng chiến…”

Trong giờ phút tối quan trọng, cần tập trung mọi suy nghĩ vào việc chỉ huy chiến đấu thì ông Liên khu trưởng lại …suy nghĩ về bác Hồ:

“Quốc Vinh cầm lấy cái ảnh Hồ Chủ tịch đặt trên bàn rồi lại để xuống. Anh chưa được gần người đồng chí già ấy bao giờ. Trừ cái ngày mồng hai tháng chín ấy… Đứng dưới lễ đài để bảo vệ, anh ngước lên, thấy lẫn với nhiều người, lẫn với cờ và ô, nhà cách mạng lăn lộn khắp năm châu trở về, đen sạm vì nắng mưa và sốt rét, vừa ho vừa đọc bản Tuyên ngôn độc  lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Lúc này đây, lãnh tụ đang trông ngóng chờ anh. …”

Trong số các nhà văn của Đảng, Nguyễn Huy Tưởng có lẽ chiếm giải quán quân về “nâng bi lãnh tụ”, chỉ sau Tố Hữu và ngang ngửa với Chế Lan Viên. Sau khi “cơn yêu lãnh tụ” đã qua đi, ông chỉ huy mới nhớ tới các đồng đội:

“Trong cái vắng lặng của một cuộc đời đang thay đổi lớn, anh cảm thấy đất ở dưới chân anh chuyển động. Anh như đang trông thấy, nghe thấy đồng chí và đồng bào tiến sát tới cầu Long Biên, Cửa Đông, Cửa Bắc; Vi Dân đã chôn bom ở Cửa Nam; những ống hơi của của Sinh sắp nổ trong lò than của xưởng giặc trong thành; phủ Bắc bộ đã sẵn sàng, các ô cầu Rền, ô Chợ Dừa, ô Cầu Giấy đang vít chúng nó lại, trường bay Gia Lâm sắp bốc cháy; xa xa cầu Đuống sắp được chiếm lại, xa nữa Bắc Ninh; xa nữa Huế, Sài gòn đang hướng cả về thủ đô…”

Bỏ qua cái “lãng mạn không đúng lúc” của ông chỉ huy quân sự lẽ ra lúc này phải tập trung hết tinh lực để đón nhận tin tức chiến trường báo về và có ứng phó kịp thời, bỏ qua cái tính cách hết sức vô lý đó, người đọc có thể thấy trên khắp mặt trận toàn Hà Nội chỉ thấy toàn tự vệ với nhân dân mà không thấy bóng dáng “bộ đội chính quy”  ở đâu ngoài mấy anh lính người Thượng canh gác Bắc Bộ phủ. Như vậy đủ thấy cho mãi tới ngày 19 tháng 12 năm 1946, lực lượng vũ trang của Đảng vẫn còn quá mỏng, bởi thế cuộc giành chính quyền tháng 8 năm 1945 chủ yếu là do nhân dân đứng lên trong sự im lặng “bất can thiệp” của cả chục ngàn lính Nhật vẫn còn nguyên vũ khí. Từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, những người cộng sản dường như đã “tiếp quản” chính quyền từ tay nhân dân mà không đổ một giọt máu và ngay lập tức họ biến nó thành của riêng và dồn hết tâm lực thiết lập chế độ độc quyền lãnh đạo, toàn trị cho tới tận ngày nay.

Kim đồng hồ vẫn nhích tới giờ G và ông chỉ huy quân sự vẫn miên man trong những suy nghĩ “trừu tượng” tận  đẩu tận đâu:

“Trên con đường tiến lên đạp đổ mọi ngai vàng và xiềng xích, dẫn đến công lý và hạnh phúc, anh đã trông thấy nhiều máu phải chảy ra, nhiều đầu phải rụng xuống. Giờ đã đến mà sự chém giết sẽ dữ dội hơn nữa, đồng bào anh sẽ trải qua những tang tóc lớn lao. Nhưng cách mạng cứ phải đi  và cuốn theo nó hàng vạn, hàng triệu con người trong đau thương và trong tin tưởng, đứng dậy, lớn lên…”

Vậy người cộng sản đã biết trước cái giá phải trả của dân tộc cho cuộc cách mạng mà họ tiến hành. Dẫu rằng “nhiều máu phải chảy ra, nhiều đầu phải rụng xuống”, mặc kệ, “cách mạng cứ phải đi” kéo theo hàng triệu người chết trong đau thương. Có vẻ coi cái chết  của nhân dân “nhẹ tựa lông hồng”, mạng sống của con người như con sâu cái kiến, nên những người cộng sản tuyệt nhiên không bao giờ nghĩ rằng liệu còn có con đường nào khác không phải đổ xương đổ máu mà vẫn giành được độc lập tự do cho dân tộc? Không, họ không bao giờ có ý nghĩ “phản loạn” thế. Họ coi hàng triệu người nông dân rồi đây sẽ ngã xuống chẳng có mấy ý nghĩa, cái cao hơn hết thảy là sự nghiệp của Đảng, là sự tận diệt các đảng phái, các nhóm đối lập chính trị để Đảng khư khư độc quyền lãnh đạo – đó mới là cái đích tối cao họ nhằm tới.

Và rồi “Phút cuối cùng. Và phút đầu tiên”.

Họ nín thở lắng nghe . Trong cái tĩnh mạc của thành phố bỗng có tiếng sành sạch, sành sạch, tiếp theo một tiếng nổ ùng oàng vang trời. Oanh nảy người, giữ lấy đồng chí ngồi bên, kêu :

“ Có lẽ rồi…”

Quốc Vinh đứng dậy nói to như để bù lại những ngày uất ức:

“ Tiêu diệt thực dân Pháp…”

… Họ ôm choàng lấy nhau trong bóng tối; giữa những tiếng reo ngoài phố khi đèn tắt, tiếng chân chạy ngoài đường  và tiếng chó sủa vang. Họ chuyền cho nhau sổ tay để ký dưới ánh sáng lay động của những ngọn nến…”

Thật không thể hiểu nổi tại sao vào giây phút thành phố bắt đầu vào cơn huỷ diệt, máu bắt đầu chảy, xác người bắt đầu chồng chất vậy mà các vị “cán bộ” này lại trao sổ  để ký lưu niệm cho nhau! Ba ông bà cộng sản có khi nào làm cái việc “tiểu tư sản dở hơi” này đâu, nó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của ông nhà văn để tăng thêm chất “tiểu thuyết” cho cuốn truyện vậy thôi.

Tuy nhiên từ giờ phút này, sau tiếng pháo lệnh của pháo đài Láng, tất cả những  người Hà Nội, người cách này, kẻ cách khác, nhưng tất cả đều  đã bước vào cuộc chiến tranh mà ít ai ngờ ràng nó kéo dài tới 9 năm nữa.

Trước tiên là Trần Văn – anh giáo trường tư, quên cả mẹ nơi tản cư mà mơ mộng: “Khi xe tăng giặc đến thì mình phải nhảy ra mà ném chai ét xăng  cơrếp rồi quăng lựu đạn. Dũng cảm hơn, phải lao vào xe, cầm một khúc gỗ đút vào xích xe cho nó bật ra khỏi bánh…”. Ấy thế mà khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổ ra, Trần Văn lại đang đi …hát cô đầu và ngủ dậy muộn. Thực ra sẽ có những trang tuyệt hay nếu ông nhà văn miêu tả cái cuộc hát cô đầu ấy vào lúc nổ ra tiếng súng toàn quốc kháng chiến. Nhưng ông nhà văn đã không làm chuyện đó, ông cho Trần Văn  tỉnh dậy và chạy thục mạng ra phố.  “Vừa nhảy xuống đường hàng Khay, anh vấp ngã, nằm lên một xác người, tay anh mó vào một khúc ruột lầy nhầy. Anh giật bắn người lên, rùng mình và nghẹn cổ…” Vậy là Trần Văn thay vì trở thành một dũng sĩ đánh bom ba càng thì lại trở thành một anh chạy trối chết trên đường phố Hà Nội để chứng kiến cuộc chiến đang diễn ra.

“Bóp hàng Trống đang đánh dữ, hình như có nhiều xe ùn lại. Nhà hát Lớn nghe ra cũng có tiếng súng. Anh chạy núp vào trong tháp Báo Thiên, theo cái bản năng tự vệ… Một đoàn xe tiến xuống Tràng Tiền, đèn pha của cái đi đầu chiếu một vệt sáng dài. Anh tự hỏi sao vây nó trong thành rồi mà xe nó vẫn lồng ra được ? Phủ Bắc Bộ đưa lại những tiếng liên thanh cục cục rõ mồn một, và những tiếng súng trường gióng một mà anh có cảm tưởng người ta ngắm kỹ lắm rồi mới bắn…”

Theo chân nhân vật Trần Văn, tác giả diễn tả cuộc chiến đấu ác liệt của người Hà Nội chống Pháp.

“Anh đi trên hè, phút lại lủi vào bờ, ôm lấy thân cây. Bên kia, trước cái bãi ô tô gần nhà bưu điện, lố nhố hai bóng người. Anh định thần thì thấy họ đang lúi húi mỗi người chặt một cây. Một đoàn xe Pháp chạy rầm rộ trên đường hàng Khay bắn lẹt đẹt sang….”

Cuộc chạy trốn của Trần Văn đưa anh tới Nhà máy điện – ở đây anh chứng kiến bi kịch não lòng của Trinh, người yêu cũ, bỏ anh đi lấy chồng giàu. Hình như cái sự “tham vàng phụ ngãi” gây cho tác giả  mối ác cảm ghê gớm lắm nên ông đã cho gia đình Trinh tan nát đứng vào lúc cả hai vợ chồng sắp lên máy bay đi Pháp.

“ Bao – chông Trinh đã lấy được vé máy bay để sáng mai cùng đi với vợ chồng viên Giám đốc sang Pháp. …Thế rồi nổ súng, điện tắt. Vợ chồng Trinh và vợ chồng viên Giám đốc ở trên gác chạy xuống hầm. Họ còn đứng trước thềm lúng túng trong bóng tối thì tên lính Pháp xồng xộc tới. Bao chỉ kịp thét Trinh ra hầm thì đã bị bắn gục ngay trên thềm….”

Vậy là tai hoạ đã giáng xuống, chỉ trong nháy mắt gia đình Trinh đã tan vỡ. Đúng lúc này, Trần Văn, người yêu cũ của Trinh đã xuất hiện như một định mệnh để giúp cô qua được những bất hạnh đang đổ ụp xuồng đầu…

 

 

Thấy Trần Văn ẵm giúp con mình, Trinh tưởng rằng “anh nghĩ về mối tình cũ” với cô nên mới sốt sắng vậy. Nhưng cô đã nhầm ,“đối với mối tình đầu, anh gần như đã nguội lạnh và cho đấy là một thắng lợi lớn của tình cảm…”. Đã xác định tình yêu theo kiểu “đánh trận” như vậy trách nào chàng chỉ huy tự vệ chẳng thấy “trước mặt, Trinh chỉ là một người cơ nhỡ, một nạn nhân của chiến tranh. Nhìn Trinh nhỏ bé trong bóng tối, lảo đảo vì mệt mỏi, khuỵu luôn, trật giày luôn, anh thấy ngậm ngùi thương hại”. Vậy chỉ còn thương hại thôi, tình yêu đã chết thật rồi, lòng anh chỉ còn nghĩ tới “anh em sắp gặp”, tức nghĩ tới cuộc chiến  đấu thôi. Thế rồi anh đưa Trinh và con cô tới nhà cụ Tĩnh Trai, “một tay thích chơi hoa, nhà ở giữa phố, chỉnh tề khăn xếp, cộp cộp giày ban đi ra. Mọi người đã lục tục vào hết. Cụ hỏi:

“Thế nào các đồng chí ?”

Nhật Tân nói:

“Chúng cháu vừa phá xong nhà máy đèn. Các nơi xong hết rồi…”

“Thế là mừng. Sau cái vụ Yên Ninh, cái vụ Đồng Xuân, tưởng là chết hết. May ra yên được. Tôi đang lo cho cái hoa quỳnh nhà tôi mười hai giờ đêm nay nở, không ai đến xem. Chè bánh sẵn cả. Mời các đồng chí chốc nữa vào chơi. Hoa quỳnh nở là hiếm, lại vào đúng đêm nay. Điềm lành mừng cụ Hồ. Tới cả cho vui nhé. Đúng giờ, chỉ mấy phút nó tàn thôi. Phải xem lúc nó đang nở mới đẹp…”

Người ta có thể đặt câu hỏi liệu giữa lúc đầu rơi máu chảy, bom đạn dày đặc như đêm mở đầu toàn quốc kháng chiến này, liệu có ai bầy tiệc để mời khách tới xem hoa quỳnh nở chăng?  Quả thực ông nhà văn đã quá đà trong mô tả cái “thong dong vào trận” của người Hà Nội làm người đọc khó mà tin nổi phải đặt dấu hỏi về tính xác thực của nó.

Ở nhà cụ Tĩnh Trai thật bất ngờ Trần Văn gặp lại đơn vị anh chỉ huy bị lạc sau đêm anh …đi hát cô đầu và ngủ quên. Mọi người reo lên quây Trần Văn vào giữa. “Người nào cũng có vẻ nai nịt như sắp đi đâu. Anh đứng tần ngần thấy mình như xa lạ. Xem ý thì không có anh ở nhà cũng không có gì lộn xộn lắm. Họ lại niềm nở, không lạnh lùng với anh như anh tưởng…Mộng Xuân rỉ tai anh :

“Đi đánh nhà Sauvage. Thôi, ta nói chuyện sau. Đi thôi, mười một giờ rồi. Các chị đã sửa soạn chờ liên hoan chúng ta thắng trận trở về. Lệnh phải tiêu diệt cho bằng được bọn lính Pháp ở đấy. Thu bằng được toàn bộ vũ khí…Khẩu súng và lựu đạn của anh, chú Lai giữ…”

Người ta phải thấy lạ rằng trong khi đơn vị nhận nhiệm vụ chiến đấu, viên chỉ huy bỏ cả súng đạn ở nhà để đi hát…cô đầu, lạc mất đơn vị, thế mà vẫn không sao, lúc vô tình gặp lại đơn vị anh ta vẫn chỉ huy chiến đấu như không có chuyện gì xảy ra. Vậy thì kỷ luật chiến trường ở đâu, sắp chiến đấu mà đào nhiệm chắc chắn sẽ phải ra toà án binh lĩnh án tù.

“ Trần Văn thắt dây súng lục, giắt hai quả lựu đạn của anh. Anh nghĩ sẽ không oán thán gì nếu anh được chết trong trận đánh này để chuộc lại cái hành động đáng tiếc của anh…”

Và lúc này, lẽ ra phải nắm lại  tình hình đơn vị để chỉ huy tác chiến, thật đáng ngạc nhiên, Trần Văn lại nhớ tới chuyện đâu đâu. Không phải cô người yêu cũ mà anh bỏ lại, cũng không phải cây hoa quỳnh của cụ Tĩnh Trai sắp nở mà là… “một câu thơ của Victor Huygo đến với anh. Những người đi chết cho Tổ quốc được quyền có quần chúng đến bên linh cữu mình khấn vái…”  Lại một áp đặt khiên cưỡng của ông nhà văn lên nhân vật. Cũng may, phút cuối cùng Trần Văn cũng còn nhớ tới người yêu cũ mà anh đang cưu mang, anh cũng chẳng giúp gì được ngoài một câu từ biệt :

“Tôi có nhiệm vụ phải đi ngay. Tôi sẽ nhờ ông cụ giữ nhà này để chị tạm nghỉ lại  đây đêm nay. Nếu tôi được  trở về tôi sẽ thu xếp sau…”

Chỉ thế thôi, chàng chỉ huy tự vệ bỏ lại cô người yêu cũ với đứa con nhỏ trên tay bơ vơ giữa rừng tên mũi đạn để đi … chiến đấu. Sáng hôm sau Trinh đành phải bế con cùng bà vú xách va li tìm về nhà chồng – nhà Cự Lâm. Khi về gần tới nơi, bà vú bị đạn bắn chết, “Trinh gục đầu vào cái bọc của con và lịm đi, không dám nhìn xác người vú và cũng không còn thiết gì đến xung quanh…”. Sau cùng nàng cũng ôm con lết được về tới nhà. Bố mẹ chồng đã đi tản cư, còn lại một lũ em đều là dân “lá ngọc cành vàng” từ bé chưa biết thế nào là gian khổ. Truước  hết là Lan, cô em chồng của Trinh.  Khi điện tắt, súng nổ “Lan nấp vào cái khe giữa thành bể cạn và bức tường ngăn với nhà bên cạnh. Cái khe đã có từ ngày Lan còn bé nhưng chưa bao giờ Lan vào đây và cũng chẳng để ý, cũng như chẳng  bao giờ Lan để ý tới việc buôn bán của bố mẹ, đến nhiều việc khác trong nhà. Lan chỉ có cảm giác là nó hôi và ẩm ướt lắm, nhưng Lan cứ lách vào, lách vào mãi vẫn không vào được. Ẩn đâu cũng không thấy chắc, nấp đâu cũng không thấy kín….”

Cô tiểu thư Hà Nội, lúc súng bắt đầu nổ, “một luồng chớp xanh lẹt. Có tiếng kêu: “Núp xuống”. Mặt Lan vập vào thành bể và anh kia ngã dúi vào người Lan, như người đi tàu bị giật xô ngã vào nhau. Bỗng anh ta sát lại, hai cánh tay ghì chặt lấy ngực Lan, xoay mặt Lan lại, và hôn Lan. Lan ú ớ trong bóng tối, giãy ra, bất lực, sợ hãi, đê mê trong những vuốt ve điên dại mà Lan vừa muốn chống lại vừa muốn cho kéo dài. Rồi bóng người đàn ông ấy bị đẩy đi, người ta tranh nhau tìm những chỗ núp tốt nhất, chẳng hỏi gì Lan…”

Trong lúc lộn xộn mọi người tìm chỗ trú ẩn, nếu có một  ai đó tranh thủ ôm, hôn, vuốt ve điên dại một cô gái đang bơ vơ trong cơn hoảng hốt thì kẻ đó chỉ có thể là một gã  lưu manh, tranh thủ gỡ gạc và không dễ gì buông tha cho con mồi một khi đã buông thả. Với một kẻ như vậy, cô tiểu thư con nhà giàu Cự Lâm sống trong nề nếp gia giáo dễ gì trao thân cho gã một cách quá “bản năng” như vậy? Những tình tiết tưởng như rất tiểu thuyết hoá ra lại đáng ngờ, thiếu sức thuyết phục. Em gái của Lan là Hương  – một cô gái  xinh đẹp, có vẻ như không sợ bom đạn, tìm sang hàng xóm tập hát. Anh của Lan là Phúc – người yêu của cô cán bộ Oanh. Mặc dầu là công tử con nhà giàu nứt đố đổ vách nhưng Phúc lại là một tự vệ chiến đấu hết sức anh dũng.

“Sinh và Phúc rút xuống hầm, bắn giặc bằng khẩu anhđônisoa của đơn vị. Một chiếc xe tăng đỗ bên nhà máy nước bắn tập trung vào cái ổ tác chiến sơ sài. Hai anh em không ngóc đầu lên được, ôm lấy nhau. Chốc chốc Sinh lại nhô lên bắn… Họ bắn một phát thì chúng trả lời mười. Tình thế rất nguy nhưng họ không dám rút. Uỷ ban đã ra lệnh cho mọi người hễ lùi một bước là lấy đầu… Phúc nằm rạp xuống hầm, chết lịm đi. Anh bắn. Đạn không nổ. Anh bẻ súng để lắp đạn. Súng đã bị đất cát làm cho rít lại. Sinh bỗng thấy oán đại đội bỏ mặc họ ở đây suốt từ chập tối đến nửa đêm, oán ông Chủ tịch Uỷ ban, cũng cùng ở trong một công đoàn mà sao ra cái lệnh rất hắc với anh em ? Phúc kêu: “Ở đây thì chết. Rút thôi”. Họ luồn vào trong nhà thì cũng vừa lúc có lệnh cho rút….”

Vậy là cả nhà Cự Lâm – cho dù là tư sản,  từ con trai, con gái, dâu, rể đều tham gia chiến đấu hoặc ở lại với thủ đô trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Phúc chạy về nhà gặp hai em gái là Lan và Hương, còn người yêu của anh là cô cán bộ Oanh thì bận đi chiến đấu. Một quả đạn rơi trúng nhà giết chết anh lái xe Thịnh và biến ngôi nhà thành cái địa ngục trong nỗi kinh hoàng của mọi  người. “Nghe tiếng cuốc đào huyệt ngay trong vườn, Trinh sợ chết khiếp, cứng người lại, lạnh như mình đang ở giữa một bãi tha ma… Trinh ôm lấy con nhưng tay cứ cứng đờ. Suốt mấy hôm nay, Trinh chỉ thấy những chết là chết…  Lù lù những xác chết đưa những cánh tay nghều ngào vồ lấy hai mẹ con Trinh. Trinh ngất đi…”

Trong lúc nhà ông Cự Lâm tràn ngập không khí chết chóc và hoảng loạn, từ ngoài đường đưa vào tiếng loa dõng dạc:

“A lô a lô! Thưa đồng bào yêu quý, Uỷ ban kháng chiến đã thành lập, kêu gọi toàn thể chúng ta đoàn kết, nhất trí, bình tĩnh và gan dạ, quyết tâm diệt địch, ra sức phá hoại để giữ nhà, giữ phố, chống giữ thủ đô đến cùng, xứng đáng với danh hiệu là người của đất ngàn năm lịch sử. Chúng ta hãy thực hiện đầy đủ các khẩu hiệu: mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài…” 

Những câu hô hào như vậy cứ trút vào tai dân chúng bất chấp cái Uỷ ban kháng chiến ấy ở đâu ra, do ai bầu nên, cứ nghiễm nhiên là một tổ chức lãnh đạo  toàn dân kháng chiến chẳng cần hỏi ý kiến ai. Tuy thế, bất chấp điều đó người dân vẫn xông lên dũng mãnh diệt địch. Như cụ già Lộc, bố của nữ cán bộ Oanh đã nêu một gương sáng về lòng dũng cảm tới… đáng ngờ.

Lúc đó “cả khu phố nhà Thờ sáng rực như ban ngày. Nhà Thờ Lớn sừng sững như hai cái tháp cao ngất đen xạm giữa một hào quang đỏ. Hai chiếc xe tăng lồng lộn bò qua cái vườn hoa tròn trước mặt nhà thờ. Tượng đức Mẹ rung lên như trong đám rước. Mọi người lùi lại nhưng ông Lộc đã tiến gần cái xe trước, tay ném lựu đạn miệng hô xung phong. Cái điều mà ai nấy đều lo sợ  đã xảy ra. Cái xe sau nhả đạn. Hai tay ôm ngực, chân loạng choạng, ông vẫn gượng đứng và thét to: “Đuổi bắt cái xe tăng…”

Bị đạn xe tăng bắn vào ngực không tan xác thì chớ, cụ già này còn đứng được  và ra lệnh chiến đấu được  thì thật… khó tin. Vậy mà còn hơn thế nữa “ông Lộc ngã khuỵu xuống, nhưng vẫn bò đuổi theo, tay phải giơ khẩu súng lục nhằm cái xe sau bắn luôn mấy phát…”.  Tới mức này người ta đành phải hỏi ông tác giả tiểu thuyết, liệu có cụ già nào bị xe tăng bắn vào ngực còn đủ sức bò theo nó để bắn … súng lục chăng? Vậy mà “ông vẫn cứ lết đi, để lại đằng sau một vết máu dài”. Đến khi có người tới đỡ ông đứng lên, “cái áo sơ mi phờlanen của ông đỏ lòm máu từ ngực trở xuống”, vậy mà ông vẫn còn nói được:

“Mặc tôi, chạy đi. Không phải lo cho tôi. Nếu tôi chết thì cũng đã làm tròn nhiệm vụ của tôi đối với phố của chúng ta. Anh đi đi. Để tôi nằm ở đây. Anh có gặp con Oanh nhà tôi thì nói với nó là tôi đã đánh xe tăng như tôi đã hứa với nó. Anh cầm lấy cái súng này và bảo tôi cho nó. Tôi đã cho nó lúc chiều mà nó không nhận…”

Đây không phải lời lẽ và suy nghĩ của người sắp chết, lúc đó không biết ông già nghĩ gì, có điều chắc chắn không nghĩ về chuyện “đánh xe tăng” với “súng ống” gửi lại con gái như vậy. Và lạ thay, ông còn “lảo đảo đứng dậy, thân hình cao lớn của ông trông ngang tàng với cái ngực nở  và hai vai rộng, cánh tay phải giơ lên:

“ Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ chủ tịch…

Ông ngã xuống, một tảng gỗ cháy từ nóc nhà rơi xuống đè lên ông…”

Tội nghiệp ông già, lẽ ra ông đã chết toi mạng từ lúc xe tăng bắn nát ngực ông, vậy mà ông nhà văn Nguyễn Huy Tường còn bắt ông bò lê theo xe, bắn súng lục vào xe tăng, rồi trối trăng giao súng cho con gái và lại còn hô cả khẩu hiệu “Hồ Chủ tịch…” nữa. Thật là một thứ văn chương tuyên truyền khó tin đến trắng trợn.

Trong cái bữa tiệc ngẫu hứng của 5 người Hà Nội do Tân tổ chức vào chiều hôm trước ngày toàn quốc kháng chiến có anh nhạc sĩ  Thu Phong. Trước  đây  anh này đã lưu lạc sang Tàu kéo đàn cho tiệm nhảy. Rồi khi thấy “ở nhà, Pháp khủng bố ở Bắc Ninh, rục rịch chiếm Hải Phòng”, chẳng hiểu sao anh lại “sốt ruột “ và tìm cách về nước. Chỗ này tác giả không nói rõ, Thu Phong đã được “giác ngộ cách mạng” chưa mà sốt ruột “tham gia cách mạng” quá vậy? Về nước rồi, anh chẳng bắt mối được với ông cách mạng nào, “Thu Phong ngao ngán, không biết rồi mình sẽ đi đến đâu.. Cuộc đời anh rồi sẽ thế nào ?”. Chưa được cách mạng “giác ngộ” ấy thế mà chẳng hiểu sao Thu Phong lại nhớ ngay đến lời của… Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Anh mang máng nhớ như đã có ai cho anh biết là Hồ Chủ tịch có nói: Nước ta là một nước nhược tiểu, phải đánh lâu dài…”.  Ghê chưa, với một tâm hồn nghệ sĩ như nhạc sĩ Thu Phong, chứng kiến cảnh bao gia đình tan nát, đầu rơi máu chảy khắp bốn xung quanh, chẳng thấy con tim người nghệ sĩ rung động mà lại chỉ thấy “Anh nắm cái bao súng lục và một quả lựu đạn Mỹ còn nguyên vẹn.Từ đây có lẽ không bao giờ anh còn được  đánh đàn nữa, mà chỉ còn dùng những thứ vũ khí này…”. Quả thực từ cây đàn tới lựu đạn, ở anh nhạc sĩ này là một “nhảy vọt” khiến người ta phải đặt câu hỏi: “có nhẽ đâu lại thế?”. Ông nhà văn đã ép uổng nhân vật mình chăng? Thế rồi thật ngẫu nhiên, ông nhạc sĩ gặp lại ông sinh viên luật Vũ Minh, người cùng dự bữa tiệc “cuối cùng của người Hà Nội” hôm đó. Thế là cả hai ông dắt díu nhau chạy vào “cái sân rộng của một cái nhà Tây. Chen chúc có hàng vài trăm người. Tiếng trẻ con khóc tru  tréo. Tiếng đàn bà dỗ con, gắt gỏng. Tiếng phụ nữ léo xéo gọi mẹ gọi anh. Tiếng đại bác nổ rầm, người ta ngã lỏng chỏng như một cái toa tàu bị giật mạnh…”

Lẽ ra hai ông bạn nhạc sĩ và luật sư phải giúp dân chạy loạn, ngược lại  “Thu Phong và Vũ Minh xéo bừa lên vai, lên đầu mọi người, mặc cho bà con chửi rủa. Họ trèo tường sang nhà bên cạnh.”. Những tưởng hai chiến sĩ tự vệ sẽ lập thành một ổ đề kháng chống giặc Pháp, ai ngờ “lại cái tiếng huỳnh huỵch. Đúng Tây rồi. Tóc gáy hai người dựng đứng  cả lên, mồ hôi toát ra đẫm cả sơ mi” khiến họ nghĩ tới chuyện …tự sát. Thu Phong long trọng:

“Đêm nay, đêm nổ súng đầu tiên, có hai thằng thanh niên chưa quen biết nhau bao giờ, mới gặp nhau trong một bữa tiệc mà cũng chẳng biết chủ là ai, hai thằng thanh niên ấy đã thề sống chết với thủ đô, nay nguyện cùng chết để khỏi sa vào tay giặc…”

Lạ chưa, mới nghe tiếng thằng Tây, tóc gáy chàng nhạc sĩ đã dựng cả lên mà lại dám chết để khỏi sa vào tay giặc? Và lại còn ngẫm nghĩ về ý nghĩa của cái chết “Anh không chết bên những gái truỵ lạc, mà bên một anh bạn sinh viên trong trắng. Từ giã cây đàn. Cái chết của hai anh tự vệ Hà Nội sẽ truyền mãi về muôn đời…” 

Dựng lên cái vụ tự tử của hai anh thanh niên trí thức Hà Nội có thể ông Nguyễn Huy Tưởng muốn cho cuốn truyện của mình phong phú hơn, đặc sắc hơn, nhưng sự vô lý của nó gây phản tác dụng, người đọc mất niềm tin vào sự trung thực của ngòi bút của ông, tác phẩm vì thế giảm hẳn giá trị.

Tất nhiên là Tây không tới và hai người sau đó lại nhận ra rằng: “Sao chúng mình lại chết. Cộng hai đứa mới được hơn bốn mươi tuổi hay hơn một tí chứ nhiều nhặn gì cho cam. Vô lý quá. Mà có gì đâu. Nếu Tây hay thổ phỉ thì nó phải làm ầm lên chứ, sao lại câm như hến thế này ? Vô lý…”. Và họ thôi không … tự tử nữa. Đọc tới đây người đọc phải đặt câu hỏi: đưa ra hai nhân vật nhạc sĩ và sinh viên luật, Nguyễn Huy Tưởng đã xác định tính cách của họ sao đây ? Có lúc dường như ca ngợi lòng dũng cảm; lại có lúc dường như riễu cợt sự nhát gan. Sự không rõ ràng trong tính cách như vậy khiến nhân vật mờ nhạt hẳn đi.

Người ta còn nhớ từ mãi đầu truyện có một chú bé tên Thắng cứ khăng khăng đòi mẹ cho đi theo bộ đội. Từ lúc đó, chú “oắt con” đã trở thành liên lạc, xông pha đi trước cả tiểu đội.

“Buổi chiều, Thắng đi liên lạc trở về, thấy tiểu đội nhộn nhịp một cách khác thường. Các anh đang chia nhau những quả lựu đạn tốt nhất và ngồi  nhìn nhau hát Tiến quân ca…”

Một sự khác thường nữa là sau khi anh tiểu đội trưởng cho Thắng cây súng gỗ thì kéo Thắng lại, “ôm lấy Thắng  và hôn lấy hôn để. Hôn xong anh quẳng Thắng cho anh  khác hôn và Thắng bị quẳng như thế khắp mười mấy lượt anh trong tiểu đội. Thắng chóng cả mặt mũi, cười sặc sụa giữa những tiếng cười trêu ghẹo của các anh…”

Chưa bao giờ các anh trong tiểu đội vui với Thắng như bây giờ. Rồi sau đó  “các anh đứng dậy, giơ tay hô quyết chiến rồi phân chia nhau đi bố trí.”  Hoá ra họ biết trước đã đến giờ G., giờ nổ súng vào quân Pháp. Quả nhiên “một lúc thì điện tắt  và súng nổ đùng đùng. Thắng sợ quá, đái tung toé ra cả ngoài quần, khóc gọi anh Dân…”

 

 

Người ta thật không thể hiểu nổi sao giữa nơi mũi tên hòn đạn ấy, “tác giả” không trả Thắng – đứa bé lên 8 tuổi ấy về cho mẹ nó mà cứ khăng khăng đưa nó đi theo tiểu đội chiến đấu, bắt nó xông pha giữa mũi tên hòn đạn chẳng khác gì một chiến binh già giặn: “Chợt có tiếng ríu rít trên đầu. Một viên đạn đỏ lạc vào như con đom đóm lừ lừ…”.  Lẽ ra thằng bé con phải “sợ quá, đái cả ra quần, khóc gọi anh Dân” như lúc tắt đèn vừa mới đây thôi, vậy mà không, chỉ mới qua chốc lát, thằng bé bỗng đổi khác, trở nên dũng cảm khó ngờ. “Thắng nghĩ : “Sao nó biết mình về đây mà nó bắn ? ”. Thắng kêu: “Chạy đi, các anh ơi, lộ rồi !”. Thắng nằm sấp xuống , nhưng viên đạn đã vập vào tường…”. Lạ thay, viên đạn đã cắm vập vào tường rồi không hiểu sao nó lại vẫn “xoay rít, vờn trên người Thắng… Viên đạn xì xì, Thắng chạy tới đâu viên đạn đuổi tới đó…”. Sao lại có viên đạn nào “thông minh” đến thế? Anh tự vệ giải thích:

“Đạn lửa đây mà. Nó đang đà, gặp sức cản, nó đứng lại, nhưng nó còn thuốc, nên nó quay như pháo. Có gì đâu ?”

Lạ thật, đạn gặp sức cản mà lại đứng lại rồi … quay như pháo,  chắc là đạn…ma, chỉ có trong tưởng tượng của nhà văn. Thế  rồi thằng bé con cầm súng lục gỗ, lưng đeo hai quả lựu đạn thật, khi một anh chàng định bỏ trốn khỏi tiểu đội, nó khăng khăng không cho đi. Anh chàng kia “đút lót” gói kẹo, “Thắng đứng thẳng người, ưỡn ngực, mặt vểnh lên như muốn sinh sự, cái trống bỏi cầm tay kêu tong tong: Anh vào ngay. Không tôi gọi các anh ấy đấy. Thắng khum ngón tay cái và ngón tay trỏ như cái càng cua, đưa lên miệng, huýt một tiếng còi dài, ra ý như báo hiệu…”

Thế rồi một anh vệ quốc đoàn đọc lời hiệu triệu của ông Hồ Chí Minh trong một “thứ ánh sáng tôi tối của mùa đông, trong một gian phòng đóng cửa … Họ đứng lấp kín cả bàn và bộ ghế bành. Bộ đội đều lặc lè lựu đạn, súng không nhiều, có người không có. Anh nào cũng quàng trên áo trấn thủ đường may hình quả trám những ruột tượng gạo như những con rắn trắng cuộn khúc. Họ đứng thế nghiêm, nhìn thẳng, chăm chú nghe lời kêu gọi…”.

Và rồi chẳng hiểu sao giữa tiểu đội lại xuất hiện cả bà mẹ, con gái, cụ già, thanh niên để tạo nên một thứ “quần chúng” đầy đủ thành phần nam phụ lão ấu, nín thở nghe đọc lời kêu gọi của lãnh tụ:

“Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng cương quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về ta…”

Không ai, không một ai nghĩ tới chuyện nếu phải “hy sinh tới giọt máu cuối cùng” thì cái thắng lợi giành được đó còn có ý nghĩa gì, mang lại cho ai và để làm gì? Tất cả còn đang thành kính lắng nghe anh vệ quốc đoàn cao giọng:

“Kháng chiến thắng lợi muôn năm! Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh…”.

“ Giọng anh khẽ xuống. Nhưng tên lãnh tụ âm vang lên. Mắt anh đưa đi đưa lại trên những dòng chữ cuối cùng như tìm kiếm một vật gì. Gian phòng im một cách lạ…”

Cái giỏi của nhà văn trong việc “nâng bi” lãnh tụ là sau khi nghe đọc xong lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh, đám quần chúng không sôi sùng sục máu căm thù xông lên diệt giặc, không lớn tiếng hô khẩu hiệu mà chỉ để một bà mẹ đặt câu hỏi:

“Kháng chiến thật rồi ư, thưa đồng chí ?”

Cái tài “nâng bi” của nhà văn bộc lộ ở chỗ này đây, sau khi nghe xong lời “Bác kêu gọi”, một bà mẹ bình thường bỗng thấy tin yêu bác Hồ, tin yêu cách mạng đến độ muốn đứng hẳn vào hàng ngũ cách mạng, trở thành một “đồng chí” trong đó. Phản ứng của “quần chúng” thì như vậy, còn các lực lượng vũ trang tất nhiên phải nhiệt thành hơn:

“Tiếng thét của anh tiểu đội trưởng bé nhỏ lút trong đám chiến sĩ:

“Tiêu diệt thực dân Pháp! Hồ Chủ tịch muôn năm…”

Một anh thanh niên đeo cravat đỏ “bỗng nhảy lên hô, thúc mọi người hô, quả đấm của anh giơ cao như đe mọi người; mặt đen nhuốm đỏ như say rượu, mắt điên dại. Anh reo:

“ Kháng chiến rồi. Toàn quốc kháng chiến rồi. Tôi biết. Tôi biết từ lúc nổ súng kia. Sướng quá! Hồ Chủ tịch đã ra lệnh. Hôm nay tất cả Nam Bộ sẽ ăn mừng. Nam Bộ không phải chiến đấu một mình nữa…”

Chiến tranh là chết chóc, nhà sập, gia đình ly tán, thật hiếm có dân tộc nào lại ăn mừng khi nó nổ ra. Hiếm có ai lại “sướng quá” khi súng đã nổ. Anh ta là ai vậy? Hoá ra ông nhà văn muốn cho đám quần chúng nhân dân lắng nghe lời Bác kêu gọi sao có đủ ba miền Bắc Trung Nam đã bất ngờ cho một ông người miền Nam bỗng dưng xuất hiện cứ như đứt giây trên trời rơi xuống:

“Anh thanh niên cướp lời :

“Đúng, Nam Bộ đây. Tôi ra đây có công tác, vừa mới đến Hà Nội hôm qua. Chưa được gặp Chính phủ, chưa được gặp Hồ Chủ tịch. Nhưng được nghe lời hiệu triệu này thì cũng đã đời rồi. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm… Đúng như ở Nam Bộ. Trời! Gặp kháng chiến ngay giữa thủ đô !”

Rồi ông nhà văn cho anh thanh niên bày tỏ lòng yêu nước theo phong cách “Nam Bộ”:

“Tôi sẽ sống chết ở đây cùng với đồng bào miền Bắc. Tôi đã trông thấy những khẩu hiệu ở đây rồi. Đã lắm! Cho nhập bọn được không? Không cũng được. Đơn thương độc mã cũng đánh…”

Anh lại bắt tay mọi người. Anh ôm hôn người mẹ. Anh vẫy vẫy tờ hiệu triệu. Anh lại ấp nó vào ngực, toàn thân anh rung rung. Anh khóc rưng rức, mắt đỏ hoe:

“Đi lấy đầu mấy thằng Tây nhá. Trời! Trời, sao Hà Nội nhiều súng thế này ?”

Anh đến với chiến sĩ này lại đến với chiến sĩ  nọ, rối rít, sốt sắng…”

Thật đúng là một tính cách anh Hai, yêu nước theo kiểu nóng sốt, bộc trực của người miền Nam theo cách…tưởng tượng của tác giả. Màn hướng ứng lời “hiệu triệu của bác Hồ” từ lúc này mới nổ ra rầm rộ. Tiểu đội trưởng tự vệ phát biểu:

“Bây giờ thì tôi đề nghị thế này. Như Hồ Chủ tịch kêu gọi thì toàn dân, toàn quốc đều phải đứng lên kháng chiến. Tất cả chúng ta ở đây đều có nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô đến cùng. Chúng ta phải giữ cái phố này…”

Một ông già mặc quốc phục nói với bà con:

“Các đồng chí về đây, chúng tôi rất mừng. Chúng tôi như người được sống lại. Trông thấy các đồng chí như được trông thấy Chính phủ, thấy Cụ Hồ…”

Tuy nhiên, không phải ai cũng thích được  gọi là đồng chí; Tân, anh chàng thanh niên Hà Nội tham sống sợ chết, đã mở bữa tiệc ngẫu hứng 5 người hôm trước, khi được  đồng chí cán bộ  tên Dân hỏi:

“ Xin lỗi đồng chí nhé. Thế nào đồng chí? Đồng chí sẽ kháng chiến ngay tại nhà mình. Không ngại gì cả …”

…Tân choáng váng hơn là khi nghe tiếng cây đổ ngoài đường. Tai anh trối vì hai cái tiếng mà anh vẫn chế giễu  và bây giờ người ta đem ra gọi anh. Cái tiếng ấy sẽ cột cổ anh lại. Anh nói :

“Thưa ông, có lẽ ông nhầm. Tôi, đồng chí ?”

…Dân tới trước mặt Tân, vững như một lực sĩ, khói miệng bay ra như thở khói thuốc lá:

“Tôi chỉ muốn được gọi rất nhiều người là đồng chí. Có lẽ khi mọi người đều gọi nhau như thế thì đời đã sướng lắm…”

Quả thực, cả ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lẫn nhân vật Dân đều không tưởng tượng được rằng 50 năm sau, số người gọi nhau bằng “đồng chí” ngày càng ít đi và thường chỉ trong những cuộc họp nội bộ Đảng lôi nhau ra sát phạt, người ta mới lớn tiếng gọi nhau bằng hai tiếng “đồng chí”.

Trong đám nhân vật của Nguyễn Huy Tưởng, người thích được  gọi là “đồng chí” nhất có lẽ là cô nữ sinh Quyên, người được giao theo dõi ông bác sĩ Việt kiều mới về nước. Chỉ mới nghe tin “một người về báo xe tăng đã húc đổ hàng rào sắt của dinh Chủ tịch, Quyên đã cãi lại anh ta và đuối lý, Quyên khóc. Quyên ghét cái người ấy và coi như Việt gian…”. Yêu Hồ Chủ tịch ghê gớm chưa? Ai mà báo tin Phủ Chủ tịch bị xe Pháp ủi sập hàng rào lập tức kẻ đó là… địch. Tuy nhiên, khả năng xuất sắc của cô nữ sinh Hà Nôi này lại là dò xét, theo dõi người khác. Được giao nhiệm vụ “bám sát” ông bác sĩ Việt kiều, lúc tắt điện ông ta kêu: “Thế này mà mình không biết mua sẵn một cái đèn dầu”. Chỉ thế thôi, vậy mà cô báo cáo với tổ chức là “ông ấy oán Chính phủ mình…”. Rồi khi ông bác sĩ giục: “Une lampe, une lampe, mademoiselle…”, cô ta tức lắm bởi lẽ “đánh nhau rồi mà vẫn nói tiếng Pháp, có vẻ như…muốn báo hiệu cho nó…”. Tinh thần cảnh giác của cô nữ sinh cán bộ này rõ ghê gớm chưa?

 

Thật khó hiểu vì sao Nguyễn Huy Tưởng mô tả nữ sinh Hà Nội lại cứ biến họ thành toàn những cô gái “cứng cỏi” đến “sắt đá” như cái cô Quyên chuyên theo dõi ông bác sĩ Việt kiều, như chị  Oanh, cán bộ phụ nữ thành.

Chị Oanh là vợ sắp cưới của con trai nhà buôn Cự Lâm giàu có, là con gái của một ông già cứ khăng khăng đòi “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Trong những ngày ly loạn, các gia đình nháo nhào chạy tản cư, chị ta chẳng ngó ngàng gì tới chồng cũng như gia đình chồng chưa cưới, cũng chẳng lo toan gì cho  bố đẻ mặc kệ  ông chạy khắp Hà Nội để đòi… giết giặc.

Ông bố chị ta chính là ông già Lộc, người đã đuổi theo xe tăng  “tay ném lựu đạn miệng hô xung phong. Cái xe sau nhả đạn. Hai tay ôm ngực, chân loạng choạng, ông vẫn gượng đứng và thét to: “Đuổi bắt cái xe tăng…”. Khi hấp hối, ông vẫn còn nói “Anh có gặp con Oanh nhà tôi thì nói với nó là tôi đã đánh xe tăng như tôi đã hứa với  nó. Anh cầm lấy cái súng này và bảo tôi cho nó. Tôi đã cho nó lúc chiều mà nó không nhận…”.

Khi khẩu súng của ông bố được đưa tới tận tay, lẽ ra Oanh phải rú lên mà hỏi bố chết rồi ư, vậy mà không, chị ta vẫn tỉnh bơ:

“Sao thế? Chiều hôm qua tôi đã không nhận kia mà… Anh có thể đem về cho cậu tôi được không. Tôi cũng có rồi…”

Khi người báo tin cho biết: “Cụ mất rồi. Mất trong một trận đánh xe tăng …”,  chị ta mới có phản ứng: “đôi lông mày kẻ của Oanh ríu lại. Trông ngực chị đập mạnh” – chỉ thế thôi, không thấy “la hoảng “ gì thêm. Người báo tin lại nhắc “Cụ mất rồi. Cụ xông ra đánh xe tăng và bị trúng đạn vào ngực. Trước khi mất, cụ đã hô “Việt Nam độc lập muôn năm”. Cụ nhờ tôi giao lại chị vật kỷ niệm”.  Vậy rõ ràng là bố đã chết, chị cán bộ Oanh cũng chỉ: “mím chặt môi, cái cằm hơi lẹm của chị như ngắn lại. Chị cầm lấy khẩu súng, tai văng vẳng lời của bố buổi chiều qua: cầm lấy súng Oanh. Chị ngắm khẩu súng có khắc tên Phùng Gia Lộc…”

Thế rồi chắc đau thương làm chị đánh rơi khẩu súng, người khác nhặt lên, chị cũng chỉ nói: “Cám ơn Quyên”. Mặt chị trở lại tự nhiên, Oanh hỏi Thu Phong (người đưa tin): “Thưa anh, xác cậu tôi bây giờ ở đâu ?”. Người nhạc sĩ nói dối: “Chúng tôi đã chôn cất cho cụ rồi…” − Cám ơn các anh…”. Chỉ thế thôi, không hỏi bố chết thế nào, được chôn ở đâu, đánh dấu ra làm sao mà lại hỏi: “Phố ta vẫn giữ được chứ ?” Rồi quay sang mấy cô bạn: “Ta đi, các chị đi”. “Tay Oanh nắm chặt cái nòng súng chìa ra ngoài miệng túi. Đoàn người lặng lẽ tản đi…”

Thực ra ông Nguyễn Huy Tưởng muốn tả cái sự nén đau thương để biến nó thành hành động. Tiếc rằng ông đã bắt Oanh “nén chặt” nỗi đau quá khiến chị ta trở thành người con gái vô tình, sắt đá, dửng dưng cả với cái chết của bố để “toàn tâm toàn ý” tập trung suy nghĩ và hành động vào việc đánh Pháp.

Tiêu biểu cho tinh thần toàn tâm đánh giặc phải nói tới đơn vị bảo vệ dinh cụ Hồ:

“Phần lớn họ là những đồng chí người Thổ, nhiều người đã tham gia cách mạng từ hồi bí mật, đã xa rừng núi từ ngày khởi nghĩa. Hơn một năm ở Hà Nội, họ chỉ quanh quẩn hoặc ở trong dinh hoặc ở bên phủ. Những người ít nói ít cười và không đòi hỏi. Hơn một chục đồng chí đã nằm xuống để không bao giờ trông thấy xứ sở xanh xanh nữa.” 

Những người lính gốc dân  thiểu số khi chiến đấu cũng như lúc hy sinh ắt phải khác những người lính gốc Kinh, tiếc thay ông nhà văn không diễn tả được sự khác biệt đó. Một anh thương binh người dân tộc lúc hấp hối được cấp chỉ huy hỏi han:

“Đồng chí thế nào?”. Anh thương binh nói, giọng nói của một người còn tỉnh, nhưng đã yếu: “Báo cáo anh, cũng thường thôi. Ngoài ấy thế nào ?” −“ Nó chuẩn bị tấn công. Tôi sẽ cho người đưa đồng chí về trong phố, có quân y.” Cái đầu lắc lắc một cách nhọc mệt, đôi mắt như cười: “Không nên. Làm gì còn người. Tôi ở đây. Đem về cũng vô ích. Tôi biết.” Anh ta nghĩ một lúc: “Tôi được đánh suốt từ chập tối đến giờ, chết cũng sướng.…”

Chưa nói tới lúc sắp chết làm sao “đôi mắt như cười” được, chưa nói tới khi chết người miền núi thường nhớ về quê hương, bố mẹ, vợ con chứ đâu có còn nghĩ tới … tình hình chiến sự, chỉ riêng một điều tiếng Kinh chưa sõi, sao mà lúc hấp hối, anh lính Thổ này nói được lưu loát quá vậy?

Một anh lính dân tộc khác khi bị thương “thấy mình không sống được nữa đã cố gượng bò lên đây để nhìn lại lần cuối cùng cái phòng khách mà Bác Hồ thường hay đi qua…”

Có thật là khi sắp về với tổ tiên, người lính Tày này đã thu hết sức tàn lực tận chỉ để nhìn cái nơi “bác Hồ thường qua lại” không?

Một anh lính khác lúc sắp chết “cũng nói giọng yếu  dần:

“Tôi đã đi lính cho Pháp 3 năm. Bây giờ mới biết thế nào là vui. Hồi đảo chính, tôi ở trong thành, Pháp nó chạy như chuột. Đêm ấy buồn quá. Theo nó thì không muốn, trở về thì đồng bào hỏi tội, hàng Nhật thì nhục nữa. Chẳng biết làm gì, chẳng biết đi đâu, tôi cứ ngồi nhắm cái cột đèn trước mặt mà bắn. Lúc ấy sống mà như chết. Bây giờ sướng là được  bắn thực dân, không phải bắn cột đèn.Tôi không chắc đã sống được để chiến đấu nữa. Tôi biết. Anh không phải nghĩ ngợi gì về tôi cả. Tôi không ngờ lại được nằm ở dinh Hồ Chú tịch…”

Dù có là thực hay là bịa, nhưng mô tả 3 cái chết của 3 người lính dân tộc mà giống nhau y hệt, ông nào cũng nghĩ tới bác Hồ, cũng nghĩ tới niềm vinh dự được hy sinh cho cách mạng thì đủ thấy khả năng tưởng tượng của ông nhà văn  Nguyễn Huy Tưởng nghèo nàn tới mức nào!

Thế rồi tới anh chính trị viên đơn vị là Gia Bảo, tuy là người kinh nhưng lúc sắp quyết tử cũng lại được mô tả “nhớ tới bác Hồ” y như  mấy anh chiến sĩ người Thượng:

“Gia Định cũng đưa mắt quanh cái phòng dài đổ nát, nhưng vẫn như phảng phất sự có mặt của Hồ Chủ tịch mới hôm qua còn đến đây làm việc (thực ra cụ đã lên an toàn khu từ tám đời nào  rồi – NT) … Anh nhớ những tiếng ho của ông Cụ, nhớ những ngày Tàu trắng và bọn Quốc dân đảng làm găng, ông Cụ làm việc không nghỉ, nhưng ăn cơm xong vẫn đi gặp bộ đội nói chuyện… Anh sẽ không rời khỏi nơi này. Trước khi chết anh sẽ không để cho cái dinh này lọt vào tay giặc. Những lời căn dặn của đồng chí Bí thư, đồng chí Khu phó trong buổi Hội nghị hôm qua văng vẳng đưa lại…”

Như vậy đã thành một công thức trong “nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết” của Nguyễn Huy Tưởng: mọi chiến sĩ, dù là Kinh hay Thượng, dù là dân thường hay bộ đội, trước khi chết đều nhớ tới bác Hồ và Đảng. Sự thực ra sao chắc chỉ những “người trong cuộc” mới biết, chỉ tiếc họ đã ra người thiên cổ nên chẳng ai kiểm chứng được huyền thoại về những cái chết trong nỗi niềm thương nhớ Bác Đảng mà ông nhà văn đã tô vẽ.

Một điều khá đặc biệt nữa là hầu hết những người lính của Nguyễn Huy Tưởng đều có “dính dáng” tới cụ Hồ.

Thí dụ như Bảo, người lính cuối cùng trong trận chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ phủ “là một thợ tiện tập sự của Sở máy nước đá. Ngày cách mạng, Bảo xin đi biểu tình, bố mẹ cấm vì Bảo còn nhỏ. Bảo trốn đi, theo anh em vào cướp dinh và được phát hai quả lựu đạn Nhật, một con dao găm. Một hôm có tin là cụ Hồ ở chiến khu về. Bảo hỏi một người đội viên Thổ: “Hồ Chủ tịch là gì ?”  “Anh Thổ nói: “là đứng đầu nước, giữ độc lập cho dân…”. Buổi chiều, một ông già áo kaki, dép con hổ, đi với nhiều người vào. Thấy nhiều người hô muôn năm, Bảo cũng hô. Bảo đoán đấy là Hồ Chủ tịch vì anh em đã cho xem ảnh trước…Từ đấy, Bảo yên tâm ở bộ đội…”

Vậy đó, hình ảnh của cụ Hồ chẳng những ăn sâu trong tâm hồn những người lính của Nguyễn Huy Tưởng mà còn tràn lan trong những trang viết về các trận đánh  của những người “Sống mãi với Thủ đô”.

 

 

Hầu như  tất cả các trận đánh giữa ta và Pháp ở Hà Nội đều được tác giả  Sống mãi với thủ đô” thuật lại. Nhà máy đèn, Bưu điện, Bắc bộ Phủ, Chủ tịch phủ, chợ Đồng Xuân, Nhà thờ lớn… nơi nào cũng có một tính chất chung, hết sức phổ biến là tinh thần của quân dân ta cực kỳ anh dũng, quân địch thì cực kỳ độc ác và hèn nhát. Tính đơn điệu và một chiều trong những nhân vật tự vệ thủ đô như Trần Văn, Thu Phong, Tân, Bảo, ông già Phùng Gia Lộc… những anh bộ đội người Thượng, những cô nữ sinh Hà Nội như Oanh, Quyên, những người cộng sản như Quốc Vinh, Bí thư… là ở chỗ cho dù họ mang những danh xưng khác nhau, tên tuổi khác nhau, cho dù là nghệ sĩ, trí thức, tư sản, công nhân… nhưng họ giống nhau y hệt như những hạt đậu trong hũ. Cái mẫu số chung đã được quy đồng cho mọi nhân vật đó là sự bỏ quên cá nhân, quên gia đình, quên mọi thứ trên đời để toàn tâm toàn ý tập trung vào đánh giặc và trong lòng người nào cũng có một vị thánh sống là … “bác Hồ”.

Tuy thế, trong cái bức tranh rực một mầu hồng đó, đôi khi cũng lộ hé cái bệnh “độc đoán”, “độc quyền lãnh đạo” của những người cộng sản, đủ để cho ta thấy song song với việc đánh Pháp, Đảng cộng sản đã ráo riết thâu tóm quyền hành để thiết lập chế độ độc Đảng ngay từ khi còn trứng nước như thế nào.

Nguyên ông Uỷ viên quân sự Văn Việt là người ngoài Đảng, chức quan trọng vậy nhưng không được họp nội bộ Đảng, không được biết những tin tức quan trọng, bởi vậy ông Uỷ viên quân sự này vẫn ấm ức về trò lén lén lút lút qua mặt ông của các đồng chí đảng viên. Khi nổ ra cuộc chiến đấu chống Pháp, ông Uỷ viên Văn Việt đưa lực lượng tự vệ tới đánh chiếm nhà Xôva của hãng tàu thuỷ Pháp. Khí thế hăng hái lắm. “Trong đêm tối, bộ đội và tự vệ vây lấy cái hãng, bắn súng và ném lựu đạn. Giặc không dám bắn ra. Đánh mãi, đánh mãi, đến nửa tiếng đồng hồ. Ta trèo vào trong sân, tiến tới sát cửa, đập cửa ầm ầm. Người ta xông vào trong nhà, hô chiến thắng vang lừng. Người  ở dưới nhà chạy lên gác, người trên gác chạy xuống dưới nhà, vào buồng này, sang buồng kia, gọi nhau í ới, ồn ào như vỡ chợ. Xục mãi không tìm được một tên giặc, không thu được một viên đạn….”

Sao lạ thế? Quân Pháp đâu hết cả rồi?

Thì ra họ đã rút từ tám đời, chi bộ Đảng biết điều đó nhưng lại không thông báo cho Văn Việt, vì anh ta là người ngoài Đảng. Bởi vậy khi có người hỏi: “Nó rút từ lúc nào ?” Văn Việt buông cả hai tay, cay đắng: “Mình là quần chúng, ai cho biết mà chủ động…”

Vậy đó, dù có là Uỷ viên quân sự đi nữa, nhưng không phải đảng viên thì cũng không được biết những “tin tức nội bộ”. Thực ra ông Uỷ viên muốn “đánh một trận ra trò, tiêu diệt hoàn toàn vị trí Xôva, để cho các ông đoàn thể – tức là Đảng, biết rằng dù bị thành kiến, một thằng quần chúng khi nhận nhiệm vụ, vẫn làm đâu vào đấy, vẫn cừ. Khi biết là đã đánh vào một vị trí không người, anh choáng đi, như bị sét đánh. Anh càng giận Quốc Vinh (cán bộ Đảng đã dấu không cho biết chuyện Pháp đã rút khỏi nhà Xôva). Giặc không tiêu diệt được, đoàn thể thành kiến, mất uy tín, không lập được công trong đêm đầu. Anh khóc vì tức vì xấu hổ…” . 

Thế rồi không chịu nổi đồng chí cấp uỷ Đảng chơi xỏ mình, ông Uỷ viên quân sự tìm tới tận trụ sở, xông lên phòng ông chính trị viên, “mặt tối sầm, giọng xẵng, lưỡi như rít lại:

“Sao anh không cho tôi biết trước? Anh coi tôi là người thế nào mà phải giấu tôi ? Tôi là Uỷ viên quân sự để làm vì à ?”

Đồng chí cấp uỷ “đối với quần chúng bao giờ cũng giữ được cái lễ độ và mềm mỏng cần thiết:

“Cứ bình tĩnh, anh ạ. Tôi nghĩ rằng việc thì có cái nói trước, có cái nói sau, người thì có người nói trước, có người nói sau…”

Ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng tức giận:

“Thế nghĩa là chúng tôi là những người làm thì làm trước, biết thì biết sau chứ gì ? Anh giữ bí mật thế à ?”

Không kìm nổi tức giận, ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng “giáng một cái tát vào một má hóp”  của ông cán bộ Đảng. Nếu  là người bình thường thì ông bị ăn tát này đã nhảy xổ ra trả đũa rồi, nhưng ông cán bộ Đảng vốn cáo già về chính trị, ông chỉ “cau trán, loáng một ánh sáng nơi đuôi mắt”  rồi trở lại bình thường ngay:

“Bây giờ anh đang nóng. Để một dịp khác ta sẽ nói với nhau về chuyện này. Còn chuyện gì khác nữa không, anh Văn Việt ?”

Ông cán bộ Đảng mềm mỏng nhưng mà dứt khoát, ông chỉ gọi ông Uỷ viên là “anh” thôi chứ không gọi “đồng chí”. Vậy là ông  ngầm tỏ ý sẽ không tha cho “cái tát hỗn xược” ấy đâu, nhất định sẽ có ngày ông trả mối nhục này, nhất định sẽ có dịp cho ông “nói lại chuyện này”. Lúc đó ông sẽ phân tích trong cuộc họp nội bộ Đảng rằng quần chúng mà dám giang tay tát cả Đảng thì còn gì là uy tín đoàn thể nữa, đây không  chỉ xúc phạm cá nhân mà xúc phạm cả tổ chức. Cánh cửa vào Đảng giành cho ông Uỷ viên quân sự như thế là vĩnh viễn đóng lại. Không phải đảng viên thì ông Uỷ viên quân sự cũng hết hy vọng thăng tiến theo con đường quan lộ, mai mốt leo được cái chức đại đội trưởng cũng là kịch trần rồi.

Mấy trang cuối cùng của cuốn “Sống mãi với thủ đô”, Nguyễn Huy Tưởng giành cho “chú bé Gavơrốt Việt Nam”, bé Thắng. Chú bé này mới 8 tuổi đã khăng khăng đòi mẹ theo các anh bộ đội đi đánh tây. Sau một trận đánh, lúc rút kinh nghiệm, bé Thắng cũng đòi … phê bình thủ trưởng:

“Thắng đứng dậy, hai tay buông thẳng cứng cỏi như một chiến sĩ. Thắng nhìn thẳng vào Dân – chỉ huy, vênh mặt lên:

“Báo cáo đồng chí. Đồng chí có một khuyết điểm. Sao đang chiến đấu, đồng chí lại đẩy tôi xuống hố…”

Thắng cau trán lườm mọi người, nét mặt nghiêm nghị, mắt quắc lên nhìn Dân bĩu môi. Một chị đẩy chén chè tới trước mặt chú bé. Thắng gạt đi giận dữ. Dân nói:

“Tôi thấy đồng chí bò, tôi sợ nó bắn đồng chí nên phải đẩy đồng chí xuống hố. Nhưng đồng chí phê bình thì tôi chịu…”

Quả thực khó mà tin được một chú bé đang tuổi nhi đồng mà lại hăng hái, coi thường cái chết một cách hỗn xược như vậy. Tính chất “giả” , bịa đặt theo yêu cầu tuyên truyền cứ bàng bạc trong suốt cuốn tiểu thuyết cho tới tận dòng cuối cùng của cuốn sách.

Năm 1961 “Sống mãi với thủ đô” ra mắt bạn đọc, lập tức nó được các nhà văn hàng đầu của văn học cách mạng như Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Tô Hoài … “bốc” lên mây xanh, dẫu rằng nó được viết theo cảm hứng chủ đạo là ca ngợi một chiều và vì thế  nó mang nặng giá trị tuyên truyền hơn là giá trị nghệ thuật.

Tổng kết về Nguyễn Huy Tưởng, nhà phê bình Phan Cự Đệ đã viết  trong cuốn “Nhà văn Việt Nam 1945-1975”:

“Nội dung tinh thần dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng càng ngày càng sâu sắc trên cơ sở lập trường giai cấp được củng cố vững chắc hơn. Anh đã thấy được nội dung của hạt nhân dân tộc là lực lượng đông đảo quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng…”

Sáng tác bám sát đường lối của Đảng vậy trách gì Nguyễn Huy Tưởng “Sống mãi trong lòng Hội nhà văn”, chứ chẳng phải trong lòng độc giả.

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

TRÍ KHÔN BÁC ĐỂ ĐÂU?

 

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Công Hoan

 

Dân gian có chuyện một con hổ cứ lẽo đẽo theo bác thợ cày đang làm ruộng hỏi bằng được: “Trí khôn mày để ở đâu ?”. Bác thợ cày đáp: “Trí khôn tao để ở nhà”. — “Về lấy tao coi đi” — “Không được, tao về mày ăn thịt con trâu của tao thì sao, phải để tao trói lại đã…”. Chú hổ bùi tai bằng lòng cho bác thợ cày trói lại. Trói hổ xong, bác thợ mới cầm cày phang túi bụi, vừa phang vừa la lớn: “Trí khôn của tao ở đây …”.

Vậy còn  trí khôn các bác nhà văn ta để đâu?

Xin bắt đầu từ nhà văn Nguyễn Công Hoan, người được bác Tô Hoài thổi lớn: “Truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan sừng sững tạo thành một thế Tam Đảo, Ba Vì hùng vĩ, vượt qua hai thời kỳ kháng chiến, tiến vào cách mạng tháng Tám…”.

Ái chà chà, “trái núi biết đi” này tiến vào cách mạng liệu có từ Tam Đảo, Ba Vì  biến thành Everest ?

Trả lời được câu hỏi này không gì bằng những tác phẩm của ông viết sau cách mạng.

Tiếc thay, “bệ đỡ văn hoá” lại là cái nền móng cho nhà văn xây nên ngôi nhà  của mình. Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp Sơ học yếu lược (cấp 1 bây giờ), sau đó vào trường sư phạm ra dậy tiểu học tại hầu hết các tỉnh lẻ: Hải Dương, Lào Kai, Nam Định  rồi đảo Trà Cổ ( Móng Cái) … vừa dậy học vừa hoạt động cách mạng, khó mà có thời gian, điều kiện mà nghiên cứu,  tự học. Sau năm 1946, ông cũng lên rừng như các văn nghệ sĩ khác, học tập chủ nghĩa Mác và đường lối văn nghệ Diên An là chính, về Hà Nội sau năm 54 cũng vậy, cũng miệt mài vào chủ trương chính sách của Đảng; các trào lưu tư tưởng và nghệ thuật hiện đại chỉ là vầng ánh sáng mờ mờ nơi bên kia đại dương.

Văn chương Nguyễn Công Hoan bởi thế trở nên “phú quý giật lùi” so với thời ông viết những “Bước đường cùng”, “Cô giáo Minh”, “Kép Tư Bền”, “Lá ngọc cành vàng” … và hàng trăm truyện ngắn ghi lại được phần nào bộ mặt xã hội thời đó.

Từ sau 1945 (khi đó Nguyễn Công Hoan mới 42 tuổi), “tiến vào cách mạng tháng Tám” rồi “vượt qua hai thời kỳ kháng chiến” đánh Pháp và đánh Mỹ, ngòi bút Nguyễn Công Hoan cứ cạn mực dần.

“Mở hàng” cho cách mạng, năm 1946, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết “Đồng chí Tơ”, kể một anh tù hình sự, trong nhà giam được giác ngộ trở thành người cách mạng, viết dở tới mức chỉ in 20  kỳ trên báo Sao Vàng rồi biến mất tiêu, không tái bản, cũng không ai nhắc tới. Sang năm 1947, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết  “Xổng cũi” thuộc tủ sách Vệ Quốc Đoàn, cũng không để lại dấu vết gì trên chặng đường sáng tạo. Rồi mãi tới năm 1952, Nguyễn Công Hoan mới lại cho ra lò tiểu thuyết “Bà Năm di cư”, năm 1955 tập truyện ngắn “Nông dân và địa chủ” mà chỉ nội hai cái nhan đề cũng đủ biết nó chết yểu. Năm 1963, Nguyễn Công Hoan xuất bản “Đống rác cũ” tập 1 “viết về mặt trái của quan lại phong kiến”, sách ra lập tức bị thu hồi, không phải vì “nghĩ ra ngoài những điều Đảng nghĩ”  mà chính vì dơ dáy,  “tự nhiên chủ nghĩa” quá. Sau này, 1988, cả hai cuốn “Đống rác cũ” 1 và 2 đều được xuất bản và cũng chẳng gây được tiếng vang nào vì … dở quá. Bản kê “sáng tác phẩm” của Nguyễn Công Hoan sau nửa đời đi theo cách mạng chỉ có bấy nhiêu còn lại toàn những “sổ tay văn học”, “kinh nghiệm sáng tác”, “nghĩ gì viết nấy”…

Sau năm 1975, Nguyễn Công Hoan có viết “di bút”: “Hiện nay, truyện ngắn viết dài mà truyện dài cũng viết dài. Rõ ràng cái viết dài này có dụng ý là khoe vốn sống. Kiếm được bao nhiêu vốn, khi cầm bút thì lôi tiệt ra. Hàng tràng, hàng tràng. Vốn bị vét đến tận đáy. Thứ vốn sống …sượng cũng bị lôi ra tuốt…”

Than ôi, những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan viết sau chuyến đi thăm “miền Nam hoàn toàn giải phóng” lại rất tiêu biểu cho  “thứ vốn sống…sượng” mà ông vừa cao giọng lên án.

“Trên chuyến xe lam” (truyện ngắn, 9-1975) đang bon bon về Sài Gòn có  “đại tá Đôn trong ngụy quân của tên đại Việt gian Nguyễn văn Thiệu”. Ông Đôn đang lo “đi trình diện” sẽ bị bắt, ngồi tù và sẽ phải “tẩy não” vì thế ông nhất quyết  trốn và tập hợp chiến hữu âm mưu lật đổ cách mạng.

“May thay” chiếc xe lam ghé lại bến đón khách …một anh bộ đội. Thế rồi trên đường, anh này kể chuyện “xung phong đi đánh Mỹ chứ không phải bị bắt lính” rồi anh lại  đọc cả …. tiểu thuyết Pháp nữa làm một bà mẹ trên xe nắc nỏm: “Cụ Hồ khéo dạy người thật. Tôi thấy anh bộ đội ngoài ấy cũng như quân giải phóng trong này, anh nào cũng hiền lành tử tế”.

Sự việc chỉ có nhiêu đó đập vào mắt ông đại tá làm ông “tỉnh ngộ”, thức tỉnh chính nghĩa cách mạng đến mức sáng hôm sau ông đi trình diện sớm, dứt khoát từ bỏ ý định trốn cải tạo làm phản loạn. Truyện ngắn này nếu che đi tên tác giả, người đọc sẽ tưởng là một cây bút “thông tin văn hoá phường” chứ chẳng ai ngờ người viết nó  lại là một nhà văn lớn như “Tản Viên – Ba Vì”.

Sang truyện ngắn “Nỗi day dứt của một đại tá tỉnh trưởng ngụy quyền”, vốn sống của nhà văn Nguyễn Công Hoan  lại càng …kinh dị hơn. Ông đại tá này ở lớp cải tạo “học đến bài thứ bảy, anh ta càng thấy sỉ nhục về cái tội làm tay sai cho đế quốc Mỹ xâm lược”. Nỗi xấu hổ này làm ông “mất ngủ, ít nói, ít cười… vắt tay lên trán, thở dài thườn thượt…”  Thế rồi không chịu nổi nỗi ăn năn, ông ta phải gặp cán bộ để thổ lộ “Tôi biết là bọn Mỹ-Ngụy đã đào tạo khiến chúng tôi không còn là người, nhưng cách mạng giáo dục để chúng tôi trở lại thành người. Tôi vô cùng cảm ơn cách mạng…”  Tiến lên ta quyết tiến lên làm người …cách mạng, ông đại tá lại thú nhận: “Hồi tôi làm tỉnh trưởng tỉnh XX, thì trong những ngày cách mạng đến giải phóng thị xã, tôi và anh Xiêm cũng học lớp cải huấn này …đã lấy hết công quỹ gồm 13 triệu đồng”. Nay xin “lập công chuộc tội” với cách mạng, ông đại tá đề nghị : “Lấy uy thế tỉnh trưởng, tôi chỉ chia cho Xiêm 5 triệu, tôi giữ 8 triệu. Tám triệu không nuôi sống đời tôi nhưng giữ nó, tôi bị day dứt suốt đời. Tôi cần rũ sạch vết  nhơ, vết ô nhục ấy … tôi xin phép được hiến cho chính phủ số tiền 8 triệu đồng …” Cán bộ còn đang tuyên dương tinh thần “giác ngộ cách mạng qua học tập” thì chợt nghe tiếng gõ cửa cạch cạch. Ai thế? Tưởng ai hoá ra anh Xiêm, đồng sự với ông đại tá, cũng tìm tới cán bộ để xin nộp lại 5 triệu kẻo nó thành vết nhơ ở trong lòng.

Than ôi, to như trái núi Tam Đảo – Ba Vì mà sao đẻ ra hai con chuột nhắt bé xíu thế? Riêng cái truyện “ông đại tá…”  chẳng phải vốn sống đang còn …sượng , bởi lẽ Nguyễn Công Hoan đã bao giờ đặt chân tới trại tập trung cải tạo mà biết mặt mũi, tâm trạng mấy ông “đại tá tỉnh trưởng” ra sao, chẳng qua ông tưởng tượng vậy thôi. Mà trí tưởng tượng của ông lại bắt nguồn từ một hiểu biết quá nghèo nàn.

Sau gần nửa thế kỷ “hành trình tư tưởng”, lẽ ra ông nhà văn phải khôn ra rất nhiều để thấy cái thứ văn chương tuyên truyền trắng trợn đó là một thứ giả nghệ thuật, mà với nhà văn không gì dị ứng cho bằng sự giả dối. Vậy thì trí khôn của bác ở đâu mà đến nỗi “nhận thức” về “kẻ thù” ngớ ngẩn vậy?

Ông tiến sĩ văn học Nikulin (Liên Xô cũ) ca ngợi nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Thời buổi này, phải có lòng dũng cảm không nhỏ, niềm tin lớn lao mới dám bước lên con đường của Ông” (Nguyễn Công Hoan). Ông đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng khen ngợi: “Nguyễn Công Hoan là người không viết theo chiều gió, mà viết theo lý tưởng của mình, có nghị lực, có lòng dũng cảm…”.

“ Có lòng dũng cảm” mà lại viết lách ngu ngơ  đến thế  ư ?

Thì ra trí khôn của bác nhà văn nằm ở …cái gan. Chỉ tiếc cái gan của bác hơi bị bé nên sự nghiệp văn chương theo cách mạng của bác cũng chẳng có gì là …lớn!

NGUỒN:

biên tập từ bản tác giả cung cấp

MỘT BÀI BÁO CỦA TRƯƠNG CHÍNH 1956 VỀ TIỂU THUYẾT “BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”

 

PHÊ BÌNH VĂN HC:

“BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”, TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN CÔNG HOAN

TRƯƠNG CHÍNH, Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

 

Bây giờ đọc lại Bước đường cùng (1) [(1) Nxb. Văn nghệ xb., 1956. Bước đường cùng xuất bản lần đầu tiên năm 1938 – chú thích của Trương Chính] ta mới biết tại sao cuốn này vừa ra đời đã bị bọn thực dân và phong kiến bóp chết ngay, chúng cấm lưu hành và tàng trữ trong toàn cõi Đông Dương. Trước kia, và bắt đầu từ những chuyện ngắn đầu tiên của ông, Nguyễn Công Hoan đã từng tìm đề tài trong những con người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội. Nhưng những lần đó, ông chỉ tìm những cảnh hài hước, buồn cười, những kết thúc bất ngờ, ngộ nghĩnh. Ta chưa kịp đau thương thì đã bật cười, cười rũ rượi. Tiếng cười làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tan mất lòng căm phẫn. Với Bước đường cùng ông thay đổi cách viết, thay đổi thái độ. Hơn nữa, khác với những nhà văn hiện thực đương thời, ông đã nhìn thấy người nông dân bị bóc lột quá đỗi, không chịu nhẫn nhục mãi, đã vùng dậy. Anh Pha – nhân vật chính trong câu chuyện – cùng Trương Thi và San là những người cùng chung một số phận với anh, cùng bị nghị Lại tịch ký mất ruộng vì không trả được nợ, cả ba anh đã đoàn kết chặt chẽ với nhau, không cho thợ gặt của tên địa chủ ấy xuống gặt lúa của mình. Rồi đến khi hắn đưa lính khố xanh về hộ vệ cho bọn thợ gặt cướp lúa của anh, anh đã hăng tiết lên,

“vớ được một chiếc đòn càn, xông vào nghị Lại, phang một cái thật mạnh vào đầu:

Đồ ăn cướp!

Nghị Lại ngã rúi, kêu rầm rĩ”.

 

Cố nhiên, rồi anh bị bọn lính ôm ghì lấy, đè ngửa ra và trói gô lại, khiêng đi… có lẽ là để đưa lên trình quan. Và chuyện kết thúc một cách ấm ức, nghẹn ngào:

“Pha giơ hai cánh tay bị trói lên trời, nắm chặt bàn tay run run vào ngực để tỏ nỗi căm hờn, nghiến răng rồi nhắm nghiền mắt lại, kệ cho hai dòng lệ nó tuôn ra, và kệ cho ba anh em theo mình, không biết đến đâu mới trở lại…”

 

Sức phản ứng của người nông dân trong Bước đường cùng mãnh liệt hơn sức phản ứng của người nông dân trong Tắt đèn nhiều lắm. Và, cũng tả sự thất bại của người nông dân trước lực lượng còn mạnh của địa chủ, Nguyễn Công Hoan không bi quan như Ngô Tất Tố.

Ngoài điểm mấu chốt ấy ra, Nguyễn Công Hoan còn cho các nhân vật chính diện của mình những ý nghĩ, những lời nói và những hành động tỏ ra sức phản ứng nói trên của người nông dân bắt nguồn từ một sự giác ngộ về giai cấp khá rõ rệt. Họ đã thấy “hai cánh tay mạnh mẽ” của họ là “hai cánh tay làm cho đất cát có giá trị” (tr. 203). Họ đã biết đoàn kết là sức mạnh; Pha nói: …“Người ta chỉ lợi dụng sự rời rạc của anh em mình để bắt nạt. Nhưng đến khi anh em mình biết hợp sức với nhau thì người ta cũng phải kiêng dè. Đẩy một người, có thể làm ngã được, chứ đẩy ba người chụm lại nhau thật chặt chẽ, tôi tính khó lòng nổi” (tr. 197). Anh cũng đã nhìn thấy sự bất công trong xã hội phong kiến. Anh nghĩ: “nghị Lại quanh năm không rời cái bàn đèn thì mỗi ngày thêm giàu có vì ruộng. Mà những người không ngày nào không làm việc cho ruộng, như anh chẳng hạn, thì lại không được hột thóc mà ăn…” (tr. 190). Trời lụt, đi đắp đê dưới làn roi vọt của lính, và dưới những trận mưa tầm tã, anh đã thấy rõ rằng: “ba phần tư lúa má ở nơi mênh mông này mà bọn dân đen vào cứu vớt được, là của nghị Lại. Thì ra chính bọn anh đã cứu sống nghị Lại trong khi thằng này khểnh khơi nằm hút thuốc phiện, nghĩ kế bóp hầu bóp cổ bọn anh” (tr. 179), v.v.

Có thể là Pha chưa nói được trơn tru như vậy, mạch lạc như vậy, có thể là tác giả đã gợi cho anh những điều đó, nhưng nhất định những ý nghĩ đó trước cách mạng cũng đã nằm sẵn trong tâm trí của người bần cố nông làm lụng vất vả quanh năm, để làm giàu cho địa chủ, nhưng nào có phải như thế mà đã được yên thân đâu, còn bao nhiêu phen bị tủi nhục, bị hành hạ! Ngày nay, trong phát động quần chúng, người nông dân còn hùng biện hơn anh Pha nhiều, nhưng sở dĩ tôi trích dẫn những câu trên là vì, cách đây 17-18 năm mà tác giả Bước đường cùng viết được như thế thì không thể không chú ý được.     

***

Tuy vậy, cũng chưa nên vội kết luận rằng, hồi bấy giờ, Nguyễn Công Hoan đã có một lập trường đúng. Nguyễn Công Hoan 1938 không phải là Nguyễn Công Hoan 1956. Điều đó không ai trách. Nhưng cần phải nói ra cho được trung thực, bởi vì bản Bước đường cùng vừa mới được xuất bản so với bản cũ (2) [(2) Bản cũ tôi nói đây là bản 1952 của Xuân Cầu xuất bản, ở nhà in Vĩnh Thịnh – Trương Chính chủ thích] có ít nhiều chỗ đã bị sửa chữa lại, có thể làm cho người đọc hiểu nhầm.

Theo bản cũ thì, viết Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan có một ý định rõ rệt, ý định đó thể hiện ở cách bố trí cốt truyện cũng như ở cách sáng tạo một số nhân vật phụ. Ông chủ trương rằng: thảm trạng của nông thôn Việt Nam sở dĩ kéo dài được là vì người nông dân dốt. Vì dốt, anh Pha mới bị nghị Lại xui giục kiện cáo, vì dốt anh mới không biết trong văn tự hắn viết những gì để đến nỗi 8 sào ruộng nhà bị đoạt mất mà gánh hàng xén của vợ đáng giá ba mươi đồng cũng lọt vào tay quan huyện và các hào lý, lính lệ. Nhiều lần Pha đã thở dài nói với vợ: “Tôi bị bao nhiêu tai vạ về dốt nát…”, “Tôi căm ông Nghị Lại bao nhiêu, tôi lại bực mình về cái tôi dốt bấy nhiêu” (tr. 117). Và nghe lời bác Tân, anh đã bàn với vợ học cho biết chữ quốc ngữ rồi mượn sách báo về đọc! Dư, anh ruột chị Pha, và là người về sau đã giác ngộ cho Pha rất nhiều, cũng nói: “…Tôi may được bác Tân khuyên bảo học hành, nên bây giờ mới rạng ra một tý, biết thế nào là lẽ phải, thế nào là áp bức…” Rồi y còn cho biết rõ chủ trương của y hơn:
Những làng có người đứng đắn trông nom công việc thì chỉ ba năm, bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là đủ có đường giải gạch, có trường dạy trẻ, và làm bao nhiêu việc công ích. Làng ta, dân thất học, nhà cửa ẩm thấp, đường xá lầm lội, nhất là cái ao nửa để tắm giặt rửa ráy, nửa để gánh nước ăn, thật là bẩn thỉu tai hại” (tr. 120). Những ý đó trong bản mới của Văn nghệ vẫn y nguyên.

Tôi tưởng không cần phê bình một chủ trương như thế. Đó cũng là chủ trương của Khương, Duy trong Con đường sáng. Thật ra thì Nguyễn Công Hoan cũng thừa biết vậy, nên có chỗ ông đã sửa chữa lại. Thí dụ câu trong bản cũ:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái dốt nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì dốt nát nên anh quá tin ông nghị, vì dốt nát nên anh không biết trong văn tự ông ấy đã tự do viết những gì…” (tr. 118 bản cũ)
Bản của Văn nghệ sửa chữa như sau:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái nghèo, không có ruộng, nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì nghèo túng nên anh quá tin lão nghị, vì nghèo túng nên anh không biết trong văn tự hắn đã tự do viết những gì…” (tr. 108)

Và nhiều đoạn khác nữa.

Nhà văn có quyền sửa chữa các tác phẩm cũ của mình đã xuất bản từ trước. Nghe nói Goóc-ki đã sửa chữa cuốn Người mẹ không biết bao nhiêu lần, mới đến hình trạng ngày nay. Nhưng đã sửa chữa thì phải sửa chữa cho có hệ thống. Tôi tin rằng một cuốn tiểu thuyết kết cấu cũng chặt chẽ như một bản kịch, cho nên không thể không động chạm đến kết cấu đó khi tư tưởng chỉ đạo không còn được giữ nguyên như trước. Thay thế một vài chữ không thể chuyển được hướng của cả cốt chuyện mà không để lòi ra khe hở. Chỉ nhìn một câu trích dẫn trên cũng thấy chắp vá như vậy không ổn. Anh Pha có thể vì dốt nát mà quá tin ông nghị, vì dốt nát mà không biết hắn đã viết gì trong văn tự, nhưng không thể vì nghèo đói mà lại dễ tin người, vì nghèo đói mà lại để cho người ta lừa mình! Khe hở ở chỗ đó. Rồi những lời nói của bác Tân, rồi cả vai Dư, trong bản mới, trở thành lỏng chỏng, không còn cần thiết như trong bản cũ nữa. Cái chết của chị Pha cũng thế. Trong bản cũ, chị Pha chết vì dốt, vì “tưởng chết đã có số, số ai bị các quan bắt đi thì có tiêm cũng không tránh được. Mà số không chết thì chả tiêm cũng chả việc gì.”  Cho nên, “…một hôm, chị không phải lo nữa, vì nguyên chị yếu, lại ăn bậy, ở bẩn, mà không tiêm phòng, nên thần dịch tả đem chị đi, sau một trận thượng thổ hạ tả có vài giờ đồng hồ” (tr. 199 bản cũ). Trong bản mới của Văn nghệ, chương này vẫn kết thúc y như vậy, nhưng trên đó lại có thêm đoạn: khi y tá về tiêm trừ tả, lý trưởng “giành phần cho vợ con, người nhà và họ hàng của nghị Lại, của chánh phó tổng, của chánh phó hội, của phó lý và của hắn…”  cho nên hết thuốc (tr. 182 bản mới). Việc đó thường xảy ra ở thôn quê, không lạ gì, nhưng không ăn khớp với việc chị Pha chết, vì trước lúc hết thuốc, chị Pha sợ tiêm đau, đã lẻn về trước rồi! Chỗ chắp vá còn thấy rõ chỉ khâu!

Đại để như thế. Ngoài ra, ở những đoạn tác giả không sửa chữa, tất nhiên có thể tìm ra được những nét hài hước của những tập truyện ngắn cũ, không thích hợp với đề tài, với nhân vật, làm cho người ta thấy chối. Đoạn tả anh Pha chờ vợ đẻ, đoạn tả chị Pha chửi gà, đoạn tả căn nhà anh chị Pha ở, đoạn tả anh lính lệ làm nhục chị Pha ở trước công đường, câu đưa tình lưu manh của hắn, câu khôi hài vô duyên của một đứa nào từ trong trại lính đưa ra, đều là những chỗ mà ngòi bút của tác giả vẫn tinh nghịch như trong Kép Tư Bền, Đào kép mới. Tôi lấy làm lạ, sao ông đã có sửa đổi một vài chỗ cho thích hợp, mà lại không để ý đến những chỗ này.

***

Sau cùng, tôi có một số ý kiến về những nhân vật phản diện. Sau khi đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đọc đến Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, tôi thấy hơi ngấy. Cùng một đề tài nên hai tác giả đã xây dựng những nhân vật giống nhau. Tuy ngòi bút của mỗi người có một lối riêng, nhưng các nhân vật đó có những nét chung chung, làm cho người ta không chú ý nhìn kỹ nữa. Đành rằng, địa chủ thì ác, quan thì tham, lính thì nhiễu, nhưng có cần phải tả một thằng địa chủ đểu như nghị Lại, làm văn tự giả mạo bắt anh Pha ấn dấu tay vào, một thằng quan vừa có một diện mạo kỳ khôi, vừa ăn tiền một cách trắng trợn và có những thủ đoạn thu thuế ít thấy như thằng quan huyện này, và những tên lính lệ “cướp giật” như bọn lính lệ huyện này, v.v., người ta mới ghét chế độ phong kiến, mới thấy cần phải đạp đổ toàn bộ giai cấp địa chủ. Đành rằng, trong thực tế, có những thằng như thế. Trong cuộc phát động quần chúng vừa qua, chúng là những tên đầu sỏ bị đưa ra đấu và bị nhân dân trừng phạt một cách xứng đáng. Nhưng tôi tưởng, chúng ta có thể tả những nhân vật phản diện có tính cách… người hơn, mà sức phản ứng của chúng ta không vì thế bớt mãnh liệt. Trái lại, chúng ta sẽ đau xót hơn khi thấy, trong chế độ phong kiến, con người đã trở thành chó sói, ngoài ý muốn của mình, không cưỡng lại được. Cách tập trung tất cả những tính xấu vào nhân vật phản diện có lẽ không phải là cách sáng tạo nhân vật điển hình mầu nhiệm nhất. Cách đó sẽ làm cho nhân vật trở thành kỳ dị, như bị phóng đại, thiếu tính chất hiện thực và do đó mất tác dụng của nó. Tại sao một số tiểu thuyết ngày nay về cải cách ruộng đất dễ rơi vào bệnh công thức, bệnh sơ lược chủ nghĩa? Có lẽ vì chúng ta chỉ tìm tả bọn địa chủ gian ác đầu sỏ, mà gạt ra ngoài không tả bọn địa chủ thường. Chúng ta sợ gặp phải phần… con người ở chúng chăng? Có gặp thì đã sao! Không phải vì bọn địa chủ còn có tính chất người mà chúng ta không ghét chế độ bóc lột địa tô, chiếm hữu ruộng đất nữa! Xây dựng nhân vật phản diện như vậy ấu trĩ chẳng khác gì xây dựng nhân vật chính diện bằng cách gán cho tất cả những cái gì tốt đẹp nhất trên đời! Những nhân vật đó nhất định sẽ trở thành giả tạo, không hiện thực.

 

***

Đọc Bước đường cùng, tôi có cảm tưởng như đọc một tác phẩm vừa sáng tác trong phong trào cải cách ruộng đất vừa qua. Đó là một lời khen. Giữa lúc đế quốc và phong kiến còn có thế lực mà tác giả dám nói lên nỗi phẫn uất cùng độ của người nông dân, thật là can đảm lắm. Xã hội mục nát đến nỗi một lời mỉa mai diễu cợt không còn có tác dụng nữa, phải đả kích, vạch mặt chỉ tên thực sự. Với Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã làm việc đó. Có thể nói Nguyễn Công Hoan là nhà văn đàn anh dẫn đầu trong việc đi sâu vào nông thôn, cảm thông với người nông dân để nói lên nỗi lòng của họ./. (3)

TRƯƠNG CHÍNH
Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

Chú thích:

(3) Trong năm 1958, tiểu thuyết “Bước đường cùng” lại được Nxb. Hội nhà văn tái bản, với ghi chú ngay ở trang tên sách:  In lần thứ 4, theo nguyên văn bản thảo. Bản in này hiện có lưu tại Thư viện quốc gia, Hà Nội, ký hiệu VN61.15161 (chú thích của L.N.Â., 2017)

MỘT BÀI VIẾT 1956 CỦA TRƯƠNG CHÍNH VỀ TIỂU THUYẾT “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Đây chính là tài liệu mà hồi làm cuốn NGHIÊN CỨU VĂN BẢN “GIÔNG TỐ” tôi đã tìm để đưa vào phụ lục những bài phê bình đáng lưu ý nhất xung quanh tác phẩm. Nhưng hồi ấy chưa tìm được. Bài này đăng báo “ĐỘC LẬP” của Đảng Dân chủ Việt Nam, nhưng sưu tập báo này tại Thư viện Quốc gia lại bị thiếu khá nhiều số, như số này. Tôi thấy bài này khi tìm sưu tập báo ấy tại Thư viện Khoa học xã hội ở 26 Lý Thường Kiệt (bây giờ đã chuyển lên phố Liễu Giai). Nhân thể nói thêm, báo này hồi 1956 có những bài rất … gắt, như 3 bài xã luận của chủ bút Đỗ Đức Dục, hay bài của Trương Chánh Hân yêu cầu xã hội miền Bắc phải có tự do đảng phái, v.v., mà báo Nhân Dân của ĐLĐVN phải phê phán đích danh.

Trở lại bài viết của Trương Chính về tiểu thuyết GIÔNG TỐ; nó được viết và đăng nhân tiểu thuyết “Giông tố” được tái bản (Nxb. Văn Nghệ, 1956). Hình như nhà phê bình Trương Chính đã viết về tác phẩm này ngay khi nó xuất hiện (Nxb. Văn Thanh, 1937). Nếu vậy bài trước của ông hẳn đã in trong các cuốn phê bình của ông trước kia (“Dưới mắt tôi”, 1939; “Những bông hoa dại”, 1941). Tôi chưa có dịp thấy bản in hai cuốn đó nên không rõ ra sao.

Còn bài viết này, nó lưu ý ta quan sát xem nhà phê bình từng sống qua hai chế độ, từng viết ở hai giai đoạn văn nghệ, lúc này viết phê bình ra sao? Hệ quan điểm mới đương thời – nhất là quan điểm giai cấp, thâm nhập cái nhìn tác phẩm của ông ra sao? Và, đâu là chỗ ông buộc phải nói theo thời, đâu là chỗ ông vẫn nói được ý mình?    

Xin nói thêm, tôi theo bản chụp và đánh máy hơi vội, có thể có sai sót. Bạn nào sử dụng nên đối chiếu với báo gốc.

03/9/2016

LẠI NGUYÊN ÂN

————————————–

 

 

 

ĐỌC SÁCH:

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

TRƯƠNG CHÍNH, báo “Độc Lập”, Hanoi, s.228 (13.10.1956), tr. 6-7.

 

Tôi đang đi tìm trong văn chương hiện thực phê bình của ta trước Cách mạng xem có một cuốn tiểu thuyết nào trong đó tác giả đã dồn lại được bấy nhiêu tội lỗi, bấy nhiêu cảnh xấu xa mục nát của xã hội cũ như trong “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng không. Quả không có. Thường thường thì trong một tác phẩm, người ta cũng chỉ tả một vài khía cạnh nào đó. Nguyễn Công Hoan là nhà văn hay khai thác những đề tài như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan phải dàn trải ra trong rất nhiều truyện ngắn, chứ chưa hề sáng tạo được những điển hình đậm nét như trong “Giông tố”.

Trong “Giông tố”, Vũ Trọng Phụng dẫn ta từ thôn quê “xôi thịt” đến thành thị “bơ sữa”, từ những chốn ăn chơi trụy lạc, gái đĩ, thuốc phiện, đến những cảnh xa hoa, – cũng không kém trụy lạc – trong phòng Tịnh Tâm ở ấp Tiểu Vạn Trường Thành của Nghị Hách. Không kể những nhân vật chính, riêng những con người của xã hội cũ mà Vũ Trọng Phụng đã vẽ bằng một hai nét trong “Giông tố” cũng đã nhiều vô kể. Ở thôn quê thì có đủ mặt các hào lý, gặp cơ hội nào cũng có thể tổ chức ăn uống, hút xách, đem lý sự cùn ra mà cãi vã nhau, rồi chửi bới nhau, nhưng lên đến cửa quan thì run sợ, hèn nhát. Ở thành thị thì thôi, đủ hạng người, thượng vàng hạ cám. Những tay doanh nghiệp sắc sảo, gian hùng, “coi đời như canh bạc lớn”, “làm việc thiện để quảng cáo cho mình”, có chân trong các hội ái hữu, “nhưng kỳ trung không có ai là bạn trên đời”, đã từng chủ tọa những ban giải thưởng văn chương nhưng chưa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết, những tay cổ động kịch liệt cho hội Phật giáo mà lại đi xây hàng dãy nhà săm, những anh làm chủ ba bốn tiệm khiêu vũ mà đánh con gái hộc máu về tội ăn mặc tân thời, những anh vừa là chủ hiệu xe đám ma vừa là chủ dược phòng, bán tem cho hội bài trừ bệnh lao mà lại bán cả thuốc lào mốc, v.v. tóm lại tất cả những hạng người tự xưng là “thượng lưu” những kỳ thực là giả dối, chỉ biết có đồng tiền và danh hão, dùng mọi cách đầu cơ, mọi cách bịp bợm, theo tác giả thì đó là “những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thương giới”. Ai đã từng sống ở Hà Nội lâu năm, nhất là vào khoảng 1930-1939, chắc có thể tìm thấy ở những nét sơ sài trên những con người có thật, bằng xương bằng thịt, đã làm giàu một cách trâng tráo như thế, mà cũng đã trở nên những tai to mặt lớn của xã hội đương thời.

Trong các tiệm hút ở Hàng Buồm hay trong các nhà hát ả đầu ở Khâm Thiên, tác giả lại có dịp cho ta biết một hạng người khác, hạng người trụy lạc. Không kể Vạn Tóc Mai, đứa con hoang của Nghị Hách, xỏ lá xỏ xiên, chuyên môn nói xấu bố với các nhà báo để “làm tiền” bố, có đủ mặt các “nhân viên làng bẹp, những thiếu phụ mặt bự những phấn, môi tái nhợt, tóc búi, cổ đeo kiềng, quần áo tân thời, cổ bánh bẻ”, những tên lính da trắng, da đen, một mụ đầm già. Rồi những ông giáo, những ông cử nhân, bề ngoài thì đạo mạo, nhưng đến đây thì giở đủ trò “đểu cáng”. Tác giả “Giông tố” đã dùng ngòi bút phóng sự của mình để tả lại cuộc đời bẩn thỉu, ô uế, dâm đãng của thành phố Hà Nội dưới thời Pháp thuộc.

Đã hết đâu! Ngoài những cảnh “lầm than” công khai, còn những cảnh lầm than kín đáo hơn. Một bà nhà “tử tế” ngoài bốn mươi tuổi, chuyên môn nhảy đồng bóng và nằm với anh cung văn, một cô thiếu nữ hẹn hò với trai trong khách sạn!

Còn trong chốn quan trường thì như thế nào? Một ông quan thuộc địa “cáo già” dùng những lời nói khéo léo để phỉnh dân và bóc lột dân cho dễ, một ông tuần và một ông quan huyện chuyên bênh vực những người có của. Dám nói đến các “quan Tây” trong tiểu thuyết thì trước đây, có lẽ chỉ Vũ Trọng Phụng mới có gan đó. Đọc những đoạn ông Nghị Hách gặp quan sứ, hoặc đoạn các quan Tây đến dự buổi tiệc của Nghị Hách sau cuộc phát chẩn, ta thấy cái mỉm cười mỉa mai của Vũ Trọng Phụng dưới những câu giả đò thơ ngây. Ngoài những quan cai trị đương chức, lại có những quan cai trị đã về hưu, nhưng “đã để ý đến việc doanh thương từ lâu”, và “hiện làm đại diện cho một hội lý tài lập bên Pháp, vốn liếng có hai mươi triệu phật-lăng”, và đang tìm cách giữ độc quyền nước mắm!

Giở lên trên là những con người. Dưới đây là các sự việc trong xã hội cũ: việc bỏ truyền đơn cờ đỏ cộng sản để vu cáo người khác, cách hối lộ ở chốn quan trường, các luật lệ hà khắc của “Chính phủ”: dạy trên năm người học trò không khai báo thì bị tội, việc tranh cử ở nghị trường, việc thông đồng với các cơ quan ngôn luận để làm hậu thuẫn cho các cuộc tranh cử, những bài “đít-cua” rỗng tuếch, những trò hề của những tai to mặt lớn trong xã hội… Có thể nói, không có cái gì khả ố, lố bịch dưới chế độ cũ mà Vũ Trọng Phụng không đề cập đến.

Để tỏ ra mình hiểu biết nhiều, Vũ Trọng Phụng còn đưa lên sân khấu một cô thầy bói, một ông già đóng vai thầy địa lý và thầy số đi xem đất, đặt huyệt và lấy số tử vi. Dưới ngòi bút sắc sảo của Vũ Trọng Phụng, cả xã hội cũ hiện lên, một cách bi đát, đau thương, mà cũng hết sức tồi tàn, đáng căm giận.

***

Trên là bối cảnh to lớn trong đó có gia đình Nghị Hách, vai chính trong truyện.

Nghị Hách không phải chỉ là một ông nghị gật tầm thường, không phải như nghị Quế của Ngô Tất Tố trong “Tắt đèn”, nghị Lại của Nguyễn Công Hoan trong “Bước đường cùng”. Nghị Quế, nghị Lại chỉ mới là những tên địa chủ ở thôn quê, có lẽ ngoài huyện nhỏ chúng ở, không ai biết đến. Còn Nghị Hách chẳng những là một tên địa chủ có năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh hắn, còn là một nhà đại tư bản, một nhà đại công nghiệp có một cái mỏ than ở Quảng Yên, có ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng, cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng, cách ăn chơi của hắn thì như các vị công hầu khanh tướng trong những tiểu thuyết Tàu, có mười một nàng hầu đặt dưới quyền một mụ quản gia, y như là trong nhà chứa! Không những thế, Nghị Hách lại sắp ứng cử ghế Nghị trưởng, sắp có Bắc đẩu bội tinh, nói tóm lại hắn là một nhân vật quan trọng trong xã hội ngày trước. Và nếu ai tò mò thì có thể tìm thấy tên và ảnh hắn trong cuốn “Những nhân vật ở Đông Dương” in năm 1941!

Cũng như những nhân vật có tên và ảnh trong cuốn sách nói trên, lịch sử Tạ Đình Hách cũng hết sức kỳ khôi. Xuất thân chỉ là một cai khu [sic? phu?] mỏ, thế rồi sang Lào một chuyến, không biết hắn làm ăn ra sao mà khi về thì giàu có thế ấy. Chính con vợ hắn đã kể tội ác của hắn:

− “Ừ đấy! Bà thế đấy!… Nó là cung văn thật đấy, nhưng mà bụng dạ nó tốt, nó ăn ở có nhân có nghĩa… Nó còn hơn cái mặt mày! Đồ lường đảo! Quân giết người! Đồ lường thầy phản bạn! Quân hiếp dâm!… Ừ, mày cứ ly dị bà đi, rồi bà tố cáo tội lường gạt, tội giết người của mày trước pháp luật cho mà xem! Mày về mày hỏi mười một con vợ lẽ của mày xem có phải mày đã hiếp dâm chúng không? Có phải mày đã bỏ bã rượu vào nhà bố mẹ chúng để bố mẹ chúng phải bán rẻ chúng cho mày không?” (trang 335)

Ấy thế mà chính sau khi câu chuyện ở Hải Phòng vỡ lở, làm cho Nghị Hách như có dịp ôn lại cả cái quá khứ bỉ ổi của hắn, chính sau khi đó, trong bữa tiệc thết đãi ở Tiểu Vạn Trường Thành, hắn đã đọc một bài diễn văn rất kêu, nói đến luân lý, đạo đức, bác ái, bình dân, v.v. Chưa bao giờ ngòi bút Vũ Trọng Phụng mỉa mai một cách chua chát như trong bài diễn văn đó!

Nhưng chỗ chưa đúng của Vũ Trọng Phụng là ông chỉ nhấn mạnh vào tính chất dâm đãng của Nghị Hách. Hết hiếp dâm vợ người thì hiếp dâm con gái tơ rồi đem về nuôi như nuôi một lũ gái đĩ. Đành rằng, kẻ có tiền, trong xã hội cũ, dễ sinh ra dâm đãng, nhưng tội chính của nghị Hách không phải ở chỗ đó, mà ở chỗ cướp năm trăm mẫu đồn điền, bóc lột nhân công ở mỏ than Quảng Yên, ở cách làm giàu của anh cai thợ nề trở thành một tên tư bản kếch xù và một nhân vật đặc biệt trong xã hội.

Dâm đãng chỉ là một khía cạnh và không phải là khía cạnh quan trọng nhất của con người nghị Hách. Chỉ tả mỗi khía cạnh đó thì lệch hẳn.

Cái bi kịch xảy ra trong gia đình Tạ Đình Hách có giống như cái bi kịch xảy ra trong gia đình một tên tư bản khác ở Trung Quốc: Chu Phác Viên trong “Lôi vũ” của Tào Ngu: bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của bố, anh em ruột lấy nhau. Nhắc đến Tào Ngu không phải là nói Vũ Trọng Phụng chịu ảnh hưởng của Tào Ngu. Có lẽ Vũ Trọng Phụng chưa hề đọc “Lôi vũ”. Có giống nhau, chẳng qua là vì hai người đều sống trong những xã hội mà đồng tiền làm chủ, và đã thấy, trong đó những người có tiền có thể dùng đồng tiền sắp đặt mọi việc theo ý muốn của mình, nhưng có khi lại phải chịu những hậu quả của mình không đoán trước được. Nghị Hách không bao giờ ngờ rằng thị Mịch lại là vợ chưa cưới của con hắn, mà cũng không bao giờ ngờ Long chính là con đẻ của hắn nữa. Còn Long cũng không bao giờ ngờ mình là con của Nghị Hách, và không ngờ lấy Tuyết tức là lấy em ruột mình, và thông dâm với thị Mịch khi thị Mịch đã làm lẽ Nghị Hách, là thông dâm với vợ lẽ của bố! Trong lúc đó thì “bà Nghị” lại ăn nằm với ông già Hải Vân, đẻ ra Tú Anh mà Nghị Hách tưởng lầm là con của hắn, rồi chính “bà Nghị” cũng lại ăn nằm với một thằng cung văn nữa.

Chuyện trong “Giông tố” thật hết sức rắc rối. Bố trí chừng ấy chi tiết ăn khớp với nhau cho được mạch lạc, rồi “gỡ nút” ra cho được tự nhiên, phải có cái tài của những nhà văn quen viết chuyện trinh thám. Và chính Vũ Trọng Phụng có khi cũng đã sắp đặt câu chuyện của mình y như chuyện trinh thám ông đã xây dựng ra. Ông già bí mật Hải Vân, đưa ra cái “xen” Nghị Hách và ông già Hải Vân cầm súng lục, đi xe hơi trong đêm tối xuống Hải Phòng bắt quả tang vợ Nghị Hách ngoại tình, v.v.

***

Trong “Giông tố” cũng có một số nhân vật mà tác giả có ít nhiều cảm tình. Thị Mịch, Long, Tú Anh, cụ Hải Vân và ông huyện Cúc Lâm. Qua những nhân vật ấy, ta có thể đoán biết được tư tưởng, tâm sự, lập trường giai cấp của Vũ Trọng Phụng.

Thị Mịch là một trong những nạn nhân của xã hội mục nát đó. Đáng lẽ ra thị Mịch phải là người tác giả có cảm tình nhiều nhất. Nhưng không phải như thế! Đối với nhân vật đó, ngòi bút của tác giả không đều. Đoạn đầu ông tả thị Mịch là một cô gái quê khỏe mạnh, đẹp, giản dị, chung tình, và sau khi bị Nghị Hách làm nhục, ông có tỏ một chút thương hại. Nhưng về sau, dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, thị Mịch trở thành một nhân vật rắc rối, phức tạp, dâm đãng và nhất là có những cử chỉ vô duyên, đáng ghét của một người đang ở cảnh nghèo khổ bỗng được đổi sang sống trong cảnh giàu có phong lưu. Trò đời thường có như thế thật, nhưng khi tả một xã hội đáng ghét, rồi tả nạn nhân của xã hội đó cũng đáng ghét nốt, thì người đọc sẽ hết sức hoang mang. Tôi không thể chịu được khi thấy thị Mịch – bây giờ đã là vợ lẽ của Nghị Hách – ngồi khâu vá, nhìn người qua đường qua bao lơn để “ôn lại, cố lục tìm trong trí nhớ để chạy theo một cái ảo tưởng mà luân lý ngăn cấm, để ngoại tình bằng tinh thần, làm một việc khoái lạc mà người ngoài không biết được” (tr. 249). Sự đói khát về tình dục của thị Mịch, những cảm giác đê mê mà thị Mịch tìm thấy sau khi đã “biết mùi đời” trong chiếc xe hòm của Nghị Hách, ở đây, tôi thấy lạc lõng, không hợp với nhân vật, không hợp với ý nghĩa của cuốn truyện. Những trang này, Vũ Trọng Phụng đã viết bằng một thứ mực với cuốn “Làm đĩ” của ông. Tôi có cảm tưởng những câu nói yêu nói nựng quê kịch, những cử chỉ trâng tráo, cái cười – “cười một cách ghê gớm như một người cười mà tự tử” – của thị Mịch, khi thị Mịch sắp “cho Long ái tình” ở trong nhà Nghị Hách, tác giả đã ghi lại được ở trong một xóm yên hoa rẻ tiền ngày trước! Cảm tình người đọc sẵn có từ trang đầu đối với thị Mịch đến đây thì mất hẳn.

Long cũng là một nạn nhân đáng thương khóc [sic? khác?] của xã hội cũ. Tác giả tả Long là một thiếu niên chung tình, vì chung tình mà đau khổ, rồi trở thành một kẻ chơi bời trác táng, không thiết gì đến gia đình nữa, để đến sau cùng thì tự sát cạnh một gái giang hồ. Tình cảnh của Long cũng là tình cảnh của nhiều người khác ta đã biết ngày trước. Đứng về phương diện tâm lý mà xét thì không có gì đáng nói. Nhưng suốt cuốn chuyện dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng anh này hơi ồn ào, có những điệu bộ giả tạo, có những câu nói làm ra vẻ quan trọng, hết sức buồn cười. Tôi thấy Long đóng vai trò của mình vụng về như một anh kép dở trên sân khấu ngoại ô. Đoạn Long “diễn thuyết” trong nhà thương khi thị Mịch tự tử “Thưa các bà, cô bé này là vợ sắp cưới của tôi, v.v.” (tr.59), cả chương Long về Quỳnh Thôn gặp thị Mịch (chương XIV), cả chương Long gặp Tú Anh trong tiệm hút ở Mã Mây (chương XVII) cũng như các đoạn tả Long với Tuyết ân ái với nhau trong khách sạn, đều là những trang dở nhất trong “Giông tố”.

Tú Anh cũng thế. Tú Anh cũng là một vai đóng kém, mặc dù tác giả có nhiều cảm tình với nhân vật này. Tác giả tả Tú Anh là một thanh niên tuấn tú, vị tha, bác ái, có lý tưởng, đối với Nghị Hách, Tú Anh có rất nhiều quyền lực. Đó cũng là một điều hơi lạ đối với một người bố như Nghị Hách. Chính Tú Anh đã bắt Nghị Hách lấy thị Mịch làm vợ lẽ, bắt Nghị Hách gả Tuyết cho Long, rồi về sau, giao cho Long cả thìa khóa tủ sách [sic! tủ bạc chứ?] để Long tha hồ chơi bời trác táng, v.v. Tôi nghiệm thấy, nhân vật nào Vũ Trọng Phụng có cảm tình nhiều nhất, thì nhân vật đó lại trở thành giả tạo nhất. Quen tả những cảnh thối nát trong xã hội, những nhân vật đểu giả, thô bạo, ngòi bút Vũ Trọng Phụng bất lực khi muốn tả một cái gì cao thượng, tế nhị, hay ông cho là cao thượng, tế nhị. Điều này ta còn thấy trong khi tác giả xây dựng nhân vật Hải Vân, ông già cách mạng, bôn ba hải ngoại, “nửa đời người tù tội”, “ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu”, “chín năm giời trốn tránh, gối đất nằm sương” (tr.362), về nước xét tình hình và làm tiền cho Đảng, và công việc hiện nay của ông là “hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc giá cũ hợp nhất với đảng quốc tế mới…” (tr.358). Một người như vậy, mà dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, ta không có cảm tình nhiều. Ông già này có những cử chỉ, điệu bộ của những nhân vật trong các tiểu thuyết trinh thám dở. Một mặt khác, không kể những đoạn thuyết về địa lý, số tử vi, đây là những nghề phụ mà nhà “cách mạng” này dùng để dễ lọt vào đâu cũng được và dễ tránh con mắt tò mò của bọn mật thám, ông già này, trong nhiều trường hợp khác, thực sự tỏ ra rất mê tín, dị đoan, và lại cũng không “đáng kính về nhân phẩm” lắm, như bà Nghị Hách nói. Đọc kỹ chương XXVIII thì rõ. Bắt quả tang bà Nghị nằm với thằng cung văn, ông già Hải Vân nói với Nghị Hách:

− “Bác Hách! Cứ bình tâm! Cưỡng sao nổi số Giời! Trong việc này dễ thường có Hoàng Thiên dúng tay vào, dễ thường có luật quả báo!… Bác nên nhớ lại lúc bác bỏ một chục quả đấm bằng đồng vào hòm tôi để chiếm đoạt vợ tôi!” (tr.336)

Rồi cái giọng khoan thai của ông khi kể lại với Nghị Hách chuyện mấy mươi năm về trước, nghe mới khó chịu làm sao:

− “Phải, Tú Anh là con tôi… Bác đi Lào, tôi ở nhà tù ra, tôi cũng thương yêu vợ bác y như bác thương yêu vợ tôi lúc tôi ở tù vậy! Xin bác soi xét cho cái chỗ hèn yếu của lòng người…” (tr.338)

Câu nói đó là một câu nói trả thù hơn là một câu nói của người thật tâm hối hận về một hành vi chẳng cao thượng gì hơn Nghị Hách mấy!

Cuối cùng đến ông huyện Cúc Lâm. Hình như tác giả mong mỏi rất nhiều đến cái ông huyện này lắm thì phải. Ông ta đỗ luật khoa tiến sĩ ở Ba-lê, từng diễn thuyết và biểu tình với ông văn sĩ Romain Rolland về việc chính trị phạm Đông Dương, về nước làm quan để mưu những việc ích quốc lợi dân. Vì thế ông ta đã từ chối những cám dỗ bằng sắc đẹp và tiền bạc mà Nghị Hách đưa ra lung lạc ông. Ông ta quyết tâm đứng về phe nhân dân, cự lại viên tổng đốc, để rồi đệ đơn từ chức, mở một phòng luật sư và một cơ quan ngôn luận bằng chữ Tây công kích chế độ quan trường, v.v. ! Thật sự không biết như thế nào, và việc về sau ông ta công kích chế độ quan trường có đi đến đâu không, nhưng chỉ nghe ông ta đối đáp lại viên tổng đốc thì hết sức chán:

− Bẩm cụ lớn, nhà nước không cần phải đổi tôi đi đâu xa! Dù tôi không đi làm quan thì tôi cũng không chết đói ạ. Bẩm cụ lớn, chẳng phải nói khoe gì, quan thầy của tôi trong đảng xã hội nay mai mà có sang nhận chức toàn quyền thì lúc ấy tôi lại sẽ làm quan cũng không muộn ạ. Mà nếu có phải làm quan, tôi sẽ cũng không làm quan huyện nữa… (tr.72)

Vũ Trọng Phụng mất năm 1935. [sic! 1939 chứ, chắc lỗi sắp chữ] Lúc sống chắc ông cũng đã được trông thấy những người trong Đảng xã hội Pháp sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương, và chắc ông cũng được trông thấy những người như ông huyện Cúc Lâm ra làm những chức quan to hơn chức quan huyện, nhưng có phải vì vậy mà xã hội Việt Nam thay đổi được gì căn bản! Và cái “óc bình dân” của ông huyện Cúc Lâm cũng chỉ đưa ông đến làm tay sai cho Pháp mà thôi!

Bây giờ nêu những điều đó ra, tôi chỉ cốt nêu cho thấy tư tưởng của Vũ Trọng Phụng bị hạn chế như thế nào. Ông chưa thấy rõ con đường đi đúng, mặc dầu ông rất oán ghét xã hội cũ, xã hội đồng tiền dưới ách phong kiến và thực dân. Ông có những ý định tốt, nhưng ông đặt hy vọng vào những người như Tú Anh, ông huyện Cúc Lâm, ông già Hải Vân như nhau. Cho nên ông không biết xây dựng nhân vật Hải Vân một cách hiện thực hơn, nghiêm túc hơn, để người đọc có cảm tình nhiều hơn nữa.

***

Trong văn chương hiện thực phê bình của ta ngày trước, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có một giá trị rõ rệt. Ông đã dựng nên nhiều nhân vật điển hình, từ Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, cho đến Nghị Hách, Vạn Tóc Mai. Ông đi sâu vào mặt trái của xã hội cũ và đem phơi bày ra cho mọi người thấy. Đó là một ưu điểm. Nội ưu điểm đó cũng đủ giành cho ông một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học nửa thế kỷ nay. Ta không đòi hỏi ông phải xây dựng được những nhân vật chính diện cho thật đúng lập trường. Điều đó trước cách mạng, với tính chất giai cấp của ông ông không làm được. Nhưng ta không khỏi lấy làm tiếc khi thấy ông xây dựng những nhân vật chính diện hơi vụng về. Một mặt khác, cách hành văn của ông cũng “ẩu”, không phải là cách hành văn của một nhà văn mẫu mực, “cổ điển”. Đó là tình trạng chung của một số nhà văn chúng ta ngày trước, phải viết nhanh viết nhiều, bán văn nuôi thân. Nghĩ như vậy thì đáng thương hơn đáng trách.

TRƯƠNG CHÍNH

Nguồn:

Độc lập, Hà Nội, s. 228 (13.10.1956), tr. 6-7.