Trang chủ » Posts tagged 'Xuân Diệu'

Tag Archives: Xuân Diệu

NGUYỄN BÍNH VÀ TUẦN BÁO “TRĂM HOA”

NGUYỄN  BÍNH VÀ TUẦN BÁO TRĂM HOA (1955-1957)

Hai mươi năm sau cái chết của Nguyễn Bính (20/1/1966), tác phẩm của nhà thơ này mới thoát khỏi cõi “im lặng đáng sợ” của sự quên lãng chẳng biết vô tình hay cố ý của những ai ai, trở lại được in ấn, đăng tải, bàn luận. Từ 1986, những sưu tập, tuyển tập thơ Nguyễn Bính liên tục được in ra, liên tục có mặt trên giá các quầy sách các hiệu sách. Tiếp đó cũng đã thấy xuất hiện nhiều cuốn sách nói về con người, cuộc đời và đặc sắc sáng tạo của nhà thơ này. Khá nhiều đoạn đời Nguyễn Bính đã được phác hoạ, dù có khi chỉ thông qua những giai thoại. Tuy vậy, có một loạt sự việc về hoạt động của Nguyễn Bính những năm 1955-57, tức là khi Nguyễn Bính từ miền Nam tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội, làm báo Trăm hoa, rồi  sau chừng như là bị an trí, nghĩa là bị buộc phải về sống ở Nam Định, thì hầu như ít thấy ai nhắc đến. Những bài viết được gom vào các cuốn sách Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương ; Nguyễn Bính, đời và thơ ; Thơ và giai thoại Nguyễn Bính ; Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê, v.v… không nhắc gì đến sự việc này; những người được xem là từng có xúc tiếp, thậm chí cùng làm việc với Nguyễn Bính thời gian nói trên như Trần Lê Văn, Hoài Việt,…nếu nhắc đến cũng chỉ bất đắc dĩ xác nhận “Nguyễn Bính làm báo Trăm hoa“, thế thôi.

Có lẽ, Tô Hoài là người trong cuộc duy nhất tính đến nay có hé ra đôi dòng hồi ức về hoạt động nói trên của Nguyễn Bính. Rải rác trong hai cuốn  Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999), người đọc có thể nhặt được đôi chi tiết về Nguyễn Bính thời làm báo Trăm hoa, tất nhiên là được trình bày hoàn toàn theo cách nhìn của người kể chuyện.

Theo hồi ức của Tô Hoài : “không biết ai đã giúp tiền cho Nguyễn Bính ra những số báo Trăm hoa đầu tiên”, thế rồi “cấp trên” của Tô Hoài “có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà xuất bản giúp Trăm hoa” (khi đó Tô Hoài làm việc ở Nhà xuất bản Văn nghệ, vậy nói “nhà xuất bản” đây có lẽ là NXB ấy − người viết bài này ghi chú), và chính Tô Hoài được giao nhiệm vụ “thuyết phục một tờ báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn“. Theo Tô Hoài, do sự can thiệp này, “tờ Trăm hoa rõ ra một vẻ khác. Không về bè với Nhân văn, như chẳng đi với ai”. Cấp trên của Tô Hoài  nhận xét từng số từng bài, “cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”. Tô Hoài đem nhận xét ấy bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính bảo Tô Hoài : “Trăm hoa phải thế mới là báo của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong !”. Sáng kiến “đầu tư” cho Trăm hoa kết thúc ở đấy. Một buổi tối , Nguyễn Bính rủ Tô Hoài đến ăn ở nhà hàng Lục Quốc. Nguyễn Bính bảo: “Hôm nay ăn cỗ đám ma Trăm hoa !” (Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Hà Nội: Nxb Hội nhà văn, 1992, tr.56 ).

[Ông Hoài Việt, người mà nhà riêng ở gần toà soạn Trăm hoa và đương thời là một trong những cộng tác viên thường xuyên gặp gỡ Trúc Ðường và Nguyễn Bính ở toà soạn báo này, vừa sáng nay 23/12/2005 đã cho tôi biết 2 việc: 1) chính Nguyễn Bính kể với Hoài Việt rằng người khuyến khích Nguyễn Bính tục bản Trăm hoa là Tố Hữu với cái lý: cần tiếng nói của báo chí bên ngoài (tức là không phải báo chí nhà nước) cự lại giọng điệu Nhân văn; như vậy người “cấp trên” mà hồi ký Tô Hoài nói đến chính là “anh Lành” của chàng Tô; 2) nguồn tiền mua giấy để làm hầu hết các số Trăm hoa tục bản là Nguyễn Bính vay của ông Quách Phác ở phố Hàng Khoai; đây mới là nguồn chính, còn lại, nguồn giấy do Tô Hoài  đưa tới, nếu có, cũng là về sau và vì là nguồn trợ giúp có điều kiện nên cũng rất ít và sớm bị cắt như chính Tô Hoài đã nói trong hồi ký của ông. − người viết bổ sung ngày 23/12/2005]

Phải chăng sự việc Nguyễn Bính với tờ Trăm hoa như trên đã dẫn tới những sự việc tiếp theo: do “không về bè với Nhân văn” nên Nguyễn Bính đã không trở thành đối tượng phê phán trong vụ Nhân văn-Giai phẩm; tuy vậy, do tỏ ra “chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết” trước yêu cầu “chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn” nên tựu trung Nguyễn Bính vẫn bị đẩy khỏi Hà Nội, tức là vẫn bị trừng phạt, nhưng hình thức trừng phạt nhẹ hơn ?

Tô Hoài cho rằng chỉ là giai thoại (lời đồn đại chứ không phải sự thật) những chuyện “Nguyễn Bính bị đầy phải xuống xin việc dưới quê, Nguyễn Bính chỉ được biên tập ca dao hò vè”. Theo Tô Hoài thì giản dị là “Nguyễn Bính về Nam Định rồi quyết định ở hẳn dưới ấy chỉ vì Nguyễn Bính đã sắp nên vợ nên chồng với cô hàng cà phê thành Nam. Nguyễn Bính đã bỏ không ở nhà xuất bản Hội Nhà Văn với tôi (tức Tô Hoài − người viết chú) để xin ra làm báo Trăm hoa. Khi Trăm hoa hết tiền phải đình bản, Nguyễn Bính không còn ở biên chế nào thì Hội Nhà văn đã giới thiệu Nguyễn Bính về Nam Định”; “thời kỳ ở Nam Định, Nguyễn Bính đã in nhiều sách trên nhà xuất bản Phổ Thông ở Hà Nội. Trường ca Tiếng trống đêm xuân, lại vở chèo Cô Son đương công diễn. Mỗi lần  lên lấy nhuận bút kha khá, tôi được Nguyễn Bính và Trúc Đường rủ đi đánh chén” (Tô Hoài, Chiều chiều, Hà Nội: Nxb Hội  Nhà Văn,1999, tr.228).

Thật ra, nếu đối chiếu thời gian thì người ta sẽ không dám tin hẳn lời Tô Hoài, là vì Nhà xuất bản Hội Nhà Văn được lập ra sau Đại hội thành lập Hội nhà văn (từ 01/4/1957 đến  04/4/1957), khi đó tờ Trăm hoa do Nguyễn Bính đứng tên tục bản cũng đã chấm dứt hoạt động vài tháng rồi. Thời điểm mà Nguyễn Bính tham gia làm Trăm hoa có thể là giữa tháng 11/1955 (khi tên Nguyễn Bính xuất hiện với chức danh Chủ bút trên bìa tờ Trăm hoa cũ do Nguyễn Mạnh Phác làm Chủ nhiệm) hoặc muộn nhất là tháng 10/1956 (khi ra mắt số 1 tờ Trăm hoa tục bản do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm). Có lẽ đúng ra cơ quan mà Nguyễn Bính đã rời bỏ để đi ra ngoài làm báo Trăm hoa là nhà xuất bản Văn nghệ. Còn chuyện Nguyễn Bính về Nam Định để tìm một công việc làm,  nếu không do Hội Văn nghệ Việt Nam thì cũng do Hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu, − điều này thì có thể suy ra từ (và tin được) hồi ức Tô Hoài .

 

Trên thực tế, Nguyễn Bính về Nam Định trước sau chỉ làm một nhân viên ngoài biên chế của ty văn hoá tỉnh, và ông trưởng ty Chu Văn dường như được giao đặc trách “chăm sóc” Nguyễn Bính, như Tô Hoài viết: “Những ai đã công tác cùng Nguyễn Bính ở ty văn hoá Nam Định có thể biết Chu Văn đã quần Nguyễn đến điều thế nào” ( Chiều chiều, sđd, tr.228 ). Tô Hoài nói điều này trong Chiều chiều chứ không phải trong Cát bụi chân ai (1992), khi Chu Văn (1922-1994) còn sống; hãy nhớ rằng trước đó nữa, cả hai ông, Tô Hoài và Chu Văn, người đề tựa, kẻ viết lời bạt cho Tuyển tập Nguyễn Bính (1986), giọng điệu rất hoà hợp nhau, như đều là hai “cố nhân” của Nguyễn Bính.

Dù có thể là đáng tin cậy đến mức nào, “chứng từ ” của Tô Hoài về Nguyễn Bính như trên vẫn là quá ít ỏi. Trong khi đó, những nhân vật chính từng chịu nạn Nhân văn-Giai phẩm, trong một vài cuộc trò chuyện tương đối cởi mở gần đây, khi được hỏi về trường hợp Nguyễn Bính thì dường như lại  không còn giữ được thông tin nào đáng kể.

Bởi vậy, cần tìm hiểu lại Trăm hoa.

 

***

Nếu ai quá tin vào những chỉ dẫn có sẵn hẳn sẽ nhận được thông tin sai lạc, ví dụ nếu tra trong Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam (Hà Nội: Nxb Văn hoá thông tin, 2001, tr. 652) của soạn giả Nguyễn Thành, sẽ chỉ biết có một tờ Trăm hoa của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nguyễn Bính, ra từ tháng 10/1956.

 

Trên thực tế có hai tờ Trăm hoa :

1/ Đầu tiên là tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Mạnh Phác làm Chủ nhiệm, ngoài tên gọi Trăm hoa ( đặt theo tinh thần “trăm hoa đua nở” đang là khẩu hiệu đương thời ở Trung Quốc, tinh thần này được nói rõ ở lời mở đầu số 1 của toà soạn) còn có phụ đề là “tuần báo tiểu thuyết”, toà soạn  đặt tại 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội, gọi là tuần báo nhưng khuôn khổ lại có vẻ “tạp chí” nhiều hơn. Số 1 ra ngày 2/9/1955 (xin mở ngoặc nói thêm, ở bìa 1 số 1 , dưới chỗ ghi “số 1” có in thêm chữ nhỏ: “tái bản”; chưa rõ liệu có phải Trăm hoa còn có một tiền sử xa hơn chăng? và điều đó hẳn có liên quan với việc chính toà soạn Trăm hoa loại mới, − tức là tờ tục bản sau này, − một vài lần viết rằng tờ báo của mình  ra mắt từ tháng 7/1955?). Tờ Trăm hoa  loại cũ cỡ nhỏ này ra được cả thảy 31 số, tồn tại từ tháng 9/1955 đến giữa tháng 5/1956; mỗi số thường có 26 trang ruột và 4 trang bìa, khổ báo 18×26 cm; ban đầu trang bìa chỉ ghi chức danh Chủ nhiệm Nguyễn Mạnh Phác; từ số 11 (19/11/1955) trên tiêu đề mới xuất hiện thêm chức danh Chủ bút Nguyễn Bính.

 

2/ Tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là Trăm hoa loại mới, toà soạn đặt tại 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; số 1 loại mới ra ngày thứ bảy 20/10/1956; sau số 11 (chủ nhật 6/1/1957) là hai số cuối cùng, đều không đánh số: Trăm hoa  Xuân, và Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, đều phát hành trước và sau Tết Đinh Tỵ. Trăm hoa số thường gồm 8 trang in typo 28x40cm giá bán 300đ; hai số cuối là hai đặc san: Trăm hoa  Xuân gồm 24 trang giá bán 1000 đ, phát hành từ 23 Tết; Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân gồm 16 trang giá bán 600 đ, phát hành đầu xuân Đinh Tỵ.

Cả hai tờ Trăm hoaTrăm hoa loại mới đều là báo tư nhân. Trăm hoa của ông anh là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường) bị “chết” vì lỗ vốn, thì ít lâu sau ông  em là Nguyễn Bính tục bản thành Trăm hoa loại mới, và tờ này cũng lại “chết” vì lỗ vốn .  Ở miền Bắc khi đó báo chí và xuất bản tư nhân còn được phép tồn tại, nhưng phải chịu nhiều thiệt thòi và bị chèn ép mạnh: phải bán với giá cao vì phải mua giấy giá cao hơn so với  giá cung cấp dành cho các báo nhà nước và đoàn thể; các cơ sở phát hành lớn của hệ thống “hiệu sách nhân dân” không nhận bán các báo tư nhân; ngoài ra còn một trở ngại đáng kể là cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương thường gây trở ngại cho phóng viên và người phát hành các báo tư nhân.

 

Đặt trong tình thế toàn bộ nền kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và nông nghiệp tư hữu lớn và nhỏ ở miền Bắc lúc đó đang bước vào “đêm trước” của sự giải thể tư doanh để công hữu hoá, công tư hợp doanh, tập thể hoá, hợp tác hoá, thì thất bại của cả hai tờ Trăm hoa cũng như của tất cả các tờ báo tư nhân ở miền Bắc lúc ấy là không thể tránh khỏi. Tất nhiên Trăm hoa đã “chết” khá lâu, có lẽ vì không chịu đựng nổi tình trạng báo chí tư nhân bị phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, trước khi người ta thực hiện chủ trương xoá sổ toàn bộ báo chí và xuất bản tư nhân trên miền Bắc.

***

Có một điều hơi khác lạ là một mặt thì Nguyễn Bính bỏ cơ quan (nhà xuất bản Văn nghệ hồi 1955 hoặc nhà xuất bản Hội nhà văn từ 1957, đều là đơn vị của đoàn thể, có thể xem là thành phần kinh tế nhà nước) để đi làm báo tư nhân (tờ Trăm hoa của anh ruột và về sau là của chính Nguyễn Bính) nhưng mặt khác ngòi bút Nguyễn Bính bộc lộ ra hồi này lại rất đậm chất cán bộ: các sáng tác đưa in lại hoặc viết mới thời kỳ này thường mang tình cảm chính trị của một chủ thể  “ta-dân-tộc” chung. Ít ra điều này là nhất quán ở Nguyễn Bính tính đến hết năm 1955.

 

Trên tờ Trăm hoa (cũ) đăng một loạt sáng tác mới và sáng tác trong kháng chiến của ông. Đó là các bài thơ Nổi dậy (viết 1948 ở Nam Bộ; đăng TH s.3 ngày 17/9/1955), Máu chảy trên đường phố (viết  ngay sau cuộc biểu tình của học sinh Sài Gòn-Chợ Lớn 19/1/1950; đăng TH s.7 ngày 22/10/1955) với giọng điệu hào hùng tương tự  bài ca Tiểu đoàn 307.

Hai bài thơ viết tháng 10/1954 khi Nguyễn Bính còn ở Nam Bộ: Thao thức (đăng TH s.6 ngày 15/10/1955) là tưởng tượng của tác giả về không khí tưng bừng của những đoàn quân tiến về tiếp quản thủ đô.

Từng lớp người vĩ đại

                 Cuồn cuộn đi trong một biển cờ

                 Đi giữa lòng ngưỡng mộ

                 Đi giữa tiếng hoan hô

                 Những bước chân chiến thắng

                 Rầm rập vang rền nẻo cố đô

                 Người Hà Nội vỗ tay trào nước mắt

                 Ôi ! Tám năm đằng đẵng mong chờ

 

Bài thơ Hẹn hò làm lời một người ở lại miền Nam tiễn bạn tập kết  ra Bắc, cùng tin rằng nay xa nhau để mai gặp lại. Hai bài thơ viết tháng 11/1954 Thương nhauChiếc giường gỗ thông (đăng TH s. 2, ngày 10/9/1955) trên tàu thuỷ từ Nam ra Bắc, nói lòng biết ơn bạn bầu quốc tế  “…Đường dài nghĩa nặng tình sâu / Ăn cơm Trung Quốc đi tàu Liên Xô…”

 

Ngay khi đã sống trong đời thường trên đất Bắc, nhà thơ vẫn sẵn sàng phổ dòng tình cảm chính trị sẵn có như trên vào những sự kiện như đón đoàn nghệ thuật Triều Tiên (bài Thông cảm, đăng TH s.1, ngày 2/9/1955).

 

Thời gian này bài thơ dài Gửi người vợ miền Nam của Nguyễn Bính đã nhanh chóng được in thành sách riêng và ông trở thành một trong những tác giả nổi bật ngay từ đầu của mảng đề tài “thơ đấu tranh thống nhất”. Nhưng có vẻ như ông còn sẵn sàng nhúng bút vào nhiều đề tài thời sự khác của đời sống miền Bắc, ví dụ đề tài cải cách ruộng đất. Truyện ngắn Bức thư tuyệt mệnh (TH, s.13, ngày 3/12/1955), bài thơ Hình ảnh chị (TH, s.14, ngày 10/12/1955) đều có chung mô-tip tố cáo tội ác địa chủ.

 

Tuy nhiên, sang năm 1956, dường như ở Nguyễn Bính có những biến chuyển nào đó, − điều này bộc lộ rõ nhất ở những số đầu của tờ Trăm hoa loại mới do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm; thậm chí cũng đã bộc lộ ở một số bài  đăng ở những số Trăm hoa cũ ra đầu năm 1956 (Xin mở ngoặc để nói rõ rằng, thử tìm trong các nguồn lưu trữ Trăm hoa hiện có của Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội, Thư viện Viện Văn học ở Hà Nội, phối hợp lại vẫn chưa đủ một bộ sưu tập Trăm hoa, cụ thể là vẫn thiếu 14 số Trăm hoa loại cũ từ số 18 đến số 31, tức từ đầu tháng 1/1956 đến tháng 5/1956).

 

Có thể tin rằng một trong những lý do đưa tới biến chuyển ấy là việc Giải thưởng văn học 1954-55 được Hội Văn nghệ Việt Nam công bố (15/3/1956), gây phản ứng mạnh trong giới văn nghệ sĩ. Tất nhiên sẽ khó thấy điều đó thể hiện trên báo chí chính thống, ví dụ trên tờ Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam. Chỉ trên báo hoặc ấn phẩm tư nhân mới thấy rõ sự phản ứng ấy mà rõ nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu (tập I)(1956). Theo bài mở đầu Trăm hoa loại mới (20/10/1956) thì Trăm hoaloại cũ cũng đã từng động đến giải thưởng này, cụ thể là đã đăng 3 bài phê thơ Xuân Diệu, hẳn là phê tập Ngôi sao, nêu nhận xét rằng tuy chất lượng kém nhưng Ngôi sao lại được trao giải nhì (3 bài phê bình này có lẽ Trăm hoa (cũ) đăng khoảng tháng 4 hoặc tháng 5/1956, không nằm trong các số Trăm hoa hiện còn trong các sưu tập ở Hà Nội). Đọc một đoạn bài mở đầu ấy mang tên Hoa lại nở ở trang đầu số 1 Trăm hoa loại mới (tục bản) cũng thấy một giọng điệu khác hẳn Trăm hoa cũ :

 

“Tuần báo văn nghệ Trăm hoa ra đời từ tháng bảy năm 1955. Nó ra đến số 31, sống gần một năm thì nó tạm đình bản. Nói cho văn hoa thì “Trăm hoa chết vì phương diện tài chính khó khăn”. Còn nói nôm na vắn tắt thì “Nó chết vì nó lỗ vốn quá!” Nó chết vì hết tiền. Than ôi ! sớm nở tối tàn, thân Hoa thầm trách số phận mình sao lại sinh vào cửa tư nhân ! Sung sướng thay những bạn đồng nghiệp cơ quan ngôn luận của đoàn thể! có bao giờ chịu cái số phận nửa chừng xuân như số phận Trăm hoa.(…) Một lần nữa xin nhắc lại, sở dĩ Trăm hoa chết là vì hết tiền, chứ không phải vì đã “ngạo mạn” dám đăng ba bài phê bình thơ Xuân Diệu, mà Xuân Diệu vốn là bạn thân của ông Huy Cận thứ trưởng bộ văn hoá, và ông Hoài Thanh trong Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam như một vài dư luận…”

 

Nguyễn Bính đã dành trang phê bình của 2 số đầu Trăm hoa loại mới cho bài viết của chính mình về giải thưởng văn học 1954-55,  nhan đề: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955; dưới nhan đề là mấy dòng chapeaux in đậm: “Đề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng. Bổ sung một số tác phẩm khác“. Đây là bài tiểu luận vào loại khá hiếm hoi trong đời văn Nguyễn Bính, trong đó tác giả đã trình bày thẳng thắn ý kiến của mình về một sự kiện đang chia rẽ giới nhà văn vừa tập hợp về Hà Nội sau kháng chiến chín năm.

Xin dừng lại kỹ hơn ở bài này của Nguyễn Bính.

 

“Kết quả giải thưởng văn học 1954-55 đã gây nên rất nhiều dư luận, nhiều thắc mắc trong giới văn nghệ và yêu văn nghệ. Những dư luận và thắc mắc ấy đã kéo dài đến nửa năm nay. Dư luận càng sôi nổi từ sau lớp học tập lý luận văn nghệ 18 ngày và nhất là sau bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của ông Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu tập I.

Tại sao lại có nhiều dư luận thắc mắc? Chính vì căn cứ vào những tác phẩm trúng giải, người ta thấy có nhiều quyển không xứng đáng, nhiều quyển cần phải xét lại thứ bậc, nhiều quyển tại sao không trúng giải? Thành phần ban giám khảo cũng như lề lối làm việc độc đoán, hẹp hòi, xa rời quần chúng, bè phái, và có cả cái tệ sùng bái cá nhân nữa.

Nhờ có dư luận ấy mà ban giám khảo và Thường vụ Hội Văn nghệ đã kiểm điểm lại vấn đề giải thưởng. Mới đây Hội Văn nghệ có ra một thông báo và ông Nguyễn Tuân (vừa là trưởng ban giám khảo vừa là tổng thư ký) có viết một bài về giải thưởng văn học 1954-55. Theo tinh thần hai văn kiện ấy ta có thể kết luận là ban giám khảo và thường vụ Hội có nhận một số khuyết điểm về quan niệm, tổ chức và lề lối làm việc của giải thưởng”.

 

Sau khi trích dẫn một đoạn trong bài nói trên của Tổng thư ký Nguyễn Tuân và tóm tắt một số điểm trong thông báo của thường vụ Hội Văn nghệ, lưu ý đến một vài đề xuất sửa đổi (đưa tập Ngôi sao từ giải nhì xuống giải ba, sẽ cân nhắc trường hợp quyển Người người lớp lớp), Nguyễn Bính cho rằng các đề xuất đó là quá ít, trong khi những khuyết điểm về nhận thức và tổ chức xét giải đã khiến toàn bộ giải thưởng “mất đi rất nhiều giá trị và tác dụng”. Nguyễn Bính viết tiếp :

 

“Đã đến lúc rất cần và đến mức đòi hỏi phải xét lại toàn bộ giải thưởng, chứ không chỉ hạ xuống hoặc thêm vào một vài tác phẩm là đã đủ cứu vãn được giá trị và tác dụng của nó. Ông Nguyễn Tuân cũng đã nhận rằng “đã có những sai lầm nghiêm trọng”. Vậy thì những sai lầm nghiêm trọng ấy nó có tác hại đến việc chấm giải, cụ thể ra bằng việc cho giải các tác phẩm như thế nào? Không lẽ lại chỉ sai lầm vẻn vẹn ở mấy quyển Ngôi sao, quyển Nam Bộ mến yêu, truyện Cái lu mà thôi? Như vậy sao lại gọi là sai lầm nghiêm trọng? Chúng tôi tưởng đã luộm thuộm thì phải luộm thuộm hết chứ không lẽ chỉ luộm thuộm riêng khi nhận xét quyển Ngôi sao mà không luộm thuộm khi nhận xét các quyển Thơ chiến sĩ, thơ Việt Bắc, Chú Hai Neo. Chúng tôi tưởng đã thiếu trình độ nhận thức thì không lẽ chỉ thiếu khi nhận xét quyển Cái lu mà lại đầy đủ nhận thức khi nhận xét những quyển khác. Chúng tôi tưởng đã nể nang thì không lẽ chỉ nể nang khi muốn giữ địa vị cho quyển Nam Bộ mến yêu mà lại rất nghiêm khắc trong khi chấm quyển Anh Lục hay cái kịch Việt ơi! Hơn nữa biết đâu chẳng có những tác phẩm còn trong bản thảo, gửi dự thi, có giá trị, mà đã phải vùi dập đi vì cái trình độ nhận thức kém, cái tính nể nang, thiếu tập trung, thiếu nghiêm chỉnh, cái lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, cái gò ép, cái gượng gạo, cả cái không lắng nghe ý kiến quần chúng và văn nghệ sĩ của ban giám khảo? Huống chi Thường vụ Hội lại thiếu kiểm tra đôn đốc, thì sao mà biết được rằng giải thưởng có chu đáo hay không? Hay đã bỏ rơi một cách không thương tiếc những tác phẩm dự thi có giá trị? Do đó, vàng thau lẫn lộn, mà đã làm chết yểu đi một số mần non văn nghệ chăng?”

 

Tiếp đó Nguyễn Bính nói riêng về phần giải thưởng thơ mà ông lấy làm trọng điểm ý kiến của mình:

 

“…Khi bắt đầu đặt giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55, anh chị em văn nghệ gặp nhau thường hay nói đùa một câu: “Giải thưởng này, cái gì thì không biết, chứ tập thơ Việt Bắc thì chém chết cũng được giải nhất rồi!” Tất nhiên chúng ta cũng đều hiểu rằng câu nói đó không phải là một câu tán dương. Anh em còn nhớ mãi cái cuộc tranh luận về quyển thơ Việt Bắc, chưa ngã ngũ ra sao thì các ông lãnh đạo Hội đã vội vàng đưa ra mấy bài “bịt lỗ châu mai” lại. Anh em không thể nào quên cái câu ông Hoài Thanh phát biểu: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu. Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung uỷ, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng. Trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất (không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?). Sở dĩ anh em biết trước thế nào tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu cũng được giải nhất là bởi anh em không còn lạ gì cái tệ sùng bái cá nhân của một số cá nhân lãnh đạo Hội Văn nghệ.”

 

Nguyễn Bính nói tiếp về tập Ngôi sao của Xuân Diệu :

 

“Bản thảo tập thơ Ngôi sao đã đưa cho nhà xuất bản Văn nghệ xem. Toàn thể anh  em văn nghệ công tác ở nhà xuất bản đều thấy là dở quá (Tô Hoài, Kim Lân, Phùng Cung, Nguyễn Bính, v.v…), không đồng ý cho in; quyển đó cứ bỏ lay lắt mãi 4 – 5 tháng. Nhưng cấp trên cứ giục phải in. Túng thế, anh em đành lựa một số bài không đến nỗi tồi lắm đưa sang nhà in Quốc gia ( lúc ấy còn coi cả việc phát hành sách báo) thì bên đó cũng không chịu in. Vì lẽ “thơ Xuân Diệu không có độc giả”. Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển. Khi in ra, tập Ngôi sao đã bị dư luận chỉ trích rất nhiều. Điều đó thiết tưởng Thường vụ Hội phải biết rõ hơn ai hết. Xin nói thêm rằng hồi cho in tập Ngôi sao là hồi mà nhà xuất bản Văn nghệ cùng đóng chung một căn nhà với Thường vụ Hội (51 Trần Hưng Đạo), Thường vụ Hội mặc dầu có bưng tai bịt mắt đến đâu chăng nữa chắc cũng  phải nghe dư luận ở những anh em cùng chung một nhà ở, cùng chung một bàn ăn, đối với tập Ngôi sao. Vậy mà đến lúc chấm giải vẫn cứ để cho nó được giải. Mà lại giải nhì! Như thế thì hiền như bụt cũng phải thắc mắc.

Tập thơ Việt Bắc được giải nhất thì không ai lấy làm lạ (như đã trình bày) chứ đến như tập Ngôi sao mà đứng giải nhì thì anh em lấy làm lạ quá! Anh em lạ quá là vì anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn vào văn nghệ như thế ? Anh  em lạ quá là vì anh em không thể ngờ ban giám khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy. Anh em cho đó là một cái nhục. Nhục cho anh em. Nhục cho văn nghệ. Nhục cho cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55. Anh em thắc mắc cao độ và thấy rằng cần phải đấu tranh. Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập Ngôi sao“(lời ông Nguyễn Tuân). Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hoá, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực ? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không? Theo ý chúng tôi, cái chuyện đó là bè phái rõ ràng chứ không phải nể nang luộm thuộm. Chúng tôi kết luận rằng: ở bộ môn nào thì chưa biết chứ trong việc chấm giải thơ thì nhất định là có bè phái.”

 

 

 

Cuối cùng, Nguyễn Bính nêu những đề nghị cụ thể.

 

“Muốn cho cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55 có giá trị toàn vẹn, chúng tôi có ý kiến đề nghị cụ thể như sau :

Về giải thơ: Nên đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì; tập thơ ấy tuy có giá trị thật, nhưng chưa xứng đáng được giải nhất, vì lẽ nó chưa hẳn là một tập thơ tiêu biểu. Loại tập thơ Ngôi sao và tập Thơ chiến sĩ ra khỏi giải thưởng. Tập thơ Chú Hai Neo và tập thơ của Tú Mỡ nên để xuống giải khuyến khích. Cả tập ca dao của Nguyễn Hiêm cũng nên loại ra khỏi giải thưởng.

Về giải bút ký và kịch : Nên loại tập bút ký Nam Bộ mến yêu và cái kịch Việt ơi! ra khỏi giải thưởng.

Về giải tiểu thuyết : Nên loại tập truyện Cái lu ra khỏi giải thưởng. Xét lại tập truyện Đất nước đứng lên xem nên để giải nhất hay nên cho xuống giải nhì, vì tập truyện ấy chưa đúng nội dung một quyển tiểu thuyết. Xét lại thứ bậc quyển tiểu thuyết Anh Lục.

Về ngành nhạc xin nhường ý kiến cho các nhạc sĩ. Tôi vốn không rành về nhạc nên không dám có ý kiến. Và nên bổ sung một số tác phẩm có giá trị, cụ thể như những quyển tiểu thuyết Người người lớp lớp, tập thơ Hoàng Cầm, Lê Đạt, v.v…”

 

Tờ Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính còn theo đuổi việc thảo luận về giải thưởng văn học này ở những số sau, chẳng hạn số 3 (4/11/1956) đăng ý kiến một cây bút miền Nam tập kết là Phạm Tường Hạnh, cho rằng bài nói lại của Nguyễn Tuân (tổng thư ký Hội Văn nghệ và trưởng ban giám khảo) bênh vực hai cuốn Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh và Ngôi sao của Xuân Diệu, “vô hình trung đã phủ nhận dư luận của anh chị em văn nghệ sĩ” về hai cuốn đó. Đến cuối năm 1956, có lẽ nhận thấy những hứa hẹn sửa lại giải thưởng đã gần như trở thành lời hứa hão, số 6(2/12/1956) trong mục “Chuyện làng ta”,Tường Vi nhắc lại câu hỏi: sau góp ý của văn nghệ sĩ và của dư luận, số phận giải thưởng văn học 1954-55 có gì thay đổi không, nhất là đối với cuốn bút ký Nam Bộ mến yêu và tập thơ Ngôi sao ?

Nói chung, đọc lại tờ Trăm hoa, nhất là Trăm hoa loại mới, người nghiên cứu thời nay sẽ thấy rõ tờ báo này có vai trò bổ sung đáng kể cho một đời sống văn học đang bị độc tôn hoá, chính thống hoá, phiến diện hoá, với cách làm sẽ trở nên phổ biến về sau là trong khi một số thông tin được tập trung tô đậm làm nổi bật thì  khá nhiều thông tin khác bị cố tình ém nhẹm vào bóng tối. Vai trò bổ sung này thể hiện ở nhiều bài mục, từ đưa tin và điểm tin văn nghệ, đăng bài điểm sách hoặc phê bình, đăng sáng tác mới, đến “nhặt sâu hoa”,− tên đề mục khá hay, lại gắn với tên ký giả Trại Hàng Hoa (hẳn vẫn là Nguyễn Bính?) dành riêng cho mục này. Không có tờ báo loại này hẳn hậu thế không thể hình dung được rằng Tú Mỡ cũng bị phê phán đích đáng vì những chữ dùng “kém cỏi, tối tăm” trong thơ trào phúng (số 4, 11/11/1956). Không có loại báo này sẽ ít ai biết là hồi ấy đã xuất hiện lối xin-cho sẽ rất phổ biến những năm về sau: Hội Văn nghệ định cử Hoàng Cầm vào đoàn văn nghệ sĩ đi thăm Liên Xô, nhưng lại thôi, “chắc tại Hoàng Cầm còn bận việc viết báo Nhân văn“, lại định cử Hồ Dzếnh và Mộng Sơn đi thay, rồi lại thôi, “chắc tại Hội đã trả hai người lại cho văn nghệ sĩ Hà Nội rồi”, nghe nói sẽ cử Nguyễn Văn Bổng và Anh Thơ đi, vì hai người này “không bận viết báo như Hoàng Cầm” (bài của Tần Hoài trong mục “Việc làng việc nước”, số 5, 25/11/1956). Không có loại báo này sẽ ít ai biết chuyện hồi ấy một ty văn hoá nọ cố tình trao giải nhất một cuộc thi thơ cho một bài thơ kém cỏi chỉ vì tác giả của nó là một công nhân (bài của bạn đọc Bích Lục từ Nam Định, đăng TH số 4). Trước sự kiện một Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956 ra mắt, nếu không có loại báo này hẳn sẽ rất khó lọt đến tay bạn đọc những bài điểm sách như bài của Lưu Thuỷ (số 7, 9/12/1956, Lưu Thuỷ có lẽ cũng là một bút danh khác của chủ nhiệm Trăm hoa?), cho biết dư luận trong giới thấy tuyển tập này thể hiện tinh thần “thiếu đoàn kết”, hầu như chỉ có bài của những ai từ kháng chiến về, những ai ở trong biên chế; và không thể biết có bao nhiêu bài thơ hay bị bỏ quên, bao nhiêu bài thơ dở choán chỗ không hợp lý trong tuyển tập này, một tuyển tập mà “cái dở của một số thơ cũng như số lượng thơ dở trong tuyển tập rõ rệt quá”!

 

Vai trò bổ sung nói trên bộc lộ rất rõ ở việc báo Trăm hoa của Nguyễn Bính lên tiếng về trường hợp bài thơ dài Chiếc lược của Thụy An. Bài thơ kể chuyện một cô gái nghèo đi ở cho địa chủ, chỉ ước có cái lược chải tóc mà không thể có ; một bữa nọ cô mượn trộm chiếc lược của mụ chủ chải tóc để đi dự hội làng, bị mụ bắt được, lấy dao cau gọt sạch tóc mai cô khiến cô không dám đi hội, cũng không dám đến chỗ hẹn gặp người yêu ; khi cải cách ruộng đất thắng lợi, mụ chủ bị đấu tố, cô gái được người yêu tặng chiếc lược mà anh ta lấy được ở chỗ chia quả thực. Trăm hoa in toàn bộ bài thơ này (số 3, 4/11/1956) với phụ đề “Một bài thơ bị vùi dập” và sau đó có các bài nói rõ thêm. Nguyên tại lớp học chính trị cho một số văn nghệ sĩ, một cán bộ của Uỷ ban CCRĐ TƯ đến nói chuyện, có kể câu chuyện một chị cố nông lúc chia quả thực nói chỉ ước ao được một cái lược chải đầu vì từ bé tới giờ chị chưa hề có; cán bộ ấy nói thêm: câu chuyện này khiến Hồ Chủ tịch xúc động và tỏ ý nhắc văn nghệ sĩ khai thác đề tài này. Thuỵ An dự nghe buổi ấy, xúc động với câu chuyện, hăm hở ngày đêm viết xong bài thơ này, nhưng đưa đến Hội Văn nghệ chỉ được khen là khá rồi giới thiệu cho phòng văn nghệ quần chúng của vụ nghệ thuật, cơ quan ấy lại bảo rằng loại thơ này ở đây vô thiên lủng và trả lại, rốt cuộc bài thơ để lay lắt gần một năm không được đăng. Lưu Thuỷ không bảo đây là tuyệt tác, là toàn bích, “nhưng ít nữa nó vẫn cứ hơn, hơn hẳn những loại thơ “tình Bắc Nam” của ông vụ trưởng Đào Duy Kỳ mà vụ văn hoá đại chúng đã cho in hàng vạn cuốn”; Lưu Thuỷ bảo rằng bài như thế của Thụy An thì bị hết cửa nọ đến cửa kia từ chối in, kể cả Hội Văn nghệ, thế mà “biết bao nhiêu bài thơ, chưa nói đến văn, dở òm và nhạt phèo của Xuân Diệu, của Nguyễn Đình Thi, của Huy Cận, vẫn được in ra một cách vô tội vạ”;

 

“Chẳng cứ gì một bông hoa của chị Thụy An bị vùi dập. Vì cái tinh thần bè phái đương ngự trị trong đầu óc một số ông phụ trách báo và sách văn nghệ và văn hoá đại chúng, và trên hết là vì cái tinh thần bè phái ở ngay trong cơ quan lãnh đạo Hội. Tất cả rắc rối (hạn chế tài năng của cá nhân, kìm hãm sự tiến triển của phong trào, thiếu đoàn kết, gây phản ứng…) do đó mà ra cả”( bài của Lưu Thủy, TH số 4, 11/11/1956).

 

Trăm hoa ( số 6, 2/12/1956) còn cho biết, lúc bài thơ nằm mãi không được phổ biến, “chị Thụy An lấy làm ức lắm. Chị có làm ngay một bài thơ khiếu nại lên Hồ Chủ tịch, vì lẽ cái đề tài này Hồ Chủ tịch có nhắn nhủ anh chị em văn nghệ nên sáng tác”. Tiếp đó báo đăng toàn bộ bài thơ kiêm thư khiếu nại ấy, ký Thụy An tức Phương Thao, mà thực ra tác giả còn chưa gửi đi vì sợ làm phiền cụ Hồ. Đây là đoạn cuối :

 

“Chuyện chiếc lược này đây 

Viết thi đua sáng tác 

Đợt đầu tiên chín ngày

Sau đó sẽ liên tục 

Làng văn nhiều chuyện hay

Bảo nhau bỏ cả Tết 

Hăm hở viết mê say  

Vâng lời Bác căn dặn

                        Viết chuyện chiếc lược này

Ít lâu Hội trả lại

Với lời phê : Khá hay  

Nhưng ý Vụ văn hoá:

Hay gì mà kêu hay

 Loại này vô thiên lủng  

Đem trả tác giả ngay  

Nghe phê bình chẳng chuộc  

Tác giả đâm ngẩn ngây  

Lược đẹp hay không đẹp ?

 Vứt bỏ hay dùng đây ?

Luống thương công chuốt lược 

Mà chẳng lọt đến tay

 Sự tình kiện lên Bác

 Hoạ có vơi hận này”.

 

Chuyện tờ Trăm hoa của Nguyễn Bính đưa ra ánh sáng một bài thơ không được đăng dù rất thích hợp về nội dung tuyên truyền đương thời, đã hé ra những phương diện khác của một cơ chế văn nghệ lúc ấy đang đi trên hướng nhà nước hoá, quan liêu hoá, với sự thao túng của những cá nhân nhất định, vốn là nhà văn nhưng đã trở thành quan chức cai quản guồng máy văn nghệ, hành xử theo lối ban phát, cho đăng hoặc không cho đăng, không chỉ căn cứ vào nội dung tác phẩm mà còn căn cứ vào “thành phần” tác giả (ví dụ Thụy An, Hồ Dzếnh, Ngân Giang… là nhà văn ở trong thành thời tạm chiếm, không được đối xử ngang bằng với nhà văn đi kháng chiến trở về) hoặc tuỳ thuộc những  ác cảm, thiện cảm và định kiến cá nhân.

 

Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính chủ yếu là tờ báo về văn nghệ, diện tích trang in dành cho đề tài đời sống xã hội không nhiều, tuy vậy vẫn thấy khá rõ xu hướng bảo vệ cái không gian tự do của sinh hoạt dân sự bình thường khi ấy hoặc đang bị thu hẹp dần hoặc lúc thắt lúc nới. Chẳng hạn, báo đăng ý kiến “Chúng tôi đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu“(số 1); báo nêu chuyện báo bạn đã nêu: tố cáo một vị thủ trưởng cấm một đôi trẻ ở cơ quan mình kết hôn với nhau với lý lẽ: “anh” xuất thân nông dân, “chị” là con một tiểu chủ; hoặc báo tố cáo một thủ trưởng khác đòi kiểm thảo một đôi trẻ tìm hiểu nhau bằng thư từ lại còn gửi kèm những bưu ảnh Tháp Rùa tặng nhau, cho thế là tiểu tư sản!(số 2); báo đăng bài vè của bạn đọc trách mấy ông cán bộ dân phố cứ khuyên người ta đừng mua báo tư nhân (số 4), v.v… Báo cũng thường đăng ý kiến bạn đọc kêu ca tình trạng cửa quyền của mậu dịch quốc doanh. Tranh biếm hoạ thường nhắm vào đề tài này: diễu thói “chụp mũ”(Bùi Xuân Phái vẽ, số 2); diễu kẻ tự xưng cán bộ khi đòi mua 2 gói Đại Tiền Môn ở quầy bách hoá nhưng lúc xông vào nhà dân hành hung người ta lại chỉ “lấy tư cách cá nhân” (Bùi Xuân Phái vẽ, số 3); tả nỗi mừng của các bà nội trợ từ nay khỏi phải dấu con gà con vịt mua được xuống đáy rổ tránh con mắt dò xét của cán bộ thuế và hộ khẩu như trước (Bùi Xuân Phái vẽ, số 4); nỗi mừng của người đàn ông từ nay tối về ngủ chỗ vợ khỏi lo trình báo hộ khẩu (Tê Hát vẽ, số 5), tả anh chàng lảo đảo như trúng gió khi vừa chen mua hàng mậu dịch (Văn Tôn vẽ, số 7), mô tả “quái vật hai đầu”, một đầu nịnh trên, một đầu nạt dưới (Trần Hưởng và Văn Tôn vẽ, số 10), v.v…Mục “Hoa cười” ở các số Trăm hoa cũng thường có các mẩu chuyện cười tương tự như vậy.

 

Trăm hoa loại mới của Nguyễn Bính chỉ tham gia một số ít chủ đề chính trị, ví dụ rõ nhất là đưa tin Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại hội nghị lần thứ 10 ra 3 bản thông cáo (1/ nhận định kết quả và nghiêm khắc kiểm điểm sai lầm trong công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức; 2/ cử lại Tổng bí thư sau khi cựu tổng bí thư Trường Chinh tự kiểm thảo và xin từ chức; 3/ thi hành kỷ luật 2 uỷ viên TƯ là Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương), bày tỏ sự hoan nghênh nhiệt liệt trước “thái độ dũng cảm và chân chính cách mạng” của TƯ Đảng LĐVN “đã công khai tự kiểm điểm và đề ra những biện pháp cụ thể” để sửa chữa những sai lầm đã mắc phải, bày tỏ nhiệt liệt tin tưởng tài đức của Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ mới: Chủ tịch Đảng kiêm Tổng bí thư (bài của Trần Nguyên, số 3 và số 4). Tiếp tục chủ đề này, Trăm hoa có những bài khẳng định Toàn đảng toàn dân đoàn kết là yếu tố quyết định sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. “Phải nói rằng một trong những nguyên nhân mắc phải sai lầm là mũi nhọn chuyên chính đã chĩa cả vào ta và bạn” … “Máu và nước mắt đã chảy nhiều trong cuộc chiến tranh cách mạng. Máu và nước mắt của một số người lại chảy trong cải cách ruộng đất. Nỗi đau khổ của một số đồng bào nông dân, của một số đảng viên bị xử trí oan không phải là không chính đáng” … “Những hiện tượng rạch mồm, chửi bới, đánh xé, doạ nạt, những hiềm khích giữa nông dân và cốt cán, giữa nông dân với nhau, những mâu thuẫn ở trong Đảng ngoài Đảng lúc này đều không lợi cho việc sửa sai, cho việc củng cố miền Bắc, đấu tranh giành thống nhất”(bài ký Trăm Hoa, số 5). Cũng trên chủ đề này còn có bài báo dài 2 kỳ (số 6 và số 7) của Trăm Hoa (ký tên toà soạn nhưng chưa rõ ai viết) Để phát triển chế độ ta, phải bảo đảm cho nhân dân được tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của Nhà nước, không những đặt vấn đề tiếp tục sửa sai trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, trong công tác kinh tế tài chính, mà còn nêu vấn đề “xây dựng một chế độ pháp trị dân chủ”.

 

Nếu nói riêng về thái độ của Trăm hoa đối với báo Nhân văn và các cuốn Giai phẩm của nhà xuất bản Minh Đức, thì ngay từ số đầu Trăm hoa loại mới đã có bài, không cổ vũ cũng không đả kích mà chỉ trêu chọc, cười cợt. Chẳng hạn số 1 đã có hí họa của Tê Hát “minh hoạ bài của Trương Tửu trong Giai phẩm mùa Thu tập II”, vẽ Trương Tửu quỳ khấn trước 5 thần tượng (1/ Mác-Lênin, 2/ Khơrutsốp, 3/ Đảng Lao động VN, 4/ Đại hội 20 ĐCS Liên Xô, 5/ Lục Định Nhất với khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”) xin được chư vị “phù hộ” để mình “choảng” bọn họ một trận cho mất cái thói sùng bái cá nhân! Cũng ở số 1 trong mục “Việc làng việc nước”, Trăm Hoa đùa Phan Khôi: trong bài Ông bình vôi đăng trên Nhân văn, ông bảo cái gì người ta sợ thì người ta gọi bằng ông, vậy gặp ông  (Phan Khôi) bây giờ biết gọi bằng gì? Ngay khi thử đặt ra để giải đáp nghiêm túc câu hỏi :  “trong bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, ông Phan có nói xấu chế độ không?” Hàm Tiếu (mục “Việc làng việc nước“, số 2) đem dư luận đang ồn ào về bài ấy so sánh với những lời bình “bách nhân bách khẩu” của hàng phố khi đứng xem cặp vợ chồng già nhà nọ cãi nhau. “Vậy thì ông Phan Khôi có nói xấu chế độ không? Có. Ông ví von chế độ dân chủ cộng hoà của chúng ta với chế độ triều Gia Long Tự Đức gì gì đó, thế là quả nhiên nói xấu chế độ rồi. Giấy trắng mực đen còn rành rành, ai mà cãi cho ông được! Nhưng nếu gán ghép cho ông tội này tội khác, thì cũng chẳng khác mấy người đứng xem cãi nhau lúc nãy lên án bà hàng xóm của tôi là đa ngôn đa quá, cố tình phá phách gia đình ruồng rẫy chồng con! Và có kẻ còn toan gieo tiếng cho bà là có cả chuyện ngoại tình (!) Không tin xin cứ đợi ông Phan Khôi đi Trung Quốc về mà hỏi, hay hỏi bà láng giềng tôi xem có phải mặc dầu có quá lời có mỉa mai soi móc chồng nhưng rồi lại mỉm cười với chồng, lại lọm khọm đi chợ xa mua sắm lại những thứ chính tay mình đã trót đập vỡ để bày biện lại cửa nhà cho đẹp? Hay, nói mới lạ làm sao chớ? Quên nhau làm sao cho nỡ! Ai bảo họ quên nhau được nào?”   Những tin tức về việc báo Nhân văn bị cảnh cáo được Trăm hoa (số 4, 11/11/1956) nói rõ với bạn đọc của mình: đó là vì nhân viên của báo này quên nộp lưu chiểu 3 số liền “chứ không phải tại báo Nhân văn nói mạnh quá, chứ không phải tại báo Nhân văn dám “xúc phạm” Nguyễn Chương tiên sinh của báo Nhân dân. Và cũng không phải tại sở Báo chí có thành kiến với báo Nhân văn đâu !”

 

Một thái độ khác hẳn, ngược hẳn thái độ trên đây, đối với báo Nhân văn và  các cuốn Giai phẩmĐất mới, đã xuất hiện trên Trăm hoa từ số 8 (16/12/1956). Điều này thật ra là hơi muộn nếu so với thời điểm báo Nhân văn ra số 5 (20/11/1956), số cuối cùng được phát hành, và ngay sau đó một chiến dịch phê phán Nhân văn được phát động mà cả giới báo chí phải hưởng ứng.

 

Chỉ có 3 số Trăm hoa có bài phê phán Nhân văn, Giai phẩm, Đất mới. Đó là bài của Thạch Lựu: Báo “Nhân văn” nên thành khẩn tự phê (TH số 8); bài điểm sách của Trần Nguyên: Phê bình “Đất mới” tập I (số 9); thư của bạn đọc Hoàng Đình Kính ở Hải Phòng phê bình Đất mới tập I: Độc giả vui lòng hoan nghênh các bạn nếu các bạn thành thực nhận khuyết điểm (số 10). Bên cạnh đó Trăm hoa đăng tải những thư từ kiến nghị của nhiều nhóm cán bộ các ngành, của một số tập thể văn nghệ sĩ, tố cáo báo Nhân văn (“gieo rắc tư tưởng lạc hậu, gây bi quan hoài nghi chế độ ta, khuyến khích những hành động tự do vô kỷ luật; lợi dụng chủ trương mở rộng dân chủ, bịa đặt một số việc không có thật, xuyên tạc một số sự việc khác, thổi phồng một số khuyết điểm nhỏ để đả kích vu cáo các cơ quan lành đạo của Đảng, chính quyền, quân đội, văn nghệ, công an, mậu dịch”, v.v…), kiến nghị đình chỉ cho phép xuất bản báo Nhân văn, đưa báo này ra trước pháp luật để trừng trị thích đáng, v.v…

Sau 3 số trên, Trăm hoa số 11 (6/1/1957) dành trang đăng văn kiện kỳ họp Quốc hội thứ 6 và không nhắc gì đến chuyện phê phán như đã làm ở 3 số trước nữa.

 

Như thế, câu chuyện Tô Hoài kể trong Cát bụi chân ai (1992) về việc báo Trăm hoa của Nguyễn Bính nhận tiền tài trợ (bằng giấy in báo) để viết và đăng bài phê phán báo Nhân văn,− nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì ngày nay người nghiên cứu đối chiếu sẽ thấy rằng, báo Trăm hoa của Nguyễn Bính thực hiện việc được giao ấy khá muộn, hầu như chỉ thực hiện vào lúc phong trào phê phán đã được phát động, khi hầu hết báo chí nhà nước và đoàn thể đã lên tiếng hưởng ứng. Và quả thật Trăm hoa đã làm việc đó một cách khá tắc trách, ít hiệu quả, “chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”, như cấp trên của Tô Hoài nhận xét.

 

Sau 3 số báo kể trên, Trăm hoa không còn được hỗ trợ giấy in, nhưng Chủ nhiệm Nguyễn Bính vẫn gắng tìm đường sống cho tờ báo. Số Tết đinh dậu (tức Trăm hoa Xuân) gộp 3 số thường lại (12, 13, 14) như một đặc san, một món quà Tết cho độc giả, với các sáng tác của Nguyễn Bính, Đoàn Giỏi, Yến Lan, Tô Hoài, Trúc Đường,…đồng thời thông báo dự định cải tiến tờ báo: sẽ đăng đều kỳ bản dịch tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa Hồng lâu mộng. Bài của Đặng Thai Mai (rút từ Tập san Đại học sư phạm số 2, tháng 6&7/1956) nói về những tranh cãi mới diễn ra cách đó ít lâu ở Trung Quốc xung quanh tác phẩm này, được Trăm hoa Xuân in lại, khởi động cho dự định ấy. Nhưng dự định đã không thành sự thật. Số tiếp theo, tức là số 15 và 16, được gọi là Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, cũng là một đặc san với các sáng tác của Nguyễn Bính, Phùng Cung, Tạ Hữu Thiện, Yến Lan, Trúc Đường…, đồng thời gửi đến bạn đọc thông tin không vui: ý định cải tiến nội dung và hình thức báo đã không thể làm được; nhiều khó khăn mới cộng vào những khó khăn cũ (giá giấy cao, công in tăng, giá sinh hoạt đắt đỏ, các nhà in đều bận những việc được đặt trước, Trăm hoa không có nhà in riêng, không tìm được nơi nào in báo hằng tuần, việc phát hành lại khó hơn trước…); toà soạn công bố dự định khác: chuyển Trăm hoa thành tạp chí ra hằng tháng. Tất nhiên đây chỉ là dự kiến thuần tuý, cũng tương tự một vài dự định khác, bộc lộ qua những khung chữ thông tin trên các trang báo này, ví dụ dự định lập nhà xuất bản Trăm Hoa! Trên thực tế, Trăm hoa kết thúc ở đấy.

 

Trước đó, Chủ nhiệm Nguyễn Bính như đã đã dự cảm được cái kết thúc của Trăm hoa đang đến gần. Ông dường như tập trung vào một vài quan tâm cuối cùng: tìm lại những tập thơ trước 1945 của mình để chuẩn bị cho việc tự soạn những tuyển thơ. Từ số 11 trên  Trăm hoaluôn đăng lời rao cần mua lại bản in các tập thơ Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ. Đồng thời Nguyễn Bính cũng gắng để  lại nét chữ của mình trên một số trang báo in (điều này kỹ thuật dùng bản khắc gỗ xen giữa khuôn in chữ chì xếp rời thời đó cho phép thực hiện được), ví dụ nhan đề hoặc chữ ký tên tác giả ở các bài thơ Tỉnh giấc chiêm bao (số 7), Tình quê (Trăm hoa Xuân),− kiểu cách làm thay hoạ sĩ trình bày như vậy chưa hề thấy ở nhiều số Trăm hoa trước. Có thể nói Nguyễn Bính đã có những động tác chuẩn bị cho “cái chết được báo trước” của tờ Trăm hoa.

 

 

Trong đời ông, đây có lẽ là dịp duy nhất ông là chủ báo. Một tờ báo tư nhân. Ngay trước lúc báo chí tư nhân bị xoá sổ lâu dài trên miền Bắc.

 

 

                                                                                                  Hà Nội, tháng Tám 2005

LẠI NGUYÊN ÂN

Rút từ cuốn MÊNH MÔNG CHẬT CHỘI, Tiểu luận-phê bình của Lại Nguyên Ân, Nxb. Tri Thức, 2009, tr. 179-204

CHÚ THÍCH 

Giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-55 :

Thơ

− nhất :              Việt Bắc của Tố Hữu ;

− nhì :         Đồng tháng TámDặn con của Trần Hữu Thung;  Ngôi sao của Xuân Diệu;  Nụ cười chính nghĩa của Tú Mỡ .

− ba :                  Thơ chiến sĩ của Hồ Khải Đại ;

− khuyến khích : thơ và ca dao về Nam Bộ kháng chiến của Nguyễn Hiêm ; Chú Hai Neo của Nguyễn Hải Trừng; Chiếc vai cày của Việt Dung ; Anh Ba Thắng của Việt Ánh.

Tiểu thuyết

− nhất:  Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.

− nhì :  Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng; Con trâu của Nguyễn Văn Bổng.

− ba :    Vượt Côn Đảo của Phùng Quán ; Cái lu của Trần Kim Trắc.

− khuyến khích: Đồng quê hoa nở của Hoàng                                                                  Trung Nho; Gặp gỡ của Bùi Hiển; Cá bống mú của Đoàn Giỏi.

Ký sự, phóng sự

− nhất : không có

− nhì : không có

− ba : Lên công trường của Hồng Hà ; Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh.

− khuyến khích : Đường lên châu Thuận của Quang Dũng; Trại di cư Pa-gốt Hải Phòng của Sao Mai ; Lòng mẹ của Bích Thuận.

Kịch nói

−  nhất : không có

− nhì : Lửa cháy lên rồi của Phan Vũ

− ba :  Mở nông giang của Nguyễn Khắc Dực; Chị Hoà của Học Phi; Lòng dân của Nguyễn Văn Xe; Ánh sáng Hà Nội của Hoàng Tích Linh; Việt ơi! của Bửu Tiến.

− khuyến khích: Chiến đấu trong lòng địch của Lộng Chương; Hai thái độ của Bàng Sĩ Nguyên; Cai Tô của Nguyễn Văn Thương.

Dịch văn học

−  nhất : không có

−  nhì : Chiến sĩ chân chính Đổng Tồn Thụy (tác giả Trung Quốc Đinh Hồng và Triệu Hoàn) của Lê Văn Cơ; Chiến sĩ và Tổ quốc ( tác giả Trung Quốc Ngụy Nguy) của Đào Vũ;  Truyện vè Lý Hữu Tài (tác giả Trung Quốc Triệu Thụ Lý) của Đào Vũ; Lưu Hồ Lan (tác giả Trung Quốc Lương Tinh) của Phan Sinh.

− ba: Bản thoại Lý Hữu Tài (tác giả Trung Quốc Triệu Thụ Lý) của Xích Liên; Vi-chi-a Ma-lê-ép (tác giả Liên Xô Ni-cô-lai Nô-xốp) của Hiệu đoàn trường Sư phạm; Vương Quý và Lý Hương Hương ( tác giả Trung Quốc Lý Quý) của Hoàng Trung Thông.

(theo cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại do Hội Nhà văn Việt Nam biên soạn và xuất bản, Hà Nội, 1992, tr. 228-230).

Một bài báo của PHAN KHÔI năm 1956: PHÊ BÌNH LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ

 

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết cái bài nầy.

Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ, nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa thu không thể giống được với mùa xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa thu, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.

Huống chi anh bạn trẻ có cho tôi biết rằng Giai phẩm mùa Thu sắp in ra là để góp một phần nhiệm vụ chuẩn bị và xây dựng cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 11 sẽ tới, tôi cũng muốn đóng góp chút ít cái nghĩa vụ ấy, thì đó là dịp tốt cho tôi viết.

Lại huống chi cái tôi viết đây là bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con chó đói” của Trần Dần, “cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng tôi nên viết lắm.

Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?

Còn như sợ “bên địch xuyên tạc” thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc? Chó sủa hà tất phải có bóng người đi qua. Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên, tôi thử kể ra đây một mẩu. Tháng tư năm ngoái, tôi đi vào khu V, nghe đồng bào thuật lại rằng trước đó độ một năm, lúc thủ tướng Phạm Văn Đồng đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ, đài phát thanh Sài Gòn nói rằng “đó là tại Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao, đã bị thủ tiêu rồi nên Phạm Văn Đồng lên thay”. Thật, ông nào nói “bên địch xuyên tạc” cũng nên khen ông ấy là quân tử hơn bên địch lắm lắm vậy.

Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng còn không sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.

Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc là tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc.

Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.

Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giờ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.

Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.

Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng nó thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở Nam Bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.

Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.

Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.

I. VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO VĂN NGHỆ SĨ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam Bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những nếp nhà đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. (1) Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có để bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa đến bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.

Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên Xô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, họa, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại, trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thủy. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác. Tôi vào phòng riêng, nằm nghĩ mà tức lắm, không tức gì với ông Hoài Thanh mà tức với lãnh đạo. Từ đó có mặt trong cuộc họp nào tôi cũng không phát biểu ý kiến. Có anh em hỏi tôi sao không phát biểu. Tôi trả lời rằng vì không có ý kiến gì khác. Nhưng, thực ra, có ý kiến gì khác tôi cũng không thèm phát biểu. Nên nói thêm rằng tôi mong ông Hoài Thanh đưa tôi ra phê bình lắm, nhưng may làm sao không thấy đưa tôi ra phê bình, vì cái sự phê bình, tự phê bình được coi là võ khí ấy rất hiếm có trong cơ quan chúng tôi: hai năm nay chỉ có hai lần, một lần phê bình thơ Việt Bắc, một lần phê bình bài thơ của Trần Dần mà sau đây tôi sẽ nói đến.

Đó là lãnh đạo nghiệt ngã về nói; đây là về viết.

Tháng 10 năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn. Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh ủy bí mật, không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu tôi nói đó chỉ thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh. Tôi tuy nhũn như con giun đối với lãnh đạo thể ấy, nhưng khi nói trước công chúng, tôi cứ nói theo nguyên văn của tôi, không chữa một chữ nào, vẫn không gặp sự phản ứng nào trong đám thính giả.

Đó là cái thói kỵ húy trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường tư, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn, (2) quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường tư, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ húy như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ húy của quan trường thì không khác.

Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.

Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.

Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi được tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.

Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.

Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.

Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải trình bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.

Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà gia đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.

Ông Nguyễn Tuân và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó cái nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả cũng một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết. Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!

Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một tòa soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:

Ở đây nào phải trường thi

Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?

thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!

II. VỀ VỤ GIAI PHẨM MÙA XUÂN

          Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, – tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo.

Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi; còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng”, là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời đã nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.

Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.

Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà kỳ thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau về kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đành làm thinh.

Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài những chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.

Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta. (3)

Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?

Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên lụy đến anh em, bè bạn, liên lụy đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hòa dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.

Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đưa cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.

Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát biểu của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi đã nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.

Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải Phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô-viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “vú” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.

Một tối họp buộc tội, không có một lời nào cãi lẽ; bốn bài báo buộc tội, không có một chữ nào trả lời: quả nhiên “miệng” đã bị “vú lấp” rồi. Đó là cái cơ hội cho một việc gì xảy ra.

III. VỀ VỤ GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.

Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu đồng tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.

Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ đi dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng được dự vào đó thì hay.

Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.

Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn lại, nói đó không phải là cái luận cứ cứng vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng Tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.

Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.

Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.

Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ. (4) Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?

Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn Kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.

Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Đại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?

Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.

Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.

Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.

Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.

Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.

Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc.

PHAN KHÔI

(Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội)

Nguồn:

Giai phẩm mùa thu 1956, tập I,  Hà Nội, Nxb. Minh Đức, tháng 9/1956; bản in lần thứ hai, tr. 3-16.

Chú thích:

(1) cụp: mê ly, thích thú, khoái chí. (theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái chủ biên, Nxb. Tp. HCM., 1994, tr. 190.

 (2) Các vua triều Nguyễn gốc ở làng Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (nguyên chú của Phan Khôi)
(3) Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 1-3-56 (nguyên chú của Phan Khôi)
(4) Nhớ như có người đã thắc mắc về tập thơ Ngôi sao, nhưng tôi không chắc lắm, việc này có thể xét lại biên bản của Hội Văn nghệ về buổi họp ấy. – Ngày 20-8-56, thình lình có cuộc họp Ban Chấm giải, tôi phát hiện thêm ra một sự gian lận: Bao nhiêu lời phản đối của tôi về tập Ngôi sao đều bị bỏ hết, không ghi vào biên bản. Việc nầy, liền ngày đó, tôi có viết thư cho ông Tổng thư ký Đảng Lao Động biết. (Phan Khôi chua thêm ngày 21-8 trước khi tập sách lên khuôn.)

LẠI NGUYÊN ÂN và ALEC HOLCOMBE Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 (phần 1)

Đông Hiến dịch

từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958,  đăng trong tạp chí

Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010

 

 

 

 

Trong giai đoạn 1954 – 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thông tin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất – 1946-1954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng. Họ cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến.[1] Nhưng giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi.

 

Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng – gồm những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn-Giai phẩm – là một trong những lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Phong trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản vào năm 1956 – báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm, đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn-Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng.[3] Gộp chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986.[4] Một yếu tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh, cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây.

 

Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia Nhân văn-Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước. Trong thực tế, nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[5] Thực ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của phong trào Nhân văn-Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân Diệu (1916-1985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?

Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa.[6] Chịu ảnh hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn-Giai phẩm để bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn-Giai phẩm là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”, chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng.[7]

 

Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồng Chính kiến, 1954-1964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et dissidence 1954-1964). Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bản Việt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky.[8] Học giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn-Giai phẩm chia sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất là tự do ngôn luận).[9] Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị chung.[10] Về động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn-Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”.[11]

 

Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:

“Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.[12] Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng” nhiệt tình hơn ai hết:

 

Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.

 

Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ của mình.[13]

 

Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viên trong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”[14] Chính vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân văn-Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước khi đánh giá về nhà thơ.

 

Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn-Giai phẩm của Kim Ninh (2002) và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa Mác-Lê trong khi các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị. Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn-Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau:

“Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (1916-1985) – bị mất cảm hứng lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Nam nào cũng vậy. [Những thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm như] nhà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần (1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (1887-1959), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993) chưa từng biến mình thành “những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều, không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.” [15]

 

Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng Lao động Việt Nam.

 

Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành viên của phong trào Nhân văn-Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp. Trước hết, cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đời sống tình cảm của mình.[16] Tuy nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[17] Vào tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng. Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm khi cân nhắc giá trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng.

 

Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” – khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ.[18] Ba nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng.[19]

Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lại gây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào?

 

 

 

Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu

Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng Quy Nhơn. Năm ông 11 tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học) và người vợ cả của ông quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường tiểu học gần nhà. Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế.[20] Năm ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới – cả hai đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi tiếng Hoài Thanh đã mô tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 như sau:

 

“Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”[21]

 

Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945) được người đương thời cho là kiệt tác. Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông sự cảm nhận sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra từ những câu thơ của Xuân Diệu.[22] Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽ thường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa.

Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tính của nhà thơ.[23] Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong văn chương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đề cập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu.[24]Hiển nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlaine và Rimbaud một cách thoải mái, cảm thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ cùng thời ở Paris”.[25] Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài “Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Tượng trưng Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:

  Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine, Hai chàng thi sĩ choáng hơi men, Say thơ xa lạ, mê tình bạn, Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.   Những bước song song xéo dặm trường Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương, Họ đi, tay yếu trong tay mạnh, Nghe hát ân tình giữa gió sương.   Kể chi chuyện trước với ngày sau; Quên ngó môi son với áo màu; Thây kệ thiên đường và địa ngục! Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

 

 

Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của nhà thơ. Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Nam không hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng.

 

 

 

Giai đoạn mới tham gia cách mạng

Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam, có những dòng như sau:

  Nếu “thi sĩ là ru với gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” … Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn, Véo von ca cho át tiếng kêu than Của nhân loại cần lao đang giãy giụa Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa Là tai ương chướng họa của nhân quần,[26]

 

Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng bí thư.[27] Hai năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho Việt Minh – tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương.[28]  Đối với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng, điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông – cũng như những ứng cử viên được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[29] Vào tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới Fontainebleau để hội đàm với Pháp.

 

Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp, làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơ quan văn học kháng chiến.[30]

 

Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn Nghệ. Thực chất tạp chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn so với tờ Tiên Phong đang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại. Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn này như một định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn – Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ chỉ gồm năm người.[31]

 

Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại Từ – chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới – nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc – cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc – nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến.[32]

 

Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Minh đang tăng cao.[33] Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường lối lãnh đạo cách mạng. Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấn của Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình” để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cách mạng khó khăn.

Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau:

 

“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”[34]

 

Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết”.[35]

 

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ Việt Minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người chiến thắng, – nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã. Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường tư tưởng vững vàng):

 

“Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi. Muốn vùi đầu quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt. Ta có phải là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”[36]

 

Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách khác, những người đã từng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng:

 

“Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch! Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứt xuống bùn nhơ! Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ với xâm lăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn đề sống chết của những con người văn nghệ.”[37]

 

Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người con.[38]

 

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổi tiếng.[39]

 

Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờ Văn Nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn – có thể sánh với các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này. Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (1945-1946), chức vụ này rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức không theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Nam không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới. (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn Nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự.

(còn tiếp)

 

NguồnJournal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Chú thích

[1] Đảng Cộng sản Đông Dương (1931-1945) là tiền thân của Đảng Lao động Việt Nam (1951-1975) và Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-nay).

[2] Mạc Đình, Tâm trạng của giới Văn nghệ ở miền Bắc (Sài gòn, 1956 – không rõ tên nhà xuất bản); P.J. Honey “The Revolt of the Intellectuals in North Vietnam” (Cuộc nổi dậy của các trí thức miền Bắc), The World Today 13, No.6 (June 1957): 250-260; Hoa Mai, biên tập, The “Nhân Văn” Affair [Vụ Nhân Văn] (Sài Gòn: The Vietnam Chapter of the Asian People’s Anti-Communist League, 1958); Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam [Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam] (Sài Gòn: Công Dân, 1958); Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Sài Gòn: Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn hóa, 1959); Như Phong “Intellectuals, Writers, and Artists,” (Trí thức, Văn sĩ và Nghệ sĩ) China Quarterly, no.9 (Jan-March 1962): 47-69; Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism [Từ thực dân đến cộng sản] (London, Pall Mall Press, 1964; Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers Party, 1956-1958” (Những thay đổi trong chính sách văn học của Đảng Lao động Việt Nam, 1956-1958) trong Indochina in the 1940s and 1950s, eds. Takashi Shiraishi and Motoo Furata (Ithaca, NY: Sotheast Asia Program Cornell University, 1992), (Nguyên bản tiếng Nhật của bài luận của Kurihara được đăng trên Journal of Asian and African Studies, 1988); Georges Boudarel, Cent fleurs ecloses dans la nuit du Vietnam: Communism et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa vẫn nở trong đêm Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản và bất đồng chính kiến 1954-1956] (Paris: Editions Jacques Bertoin, 1991); Georges Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s: The Nhan van-Giai pham Affair” [Trí thức bất đồng chính kiến trong thập niên 1950: Vụ Nhân văn-Giai phẩm], Phi Linh Baneth lược dịch từ tiếng Pháp, Vietnam Forum 13 (1990): 154-174; Kim Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam [Một thế giới đã hoán cải: Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics” [Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria, 2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần bất phục đến người đàn bà quỳ).

[3] Boudarel, “Intellectual Dissidence”, 172.

[4] Bà Thụy Khuê, trí thức người Pháp gốc Việt đáng được ghi nhận đặc biệt vì đã thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn với các nhân vật Nhân văn-Giai phẩm trong chương trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI.

[5] Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Nguyễn Công Hoan, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hồng Chương, và những người khác.

[6] Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa, 148.

[7] Mạc Đình, Trăm Hoa, 12-13. Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism, 230-231.

[8] Tất nhiên là sự so sánh này cũng có chỗ khập khiễng. Vào năm 1990, khi Boudarel viết cuốn sách này, ông đã có thành kiến với chủ nghĩa cộng sản trong khi Trotsky vào năm 1936 viết ở góc độ một tín đồ chân thực.

[9] Về thái độ cùng căm ghét Tố Hữu, xem Boudarel, Cent fleurs, 245. Về thái độ thù nghịch chủ nghĩa Mao-ít và sự mong muốn chế độ thực hiện những cam kết đã hứa, xem Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s”, lần lượt ở các trang 154 và 164.

[10] Boudarel, Cent fleurs, 245.

[11] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s”, 164-165. Trong Cent fleurs tác giả viết: “Xuân Diệu, cùng với người bạn chí thiết Huy Cận, có quan hệ rất tốt với Tố Hữu và những người phụ trách văn hóa của đảng – chỉ trích một người là động đến tất cả những người khác (trong bọn họ)”: 235.

[12] Hồ sơ về Xuân Diệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ghi ông gia nhập đảng năm 1949.

[13] Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1993), 208-209.

[14] Sđd., 269.

[15] Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam”, 6.

[16] Cả Trần Dần và Hoàng Cầm đều yêu những người phụ nữ Hà Nội mà theo quan điểm của đảng là xuất thân từ giai cấp bóc lột. Xem Kim Ninh, A World Transformed, 123-133. Chuyện tình của Lê Đạt được ít người biết đến hơn. Khi tham gia cải cách ruộng đất năm 1953, ông cưới một phụ nữ thuộc tầng lớp bần nông, rồi chẳng bao lâu sau bỏ bà để lấy một nữ diễn viên trẻ, việc này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín chính trị của ông.

[17] Trong tiếng Việt, văn nghệ là từ được ghép từ hai từ “văn học” và “nghệ thuật”. Nhưng cụm từ “văn nghệ” cũng có thể được hiểu theo nghĩa “văn hóa” – ví dụ như sáng tạo (hoặc quản lý) văn hóa/văn nghệ.

[18] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21-28/6/1956.

[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1, tháng 8/1956; Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, sối 1, 20/9/1956; Nguyễn Bính, “Về giải thưởng văn học 1954-1955”, Trăm Hoa, số 1, tháng 10/1956.

[20] Dưới chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945, tên Trường Bưởi Hà nội chính thức được đổi thành Trường Chu Văn An, và được giữ nguyên đến nay. Trường Quốc học Huế đã qua vài lần đổi tên. Khi người Pháp thành lập trường vào năm 1896, tên chính thức của trường là École primaire superieur, nhưng người Việt thường gọi là Trường Quốc học. Năm 1936, trường đổi tên thành Trường Trung học Khải Định. Năm 1955, lại đổi thành Trường Trung học Ngô Đình Diệm. Năm 1957, trường được trả lại tên cũ Quốc học, và được giữ nguyên đến nay. Như rất nhiều người đã biết, nhiều nhân vật chính trị quan trọng đã học qua hai trường này. Điểm qua danh sách cựu học sinh trường Bưởi có Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Đức Thảo, Dương Trung Quốc, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Ngọc Phách, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khắc Viện, và nhiều người khác. Ở trường Quốc học Huế, có Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Lưu Trọng Lư, Huy Cận và Xuân Diệu. Chính trường Quốc học Huế là nơi Xuân Diệu gặp người tình suốt đời Huy Cận.

[21] Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 (Hà Nội: Nxb. Văn Học, 2005. Theo lời nhà xuất bản, đây là bản in lại nguyên tác do Nxb. Nguyễn Đức Phiên in năm 1942).

[22] Xuân Diệu, Thơ thơ và Gửi hương cho gió (Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn, 1995). Những ý kiến phê bình thơ Xuân Diệu có thể đọc được từ: Thanh Lãng, 13 năm tranh luận văn học, 1932-1945 (TP HCM: Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM, 1995).

[23] Đọc các bài viết, ví dụ như của Hà Minh Đức, Xuân Diệu: Ông hoàng của thơ tình yêu (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2004).

[24] Nguyễn Quốc Vinh, “Deviant Bodies and Dynamics of Displacement of Homoerotic Desire in Vietnamese Literature from and about the French Colonial Period (1858-1954)” [Biến thái hình thể và những mâu thuẫn xung quanh chủ đề khát khao tình dục đồng tính trong và sau giai đoạn Pháp thuộc, 1858-1954], Hợp Lưu số 42, tháng 8-9, 41-53. Trong luận án tiến sĩ đang viết, Richard Trần dành một chương để bàn về tình yêu đồng giới của Xuân Diệu trong những năm tiền cách mạng.

[25] Kim Ninh, A World Transformed, 59.

[26] Sóng Hồng (Trường Chinh), Thơ (Hà Nội: Văn Học, 1966) 25-28.

[27] Một bài trên báo Công an Nhân dân ngày 7/2/2007 nhan đề “‘Là thi sĩ’ của Sóng Hồng phê phán ‘Cảm xúc’ của Xuân Diệu?” cho rằng Trường Chinh viết bài thơ ban đầu là để vận động một thư ký doanh trại lính Pháp rất yêu thơ tham gia cách mạng.

[28] Từ điển Văn học (Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1984), 604.

[29] Sau khi giành chính quyền tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương dành ra mấy tháng sau đó để truy tầm và xử tử vài ngàn người bị coi là phần tử chính trị nguy hiểm (nhất là đảng viên các đảng đối lập). Vì vậy, khó có thể tưởng tượng được rằng lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương nghiêm túc thực hiện “dân chủ đại diện” trong cuộc tổng tuyển cử tháng Giêng năm 1946. Không rõ Xuân Diệu, gốc Quy Nhơn quê Hà Tĩnh, có liên hệ cụ thể gì với tỉnh Hải Dương.

[30] “Đỗ Ngọc Dũng, “Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Hội Văn nghệ Việt Nam: 25/7/1948-25/7/2008, 16/7/2008”. http://dodungart.vnweblogs.com/post/3574/80401 (truy cập ngày 5/5/2010)

[31] Sđd. Xuân Diệu phụ trách “tổ chức kiểm tra”. Trong bốn người còn lại, Nguyễn Tuân là Tổng thư ký, Tố Hữu Phó Tổng thư ký, Võ Đức Diên phụ trách kinh tế và Ngô Quang Châu làm quản trị.

[32] “Nghị quyết Hội Nghị Thống Nhất Hai Khu 1 và Khu 10: 5/11/49, Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Hà Nội: Chính trị Quốc Gia, 2001), 10:427. Cần phân biệt “Việt Bắc” khác với “miền Bắc”, là khái niệm rộng hơn, dùng để chỉ 1 trong 3 kỳ thời Pháp thuộc, và sau Hiệp định Geneva 1954, chỉ một nửa đất nước tính từ phía bắc vĩ tuyến 17.

[33] Tịnh Hà, Xuân Diệu: Con người và Tác phẩm (Hà Nội: Văn Học, 1987), 11.

[34] Tô Hoài, Cát bụi chân ai (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 1992), 198.

[35] Sđd, 199.

[36] Xuân Diệu, “Thư gửi các bạn văn nghệ ở Hà Nội”, Văn nghệ, số 56, tháng 10/1954.

[37] Sđd.

[38] Sau đó, Huy Cận lấy người vợ thứ hai, và cũng là cuối cùng, bà Trần Lệ Thu, giảng viên tiếng Nga, Đại học Ngoại ngữ vào năm 1964, khi bà 28 tuổi. Họ có với nhau ba người con.

[39] Sau năm 1975, hai anh em được đoàn tụ và cùng cộng tác trong một số dự án văn học.