Trang chủ » Phan Khôi

Category Archives: Phan Khôi

Một bài báo của PHAN KHÔI năm 1956: PHÊ BÌNH LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ

 

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết cái bài nầy.

Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ, nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa thu không thể giống được với mùa xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa thu, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.

Huống chi anh bạn trẻ có cho tôi biết rằng Giai phẩm mùa Thu sắp in ra là để góp một phần nhiệm vụ chuẩn bị và xây dựng cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 11 sẽ tới, tôi cũng muốn đóng góp chút ít cái nghĩa vụ ấy, thì đó là dịp tốt cho tôi viết.

Lại huống chi cái tôi viết đây là bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con chó đói” của Trần Dần, “cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng tôi nên viết lắm.

Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?

Còn như sợ “bên địch xuyên tạc” thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc? Chó sủa hà tất phải có bóng người đi qua. Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên, tôi thử kể ra đây một mẩu. Tháng tư năm ngoái, tôi đi vào khu V, nghe đồng bào thuật lại rằng trước đó độ một năm, lúc thủ tướng Phạm Văn Đồng đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ, đài phát thanh Sài Gòn nói rằng “đó là tại Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao, đã bị thủ tiêu rồi nên Phạm Văn Đồng lên thay”. Thật, ông nào nói “bên địch xuyên tạc” cũng nên khen ông ấy là quân tử hơn bên địch lắm lắm vậy.

Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng còn không sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.

Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc là tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc.

Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.

Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giờ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.

Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.

Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng nó thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở Nam Bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.

Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.

Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.

I. VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO VĂN NGHỆ SĨ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam Bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những nếp nhà đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. (1) Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có để bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa đến bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.

Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên Xô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, họa, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại, trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thủy. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác. Tôi vào phòng riêng, nằm nghĩ mà tức lắm, không tức gì với ông Hoài Thanh mà tức với lãnh đạo. Từ đó có mặt trong cuộc họp nào tôi cũng không phát biểu ý kiến. Có anh em hỏi tôi sao không phát biểu. Tôi trả lời rằng vì không có ý kiến gì khác. Nhưng, thực ra, có ý kiến gì khác tôi cũng không thèm phát biểu. Nên nói thêm rằng tôi mong ông Hoài Thanh đưa tôi ra phê bình lắm, nhưng may làm sao không thấy đưa tôi ra phê bình, vì cái sự phê bình, tự phê bình được coi là võ khí ấy rất hiếm có trong cơ quan chúng tôi: hai năm nay chỉ có hai lần, một lần phê bình thơ Việt Bắc, một lần phê bình bài thơ của Trần Dần mà sau đây tôi sẽ nói đến.

Đó là lãnh đạo nghiệt ngã về nói; đây là về viết.

Tháng 10 năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn. Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh ủy bí mật, không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu tôi nói đó chỉ thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh. Tôi tuy nhũn như con giun đối với lãnh đạo thể ấy, nhưng khi nói trước công chúng, tôi cứ nói theo nguyên văn của tôi, không chữa một chữ nào, vẫn không gặp sự phản ứng nào trong đám thính giả.

Đó là cái thói kỵ húy trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường tư, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn, (2) quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường tư, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ húy như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ húy của quan trường thì không khác.

Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.

Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.

Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi được tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.

Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.

Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.

Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải trình bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.

Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà gia đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.

Ông Nguyễn Tuân và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó cái nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả cũng một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết. Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!

Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một tòa soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:

Ở đây nào phải trường thi

Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?

thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!

II. VỀ VỤ GIAI PHẨM MÙA XUÂN

          Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, – tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo.

Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi; còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng”, là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời đã nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.

Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.

Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà kỳ thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau về kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đành làm thinh.

Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài những chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.

Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta. (3)

Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?

Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên lụy đến anh em, bè bạn, liên lụy đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hòa dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.

Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đưa cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.

Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát biểu của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi đã nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.

Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải Phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô-viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “vú” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.

Một tối họp buộc tội, không có một lời nào cãi lẽ; bốn bài báo buộc tội, không có một chữ nào trả lời: quả nhiên “miệng” đã bị “vú lấp” rồi. Đó là cái cơ hội cho một việc gì xảy ra.

III. VỀ VỤ GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.

Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu đồng tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.

Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ đi dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng được dự vào đó thì hay.

Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.

Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn lại, nói đó không phải là cái luận cứ cứng vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng Tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.

Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.

Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.

Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ. (4) Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?

Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn Kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.

Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Đại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?

Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.

Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.

Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.

Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.

Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.

Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc.

PHAN KHÔI

(Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội)

Nguồn:

Giai phẩm mùa thu 1956, tập I,  Hà Nội, Nxb. Minh Đức, tháng 9/1956; bản in lần thứ hai, tr. 3-16.

Chú thích:

(1) cụp: mê ly, thích thú, khoái chí. (theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái chủ biên, Nxb. Tp. HCM., 1994, tr. 190.

 (2) Các vua triều Nguyễn gốc ở làng Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (nguyên chú của Phan Khôi)
(3) Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 1-3-56 (nguyên chú của Phan Khôi)
(4) Nhớ như có người đã thắc mắc về tập thơ Ngôi sao, nhưng tôi không chắc lắm, việc này có thể xét lại biên bản của Hội Văn nghệ về buổi họp ấy. – Ngày 20-8-56, thình lình có cuộc họp Ban Chấm giải, tôi phát hiện thêm ra một sự gian lận: Bao nhiêu lời phản đối của tôi về tập Ngôi sao đều bị bỏ hết, không ghi vào biên bản. Việc nầy, liền ngày đó, tôi có viết thư cho ông Tổng thư ký Đảng Lao Động biết. (Phan Khôi chua thêm ngày 21-8 trước khi tập sách lên khuôn.)

KHÁI LUẬN VỀ VĂN HỌC CHỮ HÁN Ở NƯỚC TA

 

 PHAN KHÔI

 

Nhớ lúc bấy giờ đâu là năm 1928, tôi ở Sài Gòn có viết mấy bài bằng chữ Hán, ký tên Khải Minh Tử, gửi cho Hoa kiều Nhật báo ở Chợ Lớn, được họ lần lượt đăng tải và có để lời khen tặng ở một cái mào đầu. Trong mấy bài ấy có một bài đầu đề giống như đầu đề trên đây, đại ý tôi khoe với người Tàu rằng văn học chữ Hán ở nước Việt Nam thuở xưa phát đạt lắm. Tôi lược cử ra những thi văn đời Lý, đời Trần cho đến đời Nguyễn gần đây. Cuối cùng, tôi cho họ biết rằng các nhà văn chữ Hán xứ này có một cái đặc sắc là hay tự tạo ra văn thể mới. Tức như Thu dạ lữ hoài ngâm  秋 夜  旅  懷  吟 làm bằng thể lục bát gián thất; lại hai bài ca trù: một bài đề là Bùi viên đối ẩm  裴  園  對  飲 của Nguyễn Văn Thắng; một bài đề gì và của ai không biết, mở đầu là Phong thanh nguyệt bạch, Tô Đông Pha xích bích chi du…  風 清 月 白 , 赤 壁 之 遊   Các văn thể ấy có phải là chính bên Tàu không hề có, mà nhờ tác giả Việt Nam chế tạo ra làm cho cái kho văn học chữ Hán thêm giàu?

Lại nhớ như bài ấy, tôi đã có lần dịch ra quốc ngữ đăng lên một tờ báo nào đó mà tôi quên. (1*)

Lần này tôi viết bài này ở đây, tuy đầu đề giống nhau mà lập ý thì khác.

Từng có người nói: Lòng ái quốc không thể cứ một mực, có khi bởi nó mà mình nói tốt cho nước mình, cũng có khi bởi nó mà mình lại nói xấu cho nước mình. Hai lần tôi viết đây, chính tôi cũng không tự biết có phải bởi lòng ái quốc hay không; tôi chỉ thấy rằng lần trước viết bằng chữ Hán, đăng báo Tàu, đối với người Tàu, tôi có ý tuyên truyền cho tổ quốc Việt Nam; lần này viết bằng chữ ta, đăng báo ta, tôi muốn chỉ cho đồng bào thấy cái chân tướng của văn học cổ xứ mình.

Như vậy chẳng là mâu thuẫn nhau? Tôi tưởng chả có gì đến nỗi. Một cái mề đay, hôm qua cho người ngoại quốc xem, tôi chỉ đưa bề mặt, hôm nay cho người bản quốc xem, tôi đưa luôn cả bề trái nữa, thế thôi.

Trước hết tôi muốn bạn đọc biết rằng, viết bài này, tôi rứt không có ý chê hay trách các bậc văn sĩ tiền bối xứ ta. Nếu có những chỗ chỉ trích ít nhiều khuyết điểm của họ là chính để thấy rằng nền văn học của một nước nếu không lập lên trên tiếng nói của nước ấy thì đừng có mong nó được vững bền và rực rỡ. Người nước Nam, nói thì nói tiếng nước mình, viết thì viết chữ nước khác, tay còn không theo được miệng thay, bảo sao lời cho đạt được ý? Chính vì đó mà văn học chữ Hán của ta đã không thành ra một văn học chân chánh xứng với danh từ nó như của Trung Hoa. Ấy là một cái lầm chung của cả một thời đại từ xưa, chứ chẳng phải cái dở, cái bất tài riêng của từng người một mà đáng để cho chúng ta ngày nay chê hay trách vậy.

Cái văn học cổ ấy hiện nay đã tiêu diệt đi, nhường chỗ cho văn học quốc ngữ, đó thật là một điều may mắn cho dân tộc chúng ta. Tuy vậy, đã có quan hệ với nhau một ngàn năm, trong cơn vĩnh biệt, chẳng nhiều thì ít, nó há lại chẳng có cái gì làm cho ta quyến luyến? Tôi muốn nói đương lúc văn học chữ Hán của người Việt Nam tàn tạ, đáng lẽ, trong nó, nếu có tác phẩm gì hay, cần phải dịch ra quốc ngữ để làm hòn đá tảng, không thì cũng một viên gạch, một tấm ngói cho cái lâu đài văn học mới sau này.

Nhưng than ôi! Theo tôi thấy thì hình như không có, và nếu có cũng ít lắm! Cả thảy chỉ một món lịch sử, bòn đãi lắm may ra còn hữu dụng; kỳ dư, những thi, những văn, những tiểu thuyết, cái đáng gọi là văn học thực mặt, thì lại vắng vẻ làm sao! Thử hỏi từ thời Lý đến nay có một cuốn sách nào về hạng ấy có thể đại biểu cho một thời đại hay cho một cá nhân mà bây giờ chúng ta cần phải dịch ra mới được? Thật không có! Người Pháp sang đây, muốn biết văn chương tiếng An Nam thế nào thì họ đã dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra, vì nó xứng đáng đại biểu cho tiếng An Nam; còn chúng ta, chúng ta muốn biết văn chương chữ Hán của tổ tiên mình trong khoảng một ngàn năm vừa qua thì lại không tìm được một cuốn sách nào mà dịch hết! Đó chẳng phải một cái chứng cứ hiển nhiên, đủ thấy văn học chữ Hán của ta hồi trước còn ở dưới mực thủy bình?

Nhưng không có thể chê trách những người học và viết chữ Hán trong một ngàn năm ấy được. Là vì chữ Hán không đủ dịch hết tiếng nói An Nam, không đủ ghi hết sự vật trong xã hội An Nam; ý tưởng của người An Nam không ngẫm nghĩ và phô bày bằng nó, thì làm sao hai đằng thân thiết với nhau cho được? Học sách vở của thánh hiền ngoại quốc, rồi nghĩ và viết ra cũng theo tư tưởng của thánh hiền ngoại quốc; những kẻ ấy khi họ hạ bút, họ có thể quên cả sự vật chung quanh mình và quên luôn cả mình nữa; những tác phẩm của họ không đại biểu cho thời đại được mà cũng không đại biểu được cho cá nhân, là lẽ tất nhiên. Cái công dụng của văn học là ở sự biểu hiệu và phê bình; mà, cho được biểu hiệu và phê bình, người mình lại dùng một thứ chữ không quen, không sành, hóa ra mất cả hai cái công dụng ấy.

Chữ Hán ở bên Tàu lập nên nền văn học thế nào, còn ở bên ta thế nào, chỗ đó, phần nhiều người mình còn chưa thấy đến nơi.

Ở bên Tàu tuy cũng có văn chương khoa cử, tức những bài làm để đi thi, lại cũng có văn chương thù ứng, tức như ở ta câu đối bức trướng; nhưng thứ văn chương ấy, họ không kể cho vào văn học. Văn học của họ đại khái chia làm hai hạng: một về nghĩa lý, là những tác phẩm có quan hệ với kinh sử học thuyết; một về từ chương, là những tác phẩm thuần có tính chất mỹ văn. Ở đây, những người xưng là đại nho, như Chu Hy, Vương Thủ Nhân, phải có những trứ thuật về hạng trên; những người xưng là văn hào, như Hàn Dũ, Tô Thức, phải có những trứ thuật về hạng dưới.

Nước ta, về hạng trên, phải kể như là không có. Vì dù có mà nó thấp thỏi, vụn vặt, không ra gì, thì cũng không kể được với ai. Cuốn Nho giáo  của Trần Trọng Kim mới xuất bản gần đây, cho đi rằng nó không hoàn toàn nữa, thử hỏi một ngàn năm nay đã có người An Nam nào làm được cuốn sách bằng Hán văn nào như nó? Minh đạo 明 道 mười bốn thiên của Hồ Quý Ly, dám nghi bốn điều trong Luận ngữ và công kích Tống nho, có lẽ còn đỡ đỡ, nhưng tiếc thay lại không truyền! Ngoài ra, những sách như Quần thư khảo biện  群 書 考 辩  của Lê Quý Đôn cùng những bài biện thuyết ngăn ngắn về sách xưa như trong tập Vĩ giã  葦 野 thì chưa hề phát minh được nghĩa gì to tát, chỉ đáng coi là một mớ tháp ký của học sinh, chẳng có giá trị là bao. Hồi nhà Trần có Chu An, trước đây bờ một trăm rưỡi năm ở Gia Định có Võ Trường Toản, đều là bậc đại sư nho, nổi tiếng như cồn, mà rủi cho dân tộc này làm sao, các ngài lại chẳng để lại một chữ gọi là có!

Về hạng dưới, từ chương, để rồi dưới đây tôi sẽ nói đến. Ở đây tôi muốn cho bạn đọc biết ngay thử trong một ngàn năm ấy người mình học chữ Hán đã có sở đắc những gì.

Hầu hết người đi học ở nước ta chỉ biết có một lối văn khoa cử. Xưa nay những người nổi tiếng học giỏi và hay chữ đều chỉ bởi nhớ nhiều điển cố để làm bài và làm bài hay. Cho đến các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng gần đây cũng đều thế cả.

Tôi còn nhớ trong sách dã sử có một nơi chép truyện ông Bảng nhãn gì đó ở làng Mộ Trạch, lúc chưa đỗ, đã lừng tiếng một thời. Một hôm có vị danh sĩ gặp ông, muốn thử tài, ra cho một bài phú, đề là Kỳ lân du uyển hựu     遊 苑 囿. Tức thì ông cất bút thảo ngay bốn câu mở: Qui phi xuất lạc, long bất trình hà, y bỉ hữu hùng chi quốc, đô vu trác lộc chi a  龜 非 出 洛 , 龍 不 呈  河 , 意 彼 有 熊 之 國 , 都 于  涿 鹿   (1). Vị danh sĩ kia thấy viết đến đó đã kinh hoàng sửng sốt, bái phục là thiên tài rồi, không để làm hết bài nữa! Xem ý người chép sử như cho cái việc ông Bảng nhãn làm đó là một kỳ công trong học giới và bốn câu phú đó là một kiệt tác trên văn đàn, không thể không trịnh trọng chép vào sách của mình để truyền cho hậu thế!

Đến các ông trạng, như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, ông nào cũng sính câu đối, đã làm cho một nhà viết văn khảo cứu, ông Trần Thanh Mại, có lần phải gắt lên trong một bài ở báo Phụ nữ thời đàm. Rồi đến Nguyễn Thị Điểm, một nữ tài tử nổi danh thuở Hậu Lê, cũng tại câu đối mà thôi: Bạch xà đương đạo, Quí bạt kiếm nhi trảm chi; Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết  白 蛇 當 道 , 季 坺 劍 而 斬 之 , 黃 龍 負 舟 , 禹 仰 天  而  嘆 曰 cùng với Đối kính họa my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm; Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân           ,   翻  成     ,    玩   , 隻       雙   (2), thế là đã rất mực tài tình, làm cho tác giả Nam hải dị nhân liệt truyện tỏ ý phục lăn ra!

Giữa cuộc bang giao hai nước, muốn khoe tài văn học của nhau, người ta cũng đã sính chữ Hán một cách oái oăm đáo để. Đây là hai truyện có chép trong Tiền biên liệt truyện  前 編 列 傳

Dưới triều chúa Nguyễn Hy tôn, (2*) chúa Trịnh lấy danh nghĩa vua Lê, sai sứ mang tờ sắc vào phong cho chúa Nguyễn chức Thái phó quốc công. Bấy giờ Chúa Nguyễn có vị mưu thần Đào Duy Từ khuyên hãy tạm nhận rồi sau sẽ trả. Đến khi trả sắc, Duy Từ vẽ làm một cái mâm đồng hai đáy, bỏ tờ sắc vào trong, kèm một mảnh giấy có viết mười sáu chữ, luôn với lễ vật, sai sứ đêm ra bắc dâng Chúa Trịnh. Sau, cái mâm đồng khui ra, thấy mười sáu chữ ấy là: Mâu nhi vô dịch, mịch phi kiến tích, ái lạc tâm trường, lực lai tương địch  而 無 腋 , 覓 非 見 跡 , 愛 落 心 腸 , 力 来 相 敵  Chúa Trịnh cùng cả đình thần đều chẳng hiểu nghĩa chi. Chỉ một mình Thiếu úy Phùng Khắc Khoan biết được mà thôi, ông ấy giải ra thành bốn chữ Dư bất thụ sắc   予 不  受  敕, nghĩa là ta chẳng nhận lời sắc. (3)

Lần khác, dưới triều Chúa Nguyễn Thái tôn, (3*)  người Trịnh muốn thử nhân vật Nam triều, bèn đưa vào tặng một cái trống lớn với một phiến gỗ vuông dài chừng một thước, trên mặt gỗ viết ba chữ Hồ bất thực, 狐 不  食 thếp vàng. Chúa Nguyễn hỏi khắp mặt triều thần, không ai biết gì cả. Sau hỏi đến Võ Đình Phương là tay bác học thời ấy, Đình Phương thưa rằng: “Ba chữ ấy chỉ là người Bắc nói lái để thử ta có biết không mà thôi. Hồ bất thực  狐 不  食 nghĩa là cáo chẳng ăn. Mà cáo chẳng ăn thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo. Vậy phiến gỗ này nó là bằng cây gạo”. Nghĩa lý mắc mỏ chỉ có thế; còn cái trống thì khi đem đánh, nó cũng chẳng khác gì cái trống thường.

Từ đoạn dẫn dã sử đến đây, tôi muốn trưng ra mấy cái chứng cứ để thấy rằng cái sở đắc của mình học chữ Hán chỉ có thế. Chỉ có một cái tiểu xảo trong văn học, tiếng Pháp gọi là “Jeu de mots” (4*)  là người mình hơi có khiếu sở trường. Thì đó, bốn câu phú của ông Bảng nhãn, hai câu đối của Nguyễn Thị Điểm, mười sáu chữ nọ với ba chữ kia làm cho Phùng Khắc Khoan và Võ Đình Phương có dịp trổ tài, hết thảy đều là một cách “Jeu de mots” chứ có gì lạ!

Ở nước ta, kẻ học khi chưa đỗ thì chăm về văn khoa cử, khi đỗ rồi thì chăm về văn thù ứng. Hay chữ có tiếng nhất nước như ông Vũ Phạm Hàm cũng chỉ nhờ bài phú Điệu cao sơn đại xuyên trong khoa đậu hội, như ông Phan Bội Châu cũng chỉ nhờ bảy bài kinh nghĩa kiêm trị trong khoa đậu giải nguyên. Ông Vũ Phạm Khải được đức Dực Tôn ban khen là thế, tưởng có cái đặc sắc thế nào, ngờ đâu đọc văn tập của ông làm cho mình thất vọng: Nhan nhản, hết bài tự tặng người này, đến bài khải dâng người khác, té ra trời phó cho ông ấy cái văn tài lỗi lạc là chỉ đi thù phụng thiên hạ mà thôi!

Vậy nếu tôi nói một ngàn năm nay người An Nam làm văn chữ Hán chỉ chuyên có hai lối khoa cử và thù ứng, và trong văn học, họ chỉ sở trường một cách “Jeu de mots” mà thôi thì cũng chẳng quá nào!

Nói về thi, văn, tiểu thuyết, không kể phần dở, dù phần hay là phần rất ít đi nữa là của người mình cũng không sánh kịp của người Tàu. Bởi chúng ta cứ rập theo khuôn sáo họ, hứng lấy cặn bã họ, người An Nam mà văn chương chẳng có một chút gì là đặc tính của An Nam, thành thử chúng ta, dù đến trên loài mỹ văn ấy, cũng không lập nổi một nền văn học riêng cho mình.

Một vài ông vua nước Nam đã làm cho thần dân của các ngài tưởng lầm rằng văn học nước mình cũng ngang hàng với Trung Quốc. Sự thác giác ấy làm hại cho quốc dân từ lâu nay, cái hại chẳng phải nhỏ.

Vua Lê Thánh Tôn một đêm ngự bóng mát chốn nội đình, trông lên trời thấy vầng trăng đương sáng tỏ bỗng bị che khuất bởi đám mây bay ngang, đám mây bay khỏi rồi, vầng trăng lại sáng tỏ như trước, cảm xúc làm nên hai câu: 素  浩 浩 玉  盤 ,   “Tố thiềm hạo hạo ngọc bàn thanh, vân lộng hàn quang ám phục minh” .(4) Thế mà ngài dám tự phụ rằng không ai làm được, cho đến Đỗ Phủ cũng không, chỉ một mình ngài làm được mà thôi. Ngài lại còn đem hai câu ấy so sánh với bốn câu giữa trong bài 錦  瑟  “Cẩm sắt” (5)  của Lý Nghĩa Sơn mà nói rằng bốn câu ấy của Lý, về phần mầu lạ xinh xắn thì bằng hai câu của ngài, nhưng về phần sáng suốt trong trẻo thì hãy còn kém. Lần khác, Thánh Tôn phê bình hai câu của Thân Nhân Trung, quan đại học sĩ tại triều mình: 琼  島  夢  殘  春  萬  頃 , 寒  江  詩  落 夜 三 更 Quỳnh đảo mộng tàn xuân vạn khoảnh, hàn giang thi lạc dạ tam canh”, (6) cũng hợm hĩnh rằng dù cho Lý Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Thức cũng vị tất đã nghĩ được ra. (Mẩu truyện này có chép trong sách Việt sử thực lục cuốn 13, tôi nhớ mà thuật ra đây chứ không dịch đúng nguyên văn).

Gần nay người ta còn truyền tụng hai câu thơ phê bình thi văn bản triều: 文 如 超 适 無 前 漢 , 詩 到  從  緌 失 盛 唐  “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán, thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” (7) mà nói là của vua Thiệu Trị hay của vua Tự Đức. Của vua nào cũng thế, cái công hiệu thổi phỉnh lòng tự khoa của người nước cũng chẳng kém mẩu chuyện vừa kể của Lê Thánh Tôn.

Dưới triều vua này, vũ công với văn trị đều cực thịnh. Bao lần đánh Chiêm Thành, Bồn Man, Lão Khoa, đánh đâu thắng đó, làm cho vua Tàu cũng phải nể. Sử chép ngày 27 tháng 8 năm Hồng Đức 11, sau khi đại phá Lão Khoa, vua nhà Minh có đưa sang một tờ sắc, nói: “Vừa rồi tỉnh thần Vân Nam có tâu về, nói An Nam quốc vương đã vô cớ cử binh công phạt xứ Lão Khoa, hiện chưa lui binh, còn muốn sang xâm lược xứ Bát Bách Tức Phụ nữa. Vì vậy sắc sang hỏi vua: nếu có, phải lui binh ngay; còn không thì phúc tấu lại, để triều đình xét và bắt tội kẻ man báo”. Liền ngày ấy vua Thánh Tôn họp triều thần lại thảo lời phúc tấu, đại ý nói: “Có 13 tên dân bản quốc trốn sang bên Lão Khoa; nhân đó sai người đến tại biên giới đòi về, thì đã đem xe chở chúng về rồi; chứ còn những việc đánh Lão Khoa và Bát Bách Tức Phụ vốn không biết tới”. Bản phúc tấu ấy đưa sang, vua nhà Minh vẫn làm thinh, coi như là sự thực. Nhưng sự thực của sự thực là: trước đó một năm, tháng 8 năm Hồng Đức thứ 10, vua Thánh Tôn quả có sai các tướng đem mười tám vạn binh, chia làm năm đạo đi đánh Lão Khoa, vào tận đô thành nước ấy, đuổi vua, bắt nhân dân của họ, rồi còn đánh dốc đến ranh sông Trường Sa, nơi Lão Khoa giáp với Diến Điện, khi được văn thơ người Diến kháng nghị mới chịu rút quân về.

Ấy, vua Thánh Tôn ngài đã quen mui, tưởng việc văn cũng như việc võ: về việc đánh Lão Khoa, có nói làm không mà vua Minh cũng nghe được, thì về việc thi văn, dở nói làm hay, người Tàu còn có ai dám cãi lại ngài? Nhưng “văn chương là việc ngàn xưa”, dở hay còn có đó, không ai nói theo ý riêng mình được.

Thực ra thì câu thơ của vua không đến nỗi dở chứ nó khí tầm thường quá. Nội bảy chữ đầu đã trùng điệp với nhau rồi: “tố thiềm hạo hạo” có khác gì với “ngọc bàn thanh”, chỉ có một nghĩa là vầng trăng sáng. Thế mà câu dưới còn tiếp hai chữ “hàn quang” nữa, cũng lại sáng trăng! Về ý thì rất xoàng, có gì lắm mà bảo không thi nhân nào làm nổi? Đến đem mà sánh với bốn câu của Lý Nghĩa Sơn thì thật là quá phận. Bốn câu này hay mà có vẻ thần bí, đến nỗi từ đời Tống đến nay có bao nhiêu nhà chú thích đã giải nghĩa không giống nhau. Còn câu của vua rất dễ dàng, hễ ai biết chữ là hiểu được. Nó vốn không đồng một tánh chất, đem mà sánh nhau, khác nào đem cái đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm sánh với Kim tự tháp bên Ai Cập!

Sau nữa, câu của Thân Nhân Trung, nếu cho vế trên là được thì vế dưới thật không xứng. Nhất là hai chữ “thi lạc” e đến không có nghĩa. “Thi” làm sao lại “lạc” được? Chỉ hai chữ không có nghĩa đủ làm hỏng cả câu. Thế thì hẵng làm cho có nghĩa đã rồi hãy nói chuyện bầy vai với Lý, Đỗ, Âu, Tô!

Văn học chữ Hán đến triều Nguyễn, đáng gọi là thịnh hơn các triều trước; nhưng nếu bảo vượt quá cả Hán, Đường thì lố quá. Nguyễn Văn Siêu còn có Phương Đình văn tập truyền lại, thức giả còn có thể đem đọ với văn Tiền Hán thử ra sao. Tùng Thiện Vương có tập thi Thương Sơn, Tuy Lý Vương có tập thi Vĩ Giã, muốn biết giá trị nó đối với Thịnh Đường thế nào, đọc qua thì biết. Tôi thì tôi tin quyết rằng Hán Đường là kẻ sáng tạo, Siêu, Quát, Tùng, Tuy là kẻ học đòi; không bao giờ kẻ học đòi lại vượt qua kẻ sáng tạo cho được. Nói cho công bằng ra thì trong ngần ấy tác giả, duy có Cao Bá Quát, là cả thi lẫn văn đều đáng sắp ngang hàng với đệ nhất lưu tác giả ở Trung Quốc mà không hổ mà thôi. Rủi cho ông, vì mang tội “đại nghịch” nên tập không được in, tên họ bị vùi dập đi hơn nửa thế kỷ đến gần nay mới có người nhắc đến!

Những lời tự khoa thái quá ấy cần phải cải chánh. Sau khi cải chánh chúng ta mới có thể tìm thấy cái mực thực của văn chương chữ Hán nước mình.

Đại để trong các món, duy món thi, người mình còn có thể làm được. Vì thi có khi dùng một số chữ rất ít, chỉ mười mấy hay vài mươi chữ cũng thành một bài, không cần phải có cái lực lượng hùng vĩ mới làm nổi; lại trong thi, về mặt văn pháp cũng rộng rãi, không nhặt nhiệm lắm như tản văn. Hai điều kiện khoan dung đó thích hợp với cái tài vận dụng chữ Hán của người An Nam, cho nên về văn chương chữ Hán, người An Nam đã làm món thi nhiều hơn các món khác, và về món thi cũng có sở trường hơn các món khác.

Trừ ra thơ của một hạng thi nhân gọi là “thợ thơ” thì trong làng thơ chữ Hán của ta không phải không có thơ hay. Nhất là vào hồi Lý Trần, bấy giờ kẻ học chưa nhiễm phải cái độc khoa cử nên trong ngâm vịnh thường có nhiều tánh tình và phong thú. Bạn đọc hãy tìm chứng cứ trong pho Hoàng Việt thi tuyển. Tiếc thay hạng thơ ấy, chúng ta chỉ có thể thưởng thức ở các tác phẩm rải rác mà không thể chỉ hẳn ra  được một tác giả nào.

Mãi đến gần đây mới được một Cao Bá Quát. Ông này, theo thời luận thì nổi tiếng về văn, nhưng văn của ông ít truyền lắm, ngày nay chỉ còn bộ Cao Chu Thần thi thảo chép tay, ấy là thơ của ông, chừng được ba bốn trăm bài. Ba bốn trăm bài ấy giá ở bên Tàu thì nó đã được in ra, làm cho tác giả nhảy lên đứng ngang hàng với Đỗ Thiếu Lăng, Tô Đông Pha chẳng hạn, nhưng ở nước ta phải đành mai một!

Đọc Cao Chu Thần thi thảo, thấy cái thân thế, cái phẩm cách, cái tư tưởng của tác giả nó mà khiến mình trạnh lòng tương cảm ở sau sáu, bảy mươi năm. Con người ấy mà ở vào thời đại ấy trong đất nước này, nếu chẳng phải thi đỗ làm quan cho tột bực đi thì còn làm gì nữa mà không làm giặc!

Ngoài ra, cũng có những thi tập của những người khác đã được ấn hành, nhưng lại không vì cớ ấn hành mà không mai một! Hạng thơ ấy nói vượt qua Thịnh Đường thì khí quá, dù cho giống hệt với Thịnh Đường đi nữa mà không có ngụ một chút tánh tình quan hệ mảy may với thời đại thì cũng bị đào thải bởi luật tự nhiên. Trái lại, một vài câu xuất sắc, khiến người ta cảm được, như “Học đắc trường sinh bí, bất cầu thiên hạ văn” (thơ hái thuốc), “Sơn nhân tự lai vãng sơn thâm nhân bất tri” (thơ đi đường núi) của Nguyễn Hương; “Cô phẫn khí thành thiên khả vấn, độc tinh nhân khứ quốc cơ không” (thơ vịnh Khuất Nguyên) của Phạm Lam Anh thì lại nhờ được người ta truyền tụng mà còn ghi trong sử sách. (8)

Văn, tản văn hay biền văn cũng vậy, như trên đã nói, khó hơn thi, cho nên người mình ít làm và làm cũng ít hay.

Phú của Mạc Đĩnh Chi thì sao cho bằng phú của Giả Nghị, của Tô Thức? Ký của Trương Hán Siêu thì sao cho bằng ký của Hàn Dũ, của Âu Dương Tu? Chính người An Nam lại ưa phóng tụng văn Tàu mà nhãng quên văn nước mình, chẳng phải là không có cớ. Hịch của Trần Quốc Tuấn, đại cáo của Nguyễn Trãi mà được chúng ta coi làm báu, chẳng qua nhờ trong đó nhuộm đậm màu quốc gia đấy thôi, chứ cứ kể văn chương còn chưa thấm vào đâu.

Tiểu thuyết, không có trường thiên, chỉ có đoản thiên mà cũng không được đúng với tên ấy lắm, tức như Truyền kỳ mạn lục  và Vân nang tiểu sử  (9) v.v… Những tác phẩm ấy, thứ thì tuyệt bản rồi, thứ thi còn chép tay, nhưng, giả sử từ trước người ta đã in ra cho thật nhiều là cũng không bán tranh nổi với Liêu trai chí dị hay Tử bất ngữ  của Tàu.

Kể ra thì hết thảy văn chương các món, đằng lượng cũng như đằng phẩm, ta đều còn kém Tàu xa. Cái kém ấy đáng lắm, không ai tránh được. Chỉ trách sao còn có người không chịu là kém mà lại kiếm lời tưng bốc nhau, nói trái với sự thực, đã gieo một sự mậu ngộ lớn vào trong óc mọi người luôn với sự kiêu căng nữa.

Bài này vì đầu đề là khái luận, cho nên về các tác phẩm và tác giả không thể nói tường tận hơn, tôi cũng lấy làm đáng tiếc, nhưng tôi phải ngừng bút ở đây để bắt đầu kết luận đi.

Lúc hai mươi tuổi, tôi được đọc cuốn Việt Nam vong quốc sử  ở Nhật Bản gởi về; ngoài cái cảm tưởng mới lạ nẩy ra cho tôi lúc bấy giờ, tôi còn nhờ đó bắt đầu có một điều xét nhận về sự người An Nam viết chữ Hán.

Cuốn sách ấy, ông Lương Khải Siêu đứng tác giả, nhưng cả phần chính văn do cụ Phạn Bội Châu soạn, ông Lương chỉ viết mấy tờ đầu như cái tiểu dẫn. Trong phần như tiểu dẫn ấy, ông Lương có nói một cậu tợ hồ phân bua với độc giả người Tàu mà rằng, trong sách nếu có chỗ văn không được nhã thuần, ấy là vì muốn để y cho còn cái chơn tích của tác giả, cụ Phan, nên không hề sửa chữa một chữ nào.

Đọc câu phân bua đó tôi phải ngẩn người ra, tôi phải đánh dấu trong đầu một sự chú ý rất lớn: à, té ra học giỏi như Phan Bội Châu của An Nam, văn hay như Phan Bội Châu của An Nam mà viết ra người Tàu còn bảo là có chỗ không được nhã thuần!

Nhã là nhã nhặn, đối với tục; thuần 馴  là như con thú rừng đem về tập luyện đã lành đi (dompté). Viết văn mà không được nhã thuần, nghĩa là còn pha giọng tục, còn như con voi lung lăng chưa chịu vố, bành; con ngựa hay cất hay đá, chưa chịu cương, khớp.

Người ngoại quốc viết tiếng Pháp, có nhiều câu không sai mẹo, không tối ý, người Pháp xem vẫn hiểu nhưng không cho là được, gọi là pasfrançais. Thì khi người ngoại quốc viết văn Tàu mà bị phê là không được nhã thuần, cũng có nghĩa như thế, nghĩa là paschinois vậy.

Sau khi tôi thấy ông Lương Khải Siêu phê văn cụ Sào Nam rằng còn có chỗ paschinois, tôi bèn để ý xem lại văn của những người An Nam khác viết thì quả nhiên thấy ra có nhiều chỗ paschinois lắm.

Lấy ví dụ gần đây cho bạn đọc có thể kiểm soát được, thì không đâu bằng lấy ở phần chữ Hán của tạp chí Nam phong. Trong đó nhan nhản những chữ người ta đã dùng chẳng ra Tàu chút nào cả. Nhất là chữ nhưng đem dùng như chữ nhiên  , chữ sí  啻  đem dùng như chữ thí  譬  thì đến ông Lương Khải Siêu cũng không hiểu nếu hồi còn sống ông có đọc!

Nhưng cái thời đại báo Nam phong là thời đại chữ Hán ở nước ta đã tàn tạ rồi, không đáng trách lắm; tôi xin trình bạn đọc một bộ sách do Sử quán làm ra hồi Tự Đức mà trong đó còn có nhiều câu đầy những lỗi về văn pháp, không thể dung thứ được.

Ấy là bộ Đại Nam chánh biên liệt truyện sơ tập, biên tập xong năm Tự Đức thứ năm, do hai ông Trương Đăng Quế và Võ Xuân Cẩn làm tổng tài, còn các quan toản tu toàn là người khoa giáp. Đây, tôi trích ra một vài cái lỗi của sách ấy:

Cuốn 23, truyện Lê Văn Duyệt, tờ 31, chỗ nói chuyện ông Duyệt để năm chục quan tiền giữa nhà, thình lình mất đi, đi tìm thì thấy “có người lót tiền mà ngồi trên nóc nhà” v.v… mà biên rằng 有 屋 上 者 載  錢  踞  坐 hữu ốc thượng giả tại tiền cứ tọa  thì thật là không có nghĩa. Vì theo văn pháp, khi đặt ….   cách ấy thì giữa nó phải có verbe mới được, mà ở đây chẳng có verbe nào hết. Nếu chữa lại: 有 載 錢 踞  坐 於 屋 上 者 hữu tại tiền cứ tọa ư ốc thượng giả  thì có nghĩa hơn.

Cuốn 30, truyện Nguyễn Văn Nhạc, tờ 15, chỗ nói Nhạc nghe Huệ chết, chính mình đem hơn ba trăm liêu thuộc cùng em gái ra thăm, đi đến địa đầu Quảng Ngãi thì “bị viên đồn trưởng của Huệ ngăn lại” mà biên là  爲 惠  屯  將 阻 之  “vi Huệ đồn tướng trở chi”  cũng lại không trôi nữa. Theo văn pháp, câu này muốn đặt lối actif  thì nói: 惠  屯  將 阻 之  “Huệ đồn tướng trở chi”; muốn đặt lối passif thì nói: 爲 惠  屯  將 “Vi Huệ đồn tướng sở trở”,  chứ không ai lại đặt câu bằng lối passif lại còn để chữ  chi  là chữ chỉ có thể dùng được trong câu actif mà thôi.

Cuốn 31, truyện Cao Man, tờ 8, chỗ nói ba người em khác mẹ của vua Cao Man chạy sang Xiêm, bầy tôi cũ trong nước “có nhiều kẻ lẻn theo họ” mà biên là: 多 有 潛 往 之 者 “đa hữu tiềm vãng chi giả” cũng không đúng mẹo. Theo văn pháp, vãng  là verbe intransitif, theo sau nó phải để chữ yên, không được để chữ chi. Thế thì nên chữa lại: 多 有 潛 往 焉  đa hữu tiền vãng yên giả ; nhưng như thế, đúng mẹo mà chưa đủ nghĩa, vậy phải chữa nữa là: 多 有 潛 往 從  “đa hữu tiềm vãng tòng chi giả”.

Thôi, không lẽ cứ thế này mà kéo dây ra mãi, chỉ trích ba chỗ cũng là đủ rồi. Nhân tiện, tôi nắm lấy lẽ này làm kết luận:

Hơn một ngàn năm học chữ Hán, vẫn có nhờ nó lập cho ta một nền văn hóa khả quan, nhưng nếu nói ta đã lập nên trên thứ chữ ấy một nền văn hóa xứng đáng thì tôi tưởng rằng chưa chắc. Bởi một thứ chữ mà ta viết hãy còn chưa được nhã thuần, chưa đúng văn pháp, thì làm sao cho thành văn học được?

Tội không tại người mà cũng không tại chữ. Tội tại người nước này mà lại dùng chữ nước kia!

Bởi vậy tôi nói nước ta từ ngày có văn học quốc ngữ là một hạnh phúc ở đâu đưa đến cho chúng ta! Ở người ta, nước mất thì sợ cho chữ cũng theo mà mất; còn mình, trong khi nước mất lại có quốc văn sản xuất và mỗi ngày một thịnh, ấy chẳng phải là điều may mắn lạ?

Nhân chữ Hán suy ra, tôi biết chữ Pháp rồi cũng thế. Cái trạng huống của văn học chữ Pháp ở nước ta mai sau ra thế nào, tôi có thể đoán biết từ hôm nay. Văn của ông Nguyễn Mạnh Tường hay của ông Phạm Duy Khiêm, mãi đến sau đây vài mươi năm rồi người ta sẽ tìm thấy nó pasfrançais cũng như văn cụ Sào Nam đã không được nhã thuần, của các quan Sử quán đời Tự Đức đã sai văn pháp! Thế thì sao người ta còn sính chữ Tây cũng như ngày xưa đã sính chữ Tàu?

Rút lại, một thứ chữ ngoại quốc nào cũng chỉ hành dụng bởi sự nhu cầu của thời đại mà thôi, còn muốn lập nên văn học thì ắt phải là văn tự bản quốc mới được. Vậy chúng ta nên đồng thanh kêu: Hỡi, người Việt Nam, trở về với quốc văn!

PHAN KHÔI

Nguồn:

Tao đàn, Hà Nội, s. 1 (1er Mars 1939), tr.13 -18;

  1. 2 (15 Mars 1939), tr. 107 -114.

Chú thích

(1*)  Chỗ này có thể Phan Khôi đã nhớ lầm; thật ra bài báo chữ Hán của ông nhan đề Chánh trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử đăng 2 kỳ trên tờ Quần Báo (báo chữ Hán ở Chợ Lớn, s. 140 ngày 11.1.1929 và s. 141, ngày 18.1.1929), sau đó lược dịch đăng lại trên tờ Thần Chung (chữ Việt, s. 11, ngày 18.1.1929). Xem : Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929, / Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn/ Đà Nẵng – Hà Nội, 2005: Nxb. Đà Nẵng & Tr.tâm VH-NN Đông Tây, tr. 16-20. Bản điện tử :  http://lainguyenan.free.fr/pk1929/index.html

(1) (nguyên chú của Phan Khôi): Nhân đề có chữ kỳ lân nên bài làm mỗi câu có tên một con vật để chọi quy, long, hùng (gấu), lộc (hươu); vì thế mà cho là hay, phục là tài.

(2) (nguyên chú của Phan Khôi): Xem sách Nam hải dị nhân liệt truyện về truyện ba người: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Điểm. Ở đó có giải rõ nghĩa các câu đối này.

(2*) Nguyễn Hy Tông tức là Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi chúa: 1558-1612)

(3) (nguyên chú của Phan Khôi): Xem Nam hải dị nhân liệt truyện về truyện Đào Duy Từ.

(3*) Nguyễn Thái Tông tức là Nguyễn Phúc Tần (ở ngôi chúa: 1648-1687)

(4*) Jeu de mots (chữ Pháp): chơi chữ.

(4) (nguyên chú của Phan Khôi): Nghĩa là: Mặt trăng sáng và trong, bị đám mây đùa bỡ làm cho tối lại sáng.

(5) (nguyên chú của Phan Khôi): Bốn câu giữa của bài Cẩm sắt : (Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp, Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên. Thượng hải nguyệt mình châu hữu luy, Lâm Điển nhật hoãn ngọc sinh yêu). Xin khỏi thích nghĩa, vì khó quá mà lại lôi thôi nữa.

(5 *) Nghĩa là người trong núi tự đi qua đi lại, vì núi sâu nên người ngoài chẳng ai biết. Thơ của Phạm Lam Anh (***), nghĩa là cái khí phẫn uất lồng lên, trời cũng có thể hỏi được; cái người một mình tỉnh đã đi rồi, trong nước trống trơn. Hai mẩu này đều thấy trong sách Đại Nam Triều Biên (?) liệt truyện.

(6) (nguyên chú của Phan Khôi): Chắc nghĩa thế nào mà thích được!

(7) (nguyên chú của Phan Khôi): Nghĩa rõ rồi, không cần thích!

(8) (nguyên chú của Phan Khôi): Thơ của Nguyễn Hương, nghĩa là: học được cái bí quyết sống lâu mà chẳng cầu cho thiên hạ biết mình.

(9) (nguyên chú của Phan Khôi): Truyền kỳ mạn lục  của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê; Vân nang tiểu sử    có in trong Nam Phong mấy số đầu.

PHAN KHÔI VÀ NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN VỀ “TRUYỆN KIỀU” NHỮNG NĂM 1920-1930

 

Lại Nguyên Ân

 

Những năm 1920-1930, trên báo chí ở ba miền Việt Nam đã nổ ra khá nhiều cuộc tranh luận xung quanh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Một số công trình nghiên cứu và tư liệu nhiều năm qua đã đề cập đến những tranh luận ấy. (1) Tuy vậy, một phần do quan điểm nghiên cứu, một phần do những thiếu hụt đáng kể về nguồn tài liệu, không ít dữ kiện đã bị bỏ sót, sự đánh giá không hiếm khi bị thiên lệch.

Một điều dễ thấy nhất là, hầu như chưa công trình nghiên cứu nào ghi nhận đầy đủ vai trò học giả-nhà báo Phan Khôi (1887-1959) trong những cuộc tranh luận ấy.

Người viết những dòng này, từ năm 2000 đến nay đã giành thời gian tìm hiểu và sưu tầm để tái công bố một cách hệ thống các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, (2) nhận thấy rằng, Phan Khôi đã có vai trò rất đáng kể trong các cuộc tranh luận kể trên.

Dưới đây xin điểm lại những cuộc thảo luận, tranh luận ấy.

Vào năm 1924, Hội Khai trí tiến đức (thành lập 2/5/1919, tên tiếng Pháp:  Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, viết tắt AFIMA, một hiệp hội dân sự, thành viên là những trí thức, quan chức người Việt, và cả một số người Pháp; hội nhằm tới những hoạt động giao lưu văn hóa giữa xu hướng Tây học đang mạnh lên và nền học thuật truyền thống Việt Nam) chủ trương một lễ kỷ niệm tôn vinh thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” rất phổ cập trong cộng đồng người Việt.

Lễ kỷ niệm được tổ chức nhân ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, nhằm ngày 10 tháng 8 năm Giáp Tý (tức ngày 8/9/1924) tại hội quán Khai trí tiến đức, trên bờ hồ Gươm, Hà Nội. Tại lễ kỷ niệm này, tổng thư ký Khai trí tiến đức đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Nam phong” là Phạm Quỳnh (1892-1945) đọc diễn văn tôn vinh thiên tài Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Hiện tượng dân Việt, từ người học thức cao đến kẻ lam lũ, già trẻ lớn bé, ai ai cũng biết cũng thuộc cũng kể cũng ngâm Kiều, − được diễn giả ghi nhận như cái công “tác thành cho tiếng nước nhà” của Nguyễn Tiên Điền; từ đây diễn giả cho Truyện Kiều là “quốc hoa, quốc túy, quốc hồn” của nước Việt; “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”…

Tinh thần bài diễn văn của Phạm Quỳnh là nhất quán với chủ trương của ông và của nhiều trí thức người Việt đương thời: đặt niềm tin sự phát triển văn hóa dân tộc từ nay về sau vào văn quốc ngữ, vào chữ quốc ngữ, tuy là văn tự chỉ mới được phổ biến dăm ba chục năm, nhưng lại gắn với tiếng nói từ xa xưa đến hiện tại của người bản ngữ ở Việt Nam. Trong một ý hướng như thế, việc chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du làm điểm tựa trong truyền thống hầu như là lựa chọn tối ưu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác giả đương thời như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, v.v., vào dịp đó đều có những việc làm góp phần phổ biến Truyện Kiều, những bài viết đề cao giá trị Truyện Kiều.

Tuy nhiên, đó không phải là thái độ duy nhất trong dư luận xã hội Việt Nam, khi ấy đã là một xã hội dân sự khá phát triển; hầu hết các vấn đề văn hóa xã hội (trừ một vài đề tài chính trị quá nhạy cảm như tuyên truyền cộng sản, đả kích thực dân Pháp) đều có thể được đưa ra tranh cãi, các ý kiến khác nhau đều có thể được bày tỏ, với diễn đàn là các cơ quan báo chí khác nhau, phần lớn là của các nhóm tư nhân, dân sự.

Chính trong không khí ấy đã xuất hiện bài báo tỏ rõ một thái độ ngược hẳn lại với loại thái độ kể trên. Ấy là bài viết của Tiến sĩ Nho học Ngô Đức Kế (1878-1929) nhan đề “Luận về chính học cùng tà thuyết. Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” (“Hữu thanh”, H., s. 21, ngày 1/9/1924; bán nguyệt san “Hữu thanh”, 1921-24, là cơ quan của Hội ái hữu công thương Bắc Kỳ, lúc này do Ngô Đức Kế làm chủ bút).

Phương pháp luận then chốt của tác giả Ngô Đức Kế là đem nhuộm màu chính/tà cho hoạt động học thuật mỗi thời đại; “hễ nước nào khi vận nước thịnh cường tất khi ấy trong nước chính học sáng rệt; nước nào khi vận suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành”. Vận dụng vào xã hội Việt Nam, Ngô Đức Kế cho rằng đến lúc này người Việt vẫn còn chưa nắm vững được nền “Âu học”, trong khi những “chân nho chính sĩ Hán học thì đã quá nửa mòn mỏi điêu linh”, tóm lại nền “chính học” đang sa sút, – đó chính là cơ hội cho “tà thuyết” lưu hành, mà việc đề cao Truyện Kiều, theo ông, chính là biểu hiện rõ rệt nhất!

Ngô Đức Kế hoài nghi giá trị bản “Kim Vân Kiều” gốc Trung Hoa, cho rằng ngay đặt nhan đề truyện đã không ổn, “càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một một anh Tàu dốt nào đó mà thôi”; còn “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du, ông Nghè Ngô công nhận đó là áng văn chương quốc âm “hay thật”, nhưng ông không quên nhắc: đó chỉ là một truyện phong tình, không thể tránh khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, tóm lại chỉ là thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời “chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học mà đem ra dạy đời được đâu”! Tất cả những sự trân trọng, tôn vinh mà Phạm Quỳnh giành cho Truyện Kiều ở lễ kỷ niệm tại Khai trí tiến đức, dưới mắt Ngô Đức Kế đều là tà thuyết “xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng”, mê hoặc dân chúng!

          Việc Ngô Đức Kế lên tiếng hạ thấp giá trị Truyện Kiều không chỉ có căn cứ từ quan niệm nhà nho, đề cao văn chương đạo lý, hạ thấp văn chương ngâm vịnh chơi bời; phát ngôn của Ngô Đức Kế chống phong trào sùng bái Truyện Kiều còn bộc lộ một tương quan đối nghịch giữa hai bộ phận kẻ sĩ trí thức người Việt đương thời, một bộ phận hợp tác với chính quyền thực dân, một bộ phận khác thì bất hợp tác với chính quyền ấy, công kích tất cả những ai hợp tác với chính quyền thực dân, những ai tham dự các hoạt động văn hóa được chính quyền thực dân bảo trợ. Tạp chí “Nam phong” hay Hội khai trí tiến đức và các hoạt động của hội này, trong mắt những sĩ phu bất hợp tác với thực dân, đều là công cụ, đều phục vụ những mục đích của thực dân, do đó, họ đều tìm cách tẩy chay, bất hợp tác.

          Mặc dù trong tay có tạp chí “Nam phong”, nhưng Phạm Quỳnh đã im lặng trước sự đả kích của Ngô Đức Kế.

          Phan Khôi thời gian đó (1920-24) cũng đang ở Hà Nội nhưng hầu như không viết báo mà dành thời gian cộng tác với vợ chồng mục sư W.C. Cadman dịch Kinh Thánh đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt.

Mấy năm sau Phan Khôi vào Sài Gòn, cộng tác với một số tờ báo ở thành phố này, trong đó có tuần báo “Phụ nữ tân văn” (1929-1935); tại đây, ông và Đào Trinh Nhất được xem như hai người chèo lái chính cho tòa soạn tờ báo này, nhất là mấy năm đầu. Trong số rất nhiều bài báo Phan Khôi viết và đăng trên tuần báo này, có những bài ông điểm bình cuốn “Nho giáo” mới ra mắt của Trần Trọng Kim, trao đổi với tác giả chuyên khảo này về các vấn đề Nho giáo. (3) Việc Trần Trọng Kim nhã nhặn đáp lại Phan Khôi và thảo luận về các vấn đề ông nêu ra, đã khiến Phan Khôi nghĩ tới những yêu cầu thuộc phương diện “học phong sĩ tập” của giới trí thức, theo đó, các chất vấn nêu ra trước các nhận định đã có, cần phải được đáp lại, để đẩy học thuật đi tới; những kiểu im lặng trước các ý kiến chất vấn, như việc Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế hồi 1924, theo Phan Khôi, là việc không thỏa đáng, không thể chấp nhận; ông gọi đó là thói “học phiệt” (liên hệ tình trạng cát cứ của các tay “quân phiệt” trên đất Trung Hoa đương thời) và lên tiếng cảnh cáo trước dư luận (Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh: Cảnh cáo các nhà “học phiệt” // “Phụ nữ tân văn”, S.G., s. 62, ngày 24/7/1930; “Trung lập”, S.G., 26/7; 28/7; 29/7; 30/7/1930).

          Chính bài báo của Phan Khôi đã khiến ông chủ nhiệm “Nam phong” phải lên tiếng, ít ra là để giải thích lý do đã im lặng hồi 1924 trước lời phê phán của Ngô Đức Kế. Đến lượt bài trả lời này của Phạm Quỳnh lại khiến ông chủ nhiệm báo “Tiếng dân” (1927-1943) là Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) lên tiếng với lý do cần “chiêu tuyết” cho ông nghè Ngô Đức Kế vừa quá cố, vì cho rằng lời giải thích của Phạm Quỳnh có những chỗ xúc phạm ông nghè Ngô. (4) Rồi Phan Khôi cũng lên tiếng thêm mấy lần, khi thì đáp lại các ý kiến, các lập luận trong bài của Phạm Quỳnh, lúc lại góp ý với Huỳnh Thúc Kháng về những chỗ ông này hoặc thiên vị Nghè Ngô, hoặc xoi mói họ Phạm, (5) − những sự chấn chỉnh mà Phan Khôi từng cho là cần thiết trong thảo luận, tranh luận, bút chiến. (6)

          Những ý kiến và bài báo kể trên, tuy đều xa gần gắn với sự kiện tôn vinh Nguyễn Du và Truyện Kiều hồi mùa thu năm 1924 của Khai Trí tiến đức và Phạm Quỳnh, song nội dung các ý kiến ấy đã tiến triển sang nhiều hướng khác, nhiều đề tài khác, có khi không dính gì đến Truyện Kiều nữa.

          Phạm Quỳnh cho rằng đối với “một nền văn chương kiệt tác” như Truyện Kiều thì phải “đứng về phương diện văn chương mà xét”, nhưng họ Ngô hồi đó lại đứng về phương diện đạo đức, mà lại là cái đạo đức hẹp hòi, thì lập luận thiên đi, không còn là một vấn đề văn chương học thuật nữa.

          Trong khi đó, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục dùng quan niệm đạo đức để công kích việc phổ biến Truyện Kiều vào công chúng: “Sau nầy tôi xin chánh cáo cho anh em trí thứ trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải thứ sách học; mà nói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại”. Theo ông, từ khi Truyện Kiều được tán dương, − ý chỉ thời điểm 1924 với lễ kỷ niệm Nguyễn Du do hội Khai trí tiến đức tổ chức − “đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình”!

          Phan Khôi trước sau thừa nhận ý nghĩa chính đáng của việc Ngô Đức Kế nêu vấn đề “chính học – tà thuyết”, “là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập”, do vậy, Phan Khôi cũng thừa nhận sự chính đáng của việc Huỳnh Thúc Kháng lên tiếng bênh vực Ngô Đức Kế, sau khi đọc những lời Phạm Quỳnh giải thích chuyện cố ý im lặng dăm năm trước. Tuy vậy, Phan Khôi không đồng tình với việc Huỳnh Thúc Kháng mạt sát Truyện Kiều và lên án những ai tán dương Truyện Kiều.

          Phan Khôi nêu ra một tiền đề mới về quan niệm có thể dùng để xem xét vấn đề:

    “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiêu biểu rằng: Nghệ thuật vì nhân sanh (l’ art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại, nói rằng: Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’ art pour l’ art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.” (7)

          Phan Khôi viết ý kiến này vào năm 1930. Vậy những ai quan tâm khía cạnh “kỷ lục” của việc đưa các luận thuyết mới từ bên ngoài vào Việt Nam, phải chăng nên ghi nhận ông mới là người sớm nói đến các thuyết nghệ thuật vị nhân sinh và nghệ thuật vị nghệ thuật trên báo chí Việt Nam, sớm hơn hẳn những tên tuổi vẫn thường được gắn cho cái công trạng du nhập lần đầu các lý thuyết này, mặc dù họ sẽ lên tiếng muộn hơn Phan Khôi dăm bảy năm?!

          Vận dụng quan niệm lý thuyết kể trên, Phan Khôi cho rằng:

    “Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không; nếu vậy thì đáng công kích thật; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.” (7)

    Về việc Huỳnh Thúc Kháng lo sợ sự phổ biến Truyện Kiều sẽ có hại cho phong hóa, Phan Khôi xếp mối lo của họ Huỳnh vào cùng với mối lo của những nho gia Trung Hoa xưa như Hàn Dũ, Tăng Củng, “lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm”. Cái ý ấy là tốt nhưng lại không hợp trào lưu văn học của thế giới ngày nay. Tóm lại, theo Phan Khôi: “Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi”. (7)

 Việc họ Huỳnh cho rằng phong trào tán dương Truyện Kiều đã khiến nhiều lớp thanh niên vì say mê tình ái mà dứt bỏ cả nền nếp gia đình lẫn trật tự xã hội, Phan Khôi nói ông chưa dám tin. Ông đề nghị họ Huỳnh thực hiện những thống kê về tình hình tội ác trước và sau thời điểm đó thì nhận định của họ Huỳnh mới có thể tin được!

          Những biện bác như trên của Phan Khôi, tất nhiên chưa thể lay chuyển được một nhà nho thâm sâu đạo Khổng như Huỳnh Thúc Kháng. Vả chăng, đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du, đương thời những năm 1930, những người công khai tỏ rõ thái độ hạ thấp và phản đối việc phổ biến Truyện Kiều không chỉ là giới nhà nho như Huỳnh Thúc Kháng hay Võ Liêm Sơn, Nguyễn Mạnh Bổng, v.v. Dư luận công chúng xung quanh kiệt tác này của Nguyễn Du vẫn phân tán trong một phổ rộng từ thích đến không thích; không hiếm khi, sự yêu thích những vần thơ giản dị đã nhập tâm, bỗng chao đảo khi người ta bị đặt trước những câu hỏi về đạo đức nhân vật nữ chính của tác phẩm. (8)

Nhưng, khác với giới nhà nho, thế hệ nhà văn xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt và bước vào làng văn làng báo bằng văn chương quốc ngữ, sẽ ngày càng thấy gắn bó nhiều hơn với văn chương Truyện Kiều.

Lưu Trọng Lư là một trong số họ.

Năm 1933, khi Phan Khôi đang làm chủ bút tuần san “Phụ nữ thời đàm” ở Hà Nội, ông đã đăng khá nhiều cho tác giả trẻ Lưu Trọng Lư, bên cạnh sáng tác văn thơ, còn có cả thiên tiểu luận “Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều” (“Phụ nữ thời đàm”, H., s. 13, ngày 10/12/1933), công kích thái độ của Huỳnh Thúc Kháng trong chùm thơ “Vịnh Kiều” (“Tiếng dân”, 1/11/1933). Điều làm Lưu Trọng Lư ngạc nhiên là cuộc đời chí sĩ họ Huỳnh gian lao không kém cuộc đời cô Kiều trong truyện, thế mà họ Huỳnh lại là người sỉ mắng nữ nhân vật kia tàn nhẫn hơn ai hết! Điểm qua cuộc đời Kiều như một nhân vật sống thật, Lưu Trọng Lư như là muốn gửi lời khuyên can tới nho sĩ họ Huỳnh: “Nói tóm lại, muốn xét thân thế Kiều, chớ đứng hẳn trong những lễ giáo nghiêm ngặt chật hẹp của nho giáo…”.

Lời phê bình của Lưu Trọng Lư được chủ nhiệm “Tiếng dân” đáp lại bằng một nụ cười: đối với ông, đây chẳng qua là cơn mê của người mê tiểu thuyết, tựa như kiểu người mê tuồng hát, thế thôi. (“Mê người trong tiểu thuyết cùng mê người trong tuồng hát”. Thuyết chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều của ông Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép đóng vai Tần Cối. // “Tiếng dân”, 24/1/1934).

Nhưng Phan Khôi thì nghĩ khác.

Gần như ngay sau khi cho đăng bài của Lưu Trọng Lư, chủ bút Phan Khôi đưa đăng tiếp bài của chính mình (“Rìu búa của nhà nho” // Phụ nữ thời đàm, H., s. 17, ngày 7/1/1934). Ông cho rằng việc “chiêu tuyết” hay là phê bình nhân vật trong truyện chỉ là thủ thuật “giá đó mà đánh chỗ khác”; chỗ khác ấy, theo ông, Lưu Trọng Lư nhắm vào cái tâm thuật, cái tâm địa của cả một giới người mà họ Huỳnh chỉ là một. Những sự “tàn nhẫn” thể hiện trong thơ vịnh Kiều của họ Huỳnh, được Lưu Trọng Lư nhận định: “Cái lòng người ta có là sắt đá lắm mới thở ra cái giọng tàn nhẫn như thế được…”, và: “Chỉ có những người nhác nhớn, buồn rầu, bi quan mới hay ghen ghét quạu quọ…” – Nhận định này, Phan Khôi cho rằng họ Lưu nhắm vào giới nhà nho. Phan Khôi đồng tình với ý kiến này. Bài của ông sẽ phát triển nhận định ấy.

Tất nhiên là điều này đã ít nhiều đi ra ngoài giới hạn của việc bình luận Truyện Kiều, nhưng lại là việc truy tìm cái căn cứ, cái cơ sở của việc, một bộ phận nhà nho, nối tiếp nhau, muốn phủ định giá trị của kiệt tác này, muốn dứt bỏ nó khỏi sự đọc sự biết của công chúng.

Phan Khôi vạch rõ: từ xưa giới nhà nho đã xem việc Khổng Tử làm kinh Xuân thu như là việc thưởng phạt, “bao phong người hoặc tru lục người”, “dùng một chữ mà nhấc một ông quan nhỏ lên, cũng dùng một chữ mà hạ một ông vua chư hầu xuống”, nhân danh “phù trì cương thường luân lý, bồi thực thế đạo nhân tâm”; nói khác đi, là diễn ngôn quyền lực được trao cho giới nhà nho, do hệ quả của việc tầng lớp quân chủ chuyên chế đã lấy nho giáo làm quốc giáo, dùng dư luận của giới nho sĩ làm công cụ hỗ trợ cho nền “đức trị” của vua chúa. Phan Khôi nêu ra những sự việc giới nho sĩ các đời sau, theo gương Khổng Tử, dùng khen chê để thưởng phạt, nhưng nhà nho không bao giờ khen ai, chỉ có trách phạt thôi, mà ví dụ sớm nhất là việc Mạnh Tử công kích thuyết “vị ngã” của Dương Chu là “vô quân”, thuyết “kiêm ái” của Mặc Địch là “vô phụ”, xóa bỏ được ảnh hưởng của hai thuyết ấy, bảo vệ sự độc tôn Nho giáo. Sau này, Hàn Dũ thời Đường đòi đốt sách Phật, bắt thầy tu trở về làm dân, rồi các nho sĩ thời Tống tiếp tục công việc “tịch Phật, bài Lão”, tuy không có hiệu quả gì, nhưng vẫn được giới nho sĩ tôn sùng là có công “vệ đạo”.

“Tôi đã kể qua những cái sử tích trên đó để cho biết rằng nhà nho từ Mạnh Tử về sau ai nấy đều có một cái tâm lý chung là: Không dung nạp kẻ khác với mình.  Việc họ làm có giống với đức Khổng chăng thì không biết; duy người nào đã làm cái việc như thế thì cũng vin lấy đức Khổng, mượn bửu bối của kinh Xuân thu. Kỳ thực thì cái áo hoa cổn ngài dùng để đôi khi ban thưởng cho người đời, họ đành bỏ mốc meo ra, mà chỉ chăm một sự dùng rìu búa để chặt người này, bổ trên đầu người khác. Cái tâm lý ấy thấm mỗi ngày một sâu vào đầu kẻ học, tự nhiên luyện nên cái tánh hay gây, hay đỗ cáu, không chịu “hẩu” với đời. Người ta ở đời, có thể sống một trăm cách, một nghìn cách khác nhau; nhưng theo ý nhà nho, chỉ muốn ai ai cũng sống một cách như mình. Không cần xét đến lý, cứ hễ ai sống khác mình thì ấy là dị đoan, là tà thuyết, là dâm hạnh, tương rìu búa ra mà trị nó chết đi cho rảnh! Dương, Mặc, Phật, Lão, có phải là rắn rết hại người đâu, chỉ là một cách sống, có điều sống khác với nhà nho, thế thôi, có việc gì mà phải cự, phải tịch? Cũng như nàng Kiều, một người con gái lỡ bước, có việc gì mà phải mắng? Có phải chăng, cự Dương, Mặc, tịch Phật, Lão thì mình mới trở nên á thánh đại nho, và mắng Thúy Kiều thì mới tỏ ra mình là chánh nhân quân tử?”

Vậy là rốt cuộc, Phan Khôi đã tìm ra cái cơ sở tư tưởng tâm lý của giới nhà nho trong hành động của họ công kích Truyện Kiều và những ai cổ xúy phổ biến Truyện Kiều; để bảo vệ sự độc tôn ý thức hệ nho giáo, họ cự tuyệt, hết sức công kích mọi tư tưởng, mọi lối sống khác. Ngay khi Nho giáo đã suy tàn, nhà nho vẫn cố chấp, thu mình lại trước mọi đổi thay. Họ vẫn chủ “kính”, chủ “tịnh”, quá mực thước, không thích vui mà cũng không muốn cho ai vui; họ phản đối hát bội, hát cô đầu, xi-nê-ma, nhảy đầm; kiểu người quay lưng với sự sống như vậy “thì cái lòng yêu đời phải càng ngày càng kém đi, gìn lòng thì sắt đá mà mở miệng ra thì tàn nhẫn”!

***

Như vậy, bằng một loạt bài báo, trong khoảng 4 năm (1930-1934), Phan Khôi đã can dự những tranh luận xung quanh di sản Truyện Kiều theo hướng “giải hoặc” đối với luận đề về “chính học/tà thuyết” của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và một bộ phận nhà nho còn quá gắn bó với các giáo điều đạo Khổng. Phan Khôi cảm thông với các nhà nho này về tình trạng nền học vấn mới còn yếu, nền học vấn cũ – Hán học – đã tàn, song ông không xem những hiện tượng như tôn vinh Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều là “tà thuyết” như các nhà nho ấy lo ngại và công kích. Trước những phản bác rất dai dẳng của phía bảo thủ (mà tiêu biểu là các bài luận và thơ vịnh của Huỳnh Thúc Kháng), Phan Khôi đã đưa ra những phúc đáp thực tế, có sức nặng; cuối cùng, ông đưa ra sự cắt nghĩa nguồn gốc những phản đối dai dẳng từ phía giới nhà nho đối với Truyện Kiều và việc phổ biến Truyện Kiều, – ấy là di sản của tình trạng độc tôn ý thức hệ nho giáo, chính ý thức hệ ấy đã cấp cho nhà nho cái vũ khí để họ vô hiệu hóa tất cả những gì khác với tôn chỉ nho gia, ngay khi nho giáo đã lỗi thời cũng vẫn cố chấp quay lưng với thực tế, với mọi sắc thái mới của đời sống. Việc “giải hoặc” này vốn được Phan Khôi thực hiện đối với toàn bộ di sản Nho giáo nói chung, suốt những năm 1930-40, chứ không chỉ với những tranh luận về Truyện Kiều.

Riêng về kiệt tác này của Nguyễn Du, nếu ta có dịp đọc tạp văn Phan Khôi, ta sẽ thấy ông luôn luôn coi Truyện Kiều như một tập đại thành của văn hóa người Việt, của ngôn ngữ Việt, ông thường xuyên dẫn trích tác phẩm này như một nguồn văn, nguồn di sản không gì thay thế được đối với người viết văn tiếng Việt. Nhưng đây là chuyện đã xa so với đề tài đang bàn.

28/6/2015

Chú thích

(1) Ví dụ:

Vũ Đức Phúc (1971): Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, 1930-1954. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr. 19-41;

Thanh Lãng (1972-73): Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn: Phong trào văn hóa xb., t.1- t.2;

 Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan (2002): Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. [thư mục, văn tuyển]. Hà Nội: Nxb. Lao động, t. I, tr. 371-891.

(2) Các sưu tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo [= PK, TPĐB] do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn đã tái công bố gồm:

PK, TPĐB 1928 (Nxb. Đà Nẵng, 2003, 444 tr.);

PK, TPĐB 1929 (Nxb. Đà Nẵng- TT.VH-NN Đông Tây, Hà Nội, 2005, 780 tr.);

PK, TPĐB 1930 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1024 tr.);

PK, TPĐB 1931 (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 1032 tr.);

Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2006, 530 tr.);

PK, TPĐB 1932 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, 896 tr., tái bản 2014);

PK, TPĐB 1933-1934 (Nxb. Tri thức, 2013, 575 tr.);

PK, TPĐB 1935 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2013, 463 tr.);

PK, TPĐB 1936 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 600 tr.);

PK, TPĐB 1937 (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, 356 tr);

(3) Các bài thảo luận giữa Phan Khôi và Trần Trọng Kim gồm: 1/ Phan Khôi: Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 54 (29/5/1930); 2/ Trần Trọng Kim: Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 60 (10/7/1930); 3/ Phan Khôi: Về bài phê bình sách “Nho giáo” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 63 (31/7/1930), s. 64 (7/8/1930); 4/ Trần Trọng Kim: Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 71 (25/9/1930), s. 72 (2/10/1930), s. 74 (16/10/1930).  

(4) Gồm các bài chính: 1/ Phạm Quỳnh: Trả lời bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 67 (28/8/1930); 2/ Huỳnh Thúc Kháng: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời // Tiếng dân, Huế, s. 317 (17/9/1930); Phụ nữ tân văn, S.G., s. 72 (2/10/1930); 3/ Huỳnh Thúc Kháng: Biện chánh lại mấy lời phê bình của ông Phan Khôi // Tiếng dân, Huế, s…. (18/10/1930); đăng lại: Trung lập, S.G., s. 6284 (28/10/1930); s. 6285 (29/10/1930); s. 6289 (4/11/1930); s. 6291 (6/11/1930).

(5) Gồm các bài: Phan Khôi: Về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh // Phụ nữ tân văn, S.G., s. 70 (18/9/1930); Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng // Trung lập, S.G., s. 6266 (7/10/1930); s. 6267 (8/10/1930); s. 6268 (9/10/1930);

(6) Năm 1929 Phan Khôi có bài Bàn thêm về bút chiến, không ký tên tác giả, đăng 4 kỳ báo Thần chung, từ s. 106 (28/5/1929) đến s. 114 (6/6/1929).    

(7) Phan Khôi: Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, kỳ III // Trung lập, S.G., s. 6268 (9/10/1930)

(8) Xem các bài trả lời tòa soạn “Phụ nữ tân văn” (thời kỳ đầu, 1929) về câu hỏi “Kiều nên khen hay nên chê?”, có thể thấy sự khác biệt đáng kể giữa các ý kiến người đọc tham gia.