Trang chủ » Posts tagged 'tiểu thuyết'

Tag Archives: tiểu thuyết

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Khải — “Con lươn tiết chất nhờn… để đi xa hơn nữa”


“CON LƯƠN TIẾT CHẤT NHỜN ĐỂ … ĐI XA HƠN NỮA”

 

1

 

 

“Cha và con và…” họ hàng và…

Hết bay mùa thóc đến “mùa lạc”

Cho nên “chiến sĩ” thiếu lương ăn

“Họ sống chiến đấu” càng khó khăn

“Tháng ba Tây Nguyên” đỏ lửa

Tháng Tư lại “Đi xa hơn nữa”

“Đường đi ra đảo” – “Đường trong mây”

Những “người trở về” mấy ai hay

“Xung đột” mỗi ngày thêm gay gắt

Muốn làm “cách mạng” nhưng lại….nhát…

( thơ Xuân Sách)

 

Trong đoàn “lực sĩ” chạy marathon trên “đường cách mệnh” để đến được cái đich xa vời là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học cách mạng: Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Nguyễn Văn Bổng,  Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Nguyễn  Minh Châu, Anh Đức, v.v., có một “đại kiện tướng” vừa bền bỉ không mệt mỏi vừa khôn ngoan luồn lách qua mọi chướng ngại vật, vừa “nhát sợ” phòng thân để về đích lĩnh ân sủng của Đảng:  Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, – đó là nhà văn Nguyễn Khải, mà nhà thơ Xuân Sách đã “khái quát” về ông qua mấy câu thơ chân dung nêu trên.

Nguyễn Khải, sinh 1930 ở Hà Nội, cha là tri huyện, mẹ là vợ bé, thủa nhỏ sống nhiều với mẹ ở quê ngoại tỉnh Hưng Yên. 17 tuổi làm y tá cho một đơn vị bộ đội địa phương. 19 tuổi làm phóng viên báo tỉnh Hưng Yên. 21 tuổi làm báo “Chiến sĩ” Quân khu 3. Sau hoà bình, 26 tuổi về công tác ở tạp chí “Văn nghệ Quân đội”. Nhiều năm là Uỷ viên chấp hành Hội nhà văn.

Cứ xem quá trình “công tác” của Nguyễn Khải đủ thấy suốt đời ông là một thư lại, lính văn phòng, đeo chữ thọ sau đít, chưa một ngày đặt chân vào chiến trường khiến ông trở nên nổi tiếng trong hai câu thơ dân gian khi ông viết bút ký “Hoà Vang” lấy tài liệu từ các bản thành tích thi đua từ trong Nam gửi ra:

“Hoà Vang nào ở đâu xa

Hoà Vang là ở ngay nhà đó em…”

Truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Khải là “Ra ngoài”, “Xây dựng” chẳng có giá trị gì. Năm 1956 viết tiểu thuyết “Người con gái quang vinh” về nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi nhưng bị chìm nghỉm ngay khi mới xuất bản. Chỉ đến tiểu thuyết “Xung đột”  – phần 1 năm 1956 và phần 2 năm 1960, danh tiếng Nguyễn Khải mới nổi lên rầm rĩ  trên bầu trời văn học cách mạng vốn còn rất thưa thớt sao. Sau “Xung đột”, Nguyễn Khải  viết chừng hơn 20 đầu sách  khác nữa, nhưng nhắc tới ông người ta vẫn chỉ nhắc tới “Xung đột” như là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp không lấy gì làm vẻ vang của ông, cho dù nhà phê bình chính thống “gạo cội”, Giáo sư Phan Cự Đệ tâng bốc hết lời:

“Từ nhiều năm nay, với tư cách là một nhà văn quân đội, Nguyễn Khải luôn luôn có mặt ở những vị trí hàng đầu của cuộc sống. Tác phẩm của anh phản ánh những mảng hiện thực mang tính thời sự nóng bỏng, đồng thời vẫn nêu lên được những vấn đề triết học, đạo đức có tầm khái quát cao. Tài năng và phong  cách Nguyễn Khải bắt đầu hình thành và khẳng định từ khi “Xung đột” tập I được giới thiệu lần đầu tiên trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1957…”

“ Xung đột” tập 1 viết về cải cách ruộng đất và sửa sai  tại một làng công giáo toàn tòng – thôn Hỗ thuộc giáo phận Bùi Chu. Xưa nay viết về đề tài cải cách ruộng đất, thông thường các nhà văn miền Bắc có hai chọn lựa:

– hoặc diễn tả nó như là một cuộc đấu tranh giai cấp với mâu thuẫn đối kháng, địch ta: một bên là nông dân, một bên là địa chủ, cường hào đại gian đại ác. Cuộc đấu tranh này là “một mất một còn”, ranh giới địch – ta rõ ràng và tuyệt đối. Viết theo lối này các nhà văn được đeo chữ thọ sau lưng, rất an toàn và được “bảo hiểm” bởi lẽ họ thả sức bôi xấu phe địch – tức địa chủ, và thoải mái ca ngợi phe ta – tức nông dân được Đảng phóng tay phát động. Tuyệt đại đa số các nhà văn cây đa cây đề đều theo lối viết này: “ Nông dân với địa chủ” của Nguyễn Công Hoan, “Con trâu” của Nguyễn Văn Bổng, “Mẹ con đồng chí Chanh” của Nguyễn Đình Thi. Mặc dù được báo chí của Đảng khen “kịp thời, kịp thời” nhưng tất cả đều vứt sọt rác chỉ vài tháng sau khi xuất bản.

– hoặc diễn tả nó như là một cuộc đấu tranh trong “nội bộ nhân dân” – tức đi sâu vào chuyện “nhất đội nhì trời”, chuyện “con tố cha, vợ tố chồng”, chuyện án oan biết oán ai ….Viết theo lối này nhất định dễ “ăn đòn” bởi tội “nói xấu cách mạng”, chê Đảng lúc nào cũng tự nhận sáng suốt mà sai be sai bét… Đi theo con đường dễ vỡ nồi cơm này có rất ít người và thường là “thân tàn ma dại” như Vũ Bão với “Sắp cưới”, Hoàng Tích Linh với “Cơm mới”, Nguyễn Khắc Dực với “Chuyến tàu xuôi”. Gần đây có cởi mở hơn, viết về cải cách ruộng đất theo kiểu “mâu thuẫn nội bộ” như “ Dòng sông mía” của của Đào Thắng còn được tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2005.

Tất nhiên khôn lõi đời như Nguyễn Khải chẳng dại gì chọn kiểu viết thứ hai – tức diễn tả  cải cách ruộng đất  như là cuộc đấu tranh “nội bộ” nhân dân – tức mâu thuẫn để đi tới  thống nhất – dễ bị quy chụp, dễ bị ăn đòn, là những thứ Nguyễn Khải cứ muốn tránh cho thật xa. Vậy thì tốt nhất chọn lối viết thứ nhất tức diễn tả mâu thuẫn đối kháng, có tao không có mày, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, và để an toàn hơn thế nữa, Nguyễn Khải không chọn chiến tuyến đối lập địa chủ với nông dân như các nhà văn cây đa cây đề mà chọn tuyến đối lập có tính đối kháng: một bên là bọn phản động đội lốt tôn giáo với bên kia là những nông dân nòng cốt cách mạng, trung kiên, một lòng theo Đảng. Bởi thế tiểu thuyết “Xung đột” tập 1 của Nguyễn Khải thực ra là chuyện đấu tranh “địch ta” kiểu như một “câu chuyện cảnh giác” được vẽ vời công phu bằng văn chương đánh lừa độc giả.

Câu chuyện trong “Xung đột” tập 1 xảy ra vào năm 1956, cuộc cải cách ruộng đất vừa hoàn thành với bao sai lầm và làng thôn bắt đầu vào sửa sai theo hướng dẫn của cấp trên. Tuy nhiên cái sai lầm cải cách ruộng đất ở đây không phải do Đảng nhắm mắt học theo kinh nghiệm Trung Quốc, quy định tỷ lệ địa chủ để cố ép tìm ra cho đủ số – viết như vậy dễ “vỡ nồi cơm”, Nguyễn Khải lái thủ phạm gây nên bao sai lầm trong cải cách  sang các … cha cố. Ông lu loa rằng khi Đội cải cách về làng, cha xứ đã ngầm gài người để cho đội “bắt rễ” và trở thành chỗ dựa cho Đội, từ đó tố oan cho những cán bộ cốt cán của Đảng để đến nỗi họ bị xử trí như Môn, xã đội trưởng, Thụy, cán bộ xã… có người còn bị xử tử như Rỹ, Bí thư Chi bộ… Bao nhiêu tội lỗi đều do…nhà thờ gây ra cả, cách mạng chỉ có… mất cảnh giác đôi chút thôi. Thực chất trong “Xung đột”  tập 1 Nguyễn Khải đã bẻ queo sự thực lịch sử, chạy tội cho Đảng trong việc bắn giết cả những đồng chí của mình, trút tội giết người đó sang… âm mưu thâm độc của Nhà thờ chứ không phải do sự ngu dốt sai lầm trong đường lối cải cách ruộng đất.

Từ trên cái “bệ đỡ an toàn” đó, Nguyễn Khải tha hồ phóng bút, trách gì nhà phê bình Phan Cự Đệ chẳng tấm tắc khen:

 “người đọc như bị hút vào những sự kiện nóng bỏng trong những năm khôi phục và cải tạo kinh tế: cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh trong nội bộ nhân dân diễn ra căng thẳng, ác liệt và vô cùng phức tạp vào khoảng cuối năm 1956 ở một số vùng đạo gốc tỉnh Nam Định, khi Đảng ta tiến hành sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất và bắt đầu cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp”.

Chơi trò lập lờ đánh lận con đen, xuý xoá tội lỗi của Đảng trong cải cách ruộng đất, trách gì “Xung đột” tập 1 chẳng được cả một hệ thống tuyên truyền của Đảng kéo lên mây xanh ngay trong thời gian  Đảng đàn áp văn nghệ sĩ khét lẹt nhất qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Trong khi những tác phẩm  phản ánh được chút ít hiện thực khách quan như những truyện ngắn và thơ trong nhóm Nhân văn Giai phẩm , tiểu thuyết “Vào đời” (1962) của Hà Minh Tuân, “ Phá vây” (1963) của Phù Thăng, kịch của Hoàng Tích Linh, Nguyễn Khắc Dự, v.v. bị đòn vọt, thì hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Khải cứ nối đuôi nhau ra đời trong sự reo mừng, tâng bốc của cả một bộ máy bồi bút trong các nhà phê bình văn học của Đảng.

 

Mở đầu “Xung đột” tập 1, Nguyễn Khải chơi trò “giật gân” miêu tả một “sự kiện động trời” ngay khi làng xã mới bước vào đợt “sửa sai” sau cải cách ruộng đất. Đó là “Đại hội công giáo tám xứ toàn miền” với đủ các gương mặt của “phe đối nghịch” tức toàn bộ các gương mặt “phản động” của nhà thờ cũng các con chiên bị dụ dỗ và mê hoặc họp thành một mặt trận, một chiến tuyến chống lại chính quyền cách mạng. Đánh vào trí tò mò của độc giả vậy, trách gì cuốn sách không hấp dẫn?

Bộ chỉ huy của lực lượng chống đối này bao gồm toàn những người khoác áo choàng thâm. Trước hết là tu sĩ Thịnh, “hoạt động phần đời nhiều hơn là phần đạo…Thầy không phải là người tu tầm thường mà là một người hoạt động chính trị xuất sắc. Năm nay thầy mới hai mươi tám mà năm hai mươi bốn đã làm tới trưởng khu Cao Mại, một tay xây dựng hai mươi bảy ban xã uỷ, lãnh tụ liên tôn diệt cộng toàn khu…”.

Rồi đến cha Vinh là người đã “mang quân từ Phát Diệm về đốt trụi xóm, lấy thóc của nhà xứ, thóc của dân đổ đầy hàng trăm chiếc thuyền đậu kín như lá tre ở cống Cả, đã quay điện con ông Thiềm bây giờ nửa sống nửa chết, đã ngủ với cô Mến có thai ba tháng, thuốc độc chết ông trùm Thuý…

Rồi thì cha Thịnh dẫu được “đi Hà Nội họp, ăn một ngày bảy tám cân, được  gặp cả Hồ Chủ tịch”,  ấy vậy mà khi trở về giáo xứ lại dấu mặt tổ chức đại hội công giáo, xui con chiên: “Bây giờ các nơi công giáo đều nổi dậy cả rồi, chúng ta phải đòi công giáo tự trị… chiến tranh tàn khốc, chế độ đổi thay, chỉ có đạo Chúa là không gì diệt nổi…”. Tóm lại các tu sĩ trong nhà thờ đều là loại núp áo choàng thâm để làm việc xấu xa, bỉ ổi, gây hoạ cho dân cả. Chẳng hiểu khi bôi bác nhà thờ như vậy, Nguyễn Khải có khi nào nghĩ một thời mình cũng từ đó mà ra không?

Trong đám tay chân đắc lực của các cha phải kể đến cô Lý, đẹp  nhất nhì trong làng, nhưng lại “làm ruộng không biết, đi buôn không vốn, hoạt động đoàn thể cũng không nốt, nào ai biết cô ả làm gì, chỉ thấy đi suốt ngày đi cả đêm. Thời  tạm chiếm Lý là tay đưa tin đắc lực của đại đội cha Báu, từ ngày cha Vinh về thì lại là tay chân thân cận của ông Vinh… đặc biệt có cảm tình với tu sĩ Thịnh…”.

Tay chân đắc lực cho các cha còn có anh Quảng, con trai phó trương xứ “mười bảy tuổi đã sung vào đội quân của cha Báu, mười tám tuổi chuyển qua đội quân com-măng-đô, ít lâu sau được cử làm người hộ thân cho viên quan năm chỉ huy quân sự miền hạ Nghĩa Hưng…”

Khi bàn đến việc đánh cán bộ, Quảng hăng hái: “Nó có dao sắc mình cũng có dùi bén. Một trăm người không đánh nổi vài đứa à? Có cần tử vì đạo tôi cũng xin dâng mình…”.

Tóm lại, phe “phản cách mạng” nhân danh Chúa đều gồm những con người ghê gớm, dạn dầy kinh nghiệm chống nhà nước cộng sản.

Bên phía cách mạng có Thụy là đội trưởng du kích, mặc dù bị truy ép tàn khốc trong cải cách ruộng đất vẫn khăng khăng: “Làm việc vì Đảng, đừng làm cho người ta khen. Những kẻ có ác ý không biết nhưng Đảng tối cao, thiêng liêng sẽ biết , sẽ dành phần thưởng sau này…”. Có Môn, xã đội phó, là một trong bốn người bị giáo Thịnh bố trí “kích” lên thành đầu sỏ Quốc dân đảng ở xã. Sau khi hai trong bốn người đó, một bị xử bắn, một tự tử, Thụy và Môn mới được tha bổng và phục chức cũ. Chính quyền xã lúc này đang “non yếu”, dân quân du kích phần lớn là giáo dân tin theo nhà thờ, xã đội trưởng thì mải đi buôn, Chủ tịch xã là chị Nhàn thì lại hay bận đi…họp huyện. Thế là sau vài ngày họp trù bị, bầu không khí thù ghét cải cách ruộng đất, thù ghét Đảng và Nhà nước trong đại hội công giáo đã dâng tới mức các giáo dân hô khẩu hiệu chống cộng :

“ Đả đảo đội cải cách ruộng đất “

“ Đả đảo”

“ Đả đảo chính sách của Đảng Lao Động…”

“ Đả đảo”…

Tới lúc đó cha Thuyết mới chính thức ra mặt chủ trì “đại hội công giáo toàn miền” đòi lôi cổ những người đã tố cha Vinh ra đại hội để hỏi tội. Nực cười thay, đứng giữa đại hội, anh nông dân tên Hạ đã không thanh minh cho cha Vinh thì chớ, ngược lại còn tố cáo cha:

“ngưỡng cửa buồng cha lẽ ra phải rất trong sạch, đàn bà bước qua phải thay ngay ngưỡng cửa ấy, tại sao có người ngày nào cũng bước qua mà ông Vinh vẫn không thay… tại sao ông Vinh lại đeo lon quan ba dẫn quân bốt Thạch đi càn quét…”

Người thứ hai được bố trí lên “minh oan” cho cha Vinh cũng “phản cung” như Hạ, thế là “màn kịch” của “phe nhà thờ” dầy công dựng lên bị đổ bể ngay từ đầu. Người ta phải đặt câu hỏi với nhà văn Nguyễn Khải tại sao “nhà thờ” vốn được  ông mô tả vô cùng gian ngoan xảo quyệt, mưu sâu đòn độc vậy, sao lại dựng lên một màn kịch vụng về vậy ? Phải chăng họ ngờ nghệch đến thế ? Không phải, đó chỉ là vì mấy ông nhà văn cách mạng đã quá quen với cái thói nhiễm sâu vào trong máu “ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, “ta là thiện, là tốt đẹp, giỏi giang” – “địch là ác, là xấu xa, ngu dốt” nên mấy ông cha cố mới bị bôi bác xấu xa và ngờ nghệch đến thế.

Sau khi thất bại trong việc bố trí người lên “minh oan” cho cha Vinh trong cải cách ruộng đất, đại hội cử ngay ra một đoàn đi bắt “hai con quỷ dữ” là Môn và Thụy – cốt cán của cách mạng –  tới đại hội để giáo dân hỏi tội. Hai ông này thân cô thế cô nên đành phải mài sắc hai con dao chờ sẵn ở nhà. Mặc dầu ở nhà Thụy có một tiểu đội bộ đội đóng quân nhưng cũng không dám can thiệp cứ đứng nhìn “người của đại hội” tới bắt Thụy và Môn. Đến khi Lý và Quảng hai người tích cực nhất xông vào đánh Thụy, tiểu đội trưởng bộ đội mới xông vào can ngăn. Chỉ chờ có thế, Quảng va chạm vào người anh bộ đội rồi “tự thọc ngón tay cào rách màng lỗ mũi, máu rỉ ra một dòng nhỏ, hai tay hắn đưa lên quẹt khắp mặt, mặt lem nhem máu” rồi lăn ra giả vờ chết. Thế là “tin dữ” bộ đội giết dân loang ra khắp làng khắp xóm:

“Chuông bắt đầu đánh chính thức loan báo “tin nổi dậy” cho toàn xứ, cho các xứ khác. Trống thôi thúc từng nhịp. Người từ các dòng xóm vì tò mò lặng lẽ kéo đến mỗi lúc mỗi đông…”

Anh bộ đội tên Nẫm bị giáo dân lôi ra đánh đập, hành hạ với những lời chửi bới: “thằng bộ đội khốn nạn đánh cả dân, ai đóng thuế nông nghiệp nuôi cho nó ăn béo, ai dệt vải cho nó mặc để nó vô ơn bạc nghĩa đi bênh mấy thằng quỷ ở xứ này. Có người đòi phải lấy đanh đóng vào tay chân nó phơi mưa…”

Cha xứ bấy lâu nay vẫn dấu mặt đến lúc này thấy cần phải chường ra để  “chăn dắt con chiên”, bởi vậy cha Thuyết thân chinh đi tới chỗ quàn “cái xác” Quảng “lật chiếu nhìn mặt Quảng. Ôi có lẽ nó đã qua đời rồi, nó không còn thở nữa. Cha mở hộp dầu thơm nức dúng tay làm dấu vào trán Quảng, vào hai lòng bàn tay, hai gan bàn chân, vừa nguyện bằng tiếng la tinh. Tiếng đọc kinh nổi lên rền rĩ: “Lạy Chúa Ki-ri-xi-tô thương xót chúng tôi, xin Chúa thương xót chúng tôi…”

Tiếng chuông đánh nhịp hai tiếng một điểm hồi dài, báo tin một linh hồn kẻ lành được lên nước thiên đàng hưởng phúc thanh nhàn đời đời. Xác Quảng được liệm bằng chăn khiêng vào trong nhà để chính gian giữa…”

Vậy là nhà thờ đã tạo ra cái cớ “bộ đội giết dân” để kêu gọi giáo dân toàn miền vùng dậy lật đổ nhà cầm quyền cộng sản. Tiếc thay, cái quả bom nổ chậm ấy, cái căn nguyên để khởi nghịch đó lại vỏn vẹn chỉ là cái chết giả vờ của một anh chàng ngờ nghệch chỉ có mỗi cái máu “chống cộng” hăng tiết vịt. Liệu các cha Thiên chúa giáo của cả một giáo xứ có ngây thơ, ngớ ngẩn như vậy chăng, hay là do nhà văn Nguyễn Khải “vu” cho họ?

Quả nhiên cái vụ Quảng giả chết để vu vạ cho bộ đội lập tức bị lật tẩy một cách dễ dàng khi chị Nhàn, Phó Chủ tịch xã đi họp huyện về yêu cầu “phải khám nghiệm tử thi làm biên bản rồi cho chôn luôn”. Vợ “người chết” sợ quá ôm chặt lấy “xác chồng” không cho động tới và ngay tối  đó  “hai mẹ con Quảng đem võng đến cáng hắn về. Khiêng qua cầu sang xóm bên kia, đường vắng lặng, Quảng thò cổ ra nhìn quanh không có ai, y nhỏm dậy nhảy ngay xuống đất rồi chạy vụt vào một cái ngõ sâu thẳm…”.

Vậy là “âm mưu” của nhà thờ vu cáo bộ đội giết dân để làm ngòi nổ cho cả phong trào “giáo dân nổi dậy” chống chính quyền bị phá vỡ một cách quá dễ dàng và… lãng xẹt. Cuộc XUNG ĐỘT giữa nhà thờ và chính quyền cộng sản tưởng là ghê gớm lắm, rút cuộc chỉ một chị Phó Chủ tịch xã ra một cái lệnh là “âm mưu của  nhà thờ” bị tiêu tan.

Tất nhiên vụ “Đại hội giáo dân” kích động dân làm loạn tuy có qua đi nhưng xung đột  giữa “nhà thờ” và “cách mạng” vẫn còn đó. Nó len lỏi vào các gia đình gây nên những “bi kịch” mà gia đình anh bộ đội Tường là một thí dụ tiêu biểu. Sau mấy năm xa nhà, nhân dịp tết  được nghỉ phép, Tường tưởng sẽ được hưởng không khí gia đình đầm ấm sau những năm tháng xa nhà, ngờ đâu vừa đặt chân về nhà anh đã va ngay phải cuộc xung đột giữa “nhà thờ” và “cách mạng”. Trước hết  là cái Khoai, đứa con gái của Tường “nó không vồ vập, không cười, đứng né sang một bên cho bố nó dắt xe đạp vào, mắt ngước lên lấm lét như nhìn người lạ luồn ngay ra đằng sau lủi chạy mất”… Con đã xa cách thế, đến bố cũng vậy: “Bố thấy con trai lần  đầu về ăn tết với gia đình từ ngày đi bộ đội cũng không vui, cũng có vẻ hậm hực …”. Tại sao vậy nhỉ ? Hoá ra vẫn là “xung đột” giữa “nhà thờ” và “cách mạng”. Bố anh trách :

“Dạo đầu năm vợ mày lên thăm, mày định giật ảnh tượng của vợ mày, bảo những cái ấy là vô tích sự phải không ?…Dù mày có là bộ đội nhưng trước hết vẫn là bầy tôi của Chúa, vẫn là con tao. Mày không được ăn nói bậy, nghe không?”

Rồi mặc cho anh con trai thanh minh, ông vẫn kể tội:

“Hôm ấy vợ mày nói với mày xin đánh tượng vàng đeo, mày bảo: Chẳng đạo gì bằng đạo ăn, để tiền mà đong thóc, với lại: có người lạc hậu mới tin đạo…Tao nghe chuyện ấy đã định viết thư lên bảo thẳng với các cấp chỉ huy của mày là không biết dạy con tao để con tao thành kẻ vô loài, rồi tao sẽ từ mày, hiểu chưa ?”

Cứ như  thế những ngày Tường về phép ở nhà là những ngày “chiến tranh ý thức hệ” – tình cảm thiên nhiên của vợ chồng, của cha con dường như đã bị vót nhọn trơ lại có mỗi “xung đột” giữa “chúa và bộ đội”. Ngày Tết họ hàng tới thăm nhau, trò chuyện cũng toàn mùi “chính trị”. Quảng, cháu của Tường vừa gặp lại chú đã lên giọng khiêu kích:

“Độ này chú tiến bộ làm đến cấp gì rồi? Gớm, các ông bộ đội chính trị bỏ mẹ…À…à… bốn túi đây mà, đại đội hay tiểu đoàn? Áo vải chắc là đại đội …chú đi bộ đội lâu thế vẫn là đại đội thôi à ?”

Rồi Quảng xoay sang chuyện chính trị thật:

“Chú đi xa không rõ. Ở nhà vừa rắc rối lắm. Bộ đội đánh dân nhưng uỷ ban lật lọng thế nào lại hoá ra nhân dân đánh bộ đội…Mấy thằng phản Chúa hại dân lại ra làm việc rồi. …Chú xem, chúng nó ra nhận việc hôm trước hôm sau hạ lệnh bắt người ngay, không hiểu đem đi buộc đá bỏ biển hay tù đày mãi đâu chẳng thấy tin về. Cứ như tình hình này có lẽ chính phủ muốn tiêu diệt công giáo chắc…”

Thế rồi khi hết phép, vào lúc chia tay, Tường thưa chuyện cùng bố mẹ lại cũng là chuyện…chính trị:

“Cách mạng nổi lên hai anh em con mới ra khỏi nhà mụ Bao, từ bấy đến nay con ăn cơm bộ đội, mặc áo bộ đội, được bộ đội dậy dỗ thì sống chết với bộ đội. Còn bố mẹ sợ luỵ vì con, không muốn nhận con nữa thì cứ việc làm giấy lên uỷ ban mà từ. Con xin chịu…”

Cứ như vậy, ông con trai bộ đội về phép chẳng bàn bạc gì được chuyện làm ăn kinh tế sao cho bố mẹ, vợ con  ăn sung mặc sướng lại sa đà vào toàn chuyện “chúa” với “cách mạng”. Sự thực quan hệ gia đình, họ hàng khi đứa con phương xa trở về trong những ngày tết thiêng liêng của dân tộc có đến nỗi rặt một mầu chính trị như thế không. Hay là từ cái nhan đề “xung đột” của tiểu thuyết và bài học nằm lòng của chủ nghĩa Mác đã ăn sâu vào tác giả: “tiến hoá là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập” khiến ông nhà văn nhìn vào đâu cũng chỉ thấy có xung đột chính trị.

Ngay cả trong gia đình Nhàn, Phó Chủ tịch xã, chỉ có hai mẹ con mà xem ra trò chuyện hàng ngày giống như “hai phe” đối lập nhau. Hồi cải cách, cha Vinh bị mang ra đấu. Bà mẹ của Nhàn bênh cha:

“Đấu cha là đấu Chúa đấy… Mày phải biết đỗ được đến chức cụ là trải qua trăm nghìn khó khăn thử thách đấy. Nếu người không có nhân đức thì ngay khi chịu phép cắt tóc không hộc máu cũng phát ung nhọt, bệnh tật rồi..”

Cô con gái thì cãi lại:

“Mẹ còn nhớ nhân dân bên Thạch Bi xứ cũ của ông ấy, cơm nắm cơm gói đến chầu chực ở đây hàng tuần chỉ xin được lột da ông ấy căng mặt trống không? Chính phủ không xử bắn là may chứ còn tiếng tốt gì ?”

Bà mẹ lại kể lể:

“Nếu mày không nghe lời tao, tao không dậy được mày thì cả nhà này sẽ mắc vạ tuyệt thông, bị khai trừ ra khỏi hội thánh. Nếu thế thì mẹ chết mất… Con ơi, mẹ run sợ lắm. Mẹ già rồi, ngày linh hồn lìa khỏi phần xác cũng chẳng bao xa… lúc đó hai con khiêng được mẹ ra đồng hay sao, hay là buộc rợ vào chân mẹ cho trâu kéo hở con…con nghĩ lại cho mẹ nhờ …”

Ngày này qua ngày khác, bất kể ngày hay đêm, cứ hai mẹ con ngồi với nhau là y như rằng nổ ra “xung đột” như thế. Ông nhà văn liệu có nói quá đi không?

Trong gia đình, họ hàng nhà Thụy – đội trưởng  du kích,  “xung đột” và chia thành hai phe “cách mạng” và “phản cách mạng” còn dữ dội hơn. Chú ruột của Thụy là cha Thuyết, bố đẻ của Thụy là ông trùm Nhạc. Ngày nọ cha cho gọi các cháu trong nhà gồm có Thụy, Toán và Quyên tới để cha cho tiền làm nhà. Trước khi đưa tiền, cha lại nói chuyện “chính trị”:

“Nói đến cải cách tao lại nhớ hồi ấy du kích chúng nó làm bùi nhùi cụ Ngô rồi đâm chém hò hét. Thật trò hề. Cụ Ngô là người rất sùng đạo. Cụ là em đức Cha Ngô Đình Thục đấy. Nghe nói sáng nào cụ cũng đánh ô tô đến nhà thờ xem lễ rồi mới về làm việc. Trong Nam người ta yêu quý cụ lắm…”

Nghe ông chú tuyên truyền “phản động”, dẫu ông là cha đạo đi chăng nữa, Thụy cũng chặn họng ngay:

“ Thưa cha…cha cho gọi chúng con lên để nói chuyện trong nhà hay chuyện chính trị ?”

Cứ như thế, chú cháu bốp chát nhau, sau cùng cha Thuyết  chỉ cho tiền Toán và Quyên, còn  Thụy nhất định không nhận. Bởi thế ông Nhạc, bố của Thụy chì chiết con:

“Khí khái rởm. Tiền đưa tận tay mà không thèm cầm. Bốn năm chục vạn chứ có ít đâu, mày thử xem đến bao giờ mới dành dụm được chục vạn mà dựng nhà? Mày cứ bảo cha không tốt, không tốt thì cũng là cha linh hồn, cũng là em tao, chú mày. Mày đừng đâm bị thóc chọc bị gạo để anh em tao lủng củng với nhau. Không tin người ruột thịt thì tin ai ? Mày không thèm lấy tiền của cha thì tao sẽ xin cha, ăn mày cha chẳng ai cười …”

Thế là quan hệ cha con của  Thụy – đội trưởng du kích  cũng căng thẳng chẳng thua gì quan hệ mẹ con của cô Nhàn – Phó Chủ tịch xã. Liệu có phải “vẽ” ra xung đột trong những người ruột thịt với nhau là sở trường của nhà văn Nguyễn Khải không?

 

 

Trong một số không nhiều các nhà văn miền Bắc viết về Thiên Chúa giáo như Nguyễn Thế Phương với tiểu thuyết “Nắng” (1972), Chu Văn với tiểu thuyết  “Bão biển” (1969) …có thể nói Nguyễn Khải là nhà văn bám sát nhất quan điểm Mác Lênin “tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”. Chẳng hiểu ông có xác tín điều đó không hay là chỉ vờ vịt làm vui lòng các lãnh tụ văn hoá văn nghệ của Đảng; song trên các trang viết của ông nhan nhản những tình tiết, những nhân vật được ông mô tả chỉ nhằm bỡn cợt Chúa.

Đám rước kiệu “tượng Đức Giê-su vác câu rút” trong ngày lễ Phục sinh được mô tả với giọng dè bỉu: “Thỉnh thoảng xé lên lanh lảnh một vài tiếng kèn đồng te té te té…chói tai, lạc lõng, chìm nghỉm ngay trong cái hỗn độn của tiếng trống, tiếng  trắc gỗ, tiếng đọc kinh ngắm đàng thánh giá, tiếng gọi nhau í ới…”.

Trung thành với quan điểm “Thiên chúa giáo là tay sai quân xâm lược, là bọn bán nước”, “nhà thờ đồng nghĩa với phản động” – Nguyễn Khải nhìn đám người tổ chức đám rước toàn là quân phản động. Đánh nhịp cho đội trống là Quảng và Liêu. Quảng là “con trai phó trương xứ, mười bảy tuổi đã sung vào đội quân của cha Báu, mười tám tuổi chuyển qua đội quân com-măng-đô, ít lâu sau được  cử làm người hộ thân cho viên quan năm chỉ huy quân sự miền hạ Nghĩa Hưng ”, mới đây lại giả chết để vu vạ cho bộ đội giết dân.  Còn Liêu bị “tình nghi ở trong đảng phái phản động, truy bức vợ chồng hắn về võ khí trong nhà xứ. Từ ngày ấy hắn quan niệm về phần đời, phần đạo hoàn toàn khác. Thày Thịnh mời hắn ra đứng trong ban thành lập hội trống nhà xứ”.  Khi hộ trống đã được thành lập với ba mươi cái trống và bốn mươi bạn hữu, Liêu lộ mặt phản động “Lý tưởng của người ta không phải là xã hội chủ nghĩa mà chính là hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng…”

Sau đội trống thì đến nghĩa binh nam và nữ. Ông nhà văn mượn một con bé con để diễn tả sự thờ ơ của con chiên đối với “nỗi đau của Chúa”. Nó “còn bé lắm, chừng như mới chịu lễ lần đầu, hai  đầu mào trắng chấm xuống gần khoeo chân…”. Nó mếu máo đọc kinh: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc… bà có phúc lạ hơn người nữ… và Giê-su con bà…”, nhưng mắt nó lại nhìn“một con chuồn chuồn mình đỏ đậu rún rẩy trên bụi rơi gai ở vệ sông. Ôi con chuồn chuồn đẹp quá, đậu ngờ nghệch quá…”.

Trong khi đầu óc con bé gái chẳng nghĩ gì tới Chúa thì ngay cả bà quản giáo  trong đám rước cũng vậy. “bà không đọc kinh, bà còn mải trông hơn sáu mươi em nữ nghĩa binh, học trò của bà, nếu rời mắt là chúng nó lại xô đẩy nhau, cấu véo nhau…”  và bà quản giáo được mô tả đầy ác cảm “trên khuôn mặt bà không có lấy một nét nào hiền dịu, tha thứ, cởi mở của người mẹ; nó ảm đạm như người có nỗi buồn sâu kín; nó khắc khổ vì bà là người tu hành; khi bà đánh trẻ con thì rõ là người khó tính khắc nghiệt …”

Sau đó các con chiên lần lượt vào nhà thờ nghe đọc đoạn đóng đanh tưởng nhớ đến những sự thương khó Chúa Giê-su đã chịu trên cây thánh giá. Ông nhà văn lại tiếp tục bôi bác nhà thờ khi cha xứ khó kiếm ra được một người đọc đoạn kinh đó. “Ông Đông phó trương xứ chữ quốc ngữ không biết, chữ nho cũng không nốt nên sự  hiểu biết đạo lý kinh sách chẳng hơn gì người bổn đạo. Còn ông trùm Hoà, trùm đạo thôn Hỗ lại càng…dốt hơn.” . Có thực là trong các ông trùm đạo lại nhiều người mù chữ đến như thế chăng?

Và rồi với giọng riễu cợt, ông nhà văn tả nỗi đau của một bà già thương xót chúa Giê-su:

“Bà Nhàn ngồi vào một góc, cái mào đen rủ xuống hai bên má che gần hết khuôn mặt ảm đạm của bà. Bà cố bày ra trong trí khôn như xem thấy chúa Giê-su  bị quân dữ đóng đanh trên cây thánh giá thật. Những cái đanh sắt mà đóng xiên qua bàn tay Chúa mình như thế thì đau đớn biết chừng nào, chỉ vì tội mình và tội tổ tông truyền. Ôi, cái mão gai, có những bảy mươi hai cái gai lọt vào óc Chúa tôi, buốt nhức biết bao nhiêu, máu chảy đầy mặt ròng ròng. Bà cứ tự vật vã với mình, trách móc mình sao đã vội vã quên đi sự thương khó mà Chúa đã phải chịu…”

Thật là một đoạn văn tiêu biểu minh chứng cho quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện” của Mác. Đó, cái thứ “thuốc phiện” đó đã làm một bà già trở thành mê mụ, mù quáng đến dở hơi như thế đó!

“Chúa lấy hai cây gỗ cứng thay giường nằm, lấy mão gai nhọn thay gối còn bà thì giường cao, chiếu sạch, chăn đắp, màn che, bà còn phàn nàn gì nữa, kêu xin gì nữa. Bà không bao giờ ao ước được sướng hơn mà chỉ muốn mình sẽ khổ đi, chịu đựng thêm vì con đường lên thiên đàng là con đường hẹp…”

Riêng đoạn văn “tôn giáo là thuốc phiện” trên đây cũng đáng để cho Ban tôn giáo Chính phủ tặng  bằng khen cho nhà văn Nguyễn Khải.

Lực lượng bên phía “nhà thờ” đông đảo như vậy nhưng thật ra chẳng là cái gì với chính quyền cách mạng mà tiêu biểu nhất là Môn – Chủ tịch xã.  Khi dựng mối quan hệ đối lập giữa “nhà thờ” và “nhà nước”, Nguyễn Khải huỵch toẹt: “Một trong những địch thủ nguy hiểm nhất của nhà xứ là Môn, xã đội trưởng ngày trước và nay là chủ tịch xã …”

Trong cải cách, do “âm mưu của nhà thờ”, Môn đang là xã đội trưởng bị kích lên “thành phần phản động” suýt nữa thì bị bắn như Rỹ. Lúc sửa sai, Môn được phục chức và trở thành một đảng viên trung kiên của Đảng, lập trường còn vững hơn cả cấp trên. Anh ta thường xuyên theo dõi các các hoạt động trong nhà thơ và bắt ne bắt nẹt từng ly từng tý. “Một hôm trên toà giảng, cha Vinh cao hứng nên có giảng chệch ra ngoài kinh sách E-van đôi chút: Vinh đây dẫu đầu rơi máu chảy cũng không chịu lui đâu. Nó có vả ta má bên hữu ta còn giơ má bên tả cho nó vả nữa kia. Ai chịu bắt bớ vì sự công chính thì có phúc thật vì nước trên lời là của kẻ ấy…”

Cha chỉ giảng “ngoài”  kinh sách có thế thôi, vậy mà lập tức có kẻ mật báo, ngay sau buổi giảng, “Môn nhân danh chính quyền mời cha Vinh đến trụ sở nói chuyện”. Khi cha tới, “cha đưa tay ra nhưng không ai bắt nên lại rụt tay về”, Môn trấn áp ngay:

“Linh mục làm phản động, chính phủ bắt giữ để tự hối cải lại còn nói không lùi bước. Ý chừng linh mục muốn chống đối với chúng tôi mãi chăng? Muốn làm phản động lần nữa hay sao? Nếu vậy chúng tôi sẽ có cách…”

Tất nhiên cha sợ vã mồ hôi, lần sau cạch đến già có giảng kinh thì cũng phải “uốn lưỡi bảy lần” mới dám nói. Nguyễn Khải muốn đề cao “uy thế của cách mạng” nhưng lại vô tình tố cáo việc đàn áp tôn giáo của Nhà nước. Trắng trợn hơn nữa, Ban chánh trương  cùng các trùm họ mở một buổi tiệc mổ trâu để bầu Quý là địa chủ vào Ban chánh trương xứ. Tất nhiên Môn được mật báo và tuy không được mời cũng lừng lững đi vào bữa tiệc như chỗ không người rồi lên giọng chủ tịch xã: “Muốn đạo gì thì đạo, đã là công dân thì phải theo đúng pháp luật của Nhà nước. Nếu ai làm trái thì dù bố mẹ đẻ ra cũng không bênh được …”

Thật đúng là giọng một con sói nhảy vào giữa bầy cừu. Uy thế cách mạng thì có cao thật nhưng cái lá chắn “tự do tôn giáo” giả hiệu lại bị phơi bầy khi ông Chủ tịch xã can thiệp cả vào việc bầu bán của nhà thờ: “Tôi lấy một ví dụ: đã là địa chủ thì nhất thiết phải tước hết quyền công dân, không được tham gia bất cứ một tổ chức nào cả. Thấy ban chánh trương cũ bất lực cần bầu lại thì cứ bầu, giáo dân chúng tôi hoan nghênh mà uỷ ban cũng hoan nghênh, nhưng bầu địa chủ là sai, địa chủ lãnh đạo nông dân là chuyện ngược đời, là trái chính sách , trái cả lẽ đạo…”

Ghê gớm chưa? “Xung đột” giữa Nhà thờ và nhà nước tưởng  nổ ra dữ dội trong cuộc đấu tranh “một mất một còn” mà rút cuộc nắm chính quyền trong tay thì một anh nông dân hạng bét như Môn cũng có thể quát tháo, đe nẹt được tất cả giới chức phẩm của cả một xứ đạo.

Và chỉ vài ngày sau khi chánh trương xứ Quý đi Hà Nội về, “Môn cho hai du kích đến áp giải Quý lại trụ sở, bắt ngồi xuống đất. Môn hỏi:

“Quý ! Mày hãy nhắc lại tám điều quy định cho địa chủ sau cải cách ruộng đất để uỷ ban nghe !”

Lâu lắm ông chánh trương xứ mới lại bị nghe một người khác nói đến tên mình một cách láo xược vậy. Nhưng người đó lại là …đại diện chính quyền. Bởi vậy “Môn bảo sao hắn cũng vâng dạ ngoan ngoãn lắm như người bị mê muội từ lâu nay mới có dịp thức tỉnh”.

Môn kết luận :

“Mày đi Hà Nội không xin phép ai, đáng lý phải trị thẳng tay làm gương cho đứa khác nhưng Uỷ ban tha thứ lần đầu. Còn mày làm những gì thì trong này đã có hồ sơ cả. Đời mày do mày định đoạt lấy. Muốn ăn cơm nóng, ở nhà với mẹ với vợ cũng được mà muốn ăn cơm mắm, ngồi xà lim cũng được …”

Ngày nay đọc lại đoạn văn này vẫn thấy “sởn gai ốc” về cung cách đối xử của Nhà nước đối với một đại diện của con chiên trong một xứ.

Chủ tịch xã Môn là một người có “đạo gốc” nhưng được cách mạng giác ngộ nên đã trở thành “con sói dữ”, “một trong những địch thủ nguy hiểm nhất của nhà xứ, “không thích làm những việc vụn vặt, tầm thường, bao giờ cũng đảm đương những nhiệm vụ khó nhất, phức tạp nhất người khác không làm nổi”, là một người “ốm cũng không dám nằm thật, bị cảm đã mấy hôm vẫn ra trụ sở, hay ngồi nhà nhưng vẫn giải quyết công việc …vui lòng hy sinh đời mình cho công tác” .

Nguyễn Khải chọn một người thay mặt chính quyền “bảo hoàng hơn cả nhà vua, mác-xít hơn cả những người cộng sản”  như vậy thì tất nhiên cán cân phải lệch hẳn về phía cách mạng trong cuộc đấu tranh “quyết liệt” “ai thắng ai” diễn ra trên mọi mặt của đời sống miền Bắc. Thực ra “ai thắng” thì đã quá rõ rồi, và thực ra đó không phải là cuộc “đấu tranh một mất một còn” như nhà nước vẫn tuyên truyền mà chính là một cuộc trấn áp tất cả những gì có thể gây nguy hại tới việc cầm quyền của Đảng. Bởi thế người ta thấy mối quan tâm duy nhất của ông Chủ tịch xã Môn chẳng phải nhằm tới phát triển sản xuất nâng cao mức  sống cho dân mà chỉ nhăm nhăm để ý coi nhà thờ có những biểu hiện gì xâm phạm tới “đường lối của Đảng và Chính phủ”. Từ việc nhỏ như xứ đạo mổ trâu để ăn mừng Ban chánh trương mới ra mắt cũng phải xin phép tới việc thành lập hội kèn để phục vụ lễ rước cũng trở thành chuyện “trọng đại” Uỷ ban cần phải xét bên trong có âm mưu chống phá gì không? Khi “duyệt” cho nhà xứ thành lập đội kèn, ông Chủ tịch Môn còn đặt điều kiện:

“Người trong hội kèn chỉ biết có thổi kèn thôi, ngoài ra không được  làm những việc gì khác, nói rõ ra là không được làm chính trị. Nếu có thế nào thì ban chánh trương phải chịu trách nhiệm. Còn nếu bằng lòng đặt dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban thì cụ thể phải nằm trong khối văn xã…”

Cán bộ nhà nước thì được Nguyễn Khải ca ngợi một tấc lên trời, nào tinh thần làm việc tận tụy, nào ý thức cảnh giác rất cao, nào lập trường cách mạng rất vững, ngược lại với các cha đạo thì bị nhà văn bôi bác hết chỗ nói. Hình như các cha nếu không “hám gái” thì cũng “hám tiền”.

Ở xứ đạo có một bà goá mới ngoài 40, “nhưng còn tươi tắn khoẻ mạnh lắm, khi ông bõ ở nhà xứ chết thì ban chánh trương cắt cử bà vào thay”.  Bà goá này “ngày hai bữa cơm dâng cha và các chú ăn, giặt giũ quần áo, chăn lợn, làm vườn, dần dần cai quản cả thóc lúa và việc chi tiêu trong nhà xứ. Đêm bà cũng không về nhà cứ ngủ trong cái buồng kho”.  Có người đàn bà phây phây bên cạnh, làm sao mà cha không nổi lòng trần tục. “Khi thì bà lên buồng cha Vinh bưng cơm rót nước, khi cha Vinh xuống buồng bà hỏi han công việc. Có một buổi trưa cha đang ngủ bà sai cháu lên buồng cha gọi: Cha ơi cha, bà con bảo cha cởi áo cho bà con vá…”

Ngoài chuyện “gái gủng” ra, các cha còn tìm mọi cách moi tiền của giáo dân … Ông Bính, một con chiên ngoan đạo nhận xét:

“Các cha xứ từ trước đã ăn mười phần thì nay nên thương con chiên mà ăn năm thôi. Các cha tải của về quê có nhiều chứ ăn là mấy. Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng, các cha không có vợ thì cho bố mẹ, anh em, bà con…”

Còn cha Thuyết thì thu tiền của giáo dân theo giá “cắt” cổ:

“Ông kể lại một hôm ngồi hầu cơm cha Thuyết, được nửa bữa có người đến hỏi: “Lễ sáng nay làm cho linh hồn vừa mới qua đời hết bao nhiêu ?” Cha vừa ăn vừa trả lời: “Hai vạn”. Người kia móc tiền để vào đĩa, bốn tờ giấy năm nghìn còn mới. Bữa cơm chưa xong đã có tốp đến mười bà dòng vào cũng để tiền vào đĩa dâng lên. Cha ngưng đũa hỏi: “Tiền gì?” − “Trình cha tiền tứ kỳ”  [*]− “Mấy vạn” − “Trình cha ba vạn mốt…”. Cha lại cuộn tiền cho vào túi. Cha ăn chưa hết bát cơm mà được món bổng những hơn năm vạn, mình vai vác cầy, tay dong trâu, làm hang đá, dựng đèn đại khó nhọc hàng tháng chẳng được xu nào…”

[* tiền tứ kỳ: tiền dùng để cầu nguyện cho linh hồn các người đã qua đời]

 

Thật là một sự bôi bác trắng trợn và “vơ đũa cả nắm” các cha đạo của ông nhà văn. Đã “ấn định” là viết tiểu thuyết với chủ đề “xung đột” nên chẳng riêng gì các cán bộ cốt cán của chính quyền xã như Môn, Nhàn, Thụy… mà ngay chính bản thân nhà văn Nguyễn Khải nhìn đâu cũng thấy “xung đột”, nhìn cái gì cũng thấy “địch phá hoại”.

Năm ấy thôn Hỗ được mùa, “no ăn cho nên thanh niên đua nhau chơi diều sáo….Thanh niên chơi, cán bộ chơi, cả cụ già cũng thả diều…Ông trùm Hoà nói chuyện với Môn, với Nhàn, với các cán bộ của xã: Đấy, nhờ sự lãnh đạo của Uỷ ban, năm nay thôn nhà vui vẻ quá, đàn sáo suốt đêm…”

Chơi diều ở nông thôn là chuyện bình thường, nhưng tác giả cũng có gài cho nó một ẩn ý “chính trị” :

“Thôn xóm đương sầm uất vì việc đạo, vui vẻ phần đời thì vợ Liêu ngồi bán hàng ở chợ Hỗ rỗi mồm kháo chuyện: bây giờ ở dưới đất các ông cán bộ tranh hết phần nói nên dân lại phải làm mồm ở trên giời…”

Thế là lập tức nhiều người phụ hoạ: “Đấy, nghe kỹ mà xem, cái sáo nó cứ kêu: cha ơi…cha ơi…cha ơi….”. Thế rồi một số người xì xào to nhỏ với nhau: “Bây giờ họa cộng sản dâng lên như nước thuỷ triều, không thể đối địch với chúng được, càng cựa càng bị giây pháp luật thít chặt , đành phải nhờ tiếng sáo nó kêu khắp bốn phương may ra có thấu đến Chúa, đến đức Mẹ, đến các cha ở miền Nam không?”

Vậy là giống như đội cải cách trong những đợt “phóng tay phát động quần chúng” vùng lên phát hiện địch và diệt địch, ông nhà văn cũng nghe thấy tiếng nói của bọn “phản động” qua tiếng sáo diều của dân quê.

Sau vụ “sáo diều” rồi  đến vụ làm “nhà nguyện”.

“Cũng nhân dịp năm nay làm ăn xởi lởi nên một vài xóm rục rịch dựng nhà nguyện để sớm tối giáo hữu đến đọc kinh, đỡ phải lên mãi nhà thờ xứ…”. Thông thường, chuyện dựng nhà nguyện chẳng có gì ghê gớm, nhưng ông nhà văn cũng lồng vào đó “âm mưu phá hoại của nhà thờ”.  Thế là nhân dịp ông Chủ tịch xã Môn đi vắng nửa tháng, ông trùm Hoà xin phép bà Phó Chủ tịch Nhàn dựng nhà nguyện. Bà này lý luận:

“Đứng về phía chính quyền mà xét thì việc dựng thêm nhà thờ họ lẻ rất phù hợp với chính sách bảo vệ tín ngưỡng của chính phủ, đứng về mặt đạo thì lại càng nên khuyến khích hơn, nước Chúa có được mở rộng thì mới có thêm nhiều linh hồn được cứu chuộc…”

Thế là bà Phó Chủ tịch Uỷ ban cho phép luôn. “Uỷ ban đồng ý buổi sáng thì buổi chiều họ xóm trại khởi công xây dựng nhà thờ ngay….Văn phòng của ông chánh đốc công xây nhà thờ họ chật ních người đến làm việc phúc đức. Giá thóc chợ Hỗ xuống hẳn vì xóm trại đem thóc đi bán nhiều quá…:”.

Như vậy chứng tỏ việc xây nhà nguyện rất được dân đồng tình và tự nguyện đóng góp. Nhưng rủi cho mấy ông trùm đạo, khi nhà nguyện cất xong, sắp sửa làm lễ khánh thành thì ông Môn, Chủ tịch xã đi công tác về.

Và thế là lại nổ ra một cuộc “xung đột” và được  ông nhà văn mô tả rầm rộ theo tinh thần “một mất một còn”.

Ông Chủ tịch xã Môn đi họp về thì ngôi nhà nguyện đã xây xong rồi không ngăn cản được nữa, nhưng ông gây chuyện bằng cách không cho tổ chức ăn mừng khánh thành và bắt mấy ông trùm đạo mang hết sổ sách lên để ông… kiểm tra.

Rõ ra là ông muốn làm cha thiên hạ, cai quản luôn cả việc đời lẫn “sự đạo”. Trong cuộc họp Uỷ ban, ông thẳng thừng phê bình bà Phó Chủ tịch Nhàn “hữu khuynh” đã cho phép dân xây nhà nguyện:

“Tôi thử hỏi các đồng chí chỉ riêng có một xóm trại xin làm nhà thờ hay là cả miền này, cả tỉnh này đang rục rịch yêu cầu thế? Có phải chỉ sau khi ông Lân nhân danh đức Cha đi kinh lý các xứ mới sinh ra cái chuyện này không? Tại sao các xóm phàn nàn là hồi  này gọi đi họp rất khó. Bây giờ chưa khó lắm đâu, nay mai mà để mỗi xóm lẻ mọc lên một cái nhà thờ hoặc một cái nhà nguyện thì tối đến chỉ đánh chuông đến boong một tiếng là cán bộ ngồi trơ một mình khai hội với bức vách. Đồng chí Nhàn bảo tôi tả, nhưng tôi lại nhận xét đồng chí giải quyết các việc thuộc về tôn giáo rát khờ dại. Cứ giải quyết theo hướng đó thì có ngày uỷ ban đem vợ con lên núi ở…”

Nhưng giải quyết theo hướng của ông Chủ tịch Môn thì chỉ có nước… dẹp đạo. Cấm đoán từ thả diều vì sợ nghe tiếng diều sẽ thành tiếng “cha ơi, cha ơi” đến cấm làm nhà nguyện sợ không còn ai thiết đi họp với cán bộ, không cho ăn mừng khánh thành sợ dân đóng góp cho nhà thờ nhiều quá, cấm đoán vậy cũng chưa thoả lòng, ông Chủ tịch xã còn nhảy xổ vào cầm tay chỉ việc cho nhà thờ sát sạt đến tận từng con cá từng lá rau. Thật không hiểu đức Giáo hoàng Phao-lồ ở Vatican nghĩ sao khi trên đất nước Việt Nam  “độc lập – tự do – hạnh phúc”, ông Chủ tịch xã – chính quyền cơ sở của Nhà nước lại “chỉ đạo” cho nhà thờ:

“…vôi nhà xứ đã có sẵn mười tạ, nay mua thêm hai mươi tạ nữa là vừa đủ, xây hai cổng, xây tường hoa, quét vôi trong nhà thờ. Nhà thương phía sau nhà cô mụ quá dột nát thì sẽ vận động các xóm góp rạ, góp tre lợp độ dăm buổi. Ghế gãy đóng lại, nếu còn thiếu thì đóng thêm. Không nên mua chiếu ngoài rất tốn, chỉ cần mua ít đay ít cói rồi triệu tập thanh nữ, bà già lại đánh đay, đem bàn dệt vào dệt…”

Theo kiểu “tư duy của nhà văn Nguyễn Khải”, ông Chủ tịch xã “thò tay chỉ việc” cho nhà thờ như vậy là Nhà nước “quan tâm” “ưu ái” đối đãi với tôn giáo lắm lắm, thể hiện rõ ràng “chính sách tự do tín ngưỡng” sáng ngời ngời của Đảng và Nhà nước ta!

Than ôi, ông nhà văn đâu có biết một khi nhà thờ bị Nhà nước “quản lý” tới từng “cân vôi”, từng chiếc chiếu, chiếc chân ghế gãy … thì thử hỏi còn đâu là …tự do. Nguy hiểm thay, nếu tiểu thuyết “Xung đột” của nhà văn Nguyễn Khải chẳng may lọt vào tay một chuyên viên phân tích của Toà Thánh La Mã thì bao nhiêu “lời hay ý đẹp” về tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta từ xưa tới nay sẽ vỡ tan tành như bong bóng xà phòng!

Chị Phó Chủ tịch Nhàn là người “mâu thuẫn ý kiến” với Chủ tịch Môn, chị chủ trường cho dân xây nhà nguyện, cho dân “ăn mừng khai trương nhà nguyện”, cứ ngỡ chị đứng về phía bà con giáo dân, ngờ đâu khi bị động chạm tới quyền lực, chị ta cũng nhảy nhổm lên, lộ mặt là kẻ bạo quyền. Nguyên ông trùm đạo mơ hồ về chính trị, phát biểu “ý kiến” theo kiểu “ý thức công dân” trong một đất nước có luật pháp:

“Nói thẳng ra, cứ thế này mãi thì khó ai tin được lời chị nói, khó ai tin được cái uỷ ban này nữa. Dân bầu lên thì dân cũng có quyền truất đi. Không dễ mỗi lúc bỏ tù nhau…”

Đây là niềm tin ngây thơ về thứ quyền công dân hồi Đảng và Chính phủ ta mới “giải phóng hoàn toàn miền Bắc”, họ chưa biết cán bộ chính quyền là do Đảng cử ra, “dân bầu” chỉ là trò giả hiệu và chẳng bao giờ dân có quyền “truất đi” như ông trùm đạo tin tưởng. Bởi vậy mới nghe ông trùm đạo động chạm tới cái ghế của mình, chị Phó Chủ tịch xã đã cảnh giác:

“Bây giờ ông định bàn với tôi về làm nhà thờ họ hay muốn phê bình uỷ ban ?”

Ông trùm họ vẫn “ngây thơ về chính trị” vẫn tưởng mình còn có cái gọi là “quyền công dân” nên vẫn cứng cỏi:

“Chúng tôi là dân, chúng tôi không biết đâu đến sự làm việc của uỷ ban mà phê bình, uỷ ban làm đúng hay sai thì tự xét lấy…”

Thực ra cán bộ công quyền là do dân bầu ra, dân có quyền “phán xét”, có quyền “phê bình”  là chuyện bình thường trong một xã hội dân chủ. Tuy nhiên ở nước Việt Nam những năm 1960 và ngay cả thời Nhà nước đang “hiện đại hoá, công nghiệp hoá” hiện nay thì  chuyện “phê bình”, “nhận xét” cán bộ vẫn là chuyện “mó dế ngựa” bị nó đá tan xác có ngày. Bởi thế khi nghe ông trùm đạo cả gan “phê bình” uỷ ban,  chị Phó Chủ tịch Nhàn vẫn được tiếng là đứng về phía nhân dân cũng trở mặt, nổi xung:

“Từ nay nếu ông bàn với tôi về việc làm nhà thờ họ thì tôi vẫn hết sức nghe ông, nhưng ông lại nói lếu láo, bậy bạ về uỷ ban, gây dư luận không tốt trong nhân dân thì uỷ ban sẽ chiếu theo pháp luật mà giữ ông lại. Ngày xưa cũng thế, bây giờ cũng vẫn thế, đã làm bậy thì dù là cha cụ, là chánh trương, trùm trưởng hay con chiên thường cũng đều phải chịu xét xử như nhau, chẳng nể mặt một ai. Toà Giám mục cũng không can thiệp được vào công việc của chúng tôi, toà thánh La mã cũng không dúng vào được công việc của Uỷ ban. Ông đừng có dọa, tôi phụ trách về tư pháp tôi biết hơn rõ ông ….”

Ghê gớm chưa, “thằng dân” vừa mới lắp bắp định mở miệng “phê bình chính quyền” thì bà Phó Chủ tịch xã đã đao to búa lớn, tới tấp ra đòn đánh dập đầu, đánh “tiêu diệt”, đánh cho đối thủ không kịp trở tay, mang cả Toà Thánh La Mã ra đe nẹt khiến cho “mặt ông trùm đờ ra , môi nhợt trắng như người phạm lỗi bị bắt quả tang…”..

Thế mới biết, quyền lực là thứ “thiêng liêng tối thượng” của Đảng và Nhà nước, xưa đã thế mà nay cũng thế, sau này càng thế,  bất kỳ ai động chạm tới cái món “quốc bảo” đó hãy coi chừng hộc máu mồm. Trong khi khắc hoạ chân dung bà Phó Chủ tịch xã Nhàn ‘trung với Đảng”, hết lòng bảo vệ chính quyền, ông nhà văn Nguyễn Khải vô tình đã làm rớt bộ mặt dân chủ giả hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà cả một bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Đảng và Nhà nước vẫn ra rả cổ động cho nó năm này qua năm khác.

Sau khi đã nạt nộ người dân bằng những lời lẽ hách dịch sặc mùi cảnh sát như vậy, chị Phó Chủ tịch Nhàn lại tỏ vẻ “nhân đức bà Tú Đễ”, trong cuộc họp Uỷ ban, rỏ những giọt nước mắt cá sấu tâm sự với ông Chủ tịch:

“Lạy Chúa, sao tôi lại sinh ra ở cái đất  này! Sao tôi lại là con chiên của Chúa! Tôi không bỏ đạo được mà tôi cũng không thể bỏ hoạt động được. Tôi muốn làm cả hai nhưng không ai để cho tôi được yên thân…”

Đây là những giọt nước mắt, những lời than thở ông nhà văn bịa tạc đặt vào mắt vào miệng nhân vật cho nó có vẻ “phong phú và đa dạng” vậy thôi. Thực chất những cán bộ ‘trung kiên của Đảng” như Môn, như Nhàn…đều là những con chiên ghẻ, bán Chúa theo cộng sản, họ còn chưa bỏ đạo chính là vì muốn ở lại đạo để làm một thứ mật vụ theo dõi nhất cử nhất động của nhà thờ để mà tăng cường các biện pháp quản lý đó thôi chứ chẳng “sụt sùi nghĩ ngợi” như ông nhà văn cài đặt vào tính cách bà Phó Chủ tịch xã một cách sống sượng thế đâu. Ông lại còn cho bà Phó Chủ tịch bật khóc:

“Rồi Nhàn bật khóc thành tiếng:

“Tôi theo Chúa, tôi theo Chính phủ, tôi theo cả hai mà không được sao? Ôi, lạy chúa. Con cho họ miếng bánh nhưng họ đã ném đá trả lại, con đến với họ với tấm lòng nhân từ của mẹ, nhưng họ lại đối đãi với con như kẻ thù…”

Kìm kẹp, thắt buộc, bắt giữ người dân như thế mà dám bảo là “cho họ miếng bánh”, là “đến với họ với tấm lòng nhân từ của mẹ”, còn thằng dân mới chỉ “em xin phê bình cán bộ” vậy mà đã la làng lên “họ ném đá trả lại” thì  rõ thật là “gái đĩ già mồm” theo lối nói của các cụ ta ngày xưa…

Nếu như “Xung đột” phần 1 (viết năm 1956) khép lại những cuộc “xung đột” giữa chính quyền và giáo hội thì “Xung đột” phần 2 (viết năm 1961) mở ra những “xung đột” giữa con người với “lợi ích vật chất”, tiền bạc.

Trước hết là cha Thuyết, người cha linh hồn của cả giáo phận, được Nhà nước “quan tâm” cho đi mổ lấy sỏi mật, bỗng dưng biến thành một người ca ngợi “miếng ăn, miếng uống” sặc mùi “ơn Đảng, ơn cụ Hồ”.

Ta hãy nghe đấng chăn chiên “hồ hởi  phấn khởi” bốc thơm bệnh viện Nhà nước:

“Ôi chao, quý hoá quá sức mình, cao trọng quá đỗi. Cái nhà thương rộng dễ đến một xóm của ta, cao ngân ngất như đền thánh đức Mẹ ở Phú Nhai vậy …”

Rồi cha khoe cha được “ưu tiên” hơn cả cán bộ xã:

“Này, thằng Thụy, con  Nhàn có ốm cũng chưa dễ đã được vào chỗ tôi nằm đâu. Lúc đầu tao cũng chẳng tin gì vào cái khoa mổ xẻ, còn chần chừ lắm. Nhưng chính phủ đã bỏ công, bỏ tiền xây dựng một toà nhà to như vậy, nuôi hàng trăm ông bác sĩ thì tao chắc họ làm phải giỏi…”

Mổ bụng vậy mà cha …không được đánh thuốc mê hay sao mà cha một tấc đến trời:

“Lưỡi dao họ lách vào đến đâu tai tao nghe rõ đến đó, nhưng chẳng đau đớn gì sốt. Để tôi lấy bà lão xem cái vật quý này. – Cha chạy vào mở tráp cầm ra một cái gạc bông . Bà đã thấy chưa, lúc họ mới đưa tôi để làm kỷ niệm nó to bằng ngón tay cái sờ rắn như đá sỏi. Nó nằm trong bầu mật dễ đã hàng chục năm nay, cái cơn đau vừa rồi mà ở nhà quê chắc là chết….”

Rồi cha bầy tỏ tình cảm của mình với cái nhà thương mà Nhà nước đã cho cha nằm:

“Một tháng ở đấy thanh nhàn vui sướng chẳng nói được, toại lòng phỉ chí đến không muốn ra về nữa…”

Đến cái cách cha ca ngợi “miếng ăn hàng ngày” mới thật thảm hại:

“Cha cười  ầm ầm:

“Min ăn suốt ngày, thật như con trẻ, bốn bữa, năm bữa, mỗi bữa ăn một vực cơm đầy. Bây giờ thì min có thể sống thêm được vài chục năm nữa…”

Được Nhà nước cho chút “bổng  lộc”, cha trở giọng chửi bới cha Lân ở Toà Giám mục vốn là người đang bị chính quyền nghi ngờ kích động giáo dân:

“Tao cứ trông thấy thằng Lân ở đâu là chỉ muốn lánh mặt. Nó chỉ đem phiền muộn đến cho mình. Muốn an nhàn một chút cũng chẳng được. Cái thứ ấy chẳng liên quan gì tới tao, tao là đấng chăn chiên thì chỉ biết vâng theo lệnh bề trên thôi…”

Cha nói vậy thôi, ngay với đức bề trên trực tiếp là cha Tuệ, giám quản địa phận Bái, cha cũng giở giọng bóng gió độc ác nói với ông Thường trực Uỷ ban xã:

“Tao thấy ở đời này lắm  người có đạo mà lại hay bỏ vạ cáo  gian, đức hạnh nết na chả có, lòng đầy rẫy những sự ghen tuông, hờn giận, oán thù. Mặc áo thầy tu mà trong lòng thì dữ tợn quá con quỷ…”

Sau khi đặt vào miệng cha những lời bôi xấu cha bề trên cay độc đến mức độ khó tin, nhà văn Nguyễn Khải lại khoác thêm cho cha cái tội “tố giác” cha giám quản  Phạm Ngọc Tuệ hoạt động chống Nhà nước:

“Ông Tuệ có ý mời các cha trong địa phận về Bái họp, áng chừng muốn dùng số đông khiếu nại lên chính phủ…”

Và cha bầy tỏ lòng quy thuận với nhà cầm quyền:

“Nhưng bây giờ thì tao mặc, tao cũng có nói với lão Lân rằng: ở Toà Giám đã có đức giám quản sáng suốt khôn cùng, đã có cha chánh xứ, cha cố vấn, hội đồng tư vấn gồm toàn những con người khôn ngoan rất mực thì còn cần gì đến những thằng già lẩm cẩm chỉ biết giảng kinh, giải tội cho con chiên, chỉ biết chú mục làm việc Chúa cho danh Cha cả sáng…”

Rồi cha còn làm cái việc phản phúc là nộp cho nhà cầm quyền cái thư của cha Giám quản gửi cho cha trong đó đầy những lời bóng gió:

“Trong cuộc giao tranh thiêng liêng để chiếm nước thiên đàng, đạo binh hùng dũng nhất là đạo binh cầm tràng hạt Mân Côi chứ không phải là khí giới cầm tay…”

Than ôi, chẳng lẽ Nhà nước mới chỉ bố thí cho chút lộc đi chữa bệnh một chuyến mà cha đã bán linh hồn cho quỷ dữ, ca ngợi kẻ cầm quyền và tố cáo cả người trong giáo hội mình sao?

Quả thực, trong việc vu cáo và bôi xấu linh mục, giải nhất “cây bút vàng” phải giành cho nhà văn Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Xung đột 2.

Sau cha Thuyết, đến lượt chính “đồng chí” Thụy, thường trực Uỷ ban xã sa ngã vì bả vật chất. Bị cha Thuyết mồi chài, thuyết phục, ông Uỷ viên thường trực xã lao vào xây dựng nghĩa trang bằng tiền của nhà thờ và tất nhiên qua đó ông cũng làm cái việc ăn bớt ăn xén,  “moi ruột công trình” như thời bây giờ.

“ Rồi cha móc túi lấy ra một cuộn bạc chẳng cần đếm là bao nhiêu đưa cho Thụy. Từ đấy Thụy là người cai quản hết thảy mọi việc… qua mỗi việc Thụy lại lên trình bẩm với cha và lần nào về cũng đưa cho vợ hàng gói bạc…”

Thế là ông cán bộ uỷ ban bắt đầu dấn sâu vào việc “ăn tiền” của nhà thờ:

“Mấy lần đầu do còn ngượng ngập, chưa quen cái việc cầm tiền của  người khác nên Thụy tỏ ra hết sức sòng phẳng vừa để cho ông cha biết anh vẫn giữ được  tấm lòng trong sạch của một cán bộ vừa để an ủi lương tâm mình không bị đồng tiền trói buộc. …”

Nhưng cái việc “giữ tấm lòng trong sạch của cán bộ” chẳng kéo dài được bao lâu. “Đáng lý chỉ cần một trăm thì cha lại vứt ra một trăm rưởi. Cái con số lẻ ấy mới đầu như chênh vênh nhưng dần dần nó đã tìm được  chỗ đứng vững chắc…”. Thế là  ông cán bộ thường trực Uỷ ban dần dà bị mua đứt. Từ nay hàng ngày, trên mâm cơm nhà ông không chỉ là “rau muống luộc chấm nước cáy” nữa, “vợ Thụy đã phải lăn xuống bếp: hôm giết con gà, hôm đánh bát tiết canh vịt, rồi nào lòng xào, lòng nấu miến, khúc cá rán, khúc nấu riêu, rau muống cũng phải xào đẫm mỡ…”

Từ đó cách sống nhà ông thường trực uỷ ban thay đổi hẳn, “toàn một giọng hỉ hả, đài các, toàn những chuyện may sắm, lựa chọn cái này cái nọ, tính toán giá gỗ đóng giường, giá vải hoa làm màn che, cái phích đựng nước nóng, bộ ấm pha trà…”

Kể ra so với các quan tham bây giờ, cái “sự ăn” của Thụy, thường trực Uỷ ban thấy quả thực là…tội nghiệp, không bằng một anh phó thường dân ngày nay, nhưng đối với thời đó, mức sống như Thụy đã là “tư sản hoá” rồi. Từ chỗ thay đổi mức sống, Thụy dần dà biến đổi cả tính cách:

“Cái không khí tâng bốc, phỉnh nịnh càng bao vây anh thì tính kiêu ngạo, tự mãn càng choán mọi hành động, ý nghĩ của anh. Anh độc đoán trong mọi ý kiến, người khác chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối. Và nếu kẻ nào tỏ vẻ ngang bướng, cứng cổ thì không ngần ngại gì  anh tìm cách ghép họ là chân tay của bọn phản động đã bị đánh gục trong sửa sai nay lại muốn ngóc đầu trỗi dậy…”

Hoá ra từ thời đó đã manh nha một loại người mới xuất hiện sau cách mạng: “cán bộ”. Tham lam tiền bạc, khăng khăng giữ ghế và sẵn sàng hạ độc thủ với bất kỳ ai động chạm tới cái ghế của họ. Hình ảnh ông Thường trực Uỷ ban xã đúng là chân dung bậc tiền bối của quan chức các cấp thời bây giờ. Có điều, ông nhà văn chỉ dám dựng nhân vật đó như một trường hợp cá biệt, một “con sâu làm rầu nồi canh”,  còn tuyệt đại đa số cán bộ ta vẫn chí công vô tư, hết lòng vì nước vì dân! Và ông nhà văn tin tưởng sắt  đá rằng loại “cán bộ tiêu cực” như Thụy nhất định sẽ bị đào thải:

“Hơn nửa năm nay …Thụy không còn được đảng viên trong chi bộ tín nhiệm nữa. Kỳ bầu ban chi uỷ vừa qua, Thụy chỉ được vỏn vẹn có hai phiếu, một lá của Môn và một nữa chắc do Thụy viết…”

Ông nhà văn tuyệt nhiên không dám lộ hé rằng loại cán bộ như Thụy mới chính là “nhân vật thời đại” của Đảng ta. Nó như một thứ ký sinh trùng ngày càng sinh sôi nảy nở, hằng hà sa số, sống bám trên cơ thể dân tộc, đục khoét, ăn cắp từ tiền bạc, địa vị xã hội tới tài nguyên, môi trường, phá hoại những di sản quá khứ và làm băng hoại những giá trị tinh thần và đạo đức xã hội.

 

Sau khi tiến hành xong công cuộc cải cách ruộng đất, phá tan hoang nền tảng đạo lý cổ truyền ở làng quê Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 1960, Đảng và Nhà nước lại rầm rộ phát động một cuộc cách mạng tiếp theo: công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp mà hơn 20 năm sau đó nó đã phá huỷ gần hết năng lực canh tác trên ruộng đồng.

Tuy nhiên phải đợi tới năm 1986, tính chất phá hoại của nó đã rõ rành rành, cái chết do nó gây ra đã tới sau lưng, Đảng mới ngấm ngầm xoá bỏ nó bằng việc trả lại ruộng đất cho dân và giải tán các hợp tác xã nông nghiệp.

Sự sụp đổ của công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp đã kéo theo cái chết hàng loạt những tác phẩm của các nhà văn lừng lẫy một thời: “Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm” của Đào Vũ, “Đất làng” của Nguyễn Thị Ngọc Tú và cả “Xung đột” ( tập 2) của Nguyễn Khải…. Bao nhiêu thành tích, bao nhiêu tính ưu việt, bao nhiêu sự đổi thay tích cực của bộ mặt nông thôn, bao nhiêu sự đổi đời sung sướng  của người nông dân được các nhà văn tô vẽ, tâng bốc lên mây xanh bỗng chốc tan tành ra sương khói bới cái nghị quyết “khoán sản phẩm” của Đảng − thực chất là sự cáo chung cho “lề lối làm ăn tập thể”, cho “hợp tác xã nông nghiệp” mà suốt mấy chục năm đám bồi bút ra sức tô vẽ.

Trong “Xung đột” phần II, “vào ngày lễ mở đầu tháng đức Mẹ  cũng là ngày thứ ba của cuộc “vận động hợp tác hoá” sôi nổi, rầm rộ suốt tám xóm trong xã. Mỗi xóm thành lập một ban vận động gồm những người trong ban quản trị hợp tác xã cũ, đội trưởng đội sản xuất và một vài người mới nữa. Tiếng trống, tiếng loa nổi lên từ lúc chuông nhất và chỉ tắt đi vào khoảng gần nửa đêm…”

Chống đối lại cuộc vận động đó, theo ông nhà văn, tất nhiên chỉ có…nhà thờ:

“Tiếng loa của đức chúa Trời và lời giảng hùng hồn của cha Lân” đối lập với “tiếng trống của người thế gian và lời lẽ vận động đầy sức thuyết phục của cán bộ xã” làm cho “cuộc sống ở thôn Hỗ cứ náo động suốt đêm ngày. Không có tiếng súng nổ nhưng tâm trạng con người thì giống hệt như trong một trận chiến đấu. Cũng có những người kiên quyết và những kẻ dao động, tin tưởng và bi quan, phẫn nộ và bình tĩnh…”

Đó là cuộc chiến tranh được ông nhà văn “tô vẽ” giữa “nhà thờ” và chính quyền cộng sản đại diện là mấy ông cán bộ xã. “Tiếng loa của đức chúa trời” chẳng thấy đâu nhưng đây là lời giảng của cha:

“Hiện nay ma quỷ đang dùng thóc gạo làm chước độc để mê hoặc linh hồn các con. Song các con hãy nhớ lời Chúa đã từng phán tỏ tường rằng: bay lo ngày mai mà làm chi, đến ngày mai sẽ hay, bởi chưng sự khốn khó ngày nào đã đủ cho ngày ấy…”

không những chẳng lọt  được vào tai giáo dân :

“không nói đâu xa xem như vợ chống thằng Quảng kìa, chồng vay hợp tác xã được mấy chục cân thóc gánh về, vợ đã mặc áo ra nhà thờ thấy thóc cởi cả áo ra, chồng xay vợ sàng hì hụi từ chập tối đến nửa đêm, vừa làm vừa đùa bỡn nhau dễ còn vui hơn cả lễ Phục Sinh…”

mà còn bị bôi bác :

“Ấy vậy mà cha mới nói là ma quỷ dùng thóc gạo cám dỗ nên người thế gian mới bỏ cả đức tin, bỏ cả Chúa…”

Vậy là “cha” thua một cách dễ dàng, nông dân ào ào nộp đơn vào hợp tác xã. Ông nhà văn diễn tả một ông bố sai con viết đơn với nhiệt tình và lòng thành kính  như viết đơn cho Chúa Giê-xu xin lên … thiên đàng:

“Vui, này lấy giấy bút ra đây tao muốn nhờ mày một việc…”

Cô con gái lấy ra tờ giấy có vệt mực lem luốc, lập tức bị ông bố mắng:

“Mày coi khinh bố mày thế hả con, không nỡ cho bố một tờ giấy đẹp đẽ ư? Đã dùng vào việc cao trọng thì chớ lấy những thứ dơ dáy…”

Rồi ông quay sang vợ:

“Cả đời chỉ có một lần. Bà hiểu cái việc tôi nói là việc gì rồi chứ?”

và lệnh cho con:

“Lấy vạt áo lau sạch cái ngòi bút đi thì nét nó mới thanh được. Bắt đầu như thế nào nhỉ? Việt Nam dân chủ cộng hoà… năm thứ mười lăm…”

Trong thực tế, lùa được nông dân vào hợp tác xã là một việc phải thúc ép, cưỡng chế; vậy mà ông nhà văn “tâng” lên thành một thứ ý nguyện thiết tha của người dân làng thì đủ hiểu ông đã bồi bút đến mức nào. Ông còn “mượn mồm” một bà nhà quê để ca ngợi cái ưu việt của lề lối “làm ăn tập thể”:

“ Như nhà tôi chỉ riêng khoán cày khoán bừa hai mẫu cũng mất đứt hai chục thóc rồi. Cái trò đem trâu cày ruộng nhà người đến mùa lấy thóc thì làm kỹ sao được… Còn vụ vừa rồi ai cày ai bừa mặc ai, chị em chúng tôi cứ ra công cấy, làm chung ăn chung, anh làm dối thì cái cót thóc của anh cũng ít…”

Ca ngợi “làm chung ăn chung” như vậy, ông nhà văn đâu có biết  cái kiểu “tập thể hoá” đó khác gì “cha chung không ai khóc” khiến đồng ruộng bỏ hoang, mùa màng thất bát, rốt cuộc khiến Đảng lại phải giải tán “làm chung” trả ruộng đất về cho ai nấy làm. Ngày đó chắc ông nhà văn chưa nhận ra điều đó hoặc đã nhận ra rồi mà ông vẫn giả ngu, vẫn ca ngợi nhiệt tình xin vào hợp tác xã của bà nông dân này:

“Tôi chẳng gì cũng nhiều tuổi hơn các chị, cái khổ cái sướng đã trải qua, trước khi vào hợp tác xã tôi cũng tính toán chán, nếu không có lợi thì tôi vào đầu làm gì… Lạy Chúa, từ ngày biết làm người tới giò, chỉ có mỗi vụ chiêm vừa rồi vào hợp tác tôi mới nhàn nhàn cái thân chút ít…”

Tất nhiên không phải ai cũng hồ hởi phấn khởi xin vào hợp tác xã như vậy, cũng có người lừng khừng, đắn  đo để rồi đến lúc:

“Không vào cũng chẳng được, họ vác trống vác loa đến tận đầu nhà kể lể, than vãn nghe nẫu cả ruột chứ dễ được yên ư ? Hết tốp cán bộ này ra, lại đến tốp khác nối chân vào. Ngồi tiếp chuyện các ông ấy thì mất ngày mất buổi, lánh mặt lại sợ họ bảo mình có ý tứ gì…”

Vậy là cả làng cả tổng đều “tiến bộ”, đều trở thành xã viên hợp tác xã cả chỉ trừ ra có mỗi … ông linh mục, người chăn dắt con chiên  khiến bà con phải phàn nàn:

“Ông Tam ạ, tôi xem ra các cha mà tiến bộ được như mình thật là khó. Mình theo chế độ mới nào có mất gì, chỉ được thôi, còn các ông ấy mà theo ta thì túi tiền vơi đi quá nửa…”

Thế rồi ông nhà văn “lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử”, lấy “cái tâm lúc nào cũng lo ăn” để phân tích các cha tinh thần:

“Tôi tính cho các ông các bà nghe nhá. Trước kia ở tổng này có ba chục thằng địa chủ, đứa nào hàng năm chẳng có mấy ngày giỗ kỵ cha mẹ, tổ tiên, lại sửa một mâm chén, tiền lễ đưa cha để cha cầu nguyện cho. Vậy là một món. Nhà nào có cha già mẹ héo cũng phải cố thu xếp mời bằng được cha đến làm phúc, cơm ăn rồi còn tiền đưa tận tay cho cha cầm về. Một năm một lần làm lễ kỳ hồn cho cả xứ, gia đình nào cũng phải đưa tiền, neo túng thì hai ba đồng, sang trọng thì từ một trăm trở lên. Ba món nhé !…Chả trách người ta đồn vàng ở Toà thánh còn nhiều hơn cả thế gian gộp lại…”

Nhìn nhận về Thiên chúa giáo như vậy, quả thực ông nhà văn Nguyễn Khải xứng đáng là người… “duy vật”. Chỉ có điều tới ngày nay nếu có dịp đọc lại tác phẩm của mình, hẳn ông nhà văn phải cay đắng thừa nhận rằng cái “hợp tác xã nông nghiệp” mà ông hết lòng ca ngợi nhiệt liệt đã sụp đổ từ tám đời, nay chỉ còn là cái “bia miệng” cho thiên hạ chê cười, còn cái nhà thờ thiên chúa mà ông ra sức bôi bác, xỏ xiên vẫn cứ đứng lừng lững mà xem ra mỗi ngày cái “sự đạo” lại càng thêm tưng bừng náo nhiệt.

 

Tuy mang nặng thiên kiến do những cặp kính “tính Đảng”,“tính dân tộc” che kín mắt, nhưng đọc kỹ “Xung đột” của Nguyễn Khải người ta cũng có thể lọc ra ít nhiều chi tiết mang dấu ấn của cái thời đại “hợp tác hoá nông nghiệp” kinh hoàng đó. Vợ chồng nhà Lận trong làng có con trâu sẽ phải đưa vào hợp tác xã nhưng được hoá giá quá rẻ nên tự mổ thịt bán cho bà con trong xóm.

Ở một nước dân chủ, quyền tư hữu được bảo hộ thì đó là chuyện quá thường tình. Nhưng trong thời hợp tác hoá thì đó là tội ác tày đình và chỉ tiến hành được một cách lén lút ngoài bờ đê trong lúc ông Môn, Chủ tịch xã đi vắng. Trong số những người chạy ra đám mổ trâu mua về xâu thịt có ông Phó Chủ nhiệm Tam mà vì “đến mấy tháng nay mâm cơm không có được miếng thịt “ nên “đụng vài cân cho trẻ nó xởi lởi”.

Thịt trâu ăn vào bụng cả nhà rồi chẳng ngờ ông Môn, Chủ tịch xã đi họp về biết chuyện, mắng xa xả:

“Con trâu khoẻ mạnh thế mà nỡ giật ngửa ra ở rìa đê mổ thịt. Thàng Minh gộc pha thịt, thằng Long chọc tiết. Phen này ông cho cả lũ đi tù, chúng nó định làm loạn à ?”

Ghê gớm chưa? Người  dân ăn có miếng thịt trâu của chính mình mà ông Chủ tịch xã đã doạ “cho cả lũ đi tù” thì hoá ra ở cái xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt này, con người ta lúc nào cũng sẵn sàng…đi tù. Riêng ông Phó Chủ nhiệm Tam, là cán bộ, trót dại vì thương con cái thèm thịt mua về một xâu, ông vừa lo bị Chủ tịch xã dằn vặt, vừa lo “mất uy tín” “hàng trăm cặp mắt chế giễu, căm giận, hàng nghìn lời nói đay nghiến, chì chiết sẽ bao vây lấy anh, tấn công anh và kẻ bị hành hình đã đành không thể sống nổi cũng không chết ngay được …”.

Ôi chao ôi, xã hội gì kỳ quặc, ăn có miếng thịt trâu mua bằng chính đồng tiền của mình mà ông Phó Chủ nhiệm Tam phải điêu đứng thế đến nỗi ông phải than trời :

” Ôi, tủi nhục quá, cay chua quá và dại dột không biết chừng nào… Đằng nào thì trong ngày hôm nay địa vị của anh cũng sẽ thay đổi. Anh sẽ được nghe những tiếng hò reo gian ác, khoái trá của Đoàn và đồng bọn: Tưởng gì, hoá ra cũng là một anh đạo đức giả.

Và Tam quay mặt đi khóc nức nở…”

Muốn khóc gì thì khóc, trót ăn miếng thịt trâu rồi, ông Phó Chủ nhiệm sẽ bị đưa ra đại hội xã viên xem xét và bị Chủ tịch xã Môn chửi xơi xơi vào mặt:

“Anh không xứng đáng, anh phụ lòng tin cậy của tôi, của cả chi bộ. Thằng địch có đâm tôi một nhát dao vào giữa ngực cũng không đau đớn bằng cướp đi của tôi một người bạn. Thế là anh đã chết rồi, phải coi như là anh đã chết rồi. Biết vậy mà không sao cứu được  nữa…”

Ôi chao ôi, từ cổ chí kim, trên khắp mặt địa cầu này, có lẽ chẳng ở đâu chỉ vì bỏ tiền túi ra mua một miếng thịt trâu bỏ miệng mà bị rủa xả nhục nhã, coi như đã chết rồi đến như vậy. Chỉ nguyên cái chuyện “thịt trâu mổ lậu” này, Nguyễn Khải đã “vô tình” lột trần cái tính chất phi nhân văn trong quan hệ giữa các đồng chí cán bộ đảng viên với nhau. Bởi vậy dân gian thường nói không phải vì “thân yêu nhau chúng ta gọi đồng chí”, mà chính là khi sắp sửa sát phạt nhau nảy lửa trong hội nghị, các cán bộ đảng viên mới dùng hai chữ “đồng chí” để đưa nhau lên thớt mà thôi.

Phó Chủ nhiệm ăn thịt trâu bị xử nặng thế, tất nhiên vợ chồng Lận, thủ phạm chính trong vụ giết trâu của mình, tội còn lớn gấp bội.  Từ sáng sớm còn nhọ mặt người, ông Chủ tịch xã Môn đã cho đánh trống họp ban quản trị và kế toán trưởng hợp tác để xử vụ giết trâu. Vợ chồng Lận được kêu đến. Người đàn bà khốn khổ không dám đứng chỉ “lom khom nhìn ngó xung quanh rồi lại thụp xuống ngay” rồi  thưa gửi :

“Thưa với chư ông trong nhà túng bấn quá nên tôi cũng có chót bán đi lấy ít tiền để trang trải công nợ ạ….”

“ Bà bán trâu, tậu nghé, mưu mẹo lắm …”

Và cuộc hỏi cung diễn ra với những câu hỏi như quan toà với tội phạm: “bán cho nhà ai ? ở đâu ? Trong việc bán trâu này ông bà có bàn tính với nhau không …?”

Hỏi xong vợ rồi hỏi đến chồng. Anh chồng bí quá đổ thừa cho vợ tự ý bán trâu làm bà vợ ông Chủ tịch xã phải nói chen:

“Thế ra quyền bà ấy lại to hơn cả ông à ?”

Vậy là bà vợ ông Chủ tịch xã không chỉ “dắt mũi” ông chồng khi ở nhà mà còn ra cả “công đường” phụ với chồng xử tội người khác. Sau cùng ông Chủ tịch xã luận tội “bán trâu” :

“ Việc bán con trâu nhà ông, dù có vợ bán hay chồng bán cũng mặc, dứt khoát là phạm pháp. Tư pháp sẽ có trách nhiệm xét xử việc này…”

Và chẳng cần chờ tới khi “tư pháp” xét xử, ông Chủ tịch Uỷ ban xã quyết định luôn:

“Còn con nghé hiện nay ông mới mua uỷ ban sẽ quản lý…”

Gọi là “quản lý” nhưng thực chất Uỷ ban đã cướp trắng tài sản của thằng dân đen khiến nó phẫn uất:

“Cứ việc. Chính quyền có tịch thu tôi cũng không dám kêu ca gì. Xưa nay bị cướp bóc đã nhiều chứ chẳng phải mới có lần này…Đ…mẹ cả đứa mua lẫn đứa bán đều là dại cả. Xin chào chư ông thôi ạ. Thế bao giờ ông Chủ tịch cho người sang dắt nghé tôi đây ?”

Một phiên “xử án” tịch thu tài sản của đương sự còn tệ hại hơn lý trưởng,  chánh tổng ngày xưa trong đó “phu nhân của quan lớn” cũng nhảy bổ vào để kết án thằng dân.

Vậy là trong một xã mọi quyền sinh sát, mọi việc lớn nhỏ từ miếng ăn cho tới việc làm, mọi số phận người dân  đều nằm trong tay duy nhất một người: ông Chủ tịch xã. Để thực thi cái trách nhiệm quá nặng nề ảnh hưởng trực tiếp tới cả mấy ngàn con người như thế, ông Chủ Chủ tịch xã Môn là người thế nào?

Thật đáng lo ngại làm sao, ngoài lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, nắm thật vững và thi hành thật mù quáng mọi chủ trương đường lối của Nhà nước, ông Chủ tịch này mù tịt về mọi kiến thức khiến có lúc ông có những câu hỏi thật ẩm ương khi nghe nói chuyện về tên lửa của Liên Xô đã được phóng lên trời:

“Tôi còn thắc mắc một điều là ví như cái tên lửa nếu nó bay được cao nữa thì có chạm phải nền trời không ?”

Khi được giải thích cặn kẽ, ông vẫn còn chưa thông:

“Vậy cái tên lửa nó bay mãi như thế mà không vướng núi ư? Đến một đoạn nào đó tất cũng phải rơi xuống chứ ?”

Khi được nghe giải thích: “trái đất mình ở nó tròn như quả cam, quả bưởi lơ lơ lửng lửng giữa không gian chứ có bám víu vào đâu đâu. Còn tên lửa là bay vòng bên ngoài kia…”

Vậy mà ông Chủ tịch xã vẫn chưa hiểu:

“Rắc rối nhỉ. Mỗi tuổi mỗi nghe thêm nhiều chuyện lạ. Kể cũng hay…”

Hoá ra trình độ hiểu biết của ông Chủ tịch xã vẫn thuộc vào thời… ông Copernic phải lên giàn hoả vì ông cho rằng “trái đất nó quay”. Với trình độ như vậy người ta thấy rõ các ông cán bộ cách mạng có thể quản lý và bóp nghẹt mọi hoạt động tâm linh của nhà thờ, có thể cướp ruộng, cướp nghé của người dân vô tội, có thể đưa ra Toà kết án kẻ làm thịt trâu của chính mình. Những việc đó họ làm thật xuất sắc vì chẳng cần dùng gì tới những kiến thức phổ thông của nhân loại.

Tuy nhiên họ không thể làm cho cánh đồng tăng năng suất lúa, đàn gia súc tăng trưởng nhanh bởi lẽ họ mù tịt về khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại. Trong lúc thế giới đang phát triển như vũ bão về phát minh, phát kiến, về cuộc cách mạng xanh, thay vì mở toang cửa đón nhận mọi thành tựu nhằm nâng cao phúc lợi, cải thiện đời sống người dân, họ lại đóng cửa xua mọi người vào cuộc tranh giành, đấu tranh  giai cấp gây nên những tổn hại không sao kể xiết. Sau khi giành chính quyền, họ giỏi chia chác lại phần bánh trong đó giành cho người cầm cày phần tối thiểu khỏi chết đói chứ tuyệt nhiên họ không đủ đầu óc và nhiệt tình động viên tất cả mọi người làm cho miếng bánh ấy lớn thêm để phần bánh của mỗi người được to ra. Đó quả thực là cái thông điệp toát ra một cách khách quan, ngoài ý muốn của nhà văn Nguyễn Khải qua tiểu thuyết “Xung đột”.

 

Với bà con xã viên trong làng, mấy ông chính quyền còn thắt buộc thế, vậy  đối với “nhà thờ”, tất nhiên phải coi như…kẻ thù của nhân dân, luôn luôn âm mưu phá hoại chính quyền. Ông Môn, Chủ tịch xã, coi  cha xứ Thuyết là “tinh khôn quá kẻ cướp”  và lên mặt:

“Tôi biết thừa mấy tay linh mục chỉ hay mè nheo với cấp tỉnh vì các ông ấy phải giữ đúng chính sách mà, còn ở xã ấy à, một phép…”

Vậy là tay Chủ tịch xã này vô tình đã lật tẩy cái tự do tín ngưỡng giả hiệu của Nhà nước – chỉ cần tỏ vẻ “tôn trọng” tôn giáo ở cấp tỉnh thôi, còn ở dưới cấp xã thì tha hồ chèn ép. Chính vì thế gã mới khoe khoang:

“Ngay như tay Vinh tự xưng là thánh Tô-ma thời nay vậy mà mỗi lần gọi ra uỷ ban mặt cắt không còn hột máu …”

Chính phủ trung ương chỉ đạo chính quyền cấp xã thế nào mà các linh mục mỗi lần bị gọi ra Uỷ ban đều phải  run sợ thế ? Một tay chót bét trong bộ máy chính quyền cũng có thể mắng sa sả vào mặt các nhà tu hành về chuyện chủng viện đào tạo thầy dòng:

“Tôi có lần đã nói thẳng với ông Thuyết ở đây: các ông đừng có lập lờ, chỉ bịp được các con chiên ngu dốt chứ cán bộ chúng tôi thì nhìn thấy tận cuống ruột các ông, chủng viện gì, trường đào tạo gián điệp đấy thôi…” 

Tất nhiên cấp trên phải rỉ tai về chính sách ngầm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo thế nào nên tay cán bộ cấp xã mới dám “công xúc tu sĩ” ngay giữa công đường:

“Trường gián điệp (tức chủng viện) ngay giữa miền Bắc này, chẳng những không ai dám đả động đến nó mà còn phải cấp cả gạo ăn, than đốt, giấy bút học, thỉnh thoảng lại còn văn công, xi-nê để giải trí nữa…”

Nếu “chủng viện” đúng như vậy thì chắc chắn đó là “trường quốc doanh đào tạo cán bộ tôn giáo vận” đội lốt chủng viện. Chắc ông Chủ tịch xã “ngây thơ” không hiểu được điều cơ mật đó, nên cứ ra rả mắng mỏ học sinh chủng viện:

“Mấy đứa người  xã này đi học ở Bái tôi biết, khi đi chúng nó nết na, hiền lành thế, học được một  hai năm về thăm nhà mặt mũi đã nhâng nháo như kẻ cướp, ăn nói hỗn xược, toàn xui gia đình phá chính sách, có đứa mang cả tài liệu chống cộng về phân phát trong xóm…”

Sự thực trong lòng xã hội miền Bắc những năm 1960 không khí khủng bố khét lẹt, làm gì có chuyện mấy đứa học sinh dám mang “tài liệu chống cộng về phân phát trong xóm”. Trong thời kỳ này, một anh cán bộ Đài phát thanh trung ương chỉ mới làm đùa hai câu thơ vui :

“Tiến lên ta quyết tiến lên

Tiến lên ta gọi cấp trên bằng…thằng”

Chỉ mới “đùa vui” vậy thôi mà đã bị công an xích tay đưa đi cải tạo liền, huống hồ “phân phát tài liệu chống cộng trong xóm” thì tội đáng… lăng trì, xử trảm, ai mà dám to gan thế? Xem vậy đủ biết Chủ tịch xã Môn đã vu cáo cho nhà thờ trắng trợn đến đâu. Gã còn trắng trợn quy kết:

“Mình là hàng cha chú chúng nó, có đến chơi thì giương mắt đứng nhìn, hằn thù cán bộ còn hơn cả quân Pháp ngày xưa. Mới mười bốn mười lăm tuổi đã thành phản động con cả, nữa là để chúng nó dạy dỗ nhau năm mười năm nữa…”

Một ông cán bộ mặt trận tỉnh tên Mẫn được phái về tăng cường cho xã lẽ ra phải uốn nắn cho Chủ tịch xã thái độ ứng phó với nhà thờ sao cho kín đáo uyển chuyển hơn, đằng này lại phụ hoạ với Chủ tịch xã Môn, hung hăng  không  kém trong thái độ thù ghét  nhà thờ. Ông cán bộ tỉnh nhận xét về các linh mục thật coi người bằng nửa con mắt:

“Bọn ấy tuy chẳng tài ba gì, trước sau vẫn một ngón võ nấp sau lưng con chiên thôi, nhưng đừng tưởng họ ít thủ đoạn đâu nhé. Đức Giám quản vừa cho cánh mình một vố khá ngọt đây…”

Tưởng “vố” gì ghê gớm, hoá ra chỉ là lời  đùa bỡn của linh mục Tuệ với cán bộ Mẫn:

“Tôi sinh đúng vào năm cách mạng tháng Mười, đến cách mạng tháng Tám thì được  truyền chức linh mục, hoà bình lập lại làm Giám quản địa phận. Đời tôi thế là dính liền với cách mạng đấy  nhé…”

Cán bộ rủa xả, nhục  mạ linh mục thì không sao, ngược lại linh mục chỉ nói giỡn vài câu với cán bộ đã bị coi là … khiêu khích cách mạng!

Thực ra cái số cán bộ thù ghét nhà thờ “ghi xương khắc cốt” kiểu như Chủ tịch xã Môn với cán bộ Mặt trận Mẫn là hiếm có; bởi lẽ chính họ cũng từ giáo dân mà ra, vợ con, bố mẹ họ vẫn là những con chiên ngoan đạo, hà cớ gì họ phải “báng bổ” nhà thờ đến như vậy? Trong khi đó họ vẫn được Đảng và Nhà nước huấn luyện về “tôn  giáo vận”, vẫn được dặn dò cần phải có sách lược mềm dẻo, linh hoạt để “tỏ rõ” chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng chính phủ kia mà?

Thì ra ông nhà văn Nguyễn Khải đã “vẽ rắn thêm chân”, đã phóng đại cái lòng “căm ghét nhà thờ” trong giới cán bộ xã và tỉnh để chính ông bày tỏ với Đảng sự dứt khoát từ bỏ gốc gác thầy dòng của ông, từ bỏ theo kiểu chặt cầu và không khoan nhượng để được Đảng tin cậy. Và có lớn tiếng mượn mồm người khác mạt sát nhà thờ như vậy, ông nhà văn mới tỏ rõ được lập trường giác ngộ giai cấp, giác ngộ Đảng một cách quyết liệt, từ trong tim, trong máu chứ không phải chỉ là ở đầu môi chót lưỡi. Lập trường này của ông lại càng được củng cố khi sau 1975 gặp lại gia đình đã di cư vào Nam, ông vẫn quyết liệt lên án họ trong tập “Gặp gỡ cuối năm”  để làm yên lòng Đảng. Chính vì cái gốc gác “xuất thân thầy dòng” nên Nguyễn Khải phải “giữ gìn”, phải luôn luôn “bày tỏ lòng trung thành” với Đảng chứ tuyệt nhiên không bao giờ dám láo như cái đám Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm…. ỷ y  xuất thân cán bộ cốt cán của Đảng,  hung hăng chống lại Đảng trong vụ Nhân văn Giai phẩm. Bởi vậy trong thời kỳ văn nghệ sĩ miền Bắc bị khủng bố gắt gao nhất, Nguyễn Khải vẫn luôn luôn là đứa con cưng của Đảng, được bao bọc và ấp ủ trong vòng tay của “văn nghệ quân đội”.

Công lớn của Nguyên Khải trong hai tập tiểu thuyết “Xung đột” không những chỉ là bôi xấu, vu cáo nhà thờ mà còn tô vẽ cho hợp tác xã một bộ mặt thật tốt đẹp để chứng minh chủ trương tập thể hoá nông nghiệp của Đảng là cực kỳ ưu việt và sáng suốt. Cái sự “tô vẽ” ấy đôi khi quá đà tới mức lố bịch, khó nghe. Chẳng hạn đây là lời một anh nông dân tên Điệp bênh che cho việc Nhà nước cướp ruộng, cướp trâu của  nông dân:

“Sống ở xã này mỗi năm một thấy khác. Có hai bác tôi xin nói thật, nhân dân ở đây họ có tin ở chính phủ lắm mới trao ruộng, trao trâu cho hợp tác xã, cơ nghiệp hàng mấy đời người chứ đâu phải chuyện bỡn…”

Sự thực vì áp lực đè lên đủ các mặt, người nông dân đành nuốt nước mắt  chịu cho hợp tác xã cướp ngày cả ruộng lẫn trâu chứ đâu có chuyện tự nguyện như ông nhà văn tô vẽ? Rồi cũng chính anh nông dân này “ca ngợi” Nhà nước đã “cướp thóc của dân”:

“Cứ lấy việc thu thóc nghĩa thương vụ mùa năm ngoái mà suy thì ai cũng phải phục cái sáng suốt của huyện của tỉnh. Ngày ấy không kiên quyết thu thì bây giờ lấy đâu ra thóc cứu đói…”

Hoá ra “thuế nghĩa thương” là thuế  thóc dự trữ để khi nào có thiên tai đói kém thì Nhà nước khỏi phải lấy quỹ thóc quốc gia ra cứu trợ mà bắt người dân đóng góp từ trước phòng hờ thiên tai. Thật là một thứ thuế độc nhất vô nhị trên thế giới, chứng tỏ sự sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Đảng ta!

Mượn mồm anh nông dân, ông nhà văn tiếp tục “tô vẽ”:

“Năm Ất Dậu ngoài chợ Hỗ thóc bán có năm đồng một thùng mà người chết đầy đường, năm nay thóc bán tám chín đồng, mười đồng cũng là, vậy mà không nhà nào đến nỗi phải nhịn cơm hai bữa…”

So sánh giá thóc năm 1945 theo tiền Đông Dương với giá thóc năm 1960 ông nhà văn quên bẵng mất là lúc này cách mạng đã có Ngân hàng Nhà nước, làm gì ra tiền Đông Dương như hồi Pháp thuộc? Và rồi ông xuýt xoa:

“(thóc cao vậy mà…) vẫn họp hành, vẫn sản xuất, con gà con vịt , buồng chuối lá rau tịnh không một ai lấm lét, tơ hào. Thời Nghiêu Thuấn cũng đến vậy chứ gì ?”

Ôi trời ôi, cái thời “mỗi người làm việc bằng hai, để cho chủ nhiệm mua đài mua xe” mà ông nhà văn coi là ‘thời Nghiêu Thuấn” thì nghề “bốc thơm”, “bồi bút” phải lấy ông Nguyễn Khải làm… tiên sư!

 

Chẳng riêng gì nông dân, bản chất con người ta là “tư hữu” tức gìn giữ những gì mình có trong tay. Tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, Đảng phát động thu gom ruộng đất, trâu bò, nông cụ vào hợp tác xã, thực chất là một cuộc cướp bóc trắng trợn. Người nông dân chẳng qua vì áp lực chính trị, vì súng kề cổ nên phải ngậm đắng nuốt cay mà giao sản nghiệp cho hợp tác xã thôi.

Đó là một sự thực hiển nhiên ở nông thôn không ai là không biết.

Ấy thế mà ông nhà văn Nguyễn Khải tô vẽ cho sự giao nộp ấy như một tự nguyện “cao đẹp”, như  ý nguyện thiêng liêng của người nông dân đối với cuộc vận động của Đảng.

Ông Điệp mới được vào hợp tác xã, làm ngay một mâm cơm gà, cá kho mời bằng được cán bộ xã tới ăn mừng:

“Hôm qua chúng tôi vừa tổ chức liên hoan vào hợp tác xã, hôm nay làm bữa cơm nhạt mời hai bác sang uống chén rượu gọi là mừng cho anh em chúng tôi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa…”

Không hiểu ngày nay, đọc lại cái câu “đi theo con đường xã hội chủ nghĩa” mà mình đã ấn vào mồm anh nhà quê, ông nhà văn Nguyễn Khải có thấy “hài hước” chăng? Chắc bây giờ ông đã nhận ra cái “con đường xã hội chủ nghĩa”  ấy càng đi càng mù mịt, càng phá tanh bành cả cái hợp tác xã mà Đảng và Nhà nước vẫn cứ bắt dân “kiên trì” đi theo nó.

Trong tiểu thuyết “Xung đột” công cuộc vận động nông dân góp ruộng, góp trâu bò vào hợp tác xã xem ra rất xuôi chèo mát mái; bà con nông dân cứ là tranh nhau làm đơn xin gia nhập. Thực tế hoàn toàn không phải vậy? Mảnh ruộng, con trâu, cái cầy, ao cá là tài sản bất ly thân của người nông dân, không dễ gì họ để cho bị cướp trắng. Mặc dầu Đảng và Nhà nước đã dùng cả một bộ máy toàn trị để bao vây, cưỡng bách nhưng công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp không phải là không vấp phải sự chống đối của nông dân. Những phản ứng của nông dân như giết trâu bò, phá huỷ nông cụ, chây lì không chịu ký đơn… chắc chắn phải nổ ra. Tuy nhiên tất cả những chuyện đó bị bịt đi và ngược lại việc cưỡng chế nông dân vào hợp tác xã được cả một bộ máy tuyên truyền báo chí của Đảng tô vẽ như một cuộc đổi đời tự nguyện của người nông dân.

Nguyễn Khải cũng không đứng ngoài được “sự nghiệp tuyên truyền vận động hợp tác hoá” đó. Chẳng những ông không dám đi sâu vào khai thác và phản ánh cuộc đấu tranh ngấm ngầm cũng như ra mặt của nông dân chống lại việc cưỡng bức vào hợp tác, ngược lại ông còn tô hồng cho nó đúng như một tên bồi bút có hạng. Chính vì thế cái phần “xung đột” giữa Đảng và nông dân trong tiểu thuyết “Xung đột” rất mờ nhạt. Chỉ có mỗi vụ Quảng “giả chết” ở đầu truyện để vu vạ cán bộ xem ra còn có vẻ xung đột gay gắt, còn sau đó chỉ thấy toàn thấy nông dân “ơn Đảng, ơn chính phủ” được vào hợp tác hoá để đổi đời. Phản ánh hiện thực nông thôn thời kỳ này, Nguyễn Khải đã thực hiện đúng theo lý luận kinh điển của Đảng: “mâu thuẫn trong nhân dân” là mâu thuẫn “nội bộ”, mâu thuẫn “thống nhất”, mâu thuẫn để …cùng đi lên.

Trong lúc cố xoá mờ, giảm nhẹ xung đột giữa dân và Đảng, Nguyễn Khải lại tô đậm mối xung đột giữa “nhà thờ” với chính quyền, vừa dễ viết cho sinh động vừa đúng đường lối của Đảng, coi đó là mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn “địch – ta”.  Bởi thế, phần lớn “Xung đột” phần II xoay quanh chuyện Nhà nước o ép nhà thờ. “Gậy ông lại đập lưng ông”, ngày nay chính những điều Nguyễn Khải mô tả trong tiểu thuyết vô tình đã vạch trần bản chất lừa bịp trong chính sách “tự do tín ngưỡng”, “tốt đạo đẹp đời” mà Đảng và Nhà nước xưa nay vẫn tuyên truyền.

Một trong những vũ khí chống lại Thiên Chúa giáo  của nhà văn Nguyễn Khải là dựng  nên những bi kịch cá nhân do nhà thờ gây ra. Cô Huệ, con gái ông Bốn sau 10 năm đi tu đã tố cáo tội ác của nhà thờ với bố đẻ:

“Bố ơi, khi con ở nhà đức tin con mạnh, con vào ở đây đức tin con chẳng còn nữa, tất cả mọi người lừa dối con. Bà Nhất thì cay nghiệt hơn dì ghẻ, đuối tay đuối sức một chút là bị phạt rồi. Mỗi lần con nằm chực ở ngưỡng cửa cho bạn bè bước qua, cúi mặt xuống hôn đất để tạ lỗi, con lại nhớ đến ngày ở nhà được bố mẹ nuông chiều. Sao con lại tự đưa mình vào chốn khổ, khổ mà chẳng được ơn ích gì. Họ mặc áo bà dòng khấn khứa từ sáng đến tối mà vẫn tằng tịu với người khác giới, có người uống thuốc thôi thai, có người đi đẻ giấu, có người còn đang tay bóp chết con nhỏ. Mẹ Nhất cũng có nhân tình. Con chẳng tin vào ai cả. Con chẳng tin có cái gì khác ngoài những điều mắt con trông thấy, đời con thế là hết rồi…”

Chỉ một năm sau gặp bố, nữ tu Huệ chết trong một cơn “giãy giụa đau đớn”.  Một nơi địa ngục trần gian, đầy xấu xa và tội lỗi như vậy mà lại là một nhà nữ tu thì quả thực liệu người ta có thể tin vào sự trung thực của ông Nguyễn Khải chăng? Điều đó hoàn toàn có thể kiểm chứng được bởi lẽ nơi cô nữ tu bị đầy đọa trong suốt hơn mười năm trời là một địa chỉ cụ thể, theo như tác giả là thôn Bái thuộc Bùi Chu. Nếu một cuộc điều tra chính thức được mở ra, ông nhà văn rất có thể ra Toà về tội vu cáo.

Sau nữ tu, đến lượt các đấng chăn chiên bị bôi bác. Trước hết ông nhà văn giễu Toà thánh:

“Người ở thôn Hỗ vẫn coi cái địa phương xa lắc ấy còn ruột thịt hơn cả quê hương mình, còn thiêng liêng hơn chính linh hồn mình và ràng buộc mình bằng trăm ngàn sợi dây bền chắc”.

Thậm chí ông nhà văn còn giở giọng xỏ xiên:

“Hầu như đức Giám ở Bái kêu khát, con chiên ở Hỗ đã thấy cổ mình se lại; đức Giám mục đi vấp, con chiên ở đây đã thấy đầu ngón chân mình rớm máu; đức Giám mục se mình, người ta đã đồn đại nhau với nét mặt lo âu. Ngay đến những quyết định hệ trọng nhất của đời người như nên sống thế nào, nên đi theo đường nào, họ cũng tuỳ thuộc vào cái đầu đội mũ hàm ếch lắc hoặc gật. Hình như cái gậy vàng của Giám mục đối với xứ Hỗ còn có hiệu lực sai khiến hơn cả chính con chiên ở Bái”.

Và rồi ông nhà văn vẽ nên “chân dung biếm họa” của Đức Giám mục:

“Người xứ Hỗ chỉ được nom dung nhan đức Giám khi người xuất hiện ở bàn độc, trịnh trọng trong bộ áo lễ rực rỡ, chỉ được nghe lời nói dịu ngọt và đầy sức quyến rũ của người qua những bức thư luân lưu, còn ở Bái thì người ta lại kháo nhau về những tính tình quá trần tục của từng cha một. Rằng cha giám quản thích ăn trứng trụng sôi, mỗi sáng có thể mút hàng chục quả với muối. Rằng không những đức Cha chỉ biết đưa bàn tay cao quý cho kẻ khác hôn vào mặt nhẫn, mà cũng những ngón tay nuột nà ấy còn biết xấp nước bọt đếm tiền nhanh như nhân viên ngân hàng…”

Quả thực người ta thật khó hiểu vì sao nhà văn Nguyễn Khải lại “ngậm một khối hờn căm” đối với Thiên Chúa giáo đến vậy. Người ta cho rằng chính vì ông là thầy tu xuất đi theo Đảng nên phải luôn luôn tỏ ra khinh ghét Thiên Chúa giáo để bày tỏ sự dứt khoát “chia tay ý thức hệ” của mình, sự trung thành một lòng theo Đảng của một con chiên đã từ bỏ Chúa.

Một nơi của nhà thờ làm ông nhà văn “ngứa mắt” không thua gì Toà Giám mục chính là chủng viện. Ta hãy coi ông tả:

“Ở cái trường đạo nổi tiếng ấy anh sẽ được thăm những dẫy nhà ăn hôi mốc, tanh tưởi như mùi chiếc đũa tre lâu ngày không rửa, những đứa bé đứng ngồi, ăn húp, cười đùa gõ bát gõ đũa như những kẻ mất dạy…”

Than ôi, chủng viện là nơi nhà thờ đào tạo tu sĩ đâu đến nỗi như  trại tạm giam trẻ móc túi ở Chí Hoà vậy?

Và đây là nhà ngủ của các học sinh chủng viện:

“Những dẫy nhà ngủ chiếu cuộn lại từng đống trên giường, dưới đất, hoặc nửa ở trên giường, nửa ở dưới đất, những cái gối gỗ bong sơn, những chiếc thập giá nằm dài ở đầu giường mệt mỏi…”

Giường chiếu đã như thế, sách vở còn tệ hơn:

“… những kinh sách do chính toà giám biên soạn truyền bá đạo lý của nhà Chúa và những sự vô luân của quân cộng sản, những truyện trinh thám, kiếm hiệp, ái tình từ cái đời thủa nào vẫn được lưu lại…”

Đi sâu vào chủng viện còn kinh hãi hơn:

“Sau những dãy nhà lắm ngách lắm cửa tối hun hút và bí hiểm kia, còn những lớp nhà phía sau nữa, những lớp nhà dài dằng dặc và trống rỗng đặc biệt vẫn có cái mùi hôi mốc quen thuộc, thứ mùi của sự ngưng trệ, lười biếng. Ở tận một xó, một xó bị bỏ quên trong vùng tối bùng nhùng ngay giữa cả lúc trời nắng vang lên những tiếng cười lạc lõng: hai ông bõ già đang ngồi ăn cơm, một người to béo mặt mùi sần sùi vừa câm vừa điếc lúc nào cũng nhìn người  khác với nụ cười khó hiểu và một người tay bưng bát cơm cứ run rẩy như trong cơn sốt, vừa ăn vừa ho vung vãi…”

Người của chủng viện đã tật nguyền và tâm thần vậy, đến con chó của chủng viện cũng không ra hồn…con chó:

“Dưới chân họ một con chó đen đã gần trụi hết lông, trơ ra những đám thịt héo hon đen tím, mắt đầy nhử, quanh ra quanh vào chậm chạp, thấy người lạ nó cũng chỉ đưa được đôi mắt kèm nhèm như van vỉ nhìn lên một thoáng rồi lại cúi xuống tha thẩn như cũ, đụng đầu vào cột, vào bậu cửa như một người đã lẫn cẫn…”

Con chó chủng viện đã như chó hoang vậy, tu sĩ trong chủng viện cũng chẳng hơn gì những kẻ tâm thần:

“Nhưng đêm đến, cái xác chết tưởng như sắp thối rữa kia khi đã ngửi thấy mùi ẩm ướt của bóng đêm lập tức hồi sinh lại một cách nhanh chóng. Những khung cửa tối om bỗng đỏ rực lên như hàng trăm con mắt lóng lánh. Ở nhà họp công cộng trên tầng gác, bàn ghế đã được kê lại ngay ngắn, học sinh ngồi nghiêm chỉnh trên các ghế. Và cái anh tu sĩ tầm thường của ban ngày, cái anh gầy gò, nhai trầu bỏm bẻm lúc nào cũng có cái điệu bộ ngớ ngẩn, ngu dại nói lắp bắp, dưới  ánh đèn của ban đêm đã thay đổi hình dạng. Anh ta nhìn từng dãy ghế xoi mói, thuật lại một cách hoạt bát những việc xảy ra trong ngày…”

Thầy đã thế còn trò cũng xấu xa không kém:

“Quả thực cái bọn học trò đã trở thành một lũ lưu manh ấy không thích về với bố mẹ chúng thật. Bây giờ học làm thầy chúng cũng không thích, học văn hoá lại càng đáng chán hơn. Phải học, dù học gì cũng là gò bó, trói buộc rồi. Chúng chỉ ao ước cái thời kỳ giằng co với cộng sản sẽ kéo dài nữa. Chỉ mong được sống mãi mãi như thế này: ăn thoả thích, chơi bời thoả thích, nói năng bậy bạ, tục tĩu thoả thích và đêm đêm lại tập hợp nhau làm những chuyện ly kỳ…”

Than ôi, trường đào tạo linh mục của nhà thờ sao mà tăm tối, bệ rạc và chủng sinh thì lưu manh quá vậy? Bôi đen chủng viện đến như thế thì phải nói ngòi bút của Nguyễn Khải là đệ nhất thiên hạ.

Cái nhà trường của giáo xứ bị Nguyễn Khải mô tả “dơ dáy, xấu xa và vô tích sự” đến thế nhưng mà lo lắng nó “đào tạo gián điệp, phản động” nên Nhà nước vẫn cứ khăng khăng giải tán nó. Trước hết “uỷ ban triệu tập những gia đình trong xã có con đi học ở chủng viện Bái đến thảo luận và thi hành quyết định của tỉnh.”

Cứ căn cứ vào chế độ chính sách tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ thì việc giáo dân cho con em mình đi học tại chủng viện là chuyện bình thường, vậy mà khi bị triệu tập, họ vẫn phải tới trong tâm trạng lo sợ.

“Thời gian chờ đợi cũng lâu, những người đến trước không trò chuyện, đùa bỡn như ở các cuộc họp khác. Họ chỉ lặng lẽ nhìn nhau như những kẻ mất hồn, làm ra vẻ đờ đẫn, ngây dại… Người ta dò hỏi nhau bằng con mắt, nghe ngóng một cách lo âu những việc sẽ xảy ra và dành sự suy nghĩ cho những mưu mô sắp đem đối phó…”

Nguyễn Khải đã mô tả chính xác tâm trạng người dân khi phải tới “cửa quyền” theo lệnh triệu tập của Uỷ ban. Họ lo lắng, khép nép, rúm vào nhau chứ làm gì có tinh thần “làm chủ” như sách báo vẫn tuyên truyền:

“Môn, Chủ tịch xã mở đầu, nét mặt đã cau có:

“Chúng tôi đã cử người đi mời từ chiều hôm qua, vậy mà chỉ có – Môn ngừng lại đưa mắt đếm một lượt – hơn 10 gia đình…Sao các bà lại ngồi túm vào một góc thế? Ghế đây! Rộng rãi bao nhiêu. Đã đi họp thì phải ngồi cho đàng hoàng thì nghe mới lọt vào tai chứ. Nào, mời các bà ngồi dịch lại đằng này…”

Vậy là giữa dân và chính quyền đã có một bức tường ngăn cách, một đằng cố tránh ra xa, một đằng cố kéo lại, không phải vì sự thông cảm mà là để “làm việc”. Thấy dân tránh xa mình như tránh dịch, viên Chủ tịch xã càng nóng nảy:

“Các bà cứ đi nghe những chuyện nhảm nhí đâu đâu rồi lại thắc mắc với Chính phủ, với Uỷ ban. Uỷ ban cho người đến tận nhà mời lại nói chuyện thì viện cớ từ chối. Chính quyền là công bộc của nhân dân, nhưng nhân dân cũng phải biết vâng lời chính quyền chứ …”

Nhà nước rất giỏi trong giáo dục đào tạo cán bộ. Một mặt cán bộ răm rắp phục tùng cấp trên thực hiện đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng tức là vắt kiệt sức lực nông dân trên đồng ruộng và tước đoạt mọi của cải vật chất, chỉ để lại vừa đủ sống lay lắt, mặt khác miệng lúc nào cũng leo lẻo “vì nhân dân phục vụ”, “cán bộ là đầy tớ dân” một cách rất … thành thực. Bởi thế ông Chủ tịch xã Môn rất cáu kỉnh vì sao “chính quyền là công bộc của dân” vậy mà dân lại cứ…sợ, cứ né tránh chính quyền như thế ? Và thế là ông ta thò ngay cái bộ mặt trấn áp ra:

“Được, những gia đình nào không cử người đến chúng tôi sẽ có cách, phải cảnh cáo. Trên không ra trên, dưới không ra dưới thì còn thành thể thống gì nữa. Dân chủ nhưng phải có kỷ luật…”

Vậy là bản chất “chuyên chính vô sản” bên trong con người cán bộ đã bộc lộ ra hết. “Dân chủ nhưng phải có kỷ luật” – đó chính là dân chủ tập trung, dân chủ xã hội chủ nghĩa bao năm nay Đảng đã áp đặt lên đầu lên cổ dân. Sau cùng, ông Mẫn, cán bộ trên huyện cử xuống cũng huỵch toẹt ra rằng “trong khi nhà trường chuẩn bị một chương trình dạy văn hoá đầy đủ thì phải giải tán số học sinh hiện nay.”

Và ra lệnh cho phụ huynh học sinh:

“Vậy như ở xã ta đây, các ông các bà đã cho gọi các em dưới ấy về chưa ? Chẳng lẽ cứ để chúng nó chơi bời dông dài mãi. Về nhà học thêm được ngày nào lợi ngày ấy.”

Như thế là “ý đồ” của cán bộ huyện đã rõ: khi chưa dám công khai giải tán chủng viện thì chơi trò lén lút áp lực với dân rút con em về không cho học nữa. Ông ta còn giở giọng đểu cáng:

“Chúa gọi thì nhiều Chúa chọn có mấy, trăm người may đỗ cụ được vài người…”

Một bà là phụ huynh của học sinh chủng viện nghe ngứa tai quá, phản ứng lại:

“Thưa với chư ông, cho con đi tu cũng chẳng mong gì con đỗ cụ để làm bà cố đâu ạ. Số mệnh nó đã do Chúa định thì giao phó cho nhà Chúa. Chúng tôi là kẻ làm cha mẹ chẳng dám ân hận điều gì…”.

Đó thật là một cái tát vào mặt cán bộ, bởi suy bụng ta ra bụng người, cán bộ cứ cho rằng bà con cho con cái đi học chủng viện là sau này “đỗ cụ”, làm “ông nọ bà kia” mà thực ra bà con chỉ mong giao phó con cho nhà Chúa vậy thôi.

 

Tuy nhiên câu nói như cái tát tai của người dân hoàn toàn “nằm ngoài vùng phủù sóng” của ông Chủ tịch xã, chuyện “giao con cho Chúa” với ông là chuyện tầm phào, bởi vậy ông lại tiếp tục lên giọng mạt sát cái đám học sinh chủng viện:

“Các bà tưởng cái trường ấy chỉ có đào tạo người đi truyền giáo hẳn. Học đạo một phần, học làm kẻ thù của cách mạng chín phần…”

Trong thâm tâm phần lớn cán bộ Nhà nước thấm nhuần “chủ trương chính sách của Đảng” , tất cả những ai theo đạo Thiên Chúa đều là kẻ thù, là phản động, là gián điệp, nhất thiết phải có ranh giới “bạn thù” dứt khoát:

“Thử hỏi những đứa do công an tóm được đi kẻ khẩu hiệu, dán truyền đơn chống cộng là ai, toàn học sinh chủng viện cả ”.

Rồi ông Chủ tịch xã giở giọng xuyên tạc, doạ nạt bà con:

“Khi đi chúng là người tử tế lúc về hoá ra thằng ma cà bông. Các bà có muốn con các bà đi một bước công an phải theo dõi một bước không ?”

Đám quần chúng ngoan ngoãn và cam chịu nhưng khi nghe cán bộ mạt sát con cái họ cũng phải ngẩng mặt dậy.

“Một bà gầy gò, vấn khăn trắng ngồi gần mé đèn lên tiếng:

“Ông nói như thế chúng tôi không được đồng ý. Lúc nó ở nhà có một, đi học về lại gấp năm gấp mười, hẳn hoi, tử tế. Thực thà là không thấy nó ăn nói cấc lấc điều gì, bố mẹ cũng phải nể con chứ không nói  khác…”

Như vậy lại thêm một cái tát nữa vào cái miệng nói láo của ông Chủ tịch. Giá như còn chút liêm sỉ, hẳn ông sẽ phải thấy xấu hổ vì sự vu cáo của mình bị lật tẩy. Đằng này đuối lý, ông Chủ tịch giở giọng “chính quyền” với kẻ vừa cả gan cãi hắn:

“Bà Đỗ có định gọi cháu nó về nhà không? Niên học mới thì chưa đến, nhà trường chưa khai giảng vậy còn để con nó ở đấy làm gì ?”

Đứng trước cường quyền, người đàn bà vẫn không chịu khuất phục nhưng đành phải mềm dẻo:

“Thưa với ông, cháu đã nhất quyết đi tu, không gánh vác phần đời, không màng chuyện thế gian, là tự do tín ngưỡng của nó, tôi nào nỡ gọi nó về, phải tội chết…”

Nghe mấy chữ “tự do tín ngưỡng”, ông Chủ tịch giật mình vì nó nằm trong “chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước”, hắn vội ngắt lời và chuyển câu hỏi sang hướng khác:

“Bà có chắc rằng cậu ấy chỉ đi tu chứ không làm việc gì khác?”

Ông Chủ tịch hỏi một câu rất khôn, gạt ngay chuyện “tự do tín ngưỡng” đi cho khỏi vi phạm “chính sách tôn giáo” của Đảng để chuyển ngay sang chuyện “truy tìm phản động”. Hắn cười  gằn, giở giọng đe doạ:

“Bà có biết những người có trách nhiệm ở đây đã dùng con bà vào việc gì không? làm liên lạc đưa tài liệu tin tức chống cộng đấy. Vụ hè vừa rồi con bà về mang cả một bản kinh “cầu cho giáo hội im lặng” đút vào trong giầy ống. Nó mới mười lăm tuổi đầu, còn ngây thơ lắm. Chớ để nó đi sâu vào con đường lầm lạc rồi sau này nó oán trách bố mẹ đấy…”

Thấy chính quyền chụp cho con tội “phản động” tầy trời, bà mẹ hoảng sợ không còn dám cãi nhau tay đôi với ông Chủ tịch xã nữa, “đành chỉ thở dài uất ức rồi lại ngồi nén mình như cũ”. Ông Chủ tịch ép đến tận cùng:

“Nếu các bà không đi được thì cứ viết thư cho các cháu, uỷ ban chúng tôi sẽ cử cán bộ đi đón về…”

Đây là một thủ đoạn rất nham hiểm, một khi nắm được những lá thư gọi con về của bố mẹ, Uỷ ban sẽ có cớ để dẹp bỏ cái trường chủng viện kia một cách êm thấm mà vẫn không phạm vào chính sách “tự do tín ngưỡng của Đảng và chính phủ”. Chắc hiểu rõ dã tâm của tên Chủ tịch xã, người mẹ chối phắt:

“Dạ không dám ạ, cháu nó bé còn phải mang xống áo cho cháu …thật tình không dám phiền đến Uỷ ban…sợ cháu nó không chịu về lại thêm mất  thời gian”.

Vậy nhưng ông Chủ tịch vẫn dai như đỉa, giở giọng nhân nghĩa:

“Uỷ ban chịu phiền cũng được, miễn là phục vụ được nhân dân… Mất đến nửa tháng cũng chẳng sao. Nếu bà đồng ý mai chúng tôi sẽ cho người đi…”

Nhưng người dân đời nào chịu “gửi trứng cho ác”, giao con cho uỷ ban với du kích, người mẹ bị dồn vào chân tường, sau cùng cũng đành phải chống lệnh của chính quyền:

“Thưa với các ông, tôi xin thưa thực là tôi không có quyền phép gì gọi cháu nó về. Trước đây nó là con tôi đẻ ra, nhưng  bây giờ thì nó là quân lính nhà Chúa. Nếu nhà có ơn phúc thì nó cứ đàng ngay lối thẳng mà đi, nhược bằng phận mỏng đức bạc, làm chuyện bậy bạ thì Chính phủ cứ việc bắt bớ bỏ tù, vợ chồng tôi không dám thắc mắc…”

Do đã quá nhiều kinh nghiệm xương máu với chính quyền, do đức tin với Chúa, người dân đã mềm mỏng bẻ gẫy được âm mưu thâm độc giải tán chủng viện của Đảng và Nhà nước.

Sau khi giở giọng“chính quyền” ra lệnh, vu cáo, doạ nạt, vẫn thất bại, ông Chủ tịch xã thay đổi chiến thuật, giở giọng mẹ mìn, “đồng chủng đồng bào” để cố lay chuyển bà con:

“Tôi với các bà tuy không cùng máu mủ, ruột thịt nhưng dù sao vẫn là người làng… Bây giờ các bà chỉ nhìn tôi là anh chủ tịch hay gây gổ, cái thằng khô đạo nhưng một ngày kia nếu tôi và các bà gặp nhau ở một nơi nào thật xa, như trong Nam chẳng hạn thì chắc là lúc ấy chẳng ai còn nghĩ đến những điều nghi kỵ bực dọc ngày hôm nay mà chỉ thấy quý mến nhau, tin cậy nhau vì là người làng, cùng quê…”

Không đầy hai chục năm sau, câu nói trên đã được “chứng nghiệm” khi những ông Chủ tịch kiểu như Môn theo chân “giải phóng miền Nam” vào làm quân quản ở những xã công giáo như huyện Thống Nhất, Đồng Nai, lúc đó chẳng những “nghi kỵ, bực dọc” nhân lên gấp bội mà còn ra sức đầy đoạ, hành hạ  người dân khiến làng đạo lại phải tìm cách vượt biên để một lần nữa chạy trốn cộng sản.

Hòng lung lạc người dân, ông Chủ tịch lại tiếp tục thở ra giọng mẹ mìn:

“Cái tình quê hương đối với con người ta thắm thiết lắm, chứ không thờ ơ được đâu. Nếu tôi không nghĩ đến quê hương thì đã sinh cơ lập nghiệp tận đẩu tận đâu chứ còn mò về cái làng này làm gì để chịu khổ sở đói khát. Nếu không nghĩ tới làng xóm thì tôi cũng đã xin rút lui công tác từ năm nọ kia chứ chẳng phải đợi ai đánh đổ. Tôi năm nay bốn mươi chín rồi. Ở đây tôi chỉ kém tuổi có bà Bân thôi, đâu cách nhau gần một giáp thì phải. Đời tôi lăn lộn nhiều, đã từng nếm đủ mùi cay đắng cơ cực, cái cao xa chẳng nói làm gì, còn cái trước mắt thì tôi không thể lầm được… Các bà hãy tin ở lời khuyên của tôi …”

Sau khi đã “nam mô” lâm li một hồi như vậy, ông Chủ tịch xã lại giở giọng phù thuỷ:

“Các bà hãy tin vào lời khuyên của tôi. Đã đành chúng nó không phải là con tôi nhưng chúng là người của xã này, là người của làng tôi, làm ngơ thế nào được khi biết chúng đi vào con đường tồi tệ… Mình giác ngộ hơn nó mà không bày vẽ chỉ bảo cho chúng nó thì cái tội của nó chính là cái tội của mình, tôi sẽ có lỗi trước bà con…”

Cái khó của ông Chủ tịch xã là làm sao vừa kết án được chuyện “đi tu” để ông có cớ giải tán chủng viện, nhà tu mà lại vẫn không phạm vào chính sách “tự do tín ngưỡng của Đảng”. Ông lý luận:

“Đi tu, ừ, đã đành chính sách không cấm, quyền tự do của mỗi người. Nhưng vì lẽ gì mà phải tu, chán đời ư, không kiếm được cơm ăn áo mặc ư, thiếu gì việc. Con trai bằng lứa tuổi chúng nó người ta đeo huy hiệu Đoàn, ao ước được thành bác sĩ, kỹ sư, ao ước được bay nhảy đây đó, còn chúng nó co lại trong chiếc áo dài thâm, sáng khấn, tối khấn, có bố mẹ mà không được nuôi nấng, có quê hương không dám nghĩ đến ngày về, có thể lấy vợ đẻ con thì lại làm tội mình cho đến chết…”

Say sưa bài bác cái áo thầy tu đến thế này không hiểu là tâm tư của nhân vật Chủ tịch xã hay là của chính ông nhà văn Nguyễn Khải?

Kết thúc bài “diễn văn” lên án đám học sinh chủng viện, ông Chủ tịch xã cao giọng:

“Chỉ đọc kinh mà sống được ư? Ai cho nó ăn, ai cho nó mặc, vẫn là nhân dân. Còn chúng nó thì làm gì cho nhân dân? Chẳng làm gì cả, một bọn ăn bám, cái lưng dài thườn thượt, cái chân cái tay bủng beo vì bệnh lười…”

Lời mạt sát của ông Chủ tịch bộc lộ một điều: Nhà nước toàn trị không cho trẻ con đến tuổi cắp sách đến trường nằm ngoài sự “quản lý của Đảng”. Dẫu rằng nó vẫn ăn cơm của bố mẹ nhưng nó phải vào Đoàn, phải đi học dưới “mái trường xã hội chủ nghĩa”, nếu không nó sẽ bị coi là “ăn bám” − ăn của bố mẹ thì vẫn bị coi là “của nhân dân”.

Sau khi dùng chán chê “lý lẽ của đời” để doạ nạt, lung lạc nhưng người mẹ vẫn không chịu gọi con về, ông Chủ tịch xã chuyển sang bài bác “lý lẽ của đạo” mong “cắt cơn nghiện của nhân dân” (ông Mác chẳng đã nói “tôn giáo là thuốc phiện” mà!):

“Tôi cũng là người công giáo đấy, nhưng nói thất lỗi với các bà, các ông, tôi không bao giờ tin được là có Chúa thật. Nếu bảo bất cứ việc gì đều được  lên trời thì tại sao vệ tinh của Liên Xô lại bay được lên trời, vậy ra Chúa ủng hộ cộng sản ư? Chúa ủng hộ vô thần ư? Tại sao Toà Thánh là đất Chúa ngự không phóng một vệ tinh bằng quyền phép thiêng liêng của Chúa cho thiên hạ thêm lòng tin cậy. Chẳng có gì cả đâu…”

Đúng là chỉ có một đầu óc tăm tối, vô thần, tư duy không vượt qua các “chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ” như của tên Chủ tịch xã này mới đẻ ra một lý lẽ “bài bác Chúa” ngu muội đến như vậy. Và đây là sản phẩm của “chủ nghĩa duy vật thô sơ” đã được cài đặt vào đầu cán bộ:

“Ai có trình độ khoa học cao, ai lao động giỏi thì kẻ ấy làm được việc kỳ lạ. Cha Thuyết bị sưng gan chín phần chết, một phần sống, vậy ai cứu được mạng của cha? Chính phủ ta, các bác sĩ Liên Xô, toàn những người vô thần cả. Chính cha cũng đã từng nói với tôi: Bố mẹ sinh ra lần thứ nhất, các bác sĩ Liên Xô sinh ra lần thứ hai…”

“Cha tuyên uý” của chủ nghĩa “duy vật biện chứng”, chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng, tín đồ trung thành của chủ nghĩa maoít-stalinnít − Chủ tịch xã Môn cứ thế “giác ngộ” cho đám quần chúng đang bị “tôn giáo ru ngủ”:

“Ngay đến các cụ đạo ngày ngày đứng trên toà giảng vị tất các ông ấy đã tin chắc là có Chúa thật, nếu họ tin sẽ có ngày phán xét chung thì vía cũng chẳng dám làm bậy, chẳng dám nằm với người nữ, chẳng dám cầm súng bắn giết con chiên, moi tiền của kẻ khó…”

Để kết thúc bài diễn văn hùng hồn kích động con chiên bỏ đạo, công kích nhà thờ, ông Chủ tịch xã sổ toẹt:

“Bịp bợm cả. Các bà tin được tôi thì tin, không thì thôi, nhưng sau này các bà sẽ thấy lời tôi nói hôm nay là đúng. Xã hội người ta cứ tiến chứ có ai chờ con các bà giác ngộ rồi người ta mới cất bước đâu…”

Than ôi, đã gần nửa thế kỷ trôi qua, “xã hội người ta cứ tiến” – người ta đây có thể hiểu rộng ra là thế giới, mà các “đồng chí” kiểu như Chủ tịch xã Môn vẫn còn u mê với các chủ thuyết “đấu tranh giai cấp” và “xây dựng chủ nghĩa xã hội” là ba cái thứ rác rưởi loài người đã loại bỏ.

Và cái lối “giáo dục cưỡng ép” ấy, tất nhiên không bao giờ chinh phục được con tim và khối óc của người dân:

“Trong các cuộc họp người ta đến miễn cưỡng, uể oải, cái xác ngồi đấy, nhưng tâm thần để tận đâu đâu. Họ không cần nghe cán bộ giải thích, đằng nào cũng thế, thuế vẫn phải đóng, đi dân công vẫn phải đi, nghe nhiều nào có lợi ích gì. Họ cứ sống như xưa kia họ sống…”

Giáo dân với Đảng và Nhà nước còn như vậy, linh mục với chính quyền tất nhiên là “xung đột” còn dữ dội hơn. Tuy nhiên, Nguyễn Khải chưa phơi bầy cho người đọc hết cái ác liệt của cuộc chiến giữa Toà thánh và Nhà nước, ông lại chỉ sử dụng ngón nghề quen thuộc: “vu cáo “ và “bôi  xấu”.

Một lần có hẳn một phái  đoàn 5 người gồm bốn linh mục và một tu sĩ ghé thăm xứ Hỗ. Đây là dịp ông nhà văn xây dựng chân dung các nhà tu hành. Trước hết là cha Thuyết, cha chủ nhà được một cha trong đoàn giới thiệu:

“Ông ấy vừa đi nằm nhà thương ở Hà Nội về. Phải mổ gan lọc mật mới sống sót đấy. Tôi thì cho rằng chỉ tại cái món thịt chó cả thôi. Ăn nhiều thịt chó dễ bị tích kén lắm. Cái giống ấy nó chẳng nhiệt quá mà…”

Vậy là một đấng chăn dắt linh hồn con chiên suýt chết vì… xơi thịt chó thường xuyên. Rồi đến một cha khác, cha Lân, khi ngồi vào mâm cơm thì mắt sáng lên:

“Ở đây cha cũng cho thả cá rô phi à. Cái giống cá ấy sinh sôi nảy nở đến nhanh. Nhưng cá này phải hầm hoặc om kỹ mới ngon, còn rán thì xương khí rắn… Bày vẽ quá lắm, biết thế chẳng báo trước; làm phiền cha chủ sự…”

Rồi lần lượt  cha giới thiệu “tâm hồn ăn uống” của các cha:

“Xin các cha cứ tự nhiên cho… Mỗi người một ý thích một tâm tính… Như đức cha người chỉ thích ăn trứng luộc, một lúc ăn hàng chục quả vẫn ngon lành. Tôi xin chịu. Cha Giản đi kiết thì chỉ nghiện chè bột sắn, cứ nấu một soong to, cha đủng đỉnh ăn cả ngày cũng hết. Cha Thụy ở trên tỉnh lại ưa món chim câu hầm, nhưng ông cụ không có răng, cứ nhấm nháp qua loa rồi nhè ra đĩa, lão bõ ở đấy chỉ ăn bã nhả ra mà béo trắng… Còn tôi thì được cái bình dân, toàn nghiện những món rẻ tiền như bánh đa mật chẳng hạn”.

Quả thực không biết ở cái xứ đạo nào mà ông bõ trong nhà thờ chỉ ăn bã do cha nhả ra mà… béo trắng thì thật nghề bôi xấu phải trao giải nhất cho ông nhà văn. Kinh hoàng hơn nữa là khi các cha bàn về món… tiết canh gà:

“Xin lỗi, các cha đã được ăn tiết canh gà bao giờ chưa ?”

Cha râu dài vừa nhai nhồm nhoàm vừa nói:

“Mới nghe lần đầu đấy. Chắc là tanh lắm hả ?”

“Lậy cha, cha lạc hậu quá. Thật tình rất thơm ngon…Rắn sần sật mà bùi lắm. Cái dân Hà Nội họ làm món ăn thì người khó tính đến đâu cũng phải vừa lòng…”

Hết món ăn rồi đến món uống. Cha sở tại, “sau vài hớp rượu da mặt ông càng đỏ rực mãi lên một cách đáng sợ, tưởng như bật được  máu tươi:

“Chính thế, nấu rượu được nếp thầu dầu thì quý hoá nhất – cha Thuyết đưa con mắt nhỏ tí, lóng lánh sáng nhìn mọi người – Vâng thưa các cha, ngon nhất đấy ạ, càng để lâu càng  đượm, càng thơm mà nước rượu cứ trong vắt như nước mưa. Còn nếp bắc thì chóng nhạt rượu lắm, nước rượu cũng đục…”

Than ôi, nếu các đấng chăn chiên, các đức cha linh hồn của mấy chục vạn giáo dân Bùi Chu – Phát Diệm mà tham ăn tục uống như trên thì đúng là cha …“quốc doanh”; tức các cán bộ tuyên giáo, công an chìm Đảng đưa vào trường của nhà thờ để học thành linh mục trà trộn vào hàng ngũ giáo phẩm “nắm tình hình”.

Tất nhiên năm ông linh mục này không phải “cha quốc doanh”, sau khi bàn chuyện ăn uống chán chê rồi họ mới bàn chuyện ứng phó của giáo hội trong xã hội cộng sản. Dưới ngòi bút Nguyễn Khải, họ đích thị là những tên biệt kích,  đám người phản động, đối tượng của cách mạng:

“Cha Lân ném một cái nhìn nảy lửa, đôi lông mày rậm trở nên dữ tợn, giọng ông ta đanh lại, độc ác, tàn nhẫn:

“Trong tay chúng ta còn những gì ? Chỉ còn lại mỗi cây thánh giá. Chúng ta chỉ trông cậy được vào Chúa và các đấng thánh thần. Còn quần chúng của ta, cái lực lượng mười vạn con người của chúng ta đâu rồi, vắng lặng bốn bề như tiếng gọi giữa sa mạc. May thay chúng ta còn một vũ khí sắc bén mà không một kẻ nào tước nổi, đó là cái lưỡi của chúng ta. Chúng ta hãy còn một khu vực tranh chấp mà không một kẻ nào dám đoạt lại: đó là Toà giảng của nhà thờ. Từ đấy chúng ta sẽ tiến công ra, sẽ chiếm đoạt lại tất cả…”

Như vậy nhà văn Nguyễn Khải đã vạch một chiến tuyến dứt khoát giữa giáo hội và Nhà nước – đó là một cuộc đối đầu “ai thắng ai”, “một mất một còn”. Mặc dầu xuất thân nhà dòng nhưng xem ra ông nhà văn hiểu biết về tôn giáo, nhất là Thiên Chúa giáo cũng chỉ ngang một anh cán bộ tuyên huấn nằm trong Ban tôn giáo Chính phủ mà thôi.

Cuộc đối đầu giữa “giáo hội” và “Nhà nước” bộc lộ ngay sau đó khi các cha vừa dùng cơm xong, ông bõ vừa bưng trà lên thì ông Chủ tịch xã Môn và ông cán bộ huyện Mẫn ập vào. Đã không xin phép được gặp, đã không báo trước sẽ tới, ông đại diện chính quyền xông vào phòng khách của Toà thánh khơi khơi như vào trụ sở Uỷ ban và lại còn hậm hực:

“Ghê thật, hội họp với nhau mà không thèm báo một lời cho uỷ ban biết. Có chứng cớ ông thử tóm cổ một lượt xem có trắng mắt ra không ?”

Vậy là trong “tim đen” nhà cầm quyền luôn luôn chỉ muốn “bắt” với “tóm cổ” sạch các cha để nhân dân khỏi bị “tôn giáo đầu độc”. Chưa có cớ gì để “bắt”, hai ông chính quyền mới chỉ đưa ra được yêu sách chủng viện phải dạy văn hoá cho chủng sinh, tất nhiên là cái thứ văn hoá “phổ thông trung học” của Nhà nước cộng sản, trong đó các môn học đều nặng mùi bài bác “tôn giáo là thuốc phiện” của chủ nghĩa Mác Lênin vô thần. Đòi chủng viện dạy văn hoá tức là phải dạy theo chương trình phổ thông của Nhà nước, do giáo viên Nhà nước vào dạy, tức muốn “nhuộm đỏ” cả trường học của nhà thờ. Một đòi hỏi thật ngang ngược.  Ông Mẫn, cán bộ huyện nói thẳng:

“Trước đây khi toà Giám mục xin mở trường cũng có đề ra chương trình một ngày học sáu tiếng giáo lý và hai tiếng văn hoá… Là đấng chăn chiên mà hiểu biết ít thì rao giảng cũng khó khăn…”

Cha Lân, đại diện cho Toà Giám mục phải “nói nhẽ nhọt”:

“Nhưng ông rõ cho, theo luật lệ toà thánh thì nhà trường không phải phục quyền các vua chúa phần đời, không để cho nhiễm thói tục phần đời. Trường đạo chỉ chịu quyền ở Toà Giám mục. Toà Giám mục lại chịu quyền ở Toà Thánh, không thể muốn thế nào cũng được… Ngay đến chương trình học từng năm kẻ làm thầy phải giảng giải những gì, đứa học trò phải đọc những sách gì đều do sự định liệu trước của Toà Thánh cả. Nói nôm na Toà Thánh cũng như chính phủ trung ương bên tôi ấy mà…”

Trước lý lẽ của linh mục, chặn bàn tay lông lá của Nhà nước vào chủng viện, ông Chủ tịch xã trở mặt, giở ngay ra cái chiêu bài chụp mũ “phản động” doạ nạt:

“Tôi xin hỏi cha, vậy như trước kia các ông cụ đạo đi làm tuyên uý trong quân đội Pháp hay làm sĩ quan có phải đợi lệnh của Toà Thánh cho phép không ?”

Doạ chán rồi, ông Chủ tịch xã nổi cáu: “Nói chuyện với bọn này cứ như người đấm bị bông, mất thì giờ mà chẳng đâu vào đâu…”. Ông cán bộ huyện Mẫn cũng vứt bỏ những lời đường mật thường dùng để giở giọng đe nẹt:

“Nếu như Toà Giám đặt mục tiêu cho cái trường ấy là nơi đào tạo những phần tử chống đối lại cộng sản thi tôi xin nói trước sẽ không bao giờ cụ giám quản đạt được ý nguyện đâu, mà có khi còn mang vạ vào thân là khác. Vì các cụ cũng biết đấy, pháp luật thì rất vô tư… nhà trường ngày nào cũng bắt các em làm bài chửi cộng sản, chửi các cơ quan nhà nước thì chúng tôi khó chịu đến đâu…”

Rõ thật là ngang ngược, trắng trợn đòi xâm phạm vào trường học của nhà thờ không được lại vu vạ là chủng viện “đào tạo phần tử chống đối cộng sản”. Ở một đất nước do Đảng toàn trị một khi đã bị nhà cầm quyền mang con ngoáo ộp “tội chống đối” ra doạ thì chỉ có nước bán xới khỏi xứ sở, bởi vậy ngay đến cha cố cũng phải xuống nước:

“Chúng tôi biết địa vị của chúng tôi lắm chứ. Chính phủ thì có trong tay nào quân đội, nào công an, còn chúng tôi thì chỉ có tượng thánh thôi. Chỉ mong đừng ai đụng chạm đến mình là mừng chứ còn chống đối gì.”

Rồi biết rằng nếu nhún nhường sẽ bị “nhà cầm quyền” lấn tới, cha đánh bạo:

“Chúng tôi thì cho rằng bắt trường đạo phải dạy văn hoá đó là một bước lấn của ông vào quyền hành giáo hội của chúng tôi…”

Và cha vạch trần “tim đen” của nhà cầm quyền:

“Đã dạy văn hoá thì ắt phải có giáo viên chứ gì. Tu sĩ của Trường thì lại không có bằng cấp, chẳng qua kẻ lớn dạy kẻ bé. Mà cử giáo viên ngoài giờ chúng tôi lấy làm e ngại … Nếu ông giáo viên theo đạo Thích-ca chẳng hạn, tất nhiên ông ta sẽ quan niệm về thế giới, về vũ trụ theo cái cách của ông ta. Hay nói cho rõ ràng hơn nếu ông ta là vô thần thì lại càng rắc rối. Vì ông ta có thể nói với học trò rằng thế giới này là do bàn tay lao động làm ra chứ không phải là do một đấng sáng tạo nên… ”

Lý lẽ của cha đưa ra làm ông cán bộ huyện cứng họng. Chính bản thân anh ta cũng thấy đòi hỏi đưa giáo viên vào dạy trong trường của nhà thờ là vô lý. Anh ta cho rằng:

“Tôn giáo và văn hoá quả thực có điều điều không thể đứng cạnh nhau. Chẳng lẽ lại giảng là trái đất vuông, qua lớp mây xanh kia là thiên đàng… Chẳng lẽ nói cây lúa mọc lên là do ý Chúa chứ không phải do phát triển biện chứng của nó. Chẳng lẽ nói con người là đất bụi hèn hạ chứ không phải là sinh vật cao quý…Một đằng dìm con người xuống, một đằng làm cho con người trở nên sáng suốt biết sống một cách có ý thức. Và có thể lấy thêm hàng nghìn thí dụ khác về sự đối lập không sao dung hoà được…”

Vậy là hiểu biết của “nhà cầm quyền” về tôn giáo mới chỉ dừng ở mức độ coi nó như một thứ “mê tín dị đoan” đúng là “thuốc phiện đầu độc nhân dân” đúng như ông thánh Mác-Lênin đã dậy. Chính vì vậy ông cán bộ nhìn các linh mục như quân thù:

“Có thể nói những người ngồi quanh cái bàn này đã tượng trưng được phần nào cho cái thế giới cha cụ hết sức phức tạp của địa phận Bái. Có những tên chống đối cách mạng đến điên cuồng; có những người còn bán tin bán nghi… nhưng giữa cái đám hùm sói ấy họ cũng không dám lên tiếng, vì lòng dũng cảm của họ còn ít quá, họ còn cân nhắc quá nhiều đến cái địa vị và uy tín giả dối của mình…”

Sau cùng vì sợ lộ mặt đàn áp tôn giáo nên chính nhà văn Nguyễn Khải cũng bỏ lửng không dám nói rõ liệu nhà cầm quyền có ép được chịu cho nhà nước đưa giáo viên vào dạy văn hoá hay không?

Cả 2 tập tiểu thuyết “Xung đột” đại khái cứ xoay quanh chủ yếu những “xung đột” mà ông nhà văn tưởng tượng ra như thế. Những xung đột vặt vãnh không hàm chứa được một tư tưởng gì cao siêu hơn là chê bai, mạt sát Thiên Chúa giáo ở tầm cảm hứng của một anh cán bộ tuyên truyền thực hiện đúng giáo huấn của Đảng “tôn giáo là thuốc phiện”. Nhân vật của tiểu thuyết chia làm hai “phe” địch – ta rõ ràng. Một bên là các cha Thuyết, cha Lân, cha Bản…tham ăn tục uống và đều là những kẻ nhát sợ trước cường quyền. Một bên là Môn, Chủ tịch xã, Nhàn, Phó Chủ tịch, Mẫn… cán bộ huyện… người nào người nấy ngùn ngụt ngọn lửa cách mạng muốn xông lên xoá sạch nhà thờ để… xây dựng hợp tác xã. Dù là ở bên này, hay bên kia, mỗi nhân vật “tiểu thuyết” của Nguyễn Khải đều chỉ là cái loa phát thanh tư tưởng “cách mạng hơn cả ông Các Mác” của ông. Thay vì ông cho nhân vật sống như một con người trong cõi nhân sinh trong tất cả những buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh của nó, ông lại chỉ cho nó nói ra đằng mồm cái tinh thần cách mạng mà Đảng đòi hỏi ở các cán bộ.

Nhân vật chính được chăm chút nhất trong truyện là Chủ tịch xã Môn. Ông ta như một cái đầu máy xe lửa lúc nào cũng sôi sùng sục những… “chủ trương, chính sách” của Đảng: “Tôi không có cái lối xã giao lịch thiệp cha cha tôi tôi tay bắt mặt mừng rồi. Dứt khoát coi các anh là đối tượng phải trấn áp. Gọi anh đến trụ sở uỷ ban ra điều kiện. Một: có chịu dạy văn hoá cho các em học sinh không? Thứ hai: có chịu giải tán số học sinh hiện nay không? Toàn con cái địa chủ, phú nông, việt gian, ngụy quân ngụy quyền cả…”.

Nhân vật thứ hai cũng được “khắc hoạ công phu” là chị Phó Chủ tịch Nhàn. Chị này lấy “công tác cách mạng” làm lẽ sống ở đời: “Vậy mình là gì? Là cán bộ xã, cán bộ huyện, là chính phủ của địa phương mình… Bây giờ công tác là niềm vui của em…”

“Xung đột” tập 1 và 2 của Nguyễn Khải một thời được giới phê bình trong nước kéo lên mây xanh, được nhắc tới như một thành tựu văn học cách mạng, được coi như một tiểu thuyết sáng giá được đưa cả vào sách giáo khoa dạy trong trường phổ thông và đại học.

 

2

 

 

Sau “Xung đột”, Nguyễn Khải viết tiếp một cuốn tiểu thuyết khác, khá nổi tiếng cũng về thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp: “Chủ tịch huyện” (1972).

Mặc dầu tên tiểu thuyết là “Chủ tịch huyện” nhưng chương một mở đầu lại chuyên viết về “Chủ tịch xã”. Đó là một “chủ tịch xã trẻ và tính toán giỏi nhất huyện…Con người tài giỏi đã bắt đầu nghĩ: vắng tôi mọi việc đều không ra gì …”

Trước hết cái “tài giỏi” của anh Chủ tịch xã tên An chỉ “áp dụng” được vào việc công, việc trong xã thôi, còn việc nhà thì anh ta lại rất dở. Hai vợ chồng anh có cái ao thả cá, khi bắt đầu tát, anh  tính toán chắc phải được hơn vạn con, nào ngờ tát lên chỉ được khoảng hai ngàn. Ông Chủ tịch xã làm kinh tế gia đình thế là lỗ nặng. Vậy nhưng ngược lại, khi làm “kinh tế” cho toàn xã, ông Chủ tịch này lại rất tài giỏi. Cái kiểu “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” theo nhà văn đó cũng là phẩm  chất “cộng sản” của anh cán bộ.

Vậy Chủ tịch xã được nhà văn Nguyễn Khải khen và ca ngợi đó sự thực “tài giỏi” ra sao? Trước hết ông ta xắn quần lội ruộng để kiểm tra và một lần bắt gặp “hai sào ở đồng Con Cú của đội hai, cày còn dối lắm, chỉ vài xá vòng quanh”, lập tức Chủ tịch xộc ngay đến nhà ông Chủ nhiệm hợp tác xã để vạch tội. Ông Chủ nhiệm lại cho gọi thợ cày đến. Anh thợ cày đành phải thú nhận đã cày dối làm mọi người phục lăn ông Chủ tịch xã đi sâu đi sát.

Lần khác, ông Chủ tịch xã sau 3 tháng nằm viện về, nghe tin mức bán thóc thuế nghĩa vụ của các hợp tác xã trong xã còn thấp, lập tức ông ta cùng kế toán lặn lội tới từng hợp tác xã để tính toán lại mức thu nhập và quả nhiên họ đều phải nâng cao mức bán thóc nghĩa vụ cho Nhà nước.

Cũng trong thời gian ông Chủ tịch xã nằm viện, ở nhà ông Phó Chủ tịch đã “ngã giá mua năm gian nhà ngói của ông Cẩm với giá bốn nghìn đồng để rỡ ra làm trường học”. Chủ tịch xã An đi viện trở về nhất định không chịu giá đó và quyết định chỉ mua với giá… hai nghìn đồng mà gia chủ cũng đành phải bán.

Một lần chủ nhiệm hợp tác xã An Lạc Hạ “lên xin uỷ ban cho phép mổ con lợn năm chục cân lấy thịt cho xa viên ăn”. Mặc dầu ông Phó Chủ tịch xã tên Như đã đồng ý cho phép mổ, nhưng ông Chủ tịch xã An đi công tác về khăng khăng không cho mổ là vì “mổ rồi, nuốt vào bụng rồi mà không thu được đủ phiếu thì cũng đến cười xoà với nhau…”. Vậy có nghĩa là muốn mổ lợn, ông Chủ nhiệm phải được duyệt “phương án chia hoa lợi” cái đã.

Một lần khác, ông Trưởng phòng lương thực xuống xã đề nghị ký hợp đồng xay thóc kho. Lại một lần nữa ông Chủ tịch xã trẻ tuổi lại tỏ ra xuất sắc vì biết tính toán tới cả “chín xu một cân điện, vị chi là chín hào. Lại còn tiền dầu luyn. Ba ngày phải thay một lần dây cua-roa bốn mét, mỗi mét mười hai đồng. Lời lãi đâu mà nhiều…”. Mặc dầu “tài năng tính toán” của ông Chủ tịch xã chỉ có “nhiêu đó”, nhưng ông Chủ tịch huyện đã như mở cờ trong bụng: “Đấy! Cán bộ xã của huyện này như thế đấy! Thật là hiện đại nhé! Mặc dù máy xay chưa về đến xã, mà hắn ta đã biết lui tới như một ông Giám đốc thực thụ vậy…”

Ngày nay coi lại chân dung ông Chủ tịch xã được coi là xuất sắc tài giỏi này, người đọc phải bật cười. Hoá ra tài năng của ông đứng đầu chính quyền một xã chỉ là đi xét nét thợ cày, tính toán sao cho Nhà nước bóc lột dân được  nhiều hơn nữa, xét duyệt cho hợp tác xã mổ trâu, tính toán giá công xay thóc… Nếu chỉ bằng vào những khả năng đó thì trình độ ông Chủ tịch xã “xuất sắc và tài giỏi” cũng chỉ ngang với một anh nông dân hạng bét. Người ta không thấy ông có mảy may ý thức mình là người đứng đầu chính quyền một xã để có những ý tưởng mới trong tổ chức sản xuất, trong việc thực thi pháp luật của nhân dân trong xã mà chỉ loanh quanh những việc vụn vặt, con cá lá rau bất kỳ anh nhà quê ngớ ngẩn nào cũng làm được.

Chân dung “chủ tịch xã” đã méo mó vậy, còn Chủ tịch huyện ra sao? Đó mới là phần chính trong tiểu thuyết “Chủ tịch huyện” của Nguyễn Khải.

Cái “ông Chủ tịch huyện” này chắc chắn phải là một anh “nhà quê” đặc sệt bởi lẽ:

“Buổi sáng vừa ngủ dậy, ông Chủ tịch huyện hãy còn cầm trong tay chiếc bàn chải đánh răng đã có thể gọi phóng lên dãy nhà trên: Các cậu ở nông lâm ơi, sáng nay An Trạch nó gieo đay thí nghiệm đấy đã cử người xuống chưa ?”

Một ông quan đầu huyện mà làm việc theo kiểu “xó bếp” vậy, đủ hiểu cái công việc ở Uỷ ban tẹp nhẹp và “tạp pí lù” đến chừng nào. Thời đó chưa có các dự án, chưa có các nguồn vốn ODA, WB, chưa có nước ngoài vào đầu tư xây dựng các khu công nghiệp…nên các cấp chính quyền trong huyện, ngay cả ông Chủ tịch huyện cũng chẳng có gì mà “ăn chia phần trăm” hay là “rút ruột công trình”…Bởi thế trụ sở Uỷ ban huyện chưa nguy nga, bề thế như hiện nay mà chỉ là cái nhà dài, tập thể, ở đó “người ta sống như trong một gia đình”. Đó là “một dãy nhà ngang thấp tối ở khuất hẳn phía trong, vẫn lợp rạ, trát vách… Gian đầu là chỗ ở của Chủ tịch huyện, gian thứ hai là chỗ ở của Chánh văn phòng Uỷ ban và anh thư ký đánh máy, gian thứ ba là của bà nấu cơm và chị phụ trách lớp mẫu giáo, vỡ lòng trong toàn huyện, còn hai gian ngoài cũng giành riêng cho gia đình bà Phó Chủ tịch huyện…”

Thật không thể tưởng tượng nổi một ông quan đầu huyện lại ăn ở  kiểu “lán trại” như công nhân trên công trường:

“Ông Chủ tịch nằm duỗi thẳng trên giường, cảm thấy rất rõ rệt các đầu xương đang rời ra vừa khoan khoái, vừa mỏi mệt. Nhạn, chánh văn phòng uỷ ban đã ngáy đều đều bên kia vách tường. Khi Nhạn thôi ngáy một lúc nào đó lại đến tiếng nghiến răng của bà nấu cơm ở buồng bên kia nữa…”

Uỷ ban huyện “ăn ở” lúi sùi và bệ rạc như vậy trách gì công việc hàng ngày của ông Chủ tịch huyện cũng chỉ toàn chuyện “bếp núc”. Trước hết ông Chủ tịch huyện làm việc không có giờ giấc gì hết:

“Ở huyện người ta không thể làm việc đúng giờ giấc được, và cũng khó có thể chủ động dành một khoảng thời gian hoàn toàn cho riêng mình, kể cả khi anh ốm nhưng không đi nằm bệnh viện, anh về nhà vui chơi với vợ con hoặc ngay sau khi anh đang ngủ say sưa sau một ngày làm việc mệt…”

Vậy nhưng công việc của ông Chủ tịch huyện bao gồm những gì mà ông phải làm việc suốt 24/24 vậy? Hoá ra nó chẳng có gì ghê gớm mà toàn là những việc hành chính, lặt vặt. Trước hết một ngày ông phải “ký hàng trăm tờ công văn ( tuy chính người ký cũng không thể biết hết nội dung của nó) vì huyện có những hăm nhăm xã và hăm hai phòng, ngành, mặc dầu các phòng ngành đều ăn chung một bếp, ra vào đều chạm mặt nhau nhưng vẫn cứ phải đọc công văn của nhau”. Công văn gì mà lắm thế, thì đại loại toàn những chuyện “gieo đay của các xã”, “tình hình đào đắp của các đội thuỷ lợi và số mét phải hoàn thành”,”tình hình dồn ấp trại về làng để khoanh vùng cơ giới”…

Ta hãy coi công việc hàng ngày của Chủ tịch huyện. Trước hết một ông chủ nhiệm hợp tác xã  trồng đay đến kiện anh phụ trách chi điếm ngân hàng huyện không cho vay tiền. Anh này bị ông chủ nhiệm tố cáo đã nhận ba sào đất của một ông chủ nhiệm khác nên đã cho vay dễ dàng còn ông không có gì lót tay nên bị gây khó dễ. Thế là ông Chủ tịch huyện chẳng biết nếp tẻ ra sao, chẳng “điều tra điều nghiên” gì hết ra ngay cái lệnh cách chức anh ngân hàng dễ dàng như ông bố trong nhà phạt con cái. Rồi đến cuối buổi có một ông lão chạy vào Uỷ ban đề nghị ông Chủ tịch huyện can thiệp để xe ô tô khách chở cho “mấy chục cân rau của hợp tác xã đưa lên cho anh em trên công trường, trên ấy hiếm rau lắm…”. Tất nhiên là ông Chủ tịch huyện tức khắc chạy ra bến xe ra lệnh cho nhà xe phải chở cả ông lão với bao tải rau của ông.

Đại khái công việc hàng ngày của ông Chủ tịch huyện toàn những việc chẳng ra ngô ra khoai như vậy, chẳng cần tới hiểu biết về khoa học quản lý cũng như những kiến thức tối thiểu về khoa học kỹ thuật. Cứ theo nội dung công việc của ông thì bất kỳ anh nhà quê thất học nào cũng làm được “chủ tịch huyện”, miễn là nắm vững đường lối chính sách của Nhà nước và tuyệt đối trung thành với Đảng.

 

Trong “công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc ngày xưa, đúng với bản chất nông dân của cuộc cách mạng, ý thức lao động gân bắp được coi là “phẩm chất số một” của việc đánh giá và đề bạt cán bộ. Bởi vậy người ta không  lấy làm lạ vì sao trong tiểu  thuyết “Chủ tịch huyện” của Nguyễn Khải, các ông Chủ tịch xã, Chủ tịch huyện và Bí thư tỉnh uỷ ông nào ông nấy đều mở đầu việc lãnh đạo nông dân bằng…”xắn quần móng lợn đi thăm đồng ruộng”.

Ông Quang, Bí thư tỉnh uỷ, vừa đánh xe con xuống huyện đã lôi ngay ông Chủ tịch huyện Hiệp lên xe, kéo nhau ra đồng coi tình hình sâu phá ngô ra sao? Và ông Bí thư chỉ thị cho ông Chủ tịch huyện cái việc mà lẽ ra cấp xã cũng có thể quyết định được:

“Nơi nào nhiều sâu quá nên bán chịu thuốc trừ sâu cho họ  hoặc ứng một khoản tiền nào đó cho họ vay mua thuốc. Chú ý đấy, không thì hỏng ăn cả…”

Liền đó ông Bí thư lại khuyến cáo ông Chủ tịch huyện nên đi thăm các cán bộ xã đội ở 25 xã trong huyện là vì “Khi họ mổ lợn, ăn cơm liên hoan mình không đến cũng được, nhưng khi họ túng thiếu, ốm đau, gặp khó khăn thì phải tìm mọi cách chia sẻ với người ta. Dân mình có câu: “lời chào cao hơn mâm cỗ” là có ý nghĩa sâu sắc lắm đấy…”

Trong một xã hội toàn bộ nông dân đều bị nhốt trong hợp tác xã với kỹ thuật canh tác lạc hậu “con trâu đi trước, cái cày theo sau” từ ngàn năm trước thì đời sống con người hết sức đơn giản – không du lịch, không tài sản, không luật sư, không phương tiện di chuyển, không máy móc phục vụ sinh hoạt và giải trí, không cả hàng hoá và chợ búa, con người chỉ nhăm nhăm lo sao cho “ăn đủ no, mặc đủ ấm”, vậy thôi; việc quản lý xã hội bởi thế mà trở nên hết sức đơn giản và dễ dàng. Nhà nước công nông thực ra chỉ lo “quản lý” sao cho nông dân và công nhân đổ hết lao động gân bắp ra để thu thóc và sản phẩm công nghiệp. Chính vì vậy ông “quan đầu tỉnh” chẳng cần có đầu óc nảy sinh ý tưởng mới, chẳng cần có kiến thức khoa học quản lý và khoa học kỹ thuật, ông chỉ “đòi hỏi được biết cái tình hình thực, cái tình hình tự nhiên nhất, không bị tô vẽ, không bị che lấp bởi bất cứ một thứ sắp xếp giả tạo nào”. Cái tình hình thực đó thực ra rất đơn giản, xoay quanh có mỗi chuyện “nước, phân, cần, giống” mà bất kỳ một anh cán bộ cấp xã nào cũng có thể điều hành được, chẳng cần tới một ông “quan đầu tỉnh”. Bởi vậy khi xuống huyện, ông bí thư tỉnh uỷ “sẵn sàng kiếm ngay một cái buồng riêng chui vào đó làm việc một mình như ở nhà, hoặc đọc báo hoặc ngủ một giấc nếu như đêm trước anh không được ngủ….”

Để tô vẽ cho ông “bí thư tỉnh uỷ” đi sâu đi sát quần chúng, ông nhà văn “bắt” ông xộc cả vào phòng ngủ vợ chồng người ta, làm cái  việc rất kỳ cục là dạy chủ nhà … sắp xếp quần áo:

“Này, đừng có thu dọn theo cái cách ấy. Anh hãy để thứ nào vào thứ ấy, đúng với cái chỗ của nó, xem nào !”

Miệng nói , tay Quang (bí thư tỉnh uỷ) đã giũ tung cái đống quần áo lẫn lộn cái bẩn, cái sạch, cái khô, cái ướt, rồi lượm lại từng cái một: cái này của chị ấy thì để riêng ra, của chúng nó cũng xếp riêng ra. Cái quần này của cậu phải không? đã giặt chưa đấy? Thôi, chốc nữa đem giặt đi, đói cho sạch rách cho thơm…”

Chưa hết, để tỏ ra đi sâu đi sát quần chúng, ông bí thư tỉnh uỷ còn “thọc sâu” vào việc gia đình người ta:

“Đồng chí Bí thư tỉnh uỷ liền tính toán với ông chủ gia đình về công việc của tùng đứa, buổi sáng chúng làm gì? Trưa chiều nên giao cho chúng những việc gì? Rồi Quang bày cách thu dọn lại nơi ăn chốn ở, từ chỗ xếp quần áo, đến sách vở, guốc dép, đồ dùng thức đựng trong gia đình…”

Cứ xem cái cách ông “bí thư tỉnh” dạy bảo ông “bí thư xã” người ta phải bật cười về sự lố bịch của ông quan đầu tỉnh, chẳng rõ bà chủ nhà – tức vợ ông “bí thư xã” sẽ phản ứng ra sao khi chứng kiến cái cảnh một thằng cha căng chú kiết nhảy vào giữa chỗ riêng tư nhất trong tổ ấm của chị, “xía vô” tới cả những việc lẽ ra chỉ có vợ chồng chị biết với nhau. Ngược đời thay, thời đó con người ta lại lấy thế làm “vinh dự” và cảm động vì được “đồng chí bí thư tỉnh uỷ” quan tâm, săn sóc đến cả những việc nhỏ nhất. Văn hoá ứng xử xã hội chủ nghĩa nặng mùi “nô lệ”, “tôi tớ” như vậy đó. Con người ta sẵn sàng tự tước bỏ những quyền con người tối thiểu nhất là quyền riêng tư trong  gia đình khi được nhận ơn mưa móc của cấp trên dù chỉ là những lời quan tâm tào lao. Quả nhiên sau khi “dạy dỗ bảo ban” gia chủ chi li cặn kẽ, ông “bí thư tỉnh uỷ” liền  ban phát ân huệ, ra lệnh cho ông Chủ tịch huyện trích quỹ cho ông này vay “hai trăm mua một con nghé, chăn dắt một năm bán đi cũng được ba bốn trăm, có thêm một khoản tiền…”.

Đảng “lãnh đạo” ở cấp tỉnh là như thế đấy, nổi hứng cá nhân lên là một ông bí thư tỉnh uỷ có quyền tuỳ tiện móc công quỹ ra ban phát cho kẻ này kẻ khác bất chấp luật lệ về thu chi tài chính của Nhà nước. Xuống xã lần này, ông Bí thư tỉnh uỷ cũng được  chứng kiến một ông Chủ tịch xã tham ô. Ông này lợi dụng chức vụ “viết giấy giới thiệu lên huyện xin mua những… hai chục tạ phân đạm rồi bán ra ngoài theo giá tự do”,

 Rồi thì “một năm trời làm ngơ cho thằng Kim ở Đại Lâm mổ lậu mười lăm con lợn, mổ mỗi con lại mời ông chủ tịch một bữa chén, nếu không ăn thì hắn cho con đưa sang một nửa cỗ lòng”.

Rồi thì “chỉ riêng số gạo cứu đói cho Du Lâm tháng ba năm ngoái, ông Chủ tịch cũng để riêng cho gia đình mình hơn hai tạ…”.

Mua bán chênh lệch hai tấn phân đạm, ăn của đút “nửa cỗ lòng heo”, “một bữa chén”, ăn chặn hai tạ gạo… chỉ có thế thôi mà ông Chủ tịch xã vẫn phải đi tù. Đó là tình hình tham nhũng vào những năm đầu thập kỷ 1970. Hơn 30 năm sau, tốc độ ăn cắp của cán bộ Đảng ta đã gia tăng đến khủng khiếp nếu ta tính được số tiền và của cải bọn Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng… moi móc của Nhà nước. Từ “nửa cỗ lòng heo” ngày xưa đến biệt thự, trang trại ngày nay −  cán bộ Đảng ta quả thực đã tạo được một bước nhảy vọt vĩ đại, có tính cách lịch sử trong sự nghiệp…tham nhũng, nâng nghề ăn cắp thành chuyên nghiệp, thành một phần máu thịt trong cơ thể “Đảng ta”.

Tại sao một Đảng “anh hùng” và “vĩ đại” như Đảng cộng sản lại để căn bệnh ăn cắp phát triển thành trọng bệnh vô phương cứu chữa như ngày nay ? Đó là vì họ không dám nhìn vào cốt lõi, vào chính sự “độc quyền lãnh đạo” đã dẫn tới tình trạng “siêu quyền lực” ở các cấp tạo điều kiện cho cán bộ Đảng ăn cắp thoải mái. Họ vẫn khăng khăng chỉ thừa nhận đó là do sự “suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ”… Ông bí thư đã nhận xét về ông Chủ tịch xã tham ô “là một cán bộ đã được rèn luyện, một con người tốt, có năng lực làm việc. ..” , sở dĩ mắc tội  tham ô là vì “những sai lầm của anh ấy chúng tôi biết cả, biết ngay từ đầu.. Chỉ vì trong Đảng uỷ nể nả nhau quá, nhân nhượng nhau nhiều lần quá thành thử lỗi nhỏ thành lỗi lớn…”

Ngày xưa đã thế và ngày nay vẫn nguyên xi vậy. “Các đồng chí chưa bị lộ” thừa biết đang cùng nhau đồng lòng móc túi nhà nước nhưng “nể nang, nhân nhượng nhau”, bưng tai bịt mắt, ngó lơ, ngậm miệng ăn tiền, chỉ đến lúc tranh ăn, đấu đá nhau để trở thành các đồng chí “bị lộ” mới lăn xả vào tố cáo nhau, sủa ăng ẳng như bầy chó đói tranh ăn. Đó là căn nguyên vì sao “các cơ sở Đảng bị tê liệt” như những vụ tham nhũng đã và đang xảy ra ở Bộ Giao thông vận tải, Tổng công ty điện lực, dầu khí, thiết bị viễn thông…. và khắp nơi nơi trong nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, thời kinh tế hợp tác xã trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bổng lộc chưa có bao nhiêu, các cán bộ chưa cắn xé nhau tranh miếng mồi lớn như ngày nay nên ông Bí thư  vẫn còn cao giọng rao giảng đạo đức cách mạng cho cấp dưới:

“Hoặc là chúng ta phải nghĩ tới nhân dân, tới phong trào; hoặc là chúng ta chỉ lo lắng cho riêng mình…” 

Ngày nay các đồng chí “bí thư tỉnh uỷ” chẳng còn nói năng theo kiểu “chống chủ nghĩa cá nhân” thời “bác Hồ” được nữa, một là vì “ngượng mồm”, hai là sợ cấp dưới nó cười cho thối ruột.

 

Khác với tiểu thuyết “Xung đột” còn có “mâu thuẫn địch – ta”, còn có chuyện đấu đá giữa “nhà nước” và “ nhà thờ” nên câu chuyện còn có chút phong phú, ly kỳ, trong “Chủ tịch huyện”, Nguyễn Khải chỉ mô tả quan hệ giữa các cán bộ và bà con xã viên với nhau, tức “mâu thuẫn nội bộ” nên ít có “pha gay cấn”, đấu đá “một  mất một còn” như cán bộ Nhà nước và linh mục nên chuyện dễ rơi vào nhàm chán, tẻ nhạt. Bởi vậy để lôi cuốn độc giả, ông nhà văn đã phải “làm động tác giả”, tạo ra những “xung đột” tưởng như ác liệt mà thực chất lại là hoà hợp vui vẻ.

Chuyện là ở hợp tác xã Nam Hoà, “sau khi rỡ khoai mùa xong, có hai  chục hộ gửi đơn thẳng lên trung ương khiếu nại về đời sống khó khăn, thu hoạch quá thấp, xin được ra ngoài làm ăn, nhưng vẫn “trung thành với Đảng, với chủ nghĩa xã hội”.

Thời nay, bà con nông dân làm đơn khiếu kiện lên trung ương là chuyện cơm bữa, là chuyện thường ngày ở nông thôn, nhưng vào thời đó – thời đang xây dựng hợp tác xã thì việc dân làm đơn lên thẳng trung ương xin ra khỏi hợp tác xã là một chuyện ghê gớm, kinh khủng, chắc phải có phản động ở bên trong xúi giục.

Bởi vậy ngay lập tức, chủ nhiệm hợp tác xã triệu tập cuộc họp gồm Ban quản trị và các hộ đã nộp đơn xin ra khỏi hợp tác. Người đọc chờ đợi ông nhà văn qua sự kiện này vạch mặt bọn cường hào mới ở nông thôn, ăn cắp tài sản hợp tác xã, chèn ép và bóc lột sức lao động, đẩy người dân vào nghèo đói cùng cực  khiến họ phải vùng dậy phản kháng, qua đó chứng minh đường lối xây dựng kinh tế hợp tác xã của Đảng là một sai lầm nghiêm trọng.

Lẽ ra một nhà văn trung thực nhất thiết phải làm được chuyện đó. Tiếc thay, ông Nguyễn Khải đã làm cái việc ngược lại. Ông bôi xấu những người khiếu kiện, ông mô tả một trong những người đầu đơn xin ra hợp tác đó lại là một tên “ăn mặc kỳ quái. Hắn ta khoác lên người không phải cái áo mà là những mảnh giẻ, một cái quần không ra chùng, không ra cộc vá víu hàng chục mụn, và cái thằng vô giáo dục đã không biết giữ liêm sỉ, khi cái phần đáng lẽ ra phải giấu kín thì nó lại phơi bầy ra trước mắt mọi người…”

Ông nhà văn đã dựng chân dung một người phản kháng, xin ra khỏi hợp tác là một thằng lưu manh, chày cối như vậy đấy. Tệ hại hơn nữa, hắn nghèo đói nhưng không phải do hợp tác xã gây ra mà chính là hắn …cờ bạc. Ta hãy nghe bà chủ nhiệm kể tội hắn:

“Chúng tôi còn có khuyết điểm là đã để anh thua bạc phải gán nợ hàng tạ thóc đến nỗi vợ con anh phải đói. Lại không biết khuyên anh thôi rượu, thôi chè chén, thành thử trong lưng anh bây giờ không còn lấy được  vài đồng đong gạo cứu đói…”

Như vậy đó, Nguyễn Khải coi những kẻ làm mất trật tự trong hàng ngũ đó chẳng qua là đám “giòi bọ”. Ông thừa nhận tuy có những người đi ngược lại chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước xin ra khỏi hợp tác xã nhưng đó là bọn cờ bạc, lưu manh ở nông thôn chứ không phải nông dân làm ăn lương thiện. Cái cách Nguyễn Khải bênh vực chủ trương xây dựng hợp tác xã nông  nghiêp  như vậy thật vụng về và lố bịch.

Tuy nhiên, dẫu là “nông dân lạc hậu” hay “nông dân tiên tiến” một khi đã xin ra khỏi hợp tác xã thì là một chuyện tầy đình không khác gì có bọn “phản động chui vào phá hoại hợp tác xã”. Bởi thế ông Chủ tịch huyện có lần  đi công tác mấy ngày liền, trở về cơ quan, đã  định nghỉ ngơi, “tự pha một ấm chè thật đặc, rồi ngồi co cả hai chân hớp từng ngụm nước nóng chát, thoáng ngọt và rít thong thả từng hơi thuốc…”, nhưng nghe tin ở dưới xã có cả chục hộ viết đơn xin ra hợp tác, lập tức cái “hạnh phúc nhỏ nhoi” được nghỉ ngơi đó biến mất,  cho dù đang nửa đêm ông cũng lặn lội đạp xe xuống tận nơi để giải quyết làm như trời sắp sập đến nơi.

Đau đớn cho ông Chủ tịch huyện cái người cầm đầu nhóm người nộp đơn xin ra khỏi hợp tác ấy lại là ông lão Hoá – một nông dân cách mạng nòi, ngày xưa đã từng đào hầm cứu sống ông Chủ tịch huyện hồi còn kháng chiến chống Pháp. Nghe chính miệng ông Hoá tự nhận đã viết đơn xin ra khỏi hợp tác, ông Chủ tịch huyện sững sờ:

“Ô hay sao lại là ông ?”

Thật là không tưởng tượng nổi, thà những đứa cờ bạc, rượu chè, lười lao động xin ra hợp tác vì ngại đi làm còn hiểu được, đằng này “lão thành có công với cách mạng” như ông cụ Hoá cũng đòi ra là làm sao? Oâng Chủ tịch huyện nổi giận:

“Ai mà hiểu tại sao ông lại hành động nông nổi đến thế? …Ông đã nghĩ kỹ chưa mà lại làm ăn như thế ?”

Đúng là chuyện không thể hiểu nổi. Đảng đề ra chính sách hợp tác hoá là để “giải phóng sức lao động”, nâng cao đời sống, “đổi đời cho nông dân” vì sao họ lại xin ra khỏi hợp tác xã ?

Người ta cứ tưởng nhà văn Nguyễn Khải phát hiện ra một “lỗ hổng” trong chính sách hợp tác hoá buộc xã viên phải nộp đơn xin ra sẽ dẫn tới nguy cơ tan vỡ hợp tác xã. Nhưng không phải vậy, ông nhà văn đã “làm động tác giả” để kích thích trí tò mò độc giả, tăng phần hấp dẫn cho cuốn sách đó thôi.

Hoá ra ông già Hoá và một số xã viên làm đơn xin ra khỏi hợp tác xã không phải vì “bất mãn chế độ” mà ngược lại, chính là để đòi cán bộ hợp tác xã thực hiện đúng …chủ trương chính sách của Nhà nước.

Nguyên là ở vùng này có nhiều đất vườn mà đất vườn có thể gieo trồng, chăn nuôi nhiều thứ, giá trị hơn cả ruộng khiến “người ta có thể trao cho hợp tác xã tất cả đất ruộng của mình, nhưng cốt tử phải giữ lấy mấy sào vườn…”. Bởi vậy trong hợp tác xã có tình trạng xã viên chỉ chăm chút vào mảnh vườn riêng của mình mà lơ là ruộng của chung. Rồi thì phân bón của hợp tác xã cũng có nguy cơ chạy vào mảnh vườn riêng.

Đứng trước tình trạng “mầm mống tư hữu” có nguy cơ trỗi dậy đó, ông lão Hoá và một số xã viên “tiên tiến” đã đấu tranh với cán bộ đòi uốn nắn tư tưởng cho xã viên, yêu cầu họ phải coi trọng ruộng đất chung trong hợp tác quan trọng hoá hơn mảnh vườn riêng của họ. Tuy nhiên do cán bộ cũng có “mảnh vườn riêng” nên yêu cầu đó không được thực hiện, bởi vậy họ bày mưu  làm đơn ra khỏi hợp tác xã để gây áp lực buộc cán bộ thực hiện đúng chủ trương của Đảng và chính phủ mà thôi.

Trong tiểu thuyết “Chủ tịch huyện”, Nguyễn Khải đã bịa đặt ra một loạt nhân vật giả, xã viên hợp tác xã “cách mạng hơn cả Đảng”, “bảo hoàng hơn cả nhà vua”, “mác xít hơn cả người cộng sản”.

Thực ra tại các hợp tác xã, các địa phương, do Đảng nắm độc quyền lãnh đạo nên các cán bộ của Đảng không hề bị kiểm tra, kiểm soát bởi báo chí hoặc bất kỳ cơ chế quyền lực nào khác nên bọn họ ra sức tự tư tự lợi, ăn chặn ăn bớt của xã viên, ăn cắp công quỹ. Sự sa đoạ, xuống cấp của hàng ngũ cán bộ đã xảy ra từ rất lâu, từ thời bắt đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở nông thôn. Tuy nhiên trong các tiểu thuyết của Nguyễn Khải, các cán bộ từ tỉnh, huyện, xã, thôn xóm đều là những người “đầy tớ tận tuỵ của dân”, lặn lội ngoài đồng ruộng giúp nông dân nâng cao nâng cao năng suất. Như ông “bí thư tỉnh uỷ” đi sâu đi sát nhân dân, vào tận buồng riêng nhà người ta mà cắt đặt việc gia đình, ông Chủ tịch huyện ăn ở lẫn lộn với cán bộ, nghe tin ở đâu có hiện tượng xã viên xin ra khỏi hợp tác xã là ông phóng xe xuống giải quyết bất kể ngày đêm. Cán bộ xã thì “từ mờ sáng tới nửa đêm: mồm nói, chân chạy, xem xét, hỏi han, tranh cãi, la hét, cáu giận, ngọt ngào, thôi thì đủ…”. Mô tả cán bộ từ tỉnh xuống xã đều tận tụy với dân, không tham ô, tham nhũng − là hết sức sai lệch so với thực tế đời sống. Càng đọc “Chủ tịch huyện” người ta càng nhận rõ cái cảm hứng chủ đạo của nhà văn là “ca ngợi một chiều”, là thực hiện đúng nhiệm vụ “tuyên truyền cho đường lối chính sách của Đảng” của nhà văn “cách mạng”. Bởi thế tác phẩm của họ cũng nhanh chóng rơi vào quên lãng. Khi nhiệm vụ chính trị qua đi, tác phẩm văn học “phục vụ kịp thời” cho nhiệm vụ chính trị đó cũng chết theo. Đó là “số phận” của những tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam của Nguyễn Khải.

 

 

Suốt cả cuốn tiểu thuyết “Chủ tịch huyện”, người ta thấy cán bộ từ thôn xã lên tới huyện tỉnh, anh nào anh nấy hai bàn tay đều sạch bong như tờ giấy trắng, nhất mực chỉ “vì Đảng vì dân” không mảy may tơ hào công quỹ lấy một cân gạo, không nhũng  nhiễu ăn tiền của dân lấy một  đồng bạc. Có lẽ “tô hồng” quá đáng vậy sợ bạn đọc cười, Nguyễn Khải “liều mình” dựng lên một ông Chủ tịch xã  tự tư tư lợi, lợi dụng chức quyền ăn tiền của dân.

Nguyên ở xã Hoà Trung có anh chủ tịch xã tên An làm ăn rất giỏi khiến cấp phó của anh là Như ghen ghét rắp tâm làm hại. Anh này xúi ông chú họ tên Đào làm nghề buôn chuyến đến mua lại hai nghìn ngói của  ông chủ tịch xã với giá cao hơn giá mua của Nhà nước tám chục nghìn. Mua bán xong xuôi, ông Đào lại biếu ông Chủ tịch hai ngàn lá cọ và đề nghị ông mua giúp cái dầm cầu xã bỏ đi để làm cột nhà giá có 200 ngàn nhưng lại đưa những 300 ngàn, coi như “biếu” Chủ tịch xã chỗ chênh lệch.

Chuyện “tham ô” của Chủ tịch xã hoá ra chỉ có thế, chẳng qua là ông vô tình tưởng chuyện nhỏ, ai ngờ tay Phó Chủ tịch thổi lên thành chuyện lớn. Rất may, “đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã” đã có mặt kịp thời, phân tích cho Chủ tịch xã “nhận ra sai lầm” của mình, trả lại tiền cho lái buôn, nhờ vậy vẫn giữ được phẩm chất của một cán bộ cộng sản.

Hoá ra lại một lần nữa Nguyễn Khải “làm động tác giả” khi mon men tiến gần tới cái cốt lõi của đám cán bộ Đảng ở nông thôn: máu tham ô, bòn rút của công. Tiếc thay, tiểu thuyết “Chủ tịch huyện” hoàn thành vào tháng 2 năm 1971 khi bộ mặt của “cán bộ mua đài mua xe” đã lộ ra gớm ghiếc, khi bất công xã hội đã trở nên vô cùng sâu sắc, khi “chợ vua quan” và “chợ của nhân dân anh hùng” mỗi ngày một cách biệt, vậy nhưng ông nhà văn vẫn nhắm mắt bưng tai không dám nhìn, không dám nghe những xấu xa, đồi trụy của đám quan lại cán bộ này, vẫn hết lời “bốc thơm” chúng.

Kết thúc cuốn tiểu thuyết, ông nhà văn đặt vào mồm Chủ tịch xã trẻ và Chủ tịch huyện già những đối thoại qua đó “ca ngợi “ không còn biết xấu hổ về phẩm chất của thế hệ cán bộ mới này.

Chủ tịch xã:

“ …khó khăn mấy rồi cũng vượt qua được cả  thôi. Thế hệ cha anh đã đánh thắng bọn xâm lược Pháp, thì thế hệ chúng em sẽ đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Chắc chắn là như thế…”.

Chủ tịch huyện :

“Chắc chắn phải là như thế…”

Chủ tịch xã :

“…cái khó nhất là đoàn kết được với nhau, không có gì phải ngờ nhau, phải đối phó với nhau thì việc gì cũng làm được, làm được hết…”

Anh Chủ tịch xã này nói năng y như … bác Hồ kêu gọi toàn dân “đoàn kết, đại đoàn kết” vậy. Nhưng cán bộ làm sao mà đoàn kết được khi họ phải bon chen, chèn lấn, đẫm đạp lên nhau giành ghế để tồn tại? Người bộ trong bộ máy Đảng và Nhà nước thì đông như quân Nguyên, ghế ngồi thì có hạn, càng lên cao, ghế càng ít, cuộc đấu đá giành giật càng khốc liệt. Kêu gọi đoàn kết trong đám tranh ăn, một mất một còn rõ ra là trò ảo tưởng, bịp bợm, hài hước.

Để kết thúc cuốn tiểu thuyết, ông nhà  văn còn cho Chủ  tịch huyện phát biểu một câu thật “lãng mạn”…cách mạng :

“Nói cho cùng, cái thử thách lớn nhất, phức tạp nhất vẫn là tự mình vượt qua mình. Ngoài ra những khó khăn khác, những thử thách khác đều không đáng sợ, có phải không, đều không có gì đáng sợ…”

Tuy nhiên, thử thách lớn nhất, phức tạp nhất đối với các cán bộ chẳng phải là vượt qua mình mà chính là vượt qua…cái ghế của mình. Bởi thế họ phải trui rèn cho mình một phẩm chất … bất nhân, gian manh và đểu cáng để giẫm đạp lên đồng chí, đồng đội mà leo cao. Ngoài ra cái khó vượt nhất trong con người cán bộ chính là máu tham, nhu cầu hưởng thụ và đòi hỏi lớp cán bộ như Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng…vượt  qua được cái “máu” đó thì quả thật còn khó hơn con voi mượn cánh con bướm mà bay qua đại dương.

Bởi thế tiểu thuyết “Chủ tịch huyện” cũng giống như “Xung đột”  của Nguyễn Khải  đã “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” của nó chỉ sau vài năm ra mắt bạn đọc và hiện giờ nó chỉ còn được nhắc tới bởi các nhà phê bình lý luận văn học ăn bổng lộc Nhà nước.

 

 

 

3

Hồi tháng 2 năm 2006, nhà văn Nguyễn Khải có trả lời phỏng vấn  báo Tuổi Trẻ .

Khi được hỏi: “Nếu người ta gọi ông là nhà văn thời sự thì ông buồn hay vui?”  và “thời sự hình như không mấy tương đồng với sức sống lâu dài của một tác phẩm. Chủ quan mình, ông nghĩ  tác phẩm nào của mình sẽ có được  cái lâu dài ấy ?”

Nhà văn Nguyễn Khải sốt sắng trả lời:

“Nhiều tác phẩm hay đã được bắt đầu từ những bức xúc rất nhỏ của một “chuyện hôm nay”, của cái “bây giờ” nhưng vẫn làm nhiều thế hệ bạn đọc xúc động… Phần mình, tôi nghĩ “Một cõi nhân gian bé tí”, “ Cha và con và…”, “ Điều tra về một cái chết “ cùng một số truyện ngắn của tôi có được cái thân phận ấy của con người…”

Vậy là trong vài chục tác phẩm, Nguyễn Khải đã chọn “Cha và con và…”  là một trong vài tác phẩm ông cho rằng có thế để đời, còn lại mãi với thời gian. Viết xong vào tháng 8 năm 1978, xuất bản trong năm 1979, dày vỏn vẹn chừng 200 trang và sách vừa in ra đã được “phê bình gia” Lại Nguyên Ân tung hô trên báo Văn Nghệ với cái tựa bài to tát: “Cha và con và…hay là: triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội…” (Văn nghệ, s. 13, ngày 29/3/1980)

Ghê gớm chưa?

Vậy giá trị thực của cuốn truyện này ra sao?

Như trên đã nói, viết về “nhà thờ” luôn là mặt mạnh của Nguyễn Khải vì ông luôn coi quan hệ giữa nó và Nhà nước là “đối kháng” nên viết dễ sinh động lôi cuốn, gay cấn hơn là viết về “dân” với “cán bộ”, vốn là mâu thuẫn ông coi là “nội bộ” đơn giản và tẻ nhạt.

“Cha và con và…” lại cũng xoay quanh chủ đề “bôi bác nhà thờ” như hai tập tiểu thuyết “Xung đột”.

Đó là câu chuyện về một linh mục trẻ, mới ngoài ba mươi, tên là Thư, được Toà Giám mục cử về “nhậm chức thầy cả” ở xứ Nhất. Về địa phương, trước hết cha phải tới trình diện chính quyền xã. Cái cách đối xử của cán bộ uỷ ban làm cha không được vui, phàn nàn với ông chánh trương:

“Cả cái uỷ ban của các ông nữa. Họ để tôi leo cả mấy bậc thềm, tự bước vào trong nhà, tự đến trước bàn giấy của bà Chủ tịch ngả mũ chào, rồi bà ta mới đứng lên chào lại. Bà ta là Chủ tịch thật nhưng còn là con chiên của Chúa. Chúa chiên đến mà con chiên dám xử sự vậy sao ?”

Tuy nhiên, đó mới chỉ là nỗi phiền lòng đầu tiên ông cha trẻ gặp phải khi tới nhậm chức ở vùng đất mới. Chờ đợi ông ta ở phía  trước còn vô số những “chọc phá”, những “đòn phép” bổ vào đầu ông mà đau đớn thay không phải từ phía chính quyền vốn “thù địch” với nhà thờ, mà lại từ phía những con người thuộc phe ông – những  linh mục già, chánh trương, trùm trưởng, con chiên … luôn luôn giăng bẫy trên đường đi tới của cha linh mục trẻ mới nhậm chức.

Trước tiên, cha linh mục trẻ phải tới gặp cha linh mục già để nhận “bàn giao”. Mới qua vài ba câu chuyện, cha trẻ đã nhận ra tính cách xỏ xiên của cha già:

“Lạy Chúa ! Tại sao ông già này lại nói nhiều về sự yếu lẫn của mình. Ông già ấy định giăng cái bẫy nào đây? Lời nói như gan ruột, nhưng cái miệng thì bỡn cợt, con mắt thì hấp háy, biến ảo quá chừng.

Cha trẻ cúi mặt thở dài rất nhỏ, lái câu chuyện sang hướng khác…”

Một cha trẻ mới ngoài 30 tới nhậm chức, một cha già ngoài 80 sắp về với Chúa phải rời chức. Hai cha đối xử với nhau thật chẳng khác gì hai quan cán bộ trẻ già hằm hè nhau khi bàn giao ghế. Quả thực Ban tôn giáo chính phủ cần cấp bằng khen cho nhà văn Nguyễn Khải về thành tích “bôi xấu Thiên Chúa giáo”.

Hành hạ “cha trẻ” vậy nhưng “cha già” vẫn chưa chịu buông tha. Tới bữa ăn “cha già” còn “quay” một hồi nữa khiến “cha trẻ” cảm giác “bữa cơm kéo dài như một hình phạt. Chẳng phải vì một già một trẻ, một cũ một mới, một cha quản hạt và một cha mới nhậm chức, mà còn vì một cái gì khác nữa, chưa rõ rệt, rất khó dò tìm đã khiến vị linh mục trẻ mất hẳn phương hướng đối đáp trong những mẩu chuyện vặt vãnh không đầu không đuôi…”

Thoát được “cha già”, “cha trẻ” được phái về xứ Nhất nơi còn biết bao nhiêu điều phiền tạp chờ đợi cha. Trước hết, “lễ nghênh tiếp vị chủ chiên của ban hành giáo hàng xứ rất đúng phép tắc, nhưng gượng gạo, vênh váo…”. Lẽ ra theo thông lệ, cuộc tiếp rước phải “cờ phướn, có chè chén, tối có đánh bạc”  nhưng chính quyền không cho phép. Chỉ còn lại “những trình bẩm, ban truyền, những ân sủng, kính cáo , toàn những chữ nghĩa đã chôn đi, đã quên đi từ đời kiếp nào, nay phải móc lên cả lượt”.

Cái cảnh các ông già bà cả cung kính chào cha chăn dắt linh hồn được ông nhà văn riễu là “ông già cúi người trước một chàng trai trẻ, xưa là thế, vì nó còn là con vua cháu chúa, còn nay mà thế tự nghĩ cũng ngược lẽ, cũng nực cười…”

Trong đám đón rước cha, có ông trùm họ An Cựu, “đội khăn xếp, áo thâm dài, đi giày mũi nhọn, lại cắp cả ô nữa mà trời vẫn nắng ráo”  liền bị chê cười “Ông trưởng khu lên hầu cụ lớn đấy à?” Để biến việc đón rước cha thành một vở hài kịch, ông nhà văn còn cho ông trùm An Cựu đi tới trước mặt cha “quỳ hẳn gối vái một vái, ông hổn hển đứng dậy vái thêm một vái nữa và cứ bước giật lùi”, chẳng ngờ “gót giày lại dẫm ngay vào bàn chân bà trưởng hội khấn… khiến bà đang véo von chúc thày cả liền kêu thét như bị ai cấu, dùng cả hai tay ấn mạnh ông trùm ra một bên, miệng nói the thé: Mắt mù hay sao mà giẫm nát cả chân tôi”.

Thật là bôi bác nhà thờ một cách hết sức thô thiển và tiểu nhân. Chẳng hiểu Thiên Chúa giáo có ân oán gì với ông Nguyễn Khải mà ông thù ghét thâm căn cố đế đến vậy? Chưa hết, khi con chiên còn đang xúm xít đón cha thì “một tiếng gọi hết sức bất ngờ, hết sức rành rõ: “Anh Thư”. Cả mọi người chết lặng vì tiếng gọi quá sức láo xược của một đứa nữ nào đó…”. Gọi tên cúng cơm của cha ngay giữa lễ đón tiếp, mà lại do một giọng nữ rất âu yếm thì quả bằng trát bùn vào mặt cha giữa lúc linh thiêng, long trọng nhất. Thế là cả đám rước biến thành một đám trò . “Trong nháy mắt, những tiếng cười bị dồn nén luồn lỏi khắp các nhóm người, đến nỗi các chức dịch hàng xứ đứng hầu cha cũng không dám ngước nhìn vị chủ chiên, e rằng chính mình cũng khó giữ được sự kính cẩn cần phải có. …”

Dùng chuyện “trai gái” để bôi bác linh mục là một trong những “sở trường” của Nguyễn Khải. Khi có tiếng người nữ gọi tên cha âu yếm như vậy, lập tức ông trùm An Cựu “làm ra vẻ bầy tôi sốt sắng” hò hét:

“Các người bị ma ám quỷ xui cả sao dám hỗn láo thế? Đứa nào gọi tên cha trước? Đứa nào? Là con cái nhà ai để tôi thưa với cha phạt nó. Nó là đứa nào?”

Thật chẳng ngờ đứa con gái đó lại là thị Thảo, con gái của chính ông làm “đám đông cười vỡ ra. Họ không dám cười linh mục mà chỉ cười cha con ông trùm An Cựu nên có thể cười thật thoả thuê” làm ông trùm trợn mắt:

“Chúng bay đừng có bỏ vạ cáo gian mà sa xuống hoả ngục đời đời. Nhà tao mấy đời thờ phượng Chúa…”

Lại cười  cười như thể đang xem vở tuồng, vở chèo gặp một vai đắc ý. Rồi họ nói chen vào như nói đế:

“Đời ông chỉ biết thờ Chúa, chứ con gái ông chỉ biết thờ các cha thôi…” Đám đông vỗ tay tán thưởng màn kịch cương, lời lẽ đã hay mà vai diễn cũng hay…”

Than ôi, cái cảnh con chiên đón tiếp đức cha linh hồn về xứ mình hỗn xược như vậy ở một xứ công giáo toàn tòng như Bùi Chu, Phát Diệm làm gì có cảnh đó. Ông nhà  văn Nguyễn Khải quả đã xuyên tạc, bôi xấu nhà thờ một cách trắng trợn và hèn nhát.

Cô Thảo, con gái ông trùm An Cựu đã cả gan gọi tên cúng cơm của cha giữa đám đón rước, về nhà  còn chớt nhả với bố:

“Ông cụ mới tới nom trẻ đẹp quá, bố ạ… chúng con chỉ thích xem người chứ không xem lễ…”

Ông bố chửi:

“Con nhà vô phúc, rồi mày kéo cả bố mẹ xuống hoả ngục với mày thôi…”

Nó toét miệng cười:

“Xin mời các cụ lên thiên đàng hầu Chúa, còn con xin đi theo cha xuống hoả ngục!”

Bịa ra chuyện con gái một ông trùm đạo cả gan mang đấng chăn chiên ra bỡn cợt ngay cả với bố mình như vậy, quả thật ông nhà văn đã tìm ra một hình ảnh thật sinh động để dựng nên sự suy đồi của đạo tại một xứ toàn tòng.

Công việc đầu tiên của cha mới là xem xét “bình Mình Thánh, chén đĩa, chân đèn, ảnh tượng, khăn bàn, khăn thánh…”. Buồn cho cha, chẳng có vật gì ưng ý, “tất cả đều cũ kỹ, sứt vỡ, hôi mốc, khập khiễng như nhà vắng chủ đã lâu ngày…”. Tâm sự cha trẻ lúc này thật ngao ngán “một ông linh mục quá già, một đàn chiên quá đông, thế tất việc chăm sóc phải biếng, sự giảng dạy phải nhác…Công lao vun trồng vườn nho của Chúa suốt mấy chục năm của các đấng bậc đi trước, rút lại tay không?”.

Vậy là cái gia sản “cha già” để lại cho “cha trẻ” quá èo uột, cái trách nhiệm gây dựng lại việc đạo cha trẻ phải gánh vác quá nặng nề. “Gai góc lại mọc đầy như thủa ban đầu và dây leo đã sắp bò kín cả ảnh tượng. Người kế nghiệp trẻ tuổi sẽ bắt đầu công việc khai phá từ đâu?”

Và ông nhà văn cảnh báo ông linh mục:

“Nhân nhượng với đời hay hay đối mặt với đời? Hoặc giả có việc phải đối mặt và cũng có việc phải nhân nhượng? Là người anh em tốt mà vẫn là người chăn dắt tốt. Cười vui với tất cả mà vẫn chỉ huy được tất cả. Đã có giáo sĩ nào trong địa phận biết dung hoà lề luật của nhà Chúa với lề luật của thế tục chưa? Chưa một ai thì phải. Người được Toà Giám mục hài lòng thì chính quyền căm ghét. Người được chính quyền chiều chuộng thì Toà Giám mục phải đề phòng. Hoặc là đầu này hoặc là đầu nọ, tìm được một chỗ đứng vững chắc ở quãng giữa thật khó lắm thay…”

Lo lắng cho cha trẻ như vậy khác nào “lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử”, ông Nguyễn Khải coi mối quan tâm lớn nhất của linh mục là làm sao dung hoà giữa Toà thánh và Nhà nước để giữ vững cái ghế linh mục của chính ông chứ không phải là chăm lo phần hồn cho con chiên. Ông nhà văn quả đã mô tả cha xứ theo kiểu mô tả một  Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện.

Ngày làm việc đầu tiên, cha Thư đã như bị dội cả một thùng nước lạnh khi gặp người giúp việc thân cận nhất của mình: ông chánh trương xứ vì “ông ta già quá, ốm yếu quá, kèm nhèm và ngu tối thế nào ?”. Và lạ chưa, câu chuyện đầu tiên giữa hai người lại là … tranh luận về cải cách ruộng đất xoay quanh chuyện cụ Thượng người trong làng, bỏ tiền xây cất liền mấy cái nhà thờ sau bị cách mạng xử lý. Ông linh mục nói:

“Địa phận ta còn mắc nợ với Ngài nhiều lắm…”

Ông chánh trương cãi:

“Thưa cha ông ấy còn mắc nợ chúng con rất nhiều…”

Ông cha trẻ gườm gườm nhìn người giúp việc:

“Ruộng đất của người ta, cơ nghiệp một đời của người ta một sớm một chiều mất sạch. Thế còn chưa đủ khổ sở ư ?”

Ông chánh trương nói nhỏ nhưng bướng bỉnh:

“Cái khổ cả trăm gia đình chẳng ai biết đấy là đâu. Cái khổ của một nhà lại như chiều ai oán. Cũng là tôi tớ của Chúa mà…”

Người đọc không khỏi buồn cười vì cái nhân vật “chánh trương” này nói năng chẳng khác gì ông bí thư xã. Vậy chắc ông là “chánh trương quốc doanh” do Nhà nước cài vào để theo dõi Nhà thờ?

Mang tiếng là “cánh tay phải”, là người giúp việc thân cận cho cha, không hiểu sao vừa mới gặp, ông chánh trương đã giở giọng khủng bố tinh thần:

“Thưa cha, năm nay con đã bảy chục tuổi, đã hầu hạ cha già trọn bốn mươi năm… Mắt con đã nhìn nhiều sự đổi thay, người ta hợp nhau rồi người ta lại chia nhau ra. Hôm qua là cha là con, hôm sau có tao không mày. Hôm qua chén chú chén anh, hôm sau nhét rọ buông sông. Đời người biến ảo khôn lường, một sớm một chiều chưa thể biết được…”

Ông cha trẻ chân ướt chân ráo về giáo phận đã bị cha già răn đe cho một buổi muốn điên đầu, nay lại gặp ông chánh trương buông giọng bí hiểm, nửa kín nửa hở doạ nạt về cái sự khó ở đời. Những tưởng ra trường sẽ cùng người nhà Chúa xắn tay áo làm việc đạo, ai ngờ như lạc vào trận đồ bát quái, xung quanh là cả một rừng  gươm giáo.

“Cha trẻ đưa tay lên che mặt, đầu óc quay cuồng, ông rên rỉ :

“Khó  hiểu quá! Các ông nói gì với tôi mà khó hiểu vậy? Tôi chỉ xin các ông một điều: nếu xứ này còn cần linh mục thì tôi ở lại, dẫu khổ hạnh thế nào tôi vẫn cứ ở. Bằng không thì trả tôi về Toà Giám, dừng dùng mưu mẹo làm nhục tôi, bức hại tôi…”.

Ông nhà văn diễn tả cái tâm trạng đau buồn, bế tắc của cha “mùi mẫn” chẳng khác gì một chàng trai si tình bị người yêu ruồng rẫy:

“Và, lạy Chúa, con chỉ ước nguyện sẽ được nằm ở cái giường đơn sơ kia mà trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay âu yếm của Chúa”… Cha xứ đã cởi áo, buông màn và nằm xuống, hai tay chắp ngang bụng, thổn thức vì những ý nghĩ thương cảm xa xôi, miệng khẽ gọi những tên cực thánh: Giêsu – Maria – Giuse…”

Liệu một đấng chăn dắt linh hồn của cả một giáo phận hàng chục ngàn con chiên, có dễ “tủi phận mình”, thổn thức như một anh đồng cô ẽo uột vậy chăng?

Xây dựng nhân vật cha Thư  ngây ngô, ngớ ngẩn như vậy trách gì các “sự khó” cứ ùn ùn kéo tới  với cha. Trước tiên là thị Thảo, cô gái cả gan gọi tên cúng cơm của cha ra trong buổi tiếp rước hôm trước, xin gặp riêng cha với tư cách là trưởng hội hát. Ông cha trẻ chưa trải đời chấp thuận để cô cùng hội hát quyên góp may áo lễ mới cho cha vì cái cũ đã sờn rách. Mặc dầu các cô đã dặn nhau  “Không được nói lại với ai đấy nhá! Cấm đấy nhá…” nhưng chỉ một thời gian sau cả xã đã biết chuyện, gây ra bao tai tiếng làm ông Chủ tịch mặt trận xã phải tìm tới tận nhà ông chánh trương phàn nàn:

“Tôi nghe con mẹ Tộ vừa la vừa khóc: vậy là mày giết tao. Đứa nào xui mày? Thằng nào con nào xui mày để tao băm vằm nó ra?… Chúng nó chim chuột dăng dện nhau thì mặc mẹ nó chứ, hà cớ gì lại khi dỗ mày. Mày ăn cơm hay ăn cứt mà dại dột thế ?”

Hoá ra con gái bà Tộ lấy đôi bông tai để quyên góp may áo mới cho cha làm bà ta chửi toáng: “đã có ông linh mục nào đến xứ này mà chê tiền không? Mà chê gái không? Tôi cũng là người có đạo tôi không nói vu cho ai bao giờ…”  Cha quản hạt thì sao? “Rụng hết răng thì còn ăn gì được, giả thử còn đủ cả hai hàm chắc cũng chẳng  từ…”.

Ở giữa một xứ đạo toàn tòng, sao lại nảy nòi ra một mụ đàn bà oang oang chửi cả cha trẻ lẫn cha già như một mụ đàn bà mất gà mà kẻ cắp lại chính là… các cha. Chắc chẳng con chiên nào hỗn xược, phai nhạt đức tin đến mức chửi cha quá quắt như thế mà chỉ có ông nhà văn Nguyễn Khải mượn mồm đàn bà bôi xấu linh mục thôi.

Ông chánh trương nghe ông Chủ tịch hạch tội cha vậy chẳng những không thanh minh, bênh vực, bảo vệ lại còn tố cáo cha:

“Cái ông ấy ( tức cha Thư) đến là dại. Lại còn không biết nó (thị Thảo) là ai mà dính vào… Lần đầu nó xin gặp cha còn nài tôi cùng ngồi. Mấy lần sau chả thấy ông ấy lý gì tới mình nữa. Không biết đâm mù con mắt xác thịt thì có ngày hỏng…”

Lão Chủ tịch Mặt trận nhân đó riễu  cha:

“Da thịt nó như thế, môi mắt nó như thế, thánh năng ngồi gần còn có khi cháy huống hồ là cha…”  

Cứ như thế kẻ tung người hứng, một bên là đại diện nhà thờ, một bên là đại diện chính quyền ra sức bôi bác cha. Vậy là đang ở bên phía nhà thờ, trợ giúp linh mục, chẳng hiểu sao ông chánh trương lại trở mặt, hùa theo chính quyền, đánh đằng sau lưng cha hiểm độc như vậy? Ông ta là “chánh trương xứ” hay là người của Ban tôn giáo vận cài vào nhà thờ để phá đạo? Ông nhà văn lập lờ không nói rõ ra để mượn mồm “chánh trương xứ” vốn là đại diện cho con chiên của cả một xã chửi bới linh mục và cũng tức là chửi bới Thiên Chúa giáo.

Tất nhiên việc mấy cô hội hát quyên góp may áo cho cha như vậy là tan, “thị Thảo phải hoàn lại đôi hoa cho mẹ con bà Tộ. Các nhà góp tiền mua áo lễ cũng lần lượt kéo tới đòi tiền về…”. Mọi lời đàm tiếu tất nhiên chĩa cả vào cha xứ làm “cha Thư khi được  hay mọi chuyện liền đóng cửa buồng ở lì trong đó cả tuần lấy cớ cảm cúm.”. Và cũng từ đó, mỗi làn buộc phải làm việc với chánh trương, cha xứ đều gọi thêm người trong ban hành giáo tới dự để “khỏi mặt đối mặt với ông già nham hiểm quỷ quái…”  Và khi cha “ló mặt làm lễ sáng chúa nhật nước da khô tái như vừa qua khỏi một cơn trọng bệnh…”

Cái “sự khó” dường như luôn luôn đuổi theo cha Thư. Cơn ông chưa qua cơn bà đã tới, vụ quyên góp làm cha mất mặt hãy còn râm ran trong xứ đạo thì một chuyện đau đầu khác cũng lại  tới. Nguyên là cha Thư một hôm nhận được  thông tư của Toà Giám mục chỉ thị cho các xứ đạo tổ chức “bách chu niên đức cha Phước dâng địa phận Tây Đàng ngoài trong tay Đức Mẹ”. Cha Thư tìm tới cha già quản hạt để bàn việc tổ chức, không ngờ ông này lại giở giọng … bàn lùi:

“Đức cha Phước  là tên gọi Việt Nam, còn tên chính của ngài là Puginier. Ngài coi sóc địa phận Kẻ Sặt kế vị đức cha Theurel ..”

Cha trẻ còn chưa hiểu sao, cha già quản hạt lại lên giọng giảng giải:

“Với người có đạo thì đức cha có công lớn lắm. Ngài đã giữ trọn lành một giáo phận giữa lúc hiểm nguy. Nhưng là người Việt Nam thì tên tuổi của ngài lại gợi lên cái năm bị mất thành Hà Nội. Chả là năm ấy, đức cha lại nhận lời ông Ngạc Nhi [*] đi làm thông ngôn cho ông ta trong cuộc đàm phán giữa người Pháp với các quan giữ thành. Đầu  tháng đàm phán, giữa tháng chúng đã nổ súng thần công giết chết cha con người ta, chiếm lấy thành rồi…”

Hoá ra cha già quản hạt lại là “người yêu nước”, ông kết tội cha đã làm thông ngôn cho “Ngạc Nhi” [võ quan Pháp Fransis Garnier, − B.T.] tiếp tay cho Pháp để chiếm thành Hà Nội. Bởi vậy thật bất ngờ, cha già thở ra giọng “địch vận” lôi kéo cha trẻ về “tình yêu  nước”:

“Mình là người có đạo thì phải nghĩ theo cách nghĩ của hội thánh. Nhưng mình còn là người Việt Nam nữa nên khó…”

Nghe tuyên truyền chính trị lại nói ra từ chính miệng cha già quản hạt, lẽ ra cha trẻ phải phản ứng, vùng lên bảo vệ đức tin, không ngờ cha lại quá thụ động, chỉ than thầm. “Cha trẻ cúi đầu, thầm nghĩ đau đớn: Vâng, đúng thế, đúng là thế. Người có đạo là người có tội, tội truyền kiếp, tội của tổ tiên…”

Thái độ khiếp nhược của cha trẻ làm cha già dấn tới:

“Đạo của Chúa đến cùng một lúc với giặc giã kéo đến. Các cố đứng trong đám giặc mà truyền đạo. Người theo đạo thì không thể nghĩ đến nước. Đã nghĩ đến nước thì rất khó theo được đạo…”

Một câu nói sặc  mùi “kính chúa  yêu nước”, ai dám tin được lại là lời lẽ của một linh mục già  quản hạt. Choáng váng vì những lời lẽ “báng bổ” thật không ngờ lại phát ra từ miệng cha quản hạt, ông cha trẻ phải thốt lên:

“Lậy Chúa, vậy chúng con phải làm gì ? Bất tuân toà giám cũng cũng có tội như bất tuân chính quyền…”

Cha già quản hạt không những không động viên cha trẻ giữ lấy đức tin giữa hai lằn đạn mà còn cả gan “chửi xéo” đức Thánh Cha:

“Đức Thánh Cha ở chỗ cao xa, Ngài không thể biết hết được  những khổ đau của người dân ở xứ này. Ngài chưa thể biết hết lịch sử truyền giáo ở xứ này …”

Coi thường “Đức Thánh Cha” đến mức khó tin như vậy chắc không phải cha già quản hạt mà chính là ông … nhà văn Nguyễn Khải.

Những lễ nghi của nhà thờ thường được quy định chi tiết và được chấp hành một cách tôn nghiêm. Ấy thế mà ông nhà văn Nguyễn Khải cũng biến chuyện đó thành… trò hề. Nguyên là cha tổng quản địa phận gửi giấy về các xứ nhắc lại lễ nghi chầu phép lành quy định: “ra đền thờ bái một lần, lên trải khăn thánh, mở cửa nhà chầu bái lần nữa. …”. Cha trẻ hỏi cha già đã đọc giấy quy định chưa, cha lắc đầu bảo chưa rồi lên giọng khinh khỉnh, coi như chuyện tào lao: “Bái bốn lần hả? Ừ thì là bốn lần. Chắc là mọi khi cũng bái đủ cả bốn lần…”

Thái độ vừa báng bổ vừa coi thường phép tắc nhà Chúa của cha già làm cha trẻ phải coi ông ta là “Một ông già đã quá tuổi làm lễ, đã rất hay quên, đã chẳng còn hiểu mình nói gì và sẽ nói những gì…”. Tuy nhiên cha trẻ nhận ngay ra nhận xét thế là sai “Nhưng… hình như không phải là thế, hoàn toàn không phải là như thế…”

Không phải thế thì hẳn là một lão già quỷ quyệt, nham hiểm không thể coi thường. Dưới ngòi bút của Nguyễn Khải, hai linh mục −  cha già và cha trẻ hiện ra như hai địch thủ luôn luôn rình rập triệt nhau chứ chẳng phải cùng là “con cái Chúa” hoặc hơn nữa cùng là đấng chăn chiên. Dã tâm bôi xấu đạo Thiên Chúa của Nguyễn Khải bộc lộ rõ nhất ở xung đột giữa hai ông cha này.

Quả đắng tiếp theo ông cha trẻ phải nhận là ông trùm đạo An Thuận nhân việc Toà Giám mục cấp sắc cho lập xứ đạo riêng đã tổ chức quyên góp để chè chén linh đình và đổ hết trách nhiệm cho cha trẻ. Rất may được ông chánh trương mật báo, ông cha trẻ đã kịp thời ngăn được việc đầy tai tiếng đo và than trời:  “Ai cũng xấu cả thì tôi biết  san sẻ công việc với ai? …Cái miệng lưỡi con người ta gian ngoan thật…”

Tuy nhiên bản lĩnh linh mục của cha trẻ thực sự bị thử thách là trong việc thay mặt nhà thờ làm chứng cho một cặp vợ chồng trẻ. Anh chồng là bộ đội  ở mãi “vùng ngoại vi Sài Gòn. Bị thương rồi mới chuyển ra đây…”, chị vợ cũng là cán bộ. Anh bộ đội được nghỉ phép 15 ngày để lấy vợ, khi tới xin cha làm chứng thì đã qua mất 5 ngày, bởi vậy anh rất muốn cha viết giấy “làm chứng” ngay để hôm sau tổ chức lễ cưới tại nhà thờ. Tuy nhiên, theo luật của hội  thánh, cha vẫn phải hỏi:

“Hai người đã chịu phép rửa tội tại xứ họ nào ?”

“ Gia đình con vốn ở Lạc Hải, mới về xã được có mươi năm…”

Cha Thư hắng giọng:

“ Vậy chị phải xin với cha chánh xứ ở bên đó tờ chứng đã làm phép rửa tội… Phải đã chịu đủ các phép bí tích từ khi lọt lòng tới tuổi lớn khôn mới có thể cho chịu phép cưới. Luật lệ của Hội Thánh đã định thế …”

Vậy vẫn còn chưa xong, sau khi đã có hai cái giấy chứng đó rồi thì còn phải dự… khảo kinh nữa. Lúc này “anh bộ đội” mới lên tiếng:

“Xin thú thật với cha, cả hai chúng tôi  đều đi công tác đã lâu, kinh bổn chắc là không còn thuộc…”

Cha xứ nói điềm nhiên:

“Nên học lại, vốn đã thuộc thì học lại cũng mau chứ ?”

“Chúng tôi chỉ còn ít ngày phép. Một trăm thứ việc đồn lại trong mấy ngày, xin cha thông cảm cho…” 

Cha xứ vẫn quyết liệt:

“Nếu không theo đúng những luật Hội Thánh đã buộc, dẫu làm phép cũng không thành…”

Đã là cha xứ thì phải giữ lề luật của nhà thờ, xử sự như cha Thư là rất đúng. Nhưng anh bộ đội lại quen thói ngạo mạn, ta ở chiến trường ra, phải châm chước cho ta mọi chuyện, bởi thế “anh bộ đội đưa cặp mắt nhọn nhìn soi mói ông cha đạo từ đầu tới chân như nhìn một giống người xa lạ, trong giọng nói đã có sự thách đố ngấm ngầm. Anh lên giọng: “Chúng tôi đi chiến đấu không dám kể công với những người ở hậu phương, nhưng ở nơi sống chết mới biết bỏ qua những chuyện vặt vãnh…”

Cha xứ cũng giương mắt nhìn lại:

“Đối với người có đạo thì hàng ngày xin ơn Chúa, tỏ lòng tin, cậy, mến Chúa là việc hệ trọng nhất…”

Hai người nhìn nhau gằm ghè…

Thật không ở đâu, ngày giữa nhà thờ, lại có thứ con chiên hỗn hào với cha xứ đến vậy. Tệ hơn nữa, anh bộ đội lên giọng riễu cợt:

“Giả thử chúng tôi đều trúng tuyển qua kỳ khảo thi của cha thì điều kiện tiếp theo có phải là bỏ quân ngũ không ?”

Vậy là anh con chiên mặc áo bộ đội đã không ngần ngại úp lên đầu cha xứ một cái nón cối tổ bố: ép tín đồ đào ngũ, bỏ bộ đội. Và sau cùng, “anh ta vẫn không rời mắt nhìn ông thầy tu, vành môi trên hơi nhếch lên, cái nhếch môi mới kiêu hãnh làm sao:

“Chúng tôi vẫn tự hỏi: Sự có mặt của các cha có cho thêm chúng tôi được cái gì không? Một câu hỏi đứng đắn đấy. Cha còn trẻ, tôi tin rằng cha có đủ thời gian trả lời…”

Đúng là một thằng khiêu khích, phá hoại “chính sách tín ngưỡng của Đảng, Chính phủ”, vậy mà ông nhà văn lại hạ bút khen: “cái nhếch môi mới kiêu hãnh làm sao…”. Hoá ra không những đồng tình, ông nhà văn còn ca ngợi cái hành động “khiêu khích” đó nữa. Tuy nhiên, mải mê bôi bác, trách móc nhà  thờ, ông nhà văn quên béng một điều là bất kỳ “cuộc chơi” nào cũng có luật của nó. Nếu bài xích nhà thờ dữ dội vậy, thì anh bộ đội với chị cán bộ cứ ra Uỷ ban mà tổ chức đám cưới theo đời sống mới, hà cớ gì phải vào nhà thờ khẩn khoản cha cố “linh động giải quyết” và khi không được thì lập tức giở mặt buông lời riễu cợt mang đầy tính đe doạ, lộ ra bộ mặt giả dối khi muốn nên vợ nên chồng trước mặt đức Chúa Giêsu.

Vênh váo và phách lối vậy, anh bộ đội đã theo “đạo” cộng sản vô thần lại còn muốn cưới vợ trong nhà thờ đâu có biết rằng “Sự có mặt của các cha” sẽ còn kéo dài mãi mãi, còn sự nghiệp của mấy anh bộ đội thì chỉ trong mươi năm nữa là Đảng và Nhà nước “đá” mấy anh về “mất sức”, trả về địa phương, tự bươn chải, kiếm sống. Lúc đó biết đâu, anh bộ đội “đòi cưới vợ trong nhà thờ” thân tàn ma dại, gặp lại cha xứ để nghe cha trả lời: “dù không thêm cho mấy anh được cái gì, nhưng chúng tôi vẫn tồn tại và chắc chắn nhà thờ sẽ tồn tại lâu hơn là trường Đảng của mấy anh…”. Phải chẳng đó là một khía cạnh “triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội” mà Lại Nguyên Ân tung hô tác phẩm của Nguyễn Khải lên mây xanh trên báo Văn Nghệ?

Sau cha già và cha trẻ, ông Nguyễn Khải cho thêm một cha thứ ba nữa “ra sân khấu”. Đó là cha Hoè, người “đi làm phúc, đi thăm kẻ liệt” bằng xe máy. Một lần cha phóng xe, chẳng may đâm vào một bà lão, cha phải chở bà vào bệnh viện, phải trả “mười đồng năm hào” tiền thuốc tiền ăn, lại biếu cụ năm chục để cụ bồi dưỡng, ấy thế mà con gái cụ vẫn mò đến tận nhà xứ − mà theo lời cha  − “cái con quỷ cái ấy nó vừa khóc lóc vòi tiền, lại vừa hăm doạ xa xôi rút lại cha đành phải đưa thêm cho nó năm chục nữa. Vị chi là một trăm mười đồng năm hào. Ấy là chưa kể tiền xăng đi đi về về thăm nom bà lão suốt mười ngày điều trị…”

Quả thực Nguyễn Khải vẽ ra một thằng chạy mánh đâm phải một bà cụ rồi xuýt xoa tính toán chi li số tiền phải móc túi ra đền, chứ chẳng phải một cha xứ gây tai nạn cho con chiên sau đó săn sóc họ với tình thương bao dong.

Thế rồi, một hôm cha Hoè tới thăm cha Thư, dùng cơm trưa xong, “khách quý hớp một ngụm nước to, súc nhổ ầm ầm, lấy tăm gẩy giòn giã cả hai hàm răng vừa to vừa khoẻ rồi lại tiếp tục nói ào ào…”

Cứ hình dung theo cách mô tả của ông nhà văn, người đọc dễ thấy hình ảnh một anh lái trâu chứ không hề là một linh mục, chăm sóc phần hồn của con chiên…

Tuy nhiên đọc tiếp nữa, người ta lại thấy cái ông linh mục Hoè này ngoài cái hình hài rất giống anh lái trâu ra, cái bên trong, lại đúng là một anh cha cố “quốc doanh” được Nhà nước cài vào giáo hội để khủng bố tinh thần các linh mục khác.

Cơm nước xong, cha Hoè doạ cha Thư:

“Chắc là cha biết chuyện Uỷ ban xã Lạc Hồng mời cụ Vịnh (linh mục) lên chất vấn chứ ?”

Rồi cha Hoè kể tội:

“Thật không ai dại như cụ Vịnh. Người ta vừa bế mạc hội nghị Thiên Chúa Giáo chiều thứ bảy, sáng chúa nhật là ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, cụ dám lên Toà giảng nói xưng xưng: « Chúa Thánh thần lấy hình lưỡi lửa hiện xuống, cho nên người bổn đạo phải chú ý sửa lưỡi, phải nói ngay nói thật kẻo lỗi giới răn thứ tám…”. Nói thế bằng tuyên  chiến công khai với mặt trận còn gì…”

Và cha Hòe rủa cha Vịnh:

“Mà ông ta đâu đã trọn, cũng gian dối, cũng mưu mẹo còn hơn kẻ khác…”

Nghe cha Thư nói cha không làm gì cha đâu có sợ, cha Hoè lại doạ:

“Cha không làm gì nhưng kẻ khác làm người ta vẫn cứ lôi cha vào. Một thằng áo chùng làm láo thì cả bọn áo chùng phải mang tội mang vạ. Biết để còn kịp ngăn nhau chứ …”

Rồi cha giở trò “tâm lý chiến”:

“ ……chỉ những tội trọng mà cụ Vịnh đã chủ mưu, đã nhúng tay trong thời kỳ sửa sai cải cách ruộng đất cũng đủ để chính phủ họ xử bắn rồi, không phải chỉ bắn một lần mà phải bắn đủ mười lần. Mấy năm nay con đi hầu cụ Vĩnh tại xứ Nhất này, nên con biết…”

Khủng bố tinh thần cha Thư chán chê, cha Hoè mới lộ ra ý đồ bêu xấu, báng bổ đạo Chúa mà chính ông ta đang làm cha cố:

“Con được cử ra coi sóc xứ đạo trước cha vài năm, con xin thưa với cha một sự thật đau đớn. Nơi nào phần đời thịnh thì giáo hữu còn làm được việc này việc khác, yên ấm nhiều bề. Nơi nào phần đạo thịnh thì cờ bạc, rượu chè, kiện cáo, đôi khi còn đánh chém nhau ngay cả trong nhà xứ. Mắt con nhìn thấy, tự con là người trong cuộc, bảo rằng không nên tin thì chỉ còn cách đâm thủng cả hai tai, chọc mù hai mắt…”

Sau khi mượn mồm giáo dân, chánh trương, trùm họ với cả cán bộ Đảng và Nhà nước để chửi bới đạo chưa thoả lòng mong ước, ông nhà văn Nguyễn Khải chui cả vào linh mục, mượn mồm cha để mà chửi rủa cho bõ tức. Thật không hiểu, ngoài lý do lấy điểm với Đảng và Nhà nước, còn một lý do nào khác làm ông nhà văn này  thâm thù đạo Thiên Chúa đến tận xương tuỷ như vậy?

Cứ theo đúng như lời ông cha Hoè thì giải tán nhà thờ, buông bỏ mọi việc đạo xã hội sẽ “yên ấm” nhiều bề, còn không thì sẽ biến hết thành ma quỷ, xúm vào đâm chém nhau. Vốn là linh mục mới ra trường, đức tin còn rất nặng, cha Thư không sao lọt tai được  những lời lẽ của tên phản Chúa, ông “cười nhợt nhạt”:

“Nếu tôi hiểu được lời cha nói thì cha đang làm lại giáo lý?”

Đây thật là một lời kết tội nặng nề đối với một đấng “chăn chiên”, nhưng với cha Hoè, nó không là cái gì đáng để cha phải nghĩ ngợi, cha vẫn thở ra cái “triết lý sống” vô thần và thực dụng sặc mùi cộng sản:

“nếu con làm theo ý muốn của đức Giám mục thì thân con phải ngồi tù, xứ đạo sẽ khô héo. Con làm theo cách hiểu của con thì việc đời sẽ vui vẻ mà sự đạo cũng trọn lành.”

Cái cách của cha là cam chịu trở thành cái đuôi cho chính quyền, muốn vẫy ngược vẫy xuôi sao cũng được, nhà thờ và giáo hội chỉ còn là một tổ chức quần chúng của Đảng, “kính Chúa và yêu nước tức là yêu chủ nghĩa xã hội…” – chính là con đường Đảng mà Nhà nước muốn xỏ mũi các tổ chức tôn giáo để dẫn dắt họ vào chỗ tự tiêu diệt.

Vài ngày sau, trên đường “kiệu mình Thánh” ở các xã, cha Hoè lại ghé vào thăm cha Thư. Lần này cha Thư còn kinh ngạc hơn nữa vì cha Hoè “không mặc áo nhà tu mà vận sơ mi ngắn tay màu vàng nhạt, quần mầu sẫm, đi giày da nâu, đầu trần, lại cả kính râm nữa. Với bộ quần áo ấy nom cha trẻ đẹp hẳn, mà tự nhiên, thoải mái hết sức…”

Thật hệt chân dung một gã làng chơi đàng điếm chứ chẳng ai ngờ đó lại là cha xứ. Không hiểu Toà Giám mục có còn tồn tại nữa không mà lại để một cha xứ ăn mặc ngông nghênh, nói năng càn rỡ như cái ông cha Hoè này. Đã vậy ông ta còn chọc tức người đồng đạo:

“Con mang cái vỏ của thế gian nom có nghịch mắt quá không?”

Cha Thư kêu lên:

“Đi kiệu MìnhThánh mà mặc xống áo này?”

Rồi cha giảng giải:

“Tôi đi kiệu Mình Thánh phải đi từ sớm mai, túi Mình Thánh đeo trước ngực, áo phép phủ ngoài, dọc đường chỉ nghĩ tới những sự khốn khó Chúa phải chịu, ai hỏi không nói, ai gọi không thưa, mà còn hãi chưa được sùng kính…”

Cha Hoè không những phớt lờ cả luật lệ nhà thờ mà còn trâng tráo, báng bổ:

“Con thì khác. Đã hỏi là con phải thưa, phải chào. Còn nghiêm mặt đi thẳng họ lại nghĩ mình hờn giận việc gì, bực tức gì sinh hiểu nhầm nhau rồi khổ…”

Các nghi thức tế lễ của bất kỳ tôn giáo nào cũng đều  là những quy định hết sức ngặt nghèo và chi tiết để đảm bảo tinh chất tâm linh thiêng liêng là cốt tuỷ của đạo. Ấy vậy mà ông cha Hoè này phớt lờ, tự ý thay đổi coi như chuyện đùa giỡn thì chẳng nói gì tới chức cha xứ mà nếu là con chiên cũng phải chịu hình phạt rút phép thông công. Ông cha này tới chở cha Thư về giáo phận của mình để tham dự “tuần chầu lượt thay địa phận”. Cha Thư từ chối chẳng được đành ngồi rúm sau xe máy cho cha Thư chở đi. Lúc xe máy chạy qua chợ, thấy hai linh mục chở nhau, các cô bỡn cợt, “hét lanh lảnh”:

“Anh ơi… anh cho em đi cùng với…”

Cha Hoè ngồi nhún nhảy, miệng trả lời, đầu vẫn không ngoảnh lại : Lần sau, lần sau tôi sẽ cho ngồi cùng…”

Cái cảnh “cha và con” chim chuột, bỡn cợt nhau ngay giữa ban ngày ban mặt ở chính giữa chợ liệu có thể xảy ra ở một xứ công giáo toàn tòng như Bùi Chu- Phát Diệm được chăng? Ông nhà văn thật khéo bịa đặt bôi xấu Thiên Chúa giáo. Thời bấy giờ, cả nước đang đói, nông dân vắt mình trên đồng ruộng hợp tác mỗi công tính ra cũng chỉ được vài lạng thóc, ngày hai bữa ngô sắn, rau muối là chính, vậy mà ông nhà văn tả bữa ăn của các cha xứ thật không thua gì mấy ông Uỷ viên Bộ chính trị: “Thịt gà rán, miến xáo lòng, lại thêm bát riêu cá thật cay, ăn với rau ghém …”. Hai cha lại còn có cả rượu thuốc đưa cay. Cha xứ sống “sướng” như vậy, ai chẳng muốn đi tu!

Sau bữa cơm có một cặp trai gái đến xin làm phép cưới. Khác với cái lần “anh bộ đội và chị cán bộ” bị cha Thư cương quyết từ chối vì không thuộc kinh; lần này đến với cha Hoè, hai “anh chị cán bộ” này cũng “xin không phải khảo kinh”. Nhưng cha Hoè khôn hơn, không máy móc như cha Thư, cha gà cho hai con chiên:

“Hỏng, hỏng, các anh các chị đi làm cán bộ rồi thì bỏ đạo hết. Hội Thánh đã dậy: đi đâu thì đi, ở đâu thì ở, sớm tối vẫn phải nhớ đọc kinh… Thế nào, không thuộc được một câu nào hả? Chỉ cần thuộc một câu là tôi làm tờ chứng cho ngay. Vậy kinh Tạ ơn Đức bà có thuộc không? “ Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Đức Chúa Lời  ở cùng bà…”

Cặp thanh niên đã ngồi lại rất nghiêm ngắn lẩm nhẩm đọc theo…”

Vậy là xong, “thủ tục” làm lễ cưới tại nhà thờ được đơn giản hoá tới mức độ hài hước, ngay đến người chứng cũng chỉ là ông trùm, chốc lát đã xong, cha xứ dặn dò:

“Vậy là được, sáng mai tôi sẽ viết tờ chứng là cặp này không có mắc trở gì? Ngày mốt sẽ làm lễ hả? Cũng được, cô cậu chỉ phải chi phí ít tiền dầu nến, ít thôi, ít thôi, dăm mười đồng gì đó, cứ đưa cho thầy Tín, ông ấy mua bán thế nào sẽ tính toán lại sau. Nào còn có lo lắng gì nữa ?”

Cả mấy người đều đứng lên mặt tươi rói, riêng có cha Thư bụng thắc mắc:

“Họ làm những công việc thiêng liêng ấy một cách trần tục vậy sao?”

Khi còn lại có hai cha với nhau, cha Hoè mới “truy vấn” cha Thư, dồn cha vào cái bẫy để kết tội cha “lẹo tẹo” với con chiên:

“Con lạy cha, cha đừng diễn trò cả với con nữa. Cô ấy đã thú nhận với cả con rồi… cha đã lợi dụng lòng sùng kính thiêng liêng của những cô gái thơ ngây để mưu lợi lộc cho riêng mình….”

Cha Thư choáng váng trước đòn vu cáo trắng trợn. Cha như “người bị bóng đè, muốn kêu cứu thật to nhưng tiếng kêu không lọt qua được kẽ răng, muốn vùng  chạy ra ngoài nhưng chân tay đã bị trói chặt. Còn cái mặt quỷ thì cứ sát gần lại mãi, đã nhìn rõ cả vè mắt của nó, chóp mũi của nó, chân răng của nó. Và cả cái giọng nói của quỷ, nhẽo nhợt, tanh tưởi, cứ bò bám lần lần lên khắp da thịt…”.

Ông nhà văn viết về hai linh mục mà người đọc có cảm giác ông viết về hai cán bộ Đảng. Họ cũng moi móc, sát phạt nhau, nhìn nhau như quỷ dữ chẳng khác gì cán bộ trong “đấu tố”. Phải chăng do đi sâu đi sát cán bộ, ấn tượng về họ quá chi tiết, quá sinh động đã ăn sâu vào tâm khảm ông nhà văn nhưng không dám viết ra nên dồn nó vào hình tượng linh mục? Cái lối lột trần nhau ra một cách trắng trợn không phải của các nhà tu hành mà chính là của cán bộ Đảng:

“Cha phàn nàn kêu ca rằng diềm ren áo lễ của cha rách, rằng giây thắt lưng của cha ngắn, rằng vải may áo chùng thâm vừa thô vừa dày. Cha đã kêu than thì bọn họ phải góp sức mà lo liệu… Đến khi việc vỡ lở, chính quyền can thiệp, lập tức cha nhắm mắt, sõng tay, coi như kẻ đứng ngoài. “Nào tôi được biết gì đâu. Họ đã lợi dụng danh nghĩa tôi để làm bậy đấy chứ!” Hèn lắm cha ơi !…”

Cái lối nói lóc thịt lóc xương, chỉ trong các buổi họp kiểm điểm, “đấu tố”, các cán bộ mới moi gan móc ruột nhau như thế. Chẳng hiểu có phải “suy bụng ta ra bụng người”, ông nhà văn dựng lên một linh mục tên Hòe quay quắt, nham hiểm, cơ hội chủ nghĩa không khác một tên cán bộ gian manh. Tên cha cố này chẳng còn “niềm tin nơi đức chúa Giêsu”  mà đối với đức cha bề trên y cũng đầy tức tối:

“Quay mặt về Toà Giám thì đấng bề trên chỉ một mực hò hét chống cộng, bất hợp tác với chính quyền. Ấy là ngài xui bề tôi làm, còn chính ngài lại nhỏn nhẻn, nhũn nhẽo như kẻ biết vâng phục nhất. Rủi khi mình bị tóm gáy, còng tay thì ngài mới sửng sốt kêu lên: Ơ, cái thằng ngu thế, Chúa nào bảo nó chống lại người cầm quyền. Nó có ngồi rục xương trong tù cũng là phải…”

Liệu có một đấng Giám mục nào “chỉ một mực hò hét bất hợp tác với chính quyền” khi tu sĩ bên dưới bị tóm gáy lại trở mặt “Chúa có bảo chống lại người cầm quyền đâu?”. Số các cha Giám mục ở miền Bắc không nhiều, liệu ông Nguyễn Khải có dám dẫn chứng một đức Cha “lá mặt, lá trái” như vậy không?

Cha bề trên đã vậy, đến các linh mục chăn chiên ở bên dưới cũng ma lanh không kém:

“Nhưng, thưa cha kính mến, chúng con cũng khôn lắm, chúng con đã liếc mắt, cười duyên với nhà cầm quyền từ lâu rồi. Hẳn là họ phải tin chúng con hơn, dẫu sao chúng con cũng được lớn khôn dưới chế độ mới. Còn cha quản hạt, người coi sóc giáo lý và tu đức của chúng ta? Ông ấy mặc kệ, ai muốn làm gì thì làm miễn là đừng có lôi ông ta vào cùng một rọ…”

Từ đầu truyện, ông Nguyễn Khải đã đặt nhà thờ trong tương quan đối đầu với Nhà nước, tới đây ông lại tưởng tượng ra những “con ngựa thành Troie”, những cha cố phản Chúa “đi đêm với cộng sản”. Phải chăng đây là khía cạnh “triết luận” giữa “công giáo” và “chủ nghĩa xã hội” mà phê bình gia Lại Nguyên Ân đã tâng bốc tác phẩm của Nguyễn Khải ngay khi nó mới được xuất bản?

Sau vố bị cha Hoè truy vấn và mạt sát, cha Thư rút ẩn vào chính mình, “đã hoá ra con người trầm lặng và buồn bã”. Trong số người giúp việc, cha chỉ quý mến có mỗi  mình một cậu bé giúp lễ tên Tú với một tình cảm đặc biệt:

“Cậu bé chỉ đứng nhìn ông cha trẻ bằng cặp mắt trong suốt, nghiêm nghị và miệng hơi mỉm cười là bao nhiêu bực giận đã lập tức tiêu tan, là đã muốn mỉm cười đáp lại và thăm hỏi một câu thật dịu dàng”.

Tình cảm giữa ông cha trẻ và cậu bé giúp lễ được đẩy xa tới mức như tình cảm …cha con, anh em lại phảng phất mầu “bồ bịch”:

“Vả lại cậu ta còn biết cách săn sóc người chủ vừa tỉ mỉ vừa âu yếm, đem lại cái vị mặn của trần tục vào cuộc sống nhạt nhẽo thiêng liêng. Chính là cái vị muối của thế gian đã gắn bó họ lại như anh em, như cha con, và nếu họ phải xa nhau thì nỗi đau đớn chia ly cũng sẽ rất xác thịt…”

Rất có thể có sự gắn bó thân mật giữa một cha linh mục và một phụ lễ trong hoàn cảnh vắng vẻ của nhà thờ, nhưng ông nhà văn lại để cho ông cha dạy cậu bé  giúp lễ những điều lọc lõi, gian ngoan thì chẳng đúng với tâm hồn nhà tu hành chút nào. Ta hãy nghe đức cha dạy bảo cậu bé con:

“Người lớn hay nghi ngờ, hay cứng cỏi, còn trẻ con thì tin tưởng và phó thác. Người lớn thì kiêu ngạo, tham lam, còn trẻ nhỏ thì hiền hoà, nhường nhịn. Người lớn gian xảo, dối trá, còn trẻ nhỏ chỉ nói có nếu là có, nói không nếu là không. Người lớn là con rắn, trẻ nhỏ là bồ câu. Chúa đã từng vẫy gọi: Hãy để trẻ thơ đến cùng ta, đừng có cản chúng. Bởi chưng nước Trời  thuộc về những kẻ giống như chúng…”

Ông cha có thể ca ngợi trẻ con với trẻ con, nhưng sao lại gây cho trẻ con lòng thù ghét, ngờ vực người lớn đến thế này:

“Con ơi! Thầy ghê sợ mọi người, trừ trẻ nhỏ. Ai ai cũng có thể hãm hại được thầy, trừ những kẻ trong trắng, ngây thơ như các con. Thầy nói bằng thật vì thầy đã từng  biết. Lời nói ngọt ngào nhưng lại đọng vị đắng cay; mời chào và cởi mở là bẫy vô hình: gương mặt thánh thiện che đậy những mưu mô hiểm độc. Thầy đã bị khốn mấy lần rồi. Con nên tin lời thầy dặn…”

Thật vô lý hết sức, ông cha Thư mới chỉ va chạm với cha Hoè, với một số chánh trương, trùm trưởng vài ba chuyện lặt vặt nhỏ bằng con kiến mà trong đầu cha đã hằn lên lòng căm thù và mất tin tưởng với người lớn, tức giận với con người thì ông còn tu ra làm sao? Đã vậy, ông còn xui bậy con nít:

“ …phải biết ngờ vực những cảm tưởng tốt đẹp ban đầu, phải biết tránh xa những cám dỗ có tính xác thịt. Mắt thấy đẹp tức là không đẹp, tai nghe hay tức là không hay, lưỡi nếm ngon tức là không ngon…”

Linh mục là đấng chăn dắt linh hồn cho con chiên. Con chiên gần gũi linh mục ắt phải được học hỏi, trau dồi tâm hồn trong sáng và cao thượng. Vậy mà cậu bé phụ lễ  gần gũi cha Thư, suốt ngày bị cha nhồi nhét tư tưởng thù hằn và mất lòng tin vào người, nhà thờ đã biến thành nơi đầu độc con người nguy hiểm như vậy, liệu có  đáng tồn tại?

Hoá ra “triết luận” về đạo Thiên Chúa giáo và “chủ nghĩa xã hội” của Nguyễn Khải là như thế đó?!

Cậu Tú phụ lễ cho cha sống trong nhà đạo cũng không yên, cậu phải đi lao động công ích với thanh niên nam nữ trong xóm. Ra ngoài, tiếp xúc với đời, lại nghe lời khích bác rủ rê của một ông nguyên trưởng đội kèn:

“Giả sử chúng tôi lại có một người con trai như cậu, nói cậu bỏ lỗi nhá, thì tôi chẳng còn ước ao cái nước thiên đàng nào khác. Cậu đưa bàn tay tôi xem, bàn tay đẹp quá, vừa mỏng vừa mềm, tay này có học nghề gì cũng mau giỏi, mau khéo…”

Ra ngoài đời được vui vẻ, thoải mái, được tâng bốc rủ rê, trở về nhà đạo, cậu Tú lại nghe ngập tai những chuyện bê bối xấu xa trong các thầy dòng, các cha cố. Nào chuyện khai gian tiền chợ để tư lợi, nào chuyên trai gái của các cha đời trước… Cứ một đằng “đời” thì kéo, một đằng “đạo” thì đẩy như vậy, trước sau cậu Tú phụ lễ cũng phải bỏ đạo mà về với đời. Bàn tay dàn xếp của ông nhà văn quá lộ liễu tới mức lòi cả cái động cơ bôi xấu nhà thờ của ông ra. Cuốn sách vì thế mà mất hẳn đi phần chân thực là cái cốt lõi, không thể thiếu  cho một tác phẩm văn chương.

 

“Cái xấu” của nhà thờ, từ miệng những người ngoại đạo nói ra đã ghê, nay lại từ miệng một cậu phụ lễ nói ra thì “độ tin cậy” lại càng tăng lên gấp bội, nhất là cậu lại nói với cha xứ:

“Thưa thầy, ngày hôm nay con được nghe nhiều chuyện đến nhơ nhớp, chưa bao giờ con được nghe người ta nói với con, nói với nhau những chuyện lạ lùng đến thế …”

Lẽ ra cha xứ là linh hồn của nhà thờ, phải bảo vệ uy tín cho đạo, phải tìm cho ra thực hư trong “những câu chuyện nhơ nhớp” mà cậu phụ lễ “buôn chuyện” ở đâu về nói với cha, đằng này không những không răn đe đệ tử, cha Thư lại còn phụ hoạ với cậu, bôi thêm tiếng xấu, kể tội nhà thờ mà chính cha  là đại diện:

“Một cặp kết bạn đến đưa cho đấng chăn chiên tám chục đồng, đấy là tiền biếu riêng, còn phí tổn dầu nến người ta đã chi một món khác rồi. Đấng chăn chiên đưa trả lại năm đồng, chỉ cầm có bảy mươi nhăm đồng, rồi bảo: Cha chỉ lấy một nửa, còn cha cho con một nửa. Vậy là cha đã nâng giá lễ xin phép cưới từ tám chục lên trăm rưởi…”

Vào những năm của thập kỷ 60, nền kinh tế thị trường còn hoàn toàn xa lạ với “miền Bắc xã hội chủ nghĩa”, thì chuyện lấy tiền “làm lễ cưới” như một thứ dịch vụ là một “tội lỗi xấu xa” làm hai thầy trò cha xứ và cậu phụ lễ rất ghê tởm. Cha lại tố cáo tiếp:

“Có bảy cặp làm lễ vào tối thứ bảy. Sáng chúa nhật linh mục rao ở nhà thờ chỉ hoan hô có ba đôi sáu anh chị em đã có tinh thần ngoan đạo. Đấy là ba đôi có tiền xin lễ cưới, còn bốn cặp kia chỉ làm phép cưới suông thì coi như không có. Có tin được không? Không thể tin được! Không thể tin như vậy được! Lạy Chúa…”

Cha kêu lên vì phẫn nộ, cha không còn biết chia sẻ với ai cái nỗi ghê tởm đó ngoài cậu phụ lễ mà cha coi như người đồng tâm ý hợp, như một đứa con tinh thần. Cha đứa chén nước cho cậu phụ lễ, ân cần:

“Con uống với thầy một chén. Cả hai chúng ta đều phải nghe những chuyện quá đỗi tồi tệ trong ngày, uống một chén trà để thanh tẩy chúng ra khỏi tai ta, ra khỏi mắt ta, ra khỏi miệng ta…”

Vậy là cha linh mục và thầy phụ lễ đã ngầm với nhau họp thành một khối tách khỏi sự dơ bẩn của nhà thờ. Tất nhiên ông nhà văn không dừng lại ở chỗ đó, ông sẽ còn đẩy cha cố và thầy phụ lễ đi xa hơn nữa về phía… cách mạng để cho trong cái cuộc gọi là “triết luận về Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa xã hội”, phần toàn thắng phải thuộc về “sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân”, minh hoạ cho “luận thuyết” “ai thắng ai” một thời bao trùm lên đời sống tinh thần của nhân dân miền Bắc.

Mang sẵn trong lòng những ám ảnh ghê tởm nhà thờ, cha Thư  không còn con đường nào khác ngoài … đi về phía nhân dân lao động. Và một ngày nọ, ông chánh trương trố mắt nhìn cha linh mục ăn mặc như một anh nông dân: “cha mặc chiếc quần xanh đã cũ, một cái áo cộc tay nhuộm nâu, chân đi dép cao su, đầu đội mũ lá như …một anh cán bộ”, khiến ông chánh trương phải kêu lên:

“ Lạy Chúa ! cha đi đâu sớm vậy, mà lại ăn mặc như vầy ?”

Hoá ra cha đi thăm… bà con đang lao động sản xuất, hơn thế nữa, cha muốn cùng lao động với bà con:

“Ông chánh giới thiệu tôi với ông phụ trách tổ làm màu nhá. Tôi muốn hàng ngày tới đó làm một buổi. Còn việc nhà Chúa chỉ cần làm một buổi là đủ…”

Quả ông nhà văn thật “to gan”, ông gán ghép cho cả cha cố “giác ngộ ý thức lao động”, coi “lao động là vinh quang”, từ bỏ vị trí “đạo cao đức trọng” để đòi “ba cùng” với nông dân không khác gì cán bộ cải cách ruộng đất. Tất nhiên ông chánh trương không đời nào để cha  phá vỡ lề luật của nhà thờ như vậy. Ông nhắc nhở cha:

“Chúa đã phân mỗi người một việc. Việc của cha trọng hơn việc chúng con, sao lại bỏ việc trọng để làm những việc khác…”

Cha chẳng những không nghe theo ông chánh trương mà còn tỏ vẻ thích thú được thoát cái vỏ làm cha:

“Tôi ra cùng làm với bà con chứ thăm thú gì ….”

Ra đến đường, cha Thư lấy kính râm đeo rồi hỏi nhỏ:

“Nom tôi đã ra anh cán bộ chưa ?”

Ôi trời ôi, làm cha cố mà lại muốn… giống cán bộ, muốn học theo bác Hồ “đi sâu đi sát”, cùng lao động với nhân dân. Ông “cha cố” của Nguyễn Khải đúng là cha dở người, sắp bỏ áo chùng thâm để xin vào Đảng thật rồi. Quả nhiên ông chánh trương nghĩ thầm về cha: “Ông này đã ra dở thật. Mặt mũi thì võ vàng, quầng mắt thì thâm đen, ăn nói lúc khôn lúc dại. Đến tội nghiệp!”  và cố khuyên giải cha:

“Cán bộ họ không vận áo thâm chùng, thì người mặc áo thâm chùng không nên vận quần áo của cán bộ, ăn mặc phải cho nó phân minh…”

Thấy cha xứ khăng khăng không chịu nghe theo, ông chánh trương đoán già đoán non:

“Không khéo ông này đã có ý định bỏ xứ về gánh vác việc đời hẳn. Người còn trẻ lại đẹp đẽ thế kia, có đi tu cũng khó…”

Tất nhiên, cha Thư không hề có ý định bỏ đạo, ông chỉ muốn làm một thứ “linh mục đời mới” một chân trong nhà thờ, một chân thò ra ngoài xã hội, thực hiện đúng phương châm Nhà nước đề ra cho các nhà tu hành sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa: “tốt đời đẹp đạo”. Bởi thế, cha Thư mới tuyên  bố:

“Tôi vẫn dâng trọn đời tôi để rao giảng Tin Mừng, nhưng không ở nhà tu, không mặc áo chức. Tôi sẽ sống như mọi người…”

Đó chính là cái hình mẫu “linh mục” “tốt đời đẹp đạo” mà Đảng và Nhà nước bấy lâu nay vẫn đưa ra làm mẫu mực cho các linh mục trong Hội những “người công giáo yêu nước”. Vậy thực chất của cái gọi là “triết luận về Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa xã hội” mà nhà phê bình văn học gán cho “Cha và con và…” của Nguyễn Khải thực ra chẳng có gì là ghê gớm mà chỉ “minh hoạ” cho cái chủ trương “tôn giáo vận” của Đảng và Nhà nước đẻ ra cái hình mẫu quái thai “cha cố tốt đời đẹp đạo” mà thôi. Cái hình mẫu “quái thai” ấy nhất định vấp phải sự phản đối của con chiên. Bởi thế khi cha Thư xin một chân “lao động sản xuất” ở trại rau để “tự nuôi mình”:

“…tôi không muốn ai nuôi tôi cả. Tôi còn khoẻ mạnh, tôi có thể làm lấy mà ăn được…”

lập tức bị ông Tài, con chiên, phản đối:

“Thưa cha không được đâu ạ, không thể làm thế được ạ, rồi cái đứa xấu bụng nó nói này nói nọ, chúng con sẽ giải thích ra làm sao …. Lạy cha, cha mà làm thế bằng trát bùn vào mặt chúng con còn gì. Xứ đạo này đâu đã đến nỗi túng thiếu ?”

Ông linh mục trẻ vẫn khăng khăng đòi đi “lao động sản xuất”:

“Họ nghĩ sao mặc họ, miễn là mình làm không sai…”

Đến nước này, ông Tài đành phải viện dẫn “cha bề trên” ra:

“Xin cha cứ theo gương cha quản hạt mà xử sự. Ngài chẳng phải làm gì  mà việc đời cũng tốt, việc đạo cũng hay…”

Thật không ngờ, câu nói đó lại làm ông linh mục trẻ nổi cáu, ông phẫn nộ “chê trách” cả đấng cha bề trên:

“Tôi khác, tôi còn trẻ, tôi không thể sống giống như một ông già đã chín chục tuổi đầu. Cụ ấy có thể giơ bàn tay ngồi ngắm cả giờ không chán, chứ tôi mà ngồi thế thì phải nổi điên…”

Quả thực người ta không hiểu ông nhà văn đang viết về một linh mục hay là một thanh niên “tích cực lao động xã hội chủ nghĩa” đây? Cứ cái đà nhiệt thành “cải tạo đạo Thiên Chúa” này chắc hẳn nhà văn Nguyễn Khải phải viết hẳn một cuốn “Cha và con và…” phần 2 để cho linh mục Thư cởi bỏ áo choàng thâm, giác ngộ Đảng, giác ngộ giai cấp, phấn đấu thành một cán bộ tuyên huấn mất! Chẳng thế mà ông nhà văn cho ông linh mục hăng máu lên, mạt sát nhà thờ:

“Tôi không muốn sống như các linh mục khác, sống như thế nhơ nhớp lắm, mỗi người nhơ nhớp mỗi cách. Tôi còn trẻ, tôi còn đủ thời giờ để lại chút ít tiếng tốt cho xứ đạo. Bằng không làm được gì hơn thì trả lại áo chức mà về. Sống như kẻ có tội đã đau đớn, lại không được phép cứu chuộc mới thật là đau đớn hoàn toàn …”

Trải qua mấy thập kỷ, ông nhà văn hẳn đã thấy rõ, ai là người sống nhơ nhớp? Các linh mục trong nhà thờ hay các quan chức cán bộ ở ngoài đời?

Có lẽ trong đời chưa một lần chứng kiến cảnh linh mục lại mạt sát cha cố tàn bạo thế, bởi vậy ông Chánh trương Tùng và Tổ trưởng sản xuất Tài cứ trợn cả mắt há cả mồm.

“Ông Tùng đưa mắt nhìn ông Tài, có ý hỏi: Cái ông này bữa nay làm sao vậy ?. Ông Tùng cũng nhìn lại, buồn bã: Thì đã bảo ông ta ra dở rồi mà…”

Đúng là chỉ có một cách giải thích duy nhất là cha Thư bị …điên thì mới hành xử ngược đời ngược đạo đến vậy. Càng ngày cha càng biến đổi, càng ngày cha càng xa rời “linh mục” để biến dần thành anh “cán bộ”.

Trước hết, về y phục, cha “bình dân hoá” bằng cách “Có hai bộ quần áo trắng mặc trong cha đem dấn nâu tất. Ở trong nhà xứ thì mặc quần áo nâu, ra ngoài nhà xứ chùm lên cái áo chùng thâm và đi đôi dép cao su. Có bận lại thắt ngoài một sợi  dây vải nữa…”.

Còn về ăn uống, cha chỉ dùng “mỗi ngày một bữa cơm vào giữa trưa, còn bữa tối chỉ húp lưng cháo hoặc ăn vài củ khoai riềng….”

Ban chánh trương không cho cha “tham gia lao động sản xuất” sợ mang tiếng, thì “cha đi lang thang khắp các xóm, vào nhiều nhà, hỏi han đủ chuyện và nếu chủ nhà giữ lại mời cơm thì cha trả lời rất nhũn nhặn: Tôi đã ăn rồi, tôi không ăn được nhiều, đừng có ép tôi…”.

Xưa nay, các xóm đạo được cha tới thăm là một vinh dự hiếm có, cả làng cả xóm, rục rịch chuẩn bị đón cha từ mấy ngày trước. Riêng đối với cha Thư thì ngược lại, vì cha cứ tới luôn xoành xoạch “ngồi tiếp thì mất việc mà bỏ đi làm cũng không đành, nên vừa thấy sứ giả của Chúa lò dò vào cổng là trẻ con được bảo trước đã chạy vội ra nói dối bố mẹ hay ông bà nó vắng nhà…”

Thật chưa có ông linh mục nào lại giảm sút uy tín trong con mắt giáo dân như cha Thư cho dù đang cố gắng thực hiện phương châm “tốt đạo đẹp đời” mà Đảng và Nhà nước cho kẻ thành khẩu hiệu dán đầy ở các xóm đạo.

Đi xuống dân bị dân tránh mặt, cha Thư đành “đóng cửa ngồi lì trong phòng riêng đọc sách từ sáng đến tối, không tiếp một ai…”. Ngồi trong buồng chán rồi, cha Thư  mang sách ra ngoài trời đọc. Hôm đó cha tìm được “một cụm tre ngay sát một cái cầu đá”, rất yên ắng và mát mẻ để ngồi đọc sách. Dân làng dường như đã quen với những hành vi khác thường của cha xứ nên khi cha vừa đi qua “họ  liền ngoái cổ nhìn theo, cái nhìn bần thần xót tiếc: Khốn nạn! Con người khoẻ mạnh đẹp đẽ thế mà ra dở ?”.

Cha xứ đã muốn “lìa đạo” rồi, ai ngờ ngồi đọc sách ở cái “cụm tre bên cái cầu đá” ấy lại cũng gặp một anh… tu xuất, bỏ đạo về đời.  Anh này đã học ở “tràng lý đoán” – tức trường học ra làm cha xứ được vài năm, đã được “chịu phép cắt tóc là đã được vào sổ các thầy tư giáo”, trong Hội thánh có 7 chức  thì anh ta đã “được chịu chức cầm nến” tức là chức thứ tư rồi, chỉ còn hai năm nữa là anh ta đã thành linh mục năm mới 24 tuổi. Tu sắp thành “chính quả” vậy mà anh chàng ngang xương bỏ về bởi lẽ những người thầy dậy anh trong hội thánh đều là bọn mà anh ta cho là “học vấn thì tầm thường, mọi quan niệm đều lạc hậu, tư cách lại hèn kém, nói cho thật họ không được  phép rao giảng những lời cao đẹp…”

Vậy là dựng nên nhân vật cha Thư chửi đạo dường như chưa thoả lòng căm giận Thiên Chúa giáo, ông nhà văn Nguyễn Khải phải đẻ thêm một chàng “tu xuất” nữa để mượn mồm chàng chửi tiếp cho hả dạ. Anh này đưa ra cái lý do bỏ tu thật là “cao quý”:

“Con chỉ không muốn bị dắt kéo bởi những người mù. Theo chân họ rồi có ngày bị sa hố…”

Ta hãy thử tưởng tượng một chàng thanh niên tuổi hãy còn măng tơ, vào học trường dòng từ nhỏ, sắp sửa tốt nghiệp thành cha, vậy mà dám chê bai những người thày của mình là hèn kém, là dốt là mù…. thì anh ta nếu không phải là phường vô ơn bạc nghĩa cũng là quân đầu đường xó chợ, trốn học đi bụi đời.

Sau lần cha Thư gặp thày “tu xuất” nghe thày báng bổ đạo được vài ngày thì lại tiếp thêm một ông cha Hoè hăng hái bôi đen cái áo choàng thâm nữa. Ông này kể chuyện về một “chiến sĩ đầy lòng quả cảm của Hội thánh, một nhà lãnh đạo và tổ chức hết sức khôn ngoan của địa phận”, người đó là “cha Vinh” vừa mới bị “đuổi khỏi hàng ngũ giáo sĩ hết sức đột ngột” vì tội …hủ hoá.

Bằng một giọng vô cùng khoái trá của kẻ tiểu nhân, cha  Hoè kể lại vụ việc “ngã ngựa” của người đồng liêu. Trước  hết cha lên giọng mạt sát:

“Ông Vinh được chết lành thì còn ai muốn giữ mình cho nên. Một đời mưu chước hại người, nay mới bị người hại lại. Mà dơ dáy vô cùng, dẫu người thân cũng phải che mặt mà tránh…”

Chửi bới chán chê rồi cha mới đi vào tường thuật chi li bằng thứ ngôn ngữ chẳng phải  của nhà tu hành chút nào:

“Cái đứa nữ ấy cũng đã ngoài ba chục tuổi, vốn có tính huê nguyệt, người mỡ màng phốp pháp, ăn nói cũng khôn khéo, ngọt ngào… Cha đã có tuổi hay đau ốm vặt nên cái đứa kia mới có dịp bưng cơm lên dọn cơm xuống, rồi hầu nước hầu thuốc, lâu dần thành cô hầu phòng, ngày nào không thấy đến, ông già lại có ý giận, có ý ghen…”

Lẽ ra nói về “cái sự trượt ngã của người khác”, nhất là của đức cha Tổng Giám mục, nếu là người có đôi chút tự trọng, ắt chỉ nói qua loa, vắn tắt, bóng gió, ngờ đâu, cha Hoè càng kể càng chi li, thích chí:

“Mà chuyện cũng đã dăm sáu năm nay rồi, chứ chẳng phải mới có ngày hôm qua… Mãi đến đêm hôm vừa rồi, cái chuyện mờ ám giữa hai người mới hoàn toàn bị vỡ lở. Ai đời ngủ với nhau lại không cài then cửa bao giờ. Ờ thì cái chuyện ăn vụng bị bắt quả tang tiếng là xấu nhưng thế gian cũng đã thường. Cái tâm lý con người mình có thể hiểu được …”

Rào đón kỹ càng rồi, cha mới hạ nhục đồng liêu xuống đất đen:

“Nhưng cái ông già ấy lại quỳ sụp xuống mà xưng con xưng cháu, khóc lóc kêu van những kẻ đối địch hãy tha thứ, hãy làm ngơ, cần gì sẽ dâng hiến bằng hết thì tôi không thể nào hiểu nổi. Cái tâm lý ấy nó kỳ quái quá, làm sao mà hiểu được …”

Cái giọng bôi bác “thày cả” độc địa này không một chút tình cảm thông, đập một nhát cho chết, rõ là không phải giọng của linh mục “đồng liêu” mà là của … nhà văn Nguyễn Khải ra sức bôi bác nhà thờ để lấy điểm với Đảng và Nhà nước:

“Cấy ác thì gặp ác, dẫu là tôi tớ của Chúa cũng chẳng thể bênh. Chúa chẳng có tội gì còn bị đẩy lên khổ giá huống hồ một kẻ tội lỗi chất chồng. Rồi còn nhục nhã hơn nữa kia, chưa hết đâu…”

Thật khó hiểu vì sao, cha Hoè sau khi đã thoả thuê mạt sát đức cha Vinh tội hủ hoá, tiếp đó lại còn lớn tiếng chửi bới suốt lượt cả giới linh mục nhà Chúa mà chính ông ta cũng là một thành viên:

“Có nhiều cha hễ mở miệng nói rặt điều nhân đức nhưng cách sống lại rất đáng phàn nàn. Chuyện ông Vinh chỉ là một chuyện vặt được  lôi ra trước công luận. Còn lắm chuyện hệ trọng hơn vẫn được nhiều đấng bậc ở toà Giám giữ kín trong bóng tối, con là cái thằng hay thóc mách nên cũng biết được ít nhiều. Vì được biết ít nhiều nên con mới dám nói này nói nọ mà không sợ bị phạt vạ treo chén. Họ làm bậy còn được quyền  tế lễ Chúa, huống là con…”

Thực là một lời tố cáo hết sức đanh thép sự thối nát của Toà Giám mục, nhất là lại từ miệng một đức cha sống ngay trong nhà Chúa đưa ra, thử hỏi ai mà còn dám nghi ngờ. Ông nhà văn Nguyễn Khải quả là rất ranh ma khi mượn lời toàn của người nhà Chúa để mạt sát các đấng chăn dắt con chiên của Chúa. Cuốn sách gọi là tiểu thuyết “Cha và con và…” thực ra là một bản án hết sức nặng nề đối với Thiên Chúa giáo tại Việt Nam mà lạ thay gần 40 năm sau khi nó ra đời vẫn chưa có một ý kiến phản biện nào thuộc phía những người bị bôi xấu. Cuốn sách vẫn nghiễm nhiên là một “thành tựu” trong kho tàng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bôi đen đạo thiên chúa là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt cuốn truyện “Cha và con và…” của Nguyễn Khải cho tới tận chương cuối cùng. Ông cha Vinh sau khi bị bắt quả tang ngủ với cô hầu phòng đã “cướp  quyền của Đức  Chúa Trời, tự huỷ hoại cuộc sống của mình. Khi người nhà xứ phá cửa vào đã thấy xác treo lủng lẳng. Mà phải chết từ đêm vì chân tay đã cứng”. Sau khi cha Vinh chết, cha quản hạt cho gọi cha Thư – ông linh mục đang “chán đạo muốn về đời”, tra vấn:

Xin cha tha lỗi cho tôi nếu tò mò muốn hỏi một câu này: cha còn điều gì chưa được  hoàn toàn hài lòng về những người  cộng sản?”  

Đó là một câu hỏi xúc phạm đối với cha Thư – một người rất có cảm tình với cách mạng, bởi vậy cha nghiêm mặt:

“Thưa cha, sao cha lại hỏi con chuyện đó ?”

Rồi cha bầy tỏ “lập trường cách mạng”:

“Con cảm phục cuộc cách mạng nói chung, có cách mạng chúng con mới được  làm người tự do, làm một giáo sĩ tự do. Nhưng con chưa thể hoàn toàn bằng lòng những cán bộ cách mạng nói riêng. Đến là mâu thuẫn. Nhưng …thưa cha, con có thể sống được  lâu dài với cái mâu thuẫn ấy. Vì con biết vâng lời người cầm quyền..”

Ngày nay nếu ông Nguyễn Khải nói với cha Nguyễn Văn Lý rằng “có cách mạng mới được  làm một giáo sĩ tự do” chắc hẳn cha sẽ tưởng ông nhà văn này giễu cợt, bởi lẽ bằng vào đối xử của Đảng với các tôn giáo trong mấy chục năm qua, ngay đến cán bộ tôn giáo vận của Đảng cũng không dám nói những điều “ngượng mồm” như vậy . Ấy thế mà ông Nguyễn Khải lại đưa nó vào tác phẩm văn học thì đủ hiểu ông ta bồi bút đến cỡ nào. Ông cha trẻ nói năng đã “lập trường” vậy, đến ông cha già quản hạt lại còn “cách mạng” hơn. Ông “chỉnh” câu trả lời của cha Thư:

“Vâng lời chưa đủ, còn phải hiệp tác. Có hoan hỉ thật lòng thì mới hợp tác được.”

Vậy là cha quản hạt muốn cha Thư phải ngoan ngoãn vâng lời  nhà cầm quyền một cách tự nguyện chứ không phải miễn cưỡng, tức phải “hoan hỉ mà vâng lời” kia. Sau khi gặp cha quản hạt trở về, cha Thư vui vẻ cho phép cậu giúp lễ tham gia vào… đội gặt của hợp tác xã. Khi cậu ta đi rồi, cha càng thấy chán đạo, càng cảm thấy nhà thờ ngày càng giống như nhà tù:

“Rồi trong cái nhà tù này chỉ còn có ta thôi, một ông cha xứ đã lẩn thẩn, và mấy người hầu việc đã quá già. Nhà tu, nhà nguyện, nhà dòng, nơi chỉ chăm lo có sự cứu rỗi thì bóng tối và cái chết là ơn ích của nó…”

Không hiểu ông nhà văn còn đòi hỏi ở nhà thờ những gì ngoài “chăm lo sự cứu rỗi”? không lẽ ông muốn thành lập hợp tác xã thủ công sản xuất quạt nan hoặc đậu phụ thì mới xua được “bóng tối và cái chết”? Nhìn nhận về tôn giáo nông cạn thế mà ông nhà văn muốn nhân danh “chủ nghĩa xã hội” để “triết luận” với Thiên Chúa giáo thì thật là mù quáng đến tội nghiệp.

Cái nỗi buồn chán đạo đẩy ông cha trẻ đến chỗ muốn đào nhiệm khỏi cái áo chùng thâm:

“Còn luyến tiếc làm gì, còn tìm cách lại gần làm gì cái thế gian  của những bổn phận, những mưu trá, những khổ đau. Nhưng… ngay trong toà nhà của ông thánh Phêrô vẫn có đầy đủ mọi tấn bi kịch đã từng xảy ra ở ngoài đời.”

Nếu “ngoài đời” cũng đầy rẫy những thối tha như trong “nhà thờ” thì đức cha cứ ở yên trong nhà Chúa tội gì về với đời? Tuy nhiên, ông cha trẻ còn cho rằng “nhà thờ” còn thua cả “ngoài đời” ở chỗ:

“Ngoài đời còn có sự sống và ánh sáng, chứ còn ở đây thì chỉ có mùi ẩm mốc và cái chết…”

Thật là một câu chửi đạo Thiên Chúa mang đầy tính khái quát.

Ông linh mục trẻ tên Thư ấy đã chất chứa trong tâm can biết bao sự phiền muộn và khinh ghét giáo hội, khi cùng mẹ đẻ tới thăm gia đình ông chánh trương lại được bà vợ ông này “tố khổ” tội lỗi của các linh mục trước kia nữa:

“Trình cha với cố, mấy năm Pháp nó đóng đồn ở đây, cha Hoàng Quỳnh từ Phát Diệm sang coi sóc xứ đạo này, chúng con đã tưởng tới ngày mạt thế. Cha đòi lại ruộng đất được chính phủ chia cho năm trước, rồi truy tô các chủ ruộng, thiếu một đồng cũng không được. Kẻ nào chậm chạp lập tức bị nhốt hầm ngay. Ông lão nhà con cũng bị nằm hầm cả mấy tháng. Kẻ có đạo chỉ biết kêu xin có Chúa, nhưng đấng thay mặt Chúa lại bịt chặt cả mọi đường. May mà anh em bộ đội về giải phóng sớm, chậm chút nữa không khéo các cụ ấy giết chết hết con chiên…”

Đến vợ ông chánh trương tức phu nhân của ông đứng đầu các con chiên mà còn thở ra những lời lẽ “căm thù” các đấng chăn chiên như thế, thử hỏi cái xứ đạo này có đáng “giải tán” không? Ông cha trẻ nghe chuyện không tin, hỏi lại:

“Trong nhà xứ có hầm nhốt người à ?”

Ông chánh trương xác nhận:

“Thưa, nó vốn là cái hầm chứa đồ thánh, cha Quỳnh về mới cho xây rộng ra để nhốt người… Năm anh em bộ đội về đánh bốt chúng con cho xây bịt lại luôn…”

Chỉ tưởng tượng thêm chút nữa, ông nhà văn sẽ biến nhà thờ thành cái bốt Tây có súng lớn, có bãi mìn chống lại cách mạng. Bà vợ ông chánh trương lại tố cáo tội ác của các cha nữa:

“Trình cha  con cứ nghĩ cái năm thằng cháu trai đậy chiếu nằm đấy mà không có tiền mua áo. Chồng chạy vào cha Hiển, vợ chạy sang ông bà Tư van vỉ khóc lóc cả buổi, rút lại vợ về tay không, chồng cũng về tay không, mà là chánh trương với cha xứ cả đấy. Vậy là phải bó cháu bằng bao tải, bằng chiếu, chồng gánh một đầu. Vợ gánh một đầu, trời lại mưa tầm tã…”

Rõ ra là một màn con chiên đấu tố “linh mục”, tự nguyện mà đấu tố chứ chẳng phải do Đảng “phóng tay phát động”. Ông nhà văn quả là khéo bịa đặt quy tội cho nhà thờ. Bà vợ ông chánh trương khóc sụt sùi:

“Một đời người ngoảnh đi ngoảnh lại chỉ những khổ là khổ. Kêu Chúa, Chúa cao xa quá nên nghe không thấu, đến với cha, cha xua tay bảo: Vậy cái khó của tôi thì tôi kêu ai ? Gắng mà chịu chứ !”

Những lời “tố đạo” của con chiên làm  ông linh mục trẻ như bừng tỉnh. Ông ngộ ra rằng: “Nếu các đấng bậc ấy tin là có một Thiên Chúa thật, có hoả ngục và thiên đàng thật, có sự xét xử tối hậu thật, lẽ đâu họ dám hành động càn rỡ đến thế? Hình như họ đã không còn tin ở những điều thiêng liêng đó nữa…”

Thế là ông linh mục xét lại “đức tin” của các cha. Ông cho rằng “đức tin” ấy là không có thực, là vờ vịt, giả vờ để các cha “hành nghề” linh mục:

“Với họ đi tu là một nghề nghiệp, Hội Thánh là một tổ chức xã hội, danh vị và tiền bạc vẫn có sức mạnh vạn năng, mọi tội lỗi và đam mê chỉ khác đi là đã được thánh hoá… Các đấng bậc tự cho phép thoả mãn mọi dục vọng, còn giáo hữu thì è vai gánh vác mọi khó khăn thì vừa cuồng ngạo vừa ngu ngốc, bọn áo chùng chúng ta ở giáo phận này là sứ thần của quỷ chứ đâu phải của Chúa ?”

Than ôi, một khi linh mục Thư đã báng bổ đạo của chính ông như thế, đã vứt bỏ đức tin như vậy, con đường tất yếu dẫn ông tới là “bỏ đạo” về với “chính quyền”. Quả nhiên một tối cha Thư mặc ra ngoài chiếc áo chùng thâm một cái áo dài trắng – biểu tượng của sự từ chối chức linh mục và cho mời ông chủ tịch mặt trận và ông chánh trương xứ tới trịnh trọng đề nghị:

“Thưa hai cụ, hai cụ là đại diện có thẩm quyền của giáo dân xứ nhà… tôi cúi mình cầu xin hai cụ hãy rửa tội cho tôi lần nữa…  vì từ nay tôi là tôi tớ trung thành của các người…”

Như vậy ông cha Thư không còn là “con cái Chúa” nữa mà là tôi tớ của giáo dân, tức “đầy tớ của nhân dân”. Thế là ông Chủ tịch mặt trận làm lễ “rửa tội” cho ông linh mục theo kiểu ngược lại với nhà nhà thờ:

“Ông vục nước đổ lên đầu cha xứ lần nữa, miệng đọc to:

“Tao rửa  mày nhân danh Cha và Con và Giáo hữu xứ Nhất…”

Như vậy, lẽ ra “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, ông nhà văn Nguyễn Khải đã để cho ông Chủ tịch mặt trận sửa “thánh thần” thành “giáo hữu” – tức là từ nay, ông linh mục sẽ từ bỏ “thánh thần” mà trở về với “nhân dân”.

Thật là một hư cấu vừa ngược ngạo vừa ấu trĩ tới mức dở hơi, thế mà cuốn “tiểu thuyết” “Cha và con và…” của nhà văn Nguyễn Khải” lại được phê bình gia Lại Nguyên Ân tôn vinh là “triết luận về chủ nghĩa xã hội và tôn giáo”!

Sinh thời Nguyễn Khải hay “khoe rằng” tớ là người theo triết lý “con lươn” hễ gắp khó khăn rắc rối là tớ tiết chất chờn lủi mất. Vụ “đề dẫn” của Nguyên Ngọc bị ăn đòn và Nguyễn Khải lủi mất tiêu vào Sài Gòn là một dẫn chứng sinh động nhất. Tuy nhiên, cả đời ông cứ tiết chất nhờn để mà “lủi” như vậy thì làm sao mà có được tác phẩm để đời?

NHẬT TUẤN

Nguồn:

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Đình Thi — “Dạ thưa Anh, em là hạt bụi…”

  DẠ THƯA ANH … EM LÀ HẠT BỤI

 

1

Ông hưởng lộc quan từ rất sớm, năm 21 tuổi đã là Tổng thư ký Hội văn hoá cứu quốc, đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của Nhà nước VN DCCH, và cũng hưởng rất lâu; năm ông mất, 79 tuổi, ông vẫn còn là Chủ tịch Chủ tịch đoàn Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Nhà nước CHXHCN VN.

Trên thế giới, hiếm có nhà văn nào làm quan suốt  60 năm, làm quan tới hơi thở cuối cùng như ông, chỉ lạ một điều, sao người ta chưa đưa ông vào Guiness. Ở nước ta, leo lên quan đầu ngành đã khó, giữ được ghế càng  khó hơn, bởi thế không ai ngạc nhiên khi đứng giữa bàn dân thiên hạ, trên tivi vào dịp Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3, ông trịnh trọng tuyên bố:

“Các nhà văn chúng ta…là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng.”

Thật không có một câu “văn bia” nào diễn tả thân phận văn nô hay hơn thế.

Lập tức nó được các “hạt bụi” vỗ tay vỡ hội trường và “bảo hiểm” cho ông ngồi ghế quan đến trọn đời.

Tác giả câu nói đáng ghi vào sử sách đó chính là nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tác ca khúc …Nguyễn Đình Thi. Khác với mấy “anh tiền chiến” sau cách mạng mới chịu theo Đảng lên rừng, năm 18 tuổi Nguyễn Đình Thi đã bị đi tù vì hoạt động cách mạng, đã viết báo, viết văn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuy nhiên theo nhận định của hai nhà nghiên cứu quốc doanh gạo cội Phan Cự Đệ – Hà Minh Đức, phải đợi tới “ngọn lửa kháng chiến chống Pháp hun đúc, tài năng văn học của Nguyễn Đình Thi thực sự mới hình thành”.

Vậy thử coi “tài năng văn học”  trong kháng chiến chống Pháp của Nguyễn Đình Thi lớn cỡ nào?

Trong tuyển tập Truyện ngắn Việt Nam (1945-1954) của NXB Đại học, cũng do hai ông Giáo sư gạo cội Phan Cự Đệ – Hà Minh Đức biên soạn cho sinh viên học có tới 2 truyện ngắn của Nguyễn Đình Thi được đưa vào “bia đá”.

Truyện ngắn “Anh hùng cứ điểm”  kể chuyện đồng chí Còm, đại đội trưởng đại đội 112 trong trận đánh một cứ điểm Tây ở mặt trận đông bắc. Trong đêm trước trận đánh, anh Còm tâm sự với anh Đăng, đại đội phó : “Đời mình không vui lắm. Vợ con mất cả từ ngày đói bốn nhăm. Hồi ấy mình lang thang ở mỏ. Lúc khởi nghĩa xong, vào bộ đội, đánh tây liên miên”.

Vậy là không dám lọt ra ngoài “phép nước”, ông nhà văn cũng phải chọn một anh “thành phần giai cấp công nhân” làm nhân vật anh hùng cho dù hồi mới kháng chiến, hàng ngũ cán bộ đại đội phần lớn là dân…”tạch tạch sè” (T.T.S. = tiểu tư sản), “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (thơ Quang Dũng), có văn hoá, có tâm hồn lãng mạn và toàn xuất thân thành thị. Bởi thế đặt chân lên đò qua sông xung phong vào đồn địch, trong đầu anh Còm chẳng có một “dáng Kiều” nào hết, anh chỉ nghĩ đến “tương lai tươi sáng của dân tộc”: “Sau này kháng chiến thành công, thế nào mình cũng phải qua bên Lào hay bên Tây Nguyên một phen…”.

Thử hỏi tại sao khi đó anh không nghĩ tới chuyện về thăm bến Sáu Kho Hải Phòng quê hương anh ?

Xin thưa ngày đó tư tưởng giải phóng cả “Việt-Miên-Lào” thành lập Liên bang  Đông Dương hãy còn sâu đậm lắm trong cán bộ ta. Và ông nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng không quên điều đó khi mô tả người anh hùng, nhất là tránh xa “con người chung chung” hướng tới “con người chính trị” mới đúng lập trường văn học cách mạng.

Khi xung phong tới gần cứ điểm, theo đúng kế hoạch lẽ ra đại bác phải bắn yểm trợ, rủi thay súng lại hỏng, cả đại đội của Còm vấp phải 8 khẩu “đui-sết” của Pháp cứ nằm chết gí bên bờ ruộng. Thế là đồng chí Còm xông lên diệt ổ trung liên của địch cho toàn đại đội mở hàng rào. “Bỗng một phát đại bác nổ như xé tai, Còm đứng sững lại, bơi bơi hai tay trong không khí rồi ngã vật ra…”. Trước khi hy sinh, Còm còn thều thào hỏi: “Vào đến đâu rồi ?”  và tháo cái đồng hồ đeo tay tặng chú giao liên rồi mới…chết.

Cũng giống như nhà thơ Tố Hữu mô tả cái chết của anh Nguyễn Văn Trỗi: “Trước phút hy sinh anh gọi Bác ba lần”, chẳng hiểu sao các văn thi sĩ cách mạng cứ buộc người ta lúc chết phải nghĩ tới chiến thắng, tới lý tưởng, tới đồng đội, mà không nhớ tới vợ con, gia đình ruột thịt? Thực sự những người lính lúc chết ra sao, có gọi Bác ba lần, có hỏi “quân ta vào tới đâu” không? Hình như chưa nhà văn cách mạng nào nói  đúng được về họ. Bởi lẽ đó là yêu cầu chính trị.

Trận đánh kết thúc, quân ta đương nhiên là thắng quân nó, cứ điểm địch đương nhiên là bị nhổ bỏ và người anh hùng nằm xuống đương nhiên là được ca ngợi: “Đời anh Còm sống chiến đấu lặng lẽ, chết hy sinh lặng lẽ…”. Truyện ngắn “Người anh hùng cứ điểm”  được vào bia đá “văn học cách mạng” xem ra cũng chỉ là một bài ký sự “người tốt việc tốt” với mạch kể chuyện đơn giản, tuần tự, lười nhác cả trong xây dựng nhân vật lẫn kết cấu truyện. Đó là cái giá phải trả cho việc hưởng ứng chủ trương “sáng tác kịp thời” của Đảng chăng ?

Sang truyện ngắn “Người tù binh da đen” , tác phẩm “tuyển” thứ hai của Nguyễn Đình Thi xem ra còn… “kịp thời” hơn nữa. Người tù binh da đen đó là lính hầu của tù binh da trắng Thiếu tướng Đờ Cát, Tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ mà chẳng hiểu sao ông nhà văn lại cho rằng “Mỹ” phong cho ông mới lạ chứ. Có lẽ vì vậy mà Đờ Cát được Nguyễn Đình Thi gọi bằng “tên”, “nó”.

“Trong đoàn tù binh, giữa hai người lính hầu lúc nào cũng theo hầu hai bên nó như hai cái bóng, tên tướng Pháp cầm cái gậy ngắn của sĩ quan, vừa hút thuốc lá vừa lòng khòng đi, cái mũi dài xuống …”

“Tên Đờ Cát ngồi một mình trong cái lán, chống tay lên cái bàn nứa. Nó lột cái mũ ca lô đỏ xuống, cầm mân mê, mắt tư lự nhìn ngôi sao thiếu tướng mới đính trên cái mũ ấy, đôi môi mỏng nhếch ra một nụ cười trầm ngâm…” .

Có lẽ thấy đánh “người ngã ngựa” chẳng “quân tử” chút nào nên Nguyễn Đình Thi  “tha cho” “tên Đờ Cát” mà quay sang hai người lính hầu da đen của ông ta. Dọc đường đi, anh tù binh trẻ luôn đeo cái ba lô thật nặng cho ông tướng luôn bị các bạn tù khác “ném đá” và “chế giễu” nên đã trốn mất tiêu, trao nó lại cho người tù già. Bác này lại “è cổ đeo cái ba lô nặng lù lù và cuộn chăn len dầy đi sau tướng Đờ Cát về tới trạm tù binh”. Khi “Đờ Cát được gọi đi, người lính hầu lại đeo vội cái ba lô lên vai” , nhưng lúc này anh lính Việt Nam  ngứa mắt quá bèn ra lệnh cho viên tướng phải tự đeo ba lô. “Đờ Cát leo đến nơi, hai chân lẩy bẩy. Nó bĩu môi, vứt phịch cái ba lô xuống” . Khi anh lính VN ra lệnh cho viên tướng Pháp mở ba lô, người tù binh da đen mới thấy rõ mình đã è cổ cõng toàn những thứ “phục vụ cho ông tướng”:

“mấy tút thuốc lá Camen, hai chai rượu Huýt-ki, ba cái bút máy Pác-ke vàng, bốn năm bộ quần áo Ga-bác-đin, ảnh của tướng Tat-si-nhi, một gói bạc Đông Dương dày cộm, một gói tiền vàng và nhẫn vàng, hai cái đồng hồ vàng….và nhiều thứ khác nữa…”.  

Chính điều đó làm người tù binh “giác ngộ” chính nghĩa thuộc “bên nào”, đêm đó ông tìm tới với các chiến sĩ Việt Nam. Họ vui vẻ hỏi: “Phini balô, phini ba lô?”. Rồi họ lại hỏi: “Sao anh tóc đã hoa râm thế còn đi lính cho Pháp ?”. Người tù binh da đen cảm động chảy nước mắt kể chuyện đời mình. “Anh là người Maroc, làm thợ mộc ở một làng vùng núi. Nhà có một mẹ già, hai anh em. Pháp đến bắt lính. Người em bỏ trốn vào rừng… Những hình ảnh quê hương xa xôi hiện lên dồn dập như gọi anh trở về nguồn gốc cũ…”.

Truyện ngắn “Người tù binh da đen” của Nguyễn Đình Thi  được xếp hạng trong văn học cách mạng gói gọn chỉ có thế. Nó như một bản phác hoạ chân dung sơ sài, nặng về thiên kiến chính trị mà tính chân thực của nó còn phải chờ ý kiến xác minh của chính nhân vật trong truyện: Tướng De Castrie. Vậy mà nó vẫn được khen là tìm được một “lối khác” trong sáng tác văn học đề tài ca ngợi “chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta” và là một gợi ý cho bà Cục phó Cục Điện ảnh Nguyễn Thị Hồng Ngát viết nên kịch bản “Người hàng binh” tức “Ký ức Điện Biên” làm thiên hạ om sòm bàn tán vì tiêu tốn của Nhà nước cả triệu đô-la mà trong dịp kỷ niệm “chiến thắng Điện Biên Phủ” tháng 5-2004 vừa rồi,  số người tới rạp trong mỗi buổi chiếu đếm được chưa hết mười đầu ngón tay. Tất  nhiên, thất thu đó không thuộc lỗi  nhà văn Nguyễn Đình Thi…

 

Tuy nhiên, tác phẩm xuất sắc nhất trong thời kỳ chống Pháp, làm Nguyễn Đình Thi có thể rung đùi yên trí “hoàn thành chỉ tiêu sáng tác” trên “mặt trận cầm bút” theo đúng yêu cầu của “bác Hồ”:  “mỗi nhà văn cũng là một chiến sĩ” lại là một “tiểu thuyết” đã được đưa vào sách giáo khoa cho không biết bao nhiêu thế hệ con em chúng ta ngồi trên ghế nhà trường phải phân tích và bình luận nhằm bồi bổ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cả nhân vật trong truyện  lẫn người viết ra nó.

Đó là “tiểu thuyết”  “Xung kích” – một trong những tác phẩm đưa Nguyễn Đình Thi lên bục nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, viết vào năm 1951 sau khi đã được “quán triệt”  sâu sắc “đề cương văn học Diên An” của Mao, tức những quy phạm ngặt nghèo của chủ nghĩa hiện thực XHCN phục vụ công nông binh đã hằn sâu trong quả tim và cả khối óc của nhà văn.

Gọi là “tiểu thuyết” nhưng cũng chỉ vỏn vẹn hơn 100 trang in, trong đó chương mở đầu “tường thuật”  dân công, bộ đội hành quân tới một cái cầu qua con suối nhỏ bị sập giữa trời rét cắt thịt. Không lẽ cứ nằm chờ công binh tới bắc cầu như chị em dân công; bộ đội bèn nảy sáng kiến “chuổng cời” lội suối, nước dâng ngang ngực, nhờ vậy đến được điểm tập đúng thời hạn. Chuyện có vậy thôi mà ông nhà văn “cà kê” mất gần chục trang.

Rồi trước lúc vào trận, bộï đội tập trung nghe đọc thư của “bác Hồ”, ông nhà văn cũng bê vào nguyên xi:

“Chiến dịch này là lần đầu tiên đánh đồng bằng mà địch có chuẩn bị. Chính vì lẽ đó mà ta quyết phải thắng …Nào đơn vị nào hứa với Bác và Chính phủ sẽ lập nhiều công nhất nào ? Chính phủ, đoàn thể và Bác đang chuẩn bị sẵn sàng thưởng cho những chiến sĩ, cán bộ và đơn vị lập công to nhất…”

Tất nhiên tiếng “xin hứa, xin hứa” phải vang lên như sấm. Chỉ có điều sao trong thư, “bác” không viết  “Đảng, Chính phủ, và Bác” mà lại viết: “Chính phủ, đoàn thể và Bác” ?  Đó là vì lúc này Đảng rút vào “bí mật”, tuyên bố giải tán, thành lập “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” nên khi nói tới lãnh đạo, phải đưa “chính phủ lên trước” rồi mới đến “đoàn thể” chứ chữ “Đảng” chưa được công khai nhắc tới như bây giờ.

Sau phần “động viên trong nước”, tới phần “quốc tế”:

“Tiếng anh trung đoàn trưởng vang lên:

“Tôi báo tin để các đồng chí biết. Bên Triều Tiên, các bạn chúng ta vừa mở cuộc tấn công mới, làm cho quân Mỹ lao đao. Chúng ta hứa với Bác thi đua với chiến sĩ Triều Tiên, đánh thật mạnh để hưởng ứng với các bạn chúng ta. Chúng ta hứa với Bác hôm nay không thắng không về…”

Cứ như vậy, người đọc ngỡ ông nhà văn đang viết “báo cáo chiến dịch” chứ chẳng phải tiểu thuyết. Tuy thế, trong “Xung kích”  Nguyễn Đình Thi  cũng “sáng tác” ra nhiều nhân vật “anh hùng thời đại” để gắn nhãn “tiểu thuyết” cho nó.

Trước tiên là chú bé giao liên đại đội tên Luỹ, khi máy bay Pháp tới ném bom, “chú đứng bên cạnh bến nước , nhìn về mé có tiếng bom, hai tay đút túi quần :

“ Ăn thua mẹ gì . Chỉ chết mấy con ngan là cùng. Rời thằng Mỹ ra thì ông bóp mũi…”

Ghê gớm chưa, chú Gavơrốt Việt Nam của Nguyễn Đình Thi xem ra thấm nhuần chính trị tới mức lúc nói chơi cũng vạch rõ được “âm mưu can thiệp Mỹ”. Giống như nhân vật của Victor Hugo, “bóng loắt choắt của chú bé liên lạc vẫn thoăn thoắt chạy đi giữa những tràng đạn lửa ngoằn ngoèo… Luỹ đã chạy qua hết sân đồn, bỗng đứng lại. Một thằng  quan hai đang giơ tay từ một cái ngách nhỏ chui ra. Luỹ thét “ra nhanh”. Thằng quan hai bỗng hạ tay xuống, sau lưng nó, một tràng tiểu liên bắn ra. Bóng chú liên lạc lăn xuống đống gạch vụn… giữa trán nó, một lỗ thủng sâu hoắm rỉ máu…” 

Người “tây học” như Nguyễn Đình Thi chắc đã đọc “Les Misérables” của Victor Hugo và hẳn nó đã “gợi ý” cho Nguyễn Đình Thi tạo nên hình tượng chú giao liên hồn nhiên và anh dũng hy sinh.

Một trong những nhân vật trung tâm xuyên suốt cuốn tiểu thuyết là đại đội trưởng Kha. Anh này chắc không xuất thân “bần cố nông” vì trong người có chút máu tạch-tạch-sè (tiểu tư sản) nên trước khi ra trận còn muốn …diện đồ mới:

“Anh mở ba lô, tìm bộ quần áo mới, vải thơm sạch, thay vào bộ nâu vẫn còn mặc trên người…Kha nghĩ: Có chết mình cũng chết cho đẹp..”.

Mải mê khắc hoạ “nhân vật” cho có “cá tính” độc đáo, ông nhà văn quên bẵng “cái chết đẹp” hiểu theo lập trường cách mạng chỉ mang ý nghĩa “hy sinh cho Chính phủ, cho đoàn thể và cho bác Hồ”  chứ không phải quần áo đẹp, hình như sợ cấp trên quở, ông vội vàng cho đại đội trưởng Kha:

“Cầm cái áo lên, anh bỗng nhìn thấy cái huy hiệu Thanh niên dân chủ quốc tế…”

Và anh đại đội trưởng vừa sa đà chút xíu vào “cá nhân chủ nghĩa” vội vàng củng cố ngay lập trường cách mạng:

“Kha tháo huy hiệu xem kỹ: một quả địa cầu và mặt ba người thanh niên trắng đen vàng. Chiều hôm nay ở đây sẽ lại có những  người thanh niên Việt Nam chết cho thực hiện cái cảnh hoà bình thân ái ghi trên tấm huy hiệu này…”

Tuy nhiên phải đợi tới giai đoạn 2 của chiến dịch, vào một trận tấn công cứ điểm Pháp trên đồi, Kha mới chứng nghiệm dự cảm về cái chết của mình. Trong trận đó, anh dẫn đầu đại đội tràn lên đánh địch.

“Một tiếng xoẹt, Kha nằm nấp xuống hố đạn. Đất xới lên lấp chân Kha. Qua rồi, Kha nhảy lên miệng hố. Kha hét: Xung pho…ong …”. Kha bỗng choáng óc như bị một nhát búa. Đất lạo xạo đầy mồm. Tiếng trung liên tắc tắc. Kha thấy mình nằm úp mặt xuống đất…”

Bị trúng đạn rồi, Kha vẫn:

“ Tay nắm chặt súng lục, Kha cố đứng dậy đưa tay trái sang tìm vết thương. Sờ đến bả vai, thấy những ngón tay dính nháp nong nóng. “À đây, máu chảy nhiều.”… Luồng đạn qua mặt mát lạnh, Kha như ra khỏi sương mù. “Không thể lui xuống lúc này được. Phải lên ngay cho kịp anh em”. Kha cắn răng chạy lên…”

Thế rồi Kha lại nhận thêm một viên đạn vào cánh tay, anh vẫn “quên hết hai vết thương ở vai và ở tay, chỉ còn một ý nghĩ “Chạy thẳng lên đồi giết hết, giết hết…”.

Rồi anh lại bị một quả đạn cháy “khắp bên trái người cháy bỏng, anh khuỵ xuống, ngáp ngáp cố thở. Kha vẫn không chịu ngất đi, tự bảo “Cố lên, cố lên…”.

Chỉ đến khi anh bị tiếp một quả đạn cháy thứ hai “cả người Kha xèo xèo, Kha giãy giụa hai ba cái trong đám lửa…” , anh mới chịu gục ngã.

Tuy nhiên, ông nhà văn  vẫn chưa cho phép nhân vật được chết. Người anh hùng không thể chết câm lặng như vậy được, cái chết đó phải được nhấn mạnh để góp phần đắc lực cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Kha được khiêng về trạm quân y chờ chính trị viên tới thăm .

“Trong đám sương mù liên miên, trí khôn đã lạc lõng của Kha bỗng nghe thấy xa tít  có tiếng gọi. “ Kha ơi, Sản đây − Sản đây…”  (Sản là chính trị viên) “Kha cuống quýt …mấp máy cặp môi phồng rộp, tưởng mình đang kêu to mừng rỡ. Hai lòng trắng mắt động đậy. Bàn tay Kha giơ lên quờ quờ: Ồ đồng chí Sản, sao bây giờ anh mới tới ? Ồ Sản, Thế nào ? Tối hôm ấy thế nào ?. Sản nói to: Ta tiêu diêu diệt được toàn bộ quân địch ở dãy đồi. Tiêu diệt toàn bộ quân đội…”

Vậy là phút giây thiêng, anh đại đội trưởng Kha vẫn chờ tin thắng trận, giống y chang anh đại đội trưởng trong truyện ngắn “Anh hùng cứ điểm”, Nguyễn Đình  Thi lại cũng viết: “trước khi hy sinh, Còm còn thều thào hỏi : ”Vào đến đâu rồi ?” .

Hơn hẳn anh đại đội trưởng Còm, sau khi nghe tin chiến thắng, “Kha cười: Tao lo quá mày ạ. Mày  mà đổ thì cả chi bộ và đại đội lao đao…”. Rồi Kha căn dặn người ở lại: Đồng chí Na phải đề nghị huân chương chiến sĩ hạng nhất mới xứng đáng. Nhấc lên làm trung đội phó…”.

Vậy là tới lúc chết , người anh hùng vẫn chưa được nghỉ ngơi, vẫn lo công việc tới hơi thở cuối cùng. Cho tới khi chính trị viên ghé tai hỏi :

” Anh có điều gì dặn lại không ?”

Kha vội lắm, Anh còn ít thời gian lắm:

“ Chào Đảng, các đồng chí..chi bộ…”

Vậy là làm xong nhiệm vụ Đảng viên trước khi chết rồi, Kha mới dặn dò riêng tư:

“ Sản nhớ cho Lý cái bật lửa…Hết”

Chẳng hiểu sao, cứ trước lúc chết, các nhân vật anh hùng của Nguyễn Đình Thi cứ phải tặng ai một kỷ vật gì đó, anh Còm thì gửi lại cho chú giao liên chiếc đồng hồ đeo tay, anh Kha cũng gửi cái hộp quẹt cho cô bạn cũ gặp lại trên đường hành quân. Có lẽ ông nhà văn muốn có thêm chút ít “chất người” cho nhân vật, nếu không cứ dặn dò, cứ hô khẩu hiệu trước khi chết thì “khô khan, người máy” quá chăng ? Có điều ngay cả những chi tiết “tình người” đó cũng khó xúc động lòng người vì sự khiên cưỡng và lặp lại của nó.

 

Ở một đơn vị đại đội, anh “thủ trưởng quân sự” tức đại đội trưởng vẫn dưới quyền anh “thủ trưởng chính trị” tức chính trị viên kiêm bí thư chi bộ. Đánh đấm ra sao, tư tưởng thế nào, tuốt tuột thuộc quyền “quản lý” và quyết định của anh chính trị viên. Bởi thế nhân vật quan trọng nhất trong “Xung kích”  của Nguyễn Đình Thi lại là anh chính trị viên tên Sản.

Sản “nắm” cán bộ chiến sĩ,  “nắm” chủ trương chiến dịch, chiến thuật, “nắm” lương thảo, vũ khí, “nắm” địa phương nơi đóng quân… Để thực hiện tốt chế độ “toàn trị” của Đảng trong quân đội, Sản phải nắm đủ thứ trên đời. Chính vì vậy trong lưng Sản lúc nào cũng kè kè cuốn sổ ghi chép và họp hành liên miên:

“Mới mờ sáng, tới vị trí trú quân, Sản đã triệu tập các chi uỷ viên tới hội ý….”.

Hiền, một anh đại đội phó tố cáo:

“Tôi xin nhắc đồng chí bí thư vấn đề tiểu đội trưởng Tá…Càng về gần dưới này, tinh thần càng xuống. Anh ta có lúc nhắc tới chuyện giải ngũ…”

Sản cúi ghi trên sổ tay “ Chú ý công tác cậu Tá…”

Người bị tố cáo phải vào sổ đã đành, ngay cả người đứng ra tố cáo cũng không thoát:

“Sản nghĩ: Đồng chí Hiền cũng cần được theo dõi và giúp đỡ hơn nữa. Còn hay dễ làm khó bỏ…”

Có người nhắc :

“Đồng chí bí thư chưa bàn vấn đề tiền ăn…”

Sản bỏ bút nhìn lên:

“Tôi ghi cả đây. Giải quyết sau. Bây giờ tôi nhắc các đồng chí mấy điểm… Phải chuẩn bị ngay tinh thần cho bộ đội. Mọi việc phải gấp gáp lên. Còn vấn đề bí mật… nhiều cậu phất phơ ngoài chỗ trú quân, diện quần áo Mỹ giữa ban ngày, mua bán lung tung.. Ngay cán bộ cũng coi thường bí mật. Đồng chí Hiền sao không ngụy trang? Đồng chí muốn bộ đội ăn bom dây à? Các đồng chí phải về họp tổ mà chấn chỉnh ngay đi…”

Cứ như vậy đó, cái gì Sản cũng phải ghi, phải để mắt tới và phải huấn thị cho quần chúng mới tròn nhiệm vụ chính trị viên.

“Sản ngồi với cuốn sổ tay đặt giữa đầu gối. Hai vai anh cúi ép xuống lồng ngực. Những con số, những dòng chữ đầy mãi trang giấy…”

Một chị cán bộ mới gặp thoáng trên đường cũng đã phải nhận xét về chính trị viên Sản:

“Ông này chắc bộ đội khó giấu được ông ấy cái gì ?”

Giấu sao được, giấu là chết. Ngoài chuyện ghi chép tỉ mỉ, dọc đường hành quân, Sản còn phải tranh thủ giáo dục tinh thần cách mạng thường trực cho bộ đội:

“ Anh chính trị viên giơ cái ống tay áo cụt chỉ những đồi cỏ lau rậm rạp dưới ánh trăng, nói với mấy anh cán bộ trung đội :

“ Vùng này là chỗ “căng” ngày xưa Pháp đem đầy các đồng chí mình đây…”

Khi ra trận, Sản phải lo sao cho bộ đội người nào cũng “có thư Bác cài trên mũ”, phải dặn dò đủ thứ:

“Các đồng chí xông lên đồn còn là dễ, mà làm thế nào đủ điều kiện xông lên đồn mới là khó. Phải chú ý từ cái quai dép dây giày, túi cơm, cái giẻ lau, cái hộp mỡ, từ cái nan tre làm thang…”

phải nêu cao tinh thần “quyết đánh” cho bộ đội, dù có thiếu đạn dược vẫn cứ  đánh:

“Phải làm cho tất cả anh em trong đại đội có tinh thần như  chúng ta (đảng viên). Là vì sẽ gay go, mệt, đói, vội, có thể thiếu cả vũ khí. Không biết chừng không kịp có bộc phá. Không có, vẫn phải đánh được. Không kịp nghiên cứu kỹ sa bàn, cũng phải đánh được…”

Vậy là cứ có ý chí là đánh được tuốt, người lính cứ thế mà xông lên  bất chấp mạng sống của mình. Sau cùng, Sản còn phải thể hiện rõ vai trò gương mẫu bằng thề thốt:

“Đảng đã dạy chúng ta: người đảng viên bao giờ lời nói cũng đi đôi với việc làm. Tôi xin hứa với chi bộ, nếu tôi không tròn nhiệm vụ trong trận này, tôi sẽ không đem cái mặt nhọ mà về trước đoàn thể…”

“Thủ trưởng chính trị” bao giờ cũng to hơn “thủ trưởng quân sự”. Khi lâm trận, anh đại đội trưởng muốn ra cái lệnh gì cũng phải nhất nhất thông qua chính trị viên:

“Đánh thế nào? Kha (đại đội trưởng) nhìn bức tường dựng đứng. Ít ra là tám chín thước cao. Cho là ba tầng nhà. Phải chập thang, chồng người mà lên. Rồi từ lô cốt đã chiếm đánh toả ra. Kha quay lại Sản: Bây giờ cho hai trung đội chiếm trên mái? Sản gật.”

Sản gật rồi Kha mới được phép thực hiện. Vậy là ngay cả trong chiến đấu, mọi mệnh lệnh phải được đại diện Đảng thông qua rồi mới được phát ra. Chính trị viên quyền lớn, trách nhiệm cao như thế nên ắt phải là con người….đặc biệt. Bởi thế đại đội trưởng Kha đã nhận xét về chính trị viên Sản:

“Ai được như nó ? Có lẽ nó chưa biết tuổi trẻ là gì ? Lúc sáng, ở trung đoàn về nhìn thấy Sản ngủ, mặt  hóp lại , mắt nhắm im. Kha giật mình. Nó mở hai mắt đờ ra nhìn Kha mấy giây như nhận không ra rồi mới chớp chớp mấy cái…”

Hoá ra ngay trong giấc ngủ, anh chính trị viên cũng vẫn phải làm công tác “nắm tình hình”. Mang vai trò và phẩm chất đặc biệt như vậy, người đại diện của Đảng trong quân đội  phải xuất thân giai cấp công nhân thì mới “có ý thức tổ chức, có tinh thần kỷ luật”  theo đúng tinh thần học thuyết Mác Lênin. Nắm vững yêu cầu đó,  Nguyễn Đinh Thi đã không chọn nông dân hoặc tiểu tư sản mà  chọn  công nhân mỏ làm thành phần xuất thân cho chính trị viên Sản đúng y chang đường lối giai cấp trong xây dựng quân đội của Đảng. Bởi thế cái tâm niệm “người vô sản vùng lên tranh đấu chỉ mất có gông xiềng mà được cả thế giới” đã ăn vào cả trong giấc mơ của anh chính trị viên:

“Ngày nào được đánh về vùng mỏ, gặp chúng nó (bạn bè công nhân cũ) thì sướng đến thế nào. Tương lai kháng chiến thành công rồi, chắc đoàn thể lại cho Sản về một nhà máy, nhà máy bấy giờ sẽ là của ta, Sản chỉ ao ước có thế …”

Hoá ra “người nô lệ vùng lên tranh đấu” “chỉ ao ước có thế”, mai kia giành thắng lợi, chẳng cần tới cả thế giới, chỉ mong có trong tay một nhà máy để làm chủ cho thoả nỗi khổ nhục làm công nhân ngày xưa. “Người anh hùng” dù cho được vẽ vời cao đẹp đến mấy, vẫn thò ra cái đuôi hám chức quyền.

Chính trị viên đại đội đã như một “thượng đế toàn năng” trong đơn vị, vậy còn lính  tráng thường được gọi là quần chúng thì sao?

Cho dù bộ đội đã được tổ chức thành trung đội, tiểu đội nhưng để việc “quản lý” thêm chặt chẽ, Đảng  đã thiết lập “tổ 3 người” theo chế độ “tam tam chế” của bác Mao để “quản lý” và “giúp đỡ” lẫn nhau.

Trong “Xung kích”, tổ tam tam tiêu biểu là Thông, Cốc và Mẫn – ba anh lính cấp chót bét trong đại đội thường xuyên “để ý” và “uốn nắn” nhau.

“Thông quay lại Mẫn:

Cậu công tử lắm. Bớt ngắm vuốt đi. Soi gương luôn trông sốt ruột lắm. Mà có được thấy đàn bà con gái đếch đâu mà diện. Ban đêm thì đi như gió. Ngày lại rúc vào bụi rậm. Cái áo Mỹ ấy cũng đừng vác ra ban ngày nữa. Dân làng người ta trông thấy còn đếch đâu là bí mật….”

Rồi Thông bảo Cốc:

“ Thằng Mẫn phải để ý thế nào mới được. Có lẽ cậu phải gần nó, nói chuyện luôn, giác ngộ cho nó…”

Trong sinh hoạt  ngày thường, “tổ tam tam” tăng cường “giám sát” nhau:

“Thông vừa mài dao vừa liếc mắt nhìn Mẫn. Biết ngay là cậu ta đang muốn nhớ nhà. Hé ra một câu là cu cậu cắn ngay. Chưa về quê được cậu ơi. Còn là đánh…”

Trong tổ tam tam, còn gọi là “tổ keo sơn” xem ra Thông là người “vững lập trường nhất”. Ngay cả cái “tàu điện của Tây” anh cũng dè bỉu:

“Nước mẹ gì, nó lại cho vài cái đầu tàu điện thải ở cái xó nào bên Tây chứ gì ?”

Và anh mơ ước :

“Sau này Hà Nội thể nào chả có tàu điện. Mình làm ngầm dưới đất theo lối Liên Xô kia chứ ? Đánh Tây đánh tiếc xong chỉ xin đoàn thể cho về Hà Nội lái tàu điện ngầm là sướng nhất…”

Ước mơ về một thiên đường mai sau ghê gớm chưa? Chỉ có điều, 50 năm sau, chắc ông Nguyễn Đinh Thi cũng đã hiểu rằng vĩnh viễn cái tàu điện ngầm “theo kiểu Liên Xô” ấy sẽ chẳng còn có cơ hội được xây dựng ở Hà Nội.

Nhân vật thứ hai trong tổ tam tam là Cốc, “bồ côi từ nhỏ, lớn lên là đứa trẻ ăn mày ăn xin đầu làng cuối chợ…Những ngày cách mạng tháng Tám, Cốc sướng nhất , Cốc được vào thanh niên…tập tự vệ rồi đi bộ đội…”. Còn lại là Mẫn, em út trong tổ ba người thường bị “uốn nắn” cũng lại xuất thân từ một làng quê bên bờ sông Thao.

Vậy là từ sĩ quan tới lính tráng trong “Xung kích” của Nguyễn Đinh Thi hầu hết đều là những nông dân, công nhân nghèo khổ bị phong kiến và đế quốc bóc lột tới tận xương tuỷ. Thế còn những học sinh, sinh viên, công chức, những trí thức thành thị đã tham gia bộ đội  đã đóng góp rất lớn ngay từ những ngày đầu đánh Pháp đâu cả rồi ?

Chắc chắn không phải ông Nguyễn Đinh Thi vô tình quên họ mà là vì “quân đội ta” phải là những người “nông dân mặc áo lính” – đó là điều ông nhà văn không được phép quên khi viết tiểu thuyết đề tài bộ đội  như “Xung kích” của ông.

            

Tổ “tam tam” là hạt “cơ bản” cấu thành các đơn vị tiểu đội, trung đội, là đơn vị nhỏ nhất để thực hiện các mặt “quản lý” của Đảng đối với quân đội, bởi vậy cả 3 người trong tổ  tam tam Nguyễn Đình Thi đưa ra như một mẫu điển hình trong “Xung kích”, tất nhiên ai cũng căm thù địch sâu sắc, sẵn sàng dũng cảm hy sinh cho Chính phủ, đoàn thể và bác Hồ.

Nguyễn Đình Thi đã mô tả bằng đối thoại hình ảnh tổ 3 người sau trận đánh:

“Ba anh tổ keo sơn sánh vai nhau thủng thẳng giữa đường.

“ Hôm qua, lúc xuất phát tao cứ lo thằng Cốc đổ.

“Cậu Mẫn hôm nay lên đốt mìn khá lắm. Đấy, có gì khó đâu…”

“Úi chà, lúc tôi chạy lên suýt nữa thì ăn cả một băng của nó vào giữa mặt. Mình không nhanh mắt thì đã đi Tây rồi…”

Sức mạnh giáo dục và động viên của tổ tam tam thật tài tình chưa, từ chỗ tản mạn, anh này thắc mắc anh kia, trải qua tu dưỡng và  rèn luyện anh nào cũng trở thành chiến sĩ giỏi cả. Nhân vật trong “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi còn đông đảo nữa, tất cả đều có một mẫu số chung là căm thù giặc Pháp, dũng cảm trong chiến đấu, tình cảm riêng tư hầu như con số không và đời sống tính dục hoàn toàn bị loại bỏ. Thật cứ như bao nhiêu nhân vật đàn ông dũng mãnh ở trong truyện đều đã bị “thiến bỏ” hết cái phần “bản năng tính dục”, khiến họ có thể toàn tâm toàn ý tập trung vào giết quân thù.

Gía trị của tiểu thuyết “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi không nằm ở văn chương, không nằm trong phản ánh những thân phận con người trong chiến tranh, mà giá trị của nó chính là ở chỗ đã nêu được một hình mẫu tổ chức quân đội, từ chế độ chính trị viên toàn trị cho tới các tổ ba người kiểm soát lẫn nhau, từ cung cách quản lý tư tưởng cho tới quản lý sinh hoạt …tất thảy đều nhằm biến một đơn vị quân đội trở thành một cỗ máy nhiệt tình chém giết trong mọi hoàn cảnh.

Và phải chăng cái “sức mạnh quân đội đã làm nên nhiều chiến thắng thần kỳ” như người  ta vẫn ca ngợi là do sự tinh vi về tổ chức, sự hà khắc về tư tưởng và sự tiêu diệt mọi màu sắc cá nhân. Bởi thế, cái hình mẫu tổ chức quân đội đó chẳng nơi nào trên trái đất này có được, nó chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản.

 

2

Trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Thi, những “Nhận đường”, “Anh hùng cứ điểm”, “Xung kích” chỉ là những phác hoạ chân dung để sau này ông viết nên một pho tiểu thuyết đồ sộ: “Vỡ bờ” tập 1 dày 500 trang, “Vỡ bờ”, tập 2  trên 700 trang.

Như cái tên của nó, Nguyễn Đình Thi muốn dựng lại cả một thời kỳ lịch sử vào lúc dân Việt Nam dường như không chịu nổi ách áp bức của cả Pháp và Nhật nên đã “tức nước vỡ bờ”, bung ra làm cách mạng.

Xoay quanh nhiều nhân vật trí thức, “Vỡ bờ” dường như muốn tìm cách trả lời câu hỏi vì sao tuyệt đại đa số trí thức Việt Nam đã đi theo cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo?  Cho tới tận bây giờ, vấn đề này vẫn được nhiều người quan tâm và vẫn chưa được trả lời một cách thoả đáng; liệu Nguyễn Đình Thi qua bộ trường thiên tiểu thuyết này có đóng góp gì hơn ?

Mở đầu thiên tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi cho “ra tuồng” cùng lúc hai nhân vật trí thức đã tham gia cách mạng. Một là Hội, có vợ con ở làng Chẩm, lên Hà Nội dạy học. Hội của Nguyễn Đình Thi gợi đến khá rõ nhân vật Thứ trong “Sống mòn” của Nam Cao, chỉ khác Hội đã tìm được tới cách mạng còn Thứ thì chưa. Nhân vật trí thức thứ hai là Khắc, con trai cụ tú Nguyễn Mai, hoạt động Đông Kinh Nghĩa Thục và bị bắt đầy đi Côn Lôn rồi chết  ở ngoài đảo. Cụ Tú mất đi nhưng truyền lại được cái chí của mình cho con: “Năm ba mươi, Khác bị bắt về tội cộng sản, Toà đề hình xử án 20 năm tù và Khắc cũng lại đi Côn Đảo… đến hồi  chính phủ bình dân Pháp lên, Khắc được tha về nhưng hai lá phổi của anh đã bị vi trùng lao đục ruỗng…”. Từ Hà Nội về làng chuyến này, Hội có trách nhiệm báo động cho Khắc đi trốn vì sắp có đợt khủng bố mới. Hai trí thức cách mạng gặp nhau, tất nhiên chuyện “cách mạng” phải nở như bắp rang.

“Hội kể: Hôm qua mới độ ba giờ đêm ô tô nó đã về sục chỗ tôi ở trọ để bắt anh Thiết… Đến sáng, tôi đảo đi dò qua mấy nơi thì toà báo “Thời nay”, “Lá lúa “đều bị niêm phong, hiệu sách Đồng Xuân cũng bị khám …Suốt buổi sáng, ô tô nó đi sục hàng chục chuyến, chuyến nào cũng bắt người, các phố xao xác cả lên…”

Nghe Hội kể chuyện, Khắc nhận định ngay:

“Bây giờ không phải lúc Mặt trận Bình dân cầm quyền bên Pháp nữa. Chiến tranh đã nổ ra. Từ nay đã sang một thời kỳ khác rồi…”

Và rồi ông chính trị phạm Khắc giải thích ngay cho anh thanh niên Hội, cách mạng tay mơ vì sao “ông Stalin lại bắt tay ông Hitler” để ký hoà ước Xô-Đức, vạch mặt bọn trôtskit ở Hà Nội nhân vụ này đã la to: “Vĩnh biệt Mạc Tư Khoa”…

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Khắc tỏ ra rất hiệu quả, Hội nghe xong nắm cánh tay Khắc:

“Cứ nghe anh, tôi lại thấy vui một tý, tôi lại muốn vật lộn, xem cái xã hội này xoay vần đến đâu. Chứ còn nhìn vào sự thật hàng ngày thì lắm lúc tôi chỉ muốn buông xuôi hết. Dân mình không biết bao giờ mới cách mạng được. Cái nọc độc nô lệ nó đã ăn quá sâu vào xương tuỷ chúng ta rồi…”

Vũ khí tuyên truyền của cách mạng quả thực là hiệu dụng, chỉ sau một buổi trò chuyện, Hội đã phải chân thành bộc lộ:

“Anh tưởng người nào cũng có gan làm cách mạng như các anh sao ? Như tôi chẳng hạn, tôi cũng hiểu cách mạng là phải, nhưng tôi nhát, tôi tự biết mình không chịu nổi tù tội, tra tấn như các anh được…”

Tất nhiên, Hội lại được Khắc đả thông ngay:

“ Anh nói thế không đúng đâu. Tôi thì tôi cho rằng anh vẫn chưa thực thấy cách mạng  là cần thiết. Đến lúc thực không thể sống thế này được nữa, thì anh sẽ có gan và có sức mạnh…”

Ngay sau khi làm công tác “giáo dục chính trị tư tưởng” cho Hội, Khắc trốn ngay khỏi nhà để khỏi bị bắt, còn Hội về nằm bên vợ mà cứ thắc mắc mãi, không ngủ được. “Trong đầu Hội quanh đi quẩn lại câu hỏi: “Làm gì ? Bây giờ mình làm gì ?”. Một câu trả lời rất dễ dàng, rất thiết cốt, ai cũng thấy: “Làm ra nhiều tiền để nuôi vợ con”, riêng có Hội là không thấy, anh cứ băn khoăn: “Dạy học cũng là yêu nước chứ sao ? Dạy học, Hội sẽ đem hết sức lực, tâm trí mình, trọn đời đào tạo lớp trẻ con, tương lai của tổ chức…”

Nhưng rồi Hội cũng thấy ngay dự định của anh thật viển vông, cách mạng đòi hỏi ở anh rất nhiều thứ khác chứ không chỉ ở cái công việc “gõ đầu trẻ” hàng ngày,  anh phải lao vào hoạt động không ngại tù đầy bắt bớ, anh phải đặt nhiệm vụ tổ chức giao cho cao hơn là việc kiếm tiền hàng ngày nuôi vợ con. Đó là một tương lai rất khó khăn đối với Hội, bởi lẽ anh là người nhút nhát, mật vụ mới chỉ lùng sục bắt bớ trên Hà Nội, anh đã mang bao nhiêu báo chí bí mật của cách mạng “nhờ cụ vua bếp giải thoát đi cho…”:

“ Ngọn lửa bùng to. Những tờ giấy quăn lại bốc khói cháy. Hội còn đọc nhanh được một vài dòng chữ tít lớn: “Đình công…Biểu tình…Mười nghìn thợ mỏ…Dân cày hãy đoàn kết lại…”

Không biết sau này khi “Vỡ bờ” được viết tới trang cuối, bản lai diện mục của Hội sẽ ra sao, chứ chỉ bằng vào những tâm tư và hành động của anh trong mấy lớp  trò đầu, người ta lo sau này anh khó có thể “một lòng theo Đảng” như cái lý tưởng mà người cộng sản Khắc đã nhồi vào đầu anh. Xin hãy cứ chờ xem.

Đối lập với hai anh trí thức cách mạng, là Nghị Khanh, kẻ thù trước mặt, “nhờ manh mối giao du rộng, được vợ ba một viên tri phủ gả con gái cho, cô này hơn Khanh tới 6 tuổi, nổi tiếng vừa xấu vừa khó tính”. Từ đó Hai Khanh dựa hơi bố mẹ vợ bắt hàng ngàn người mộ phu đi Tân thế giới và cao su Nam Mỹ, cắm một dinh cơ ngay trong làng cho vay lấy lãi cắt cổ, từ đó ruộng vườn của dân nghèo cứ lần lượt lọt vào tay vợ chồng Hai  Khanh để vài năm sau, hắn xây được cả một cơ ngơi có hồ bán nguyệt, chuồng chim chuồng thú, có cả sân tennis trên đất của dân làng – tóm lại Hai Khanh là một đại địa chủ móc nối làm ăn với tư sản mại bản, một kẻ thù số một của nhân dân lao động, đối tượng cần lật đổ của cách  mạng.

Những chuyện  đó ông nhà văn Nguyễn Đình Thi sẽ đề cập tất cả trong hơn 1200 trang dài lê thê của trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” mà ngày nay đọc lại nó quả thật là một hình phạt không kém gì khổ sai ngày trước.

Trong tiểu thuyết “Vỡ bờ”, tầng lớp “thượng lưu quý tộc” Việt Nam những năm 1940-1945 được Nguyễn Đình Thi mô tả rất khác so với  các nhà văn cùng thời như nhóm Tự Lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…

Trong “Vỡ bờ”, Nghị Khanh là một tên đại địa chủ gian ác  “ngày nào , ngoài cổng nhà Hai Khanh cũng có hàng dẫy người chầu chực xin vào gặp quan chủ để vay mượn, cầm cố. “Quan” cứ trông giỏ bỏ thóc, nhằm nhà nào có mảnh ruộng miếng đất mới bỏ tiền cho vay, với lãi cắt cổ. Qua vài vụ thì ruộng đã về tay quan…”.

Vợ Hai Khanh được ông nhà văn mô tả: “cặp mắt bà Nghị mở ra trắng dã …một làn phấn mỏng làm cho nước da đen và dày bì bì của bà thành một màu khó tả. Mỗi khi bà nghị chú ý nhìn ai, hai con mắt long sòng sọc ấy như muốn nuốt chửng người ta …”

Hai vợ chồng Nghị Khanh cho anh nông dân Bào cấy rẽ mẫu hai ruộng nhưng lại ăn gian thành mẫu rưỡi và ông nhà văn ra sức bôi đen gương mặt giới điền chủ:

“Anh Bảo cố nén uất ức :

“Bẩm bà lớn nhà con cấy có mẫu hai thôi ạ…

Mụ nghị như chồm lên trên cái bàn giấy :

“Tiên nhân bố mày, bà thèm ăn không của mày mấy thùng thóc à …”

…Anh Bảo tức đầy ruột đâm liều:

“Bà lớn ức tôi quá. Tôi cày ruộng nộp đủ thuế thì thôi…”

Nghị Khanh vừa ở nhà trên đi xuống. Cặp môi mỏng và đỏ tía của lão mím lại dưới hàng ria đen. Lão cầm ba toong bằng song quất thẳng vào mặt anh Bảo đanh chát một tiếng.

“ Đồ khốn nạn. Ai cho mày đến đây làm loạn. Anh Long đứng đấy làm gì, sao để nó láo với bà lớn? Giần xác nó ra …”

Vậy là anh nông dân đã bị “địa chủ, phong kiến”  bóp cổ lè lưỡi đến gần chết, phải vùng dậy đi theo Đảng làm cách mạng thôi.

Bám vào cái chủ đề “vỡ bờ” đã được đặt trước cho cuốn sách, ông Nguyễn Đình Thi  phải ra sức “ép” cho “tức nước” nghĩa là phải mô tả “thằng địa chủ, thằng tư sản” phải thật xấu xa, thật độc ác, người nông dân phải thật nghèo khó, thật khổ sở, và rồi ách áp bức của “tư sản, địa chủ” choàng lên đầu lên cổ nông dân đã khắc nghiệt tới mức họ không chịu nổi và Đảng đã phát động họ vùng dậy làm cách mạng tháng Tám. Vậy là khi bỏ công sức ra viết cả ngàn trang tiểu thuyết “Vỡ bờ”, Nguyễn Đình Thi không làm cái công việc ghi chép một cách chân thực diện mạo xã hội, − thiên chức của người cầm bút, “người thư ký thời đại”, mà lại  nhào nặn đời sống để minh hoạ cho những nhận định của Đảng về sự tất yếu phải nổ ra cuộc “cách mạng dân tộc, dân chủ” do Đảng lãnh đạo.

Cùng hội cùng thuyền với Hai Khanh, tức thuộc tầng lớp “thống trị” có nhà tư sản Quảng Lợi  được nhà văn vẽ chân dung:

“ông Quảng Lợi ngồi ngả hẳn tấm thân phì nộn vào trong chiếc ghế bành, bụng phưỡn lên, vẫn còn no quá. Mặt ông đỏ tía, trong mắt cũng vằn lên những tia đỏ nọc vì hơi rượu…Ông đang nhớ đến cô vợ bé ở Hải Phòng, trong túi đã sẵn cái hộp kim cương mới sắm cho nàng, tưởng tượng đến lúc về ông bế cái tấm thân mũm mĩm ấy…”.

Ông quan huyện tên Môn, đại diện cho “chế độ phong kiến” tất nhiên phải bóp nặn dân đen rồi. Ta hãy coi nhà văn diễn tả tâm sự của quan:

“Cái nghề làm quan bây giờ có phải dễ kiếm như vậy đâu. Xoay được của thằng dân đen vài chục bạc thì có khi vã mồ hôi trán ra. Nhất là ở huyện ông trị nhậm, mấy năm vừa rồi, được thế mặt trận bình dân, cộng sản nó mọc lên như rươi. Những thằng khố rách áo ôm cũng doạ biểu tình và giở lý sự ra với quan. Làm quan bây giờ khó, khó lắm. Thật ra là trên đe dưới búa…”

Vẽ ra chân dung một quan huyện chỉ lo “bóp dân” vậy sợ chưa giành đủ sự xấu xa cho “phong kiến quan lại”, ông nhà văn còn diễn tả cả cái nỗi bực bội, giận dỗi  của quan với chính … vợ mình vì chị ta đã không chịu “hiến thân” cho quan Tây để chồng được lên chức.

“Nỗi bực của ông huyện lại kéo đến. Phượng (bà huyện) chỉ cười với quan công sứ một tí thôi, tiếp người ta một tí thì mình chẳng phải lẹt đẹt mãi thế này. Ngay cả quan công sứ Hải Dương từ lần gặp Phượng ngày tết tây trên tỉnh cứ hỏi thăm bà huyện luôn. Giả thử Phượng chiều lão ta một lần đi nữa cũng có mất mát gì. Miễn là chồng bằng lòng thì thôi chứ…”

Các “quan” đã xấu vậy, vợ các “quan” tất nhiên làm sao mà…  tốt ? Bà huyện Môn thì “dâm ngầm”: Mắt và môi bà lúc nào cũng hơi ướt, đôi mắt mơ màng có khi bất thình lình nhìn thẳng vào một người đàn ông như hơi chế riễu và hỏi: Ông hãy nhìn kỹ đi, có phải  tôi đẹp mê hồn không ?”. Bà tuần Vi thì lại “ngực đét như một con mắm, cái mặt luôn luôn hơi vênh lên. Tướng bà có chỗ khác người nhất là hai cái tai to tuớng chừng gần chấm xuống đến vai. Kẻ xấu miệng thì bảo bà có tính ngồi đâu cũng làm như mẹ người ta…”. Còn bà Phán Đệ thì “béo nục nạc, vừa rút một cái gương con trong túi ra. Bà quay vội đi xoa thêm ít son đỏ lên cặp môi rồi lại quay trở lại nói the thé…”

Tất nhiên, con cái nhà quan cũng xấu xa không thua gì bố mẹ chúng. “Cậu Tường, con trai ông nghị, hai mắt cậu như bị thôi  miên bởi vẻ đẹp rực rỡ của bà huyện…”, rồi đến tối khuya, cậu rình con ở tắm để làm bậy. “Xoan lên bờ đang mặc áo thì một cái gì ở đằng sau chồm lên vồ lấy nó… Hơi rượu phả ra nồng nặc, hai cánh tay ôm chặt lấy nó. – Im, tao bảo… Tiếng “cậu Tú” Tường lào phào, hơi rượu còn sặc sụa, tay sờ soạng ghì lấy người con gái…”

Tầng lớp “thượng lưu” càng xấu xa, độc ác, bỉ ổi bao nhiêu thì tầng lớp “bình dân”, ngược lại, được tác giả mô tả tốt đẹp, cao thượng, tình người bấy nhiêu. Gia cảnh nhà Xoan đi ở đợ và mẹ là Mùi giống y hệt nhà chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, trong khi đám địa chủ đối xử với họ độc ác quá cầm thú thì những người cùng khổ lại tỏ ra yêu thương, đùm bọc lẫn nhau theo đúng “tinh thần hữu ái giai cấp”.

Tất cả nhân vật từ giới thượng lưu tới đám dân đen trong “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi đều được phát triển theo một công thức cứng nhắc đó, tuyệt nhiên không có ngoại lệ.

Vì sao vậy ?

Bởi lẽ nếu nhà văn đưa ra một trường hợp ngoại lệ, thí dụ, cậu tú Tường, con địa chủ Hai Khanh là người tử tế chẳng hạn, cậu không ức hiếp con ở, không bóc lột người cấy rẽ… thì tức đã thừa nhận ngoài tính giai cấp ra, con người còn có một “tính chung” nữa – đó là “nhân tính”.

Suốt mấy chục năm lịch sử của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, cái phạm trù nhân tính này đã gây ra biết bao “tai nạn lao động” cho các nhà văn, nhà thơ, nhà kịch, nhà nghệ sĩ tạo hình…

“Anh đã chót yêu con địa chủ

Quá yêu rồi rứt bỏ sao đành…:”

Đó là cái phần “nhân tính” trong anh đã nổi lên, cần phải diệt trừ nó, bởi lẽ lý thuyết cách mạng tuyệt đối không thừa nhận “nhân tính”. Những nhân vật trong “Vỡ bờ” của Nguyễn Đinh Thi cũng vậy, nó được quy định chặt chẽ bằng “giai cấp tính” – đã là con địa chủ hoặc tư sản thì phải có máu “hưởng thụ và bóc lột” rồi, đã là con nhà công nhân thì nhất định phải có gien “tổ chức và kỷ luật”, con nhà nông dân thoát sao được đầu óc tư hữu, tiểu nông, con nhà tiểu tư sản thì bấp bênh, dao động… Quy phạm về con người trong văn chương xã hội chủ nghĩa đã rõ ràng như vậy, các ông nhà văn chỉ còn có mỗi việc “sáng tạo” trong gia giảm liều lượng mà thôi, ông nào say sưa, quá đà để nhân vật mon men đến chỗ dính nhân tính vào người, thế nào cũng mắc “tai nạn nghề nghiệp” chứ không thoát.

Nguyễn Đình Thi là người đầu tiên đưa “các đồng chí đảng viên cộng sản” vào tiểu thuyết Việt Nam. Ta hãy thử coi những nhân vật của thời đại này đã được nhà văn xây dựng như thế nào?

Tất nhiên trước hết đó là những con người vô cùng dũng cảm, sẵn sàng chết cho lý tưởng  cộng sản, lúc nào cũng lo làm công tác  cách mạng:

“Ừ, thằng Se suốt năm ở hầm xay lúa như trâu, thằng Đàm loẻo khoẻo mỗi lần đấu tranh cứ xông ra chịu đòn cho anh em khi cai ngục, mã tà vào banh nện dùi cui như mưa rào, thằng Chấn anh em gọi đùa nó là Giáo sư đỏ, bị bệnh lở tuột cả da từ thắt lưng trở xuống, nhiều hôm cứ ở truồng như nhộng, thịt đỏ hon hỏn ngồi xổm giảng biện chứng duy vật…”.

Trên cái nền đỏ chói ngời “khí tiết cộng sản” đó, Nguyễn Đinh Thi đã dụng công dựng nên chân dung một lãnh tụ cộng sản tất nhiên là theo chiều hướng thổi lên tận mây xanh…

 

Theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, các nhà văn trong nước thường được dạy dỗ cách xây dựng nhân vật gọi là “điển hình hoá”, trong đó  kinh nghiệm mẫu mực là của nhà văn Lỗ Tấn “lấy cái tai của người Sơn Đông, cái mắt người Sơn Tây, cái mũi người Sơn Nam…” mà ghép lại thành nhân vật.

Khi xây dựng “hình tượng nhân vật” là lãnh tụ cộng sản, Nguyễn Đình Thi cũng theo phương pháp này, bởi thế anh Khắc trong truyện “Vỡ bờ” phảng phất lý lịch mấy ông Trần Phú, Nguyễn Ái Quốc, Lề Hồng Phong … mỗi ông một cái “tai”, cái “mắt”, cái “mũi” mà kết thành. Bởi thế anh Khắc xuất thân gia đình quan lại nhưng chống Pháp, tham gia Cần Vương, bố bị Pháp bắt tù, mới ngoài 20 tuổi Khắc cũng đã bị đi đầy Côn Đảo, hết hạn tù trở về hoạt động trong phong trào công nhân xi-măng Hải Phòng… Thật là một lý lịch lý tưởng cho một ông lãnh tụ cộng sản. Tuy nhiên loại nhân vật này rất hiếm hoi, các ông phần lớn “nằm vùng”, hoạt động trong bóng tối, con người thực của mấy ông kín như bưng, ít người được biết tới, ngay đến nhà văn cách mạng Nguyễn Đình Thi cũng ít cơ hội gần gũi mấy ông, bởi thế xây dựng nhân vật này rất khó mà hoá dễ. Khó là vì sự cách bức trên mọi phương diện, cơ hội được gặp lãnh tụ đã hiếm hoi, gặp được rồi lại chỉ toàn nghe ý kiến chỉ đạo, răn dạy hoặc giảng đạo chứ mấy khi bắt gặp được “con người thực ” của mấy ổng.  Dễ là vì đó là những bậc “thánh thần” cứ tha hồ mà bốc lên mây xanh không sợ cấp trên thổi còi, bạn đọc cũng không phản đối vì thực hư có hay biết gì đâu?

Có lẽ vì sự hiếm hoi của các chi tiết nhân vật, ông nhà văn đã bê nguyên xi cả văn bản nghị quyết vào mô tả hai nhân vật “lãnh đạo cộng sản” là đồng chí Lê – xứ uỷ và đồng chí Khắc – thành uỷ:

“ Từ ngoài vườn tối, gió phả vào những làn hơi rét buốt. Lê đọc khẽ bản nghị quyết của Hội nghị trung ương Đảng lần thứ sáu. Khắc nghe hết sức chú ý, vừa tìm hiểu vừa như trải trí nhớ ra ghi lấy những câu, những ý chính… “Bước đường sinh tồn của dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả mọi ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dân tộc… Đảng chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng cho các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập…” Khi Lê đọc xong, họ cùng im lặng mấy phút. Những lời trong bản nghị quyết như còn bỏng lửa trong đầu óc họ…”

Nhà văn Nguyễn Đình Thi vô tình bộc lộ rõ một điều, cả Lê và cả Khắc cho dù là trí thức, nhưng một khi họ là cộng sản thì những gì đã thành Nghị quyết Đảng là chân lý tuyệt đối không được  mảy may nghi ngờ. Nghe xong nghị quyết, họ chỉ thấy nóng bỏng đầu óc tìm cách thực hiện mà thôi, tuyệt nhiên không được nghĩ ra ngoài nghị quyết . Tại sao bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương lại chỉ có mỗi một con đường đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và mọi ách ngoại xâm bất kỳ da trắng hay da vàng? Tại sao các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Indonesia… không đi theo con đường đó mà dân tộc họ vẫn sinh tồn và phát triển lại tránh được cảnh núi xương sông máu? Cái hạt nhân “hiện thực” nhà văn Nguyễn Đình Thi vô tình để lại trong xây dựng nhân vật lãnh đạo cộng sản là sự tuân phục răm rắp những gì cấp trên đã răn dậy, đã trở thành nghị quyết, tuyệt đối không xét lại, không bàn luận chỉ có nhắm mắt chấp hành và chấp hành sao cho “sáng tạo” hơn. Ý thức tuân phục chẳng những là “trọng bệnh” trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản mà tràn lan sang cả những trí thức cao cấp nhất, ưu tú nhất như Chế Lan Viên đã từng tuyên ngôn “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ”, Nguyễn Đình Thi tự nhận “hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”, tự nguyện  thiến  bỏ phẩm chất cốt lõi nhất của trí thức – đó là sự “ngờ vực” để tự biến thành một thành phần “trang nghiêm” trong đàn cừu ngoan ngoãn. Cho mãi tới tận ngày nay, cái khả năng “ngờ vực” ấy xem ra vẫn chưa được hồi phục trong những người được gọi là “trí thức trong nước” bởi lẽ mọi suy nghĩ của họ xem ra vẫn là “nghĩ  trong những điều Đảng nghĩ” và như thế liệu họ có đáng được gọi là  trí thức Việt Nam  hay là không?

Một khi chỉ cần tới những người chỉ biết “tuân phục”, tự cắt bỏ khả năng “ngờ vực” thì suy cho cùng cách mạng đâu cần tới trí thức? Đó là căn nguyên rốt ráo vì sao ngay lúc Đảng mới ra đời, còn trong trứng nước, Đảng đã đòi “đào tận gốc, trốc tận rễ” các tầng lớp “trí phú địa hào” – trong đó anh “trí thức ” là đối tượng số 1, vì sao lãnh tụ cộng sản Mao Trạch Đông lại coi trí thức không bằng “cục cứt”.

Vậy là về cốt lõi, nhân vật Khắc, lãnh đạo cộng sản cũng không phải trí thức, ông ta chỉ là người thừa hành, tổ chức các hoạt động theo chủ trương đường lối từ trên đưa xuống. Lúc này thành uỷ Hải Phòng bị bắt gần hết

“anh Biểu, bí thư thành uỷ bị nó đánh chết rồi…còn mấy anh kia thì hình như nó vẫn đang tra thêm. Tôi nghe bọn gác nói chuyện các anh ấy gan lắm, anh nào cũng đều bị đòn chết đi sống lại vẫn không khai…”.

Vậy là cán bộ cấp dưới có thể phản bội, có thể đầu hàng chứ đã vào tới cỡ Ban chấp hành thành uỷ thì ông bà nào cũng biến thành sắt thép trước quân thù cả. Trong tình hình thoái trào đó, Khắc được “trung ương” cử về Hải Phòng để xây dựng lại thành uỷ và tổ chức bộ não lãnh đạo cho cả khu Bê gồm Kiến An, Quảng Yên và Hải  Phòng.

Vừa đặt chân xuống thành phố Hải Phòng, đồng chí Khắc đã  bộc lộ ngay cái máu “căm ghét tiện nghi, căm ghét văn minh” vốn là bản tính ghen tị sẵn có với đời sống người thành phố của mấy bác nhà quê theo Đảng đi làm cách mạng “bao vây và tiêu diệt” văn minh đô thị. Khi nhìn thấy phố xá thắp đèn điện, đồng chí Khắc căm tức:

“Những cái nơi đèn sáng lộng lẫy kia không toả sáng và sự văn  minh ra xung quanh. Trái lại mỗi ngọn đèn điện bật sáng ở đây là hút đi tất cả ánh sáng của hàng chục hàng trăm mái nhà tranh trong những làng xóm tối mù mịt. Chung quanh một vài thành phố có đèn điện, cứ đêm đến khi mặt trời tắt là tất cả đồng ruộng sông núi chìm vào bóng tối mênh mông như biển. Ở nông thôn hầu hết mọi nhà đều không có tiền mua dầu để thắp đèn, đêm đến người ta ăn mò, làm mò, lụi hụi trong bóng tối hoặc chung quanh một ngọn đèn leo lét như thời cổ xưa…”

Tâm tư bài xích “văn minh đô thị” của ông cán bộ cộng sản, trở về gây dựng lại  phong trào ở Hải Phòng  được  nói huỵch toẹt rằng:

“Cái đời sống văn minh ở một vài thành phố chỉ là do hút hết máu mủ của các làng xóm cùng cực, lạc hậu, đem về đốt lên thành đèn điện, thành sự xa hoa trụy lạc ngày càng thối nát thêm mãi. Mấy cái thành phố lớn khác nào những cái nhọt đỏ bầm, càng tấy lên càng làm cho đau đớn nhức nhối, tê liệt cả cái cơ thể Việt Nam  đã bị vắt máu đến kiệt quệ …”.

60 năm sau, thật chẳng ngờ những suy gẫm của Nguyễn Đình Thi về các thành phố thời “phong kiến đế quốc” lại trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam những năm 2000, đúng y chang tới từng câu, tùng chữ một cách lạ lùng.

Nào “hút máu mủ các làng xóm cùng cực lạc hậu đem đốt lên thành sự xa hoa truỵ lạc…”, nào mấy “cái thành phố lớn khác nào ung nhọt, tấy lên làm tê liệt cả cái cơ thể Việt nam bị vắt máu đến  kiệt quệ..”. Còn có đoạn văn nào mô tả thực trạng các thành phố lớn ở Việt Nam ngày nay chính xác hơn, sinh động hơn đoạn văn của Nguyễn Đình Thi viết về Hải Phòng  60 về năm trước?

Khả năng “thấu thị”, dự báo, “tiên tri” của nhà văn thật chẳng ngờ lại phản tác dụng ngoài ý muốn của ông nhà văn. Hoàn toàn không nhìn thấy ý nghĩa tích cực của những thành tựu văn minh công nghiệp người Pháp mang tới đất nước Việt Nam, ông cán bộ cộng sản mà Nguyễn Đình Thi hoá thân vào đó nhìn đâu cũng chỉ thấy biểu tượng của sự bóc lột, hút máu hút mủ:

“ ..trước mắt Khắc, nơi con sông Tam Bạc đổ vào Cửa Cấm, sừng sững nổi lên những khoảng tường, mái, nặng nề, chồng chất lên nhau tầng tầng lớp lớp như những bức thành cao ngất đến lưng trời. Quả thật đấy là một cái thành trì to lớn của tư bản Pháp ở Việt Nam: khu nhà máy xi-măng Hải Phòng. Trên nền trời bầm tím, hai cái tháp lò đồ sộ phun lên hai cột khói trắng toát. Hai cột khói im lìm như hai cái cây kỳ lạ mọc thẳng lên đến những khoảng mây mù mịt trên trời sâu thẳm…”

Hằn học  ánh sáng đô thị, thù ghét văn minh công nghiệp, liệu rồi những lãnh tụ cộng sản như nhân vật Khắc của Nguyễn Đình Thi rồi sẽ dẫn dắt dân tộc này đi tới đâu ?

Đưa dân tộc tới một ngày mai ra sao, trong đầu ông Khắc chưa hình dung tới ngoài hình ảnh “thiên đường cộng sản” chung chung, chỉ biết lúc này, trong huyết quản ông, sôi sục máu nóng muốn đập bỏ cái con quái vật − “nhà máy xi măng” − bên bờ sông Tam Bạc, Hải Phòng ấy đi.

Ở đó “dưới vòm trời âm u khói, dòng người xám xịt im lặng chảy đi. Những  bộ mặt gày còm lấm nhơ dầu máy hoặc bê bết than đá và bụi đất, đều lộ vẻ mệt mỏi, khác nào vừa bị rút kiệt sức lực trong cái âm phủ đầy lửa cháy và đầy bụi nóng ngột ngạt.” …

Ở đó “Chân người ta bủn rủn, bụng đói như cào. Gió đầu mùa đông thổi tới, những manh áo xanh, áo nâu không làm sao chống nổi với gió lạnh. Mọi người đều im lặng bước đi, chỉ nghe thấy tiếng guốc, tiếng giày vải, tiếng chân không bước lệt xệt trên mặt đường …”

Những đoạn văn mô tả “nhà máy của tụi tư bản bóc lột công nhân” như trên cũng có thể tìm thấy trong những cuốn tiểu thuyết cùng đề tài của các nhà văn mác xít đầu thế kỷ 20 như  “Người mẹ”  của Maxime Gorki. “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Ostrosvki, hoặc truyện ngắn “Người đàn bà Tàu” của Nguyên Hồng. Chúng giống nhau đến độ có thể tráo đổi cho nhau mà không ảnh hưởng tới cục diện chung của tiểu thuyết bởi lẽ chúng có chung một cảm hứng chủ đạo là coi  “nhà máy tư bản bóc lột công nhân”  giống như  “con quái vật hút máu mủ người làm thuê” như  “âm phủ đầy lửa cháy và bụi nóng”. Tiếc thay, “cảm hứng chủ đạo” đó không hẳn đã được các nhà văn “nghiệm sinh” từ thực tế của đời sống mà là sản phẩm của trí tuệ sau khi đã được nhồi nhét một cách sơ lược và sống sít những luận điểm của chủ nghĩa Mác.

Và khi đi dưới “tấm biển chỉ đường” đó, ông nhà văn buộc phải nhận ra cái sức mạnh để đập chết con quái vật, đánh sập “âm phủ” đó  phải là cái năng lượng tiềm ẩn của đám đông:

“Một ngọn đèn điện vàng khè đã thắp lên, dòng người rét và đói vẫn cuồn cuộn, lầm lì đi trên đường. Cái quang cảnh ấy có một sức mạnh riêng, nó có cái vẻ oai nghiêm của nó. Giả thử đầu đám người ấy nổi lên một lá cờ đỏ, và tất cả dòng người lầm lì kia mỗi người giơ lên một nắm tay và reo lên một tiếng thì cả con đường bờ sông này sẽ rung chuyển hết, biến thành một dòng thác dữ và mấy nghìn con người mệt đói bủn rủn kia đã thành một đạo quân ghê gớm rồi…”

Chỉ bằng một đoạn văn ngắn, Nguyễn Đình Thi đã vô tình bộc lộ ngoài ý muốn cái cốt lõi của “chủ nghĩa nhân đạo cộng sản”. Đó là một cái nhìn thuần “lý tính”, nhảy qua mọi khốn khó của quần chúng, nhằm ngay tới sự đánh thức sức mạnh mù quáng của nó, “biến khổ đau thành hành động”, biến biển nước mắt của chúng sinh thành sức mạnh đập phá.

Đặt chân tới Hải Phòng, đồng chí Khắc, phái viên của xứ uỷ gặp vô vàn khó khăn khi phong trào cách mạng vừa bị đánh phá tơi bời. Cơ sở cách mạng đầu tiên Khắc được giới thiệu tới để móc nối là anh trí thức Tuyển. Chưa đọc diễn biến ra sao, người ta cũng có thể đoán được anh chàng “trí thức tiểu tư sản” này gặp khi cách mạng thoái trào sẽ dao động, từ bỏ hàng ngũ cách mạng làm một anh “trí thức trùm chăn”. Đó là “tính giai cấp” quy định tính cách nhân vật mà. Quả nhiên Khắc vượt qua nhiều trở ngại mới tìm tới được với Tuyển thì anh ta lại vờ vịt: “Ông có việc gì đấy ạ…”… Sau cùng anh ta huỵch toẹt với Khắc: “Anh cũng hiểu …lòng tôi vẫn trước sau như một …nhưng cảnh nhà tôi anh thấy đấy, còn năm đứa con nhỏ, tôi không thể như các anh được…” . Rồi như để chữa thẹn việc không chứa chấp được Khắc, anh ta nói thêm: “Tôi sẽ tiếp tục hoạt động truyền bá quốc ngữ anh Khắc ạ. Cái mộng của tôi là mở một nhà xuất bản, cố nhiên không phải là để kinh doanh mà là để có một tiếng nói trong sạch của người trí thức trong lúc rối ren này…”

Đúng như bác Mao nói  “trí thức không bằng cục phân”, nhất là trí thức tiểu tư sản lại thường hay dao động, sợ thay đổi, sợ khó sợ khổ… Nguyễn Đình Thi quả đã vẽ được chân dung anh trí thức Tuyển đúng hệt với sự phân tích giai cấp của Đảng đối với loại nhân vật này.

Trong lúc cách mạng gặp khó khăn, mấy anh tiểu tư sản đã chạy làng rồi, vậy chắc chắn Đảng chỉ tìm được chỗ dựa ở nhân dân lao động và giai cấp công nhân thôi. Ở  nhà Tuyển ra, Khắc rơi vào tình thế bơ vơ nguy hiểm khi cứ một mình lang thang phố xá. Nắm vững “quan điểm quần chúng”, Khắc làm quen bừa với một anh thanh niên nghèo đang bị đói, quả nhiên anh ta đưa Khắc về trú ngụ tạm thời trong lúc chưa liên lạc được với cơ sở.

Nhân vật thứ hai Khắc được xứ uỷ giao cho móc nối là một chị công nhân xi-măng tên Gái. Đã là công nhân thì không thể có chuyện dao động, ngại khó, ngại nguy hiểm được. Quả nhiên khi Khắc tới, chị Gái mừng lắm, bố trí ngay nơi ở an toàn cho anh và hẹn: “Tôi đã báo tin anh về cho các đồng chí ở xi-măng rồi. Các anh ấy mừng lắm và muốn gặp anh ngay…”

Thế là như cá đã được trở lại nước, anh phái viên của xứ uỷ đã tìm được cơ sở Đảng và lập tức bắt tay vào hành động. “Lúc này phong trào Hải Phòng đã bị một đòn nặng, cái thành phố công nhân mới chưa bao lâu còn sôi sục, mỗi cuộc đấu tranh lôi cuốn hàng nghìn hàng vạn người đổ xuống đường thì bây giờ thấp thỏm nơm nớp. Các nghiệp đoàn đều bị giải tán, những đoàn thể thanh niên phụ nữ đều bị cấm, cho đến những hội ái hữu hội thể thao cũng tan rã hết. Đảng viên còn bảy đồng chí rải rác ở các nhà máy…”

Như vậy ta có thể thấy lực lượng trung kiên của Đảng còn lại gồm toàn công nhân. Chị Gái đưa Khắc tới gặp bác Mẫn, công nhân, Phó bí thư chi bộ xi-măng.

“Bác Mẫn đã ngồi đợi Khắc ở dưới gốc đa. Họ bắt đầu nói với nhau lầm rầm, hai người chụm sát mặt nhau mà vẫn không rõ mặt nhau trong bóng tối. Khắc nói: “Theo quyết định của xứ uỷ, tôi về lập Ban cán sự lâm thời gồm có đồng chí và tôi. Sau này sẽ có một đồng chí trên xứ về làm bí thư thành uỷ… Số đảng viên tôi nắm được là bảy đồng chí, ở xi-măng ba, ở phốt-phát một, Sáu Kho một, xóm Lạc viên một…”

Vậy là lực lượng lãnh đạo cách mạng ở Hải Phòng toàn là công nhân cả thôi, trí thức tiểu tư sản đố có anh nào chen vào được. Đó không phải thực tế nó như vậy mà chính là “thực tại trong tiểu thuyết” bị đòi hỏi phải như thế. Giữa cái “đang là” và cái “phải là”, tất nhiên ông nhà văn phải chọn cái thứ hai, cái “phải là” thì mới thể hiện được tính Đảng và tính giai cấp trong tác phẩm.

Uốn nắn “thực tại trong tiểu thuyết” theo những quy luật vận động của “cuộc cách mạng vô sản”, Nguyễn Đình Thi cố gán ghép “động lực cách mạng Việt Nam” là mấy anh thợ xi-măng, thợ mỏ thực ra là sai bét. Giai cấp công nhân Việt Nam ốm yếu ra sao, có thực sự hợp thành một giai cấp như  định nghĩa kinh điển của Mác không, nhà lý luận mác-xít Trần Văn Giàu đã chỉ ra rất rõ trong công trình nghiên cứu của ông. Sự thực, lực lượng xách động và tổ chức quần chúng nổi dậy mùa Thu năm 1945 phần lớn là trí thức tiểu tư sản hoặc trí thức quan lại đã bị chói loà bởi “thời cơ giải phóng dân tộc” và “sổ tay hướng dẫn làm cách mạng” được các học viên trường Đại học Phương Đông từ Liên Xô đất nước của đồng chí Xít-ta-lin vĩ đại mang về làm cẩm nang hành động chứ chẳng phải do sức mạnh tự thân, “quật khởi” của giai cấp công nhân Hải Phòng, Hòn Gay mà làm nên được.

Nhân vật lãnh đạo cách mạng đã có rồi, vậy còn quần chúng cách mạng thì sao đây? Theo đúng bài bản “giai cấp công nhân hình thành phần lớn là do nông dân bị phong kiến bóc lột, bần cùng hoá phải lên thành phố kiếm sống mà trở thành công nhân, đội ngũ tiên phong của cách mạng…”, Nguyễn Đình  Thi cũng đưa ra một nhân vật đúng khuôn mẫu như vậy. Đó là anh thanh niên nông dân tên Côi, sống ở quê rất nghèo, yêu chị Quế, gái goá đã có một đời chồng. Anh Côi phải đi phu 3 tháng rồi bỏ về Hải Phòng kiếm sống. Khi đã có một món tiền rồi, Côi trở về làng cưới chị Quế và nếu diễn tiến  tiểu thuyết  y như thế thì làm gì có anh Côi sau này thành cán bộ hoạt động trên thành phố. Chính vì vậy nhà văn đã phải cho chị Quế… chết đi bằng nguyên nhân ngớ ngẩn là đi mò cua giẫm mảnh sành về ốm mà chết. Vậy là anh Côi không còn cớ gì để ở lại quê nữa, anh phải lên thành phố để trở thành công nhân làm cách mạng thôi.

“Quế thì đã chết rồi. Thôi, Côi không thể ở lại đây được nữa. Côi nhớ lại bao nhiêu chuyện anh đã thấy ở Hải Phòng, những chuyện làm cho anh và Mầm nhiều đêm nằm rì rầm bàn với nhau không sao ngủ được. Chưa biết phải đi đâu, nhưng Côi phải đi thôi. Đi để tìm một cái gì, chưa biết, nhưng hình như phải tìm thấy một cái gì , Côi mới sống được …”

Cái gì – đó chính là cách mạng. Là cái ông nhà văn dụng công dàn dựng để tất cả những ai  nghèo khổ, những ai bị áp bức trên thế gian này, đều sẽ gặp nó trên đường đời.

Tính chân thực, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nghệ thuật đã bị ông nhà văn gạt qua bên để xây dựng cho được bức tranh hoành tráng về phong trào cộng sản ở Việt Nam theo một quy tắc nghệ thuật vị chính trị, dẫn tới một hiện thực phi hiện thực. Chính cái sai phạm chết người đó đã làm Nguyễn Đình Thi thật uổng công  biết chừng nào khi vắt tâm não lên trên hai ngàn trang tiểu thuyết mà giá trị của nó chẳng được bao nhiêu.

Xưa nay người ta vẫn cho rằng Nguyễn Đình Thi là “đứa con của Hà Nội” bởi những tác phẩm nghệ thuật ông viết về cái vùng đất được coi như  “quê hương tinh thần” của trí thức Bắc Kỳ này. Ngày nay, mở đầu cuộc họp của các “Hội đồng hương người Hà Nội”  ở Sài gòn và các thành phố lớn phía Nam, người ta thường  đứng cả dậy đồng thanh cất tiếng hát: “Đây hồ Gươm, Hồng Hà, hồ Tây…”. “Bài ca người Hà Nội “ của Nguyễn Đình Thi từ lâu đã trở thành bài hát chính thức của các hội đồng hương này.

Nhưng đó chỉ là trong âm nhạc hay chính xác hơn trong duy nhất một bài hát. Tiếc thay trong văn chương, hay hẹp hơn, trong tiểu thuyết “Vỡ bờ”, mặc dầu đổ rất nhiều công sức viết về Hà Nội những năm 1940-45, Hà Nội của những “Hanoiennes”, của Thạch Lam trong “Hà Nội, 36 phố phường”, của Vũ Bằng trong “Thương nhớ mười hai”…, Nguyễn Đình Thi chỉ dựng được một Hà Nội méo mó bởi  thiên kiến chính trị, nhìn đâu cũng thấy sự “phân chia giai cấp”, sự hằn thù thực dân, ý thức đạp đổ tiến lên làm cách mạng…

Đọc những chương Nguyễn Đình Thi viết về Hà Nội, người ta nhận thấy ông đã tự giam mình trong những chuẩn mực rất thực dụng của cách mạng, tự ngăn mình không tới được những phong vị đặc trưng rất Hà Nội trong văn hoá, trong cái đẹp thuần khiết; tự biến mình thành một kẻ tục tử chối từ những hương sắc tế vi, vẻ lung linh mà đất kinh kỳ chỉ giành cho những đứa con đích thực của nó như Bùi Xuân Phái trong “phố Phái”, Hoàng Dương, Đoàn Chuẩn, Hoàng Giác … trong những ca khúc “rất Hà Nội.”

“ Một tối thứ bảy, nhà hát Tây có buổi biếu diễn long trọng của nữ sinh các trường học ở Hà Nội…” và Nguyễn Đình Thi đã nhìn “những tà áo dài trắng”, những “dáng kiều thơm” không phải vẻ đẹp của họ mà ở… thành phần xuất thân:

“Về phía các nữ sinh người Nam thì ở đây cũng đã kén chọn các bậc hoa khôi trong hàng tiểu thư, lệnh ái các quan tuần, quan phủ hoặc các công thương gia, thượng lưu trí thức…”

Và ông dè bỉu:

“Các nhà phê bình nghệ thuật trên mấy tờ báo Curiê  hoặc Vôlônggiê cũng như Đông Pháp hay Trung Bắc lại bàn nhiều về cuộc thi tài giữa hai trường phái nhạc và múa ở đất Hà thành văn vật: một bên là trường phái của vợ chồng giáo sư Rôbe dạy trường lytxê và bên kia là trường phái của trung tá Phécnăng chỉ huy đội kèn lính khố xanh và giáo sư nhạc trường nữ học An Nam…”

Nhà hát lớn thành phố Hà Nội được Nguyễn Đình Thi mô tả với giọng không kém “riễu cợt” vì nó là sản phẩm của “thực dân Pháp”:

“Cái nhà hát làm theo kiểu thế kỷ 19 ở Pháp, đèn điện thắp sáng choang. Từ ngoài cửa chính vào, đã trải thảm đỏ cho đến tận cầu thang lên tầng giữa. Một xe ô tô đỗ sịch, cửa mở ra, lại có một ông Tây áo đen, nơ đen, một bà đầm mặc váy loà xoà, bước xuống và khoác tay nhau leo lên các bậc thềm, giữa sự chú ý của mọi người…”

 Những ông tây, bà đầm này, sang thời thiên niên kỷ, ngay cả lúc sinh thời Nguyễn Đình Thi đã lại bỏ tiền ra để chỉnh trang Nhà Hát lớn Hà Nội như một công trình văn hoá, một kỷ niệm của nền văn minh Pháp mang tới đất kinh kỳ vào thời người Hà Nội còn chưa nghe nói tới chủ nghĩa Mác và nước Liên Xô thành trì của cách mạng thế giới cũng chưa ra đời. Tiếc thay cho ông nhà văn, Liên Xô đã tan từ lâu mà cái Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội do thực dân Pháp dựng nên, vẫn  còn lại mãi.

Thế còn “Khách đi  xem hôm nay toàn là các nhà quý phái, bậc thượng lưu của đất Hà Nội”  thì ra sao ?

Họ là “Một bà mặc áo nhung đỏ tóc uốn quăn, mặt phấn trắng như bột , đang cười  cười và nói tiếng Pháp liến láu, đi sóng đôi với một ông tây to béo, râu mép đen rậm bước lên cầu thang. À… madam Ngọc Oanh đi với ông Giám đốc học chính Đông Dương. Ai không biết rằng bà Ngọc Oanh, bà đốc trường nữ học An Nam. Bạn của bà toàn là các quan tây cả. Đấy, như hôm nay, người An Nam có ai được lên tầng giữa đâu, vậy mà bà vẫn đàng hoàng được mời lên trên ấy. Con mụ có lẽ đã ngủ với gần hết các vị nguyên thủ Bắc Kỳ. Lão thống sứ Satiền, nhân tình của mụ, mới về tây có hơn một tháng, bữa nay đã thấy  mađam  đi với lão này rồi…”

Oh Mon Dieu! Lạy đức Mẹ Đồng Trinh, một phụ nữ ở một cương vị cao quý là hiệu trưởng trường nữ học Hà Nội như trường Trưng Vương, trường Thanh Quan …mà lại phải mang thân đi ngủ với đủ các ông tây thì thử hỏi ở những công sở khác, các  quý bà quý cô thời đó có còn ai không phải là điếm? Chẳng hiểu Nguyễn Đình Thi đã lấy nguyên mẫu ở đâu để đẻ ra cái  nhân vật “bà đốc trường nữ học An Nam Ngọc Oanh” này hay là chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng được bồi bổ bằng lòng căm thù “thực dân Pháp” và ghen ghét tầng lớp trí thức thượng lưu Hà Nội ngày trước ?

Trong đám người đổ tới Nhà hát Lớn xem nữ sinh biểu diễn tối thứ bảy đó “toàn là các “quan tây” với “các quan ta, mặc áo gấm dài, đội khăn xếp, các quan bà tuy cao tuổi nhưng hầu hết đều đánh phấn trắng lốp. Được dịp tiết trời rét, các bà các cô tha hồ đem khoe những kiểu áo nhung, áo len xanh đỏ tím vàng. Năm nay, mốt hình như ngả về màu “xicalamen” và màu tím…”

Tất nhiên trong đám quan ta ấy, toàn là bọn hút máu mủ dân như  “gia đình Nghị Khanh, mụ nghị, mụ  tuần Vi, cậu tú Tường, cậu Cử  Phát, đủ bộ…”  và tiêu biểu nhất, được  Nguyễn Đình Thi dụng công mô tả nhất là vợ chồng huyện Môn. Đưa vợ đi coi hát ở Nhà hát Lớn mà quan huyện trẻ, tây học  này cứ hậm hực: “Phượng (tức bà huyện) chỉ cười  với quan công sứ một tí thôi, tiếp người ta một tí, thì mình chẳng phải lẹt đẹt mãi thế này…Giả thử Phượng chiều lão ta một lần đi nữa cũng có mất mát gì… Sao en ngu thế. Nói thế nào cũng không nghe. En ăn cơm của chồng thì cũng phải giúp chồng chứ. Ông huyện Môn cười nhạt. Chẳng qua là vô ơn bạc nghĩa, đồ bạc…bạc…”.

Quả thực cái thuật ngữ “bôi đen xã hội” mới xuất hiện thời Nhân văn Giai phẩm và những năm về sau đã được Nguyễn Đình Thi sử dụng không phải như công cụ phản kháng của các nhà văn với thực tại đang diễn ra mà chính là để hạ thấp xã hội Việt Nam thời “phong kiến – đế quốc” một cách “xuất sắc”.

Thế rồi buổi biểu diễn của nữ sinh Hà Nội tại Nhà hát Lớn cũng bắt đầu: “Có hai đoàn thiếu nữ Pháp và Nam, các cô gái Pháp mặc váy trắng như bông tuyết, các cô gái Nam cũng áo dài trắng, quần trắng. Tất cả đám bông hoa biết nói ấy đã cất tiếng lanh lảnh hát bài Macxâye…”  . Cái thứ nhãn quan nhìn đâu cũng chỉ để ý tới … “chính trị” nó khổ vậy. Nó làm cho nhà văn chẳng còn nhận ra vẻ hồn nhiên, tươi trẻ, giọng ca thánh thót của các cô gái Hà Nội này, mà chỉ nhăm nhăm để ý tới  “đám các quan ông, quan bà, các nhà trưởng giả ngồi xem chỉ nghe thấy tính tinh nhí nha nhi nhô, không hiểu gì, nhưng thấy hai cô đánh đàn mặc đẹp thế  và uốn các ngón tay trắng muốt cứ cong lên cong xuống như múa trên cái đàn đắt tiền thì hẳn là đàn phải hay lắm…”  .

Rồi tới màn múa:

“Các cô mặc váy ngắn cũn cỡn  và mỏng tanh, nom thấy thân hình lồ lộ, dón đầu ngón chân chạy đi chạy lại, ngửa người ra uốn éo…”

Thì đúng là một cái nhìn khắt khe, đe nẹt của một anh cán bộ văn hoá cấp xã chứ không còn là của một  nhà văn lớn với tâm hồn rộng mở đón nhận mọi màu sắc  trần gian…

Thế còn hình tượng “tiểu thư Hà Nội” − những “dáng kiều thơm”, những “đôi mắt huyền”, “những thiếu nữ buồn không nói”… đã được Nguyễn Đình Thi khắc hoạ như thế nào? Trong cả cuốn tiểu thuyết, khi viết về loại nhân vật này, ngòi bút của nhà văn dường như được “giải toả” khỏi sự lên gân cốt, sự bốc phét trong những trang viết về những nhà cách mạng và quần chúng cách mạng  để khoan khoái, thích thú đi sâu vào cái xã hội “xanh xanh đỏ đỏ” tiểu tư sản mà ông phải lên án, cải tạo nó nhưng trong bụng lại ngầm thích thú nó.

“Phượng đến trước tấm gương lớn. Ngực còn thở mạnh. Phượng đứng ngắm nghía cái cái dáng người trong gương. Nàng giơ cánh tay tròn lẳn lên và nghiêng người nhìn những đường cong, rồi bỗng lột cái áo nịt , xem lại ngực của mình. Đôi vú tròn và rắn chắc như của một cô gái mười tám, đôi mươi, người Phượng vẫn trẻ nguyên như hồi chưa chồng, không ai có thể bảo cái tấm thân trong gương kia hai mươi sáu tuổi. …”

Phượng là con nhà giàu, có cửa hàng ở phố Hàng Đào, con gái  nhà buôn Ích Phong, học hành tử tế, hồi đi học đã yêu một chàng hoạ sĩ nghèo tên Tư, lớn lên lấy chồng “môn đăng hộ đối” quan huyện Môn mãi tận Hải Dương. Với thành phần xuất thân như vậy, đương nhiên Nguyễn Đình Thi phải “vẽ” cô ta như một cô gái ham hưởng thụ, ngồi bát ăn bát vàng trên xương máu người nghèo…

 

Ông nhà văn có vẻ thích thú cái giấc ngủ nướng của người đàn bà đẹp đến độ mô tả nó thật tỉ mỉ:

 “Đã trưa lắm rồi thì phải. Qua cửa sổ, ánh sáng như nhức nhối vì không được ùa vào. Phượng cố nằm thêm mấy phút nữa, chăn và gối êm vuốt ve vào da thịt người đàn bà trẻ thoáng rạo rực và tự cười mình. Mình hư lắm, Phượng tự bảo…”

Trong đời tình ái của Phượng ít ra là có 3 người đàn ông. Người trước hết là chồng của Phượng, huyện Môn, lấy nhau vì…chàng giàu. Dưới con mắt của Phượng, chồng cô “mới ba mươi nhăm mà hai má đã chảy ra. Mỗi buổi sáng, ngủ dậy, khi Phượng nhìn trên gối ngay bên cạnh mình cái bộ mặt bắt đầu sệ hai má nhờn nhờn mỡ ấy thì nàng không sao tránh khỏi cảm giác ghê tởm …Và nàng  cảm thấy xa hẳn Môn từ sau khi nổ ra cuộc cãi nhau giữa hai vợ chồng vì câu chuyện đi “tiếp” lão công sứ. Lần ấy Môn đã xỉ vả với những lời lẽ tàn nhẫn và trắng trợn…” . Người thứ hai là “người yêu đầu đời”, hoạ sĩ Tư, chia tay nhau vì…chàng nghèo, cả đời không chịu vẽ tranh đàn bà đẹp để bán, chỉ vẽ toàn “những mái nhà khấp khểnh, những cầu thang cũ, chật hẹp, những cái sân ngoắt ngoéo, những dây phơi quần áo, bóng một người đàn bà đang giặt ở sân nhà, cái ngõ hẻm ở dưới sân bị ép chặt giữa hai bên dãy phố, một con mèo đang nằm sưởi  đầu bờ tường trong một chấm nắng vàng…” – một hoạ sĩ “của người nghèo” “mắc nợ quanh năm. Anh thiếu cả tiền thuê người mẫu vẽ làm kiểu. Người mẫu của Tư là những em bé ở góc phố, là một người đàn bà bán chuối…bà mẹ bác thợ giặt…”, và với ao ước “vẽ được những bức tranh lớn về đời sống trên sông Hồng Hà”   (hẳn nhà văn được gợi ý bởi hoạ sĩ Nga trong tranh lớn “Người kéo thuyền trên sông Vonga) sau này chắc chắn sẽ thoát ly làm cách mạng. Người thứ hai là hoạ sĩ Thanh Tùng – hoạ sĩ của tầng lớp trưởng giả, “ hầu hết  là vẽ những người đàn bà, những thiếu nữ, e lệ, mơ màng, mắt một mí dài và nhỏ kiểu “phương đông” đang xoã tóc ngồi đọc sách chữ nho hoặc đan áo bên một khung cửa sổ tròn hoặc bên một lọ hoa…:” . Tất nhiên tranh của Thanh Tùng bán chạy ào ào, chàng trở nên giàu có, sống sang trọng và chính cái đó đã hút Phượng nhào tới với chàng như con thiêu thân, chỉ trong khoảnh khắc đã ngã vào tay chàng hoạ sĩ trưởng giả cắm sừng lên đầu chồng.

Tiểu thư Hà Nội dưới cái nhìn mang tính “giai cấp” của Nguyễn Đình Thi trở nên hết sức tầm thường, hám của, dâm đãng, thiếu ý thức làm vợ. Đó là cái nhìn thiên kiến, hẹp hòi  của một anh chàng nghèo nàn về vật chất, sống trốn lánh bất hợp pháp vì hoạt động cách mạng, đứng ngoài vỉa hè mà nhìn vào các gia đình gia giáo nên không tránh khỏi sự tức tối và ghen ghét. Sự thực, những tà áo trắng nữ sinh Hà Nội sống hồn nhiên, trong trắng và tử tế hơn nhiều những gì Nguyễn Đình Thi dụng công viết ra. Như thế liệu ông có đáng là đứa con yêu của người Hà Nội?

Nữ sinh thì như thế, còn các thày cũng được ông nhà văn mô tả chẳng ra cái hồn gì. Trong trường có nhiều học sinh nhặt được truyền đơn của cộng sản và dâu trong người. Viên đốc học người Pháp bắt các thày đi khám:

“Mấy ông giáo , mặt như chàm đổ đi làm việc của những tên mật thám. Phần đông họ khám qua quýt cho xong chuyện, nhưng cũng có một hai người bắt học trò cởi áo rũ túi cho lão đôc Tây nhìn thấy sự mẫn cán của những tên đầy tớ trung thành…”

Các thày An Nam đã “hèn” đến thế, tất nhiên các viên chức Pháp phải hung hăng tàn bạo.

“Viên giám thị xấn xổ chạy xuống và lồng tới chỗ đám đông. Thấy một cậu học trò tay còn cầm tời giấy, y quát bằng tiếng Pháp: Cái gì đây ? Mày cầm cái gì đây ? – Một cái tát mạnh làm cậu bé chúi đi. “Tao sẽ đuổi mày ra khỏi trường nghe không ?”…Viên giám thị vẫn mặt đỏ gay, giẫm chân và hoa tay theo đám học trò: Lũ ăn cắp. Tao sẽ đuổi hết chúng mày ra khỏi đây. Voay-u…”

“ Bỗng có tiếng tát đôp đốp . Trong lúc mọinguời chú ý cả vào cuộc khám thì viên đốc Tây đã ra đứng đằng sau các hàng xem xét và bắt được một học sinh năm thứ ba đang móc túi vứt đi một tờ truyền đơn. Y kéo tai đứa nhỏ lôi  đi sênh sệch…”

Hiệu trưởng và giám thị kiểu này chắc không phải ở các trường Albert Sarraut, Puginier, Sainte Marie…tại Hà Nội thời đó mà chắc là ở… Luang Prabang, nơi ông nhà văn đã sinh ra và lớn lên chăng?

Trong giới nghệ sĩ Hà Nội, Nguyễn Đình Thi đưa ra hai nhân vật khá độc đáo. Một chàng nhạc sĩ tên Toàn không rõ vì sao mang tâm trạng:

“Tôi sống trên đất nước tôi mà vẫn là người không có Tổ Quốc. Cho đến nỗi trong âm nhạc, tôi cũng không có quê hương …”

“Lưu đầy và  quê nhà”  là đề tài lớn cả chục năm sau nhà văn Pháp Albert Camus mới đề cập tới, nhưng “lưu vong ngay trên Tổ quốc mình” lại  được ông nhà văn cài vào lời lẽ của nhạc sĩ Toàn mà không dẫn dắt từ cảnh ngộ nào đưa tới khiến nhân vật cứ như “nhảy dù” vào truyện để phát ngôn cho tác giả về nghệ thuật Việt Nam:

“Hàng ngày tôi đánh những bản đàn rất hay, nhưng không có bản đàn nào mang tâm hồn của quê hương tôi. Tôi muốn viết ra những bản nhạc Việt Nam, nhưng từ ý muốn đến sự thực còn cách xa nhau xa qua. Và trong việc làm này, tôi còn quá lẻ loi, người xung quanh, bạn bè tôi không khuyến khích mà lại dèm pha tôi nữa. Bao giờ có được một nền nhạc mới của dân tộc tôi…”

“Một nền nhạc mới” của dân tộc theo ông Nguyễn Đình Thi chắc phải chờ đến sau cách mạng tháng Tám mà đâu có ngờ trong những năm này, đã xuất hiện những Đặng Thế Phong, Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát … đã sáng tác những ca khúc mới rất Việt Nam, đã nhanh chóng đi vào và ở lại trong tâm hồn người Việt, có tuổi thọ và miền đất sống không một bài ca cách mạng nào sau này sánh nổi.

Chàng nhạc sĩ tên Toàn này gặp một ông nhà báo già người Pháp “tưởng ai, hoá me-xừ Lơquangư, viết báo Tương lai Bắc kỳ, một ông khách quen mà đám người làm trong tiệm rượu thường gọi là “Tây quăng”. Ông Tây này gặp được nhạc sĩ  Toàn, chẳng hiểu sao lên cơn “chửi nước Pháp” tàn cơn giá lạnh: “Tất cả tụi chúng nó (Tây quăng khoát tay chỉ những cái ghế không có người ngồi trong tiệm rượu), lúc ấy, chúng nó ở đâu, hà, tôi hỏi anh, bấy giờ chúng nó ở đâu ? … Anh tưởng tôi không thể ăn cắp, buôn culi cao su hay là xin cắm đất làm chủ đồn điền như chúng nó à ? Ai da da…Tong, nước Pháp tong rồi, chúng tôi ở đây cũng tong. Chúng tôi là một nước già rồi , xuống dốc rồi, chúng tôi sướng quá, giàu quá cho nên không thể đánh nhau được…”

Cái lối nhìn nước Pháp “tong” rồi, “xuống dốc” rồi …chính là nằm trong “giả thuyết mác-xít” về sự dãy chết của chủ nghĩa tư bản. Chỉ tiếc Nguyễn Đình Thi không còn sống tới bây giờ để chứng kiến cái cách Tổng thống Pháp Jacques Chirac ôm Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Hội nghị ASEM 5 tại Hà Nội mà thấy rõ “nước Pháp đã xuống dốc” tới đâu ?

Nhạc sĩ Toàn còn có một cô bạn nhạc sĩ người Nga tên là Nina lưu lạc từ Nga sang Pháp rồi sang Việt Nam. Cùng cảnh nghèo, cùng kéo đàn trong một tiệm rượu, Toàn và Nina từ tình bạn dần dà dẫn tới tình yêu. Tìm được một nửa đích thực của mình, lẽ ra hai người có thể tạo dựng được hạnh phúc chung một sự nghiệp, chung một mái nhà, tiếc thay cái “nhân sinh quan cách mạng” của ông nhà văn không để yên cho người ta sống, cho người ta hưởng hạnh phúc lứa đôi, ông “thổi” vào lòng cô Nina “ngọn lửa của lòng yêu nước” cháy đùng đùng đến độ cô từ bỏ tình yêu, liều mạng “tìm về Tổ Quốc”. “Không biết tôi có thể được sống mà về thấy lại mảnh đất thiêng liêng của tôi không?”. Và hạnh phúc của tình yêu chẳng hiểu sao lại chịu thua cái mong ước “cứ nghĩ là một ngày tôi sẽ lại đưọc đặt chân lên đất Nga, được cúi xuống hôn mảnh đất quê hương, thế là tôi lại thấy như cái cây khô đang sống lại khi mùa xuân đến…”.

Lòng yêu nước tác giả gán cho cô gái Nga ghê gớm chưa? Chẳng hiểu sao cái nhà cô Nina này đang yêu và được yêu mà lại như cái cây khô và phải nhờ tới lòng yêu nước mới sống lại. Nhưng liệu cô có biết rằng đất nước Nga lúc đó đang rên xiết dưới chế độ độc tài Staline đã giết chết biết bao nhiêu là văn nghệ sĩ như cô không? Điều này ông nhà văn biết rõ; có điều ông phải dấu không cho nhân vật của ông biết để sự tìm về Tổ quốc của cô được hợp lý, nếu không, người ta cười ông  bốc phét…

 

Qua những gì mà ông Nuyễn Đình Thi mô tả giới “thượng lưu trí thức Hà Nội”, người ta có thể thấy những người này khó mà “giác ngộ tư tưởng” đi theo cách mạng. Bởi thế, ông cán bộ cộng sản Khắc chỉ có thể rọi ánh sáng của Đảng vào đám dân lao động vốn dĩ chỉ thiết cốt với miếng cơm manh áo hàng ngày.

“Họ từ các làng mạc , các xóm chài chung quanh ven sông, các ngõ phố khu ga Lạc Viên , Hạ Đoan, Máy Tơ, ở một góc ngoại thành lam lũ của Hải Phòng, đêm nay từng nhóm nhỏ, nhóm nọ không biết nhóm kia, nhưng theo một đường dây chỉ có họ biết, cùng kéo nhau ra đây để họp “mét tinh”.

Xưa nay xách động quần chúng để họ xuống đường đi làm cách mạng nhất trong lúc thoái trào, mật thám tăng cường khủng bố, người cán bộ tuyên truyền thường khoét sâu vào những thiệt thòi, bất công gắn trực tiếp với đời sống hàng ngày dễ thấy – ở đây là chuyên tăng ca, tăng kíp, lương thấp, quỵt lương…để  khơi gợi lòng bất mãn, căm tức mà vùng lên. Ông cán bộ Khắc không làm được thế, chắc ông chưa đi sâu đi sát vào đời sống công nhân, ông chỉ nói chuyện ngoài xã hội.

“Khắc nói về sưu cao thuế nặng…Ngoài ra, tụi Tây cho bọn tay sai đeo cái mặt nạ “Pháp Việt bác ái hội” bày ra các chợ phiên, chụp ảnh , đá bóng, lạc quyên ở khắp mọi nơi để làm tiền nhân dân ta…” .

Rồi ông lại tố cáo tội ác của Pháp đối với người cách mạng:

“Tụi đế quốc Pháp lùng bắt những chiến sĩ cách mạng, chúng nó cấm hết sách báo bênh vực quyền lợi cho nhân dân, chúng nó bắt giải tán các hội ái hữu lao động để giật lại từng quyền tự do nhỏ nhất mà chúng phải nhả ra khi trước…”

Tuyên truyền vận động kiểu này là đánh chưa trúng vào tâm tư nguyện vọng quần chúng, bởi lẽ những chuyện “chợ phiên, đá banh, lùng bắt chiến sĩ cách mạng, cấm sách báo…” đâu phải là chuyện thiết cốt sinh tử của những người lao động đang ngồi nghe ông cán bộ diễn thuyết?

Sau cùng, chưa biết những người nghe đã “thấm nhuần” tới đâu, ông cán bộ Khắc đã vội vàng hô hào:

“Không tranh đấu thì chết. Tranh đấu thì ra mới sống được. Nếu chúng ta đoàn kết , tổ chức nhau lại thì tranh đấu được. Chúng ta cùng cảnh ngộ, người này tranh đấu thì người kia ủng hộ, xưởng này tranh đấu thì xưởng khác ủng hộ, làng này tranh đấu thì làng khác ủng hộ…”

Ấy thế, cứ hô hào “tranh đấu”, “đoàn kết” chung chung vậy thì rồi quần chúng biết xoay xở ra sao? “Đấu tranh với ai?  Đòi cái gì? Đoàn kết thế nào ?… – toàn những câu hỏi bức thiết  chưa được trả lời mà đã kêu gọi theo kiểu “vô sản thế giới liên hiệp lại”.

“ Đừng có để cho tụi đế quốc Pháp nó phỉnh phờ, lừa dối, nhồi sọ mình mãi. Đừng có giúp đỡ cho nó một người lính nào, một đồng xu nào. Rồi đây, khi nào thời cơ đến, thì nhân dân ta sẽ vùng lên, quật đổ chúng nó xuống, giải phóng cho đất nước mình giành lại chính quyền về tay mình không làm nô lệ nữa…Ngày ấy rồi sẽ đến…”

Không hiểu trong thực tế những người cộng sản vận động quần chúng ra làm sao, nhưng cái kiểu hô hào “chính trị suông” như Khắc thì thật khó có người nghe theo ông: “Anh chị em cố đi tìm Đảng, chỗ nào nghe có Đảng thì tìm đến…”. Trong thực tế, khi Đảng hứa hẹn nhiều quyền lợi người ta mới tìm tới, còn mới trứng nước, đầy những hiểm nguy thế này thì “Đảng phải tìm tới dân” chứ.

Với “cán bộ” trong “cơ quan” (thường được  nói tắt là xê quy) như chị Gái, Khắc thường xuyên dạy chị “học đọc, học viết, 4 phép tính” và huấn luyện chính trị:

“Và cứ những tối chị đi giao thông về cơ quan, thì anh lại giảng chính trị cho chị. Họ ra vườn  tối, có khi ra một cái gò giữa đồng, Khắc ngồi trong tối nói lầm rầm cho chị nghe. Anh nói về chủ nghĩa cộng sản, về Mác Lênin, về chủ nghĩa duy vật, thặng dư giá trị, về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của Đảng…”

Trời đất ơi, những lý luận cao siêu này tới ngày nay cũng khó nhét vào đầu một ông bí thư huyện uỷ huống hồ chị đàn bà mù chữ, kiếm sống bằng chân tay.

“ Cũng có buổi, anh kể chuyện Liên bang Xô viết , cả người kể lẫn người nghe đều thả trí tưởng tượng bay tới cái đất nước xa xôi mà họ chưa từng thấy bao giờ nhưng lúc này lại gần gũi nhất với mơ ước của họ…”

Vẽ ra một “thiên đàng trên hạ giới” là cái xứ sở Liên Xô xa xôi không cách nào kiểm chứng được để dùng làm “bánh vẽ” khuyến dụ người dân xông lên làm cách mạng là một trong những “thủ đoạn chính trị” quen thuộc của những người cộng sản từ khi họ còn trong bóng tối. Và tất nhiên những người nhắm mắt tin theo một cách dễ dàng chỉ là những người “thất học”, đầu óc đơn giản như những chị Gái, còn tầng lớp trí thức thành phố thì khó. Quả nhiên

“Qua mấy tháng, Khắc định tìm một người giao thông thay chị Gái và giao cho chị nắm hẳn mấy huyện ngoại thành rồi sẽ đưa chị vào thành uỷ…”

Nhà văn Nguyễn Đình Thi quả đã dựng nên một chân dung cán bộ cách mạng vượt cả những hình dung thông thường. Hoá ra để trở thành một cán bộ lãnh đạo cỡ thành uỷ, một chị nhà quê thất học chỉ cần ra vườn tối nghe cán bộ “lầm rầm” giảng chính trị để rồi vài tháng sau đã lãnh đạo cả mấy huyện ngoại thành. Vậy mới biết “chuyên môn”  làm nghề “cách mạng chuyên nghiệp” thực ra chẳng có gì ghê gớm, chỉ qua vài tháng nghe rỉ tai là “nghiệp vụ tay nghề” đã thành thạo lắm rồi. Thực ra vốn liếng kiến thức của mấy ông cán bộ chuyên nghiệp như Khắc, Lê, Cảnh… cũng chỉ sơ sài có thế. Bởi lẽ cái nguồn tri thức để bồi bổ cho học vấn của mấy ông quẩn quanh cũng chỉ vài cuốn sách. Dưới đây là gói sách ông Khắc đã chôn ngoài vườn sau nhà, nay nhờ cô em gái đào lên để đưa cho anh cán bộ tên Cảnh:

“Lênin: Nhà nước và cách mạng, Lênin: Bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản. Ăng-ghen : Ông Đuy-rinh làm đảo lộn khoa học. Mác và Ăng-ghen: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Stalin: Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Các Mác: Tư bản, Quyển thứ nhất. Lênin: Hai chiến thuật…”

Tất cả kho lý luận chỉ có thế, toàn những lý thuyết xa vời dùng cho công nhân Đức với Nga từ mãi bên kia bán cầu, xa lạ, chẳng dính dáng gì tới mấy bác nhà quê Việt Nam vốn bị Tây đá đít thì cùng lắm cũng chỉ dám chửi thầm trong bụng. Ấy thế nhưng nó lại là của báu, sách gối đầu giường của mấy anh cán bộ cộng sản.

“Tay anh cán bộ vẫn giở nhanh những cuốn sách giấy đã vàng và còn ẩm hơi đất. Cánh mũi phập phồng hít cái mùi mốc nhạt nhạt phảng phất từ những trang giấy bay lên. Đôi mắt anh to và sáng ngước nhìn Quyên như thầm thốt lên: Sao ở đây lại có cái kho tàng quý như thế này. Đây là ánh sáng mà bao nhiêu người lần mò trong đêm tối đang đi tìm, đây là cơm là áo, đây là thuốc súng sẽ làm nổ cái xã hội tàn ác và nhơ bẩn này cho mọc lên một cuộc đời mới…”

Người ta có thể lo ngại rằng những cuốn kinh Koran cách mạng đầy những lý thuyết cao siêu này làm sao chui được vào đầu mấy bác nông dân An Nam vốn quen ứng xử trong đời sống hằng ngày bằng những kinh nghiệm thực tiễn qua cả một pho ca dao tục ngữ lưu truyền đời này sang đời kia chứ chẳng phải do những giáo lý trừu tượng. Chẳng hiểu bằng cách nào những người cộng sản có thể “quán triệt” cho những quần chúng thất học như chị Gái, cô An, cái Xoan, anh Côi… hiểu được thế nào là quy luật tất yếu, là thặng dư giá trị, là chiến lược chiến thuật…, những khái niệm cao siêu đối với ngay cả bản thân các cán bộ.

Vậy thì các nhà cách mạng mác-xít ở Việt Nam có thực sự học được và thực hiện được những lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin, hay chỉ vớt được cái váng của nó qua một số tài liệu biên dịch sơ sài hoặc lược thuật đơn giản cho phù hợp với trình độ đại chúng?

Và thắng lợi của họ liệu có phải  là sự toàn thắng  của tư tưởng Mác-Lênin hay chỉ là do sự vận dụng “tài tình” các “thủ đoạn chính trị” trong đó bạo lực là phương tiện hàng đầu để giải quyết mọi vấn nạn ở trên đời bất chấp sinh mạng cả chục triệu con người, tạo nên một bi kịch vĩ đại là tát cạn biển Đông chỉ nhận được  về một giọt nước mắt. Thay vì đánh thắng “hai đế quốc to”, người Thái Lan đã khôn khéo tránh được hai cuộc chiến, và như vậy phải chăng họ kém “vinh quang” hơn người Việt Nam? Cái ý nghĩa khách quan của “Vỡ bờ” quả thực đã phản lại chính tác giả trong mưu toan dùng nghệ thuật của tiểu thuyết làm sai lệch những sự thực của lịch sử.

 

Một trong những hoạt động cốt lõi của ông cán bộ Đảng cao cấp Khắc là in ấn và tán phát tài liệu tuyên truyền cộng sản.

Nào “bản Tuyên cáo quốc dân của thành uỷ Hải phòng Đảng cộng sản trong một đêm đã được rải và dán ở các khu phố nội thành báo tin cho nhân dân biết Đảng vẫn có mặt  và kêu gọi chống phát xít , chống chiến tranh đế quốc …” 

Nào “tờ báo Tia Lửa cơ quan của Đảng cộng sản vùng biên ra số đặc biệt bốn trang, in 700 số, trên trang nhất có vẽ hình Lênin…” 

Rồi “những tài liệu nhỏ tóm tắt chủ nghĩa Lênin cùng với mấy nghìn truyền đơn bươm bướm…”

Cả một khối lượng tài liệu lớn như vậy một mình Khắc làm sao mà xoay xở?

Trước hết về nhân sự, ông “tuyên truyền được một anh thợ in tên Lập”. Thế còn xưởng in ? Câu chuyện ông nhà văn đưa ra có thể coi là là một “huyền thoại” theo kiểu “tay không bắt giặc”, “biến không thành có, biến khó thành dễ” quen thuộc của các nhà tuyên truyền cách mạng.

Để tìm địa điểm in, Khắc để ý tới ngôi nhà nhỏ của anh thợ cạo tên Kênh. Thoạt đầu “Khắc bắt đầu chú ý đến Kênh vì thấy ở cái hòm thợ cạo, khi mở ra, bên trong nắp có dán một tấm bản đồ thế giới mà chỗ Liên Xô lại tô màu đỏ”. Yêu Liên Xô vậy chắc phải là người ủng hộ cộng sản, chắc có thể bắt quen làm người “của mình”.

“ Một hôm khắc giả vờ hỏi bâng quơ :

“ Cái chỗ đỏ này là nước nào ?”

“ Nước Nga đấy – anh thợ cắt tóc trả lời.

“ À nước  Nga cộng sản đấy phải không? Bên ấy dân khổ lắm thì phải”.

Anh thợ cắt tóc không trả lời. Mãi sau anh mới bảo:

“Tôi nghe người ta bảo bên Nga không có người giàu người nghèo, không có vua quan gì nữa…”

Chỉ một câu ca ngợi đất nước Liên Xô vậy thôi, anh thợ cạo đã được cách mạng tin ngay và chọn ngôi nhà nhỏ xíu của anh làm xưởng in bí mật. Cả xưởng chỉ có một mình anh thợ in tên Lập với “hòn đá, hai cái ru-lô, mấy hộp mực in và cả một bát chữ…”; “Khắc và Lập cứ chui trong cái buồng, suốt ngày không thò ra, ăn ở đó, đái  cũng đái vào ống tre, chẳng khác trong xà lim…”

Người và phương tiện in ấn chỉ có thế mà in ra nào báo, nào sách, nào truyền đơn thì quả thực chỉ có những người cộng sản trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi mới làm nổi. Quả nhiên “Khắc vừa lo chạy những việc hội họp, tổ chức, vừa thu bài, viết bài cho báo, cũng đủ cả xã luận, tin tức, còn có cả thơ ca nữa…”.

Trăm thứ bà dằn vậy, chưa kể hàng tối giảng lý thuyết cách mạng cho chị Gái, vậy mà Khắc còn tự đấu tranh, kiềm chế mình không yêu An, em của chị Gái, mặc dầu cô này rất yêu anh. Anh bảo cô:

“An cũng hiểu, như tôi bây giờ không thể nghĩ tới yêu ai được. Không lẽ tôi bỏ cả công việc của cách mạng để tìm hạnh phúc với An ư ? Nếu tôi làm vậy, chắc An cũng khinh tôi, An nên quên tôi đi…”

Các nhà văn cộng sản thường đối lập tình yêu mà họ coi là “hạnh phúc cá nhân” với “sự nghiệp cách mạng” – “hạnh phúc vì tập thể” và kết cuộc của bi kịch các chiến sĩ cộng sản bao giờ cũng hy sinh tình yêu để chọn lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên cái “đạo đức khắc nghiệt” này chỉ có hiệu lực vào những năm đầu đi theo cách mạng, còn vào thời kỳ những năm 1970 Nguyễn Đình Thi viết “Vỡ bờ”, nếu “nhăm nhăm gạt bỏ tình riêng để mưu hạnh phúc chung” như vậy e rằng bị chê là “công thức”, biến người cộng sản thành người máy không tim, bởi vậy ông nhà văn mới sắp xếp cho anh cán bộ cộng sản Khắc trong một lần gặp gỡ An, đã không cầm được lòng, đã vượt rào đạo đức cách mạng “ăn nằm với cô trong suốt một ngày”. Rủi thay, ngay sau cái ngày tràn trề hạnh phúc đó, Khắc đi gặp một cơ sở cách mạng, bị chỉ điểm và bị bắt.

Tất nhiên để bù lại “khuyết điểm sinh hoạt” hủ hoá với em gái cơ sở cách mạng, ông nhà văn phải đề cao hết mức ý chí bất khuất của Khắc trước mọi đòn tra tấn dã man của mật thám Pháp nhằm làm phong phú và sinh động chân dung người anh hùng cộng sản. Đó là thủ pháp tương phản đen trắng (“contrast”) thường thấy trong tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa; khi muốn làm bật tính cách dũng cảm của nhân vật anh hùng, các nhà văn thường cho anh ta mắc tí tí khuyết điểm trong sinh hoạt như “văng tục”, “nhớ mẹ quá trốn về một buổi”….

“ Mấy tên a-giăng lại lột trần Khắc ra, buộc hai ngón tay cái anh vào sợi dây chão sắt, rút ngược lên. Chúng treo anh chỉ để chấm các đầu ngón chân xuống đất. Dây điện lại cặp vào đùi vào ngực Khắc. Cuộc nhảy đầm bắt đầu…

Bọn mật thám chuyền tay nhau cái hòm điện. Mỗi tua maniven quay lọc cọc, Khắc lại hét lên thất thanh. Chân anh nhảy quáp lên  thì sức nặng người anh lại kéo tất cả lên hai đốt ngón tay cái như giằng đứt hai đốt xương. Cái hòm điện vẫn quay, Khắc vẫn hét lên như bị chọc tiết, mắt anh trợn ngược, chỉ thấy tất cả loang loáng rồi những tiếng hét bé dần, đầu anh ngật sang bên, cổ anh khe khẽ thoi thóp…”

Những trận tra tấn khủng khiếp như vậy rồi cũng kết thúc:

“Sau hơn chục trận tra tấn chết đi sống lại, Khắc đã yếu quá, không thể đứng lên được. Hai ngón tay cái bị dây cứa gần đứt hết thịt, vào đến tận xương, sưng tấy lên đau buốt suốt ngày đêm…”

Bị tan nát thân thể, thập tử nhất sinh vậy nhưng Khắc nhất định không khai nửa lời thì cũng còn có thể chấp nhận là có thật được, anh hùng cách mạng mà, nhưng không hiểu sao khi bị khiêng về xà lim, anh vẫn còn đủ sức “giác ngộ tư tưởng” cho anh “gác ngục trẻ tuổi” thì mới  là truyện thần kỳ.

“Từ hôm đó anh “xì cút” cứ đến tua gác đêm là không quên mở cửa xà lim cho Khắc ra ngồi thở chừng mười lăm phút, nửa giờ. Những lúc ấy anh ta thường đứng cạnh nói chuyện với Khắc. Anh ta có vẻ suy nghĩ, những lúc nghe Khắc nói về đời  sống ở Côn Đảo hoặc kể lại truyện tiểu thuyết “Người mẹ” của Gorki…”

Chẳng hiểu sao mật thám Pháp độc ác vậy mà lại bố trí lính gác xà lim hiền lành thế, và cũng chẳng hiểu sao Khắc bị đánh, tra điện gần chết như vậy vẫn còn đủ sức kể chuyện tiểu thuyết “Người mẹ”  của nhà văn Liên Xô cho anh ta nghe mới tài. Rồi một anh bạn tù tên là Mầm đưa nắm cơm tù vào cho Khắc, thấy:

“Khắc nằm cùm hát khẽ. Mầm mỉm cười bảo:

“Ở đây mà anh còn hát được…”

Khắc ngồi dậy:

“Nằm cả ngày rỗi rãi thành ra tôi cũng nghêu ngao cho qua thời giờ”…

Rồi Khắc tranh thủ lên lớp cho Mầm:

“Anh bây giờ là đi vào con đường cách mạng rồi chứ còn gì nữa. Muốn làm cách mạng thì phải học. Anh học đọc, học viết đi. Nhờ anh em biết chữ bảo cho. Tối nay, lúc nào anh vào đây, tôi nói chuyện về cách mạng cho mà nghe…”

Thật cứ như Khắc có phép thần thông, luyện công trị thương tới mức thượng thừa, chỉ trong khoảnh khắc anh đã từ cõi chết trở về, không những hồi phục sức lực, vượt qua đau đớn mà còn kể chuyện, ca hát và cả lên lớp chính trị nứa.

Cứ “bốc phét” như thế, ông nhà văn quên bẵng đi rằng tính chân thực mới là giá trị hàng đầu của nghệ thuật của tiểu thuyết. Bạn đọc hẳn chưa quên những trang viết về khí tiết bất khuất của người chiến sĩ cộng sản trước đòn tra tấn, tù đầy tàn bạo của quân thù. Chẳng hạn ca ngợi chị Trần Thị Lý, nhà thơ Tố Hữu đã có những câu :

“Điện giật, dùi đâm, dao cắt , lửa nung…

Không giết  được em – người con gái anh hùng…”  

Hoặc hồi ký “Bất khuất” của Nguyễn Đức Thuận, hoặc hình tượng anh Nguyễn Văn Trỗi trong “Sống như Anh”  của Trần Đình Vân … Ngày nay những tấm gương hy sinh anh dũng như vậy xem ra đã phai nhạt đi nhiều, ít nhất là trong các tác phẩm văn học.

 

Không giống như phần lớn cán bộ cộng sản sau một thời gian tù đầy đều được trở về và còn sống cho tới tận ngày nay với biết bao đặc quyền đặc lợi, nhân vật Khắc của Nguyễn Đình Thi, sau khi bị bắt ở Hải Phòng, được đưa về Hà Nội; ở đây ông tỏ rõ khí phách của mình trước quân thù:

“Tôi không có gì để nói thêm với ông cả. Ở hàng ngũ cách mạng, cũng có một vài kẻ hèn nhát hoặc phản bội. Nhưng các ông đừng lầm tưởng như vậy là các ông thắng. Chúng tôi là đảng viên cộng sản, chủ nghĩa chúng tôi cho chúng tôi thấy rõ tương lai. Các ông sẽ không còn, nhưng đất nước chúng tôi sẽ độc lập, chủ nghĩa cộng sản sẽ được thực hiện vì đó là mong muốn của hàng triệu người.”

và ông đã hy sinh thật anh dũng :

“Lanéc cúi xuống, bấm đèn phin vào mặt Khắc. Trong vệt sáng, hiện rõ những đám máu ộc từ miệng Khắc chảy vòng quanh đầu anh. Máu đỏ sẫm nóng hổi rỏ giọt từ trên sàn gỗ xuống nền xi-măng. Khắc đã tắt thở…”

Thật tiếc cho những người đã đổ máu hy sinh cho lý tưởng như Khắc, bởi lẽ nửa thế kỷ sau, đất nước quả có “độc lập” nhưng “chủ nghĩa cộng sản” thì vĩnh viễn chẳng bao giờ được thực hiện và buồn thay sự rũ ra khỏi nó mới chính là mong muốn của hàng triệu người. Vào những năm 1990, khi cả khối xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông  Âu đã sụp đổ, cộng sản chỉ còn là một “thiên đàng đã mất” trong con mắt mọi người, kể cả Nguyễn Đình Thi. Bởi vậy cái chết của Khắc gieo vào lòng người đọc sự tiếc nuối, thương hại nhiều hơn là sự cảm phục.

Cái còn để lại sau khi Khắc chết đi không phải là tấm gương hy sinh, bất khuất của người chiến sĩ đấu tranh cho giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản, mà chính là …hòn máu của anh trong bụng An − cô người yêu mà anh đã chung sống chỉ một lần duy nhất trong đời:

“ Anh chị đã có cháu chưa ?”, An nhớ lại câu hỏi thì thào của cô gái lúc sáng. Một tràng pháo nổ lẹt đẹt ở phố cầu Lương. Mọi nhà bắt đầu  cúng ông vải rồi. Tết đến rồi đây…. An tự nhiên sờ lên bụng. Một cái gì rất lạ lẫm. An cảm động, rung hết người. Đúng rồi. Đến hôm nay đã quá ngày gần một tháng rồi. An đã có mang…”

Sau cái chết của người cộng sản, phong trào cách mạng cũng như nội dung của cuốn tiểu thuyết chùng hẳn xuống, mất hẳn cái mạch liên tục, sôi nổi trước đó. Một phần năm còn lại của cuốn sách chỉ còn diễn tả những nhân vật “quần chúng” mà trước đó vì mải mê tập trung vào nhân vật cán bộ cộng sản, ông nhà văn đã buông lửng chúng.

Trước hết là thầy giáo Hội được nói tới khá nhiều ở đầu truyện. Thày giáo Hội giống y chang thầy giáo Thứ trong “Sống Mòn” của Nam Cao . Cũng mòn mỏi trong một trường tư thục rồi bị thất nghiệp vì chiến tranh xảy tới, cũng nặng gánh vợ con trong thời buổi gạo châu củi quế mà rời tấm bảng đen với cục phấn trắng ra chẳng còn biết làm gì:

“Hội biết làm gì để nuôi lấy thân mình, chứ đừng nói gì đến nuôi vợ con . Hội lại sắp ăn bám vào Thảo, Thảo đã khổ đến như vậy rồi, mà sẽ còn phải nhịn ăn nhịn mặc nữa và Thảo với cả con Hiền sẽ lại gò lưng xay lúa, giã gạo, sàng sẩy, chắt bóp bán từng bơ cám, từng nải chuối xanh, từng cây kim sợi chỉ để lo lấy bữa cơm bữa cháo…”

Tuy nhiên “giáo Hội” của Nguyễn Đình Thi có khá hơn “giáo Thứ” của Nam Cao đôi chút ở chỗ thất nghiệp trở về làng xoay ra…viết văn:

“Thế là ngày ngày anh ngồi trong cái chái đầu nhà, vừa ôm cái tí Vân, vừa viết giấu giếm. À, nếu như viết như các ông Vichto Huygô hay là Tolstôi  thì chẳng dám màng, chứ còn như những chuyện “chàng chàng nàng nàng”   lâm li giả dối và chán ngoét đầy dẫy trên báo sách thì làm gì chàng chẳng viết  được ?”

Hoá ra cái khả năng tiên tri, thấu thị, dự báo của nhà văn Nguyễn Đình Thi thật đáng nể, bởi lẽ cho tới tận bây giờ, sang năm thứ 5 của thiên niên kỷ 2000, thời đại bùng nổ của cách mạng tin học –  cái tình trạng “lâm li giả dối và chán ngoét đầy dẫy trên báo sách”  vẫn còn tiếp diễn dài dài trên cả nước.

Nhân vật tiếp theo được nhắc lại là hoạ sĩ Tư vốn là người yêu của cô Phượng đài các, vợ của tri huyện Môn. Nếu như hoạ sĩ Thanh Tùng hái ra tiền bằng những bức tranh thời thượng thì hoạ sĩ Tư cứ “ngày này qua ngày khác, Tư đã bỏ vào cái công việc vẽ ấy tất cả sức lực và tuổi trẻ của anh, tất cả những năm đẹp nhất của đời anh…” vậy mà anh vẫn nghèo rớt mồng tơi “hàng ngày phải tính từng hào, từng xu và nhặt tất cả mọi thứ làm thế nào giành giật với cuộc sống từng bữa ăn, từng thức vải, hộp màu để vẽ …”. Người còn quan tâm tới Tư chỉ còn có cô gái điếm tên Bích, mua cốm tới cho anh ăn, và có nhạc sĩ Toàn, sau khi cô gái Nga Nina bỏ anh ra đi, anh năng tìm tới hoạ sĩ Tư để rủ rê: “Tao chịu mày, không còn biết gì đến chuyện gì ngoài cái giá vẽ của mày. Ngoài phố người ta đã nhớn nhác cả lên. Mày không biết chính phủ Pêtanh vừa ký với Matuôka ở Tokyo một hiệp ước về Đông Dương rồi à? Quân đội Nhật Bản ở Quảng Tây bây giờ đang đòi vào Bắc Kỳ ngay. Có thể nổ súng không chừng…”

Nghe lời nhạc sĩ Toàn, hoạ sĩ Tư tạm rời cái giá vẽ để lang thang xuống phố. Và thế rồi “Hình ảnh người đàn bà bế con ngồi trên bọc chăn màn với cô gái đeo cái tay nải nâu ở bến xe điện lại hiện lên trước mặt Tư. Anh phải vẽ bức tranh ấy…”. Sau chuyến “đi thực tế” bến xe, bến tàu, nhà ga….Tư bỗng cảm thấy “Một cái gì đây sẽ đến… Hôm nay Tư đã thấy phía bên kia (quân Pháp) đang đổ nhào và tan rã như thế nào? ”Quân hồi vô phèng…” − những con mắt len lét và hằn học của đám lính bị thương ở Lạng Sơn về. Cái cảnh tây đầm chí choé trên con tàu đi Sài Gòn. Một cái gì đây sẽ đến…”

Một cái gì sẽ đến, tuy nhà văn không nói toạc ra, nhưng ai cũng hiểu ông muốn nói tới…cách mạng. Một cuộc cách mạng “long trời lở đất” đang tới mà ngay đến anh hoạ sĩ suốt ngày ngơ ngẩn với màu với hình cũng đã cảm nhận thấy.

Cái thành phần rồi đây sẽ tan rã khi cách mạng nổ ra – tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản, thượng lưu… – cũng được tác giả nhắc tới tất cả những “xấu xa, bệnh tật” của nó. Nào cậu Tường, con trai nghị Khanh, cậu Thúc, con trai chủ đồn điền cưỡng dâm cô thôn nữ tên Thơm; nào cô Nguyệt, con gái nghị Khanh, bị đám con quan đẩy vào buồng, “đánh táp lô” đến mang bầu phải đi nạo, nào nghị Khanh nẫng vợ bé của ông bạn Quảng Lợi… Cả một xã hội bốc mùi xú uế  đang như con cá nằm trên thớt chờ cách mạng tới để được hoá kiếp.

Sau cùng là những người lao động cùng khổ, những người đang sống trong đêm trước của cách mạng. Đó là cô Xoan, con gái bác Mùi, đi ở gán nợ cho nhà Nghị Khanh, ốm sắp chết mới được trả về, mẹ chữa lành bệnh rồi lại phải quay về nhà địa chủ. Đó là anh Mầm, người yêu của Xoan, cũng hoạt động cách mạng bị tây bắt đi Hà Giang, biên thư về với lời lẽ “nay Mầm có nhời”… Đó là cô An, người yêu của cán bộ Khắc vừa hy sinh, bụng mang dạ chửa, vượt cạn một mình :

“Đôi mắt từng trải của bà đỡ ái ngại nhìn người đàn bà trẻ… khi người mẹ trẻ sinh con lần đầu  thì tất cả gia đình, nào chồng, mẹ chồng, mẹ đẻ… xoắn xuýt đưa đón đợi chờ, vậy mà chị này, đêm hôm đến đẻ chỉ có một mình cắp cái thúng…”

Bà đỡ đâu có biết chồng cô là một cán bộ cộng sản vừa anh dũng nằm xuống vì  lý tưởng cách mạng, và rồi dường như số phận được đền bù, An đã sinh con trai. “Nghe tiếng đứa bé khóc, một sức sống không biết từ đâu như làn hơi nóng bừng tràn đi khắp trong người An…”.

Cái sức sống đó giúp cho An quyết thờ chồng nuôi con và nhất định phải tham gia cách mạng ờ phần hai của cuốn trường thiên tiểu thuyết rồi.

 

Hơn 500 trang “phần một” tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi đã dàn ra hàng loạt nhân vật từ giới thượng lưu, quý tộc tư sản-địa chủ như nghị Khanh, vợ chồng huyện Môn, Phượng, Hằng, hoạ sĩ Thanh Tùng… tới giới lao động bình dân như  anh giáo Hội, anh hoạ sĩ nghèo Tư, các chị làm thuê như Gái, An…, các cán bộ hoạt động cách mạng như Khắc, Lê, Cảnh… Tuy nhiên, ngoài số phận ông cán bộ cộng sản Khắc đã rõ ràng bởi cái chết do đòn tra tấn của Pháp tại Hoả Lò Hà Nội, hầu như toàn bộ các nhân vật còn lại vẫn sống hết ngày dài tới đêm thâu, phận số vẫn vậy, chẳng có gì đổi thay, cứ như bị trưng bày ra đó mà chẳng biết sẽ được đưa đi đâu đi về đâu.

Cho dù xã hội nảy sinh nhiều sự kiện nóng bỏng, nào Nhật Pháp  bắn nhau, nào cách mạng bị đàn áp, đánh phá và thoái trào ở khắp nơi nơi, nào công nông bị bóc lột  và sống trong lầm than… nhưng dường như vẫn chưa có một biến cố nào rơi trên đầu mỗi cá nhân tạo nên những đột biến để đám nhân vật Nguyễn Đình Thi  bày ra la liệt đó có cơ hội trở thành những nhân vật của tiểu thuyết. Hay nói cho rõ hơn, tiểu thuyết đã “đi” được cả 500 trang mà phần lớn các nhân vật vẫn “yên vị”, vẫn chưa bị đẩy vào những cảnh ngộ để từ đó làm bật ra những tính cách của riêng nó.

Cuối phần một, ông cán bộ thành uỷ Khắc đã hy sinh, vậy ngay từ đầu phần hai  tất nhiên ông nhà văn phải cho người khác thay thế để việc lãnh đạo cách mạng được liên tục chớ. Người đó cũng chẳng phải nhân vật mới nhảy vào truyện mà chính là đồng chí bí thư xứ uỷ Lê, thủ trưởng cũ của Khắc. Lúc này do đồng chí thường vụ xứ uỷ Tôn bị Pháp bắt, không chịu được đòn tra tấn đã “dắt tụi mật thám đi các tỉnh, về tất cả các cơ quan các cơ sở mà Tôn biết… Tổ chức vỡ, liên lạc đứt lung tung, cán bộ người bị bắt, người chạy toé, nhưng cay cực nhất là quần chúng từng cưu mang, nuôi nấng cán bộ mà bây giờ lại thấy chính thằng ấy dắt mật thám về bắt con cái anh em nhà người ta…”.

Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, người đọc chờ đợi tác giả dẫn dắt họ theo chân các cán bộ của Đảng len lỏi vào dân, thắp lại lòng tin của quần chúng, xây dựng lại các cơ sở để từ đó hồi phục lại các tổ chức đã bị phá vỡ… Có như vậy thì sự thắng lợi của phong trào cách mạng sau này mới có sức thuyết phục. Tiếc thay ông nhà văn  tuyệt nhiên không làm được thế. Ông chỉ đưa ra cảnh ông bí thư xứ uỷ Lê liên lạc với anh cán bộ Cảnh để lên lớp chính trị, truyền đạt chủ trương đường lối… lặp lại y chang cảnh Khắc giáo dục chính trị tư tưởng cho chị Gái ngày trước:

“Cảnh ngồi lặng im nghe giảng giải, nhưng rõ ràng sự thu nhận còn khó khăn, nó vấp phải những cách nghĩ, những tình cảm đã ăn sâu vào tâm trí từ lâu. Lê vẫn nói rủ rỉ nhưng giọng anh đã quả quyết:

“Vấn đề bây giờ là tập trung mọi lực lượng đánh tụi phát xít. Đây cậu nghe lời kêu gọi của đông chí Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài gửi về.”

Lê giở tờ truyền đơn in đá, đọc khẽ  nhưng rành mạch…”

Và ông tác giả “chơi” luôn nguyên văn một đoạn lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi về. Rồi mượn lời “đồng chí Lê”, Nguyễn Đình Thi tranh thủ ca ngợi “bác Hồ”:

“Tôi có một lần được xem ảnh đồng chí ấy ở Sở mật thám Sài gòn. Lần ấy thằng Riu đang hỏi cung mình bỗng nó đưa ra một bức ảnh và bảo: “Mày có biết ai đây không ? Nguyễn Ái Quốc lãnh tụ tối cao của chúng mày ở nước ngoài…” Mình mặc kệ nó nói gì thì nói, xem ảnh cái đã. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đội mũ phớt đen, quàng khăn phu la, mình chỉ còn nhớ đồng chí đội mũ mà vẫn rõ trán rất cao và đôi mắt sáng lắm…”

Vậy là mọi chủ trương đường lối, mọi niềm tin vào tương lai của cách mạng vẫn chỉ là chuyện trao đổi giữa mấy ông cán bộ cộng sản với nhau, còn việc đưa nó vào quần chúng, biến nó thành sức mạnh cách mạng thì không thấy ông nhà văn nhắc tới. Sau khi kể sơ sài việc gây dựng lại phong trào chỉ qua một buổi hội ý giữa hai ông cán bộ xứ uỷ, ông nhà văn trở lại các nhân vật “quần chúng nhân dân”.  Gia đình của Khắc sau cùng cũng đã nhận được tin ông hy sinh. Việc đầu tiên là mẹ ông, bà Tú gieo rắc hận thù vào lòng con trẻ – Thu, con gái Khắc mới có 9 tuổi.

“Lúc Quyên  (em gái của Khắc) đã chít miếng vải trắng lên đầu cái Thu, bà Tú kéo đứa cháu vào  lòng nói chuyện với nó:

“Thu, năm nay cháu lên chín rồi, cháu nhớ phải để chở bố cháu ba năm cho trọn đạo làm con. Thế là bố cháu đi theo ông rồi đấy. Tây nó đày ông cháu chết ở ngoài đảo Côn Lôn, bây giờ lại đánh bố cháu chết ở trong tù. Nó ác thế đấy cháu ạ…”

Tất nhiên, khi lớn lên, những đứa trẻ như Thu ngoài việc “khắc cốt ghi xương” mối thù này và theo Đảng đánh Tây đến cùng, chúng còn đầu óc đâu suy nghĩ đến những chuyện tốt đẹp khác trong cuộc sống con người?

Dặn dò cháu rồi, bà Tú, mẹ của Khắc, khấn thầm với chồng:

“Ông ơi ông thế là con nó đã đi theo ông rồi. Ông dặn dò lại thế nào trước ngày ông bị bắt đi thì tôi đã cố gắng vâng theo đúng như thế. Tôi đã nuôi thằng Khắc con Quyên nhớn khôn, chúng nó không làm điều gì nhục cho họ nhà ta. Tôi không làm thế nào giữ cho thằng Khắc còn sống được. Nhưng nó chết cũng là vì nước vì dân, không đến nỗi phải hổ thẹn với ai…”

Thật đúng là một bà mẹ Việt Nam anh hùng, không lo dựng vợ gả chồng cho con cái, chỉ lo “không làm gì nhục cho họ nhà ta”  với niềm tự hào có con “chết vì nước vì dân”. Hình ảnh người mẹ của Nguyễn Đình Thi cũng chỉ là sự xào xáo lười nhác hình ảnh “người mẹ” của Gorki, “người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi và khẩu hiệu “trung hậu, bất khuất, đảm đang” mà Đảng và Nhà nước đã phong tặng cho các bà mẹ Việt Nam.

Sau chuyện Quyên, em gái Khắc làm đám tang cho anh, tác giả có vẻ sảng khoái đi vào nhân vật gần gũi với ông nhất: anh giáo Hội, thất nghiệp quay sang viết văn. Nhưng anh viết gì được khi anh cho rằng:

“Bọn người viết văn bây giờ chẳng qua là một lũ ô trọc cầm bút. Họ cần gì đến văn chương, họ chỉ cần tiền, và họ chạy theo mốt, họ ăn cắp của các nhà văn nước ngoài, họ mạ lại những ý nghĩ của người khác để loè người không biết, họ viết quàng xiên những chuyện bịa đặt quái lạ, lấy sự ly kỳ để câu người xem, chứ không biết nhìn vào sự thật hàng ngày, cái sự thật tầm thường nó đáng nói biết  bao…”

Nguyễn Đình Thi viết những dòng đầy hứng khởi này mà quên béng mất cái “lũ ô trọc cầm bút” ấy đã tạo ra cả một nền văn xuôi rực rỡ với những tên tuổi lớn  Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… và nhận định này, kỳ lạ thay xem ra nó lại phù hợp với thời hiện tại, thời “một lũ ô trọc cầm bút” “viết quàng xiên những chuyện bịa đặt ly kỳ câu người xem chứ không biết nhìn vào sự thật hàng ngày…”

Rồi ông nhà văn tên Hội lại than thở:

“Vì ở nước mình, cái anh viết văn còn có giá trị gì nữa? Còn được đi đến đâu, trông thấy gì, biết gì nữa ? Thân phận như một thằng ăn xin, sống như một con ốc sên chỉ ru rú trong cái vỏ của mình… Hội cho rằng một xã hội mà để cho những nghệ sĩ của nó chết đói là một xã hội đốn mạt, mà một xã hội nuôi nhà văn và nghệ sĩ như ông hoàng thì cũng nát bét…”

Thật chẳng có lời lẽ nào hay hơn, chính xác hơn để chỉ cái đám giặc già – nói theo kiểu Nguyễn Huy Thiệp – ở Hội nhà văn Việt Nam hiện thời ?

Mạt sát nghề cầm bút vậy nhưng Hội cũng kỳ cạch suốt trong 14 tháng liền  viết xong  một cuốn tiểu thuyết có tựa là “Đồng Chiêm” được xuất bản với điều kiện phải sửa theo tên mới “Những mối tình sông nước”. Và rồi từ đó ông nhà văn đã xác định ngay được “hướng đi” trong cái nghề kiếm sống bằng văn chương: “Anh sẽ cứ viết truyện ngắn cho các báo để kiếm vặt mỗi tháng mười lăm đồng và trong khi ấy anh sẽ tiếp tục viết quyển tiểu thuyết thứ hai của anh…”

Cái phương châm “lấy ngắn nuôi dài” mà các ông nhà văn ngày nay thường khoe khoang, hoá ra đã có từ thời tiền khởi nghĩa.

                               

Sau nhà văn  Hội, tác giả giành khá nhiều trang cho hoạ sĩ Tư. – loại nhân vật xem ra Nguyễn Đình Thi “thuộc” hơn cả.

Hoạ sĩ Tư vốn có người yêu cũ là tiểu thư hàng Đào – Phượng, bỏ anh đi lấy chồng giàu là quan huyện Môn. Phượng chán chồng vì sự đê tiện của hắn, ngoại tình với hoạ sĩ Thanh Tùng, nổi tiếng và giàu sang nhưng rồi nàng  cũng rũ bỏ vì tính cách thực dụng và rỗng tuếch, rốt cuộc nàng lại tìm về với người yêu xưa là hoạ sĩ Tư. Không may, Phượng tới nhà Tư  lúc anh đi vắng, nàng đành viết giấy mời anh tới nhà “anh Tư, em muốn gặp anh. Em đã có một chỗ ở riêng không ai quấy rầy được…chiều nay anh đến, anh đừng để em đợi lâu nhé…”.

Trở về nhà, nàng vào buồng tắm sửa soạn. “Phượng ra đứng trước gương nhìn con người trắng hồng trong ấy. Thân thể nàng vẫn thon  lẳn, nhưng bây giờ những đường nét đã dần dần đầy đặn lên hơn, nom càng mềm mại dễ ưa. Phượng quay nghiêng, ngắm đi ngắm lại cái lưng gọn gàng, đôi chân thuôn dài. Con người mình đáng mê quá…”.  Dựng lên một pho tượng “vệ nữ” khá tỉ mỉ thế này, đã có thời gian Nguyễn Đình Thi bị các nhà phê bình của Đảng như Vũ Đức Phúc, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ… phê là “sa đà vào sự thích thú thân xác”, tuy chưa mang tội “đệ tử của Freud” như Vũ Trọng Phụng nhưng cũng bị nhắc nhở là “ve vuốt nàng Phượng quá kỹ càng”. Chính với nỗi lo bị “mất lập trường giai cấp” ấy, Nguyễn Đình Thi vội vàng đánh “sụt giá” nàng Phượng bằng cách cho hoạ sĩ Tư thẳng thừng từ chối lời mời “ngọt ngào” của người đẹp. Tư viết giấy cho người mang tới Phượng,  lời lẽ thật cứng rắn : “Không thể được, Phượng ạ. Bởi vì rồi sau, chúng ta làm thế nào mà sống như cũ được  nữa ?”  và đòi Phượng phải từ bỏ “giai cấp” của mình: “Phượng có thể bỏ hết, cắt đứt hết với cuộc đời hiện nay của Phượng không ?”. Vậy là trong tâm tư  chàng hoạ sĩ nghèo này đã có sẵn mầm mống của sự tuyệt đối hoá sự phân biệt giai cấp: hoặc bên này hoặc bên kia. Trong tầng  lớp trưởng giả nhất định là không thể có tình yêu, “tiếng tăm, tiền bạc, dư luận… những thứ vô nghĩa như thế mà có thể phá hoại được tình yêu, giết chết tâm hồn”, phải từ bỏ hết mọi tiện nghi, gốc gác, tài sản để trở thành người cùng khổ, người lao động thì mới mong có được tình yêu cao đẹp. Tất nhiên nàng Phượng xinh đẹp và giàu có đời nào chấp nhận một lời đề nghị “dở hơi” đến thế . Thực chất sự từ chối người đẹp của Tư  xem ra là của chính Nguyễn Đình Thi muốn bầy tỏ lập trường giai cấp với Đảng chứ chẳng phải ý muốn của một chàng hoạ sĩ tài hoa, sống giữa Hà Nội như Tư. Ông nhà văn cố nhồi vào đầu chàng nghệ sĩ tư tưởng đề cao người nghèo khó, bài bác người có tiền:

“Thà là một cô gái bán mình vì miếng cơm manh áo để nuôi thân, nuôi gia đình như cô Bích đáng thương …Cái xã hội ngu xuẩn khinh bỉ những con người ấy nhưng lại sụp xuống trước những người có đủ ăn, đủ mặc, không cần phải bán mình mà lại ngày ngày ôm lấy kẻ mà mình không yêu. Rút cuộc cái xã hội này chỉ đòi hỏi người đàn bà bán mình thôi, hoặc là bán mình cho một người độc quyền theo đúng lễ giáo, pháp luật v.v… hoặc là bán mình một cách rẻ tiền hơn cho nhiều kẻ qua đường… Bao giờ thì người đàn bà mới có thể chỉ sống với người đàn ông vì tình yêu…”

Cứ theo như lý thuyết của Nguyễn Đình Thi thì từ xưa các cụ ta lấy chồng do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” hoặc “lấy trước thương sau” cũng đều là … điếm bán mình cả. Đây là hệ quả của tư tưởng “hữu ái giai cấp” quá đà một thời ăn sâu trong tâm tưởng các nhà văn Việt Nam khiến họ nhìn đâu cũng chỉ thấy có sự phân biệt giàu nghèo, sáng tác ra cả một thời đại văn chương chỉ toàn than nghèo khóc khổ, bôi tro tư sản, trát trấu địa chủ như những kẻ có tiền tội lỗi.

Cái phong trào “vô sản hoá trí thức” một thời xem ra nhiễm sâu vào gan ruột Nguyễn Đinh Thi đến độ chàng hoạ sĩ Tư tin vào sự đánh giá nghệ thuật của cô gái điếm còn chính xác hơn cả giới chuyên môn:

“À…mà cô xem cái phong cảnh này thấy nó thế nào ?”

Bích cười lúng túng:

“Thấy con sông nó rộng, cảnh nó như là lúc đợi đó man mác thế nào. Ở quê ngoại em, chỗ bến đò Mía cũng giông giống thế này, cũng có cây gạo to lắm…”

“ Cô xem tranh thế mà còn đúng hơn khối ông phê bình đấy. Các ông viết báo ấy….”

Tư cũng cười to. Anh tự bảo: Con đường của mình nhất định là đúng rồi…”

Được một “em điếm” khen tranh tức là được quần chúng nhân dân chấp nhận, thế là hoạ sĩ đã  có thể yên tâm: “đi đúng đường rồi” thì chắc chắn con đường đó chỉ có thể là văn hoá văn nghệ phục vụ công nông binh của đồng chí Mao Trạch Đông kính mến nhập cảng vào Việt Nam qua đề cương “văn nghệ Diên An” mà thôi. Con đường đó chưa biết dẫn hoạ sĩ Tư tới sự nghiệp sáng tác to tát nhường nào, chỉ chắc một điều nó đã làm chàng từ khước tình yêu của một mỹ nhân kiêu sa như Phượng để yêu một cô điếm, “cùng giai cấp”:

“Tư đứng dậy tắt đèn. Bích cũng dụi tắt mấy cây củi nứa. Họ lại ngồi trước đốm tàn lửa đang mờ đi nhanh chóng. Rồi ánh than tắt hẳn. Tư thấy mấy sợi tóc dài thoáng chạm vào mặt anh rồi hai cánh tay mềm mại quàng lấy cổ anh và đôi môi dịu dàng như những cánh hoa làm anh gần ngạt thở vì những cái hôn đẫm nước mắt…”

Vậy là từ nay chàng hoạ sĩ sống với cô gái điếm hoàn lương bất chấp nghèo khổ, thiếu đói. Đưa được “nghệ thuật” về với giới “cần lao” rồi, làm sao dắt được nó tới được với Đảng đây? Dẫn dắt hoạ sĩ Tư từ bỏ cô Phượng giàu có và xinh đẹp để tới với cô Bích gái điếm, nghèo khó có vẻ còn dễ hơn đưa đẩy chàng đến với cách mạng. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã làm điều đó như thế nào?

Trước hết do túi không còn một xu đong gạo, mua thuốc chữa bệnh lao và mua toan với màu để vẽ, hoạ sĩ Tư lại đành tìm về với người yêu cũ giàu có để xin giúp đỡ. Tất nhiên Phượng biếu ngay Tư một số tiền lớn tạo điều kiện để anh thực hiện dự định vẽ một bức tranh sơn dầu khổ lớn. Tuy nhiên, anh vẫn chưa quyết định mình sẽ vẽ gì ngoài những người chết đói nhan nhản trên đường phố.

“Bỗng anh nhắm mắt lại. Anh vừa thấy rồi. Bức tranh người chết đói của anh  phải làm lại. Không phải chỉ có người chết đói. Một người đàn bà, một người mẹ, một bà mẹ Việt Nam đang nhìn lên phía trước, người đàn bà ấy đang đi giữa lửa đạn, chiếc khăn quàng rơi xuống vai, đôi mắt bà mẹ đang nhìn thấy cái gì đó rất lớn lao đối với bà…”

“Cái gì đó rất lớn lao” đó chính là cách mạng, là phong trào cộng sản mà ông nhà văn đang loay hoay chưa kiếm được cái cớ  nào để nhét điều “cốt lõi” đó vào đầu ông hoạ sĩ cho dù hình ảnh bà mẹ đã rõ ra là hình ảnh “Người mẹ” của Maxim Gorki – hình ảnh một người mẹ công nhân, một người mẹ cộng sản.

Dịp đó đã tới khi có một anh “cán bộ Việt Minh” tới nhờ Tư vẽ một bức tranh cổ động để ủng hộ Việt Minh chống Nhật cứu nước. Anh nhờ Bích, cô gái điếm cầm cái đòn gánh để làm mẫu cho anh vẽ nữ du kích cầm súng.

“Trên tờ giấy đã hiện rõ hình cô du kích mặc quần áo chàm, cầm khẩu súng trường giơ lên vẫy gọi, đằng sau cô ta là cảnh đồi núi xanh và bây giờ Tư tô nốt màu lên lá cờ có ngôi sao ở giữa. Lá cờ được màu đỏ bỗng như bay phấp phới hơn và chấm vàng của ngôi sao cũng như sống lên…”

Như vậy là hoạ sĩ Tư đã đặt một chân vào cách mạng khi vẽ bức tranh này. Tuy nhiên, nó mới chỉ là một bức tranh cổ động, chưa phải là sáng tác phẩm chính thức của hoạ sĩ. Nguyễn Đình Thi đẩy chàng nghệ sĩ “dấn” thêm bước nữa: đưa hình ảnh cách mạng vào tranh sơn dầu khổ lớn mà anh vẫn tự giày vò trong bế tắc. Chàng hoạ sĩ như bỗng có một bước  nhảy vọt trong sáng tác:

“Bức tranh sơn dầu bây giờ như từ sương mù mà hiện lên rất nhanh. Tư vẽ tưởng chừng không cần nghĩ và không kịp dừng lại để thở nữa… Giữa cảnh người đói, người chết, bên cạnh bà mẹ, Tư đã vẽ thêm một người con gái… áo cánh nâu, tay cầm khẩu súng, đứng dậy nhìn về phía còn đang bắn nhau đằng trước và vội vã sắp băng mình chạy lên phía ấy…”

Thế là coi như Nguyễn Đình Thi chính thức đưa được hoạ sĩ Tư  đứng vào hàng ngũ văn nghệ sĩ cách mạng, ông đã vẽ người nữ du kích trong chiến đấu  bằng cả máu của mình:

“Tư lại ho, cơn ho ác nghiệt… rồi bỗng thấy trong miệng mặn nóng, trong cổ anh cứ trào lên, Tư kinh hoàng thấy nhiều máu quá.… Anh nằm mãi, mắt nhắm như ngất đi, mỗi lần hé mở mắt Tư lại nhìn thấy bức tranh của anh trên tường trước mặt. “Thôi phải làm gấp rồi. Tí nữa mình phải lau sạch các vết máu …”

Rồi người hoạ sĩ chết và người đọc không được biết bức tranh ông để lại giá trị bao lăm? Tuy nhiên không phải cứ chấm vào máu là vẽ thành kiệt tác. Hoạ sĩ Diệp Minh Châu lấy cả máu của mình vẽ chân dung Hồ Chí Minh mà tác phẩm của ông rốt cuộc cũng chỉ được treo trong bảo tàng cách mạng.

 

Sau cái chết của hoạ sĩ Tư, người đọc chờ đợi chứng kiến nỗi bất hạnh của cô gái điếm Bích, người đang chung sống như vợ chồng với anh, nhưng không, ông nhà văn đã bỏ qua chuyện đó và hướng  tác động của cái chết đó tới Phượng, mỹ nhân đất Hà Thành, vợ quan huyện Môn, người yêu cũ của hoạ sĩ  Tư.

Cứ theo như Nguyễn Đình Thi mô tả, Phượng là con gái nhà giàu ở hàng Đào, thời thiếu nữ đã có mối tình đẹp với hoạ sĩ Tư, nhưng vì anh nghèo quá, nàng tự ý bỏ anh đi lấy chồng giàu là quan huyện Môn. Có chồng rồi, Phượng vẫn ham yêu, ham sống, bắt nhân tình với hoạ sĩ thượng lưu Thanh Tùng rồi lại bỏ, quay lại xin hẹn hò với hoạ sĩ Tư nhưng bị khước từ. Từ đó, Phượng ngày càng chán huyện Môn, nhất là khi thấy chồng mình bắt bớ người cách mạng.

“Buổi tối hôm ấy, Phượng đi Hà Nội về, đã đến chín mười giờ đêm, vào đến cổng huyện cứ nghe tiếng huỳnh huỵch trong cái lô cốt, rồi tiếng người rên, rồi tiếng hắn lúc quát, lúc rít lên…Nói đi. Mày liên lạc với đứa nào ? Mày đóng tiền cho ai ? Có nói không ? …”.

Tuy thế Phượng chỉ ghê sợ chồng thôi nhưng không dám bỏ và vẫn ham chơi như đi coi hát, coi đá bóng, ham mặc đẹp:

“Phượng uốn nghiêng mình và rất ưng ý thấy trong gương, chiếc áo săng đay bằng len đen bó sát lấy thân nàng làm nổi rõ những đường nét, nhất bộ ngực còn rất tươi gọn, cái kiểu áo con trai làm cho thân hình Phượng nom càng trẻ thêm và hấp dẫn hơn…”

Một mỹ nhân Hà thành đang còn ham sống, ham hưởng thụ vậy mà khi nghe tin hoạ sĩ Tư, người yêu cũ bị chết, tâm trạng bỗng rơi vào hoảng loạn:

“Đời Phượng, hạnh phúc của Phượng, tất cả đã lỡ hết rồi. Tất cả mọi thứ, mọi người ở xung quanh bó buộc Phượng cứ phải kéo dài cuộc đời giả dối, nhạt nhẽo, vô ích với người đàn ông càng ngày càng xa lạ, đánh chán đáng tởm, vậy mà Phượng không thể  cựa quậy được…”

Thực ra hoạ sĩ Tư đâu có phải là “cuộc đời Phượng, hạnh phúc của Phượng”? Chính nàng đã ghê sợ cái cuộc sống nghèo túng của anh ta kia mà. Và đâu phải cái chết của Tư mới làm nàng nhận ra cuộc sống với chồng là giả dối, đáng tởm. Tạo ra  tâm trạng tuyệt vọng cho cô tiểu thư hàng Đào sau cái chết của hoạ sĩ Tư đã rất khiên cưỡng rồi, ông nhà văn còn đi xa hơn nữa: ép uổng tính cách nhân vật, đẩy cô tiểu thư đến chỗ tự tìm tới cái chết.

“Bây giờ chỉ còn mỗi cách nữa thôi: là chết đi. Ừ thật, tất cả bọn họ có thể có đủ mọi quyền đối với cuộc đời của Phượng, nhưng nếu Phượng muốn chết thì chẳng ai cấm đoán được, chẳng ai làm gì được…”

Thực  ra mọi người xung quanh nào bố mẹ, em gái, chồng, bồ cũ… có ai hành hạ gì, ép buộc gì cô ta đâu lẽ nào cô lại tìm cái chết chỉ để chứng tỏ “chẳng ai cấm đoán được mình…chết”. Và thế là:

“Phượng chống một bên tay nghiêng người nhỏm lên, rót một cốc nước rồi dốc cả ống thuốc ngủ vào đó. Ghê thật đã 6 giờ sáng rồi. Phượng ngồi lên, cầm cốc nước ngửa cổ uống cạn. Nàng thong thả đặt cái cốc xuống bàn, rồi nằm xuống kéo chăn đắp đến cổ và nằm nhắm mắt chờ nó đến không buồn không vui, không nghĩ ngợi điều gì nữa….”

Và rồi nàng chết, một cái chết “bức tử” do chính ông nhà văn giết chết nhân vật của mình chỉ để chứng tỏ cái xã hội cũ thời phong kiến đế quốc nó bế tắc, nó dồn con người ta đến chỗ tuyệt vọng vậy đó. Hoá ra giữa “uống thuốc ngủ tự tử” và “giác ngộ đi làm cách mạng”, Nguyễn Đình Thi đã chọn cho nhân vật của mình cái cách thà cho người đẹp tự tử, dẫu rằng “vô lý không có nhẽ” đi chăng nữa vẫn còn hơn bắt mỹ nhân xuống đường làm cách mạng.

Sau khi tiểu thuyết “Vỡ bờ” được xuất bản, các nhà phê bình “quốc doanh” xúm vào khen ngợi hết lời. Riêng cái chết của Phượng thì bị chê bởi vì “cách giải quyết tiêu cực quá, sao không cho cô Phượng … giác ngộ đi làm cách mạng ?”.

 

[B.T. – Có lẽ chỗ này tác giả Nhật Tuấn có lầm lẫn: Trong “Vỡ bờ” tập 2, Phượng tự tử nhưng được cứu, rồi ốm nặng; trong những ngày trước tổng khởi nghĩa, người ta thấy Phượng lặng lẽ cùng em gái ngồi may cờ; sau đó còn thấy Phượng có mặt ở sân ga Hàng Cỏ tiễn đoàn quân Nam tiến. Xem thêm: “Từ điển văn học, bộ mới”, 2004, mục từ “Vỡ bờ”, tr. 2013]

 

Nhạc sĩ Toàn là đại biểu sau cùng của giới văn nghệ sĩ Hà Nội được Nguyễn Đình Thi đưa vào “Vỡ bờ”. Sau khi cô người yêu người Nga, tên Nina, bỏ anh để tìm về với quê hương thân yêu đang có cách mạng vô sản, “cuộc đời nhạc sĩ của Toàn vẫn thất thểu mỗi ngày vẫn giống mỗi ngày không đem lại gì mới mẻ… cắp hộp đàn …đến tiệm rượu và hàng ăn “Con gà Gôloa” để chơi trong dàn nhạc mà ngoài anh là người Việt ra còn lại toàn người Phi Luật Tân, Nga, Hung, Áo…”.

May cho Toàn, ngoài công việc kéo đàn kiếm cơm, anh còn tìm được một công việc “có ý nghĩa” đối với cái nghiệp nhạc sĩ: “sưu tầm vốn cũ dân tộc”. Thật ra cái công việc này phải vài chục năm sau khi đã nắm quyền ở một nửa nước, Đảng mới phát động các nhạc sĩ rời bỏ đất thánh Hà Nội đi về các miền quê, miền núi để sưu tầm dân ca, nhạc cổ cho đúng với phương châm: dân tộc, khoa học và đại chúng mà Đảng đã đề ra cho công tác văn hoá văn nghệ. Ấy thế mà từ hồi còn mồ ma đế quốc phong kiến, không hiểu sao ông nhạc sĩ Toàn đã làm cái việc này rồi. Ông nhạc sĩ là người đi trước thời đại hay ông nhà văn Nguyễn Đình Thi đem cái công việc “nóng hổi tính thời sự” lúc ông đang viết “Vỡ bờ” để  gán cho người xưa?

“Bây giờ Toàn phải sục sạo, phải nhờ vả mối manh, phải chạy vạy, nhiều khi mất rất nhiều công vào đủ thứ việc chẳng dính líu gì tới âm nhạc cả rồi cuối cùng mới được vài giờ hoặc vài ngày ngồi nghe và ghi ít nét quan họ hoặc dăm điệu hát chèo…. Những khó khăn ấy càng làm cho Toàn thêm say với công việc của anh, cái say mê có đôi lúc hơi ích kỷ của một người đi vào khai phá một miếng đất hầu như chưa có dấu vết bàn tay người nào khác…”

Thực ra trong những năm ở Hà Nội người chết đói như rạ, chẳng hiểu có ông nào mải mê sưu tầm nhạc cổ như ông nhạc sĩ  Toàn này không, khó mà biết được. Qua câu chuyện Nguyễn Đình Thi đưa ra, người đọc ngày nay chỉ  thấy rõ chủ trương “sưu tầm vốn cũ dân tộc” của Đảng là rất sáng suốt, rất phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhạc sĩ từ ngày xưa. Ông nhà văn tranh thủ tuyên truyền đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng như thế này là rất điệu nghệ.

Để nhân vật nhạc sĩ Toàn tiến gần tới cách mạng, ngoài việc “sưu tầm vốn cổ”, Nguyễn Đình Thi phải tìm cho anh ta một hành động nào đó rõ ràng hơn thế. Một tối, Toàn đến tiệm để chơi đàn đã thấy Phêđô – một nhạc công người Nga “mở chai rươụ rót vào một loạt cốc và đứng nói với một vẻ hơi trịnh trọng: “Tối nay tao có một chuyện vui. Thôi chúng mày chạm cốc với tao và uống đi, tao chỉ đòi lại chúng mày một điều nhỏ thôi: tí nữa vào, chơi mở đầu bằng bài “Những người kéo thuyền trên sông Vonga”…”. Tại sao lại thế? tại sao chơi trong quán ăn của Pháp lại đòi mở đầu bằng nhạc Nga. Thì ra đây là chuyện ăn mừng chiến thắng của Hồng quân Liên Xô: “Phê-đô bỗng nháy mắt với Toàn và ghé tai anh rỉ khẽ: Stalingrát, mày biết chưa ? Ba mươi vạn quân Đức hàng rồi…”

Thế là từ hôm đó, cứ mỗi lần nghe tin Liên Xô thắng  trận, bọn Hitler thua một trận lớn, Toàn với Phê-đô lại chơi một bản nhạc Nga để “ăn mừng chiến thắng”. Một hôm, Phêđô “ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt ở đây” rủ Toàn “vượt biên giới sang Trung Hoa rồi đi xa nữa…”, nhưng Toàn từ chối.

Tại sao Toàn từ chối không đi ra nước ngoài kiếm sống dễ dàng hơn  Ông nhà văn lý giải:

“Nhưng Toàn không thể bỏ cái đất khốn khổ này mà đi đâu được. Hình như nếu anh bỏ đi bây giờ thì anh sẽ chỉ còn như cái cây đứt rễ. Nó sẽ héo khô đi rất nhanh chóng…”

Tại sao ra nước ngoài sống mà lại như cái cây đứt rễ trong khi chính ông nhà văn cũng thừa nhận: “Có bao nhiêu nhạc sĩ họ cũng phải bỏ đất nước nô lệ của họ mà ra đi, họ chỉ sống lang thang hết nước này sang nước khác, vậy mà chính nhờ thế mà họ làm nên sự nghiệp vẻ vang cho Tổ Quốc họ. Sôpanh, Báctốc và còn thiếu gì người khác ?”

Để xoá bỏ cái mâu thuẫn đó, Nguyễn Đình Thi đưa ra lý lẽ :

“Hình như trên cái đất nước đã quá cay cực này sắp có những chuyện gì, chưa biết, nhưng nó sẽ phải xảy cái gì, có lẽ sẽ rất dữ dội, kỳ lạ, dù sao cũng có cái gì đấy, có khi Toàn sẽ chết nhưng dù thế nào bây giờ Toàn cũng không đi được…”

Cái “dữ dội, kỳ lạ” sắp xảy ra mà ông nhà văn không muốn nói toẹt ra đó, chính là: cách mạng. Lúc này Việt Minh đã hoạt động rần rần ở các thành phố, cuộc khởi nghĩa giành chính  quyền sắp nổ ra, một nghệ sĩ trí thức yêu nước qua “sưu tầm dân ca nhạc cổ” như Toàn không có lý gì lại bỏ ra nước ngoài đi trốn cái sự kiện lớn lao ấy. Đó chính là lý do ông nhà văn không cho phép Toàn theo Phêđô vượt  biên ra nước ngoài sinh sống chứ chẳng phải do tính cách của chàng dẫn chàng tới quyết định đó. Lại một lần nữa hành vi của  nhân vật tiểu thuyết bị ý muốn chủ quan của nhà văn ép buộc khiến người đọc khó mà tin nổi.

 

Những nhân vật văn nghệ sĩ Hà Nội như nhà văn Hội, hoạ sĩ Tư, nhạc sĩ Toàn… do Nguyễn Đình Thi rất quen thuộc nên họ được mô tả với niềm hứng khởi thực sự, tạo được một số trang khá sinh động trong “Vỡ bờ”. Tuy nhiên trong cuốn tiểu thuyết này, Nguyễn Đình Thi không chỉ nhằm giới trí thức văn nghệ sĩ. Tham vọng ông lớn hơn nhiều, ông muốn dựng lên một bức tranh hoành tráng về toàn cảnh xã hội Việt Nam vào đêm trước của cách mạng, bởi thế nông dân và công nhân,  những nhân vật tạo nên “quần chúng công nông” – nòng cốt của cách mạng là không thể thiếu trong tác phẩm. Tiếc thay loại nhân vật này, Nguyễn Đình Thi lại chưa “thuộc” cho lắm, dưới con mắt ông họ chỉ là những sinh linh nhỏ bé bị địa chủ và tư bản bóc lột. Vạch một ranh giới tuyệt đối giữa nông dân và địa chủ, công nhân và tư sản  là quy phạm bắt buộc đối với các nhà văn cách mạng. Đảng yêu cầu họ phải đứng vững trên lập trường giai cấp khi miêu tả những mối quan hệ này. Không được phép  đi sâu vào những tâm tình rắc rối, đậm mầu nhân tính như bài thơ:

“Anh trót yêu con địa chủ

Quá yêu rồi biết bỏ sao đành

Vì chưng nó đẹp nó xinh…”

Không được, dù đứa con gái có đẹp có xinh, người cách mạng cũng tuyệt nhiên không được mảy may rung động một khi nó là “con của giai cấp bóc lột”. Với “chúng nó” chỉ có đánh đổ toàn bộ, đào tận gốc, trốc tận rễ, dứt khoát không cho ngóc đầu dậy, làm gì có thứ tình cảm “trót yêu” vậy được. Địa chủ, tư sản là xấu xa, thối rữa, công nông là tốt đẹp, ưu việt − tất cả các nhà văn VN đều phải tâm niệm điều đó, và hơn ai hết, vốn là quan văn nghệ, nhà văn Nguyễn Đình Thi càng phải gương mẫu tuân thủ giáo điều đó. Từ những năm 1950, sau khi biên giới Việt Trung được khai thông, bác Mao gửi cho cả giới văn học nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt các nhà văn một “quà tặng” quý giá : bộ phim truyện “Bạch mao nữ”.

Phim kể về một  cô gái bần cố nông đi ở cho địa chủ bị hành hạ hết sức dã man, không chịu nổi phải trốn lên rừng hoang ở và biến thành một người đàn bà tóc tai trắng toát giống như bóng ma trên rừng. Phim được chiếu cho tất cả cán bộ và nhân dân coi gây nên một lòng căm thù rực lửa đối với giai cấp địa chủ – mặc dầu trong phim là địa chủ… Tàu. Tại các buổi chiếu phim cho bộ đội coi, người ta đã phải thu hết súng ống cất đi, bởi lẽ nhiều đồng chí coi phim căm thù quá, cứ nhè màn ảnh mà nã đạn. Phim “Bạch mao nữ”  có tác động đặc biệt tới giới văn nghệ sĩ. Nó là một khuôn mẫu cố định, sinh động về mối quan hệ “nông dân – địa chủ”. Nó là thước đo, chuẩn tắc cho mọi sáng tác về đề tài đó, cấm không được khác đi. Cái khuôn mẫu “nhập ngoại” quái ác này thực sự đã bó buộc tất cả mọi sáng tác của nhà văn Việt Nam viết về làng quê Việt nam đều phải bầy tỏ một lòng căm thù “muôn đời , muôn kiếp không tan” với giai cấp địa chủ và niềm tin yêu vô hạn với những người nhà quê xông lên làm cách mạng. Rất nhiều  nhà văn “gạo cội” đã phải nhào nặn tác phẩm của mình theo khuôn mẫu đó. Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…ra sức “sáng tác” những tiểu thuyết viết về “đề tài nông thôn” kiểu như “Truyện anh Lục”, “Mẹ con đồng chí Chanh”, “Nông dân với địa chủ”… tạo nên một sự chia rẽ kinh hoàng cả về ý thức lẫn tinh thần trong cộng đồng những người sống bằng cây lúa ở Việt Nam cho mãi tận bây giờ vẫn còn chưa được giải độc.

“Vỡ bờ” với tham vọng phản ánh cả một phong trào toàn xã hội “vùng lên” làm cách mạng tháng Tám nên không thể thiếu hai nhân vật cốt lõi là “nông dân” và “công nhân”. Ông đã “đẻ” ra nhân vật  “nông dân” là cô gái tên Xoan, “công nhân” là chàng trai tên Mầm và tất nhiên hai người phải yêu nhau cho thêm thắm thiết hình tượng công nông liên minh.

Có khi nào Nguyễn Đình Thi xé rào ra khỏi “khuôn mẫu” nông dân – địa chủ mà Đảng đã yêu cầu qua phim “ Bạch mao nữ” từ hồi còn kháng chiến chống Pháp không?

Hoàn toàn không, ngược lại còn đi “quá đà” vượt cả yêu cầu của Đảng là khác.

Cô Xoan, con nông dân nghèo, do nợ nần phải gán cho địa chủ nghị Khanh. Tên này độc ác, tham lam ra sao với bà con trong làng, với bạn bè và với cả người trong gia đình, Nguyễn Đình Thi đã dụng công “bôi đen” trong khá nhiều trang sách rồi. Riêng với Xoan, tên địa chủ này xử sự tàn tệ không kém gì địa chủ trong “Bạch mao nữ”  ngày trước. Hoá ra cái bộ phim Tàu quái ác này đã ăn quá sâu vào trong tâm tưởng của ông nhà văn. Khi Xoan tới làm “nô lệ” lúc còn bé, lão nghị Khanh chẳng thèm để mắt tới, nhưng khi cô lớn lên, bỗng một hôm lão Nghị Khanh nhận ra “cái thân thể khoẻ mạnh tươi trẻ của người con gái”. Lão nghĩ bụng “cái vóc mình ấy, hai con mắt ấy, cái ngực ấy, hai bắp đùi ấy… Không gì bằng tuổi trẻ thật”. Thế rồi “ lão lại thấy sững sờ cả người, chẳng kém gì ban chiều, lúc lão bỗng dưng đi qua buồng ăn, trông thấy Xoan đang rướn người lên lau cái cửa kính…”. Thế là lợi dụng lúc vợ vắng nhà, lão quyết chiếm đoạt Xoan cho bằng được :

“Lúc Xoan đem nước sôi lên, nghị Khanh đã nằm đắp chăn trên giường. Cô gái đặt hai cái phích to lên chiếc bàn ở góc buồng rồi quay nhanh ra cửa. Lão Nghị quát lên:

“ Sao mày lại đặt đấy. Mở ngăn kéo lấy hai cái túi cao su cho tao…”

Xoan ngồi xuống ghế, mặt cô cúi xuống, hai cánh tay khép lại che đầu gối… Nghị Khanh ngồi nhỏm lên thò tay nắm lấy cổ tay cô gái:

“ Thôi, lại gần đây ông thương. Đây, ông cho chục bạc, em cầm lấy rồi mai ông cho nữa…”

Xoan như phải bỏng, giật mình, muốn co tay lại nhưng tay lão Nghị đã nắm chặt lấy cổ tay cô, như cái kìm và kéo cô lại bên giường…”

Lần đó Xoan thoát được tay lão nghị Khanh vì cô cố vùng vẫy bằng sức cô gái “tuổi mười  bảy bẻ gãy sừng trâu”. Nhưng rồi thân gái “nông dân” trong hang hùm “địa chủ”, làm sao giữ được trinh trắng ? Lần này không phải lão nghị Khanh mà thằng Tường, con trai lão gây chuyện. Thằng này mới trên Hà Nội về thăm bố “hai mắt nhìn chòng chọc vào cô gái, bữa nay Xoan ăn bận sạch sẽ càng dễ ưa”. Thằng Tường là thanh niên hư đốn, lão luyện trong “nghề chơi”, ngây thơ , trẻ trung như Xoan làm sao thoát?

Đêm hôm đó “xong công việc hai mắt cô gái cứ muốn ríu chặt lại. Khi về đến cái buồng nhỏ tối om đặt mình xuống là Xoan ngủ ngay không biết gì nữa.”. Một cô gái hơ hớ, đã từng bị lão chủ đòi hãm hiếp, bắt gặp cái nhìn hau háu của thằng con trai lão chủ, vậy mà  Xoan không hề “nâng cao cảnh giác” cứ về phòng ngủ “vô tư”, lại còn không đóng cửa buồng để đến đêm “đang ngủ mê mệt, bỗng một cái gì đè mạnh lên mặt Xoan làm cô choàng dậy, muốn hét lên nhưng trong bóng tối một bàn tay đã bịt chặt lấy miệng cô, nhét một cái khăn bông vào…” .  Nhưng lần này bằng sức trẻ Xoan cũng chẳng tự cứu được mình bởi vì “không phải chỉ có một đứa, Xoan nghe chúng nó thở sát tận mặt, cô bị bóp cổ dằn mạnh xuống, gáy cô như bị một cái kìm kẹp chặt, làm tê dại cả đầu óc…Xoan không thở được nữa, không kêu được nữa, nước  mắt chảy ra giàn giụa…tất cả tối đen hết…”

Vậy là thằng bố chưa kịp làm, thằng con và lũ bạn đã cướp đi sự trinh trắng của cô gái nông dân ở đợ – tội ác của giai cấp địa chủ lại càng chồng chất cao hơn khi  sáng hôm sau, Xoan trở dậy và “rón rén ngồi lên, rồi thả chân xuống đất, đứng dậy ra góc buồng tìm mấy quãng giây thừng nối lại với nhau và trèo lên một chiếc ghế đẩu ném một đầu dây lên xà nhà, với tay kéo cái đầu dây xuống, buộc một cái thòng lọng…”

Vậy là Xoan tự tìm tới cái chết để trốn nỗi nhục nhã đêm qua. Trước khi chết, cô nghĩ tới người yêu “anh Mầm ơi, thôi không bao giờ anh thấy mặt em nữa đâu”, cô tố cáo tội ác của giai cấp địa chủ  và đặt ra một loạt  câu hỏi mang ý nghĩ “giác ngộ giai cấp”:

“ Tại sao tao cũng là người, chúng mày cũng là người mà chúng mày lại có quyền sai bảo, mắng chửi, hành hạ, làm hại tao ? Tại sao chúng mày có quyền vợ chồng cha mẹ con cái đề huề mà lại bắt tao phải quanh năm ngày tháng không được thấy mẹ tao, các em tao. Tại sao cả nhà chúng mày ăn sung mặc sướng muốn làm gì thì làm mà cả nhà tao lại suốt đời đói khát, cái gì cũng phải sợ sệt ?”

Và rồi cô bày tỏ lòng căm thù cao độ, buông lời nguyền rủa kẻ thù giai cấp :

“Tao chết đi sẽ còn là cái hồn oan, trở về bóp cổ chúng mày. Tao chết đi sẽ còn làm chúng mày ăn không ngon ngủ không yên. Hễ mẹ con cha con chúng mày nhìn nhau là trông thấy cái oan hồn của tao…”

Thật không có lời tố cáo nào sâu sắc hơn, lời nguyền nào độc địa hơn. Sau khi làm xong “thủ tục” đó,  “Không nghĩ ngợi gì nữa, trong người sôi lên như lửa, Xoan lại đứng trên chiếc ghế đẩu, tay nắm lấy vòng dây thừng choàng vào cổ rồi đạp mạnh. Chiếc ghế đẩu lăn bắn đi lộc cộc trên nền nhà lát gạch…”

 

 

Là nhân vật tiêu biểu cho nông dân bị phong kiến bóc lột, vùng lên làm cách mạng nên dẫu đã treo cổ lên trần nhà rồi, Xoan cũng không…được chết, cô phải sống để qua cô tác giả trình bày sự đổi đời của giai cấp nông dân đi theo Đảng. Bởi vậy đúng lúc cô sắp tắt thở, bà cụ Đen chăn bò bên hàng xóm tình cờ chạy sang, cuống quít cắt dây treo cổ và la hoảng:

“Xoan ơi, Xoan…Mày tỉnh chưa con? Tội nghiệp con bé.. Sao mày dại dột thế Xoan ơi.”

Và thế là Xoan không chết nữa, cô phải sống để nuôi máu căm thù giai cấp địa chủ,  đợi ngày Đảng giải phóng cô và cho cô đoàn tụ với người yêu là Mầm vốn là công nhân để hoàn thành biểu tượng “liên minh công nông” mà ông nhà văn muốn tô vẽ.

Mầm là thanh niên trong xóm, bỏ làng lên Hải Phòng làm công nhân bị Pháp bắt đi tù vì tham gia đấu tranh, đến ngày Nhật đảo chính Pháp thì trốn tù. Bằng vào số trang giành cho từng loại nhân vật, người ta thấy rõ Nguyễn Đinh Thi quen thuộc với “trí thức văn nghệ sĩ” hơn là loại nhân vật đang trở thành “trung tâm thời đại” như nông dân và nông dân. Ông chỉ mô tả qua loa quá trình biến đổi từ anh thanh niên làng quê thành anh thợ xi măng Hải Phòng của Mầm, minh hoạ cho quan điểm Mác Lê là sự bần cùng hoá người nông dân đã dẫn tới sự ra đời của giai cấp công dân, ngay cả những năm tháng trong tù vôn vẫn được coi “nhà tù là trường học” cũng được lơ đi không nói tới. Trong khi đó những chuyện “phiêu lưu đường rừng” lại được kể lể khá kỹ càng trên đường Mầm trốn từ trại tù về nhà.

Nào “khỉ, rắn, trăn gió cả cọp nữa họ đã gặp đủ cả, những đêm nằm dài trên một chiếc chòi nát bỏ hoang mà nghe tiếng nai gộ giữa rừng khuya, sao mà buồn nẫu ruột gan…”.

Nào “đi men theo con suối lớn  họ bỗng trông thấy hai người đàn bà Mường mặc quần vải đen, áo dài năm tà, tóc búi ngược trên đầu , đang giặt …Họ không dám thò ra, cứ theo men suối nấp trong cây đi lên, lại gặp thêm từng tốp đàn bà con gái nữa cũng ăn mặc như thế cả, tốp thì giã gạo, tốp thì gánh nước… nom cứ tưởng gặp tiên…” …

Lẽ ra để khắc hoạ hình tượng “anh công nhân cách mạng” mang tính  kỷ luật, tính tiền phong của Đảng, Nguyễn Đình Thi phải đặt Mầm vào những khó khăn, khắc nghiệt, những thử thách gian truân qua đó trui rèn phẩm chất cách mạng. Đằng này không, ông đưa ra toàn những chuyện tào lao như “chuyện đường rừng” kể  trên, kéo dài cho dầy cuốn tiểu thuyết  mà chẳng dính dáng gì tới việc xây dựng tính cách mới cho người “anh hùng mới” của thời đại là Mầm. Đi hết đoạn đường rừng, xuống làng xóm dưới đồng bằng, tác giả cho anh Mầm tiếp cận cách mạng bằng cách lân la hỏi chuyện một… anh lính bảo an:

“Hai người bước đi im lặng, anh lính trốn vẫn chống gậy, từng tiếng cốp cốp trên đường. Mầm lại hỏi :

“Việt Minh ở trên Thái Nguyên người ta thế nào ?”

“Có trông thấy đâu mà biết. Chỉ nghe nói các ông ấy bắn giỏi lắm … các ông ấy bắn chết ngay thằng quan hai, rồi toàn nhắm vào tụi Tây thôi, còn lính mình thì các ông ấy bắn qua đầu gọi bảo chạy đi…”

Chi tiết này mới nghe qua thấy bộ đội ta thật “nhân đạo”, chỉ đánh thằng “mắt xanh mũi lõ”, còn “mũi tẹt da vàng” thì tha bổng, tuy nhiên từ  trước tới nay Đảng vẫn yêu cầu “tiêu diệt sinh lực địch, đánh sập chính quyền cũ”, hoá ra “hư cấu” của ông nhà văn sai đường lối của Đảng! Thực tế, khi đã lâm trận, bộ đội ta cứ nhằm thẳng kẻ thù mà bắn đâu có phân biệt tây ta, chuyện đó chỉ là sự bịa đặt vụng về của ông nhà văn nhằm ca ngợi anh lính Việt Minh buổi sơ khai.

Mầm về tới làng trong cảnh chết đói đầy đường:

“hàng nghìn người sống dở chết dở, cái đói đốt ruột đốt gan không buông tha lúc nào, đầu óc mê hoảng chỉ còn biết tìm xem đâu còn cái gì tạm ăn được nữa không ?”

Rồi chính mắt Mầm chứng kiến

“Không phải một người mà là hai mẹ con… Người đàn bà nằm ngửa đầu tóc xoã ra, lẫn vào bụi cát. Dưới ánh trăng mờ nhập nhoạng, khuôn mặt chị nhoà đi, chỉ trông thấy đen đen cái lỗ miệng há ra và hai con mắt. Hai con mắt trợn to, trắng dã, trừng trừng không nhắm lại được. Một cánh tay gầy guộc của người đàn bà chết đói vẫn quặp chặt lấy đứa con… cổ nó khẳng khiu như không mang nổi cái đầu, toàn sọ, vẹo sang một bên, nằm áp vào quãng ngực khô đen của người mẹ…”  .

Trong hoàn cảnh kinh hoàng như vậy, lẽ ra Mầm phải tìm ngay người yêu là Xoan coi cô sống chết ra sao sau bao năm xa cách, nhất là có đang ngắc ngoải vì đói không để còn cứu vớt. Nhưng mà không, anh chỉ về qua làng rồi biến ngay đi để tìm…cách mạng.

Tính cách bàng quan, vô trách nhiệm với người yêu như vậy chắc không phải của anh công nhân Mầm, chẳng qua nhà  văn chưa muốn hai người gặp nhau trong lúc này: Xoan mới bị thằng Tường con trai địa chủ Khanh hiếp dâm, giờ gặp lại người yêu cũ tâm trạng cô sẽ ra sao đây? Quả thực là vô cùng phức tạp. Rồi thì Mầm cũng ở tù lâu năm mới trốn trại ra chưa có “thành tích”, “sự nghiệp ” gì. Bởi thế  Nguyễn Đình Thi đành phải “hoãn” cuộc “trùng phùng”  giữa  hai nhân vật  thời đại vào cuối truyện, khi mà cách mạng đã thắng lợi, cuộc đời cũ chấm dứt vĩnh viễn, cuộc đời mới đang mở ra, bao nhiêu chuyện lớn lao đang tràn ngập tâm hồn, còn cái chuyện “mất trinh” vì thằng con địa chủ là chuyện nhỏ, chẳng là cái đinh gì, bởi thế khi gặp lại người yêu cũ, cô Xoan đã hoàn toàn quên bẵng chuyện đó, không nhắc nhở gì tới kẻo giảm sút niềm vui chiến thắng. Tuy nhiên để đi tới được “trùng phùng” đó, Mầm phải trải qua nhiều đoạn đường lập công với cách mạng cho tỏ mặt anh hùng.

Từ một anh tù vượt ngục chẳng hiểu mô tê gì ngay hiểu biết về Việt Minh cũng phải hỏi anh bảo an binh, ấy thế mà chẳng hiểu sao, đùng cái, Mầm lại có mặt trong một cuộc hội nghị cán bộ quan trọng. “Sau khi anh Lê – (cán bộ Đảng cao cấp) phổ biến nghị quyết của Trung ương về việc thành lập các chiến khu thì hội nghị càng sôi sục hẳn lên. Các đồng chí đề nghị gấp rút xây dựng một chiến khu cho vùng Yên Tử, Đông Triều rồi sẽ mở rộng ra cả vùng ven biển….Bao nhiêu công việc to lớn, tỉ mỉ, bề bộn mà cái hạt nhân để lo tất cả một núi việc như thế chỉ có ít người ngồi đây… Nhưng họ như không biết sợ, ngại gì cả, chỉ muốn xông ngay vào lò lửa…”.

Một “số ít người” quan trọng  vậy, nếu chưa phải Trung Ương Đảng thì ít ra cũng là xứ uỷ, vậy chẳng hiểu sao anh thợ trốn tù  Mầm của Nguyễn Đình Thi thoắt cái đã trở thành một yếu nhân họp hội nghị đó. Rồi chỉ ít tháng sau, Ban lãnh đạo chiến khu Đông Triều thành lập trung đội du kích đầu tiên của Đảng gồm ba người, Mầm được cử ngay làm chính trị viên.

Không bỏ qua cơ hội bày tỏ lập trường, Nguyễn Đình Thi hết lời ca ngợi đơn vị vũ trang đầu tiên của Đảng:

“Tất cả vai khoác súng trường, thắt lưng giắt lựu đạn, đứng nghiêm im phăng phắc, nghe đồng chí chỉ huy của họ thề hy sinh chiến đấu dưới lá cờ cách mạng thiêng liêng. Từ nay họ sống chết có nhau, cùng bước vào cuộc đời người lính của cách mạng, được Đảng giao cho cầm súng trong tay để giải phóng đất nước, đồng bào. Họ chưa biết con đường chiến đấu của họ sẽ dài bao nhiêu, những gian nan nguy hiểm, những đau thương hoặc vui sướng của họ sẽ thế nào, nhưng họ biết những lời thề hôm nay sẽ không bao giờ họ quên được…”

Thật rõ ra là hình ảnh của Đội tuyên truyền giải phóng quân của Đảng, tiền thân của bộ đội cụ Hồ. Chỉ có điều, ở ngoài đời thực nó được ông Võ Nguyên Giáp nguyên là giáo học có đôi chút chữ nghĩa chứ không phải cái nhà anh Mầm nhân vật của Nguyễn Đình Thi, xuất thân nhà quê thất học, lên tỉnh làm thợ bị tù rồi trốn trại trở về.

Sau khi “đôn” Mầm lên thành cán bộ quân đội, “đánh giặc liên miên ngoài Tiên Yên Ba Chẽ , vừa dẹp thổ phỉ, vừa phải chọi nhau với quân Tưởng, lại còn lũ quân Việt cách nữa, vừa rồi phải ra tận ngoài đảo Cô Tô bắn nhau với tàu chiến của tụi Tây một  trận. Đến dăm lần bảy lượt  hút chết…”, chất cho anh chiến tích đầy mình, nhà văn mới cho Mầm trở về gặp Xoan, trùng phùng trong “ngày hội lớn  của dân tộc” thắm đượm tình “liên minh công nông” – hai giai cấp được tin yêu nhất của Đảng và cách mạng.

                               

Một trong những bi kịch cốt lõi của các nhà văn cách mạng, đặc biệt các “đồng chí” đã dính vào chức quyền như Nguyễn Đình Thi là ông nào cũng được Đảng úp lên đầu một cái mũ kim cô có tên là “chính trị là thống soái”.

Vậy  “chính trị là thống soái” là thế nào ?

Là tuốt luốt mọi thứ từ “thủ pháp nghệ thuật” cho tới “lô-gích của nội dung” đều phải điếu đóm theo hầu chính trị. Trong cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc”, ông Hồ Chí Minh dưới bút hiệu XYZ đã thẳng thừng đặt cho các nhà văn những câu hỏi cốt lõi theo kiểu thầy dạy trò:

“viết cho ai ? viết như thế nào ? viết để làm gì ?”

và lẽ dĩ nhiên câu trả lời tức khắc phải là:

“viết cho quần chúng công nông binh – viết cho dễ hiểu  –  viết để phục vụ quyền lợi của cách mạng…”.

Vậy là “công việc viết văn” của các nhà văn cách mạng trở nên hết sức dễ dàng khi yêu cầu nghệ thuật chỉ là “viết sao cho dễ hiểu”, chớ có biểu tượng nhiều mặt, chớ có đa thanh, đa nghĩa, đa chiều, chớ có tìm tòi, cách tân “ngôn ngữ nghệ thuật” mô-đéc mô điếc làm gì nhức đầu nhức óc  quần chúng công nông binh, mở sách ra mù tịt chẳng hiểu gì.

Về nội dung lại càng “ngon ăn” hơn – bất chấp trần gian muôn màu ra sao, cuộc đời đa đoan thế nào, nhà văn khỏi đi sâu thám sát và phát hiện những bí ẩn của nhân tính, khỏi mổ xẻ những ca tâm lý phức tạp, những chiều kích dị thường trong tâm hồn con người, các “cán bộ viết văn” chỉ cần diễn tả mọi nhân vật, mọi sự kiện sao cho có lợi cho cách mạng bất chấp sự thực của đời sống là tốt rồi.

Các nhà phê bình quốc doanh thường đòi hỏi các nhà văn “phải hy sinh lô-gích của hiện thực cho lô-gích nội dung”, nói toạc móng heo ra là người cầm bút phải sẵn sàng nhào nặn và bóp méo hiện thực miễn sao phục vụ được yêu cầu của chính trị vốn là sứ mạng cao nhất của nhà văn cách mạng. Thô thiển hơn nữa, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một gương mặt văn hoá mác-xít tiêu biểu của VN,  một thời yêu cầu các nhà văn phải “mô tả hùng hồn hơn nữa thời đại của chúng ta…” . Vậy chỉ được  ca ngợi và ngợi ca mà thôi chứ sự oán thán thì đâu có “hùng hồn”?

Phần kết của trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi là một minh chứng sinh động cho các ý kiến nêu trên.

Một sự thực hiển nhiên là cuộc cách mạng tháng Tám đã lôi cuốn được một bộ phận đông đảo dân chúng Việt Nam tham gia trong đó có rất nhiều  cư dân sống ở thành phố và đô thị, đặc biệt là trí thức văn nghệ sĩ.  Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là khắp thiên hạ ai cũng làm cách mạng và càng không có nghĩa  cứ theo Việt Minh là “giác ngộ cộng sản”. Do nhiều nguyên nhân lịch sử, còn một bộ phận không nhỏ hoặc đã chống lại hoặc đã đứng ngoài cuộc cách mạng đó với tư thế “trùm chăn” chờ thời – đó là một sự thực hiển nhiên của thời đại. Ấy thế nhưng với cái mũ kim cô “chính trị là thống soái” ở trên đầu, nhằm tô vẽ cho cuộc cách mạng,  Nguyễn Đình Thi đã “lùa” toàn bộ nhân vật của “Vỡ bờ” đi theo Việt Minh ngoại trừ những phần tử phản động trong giai cấp tư sản và địa chủ.

Trước hết là ông giáo Hội kiêm nhà văn, tác giả tiểu thuyết  “Đồng Chiêm”. “Thật không ai ngờ được và chính Hội cũng không ngờ được mình lại thành một ông Việt Minh ở giữa Hà Nội như thế này…”. Không tù đầy, không bị giam giữ, ông nhà văn Hội làm cách nào trở thành “ông Việt Minh” nhanh như thế ? Hoá ra ông chỉ làm cái việc “đi khắp từ các đầu ô cho đến phố nội thành để tới gặp hết người nọ đến người kia trong đám các trí thức của đất ngàn năm văn vật…”. Chính vì tham vọng mở rộng “Vỡ bờ” thành một bức tranh hoành tráng diễn tả toàn dân đi làm cách mạng, nhưng lực bất tòng tâm nên Nguyễn Đình Thi đành diễn tả cả quá trình giác ngộ Việt Minh của ông nhà văn kiêm nhà giáo sơ sài có vậy.

Trí thức đi theo cách mạng thì phải có thưởng chớ? Có ngay, liền sau đó Nguyễn Đình Thi vội vàng cho ông nhà văn Hội được  bầu làm Chủ tịch Uỷ ban giải phóng xã và sau đó tiểu thuyết “Đồng Chiêm” của ông được tái bản lãnh mấy trăm đồng nhuận bút về đưa vợ. Tuy nhiên cái “thành quả” cao nhất đi theo cách mạng đối với ông nhà văn này là được…kết nạp Đảng thì Nguyễn Đình Thi chưa nói tới, chắc còn để lại cho Hậu Vỡ Bờ mà sau này ông không còn thời gian và hứng thú để thực hiện nó.

So với ông nhà văn Hội, nhạc sĩ Toàn chậm đến với cách mạng hơn; anh vẫn đi kéo đàn cho các quán rượu để kiếm sống và mua hoa tặng bạn gái. Thế rồi khi được gặp một anh nhà báo và được biết  “mọi thứ đều đến chỗ nước rút rồi đấy ông ạ. Chỉ trong khoảng vài ngày là rõ ra mọi thứ. Bây giờ chưa biết ai mấy hôm nữa ở chỗ chúng mình đang ngồi đây sẽ thế nào. Người  ta đợi Việt Minh…”, ông nhạc sĩ bỗng tỉnh ngộ và tự sám hối: “Chết thật, mình ở trên mây, không biết gì cả…”.Toàn nghĩ thầm và vừa đi nhanh vừa nhìn bó hoa hồng trên tay.”  Tuy ông nhà văn không nói rõ ra, nhưng người đọc hiểu được từ nay ông nhạc sĩ sẽ chấm dứt những trò tặng hoa phù phiếm để đi theo cách mạng làm những việc thiết thực hơn.

Ông giáo Điềm, chú họ của Hội, sau một thời gian dài “trùm chăn” coi sao, giờ cũng đã giác ngộ, hỏi ý kiến ông cháu:  “Anh xem như tôi lên chiến khu thì có được việc gì không ? Có lẽ trên ấy tôi cũng có thể giúp các anh về quân sự được. Gần đây tôi đọc kỹ Tôn Tử lắm. Thế anh làm thế nào cho tôi đi ngay bây giờ được thì tốt…”. Thế là một ông thầy nho già xung phong lên chiến khu để huấn luyện quân sự cho bộ đội chỉ vì ông đang tôn sùng binh pháp của Tôn Tử:  “Này, khi Napôlêông chết, người ta tìm thấy trong túi hắn một quyển Tôn Tử đấy. Thì ra mấy thằng châu Aâu toàn học lỏm của Á Đông mình…”. Ông đồ già đến với cách mạng như vậy cũng đã là hoả tốc rồi, vậy mà ông còn than thở, tỏ vẻ hối tiếc: “Tôi thật chậm hơn các anh mấy chục năm. Phí mất nửa đời người…”. Quả thực “trường hợp giác ngộ” của ông Giáo Điềm nếu không là một giai thoại tiếu lâm thì cũng là một tưởng tượng…tầm phào của ông nhà văn.

Tất nhiên lớp người trẻ đến với cách mạng phải được nhà văn diễn tả “rầm rộ” và “khí thế” hơn nhiều. Phi là một cô gái con nhà giàu, quanh năm chỉ đi học và rong chơi như một con bướm. May mắn cho cô được người yêu là Đông – một người hoạt động bí mật cảm hoá, thế là bỗng chốc Phi trở thành một “nữ chiến sĩ cách mạng” cầm đầu đoàn biểu tình đi đấu tranh với Nhật :

“Phi vẫy cả đoàn vượt qua đám đông ở đây, đi vượt lên nữa. Trên thềm nhà hát lớn từng tốp lính Nhật quỳ hoặc nằm sau những khẩu súng máy đã bắc càng sẵn sàng…”

Thế là thông qua cô bạn phiên dịch, cô nữ sinh đấu lý với đám sĩ quan Nhật khiến họ phải thả các công nhân bị bắt ra, rồi lại còn trả lại cả súng cho họ nữa. Sự hiên ngang, dũng cảm của Phi làm viên sĩ quan phải trầm trồ khen ngợi: “Thấy Việt Nam bây giờ mà thèm, từ người con gái, đàn bà con gái cũng gan dạ, rắn rỏi, kiểu này khi trở về Nhật chắc sẽ …mổ bụng tự vẫn…”

Ghê thế đấy, gương đấu tranh của một cô nữ sinh, tiểu thư Hà Nội cũng đã làm cho sĩ quan Nhật phải cảm phục đến thế, vậy những người cách mạng thứ thiệt thì còn thần kỳ tới đâu. Tất nhiên những người đó phải là gia đình ruột thịt của những cán bộ cộng sản đã hy sinh. Như cô Quyên, em gái của Khắc – lãnh tụ cách mạng đã chết trong tù, được Lê cũng là một cán bộ cộng sản cao cấp khuyến khích, cô cũng thoát ly gia đình đi làm cách mạng chuyên nghiệp. Chỉ sau một thời gian, Quyên đã trở thành một chỉ huy du kích đánh một đồn mà thực ra là trường võ bị của Nhật mở ra để đào tạo đám thanh niên Đại Việt.

“Thôi ta cứ vào thôi” – Quyên hét to lên với anh em và vượt lên đầu , chạy đến cổng đồn mở toang một bên. Anh em chạy đi rồi, Quyên quay sang mấy anh du kích: “Hễ thằng nào định giở trò, các đồng chí cứ bắn chết ngay tại chỗ. Còn đồng chí nào có lựu đạn không ?…”

Thật không thể hiểu nổi, vì sao từ một cô gái quê rụt rè, suýt nữa chịu làm vợ bé cho ông Chánh hội trong làng, vậy mà đùng một cái Quyên trở thành một nữ chỉ huy du kích say máu và giết người không ghê tay đến vậy. Chắc là vì không khí cách mạng  khẩn trương, cấp tập đang đến gần nên ông nhà văn cũng phải vội, đành bỏ qua “cái quá trình trở thành” mà chỉ trình bày cái kết quả và người đọc đành phải chấp nhận hình tượng cô gái quê trở thành chỉ huy du kích “ăn gan uống máu quân thù” như vậy là có thực…

 

“Tức nước” lẽ dĩ nhiên phải “vỡ bờ”. Cảnh vật sau khi “vỡ bờ” thường đổ nát, tan hoang, hỗn loạn không khác gì một cơn bão, một trận động đất hoặc cơn sóng thần quét qua. Vậy nhưng cảnh tượng sau “vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi hoàn toàn ngược lại, nó được sắp xếp thứ tự lớp lang đâu ra đó, kẻ có tội với nhân dân nhất định bị trừng trị, người có công với cách mạng sẽ được tưởng thưởng nhiều hay ít tuỳ theo mức độ đóng góp. Cái kết cuộc của cuốn tiểu thuyết trường thiên được ông tác giả gia công, sắp xếp theo nguyên tắc đó, chính xác, chi li, tỉ mỉ không thua gì một ông già tỉa hoa thuỷ tiên  nhân ngày tết.

Trước hết gia đình nghị Khanh, địa chủ đầu sỏ phản động bị anh Côi, nguyên là bần nông thay mặt cách mạng đến tận nhà bắt giam, thằng Tường, con trai đầu chạy theo … lính Tàu, chống lại cách mạng, quan huyện Môn bị dân nổi lên giết chết…tóm lại, số phận “giai cấp thống trị” không “đứa nào” thoát được “lưới trời”  lồng lộng . Phe cách mạng được “hưởng thành quả”  cũng chia làm ba loại khác nhau. Loại thứ nhất dành cho lớp thị dân ở Hà Nội mới tham gia cách mạng vào tháng Tám năm 1945, công lao đóng góp chỉ ở mức độ may cờ, kẻ khẩu hiệu thì chỉ được hưởng niềm hồ hởi, phấn khởi phất cờ đi đón bộ đội từ chiến khu trở về như  nhạc sĩ Toàn, cô nữ sinh Hằng em gái của cô Phượng vợ huyện Môn… Loại thứ hai gồm những người tham gia từ lúc chưa giành được chính quyền như giáo Hội, anh Côi, Xoan, Mầm, Đông, Phi …những người này hoặc thành cán bộ của chính quyền mới, hoặc vào bộ đội lên Lào Kay đánh nhau với Quốc dân Đảng, những người nghèo còn được  nhận ruộng, nhận đất ở. Loại thứ ba là dân “cách mạng nòi”, con cưng của Đảng, hạt nhân của phong trào. Trước hết là Quyên – em gái Khắc, cán bộ cao cấp hy sinh trong tù. Noi gương anh và được tổ chức móc nối, Quyên cũng bỏ nhà đi hoạt động cách mạng và trở thành cán bộ, sau lấy Lê, một cán bộ cao cấp khác và cả hai vợ chồng đều lên tàu Nam tiến để nhận nhiệm vụ quan trọng hơn. Người yêu và cũng là vợ một đêm của Khắc là An cũng được cách mạng dìu dắt trở thành cán bộ nòng cốt của phong trào. Em ruột của An là Sơn cũng vinh dự đứng vào hàng ngũ bộ đội Nam tiến.

Cái kết cuộc của một cuộc “vỡ bờ” được sắp xếp chi tiết, tỉ mỉ phù hợp tuyệt đối  với “ý Đảng, lòng dân” làm người đọc phải kinh ngạc vì ý thức chính trị đã giết chết ý thức nghệ thuật trong Nguyễn Đình Thi khiến tiểu thuyết của ông nặng mùi tuyên truyền minh hoạ. Ta chịu khó đọc những dòng kết của cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Thi :

“Nắng đã lên, sáng vàng, tươi ấm, chan hoà trên sông núi từ đây sống lại.

Thành cũ, Cột Cờ, vườn Ba Đình, tất cả ngập trong cờ đỏ sao vàng.

Trên một cái đài cao dựng tạm đơn sơ, một người mảnh khảnh, mặc chiếc áo vải kaki, trán cao, đôi mắt sáng mênh mông, cằm điểm một chòm râu lưa thưa, vừa bước lên và đứng lặng mấy giây nhìn cái biển người bát ngát trước mặt.

Và cả cái biển người cũng chăm chú nhìn lên và đợi nghe.

Người ấy bắt đầu nói. Từ các loa phóng thanh vang ra một giọng ấm áp mà vang như tiếng chuông. Cụ Chủ tịch nói câu gì đầu tiên đây ?

“ Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?”

Cả cái biển người ngạc nhiên im  phắc một giây rồi bỗng dưng nghìn vạn tiếng reo trả lời gầm lên thành một tiếng sấm truyền đi xa, xa mãi…”

Đọc đoạn kết cho hơn một ngàn trang tiểu thuyết nêu trên, người ta hiểu được vì sao tới đêm trước thời đổi mới, ở Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3, Nguyễn Đình Thi vẫn còn tự nhận “nhà văn là hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”, vì sao đến khi qua đời Nguyễn Đình Thi vẫn còn ngồi cái ghế quan văn nghệ cao chót vót: Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.

3

“Bất tri tam bách dư niên hậu”, chẳng cần lâu la như thế, chỉ ba năm sau khi ra đời, trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi chỉ còn được  nhắc tới  trong giáo trình văn học cách mạng và trong những công trình “bốc thơm” văn học Nhà nước của các phê bình gia quốc doanh như Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức…

Tháng 4 năm 2003, một vài tháng sau khi Nguyễn Đình Thi mất, một tập truyện ngắn có tựa là “Tuyết”  được xuất bản như là di cảo của nhà văn. “Tuyết” kể về một anh cán bộ tên Nam đi công tác ở nước bạn trên một chuyến tàu lửa:

“Chuyến xe lửa vẫn cứ lao miết trong những rừng thông phủ tuyết trắng mờ, thỉnh thoảng qua một thị trấn loang loáng ánh đèn…”

Người ta chờ đợi Nguyễn Đình Thi viết một thứ gì đó na ná như “Bánh vẽ” của Chế Lan Viên, nhất là khi ông đang ở cách xa nước Việt nửa vòng trái đất, ít nhất cũng một lần trật đường rầy để mà “nhìn từ xa tổ quốc” theo kiểu Nguyễn Duy. Vậy mà không, trong chuyến tàu đi trong đêm tuyết này Nguyễn Đình Thi lại cho nhân vật của mình gặp lại một người quen cũ: một chị cán bộ miền Nam tập kết tên Tư Bình. Chị này ra Bắc được đào tạo thành bác sĩ, trong một lần tới thăm mẹ, đứa con gái duy nhất của chị bị máy bay Mỹ bắn chết. Chịu đựng một nỗi đau quá lớn, nhưng người phụ nữ ấy vẫn không chịu gục ngã trước số phận, chị vẫn đứng vững trong cuộc sống và trở thành một bác sĩ giỏi được cử sang nước bạn học tiếp và được  Nguyễn Đình Thi ca ngợi:

“Hai bên con đường sắt là cánh đồng phủ tuyết trắng bông, đây đó nhô lên những quả đồi thấp tròn thoai thoải. Có một bóng người đàn bà mang ủng cao bước đi trên một con đường giữa hai hàng cây đã rụng hết lá, chỉ còn những cành cây đen sẫm viền tuyết trắng…”

Một truyện ngắn về những mất mát trong chiến tranh nhưng nạn nhân vẫn ngẩng cao đầu và cho dù văn chương có đẽo gọt tới đâu nó vẫn chỉ được nằm trong “tủ sách người tốt việc tốt” một thời tuyên truyền ầm ĩ.

Trong truyện ngắn “Nước chảy” Nguyễn Đình Thi cũng kể chuyện gặp lại bạn cũ, nhưng lần này không phải “người đằng miềng” mà là một ông già …Việt kiều tên Hoàng :

“Anh Hoàng mang tới một chai cô-nhắc Pháp. Anh rót rượu, chúng tôi cùng cười. Giá gặp nhau giữa đường chắc không nhận ra nhau được. Bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi còn gì. Nào, thôi, hai ông già nâng cốc chúc nhau còn sống.” 

Nửa thế kỷ trước, Hoàng và Nguyễn Đình Thi – hai cán bộ kháng chiến gặp nhau và chia tay nhau bằng một bán bún riêu ở Ba La Bông Đỏ gần Hà Đông. Nguyễn Đình Thi lên Việt Bắc theo kháng chiến, còn Hoàng quay lại, “dinh tê” về Hà Nội, năm sau đi du học ở Pháp. Đáng buồn cho Hoàng, anh có cô vợ chưa cưới tên Lệ còn kẹt lại ở Phú Thọ. Trở về Hà Nội, Hoàng viết thư  cho Lệ van xin nàng về thành với anh. Vậy nhưng thật lạ, cô tiểu thư Hà Nội này mê nhạc đến độ tản cư cũng phải chở theo nguyên một cái đàn dương cầm, ấy thế mà lại khăng khăng không chịu bỏ kháng chiến để theo chồng về Hà Nội để tiếp tục đi học đàn, hơn thế nữa, cô còn viết thư khuyên chồng chưa cưới nên quay trở về với kháng chiến. Con gái Hà Nội không lẽ dở hơi đến thế sao? Thế là Hoàng đành đi Pháp một mình, rồi sang Thuỵ Sĩ sau trở thành một bác sĩ giỏi và bây giờ trở lại thăm quê anh xây tặng bà con một bệnh viện nhỏ.

Đó là một gặp gỡ đầy ý nghĩa của hai người bạn: một theo kháng chiến, một du học nước ngoài  và việc so sánh hai cuộc đời, hai con đường sẽ là một công việc vô cùng lý thú của nhà văn trong diễn tả thân phận con người. Tuy nhiên ông không đủ dũng cảm làm chuyện đó, ông lờ cái cốt lõi đó đi, ông chỉ dám hướng câu chuyện  vào cuộc tình không thành giữa Hoàng và Lệ. Không một chút xót xa phận mình, không một lời chúc mừng những thành đạt của bạn cũ, Nguyễn Đình Thi đành “quẹo cua” không dám đi vào “vùng cấm bay” – so sánh hai con đường “ai thắng ai” giữa hai người bạn. Và cuộc gặp gỡ kết thúc :

“Chúng tôi ngồi một lúc nữa, trao đổi ý kiến về những công chuyện ta làm ăn với nước ngoài hiện nay. Đến lúc chúng tôi cùng đứng dậy bước ra hè, đêm đã khuya. Mưa vừa tạnh, mặt đường ướt  loáng, ánh đèn cao áp sáng vàng.”

Một cuộc gặp gỡ và chia tay trong nhạt nhẽo.

Nhạt nhẽo như truyện ngắn của Nguyễn Đình Thi vậy.

 

Một thời mấy ông trong Hội nhà Văn Việt Nam thường riễu mấy bác lãnh đạo rằng :

“ Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài

Hễ đi nước ngoài là có ông ngay…”

 

Nguyễn Đình Thi suốt nhiều năm cũng có chân trong Đảng đoàn, dẫu không đi nước ngoài nhiều như Tô Hoài thì cũng ngang…đi chợ. Bởi thế những khung cảnh nước ngoài thường được ông đưa vào truyện ngắn vào những năm cuối đời. Tuy nhiên ông chỉ mượn khung cảnh vậy thôi, còn nhân vật trong truyện vẫn là những người ông quen biết ở trong nước. Nếu như trong truyện “Tuyết” ông gặp lại cô gái miền Nam tập kết sau này trở thành bác sĩ  thì “Trong rừng  thông”  một cán bộ nghiên cứu tên là Đan đang đi họp hội nghị quốc tế ở châu Âu cũng tái ngộ với một cô Mai quen biết từ hồi mới nổ ra toàn quốc kháng chiến năm 1947. Ngày xưa, Đan còn là anh bộ đội, trên đường hành quân, tạt qua nơi gửi đứa con gái nhỏ thì gặp Mai “cô gái độ mười lăm mười sáu tuổi ấy đi đâu cũng đội mũ nan gài lá như bộ đội….xa gia đình, làm đánh máy và giao liên ở một cơ quan đóng bên bờ sông Lô…”. Sau lần gặp gỡ đó, lẽ ra giữa Đan và Mai đã có một tình yêu đẹp, chỉ tiếc Đan đã có vợ rồi bởi vậy hai người coi nhau như anh em. “Qua hai mươi  mấy năm, cuộc đời hai người đi theo hai ngả cách biệt, cả hai cùng gặp lắm nỗi lận đận, dở dang và và cả những tai nạn hiểm độc nhưng giữa hai người vẫn không có một gợn nhỏ.” . Tuy nhiên trong thời gian đó giữa hai người không thể nói là không có gì, đôi khi họ vẫn gặp nhau, đi chơi với nhau bên hồ Hoàn Kiếm, tặng hoa cho nhau và “ở nơi sâu thẳm trong tâm hồn, một cách tự nhiên không hề suy nghĩ, hai người  đã giữ cái đốm sáng ấy để mà sống.” . Thế rồi ngay cả khi vợ Đan chết, quan hệ giữa anh với Mai cũng vẫn bảng lảng ở mức tình “anh em” như  hồi mới gặp. Tác giả không cho biết vì sao hai người không thể tới được với nhau cho dù bao năm qua “cái đốm sáng ấy” vẫn sáng mãi trong mỗi người. Thế rồi phải chờ tới khi Mai đã lớn tuổi, được đi thực tập tại một thành phố châu Âu nơi Đan cũng đang họp ở gần đó, hai người mới gặp nhau. Và khi đi ngang qua một phố đông, “dòng người đổ đến, chen chúc , làm Mai lúng túng , Đan bỗng:

“Ôi dào, phải thế này…”

Và anh gấp cánh tay, cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Mai đặt lên đấy. “ Thế”. Tự nhiên anh thấy yên tâm hẳn, từ nay anh sống yên tâm bất kể trong đời có sóng gió gì”, còn Mai “cô cũng quay sang cười, đôi mắt toả ra những tia lấp lánh và nắm lấy cánh tay Đan”.

Truyện ngắn “Trong rừng  thông” mang khá nhiều dấu vết không những về cuộc sống riêng tư của Nguyễn Đinh Thi mà còn bộc lộ cái nỗi niềm sâu kín trong ông  “Ôi dào, phải thế…” – phải sống thực với mình, phải yêu đúng với những rung động  con tim mình. Mọi cấm kỵ, mọi rào cản  tới một lúc nào đó sẽ chẳng còn là cái gì. Chỉ tiếc ông không đi xa hơn truyện trai gái để vượt  tới chuyện đời văn, chuyện đời người, ngoái nhìn những bước  đường tư tưởng đã qua để có một hành động phản tỉnh nào đó ứng với câu Đan thốt ra : “Ôi dào, phải thế…”

Trong truyện ngắn “Người bạn cũ”, Nguyễn Đình Thi lặp lại môtif truyện “tái ngộ cố nhân”, nhưng lần này chuyện xảy ở Sài gòn và người xưa vốn là một cô gái  sống phóng túng, tên Thoa “luôn luôn sống tự do theo ý muốn, luôn luôn sống ngoài dư luận và khinh miệt những kẻ đạo đức giả…” . Thế rồi “ Cách mạng bỗng làm thay đổi tất cả”. Cái cô Thoa này từ bỏ hết cả sự lôi kéo của mấy ông luật sư, tri huyện tới chốn phồn hoa mà lại “rời Hà Nội về quê, chỉ lo làm nghề thầy thuốc ở một vùng quê hiền lành êm ả bên con sông Đáy…”. Thế rồi chiến tranh nổ ra, sau bao nhiêu năm phiêu dạt, ông Nam, người bạn cũ của cô Thoa vào Sài gòn tìm tới tận nơi Thoa ở thì bà đã ra người thiên cổ, chỉ để lại cho ông một lá thư  thanh minh dù có bỏ kháng chiến vào Nam thì vẫn “phân biệt được  phải trái, thật giả và nhìn được đâu là chính nghĩa, em u mê sao được trong lúc hằng ngày dân ta chết như thế, khổ như thế…”. Một truyện ngắn nằm trong cả một dòng truyện ngắn miền Bắc sau năm 1975 về “nỗi ăn năn, hối hận của những người bỏ quê hương miền Bắc di cư vào Nam” năm 1954.

“Mưa gió” là truyện đời xưa, viết về một ông đồ trong một đêm mưa lạc vào quán của một người đàn bà biết rất rành chuyện trong giới quan trường thời vua Lê chúa Trịnh. “Học trò cứ nộp ba quan tiền là được đi thi, dân phố gọi những ông đỗ khoa này là sinh đồ 3 quan…” rồi tới chuyện “ quan chánh chủ khảo thì đem gái mặc giả trai vào trường thi để hầu hạ gối  chăn” . Bà còn rõ cả chuyện “cô đào Xuân Hoa vào hầu trong dinh quan Thượng vào đêm quan bà đi vắng, không ngờ bà nhạc mẫu của quan xổ ra đánh ghen mới lộ ra chuyên loạn luân của quan Thượng…” . Rồi cũng đêm đó vợ quan Thượng vào hầu trong phủ Chúa, còn Chúa lại ngủ với cả vợ lẽ của bố vân vân. Bà quán biết nhiều chuyện chi li, chính xác quá khiên thầy đồ phải ngờ rằng bà chính là cô đào Xuân Hoa ngày xưa. Một truyện viết về ngày xưa nhưng hoàn toàn chẳng ngụ ý nói chuyện thời nay tý nào. Có lẽ Nguyễn Đình Thi hiểu rất rõ cấm kỵ “mượn xưa nói nay” nên tránh cho thật xa.

Truyện “Ông lão vẽ tranh”, truyện cuối cùng trong tập truyện Nguyễn Đình Thi cho xuất bản vào cuối đời mà không kịp nhìn thấy sách mới, viết khá rõ về quan niệm sáng tác của ông. Ở một phố nhỏ bên sông có ông lão Dần sau mấy chục năm lưu lạc lại trở về làng cũ với nghề mới trong tay: vẽ tranh. Lão Dần xin tá túc ở nhà ông Chiểu, goá vợ, có con gái nhỏ tên Hồng, bị câm từ nhỏ. Từ lúc đó, cô bé câm quấn quýt bên ông gìa vẽ tranh để đun nước, thay trà, phục dịch cho ông vẽ tranh. Ông vẽ thuê cho dân phố những bức tranh để thờ, đổi lại họ cho ông đấu gạo, con gà, nải chuối… Một lần có khách tìm tới nhờ vẽ tranh là hai cha con ông già Tàu, vốn làm quan bên Phúc Kiến bị án oan trốn sang ta. Ông lão Dần vẽ một bức tranh phong cảnh y như quê cha đất tổ của ông già Tàu khiến ông này rất cảm kích, cho rất nhiều vàng lá. Từ đó ông lão vẽ tranh không vẽ chân dung cho khách nữa. Suốt ngày ông vẽ “nhiều cảnh, nhiều người, nhiều nơi chốn rất khác nhau. Có núi có biển…có đồng ruộng, làng xóm đình chùa…”. Ông vẽ đủ thứ ở trên đời, hoa cúc, chim rỉa cánh , đoàn ngựa thồ, trẻ con nhảy dây, cô gái ở trần tắm dưới đầm sen, hai anh đô vật…nghĩa là ông vẽ gần như tất cả những thứ ông bắt gặp trên đường đời. Ông cứ vẽ miệt mài ngày này qua ngày khác đến gần kiệt sức mà vẫn chưa thoả mãn. Thế rồi một hôm ông lão gượng dậy kiếm  một khung lụa to đặt kín một chiếc bàn rồi bắt đầu vẽ. Ông vẽ gì vậy? Hoá ra ông vẽ  “một cô gái bên gốc cây mai. Cô mặc áo cánh bông, trên đầu đội cái thúng, cô bước đi trên vệt đường từ mỏm đồi xuống…”. Ông vẽ cô gái nào vậy ? Hoá ra là ông vẽ ngay con bé câm. “Ông lấy bút chỉ vào cô bé câm rồi lại chỉ vào cô gái trong tranh…”  Ông nói với nó: “Cháu có thích bức tranh này không? Ông cho cháu đó. Cháu rồi như cô gái trong tranh này đừng sợ gì cả…”. Ít ngày sau ông lão chết. Truyện ngắn này của Nguyễn Đình Thi  rõ ràng gửi gắm một thông điệp: “Hãy vẽ hoặc viết về những gì gần gũi với ta nhiều nhất…”. Quan niệm này thực ra chẳng có gì mới, nó nằm đầy rẫy trong những lời răn dạy của các ông nhà văn già gửi tới đám cây bút trẻ đang tập toạng cầm bút theo “dấu cha anh”.

 

4

Trong nền văn học của Đảng, người ta thấy một hiện tượng là khi rời bỏ “những vấn đề của cách mạng”  trở về “những vấn đề của dân tộc”, những thắt buộc bớt khắt khe, tài năng của nhà văn rất có thể toả sáng. Đó là trường hợp của Nguyễn Đình Thi trong kịch lịch sử: “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” và “ Rừng trúc”.

Năm 1979, Nguyễn Đình Thi bắt tay viết vở kịch về Nguyễn Trãi, cốt nêu vấn đề người trí thức Việt Nam trong quá khứ. Ông đồng tình với  thái độ khác với đạo lý cổ truyền của Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi; hai ông này đều phê phán Khuất Nguyên, như thơ Nguyễn Trãi có câu: “Chớ người đục đục, chớ ta trong”, ngụ ý không thể lánh đời giữ cho riêng mình trong, người trí thức phải biết dấn thân làm việc cho đời. Nguyễn Đình Thi cho rằng khi viết về trí thức, người ta thường đặt vấn đề thân phận trí thức, khi đưa ra những quan niệm chưa được xã hội chấp nhận, người trí thức thường bị đe doạ khủng bố. Chẳng hạn như Khuất Nguyên của Quách Mạt Nhược, hay Galliée của Bertolt Brecht. Bị tra tấn buộc tội là kẻ tà đạo, Galilée phải tạm thời rút lui ý kiến của mình để khỏi bị thiêu sống, tuy nhiên sau đó vẫn  tiếp tục nghiên cứu khoa học theo quan điểm của mình. Nguyễn Đình Thi đặt vấn đề trí thức theo hướng  khác. Ông cho rằng số phận trí thức Việt Nam gắn bó chặt chẽ với dân tộc, do đất nước luôn bị ngoại xâm, sơ hở một tí là mất nước hay bị đồng hoá liền. Vì vậy với ông, ngay cả  Nho giáo và tôn giáo cũng chỉ là những giáo điều khô cứng; người trí thức phải tự tìm lấy con đường giúp dân giúp nước của riêng mình. Vở kịch “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” viết xong năm 1980, đúng vào dịp kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi với ý nghĩa đề cao tinh thần dân tộc cao đẹp của trí thức. Khi vở kịch được Đoàn kịch nói trung ương công diễn, khán giả kéo tới xem chật rạp. Vài ngay sau, bất ngờ có thông tri của Ban bí thư gửi nội bộ, lên án vở kịch  có dụng ý xấu, có ý làm loạn, dựng cuộc trao đổi giữa Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn giống như … cuộc họp Bộ chính trị. Và thế là vở kịch bị khai tử cho tới tận bây giờ.

Vở “Rừng trúc” may mắn hơn, khi những người hạ bút ký lệnh cấm diễn kịch Nguyễn Đình Thi như các ông Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Tố Hữu đều đã đi gặp bác Hồ kính mến cả rồi, vào dịp kỷ niệm hai năm ngày giỗ tác giả, nó được công diễn ở nhà Hát lớn thành phố Hà Nội và được trực tiếp truyền hình đi cả nước.

“Rừng trúc” viết về thời kỳ cả quân Tống lẫn quân Nguyên “mồm rộng răng dài, như đám cháy rừng gặp gió” tuy đang chém giết nhau nhưng đều lăm le xâm lược nước ta. Lúc này Thái sư Trần Thủ Độ đã cướp vợ vua Lý Huệ Tông − công chúa Thiên Cực và ép vua phải nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới lên tám, rồi phải đi tu và tự tử chết trong chùa với câu nói nổi tiếng trong lịch sử: “nhổ cỏ phải nhổ cả rễ”. Sau khi Lý Huệ Tông chết, Trần Thủ Độ gả Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh rồi dàn dựng cho Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh làm vua (1225), tức là vua Trần Thái Tông (1225-1258).

“Rừng trúc” diễn ra vào hơn chục năm sau, tức cả Chiêu Hoàng và Thái Tông đều đã ở tuổi hai mươi. Do Chiêu Hoàng hiếm muộn, vợ chồng Trần Thủ Độ sợ rằng sau này Thái Tông lập hoàng hậu khác thì cả nhà đều nguy nên âm mưu đưa chị của Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, vợ của Hoài Vương Trần Liễu, anh ruột vua Thái Tông, hiện có mang 3 tháng, thay thế em gái lên làm hoàng hậu. Hoàng hậu Chiêu Hoàng nghe mẹ nói về sự dàn xếp đó đã phải thốt lên: “Tôi biết, tôi biết hết …Bà là mẹ ta nhưng lại là vợ của kẻ đã bắt cha ta phải chết… trên gương mặt xinh đẹp của bà ta thấy hai con mắt như hai lưỡi dao, trong cái trán bà toàn rắn ngoe nguẩy toan tính… tôi đã nhìn thấy hết …tôi đã nhìn thấy cha tôi thắt cổ năm tôi lên 8 tuổi đau đớn như thế nào?”.

Tuy mọi người đều nhận ra sự vô luân trong âm mưu của vợ chồng Trần Thủ Độ, nhưng ai nấy đều phải nhắm mắt tuân theo. Chiêu Hoàng ném vương miện hoàng hậu tuyên bố với mẹ, tức vợ Trần Thủ Độ:

“Hai đời vua ông cha ta lầm lỗi để đến nỗi trăm họ phiêu dạt, núi sông nghiêng ngửa, hoạ Thát Đát ngày một đến gần, từ đời đức Lý Anh Tông đã đến tận kinh thành Thăng Long này nhòm ngó và lăm le làm cỏ cả nước. Từ nay mấy người đã chính danh nhà Trần phải ra khỏi cõi quỷ quyệt, u mê mà sáng suốt chăm sóc thần dân”.

Chiêu Hoàng lên chùa đi tu rồi, vua Trần Thái Tông phải lập Thuận Thiên − tuy đã mang thai với người anh ruột của vua tức Hoài vương Trần Liễu − lên làm hoàng hậu. Chỉ có Hoài vương không chấp nhận chịu mất vợ nổi quân làm phản chống lại triều đình. Cảm thấy có phần áy náy về sự xếp đặt tàn bạo của mình, Thái sư Trần Thủ Độ biện bạch: “Tôi không biết chữ, cũng không am hiểu  nhiều đạo thánh hiền; nhưng tôi nghĩ có khác mấy ông nhà nho; nếu chỉ thuộc lòng mấy bộ kinh sử từ đời ông Chu Công, Khổng Tử ở tận đẩu tận đâu mà xoay chuyển được thiên hạ thì hoá ra việc đời ra quá dễ dàng khác gì trò con trẻ …Tôi biết các ông nhà nho cũng chửi tôi đấy, nhưng không dám dám chửi to vì sợ, nhưng tôi nghĩ phải làm thế nào cho được việc là cái lẽ của người cầm nắm việc lớn. Mọi chuyện đều là nhỏ chỉ việc nước là lớn, là đáng kể thôi…”

Bởi vậy mọi hành động xấu xa mọi thủ đoạn bỉ ổi của ông cũng đều là vì… quốc gia cả. Mục tiêu biện minh cho hành động, xem ra Trần Thủ Độ có vóc dáng của lãnh tụ cộng sản sau này.

Thế rồi vua Trần Thái Tông cũng chán việc triều chính, “bỏ ngôi vua như bỏ một chiếc giày rách” lên “rừng trúc Yên Tử … tự cởi trói, tìm tới cõi trong lặng, tìm biết cái lẽ còn mất, có không, vượt  khỏi mọi nổi chìm ở xã hội này…”

Dọc đường lên “Rừng trúc”, vua Trần Thái Tông gặp một ông lão hoà thượng, ông này dùng rượu để thức tỉnh vua:

“Làm gì thì làm đừng quên cái bóng lạ thập thò ngoài hàng rào …nó rất giỏi cưỡi ngựa…ta nghe đã rất gần rồi ông ạ…”

Nó đây là giặc Tàu − nỗi ám ảnh giặc ngoại xâm của dân tộc ta suốt mấy ngàn năm lịch sử. Chính vì nỗi lo đó, tất cả mọi người đã bỏ hết hiềm thù riêng tư và đoàn kết lại. Hai anh em vua Trần Thái Tông giải hoà với nhau khiến Trần Thủ Độ phải kêu lên:

“Tao là con chó trong nhà không biết hai anh em mày lúc nào hoà nhau lúc nào giận nhau. Có điều không bao giờ được mang cái cơ đồ nhà Trần này đổ xuống sông xuống biển, mấy thằng tướng  nhà Nguyên nó chỉ cho một miếng là xong hết…”

Và rồi tất cả mọi người đều bỏ rừng trúc kéo về kinh thành Thăng Long để cùng chung lưng chuẩn bị chống giặc ngoại xâm. Vở kịch thấm đẫm tinh thần cao cả vì đại nghĩa của những con người trí thức như Lý Chiêu Hoàng, Trần Thái Tông và còn nóng hổi tính thời sự cho tới tận bây giờ khi nỗi ám ảnh giặc phương Bắc lại rõ rệt hơn bao giờ hết sau vụ cảnh sát Trung Quốc bắn chết ngư dân Việt ngay trên vùng biển Việt Nam.

Hoá ra chỉ khi bứt khỏi những quy phạm nghiệt ngã của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tài năng của Nguyễn Đình Thi mới thực sự lên tiếng trên những trang giấy. Bởi thế sự nghiệp của ông còn lại với thời gian may ra có mấy vở kịch mà ông đã gặp biết bao phiền toái khi khai sinh ra nó.

Tuy nhiên cái hình ảnh chị hàng thịt coi Nguyễn Đình Thi phát biểu trên truyền hình và thốt lên: “Gớm, cậu đéo “lào” mà “lịnh” thế” – cái hình ảnh đó thật khó phai mờ trong phần lớn những trang viết của Nguyễn Đình Thi.

 

Về sự nghiệp văn học nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, mới đây nhất, đầu tháng 7/2008, con trai ông  – nhà văn Nguyễn Đình Chính trả lời trên báo Công an nhân dân : “về thơ, triết học và nhất là nhạc của cha tôi rất bài bản, nhất là khi sáng tác 2 bài Diệt phát xít Người Hà Nội thì những nhạc sĩ lớn cũng phải ngã mũ kính chào, nhưng văn ông thì không hay”.

Ông Nguyễn Đình Chính đã không nhắc tới một mảng khá quan trọng của Nguyễn Đình Thi – đó là kịch trong đó nổi tiếng hơn cả là “Con nai đen”, vở kịch gây không ít phiền toái cho tác giả đến mức nhà thơ Xuân Sách phải nhắc tới trong thơ chân dung :

“ Bay chi Mặt Trận Trên Cao ấy
                  Quên Chú Nai Đen vẫn đứng chờ.

Về vở kịch này, Nguyễn Đình Thi đã từng kể lại với phóng viên báo Bông Trang của Hội văn học nghệ thuật Sông Bé (số 2, tháng 10/1992):

“Có lần tôi đi Liên Xô dự Hội nghị các nhà văn Liên Xô, được xem vở kịch rối Vua Nai. Vì không có phiên dịch nên không hiểu đối thoại, chỉ qua hình dung, động tác của nhân vật mà đoán ra cốt truyện, trong đó có tình tiết hồn ông vua nhập vào xác con nai.

Khi về nước, vào năm 1950, tôi nghĩ cốt truyện cho vở kịch nói được gợi ý từ Vua Nai. Vở kịch rối có nhiều nhân vật phụ, trong đó có tay phù thuỷ rất giỏi, nhưng tôi chỉ tập trung vào một vài nhân vật chính, xoay quanh hai cái ý chủ yếu là: hồn người nhập vào xác nai và pho tượng đá hễ nghe ai nói dối thì nó cười, để thể hiện chủ đề tư tưởng: nếu thích nghe kẻ nói dối thì sẽ mất người nói thật.”

Vậy là trong “Con nai đen”, − phóng tác theo “Vua hươu”  của Gozzi, − Tô Chiêm ông vua của thần dân, cũng được một ông lão tặng “một pho tượng có phép, không biết ai đã tạc nên. Nó biết ai nói thật nói dối. Nghe ai nói một câu không đúng với ý nghĩ thật trong lòng, thì trên mặt tượng sẽ tức thì biến đổi và pho tượng đá sẽ cười.”. Mô-típ này nếu sử dụng để minh quân phát hiện gian thần, để “sự thật” lột trần cái “giả dối”, để dân gian hô to “vua cởi truồng” thì rất hay. Tiếc thay Nguyễn Đình Thi không dám “chơi bạo” thế, chơi “bạo” vậy  vào thập kỷ 1960 nhất định sẽ mắc vào tội “thất trảm” mượn xưa nói nay, mượn con vật nói con người. Bởi thế ông chỉ dám sử dụng nó trong việc vua…kén vợ. Các “ứng viên” sẽ phải tới trước “pho tượng” để được “sát hạch”. Lần lượt tiểu thư Lan, Đức Hạnh phu nhân, vai người đàn bà nữa đều bị pho tượng “lật tẩy” là “giả dối”, không có tình yêu chân thật với vua. Rồi đến Ngọc Nương, con gái Quận Khung, một tên gian thần, nhân tình của công tử Đãng, một gã phóng đãng, con ông cháu cha, vừa ra mắt vua đã giở trò ve vãn: “Chàng ơi, cánh tay em và thân thể em chẳng có nghĩa hơn tất cả mọi sự thật hay sao! Chàng hãy tới đây và ngả đầu lên ngực em, đắm chìm trong sự vuốt ve của em, đó chẳng là thiên đường ư ?”. Tất nhiên “pho tượng đá” lật tẩy thói “giả dối” của Ngọc Nương để rồi sau cùng vua gặp lại nàng Quế Nga – người yêu thủa hàn vi. Lẽ ra sau những năm tháng nằm gai nếm mật, cùng chàng Tô Chiêm chia sẻ ngọt bùi, nàng Quế Nga đàng hoàng về cung lên ngôi hoàng hậu, vậy mà vì lý do không thể tin được, vì “bảo vệ uy tín cho Tô Chiêm” nàng dứt khoát dứt bỏ tình yêu:  “Anh Tô Chiêm, anh làm vua cả nước, trăm nghìn mắt nhìn vào, em chỉ là một người con gái quê mùa lam lũ, những người sang kẻ quí  người ta sẽ gièm pha, nói ra nói vào, cười thầm anh. Em không muốn có một cái miệng xấu nào có thể nói một câu phạm đến anh. Em không muốn vì em mà anh phải phiền lòng. Vả lại em cũng không muốn làm một cái dây leo, suốt đời nấp bóng anh, làm vướng cho anh. Em không muốn làm vợ vua, em đã nghĩ mãi, anh ạ, em yêu anh, cho nên em đã quyết lánh ra khỏi đời anh. Em đã định không bao giờ gặp lại anh nữa.”

Nếu đúng như vậy thì người ta phải nghi ngờ cái tình yêu Quế Nga dành cho Tô Chiêm liệu có thực là tình yêu không? Tuy nhiên đó chỉ là cái cớ tác giả gán cho nhân vật để tình yêu thêm phần … thử thách và sau cùng tất nhiên là nàng Quế Nga phải tìm về chàng Tô Chiêm để lên ngôi Hoàng hậu.

Đọc đối thoại giữa “chàng” và “nàng”, giữa “quân vương và ái thiếp”  mà lại cứ “anh anh em em” khiến người ta cứ ngỡ như họ là cặp tình nhân vào thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay:

 

TÔ CHIÊM : Quế Nga, anh lại có em đây rồi, anh lại được nhìn thấy em thật đây rồi, không phải chỉ trong giấc mơ nữa.

QUẾ NGA – Anh ! Anh của em

 

Nếu trong “Vua hươu” của Mozzi, vở kịch xoay quanh chủ đề “cái thật và cái giả”, “cái cao thượng và cái ti tiện”, “cái đẹp và cái xấu” thì trong “Con nai đen” cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Đình Thi lại trượt theo cái “quán tính” điệu tâm hồn của thời đại: “lòng yêu nước chống giặc ngoại xâm” – đề tài thời thượng vào lúc đó. Vậy là trong triều chia hai phe. Phe chống “ngoại xâm”, yêu nước thương dân, dựa vào nước “láng giềng Đông Chiếu (chắc là nước Trung Quốc) để giữ gìn bờ cõi gồm có vua Tô Chiêm, hoàng hậu Quế Nga, tướng Trung Dũng, “lão già”. Phe bán nước hại dân dựa vào nước Tây Qua (chắc là nước Pháp) gồm có: Quận Khung, công tử Đãng… Tất nhiên nhân dân đứng về phe chống ngoại xâm. Vậy chỉ còn thiếu vai trò lãnh đạo của Đảng nữa thôi là trong kịch “Con nai đen” có cả một cuộc chiến tranh thần thánh chống ngoại xâm y hệt chiến tranh chống Pháp. Thế rồi phe “bán nước” “cướp được ngôi chẳng mất một mũi tên hòn đạn, chẳng mất một ngày nằm gai nếm mật để tổ chức tạo phản, mà chỉ bằng một  “mẹo vặt” khiến vua biến thành một anh ngờ nghệch, cả ngố đến mức…khó tin. Nguyên là “ông lão” – người đã tặng vua pho tượng đá phát hiện nói dối – có một con vật thân thiết là “con nai đen”. Trong buổi đi săn công tử Đãng âm mưu bắn nó trọng thương đến chết trong niềm thương tiếc của vua Tô Chiêm:

“Tội nghiệp cho con nai đen! Tội nghiệp cho ông cụ hát rong, tất cả thân thích họ hàng không còn ai, chỉ còn con nai đen quẩn quít làm con, mà bây giờ nó lại chết mất !”

Thế là Quận Khung nhảy ra làm trò lừa đảo. Hắn nói có thể cứu được con nai với điều kiện vua phải …chết thay cho nó.

QUẬN KHUNG (tới quỳ xuống) − Muôn tâu Đức vua, thần có phép làm cho con nai này sống lại được …. phép này chỉ linh ứng khi nào một người hay một con vật có máu nóng mới chết chưa quá hai khắc. Người làm phép giơ tay gọi trời, đọc một câu chú, rồi gọi tên người chết hoặc con vật chết và xưng tên mình rồi nói: Hồn ta sẽ đi vào xác người và người sẽ sống lại, thế là linh ứng..”

Thế là vua Tô Chiêm tình nguyện… chết để lấy “máu nóng mới chết chưa quá hai khắc” cứu mạng con nai. Thật là một sự hy sinh ngớ ngẩn, ngu xuẩn, vô  lý hết chỗ nói chứ chẳng phải là nhẹ dạ như các nhà phê bình nhận xét.  Vô lý vậy mà “cái sự tình nguyện chết” của vua Tô Chiêm đó  lại là cái “chốt” của vở kịch.

Sau khi vua Tô Chiêm chết rồi, Quận Khung bắt hồn vua nhập vào xác con nai đen, còn chính hắn lại nhập vào xác Tô Chiêm để lên làm vua. Vậy là từ nay hoàng hậu Quế Nga phải chung sống gối chăn với “hồn anh hàng thịt, da anh Trương Ba” tức xác của vua Tô Chiêm mà hồn lại là tên Quận Khung, đại gian thần. Nắm được ngôi vua rồi, tất nhiên Quận Khung bán nước cho Tây Qua, trừ khử trung thần  trong khi đó hồn vua thật trong xác con nai đen cứ… chạy nhong nhong ngoài rừng, đất nước sắp rơi vào thảm hoạ nô lệ cho giặc ngoại xâm.

Cái “nút” của vở kịch bị thắt chặt đến thế thì không hiểu ông tác giả sẽ mở sao đây? May quá ông lão hát rong già quá, đã đến tuổi… chết:

“Ừ lưng lão hôm nay đau quá, và chân tay lão bủn rủn, lão muốn cất tiếng hát mà không còn đủ hơi sức nữa. Biết làm sao, đó là tuổi già đó con ạ. Rồi mày cũng đến lúc già, nghe không? Tuổi già sẽ đến, con ạ, rồi mày cũng đến lúc sẽ thấy đêm ngày có hơi lạnh của cái chết, nó lởn vởn chung quanh mày, có lúc nó thở mạnh buốt vào đến tận xương tuỷ mày, chẳng khác gì ta bây giờ. Ai cũng sẽ đến lúc già rồi chết con ạ. Nhưng ta không sợ già, không sợ chết đâu.”

Thế là “ông lão hát rong” lăn ra chết … già. Lập tức  vua Tô Chiêm đang nhập hồn trong con nai đen “dọn” ngay sang xác “lão già” để được nói năng, đi lại trở lại là con người. Đọc tới đây bạn đọc có thể thắc mắc: vậy nếu ông lão hát rong chưa chịu… chết già thì sao? Thì Quận Khung vĩnh viễn lên làm vua, nàng Quế Nga xinh đẹp vĩnh viễn làm vợ lão và đất nước vĩnh viễn rơi vào ách ngoại xâm. Vậy là ông nhà văn đã “cởi nút” chỉ bằng một cái cớ hoàn toàn ngẫu  nhiên nếu không nói là …”có nhẽ đâu thế?”.

Vua Tô Chiêm sống lại thành người nhưng trong cái xác của ông lão hát rong thì sao mà cướp lại được ngai vàng, trở lại là Tô Chiêm ngày xưa? Việc tầy đình vậy mà ông nhà văn cho nó diễn ra quá dễ dàng chỉ trong một cuộc đấu khẩu giữa “xác vua” (vua giả Quận Khung) với “xác ông lão hát rong – vua thật Tô Chiêm):

XÁC ÔNG LÃO – Con chó sói đang nhe nanh đòi xé thịt người, bây giờ bỗng khóc lóc, hiền lành như con cừu non. Hỡi các tướng sĩ cùng nhân dân, các ngươi hãy nhìn xem trong kinh đô chúng ta đây, cung điện cổ kính còn chưa hết mùi hôi tanh của giặc để lại. Về nhà quê, làng mạc đồng áng còn ngập cỏ hoang. Nơi đâu cũng thấy người già đông hơn trai trẻ, đàn bà nhiều hơn đàn ông. Nơi đâu cũng thấy bà goá vất vả nuôi con côi. Vậy mà thằng phản nghịch kia lại toan rước quân giặc vào. Nó lại muốn cho xe ngựa dát vàng dát bạc của bọn cướp nước và lũ chó bán nước chạy nghênh ngang đầy đường còn chúng ta thì phải cụp đầu, đi len lén trong bóng tối. Nó lại muốn mắt chúng ta luôn luôn nhìn xuống đất, miệng chúng ta phải khâu lại. Ta hỏi các tướng sĩ cùng nhân dân, chúng ta có thể đầu hàng quân Tây Qua không?

Chỉ mới nghe doạ dẫm vậy mà “vua giả” Quận Khung đã chào thua, rút kiếm đâm vào cổ tự vẫn thì không hiểu  bản lãnh cướp ngôi đã biến đâu mất?

XÁC VUA: Ha ha ha! Ừ ta là Quận Khung đấy. Nhưng chúng mày không làm gì nổi ta đâu.  Chỉ bảy tám hôm nữa, bộ binh Tây Qua sẽ tràn như nước lũ vào đây. Tất cả chúng mày, vua tôi tớ thày sẽ chết, chết hết ! ha ha ha ! Quân Tây Qua sẽ trả thù cho tao. Chúng mày không làm gì nổi tao đâu. Tao không lọt vào tay chúng mày. (Giơ kiếm tự đâm cổ ngã xuống).

Ngày nay đọc lại “Con nai đen” người ta ngỡ ngàng không hiểu vì sao nó lại bị “đánh”. Phải chẳng vì những lời thoại kịch “bóng gió” kiểu như :

XÁC ÔNG LÃO:  Khi bọn ăn cướp làm chúa tể, thì sự độc ác được ca tụng là lẽ phải, sự gian dối được coi là thông minh và mọi tội ác thường trắng trợn phơi bày, chẳng cần giấu giếm. Nhưng nếu những người lương thiện đứng lên và nắm được sức mạnh trong tay, thì những thèm muốn xấu xa ích kỷ lại phải nói lời đạo đức cao thượng, và những điều gian tà phải lén lút tìm cách đội lốt chính nghĩa.

Chắc không phải vậy. Cứ theo như lời kể của chính nhà văn Nguyễn Đình Thi thì :

“Vở kịch được Đoàn kịch nói Nam Bộ dựng. Làm việc với Thế Lữ rất thích. Lại có Nguyễn Đình Nghi trợ lý cho Thế Lữ. Thế Lữ chỉ sửa cho lời thoại bổng trầm hơn, còn nói chung không sửa gì. Hoàng Nam đóng Tô Chiêm, Huỳnh Nga đóng ông lão hát rong, Hoàng Ngọc đóng Quế Nga, Ngọc Bé vai Quận Khung, và Minh Phụng, Hữu Hạnh, Võ Thị Năm, Thu Lê, Kim Cúc… đảm nhiệm các vai khác. Tập xong, diễn tại Nhà Hát Nhân Dân, đông người xem, không còn vé mà bán. Khi diễn vui lắm, diễn đến lớp nhà vua thử người yêu, hễ ai nói dối thì pho tượng cười, khán giả đều ồ lên thích thú. Mọi người thấy đây đích thực là kịch.

Sau khi diễn, có hai luồng ý kiến: một là cho vở kịch đặt ra vấn đề triết học sâu, một bảo là vở kịch phản động, ám chỉ Cải cách ruộng đất đưa ra hình ảnh kẻ thù bên ngoài len vào bên trong đánh người thân tín (qua chuyện Quận Khung đánh Trung Dũng). Trong giới cũng có người như Học Phi đập mạnh vở kịch này.

Một hôm, ông Trường Chinh và Hoàng Văn Hoan đến Nhà Hát Nhân Dân xem. Tôi đứng xa xa, thấy Hoàng Văn Hoan ghé tai ông Trường Chinh nói cái gì đó, tôi thầm nhủ: “Bỏ mẹ rồi!”. Sau đó có lệnh cấm diễn. Trong cuộc họp nội bộ, ông Trường Chinh lên án “Con nai đen” gay gắt lắm, bảo xấu hơn cả “Nhân Văn”, ác hơn. Tôi đứng lên nói không đồng ý với nhận xét đó và đưa ra ý kiến của mình. Nhưng sau đó vở kịch vẫn không được diễn.

Hồi đó sắp họp Đại hội văn nghệ toàn quốc, ông Trường Chinh đọc báo cáo, khen “Vỡ bờ” nhưng phê phán “Con nai đen”. Anh em nói lại, ông Trường Chinh rút ý kiến bảo là vở kịch phản động, chỉ nói là vấn đề nêu ra không rõ ràng. Lúc ấy người ta vẫn sợ những tác phẩm bị coi là “symbole équivoque” (biểu tượng hai mặt). Và vở kịch vẫn cứ không được diễn.”

Tôi hiểu nguyên nhân vì hồi ấy ông Trường Chinh chịu trách nhiệm về Cải cách ruộng đất, nên khi nghe có kẻ nói vở kịch của tôi ám chỉ Cải cách ruộng đất, xử trí oan nhiều cán bộ trung thành với Đảng, mới nghi ngờ, thành kiến với vở kịch…”

 

Quả thực đọc nát cả sách cũng chẳng thấy “Con nai đen” ám chỉ cải cách ruộng đất hoặc ám chỉ “Đảng, Chính phủ” ở chỗ nào ? Ngày nay giải mã ở đủ các tầng ngữ nghĩa cũng chỉ thấy câu chuyện có …”nhiêu đó” mà lại mượn của Gozzi, chẳng nâng được “Vua hươu” vượt lên trên cái tầm của chính nó theo kiểu Nguyễn Du viết Truyện Kiều khai sinh “Đoạn trường Tân thanh” từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân dưới một gương mặt mới; ngược lại, ngôn ngữ kịch của “Con nai đen” khá sơ lược. Nó vẫn chỉ xây dựng được những tính cách “một chiều”, đơn điệu theo kiểu Molière chứ hoàn toàn chưa vượt lên xây dựng được những tính cách nhiều chiều, đa dạng theo kiểu Shakespeares, bởi thế sau này nó cũng chỉ được dựng lại trong một vở kịch mang tên “Truyền thuyết một tình yêu” vui và câu khách.

Sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhớ tới Nguyễn Đình Thi trước tiên người ta  nhớ trường ca “Người Hà Nội” bất hủ, dường như nó đã trở thành “bài hát chính thức” của bao nhiêu thế hệ người Hà Nội dù còn ở lại thủ đô hay đã đi khắp bốn phương trời. Nhớ tới Nguyễn Đình Thi, người ta nhớ tới “Đất nước“,“Lá đỏ”, “Nhớ”…. Và chắc còn ít người biết tới lời nhắn gửi của ông qua bài thơ để lại trước lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng :

Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn
Mong anh em hiểu đừng cười
Tôi gửi lại đây chìa khoá
Tất cả cửa nhà tôi đó
ngổn ngang qua tạm cuộc đời

 

NHẬT TUẤN

Nguồn :

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

TRÍ KHÔN BÁC ĐỂ ĐÂU?

 

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Công Hoan

 

Dân gian có chuyện một con hổ cứ lẽo đẽo theo bác thợ cày đang làm ruộng hỏi bằng được: “Trí khôn mày để ở đâu ?”. Bác thợ cày đáp: “Trí khôn tao để ở nhà”. — “Về lấy tao coi đi” — “Không được, tao về mày ăn thịt con trâu của tao thì sao, phải để tao trói lại đã…”. Chú hổ bùi tai bằng lòng cho bác thợ cày trói lại. Trói hổ xong, bác thợ mới cầm cày phang túi bụi, vừa phang vừa la lớn: “Trí khôn của tao ở đây …”.

Vậy còn  trí khôn các bác nhà văn ta để đâu?

Xin bắt đầu từ nhà văn Nguyễn Công Hoan, người được bác Tô Hoài thổi lớn: “Truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan sừng sững tạo thành một thế Tam Đảo, Ba Vì hùng vĩ, vượt qua hai thời kỳ kháng chiến, tiến vào cách mạng tháng Tám…”.

Ái chà chà, “trái núi biết đi” này tiến vào cách mạng liệu có từ Tam Đảo, Ba Vì  biến thành Everest ?

Trả lời được câu hỏi này không gì bằng những tác phẩm của ông viết sau cách mạng.

Tiếc thay, “bệ đỡ văn hoá” lại là cái nền móng cho nhà văn xây nên ngôi nhà  của mình. Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp Sơ học yếu lược (cấp 1 bây giờ), sau đó vào trường sư phạm ra dậy tiểu học tại hầu hết các tỉnh lẻ: Hải Dương, Lào Kai, Nam Định  rồi đảo Trà Cổ ( Móng Cái) … vừa dậy học vừa hoạt động cách mạng, khó mà có thời gian, điều kiện mà nghiên cứu,  tự học. Sau năm 1946, ông cũng lên rừng như các văn nghệ sĩ khác, học tập chủ nghĩa Mác và đường lối văn nghệ Diên An là chính, về Hà Nội sau năm 54 cũng vậy, cũng miệt mài vào chủ trương chính sách của Đảng; các trào lưu tư tưởng và nghệ thuật hiện đại chỉ là vầng ánh sáng mờ mờ nơi bên kia đại dương.

Văn chương Nguyễn Công Hoan bởi thế trở nên “phú quý giật lùi” so với thời ông viết những “Bước đường cùng”, “Cô giáo Minh”, “Kép Tư Bền”, “Lá ngọc cành vàng” … và hàng trăm truyện ngắn ghi lại được phần nào bộ mặt xã hội thời đó.

Từ sau 1945 (khi đó Nguyễn Công Hoan mới 42 tuổi), “tiến vào cách mạng tháng Tám” rồi “vượt qua hai thời kỳ kháng chiến” đánh Pháp và đánh Mỹ, ngòi bút Nguyễn Công Hoan cứ cạn mực dần.

“Mở hàng” cho cách mạng, năm 1946, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết “Đồng chí Tơ”, kể một anh tù hình sự, trong nhà giam được giác ngộ trở thành người cách mạng, viết dở tới mức chỉ in 20  kỳ trên báo Sao Vàng rồi biến mất tiêu, không tái bản, cũng không ai nhắc tới. Sang năm 1947, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết  “Xổng cũi” thuộc tủ sách Vệ Quốc Đoàn, cũng không để lại dấu vết gì trên chặng đường sáng tạo. Rồi mãi tới năm 1952, Nguyễn Công Hoan mới lại cho ra lò tiểu thuyết “Bà Năm di cư”, năm 1955 tập truyện ngắn “Nông dân và địa chủ” mà chỉ nội hai cái nhan đề cũng đủ biết nó chết yểu. Năm 1963, Nguyễn Công Hoan xuất bản “Đống rác cũ” tập 1 “viết về mặt trái của quan lại phong kiến”, sách ra lập tức bị thu hồi, không phải vì “nghĩ ra ngoài những điều Đảng nghĩ”  mà chính vì dơ dáy,  “tự nhiên chủ nghĩa” quá. Sau này, 1988, cả hai cuốn “Đống rác cũ” 1 và 2 đều được xuất bản và cũng chẳng gây được tiếng vang nào vì … dở quá. Bản kê “sáng tác phẩm” của Nguyễn Công Hoan sau nửa đời đi theo cách mạng chỉ có bấy nhiêu còn lại toàn những “sổ tay văn học”, “kinh nghiệm sáng tác”, “nghĩ gì viết nấy”…

Sau năm 1975, Nguyễn Công Hoan có viết “di bút”: “Hiện nay, truyện ngắn viết dài mà truyện dài cũng viết dài. Rõ ràng cái viết dài này có dụng ý là khoe vốn sống. Kiếm được bao nhiêu vốn, khi cầm bút thì lôi tiệt ra. Hàng tràng, hàng tràng. Vốn bị vét đến tận đáy. Thứ vốn sống …sượng cũng bị lôi ra tuốt…”

Than ôi, những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan viết sau chuyến đi thăm “miền Nam hoàn toàn giải phóng” lại rất tiêu biểu cho  “thứ vốn sống…sượng” mà ông vừa cao giọng lên án.

“Trên chuyến xe lam” (truyện ngắn, 9-1975) đang bon bon về Sài Gòn có  “đại tá Đôn trong ngụy quân của tên đại Việt gian Nguyễn văn Thiệu”. Ông Đôn đang lo “đi trình diện” sẽ bị bắt, ngồi tù và sẽ phải “tẩy não” vì thế ông nhất quyết  trốn và tập hợp chiến hữu âm mưu lật đổ cách mạng.

“May thay” chiếc xe lam ghé lại bến đón khách …một anh bộ đội. Thế rồi trên đường, anh này kể chuyện “xung phong đi đánh Mỹ chứ không phải bị bắt lính” rồi anh lại  đọc cả …. tiểu thuyết Pháp nữa làm một bà mẹ trên xe nắc nỏm: “Cụ Hồ khéo dạy người thật. Tôi thấy anh bộ đội ngoài ấy cũng như quân giải phóng trong này, anh nào cũng hiền lành tử tế”.

Sự việc chỉ có nhiêu đó đập vào mắt ông đại tá làm ông “tỉnh ngộ”, thức tỉnh chính nghĩa cách mạng đến mức sáng hôm sau ông đi trình diện sớm, dứt khoát từ bỏ ý định trốn cải tạo làm phản loạn. Truyện ngắn này nếu che đi tên tác giả, người đọc sẽ tưởng là một cây bút “thông tin văn hoá phường” chứ chẳng ai ngờ người viết nó  lại là một nhà văn lớn như “Tản Viên – Ba Vì”.

Sang truyện ngắn “Nỗi day dứt của một đại tá tỉnh trưởng ngụy quyền”, vốn sống của nhà văn Nguyễn Công Hoan  lại càng …kinh dị hơn. Ông đại tá này ở lớp cải tạo “học đến bài thứ bảy, anh ta càng thấy sỉ nhục về cái tội làm tay sai cho đế quốc Mỹ xâm lược”. Nỗi xấu hổ này làm ông “mất ngủ, ít nói, ít cười… vắt tay lên trán, thở dài thườn thượt…”  Thế rồi không chịu nổi nỗi ăn năn, ông ta phải gặp cán bộ để thổ lộ “Tôi biết là bọn Mỹ-Ngụy đã đào tạo khiến chúng tôi không còn là người, nhưng cách mạng giáo dục để chúng tôi trở lại thành người. Tôi vô cùng cảm ơn cách mạng…”  Tiến lên ta quyết tiến lên làm người …cách mạng, ông đại tá lại thú nhận: “Hồi tôi làm tỉnh trưởng tỉnh XX, thì trong những ngày cách mạng đến giải phóng thị xã, tôi và anh Xiêm cũng học lớp cải huấn này …đã lấy hết công quỹ gồm 13 triệu đồng”. Nay xin “lập công chuộc tội” với cách mạng, ông đại tá đề nghị : “Lấy uy thế tỉnh trưởng, tôi chỉ chia cho Xiêm 5 triệu, tôi giữ 8 triệu. Tám triệu không nuôi sống đời tôi nhưng giữ nó, tôi bị day dứt suốt đời. Tôi cần rũ sạch vết  nhơ, vết ô nhục ấy … tôi xin phép được hiến cho chính phủ số tiền 8 triệu đồng …” Cán bộ còn đang tuyên dương tinh thần “giác ngộ cách mạng qua học tập” thì chợt nghe tiếng gõ cửa cạch cạch. Ai thế? Tưởng ai hoá ra anh Xiêm, đồng sự với ông đại tá, cũng tìm tới cán bộ để xin nộp lại 5 triệu kẻo nó thành vết nhơ ở trong lòng.

Than ôi, to như trái núi Tam Đảo – Ba Vì mà sao đẻ ra hai con chuột nhắt bé xíu thế? Riêng cái truyện “ông đại tá…”  chẳng phải vốn sống đang còn …sượng , bởi lẽ Nguyễn Công Hoan đã bao giờ đặt chân tới trại tập trung cải tạo mà biết mặt mũi, tâm trạng mấy ông “đại tá tỉnh trưởng” ra sao, chẳng qua ông tưởng tượng vậy thôi. Mà trí tưởng tượng của ông lại bắt nguồn từ một hiểu biết quá nghèo nàn.

Sau gần nửa thế kỷ “hành trình tư tưởng”, lẽ ra ông nhà văn phải khôn ra rất nhiều để thấy cái thứ văn chương tuyên truyền trắng trợn đó là một thứ giả nghệ thuật, mà với nhà văn không gì dị ứng cho bằng sự giả dối. Vậy thì trí khôn của bác ở đâu mà đến nỗi “nhận thức” về “kẻ thù” ngớ ngẩn vậy?

Ông tiến sĩ văn học Nikulin (Liên Xô cũ) ca ngợi nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Thời buổi này, phải có lòng dũng cảm không nhỏ, niềm tin lớn lao mới dám bước lên con đường của Ông” (Nguyễn Công Hoan). Ông đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng khen ngợi: “Nguyễn Công Hoan là người không viết theo chiều gió, mà viết theo lý tưởng của mình, có nghị lực, có lòng dũng cảm…”.

“ Có lòng dũng cảm” mà lại viết lách ngu ngơ  đến thế  ư ?

Thì ra trí khôn của bác nhà văn nằm ở …cái gan. Chỉ tiếc cái gan của bác hơi bị bé nên sự nghiệp văn chương theo cách mạng của bác cũng chẳng có gì là …lớn!

NGUỒN:

biên tập từ bản tác giả cung cấp

MỘT BÀI BÁO CỦA TRƯƠNG CHÍNH 1956 VỀ TIỂU THUYẾT “BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”

 

PHÊ BÌNH VĂN HC:

“BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG”, TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN CÔNG HOAN

TRƯƠNG CHÍNH, Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

 

Bây giờ đọc lại Bước đường cùng (1) [(1) Nxb. Văn nghệ xb., 1956. Bước đường cùng xuất bản lần đầu tiên năm 1938 – chú thích của Trương Chính] ta mới biết tại sao cuốn này vừa ra đời đã bị bọn thực dân và phong kiến bóp chết ngay, chúng cấm lưu hành và tàng trữ trong toàn cõi Đông Dương. Trước kia, và bắt đầu từ những chuyện ngắn đầu tiên của ông, Nguyễn Công Hoan đã từng tìm đề tài trong những con người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội. Nhưng những lần đó, ông chỉ tìm những cảnh hài hước, buồn cười, những kết thúc bất ngờ, ngộ nghĩnh. Ta chưa kịp đau thương thì đã bật cười, cười rũ rượi. Tiếng cười làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tan mất lòng căm phẫn. Với Bước đường cùng ông thay đổi cách viết, thay đổi thái độ. Hơn nữa, khác với những nhà văn hiện thực đương thời, ông đã nhìn thấy người nông dân bị bóc lột quá đỗi, không chịu nhẫn nhục mãi, đã vùng dậy. Anh Pha – nhân vật chính trong câu chuyện – cùng Trương Thi và San là những người cùng chung một số phận với anh, cùng bị nghị Lại tịch ký mất ruộng vì không trả được nợ, cả ba anh đã đoàn kết chặt chẽ với nhau, không cho thợ gặt của tên địa chủ ấy xuống gặt lúa của mình. Rồi đến khi hắn đưa lính khố xanh về hộ vệ cho bọn thợ gặt cướp lúa của anh, anh đã hăng tiết lên,

“vớ được một chiếc đòn càn, xông vào nghị Lại, phang một cái thật mạnh vào đầu:

Đồ ăn cướp!

Nghị Lại ngã rúi, kêu rầm rĩ”.

 

Cố nhiên, rồi anh bị bọn lính ôm ghì lấy, đè ngửa ra và trói gô lại, khiêng đi… có lẽ là để đưa lên trình quan. Và chuyện kết thúc một cách ấm ức, nghẹn ngào:

“Pha giơ hai cánh tay bị trói lên trời, nắm chặt bàn tay run run vào ngực để tỏ nỗi căm hờn, nghiến răng rồi nhắm nghiền mắt lại, kệ cho hai dòng lệ nó tuôn ra, và kệ cho ba anh em theo mình, không biết đến đâu mới trở lại…”

 

Sức phản ứng của người nông dân trong Bước đường cùng mãnh liệt hơn sức phản ứng của người nông dân trong Tắt đèn nhiều lắm. Và, cũng tả sự thất bại của người nông dân trước lực lượng còn mạnh của địa chủ, Nguyễn Công Hoan không bi quan như Ngô Tất Tố.

Ngoài điểm mấu chốt ấy ra, Nguyễn Công Hoan còn cho các nhân vật chính diện của mình những ý nghĩ, những lời nói và những hành động tỏ ra sức phản ứng nói trên của người nông dân bắt nguồn từ một sự giác ngộ về giai cấp khá rõ rệt. Họ đã thấy “hai cánh tay mạnh mẽ” của họ là “hai cánh tay làm cho đất cát có giá trị” (tr. 203). Họ đã biết đoàn kết là sức mạnh; Pha nói: …“Người ta chỉ lợi dụng sự rời rạc của anh em mình để bắt nạt. Nhưng đến khi anh em mình biết hợp sức với nhau thì người ta cũng phải kiêng dè. Đẩy một người, có thể làm ngã được, chứ đẩy ba người chụm lại nhau thật chặt chẽ, tôi tính khó lòng nổi” (tr. 197). Anh cũng đã nhìn thấy sự bất công trong xã hội phong kiến. Anh nghĩ: “nghị Lại quanh năm không rời cái bàn đèn thì mỗi ngày thêm giàu có vì ruộng. Mà những người không ngày nào không làm việc cho ruộng, như anh chẳng hạn, thì lại không được hột thóc mà ăn…” (tr. 190). Trời lụt, đi đắp đê dưới làn roi vọt của lính, và dưới những trận mưa tầm tã, anh đã thấy rõ rằng: “ba phần tư lúa má ở nơi mênh mông này mà bọn dân đen vào cứu vớt được, là của nghị Lại. Thì ra chính bọn anh đã cứu sống nghị Lại trong khi thằng này khểnh khơi nằm hút thuốc phiện, nghĩ kế bóp hầu bóp cổ bọn anh” (tr. 179), v.v.

Có thể là Pha chưa nói được trơn tru như vậy, mạch lạc như vậy, có thể là tác giả đã gợi cho anh những điều đó, nhưng nhất định những ý nghĩ đó trước cách mạng cũng đã nằm sẵn trong tâm trí của người bần cố nông làm lụng vất vả quanh năm, để làm giàu cho địa chủ, nhưng nào có phải như thế mà đã được yên thân đâu, còn bao nhiêu phen bị tủi nhục, bị hành hạ! Ngày nay, trong phát động quần chúng, người nông dân còn hùng biện hơn anh Pha nhiều, nhưng sở dĩ tôi trích dẫn những câu trên là vì, cách đây 17-18 năm mà tác giả Bước đường cùng viết được như thế thì không thể không chú ý được.     

***

Tuy vậy, cũng chưa nên vội kết luận rằng, hồi bấy giờ, Nguyễn Công Hoan đã có một lập trường đúng. Nguyễn Công Hoan 1938 không phải là Nguyễn Công Hoan 1956. Điều đó không ai trách. Nhưng cần phải nói ra cho được trung thực, bởi vì bản Bước đường cùng vừa mới được xuất bản so với bản cũ (2) [(2) Bản cũ tôi nói đây là bản 1952 của Xuân Cầu xuất bản, ở nhà in Vĩnh Thịnh – Trương Chính chủ thích] có ít nhiều chỗ đã bị sửa chữa lại, có thể làm cho người đọc hiểu nhầm.

Theo bản cũ thì, viết Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan có một ý định rõ rệt, ý định đó thể hiện ở cách bố trí cốt truyện cũng như ở cách sáng tạo một số nhân vật phụ. Ông chủ trương rằng: thảm trạng của nông thôn Việt Nam sở dĩ kéo dài được là vì người nông dân dốt. Vì dốt, anh Pha mới bị nghị Lại xui giục kiện cáo, vì dốt anh mới không biết trong văn tự hắn viết những gì để đến nỗi 8 sào ruộng nhà bị đoạt mất mà gánh hàng xén của vợ đáng giá ba mươi đồng cũng lọt vào tay quan huyện và các hào lý, lính lệ. Nhiều lần Pha đã thở dài nói với vợ: “Tôi bị bao nhiêu tai vạ về dốt nát…”, “Tôi căm ông Nghị Lại bao nhiêu, tôi lại bực mình về cái tôi dốt bấy nhiêu” (tr. 117). Và nghe lời bác Tân, anh đã bàn với vợ học cho biết chữ quốc ngữ rồi mượn sách báo về đọc! Dư, anh ruột chị Pha, và là người về sau đã giác ngộ cho Pha rất nhiều, cũng nói: “…Tôi may được bác Tân khuyên bảo học hành, nên bây giờ mới rạng ra một tý, biết thế nào là lẽ phải, thế nào là áp bức…” Rồi y còn cho biết rõ chủ trương của y hơn:
Những làng có người đứng đắn trông nom công việc thì chỉ ba năm, bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là đủ có đường giải gạch, có trường dạy trẻ, và làm bao nhiêu việc công ích. Làng ta, dân thất học, nhà cửa ẩm thấp, đường xá lầm lội, nhất là cái ao nửa để tắm giặt rửa ráy, nửa để gánh nước ăn, thật là bẩn thỉu tai hại” (tr. 120). Những ý đó trong bản mới của Văn nghệ vẫn y nguyên.

Tôi tưởng không cần phê bình một chủ trương như thế. Đó cũng là chủ trương của Khương, Duy trong Con đường sáng. Thật ra thì Nguyễn Công Hoan cũng thừa biết vậy, nên có chỗ ông đã sửa chữa lại. Thí dụ câu trong bản cũ:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái dốt nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì dốt nát nên anh quá tin ông nghị, vì dốt nát nên anh không biết trong văn tự ông ấy đã tự do viết những gì…” (tr. 118 bản cũ)
Bản của Văn nghệ sửa chữa như sau:

“Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục, nạn gì cũng do cái nghèo, không có ruộng, nó đẻ ra. Và trong lúc chuếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì nghèo túng nên anh quá tin lão nghị, vì nghèo túng nên anh không biết trong văn tự hắn đã tự do viết những gì…” (tr. 108)

Và nhiều đoạn khác nữa.

Nhà văn có quyền sửa chữa các tác phẩm cũ của mình đã xuất bản từ trước. Nghe nói Goóc-ki đã sửa chữa cuốn Người mẹ không biết bao nhiêu lần, mới đến hình trạng ngày nay. Nhưng đã sửa chữa thì phải sửa chữa cho có hệ thống. Tôi tin rằng một cuốn tiểu thuyết kết cấu cũng chặt chẽ như một bản kịch, cho nên không thể không động chạm đến kết cấu đó khi tư tưởng chỉ đạo không còn được giữ nguyên như trước. Thay thế một vài chữ không thể chuyển được hướng của cả cốt chuyện mà không để lòi ra khe hở. Chỉ nhìn một câu trích dẫn trên cũng thấy chắp vá như vậy không ổn. Anh Pha có thể vì dốt nát mà quá tin ông nghị, vì dốt nát mà không biết hắn đã viết gì trong văn tự, nhưng không thể vì nghèo đói mà lại dễ tin người, vì nghèo đói mà lại để cho người ta lừa mình! Khe hở ở chỗ đó. Rồi những lời nói của bác Tân, rồi cả vai Dư, trong bản mới, trở thành lỏng chỏng, không còn cần thiết như trong bản cũ nữa. Cái chết của chị Pha cũng thế. Trong bản cũ, chị Pha chết vì dốt, vì “tưởng chết đã có số, số ai bị các quan bắt đi thì có tiêm cũng không tránh được. Mà số không chết thì chả tiêm cũng chả việc gì.”  Cho nên, “…một hôm, chị không phải lo nữa, vì nguyên chị yếu, lại ăn bậy, ở bẩn, mà không tiêm phòng, nên thần dịch tả đem chị đi, sau một trận thượng thổ hạ tả có vài giờ đồng hồ” (tr. 199 bản cũ). Trong bản mới của Văn nghệ, chương này vẫn kết thúc y như vậy, nhưng trên đó lại có thêm đoạn: khi y tá về tiêm trừ tả, lý trưởng “giành phần cho vợ con, người nhà và họ hàng của nghị Lại, của chánh phó tổng, của chánh phó hội, của phó lý và của hắn…”  cho nên hết thuốc (tr. 182 bản mới). Việc đó thường xảy ra ở thôn quê, không lạ gì, nhưng không ăn khớp với việc chị Pha chết, vì trước lúc hết thuốc, chị Pha sợ tiêm đau, đã lẻn về trước rồi! Chỗ chắp vá còn thấy rõ chỉ khâu!

Đại để như thế. Ngoài ra, ở những đoạn tác giả không sửa chữa, tất nhiên có thể tìm ra được những nét hài hước của những tập truyện ngắn cũ, không thích hợp với đề tài, với nhân vật, làm cho người ta thấy chối. Đoạn tả anh Pha chờ vợ đẻ, đoạn tả chị Pha chửi gà, đoạn tả căn nhà anh chị Pha ở, đoạn tả anh lính lệ làm nhục chị Pha ở trước công đường, câu đưa tình lưu manh của hắn, câu khôi hài vô duyên của một đứa nào từ trong trại lính đưa ra, đều là những chỗ mà ngòi bút của tác giả vẫn tinh nghịch như trong Kép Tư Bền, Đào kép mới. Tôi lấy làm lạ, sao ông đã có sửa đổi một vài chỗ cho thích hợp, mà lại không để ý đến những chỗ này.

***

Sau cùng, tôi có một số ý kiến về những nhân vật phản diện. Sau khi đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đọc đến Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, tôi thấy hơi ngấy. Cùng một đề tài nên hai tác giả đã xây dựng những nhân vật giống nhau. Tuy ngòi bút của mỗi người có một lối riêng, nhưng các nhân vật đó có những nét chung chung, làm cho người ta không chú ý nhìn kỹ nữa. Đành rằng, địa chủ thì ác, quan thì tham, lính thì nhiễu, nhưng có cần phải tả một thằng địa chủ đểu như nghị Lại, làm văn tự giả mạo bắt anh Pha ấn dấu tay vào, một thằng quan vừa có một diện mạo kỳ khôi, vừa ăn tiền một cách trắng trợn và có những thủ đoạn thu thuế ít thấy như thằng quan huyện này, và những tên lính lệ “cướp giật” như bọn lính lệ huyện này, v.v., người ta mới ghét chế độ phong kiến, mới thấy cần phải đạp đổ toàn bộ giai cấp địa chủ. Đành rằng, trong thực tế, có những thằng như thế. Trong cuộc phát động quần chúng vừa qua, chúng là những tên đầu sỏ bị đưa ra đấu và bị nhân dân trừng phạt một cách xứng đáng. Nhưng tôi tưởng, chúng ta có thể tả những nhân vật phản diện có tính cách… người hơn, mà sức phản ứng của chúng ta không vì thế bớt mãnh liệt. Trái lại, chúng ta sẽ đau xót hơn khi thấy, trong chế độ phong kiến, con người đã trở thành chó sói, ngoài ý muốn của mình, không cưỡng lại được. Cách tập trung tất cả những tính xấu vào nhân vật phản diện có lẽ không phải là cách sáng tạo nhân vật điển hình mầu nhiệm nhất. Cách đó sẽ làm cho nhân vật trở thành kỳ dị, như bị phóng đại, thiếu tính chất hiện thực và do đó mất tác dụng của nó. Tại sao một số tiểu thuyết ngày nay về cải cách ruộng đất dễ rơi vào bệnh công thức, bệnh sơ lược chủ nghĩa? Có lẽ vì chúng ta chỉ tìm tả bọn địa chủ gian ác đầu sỏ, mà gạt ra ngoài không tả bọn địa chủ thường. Chúng ta sợ gặp phải phần… con người ở chúng chăng? Có gặp thì đã sao! Không phải vì bọn địa chủ còn có tính chất người mà chúng ta không ghét chế độ bóc lột địa tô, chiếm hữu ruộng đất nữa! Xây dựng nhân vật phản diện như vậy ấu trĩ chẳng khác gì xây dựng nhân vật chính diện bằng cách gán cho tất cả những cái gì tốt đẹp nhất trên đời! Những nhân vật đó nhất định sẽ trở thành giả tạo, không hiện thực.

 

***

Đọc Bước đường cùng, tôi có cảm tưởng như đọc một tác phẩm vừa sáng tác trong phong trào cải cách ruộng đất vừa qua. Đó là một lời khen. Giữa lúc đế quốc và phong kiến còn có thế lực mà tác giả dám nói lên nỗi phẫn uất cùng độ của người nông dân, thật là can đảm lắm. Xã hội mục nát đến nỗi một lời mỉa mai diễu cợt không còn có tác dụng nữa, phải đả kích, vạch mặt chỉ tên thực sự. Với Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã làm việc đó. Có thể nói Nguyễn Công Hoan là nhà văn đàn anh dẫn đầu trong việc đi sâu vào nông thôn, cảm thông với người nông dân để nói lên nỗi lòng của họ./. (3)

TRƯƠNG CHÍNH
Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 144 (25.10.1956), tr. 3

Chú thích:

(3) Trong năm 1958, tiểu thuyết “Bước đường cùng” lại được Nxb. Hội nhà văn tái bản, với ghi chú ngay ở trang tên sách:  In lần thứ 4, theo nguyên văn bản thảo. Bản in này hiện có lưu tại Thư viện quốc gia, Hà Nội, ký hiệu VN61.15161 (chú thích của L.N.Â., 2017)

MỘT BÀI VIẾT 1956 CỦA TRƯƠNG CHÍNH VỀ TIỂU THUYẾT “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Đây chính là tài liệu mà hồi làm cuốn NGHIÊN CỨU VĂN BẢN “GIÔNG TỐ” tôi đã tìm để đưa vào phụ lục những bài phê bình đáng lưu ý nhất xung quanh tác phẩm. Nhưng hồi ấy chưa tìm được. Bài này đăng báo “ĐỘC LẬP” của Đảng Dân chủ Việt Nam, nhưng sưu tập báo này tại Thư viện Quốc gia lại bị thiếu khá nhiều số, như số này. Tôi thấy bài này khi tìm sưu tập báo ấy tại Thư viện Khoa học xã hội ở 26 Lý Thường Kiệt (bây giờ đã chuyển lên phố Liễu Giai). Nhân thể nói thêm, báo này hồi 1956 có những bài rất … gắt, như 3 bài xã luận của chủ bút Đỗ Đức Dục, hay bài của Trương Chánh Hân yêu cầu xã hội miền Bắc phải có tự do đảng phái, v.v., mà báo Nhân Dân của ĐLĐVN phải phê phán đích danh.

Trở lại bài viết của Trương Chính về tiểu thuyết GIÔNG TỐ; nó được viết và đăng nhân tiểu thuyết “Giông tố” được tái bản (Nxb. Văn Nghệ, 1956). Hình như nhà phê bình Trương Chính đã viết về tác phẩm này ngay khi nó xuất hiện (Nxb. Văn Thanh, 1937). Nếu vậy bài trước của ông hẳn đã in trong các cuốn phê bình của ông trước kia (“Dưới mắt tôi”, 1939; “Những bông hoa dại”, 1941). Tôi chưa có dịp thấy bản in hai cuốn đó nên không rõ ra sao.

Còn bài viết này, nó lưu ý ta quan sát xem nhà phê bình từng sống qua hai chế độ, từng viết ở hai giai đoạn văn nghệ, lúc này viết phê bình ra sao? Hệ quan điểm mới đương thời – nhất là quan điểm giai cấp, thâm nhập cái nhìn tác phẩm của ông ra sao? Và, đâu là chỗ ông buộc phải nói theo thời, đâu là chỗ ông vẫn nói được ý mình?    

Xin nói thêm, tôi theo bản chụp và đánh máy hơi vội, có thể có sai sót. Bạn nào sử dụng nên đối chiếu với báo gốc.

03/9/2016

LẠI NGUYÊN ÂN

————————————–

 

 

 

ĐỌC SÁCH:

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ “GIÔNG TỐ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

TRƯƠNG CHÍNH, báo “Độc Lập”, Hanoi, s.228 (13.10.1956), tr. 6-7.

 

Tôi đang đi tìm trong văn chương hiện thực phê bình của ta trước Cách mạng xem có một cuốn tiểu thuyết nào trong đó tác giả đã dồn lại được bấy nhiêu tội lỗi, bấy nhiêu cảnh xấu xa mục nát của xã hội cũ như trong “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng không. Quả không có. Thường thường thì trong một tác phẩm, người ta cũng chỉ tả một vài khía cạnh nào đó. Nguyễn Công Hoan là nhà văn hay khai thác những đề tài như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan phải dàn trải ra trong rất nhiều truyện ngắn, chứ chưa hề sáng tạo được những điển hình đậm nét như trong “Giông tố”.

Trong “Giông tố”, Vũ Trọng Phụng dẫn ta từ thôn quê “xôi thịt” đến thành thị “bơ sữa”, từ những chốn ăn chơi trụy lạc, gái đĩ, thuốc phiện, đến những cảnh xa hoa, – cũng không kém trụy lạc – trong phòng Tịnh Tâm ở ấp Tiểu Vạn Trường Thành của Nghị Hách. Không kể những nhân vật chính, riêng những con người của xã hội cũ mà Vũ Trọng Phụng đã vẽ bằng một hai nét trong “Giông tố” cũng đã nhiều vô kể. Ở thôn quê thì có đủ mặt các hào lý, gặp cơ hội nào cũng có thể tổ chức ăn uống, hút xách, đem lý sự cùn ra mà cãi vã nhau, rồi chửi bới nhau, nhưng lên đến cửa quan thì run sợ, hèn nhát. Ở thành thị thì thôi, đủ hạng người, thượng vàng hạ cám. Những tay doanh nghiệp sắc sảo, gian hùng, “coi đời như canh bạc lớn”, “làm việc thiện để quảng cáo cho mình”, có chân trong các hội ái hữu, “nhưng kỳ trung không có ai là bạn trên đời”, đã từng chủ tọa những ban giải thưởng văn chương nhưng chưa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết, những tay cổ động kịch liệt cho hội Phật giáo mà lại đi xây hàng dãy nhà săm, những anh làm chủ ba bốn tiệm khiêu vũ mà đánh con gái hộc máu về tội ăn mặc tân thời, những anh vừa là chủ hiệu xe đám ma vừa là chủ dược phòng, bán tem cho hội bài trừ bệnh lao mà lại bán cả thuốc lào mốc, v.v. tóm lại tất cả những hạng người tự xưng là “thượng lưu” những kỳ thực là giả dối, chỉ biết có đồng tiền và danh hão, dùng mọi cách đầu cơ, mọi cách bịp bợm, theo tác giả thì đó là “những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thương giới”. Ai đã từng sống ở Hà Nội lâu năm, nhất là vào khoảng 1930-1939, chắc có thể tìm thấy ở những nét sơ sài trên những con người có thật, bằng xương bằng thịt, đã làm giàu một cách trâng tráo như thế, mà cũng đã trở nên những tai to mặt lớn của xã hội đương thời.

Trong các tiệm hút ở Hàng Buồm hay trong các nhà hát ả đầu ở Khâm Thiên, tác giả lại có dịp cho ta biết một hạng người khác, hạng người trụy lạc. Không kể Vạn Tóc Mai, đứa con hoang của Nghị Hách, xỏ lá xỏ xiên, chuyên môn nói xấu bố với các nhà báo để “làm tiền” bố, có đủ mặt các “nhân viên làng bẹp, những thiếu phụ mặt bự những phấn, môi tái nhợt, tóc búi, cổ đeo kiềng, quần áo tân thời, cổ bánh bẻ”, những tên lính da trắng, da đen, một mụ đầm già. Rồi những ông giáo, những ông cử nhân, bề ngoài thì đạo mạo, nhưng đến đây thì giở đủ trò “đểu cáng”. Tác giả “Giông tố” đã dùng ngòi bút phóng sự của mình để tả lại cuộc đời bẩn thỉu, ô uế, dâm đãng của thành phố Hà Nội dưới thời Pháp thuộc.

Đã hết đâu! Ngoài những cảnh “lầm than” công khai, còn những cảnh lầm than kín đáo hơn. Một bà nhà “tử tế” ngoài bốn mươi tuổi, chuyên môn nhảy đồng bóng và nằm với anh cung văn, một cô thiếu nữ hẹn hò với trai trong khách sạn!

Còn trong chốn quan trường thì như thế nào? Một ông quan thuộc địa “cáo già” dùng những lời nói khéo léo để phỉnh dân và bóc lột dân cho dễ, một ông tuần và một ông quan huyện chuyên bênh vực những người có của. Dám nói đến các “quan Tây” trong tiểu thuyết thì trước đây, có lẽ chỉ Vũ Trọng Phụng mới có gan đó. Đọc những đoạn ông Nghị Hách gặp quan sứ, hoặc đoạn các quan Tây đến dự buổi tiệc của Nghị Hách sau cuộc phát chẩn, ta thấy cái mỉm cười mỉa mai của Vũ Trọng Phụng dưới những câu giả đò thơ ngây. Ngoài những quan cai trị đương chức, lại có những quan cai trị đã về hưu, nhưng “đã để ý đến việc doanh thương từ lâu”, và “hiện làm đại diện cho một hội lý tài lập bên Pháp, vốn liếng có hai mươi triệu phật-lăng”, và đang tìm cách giữ độc quyền nước mắm!

Giở lên trên là những con người. Dưới đây là các sự việc trong xã hội cũ: việc bỏ truyền đơn cờ đỏ cộng sản để vu cáo người khác, cách hối lộ ở chốn quan trường, các luật lệ hà khắc của “Chính phủ”: dạy trên năm người học trò không khai báo thì bị tội, việc tranh cử ở nghị trường, việc thông đồng với các cơ quan ngôn luận để làm hậu thuẫn cho các cuộc tranh cử, những bài “đít-cua” rỗng tuếch, những trò hề của những tai to mặt lớn trong xã hội… Có thể nói, không có cái gì khả ố, lố bịch dưới chế độ cũ mà Vũ Trọng Phụng không đề cập đến.

Để tỏ ra mình hiểu biết nhiều, Vũ Trọng Phụng còn đưa lên sân khấu một cô thầy bói, một ông già đóng vai thầy địa lý và thầy số đi xem đất, đặt huyệt và lấy số tử vi. Dưới ngòi bút sắc sảo của Vũ Trọng Phụng, cả xã hội cũ hiện lên, một cách bi đát, đau thương, mà cũng hết sức tồi tàn, đáng căm giận.

***

Trên là bối cảnh to lớn trong đó có gia đình Nghị Hách, vai chính trong truyện.

Nghị Hách không phải chỉ là một ông nghị gật tầm thường, không phải như nghị Quế của Ngô Tất Tố trong “Tắt đèn”, nghị Lại của Nguyễn Công Hoan trong “Bước đường cùng”. Nghị Quế, nghị Lại chỉ mới là những tên địa chủ ở thôn quê, có lẽ ngoài huyện nhỏ chúng ở, không ai biết đến. Còn Nghị Hách chẳng những là một tên địa chủ có năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh hắn, còn là một nhà đại tư bản, một nhà đại công nghiệp có một cái mỏ than ở Quảng Yên, có ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng, cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng, cách ăn chơi của hắn thì như các vị công hầu khanh tướng trong những tiểu thuyết Tàu, có mười một nàng hầu đặt dưới quyền một mụ quản gia, y như là trong nhà chứa! Không những thế, Nghị Hách lại sắp ứng cử ghế Nghị trưởng, sắp có Bắc đẩu bội tinh, nói tóm lại hắn là một nhân vật quan trọng trong xã hội ngày trước. Và nếu ai tò mò thì có thể tìm thấy tên và ảnh hắn trong cuốn “Những nhân vật ở Đông Dương” in năm 1941!

Cũng như những nhân vật có tên và ảnh trong cuốn sách nói trên, lịch sử Tạ Đình Hách cũng hết sức kỳ khôi. Xuất thân chỉ là một cai khu [sic? phu?] mỏ, thế rồi sang Lào một chuyến, không biết hắn làm ăn ra sao mà khi về thì giàu có thế ấy. Chính con vợ hắn đã kể tội ác của hắn:

− “Ừ đấy! Bà thế đấy!… Nó là cung văn thật đấy, nhưng mà bụng dạ nó tốt, nó ăn ở có nhân có nghĩa… Nó còn hơn cái mặt mày! Đồ lường đảo! Quân giết người! Đồ lường thầy phản bạn! Quân hiếp dâm!… Ừ, mày cứ ly dị bà đi, rồi bà tố cáo tội lường gạt, tội giết người của mày trước pháp luật cho mà xem! Mày về mày hỏi mười một con vợ lẽ của mày xem có phải mày đã hiếp dâm chúng không? Có phải mày đã bỏ bã rượu vào nhà bố mẹ chúng để bố mẹ chúng phải bán rẻ chúng cho mày không?” (trang 335)

Ấy thế mà chính sau khi câu chuyện ở Hải Phòng vỡ lở, làm cho Nghị Hách như có dịp ôn lại cả cái quá khứ bỉ ổi của hắn, chính sau khi đó, trong bữa tiệc thết đãi ở Tiểu Vạn Trường Thành, hắn đã đọc một bài diễn văn rất kêu, nói đến luân lý, đạo đức, bác ái, bình dân, v.v. Chưa bao giờ ngòi bút Vũ Trọng Phụng mỉa mai một cách chua chát như trong bài diễn văn đó!

Nhưng chỗ chưa đúng của Vũ Trọng Phụng là ông chỉ nhấn mạnh vào tính chất dâm đãng của Nghị Hách. Hết hiếp dâm vợ người thì hiếp dâm con gái tơ rồi đem về nuôi như nuôi một lũ gái đĩ. Đành rằng, kẻ có tiền, trong xã hội cũ, dễ sinh ra dâm đãng, nhưng tội chính của nghị Hách không phải ở chỗ đó, mà ở chỗ cướp năm trăm mẫu đồn điền, bóc lột nhân công ở mỏ than Quảng Yên, ở cách làm giàu của anh cai thợ nề trở thành một tên tư bản kếch xù và một nhân vật đặc biệt trong xã hội.

Dâm đãng chỉ là một khía cạnh và không phải là khía cạnh quan trọng nhất của con người nghị Hách. Chỉ tả mỗi khía cạnh đó thì lệch hẳn.

Cái bi kịch xảy ra trong gia đình Tạ Đình Hách có giống như cái bi kịch xảy ra trong gia đình một tên tư bản khác ở Trung Quốc: Chu Phác Viên trong “Lôi vũ” của Tào Ngu: bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của bố, anh em ruột lấy nhau. Nhắc đến Tào Ngu không phải là nói Vũ Trọng Phụng chịu ảnh hưởng của Tào Ngu. Có lẽ Vũ Trọng Phụng chưa hề đọc “Lôi vũ”. Có giống nhau, chẳng qua là vì hai người đều sống trong những xã hội mà đồng tiền làm chủ, và đã thấy, trong đó những người có tiền có thể dùng đồng tiền sắp đặt mọi việc theo ý muốn của mình, nhưng có khi lại phải chịu những hậu quả của mình không đoán trước được. Nghị Hách không bao giờ ngờ rằng thị Mịch lại là vợ chưa cưới của con hắn, mà cũng không bao giờ ngờ Long chính là con đẻ của hắn nữa. Còn Long cũng không bao giờ ngờ mình là con của Nghị Hách, và không ngờ lấy Tuyết tức là lấy em ruột mình, và thông dâm với thị Mịch khi thị Mịch đã làm lẽ Nghị Hách, là thông dâm với vợ lẽ của bố! Trong lúc đó thì “bà Nghị” lại ăn nằm với ông già Hải Vân, đẻ ra Tú Anh mà Nghị Hách tưởng lầm là con của hắn, rồi chính “bà Nghị” cũng lại ăn nằm với một thằng cung văn nữa.

Chuyện trong “Giông tố” thật hết sức rắc rối. Bố trí chừng ấy chi tiết ăn khớp với nhau cho được mạch lạc, rồi “gỡ nút” ra cho được tự nhiên, phải có cái tài của những nhà văn quen viết chuyện trinh thám. Và chính Vũ Trọng Phụng có khi cũng đã sắp đặt câu chuyện của mình y như chuyện trinh thám ông đã xây dựng ra. Ông già bí mật Hải Vân, đưa ra cái “xen” Nghị Hách và ông già Hải Vân cầm súng lục, đi xe hơi trong đêm tối xuống Hải Phòng bắt quả tang vợ Nghị Hách ngoại tình, v.v.

***

Trong “Giông tố” cũng có một số nhân vật mà tác giả có ít nhiều cảm tình. Thị Mịch, Long, Tú Anh, cụ Hải Vân và ông huyện Cúc Lâm. Qua những nhân vật ấy, ta có thể đoán biết được tư tưởng, tâm sự, lập trường giai cấp của Vũ Trọng Phụng.

Thị Mịch là một trong những nạn nhân của xã hội mục nát đó. Đáng lẽ ra thị Mịch phải là người tác giả có cảm tình nhiều nhất. Nhưng không phải như thế! Đối với nhân vật đó, ngòi bút của tác giả không đều. Đoạn đầu ông tả thị Mịch là một cô gái quê khỏe mạnh, đẹp, giản dị, chung tình, và sau khi bị Nghị Hách làm nhục, ông có tỏ một chút thương hại. Nhưng về sau, dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, thị Mịch trở thành một nhân vật rắc rối, phức tạp, dâm đãng và nhất là có những cử chỉ vô duyên, đáng ghét của một người đang ở cảnh nghèo khổ bỗng được đổi sang sống trong cảnh giàu có phong lưu. Trò đời thường có như thế thật, nhưng khi tả một xã hội đáng ghét, rồi tả nạn nhân của xã hội đó cũng đáng ghét nốt, thì người đọc sẽ hết sức hoang mang. Tôi không thể chịu được khi thấy thị Mịch – bây giờ đã là vợ lẽ của Nghị Hách – ngồi khâu vá, nhìn người qua đường qua bao lơn để “ôn lại, cố lục tìm trong trí nhớ để chạy theo một cái ảo tưởng mà luân lý ngăn cấm, để ngoại tình bằng tinh thần, làm một việc khoái lạc mà người ngoài không biết được” (tr. 249). Sự đói khát về tình dục của thị Mịch, những cảm giác đê mê mà thị Mịch tìm thấy sau khi đã “biết mùi đời” trong chiếc xe hòm của Nghị Hách, ở đây, tôi thấy lạc lõng, không hợp với nhân vật, không hợp với ý nghĩa của cuốn truyện. Những trang này, Vũ Trọng Phụng đã viết bằng một thứ mực với cuốn “Làm đĩ” của ông. Tôi có cảm tưởng những câu nói yêu nói nựng quê kịch, những cử chỉ trâng tráo, cái cười – “cười một cách ghê gớm như một người cười mà tự tử” – của thị Mịch, khi thị Mịch sắp “cho Long ái tình” ở trong nhà Nghị Hách, tác giả đã ghi lại được ở trong một xóm yên hoa rẻ tiền ngày trước! Cảm tình người đọc sẵn có từ trang đầu đối với thị Mịch đến đây thì mất hẳn.

Long cũng là một nạn nhân đáng thương khóc [sic? khác?] của xã hội cũ. Tác giả tả Long là một thiếu niên chung tình, vì chung tình mà đau khổ, rồi trở thành một kẻ chơi bời trác táng, không thiết gì đến gia đình nữa, để đến sau cùng thì tự sát cạnh một gái giang hồ. Tình cảnh của Long cũng là tình cảnh của nhiều người khác ta đã biết ngày trước. Đứng về phương diện tâm lý mà xét thì không có gì đáng nói. Nhưng suốt cuốn chuyện dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng anh này hơi ồn ào, có những điệu bộ giả tạo, có những câu nói làm ra vẻ quan trọng, hết sức buồn cười. Tôi thấy Long đóng vai trò của mình vụng về như một anh kép dở trên sân khấu ngoại ô. Đoạn Long “diễn thuyết” trong nhà thương khi thị Mịch tự tử “Thưa các bà, cô bé này là vợ sắp cưới của tôi, v.v.” (tr.59), cả chương Long về Quỳnh Thôn gặp thị Mịch (chương XIV), cả chương Long gặp Tú Anh trong tiệm hút ở Mã Mây (chương XVII) cũng như các đoạn tả Long với Tuyết ân ái với nhau trong khách sạn, đều là những trang dở nhất trong “Giông tố”.

Tú Anh cũng thế. Tú Anh cũng là một vai đóng kém, mặc dù tác giả có nhiều cảm tình với nhân vật này. Tác giả tả Tú Anh là một thanh niên tuấn tú, vị tha, bác ái, có lý tưởng, đối với Nghị Hách, Tú Anh có rất nhiều quyền lực. Đó cũng là một điều hơi lạ đối với một người bố như Nghị Hách. Chính Tú Anh đã bắt Nghị Hách lấy thị Mịch làm vợ lẽ, bắt Nghị Hách gả Tuyết cho Long, rồi về sau, giao cho Long cả thìa khóa tủ sách [sic! tủ bạc chứ?] để Long tha hồ chơi bời trác táng, v.v. Tôi nghiệm thấy, nhân vật nào Vũ Trọng Phụng có cảm tình nhiều nhất, thì nhân vật đó lại trở thành giả tạo nhất. Quen tả những cảnh thối nát trong xã hội, những nhân vật đểu giả, thô bạo, ngòi bút Vũ Trọng Phụng bất lực khi muốn tả một cái gì cao thượng, tế nhị, hay ông cho là cao thượng, tế nhị. Điều này ta còn thấy trong khi tác giả xây dựng nhân vật Hải Vân, ông già cách mạng, bôn ba hải ngoại, “nửa đời người tù tội”, “ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu”, “chín năm giời trốn tránh, gối đất nằm sương” (tr.362), về nước xét tình hình và làm tiền cho Đảng, và công việc hiện nay của ông là “hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc giá cũ hợp nhất với đảng quốc tế mới…” (tr.358). Một người như vậy, mà dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, ta không có cảm tình nhiều. Ông già này có những cử chỉ, điệu bộ của những nhân vật trong các tiểu thuyết trinh thám dở. Một mặt khác, không kể những đoạn thuyết về địa lý, số tử vi, đây là những nghề phụ mà nhà “cách mạng” này dùng để dễ lọt vào đâu cũng được và dễ tránh con mắt tò mò của bọn mật thám, ông già này, trong nhiều trường hợp khác, thực sự tỏ ra rất mê tín, dị đoan, và lại cũng không “đáng kính về nhân phẩm” lắm, như bà Nghị Hách nói. Đọc kỹ chương XXVIII thì rõ. Bắt quả tang bà Nghị nằm với thằng cung văn, ông già Hải Vân nói với Nghị Hách:

− “Bác Hách! Cứ bình tâm! Cưỡng sao nổi số Giời! Trong việc này dễ thường có Hoàng Thiên dúng tay vào, dễ thường có luật quả báo!… Bác nên nhớ lại lúc bác bỏ một chục quả đấm bằng đồng vào hòm tôi để chiếm đoạt vợ tôi!” (tr.336)

Rồi cái giọng khoan thai của ông khi kể lại với Nghị Hách chuyện mấy mươi năm về trước, nghe mới khó chịu làm sao:

− “Phải, Tú Anh là con tôi… Bác đi Lào, tôi ở nhà tù ra, tôi cũng thương yêu vợ bác y như bác thương yêu vợ tôi lúc tôi ở tù vậy! Xin bác soi xét cho cái chỗ hèn yếu của lòng người…” (tr.338)

Câu nói đó là một câu nói trả thù hơn là một câu nói của người thật tâm hối hận về một hành vi chẳng cao thượng gì hơn Nghị Hách mấy!

Cuối cùng đến ông huyện Cúc Lâm. Hình như tác giả mong mỏi rất nhiều đến cái ông huyện này lắm thì phải. Ông ta đỗ luật khoa tiến sĩ ở Ba-lê, từng diễn thuyết và biểu tình với ông văn sĩ Romain Rolland về việc chính trị phạm Đông Dương, về nước làm quan để mưu những việc ích quốc lợi dân. Vì thế ông ta đã từ chối những cám dỗ bằng sắc đẹp và tiền bạc mà Nghị Hách đưa ra lung lạc ông. Ông ta quyết tâm đứng về phe nhân dân, cự lại viên tổng đốc, để rồi đệ đơn từ chức, mở một phòng luật sư và một cơ quan ngôn luận bằng chữ Tây công kích chế độ quan trường, v.v. ! Thật sự không biết như thế nào, và việc về sau ông ta công kích chế độ quan trường có đi đến đâu không, nhưng chỉ nghe ông ta đối đáp lại viên tổng đốc thì hết sức chán:

− Bẩm cụ lớn, nhà nước không cần phải đổi tôi đi đâu xa! Dù tôi không đi làm quan thì tôi cũng không chết đói ạ. Bẩm cụ lớn, chẳng phải nói khoe gì, quan thầy của tôi trong đảng xã hội nay mai mà có sang nhận chức toàn quyền thì lúc ấy tôi lại sẽ làm quan cũng không muộn ạ. Mà nếu có phải làm quan, tôi sẽ cũng không làm quan huyện nữa… (tr.72)

Vũ Trọng Phụng mất năm 1935. [sic! 1939 chứ, chắc lỗi sắp chữ] Lúc sống chắc ông cũng đã được trông thấy những người trong Đảng xã hội Pháp sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương, và chắc ông cũng được trông thấy những người như ông huyện Cúc Lâm ra làm những chức quan to hơn chức quan huyện, nhưng có phải vì vậy mà xã hội Việt Nam thay đổi được gì căn bản! Và cái “óc bình dân” của ông huyện Cúc Lâm cũng chỉ đưa ông đến làm tay sai cho Pháp mà thôi!

Bây giờ nêu những điều đó ra, tôi chỉ cốt nêu cho thấy tư tưởng của Vũ Trọng Phụng bị hạn chế như thế nào. Ông chưa thấy rõ con đường đi đúng, mặc dầu ông rất oán ghét xã hội cũ, xã hội đồng tiền dưới ách phong kiến và thực dân. Ông có những ý định tốt, nhưng ông đặt hy vọng vào những người như Tú Anh, ông huyện Cúc Lâm, ông già Hải Vân như nhau. Cho nên ông không biết xây dựng nhân vật Hải Vân một cách hiện thực hơn, nghiêm túc hơn, để người đọc có cảm tình nhiều hơn nữa.

***

Trong văn chương hiện thực phê bình của ta ngày trước, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có một giá trị rõ rệt. Ông đã dựng nên nhiều nhân vật điển hình, từ Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, cho đến Nghị Hách, Vạn Tóc Mai. Ông đi sâu vào mặt trái của xã hội cũ và đem phơi bày ra cho mọi người thấy. Đó là một ưu điểm. Nội ưu điểm đó cũng đủ giành cho ông một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học nửa thế kỷ nay. Ta không đòi hỏi ông phải xây dựng được những nhân vật chính diện cho thật đúng lập trường. Điều đó trước cách mạng, với tính chất giai cấp của ông ông không làm được. Nhưng ta không khỏi lấy làm tiếc khi thấy ông xây dựng những nhân vật chính diện hơi vụng về. Một mặt khác, cách hành văn của ông cũng “ẩu”, không phải là cách hành văn của một nhà văn mẫu mực, “cổ điển”. Đó là tình trạng chung của một số nhà văn chúng ta ngày trước, phải viết nhanh viết nhiều, bán văn nuôi thân. Nghĩ như vậy thì đáng thương hơn đáng trách.

TRƯƠNG CHÍNH

Nguồn:

Độc lập, Hà Nội, s. 228 (13.10.1956), tr. 6-7.