Trang chủ » Posts tagged 'hội văn nghệ việt nam'

Tag Archives: hội văn nghệ việt nam

ĐỀ XUẤT TÔN VINH DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI: PHAN KHÔI

 

 

 

Tác gia Phan Khôi (1887-1959) là một tên tuổi lớn trong hoạt động báo chí, văn học, tư tưởng Việt Nam ở thời hiện đại.

Quê tại Quảng Nam, sinh trưởng trong gia đình nhà nho, đời ông và đời cha đều đỗ đạt, làm quan, Phan Khôi theo Nho học từ nhỏ. Năm 1906 dự thi hương, đỗ Tú tài. Cũng từ cuối năm 1906, Phan Khôi tham gia phong trào duy tân, vận động cát tóc ngắn, đi quyên tiền và chọn người cho “Đông du”; đầu năm 1908 Phan Khôi là một trong số những thành viên trẻ được phong trào duy tân Quảng Nam cử ra Hà Nội học tiếng Pháp. Cũng thời gian đó tại Quảng Nam nổ ra vụ “xin xâu”, chính quyền Pháp ra tay đàn áp. Phan Khôi bị bắt đưa về Quảng Nam, bị kết án tù 3 năm; 1911 ra tù, Phan Khôi còn tiếp tục hoạt động trong “ám xã” thêm vài năm nữa; sau đó, ông xin ra khỏi tổ chức bí mật, để chuyển hướng đời mình sang “phụng sự Tổ quốc về mặt văn hóa″.

Từ bỏ con đường của chí sĩ, Phan Khôi bắt đầu tìm kiếm cho mình một phương hướng sống mới. Ông tìm học chữ Quốc ngữ, học tiếng Pháp, lại cũng tìm tòi học hỏi từ các nguồn sách báo từ Trung Hoa, từ Pháp đưa đến xứ ta.

Về nghề nghiệp mưu sinh, sau thời gian dạy học tại nhà, Phan Khôi bắt đầu viết báo (chữ Hán và chữ Việt) từ năm 1917 cho tạp chí Nam Phong ở Hà Nội với bút danh Chương Dân . Đầu 1918 ông ra Hà Nội làm việc trong tòa soạn báo này, song chỉ một năm sau, ông thôi việc về nhà. Năm 1919, ông vào Sài Gòn, viết cho tờ Quốc dân diễn đàn, và sau đó, cho tờ Lục tỉnh tân văn. Được vài tháng, lại bị buộc thôi việc.

Năm 1920, ông ra Hải Phòng, vào làm thư ký cho hãng tàu Bạch Thái. Đầu năm 1921 thôi việc ở đấy, lên Hà Nội, cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu thanh. Nhưng phần lớn thời gian suốt 5 năm (1921-1925) Phan Khôi cộng tác với Hội thánh Tin Lành ở Hà Nội (tức là Hội truyền giáo Phúc âm liên hiệp /Christian and Missionary Aliance; C&MA/, từ Hoa Kỳ vào Việt Nam) dịch Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, dưới sự chủ trì của bà mục sư Grace Hazenberg Cadman. Đây là dịp rất may mắn để Phan Khôi được mở rộng tầm mắt, hiểu biết văn hóa Thiên Chúa giáo phương Tây, nhất là nhánh tôn giáo cải cách Tin Lành.

Đầu năm 1926, Phan Khôi đến Huế, mục đích là gặp Khâm sứ Pasquier để xin giấy phép ra một tờ báo nhưng việc không thành; ông ở nhờ nhà riêng Nguyễn Bá Trác, khi ấy vừa được bổ chức Tán lý bộ Học, đúng lúc Phan Bội Châu bị chính quyền Pháp, vì định bỏ tù cụ không được, bèn buộc cụ phải an trí tại Huế, cũng đang ở nhà Nguyễn Bá Trác; sự việc này sẽ gây nhiều rắc rối về sau. Cũng dịp đầu năm 1926, Phan Khôi vào Sài Gòn theo lời nhắn của chí sĩ Phan Châu Trinh, đã từ Pháp về Sài Gòn, và đang bị đau nặng, nằm tại nhà thầy thuốc Nguyễn An Cư (chú ruột Nguyễn An Ninh)  rồi chết (24.3.1926). Phan Khôi ở trong nhóm những người chuẩn bị đám tang cụ Phan, được giao viết tiểu sử Phan Châu Trinh. Thế nhưng trong dư luận sĩ phu hai xứ Quảng lại có những đồn thổi rằng dường như Phan Khôi đồng mưu cùng Nguyễn Bá Trác dụ dỗ cụ Sào Nam về hàng Pháp, rằng dường như Phan Khôi được Khâm sứ Trung Kỳ đưa vô Nam ám sát cụ Tây Hồ! Phan Khôi bị ngờ vực, xua đuổi, phải rời Sài Gòn xuống Cà Mau, đến khoảng cuối năm 1927 mới trở lại Sài Gòn.

Từ đầu năm 1928 Phan Khôi bắt đầu viết dưới bút danh C.D. (ký tắt bút hiệu Chương Dân) cho tờ Đông Pháp Thời Báo, khi đó đã thuộc về chủ nhiệm Diệp Văn Kỳ (ông này mua lại tờ báo từ tay chủ nhiệm Nguyễn Kim Đính). Sang năm 1929, Đông Pháp Thời Báo đổi tên thành Thần Chung; Phan Khôi tiếp tục viết cho tờ này. Đôi khi ông cũng viết cho báo chữ Hán, tờ Quần Báo (hoặc Hoa Kiều Nhật Báo) của người Hoa ở Chợ Lớn. Từ tháng 5/1929, Phan Khôi và Đào Trinh Nhất cộng tác biên tập và viết bài cho tuần báo Phụ Nữ Tân Văn của chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận. Tháng 3/1930, nhật báo Thần Chung bị đóng cửa, Phan Khôi chuyển sang viết cho nhật báo Trung Lập của chủ nhiệm Trần Thiện Quý, khi Bùi Thế Mỹ cũng từ Thần Chung chuyển sang làm chủ bút cho Trung Lập. Ngoài mấy tờ báo tại Sài Gòn, Phan Khôi đôi khi còn cộng tác với một số tờ báo ở Hà Nội như Phổ Thông (1930), Đông Tây (1931-32).

Hoạt động báo chí những năm 1928-1933 đã khiến tên tuổi Phan Khôi trở nên nổi bật trên trường dư luận văn chương báo chí tiếng Việt khắp cả ba miền.

Giữa năm 1933 ông ra Hà Nội, viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo ít lâu rồi nhận lời của chủ nhân Nguyễn Văn Đa làm chủ bút tờ Phụ Nữ Thời Đàm, đổi tờ này từ nhật báo sang tuần báo (1933-34), duy trì tờ báo suốt 22 tuần, trước khi chuyển chức danh chủ bút cho Nguyễn Triệu Luật.

Đầu năm 1934 Phan Khôi về quê chịu tang cha, lại gửi bài cộng tác với các báo ở Sài Gòn như Công Luận (1934), Phụ Nữ Tân Văn (1934).

Đầu năm 1935, Phan Khôi tới Huế, làm chủ bút tờ nhật báo Tràng An của chủ nhiệm Bùi Huy Tín. Đầu năm 1936 ông thôi chủ bút tờ này, chuyển sang cộng tác viết bài cho tuần san Hà Nội Báo ở Hà Nội. Sau khi cho in cuốn sách Chương Dân Thi Thoại (nhà in Đắc Lập, Huế, 1936), Phan Khôi đứng ra sáng lập báo Sông Hương, một tờ tuần báo thiên về học thuật, nhất là sử học, văn học, ngôn ngữ, v.v., tuy vậy ông và tờ báo này vẫn tham dự nhiều hoạt động của báo giới giữa lúc phong trào Đông Dương đại hội đang lên cao. Do báo thất thu, Phan Khôi phải ngừng xuất bản Sông Hương sau 32 số, trước khi bán lại giấy phép Sông Hương cho nhóm cộng sản Nguyễn Cửu Thạnh, Phan Đăng Lưu. Những năm 1938-1940, Phan Khôi lúc ở Huế, lúc ở Sài Gòn, lúc ở quê Quảng Nam, vừa dạy học, vừa viết bài cho các tờ báo ở Hà Nội như Đông Dương Tạp Chí (tục bản), Thời Vụ, Dư Luận, Ngày Nay, Tao Đàn, Phổ Thông Bán Nguyệt San. Từ 1940 ông hầu như ở Sài Gòn, viết cho tờ Dân Báo của Bùi Thế Mỹ. Khoảng cuối 1941 đầu 1942, ông ngừng viết báo, từ Sài Gòn về quê Quảng Nam.

Đến đấy cũng chấm dứt hoạt động báo chí của Phan Khôi thời kỳ trước 1945.

***

Như đã nói trên, chính hoạt động báo chí tại Nam Kỳ, tại Sài Gòn đã làm nên tên tuổi nhà văn, nhà báo, học giả Phan Khôi. Ông xứng đáng được coi như một trong những tên tuổi hàng đầu của văn học và báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Phan Khôi có lúc nói ông tự xem mình là “viên tiểu tưởng của đạo quân bình dân tư tưởng”. Đây là sự tự xác định chính xác, giàu tự trọng tự khiêm của ông. Vốn là nhà nho nhưng đã không còn đi tiếp con đường thi đỗ làm quan, không thể can dự thế sự từ vai trò quan chức nhà nước. Ông không có cái may mắn được đào tạo chính quy trong nền học thuật Pháp-Việt mới, như một số người Việt cùng thế hệ. Ông phải tìm và đi con đường khác, tựu trung là con đường của người làm dân, người trong dân chúng. Bút danh Chương Dân được sử dụng từ 1917 nói khá rõ sự tự xác định ấy của ông. Ngay khi bằng tự học và tự trang bị nhiều nguồn kiến văn mới, ông cũng hiểu rõ mình đã ở trong hàng ngũ kẻ sĩ bình dân, trí giả bình dân. Do vậy, trong tranh biện tư tưởng học thuật, ông không đặt mục tiêu hay tham vọng thay thế những Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, những đại diện của một học vấn dù sao cũng chính quy hơn ông. Ông đặt mục tiêu đối thoại, phản biện lại các đại diện ấy với một sự chân thành lành mạnh.

1/ Phan Khôi và công việc xây dựng nền Quốc văn mới

Thời kỳ từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ đầu thế kỷ XX là một giai đoạn phát triển mới của văn học tiếng Việt, gắn với việc sử dụng chữ Quốc ngữ. Nếu văn chương tiếng Việt, ở các thời kỳ trước đó, được ghi dưới dạng chữ Nôm, chỉ là một trong các bộ phận của văn học Việt Nam (bên cạnh bộ phận viết bằng chữ Hán), thì từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi, bộ phận này dần dần trở thành bộ phận chủ yếu. Người ta biết, thời kỳ ấy, ở Nam Kỳ và sau đó trong toàn quốc, chữ Quốc ngữ được chính quyền thực dân Pháp đưa vào sử dụng như một trong các văn tự chính quy cho các giao tiếp hành chính công cộng, như một trong hai ngôn ngữ chính quy của nhà trường phổ thông ở Nam Kỳ, sau đó trong cả ba miền (nhà trường Pháp-Việt từ Tiểu học đến Trung học).

Hoạt động trong giới viết báo viết văn, Phan Khôi hiểu khá sâu sắc những chuyển biến đã, đang và sẽ xảy ra cho các diễn ngôn tiếng Việt ở thời đại mới. Ông biết khá rõ về những gì diễn ra trong văn hóa văn học ở nước láng giềng Trung Hoa: “Độ Dân Quốc gây dựng được năm bảy năm chi đó, Hồ Thích bắt đầu xướng ra cái thuyết dùng bạch thoại thế cho văn ngôn, làm cho văn thể nước Tàu biến đổi ngay và từ đó tư tưởng người Tàu cũng phát đạt rất mau”.(1) Ông biết, tiếng Việt dưới dạng các văn bản tác phẩm chữ Nôm của các thời đại trước hầu như chỉ nổi bật ở các thể thơ và văn vần, hầu như đạt tới trạng thái cổ điển, nhưng ở dạng tản văn, văn xuôi thì hầu như có quá ít trứ tác, không có những mẫu mực đủ để hậu thế thời ông có thể sử dụng vào viết văn viết báo. “…chữ Quốc ngữ của chúng ta ngày nay còn phân vân, chưa nhứt định, chưa có sách mẹo cùng các sách khác thuộc về phép làm văn, thì bước thứ nhứt là phải do chúng ta lập cái nền quốc văn cho vững chãi đã, rồi mới nói đến cái hay cái đẹp được; nghĩa là trước hết chúng ta phải tập viết văn cho đúng mẹo, cho thông. Hễ đã đúng mẹo, đã thông, rồi mới nhơn đó mà lập thành sách mẹo tiếng Việt Nam và lại nhơn đó lần lần làm ra các sách dạy phép làm văn, luyện đến cái hay cái đẹp, mà thành ra một nền văn chương Việt Nam vậy”. (2)

Ý thức về nhiệm vụ chung của các giới làm văn làm báo là xây dựng nền quốc văn mới, đã thúc đẩy Phan Khôi bắt tay vào một loạt công việc, một loạt đề tài về ngữ học, khởi đầu là vận động công chúng viết đúng chuẩn chữ Quốc ngữ.(3) Ông nhận thấy “người Bắc, người Trung, người Nam, mỗi nơi đều có sai lầm theo thói quen riêng của mình; chúng tôi hết sức công kích mà khuyên người ta phải viết cho đúng. Đúng gì? Đúng tiếng Việt Nam, đúng tiếng mẹ đẻ, đúng với tự vị Trương Vĩnh Ký và Paulus Của”. (4)

Tiếp đó là việc khởi thảo “Phép làm văn” tiếng Việt, một đề tài mà Phan Khôi đã viết và cho đăng từ 1930 trên tuần báo Phụ Nữ Tân Văn và về sau ông cổ vũ nhiều tác giả khác cùng làm, trên tuần báo Sông Hương ở Huế (1936-37) hoặc trên tạp chí Tao Đàn ở Hà Nội (1939). Phan Khôi quan niệm “phép làm văn” gồm các bộ phận chính là: 1/ “văn pháp” (grammaire), 2/ “luận lý học” (logique), 3/ “tu từ học” (rhétorique),(5) bởi vậy ông vừa viết những bài phân tích trong phạm vi ngữ pháp tiếng Việt, song ông cũng vượt ra ngoài phạm vi đó, bàn tới “cách xưng tên của người Việt Nam”,(6) “cách ngôn luận của người Á Đông”,(7) tới bộ môn “danh học” mà theo ông cần tôn vinh người mở đầu chính là Khổng Tử với thuyết “chính danh”, (8) tới tính chất của hành vi phát ngôn trên trang báo như là sự giao tiếp vắng mặt và các hệ lụy của nó. (9)  Phan Khôi cũng bắt tay vào những công việc thiết thực như mở mục “Vai ngự sử trên đàn văn” để góp ý sửa sai về dùng từ, diễn ý, cho các đồng nghiệp cầm bút trong viết văn viết báo. (10)

Sống bằng nghề viết, chính Phan Khôi phải tự tìm tòi để tạo ra những lối viết hợp lý. Kinh nghiệm Trung Hoa “dùng bạch thoại” của Hồ Thích cho Phan Khôi thấy phải dựa vào thứ tiếng Việt sống động mà người Việt thời mình đang nói hàng ngày để tạo ra những lối viết hiện đại, thích hợp với đương thời. Thành công đầu tiên của ông là tạo được lối viết nghị luận, lối viết “không lấy văn làm mục đích mà lấy việc làm làm mục đích”, “khi nghị luận thì cứ băm vào việc mà nói, việc nên làm thế nào, nói hẳn ra thế ấy”. (11)  Đương thời, lối viết nghị luận của Phan Khôi có những khác biệt rõ rệt so với lối viết nghị luận của Phạm Quỳnh, cũng khác biệt rõ rệt so với lối viết nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh.

Nếu lối viết nghị luận của Phan Khôi dựa chủ yếu trên bảng từ vựng tiếng Việt thông dụng ở cả hai miền Nam Bắc, thì khi viết “lối văn hàng ngày”, lối của một tay bút chủ trì cột báo (columnist), chủ trì các mục báo, các bài hài đàm, Phan Khôi đã chú trọng khai thác phương ngữ miền Nam, với khá nhiều từ vựng và mệnh đề khẩu ngữ thông dụng ở các vùng từ Quảng Nam vào đến Nam Kỳ. Đối với ông, đây là một văn phong của một tác giả dựa vào thứ phương ngữ quen thuộc với mình, nó cũng có giá trị ngang như một văn phong khác, ví dụ lối viết của Hoàng Tích Chu, vốn tận dụng nhiều hơn các đặc tính phương ngữ Bắc Kỳ.

Cả hai lối viết văn xuôi đều thiên về thể luận này của Phan Khôi đã là thành tựu được thừa nhận trong công chúng và đồng nghiệp ngay từ những năm 1930:

“Ông đã ở trong việc viết, dịch văn quốc ngữ nhiều năm; trong vài ba năm nay tên ông đã lừng lẫy trong báo giới, văn ông lại càng rõ ràng, khúc chiết, sáng sủa, dễ hiểu, thỉnh thoảng lại đưa cái hơi trào phúng mát mẻ mà khó chịu. Hiện nay văn viết báo của ông, trừ lối văn luận thuyết mà ông cũng là một tay đàn anh trong trường ngôn luận, ông còn một lối văn đặc biệt, là lối văn hàng ngày, nó hay, nó có duyên và vui vẻ làm sao, nó khéo đến cả trong lối sắp đặt từng câu từng chữ của ông, nó mặn mà thấm thía đến tinh thần người đọc. Đọc lên mà vui, mà mừng, mà thích, mà đắc ý; lại đọc lên mà ké né, mà xính vính, mà sợ, mà lo, mà tức giận, cấu đầu gãi tai, cũng trong câu văn ấy. Các nhà viết báo thiện nghệ ngày nay chưa chắc đã có một tay nào có được lối văn ấy, đủ ứng dụng hàng ngày trong một cơ quan ngôn luận. Thực vậy, lối văn hàng ngày trên báo của ông Phan Khôi có thể đem ra so sánh với lối văn hàng ngày của ông De la Fouchardière ở báo Œuvre bên Paris”. (12)

2/ Phan Khôi và công cuộc đổi mới tư tưởng

Phan Khôi có lúc đã tự coi mình “là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng, đi trước dẹp đường”, (1)  của một nền học vấn bình dân, phổ cập, sẵn sàng chịu chất vấn và truy cầu chân lý. Sống trong một thời đại chuyển đổi, Phan Khôi ý thức rõ rệt về tình thế thay đổi hệ hình văn hóa khi xã hội Khổng giáo Á châu tiếp nhận các luồng sóng “Âu hóa”. Ông nhìn rõ khác biệt Đông-Tây không phải chủ yếu là khác biệt về bản sắc dân tộc hay vùng đất mà chính là khác biệt về trình độ phát triển; văn minh Âu Mỹ chính là văn minh mới mẻ nhất của nhân loại đương thời, với các đặc tính khoa học, dân chủ, tự do, là tiêu biểu cho xu thế tiến bộ của thời hiện đại. (2)  Do vậy, hoạt động cải cách, đổi mới, “Âu hóa”, học theo văn minh Tây phương, chính là chuyển mình sang thời hiện đại.

Phan Khôi rất chú trọng làm rõ hàm nghĩa các phạm trù xã hội của văn minh phương Tây như chủ nghĩa cá nhân, nền dân chủ (cũng gọi là dân trị). Trong khi không ít cây bút nghị luận đương thời khó tránh khỏi tâm thế mô tả xuyên tạc chủ nghĩa cá nhân (individualisme) thành thái độ vị kỷ (égoisme), thì Phan Khôi trình bày cách hiểu chủ nghĩa cá nhân Âu Tây trước hết như là sự tự chủ của mỗi con người trưởng thành trước xã hội. “Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. Ở phương Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia”,… “Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật”. (3)

Phan Khôi hiểu rằng sự phát triển con người cá nhân ấy chính là điều kiện để có xã hội dân trị tức xã hội dân chủ. “Muốn thực hành cái chủ nghĩa dân trị trong một nước nào thì người làm dân trong nước ấy trước phải thực hành cái cá nhân chủ nghĩa (individualisme) mới được”… “Cá nhân chủ nghĩa là hết thảy người trong nước, mỗi người đều độc lập về phần mình; mà độc lập cả hai đường: về tinh thần và về vật chất vậy. Độc lập về tinh thần, tức là mỗi người đều biết tự suy nghĩ lấy, tự phán đoán lấy, nhắm lẽ phải ở đâu thì theo đó, chớ không làm nô lệ cho ý kiến của người nào hay đảng phái nào. Độc lập về vật chất tức là độc lập về kinh tế, mỗi người đều làm lấy mà nuôi sự sống mình, chớ không chịu nhờ vả ai, dầu con cũng không nhờ cha, vợ cũng không nhờ chồng. Có độc lập như vậy rồi mới nói chuyện hiệp quần được”. (4) 

Phân tích trạng thái tinh thần của xã hội Việt Nam, Phan Khôi chỉ ra ảnh hưởng rất nặng của ý thức hệ Khổng giáo, từ Trung Hoa truyền vào nước ta thời kỳ bị nội thuộc, trở thành công cụ của chế độ quân chủ chuyên chế ngoại bang, và sau đó, của chế độ quân chủ chuyên chế độc lập, tạo ra con người chức năng, con người công cụ, trói buộc con người vào trật tự quân chủ bằng những quy phạm đạo đức hà khắc.

Phan Khôi vạch rõ, Nho giáo đã được thể chế hóa vào cấu trúc chế độ quân chủ. “Trong Khổng giáo không có đặt riêng ra người cầm quyền chủ giáo như Giáo hoàng của đạo Thiên Chúa; mà ông vua tức là người chủ giáo đó, vì ông vua là chức “Quân” mà thêm cả chức “Sư”. Bởi vậy, người trong nước theo Khổng giáo, làm tín đồ Khổng Tử, đã đành, nhưng trong sự theo ấy lại còn phải ở dưới quyền vua nữa.” (5)  Nho giáo chính là học thuyết biện hộ chế độ quân chủ chuyên chế, Nho học là nơi đào tạo các môn đồ – các nhà nho – theo mẫu hình người “quân tử”, có trách nhiệm phò tá, trợ giúp vị giáo chủ ( = ông vua) cai quản dân chúng ở đất nước mình; chế độ quân chủ lựa chọn quan chức chủ yếu từ giới nhà nho, thông qua các kỳ thi Nho học. Đây là điểm vừa khác biệt lại vừa tương đồng của Đông Á thời trung đại dưới các nền chuyên chế Nho giáo so với châu Âu trung đại dưới sự cai trị của nền quân chủ thần quyền theo Thiên Chúa giáo, mà Phan Khôi đã nhận ra. Nhà nho trong xã hội theo Nho giáo cũng giống như các giáo sĩ trong các xã hội theo Thiên Chúa giáo. Bằng hiểu biết và bằng trải nghiệm cá nhân, Phan Khôi khẳng định thuộc tính của nhà nho, sản phẩm của Khổng giáo, là: nhà nho bao giờ cũng phụng sự chế độ quân chủ, và nhà nho không bao giờ đứng về phía dân chủ! (6)

Sang thời cận hiện đại, khi các xã hội vùng Đông Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, v.v.) chịu ảnh hưởng Tây phương, thì Khổng giáo phải đối đầu với làn sóng “Âu hóa”; các cuộc vận động “tân văn hóa” đều nhằm xây dựng tinh thần khoa học và dân chủ, tức là phải vượt qua những ảnh hưởng vốn đã thâm căn cố đế của Khổng giáo. Trên đất Việt Nam, các thiết chế xã hội gắn với Nho giáo bị xóa bỏ từng phần, không phải bởi chính người Việt mà là bởi thế lực thực dân từ phương Tây đến. Tuy vậy, việc hóa giải ý thức hệ Nho giáo và những ảnh hưởng sâu rộng của nó trong xã hội người Việt vẫn cần phải do người Việt thực hiện. Phan Khôi hình dung sự hóa giải ấy cần diễn ra trên một phổ rộng; về học thuyết, cần biến Nho giáo từ chỗ là những tôn chỉ “thiên kinh địa nghĩa” mà người ta phải tuân thủ trở thành đối tượng của nghiên cứu, phân tích, phê phán. Một số nét tinh túy mà Nho giáo tạo nên ở cư dân Việt như lòng ái quốc, đức chính trực, vai trò Nho học trong việc hình thành nhân cách, v.v., thì cần giữ lại, kế thừa. Những lề thói phi nhân, kỳ thị giữa người với người trong cộng đồng, do Nho giáo tạo ra hoặc dung dưỡng, thì cần nêu ra và tạo dư luận phản kháng, lên án, bài trừ.

Nhìn sâu hơn vào xã hội Việt Nam thời quân chủ, Phan Khôi vạch ra đặc tính của nó chẳng những chỉ là xã hội đẳng cấp, mà còn là một xã hội nam quyền, trọng nam khinh nữ, với những quy phạm và định kiến phi nhân, được nho giáo bênh vực và hợp pháp hoa, ví dụ chuẩn mực chữ “trinh” của Tống nho,(7) hoặc những tập quán về chế độ đại gia đình đã hình thành dưới ảnh hưởng Khổng giáo theo đó người gia trưởng có quyền áp chế các thành viên là con cháu, mẹ chồng được quyền áp chế nàng dâu, gây ra vô vàn thảm kịch không đáng có. (8)

Trong thời gian chủ trì các tờ báo chuyên về giới phụ nữ (từ tháng 5/1929 đến 1932 với tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, từ tháng 9/1933 đến tháng 2/1934 với tờ Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội), Phan Khôi đã có hàng loạt bài viết nhiều loại, từ nghị luận đến khảo cứu, dịch thuật, tạp văn, nêu ra “vấn đề phụ nữ” trước xã hội Việt Nam, cho thấy một xã hội Việt Nam bước vào thời hiện đại không thể không từng bước khắc phục tình trạng bất bình đẳng nam nữ. Đây không chỉ là hoạt động có ý nghĩa tạo thêm nguồn lực lao động cho một nền công nghiệp, thương mại và dịch vụ đang mở ra, mà điều chủ yếu ở đây là ý nghĩa tranh đấu đòi quyền làm người cho một nửa dân cư vốn vẫn còn bị xã hội nam quyền kỳ thị, áp chế, tước đoạt. Các tờ báo phụ nữ do Phan Khôi chủ trì đã làm dấy lên phong trào phụ nữ bằng một loạt hoạt động xã hội, văn hóa, cổ vũ và hướng dẫn người phụ nữ tự trang bị thêm những hiểu biết và kỹ năng sống cần thiết cho bản thân và cho chức năng làm vợ, làm mẹ, làm người. Phan Khôi xứng đáng được thừa nhận như một trong những nhà hoạt động nữ quyền năng động nhất của Việt Nam những năm 1930s, một trong những tác gia Việt Nam tập hợp được một lượng tri thức về giới nữ thuộc loại đa dạng nhất, phong phú nhất.

3/ Phan Khôi, nhà sử học

Khả năng đọc nhiều biết rộng đã khiến ở Phan Khôi sớm hình thành con mắt sử học, quan tâm đến các tiến trình lịch sử.

Năm 1928, trên tờ Đông Pháp Thời Báo ở Sài Gòn, Phan Khôi, dưới bút danh C.D. đã khởi ra một cuộc thảo luận về việc có hay không sự kiện “nước Pháp giúp nước Nam”, tức là nhà nước Pháp giúp quân cụ và binh lính cho chúa Nguyễn Ánh trong nội chiến chống Tây Sơn, như một số tờ báo chữ Pháp ở Đông Dương đương thời rao truyền, khiến một vài tờ báo chữ Việt lặp lại. Bằng vào các nguồn sử liệu khác nhau, Phan Khôi vạch rõ: tuy giao ước Pháp-Việt 1787 được ký kết nhưng trước sau chính phủ Pháp đã không thực thi, họ không hề đưa quân lính hay tàu binh đến giúp Nguyễn Ánh, rốt cuộc cha Bá-đa-lộc dùng tiền của Nguyễn Ánh gửi mua được hai tàu binh và mộ được vài chục người Pháp, trong đó có một số võ quan Pháp bỏ ngũ đi với Bá-đa-lộc sang đầu quân giúp Nguyễn Ánh. Biện luận của Phan Khôi cho độc giả thấy, mấy chục người Pháp có mặt trong đội quân của Nguyễn Ánh chỉ là những lính đánh thuê nước ngoài, không phải người do chính phủ Pháp cử đến giúp. Tuy nhiên, Phan Khôi cảnh báo, những luận điệu tương tự thuyết “nước Pháp giúp nước Nam” có thể đã thâm nhập vào các bộ sử do người Tàu soạn, và ông kêu đòi các sử gia truyền Nguyễn phải làm sách để biện giải rõ về các sự kiện lịch sử Việt Nam cận đại. (1)

Năm 1929, Phan Khôi đã đóng vai trò chính tổ chức Cuộc thi quốc sử trên báo Thần Chung, đưa ra 30 bản sự tích các nhân vật lịch sử Việt Nam để bạn đọc bình chọn ra 10 nhân vật mà mình cho là tiêu biểu; một đề thi nữa là yêu cầu bạn độc chọn ra trong đó một nhân vật và viết một bài dài 3 trang cắt nghĩa vì sao mình cho đó là bậc nhất trong sử Việt. Tuy cuộc thi đã không có tổng kết trao giải, có thể vì nhật báo Thần Chung bị đóng cửa đột ngột (vào cuối tháng 3/1930), song những gì đã đưa lên báo trong suốt thời gian từ khi mở ra cuộc thi (đầu tháng 7/1929) đến hết năm 1929, đã là một cuộc phổ thông sử Việt khá hiếm hoi trên báo chí đương thời. Bằng việc đưa công chúng vào một cuộc thi bình chọn nhân vật “bực nhất″ trong quốc sử, Phan Khôi và những người tổ chức cuộc thi đã kích thích tinh thần tự do bình chọn của người tham dự, cũng tức là kích thích óc phê bình — chứ không chỉ vinh danh — nhân vật lịch sử. (2)

Năm 1935, khi làm chủ bút tờ Tràng An ở Huế, Phan Khôi đã tổ chức một số chuyên đề nhân 50 năm sự kiện kinh thành thất thủ (ngày 23/5 năm Hàm Nghi Ất Dậu 1885) với các bài viết của ông và của Hoài Thanh.

Năm 1936-37, với tuần báo Sông Hương do chính ông sáng lập, ông đã biến một phần tờ báo thành diễn đàn sử học với sự góp mặt của nhiều nhà văn và học giả; ông cũng đã đưa lên báo này những sử liệu do chính ông thâu nhặt được, như xác định vị trí của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong khởi nghĩa Duy Tân (1916); sự kiện Nghĩa Hội chiếm tỉnh Quảng Nam hồi những năm 1880s được phản ánh trong vè Khâm sai; về lệ cống nạp người vàng sang Tàu; về lai lịch nhân vật là Bạch Xỉ từng xưng vua, v.v.

Đấy là ta chưa kể hàng loạt bài viết, dài ngắn khác nhau, về các nhân vật và sự kiện lịch sử Trung Hoa mà Phan Khôi tỏ rõ một sự theo rõi khá sát sao, từ hành tung các viên tướng quân phiệt đến ứng xử của các yếu nhân thời kỳ sau các mạng Tân Hợi. Đối với đời sống chính trị ở nước Trung Hoa Dân Quốc đương thời, Phan Khôi có cái nhìn khá tinh tường; ông thấy rõ cái bi kịch của một quốc gia từng tồn tại dưới ách quân chủ chuyên chế suốt hàng ngàn năm, sau cuộc cách mạng lật đổ nền quân chủ, đã không hình thành nổi một hiến pháp cộng hòa, đành theo phương án “dĩ đảng trị quốc”, thay ngôi vua thuộc một dòng họ bằng ngôi vua tập thể của nhóm đứng đầu đảng cầm quyền. Tình trạng “dĩ đảng trị quốc” này chỉ có hướng xử lý khi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc chuyển dần sang nền chính trị đa nguyên, đa đảng, theo mô hình các quốc gia dân chủ phát triển; trong khi đó, những quốc gia do đảng cộng sản cầm quyền thì trong thực chất lại trở về với mô hình chế độ chuyên chế.

4/ Phan Khôi, nhà báo, cây bút chính luận  

Viết văn nghị luận là một trong những sở trường của Phan Khôi. Văn nghị luận của ông không chỉ đề cập đến các vấn đề tư tưởng hay văn chương, mà cũng đề cập đến thời sự xã hội chính trị.

Ngay năm 1919, ông đã có bài viết (trên Lục Tỉnh Tân Văn, Sài Gòn) vạch mặt trò mỵ dân của Toàn quyền Alber Sarraut đằng sau việc ông này đưa ra yêu cầu chính quốc cho Đông Dương nhiều quyền tự chủ hơn trong một dịp diễn thuyết.

Năm 1929, trên báo Thần Chung ở Sài Gòn, Phan Khôi viết khá nhiều bài xã thuyết ký tên tòa soạn, bênh vực những người hoạt động chống Pháp trong các tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, Tân Việt đảng, bênh vực Nguyễn An Ninh, đòi cho những thành viên các tổ chức chống đối bị chính quyền bắt phải được xét xử tại tòa án của chính quyền Pháp chứ không được giao họ cho các quan chức của triều đình Huế xét xử, vốn áp dụng khung hình phạt rất nặng theo luật Gia Long.

Năm 1930, khi xảy ra các vụ biểu tình ở Nam Kỳ, Phan Khôi đã có những bài viết ký tên tòa soạn tờ Trung Lập Báo, yêu cầu những thành viên đảng Lập hiến Nam Kỳ có chân trong Hội đồng quản hạt hoặc Hội đồng thành phố Sài Gòn phải lên tiếng trước việc chính quyền thuộc địa dùng vũ lực đàn áp người biểu tình không tấc sắt trong tay. Nhân danh tòa soạn, Phan Khôi đã bút chiến với tờ Đuốc Nhà Nam xung quanh trách nhiệm của những người tự nhận là hoạt động chính trị, như các đảng viên Lập hiến Nam Kỳ, mà lại thiếu khá nhiều năng lực và chuẩn hành vi cần thiết để đối phó với các tình huống chính trị. Cuộc bút chiến này chỉ lộ rõ do một ngòi bút Phan Khôi chủ trì, khi chủ bút Đuốc Nhà Nam là Nguyễn Phan Long lâm thế bí, giở trò nói xấu cá nhân Phan Khôi. Những loạt bài đối thoại với đảng Lập hiến (Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi; Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, v.v.) cho thấy một thái độ phê phán rất xây dựng đối với tổ chức chính trị này, được lập ra dường như chỉ để đối đáp với chính quyền Pháp ở thuộc địa, nhưng lại hầu như không có liên lạc gì với quần chúng cư dân Nam Kỳ, các vấn đề về tổ chức của đảng cũng còn nhiều bất ổn.

Năm 1935, khi được Bùi Huy Tín mời làm chủ bút đầu tiên của Tràng An Báo tại Huế, Phan Khôi đã hướng trang thời sự của tờ báo vào việc đối thoại với nền cai trị quân chủ đang đưa ra một vài tín hiệu thay đổi (khi vua Bảo Đại về nước trực tiếp chấp chính), kiểm định hiệu năng hoạt động của một số cơ quan, cơ chế trong bộ máy của nó, đôi khi cũng nêu một vài đề xuất mang tính bổ sung, chỉnh sửa hệ thống, cơ cấu. Tất nhiên, hoạt động thường xuyên của báo Tràng An thời kỳ Phan Khôi làm chủ bút là vạch ra những sự lạc hậu, non kém, bất cập, thiểu năng của bộ máy triều Nguyễn, từ những cơ quan tại triều đến những cơ quan cấp tỉnh cấp huyện.

Bên cạnh những vấn đề thuộc “lỗi hệ thống” trong cơ chế một nền quân chủ già cỗi lại bị đặt dưới ách “bảo hộ” của ngoại bang, một phương diện khác nữa mà Phan Khôi và báo Tràng An thường tập trung nhấn mạnh là vấn đề phẩm chất của quan lại. Mỗi dịp có sự cố liên quan đến những quan chức nhất định, ví dụ việc cách chức và khai phục Ngô Đình Diệm, lễ tang Nguyễn Hữu Bài với những lời xưng tụng quá đáng, hay một viên quan tại triều quá tham lam nhũng nhiễu chỉ bị trừng phạt nhẹ bằng cách đưa đi “trấn thủ” tỉnh ngoài, v.v. – đều là dịp để Phan Khôi và các cộng sự của ông trên Tràng An lên tiếng tố giác và nhân đó nhắc lại những tâm niệm lý tưởng muôn thuở của giới quan trường xuất thân Nho học: “người bất học không đáng ở ngôi cao”, “sự hệ trọng nhất trong phong hóa là cái đức liêm sỉ”, v.v.

Trong các loạt bài về các vụ việc kiện tụng, báo Tràng An thời Phan Khôi làm chủ bút luôn luôn vạch rõ những xử lý sai trái do những quan lại liên can được hối lộ hoặc câu kết nhau để moi tiền dân. Tờ báo rất chú trọng đến người dân, nhất là những trường hợp người dân là nạn nhân sự chà đạp, cướp bóc của hệ thống quan chức, nha lại. Những phóng sự đăng nhiều kỳ về vụ án điền thổ ở Phú Yên, về xét xử ly hôn của vợ chồng Tham Ân ở Hội An, về vụ kiện bị lấn chiếm mặt nước của dân làng chài Thủy Tú ngay “bên chân đền vua” đương thời, tức thành Huế, v.v. – thường không chỉ giản đơn là những loạt bài báo mà thực sự là những vụ việc sát cánh hỗ trợ dân oan trong các cuộc khiếu kiện dài ngày của họ. Những trường hợp nạn nhân như “người đàn bà bị bỏ đỉa vào tai”, người hành khách xe lửa bị nhà đoan bắt giam vì tình nghi buôn lậu thuốc phiện, hay ông cử họ Hồ bị viên tri phủ Quỳnh Lưu hành hung, v.v. – thường được Tràng An đề cập như những hồ sơ để ngỏ, lâu lâu lại bổ sung những tình tiết mới, cho thấy những khía cạnh xã hội phức tạp liên quan đến mỗi vụ việc, đồng thời cho thấy khả năng xử lý mỗi vụ việc trong những tương quan đương thời.

Với sự nỗ lực quyết liệt như thế, không có gì ngạc nhiên khi Phan Khôi sớm rời vị trí chủ bút nhật báo Tràng An, sau chưa đầy một năm làm việc.       

5/ Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại

Sự kiện rất nổi tiếng, gắn với tên tuổi Phan Khôi là việc đầu năm 1932 bài báo “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” được ông công bố ở cả hai trung tâm dư luận lớn nhất đương thời: Hà Nội và Sài Gòn. (1)  Giới làm thơ trẻ tuổi, hầu hết xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt, đã hưởng ứng, tạo nên phong trào thơ mới, một cuộc cải cách thơ tiếng Việt, đưa thơ của người Việt thật sự bước sang thời hiện đại. Tên tuổi Phan Khôi được mang cái vinh dự là người phát động phong trào đổi mới thơ ca kể trên. Tuy nhiên, đấy chỉ là một trong khá nhiều công việc mà Phan Khôi đã làm theo hướng tác động, khích lệ sự sáng tạo những hình thức mới, thể tài, thể loại văn học mới.

Ông sớm nhận ra một chiều hướng vận động mới về mặt thể loại: “Bây giờ cả văn học của Á Đông đã day chiều và khuynh hướng theo văn học Thái Tây, nhắc tiểu thuyết và kịch bổn lên ngồi kề thánh kinh hiền truyện, thì ta cũng đã mô phỏng mà sáng tạo ra tiểu thuyết, kịch bổn rồi”. (2)

Ông chăm chú theo rõi sự phát triển của thơ và tiểu thuyết Việt Nam và đến năm 1933, khi đã xuất hiện thơ mới, trong văn xuôi tiểu thuyết đã xuất hiện Người sơn nhân (truyện ngắn của Lưu Trọng Lư) và Hồn bướm mơ tiên (tiểu thuyết của Khái Hưng) thì ông reo lên: đã bắt đầu kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết Việt Nam. (3)

Chính Phan Khôi đã viết bài mô tả khá chi tiết về bút chiến, một thể tài và một hoạt động báo chí,(4) loại hoạt động mà ông can dự không ít lần, suốt thời gian hiện diện trong trường ngôn luận.

“Lâu nay tôi đã nhận biết rằng trong nghề văn học rất cần có sự phê bình. Nhưng trong làng văn ta dường như chưa có chỗ dung được sự ấy”; bởi vậy, năm 1929, ông đã nhân dịp bàn về một bản dịch kinh Phật “để đổ chén thuốc đắng phê bình vào trong miệng người An Nam”,(5) tức là thực sự bắt tay vào làm công việc phê bình. Hoạt động phê bình, trong quan niệm của Phan Khôi, là rất rộng: “Hai chữ “phê bình”, ta không nên hiểu hẹp nghĩa nó. Nói về sự viết báo, không cứ phê bình một bài thi, một cuốn tiểu thuyết, một tác phẩm gì về mỹ thuật mới gọi là phê bình; mà cho đến khen hay chê một vị quan lại, biểu đồng tình hay phản đối một cuộc bãi công, cả đến nhân một cái thời sự rất tầm thường mà phát ra nghị luận, cũng đều gọi là phê bình được hết. Chẳng những viết ra trên giấy, mà ngày thường, giữa xã hội, ai nấy được lấy tư tưởng ý kiến mình mà bình luận mọi sự mọi vật, cũng gọi là phê bình. Bởi vậy, ở xã hội nào mà người ta ngôn luận được tự do, thì xã hội ấy, ta muốn kêu nó bằng “cái xã hội phê bình” cũng có nghĩa vậy”. (6)

Ông đã viết giới thiệu lối văn phê bình nhân vật, một thể tài của báo chí và của văn học, do nhà văn trẻ Thiếu Sơn đề xuất, (7) lối văn mà chính Phan Khôi cũng sẽ dùng để viết khá nhiều tác phẩm đặc sắc, dưới các tiểu mục như “tiểu phê bình về nhân vật, cả đàn bà lẫn đàn ông”, “tiểu phê bình về phong tục”, “tiểu phê bình về báo chí”, “tiểu phê bình về sách vở”, v.v. (8)  

Ông rất quan tâm giới thiệu các thể trào phúng, khôi hài.(9) Thậm chí, một thể tài, một loại hình ghi chép trong đời sống thông tục mà xưa kia người Việt chưa có, là thể nhật ký, cũng được Phan Khôi quan tâm giới thiệu.(10) Ông được đọc giả và đồng nghiệp tin cậy để có thể nhờ giải đáp nhiều vấn đề, nhiều câu hỏi về chữ nghĩa, về văn chương và đời sống, kể cả những khái niệm như “đạo văn”. (11)

6/ Phan Khôi, một tác gia đa dạng

Phan Khôi tham dự văn học trong khá nhiều thể tài.

Trước hết Phan Khôi đã hoạt động như một nhà phê bình văn học, là tác giả những bài điểm bình các tác phẩm cụ thể, là người viết ra cuốn “thi thoại” đầu tiên ở Việt Nam, lại cũng là tác giả những bài báo tác động rõ rệt đến tiến trình văn học chung.

Phan Khôi cũng hoạt động như một nhà nghiên cứu văn học, thường xuyên nêu lên các vấn đề nảy sinh trên tiến trình văn học Việt Nam. Phan Khôi viết về khá nhiều tác gia, tác phẩm văn học Trung Hoa, từ các nhà tư tưởng cổ đại, trung đại, đến cận hiện đại. Nhiều tác giả được ông nhấn mạnh ở khía cạnh chống chuyên chế (ví dụ dịch Tư Mã Thiên: thư gửi Nhiệm An, “Thích khách liệt truyện”… ); những tác gia hiếu cổ như Cô Hồng Minh được ông tiếp cận theo lối châm biếm; những tác gia có chất đổi mới, “nổi loạn” như Hoàng Lư Ẩn, được ông trân trọng. Thời kỳ 1945-58: Phan Khôi vẫn theo dõi sát tình hình văn hóa Trung Hoa, từ thơ kiểu mới, di sản Lỗ Tấn, lý luận và sáng tác văn học Diên An, cho đến 1956 vẫn theo dõi các hiện tượng từ Hồ Phong đến phong trào chống phái hữu, tuy không có điều kiện viết về các hiện tượng ấy.

Phan Khôi là nhà thơ, là con người đã “chín” trong truyền thống thơ Hán-Việt lại có khát vọng bước ra khỏi quỹ đạo thơ cũ; thơ cũ của ông không nhiều và cũng không lưu lại sưu tập, chỉ có ít bài in báo; thơ mới Phan Khôi cũng có một số bài được ông đưa ra làm ví dụ cho “một lối thơ mới”; PK không là tác giả xuất sắc của thơ mới những lại được nhất trí ghi nhận là người khởi xướng; một số bài thơ Phan Khôi cho thấy lối thơ của kiểu người “lão thực”: tín hiệu hàng đầu là tín hiệu về giá trị của hồn thơ, tứ thơ, dù hình thức khô, đanh, mộc… chứ tuyệt nhiên không đèm đẹp…

Phan Khôi cũng là một tác giả văn xuôi tự sự. Ông đã từng viết truyện hư cấu, bằng chữ Hán (đăng Nam Phong) hoặc bằng chữ Quốc ngữ, tiêu biểu trong số đó là truyện dài Trở vỏ lửa ra (Phổ thông bán nguyệt san, 1939). Nếu mạch truyện hư cấu này không mấy thành công, do tác giả mạnh ở suy lý, logic, nhưng hơi thiếu linh hoạt, thiếu sinh động và chất sống trong mô tả, dựng người dựng cảnh, thì ở mảng hồi ức, tự truyện, như Đi học đi thi (đăng Sông Hương, 1937), các đoạn Phan Khôi tự truyện (đăng một số kỳ ở các báo khác nhau, 1939, 1940, 1941), các mẩu giai thoại trong tập Độc tại lâu bút ký (đăng Sông Hương, 1937) lại thành công rất rõ rệt.

Phan Khôi cũng là tác giả xuất sắc của văn tiểu phẩm, hoạt kê, châm biếm. Từ 1928, với Đông Pháp Thời Báo, qua Thần Chung 1929-30, Trung Lập, 1930-33, Thực Nghiệp Dân Báo, 1933; Phụ Nữ Thời Đàm, 1933-34, Tràng An, 1935-36, Sông Hương, 1936-37, đến tận 1941 trên Dân Báo, Phan Khôi trước sau đã viết ngót ngàn bài tiểu phẩm. Đặc tính thẩm mỹ của thể tài này còn chưa được nghiên cứu kỹ; nó rất mực văn chương, nhưng lại gắn với báo chí; trên trang báo bên cạnh các bài viết theo lối “thuật”, “luận”, “chứng” bao giờ cũng phải có các bài viết theo lối “biếm”, “hài”, “nhại”, “diễu”; nó có bản chất thẩm mỹ ra sao mà lại hầu như không thể thiếu trên các báo, dù nhật báo, tuần báo hay nguyệt san? Và vì sao nó dường như nhất thiết cần “mặt nạ tác giả”? Mức đa dạng trong các kiểu tiểu phẩm Phan Khôi, mức độ ảnh hưởng từ những mẫu mực ở Pháp (G. Fouchardière, C. Vautel) và ảnh hưởng truyền thống trào lộng trong văn hóa Việt? So sánh văn tiểu phẩm Phan Khôi với những người có viết tiểu phẩm đương thời: Hoàng Tích Chu, Ngô Tất Tố, Bùi Thế Mỹ, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, v.v… Từ đây nên chăng khảo sát phát hiện lại dòng văn tiểu phẩm của tác gia Việt Nam từ khi có báo in? — là những nhiệm vụ văn học sử chưa hề được đề xuất và giải quyết.

Phan Khôi cũng là một dịch giả. Trên báo chí trước 1945 ta thấy Phan Khôi dịch nhiều tác gia Trung Hoa: Tư Mã Thiên, Viên Mai, Lỗ Tấn, v.v.; dịch Kinh Thánh (đạo Thiên Chúa), chủ yếu là Tân Ước. Sau 1945 ông dịch một số tác gia văn học Diên An, dịch quan điểm ngôn ngữ của J. Stalin, dịch tác phẩm M. Gorki, dịch bài viết Chu Dương thể hiện tư tưởng văn nghệ Diên An, v.v.

Vượt ra ngoài phạm vi văn học, người ta không quên Phan Khôi còn hoạt động như một nhà ngôn ngữ học. Ngay từ khi tìm học chữ Quốc ngữ để viết văn viết báo (từ 1907), ông đã bắt đầu tiếp cận tiếng Việt như một đối tượng nghiên cứu. Phan Khôi đã lên tiếng hô hào đồng bào Nam Kỳ dùng tiếng Việt theo đúng các chuẩn mực đã được Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đưa vào sách từ điển. Ông đã tiến hành so sánh ngữ pháp tiếng Việt với tiếng Pháp và chữ Hán, khi soạn sách “Hán văn độc tu” (đăng Phụ nữ tân văn, 1932, đăng lại có sửa trên Sông Hương, 1936-37). Trên tuần báo Sông Hương ông đã tập hợp được một số tác giả tham gia mục “Quốc văn nghiên cứu”. Sau này, trong thời gian tham gia khánh chiến tại Việt Bắc, ông đã thực hiện thêm những khảo sát về ngữ pháp tiếng Việt, được các nhà soạn sách dạy tiếng Việt tham khảo; những nghiên cứu này được ông xuất bản thành sách  “Việt ngữ nghiên cứu” (1955).  

7/ Phan Khôi dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

 Từ khoảng 1941-42, Phan Khôi ngừng cả việc dạy học lẫn việc viết báo, đưa gia đình từ Sài Gòn trở về quê Quảng Nam.

Nguồn tư liệu hồi ức gia đình cho biết: khi Nguyễn Bá Trác đến vận động ông tham gia chính phủ Trần Trọng Kim (1945), ông đã tỏ rõ thái độ cự tuyệt, với lý do: từ lâu, ông đã tự xác định không làm chính trị. (1)

Khi Việt Minh tổ chức cướp chính quyền tại địa phương ông cư trú, Phan Khôi giữ thái độ quan sát bình tĩnh, dần dần đi đến chấp nhận chính thể Việt Nam Dân chú Cộng hòa, song cũng phản ứng trước một số hành động cực đoan của chính quyền địa phương, ví dụ việc họ định phá đền thờ Hoàng Diệu, vị Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị thất thủ (1882). Phan Khôi giữ lập trường yêu nước, không tán thành hiệp định sơ bộ (6.3.1946) mà chính phủ Hồ Chí Minh ký với Pháp.

Cũng theo nguồn tư liệu hồi ức gia đình thì khoảng tháng 6/1946, tiếp một nhóm trí thức từ Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nghĩa tới nhà mình và được họ mời làm Chủ nhiệm Chi bộ Việt Nam Quốc Dân đảng vùng Nam-Ngãi, Phan Khôi đã tạm thời gác ý chí “không làm chính trị” để nhận lời, dù chỉ là cử chỉ đứng tên tượng trưng. (2)

Khoảng tháng 7/1946, ông nhận được giấy mời của Bộ Nội vụ do Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng ký, mời ông ra Hà Nội dự Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, sẽ khai mạc vào ngày 01/8/1946.

Phan Khôi tới Hà Nội vào ngày 6/7/1946, ở trọ tại nhà riêng ông Lê Dư. Ông được Lê Dư cho hay: Huỳnh Thúc Kháng nhắn Phan Khôi đừng tới gặp, vì có thể gây nghi ngờ (?).

Ngày 12/7/1946, Phan Khôi đến trụ sở Quốc Dân Đảng (80 Quán Thánh, Hà Nội) tại tòa soạn báo Việt Nam có Khái Hưng và một số người khác; ngay hôm đó nhà này bị công an ập đến triệt phá, bắt đi một số người, trong đó có Phan Khôi, nhưng tại trụ sở công an Phan Khôi được thả ngay. (3)

Phan Khôi dự Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/1946). Sau đó, vào ngày bùng nổ Toàn quốc kháng chiến, ông thấy rõ chính phủ Việt Minh quyết tâm chống Pháp, hợp với chủ ý của mình, ông ở lại Hà Nội.

Khoảng 29 Tết Đinh Hợi 1947, Phan Khôi theo dòng người tản cư rời Hà Nội, đi Yên Hạ, Hà Đông, rồi lại theo dòng người quay lên vượt sông Hồng định đi Bắc Giang, bị công an giữ lại, đưa về Hà Đông, rồi ông đề nghị để ông đi Vân Đình, tới đây ông gặp gia đình Thế Lữ tại Hòa Xá. Từ đó ông và những người này gia nhập Đoàn văn hóa kháng chiến do Nguyễn Huy Tưởng phụ trách, tản cư lên Việt Bắc. (4)

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (16 – 20.7.1948, tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú Thọ) Phan Khôi đọc tham luận “Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta”, sau đó được cử làm trưởng ban Ngôn ngữ-Văn tự của Hội văn hóa Việt Nam. Ông cũng tham dự Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (23-25.7.1948, tại Yên Kỳ, Hạ Hòa, Phú Thọ) thành lập Hội văn nghệ Việt Nam, cộng tác thường xuyên với tạp chí Văn Nghệ của Hội.

Ông tham gia nhiều hoạt động cúa Hội văn nghệ, dự hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (25 — 28.9.1949), tham gia đoàn văn nghệ đi chiến dịch ngay sau hội nghị kể trên. (5)

Khi Hội văn nghệ Việt Nam đặt ra giải thưởng và xét trao giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952, Phan Khôi đã được trao giải nhì cho tất cả các bản dịch ông thực hiện tại Việt Bắc. (6)

Sau ngày phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản thủ đô, Phan Khôi trở về Hà Nội (giữa tháng 10/1954) trong tư cách một nhân sĩ, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam.

Năm 1955, ông được cử tham gia Phái đoàn Chính phủ vào thăm Liên khu Năm, nói chuyện về thắng lợi của cuộc kháng chiến tại hai cuộc mít tinh ở Quảng Ngãi và Bình Định.

Cũng trong năm 1955, hầu hết các thành viên gia đình ông, bằng các con đường khác nhau, đều tập kết ra miền Bắc.

Phan Khôi (và Tế Hanh) được cử đại diện Hội văn nghệ Việt Nam đi dự kỷ niệm 20 năm mất nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (từ 16.10.1956); ông đọc tham luận tại lễ kỷ niệm này. Phan Khôi được kết nạp Hội nhà văn Việt Nam từ 1957.

Tại Hà Nội ông đưa in một số cuốn sách nghiên cứu (Việt ngữ nghiên cứu) dịch thuật (Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập I, tập II; Ánh lửa đằng trước; Anh Hai Đen lấy vợ), viết bài cho các tạp chí Văn Sử Địa, Tập san Đại học Sư Phạm, các báo Nhân dân, Văn nghệ, Văn, Tiền phong, v.v. Ông cộng tác với Ban Văn Sử Địa để viết những bài cung cấp tài liệu cho bộ sách “Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng Việt Nam”, cụ thể là viết về phong trào “Vụ xin xâu ở Quảng Nam” 1908 và “Duy Tân khởi nghĩa” 1916.

Những năm 1955-1956, cuộc cải cách ruộng đất (1953-56) gây ra những khủng hoảng xã hội trầm trọng, khiến chính phủ và đảng cầm quyền phải xin lỗi dân và tiến hành sửa sai. Trong văn nghệ cũng bộc lộ nhiều vấn đề do việc quản lý tập trung quan liêu gây ra. Phan Khôi viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” nêu ra những cách làm việc thiếu minh bạch, như người trong ban chấm giải (giải thưởng văn nghệ 1954-55) lại có tác phẩm dự xét giải; sự về hùa, ngầm ủng hộ tác giả này hơn hẳn các tác giả khác, thực chất là đã xuất hiện các nhóm lợi ích trong nền văn nghệ nhà nước hóa, v.v. Bài của ông được đăng trong tập Giai Phẩm Mùa Thu (tập 1, 1956) gây dư luận khá mạnh. Tháng 9/1956, Phan Khôi nhận lời với một nhóm nhà báo và văn nghệ sĩ đứng tên làm chủ nhiệm tờ báo tư nhân Nhân Văn (xuất bản tại Hà Nội từ 20/9/1956 đến 20/11/1956); tờ báo đăng tải những tác phẩm có những yếu tố táo bạo về sáng tạo hoặc có đề tài không phù hợp với phạm vi các chủ đề của văn nghệ chính thống; đồng thời đăng những ý kiến của văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, những ý kiến của nhân sĩ trí thức đòi mở rộng dân chủ trong chế độ do đảng cộng sản cầm quyền.

Năm 1958, trong cao trào đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm do đảng cầm quyền phát động và tổ chức, chỉ huy, Phan Khôi bị liệt vào một trong những “phần tử” hàng đầu (Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, v.v.), bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội nhà văn Việt Nam.

Ngày 16/1/1959, ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội, sau thời gian bệnh nặng. Gia đình ông làm bản khai tử cho ông bằng bút danh Chương Dân; trong khi vợ, con, các cháu ông tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng thì những lời phê phán nặng nề trên báo chí vẫn liên tục nhắm vào con người tác giả mang họ tên Phan Khôi.

***

Tôi ghi lại tài liệu hơi dài như trên (có lúc sẽ sửa lại) để đi tới một vài nhận xét về Phan Khôi thời kỳ dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Công Hòa.

Ông vốn không tán thành chủ nghĩa cộng sản, và công khai thái độ này, tương tự một số người xuất thân nho học như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố. Những năm trước tháng 8/1945, khi con cháu ông tham gia hoạt động bí mật của tổ chức cộng sản, ông không tán thành nhưng không cấm đoán.

Ngay trong những ngày tháng đang diễn ra cướp chính quyền ở địa phương, ông im lặng theo dõi, và chỉ phản ứng khi có những việc như đập phá đền thờ Hoàng Diệu, hoặc khi nghe nội dung hiệp định sơ bộ (6/3/1946) thấy lập trường chính phủ lâm thời có phần không dám chống Pháp. Tức là khi ấy, con người yêu nước chống Pháp khi xưa trong ông thức dậy, đòi chính phủ mới chọn giải pháp quyết liệt.

Chính thái độ đó đã khiến ông tự nguyện đi lên Việt Bắc tham gia hàng ngũ kháng chiến.

Tại Việt Bắc, đến 1951, khi đảng Lao động Việt Nam ra công khai, thái độ Phan Khôi là chấp nhận. Có lẽ ông đã nghĩ rằng một trí thức cũ đã già, vẫn còn có thể làm những việc có ích ít nhiều cho dân tộc, ngay dưới nền cai trị cộng sản.

Tuy vậy, sống trong các vùng do những người cộng sản cai trị, sống trong “đoàn thể văn nghệ” của người cộng sản, có thể ông đã dần dần nhận ra những điều mà dư luận báo chí thế giới đã cảnh báo khi xưa, nhất là khi ông chứng kiến và trải nghiệm những việc như chỉnh huấn, rồi cải cách ruộng đất, rồi quản lý thành phố theo kiểu quân quản, thực hiện chế độ hộ khẩu khắc nghiệt, v.v. Từ đây bên trong những người trí thức từng trải qua hai chế độ sẽ hình thành thế ứng xử lưỡng phân đối với chế độ hiện hành do người cộng sản cai trị: một mặt là buộc lòng thích nghi, mặt khác là gia tăng ngấm ngầm tâm lý giữ khoảng cách, thậm chí trở nên chán ghét.

Vì đây là cả một điều kiện sống mà người ta không thể thoát ra ngoài, nên buộc phải thích nghi. Kể cả về tư tưởng, tinh thần, ở những mức nhất định. Một ví dụ nhỏ là Phan Khôi từng bác bỏ khái niệm “chế độ phong kiến” (ở Việt Nam) nhưng sau này, từ những năm 1950s, ông dường như từ bỏ thái độ học thuật ấy, ít ra là khi dịch và chú giải văn Lỗ Tấn, dịch văn xuôi tự sự và nghị luận của các tác giả văn nghệ Diên An.

Chính thái độ lưỡng phân ấy sẽ khiến những người như ông sẵn sàng lên tiếng phản ứng khi có điều kiện.

Điều kiện ấy ở Việt Nam là khi có những dấu hiệu khủng hoảng bên trong hệ thống xã hội do đảng cầm quyền cai trị tạo ra. Đại hội 20 ĐCS Liên Xô đặt  ra nhiệm vụ chống sùng bái cá nhân Stalin, ở Việt Nam cải cách ruộng đất gây hậu quả nghiêm trọng. Trong văn nghệ, các văn nghệ sĩ từ các địa phương tập kết về miền Bắc, tập trung tại Hà Nội, ứng xử thiên lệch của nền báo chí xuất bản tập trung quan liêu kiểu bao cấp khiến nhiều thành viên ít vai vế chịu thiệt thòi. Trong sinh hoạt cơ quan đoàn thể lộ ra những biểu hiện thiếu tôn trọng quyền tự do sáng tác, tự do biểu đạt, v.v.

Phan Khôi lên tiếng với hai biểu hiện rõ rệt nhất: viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” và nhận đứng tên chủ nhiệm báo Nhân Văn. Ông có tư cách của một nhân sĩ trí thức đã có thành tựu lớn, uy tín lớn, nên tiếng nói của ông càng gây hiệu quả lớn.

Phía lãnh đạo cộng sản đã thay đổi cách nhìn về ông, từ đây xem ông như kẻ thù tư tưởng.

Thế nhưng, các biểu hiện của văn nghệ sĩ trí thức ở miền Bắc Việt Nam hồi 1956 chỉ là loại biểu hiện tương đối yếu ớt của sự phản kháng bên trong các nước thuộc phe XHCN đương thời, đến nỗi những diễn ngôn của các trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Tửu… mới chỉ hiện diện như diễn ngôn yêu cầu xét lại (mở rộng, chấp nhận ngoại lệ, v.v., chứ không chống lại) các nguyên lý cơ bản (của giáo điều Mác-Lê, mà thật ra là  mang dấu ấn Stalin và Mao Trạch Đông).

Dưới ánh sáng lịch sử, sau khi phe XHCN đã sụp đổ, tan rã (1991), các nước thuộc khối này đã tiến hành cải tổ, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, một số nước chỉ níu giữ nền cai trị độc đảng, độc tài về chính trị, thì sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm cần được xem như sự phản kháng chính đáng của trí thức văn nghệ sĩ, những người nhạy cảm hơn các thành phần khác trong nhân dân, trước những nguy cơ mất tự do, dân chủ, trước nguy cơ bị áp đặt một hệ thống cai trị phản xã hội, phi nhân bản. Tiếng nói của họ có ý nghĩa cảnh báo các nguy cơ xã hội do nền độc tài chuyên chế gây ra.

Thật ra, đối với  những người mà ngay trong thời thực dân Pháp cai trị đã có thể thành đạt, dù chỉ do nỗ lực riêng, và cũng chỉ ở môi trường xã hội dân sự dân gian như Phan Khôi, – thì cái chết đã có thể đến với ông ngay sau thắng lợi của Việt Minh hồi tháng 8/1945, chứng cứ là số phận những trí thức danh tiếng như Phạm Quỳnh, những nhà văn từ Khái Hưng đến Lan Khai và rất nhiều trường hợp khác. Xác tín truy diệt “trí phú địa hào” của người cộng sản Việt Nam bộc lộ từ 1930 đã hứa hẹn cái chết đối với Phan Khôi ngay tại Quảng Nam 1945 khi ông dám ngăn phá dỡ đền thờ Hoàng Diệu, hoặc tại Hà Nội 1946 khi ông bị bắt cùng Khái Hưng tại trụ sở Việt Nam Quốc dân đảng. Chỗ may mắn riêng là Phan Khôi có khá nhiều người thân trong hàng ngũ cộng sản cầm quyền. Đó là những người như các người em họ là Phan Nhụy, Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), người em dâu là Lê Thị Xuyến, các người con trai là Phan Thao, Phan Cừ, v.v.

Tóm lại, trong thời kỳ khủng bố sự mọi chống đối ngay sau thắng lợi giành chính quyền của Việt Minh hồi tháng 8/1945, Phan Khôi đã may mắn thoát chết chỉ vì tình cờ có một loạt người thân trong hàng ngũ bên thắng cuộc.

Song rốt cuộc ông cũng vẫn bị thanh trừng, do bộc lộ sự vi phạm các chuẩn mực ý thức hệ cộng sản của giới cầm quyền, khi chế độ của họ đã làm chủ miền Bắc, đang đưa miền Bắc vào quỹ đạo chung của toàn phe XHCN.

Phan Khôi là một trong một số ít trí thức sống qua hai chế độ, đã từng có vinh dự là chí sĩ của phong trào duy tân, bị thực dân Pháp ra lệnh cho triều Nguyễn kết án tù, lại có vinh dự dấn thân tranh đấu chống độc tài chuyên chế, nhất là ở lĩnh vực tư tưởng văn nghệ. Sự khốn khó cuối cùng ông gánh chịu có thể nên được xem như là thêm một khổ nạn đối với cá nhân ông, nhưng cũng là thêm một công tích của ông đối với xã hội Việt và văn hóa Việt.

Phan Khôi xứng đáng để được vinh danh như một danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Hà Nội, 16/11/2016  

LẠI NGUYÊN ÂN   

 

CHÚ THÍCH:  

1/ Phan Khôi và công việc xây dựng nền Quốc văn mới

(1) C.D. (1928): “Lý với thế: Hồ Thích với Quốc Dân đảng”, Đông Pháp Thời Báo, Sài Gòn, s. 807 (18.12.1928).

(2) T.V.(1928): “Văn chương và văn chương của nhà báo. (Đáp lại Đuốc nhà Nam)”.  Đông Pháp Thời Báo, Sài Gòn, s. 787 (27.10.1928).

(3) Ví dụ một số bài báo do Phan Khôi viết: Thần chung (1929): “Trả lời cho một vị độc giả hỏi về chữ quốc ngữ”, Thần chung, SG., s. 115 (7.6) ;  Tòa soạn Thần chung (1929): “Lại trả lời cho một bức thơ hỏi vè chữ quốc ngữ”, Thần chung, SG., s. 118 (11.6) ; Phan Khôi (1929): “Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ với thế lực của phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 28 (7.11) ;  Phan Khôi (1929): “Viết chữ quốc ngữ phải viết đúng”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 31 (5.12) ; Phan Khôi (1929):  “Nói chuyện viết quốc ngữ: Hai dấu hỏi ngã cũng phải phân biệt”, Thần chung, SG., s. 273 (17.12), Trung lập, SG., s. 6038 (27.12); Phan Khôi (1930):  “Bàn cùng ông Hồ Duy Kiên: Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ quốc ngữ và phải viết cho đúng?” Thần chung, SG., s 341 (20.3) ; Trung lập, SG., s. 6105 (22.3).

(4) Phan Khôi (1930): “Cuốn sách Nho giáo gợi ý cho chúng tôi”, Phụ nữ tân văn, SG., s. 56 (12.6).

(5) Phan Khôi (1930): “Phép làm văn. Lời nói đầu”,  Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.71 (25.9). Mục “Phép làm văn”  đăng  Phụ nữ tân văn  được khoảng 4 kỳ, gồm 5 bài, từ tháng 9 đến tháng 11/1930. Sau đó, Phan Khôi viết một số bài trao đổi với Huỳnh Thúc Kháng về “Phép đặt đầu đề”.

(6) Phan Khôi (1930): “Theo thuyết chánh danh, đính chánh lại cách xưng tên của người Việt Nam”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. 58 (26.6.1930), s. 59 (3.7.1930) ; Phan Khôi (1930): “Theo thuyết chánh danh, soát lại mấy cái danh từ người mình thường dùng”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. 69 (11.9.1930).   

(7) Phan Khôi (1930): “Cách ngôn luận của người Á Đông”, Trung lập, S.G., s. 6168 (11.6.1930), s. 61670 (13.6.1930)

(8) Phan Khôi (1930): “Người mở đường cho luận lý học Á Đông. Khổng Tử và cái thuyết “chánh danh” của ngài”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s.57 (19.6.1930)

(9) Phan Khôi (1930): “Con người với lời nói”, Phụ trương văn chương s. 22. Trung lập, S.G., s. 6550 (26.9.1931)

(10) C.D.(1931): “Vai ngự sử trên đàn văn”, Phụ nữ tân văn, S.G., s. s.89 (2.7.1931); s.91 (16.7.1931); s.96 (20.8.1931); s.99 (10.9.1931); s.124 (24.3.1932)

(11) Phan Khôi (1931): “Văn nghị luận phải viết thế nào ? ”, Phụ trương văn chương s. 12. Trung lập, S.G., s. 6491 (18.7.1931)

(12) Tr.Th. (1933): “Ông Phan Khôi”, trong sách Những áng văn hay, và Thử phê bình nhơn vật và văn thơ cổ kim (1933), Nam Ký thư quán, Hà Nội, tr. 42.

2/ Phan Khôi và công cuộc đổi mới tư tưởng  

(1) Phan Khôi (1930): “Cảnh cáo các nhà học phiệt”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 62 (24.7).

(2) C.D. (1928): “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương”, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.774 (27.9) ; s.776 (2.10) ; C.D. (1928): “Bác cái thuyết tân cựu điều hòa”, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.780 (11.10)

(3) C.D.(1928): “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương”, Bđd.

(4) P.K. (1931): “Cá nhơn chủ nghĩa. (Một bài học của quan Tổng trưởng Paul Reynaud cho người Việt Nam) ”, Trung lập, S.G., 28.11).

(7) Phan Khôi (1931): “Tống nho với phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 96 (20.8.1931)

(8) Phan Khôi (1931): “Gia đình ở xứ ta, nay cũng đã thành ra vấn đề rồi”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 83 (21.5) ; Phan Khôi (1931):  “Cái chế độ gia đình nước ta, đem gióng với luan lý Khổng Mạnh”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 85 (4.6)

3/ Phan Khôi, nhà sử học

(1) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2003), “Phan Khôi và cuộc thảo luận sử học năm 1928 trên Đông Pháp Thời Báo”, trong sách Mênh Mông Chật Chội, tiểu luận phê bình văn học của Lại Nguyên Ân, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2009, tr. 391-401.

(2) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2008): “Phan Khôi và cuộc thi quốc sử của báo Thần Chung, Sài gòn, 1929”, trong sách Tìm lại di sản, tiểu luận phê bình của Lại Nguyên Ân, Tp.HCM., 2013, tr. 83-114.

5/ Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại

(1) Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây xb., Hà Nội, tết Nhâm Thân 1932; Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 122 (10.3).

(2) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)

(3) Chương Dân (1934): “Văn nghệ xứ ta năm 1933 và trước năm ấy. Cái kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết”, Công luận, Sài Gòn, số Tết (14.2)

(4) (không ghi tác giả, 1929) : “Bàn thêm về bút chiến”, Thần chung, s. 106 (28.5), s. 108 (30.5),

  1. 111 (2&3.6), s. 114 (6.6).

(5) Phan Khôi (1929): “Cùng sư Thiện Chiếu bànvề lối dịch sách, hay là phê bình lối dịch của sách Phật học tổng yếu”, Thần chung, Sài Gòn, s. 279 (24.12).

(6) Phan Khôi (1937): “Một xã hội cũng như một tờ báo, phải có cái thái độ phê bình và tiến bộ”, Đông Dương tạp chí, Hà Nội, s. 29 (27.11).

(7) Phan Khôi (1931): “Giới thiệu lối văn phê bình nhân vật”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 93 (30.7)

(8) Các bài này ký bút danh Hồng Ngâm hoặc Chương Dân, đăng Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội, từ số 1 (17.9.1933) đến s. 22 (11.2.1934), có in lại trong sưu tập: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1933-1934, /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội 2013: Nxb. Tri Thức, tr. 278-360.

(9) Phan Khôi (1931): “Cái địa vị khôi hài trên đàn văn học”, Phụ trương văn chương s. 10. Trung lập, S.G., s. 6481 (4.7).

(10) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)

(11) Phan Khôi (1932): “Làm vậy không phải là đạo văn. Trả lời cho ông Mai Lan Quế”, Phụ trương văn chương s. 48. Trung lập, S.G., s. 6695 (2.4)

7/ Phan Khôi dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

(1) Xem: Phan An Sa (2013): Nắng được thì cứ nắng, Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2013, tr. 265-266.

(2) Xem sách đã dẫn, tr. 288-294.     

(3) Xem sách đã dẫn, tr. 300-312.

(4) Xem sách đã dẫn, tr. 312-315.

(5) Thao Trường (Nguyễn Huy Tưởng, 1949): “Văn nghệ sĩ xuất phát đi mặt trận”, Văn Nghệ, [Việt Bắc], s. 17&18, số Tranh luận (tháng 11&12/1949).

(6) “Kết quả giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952”, Văn Nghệ [Việt Bắc], s. 39 (tháng 2/1953)

       

 

 

 

 

NHẬT TUẤN viết về Nguyễn Đình Thi — “Dạ thưa Anh, em là hạt bụi…”

  DẠ THƯA ANH … EM LÀ HẠT BỤI

 

1

Ông hưởng lộc quan từ rất sớm, năm 21 tuổi đã là Tổng thư ký Hội văn hoá cứu quốc, đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của Nhà nước VN DCCH, và cũng hưởng rất lâu; năm ông mất, 79 tuổi, ông vẫn còn là Chủ tịch Chủ tịch đoàn Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Nhà nước CHXHCN VN.

Trên thế giới, hiếm có nhà văn nào làm quan suốt  60 năm, làm quan tới hơi thở cuối cùng như ông, chỉ lạ một điều, sao người ta chưa đưa ông vào Guiness. Ở nước ta, leo lên quan đầu ngành đã khó, giữ được ghế càng  khó hơn, bởi thế không ai ngạc nhiên khi đứng giữa bàn dân thiên hạ, trên tivi vào dịp Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3, ông trịnh trọng tuyên bố:

“Các nhà văn chúng ta…là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng.”

Thật không có một câu “văn bia” nào diễn tả thân phận văn nô hay hơn thế.

Lập tức nó được các “hạt bụi” vỗ tay vỡ hội trường và “bảo hiểm” cho ông ngồi ghế quan đến trọn đời.

Tác giả câu nói đáng ghi vào sử sách đó chính là nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tác ca khúc …Nguyễn Đình Thi. Khác với mấy “anh tiền chiến” sau cách mạng mới chịu theo Đảng lên rừng, năm 18 tuổi Nguyễn Đình Thi đã bị đi tù vì hoạt động cách mạng, đã viết báo, viết văn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuy nhiên theo nhận định của hai nhà nghiên cứu quốc doanh gạo cội Phan Cự Đệ – Hà Minh Đức, phải đợi tới “ngọn lửa kháng chiến chống Pháp hun đúc, tài năng văn học của Nguyễn Đình Thi thực sự mới hình thành”.

Vậy thử coi “tài năng văn học”  trong kháng chiến chống Pháp của Nguyễn Đình Thi lớn cỡ nào?

Trong tuyển tập Truyện ngắn Việt Nam (1945-1954) của NXB Đại học, cũng do hai ông Giáo sư gạo cội Phan Cự Đệ – Hà Minh Đức biên soạn cho sinh viên học có tới 2 truyện ngắn của Nguyễn Đình Thi được đưa vào “bia đá”.

Truyện ngắn “Anh hùng cứ điểm”  kể chuyện đồng chí Còm, đại đội trưởng đại đội 112 trong trận đánh một cứ điểm Tây ở mặt trận đông bắc. Trong đêm trước trận đánh, anh Còm tâm sự với anh Đăng, đại đội phó : “Đời mình không vui lắm. Vợ con mất cả từ ngày đói bốn nhăm. Hồi ấy mình lang thang ở mỏ. Lúc khởi nghĩa xong, vào bộ đội, đánh tây liên miên”.

Vậy là không dám lọt ra ngoài “phép nước”, ông nhà văn cũng phải chọn một anh “thành phần giai cấp công nhân” làm nhân vật anh hùng cho dù hồi mới kháng chiến, hàng ngũ cán bộ đại đội phần lớn là dân…”tạch tạch sè” (T.T.S. = tiểu tư sản), “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (thơ Quang Dũng), có văn hoá, có tâm hồn lãng mạn và toàn xuất thân thành thị. Bởi thế đặt chân lên đò qua sông xung phong vào đồn địch, trong đầu anh Còm chẳng có một “dáng Kiều” nào hết, anh chỉ nghĩ đến “tương lai tươi sáng của dân tộc”: “Sau này kháng chiến thành công, thế nào mình cũng phải qua bên Lào hay bên Tây Nguyên một phen…”.

Thử hỏi tại sao khi đó anh không nghĩ tới chuyện về thăm bến Sáu Kho Hải Phòng quê hương anh ?

Xin thưa ngày đó tư tưởng giải phóng cả “Việt-Miên-Lào” thành lập Liên bang  Đông Dương hãy còn sâu đậm lắm trong cán bộ ta. Và ông nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng không quên điều đó khi mô tả người anh hùng, nhất là tránh xa “con người chung chung” hướng tới “con người chính trị” mới đúng lập trường văn học cách mạng.

Khi xung phong tới gần cứ điểm, theo đúng kế hoạch lẽ ra đại bác phải bắn yểm trợ, rủi thay súng lại hỏng, cả đại đội của Còm vấp phải 8 khẩu “đui-sết” của Pháp cứ nằm chết gí bên bờ ruộng. Thế là đồng chí Còm xông lên diệt ổ trung liên của địch cho toàn đại đội mở hàng rào. “Bỗng một phát đại bác nổ như xé tai, Còm đứng sững lại, bơi bơi hai tay trong không khí rồi ngã vật ra…”. Trước khi hy sinh, Còm còn thều thào hỏi: “Vào đến đâu rồi ?”  và tháo cái đồng hồ đeo tay tặng chú giao liên rồi mới…chết.

Cũng giống như nhà thơ Tố Hữu mô tả cái chết của anh Nguyễn Văn Trỗi: “Trước phút hy sinh anh gọi Bác ba lần”, chẳng hiểu sao các văn thi sĩ cách mạng cứ buộc người ta lúc chết phải nghĩ tới chiến thắng, tới lý tưởng, tới đồng đội, mà không nhớ tới vợ con, gia đình ruột thịt? Thực sự những người lính lúc chết ra sao, có gọi Bác ba lần, có hỏi “quân ta vào tới đâu” không? Hình như chưa nhà văn cách mạng nào nói  đúng được về họ. Bởi lẽ đó là yêu cầu chính trị.

Trận đánh kết thúc, quân ta đương nhiên là thắng quân nó, cứ điểm địch đương nhiên là bị nhổ bỏ và người anh hùng nằm xuống đương nhiên là được ca ngợi: “Đời anh Còm sống chiến đấu lặng lẽ, chết hy sinh lặng lẽ…”. Truyện ngắn “Người anh hùng cứ điểm”  được vào bia đá “văn học cách mạng” xem ra cũng chỉ là một bài ký sự “người tốt việc tốt” với mạch kể chuyện đơn giản, tuần tự, lười nhác cả trong xây dựng nhân vật lẫn kết cấu truyện. Đó là cái giá phải trả cho việc hưởng ứng chủ trương “sáng tác kịp thời” của Đảng chăng ?

Sang truyện ngắn “Người tù binh da đen” , tác phẩm “tuyển” thứ hai của Nguyễn Đình Thi xem ra còn… “kịp thời” hơn nữa. Người tù binh da đen đó là lính hầu của tù binh da trắng Thiếu tướng Đờ Cát, Tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ mà chẳng hiểu sao ông nhà văn lại cho rằng “Mỹ” phong cho ông mới lạ chứ. Có lẽ vì vậy mà Đờ Cát được Nguyễn Đình Thi gọi bằng “tên”, “nó”.

“Trong đoàn tù binh, giữa hai người lính hầu lúc nào cũng theo hầu hai bên nó như hai cái bóng, tên tướng Pháp cầm cái gậy ngắn của sĩ quan, vừa hút thuốc lá vừa lòng khòng đi, cái mũi dài xuống …”

“Tên Đờ Cát ngồi một mình trong cái lán, chống tay lên cái bàn nứa. Nó lột cái mũ ca lô đỏ xuống, cầm mân mê, mắt tư lự nhìn ngôi sao thiếu tướng mới đính trên cái mũ ấy, đôi môi mỏng nhếch ra một nụ cười trầm ngâm…” .

Có lẽ thấy đánh “người ngã ngựa” chẳng “quân tử” chút nào nên Nguyễn Đình Thi  “tha cho” “tên Đờ Cát” mà quay sang hai người lính hầu da đen của ông ta. Dọc đường đi, anh tù binh trẻ luôn đeo cái ba lô thật nặng cho ông tướng luôn bị các bạn tù khác “ném đá” và “chế giễu” nên đã trốn mất tiêu, trao nó lại cho người tù già. Bác này lại “è cổ đeo cái ba lô nặng lù lù và cuộn chăn len dầy đi sau tướng Đờ Cát về tới trạm tù binh”. Khi “Đờ Cát được gọi đi, người lính hầu lại đeo vội cái ba lô lên vai” , nhưng lúc này anh lính Việt Nam  ngứa mắt quá bèn ra lệnh cho viên tướng phải tự đeo ba lô. “Đờ Cát leo đến nơi, hai chân lẩy bẩy. Nó bĩu môi, vứt phịch cái ba lô xuống” . Khi anh lính VN ra lệnh cho viên tướng Pháp mở ba lô, người tù binh da đen mới thấy rõ mình đã è cổ cõng toàn những thứ “phục vụ cho ông tướng”:

“mấy tút thuốc lá Camen, hai chai rượu Huýt-ki, ba cái bút máy Pác-ke vàng, bốn năm bộ quần áo Ga-bác-đin, ảnh của tướng Tat-si-nhi, một gói bạc Đông Dương dày cộm, một gói tiền vàng và nhẫn vàng, hai cái đồng hồ vàng….và nhiều thứ khác nữa…”.  

Chính điều đó làm người tù binh “giác ngộ” chính nghĩa thuộc “bên nào”, đêm đó ông tìm tới với các chiến sĩ Việt Nam. Họ vui vẻ hỏi: “Phini balô, phini ba lô?”. Rồi họ lại hỏi: “Sao anh tóc đã hoa râm thế còn đi lính cho Pháp ?”. Người tù binh da đen cảm động chảy nước mắt kể chuyện đời mình. “Anh là người Maroc, làm thợ mộc ở một làng vùng núi. Nhà có một mẹ già, hai anh em. Pháp đến bắt lính. Người em bỏ trốn vào rừng… Những hình ảnh quê hương xa xôi hiện lên dồn dập như gọi anh trở về nguồn gốc cũ…”.

Truyện ngắn “Người tù binh da đen” của Nguyễn Đình Thi  được xếp hạng trong văn học cách mạng gói gọn chỉ có thế. Nó như một bản phác hoạ chân dung sơ sài, nặng về thiên kiến chính trị mà tính chân thực của nó còn phải chờ ý kiến xác minh của chính nhân vật trong truyện: Tướng De Castrie. Vậy mà nó vẫn được khen là tìm được một “lối khác” trong sáng tác văn học đề tài ca ngợi “chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta” và là một gợi ý cho bà Cục phó Cục Điện ảnh Nguyễn Thị Hồng Ngát viết nên kịch bản “Người hàng binh” tức “Ký ức Điện Biên” làm thiên hạ om sòm bàn tán vì tiêu tốn của Nhà nước cả triệu đô-la mà trong dịp kỷ niệm “chiến thắng Điện Biên Phủ” tháng 5-2004 vừa rồi,  số người tới rạp trong mỗi buổi chiếu đếm được chưa hết mười đầu ngón tay. Tất  nhiên, thất thu đó không thuộc lỗi  nhà văn Nguyễn Đình Thi…

 

Tuy nhiên, tác phẩm xuất sắc nhất trong thời kỳ chống Pháp, làm Nguyễn Đình Thi có thể rung đùi yên trí “hoàn thành chỉ tiêu sáng tác” trên “mặt trận cầm bút” theo đúng yêu cầu của “bác Hồ”:  “mỗi nhà văn cũng là một chiến sĩ” lại là một “tiểu thuyết” đã được đưa vào sách giáo khoa cho không biết bao nhiêu thế hệ con em chúng ta ngồi trên ghế nhà trường phải phân tích và bình luận nhằm bồi bổ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cả nhân vật trong truyện  lẫn người viết ra nó.

Đó là “tiểu thuyết”  “Xung kích” – một trong những tác phẩm đưa Nguyễn Đình Thi lên bục nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, viết vào năm 1951 sau khi đã được “quán triệt”  sâu sắc “đề cương văn học Diên An” của Mao, tức những quy phạm ngặt nghèo của chủ nghĩa hiện thực XHCN phục vụ công nông binh đã hằn sâu trong quả tim và cả khối óc của nhà văn.

Gọi là “tiểu thuyết” nhưng cũng chỉ vỏn vẹn hơn 100 trang in, trong đó chương mở đầu “tường thuật”  dân công, bộ đội hành quân tới một cái cầu qua con suối nhỏ bị sập giữa trời rét cắt thịt. Không lẽ cứ nằm chờ công binh tới bắc cầu như chị em dân công; bộ đội bèn nảy sáng kiến “chuổng cời” lội suối, nước dâng ngang ngực, nhờ vậy đến được điểm tập đúng thời hạn. Chuyện có vậy thôi mà ông nhà văn “cà kê” mất gần chục trang.

Rồi trước lúc vào trận, bộï đội tập trung nghe đọc thư của “bác Hồ”, ông nhà văn cũng bê vào nguyên xi:

“Chiến dịch này là lần đầu tiên đánh đồng bằng mà địch có chuẩn bị. Chính vì lẽ đó mà ta quyết phải thắng …Nào đơn vị nào hứa với Bác và Chính phủ sẽ lập nhiều công nhất nào ? Chính phủ, đoàn thể và Bác đang chuẩn bị sẵn sàng thưởng cho những chiến sĩ, cán bộ và đơn vị lập công to nhất…”

Tất nhiên tiếng “xin hứa, xin hứa” phải vang lên như sấm. Chỉ có điều sao trong thư, “bác” không viết  “Đảng, Chính phủ, và Bác” mà lại viết: “Chính phủ, đoàn thể và Bác” ?  Đó là vì lúc này Đảng rút vào “bí mật”, tuyên bố giải tán, thành lập “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” nên khi nói tới lãnh đạo, phải đưa “chính phủ lên trước” rồi mới đến “đoàn thể” chứ chữ “Đảng” chưa được công khai nhắc tới như bây giờ.

Sau phần “động viên trong nước”, tới phần “quốc tế”:

“Tiếng anh trung đoàn trưởng vang lên:

“Tôi báo tin để các đồng chí biết. Bên Triều Tiên, các bạn chúng ta vừa mở cuộc tấn công mới, làm cho quân Mỹ lao đao. Chúng ta hứa với Bác thi đua với chiến sĩ Triều Tiên, đánh thật mạnh để hưởng ứng với các bạn chúng ta. Chúng ta hứa với Bác hôm nay không thắng không về…”

Cứ như vậy, người đọc ngỡ ông nhà văn đang viết “báo cáo chiến dịch” chứ chẳng phải tiểu thuyết. Tuy thế, trong “Xung kích”  Nguyễn Đình Thi  cũng “sáng tác” ra nhiều nhân vật “anh hùng thời đại” để gắn nhãn “tiểu thuyết” cho nó.

Trước tiên là chú bé giao liên đại đội tên Luỹ, khi máy bay Pháp tới ném bom, “chú đứng bên cạnh bến nước , nhìn về mé có tiếng bom, hai tay đút túi quần :

“ Ăn thua mẹ gì . Chỉ chết mấy con ngan là cùng. Rời thằng Mỹ ra thì ông bóp mũi…”

Ghê gớm chưa, chú Gavơrốt Việt Nam của Nguyễn Đình Thi xem ra thấm nhuần chính trị tới mức lúc nói chơi cũng vạch rõ được “âm mưu can thiệp Mỹ”. Giống như nhân vật của Victor Hugo, “bóng loắt choắt của chú bé liên lạc vẫn thoăn thoắt chạy đi giữa những tràng đạn lửa ngoằn ngoèo… Luỹ đã chạy qua hết sân đồn, bỗng đứng lại. Một thằng  quan hai đang giơ tay từ một cái ngách nhỏ chui ra. Luỹ thét “ra nhanh”. Thằng quan hai bỗng hạ tay xuống, sau lưng nó, một tràng tiểu liên bắn ra. Bóng chú liên lạc lăn xuống đống gạch vụn… giữa trán nó, một lỗ thủng sâu hoắm rỉ máu…” 

Người “tây học” như Nguyễn Đình Thi chắc đã đọc “Les Misérables” của Victor Hugo và hẳn nó đã “gợi ý” cho Nguyễn Đình Thi tạo nên hình tượng chú giao liên hồn nhiên và anh dũng hy sinh.

Một trong những nhân vật trung tâm xuyên suốt cuốn tiểu thuyết là đại đội trưởng Kha. Anh này chắc không xuất thân “bần cố nông” vì trong người có chút máu tạch-tạch-sè (tiểu tư sản) nên trước khi ra trận còn muốn …diện đồ mới:

“Anh mở ba lô, tìm bộ quần áo mới, vải thơm sạch, thay vào bộ nâu vẫn còn mặc trên người…Kha nghĩ: Có chết mình cũng chết cho đẹp..”.

Mải mê khắc hoạ “nhân vật” cho có “cá tính” độc đáo, ông nhà văn quên bẵng “cái chết đẹp” hiểu theo lập trường cách mạng chỉ mang ý nghĩa “hy sinh cho Chính phủ, cho đoàn thể và cho bác Hồ”  chứ không phải quần áo đẹp, hình như sợ cấp trên quở, ông vội vàng cho đại đội trưởng Kha:

“Cầm cái áo lên, anh bỗng nhìn thấy cái huy hiệu Thanh niên dân chủ quốc tế…”

Và anh đại đội trưởng vừa sa đà chút xíu vào “cá nhân chủ nghĩa” vội vàng củng cố ngay lập trường cách mạng:

“Kha tháo huy hiệu xem kỹ: một quả địa cầu và mặt ba người thanh niên trắng đen vàng. Chiều hôm nay ở đây sẽ lại có những  người thanh niên Việt Nam chết cho thực hiện cái cảnh hoà bình thân ái ghi trên tấm huy hiệu này…”

Tuy nhiên phải đợi tới giai đoạn 2 của chiến dịch, vào một trận tấn công cứ điểm Pháp trên đồi, Kha mới chứng nghiệm dự cảm về cái chết của mình. Trong trận đó, anh dẫn đầu đại đội tràn lên đánh địch.

“Một tiếng xoẹt, Kha nằm nấp xuống hố đạn. Đất xới lên lấp chân Kha. Qua rồi, Kha nhảy lên miệng hố. Kha hét: Xung pho…ong …”. Kha bỗng choáng óc như bị một nhát búa. Đất lạo xạo đầy mồm. Tiếng trung liên tắc tắc. Kha thấy mình nằm úp mặt xuống đất…”

Bị trúng đạn rồi, Kha vẫn:

“ Tay nắm chặt súng lục, Kha cố đứng dậy đưa tay trái sang tìm vết thương. Sờ đến bả vai, thấy những ngón tay dính nháp nong nóng. “À đây, máu chảy nhiều.”… Luồng đạn qua mặt mát lạnh, Kha như ra khỏi sương mù. “Không thể lui xuống lúc này được. Phải lên ngay cho kịp anh em”. Kha cắn răng chạy lên…”

Thế rồi Kha lại nhận thêm một viên đạn vào cánh tay, anh vẫn “quên hết hai vết thương ở vai và ở tay, chỉ còn một ý nghĩ “Chạy thẳng lên đồi giết hết, giết hết…”.

Rồi anh lại bị một quả đạn cháy “khắp bên trái người cháy bỏng, anh khuỵ xuống, ngáp ngáp cố thở. Kha vẫn không chịu ngất đi, tự bảo “Cố lên, cố lên…”.

Chỉ đến khi anh bị tiếp một quả đạn cháy thứ hai “cả người Kha xèo xèo, Kha giãy giụa hai ba cái trong đám lửa…” , anh mới chịu gục ngã.

Tuy nhiên, ông nhà văn  vẫn chưa cho phép nhân vật được chết. Người anh hùng không thể chết câm lặng như vậy được, cái chết đó phải được nhấn mạnh để góp phần đắc lực cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Kha được khiêng về trạm quân y chờ chính trị viên tới thăm .

“Trong đám sương mù liên miên, trí khôn đã lạc lõng của Kha bỗng nghe thấy xa tít  có tiếng gọi. “ Kha ơi, Sản đây − Sản đây…”  (Sản là chính trị viên) “Kha cuống quýt …mấp máy cặp môi phồng rộp, tưởng mình đang kêu to mừng rỡ. Hai lòng trắng mắt động đậy. Bàn tay Kha giơ lên quờ quờ: Ồ đồng chí Sản, sao bây giờ anh mới tới ? Ồ Sản, Thế nào ? Tối hôm ấy thế nào ?. Sản nói to: Ta tiêu diêu diệt được toàn bộ quân địch ở dãy đồi. Tiêu diệt toàn bộ quân đội…”

Vậy là phút giây thiêng, anh đại đội trưởng Kha vẫn chờ tin thắng trận, giống y chang anh đại đội trưởng trong truyện ngắn “Anh hùng cứ điểm”, Nguyễn Đình  Thi lại cũng viết: “trước khi hy sinh, Còm còn thều thào hỏi : ”Vào đến đâu rồi ?” .

Hơn hẳn anh đại đội trưởng Còm, sau khi nghe tin chiến thắng, “Kha cười: Tao lo quá mày ạ. Mày  mà đổ thì cả chi bộ và đại đội lao đao…”. Rồi Kha căn dặn người ở lại: Đồng chí Na phải đề nghị huân chương chiến sĩ hạng nhất mới xứng đáng. Nhấc lên làm trung đội phó…”.

Vậy là tới lúc chết , người anh hùng vẫn chưa được nghỉ ngơi, vẫn lo công việc tới hơi thở cuối cùng. Cho tới khi chính trị viên ghé tai hỏi :

” Anh có điều gì dặn lại không ?”

Kha vội lắm, Anh còn ít thời gian lắm:

“ Chào Đảng, các đồng chí..chi bộ…”

Vậy là làm xong nhiệm vụ Đảng viên trước khi chết rồi, Kha mới dặn dò riêng tư:

“ Sản nhớ cho Lý cái bật lửa…Hết”

Chẳng hiểu sao, cứ trước lúc chết, các nhân vật anh hùng của Nguyễn Đình Thi cứ phải tặng ai một kỷ vật gì đó, anh Còm thì gửi lại cho chú giao liên chiếc đồng hồ đeo tay, anh Kha cũng gửi cái hộp quẹt cho cô bạn cũ gặp lại trên đường hành quân. Có lẽ ông nhà văn muốn có thêm chút ít “chất người” cho nhân vật, nếu không cứ dặn dò, cứ hô khẩu hiệu trước khi chết thì “khô khan, người máy” quá chăng ? Có điều ngay cả những chi tiết “tình người” đó cũng khó xúc động lòng người vì sự khiên cưỡng và lặp lại của nó.

 

Ở một đơn vị đại đội, anh “thủ trưởng quân sự” tức đại đội trưởng vẫn dưới quyền anh “thủ trưởng chính trị” tức chính trị viên kiêm bí thư chi bộ. Đánh đấm ra sao, tư tưởng thế nào, tuốt tuột thuộc quyền “quản lý” và quyết định của anh chính trị viên. Bởi thế nhân vật quan trọng nhất trong “Xung kích”  của Nguyễn Đình Thi lại là anh chính trị viên tên Sản.

Sản “nắm” cán bộ chiến sĩ,  “nắm” chủ trương chiến dịch, chiến thuật, “nắm” lương thảo, vũ khí, “nắm” địa phương nơi đóng quân… Để thực hiện tốt chế độ “toàn trị” của Đảng trong quân đội, Sản phải nắm đủ thứ trên đời. Chính vì vậy trong lưng Sản lúc nào cũng kè kè cuốn sổ ghi chép và họp hành liên miên:

“Mới mờ sáng, tới vị trí trú quân, Sản đã triệu tập các chi uỷ viên tới hội ý….”.

Hiền, một anh đại đội phó tố cáo:

“Tôi xin nhắc đồng chí bí thư vấn đề tiểu đội trưởng Tá…Càng về gần dưới này, tinh thần càng xuống. Anh ta có lúc nhắc tới chuyện giải ngũ…”

Sản cúi ghi trên sổ tay “ Chú ý công tác cậu Tá…”

Người bị tố cáo phải vào sổ đã đành, ngay cả người đứng ra tố cáo cũng không thoát:

“Sản nghĩ: Đồng chí Hiền cũng cần được theo dõi và giúp đỡ hơn nữa. Còn hay dễ làm khó bỏ…”

Có người nhắc :

“Đồng chí bí thư chưa bàn vấn đề tiền ăn…”

Sản bỏ bút nhìn lên:

“Tôi ghi cả đây. Giải quyết sau. Bây giờ tôi nhắc các đồng chí mấy điểm… Phải chuẩn bị ngay tinh thần cho bộ đội. Mọi việc phải gấp gáp lên. Còn vấn đề bí mật… nhiều cậu phất phơ ngoài chỗ trú quân, diện quần áo Mỹ giữa ban ngày, mua bán lung tung.. Ngay cán bộ cũng coi thường bí mật. Đồng chí Hiền sao không ngụy trang? Đồng chí muốn bộ đội ăn bom dây à? Các đồng chí phải về họp tổ mà chấn chỉnh ngay đi…”

Cứ như vậy đó, cái gì Sản cũng phải ghi, phải để mắt tới và phải huấn thị cho quần chúng mới tròn nhiệm vụ chính trị viên.

“Sản ngồi với cuốn sổ tay đặt giữa đầu gối. Hai vai anh cúi ép xuống lồng ngực. Những con số, những dòng chữ đầy mãi trang giấy…”

Một chị cán bộ mới gặp thoáng trên đường cũng đã phải nhận xét về chính trị viên Sản:

“Ông này chắc bộ đội khó giấu được ông ấy cái gì ?”

Giấu sao được, giấu là chết. Ngoài chuyện ghi chép tỉ mỉ, dọc đường hành quân, Sản còn phải tranh thủ giáo dục tinh thần cách mạng thường trực cho bộ đội:

“ Anh chính trị viên giơ cái ống tay áo cụt chỉ những đồi cỏ lau rậm rạp dưới ánh trăng, nói với mấy anh cán bộ trung đội :

“ Vùng này là chỗ “căng” ngày xưa Pháp đem đầy các đồng chí mình đây…”

Khi ra trận, Sản phải lo sao cho bộ đội người nào cũng “có thư Bác cài trên mũ”, phải dặn dò đủ thứ:

“Các đồng chí xông lên đồn còn là dễ, mà làm thế nào đủ điều kiện xông lên đồn mới là khó. Phải chú ý từ cái quai dép dây giày, túi cơm, cái giẻ lau, cái hộp mỡ, từ cái nan tre làm thang…”

phải nêu cao tinh thần “quyết đánh” cho bộ đội, dù có thiếu đạn dược vẫn cứ  đánh:

“Phải làm cho tất cả anh em trong đại đội có tinh thần như  chúng ta (đảng viên). Là vì sẽ gay go, mệt, đói, vội, có thể thiếu cả vũ khí. Không biết chừng không kịp có bộc phá. Không có, vẫn phải đánh được. Không kịp nghiên cứu kỹ sa bàn, cũng phải đánh được…”

Vậy là cứ có ý chí là đánh được tuốt, người lính cứ thế mà xông lên  bất chấp mạng sống của mình. Sau cùng, Sản còn phải thể hiện rõ vai trò gương mẫu bằng thề thốt:

“Đảng đã dạy chúng ta: người đảng viên bao giờ lời nói cũng đi đôi với việc làm. Tôi xin hứa với chi bộ, nếu tôi không tròn nhiệm vụ trong trận này, tôi sẽ không đem cái mặt nhọ mà về trước đoàn thể…”

“Thủ trưởng chính trị” bao giờ cũng to hơn “thủ trưởng quân sự”. Khi lâm trận, anh đại đội trưởng muốn ra cái lệnh gì cũng phải nhất nhất thông qua chính trị viên:

“Đánh thế nào? Kha (đại đội trưởng) nhìn bức tường dựng đứng. Ít ra là tám chín thước cao. Cho là ba tầng nhà. Phải chập thang, chồng người mà lên. Rồi từ lô cốt đã chiếm đánh toả ra. Kha quay lại Sản: Bây giờ cho hai trung đội chiếm trên mái? Sản gật.”

Sản gật rồi Kha mới được phép thực hiện. Vậy là ngay cả trong chiến đấu, mọi mệnh lệnh phải được đại diện Đảng thông qua rồi mới được phát ra. Chính trị viên quyền lớn, trách nhiệm cao như thế nên ắt phải là con người….đặc biệt. Bởi thế đại đội trưởng Kha đã nhận xét về chính trị viên Sản:

“Ai được như nó ? Có lẽ nó chưa biết tuổi trẻ là gì ? Lúc sáng, ở trung đoàn về nhìn thấy Sản ngủ, mặt  hóp lại , mắt nhắm im. Kha giật mình. Nó mở hai mắt đờ ra nhìn Kha mấy giây như nhận không ra rồi mới chớp chớp mấy cái…”

Hoá ra ngay trong giấc ngủ, anh chính trị viên cũng vẫn phải làm công tác “nắm tình hình”. Mang vai trò và phẩm chất đặc biệt như vậy, người đại diện của Đảng trong quân đội  phải xuất thân giai cấp công nhân thì mới “có ý thức tổ chức, có tinh thần kỷ luật”  theo đúng tinh thần học thuyết Mác Lênin. Nắm vững yêu cầu đó,  Nguyễn Đinh Thi đã không chọn nông dân hoặc tiểu tư sản mà  chọn  công nhân mỏ làm thành phần xuất thân cho chính trị viên Sản đúng y chang đường lối giai cấp trong xây dựng quân đội của Đảng. Bởi thế cái tâm niệm “người vô sản vùng lên tranh đấu chỉ mất có gông xiềng mà được cả thế giới” đã ăn vào cả trong giấc mơ của anh chính trị viên:

“Ngày nào được đánh về vùng mỏ, gặp chúng nó (bạn bè công nhân cũ) thì sướng đến thế nào. Tương lai kháng chiến thành công rồi, chắc đoàn thể lại cho Sản về một nhà máy, nhà máy bấy giờ sẽ là của ta, Sản chỉ ao ước có thế …”

Hoá ra “người nô lệ vùng lên tranh đấu” “chỉ ao ước có thế”, mai kia giành thắng lợi, chẳng cần tới cả thế giới, chỉ mong có trong tay một nhà máy để làm chủ cho thoả nỗi khổ nhục làm công nhân ngày xưa. “Người anh hùng” dù cho được vẽ vời cao đẹp đến mấy, vẫn thò ra cái đuôi hám chức quyền.

Chính trị viên đại đội đã như một “thượng đế toàn năng” trong đơn vị, vậy còn lính  tráng thường được gọi là quần chúng thì sao?

Cho dù bộ đội đã được tổ chức thành trung đội, tiểu đội nhưng để việc “quản lý” thêm chặt chẽ, Đảng  đã thiết lập “tổ 3 người” theo chế độ “tam tam chế” của bác Mao để “quản lý” và “giúp đỡ” lẫn nhau.

Trong “Xung kích”, tổ tam tam tiêu biểu là Thông, Cốc và Mẫn – ba anh lính cấp chót bét trong đại đội thường xuyên “để ý” và “uốn nắn” nhau.

“Thông quay lại Mẫn:

Cậu công tử lắm. Bớt ngắm vuốt đi. Soi gương luôn trông sốt ruột lắm. Mà có được thấy đàn bà con gái đếch đâu mà diện. Ban đêm thì đi như gió. Ngày lại rúc vào bụi rậm. Cái áo Mỹ ấy cũng đừng vác ra ban ngày nữa. Dân làng người ta trông thấy còn đếch đâu là bí mật….”

Rồi Thông bảo Cốc:

“ Thằng Mẫn phải để ý thế nào mới được. Có lẽ cậu phải gần nó, nói chuyện luôn, giác ngộ cho nó…”

Trong sinh hoạt  ngày thường, “tổ tam tam” tăng cường “giám sát” nhau:

“Thông vừa mài dao vừa liếc mắt nhìn Mẫn. Biết ngay là cậu ta đang muốn nhớ nhà. Hé ra một câu là cu cậu cắn ngay. Chưa về quê được cậu ơi. Còn là đánh…”

Trong tổ tam tam, còn gọi là “tổ keo sơn” xem ra Thông là người “vững lập trường nhất”. Ngay cả cái “tàu điện của Tây” anh cũng dè bỉu:

“Nước mẹ gì, nó lại cho vài cái đầu tàu điện thải ở cái xó nào bên Tây chứ gì ?”

Và anh mơ ước :

“Sau này Hà Nội thể nào chả có tàu điện. Mình làm ngầm dưới đất theo lối Liên Xô kia chứ ? Đánh Tây đánh tiếc xong chỉ xin đoàn thể cho về Hà Nội lái tàu điện ngầm là sướng nhất…”

Ước mơ về một thiên đường mai sau ghê gớm chưa? Chỉ có điều, 50 năm sau, chắc ông Nguyễn Đinh Thi cũng đã hiểu rằng vĩnh viễn cái tàu điện ngầm “theo kiểu Liên Xô” ấy sẽ chẳng còn có cơ hội được xây dựng ở Hà Nội.

Nhân vật thứ hai trong tổ tam tam là Cốc, “bồ côi từ nhỏ, lớn lên là đứa trẻ ăn mày ăn xin đầu làng cuối chợ…Những ngày cách mạng tháng Tám, Cốc sướng nhất , Cốc được vào thanh niên…tập tự vệ rồi đi bộ đội…”. Còn lại là Mẫn, em út trong tổ ba người thường bị “uốn nắn” cũng lại xuất thân từ một làng quê bên bờ sông Thao.

Vậy là từ sĩ quan tới lính tráng trong “Xung kích” của Nguyễn Đinh Thi hầu hết đều là những nông dân, công nhân nghèo khổ bị phong kiến và đế quốc bóc lột tới tận xương tuỷ. Thế còn những học sinh, sinh viên, công chức, những trí thức thành thị đã tham gia bộ đội  đã đóng góp rất lớn ngay từ những ngày đầu đánh Pháp đâu cả rồi ?

Chắc chắn không phải ông Nguyễn Đinh Thi vô tình quên họ mà là vì “quân đội ta” phải là những người “nông dân mặc áo lính” – đó là điều ông nhà văn không được phép quên khi viết tiểu thuyết đề tài bộ đội  như “Xung kích” của ông.

            

Tổ “tam tam” là hạt “cơ bản” cấu thành các đơn vị tiểu đội, trung đội, là đơn vị nhỏ nhất để thực hiện các mặt “quản lý” của Đảng đối với quân đội, bởi vậy cả 3 người trong tổ  tam tam Nguyễn Đình Thi đưa ra như một mẫu điển hình trong “Xung kích”, tất nhiên ai cũng căm thù địch sâu sắc, sẵn sàng dũng cảm hy sinh cho Chính phủ, đoàn thể và bác Hồ.

Nguyễn Đình Thi đã mô tả bằng đối thoại hình ảnh tổ 3 người sau trận đánh:

“Ba anh tổ keo sơn sánh vai nhau thủng thẳng giữa đường.

“ Hôm qua, lúc xuất phát tao cứ lo thằng Cốc đổ.

“Cậu Mẫn hôm nay lên đốt mìn khá lắm. Đấy, có gì khó đâu…”

“Úi chà, lúc tôi chạy lên suýt nữa thì ăn cả một băng của nó vào giữa mặt. Mình không nhanh mắt thì đã đi Tây rồi…”

Sức mạnh giáo dục và động viên của tổ tam tam thật tài tình chưa, từ chỗ tản mạn, anh này thắc mắc anh kia, trải qua tu dưỡng và  rèn luyện anh nào cũng trở thành chiến sĩ giỏi cả. Nhân vật trong “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi còn đông đảo nữa, tất cả đều có một mẫu số chung là căm thù giặc Pháp, dũng cảm trong chiến đấu, tình cảm riêng tư hầu như con số không và đời sống tính dục hoàn toàn bị loại bỏ. Thật cứ như bao nhiêu nhân vật đàn ông dũng mãnh ở trong truyện đều đã bị “thiến bỏ” hết cái phần “bản năng tính dục”, khiến họ có thể toàn tâm toàn ý tập trung vào giết quân thù.

Gía trị của tiểu thuyết “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi không nằm ở văn chương, không nằm trong phản ánh những thân phận con người trong chiến tranh, mà giá trị của nó chính là ở chỗ đã nêu được một hình mẫu tổ chức quân đội, từ chế độ chính trị viên toàn trị cho tới các tổ ba người kiểm soát lẫn nhau, từ cung cách quản lý tư tưởng cho tới quản lý sinh hoạt …tất thảy đều nhằm biến một đơn vị quân đội trở thành một cỗ máy nhiệt tình chém giết trong mọi hoàn cảnh.

Và phải chăng cái “sức mạnh quân đội đã làm nên nhiều chiến thắng thần kỳ” như người  ta vẫn ca ngợi là do sự tinh vi về tổ chức, sự hà khắc về tư tưởng và sự tiêu diệt mọi màu sắc cá nhân. Bởi thế, cái hình mẫu tổ chức quân đội đó chẳng nơi nào trên trái đất này có được, nó chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản.

 

2

Trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Thi, những “Nhận đường”, “Anh hùng cứ điểm”, “Xung kích” chỉ là những phác hoạ chân dung để sau này ông viết nên một pho tiểu thuyết đồ sộ: “Vỡ bờ” tập 1 dày 500 trang, “Vỡ bờ”, tập 2  trên 700 trang.

Như cái tên của nó, Nguyễn Đình Thi muốn dựng lại cả một thời kỳ lịch sử vào lúc dân Việt Nam dường như không chịu nổi ách áp bức của cả Pháp và Nhật nên đã “tức nước vỡ bờ”, bung ra làm cách mạng.

Xoay quanh nhiều nhân vật trí thức, “Vỡ bờ” dường như muốn tìm cách trả lời câu hỏi vì sao tuyệt đại đa số trí thức Việt Nam đã đi theo cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo?  Cho tới tận bây giờ, vấn đề này vẫn được nhiều người quan tâm và vẫn chưa được trả lời một cách thoả đáng; liệu Nguyễn Đình Thi qua bộ trường thiên tiểu thuyết này có đóng góp gì hơn ?

Mở đầu thiên tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi cho “ra tuồng” cùng lúc hai nhân vật trí thức đã tham gia cách mạng. Một là Hội, có vợ con ở làng Chẩm, lên Hà Nội dạy học. Hội của Nguyễn Đình Thi gợi đến khá rõ nhân vật Thứ trong “Sống mòn” của Nam Cao, chỉ khác Hội đã tìm được tới cách mạng còn Thứ thì chưa. Nhân vật trí thức thứ hai là Khắc, con trai cụ tú Nguyễn Mai, hoạt động Đông Kinh Nghĩa Thục và bị bắt đầy đi Côn Lôn rồi chết  ở ngoài đảo. Cụ Tú mất đi nhưng truyền lại được cái chí của mình cho con: “Năm ba mươi, Khác bị bắt về tội cộng sản, Toà đề hình xử án 20 năm tù và Khắc cũng lại đi Côn Đảo… đến hồi  chính phủ bình dân Pháp lên, Khắc được tha về nhưng hai lá phổi của anh đã bị vi trùng lao đục ruỗng…”. Từ Hà Nội về làng chuyến này, Hội có trách nhiệm báo động cho Khắc đi trốn vì sắp có đợt khủng bố mới. Hai trí thức cách mạng gặp nhau, tất nhiên chuyện “cách mạng” phải nở như bắp rang.

“Hội kể: Hôm qua mới độ ba giờ đêm ô tô nó đã về sục chỗ tôi ở trọ để bắt anh Thiết… Đến sáng, tôi đảo đi dò qua mấy nơi thì toà báo “Thời nay”, “Lá lúa “đều bị niêm phong, hiệu sách Đồng Xuân cũng bị khám …Suốt buổi sáng, ô tô nó đi sục hàng chục chuyến, chuyến nào cũng bắt người, các phố xao xác cả lên…”

Nghe Hội kể chuyện, Khắc nhận định ngay:

“Bây giờ không phải lúc Mặt trận Bình dân cầm quyền bên Pháp nữa. Chiến tranh đã nổ ra. Từ nay đã sang một thời kỳ khác rồi…”

Và rồi ông chính trị phạm Khắc giải thích ngay cho anh thanh niên Hội, cách mạng tay mơ vì sao “ông Stalin lại bắt tay ông Hitler” để ký hoà ước Xô-Đức, vạch mặt bọn trôtskit ở Hà Nội nhân vụ này đã la to: “Vĩnh biệt Mạc Tư Khoa”…

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Khắc tỏ ra rất hiệu quả, Hội nghe xong nắm cánh tay Khắc:

“Cứ nghe anh, tôi lại thấy vui một tý, tôi lại muốn vật lộn, xem cái xã hội này xoay vần đến đâu. Chứ còn nhìn vào sự thật hàng ngày thì lắm lúc tôi chỉ muốn buông xuôi hết. Dân mình không biết bao giờ mới cách mạng được. Cái nọc độc nô lệ nó đã ăn quá sâu vào xương tuỷ chúng ta rồi…”

Vũ khí tuyên truyền của cách mạng quả thực là hiệu dụng, chỉ sau một buổi trò chuyện, Hội đã phải chân thành bộc lộ:

“Anh tưởng người nào cũng có gan làm cách mạng như các anh sao ? Như tôi chẳng hạn, tôi cũng hiểu cách mạng là phải, nhưng tôi nhát, tôi tự biết mình không chịu nổi tù tội, tra tấn như các anh được…”

Tất nhiên, Hội lại được Khắc đả thông ngay:

“ Anh nói thế không đúng đâu. Tôi thì tôi cho rằng anh vẫn chưa thực thấy cách mạng  là cần thiết. Đến lúc thực không thể sống thế này được nữa, thì anh sẽ có gan và có sức mạnh…”

Ngay sau khi làm công tác “giáo dục chính trị tư tưởng” cho Hội, Khắc trốn ngay khỏi nhà để khỏi bị bắt, còn Hội về nằm bên vợ mà cứ thắc mắc mãi, không ngủ được. “Trong đầu Hội quanh đi quẩn lại câu hỏi: “Làm gì ? Bây giờ mình làm gì ?”. Một câu trả lời rất dễ dàng, rất thiết cốt, ai cũng thấy: “Làm ra nhiều tiền để nuôi vợ con”, riêng có Hội là không thấy, anh cứ băn khoăn: “Dạy học cũng là yêu nước chứ sao ? Dạy học, Hội sẽ đem hết sức lực, tâm trí mình, trọn đời đào tạo lớp trẻ con, tương lai của tổ chức…”

Nhưng rồi Hội cũng thấy ngay dự định của anh thật viển vông, cách mạng đòi hỏi ở anh rất nhiều thứ khác chứ không chỉ ở cái công việc “gõ đầu trẻ” hàng ngày,  anh phải lao vào hoạt động không ngại tù đầy bắt bớ, anh phải đặt nhiệm vụ tổ chức giao cho cao hơn là việc kiếm tiền hàng ngày nuôi vợ con. Đó là một tương lai rất khó khăn đối với Hội, bởi lẽ anh là người nhút nhát, mật vụ mới chỉ lùng sục bắt bớ trên Hà Nội, anh đã mang bao nhiêu báo chí bí mật của cách mạng “nhờ cụ vua bếp giải thoát đi cho…”:

“ Ngọn lửa bùng to. Những tờ giấy quăn lại bốc khói cháy. Hội còn đọc nhanh được một vài dòng chữ tít lớn: “Đình công…Biểu tình…Mười nghìn thợ mỏ…Dân cày hãy đoàn kết lại…”

Không biết sau này khi “Vỡ bờ” được viết tới trang cuối, bản lai diện mục của Hội sẽ ra sao, chứ chỉ bằng vào những tâm tư và hành động của anh trong mấy lớp  trò đầu, người ta lo sau này anh khó có thể “một lòng theo Đảng” như cái lý tưởng mà người cộng sản Khắc đã nhồi vào đầu anh. Xin hãy cứ chờ xem.

Đối lập với hai anh trí thức cách mạng, là Nghị Khanh, kẻ thù trước mặt, “nhờ manh mối giao du rộng, được vợ ba một viên tri phủ gả con gái cho, cô này hơn Khanh tới 6 tuổi, nổi tiếng vừa xấu vừa khó tính”. Từ đó Hai Khanh dựa hơi bố mẹ vợ bắt hàng ngàn người mộ phu đi Tân thế giới và cao su Nam Mỹ, cắm một dinh cơ ngay trong làng cho vay lấy lãi cắt cổ, từ đó ruộng vườn của dân nghèo cứ lần lượt lọt vào tay vợ chồng Hai  Khanh để vài năm sau, hắn xây được cả một cơ ngơi có hồ bán nguyệt, chuồng chim chuồng thú, có cả sân tennis trên đất của dân làng – tóm lại Hai Khanh là một đại địa chủ móc nối làm ăn với tư sản mại bản, một kẻ thù số một của nhân dân lao động, đối tượng cần lật đổ của cách  mạng.

Những chuyện  đó ông nhà văn Nguyễn Đình Thi sẽ đề cập tất cả trong hơn 1200 trang dài lê thê của trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” mà ngày nay đọc lại nó quả thật là một hình phạt không kém gì khổ sai ngày trước.

Trong tiểu thuyết “Vỡ bờ”, tầng lớp “thượng lưu quý tộc” Việt Nam những năm 1940-1945 được Nguyễn Đình Thi mô tả rất khác so với  các nhà văn cùng thời như nhóm Tự Lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…

Trong “Vỡ bờ”, Nghị Khanh là một tên đại địa chủ gian ác  “ngày nào , ngoài cổng nhà Hai Khanh cũng có hàng dẫy người chầu chực xin vào gặp quan chủ để vay mượn, cầm cố. “Quan” cứ trông giỏ bỏ thóc, nhằm nhà nào có mảnh ruộng miếng đất mới bỏ tiền cho vay, với lãi cắt cổ. Qua vài vụ thì ruộng đã về tay quan…”.

Vợ Hai Khanh được ông nhà văn mô tả: “cặp mắt bà Nghị mở ra trắng dã …một làn phấn mỏng làm cho nước da đen và dày bì bì của bà thành một màu khó tả. Mỗi khi bà nghị chú ý nhìn ai, hai con mắt long sòng sọc ấy như muốn nuốt chửng người ta …”

Hai vợ chồng Nghị Khanh cho anh nông dân Bào cấy rẽ mẫu hai ruộng nhưng lại ăn gian thành mẫu rưỡi và ông nhà văn ra sức bôi đen gương mặt giới điền chủ:

“Anh Bảo cố nén uất ức :

“Bẩm bà lớn nhà con cấy có mẫu hai thôi ạ…

Mụ nghị như chồm lên trên cái bàn giấy :

“Tiên nhân bố mày, bà thèm ăn không của mày mấy thùng thóc à …”

…Anh Bảo tức đầy ruột đâm liều:

“Bà lớn ức tôi quá. Tôi cày ruộng nộp đủ thuế thì thôi…”

Nghị Khanh vừa ở nhà trên đi xuống. Cặp môi mỏng và đỏ tía của lão mím lại dưới hàng ria đen. Lão cầm ba toong bằng song quất thẳng vào mặt anh Bảo đanh chát một tiếng.

“ Đồ khốn nạn. Ai cho mày đến đây làm loạn. Anh Long đứng đấy làm gì, sao để nó láo với bà lớn? Giần xác nó ra …”

Vậy là anh nông dân đã bị “địa chủ, phong kiến”  bóp cổ lè lưỡi đến gần chết, phải vùng dậy đi theo Đảng làm cách mạng thôi.

Bám vào cái chủ đề “vỡ bờ” đã được đặt trước cho cuốn sách, ông Nguyễn Đình Thi  phải ra sức “ép” cho “tức nước” nghĩa là phải mô tả “thằng địa chủ, thằng tư sản” phải thật xấu xa, thật độc ác, người nông dân phải thật nghèo khó, thật khổ sở, và rồi ách áp bức của “tư sản, địa chủ” choàng lên đầu lên cổ nông dân đã khắc nghiệt tới mức họ không chịu nổi và Đảng đã phát động họ vùng dậy làm cách mạng tháng Tám. Vậy là khi bỏ công sức ra viết cả ngàn trang tiểu thuyết “Vỡ bờ”, Nguyễn Đình Thi không làm cái công việc ghi chép một cách chân thực diện mạo xã hội, − thiên chức của người cầm bút, “người thư ký thời đại”, mà lại  nhào nặn đời sống để minh hoạ cho những nhận định của Đảng về sự tất yếu phải nổ ra cuộc “cách mạng dân tộc, dân chủ” do Đảng lãnh đạo.

Cùng hội cùng thuyền với Hai Khanh, tức thuộc tầng lớp “thống trị” có nhà tư sản Quảng Lợi  được nhà văn vẽ chân dung:

“ông Quảng Lợi ngồi ngả hẳn tấm thân phì nộn vào trong chiếc ghế bành, bụng phưỡn lên, vẫn còn no quá. Mặt ông đỏ tía, trong mắt cũng vằn lên những tia đỏ nọc vì hơi rượu…Ông đang nhớ đến cô vợ bé ở Hải Phòng, trong túi đã sẵn cái hộp kim cương mới sắm cho nàng, tưởng tượng đến lúc về ông bế cái tấm thân mũm mĩm ấy…”.

Ông quan huyện tên Môn, đại diện cho “chế độ phong kiến” tất nhiên phải bóp nặn dân đen rồi. Ta hãy coi nhà văn diễn tả tâm sự của quan:

“Cái nghề làm quan bây giờ có phải dễ kiếm như vậy đâu. Xoay được của thằng dân đen vài chục bạc thì có khi vã mồ hôi trán ra. Nhất là ở huyện ông trị nhậm, mấy năm vừa rồi, được thế mặt trận bình dân, cộng sản nó mọc lên như rươi. Những thằng khố rách áo ôm cũng doạ biểu tình và giở lý sự ra với quan. Làm quan bây giờ khó, khó lắm. Thật ra là trên đe dưới búa…”

Vẽ ra chân dung một quan huyện chỉ lo “bóp dân” vậy sợ chưa giành đủ sự xấu xa cho “phong kiến quan lại”, ông nhà văn còn diễn tả cả cái nỗi bực bội, giận dỗi  của quan với chính … vợ mình vì chị ta đã không chịu “hiến thân” cho quan Tây để chồng được lên chức.

“Nỗi bực của ông huyện lại kéo đến. Phượng (bà huyện) chỉ cười với quan công sứ một tí thôi, tiếp người ta một tí thì mình chẳng phải lẹt đẹt mãi thế này. Ngay cả quan công sứ Hải Dương từ lần gặp Phượng ngày tết tây trên tỉnh cứ hỏi thăm bà huyện luôn. Giả thử Phượng chiều lão ta một lần đi nữa cũng có mất mát gì. Miễn là chồng bằng lòng thì thôi chứ…”

Các “quan” đã xấu vậy, vợ các “quan” tất nhiên làm sao mà…  tốt ? Bà huyện Môn thì “dâm ngầm”: Mắt và môi bà lúc nào cũng hơi ướt, đôi mắt mơ màng có khi bất thình lình nhìn thẳng vào một người đàn ông như hơi chế riễu và hỏi: Ông hãy nhìn kỹ đi, có phải  tôi đẹp mê hồn không ?”. Bà tuần Vi thì lại “ngực đét như một con mắm, cái mặt luôn luôn hơi vênh lên. Tướng bà có chỗ khác người nhất là hai cái tai to tuớng chừng gần chấm xuống đến vai. Kẻ xấu miệng thì bảo bà có tính ngồi đâu cũng làm như mẹ người ta…”. Còn bà Phán Đệ thì “béo nục nạc, vừa rút một cái gương con trong túi ra. Bà quay vội đi xoa thêm ít son đỏ lên cặp môi rồi lại quay trở lại nói the thé…”

Tất nhiên, con cái nhà quan cũng xấu xa không thua gì bố mẹ chúng. “Cậu Tường, con trai ông nghị, hai mắt cậu như bị thôi  miên bởi vẻ đẹp rực rỡ của bà huyện…”, rồi đến tối khuya, cậu rình con ở tắm để làm bậy. “Xoan lên bờ đang mặc áo thì một cái gì ở đằng sau chồm lên vồ lấy nó… Hơi rượu phả ra nồng nặc, hai cánh tay ôm chặt lấy nó. – Im, tao bảo… Tiếng “cậu Tú” Tường lào phào, hơi rượu còn sặc sụa, tay sờ soạng ghì lấy người con gái…”

Tầng lớp “thượng lưu” càng xấu xa, độc ác, bỉ ổi bao nhiêu thì tầng lớp “bình dân”, ngược lại, được tác giả mô tả tốt đẹp, cao thượng, tình người bấy nhiêu. Gia cảnh nhà Xoan đi ở đợ và mẹ là Mùi giống y hệt nhà chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, trong khi đám địa chủ đối xử với họ độc ác quá cầm thú thì những người cùng khổ lại tỏ ra yêu thương, đùm bọc lẫn nhau theo đúng “tinh thần hữu ái giai cấp”.

Tất cả nhân vật từ giới thượng lưu tới đám dân đen trong “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi đều được phát triển theo một công thức cứng nhắc đó, tuyệt nhiên không có ngoại lệ.

Vì sao vậy ?

Bởi lẽ nếu nhà văn đưa ra một trường hợp ngoại lệ, thí dụ, cậu tú Tường, con địa chủ Hai Khanh là người tử tế chẳng hạn, cậu không ức hiếp con ở, không bóc lột người cấy rẽ… thì tức đã thừa nhận ngoài tính giai cấp ra, con người còn có một “tính chung” nữa – đó là “nhân tính”.

Suốt mấy chục năm lịch sử của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, cái phạm trù nhân tính này đã gây ra biết bao “tai nạn lao động” cho các nhà văn, nhà thơ, nhà kịch, nhà nghệ sĩ tạo hình…

“Anh đã chót yêu con địa chủ

Quá yêu rồi rứt bỏ sao đành…:”

Đó là cái phần “nhân tính” trong anh đã nổi lên, cần phải diệt trừ nó, bởi lẽ lý thuyết cách mạng tuyệt đối không thừa nhận “nhân tính”. Những nhân vật trong “Vỡ bờ” của Nguyễn Đinh Thi cũng vậy, nó được quy định chặt chẽ bằng “giai cấp tính” – đã là con địa chủ hoặc tư sản thì phải có máu “hưởng thụ và bóc lột” rồi, đã là con nhà công nhân thì nhất định phải có gien “tổ chức và kỷ luật”, con nhà nông dân thoát sao được đầu óc tư hữu, tiểu nông, con nhà tiểu tư sản thì bấp bênh, dao động… Quy phạm về con người trong văn chương xã hội chủ nghĩa đã rõ ràng như vậy, các ông nhà văn chỉ còn có mỗi việc “sáng tạo” trong gia giảm liều lượng mà thôi, ông nào say sưa, quá đà để nhân vật mon men đến chỗ dính nhân tính vào người, thế nào cũng mắc “tai nạn nghề nghiệp” chứ không thoát.

Nguyễn Đình Thi là người đầu tiên đưa “các đồng chí đảng viên cộng sản” vào tiểu thuyết Việt Nam. Ta hãy thử coi những nhân vật của thời đại này đã được nhà văn xây dựng như thế nào?

Tất nhiên trước hết đó là những con người vô cùng dũng cảm, sẵn sàng chết cho lý tưởng  cộng sản, lúc nào cũng lo làm công tác  cách mạng:

“Ừ, thằng Se suốt năm ở hầm xay lúa như trâu, thằng Đàm loẻo khoẻo mỗi lần đấu tranh cứ xông ra chịu đòn cho anh em khi cai ngục, mã tà vào banh nện dùi cui như mưa rào, thằng Chấn anh em gọi đùa nó là Giáo sư đỏ, bị bệnh lở tuột cả da từ thắt lưng trở xuống, nhiều hôm cứ ở truồng như nhộng, thịt đỏ hon hỏn ngồi xổm giảng biện chứng duy vật…”.

Trên cái nền đỏ chói ngời “khí tiết cộng sản” đó, Nguyễn Đinh Thi đã dụng công dựng nên chân dung một lãnh tụ cộng sản tất nhiên là theo chiều hướng thổi lên tận mây xanh…

 

Theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, các nhà văn trong nước thường được dạy dỗ cách xây dựng nhân vật gọi là “điển hình hoá”, trong đó  kinh nghiệm mẫu mực là của nhà văn Lỗ Tấn “lấy cái tai của người Sơn Đông, cái mắt người Sơn Tây, cái mũi người Sơn Nam…” mà ghép lại thành nhân vật.

Khi xây dựng “hình tượng nhân vật” là lãnh tụ cộng sản, Nguyễn Đình Thi cũng theo phương pháp này, bởi thế anh Khắc trong truyện “Vỡ bờ” phảng phất lý lịch mấy ông Trần Phú, Nguyễn Ái Quốc, Lề Hồng Phong … mỗi ông một cái “tai”, cái “mắt”, cái “mũi” mà kết thành. Bởi thế anh Khắc xuất thân gia đình quan lại nhưng chống Pháp, tham gia Cần Vương, bố bị Pháp bắt tù, mới ngoài 20 tuổi Khắc cũng đã bị đi đầy Côn Đảo, hết hạn tù trở về hoạt động trong phong trào công nhân xi-măng Hải Phòng… Thật là một lý lịch lý tưởng cho một ông lãnh tụ cộng sản. Tuy nhiên loại nhân vật này rất hiếm hoi, các ông phần lớn “nằm vùng”, hoạt động trong bóng tối, con người thực của mấy ông kín như bưng, ít người được biết tới, ngay đến nhà văn cách mạng Nguyễn Đình Thi cũng ít cơ hội gần gũi mấy ông, bởi thế xây dựng nhân vật này rất khó mà hoá dễ. Khó là vì sự cách bức trên mọi phương diện, cơ hội được gặp lãnh tụ đã hiếm hoi, gặp được rồi lại chỉ toàn nghe ý kiến chỉ đạo, răn dạy hoặc giảng đạo chứ mấy khi bắt gặp được “con người thực ” của mấy ổng.  Dễ là vì đó là những bậc “thánh thần” cứ tha hồ mà bốc lên mây xanh không sợ cấp trên thổi còi, bạn đọc cũng không phản đối vì thực hư có hay biết gì đâu?

Có lẽ vì sự hiếm hoi của các chi tiết nhân vật, ông nhà văn đã bê nguyên xi cả văn bản nghị quyết vào mô tả hai nhân vật “lãnh đạo cộng sản” là đồng chí Lê – xứ uỷ và đồng chí Khắc – thành uỷ:

“ Từ ngoài vườn tối, gió phả vào những làn hơi rét buốt. Lê đọc khẽ bản nghị quyết của Hội nghị trung ương Đảng lần thứ sáu. Khắc nghe hết sức chú ý, vừa tìm hiểu vừa như trải trí nhớ ra ghi lấy những câu, những ý chính… “Bước đường sinh tồn của dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả mọi ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dân tộc… Đảng chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng cho các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập…” Khi Lê đọc xong, họ cùng im lặng mấy phút. Những lời trong bản nghị quyết như còn bỏng lửa trong đầu óc họ…”

Nhà văn Nguyễn Đình Thi vô tình bộc lộ rõ một điều, cả Lê và cả Khắc cho dù là trí thức, nhưng một khi họ là cộng sản thì những gì đã thành Nghị quyết Đảng là chân lý tuyệt đối không được  mảy may nghi ngờ. Nghe xong nghị quyết, họ chỉ thấy nóng bỏng đầu óc tìm cách thực hiện mà thôi, tuyệt nhiên không được nghĩ ra ngoài nghị quyết . Tại sao bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương lại chỉ có mỗi một con đường đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và mọi ách ngoại xâm bất kỳ da trắng hay da vàng? Tại sao các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Indonesia… không đi theo con đường đó mà dân tộc họ vẫn sinh tồn và phát triển lại tránh được cảnh núi xương sông máu? Cái hạt nhân “hiện thực” nhà văn Nguyễn Đình Thi vô tình để lại trong xây dựng nhân vật lãnh đạo cộng sản là sự tuân phục răm rắp những gì cấp trên đã răn dậy, đã trở thành nghị quyết, tuyệt đối không xét lại, không bàn luận chỉ có nhắm mắt chấp hành và chấp hành sao cho “sáng tạo” hơn. Ý thức tuân phục chẳng những là “trọng bệnh” trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản mà tràn lan sang cả những trí thức cao cấp nhất, ưu tú nhất như Chế Lan Viên đã từng tuyên ngôn “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ”, Nguyễn Đình Thi tự nhận “hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”, tự nguyện  thiến  bỏ phẩm chất cốt lõi nhất của trí thức – đó là sự “ngờ vực” để tự biến thành một thành phần “trang nghiêm” trong đàn cừu ngoan ngoãn. Cho mãi tới tận ngày nay, cái khả năng “ngờ vực” ấy xem ra vẫn chưa được hồi phục trong những người được gọi là “trí thức trong nước” bởi lẽ mọi suy nghĩ của họ xem ra vẫn là “nghĩ  trong những điều Đảng nghĩ” và như thế liệu họ có đáng được gọi là  trí thức Việt Nam  hay là không?

Một khi chỉ cần tới những người chỉ biết “tuân phục”, tự cắt bỏ khả năng “ngờ vực” thì suy cho cùng cách mạng đâu cần tới trí thức? Đó là căn nguyên rốt ráo vì sao ngay lúc Đảng mới ra đời, còn trong trứng nước, Đảng đã đòi “đào tận gốc, trốc tận rễ” các tầng lớp “trí phú địa hào” – trong đó anh “trí thức ” là đối tượng số 1, vì sao lãnh tụ cộng sản Mao Trạch Đông lại coi trí thức không bằng “cục cứt”.

Vậy là về cốt lõi, nhân vật Khắc, lãnh đạo cộng sản cũng không phải trí thức, ông ta chỉ là người thừa hành, tổ chức các hoạt động theo chủ trương đường lối từ trên đưa xuống. Lúc này thành uỷ Hải Phòng bị bắt gần hết

“anh Biểu, bí thư thành uỷ bị nó đánh chết rồi…còn mấy anh kia thì hình như nó vẫn đang tra thêm. Tôi nghe bọn gác nói chuyện các anh ấy gan lắm, anh nào cũng đều bị đòn chết đi sống lại vẫn không khai…”.

Vậy là cán bộ cấp dưới có thể phản bội, có thể đầu hàng chứ đã vào tới cỡ Ban chấp hành thành uỷ thì ông bà nào cũng biến thành sắt thép trước quân thù cả. Trong tình hình thoái trào đó, Khắc được “trung ương” cử về Hải Phòng để xây dựng lại thành uỷ và tổ chức bộ não lãnh đạo cho cả khu Bê gồm Kiến An, Quảng Yên và Hải  Phòng.

Vừa đặt chân xuống thành phố Hải Phòng, đồng chí Khắc đã  bộc lộ ngay cái máu “căm ghét tiện nghi, căm ghét văn minh” vốn là bản tính ghen tị sẵn có với đời sống người thành phố của mấy bác nhà quê theo Đảng đi làm cách mạng “bao vây và tiêu diệt” văn minh đô thị. Khi nhìn thấy phố xá thắp đèn điện, đồng chí Khắc căm tức:

“Những cái nơi đèn sáng lộng lẫy kia không toả sáng và sự văn  minh ra xung quanh. Trái lại mỗi ngọn đèn điện bật sáng ở đây là hút đi tất cả ánh sáng của hàng chục hàng trăm mái nhà tranh trong những làng xóm tối mù mịt. Chung quanh một vài thành phố có đèn điện, cứ đêm đến khi mặt trời tắt là tất cả đồng ruộng sông núi chìm vào bóng tối mênh mông như biển. Ở nông thôn hầu hết mọi nhà đều không có tiền mua dầu để thắp đèn, đêm đến người ta ăn mò, làm mò, lụi hụi trong bóng tối hoặc chung quanh một ngọn đèn leo lét như thời cổ xưa…”

Tâm tư bài xích “văn minh đô thị” của ông cán bộ cộng sản, trở về gây dựng lại  phong trào ở Hải Phòng  được  nói huỵch toẹt rằng:

“Cái đời sống văn minh ở một vài thành phố chỉ là do hút hết máu mủ của các làng xóm cùng cực, lạc hậu, đem về đốt lên thành đèn điện, thành sự xa hoa trụy lạc ngày càng thối nát thêm mãi. Mấy cái thành phố lớn khác nào những cái nhọt đỏ bầm, càng tấy lên càng làm cho đau đớn nhức nhối, tê liệt cả cái cơ thể Việt Nam  đã bị vắt máu đến kiệt quệ …”.

60 năm sau, thật chẳng ngờ những suy gẫm của Nguyễn Đình Thi về các thành phố thời “phong kiến đế quốc” lại trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam những năm 2000, đúng y chang tới từng câu, tùng chữ một cách lạ lùng.

Nào “hút máu mủ các làng xóm cùng cực lạc hậu đem đốt lên thành sự xa hoa truỵ lạc…”, nào mấy “cái thành phố lớn khác nào ung nhọt, tấy lên làm tê liệt cả cái cơ thể Việt nam bị vắt máu đến  kiệt quệ..”. Còn có đoạn văn nào mô tả thực trạng các thành phố lớn ở Việt Nam ngày nay chính xác hơn, sinh động hơn đoạn văn của Nguyễn Đình Thi viết về Hải Phòng  60 về năm trước?

Khả năng “thấu thị”, dự báo, “tiên tri” của nhà văn thật chẳng ngờ lại phản tác dụng ngoài ý muốn của ông nhà văn. Hoàn toàn không nhìn thấy ý nghĩa tích cực của những thành tựu văn minh công nghiệp người Pháp mang tới đất nước Việt Nam, ông cán bộ cộng sản mà Nguyễn Đình Thi hoá thân vào đó nhìn đâu cũng chỉ thấy biểu tượng của sự bóc lột, hút máu hút mủ:

“ ..trước mắt Khắc, nơi con sông Tam Bạc đổ vào Cửa Cấm, sừng sững nổi lên những khoảng tường, mái, nặng nề, chồng chất lên nhau tầng tầng lớp lớp như những bức thành cao ngất đến lưng trời. Quả thật đấy là một cái thành trì to lớn của tư bản Pháp ở Việt Nam: khu nhà máy xi-măng Hải Phòng. Trên nền trời bầm tím, hai cái tháp lò đồ sộ phun lên hai cột khói trắng toát. Hai cột khói im lìm như hai cái cây kỳ lạ mọc thẳng lên đến những khoảng mây mù mịt trên trời sâu thẳm…”

Hằn học  ánh sáng đô thị, thù ghét văn minh công nghiệp, liệu rồi những lãnh tụ cộng sản như nhân vật Khắc của Nguyễn Đình Thi rồi sẽ dẫn dắt dân tộc này đi tới đâu ?

Đưa dân tộc tới một ngày mai ra sao, trong đầu ông Khắc chưa hình dung tới ngoài hình ảnh “thiên đường cộng sản” chung chung, chỉ biết lúc này, trong huyết quản ông, sôi sục máu nóng muốn đập bỏ cái con quái vật − “nhà máy xi măng” − bên bờ sông Tam Bạc, Hải Phòng ấy đi.

Ở đó “dưới vòm trời âm u khói, dòng người xám xịt im lặng chảy đi. Những  bộ mặt gày còm lấm nhơ dầu máy hoặc bê bết than đá và bụi đất, đều lộ vẻ mệt mỏi, khác nào vừa bị rút kiệt sức lực trong cái âm phủ đầy lửa cháy và đầy bụi nóng ngột ngạt.” …

Ở đó “Chân người ta bủn rủn, bụng đói như cào. Gió đầu mùa đông thổi tới, những manh áo xanh, áo nâu không làm sao chống nổi với gió lạnh. Mọi người đều im lặng bước đi, chỉ nghe thấy tiếng guốc, tiếng giày vải, tiếng chân không bước lệt xệt trên mặt đường …”

Những đoạn văn mô tả “nhà máy của tụi tư bản bóc lột công nhân” như trên cũng có thể tìm thấy trong những cuốn tiểu thuyết cùng đề tài của các nhà văn mác xít đầu thế kỷ 20 như  “Người mẹ”  của Maxime Gorki. “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Ostrosvki, hoặc truyện ngắn “Người đàn bà Tàu” của Nguyên Hồng. Chúng giống nhau đến độ có thể tráo đổi cho nhau mà không ảnh hưởng tới cục diện chung của tiểu thuyết bởi lẽ chúng có chung một cảm hứng chủ đạo là coi  “nhà máy tư bản bóc lột công nhân”  giống như  “con quái vật hút máu mủ người làm thuê” như  “âm phủ đầy lửa cháy và bụi nóng”. Tiếc thay, “cảm hứng chủ đạo” đó không hẳn đã được các nhà văn “nghiệm sinh” từ thực tế của đời sống mà là sản phẩm của trí tuệ sau khi đã được nhồi nhét một cách sơ lược và sống sít những luận điểm của chủ nghĩa Mác.

Và khi đi dưới “tấm biển chỉ đường” đó, ông nhà văn buộc phải nhận ra cái sức mạnh để đập chết con quái vật, đánh sập “âm phủ” đó  phải là cái năng lượng tiềm ẩn của đám đông:

“Một ngọn đèn điện vàng khè đã thắp lên, dòng người rét và đói vẫn cuồn cuộn, lầm lì đi trên đường. Cái quang cảnh ấy có một sức mạnh riêng, nó có cái vẻ oai nghiêm của nó. Giả thử đầu đám người ấy nổi lên một lá cờ đỏ, và tất cả dòng người lầm lì kia mỗi người giơ lên một nắm tay và reo lên một tiếng thì cả con đường bờ sông này sẽ rung chuyển hết, biến thành một dòng thác dữ và mấy nghìn con người mệt đói bủn rủn kia đã thành một đạo quân ghê gớm rồi…”

Chỉ bằng một đoạn văn ngắn, Nguyễn Đình Thi đã vô tình bộc lộ ngoài ý muốn cái cốt lõi của “chủ nghĩa nhân đạo cộng sản”. Đó là một cái nhìn thuần “lý tính”, nhảy qua mọi khốn khó của quần chúng, nhằm ngay tới sự đánh thức sức mạnh mù quáng của nó, “biến khổ đau thành hành động”, biến biển nước mắt của chúng sinh thành sức mạnh đập phá.

Đặt chân tới Hải Phòng, đồng chí Khắc, phái viên của xứ uỷ gặp vô vàn khó khăn khi phong trào cách mạng vừa bị đánh phá tơi bời. Cơ sở cách mạng đầu tiên Khắc được giới thiệu tới để móc nối là anh trí thức Tuyển. Chưa đọc diễn biến ra sao, người ta cũng có thể đoán được anh chàng “trí thức tiểu tư sản” này gặp khi cách mạng thoái trào sẽ dao động, từ bỏ hàng ngũ cách mạng làm một anh “trí thức trùm chăn”. Đó là “tính giai cấp” quy định tính cách nhân vật mà. Quả nhiên Khắc vượt qua nhiều trở ngại mới tìm tới được với Tuyển thì anh ta lại vờ vịt: “Ông có việc gì đấy ạ…”… Sau cùng anh ta huỵch toẹt với Khắc: “Anh cũng hiểu …lòng tôi vẫn trước sau như một …nhưng cảnh nhà tôi anh thấy đấy, còn năm đứa con nhỏ, tôi không thể như các anh được…” . Rồi như để chữa thẹn việc không chứa chấp được Khắc, anh ta nói thêm: “Tôi sẽ tiếp tục hoạt động truyền bá quốc ngữ anh Khắc ạ. Cái mộng của tôi là mở một nhà xuất bản, cố nhiên không phải là để kinh doanh mà là để có một tiếng nói trong sạch của người trí thức trong lúc rối ren này…”

Đúng như bác Mao nói  “trí thức không bằng cục phân”, nhất là trí thức tiểu tư sản lại thường hay dao động, sợ thay đổi, sợ khó sợ khổ… Nguyễn Đình Thi quả đã vẽ được chân dung anh trí thức Tuyển đúng hệt với sự phân tích giai cấp của Đảng đối với loại nhân vật này.

Trong lúc cách mạng gặp khó khăn, mấy anh tiểu tư sản đã chạy làng rồi, vậy chắc chắn Đảng chỉ tìm được chỗ dựa ở nhân dân lao động và giai cấp công nhân thôi. Ở  nhà Tuyển ra, Khắc rơi vào tình thế bơ vơ nguy hiểm khi cứ một mình lang thang phố xá. Nắm vững “quan điểm quần chúng”, Khắc làm quen bừa với một anh thanh niên nghèo đang bị đói, quả nhiên anh ta đưa Khắc về trú ngụ tạm thời trong lúc chưa liên lạc được với cơ sở.

Nhân vật thứ hai Khắc được xứ uỷ giao cho móc nối là một chị công nhân xi-măng tên Gái. Đã là công nhân thì không thể có chuyện dao động, ngại khó, ngại nguy hiểm được. Quả nhiên khi Khắc tới, chị Gái mừng lắm, bố trí ngay nơi ở an toàn cho anh và hẹn: “Tôi đã báo tin anh về cho các đồng chí ở xi-măng rồi. Các anh ấy mừng lắm và muốn gặp anh ngay…”

Thế là như cá đã được trở lại nước, anh phái viên của xứ uỷ đã tìm được cơ sở Đảng và lập tức bắt tay vào hành động. “Lúc này phong trào Hải Phòng đã bị một đòn nặng, cái thành phố công nhân mới chưa bao lâu còn sôi sục, mỗi cuộc đấu tranh lôi cuốn hàng nghìn hàng vạn người đổ xuống đường thì bây giờ thấp thỏm nơm nớp. Các nghiệp đoàn đều bị giải tán, những đoàn thể thanh niên phụ nữ đều bị cấm, cho đến những hội ái hữu hội thể thao cũng tan rã hết. Đảng viên còn bảy đồng chí rải rác ở các nhà máy…”

Như vậy ta có thể thấy lực lượng trung kiên của Đảng còn lại gồm toàn công nhân. Chị Gái đưa Khắc tới gặp bác Mẫn, công nhân, Phó bí thư chi bộ xi-măng.

“Bác Mẫn đã ngồi đợi Khắc ở dưới gốc đa. Họ bắt đầu nói với nhau lầm rầm, hai người chụm sát mặt nhau mà vẫn không rõ mặt nhau trong bóng tối. Khắc nói: “Theo quyết định của xứ uỷ, tôi về lập Ban cán sự lâm thời gồm có đồng chí và tôi. Sau này sẽ có một đồng chí trên xứ về làm bí thư thành uỷ… Số đảng viên tôi nắm được là bảy đồng chí, ở xi-măng ba, ở phốt-phát một, Sáu Kho một, xóm Lạc viên một…”

Vậy là lực lượng lãnh đạo cách mạng ở Hải Phòng toàn là công nhân cả thôi, trí thức tiểu tư sản đố có anh nào chen vào được. Đó không phải thực tế nó như vậy mà chính là “thực tại trong tiểu thuyết” bị đòi hỏi phải như thế. Giữa cái “đang là” và cái “phải là”, tất nhiên ông nhà văn phải chọn cái thứ hai, cái “phải là” thì mới thể hiện được tính Đảng và tính giai cấp trong tác phẩm.

Uốn nắn “thực tại trong tiểu thuyết” theo những quy luật vận động của “cuộc cách mạng vô sản”, Nguyễn Đình Thi cố gán ghép “động lực cách mạng Việt Nam” là mấy anh thợ xi-măng, thợ mỏ thực ra là sai bét. Giai cấp công nhân Việt Nam ốm yếu ra sao, có thực sự hợp thành một giai cấp như  định nghĩa kinh điển của Mác không, nhà lý luận mác-xít Trần Văn Giàu đã chỉ ra rất rõ trong công trình nghiên cứu của ông. Sự thực, lực lượng xách động và tổ chức quần chúng nổi dậy mùa Thu năm 1945 phần lớn là trí thức tiểu tư sản hoặc trí thức quan lại đã bị chói loà bởi “thời cơ giải phóng dân tộc” và “sổ tay hướng dẫn làm cách mạng” được các học viên trường Đại học Phương Đông từ Liên Xô đất nước của đồng chí Xít-ta-lin vĩ đại mang về làm cẩm nang hành động chứ chẳng phải do sức mạnh tự thân, “quật khởi” của giai cấp công nhân Hải Phòng, Hòn Gay mà làm nên được.

Nhân vật lãnh đạo cách mạng đã có rồi, vậy còn quần chúng cách mạng thì sao đây? Theo đúng bài bản “giai cấp công nhân hình thành phần lớn là do nông dân bị phong kiến bóc lột, bần cùng hoá phải lên thành phố kiếm sống mà trở thành công nhân, đội ngũ tiên phong của cách mạng…”, Nguyễn Đình  Thi cũng đưa ra một nhân vật đúng khuôn mẫu như vậy. Đó là anh thanh niên nông dân tên Côi, sống ở quê rất nghèo, yêu chị Quế, gái goá đã có một đời chồng. Anh Côi phải đi phu 3 tháng rồi bỏ về Hải Phòng kiếm sống. Khi đã có một món tiền rồi, Côi trở về làng cưới chị Quế và nếu diễn tiến  tiểu thuyết  y như thế thì làm gì có anh Côi sau này thành cán bộ hoạt động trên thành phố. Chính vì vậy nhà văn đã phải cho chị Quế… chết đi bằng nguyên nhân ngớ ngẩn là đi mò cua giẫm mảnh sành về ốm mà chết. Vậy là anh Côi không còn cớ gì để ở lại quê nữa, anh phải lên thành phố để trở thành công nhân làm cách mạng thôi.

“Quế thì đã chết rồi. Thôi, Côi không thể ở lại đây được nữa. Côi nhớ lại bao nhiêu chuyện anh đã thấy ở Hải Phòng, những chuyện làm cho anh và Mầm nhiều đêm nằm rì rầm bàn với nhau không sao ngủ được. Chưa biết phải đi đâu, nhưng Côi phải đi thôi. Đi để tìm một cái gì, chưa biết, nhưng hình như phải tìm thấy một cái gì , Côi mới sống được …”

Cái gì – đó chính là cách mạng. Là cái ông nhà văn dụng công dàn dựng để tất cả những ai  nghèo khổ, những ai bị áp bức trên thế gian này, đều sẽ gặp nó trên đường đời.

Tính chân thực, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nghệ thuật đã bị ông nhà văn gạt qua bên để xây dựng cho được bức tranh hoành tráng về phong trào cộng sản ở Việt Nam theo một quy tắc nghệ thuật vị chính trị, dẫn tới một hiện thực phi hiện thực. Chính cái sai phạm chết người đó đã làm Nguyễn Đình Thi thật uổng công  biết chừng nào khi vắt tâm não lên trên hai ngàn trang tiểu thuyết mà giá trị của nó chẳng được bao nhiêu.

Xưa nay người ta vẫn cho rằng Nguyễn Đình Thi là “đứa con của Hà Nội” bởi những tác phẩm nghệ thuật ông viết về cái vùng đất được coi như  “quê hương tinh thần” của trí thức Bắc Kỳ này. Ngày nay, mở đầu cuộc họp của các “Hội đồng hương người Hà Nội”  ở Sài gòn và các thành phố lớn phía Nam, người ta thường  đứng cả dậy đồng thanh cất tiếng hát: “Đây hồ Gươm, Hồng Hà, hồ Tây…”. “Bài ca người Hà Nội “ của Nguyễn Đình Thi từ lâu đã trở thành bài hát chính thức của các hội đồng hương này.

Nhưng đó chỉ là trong âm nhạc hay chính xác hơn trong duy nhất một bài hát. Tiếc thay trong văn chương, hay hẹp hơn, trong tiểu thuyết “Vỡ bờ”, mặc dầu đổ rất nhiều công sức viết về Hà Nội những năm 1940-45, Hà Nội của những “Hanoiennes”, của Thạch Lam trong “Hà Nội, 36 phố phường”, của Vũ Bằng trong “Thương nhớ mười hai”…, Nguyễn Đình Thi chỉ dựng được một Hà Nội méo mó bởi  thiên kiến chính trị, nhìn đâu cũng thấy sự “phân chia giai cấp”, sự hằn thù thực dân, ý thức đạp đổ tiến lên làm cách mạng…

Đọc những chương Nguyễn Đình Thi viết về Hà Nội, người ta nhận thấy ông đã tự giam mình trong những chuẩn mực rất thực dụng của cách mạng, tự ngăn mình không tới được những phong vị đặc trưng rất Hà Nội trong văn hoá, trong cái đẹp thuần khiết; tự biến mình thành một kẻ tục tử chối từ những hương sắc tế vi, vẻ lung linh mà đất kinh kỳ chỉ giành cho những đứa con đích thực của nó như Bùi Xuân Phái trong “phố Phái”, Hoàng Dương, Đoàn Chuẩn, Hoàng Giác … trong những ca khúc “rất Hà Nội.”

“ Một tối thứ bảy, nhà hát Tây có buổi biếu diễn long trọng của nữ sinh các trường học ở Hà Nội…” và Nguyễn Đình Thi đã nhìn “những tà áo dài trắng”, những “dáng kiều thơm” không phải vẻ đẹp của họ mà ở… thành phần xuất thân:

“Về phía các nữ sinh người Nam thì ở đây cũng đã kén chọn các bậc hoa khôi trong hàng tiểu thư, lệnh ái các quan tuần, quan phủ hoặc các công thương gia, thượng lưu trí thức…”

Và ông dè bỉu:

“Các nhà phê bình nghệ thuật trên mấy tờ báo Curiê  hoặc Vôlônggiê cũng như Đông Pháp hay Trung Bắc lại bàn nhiều về cuộc thi tài giữa hai trường phái nhạc và múa ở đất Hà thành văn vật: một bên là trường phái của vợ chồng giáo sư Rôbe dạy trường lytxê và bên kia là trường phái của trung tá Phécnăng chỉ huy đội kèn lính khố xanh và giáo sư nhạc trường nữ học An Nam…”

Nhà hát lớn thành phố Hà Nội được Nguyễn Đình Thi mô tả với giọng không kém “riễu cợt” vì nó là sản phẩm của “thực dân Pháp”:

“Cái nhà hát làm theo kiểu thế kỷ 19 ở Pháp, đèn điện thắp sáng choang. Từ ngoài cửa chính vào, đã trải thảm đỏ cho đến tận cầu thang lên tầng giữa. Một xe ô tô đỗ sịch, cửa mở ra, lại có một ông Tây áo đen, nơ đen, một bà đầm mặc váy loà xoà, bước xuống và khoác tay nhau leo lên các bậc thềm, giữa sự chú ý của mọi người…”

 Những ông tây, bà đầm này, sang thời thiên niên kỷ, ngay cả lúc sinh thời Nguyễn Đình Thi đã lại bỏ tiền ra để chỉnh trang Nhà Hát lớn Hà Nội như một công trình văn hoá, một kỷ niệm của nền văn minh Pháp mang tới đất kinh kỳ vào thời người Hà Nội còn chưa nghe nói tới chủ nghĩa Mác và nước Liên Xô thành trì của cách mạng thế giới cũng chưa ra đời. Tiếc thay cho ông nhà văn, Liên Xô đã tan từ lâu mà cái Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội do thực dân Pháp dựng nên, vẫn  còn lại mãi.

Thế còn “Khách đi  xem hôm nay toàn là các nhà quý phái, bậc thượng lưu của đất Hà Nội”  thì ra sao ?

Họ là “Một bà mặc áo nhung đỏ tóc uốn quăn, mặt phấn trắng như bột , đang cười  cười và nói tiếng Pháp liến láu, đi sóng đôi với một ông tây to béo, râu mép đen rậm bước lên cầu thang. À… madam Ngọc Oanh đi với ông Giám đốc học chính Đông Dương. Ai không biết rằng bà Ngọc Oanh, bà đốc trường nữ học An Nam. Bạn của bà toàn là các quan tây cả. Đấy, như hôm nay, người An Nam có ai được lên tầng giữa đâu, vậy mà bà vẫn đàng hoàng được mời lên trên ấy. Con mụ có lẽ đã ngủ với gần hết các vị nguyên thủ Bắc Kỳ. Lão thống sứ Satiền, nhân tình của mụ, mới về tây có hơn một tháng, bữa nay đã thấy  mađam  đi với lão này rồi…”

Oh Mon Dieu! Lạy đức Mẹ Đồng Trinh, một phụ nữ ở một cương vị cao quý là hiệu trưởng trường nữ học Hà Nội như trường Trưng Vương, trường Thanh Quan …mà lại phải mang thân đi ngủ với đủ các ông tây thì thử hỏi ở những công sở khác, các  quý bà quý cô thời đó có còn ai không phải là điếm? Chẳng hiểu Nguyễn Đình Thi đã lấy nguyên mẫu ở đâu để đẻ ra cái  nhân vật “bà đốc trường nữ học An Nam Ngọc Oanh” này hay là chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng được bồi bổ bằng lòng căm thù “thực dân Pháp” và ghen ghét tầng lớp trí thức thượng lưu Hà Nội ngày trước ?

Trong đám người đổ tới Nhà hát Lớn xem nữ sinh biểu diễn tối thứ bảy đó “toàn là các “quan tây” với “các quan ta, mặc áo gấm dài, đội khăn xếp, các quan bà tuy cao tuổi nhưng hầu hết đều đánh phấn trắng lốp. Được dịp tiết trời rét, các bà các cô tha hồ đem khoe những kiểu áo nhung, áo len xanh đỏ tím vàng. Năm nay, mốt hình như ngả về màu “xicalamen” và màu tím…”

Tất nhiên trong đám quan ta ấy, toàn là bọn hút máu mủ dân như  “gia đình Nghị Khanh, mụ nghị, mụ  tuần Vi, cậu tú Tường, cậu Cử  Phát, đủ bộ…”  và tiêu biểu nhất, được  Nguyễn Đình Thi dụng công mô tả nhất là vợ chồng huyện Môn. Đưa vợ đi coi hát ở Nhà hát Lớn mà quan huyện trẻ, tây học  này cứ hậm hực: “Phượng (tức bà huyện) chỉ cười  với quan công sứ một tí thôi, tiếp người ta một tí, thì mình chẳng phải lẹt đẹt mãi thế này…Giả thử Phượng chiều lão ta một lần đi nữa cũng có mất mát gì… Sao en ngu thế. Nói thế nào cũng không nghe. En ăn cơm của chồng thì cũng phải giúp chồng chứ. Ông huyện Môn cười nhạt. Chẳng qua là vô ơn bạc nghĩa, đồ bạc…bạc…”.

Quả thực cái thuật ngữ “bôi đen xã hội” mới xuất hiện thời Nhân văn Giai phẩm và những năm về sau đã được Nguyễn Đình Thi sử dụng không phải như công cụ phản kháng của các nhà văn với thực tại đang diễn ra mà chính là để hạ thấp xã hội Việt Nam thời “phong kiến – đế quốc” một cách “xuất sắc”.

Thế rồi buổi biểu diễn của nữ sinh Hà Nội tại Nhà hát Lớn cũng bắt đầu: “Có hai đoàn thiếu nữ Pháp và Nam, các cô gái Pháp mặc váy trắng như bông tuyết, các cô gái Nam cũng áo dài trắng, quần trắng. Tất cả đám bông hoa biết nói ấy đã cất tiếng lanh lảnh hát bài Macxâye…”  . Cái thứ nhãn quan nhìn đâu cũng chỉ để ý tới … “chính trị” nó khổ vậy. Nó làm cho nhà văn chẳng còn nhận ra vẻ hồn nhiên, tươi trẻ, giọng ca thánh thót của các cô gái Hà Nội này, mà chỉ nhăm nhăm để ý tới  “đám các quan ông, quan bà, các nhà trưởng giả ngồi xem chỉ nghe thấy tính tinh nhí nha nhi nhô, không hiểu gì, nhưng thấy hai cô đánh đàn mặc đẹp thế  và uốn các ngón tay trắng muốt cứ cong lên cong xuống như múa trên cái đàn đắt tiền thì hẳn là đàn phải hay lắm…”  .

Rồi tới màn múa:

“Các cô mặc váy ngắn cũn cỡn  và mỏng tanh, nom thấy thân hình lồ lộ, dón đầu ngón chân chạy đi chạy lại, ngửa người ra uốn éo…”

Thì đúng là một cái nhìn khắt khe, đe nẹt của một anh cán bộ văn hoá cấp xã chứ không còn là của một  nhà văn lớn với tâm hồn rộng mở đón nhận mọi màu sắc  trần gian…

Thế còn hình tượng “tiểu thư Hà Nội” − những “dáng kiều thơm”, những “đôi mắt huyền”, “những thiếu nữ buồn không nói”… đã được Nguyễn Đình Thi khắc hoạ như thế nào? Trong cả cuốn tiểu thuyết, khi viết về loại nhân vật này, ngòi bút của nhà văn dường như được “giải toả” khỏi sự lên gân cốt, sự bốc phét trong những trang viết về những nhà cách mạng và quần chúng cách mạng  để khoan khoái, thích thú đi sâu vào cái xã hội “xanh xanh đỏ đỏ” tiểu tư sản mà ông phải lên án, cải tạo nó nhưng trong bụng lại ngầm thích thú nó.

“Phượng đến trước tấm gương lớn. Ngực còn thở mạnh. Phượng đứng ngắm nghía cái cái dáng người trong gương. Nàng giơ cánh tay tròn lẳn lên và nghiêng người nhìn những đường cong, rồi bỗng lột cái áo nịt , xem lại ngực của mình. Đôi vú tròn và rắn chắc như của một cô gái mười tám, đôi mươi, người Phượng vẫn trẻ nguyên như hồi chưa chồng, không ai có thể bảo cái tấm thân trong gương kia hai mươi sáu tuổi. …”

Phượng là con nhà giàu, có cửa hàng ở phố Hàng Đào, con gái  nhà buôn Ích Phong, học hành tử tế, hồi đi học đã yêu một chàng hoạ sĩ nghèo tên Tư, lớn lên lấy chồng “môn đăng hộ đối” quan huyện Môn mãi tận Hải Dương. Với thành phần xuất thân như vậy, đương nhiên Nguyễn Đình Thi phải “vẽ” cô ta như một cô gái ham hưởng thụ, ngồi bát ăn bát vàng trên xương máu người nghèo…

 

Ông nhà văn có vẻ thích thú cái giấc ngủ nướng của người đàn bà đẹp đến độ mô tả nó thật tỉ mỉ:

 “Đã trưa lắm rồi thì phải. Qua cửa sổ, ánh sáng như nhức nhối vì không được ùa vào. Phượng cố nằm thêm mấy phút nữa, chăn và gối êm vuốt ve vào da thịt người đàn bà trẻ thoáng rạo rực và tự cười mình. Mình hư lắm, Phượng tự bảo…”

Trong đời tình ái của Phượng ít ra là có 3 người đàn ông. Người trước hết là chồng của Phượng, huyện Môn, lấy nhau vì…chàng giàu. Dưới con mắt của Phượng, chồng cô “mới ba mươi nhăm mà hai má đã chảy ra. Mỗi buổi sáng, ngủ dậy, khi Phượng nhìn trên gối ngay bên cạnh mình cái bộ mặt bắt đầu sệ hai má nhờn nhờn mỡ ấy thì nàng không sao tránh khỏi cảm giác ghê tởm …Và nàng  cảm thấy xa hẳn Môn từ sau khi nổ ra cuộc cãi nhau giữa hai vợ chồng vì câu chuyện đi “tiếp” lão công sứ. Lần ấy Môn đã xỉ vả với những lời lẽ tàn nhẫn và trắng trợn…” . Người thứ hai là “người yêu đầu đời”, hoạ sĩ Tư, chia tay nhau vì…chàng nghèo, cả đời không chịu vẽ tranh đàn bà đẹp để bán, chỉ vẽ toàn “những mái nhà khấp khểnh, những cầu thang cũ, chật hẹp, những cái sân ngoắt ngoéo, những dây phơi quần áo, bóng một người đàn bà đang giặt ở sân nhà, cái ngõ hẻm ở dưới sân bị ép chặt giữa hai bên dãy phố, một con mèo đang nằm sưởi  đầu bờ tường trong một chấm nắng vàng…” – một hoạ sĩ “của người nghèo” “mắc nợ quanh năm. Anh thiếu cả tiền thuê người mẫu vẽ làm kiểu. Người mẫu của Tư là những em bé ở góc phố, là một người đàn bà bán chuối…bà mẹ bác thợ giặt…”, và với ao ước “vẽ được những bức tranh lớn về đời sống trên sông Hồng Hà”   (hẳn nhà văn được gợi ý bởi hoạ sĩ Nga trong tranh lớn “Người kéo thuyền trên sông Vonga) sau này chắc chắn sẽ thoát ly làm cách mạng. Người thứ hai là hoạ sĩ Thanh Tùng – hoạ sĩ của tầng lớp trưởng giả, “ hầu hết  là vẽ những người đàn bà, những thiếu nữ, e lệ, mơ màng, mắt một mí dài và nhỏ kiểu “phương đông” đang xoã tóc ngồi đọc sách chữ nho hoặc đan áo bên một khung cửa sổ tròn hoặc bên một lọ hoa…:” . Tất nhiên tranh của Thanh Tùng bán chạy ào ào, chàng trở nên giàu có, sống sang trọng và chính cái đó đã hút Phượng nhào tới với chàng như con thiêu thân, chỉ trong khoảnh khắc đã ngã vào tay chàng hoạ sĩ trưởng giả cắm sừng lên đầu chồng.

Tiểu thư Hà Nội dưới cái nhìn mang tính “giai cấp” của Nguyễn Đình Thi trở nên hết sức tầm thường, hám của, dâm đãng, thiếu ý thức làm vợ. Đó là cái nhìn thiên kiến, hẹp hòi  của một anh chàng nghèo nàn về vật chất, sống trốn lánh bất hợp pháp vì hoạt động cách mạng, đứng ngoài vỉa hè mà nhìn vào các gia đình gia giáo nên không tránh khỏi sự tức tối và ghen ghét. Sự thực, những tà áo trắng nữ sinh Hà Nội sống hồn nhiên, trong trắng và tử tế hơn nhiều những gì Nguyễn Đình Thi dụng công viết ra. Như thế liệu ông có đáng là đứa con yêu của người Hà Nội?

Nữ sinh thì như thế, còn các thày cũng được ông nhà văn mô tả chẳng ra cái hồn gì. Trong trường có nhiều học sinh nhặt được truyền đơn của cộng sản và dâu trong người. Viên đốc học người Pháp bắt các thày đi khám:

“Mấy ông giáo , mặt như chàm đổ đi làm việc của những tên mật thám. Phần đông họ khám qua quýt cho xong chuyện, nhưng cũng có một hai người bắt học trò cởi áo rũ túi cho lão đôc Tây nhìn thấy sự mẫn cán của những tên đầy tớ trung thành…”

Các thày An Nam đã “hèn” đến thế, tất nhiên các viên chức Pháp phải hung hăng tàn bạo.

“Viên giám thị xấn xổ chạy xuống và lồng tới chỗ đám đông. Thấy một cậu học trò tay còn cầm tời giấy, y quát bằng tiếng Pháp: Cái gì đây ? Mày cầm cái gì đây ? – Một cái tát mạnh làm cậu bé chúi đi. “Tao sẽ đuổi mày ra khỏi trường nghe không ?”…Viên giám thị vẫn mặt đỏ gay, giẫm chân và hoa tay theo đám học trò: Lũ ăn cắp. Tao sẽ đuổi hết chúng mày ra khỏi đây. Voay-u…”

“ Bỗng có tiếng tát đôp đốp . Trong lúc mọinguời chú ý cả vào cuộc khám thì viên đốc Tây đã ra đứng đằng sau các hàng xem xét và bắt được một học sinh năm thứ ba đang móc túi vứt đi một tờ truyền đơn. Y kéo tai đứa nhỏ lôi  đi sênh sệch…”

Hiệu trưởng và giám thị kiểu này chắc không phải ở các trường Albert Sarraut, Puginier, Sainte Marie…tại Hà Nội thời đó mà chắc là ở… Luang Prabang, nơi ông nhà văn đã sinh ra và lớn lên chăng?

Trong giới nghệ sĩ Hà Nội, Nguyễn Đình Thi đưa ra hai nhân vật khá độc đáo. Một chàng nhạc sĩ tên Toàn không rõ vì sao mang tâm trạng:

“Tôi sống trên đất nước tôi mà vẫn là người không có Tổ Quốc. Cho đến nỗi trong âm nhạc, tôi cũng không có quê hương …”

“Lưu đầy và  quê nhà”  là đề tài lớn cả chục năm sau nhà văn Pháp Albert Camus mới đề cập tới, nhưng “lưu vong ngay trên Tổ quốc mình” lại  được ông nhà văn cài vào lời lẽ của nhạc sĩ Toàn mà không dẫn dắt từ cảnh ngộ nào đưa tới khiến nhân vật cứ như “nhảy dù” vào truyện để phát ngôn cho tác giả về nghệ thuật Việt Nam:

“Hàng ngày tôi đánh những bản đàn rất hay, nhưng không có bản đàn nào mang tâm hồn của quê hương tôi. Tôi muốn viết ra những bản nhạc Việt Nam, nhưng từ ý muốn đến sự thực còn cách xa nhau xa qua. Và trong việc làm này, tôi còn quá lẻ loi, người xung quanh, bạn bè tôi không khuyến khích mà lại dèm pha tôi nữa. Bao giờ có được một nền nhạc mới của dân tộc tôi…”

“Một nền nhạc mới” của dân tộc theo ông Nguyễn Đình Thi chắc phải chờ đến sau cách mạng tháng Tám mà đâu có ngờ trong những năm này, đã xuất hiện những Đặng Thế Phong, Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát … đã sáng tác những ca khúc mới rất Việt Nam, đã nhanh chóng đi vào và ở lại trong tâm hồn người Việt, có tuổi thọ và miền đất sống không một bài ca cách mạng nào sau này sánh nổi.

Chàng nhạc sĩ tên Toàn này gặp một ông nhà báo già người Pháp “tưởng ai, hoá me-xừ Lơquangư, viết báo Tương lai Bắc kỳ, một ông khách quen mà đám người làm trong tiệm rượu thường gọi là “Tây quăng”. Ông Tây này gặp được nhạc sĩ  Toàn, chẳng hiểu sao lên cơn “chửi nước Pháp” tàn cơn giá lạnh: “Tất cả tụi chúng nó (Tây quăng khoát tay chỉ những cái ghế không có người ngồi trong tiệm rượu), lúc ấy, chúng nó ở đâu, hà, tôi hỏi anh, bấy giờ chúng nó ở đâu ? … Anh tưởng tôi không thể ăn cắp, buôn culi cao su hay là xin cắm đất làm chủ đồn điền như chúng nó à ? Ai da da…Tong, nước Pháp tong rồi, chúng tôi ở đây cũng tong. Chúng tôi là một nước già rồi , xuống dốc rồi, chúng tôi sướng quá, giàu quá cho nên không thể đánh nhau được…”

Cái lối nhìn nước Pháp “tong” rồi, “xuống dốc” rồi …chính là nằm trong “giả thuyết mác-xít” về sự dãy chết của chủ nghĩa tư bản. Chỉ tiếc Nguyễn Đình Thi không còn sống tới bây giờ để chứng kiến cái cách Tổng thống Pháp Jacques Chirac ôm Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Hội nghị ASEM 5 tại Hà Nội mà thấy rõ “nước Pháp đã xuống dốc” tới đâu ?

Nhạc sĩ Toàn còn có một cô bạn nhạc sĩ người Nga tên là Nina lưu lạc từ Nga sang Pháp rồi sang Việt Nam. Cùng cảnh nghèo, cùng kéo đàn trong một tiệm rượu, Toàn và Nina từ tình bạn dần dà dẫn tới tình yêu. Tìm được một nửa đích thực của mình, lẽ ra hai người có thể tạo dựng được hạnh phúc chung một sự nghiệp, chung một mái nhà, tiếc thay cái “nhân sinh quan cách mạng” của ông nhà văn không để yên cho người ta sống, cho người ta hưởng hạnh phúc lứa đôi, ông “thổi” vào lòng cô Nina “ngọn lửa của lòng yêu nước” cháy đùng đùng đến độ cô từ bỏ tình yêu, liều mạng “tìm về Tổ Quốc”. “Không biết tôi có thể được sống mà về thấy lại mảnh đất thiêng liêng của tôi không?”. Và hạnh phúc của tình yêu chẳng hiểu sao lại chịu thua cái mong ước “cứ nghĩ là một ngày tôi sẽ lại đưọc đặt chân lên đất Nga, được cúi xuống hôn mảnh đất quê hương, thế là tôi lại thấy như cái cây khô đang sống lại khi mùa xuân đến…”.

Lòng yêu nước tác giả gán cho cô gái Nga ghê gớm chưa? Chẳng hiểu sao cái nhà cô Nina này đang yêu và được yêu mà lại như cái cây khô và phải nhờ tới lòng yêu nước mới sống lại. Nhưng liệu cô có biết rằng đất nước Nga lúc đó đang rên xiết dưới chế độ độc tài Staline đã giết chết biết bao nhiêu là văn nghệ sĩ như cô không? Điều này ông nhà văn biết rõ; có điều ông phải dấu không cho nhân vật của ông biết để sự tìm về Tổ quốc của cô được hợp lý, nếu không, người ta cười ông  bốc phét…

 

Qua những gì mà ông Nuyễn Đình Thi mô tả giới “thượng lưu trí thức Hà Nội”, người ta có thể thấy những người này khó mà “giác ngộ tư tưởng” đi theo cách mạng. Bởi thế, ông cán bộ cộng sản Khắc chỉ có thể rọi ánh sáng của Đảng vào đám dân lao động vốn dĩ chỉ thiết cốt với miếng cơm manh áo hàng ngày.

“Họ từ các làng mạc , các xóm chài chung quanh ven sông, các ngõ phố khu ga Lạc Viên , Hạ Đoan, Máy Tơ, ở một góc ngoại thành lam lũ của Hải Phòng, đêm nay từng nhóm nhỏ, nhóm nọ không biết nhóm kia, nhưng theo một đường dây chỉ có họ biết, cùng kéo nhau ra đây để họp “mét tinh”.

Xưa nay xách động quần chúng để họ xuống đường đi làm cách mạng nhất trong lúc thoái trào, mật thám tăng cường khủng bố, người cán bộ tuyên truyền thường khoét sâu vào những thiệt thòi, bất công gắn trực tiếp với đời sống hàng ngày dễ thấy – ở đây là chuyên tăng ca, tăng kíp, lương thấp, quỵt lương…để  khơi gợi lòng bất mãn, căm tức mà vùng lên. Ông cán bộ Khắc không làm được thế, chắc ông chưa đi sâu đi sát vào đời sống công nhân, ông chỉ nói chuyện ngoài xã hội.

“Khắc nói về sưu cao thuế nặng…Ngoài ra, tụi Tây cho bọn tay sai đeo cái mặt nạ “Pháp Việt bác ái hội” bày ra các chợ phiên, chụp ảnh , đá bóng, lạc quyên ở khắp mọi nơi để làm tiền nhân dân ta…” .

Rồi ông lại tố cáo tội ác của Pháp đối với người cách mạng:

“Tụi đế quốc Pháp lùng bắt những chiến sĩ cách mạng, chúng nó cấm hết sách báo bênh vực quyền lợi cho nhân dân, chúng nó bắt giải tán các hội ái hữu lao động để giật lại từng quyền tự do nhỏ nhất mà chúng phải nhả ra khi trước…”

Tuyên truyền vận động kiểu này là đánh chưa trúng vào tâm tư nguyện vọng quần chúng, bởi lẽ những chuyện “chợ phiên, đá banh, lùng bắt chiến sĩ cách mạng, cấm sách báo…” đâu phải là chuyện thiết cốt sinh tử của những người lao động đang ngồi nghe ông cán bộ diễn thuyết?

Sau cùng, chưa biết những người nghe đã “thấm nhuần” tới đâu, ông cán bộ Khắc đã vội vàng hô hào:

“Không tranh đấu thì chết. Tranh đấu thì ra mới sống được. Nếu chúng ta đoàn kết , tổ chức nhau lại thì tranh đấu được. Chúng ta cùng cảnh ngộ, người này tranh đấu thì người kia ủng hộ, xưởng này tranh đấu thì xưởng khác ủng hộ, làng này tranh đấu thì làng khác ủng hộ…”

Ấy thế, cứ hô hào “tranh đấu”, “đoàn kết” chung chung vậy thì rồi quần chúng biết xoay xở ra sao? “Đấu tranh với ai?  Đòi cái gì? Đoàn kết thế nào ?… – toàn những câu hỏi bức thiết  chưa được trả lời mà đã kêu gọi theo kiểu “vô sản thế giới liên hiệp lại”.

“ Đừng có để cho tụi đế quốc Pháp nó phỉnh phờ, lừa dối, nhồi sọ mình mãi. Đừng có giúp đỡ cho nó một người lính nào, một đồng xu nào. Rồi đây, khi nào thời cơ đến, thì nhân dân ta sẽ vùng lên, quật đổ chúng nó xuống, giải phóng cho đất nước mình giành lại chính quyền về tay mình không làm nô lệ nữa…Ngày ấy rồi sẽ đến…”

Không hiểu trong thực tế những người cộng sản vận động quần chúng ra làm sao, nhưng cái kiểu hô hào “chính trị suông” như Khắc thì thật khó có người nghe theo ông: “Anh chị em cố đi tìm Đảng, chỗ nào nghe có Đảng thì tìm đến…”. Trong thực tế, khi Đảng hứa hẹn nhiều quyền lợi người ta mới tìm tới, còn mới trứng nước, đầy những hiểm nguy thế này thì “Đảng phải tìm tới dân” chứ.

Với “cán bộ” trong “cơ quan” (thường được  nói tắt là xê quy) như chị Gái, Khắc thường xuyên dạy chị “học đọc, học viết, 4 phép tính” và huấn luyện chính trị:

“Và cứ những tối chị đi giao thông về cơ quan, thì anh lại giảng chính trị cho chị. Họ ra vườn  tối, có khi ra một cái gò giữa đồng, Khắc ngồi trong tối nói lầm rầm cho chị nghe. Anh nói về chủ nghĩa cộng sản, về Mác Lênin, về chủ nghĩa duy vật, thặng dư giá trị, về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của Đảng…”

Trời đất ơi, những lý luận cao siêu này tới ngày nay cũng khó nhét vào đầu một ông bí thư huyện uỷ huống hồ chị đàn bà mù chữ, kiếm sống bằng chân tay.

“ Cũng có buổi, anh kể chuyện Liên bang Xô viết , cả người kể lẫn người nghe đều thả trí tưởng tượng bay tới cái đất nước xa xôi mà họ chưa từng thấy bao giờ nhưng lúc này lại gần gũi nhất với mơ ước của họ…”

Vẽ ra một “thiên đàng trên hạ giới” là cái xứ sở Liên Xô xa xôi không cách nào kiểm chứng được để dùng làm “bánh vẽ” khuyến dụ người dân xông lên làm cách mạng là một trong những “thủ đoạn chính trị” quen thuộc của những người cộng sản từ khi họ còn trong bóng tối. Và tất nhiên những người nhắm mắt tin theo một cách dễ dàng chỉ là những người “thất học”, đầu óc đơn giản như những chị Gái, còn tầng lớp trí thức thành phố thì khó. Quả nhiên

“Qua mấy tháng, Khắc định tìm một người giao thông thay chị Gái và giao cho chị nắm hẳn mấy huyện ngoại thành rồi sẽ đưa chị vào thành uỷ…”

Nhà văn Nguyễn Đình Thi quả đã dựng nên một chân dung cán bộ cách mạng vượt cả những hình dung thông thường. Hoá ra để trở thành một cán bộ lãnh đạo cỡ thành uỷ, một chị nhà quê thất học chỉ cần ra vườn tối nghe cán bộ “lầm rầm” giảng chính trị để rồi vài tháng sau đã lãnh đạo cả mấy huyện ngoại thành. Vậy mới biết “chuyên môn”  làm nghề “cách mạng chuyên nghiệp” thực ra chẳng có gì ghê gớm, chỉ qua vài tháng nghe rỉ tai là “nghiệp vụ tay nghề” đã thành thạo lắm rồi. Thực ra vốn liếng kiến thức của mấy ông cán bộ chuyên nghiệp như Khắc, Lê, Cảnh… cũng chỉ sơ sài có thế. Bởi lẽ cái nguồn tri thức để bồi bổ cho học vấn của mấy ông quẩn quanh cũng chỉ vài cuốn sách. Dưới đây là gói sách ông Khắc đã chôn ngoài vườn sau nhà, nay nhờ cô em gái đào lên để đưa cho anh cán bộ tên Cảnh:

“Lênin: Nhà nước và cách mạng, Lênin: Bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản. Ăng-ghen : Ông Đuy-rinh làm đảo lộn khoa học. Mác và Ăng-ghen: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Stalin: Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Các Mác: Tư bản, Quyển thứ nhất. Lênin: Hai chiến thuật…”

Tất cả kho lý luận chỉ có thế, toàn những lý thuyết xa vời dùng cho công nhân Đức với Nga từ mãi bên kia bán cầu, xa lạ, chẳng dính dáng gì tới mấy bác nhà quê Việt Nam vốn bị Tây đá đít thì cùng lắm cũng chỉ dám chửi thầm trong bụng. Ấy thế nhưng nó lại là của báu, sách gối đầu giường của mấy anh cán bộ cộng sản.

“Tay anh cán bộ vẫn giở nhanh những cuốn sách giấy đã vàng và còn ẩm hơi đất. Cánh mũi phập phồng hít cái mùi mốc nhạt nhạt phảng phất từ những trang giấy bay lên. Đôi mắt anh to và sáng ngước nhìn Quyên như thầm thốt lên: Sao ở đây lại có cái kho tàng quý như thế này. Đây là ánh sáng mà bao nhiêu người lần mò trong đêm tối đang đi tìm, đây là cơm là áo, đây là thuốc súng sẽ làm nổ cái xã hội tàn ác và nhơ bẩn này cho mọc lên một cuộc đời mới…”

Người ta có thể lo ngại rằng những cuốn kinh Koran cách mạng đầy những lý thuyết cao siêu này làm sao chui được vào đầu mấy bác nông dân An Nam vốn quen ứng xử trong đời sống hằng ngày bằng những kinh nghiệm thực tiễn qua cả một pho ca dao tục ngữ lưu truyền đời này sang đời kia chứ chẳng phải do những giáo lý trừu tượng. Chẳng hiểu bằng cách nào những người cộng sản có thể “quán triệt” cho những quần chúng thất học như chị Gái, cô An, cái Xoan, anh Côi… hiểu được thế nào là quy luật tất yếu, là thặng dư giá trị, là chiến lược chiến thuật…, những khái niệm cao siêu đối với ngay cả bản thân các cán bộ.

Vậy thì các nhà cách mạng mác-xít ở Việt Nam có thực sự học được và thực hiện được những lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin, hay chỉ vớt được cái váng của nó qua một số tài liệu biên dịch sơ sài hoặc lược thuật đơn giản cho phù hợp với trình độ đại chúng?

Và thắng lợi của họ liệu có phải  là sự toàn thắng  của tư tưởng Mác-Lênin hay chỉ là do sự vận dụng “tài tình” các “thủ đoạn chính trị” trong đó bạo lực là phương tiện hàng đầu để giải quyết mọi vấn nạn ở trên đời bất chấp sinh mạng cả chục triệu con người, tạo nên một bi kịch vĩ đại là tát cạn biển Đông chỉ nhận được  về một giọt nước mắt. Thay vì đánh thắng “hai đế quốc to”, người Thái Lan đã khôn khéo tránh được hai cuộc chiến, và như vậy phải chăng họ kém “vinh quang” hơn người Việt Nam? Cái ý nghĩa khách quan của “Vỡ bờ” quả thực đã phản lại chính tác giả trong mưu toan dùng nghệ thuật của tiểu thuyết làm sai lệch những sự thực của lịch sử.

 

Một trong những hoạt động cốt lõi của ông cán bộ Đảng cao cấp Khắc là in ấn và tán phát tài liệu tuyên truyền cộng sản.

Nào “bản Tuyên cáo quốc dân của thành uỷ Hải phòng Đảng cộng sản trong một đêm đã được rải và dán ở các khu phố nội thành báo tin cho nhân dân biết Đảng vẫn có mặt  và kêu gọi chống phát xít , chống chiến tranh đế quốc …” 

Nào “tờ báo Tia Lửa cơ quan của Đảng cộng sản vùng biên ra số đặc biệt bốn trang, in 700 số, trên trang nhất có vẽ hình Lênin…” 

Rồi “những tài liệu nhỏ tóm tắt chủ nghĩa Lênin cùng với mấy nghìn truyền đơn bươm bướm…”

Cả một khối lượng tài liệu lớn như vậy một mình Khắc làm sao mà xoay xở?

Trước hết về nhân sự, ông “tuyên truyền được một anh thợ in tên Lập”. Thế còn xưởng in ? Câu chuyện ông nhà văn đưa ra có thể coi là là một “huyền thoại” theo kiểu “tay không bắt giặc”, “biến không thành có, biến khó thành dễ” quen thuộc của các nhà tuyên truyền cách mạng.

Để tìm địa điểm in, Khắc để ý tới ngôi nhà nhỏ của anh thợ cạo tên Kênh. Thoạt đầu “Khắc bắt đầu chú ý đến Kênh vì thấy ở cái hòm thợ cạo, khi mở ra, bên trong nắp có dán một tấm bản đồ thế giới mà chỗ Liên Xô lại tô màu đỏ”. Yêu Liên Xô vậy chắc phải là người ủng hộ cộng sản, chắc có thể bắt quen làm người “của mình”.

“ Một hôm khắc giả vờ hỏi bâng quơ :

“ Cái chỗ đỏ này là nước nào ?”

“ Nước Nga đấy – anh thợ cắt tóc trả lời.

“ À nước  Nga cộng sản đấy phải không? Bên ấy dân khổ lắm thì phải”.

Anh thợ cắt tóc không trả lời. Mãi sau anh mới bảo:

“Tôi nghe người ta bảo bên Nga không có người giàu người nghèo, không có vua quan gì nữa…”

Chỉ một câu ca ngợi đất nước Liên Xô vậy thôi, anh thợ cạo đã được cách mạng tin ngay và chọn ngôi nhà nhỏ xíu của anh làm xưởng in bí mật. Cả xưởng chỉ có một mình anh thợ in tên Lập với “hòn đá, hai cái ru-lô, mấy hộp mực in và cả một bát chữ…”; “Khắc và Lập cứ chui trong cái buồng, suốt ngày không thò ra, ăn ở đó, đái  cũng đái vào ống tre, chẳng khác trong xà lim…”

Người và phương tiện in ấn chỉ có thế mà in ra nào báo, nào sách, nào truyền đơn thì quả thực chỉ có những người cộng sản trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi mới làm nổi. Quả nhiên “Khắc vừa lo chạy những việc hội họp, tổ chức, vừa thu bài, viết bài cho báo, cũng đủ cả xã luận, tin tức, còn có cả thơ ca nữa…”.

Trăm thứ bà dằn vậy, chưa kể hàng tối giảng lý thuyết cách mạng cho chị Gái, vậy mà Khắc còn tự đấu tranh, kiềm chế mình không yêu An, em của chị Gái, mặc dầu cô này rất yêu anh. Anh bảo cô:

“An cũng hiểu, như tôi bây giờ không thể nghĩ tới yêu ai được. Không lẽ tôi bỏ cả công việc của cách mạng để tìm hạnh phúc với An ư ? Nếu tôi làm vậy, chắc An cũng khinh tôi, An nên quên tôi đi…”

Các nhà văn cộng sản thường đối lập tình yêu mà họ coi là “hạnh phúc cá nhân” với “sự nghiệp cách mạng” – “hạnh phúc vì tập thể” và kết cuộc của bi kịch các chiến sĩ cộng sản bao giờ cũng hy sinh tình yêu để chọn lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên cái “đạo đức khắc nghiệt” này chỉ có hiệu lực vào những năm đầu đi theo cách mạng, còn vào thời kỳ những năm 1970 Nguyễn Đình Thi viết “Vỡ bờ”, nếu “nhăm nhăm gạt bỏ tình riêng để mưu hạnh phúc chung” như vậy e rằng bị chê là “công thức”, biến người cộng sản thành người máy không tim, bởi vậy ông nhà văn mới sắp xếp cho anh cán bộ cộng sản Khắc trong một lần gặp gỡ An, đã không cầm được lòng, đã vượt rào đạo đức cách mạng “ăn nằm với cô trong suốt một ngày”. Rủi thay, ngay sau cái ngày tràn trề hạnh phúc đó, Khắc đi gặp một cơ sở cách mạng, bị chỉ điểm và bị bắt.

Tất nhiên để bù lại “khuyết điểm sinh hoạt” hủ hoá với em gái cơ sở cách mạng, ông nhà văn phải đề cao hết mức ý chí bất khuất của Khắc trước mọi đòn tra tấn dã man của mật thám Pháp nhằm làm phong phú và sinh động chân dung người anh hùng cộng sản. Đó là thủ pháp tương phản đen trắng (“contrast”) thường thấy trong tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa; khi muốn làm bật tính cách dũng cảm của nhân vật anh hùng, các nhà văn thường cho anh ta mắc tí tí khuyết điểm trong sinh hoạt như “văng tục”, “nhớ mẹ quá trốn về một buổi”….

“ Mấy tên a-giăng lại lột trần Khắc ra, buộc hai ngón tay cái anh vào sợi dây chão sắt, rút ngược lên. Chúng treo anh chỉ để chấm các đầu ngón chân xuống đất. Dây điện lại cặp vào đùi vào ngực Khắc. Cuộc nhảy đầm bắt đầu…

Bọn mật thám chuyền tay nhau cái hòm điện. Mỗi tua maniven quay lọc cọc, Khắc lại hét lên thất thanh. Chân anh nhảy quáp lên  thì sức nặng người anh lại kéo tất cả lên hai đốt ngón tay cái như giằng đứt hai đốt xương. Cái hòm điện vẫn quay, Khắc vẫn hét lên như bị chọc tiết, mắt anh trợn ngược, chỉ thấy tất cả loang loáng rồi những tiếng hét bé dần, đầu anh ngật sang bên, cổ anh khe khẽ thoi thóp…”

Những trận tra tấn khủng khiếp như vậy rồi cũng kết thúc:

“Sau hơn chục trận tra tấn chết đi sống lại, Khắc đã yếu quá, không thể đứng lên được. Hai ngón tay cái bị dây cứa gần đứt hết thịt, vào đến tận xương, sưng tấy lên đau buốt suốt ngày đêm…”

Bị tan nát thân thể, thập tử nhất sinh vậy nhưng Khắc nhất định không khai nửa lời thì cũng còn có thể chấp nhận là có thật được, anh hùng cách mạng mà, nhưng không hiểu sao khi bị khiêng về xà lim, anh vẫn còn đủ sức “giác ngộ tư tưởng” cho anh “gác ngục trẻ tuổi” thì mới  là truyện thần kỳ.

“Từ hôm đó anh “xì cút” cứ đến tua gác đêm là không quên mở cửa xà lim cho Khắc ra ngồi thở chừng mười lăm phút, nửa giờ. Những lúc ấy anh ta thường đứng cạnh nói chuyện với Khắc. Anh ta có vẻ suy nghĩ, những lúc nghe Khắc nói về đời  sống ở Côn Đảo hoặc kể lại truyện tiểu thuyết “Người mẹ” của Gorki…”

Chẳng hiểu sao mật thám Pháp độc ác vậy mà lại bố trí lính gác xà lim hiền lành thế, và cũng chẳng hiểu sao Khắc bị đánh, tra điện gần chết như vậy vẫn còn đủ sức kể chuyện tiểu thuyết “Người mẹ”  của nhà văn Liên Xô cho anh ta nghe mới tài. Rồi một anh bạn tù tên là Mầm đưa nắm cơm tù vào cho Khắc, thấy:

“Khắc nằm cùm hát khẽ. Mầm mỉm cười bảo:

“Ở đây mà anh còn hát được…”

Khắc ngồi dậy:

“Nằm cả ngày rỗi rãi thành ra tôi cũng nghêu ngao cho qua thời giờ”…

Rồi Khắc tranh thủ lên lớp cho Mầm:

“Anh bây giờ là đi vào con đường cách mạng rồi chứ còn gì nữa. Muốn làm cách mạng thì phải học. Anh học đọc, học viết đi. Nhờ anh em biết chữ bảo cho. Tối nay, lúc nào anh vào đây, tôi nói chuyện về cách mạng cho mà nghe…”

Thật cứ như Khắc có phép thần thông, luyện công trị thương tới mức thượng thừa, chỉ trong khoảnh khắc anh đã từ cõi chết trở về, không những hồi phục sức lực, vượt qua đau đớn mà còn kể chuyện, ca hát và cả lên lớp chính trị nứa.

Cứ “bốc phét” như thế, ông nhà văn quên bẵng đi rằng tính chân thực mới là giá trị hàng đầu của nghệ thuật của tiểu thuyết. Bạn đọc hẳn chưa quên những trang viết về khí tiết bất khuất của người chiến sĩ cộng sản trước đòn tra tấn, tù đầy tàn bạo của quân thù. Chẳng hạn ca ngợi chị Trần Thị Lý, nhà thơ Tố Hữu đã có những câu :

“Điện giật, dùi đâm, dao cắt , lửa nung…

Không giết  được em – người con gái anh hùng…”  

Hoặc hồi ký “Bất khuất” của Nguyễn Đức Thuận, hoặc hình tượng anh Nguyễn Văn Trỗi trong “Sống như Anh”  của Trần Đình Vân … Ngày nay những tấm gương hy sinh anh dũng như vậy xem ra đã phai nhạt đi nhiều, ít nhất là trong các tác phẩm văn học.

 

Không giống như phần lớn cán bộ cộng sản sau một thời gian tù đầy đều được trở về và còn sống cho tới tận ngày nay với biết bao đặc quyền đặc lợi, nhân vật Khắc của Nguyễn Đình Thi, sau khi bị bắt ở Hải Phòng, được đưa về Hà Nội; ở đây ông tỏ rõ khí phách của mình trước quân thù:

“Tôi không có gì để nói thêm với ông cả. Ở hàng ngũ cách mạng, cũng có một vài kẻ hèn nhát hoặc phản bội. Nhưng các ông đừng lầm tưởng như vậy là các ông thắng. Chúng tôi là đảng viên cộng sản, chủ nghĩa chúng tôi cho chúng tôi thấy rõ tương lai. Các ông sẽ không còn, nhưng đất nước chúng tôi sẽ độc lập, chủ nghĩa cộng sản sẽ được thực hiện vì đó là mong muốn của hàng triệu người.”

và ông đã hy sinh thật anh dũng :

“Lanéc cúi xuống, bấm đèn phin vào mặt Khắc. Trong vệt sáng, hiện rõ những đám máu ộc từ miệng Khắc chảy vòng quanh đầu anh. Máu đỏ sẫm nóng hổi rỏ giọt từ trên sàn gỗ xuống nền xi-măng. Khắc đã tắt thở…”

Thật tiếc cho những người đã đổ máu hy sinh cho lý tưởng như Khắc, bởi lẽ nửa thế kỷ sau, đất nước quả có “độc lập” nhưng “chủ nghĩa cộng sản” thì vĩnh viễn chẳng bao giờ được thực hiện và buồn thay sự rũ ra khỏi nó mới chính là mong muốn của hàng triệu người. Vào những năm 1990, khi cả khối xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông  Âu đã sụp đổ, cộng sản chỉ còn là một “thiên đàng đã mất” trong con mắt mọi người, kể cả Nguyễn Đình Thi. Bởi vậy cái chết của Khắc gieo vào lòng người đọc sự tiếc nuối, thương hại nhiều hơn là sự cảm phục.

Cái còn để lại sau khi Khắc chết đi không phải là tấm gương hy sinh, bất khuất của người chiến sĩ đấu tranh cho giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản, mà chính là …hòn máu của anh trong bụng An − cô người yêu mà anh đã chung sống chỉ một lần duy nhất trong đời:

“ Anh chị đã có cháu chưa ?”, An nhớ lại câu hỏi thì thào của cô gái lúc sáng. Một tràng pháo nổ lẹt đẹt ở phố cầu Lương. Mọi nhà bắt đầu  cúng ông vải rồi. Tết đến rồi đây…. An tự nhiên sờ lên bụng. Một cái gì rất lạ lẫm. An cảm động, rung hết người. Đúng rồi. Đến hôm nay đã quá ngày gần một tháng rồi. An đã có mang…”

Sau cái chết của người cộng sản, phong trào cách mạng cũng như nội dung của cuốn tiểu thuyết chùng hẳn xuống, mất hẳn cái mạch liên tục, sôi nổi trước đó. Một phần năm còn lại của cuốn sách chỉ còn diễn tả những nhân vật “quần chúng” mà trước đó vì mải mê tập trung vào nhân vật cán bộ cộng sản, ông nhà văn đã buông lửng chúng.

Trước hết là thầy giáo Hội được nói tới khá nhiều ở đầu truyện. Thày giáo Hội giống y chang thầy giáo Thứ trong “Sống Mòn” của Nam Cao . Cũng mòn mỏi trong một trường tư thục rồi bị thất nghiệp vì chiến tranh xảy tới, cũng nặng gánh vợ con trong thời buổi gạo châu củi quế mà rời tấm bảng đen với cục phấn trắng ra chẳng còn biết làm gì:

“Hội biết làm gì để nuôi lấy thân mình, chứ đừng nói gì đến nuôi vợ con . Hội lại sắp ăn bám vào Thảo, Thảo đã khổ đến như vậy rồi, mà sẽ còn phải nhịn ăn nhịn mặc nữa và Thảo với cả con Hiền sẽ lại gò lưng xay lúa, giã gạo, sàng sẩy, chắt bóp bán từng bơ cám, từng nải chuối xanh, từng cây kim sợi chỉ để lo lấy bữa cơm bữa cháo…”

Tuy nhiên “giáo Hội” của Nguyễn Đình Thi có khá hơn “giáo Thứ” của Nam Cao đôi chút ở chỗ thất nghiệp trở về làng xoay ra…viết văn:

“Thế là ngày ngày anh ngồi trong cái chái đầu nhà, vừa ôm cái tí Vân, vừa viết giấu giếm. À, nếu như viết như các ông Vichto Huygô hay là Tolstôi  thì chẳng dám màng, chứ còn như những chuyện “chàng chàng nàng nàng”   lâm li giả dối và chán ngoét đầy dẫy trên báo sách thì làm gì chàng chẳng viết  được ?”

Hoá ra cái khả năng tiên tri, thấu thị, dự báo của nhà văn Nguyễn Đình Thi thật đáng nể, bởi lẽ cho tới tận bây giờ, sang năm thứ 5 của thiên niên kỷ 2000, thời đại bùng nổ của cách mạng tin học –  cái tình trạng “lâm li giả dối và chán ngoét đầy dẫy trên báo sách”  vẫn còn tiếp diễn dài dài trên cả nước.

Nhân vật tiếp theo được nhắc lại là hoạ sĩ Tư vốn là người yêu của cô Phượng đài các, vợ của tri huyện Môn. Nếu như hoạ sĩ Thanh Tùng hái ra tiền bằng những bức tranh thời thượng thì hoạ sĩ Tư cứ “ngày này qua ngày khác, Tư đã bỏ vào cái công việc vẽ ấy tất cả sức lực và tuổi trẻ của anh, tất cả những năm đẹp nhất của đời anh…” vậy mà anh vẫn nghèo rớt mồng tơi “hàng ngày phải tính từng hào, từng xu và nhặt tất cả mọi thứ làm thế nào giành giật với cuộc sống từng bữa ăn, từng thức vải, hộp màu để vẽ …”. Người còn quan tâm tới Tư chỉ còn có cô gái điếm tên Bích, mua cốm tới cho anh ăn, và có nhạc sĩ Toàn, sau khi cô gái Nga Nina bỏ anh ra đi, anh năng tìm tới hoạ sĩ Tư để rủ rê: “Tao chịu mày, không còn biết gì đến chuyện gì ngoài cái giá vẽ của mày. Ngoài phố người ta đã nhớn nhác cả lên. Mày không biết chính phủ Pêtanh vừa ký với Matuôka ở Tokyo một hiệp ước về Đông Dương rồi à? Quân đội Nhật Bản ở Quảng Tây bây giờ đang đòi vào Bắc Kỳ ngay. Có thể nổ súng không chừng…”

Nghe lời nhạc sĩ Toàn, hoạ sĩ Tư tạm rời cái giá vẽ để lang thang xuống phố. Và thế rồi “Hình ảnh người đàn bà bế con ngồi trên bọc chăn màn với cô gái đeo cái tay nải nâu ở bến xe điện lại hiện lên trước mặt Tư. Anh phải vẽ bức tranh ấy…”. Sau chuyến “đi thực tế” bến xe, bến tàu, nhà ga….Tư bỗng cảm thấy “Một cái gì đây sẽ đến… Hôm nay Tư đã thấy phía bên kia (quân Pháp) đang đổ nhào và tan rã như thế nào? ”Quân hồi vô phèng…” − những con mắt len lét và hằn học của đám lính bị thương ở Lạng Sơn về. Cái cảnh tây đầm chí choé trên con tàu đi Sài Gòn. Một cái gì đây sẽ đến…”

Một cái gì sẽ đến, tuy nhà văn không nói toạc ra, nhưng ai cũng hiểu ông muốn nói tới…cách mạng. Một cuộc cách mạng “long trời lở đất” đang tới mà ngay đến anh hoạ sĩ suốt ngày ngơ ngẩn với màu với hình cũng đã cảm nhận thấy.

Cái thành phần rồi đây sẽ tan rã khi cách mạng nổ ra – tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản, thượng lưu… – cũng được tác giả nhắc tới tất cả những “xấu xa, bệnh tật” của nó. Nào cậu Tường, con trai nghị Khanh, cậu Thúc, con trai chủ đồn điền cưỡng dâm cô thôn nữ tên Thơm; nào cô Nguyệt, con gái nghị Khanh, bị đám con quan đẩy vào buồng, “đánh táp lô” đến mang bầu phải đi nạo, nào nghị Khanh nẫng vợ bé của ông bạn Quảng Lợi… Cả một xã hội bốc mùi xú uế  đang như con cá nằm trên thớt chờ cách mạng tới để được hoá kiếp.

Sau cùng là những người lao động cùng khổ, những người đang sống trong đêm trước của cách mạng. Đó là cô Xoan, con gái bác Mùi, đi ở gán nợ cho nhà Nghị Khanh, ốm sắp chết mới được trả về, mẹ chữa lành bệnh rồi lại phải quay về nhà địa chủ. Đó là anh Mầm, người yêu của Xoan, cũng hoạt động cách mạng bị tây bắt đi Hà Giang, biên thư về với lời lẽ “nay Mầm có nhời”… Đó là cô An, người yêu của cán bộ Khắc vừa hy sinh, bụng mang dạ chửa, vượt cạn một mình :

“Đôi mắt từng trải của bà đỡ ái ngại nhìn người đàn bà trẻ… khi người mẹ trẻ sinh con lần đầu  thì tất cả gia đình, nào chồng, mẹ chồng, mẹ đẻ… xoắn xuýt đưa đón đợi chờ, vậy mà chị này, đêm hôm đến đẻ chỉ có một mình cắp cái thúng…”

Bà đỡ đâu có biết chồng cô là một cán bộ cộng sản vừa anh dũng nằm xuống vì  lý tưởng cách mạng, và rồi dường như số phận được đền bù, An đã sinh con trai. “Nghe tiếng đứa bé khóc, một sức sống không biết từ đâu như làn hơi nóng bừng tràn đi khắp trong người An…”.

Cái sức sống đó giúp cho An quyết thờ chồng nuôi con và nhất định phải tham gia cách mạng ờ phần hai của cuốn trường thiên tiểu thuyết rồi.

 

Hơn 500 trang “phần một” tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi đã dàn ra hàng loạt nhân vật từ giới thượng lưu, quý tộc tư sản-địa chủ như nghị Khanh, vợ chồng huyện Môn, Phượng, Hằng, hoạ sĩ Thanh Tùng… tới giới lao động bình dân như  anh giáo Hội, anh hoạ sĩ nghèo Tư, các chị làm thuê như Gái, An…, các cán bộ hoạt động cách mạng như Khắc, Lê, Cảnh… Tuy nhiên, ngoài số phận ông cán bộ cộng sản Khắc đã rõ ràng bởi cái chết do đòn tra tấn của Pháp tại Hoả Lò Hà Nội, hầu như toàn bộ các nhân vật còn lại vẫn sống hết ngày dài tới đêm thâu, phận số vẫn vậy, chẳng có gì đổi thay, cứ như bị trưng bày ra đó mà chẳng biết sẽ được đưa đi đâu đi về đâu.

Cho dù xã hội nảy sinh nhiều sự kiện nóng bỏng, nào Nhật Pháp  bắn nhau, nào cách mạng bị đàn áp, đánh phá và thoái trào ở khắp nơi nơi, nào công nông bị bóc lột  và sống trong lầm than… nhưng dường như vẫn chưa có một biến cố nào rơi trên đầu mỗi cá nhân tạo nên những đột biến để đám nhân vật Nguyễn Đình Thi  bày ra la liệt đó có cơ hội trở thành những nhân vật của tiểu thuyết. Hay nói cho rõ hơn, tiểu thuyết đã “đi” được cả 500 trang mà phần lớn các nhân vật vẫn “yên vị”, vẫn chưa bị đẩy vào những cảnh ngộ để từ đó làm bật ra những tính cách của riêng nó.

Cuối phần một, ông cán bộ thành uỷ Khắc đã hy sinh, vậy ngay từ đầu phần hai  tất nhiên ông nhà văn phải cho người khác thay thế để việc lãnh đạo cách mạng được liên tục chớ. Người đó cũng chẳng phải nhân vật mới nhảy vào truyện mà chính là đồng chí bí thư xứ uỷ Lê, thủ trưởng cũ của Khắc. Lúc này do đồng chí thường vụ xứ uỷ Tôn bị Pháp bắt, không chịu được đòn tra tấn đã “dắt tụi mật thám đi các tỉnh, về tất cả các cơ quan các cơ sở mà Tôn biết… Tổ chức vỡ, liên lạc đứt lung tung, cán bộ người bị bắt, người chạy toé, nhưng cay cực nhất là quần chúng từng cưu mang, nuôi nấng cán bộ mà bây giờ lại thấy chính thằng ấy dắt mật thám về bắt con cái anh em nhà người ta…”.

Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, người đọc chờ đợi tác giả dẫn dắt họ theo chân các cán bộ của Đảng len lỏi vào dân, thắp lại lòng tin của quần chúng, xây dựng lại các cơ sở để từ đó hồi phục lại các tổ chức đã bị phá vỡ… Có như vậy thì sự thắng lợi của phong trào cách mạng sau này mới có sức thuyết phục. Tiếc thay ông nhà văn  tuyệt nhiên không làm được thế. Ông chỉ đưa ra cảnh ông bí thư xứ uỷ Lê liên lạc với anh cán bộ Cảnh để lên lớp chính trị, truyền đạt chủ trương đường lối… lặp lại y chang cảnh Khắc giáo dục chính trị tư tưởng cho chị Gái ngày trước:

“Cảnh ngồi lặng im nghe giảng giải, nhưng rõ ràng sự thu nhận còn khó khăn, nó vấp phải những cách nghĩ, những tình cảm đã ăn sâu vào tâm trí từ lâu. Lê vẫn nói rủ rỉ nhưng giọng anh đã quả quyết:

“Vấn đề bây giờ là tập trung mọi lực lượng đánh tụi phát xít. Đây cậu nghe lời kêu gọi của đông chí Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài gửi về.”

Lê giở tờ truyền đơn in đá, đọc khẽ  nhưng rành mạch…”

Và ông tác giả “chơi” luôn nguyên văn một đoạn lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi về. Rồi mượn lời “đồng chí Lê”, Nguyễn Đình Thi tranh thủ ca ngợi “bác Hồ”:

“Tôi có một lần được xem ảnh đồng chí ấy ở Sở mật thám Sài gòn. Lần ấy thằng Riu đang hỏi cung mình bỗng nó đưa ra một bức ảnh và bảo: “Mày có biết ai đây không ? Nguyễn Ái Quốc lãnh tụ tối cao của chúng mày ở nước ngoài…” Mình mặc kệ nó nói gì thì nói, xem ảnh cái đã. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đội mũ phớt đen, quàng khăn phu la, mình chỉ còn nhớ đồng chí đội mũ mà vẫn rõ trán rất cao và đôi mắt sáng lắm…”

Vậy là mọi chủ trương đường lối, mọi niềm tin vào tương lai của cách mạng vẫn chỉ là chuyện trao đổi giữa mấy ông cán bộ cộng sản với nhau, còn việc đưa nó vào quần chúng, biến nó thành sức mạnh cách mạng thì không thấy ông nhà văn nhắc tới. Sau khi kể sơ sài việc gây dựng lại phong trào chỉ qua một buổi hội ý giữa hai ông cán bộ xứ uỷ, ông nhà văn trở lại các nhân vật “quần chúng nhân dân”.  Gia đình của Khắc sau cùng cũng đã nhận được tin ông hy sinh. Việc đầu tiên là mẹ ông, bà Tú gieo rắc hận thù vào lòng con trẻ – Thu, con gái Khắc mới có 9 tuổi.

“Lúc Quyên  (em gái của Khắc) đã chít miếng vải trắng lên đầu cái Thu, bà Tú kéo đứa cháu vào  lòng nói chuyện với nó:

“Thu, năm nay cháu lên chín rồi, cháu nhớ phải để chở bố cháu ba năm cho trọn đạo làm con. Thế là bố cháu đi theo ông rồi đấy. Tây nó đày ông cháu chết ở ngoài đảo Côn Lôn, bây giờ lại đánh bố cháu chết ở trong tù. Nó ác thế đấy cháu ạ…”

Tất nhiên, khi lớn lên, những đứa trẻ như Thu ngoài việc “khắc cốt ghi xương” mối thù này và theo Đảng đánh Tây đến cùng, chúng còn đầu óc đâu suy nghĩ đến những chuyện tốt đẹp khác trong cuộc sống con người?

Dặn dò cháu rồi, bà Tú, mẹ của Khắc, khấn thầm với chồng:

“Ông ơi ông thế là con nó đã đi theo ông rồi. Ông dặn dò lại thế nào trước ngày ông bị bắt đi thì tôi đã cố gắng vâng theo đúng như thế. Tôi đã nuôi thằng Khắc con Quyên nhớn khôn, chúng nó không làm điều gì nhục cho họ nhà ta. Tôi không làm thế nào giữ cho thằng Khắc còn sống được. Nhưng nó chết cũng là vì nước vì dân, không đến nỗi phải hổ thẹn với ai…”

Thật đúng là một bà mẹ Việt Nam anh hùng, không lo dựng vợ gả chồng cho con cái, chỉ lo “không làm gì nhục cho họ nhà ta”  với niềm tự hào có con “chết vì nước vì dân”. Hình ảnh người mẹ của Nguyễn Đình Thi cũng chỉ là sự xào xáo lười nhác hình ảnh “người mẹ” của Gorki, “người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi và khẩu hiệu “trung hậu, bất khuất, đảm đang” mà Đảng và Nhà nước đã phong tặng cho các bà mẹ Việt Nam.

Sau chuyện Quyên, em gái Khắc làm đám tang cho anh, tác giả có vẻ sảng khoái đi vào nhân vật gần gũi với ông nhất: anh giáo Hội, thất nghiệp quay sang viết văn. Nhưng anh viết gì được khi anh cho rằng:

“Bọn người viết văn bây giờ chẳng qua là một lũ ô trọc cầm bút. Họ cần gì đến văn chương, họ chỉ cần tiền, và họ chạy theo mốt, họ ăn cắp của các nhà văn nước ngoài, họ mạ lại những ý nghĩ của người khác để loè người không biết, họ viết quàng xiên những chuyện bịa đặt quái lạ, lấy sự ly kỳ để câu người xem, chứ không biết nhìn vào sự thật hàng ngày, cái sự thật tầm thường nó đáng nói biết  bao…”

Nguyễn Đình Thi viết những dòng đầy hứng khởi này mà quên béng mất cái “lũ ô trọc cầm bút” ấy đã tạo ra cả một nền văn xuôi rực rỡ với những tên tuổi lớn  Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… và nhận định này, kỳ lạ thay xem ra nó lại phù hợp với thời hiện tại, thời “một lũ ô trọc cầm bút” “viết quàng xiên những chuyện bịa đặt ly kỳ câu người xem chứ không biết nhìn vào sự thật hàng ngày…”

Rồi ông nhà văn tên Hội lại than thở:

“Vì ở nước mình, cái anh viết văn còn có giá trị gì nữa? Còn được đi đến đâu, trông thấy gì, biết gì nữa ? Thân phận như một thằng ăn xin, sống như một con ốc sên chỉ ru rú trong cái vỏ của mình… Hội cho rằng một xã hội mà để cho những nghệ sĩ của nó chết đói là một xã hội đốn mạt, mà một xã hội nuôi nhà văn và nghệ sĩ như ông hoàng thì cũng nát bét…”

Thật chẳng có lời lẽ nào hay hơn, chính xác hơn để chỉ cái đám giặc già – nói theo kiểu Nguyễn Huy Thiệp – ở Hội nhà văn Việt Nam hiện thời ?

Mạt sát nghề cầm bút vậy nhưng Hội cũng kỳ cạch suốt trong 14 tháng liền  viết xong  một cuốn tiểu thuyết có tựa là “Đồng Chiêm” được xuất bản với điều kiện phải sửa theo tên mới “Những mối tình sông nước”. Và rồi từ đó ông nhà văn đã xác định ngay được “hướng đi” trong cái nghề kiếm sống bằng văn chương: “Anh sẽ cứ viết truyện ngắn cho các báo để kiếm vặt mỗi tháng mười lăm đồng và trong khi ấy anh sẽ tiếp tục viết quyển tiểu thuyết thứ hai của anh…”

Cái phương châm “lấy ngắn nuôi dài” mà các ông nhà văn ngày nay thường khoe khoang, hoá ra đã có từ thời tiền khởi nghĩa.

                               

Sau nhà văn  Hội, tác giả giành khá nhiều trang cho hoạ sĩ Tư. – loại nhân vật xem ra Nguyễn Đình Thi “thuộc” hơn cả.

Hoạ sĩ Tư vốn có người yêu cũ là tiểu thư hàng Đào – Phượng, bỏ anh đi lấy chồng giàu là quan huyện Môn. Phượng chán chồng vì sự đê tiện của hắn, ngoại tình với hoạ sĩ Thanh Tùng, nổi tiếng và giàu sang nhưng rồi nàng  cũng rũ bỏ vì tính cách thực dụng và rỗng tuếch, rốt cuộc nàng lại tìm về với người yêu xưa là hoạ sĩ Tư. Không may, Phượng tới nhà Tư  lúc anh đi vắng, nàng đành viết giấy mời anh tới nhà “anh Tư, em muốn gặp anh. Em đã có một chỗ ở riêng không ai quấy rầy được…chiều nay anh đến, anh đừng để em đợi lâu nhé…”.

Trở về nhà, nàng vào buồng tắm sửa soạn. “Phượng ra đứng trước gương nhìn con người trắng hồng trong ấy. Thân thể nàng vẫn thon  lẳn, nhưng bây giờ những đường nét đã dần dần đầy đặn lên hơn, nom càng mềm mại dễ ưa. Phượng quay nghiêng, ngắm đi ngắm lại cái lưng gọn gàng, đôi chân thuôn dài. Con người mình đáng mê quá…”.  Dựng lên một pho tượng “vệ nữ” khá tỉ mỉ thế này, đã có thời gian Nguyễn Đình Thi bị các nhà phê bình của Đảng như Vũ Đức Phúc, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ… phê là “sa đà vào sự thích thú thân xác”, tuy chưa mang tội “đệ tử của Freud” như Vũ Trọng Phụng nhưng cũng bị nhắc nhở là “ve vuốt nàng Phượng quá kỹ càng”. Chính với nỗi lo bị “mất lập trường giai cấp” ấy, Nguyễn Đình Thi vội vàng đánh “sụt giá” nàng Phượng bằng cách cho hoạ sĩ Tư thẳng thừng từ chối lời mời “ngọt ngào” của người đẹp. Tư viết giấy cho người mang tới Phượng,  lời lẽ thật cứng rắn : “Không thể được, Phượng ạ. Bởi vì rồi sau, chúng ta làm thế nào mà sống như cũ được  nữa ?”  và đòi Phượng phải từ bỏ “giai cấp” của mình: “Phượng có thể bỏ hết, cắt đứt hết với cuộc đời hiện nay của Phượng không ?”. Vậy là trong tâm tư  chàng hoạ sĩ nghèo này đã có sẵn mầm mống của sự tuyệt đối hoá sự phân biệt giai cấp: hoặc bên này hoặc bên kia. Trong tầng  lớp trưởng giả nhất định là không thể có tình yêu, “tiếng tăm, tiền bạc, dư luận… những thứ vô nghĩa như thế mà có thể phá hoại được tình yêu, giết chết tâm hồn”, phải từ bỏ hết mọi tiện nghi, gốc gác, tài sản để trở thành người cùng khổ, người lao động thì mới mong có được tình yêu cao đẹp. Tất nhiên nàng Phượng xinh đẹp và giàu có đời nào chấp nhận một lời đề nghị “dở hơi” đến thế . Thực chất sự từ chối người đẹp của Tư  xem ra là của chính Nguyễn Đình Thi muốn bầy tỏ lập trường giai cấp với Đảng chứ chẳng phải ý muốn của một chàng hoạ sĩ tài hoa, sống giữa Hà Nội như Tư. Ông nhà văn cố nhồi vào đầu chàng nghệ sĩ tư tưởng đề cao người nghèo khó, bài bác người có tiền:

“Thà là một cô gái bán mình vì miếng cơm manh áo để nuôi thân, nuôi gia đình như cô Bích đáng thương …Cái xã hội ngu xuẩn khinh bỉ những con người ấy nhưng lại sụp xuống trước những người có đủ ăn, đủ mặc, không cần phải bán mình mà lại ngày ngày ôm lấy kẻ mà mình không yêu. Rút cuộc cái xã hội này chỉ đòi hỏi người đàn bà bán mình thôi, hoặc là bán mình cho một người độc quyền theo đúng lễ giáo, pháp luật v.v… hoặc là bán mình một cách rẻ tiền hơn cho nhiều kẻ qua đường… Bao giờ thì người đàn bà mới có thể chỉ sống với người đàn ông vì tình yêu…”

Cứ theo như lý thuyết của Nguyễn Đình Thi thì từ xưa các cụ ta lấy chồng do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” hoặc “lấy trước thương sau” cũng đều là … điếm bán mình cả. Đây là hệ quả của tư tưởng “hữu ái giai cấp” quá đà một thời ăn sâu trong tâm tưởng các nhà văn Việt Nam khiến họ nhìn đâu cũng chỉ thấy có sự phân biệt giàu nghèo, sáng tác ra cả một thời đại văn chương chỉ toàn than nghèo khóc khổ, bôi tro tư sản, trát trấu địa chủ như những kẻ có tiền tội lỗi.

Cái phong trào “vô sản hoá trí thức” một thời xem ra nhiễm sâu vào gan ruột Nguyễn Đinh Thi đến độ chàng hoạ sĩ Tư tin vào sự đánh giá nghệ thuật của cô gái điếm còn chính xác hơn cả giới chuyên môn:

“À…mà cô xem cái phong cảnh này thấy nó thế nào ?”

Bích cười lúng túng:

“Thấy con sông nó rộng, cảnh nó như là lúc đợi đó man mác thế nào. Ở quê ngoại em, chỗ bến đò Mía cũng giông giống thế này, cũng có cây gạo to lắm…”

“ Cô xem tranh thế mà còn đúng hơn khối ông phê bình đấy. Các ông viết báo ấy….”

Tư cũng cười to. Anh tự bảo: Con đường của mình nhất định là đúng rồi…”

Được một “em điếm” khen tranh tức là được quần chúng nhân dân chấp nhận, thế là hoạ sĩ đã  có thể yên tâm: “đi đúng đường rồi” thì chắc chắn con đường đó chỉ có thể là văn hoá văn nghệ phục vụ công nông binh của đồng chí Mao Trạch Đông kính mến nhập cảng vào Việt Nam qua đề cương “văn nghệ Diên An” mà thôi. Con đường đó chưa biết dẫn hoạ sĩ Tư tới sự nghiệp sáng tác to tát nhường nào, chỉ chắc một điều nó đã làm chàng từ khước tình yêu của một mỹ nhân kiêu sa như Phượng để yêu một cô điếm, “cùng giai cấp”:

“Tư đứng dậy tắt đèn. Bích cũng dụi tắt mấy cây củi nứa. Họ lại ngồi trước đốm tàn lửa đang mờ đi nhanh chóng. Rồi ánh than tắt hẳn. Tư thấy mấy sợi tóc dài thoáng chạm vào mặt anh rồi hai cánh tay mềm mại quàng lấy cổ anh và đôi môi dịu dàng như những cánh hoa làm anh gần ngạt thở vì những cái hôn đẫm nước mắt…”

Vậy là từ nay chàng hoạ sĩ sống với cô gái điếm hoàn lương bất chấp nghèo khổ, thiếu đói. Đưa được “nghệ thuật” về với giới “cần lao” rồi, làm sao dắt được nó tới được với Đảng đây? Dẫn dắt hoạ sĩ Tư từ bỏ cô Phượng giàu có và xinh đẹp để tới với cô Bích gái điếm, nghèo khó có vẻ còn dễ hơn đưa đẩy chàng đến với cách mạng. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã làm điều đó như thế nào?

Trước hết do túi không còn một xu đong gạo, mua thuốc chữa bệnh lao và mua toan với màu để vẽ, hoạ sĩ Tư lại đành tìm về với người yêu cũ giàu có để xin giúp đỡ. Tất nhiên Phượng biếu ngay Tư một số tiền lớn tạo điều kiện để anh thực hiện dự định vẽ một bức tranh sơn dầu khổ lớn. Tuy nhiên, anh vẫn chưa quyết định mình sẽ vẽ gì ngoài những người chết đói nhan nhản trên đường phố.

“Bỗng anh nhắm mắt lại. Anh vừa thấy rồi. Bức tranh người chết đói của anh  phải làm lại. Không phải chỉ có người chết đói. Một người đàn bà, một người mẹ, một bà mẹ Việt Nam đang nhìn lên phía trước, người đàn bà ấy đang đi giữa lửa đạn, chiếc khăn quàng rơi xuống vai, đôi mắt bà mẹ đang nhìn thấy cái gì đó rất lớn lao đối với bà…”

“Cái gì đó rất lớn lao” đó chính là cách mạng, là phong trào cộng sản mà ông nhà văn đang loay hoay chưa kiếm được cái cớ  nào để nhét điều “cốt lõi” đó vào đầu ông hoạ sĩ cho dù hình ảnh bà mẹ đã rõ ra là hình ảnh “Người mẹ” của Maxim Gorki – hình ảnh một người mẹ công nhân, một người mẹ cộng sản.

Dịp đó đã tới khi có một anh “cán bộ Việt Minh” tới nhờ Tư vẽ một bức tranh cổ động để ủng hộ Việt Minh chống Nhật cứu nước. Anh nhờ Bích, cô gái điếm cầm cái đòn gánh để làm mẫu cho anh vẽ nữ du kích cầm súng.

“Trên tờ giấy đã hiện rõ hình cô du kích mặc quần áo chàm, cầm khẩu súng trường giơ lên vẫy gọi, đằng sau cô ta là cảnh đồi núi xanh và bây giờ Tư tô nốt màu lên lá cờ có ngôi sao ở giữa. Lá cờ được màu đỏ bỗng như bay phấp phới hơn và chấm vàng của ngôi sao cũng như sống lên…”

Như vậy là hoạ sĩ Tư đã đặt một chân vào cách mạng khi vẽ bức tranh này. Tuy nhiên, nó mới chỉ là một bức tranh cổ động, chưa phải là sáng tác phẩm chính thức của hoạ sĩ. Nguyễn Đình Thi đẩy chàng nghệ sĩ “dấn” thêm bước nữa: đưa hình ảnh cách mạng vào tranh sơn dầu khổ lớn mà anh vẫn tự giày vò trong bế tắc. Chàng hoạ sĩ như bỗng có một bước  nhảy vọt trong sáng tác:

“Bức tranh sơn dầu bây giờ như từ sương mù mà hiện lên rất nhanh. Tư vẽ tưởng chừng không cần nghĩ và không kịp dừng lại để thở nữa… Giữa cảnh người đói, người chết, bên cạnh bà mẹ, Tư đã vẽ thêm một người con gái… áo cánh nâu, tay cầm khẩu súng, đứng dậy nhìn về phía còn đang bắn nhau đằng trước và vội vã sắp băng mình chạy lên phía ấy…”

Thế là coi như Nguyễn Đình Thi chính thức đưa được hoạ sĩ Tư  đứng vào hàng ngũ văn nghệ sĩ cách mạng, ông đã vẽ người nữ du kích trong chiến đấu  bằng cả máu của mình:

“Tư lại ho, cơn ho ác nghiệt… rồi bỗng thấy trong miệng mặn nóng, trong cổ anh cứ trào lên, Tư kinh hoàng thấy nhiều máu quá.… Anh nằm mãi, mắt nhắm như ngất đi, mỗi lần hé mở mắt Tư lại nhìn thấy bức tranh của anh trên tường trước mặt. “Thôi phải làm gấp rồi. Tí nữa mình phải lau sạch các vết máu …”

Rồi người hoạ sĩ chết và người đọc không được biết bức tranh ông để lại giá trị bao lăm? Tuy nhiên không phải cứ chấm vào máu là vẽ thành kiệt tác. Hoạ sĩ Diệp Minh Châu lấy cả máu của mình vẽ chân dung Hồ Chí Minh mà tác phẩm của ông rốt cuộc cũng chỉ được treo trong bảo tàng cách mạng.

 

Sau cái chết của hoạ sĩ Tư, người đọc chờ đợi chứng kiến nỗi bất hạnh của cô gái điếm Bích, người đang chung sống như vợ chồng với anh, nhưng không, ông nhà văn đã bỏ qua chuyện đó và hướng  tác động của cái chết đó tới Phượng, mỹ nhân đất Hà Thành, vợ quan huyện Môn, người yêu cũ của hoạ sĩ  Tư.

Cứ theo như Nguyễn Đình Thi mô tả, Phượng là con gái nhà giàu ở hàng Đào, thời thiếu nữ đã có mối tình đẹp với hoạ sĩ Tư, nhưng vì anh nghèo quá, nàng tự ý bỏ anh đi lấy chồng giàu là quan huyện Môn. Có chồng rồi, Phượng vẫn ham yêu, ham sống, bắt nhân tình với hoạ sĩ thượng lưu Thanh Tùng rồi lại bỏ, quay lại xin hẹn hò với hoạ sĩ Tư nhưng bị khước từ. Từ đó, Phượng ngày càng chán huyện Môn, nhất là khi thấy chồng mình bắt bớ người cách mạng.

“Buổi tối hôm ấy, Phượng đi Hà Nội về, đã đến chín mười giờ đêm, vào đến cổng huyện cứ nghe tiếng huỳnh huỵch trong cái lô cốt, rồi tiếng người rên, rồi tiếng hắn lúc quát, lúc rít lên…Nói đi. Mày liên lạc với đứa nào ? Mày đóng tiền cho ai ? Có nói không ? …”.

Tuy thế Phượng chỉ ghê sợ chồng thôi nhưng không dám bỏ và vẫn ham chơi như đi coi hát, coi đá bóng, ham mặc đẹp:

“Phượng uốn nghiêng mình và rất ưng ý thấy trong gương, chiếc áo săng đay bằng len đen bó sát lấy thân nàng làm nổi rõ những đường nét, nhất bộ ngực còn rất tươi gọn, cái kiểu áo con trai làm cho thân hình Phượng nom càng trẻ thêm và hấp dẫn hơn…”

Một mỹ nhân Hà thành đang còn ham sống, ham hưởng thụ vậy mà khi nghe tin hoạ sĩ Tư, người yêu cũ bị chết, tâm trạng bỗng rơi vào hoảng loạn:

“Đời Phượng, hạnh phúc của Phượng, tất cả đã lỡ hết rồi. Tất cả mọi thứ, mọi người ở xung quanh bó buộc Phượng cứ phải kéo dài cuộc đời giả dối, nhạt nhẽo, vô ích với người đàn ông càng ngày càng xa lạ, đánh chán đáng tởm, vậy mà Phượng không thể  cựa quậy được…”

Thực ra hoạ sĩ Tư đâu có phải là “cuộc đời Phượng, hạnh phúc của Phượng”? Chính nàng đã ghê sợ cái cuộc sống nghèo túng của anh ta kia mà. Và đâu phải cái chết của Tư mới làm nàng nhận ra cuộc sống với chồng là giả dối, đáng tởm. Tạo ra  tâm trạng tuyệt vọng cho cô tiểu thư hàng Đào sau cái chết của hoạ sĩ Tư đã rất khiên cưỡng rồi, ông nhà văn còn đi xa hơn nữa: ép uổng tính cách nhân vật, đẩy cô tiểu thư đến chỗ tự tìm tới cái chết.

“Bây giờ chỉ còn mỗi cách nữa thôi: là chết đi. Ừ thật, tất cả bọn họ có thể có đủ mọi quyền đối với cuộc đời của Phượng, nhưng nếu Phượng muốn chết thì chẳng ai cấm đoán được, chẳng ai làm gì được…”

Thực  ra mọi người xung quanh nào bố mẹ, em gái, chồng, bồ cũ… có ai hành hạ gì, ép buộc gì cô ta đâu lẽ nào cô lại tìm cái chết chỉ để chứng tỏ “chẳng ai cấm đoán được mình…chết”. Và thế là:

“Phượng chống một bên tay nghiêng người nhỏm lên, rót một cốc nước rồi dốc cả ống thuốc ngủ vào đó. Ghê thật đã 6 giờ sáng rồi. Phượng ngồi lên, cầm cốc nước ngửa cổ uống cạn. Nàng thong thả đặt cái cốc xuống bàn, rồi nằm xuống kéo chăn đắp đến cổ và nằm nhắm mắt chờ nó đến không buồn không vui, không nghĩ ngợi điều gì nữa….”

Và rồi nàng chết, một cái chết “bức tử” do chính ông nhà văn giết chết nhân vật của mình chỉ để chứng tỏ cái xã hội cũ thời phong kiến đế quốc nó bế tắc, nó dồn con người ta đến chỗ tuyệt vọng vậy đó. Hoá ra giữa “uống thuốc ngủ tự tử” và “giác ngộ đi làm cách mạng”, Nguyễn Đình Thi đã chọn cho nhân vật của mình cái cách thà cho người đẹp tự tử, dẫu rằng “vô lý không có nhẽ” đi chăng nữa vẫn còn hơn bắt mỹ nhân xuống đường làm cách mạng.

Sau khi tiểu thuyết “Vỡ bờ” được xuất bản, các nhà phê bình “quốc doanh” xúm vào khen ngợi hết lời. Riêng cái chết của Phượng thì bị chê bởi vì “cách giải quyết tiêu cực quá, sao không cho cô Phượng … giác ngộ đi làm cách mạng ?”.

 

[B.T. – Có lẽ chỗ này tác giả Nhật Tuấn có lầm lẫn: Trong “Vỡ bờ” tập 2, Phượng tự tử nhưng được cứu, rồi ốm nặng; trong những ngày trước tổng khởi nghĩa, người ta thấy Phượng lặng lẽ cùng em gái ngồi may cờ; sau đó còn thấy Phượng có mặt ở sân ga Hàng Cỏ tiễn đoàn quân Nam tiến. Xem thêm: “Từ điển văn học, bộ mới”, 2004, mục từ “Vỡ bờ”, tr. 2013]

 

Nhạc sĩ Toàn là đại biểu sau cùng của giới văn nghệ sĩ Hà Nội được Nguyễn Đình Thi đưa vào “Vỡ bờ”. Sau khi cô người yêu người Nga, tên Nina, bỏ anh để tìm về với quê hương thân yêu đang có cách mạng vô sản, “cuộc đời nhạc sĩ của Toàn vẫn thất thểu mỗi ngày vẫn giống mỗi ngày không đem lại gì mới mẻ… cắp hộp đàn …đến tiệm rượu và hàng ăn “Con gà Gôloa” để chơi trong dàn nhạc mà ngoài anh là người Việt ra còn lại toàn người Phi Luật Tân, Nga, Hung, Áo…”.

May cho Toàn, ngoài công việc kéo đàn kiếm cơm, anh còn tìm được một công việc “có ý nghĩa” đối với cái nghiệp nhạc sĩ: “sưu tầm vốn cũ dân tộc”. Thật ra cái công việc này phải vài chục năm sau khi đã nắm quyền ở một nửa nước, Đảng mới phát động các nhạc sĩ rời bỏ đất thánh Hà Nội đi về các miền quê, miền núi để sưu tầm dân ca, nhạc cổ cho đúng với phương châm: dân tộc, khoa học và đại chúng mà Đảng đã đề ra cho công tác văn hoá văn nghệ. Ấy thế mà từ hồi còn mồ ma đế quốc phong kiến, không hiểu sao ông nhạc sĩ Toàn đã làm cái việc này rồi. Ông nhạc sĩ là người đi trước thời đại hay ông nhà văn Nguyễn Đình Thi đem cái công việc “nóng hổi tính thời sự” lúc ông đang viết “Vỡ bờ” để  gán cho người xưa?

“Bây giờ Toàn phải sục sạo, phải nhờ vả mối manh, phải chạy vạy, nhiều khi mất rất nhiều công vào đủ thứ việc chẳng dính líu gì tới âm nhạc cả rồi cuối cùng mới được vài giờ hoặc vài ngày ngồi nghe và ghi ít nét quan họ hoặc dăm điệu hát chèo…. Những khó khăn ấy càng làm cho Toàn thêm say với công việc của anh, cái say mê có đôi lúc hơi ích kỷ của một người đi vào khai phá một miếng đất hầu như chưa có dấu vết bàn tay người nào khác…”

Thực ra trong những năm ở Hà Nội người chết đói như rạ, chẳng hiểu có ông nào mải mê sưu tầm nhạc cổ như ông nhạc sĩ  Toàn này không, khó mà biết được. Qua câu chuyện Nguyễn Đình Thi đưa ra, người đọc ngày nay chỉ  thấy rõ chủ trương “sưu tầm vốn cũ dân tộc” của Đảng là rất sáng suốt, rất phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhạc sĩ từ ngày xưa. Ông nhà văn tranh thủ tuyên truyền đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng như thế này là rất điệu nghệ.

Để nhân vật nhạc sĩ Toàn tiến gần tới cách mạng, ngoài việc “sưu tầm vốn cổ”, Nguyễn Đình Thi phải tìm cho anh ta một hành động nào đó rõ ràng hơn thế. Một tối, Toàn đến tiệm để chơi đàn đã thấy Phêđô – một nhạc công người Nga “mở chai rươụ rót vào một loạt cốc và đứng nói với một vẻ hơi trịnh trọng: “Tối nay tao có một chuyện vui. Thôi chúng mày chạm cốc với tao và uống đi, tao chỉ đòi lại chúng mày một điều nhỏ thôi: tí nữa vào, chơi mở đầu bằng bài “Những người kéo thuyền trên sông Vonga”…”. Tại sao lại thế? tại sao chơi trong quán ăn của Pháp lại đòi mở đầu bằng nhạc Nga. Thì ra đây là chuyện ăn mừng chiến thắng của Hồng quân Liên Xô: “Phê-đô bỗng nháy mắt với Toàn và ghé tai anh rỉ khẽ: Stalingrát, mày biết chưa ? Ba mươi vạn quân Đức hàng rồi…”

Thế là từ hôm đó, cứ mỗi lần nghe tin Liên Xô thắng  trận, bọn Hitler thua một trận lớn, Toàn với Phê-đô lại chơi một bản nhạc Nga để “ăn mừng chiến thắng”. Một hôm, Phêđô “ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt ở đây” rủ Toàn “vượt biên giới sang Trung Hoa rồi đi xa nữa…”, nhưng Toàn từ chối.

Tại sao Toàn từ chối không đi ra nước ngoài kiếm sống dễ dàng hơn  Ông nhà văn lý giải:

“Nhưng Toàn không thể bỏ cái đất khốn khổ này mà đi đâu được. Hình như nếu anh bỏ đi bây giờ thì anh sẽ chỉ còn như cái cây đứt rễ. Nó sẽ héo khô đi rất nhanh chóng…”

Tại sao ra nước ngoài sống mà lại như cái cây đứt rễ trong khi chính ông nhà văn cũng thừa nhận: “Có bao nhiêu nhạc sĩ họ cũng phải bỏ đất nước nô lệ của họ mà ra đi, họ chỉ sống lang thang hết nước này sang nước khác, vậy mà chính nhờ thế mà họ làm nên sự nghiệp vẻ vang cho Tổ Quốc họ. Sôpanh, Báctốc và còn thiếu gì người khác ?”

Để xoá bỏ cái mâu thuẫn đó, Nguyễn Đình Thi đưa ra lý lẽ :

“Hình như trên cái đất nước đã quá cay cực này sắp có những chuyện gì, chưa biết, nhưng nó sẽ phải xảy cái gì, có lẽ sẽ rất dữ dội, kỳ lạ, dù sao cũng có cái gì đấy, có khi Toàn sẽ chết nhưng dù thế nào bây giờ Toàn cũng không đi được…”

Cái “dữ dội, kỳ lạ” sắp xảy ra mà ông nhà văn không muốn nói toẹt ra đó, chính là: cách mạng. Lúc này Việt Minh đã hoạt động rần rần ở các thành phố, cuộc khởi nghĩa giành chính  quyền sắp nổ ra, một nghệ sĩ trí thức yêu nước qua “sưu tầm dân ca nhạc cổ” như Toàn không có lý gì lại bỏ ra nước ngoài đi trốn cái sự kiện lớn lao ấy. Đó chính là lý do ông nhà văn không cho phép Toàn theo Phêđô vượt  biên ra nước ngoài sinh sống chứ chẳng phải do tính cách của chàng dẫn chàng tới quyết định đó. Lại một lần nữa hành vi của  nhân vật tiểu thuyết bị ý muốn chủ quan của nhà văn ép buộc khiến người đọc khó mà tin nổi.

 

Những nhân vật văn nghệ sĩ Hà Nội như nhà văn Hội, hoạ sĩ Tư, nhạc sĩ Toàn… do Nguyễn Đình Thi rất quen thuộc nên họ được mô tả với niềm hứng khởi thực sự, tạo được một số trang khá sinh động trong “Vỡ bờ”. Tuy nhiên trong cuốn tiểu thuyết này, Nguyễn Đình Thi không chỉ nhằm giới trí thức văn nghệ sĩ. Tham vọng ông lớn hơn nhiều, ông muốn dựng lên một bức tranh hoành tráng về toàn cảnh xã hội Việt Nam vào đêm trước của cách mạng, bởi thế nông dân và công nhân,  những nhân vật tạo nên “quần chúng công nông” – nòng cốt của cách mạng là không thể thiếu trong tác phẩm. Tiếc thay loại nhân vật này, Nguyễn Đình Thi lại chưa “thuộc” cho lắm, dưới con mắt ông họ chỉ là những sinh linh nhỏ bé bị địa chủ và tư bản bóc lột. Vạch một ranh giới tuyệt đối giữa nông dân và địa chủ, công nhân và tư sản  là quy phạm bắt buộc đối với các nhà văn cách mạng. Đảng yêu cầu họ phải đứng vững trên lập trường giai cấp khi miêu tả những mối quan hệ này. Không được phép  đi sâu vào những tâm tình rắc rối, đậm mầu nhân tính như bài thơ:

“Anh trót yêu con địa chủ

Quá yêu rồi biết bỏ sao đành

Vì chưng nó đẹp nó xinh…”

Không được, dù đứa con gái có đẹp có xinh, người cách mạng cũng tuyệt nhiên không được mảy may rung động một khi nó là “con của giai cấp bóc lột”. Với “chúng nó” chỉ có đánh đổ toàn bộ, đào tận gốc, trốc tận rễ, dứt khoát không cho ngóc đầu dậy, làm gì có thứ tình cảm “trót yêu” vậy được. Địa chủ, tư sản là xấu xa, thối rữa, công nông là tốt đẹp, ưu việt − tất cả các nhà văn VN đều phải tâm niệm điều đó, và hơn ai hết, vốn là quan văn nghệ, nhà văn Nguyễn Đình Thi càng phải gương mẫu tuân thủ giáo điều đó. Từ những năm 1950, sau khi biên giới Việt Trung được khai thông, bác Mao gửi cho cả giới văn học nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt các nhà văn một “quà tặng” quý giá : bộ phim truyện “Bạch mao nữ”.

Phim kể về một  cô gái bần cố nông đi ở cho địa chủ bị hành hạ hết sức dã man, không chịu nổi phải trốn lên rừng hoang ở và biến thành một người đàn bà tóc tai trắng toát giống như bóng ma trên rừng. Phim được chiếu cho tất cả cán bộ và nhân dân coi gây nên một lòng căm thù rực lửa đối với giai cấp địa chủ – mặc dầu trong phim là địa chủ… Tàu. Tại các buổi chiếu phim cho bộ đội coi, người ta đã phải thu hết súng ống cất đi, bởi lẽ nhiều đồng chí coi phim căm thù quá, cứ nhè màn ảnh mà nã đạn. Phim “Bạch mao nữ”  có tác động đặc biệt tới giới văn nghệ sĩ. Nó là một khuôn mẫu cố định, sinh động về mối quan hệ “nông dân – địa chủ”. Nó là thước đo, chuẩn tắc cho mọi sáng tác về đề tài đó, cấm không được khác đi. Cái khuôn mẫu “nhập ngoại” quái ác này thực sự đã bó buộc tất cả mọi sáng tác của nhà văn Việt Nam viết về làng quê Việt nam đều phải bầy tỏ một lòng căm thù “muôn đời , muôn kiếp không tan” với giai cấp địa chủ và niềm tin yêu vô hạn với những người nhà quê xông lên làm cách mạng. Rất nhiều  nhà văn “gạo cội” đã phải nhào nặn tác phẩm của mình theo khuôn mẫu đó. Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…ra sức “sáng tác” những tiểu thuyết viết về “đề tài nông thôn” kiểu như “Truyện anh Lục”, “Mẹ con đồng chí Chanh”, “Nông dân với địa chủ”… tạo nên một sự chia rẽ kinh hoàng cả về ý thức lẫn tinh thần trong cộng đồng những người sống bằng cây lúa ở Việt Nam cho mãi tận bây giờ vẫn còn chưa được giải độc.

“Vỡ bờ” với tham vọng phản ánh cả một phong trào toàn xã hội “vùng lên” làm cách mạng tháng Tám nên không thể thiếu hai nhân vật cốt lõi là “nông dân” và “công nhân”. Ông đã “đẻ” ra nhân vật  “nông dân” là cô gái tên Xoan, “công nhân” là chàng trai tên Mầm và tất nhiên hai người phải yêu nhau cho thêm thắm thiết hình tượng công nông liên minh.

Có khi nào Nguyễn Đình Thi xé rào ra khỏi “khuôn mẫu” nông dân – địa chủ mà Đảng đã yêu cầu qua phim “ Bạch mao nữ” từ hồi còn kháng chiến chống Pháp không?

Hoàn toàn không, ngược lại còn đi “quá đà” vượt cả yêu cầu của Đảng là khác.

Cô Xoan, con nông dân nghèo, do nợ nần phải gán cho địa chủ nghị Khanh. Tên này độc ác, tham lam ra sao với bà con trong làng, với bạn bè và với cả người trong gia đình, Nguyễn Đình Thi đã dụng công “bôi đen” trong khá nhiều trang sách rồi. Riêng với Xoan, tên địa chủ này xử sự tàn tệ không kém gì địa chủ trong “Bạch mao nữ”  ngày trước. Hoá ra cái bộ phim Tàu quái ác này đã ăn quá sâu vào trong tâm tưởng của ông nhà văn. Khi Xoan tới làm “nô lệ” lúc còn bé, lão nghị Khanh chẳng thèm để mắt tới, nhưng khi cô lớn lên, bỗng một hôm lão Nghị Khanh nhận ra “cái thân thể khoẻ mạnh tươi trẻ của người con gái”. Lão nghĩ bụng “cái vóc mình ấy, hai con mắt ấy, cái ngực ấy, hai bắp đùi ấy… Không gì bằng tuổi trẻ thật”. Thế rồi “ lão lại thấy sững sờ cả người, chẳng kém gì ban chiều, lúc lão bỗng dưng đi qua buồng ăn, trông thấy Xoan đang rướn người lên lau cái cửa kính…”. Thế là lợi dụng lúc vợ vắng nhà, lão quyết chiếm đoạt Xoan cho bằng được :

“Lúc Xoan đem nước sôi lên, nghị Khanh đã nằm đắp chăn trên giường. Cô gái đặt hai cái phích to lên chiếc bàn ở góc buồng rồi quay nhanh ra cửa. Lão Nghị quát lên:

“ Sao mày lại đặt đấy. Mở ngăn kéo lấy hai cái túi cao su cho tao…”

Xoan ngồi xuống ghế, mặt cô cúi xuống, hai cánh tay khép lại che đầu gối… Nghị Khanh ngồi nhỏm lên thò tay nắm lấy cổ tay cô gái:

“ Thôi, lại gần đây ông thương. Đây, ông cho chục bạc, em cầm lấy rồi mai ông cho nữa…”

Xoan như phải bỏng, giật mình, muốn co tay lại nhưng tay lão Nghị đã nắm chặt lấy cổ tay cô, như cái kìm và kéo cô lại bên giường…”

Lần đó Xoan thoát được tay lão nghị Khanh vì cô cố vùng vẫy bằng sức cô gái “tuổi mười  bảy bẻ gãy sừng trâu”. Nhưng rồi thân gái “nông dân” trong hang hùm “địa chủ”, làm sao giữ được trinh trắng ? Lần này không phải lão nghị Khanh mà thằng Tường, con trai lão gây chuyện. Thằng này mới trên Hà Nội về thăm bố “hai mắt nhìn chòng chọc vào cô gái, bữa nay Xoan ăn bận sạch sẽ càng dễ ưa”. Thằng Tường là thanh niên hư đốn, lão luyện trong “nghề chơi”, ngây thơ , trẻ trung như Xoan làm sao thoát?

Đêm hôm đó “xong công việc hai mắt cô gái cứ muốn ríu chặt lại. Khi về đến cái buồng nhỏ tối om đặt mình xuống là Xoan ngủ ngay không biết gì nữa.”. Một cô gái hơ hớ, đã từng bị lão chủ đòi hãm hiếp, bắt gặp cái nhìn hau háu của thằng con trai lão chủ, vậy mà  Xoan không hề “nâng cao cảnh giác” cứ về phòng ngủ “vô tư”, lại còn không đóng cửa buồng để đến đêm “đang ngủ mê mệt, bỗng một cái gì đè mạnh lên mặt Xoan làm cô choàng dậy, muốn hét lên nhưng trong bóng tối một bàn tay đã bịt chặt lấy miệng cô, nhét một cái khăn bông vào…” .  Nhưng lần này bằng sức trẻ Xoan cũng chẳng tự cứu được mình bởi vì “không phải chỉ có một đứa, Xoan nghe chúng nó thở sát tận mặt, cô bị bóp cổ dằn mạnh xuống, gáy cô như bị một cái kìm kẹp chặt, làm tê dại cả đầu óc…Xoan không thở được nữa, không kêu được nữa, nước  mắt chảy ra giàn giụa…tất cả tối đen hết…”

Vậy là thằng bố chưa kịp làm, thằng con và lũ bạn đã cướp đi sự trinh trắng của cô gái nông dân ở đợ – tội ác của giai cấp địa chủ lại càng chồng chất cao hơn khi  sáng hôm sau, Xoan trở dậy và “rón rén ngồi lên, rồi thả chân xuống đất, đứng dậy ra góc buồng tìm mấy quãng giây thừng nối lại với nhau và trèo lên một chiếc ghế đẩu ném một đầu dây lên xà nhà, với tay kéo cái đầu dây xuống, buộc một cái thòng lọng…”

Vậy là Xoan tự tìm tới cái chết để trốn nỗi nhục nhã đêm qua. Trước khi chết, cô nghĩ tới người yêu “anh Mầm ơi, thôi không bao giờ anh thấy mặt em nữa đâu”, cô tố cáo tội ác của giai cấp địa chủ  và đặt ra một loạt  câu hỏi mang ý nghĩ “giác ngộ giai cấp”:

“ Tại sao tao cũng là người, chúng mày cũng là người mà chúng mày lại có quyền sai bảo, mắng chửi, hành hạ, làm hại tao ? Tại sao chúng mày có quyền vợ chồng cha mẹ con cái đề huề mà lại bắt tao phải quanh năm ngày tháng không được thấy mẹ tao, các em tao. Tại sao cả nhà chúng mày ăn sung mặc sướng muốn làm gì thì làm mà cả nhà tao lại suốt đời đói khát, cái gì cũng phải sợ sệt ?”

Và rồi cô bày tỏ lòng căm thù cao độ, buông lời nguyền rủa kẻ thù giai cấp :

“Tao chết đi sẽ còn là cái hồn oan, trở về bóp cổ chúng mày. Tao chết đi sẽ còn làm chúng mày ăn không ngon ngủ không yên. Hễ mẹ con cha con chúng mày nhìn nhau là trông thấy cái oan hồn của tao…”

Thật không có lời tố cáo nào sâu sắc hơn, lời nguyền nào độc địa hơn. Sau khi làm xong “thủ tục” đó,  “Không nghĩ ngợi gì nữa, trong người sôi lên như lửa, Xoan lại đứng trên chiếc ghế đẩu, tay nắm lấy vòng dây thừng choàng vào cổ rồi đạp mạnh. Chiếc ghế đẩu lăn bắn đi lộc cộc trên nền nhà lát gạch…”

 

 

Là nhân vật tiêu biểu cho nông dân bị phong kiến bóc lột, vùng lên làm cách mạng nên dẫu đã treo cổ lên trần nhà rồi, Xoan cũng không…được chết, cô phải sống để qua cô tác giả trình bày sự đổi đời của giai cấp nông dân đi theo Đảng. Bởi vậy đúng lúc cô sắp tắt thở, bà cụ Đen chăn bò bên hàng xóm tình cờ chạy sang, cuống quít cắt dây treo cổ và la hoảng:

“Xoan ơi, Xoan…Mày tỉnh chưa con? Tội nghiệp con bé.. Sao mày dại dột thế Xoan ơi.”

Và thế là Xoan không chết nữa, cô phải sống để nuôi máu căm thù giai cấp địa chủ,  đợi ngày Đảng giải phóng cô và cho cô đoàn tụ với người yêu là Mầm vốn là công nhân để hoàn thành biểu tượng “liên minh công nông” mà ông nhà văn muốn tô vẽ.

Mầm là thanh niên trong xóm, bỏ làng lên Hải Phòng làm công nhân bị Pháp bắt đi tù vì tham gia đấu tranh, đến ngày Nhật đảo chính Pháp thì trốn tù. Bằng vào số trang giành cho từng loại nhân vật, người ta thấy rõ Nguyễn Đinh Thi quen thuộc với “trí thức văn nghệ sĩ” hơn là loại nhân vật đang trở thành “trung tâm thời đại” như nông dân và nông dân. Ông chỉ mô tả qua loa quá trình biến đổi từ anh thanh niên làng quê thành anh thợ xi măng Hải Phòng của Mầm, minh hoạ cho quan điểm Mác Lê là sự bần cùng hoá người nông dân đã dẫn tới sự ra đời của giai cấp công dân, ngay cả những năm tháng trong tù vôn vẫn được coi “nhà tù là trường học” cũng được lơ đi không nói tới. Trong khi đó những chuyện “phiêu lưu đường rừng” lại được kể lể khá kỹ càng trên đường Mầm trốn từ trại tù về nhà.

Nào “khỉ, rắn, trăn gió cả cọp nữa họ đã gặp đủ cả, những đêm nằm dài trên một chiếc chòi nát bỏ hoang mà nghe tiếng nai gộ giữa rừng khuya, sao mà buồn nẫu ruột gan…”.

Nào “đi men theo con suối lớn  họ bỗng trông thấy hai người đàn bà Mường mặc quần vải đen, áo dài năm tà, tóc búi ngược trên đầu , đang giặt …Họ không dám thò ra, cứ theo men suối nấp trong cây đi lên, lại gặp thêm từng tốp đàn bà con gái nữa cũng ăn mặc như thế cả, tốp thì giã gạo, tốp thì gánh nước… nom cứ tưởng gặp tiên…” …

Lẽ ra để khắc hoạ hình tượng “anh công nhân cách mạng” mang tính  kỷ luật, tính tiền phong của Đảng, Nguyễn Đình Thi phải đặt Mầm vào những khó khăn, khắc nghiệt, những thử thách gian truân qua đó trui rèn phẩm chất cách mạng. Đằng này không, ông đưa ra toàn những chuyện tào lao như “chuyện đường rừng” kể  trên, kéo dài cho dầy cuốn tiểu thuyết  mà chẳng dính dáng gì tới việc xây dựng tính cách mới cho người “anh hùng mới” của thời đại là Mầm. Đi hết đoạn đường rừng, xuống làng xóm dưới đồng bằng, tác giả cho anh Mầm tiếp cận cách mạng bằng cách lân la hỏi chuyện một… anh lính bảo an:

“Hai người bước đi im lặng, anh lính trốn vẫn chống gậy, từng tiếng cốp cốp trên đường. Mầm lại hỏi :

“Việt Minh ở trên Thái Nguyên người ta thế nào ?”

“Có trông thấy đâu mà biết. Chỉ nghe nói các ông ấy bắn giỏi lắm … các ông ấy bắn chết ngay thằng quan hai, rồi toàn nhắm vào tụi Tây thôi, còn lính mình thì các ông ấy bắn qua đầu gọi bảo chạy đi…”

Chi tiết này mới nghe qua thấy bộ đội ta thật “nhân đạo”, chỉ đánh thằng “mắt xanh mũi lõ”, còn “mũi tẹt da vàng” thì tha bổng, tuy nhiên từ  trước tới nay Đảng vẫn yêu cầu “tiêu diệt sinh lực địch, đánh sập chính quyền cũ”, hoá ra “hư cấu” của ông nhà văn sai đường lối của Đảng! Thực tế, khi đã lâm trận, bộ đội ta cứ nhằm thẳng kẻ thù mà bắn đâu có phân biệt tây ta, chuyện đó chỉ là sự bịa đặt vụng về của ông nhà văn nhằm ca ngợi anh lính Việt Minh buổi sơ khai.

Mầm về tới làng trong cảnh chết đói đầy đường:

“hàng nghìn người sống dở chết dở, cái đói đốt ruột đốt gan không buông tha lúc nào, đầu óc mê hoảng chỉ còn biết tìm xem đâu còn cái gì tạm ăn được nữa không ?”

Rồi chính mắt Mầm chứng kiến

“Không phải một người mà là hai mẹ con… Người đàn bà nằm ngửa đầu tóc xoã ra, lẫn vào bụi cát. Dưới ánh trăng mờ nhập nhoạng, khuôn mặt chị nhoà đi, chỉ trông thấy đen đen cái lỗ miệng há ra và hai con mắt. Hai con mắt trợn to, trắng dã, trừng trừng không nhắm lại được. Một cánh tay gầy guộc của người đàn bà chết đói vẫn quặp chặt lấy đứa con… cổ nó khẳng khiu như không mang nổi cái đầu, toàn sọ, vẹo sang một bên, nằm áp vào quãng ngực khô đen của người mẹ…”  .

Trong hoàn cảnh kinh hoàng như vậy, lẽ ra Mầm phải tìm ngay người yêu là Xoan coi cô sống chết ra sao sau bao năm xa cách, nhất là có đang ngắc ngoải vì đói không để còn cứu vớt. Nhưng mà không, anh chỉ về qua làng rồi biến ngay đi để tìm…cách mạng.

Tính cách bàng quan, vô trách nhiệm với người yêu như vậy chắc không phải của anh công nhân Mầm, chẳng qua nhà  văn chưa muốn hai người gặp nhau trong lúc này: Xoan mới bị thằng Tường con trai địa chủ Khanh hiếp dâm, giờ gặp lại người yêu cũ tâm trạng cô sẽ ra sao đây? Quả thực là vô cùng phức tạp. Rồi thì Mầm cũng ở tù lâu năm mới trốn trại ra chưa có “thành tích”, “sự nghiệp ” gì. Bởi thế  Nguyễn Đình Thi đành phải “hoãn” cuộc “trùng phùng”  giữa  hai nhân vật  thời đại vào cuối truyện, khi mà cách mạng đã thắng lợi, cuộc đời cũ chấm dứt vĩnh viễn, cuộc đời mới đang mở ra, bao nhiêu chuyện lớn lao đang tràn ngập tâm hồn, còn cái chuyện “mất trinh” vì thằng con địa chủ là chuyện nhỏ, chẳng là cái đinh gì, bởi thế khi gặp lại người yêu cũ, cô Xoan đã hoàn toàn quên bẵng chuyện đó, không nhắc nhở gì tới kẻo giảm sút niềm vui chiến thắng. Tuy nhiên để đi tới được “trùng phùng” đó, Mầm phải trải qua nhiều đoạn đường lập công với cách mạng cho tỏ mặt anh hùng.

Từ một anh tù vượt ngục chẳng hiểu mô tê gì ngay hiểu biết về Việt Minh cũng phải hỏi anh bảo an binh, ấy thế mà chẳng hiểu sao, đùng cái, Mầm lại có mặt trong một cuộc hội nghị cán bộ quan trọng. “Sau khi anh Lê – (cán bộ Đảng cao cấp) phổ biến nghị quyết của Trung ương về việc thành lập các chiến khu thì hội nghị càng sôi sục hẳn lên. Các đồng chí đề nghị gấp rút xây dựng một chiến khu cho vùng Yên Tử, Đông Triều rồi sẽ mở rộng ra cả vùng ven biển….Bao nhiêu công việc to lớn, tỉ mỉ, bề bộn mà cái hạt nhân để lo tất cả một núi việc như thế chỉ có ít người ngồi đây… Nhưng họ như không biết sợ, ngại gì cả, chỉ muốn xông ngay vào lò lửa…”.

Một “số ít người” quan trọng  vậy, nếu chưa phải Trung Ương Đảng thì ít ra cũng là xứ uỷ, vậy chẳng hiểu sao anh thợ trốn tù  Mầm của Nguyễn Đình Thi thoắt cái đã trở thành một yếu nhân họp hội nghị đó. Rồi chỉ ít tháng sau, Ban lãnh đạo chiến khu Đông Triều thành lập trung đội du kích đầu tiên của Đảng gồm ba người, Mầm được cử ngay làm chính trị viên.

Không bỏ qua cơ hội bày tỏ lập trường, Nguyễn Đình Thi hết lời ca ngợi đơn vị vũ trang đầu tiên của Đảng:

“Tất cả vai khoác súng trường, thắt lưng giắt lựu đạn, đứng nghiêm im phăng phắc, nghe đồng chí chỉ huy của họ thề hy sinh chiến đấu dưới lá cờ cách mạng thiêng liêng. Từ nay họ sống chết có nhau, cùng bước vào cuộc đời người lính của cách mạng, được Đảng giao cho cầm súng trong tay để giải phóng đất nước, đồng bào. Họ chưa biết con đường chiến đấu của họ sẽ dài bao nhiêu, những gian nan nguy hiểm, những đau thương hoặc vui sướng của họ sẽ thế nào, nhưng họ biết những lời thề hôm nay sẽ không bao giờ họ quên được…”

Thật rõ ra là hình ảnh của Đội tuyên truyền giải phóng quân của Đảng, tiền thân của bộ đội cụ Hồ. Chỉ có điều, ở ngoài đời thực nó được ông Võ Nguyên Giáp nguyên là giáo học có đôi chút chữ nghĩa chứ không phải cái nhà anh Mầm nhân vật của Nguyễn Đình Thi, xuất thân nhà quê thất học, lên tỉnh làm thợ bị tù rồi trốn trại trở về.

Sau khi “đôn” Mầm lên thành cán bộ quân đội, “đánh giặc liên miên ngoài Tiên Yên Ba Chẽ , vừa dẹp thổ phỉ, vừa phải chọi nhau với quân Tưởng, lại còn lũ quân Việt cách nữa, vừa rồi phải ra tận ngoài đảo Cô Tô bắn nhau với tàu chiến của tụi Tây một  trận. Đến dăm lần bảy lượt  hút chết…”, chất cho anh chiến tích đầy mình, nhà văn mới cho Mầm trở về gặp Xoan, trùng phùng trong “ngày hội lớn  của dân tộc” thắm đượm tình “liên minh công nông” – hai giai cấp được tin yêu nhất của Đảng và cách mạng.

                               

Một trong những bi kịch cốt lõi của các nhà văn cách mạng, đặc biệt các “đồng chí” đã dính vào chức quyền như Nguyễn Đình Thi là ông nào cũng được Đảng úp lên đầu một cái mũ kim cô có tên là “chính trị là thống soái”.

Vậy  “chính trị là thống soái” là thế nào ?

Là tuốt luốt mọi thứ từ “thủ pháp nghệ thuật” cho tới “lô-gích của nội dung” đều phải điếu đóm theo hầu chính trị. Trong cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc”, ông Hồ Chí Minh dưới bút hiệu XYZ đã thẳng thừng đặt cho các nhà văn những câu hỏi cốt lõi theo kiểu thầy dạy trò:

“viết cho ai ? viết như thế nào ? viết để làm gì ?”

và lẽ dĩ nhiên câu trả lời tức khắc phải là:

“viết cho quần chúng công nông binh – viết cho dễ hiểu  –  viết để phục vụ quyền lợi của cách mạng…”.

Vậy là “công việc viết văn” của các nhà văn cách mạng trở nên hết sức dễ dàng khi yêu cầu nghệ thuật chỉ là “viết sao cho dễ hiểu”, chớ có biểu tượng nhiều mặt, chớ có đa thanh, đa nghĩa, đa chiều, chớ có tìm tòi, cách tân “ngôn ngữ nghệ thuật” mô-đéc mô điếc làm gì nhức đầu nhức óc  quần chúng công nông binh, mở sách ra mù tịt chẳng hiểu gì.

Về nội dung lại càng “ngon ăn” hơn – bất chấp trần gian muôn màu ra sao, cuộc đời đa đoan thế nào, nhà văn khỏi đi sâu thám sát và phát hiện những bí ẩn của nhân tính, khỏi mổ xẻ những ca tâm lý phức tạp, những chiều kích dị thường trong tâm hồn con người, các “cán bộ viết văn” chỉ cần diễn tả mọi nhân vật, mọi sự kiện sao cho có lợi cho cách mạng bất chấp sự thực của đời sống là tốt rồi.

Các nhà phê bình quốc doanh thường đòi hỏi các nhà văn “phải hy sinh lô-gích của hiện thực cho lô-gích nội dung”, nói toạc móng heo ra là người cầm bút phải sẵn sàng nhào nặn và bóp méo hiện thực miễn sao phục vụ được yêu cầu của chính trị vốn là sứ mạng cao nhất của nhà văn cách mạng. Thô thiển hơn nữa, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một gương mặt văn hoá mác-xít tiêu biểu của VN,  một thời yêu cầu các nhà văn phải “mô tả hùng hồn hơn nữa thời đại của chúng ta…” . Vậy chỉ được  ca ngợi và ngợi ca mà thôi chứ sự oán thán thì đâu có “hùng hồn”?

Phần kết của trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi là một minh chứng sinh động cho các ý kiến nêu trên.

Một sự thực hiển nhiên là cuộc cách mạng tháng Tám đã lôi cuốn được một bộ phận đông đảo dân chúng Việt Nam tham gia trong đó có rất nhiều  cư dân sống ở thành phố và đô thị, đặc biệt là trí thức văn nghệ sĩ.  Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là khắp thiên hạ ai cũng làm cách mạng và càng không có nghĩa  cứ theo Việt Minh là “giác ngộ cộng sản”. Do nhiều nguyên nhân lịch sử, còn một bộ phận không nhỏ hoặc đã chống lại hoặc đã đứng ngoài cuộc cách mạng đó với tư thế “trùm chăn” chờ thời – đó là một sự thực hiển nhiên của thời đại. Ấy thế nhưng với cái mũ kim cô “chính trị là thống soái” ở trên đầu, nhằm tô vẽ cho cuộc cách mạng,  Nguyễn Đình Thi đã “lùa” toàn bộ nhân vật của “Vỡ bờ” đi theo Việt Minh ngoại trừ những phần tử phản động trong giai cấp tư sản và địa chủ.

Trước hết là ông giáo Hội kiêm nhà văn, tác giả tiểu thuyết  “Đồng Chiêm”. “Thật không ai ngờ được và chính Hội cũng không ngờ được mình lại thành một ông Việt Minh ở giữa Hà Nội như thế này…”. Không tù đầy, không bị giam giữ, ông nhà văn Hội làm cách nào trở thành “ông Việt Minh” nhanh như thế ? Hoá ra ông chỉ làm cái việc “đi khắp từ các đầu ô cho đến phố nội thành để tới gặp hết người nọ đến người kia trong đám các trí thức của đất ngàn năm văn vật…”. Chính vì tham vọng mở rộng “Vỡ bờ” thành một bức tranh hoành tráng diễn tả toàn dân đi làm cách mạng, nhưng lực bất tòng tâm nên Nguyễn Đình Thi đành diễn tả cả quá trình giác ngộ Việt Minh của ông nhà văn kiêm nhà giáo sơ sài có vậy.

Trí thức đi theo cách mạng thì phải có thưởng chớ? Có ngay, liền sau đó Nguyễn Đình Thi vội vàng cho ông nhà văn Hội được  bầu làm Chủ tịch Uỷ ban giải phóng xã và sau đó tiểu thuyết “Đồng Chiêm” của ông được tái bản lãnh mấy trăm đồng nhuận bút về đưa vợ. Tuy nhiên cái “thành quả” cao nhất đi theo cách mạng đối với ông nhà văn này là được…kết nạp Đảng thì Nguyễn Đình Thi chưa nói tới, chắc còn để lại cho Hậu Vỡ Bờ mà sau này ông không còn thời gian và hứng thú để thực hiện nó.

So với ông nhà văn Hội, nhạc sĩ Toàn chậm đến với cách mạng hơn; anh vẫn đi kéo đàn cho các quán rượu để kiếm sống và mua hoa tặng bạn gái. Thế rồi khi được gặp một anh nhà báo và được biết  “mọi thứ đều đến chỗ nước rút rồi đấy ông ạ. Chỉ trong khoảng vài ngày là rõ ra mọi thứ. Bây giờ chưa biết ai mấy hôm nữa ở chỗ chúng mình đang ngồi đây sẽ thế nào. Người  ta đợi Việt Minh…”, ông nhạc sĩ bỗng tỉnh ngộ và tự sám hối: “Chết thật, mình ở trên mây, không biết gì cả…”.Toàn nghĩ thầm và vừa đi nhanh vừa nhìn bó hoa hồng trên tay.”  Tuy ông nhà văn không nói rõ ra, nhưng người đọc hiểu được từ nay ông nhạc sĩ sẽ chấm dứt những trò tặng hoa phù phiếm để đi theo cách mạng làm những việc thiết thực hơn.

Ông giáo Điềm, chú họ của Hội, sau một thời gian dài “trùm chăn” coi sao, giờ cũng đã giác ngộ, hỏi ý kiến ông cháu:  “Anh xem như tôi lên chiến khu thì có được việc gì không ? Có lẽ trên ấy tôi cũng có thể giúp các anh về quân sự được. Gần đây tôi đọc kỹ Tôn Tử lắm. Thế anh làm thế nào cho tôi đi ngay bây giờ được thì tốt…”. Thế là một ông thầy nho già xung phong lên chiến khu để huấn luyện quân sự cho bộ đội chỉ vì ông đang tôn sùng binh pháp của Tôn Tử:  “Này, khi Napôlêông chết, người ta tìm thấy trong túi hắn một quyển Tôn Tử đấy. Thì ra mấy thằng châu Aâu toàn học lỏm của Á Đông mình…”. Ông đồ già đến với cách mạng như vậy cũng đã là hoả tốc rồi, vậy mà ông còn than thở, tỏ vẻ hối tiếc: “Tôi thật chậm hơn các anh mấy chục năm. Phí mất nửa đời người…”. Quả thực “trường hợp giác ngộ” của ông Giáo Điềm nếu không là một giai thoại tiếu lâm thì cũng là một tưởng tượng…tầm phào của ông nhà văn.

Tất nhiên lớp người trẻ đến với cách mạng phải được nhà văn diễn tả “rầm rộ” và “khí thế” hơn nhiều. Phi là một cô gái con nhà giàu, quanh năm chỉ đi học và rong chơi như một con bướm. May mắn cho cô được người yêu là Đông – một người hoạt động bí mật cảm hoá, thế là bỗng chốc Phi trở thành một “nữ chiến sĩ cách mạng” cầm đầu đoàn biểu tình đi đấu tranh với Nhật :

“Phi vẫy cả đoàn vượt qua đám đông ở đây, đi vượt lên nữa. Trên thềm nhà hát lớn từng tốp lính Nhật quỳ hoặc nằm sau những khẩu súng máy đã bắc càng sẵn sàng…”

Thế là thông qua cô bạn phiên dịch, cô nữ sinh đấu lý với đám sĩ quan Nhật khiến họ phải thả các công nhân bị bắt ra, rồi lại còn trả lại cả súng cho họ nữa. Sự hiên ngang, dũng cảm của Phi làm viên sĩ quan phải trầm trồ khen ngợi: “Thấy Việt Nam bây giờ mà thèm, từ người con gái, đàn bà con gái cũng gan dạ, rắn rỏi, kiểu này khi trở về Nhật chắc sẽ …mổ bụng tự vẫn…”

Ghê thế đấy, gương đấu tranh của một cô nữ sinh, tiểu thư Hà Nội cũng đã làm cho sĩ quan Nhật phải cảm phục đến thế, vậy những người cách mạng thứ thiệt thì còn thần kỳ tới đâu. Tất nhiên những người đó phải là gia đình ruột thịt của những cán bộ cộng sản đã hy sinh. Như cô Quyên, em gái của Khắc – lãnh tụ cách mạng đã chết trong tù, được Lê cũng là một cán bộ cộng sản cao cấp khuyến khích, cô cũng thoát ly gia đình đi làm cách mạng chuyên nghiệp. Chỉ sau một thời gian, Quyên đã trở thành một chỉ huy du kích đánh một đồn mà thực ra là trường võ bị của Nhật mở ra để đào tạo đám thanh niên Đại Việt.

“Thôi ta cứ vào thôi” – Quyên hét to lên với anh em và vượt lên đầu , chạy đến cổng đồn mở toang một bên. Anh em chạy đi rồi, Quyên quay sang mấy anh du kích: “Hễ thằng nào định giở trò, các đồng chí cứ bắn chết ngay tại chỗ. Còn đồng chí nào có lựu đạn không ?…”

Thật không thể hiểu nổi, vì sao từ một cô gái quê rụt rè, suýt nữa chịu làm vợ bé cho ông Chánh hội trong làng, vậy mà đùng một cái Quyên trở thành một nữ chỉ huy du kích say máu và giết người không ghê tay đến vậy. Chắc là vì không khí cách mạng  khẩn trương, cấp tập đang đến gần nên ông nhà văn cũng phải vội, đành bỏ qua “cái quá trình trở thành” mà chỉ trình bày cái kết quả và người đọc đành phải chấp nhận hình tượng cô gái quê trở thành chỉ huy du kích “ăn gan uống máu quân thù” như vậy là có thực…

 

“Tức nước” lẽ dĩ nhiên phải “vỡ bờ”. Cảnh vật sau khi “vỡ bờ” thường đổ nát, tan hoang, hỗn loạn không khác gì một cơn bão, một trận động đất hoặc cơn sóng thần quét qua. Vậy nhưng cảnh tượng sau “vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi hoàn toàn ngược lại, nó được sắp xếp thứ tự lớp lang đâu ra đó, kẻ có tội với nhân dân nhất định bị trừng trị, người có công với cách mạng sẽ được tưởng thưởng nhiều hay ít tuỳ theo mức độ đóng góp. Cái kết cuộc của cuốn tiểu thuyết trường thiên được ông tác giả gia công, sắp xếp theo nguyên tắc đó, chính xác, chi li, tỉ mỉ không thua gì một ông già tỉa hoa thuỷ tiên  nhân ngày tết.

Trước hết gia đình nghị Khanh, địa chủ đầu sỏ phản động bị anh Côi, nguyên là bần nông thay mặt cách mạng đến tận nhà bắt giam, thằng Tường, con trai đầu chạy theo … lính Tàu, chống lại cách mạng, quan huyện Môn bị dân nổi lên giết chết…tóm lại, số phận “giai cấp thống trị” không “đứa nào” thoát được “lưới trời”  lồng lộng . Phe cách mạng được “hưởng thành quả”  cũng chia làm ba loại khác nhau. Loại thứ nhất dành cho lớp thị dân ở Hà Nội mới tham gia cách mạng vào tháng Tám năm 1945, công lao đóng góp chỉ ở mức độ may cờ, kẻ khẩu hiệu thì chỉ được hưởng niềm hồ hởi, phấn khởi phất cờ đi đón bộ đội từ chiến khu trở về như  nhạc sĩ Toàn, cô nữ sinh Hằng em gái của cô Phượng vợ huyện Môn… Loại thứ hai gồm những người tham gia từ lúc chưa giành được chính quyền như giáo Hội, anh Côi, Xoan, Mầm, Đông, Phi …những người này hoặc thành cán bộ của chính quyền mới, hoặc vào bộ đội lên Lào Kay đánh nhau với Quốc dân Đảng, những người nghèo còn được  nhận ruộng, nhận đất ở. Loại thứ ba là dân “cách mạng nòi”, con cưng của Đảng, hạt nhân của phong trào. Trước hết là Quyên – em gái Khắc, cán bộ cao cấp hy sinh trong tù. Noi gương anh và được tổ chức móc nối, Quyên cũng bỏ nhà đi hoạt động cách mạng và trở thành cán bộ, sau lấy Lê, một cán bộ cao cấp khác và cả hai vợ chồng đều lên tàu Nam tiến để nhận nhiệm vụ quan trọng hơn. Người yêu và cũng là vợ một đêm của Khắc là An cũng được cách mạng dìu dắt trở thành cán bộ nòng cốt của phong trào. Em ruột của An là Sơn cũng vinh dự đứng vào hàng ngũ bộ đội Nam tiến.

Cái kết cuộc của một cuộc “vỡ bờ” được sắp xếp chi tiết, tỉ mỉ phù hợp tuyệt đối  với “ý Đảng, lòng dân” làm người đọc phải kinh ngạc vì ý thức chính trị đã giết chết ý thức nghệ thuật trong Nguyễn Đình Thi khiến tiểu thuyết của ông nặng mùi tuyên truyền minh hoạ. Ta chịu khó đọc những dòng kết của cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Thi :

“Nắng đã lên, sáng vàng, tươi ấm, chan hoà trên sông núi từ đây sống lại.

Thành cũ, Cột Cờ, vườn Ba Đình, tất cả ngập trong cờ đỏ sao vàng.

Trên một cái đài cao dựng tạm đơn sơ, một người mảnh khảnh, mặc chiếc áo vải kaki, trán cao, đôi mắt sáng mênh mông, cằm điểm một chòm râu lưa thưa, vừa bước lên và đứng lặng mấy giây nhìn cái biển người bát ngát trước mặt.

Và cả cái biển người cũng chăm chú nhìn lên và đợi nghe.

Người ấy bắt đầu nói. Từ các loa phóng thanh vang ra một giọng ấm áp mà vang như tiếng chuông. Cụ Chủ tịch nói câu gì đầu tiên đây ?

“ Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?”

Cả cái biển người ngạc nhiên im  phắc một giây rồi bỗng dưng nghìn vạn tiếng reo trả lời gầm lên thành một tiếng sấm truyền đi xa, xa mãi…”

Đọc đoạn kết cho hơn một ngàn trang tiểu thuyết nêu trên, người ta hiểu được vì sao tới đêm trước thời đổi mới, ở Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3, Nguyễn Đình Thi vẫn còn tự nhận “nhà văn là hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”, vì sao đến khi qua đời Nguyễn Đình Thi vẫn còn ngồi cái ghế quan văn nghệ cao chót vót: Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.

3

“Bất tri tam bách dư niên hậu”, chẳng cần lâu la như thế, chỉ ba năm sau khi ra đời, trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi chỉ còn được  nhắc tới  trong giáo trình văn học cách mạng và trong những công trình “bốc thơm” văn học Nhà nước của các phê bình gia quốc doanh như Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức…

Tháng 4 năm 2003, một vài tháng sau khi Nguyễn Đình Thi mất, một tập truyện ngắn có tựa là “Tuyết”  được xuất bản như là di cảo của nhà văn. “Tuyết” kể về một anh cán bộ tên Nam đi công tác ở nước bạn trên một chuyến tàu lửa:

“Chuyến xe lửa vẫn cứ lao miết trong những rừng thông phủ tuyết trắng mờ, thỉnh thoảng qua một thị trấn loang loáng ánh đèn…”

Người ta chờ đợi Nguyễn Đình Thi viết một thứ gì đó na ná như “Bánh vẽ” của Chế Lan Viên, nhất là khi ông đang ở cách xa nước Việt nửa vòng trái đất, ít nhất cũng một lần trật đường rầy để mà “nhìn từ xa tổ quốc” theo kiểu Nguyễn Duy. Vậy mà không, trong chuyến tàu đi trong đêm tuyết này Nguyễn Đình Thi lại cho nhân vật của mình gặp lại một người quen cũ: một chị cán bộ miền Nam tập kết tên Tư Bình. Chị này ra Bắc được đào tạo thành bác sĩ, trong một lần tới thăm mẹ, đứa con gái duy nhất của chị bị máy bay Mỹ bắn chết. Chịu đựng một nỗi đau quá lớn, nhưng người phụ nữ ấy vẫn không chịu gục ngã trước số phận, chị vẫn đứng vững trong cuộc sống và trở thành một bác sĩ giỏi được cử sang nước bạn học tiếp và được  Nguyễn Đình Thi ca ngợi:

“Hai bên con đường sắt là cánh đồng phủ tuyết trắng bông, đây đó nhô lên những quả đồi thấp tròn thoai thoải. Có một bóng người đàn bà mang ủng cao bước đi trên một con đường giữa hai hàng cây đã rụng hết lá, chỉ còn những cành cây đen sẫm viền tuyết trắng…”

Một truyện ngắn về những mất mát trong chiến tranh nhưng nạn nhân vẫn ngẩng cao đầu và cho dù văn chương có đẽo gọt tới đâu nó vẫn chỉ được nằm trong “tủ sách người tốt việc tốt” một thời tuyên truyền ầm ĩ.

Trong truyện ngắn “Nước chảy” Nguyễn Đình Thi cũng kể chuyện gặp lại bạn cũ, nhưng lần này không phải “người đằng miềng” mà là một ông già …Việt kiều tên Hoàng :

“Anh Hoàng mang tới một chai cô-nhắc Pháp. Anh rót rượu, chúng tôi cùng cười. Giá gặp nhau giữa đường chắc không nhận ra nhau được. Bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi còn gì. Nào, thôi, hai ông già nâng cốc chúc nhau còn sống.” 

Nửa thế kỷ trước, Hoàng và Nguyễn Đình Thi – hai cán bộ kháng chiến gặp nhau và chia tay nhau bằng một bán bún riêu ở Ba La Bông Đỏ gần Hà Đông. Nguyễn Đình Thi lên Việt Bắc theo kháng chiến, còn Hoàng quay lại, “dinh tê” về Hà Nội, năm sau đi du học ở Pháp. Đáng buồn cho Hoàng, anh có cô vợ chưa cưới tên Lệ còn kẹt lại ở Phú Thọ. Trở về Hà Nội, Hoàng viết thư  cho Lệ van xin nàng về thành với anh. Vậy nhưng thật lạ, cô tiểu thư Hà Nội này mê nhạc đến độ tản cư cũng phải chở theo nguyên một cái đàn dương cầm, ấy thế mà lại khăng khăng không chịu bỏ kháng chiến để theo chồng về Hà Nội để tiếp tục đi học đàn, hơn thế nữa, cô còn viết thư khuyên chồng chưa cưới nên quay trở về với kháng chiến. Con gái Hà Nội không lẽ dở hơi đến thế sao? Thế là Hoàng đành đi Pháp một mình, rồi sang Thuỵ Sĩ sau trở thành một bác sĩ giỏi và bây giờ trở lại thăm quê anh xây tặng bà con một bệnh viện nhỏ.

Đó là một gặp gỡ đầy ý nghĩa của hai người bạn: một theo kháng chiến, một du học nước ngoài  và việc so sánh hai cuộc đời, hai con đường sẽ là một công việc vô cùng lý thú của nhà văn trong diễn tả thân phận con người. Tuy nhiên ông không đủ dũng cảm làm chuyện đó, ông lờ cái cốt lõi đó đi, ông chỉ dám hướng câu chuyện  vào cuộc tình không thành giữa Hoàng và Lệ. Không một chút xót xa phận mình, không một lời chúc mừng những thành đạt của bạn cũ, Nguyễn Đình Thi đành “quẹo cua” không dám đi vào “vùng cấm bay” – so sánh hai con đường “ai thắng ai” giữa hai người bạn. Và cuộc gặp gỡ kết thúc :

“Chúng tôi ngồi một lúc nữa, trao đổi ý kiến về những công chuyện ta làm ăn với nước ngoài hiện nay. Đến lúc chúng tôi cùng đứng dậy bước ra hè, đêm đã khuya. Mưa vừa tạnh, mặt đường ướt  loáng, ánh đèn cao áp sáng vàng.”

Một cuộc gặp gỡ và chia tay trong nhạt nhẽo.

Nhạt nhẽo như truyện ngắn của Nguyễn Đình Thi vậy.

 

Một thời mấy ông trong Hội nhà Văn Việt Nam thường riễu mấy bác lãnh đạo rằng :

“ Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài

Hễ đi nước ngoài là có ông ngay…”

 

Nguyễn Đình Thi suốt nhiều năm cũng có chân trong Đảng đoàn, dẫu không đi nước ngoài nhiều như Tô Hoài thì cũng ngang…đi chợ. Bởi thế những khung cảnh nước ngoài thường được ông đưa vào truyện ngắn vào những năm cuối đời. Tuy nhiên ông chỉ mượn khung cảnh vậy thôi, còn nhân vật trong truyện vẫn là những người ông quen biết ở trong nước. Nếu như trong truyện “Tuyết” ông gặp lại cô gái miền Nam tập kết sau này trở thành bác sĩ  thì “Trong rừng  thông”  một cán bộ nghiên cứu tên là Đan đang đi họp hội nghị quốc tế ở châu Âu cũng tái ngộ với một cô Mai quen biết từ hồi mới nổ ra toàn quốc kháng chiến năm 1947. Ngày xưa, Đan còn là anh bộ đội, trên đường hành quân, tạt qua nơi gửi đứa con gái nhỏ thì gặp Mai “cô gái độ mười lăm mười sáu tuổi ấy đi đâu cũng đội mũ nan gài lá như bộ đội….xa gia đình, làm đánh máy và giao liên ở một cơ quan đóng bên bờ sông Lô…”. Sau lần gặp gỡ đó, lẽ ra giữa Đan và Mai đã có một tình yêu đẹp, chỉ tiếc Đan đã có vợ rồi bởi vậy hai người coi nhau như anh em. “Qua hai mươi  mấy năm, cuộc đời hai người đi theo hai ngả cách biệt, cả hai cùng gặp lắm nỗi lận đận, dở dang và và cả những tai nạn hiểm độc nhưng giữa hai người vẫn không có một gợn nhỏ.” . Tuy nhiên trong thời gian đó giữa hai người không thể nói là không có gì, đôi khi họ vẫn gặp nhau, đi chơi với nhau bên hồ Hoàn Kiếm, tặng hoa cho nhau và “ở nơi sâu thẳm trong tâm hồn, một cách tự nhiên không hề suy nghĩ, hai người  đã giữ cái đốm sáng ấy để mà sống.” . Thế rồi ngay cả khi vợ Đan chết, quan hệ giữa anh với Mai cũng vẫn bảng lảng ở mức tình “anh em” như  hồi mới gặp. Tác giả không cho biết vì sao hai người không thể tới được với nhau cho dù bao năm qua “cái đốm sáng ấy” vẫn sáng mãi trong mỗi người. Thế rồi phải chờ tới khi Mai đã lớn tuổi, được đi thực tập tại một thành phố châu Âu nơi Đan cũng đang họp ở gần đó, hai người mới gặp nhau. Và khi đi ngang qua một phố đông, “dòng người đổ đến, chen chúc , làm Mai lúng túng , Đan bỗng:

“Ôi dào, phải thế này…”

Và anh gấp cánh tay, cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Mai đặt lên đấy. “ Thế”. Tự nhiên anh thấy yên tâm hẳn, từ nay anh sống yên tâm bất kể trong đời có sóng gió gì”, còn Mai “cô cũng quay sang cười, đôi mắt toả ra những tia lấp lánh và nắm lấy cánh tay Đan”.

Truyện ngắn “Trong rừng  thông” mang khá nhiều dấu vết không những về cuộc sống riêng tư của Nguyễn Đinh Thi mà còn bộc lộ cái nỗi niềm sâu kín trong ông  “Ôi dào, phải thế…” – phải sống thực với mình, phải yêu đúng với những rung động  con tim mình. Mọi cấm kỵ, mọi rào cản  tới một lúc nào đó sẽ chẳng còn là cái gì. Chỉ tiếc ông không đi xa hơn truyện trai gái để vượt  tới chuyện đời văn, chuyện đời người, ngoái nhìn những bước  đường tư tưởng đã qua để có một hành động phản tỉnh nào đó ứng với câu Đan thốt ra : “Ôi dào, phải thế…”

Trong truyện ngắn “Người bạn cũ”, Nguyễn Đình Thi lặp lại môtif truyện “tái ngộ cố nhân”, nhưng lần này chuyện xảy ở Sài gòn và người xưa vốn là một cô gái  sống phóng túng, tên Thoa “luôn luôn sống tự do theo ý muốn, luôn luôn sống ngoài dư luận và khinh miệt những kẻ đạo đức giả…” . Thế rồi “ Cách mạng bỗng làm thay đổi tất cả”. Cái cô Thoa này từ bỏ hết cả sự lôi kéo của mấy ông luật sư, tri huyện tới chốn phồn hoa mà lại “rời Hà Nội về quê, chỉ lo làm nghề thầy thuốc ở một vùng quê hiền lành êm ả bên con sông Đáy…”. Thế rồi chiến tranh nổ ra, sau bao nhiêu năm phiêu dạt, ông Nam, người bạn cũ của cô Thoa vào Sài gòn tìm tới tận nơi Thoa ở thì bà đã ra người thiên cổ, chỉ để lại cho ông một lá thư  thanh minh dù có bỏ kháng chiến vào Nam thì vẫn “phân biệt được  phải trái, thật giả và nhìn được đâu là chính nghĩa, em u mê sao được trong lúc hằng ngày dân ta chết như thế, khổ như thế…”. Một truyện ngắn nằm trong cả một dòng truyện ngắn miền Bắc sau năm 1975 về “nỗi ăn năn, hối hận của những người bỏ quê hương miền Bắc di cư vào Nam” năm 1954.

“Mưa gió” là truyện đời xưa, viết về một ông đồ trong một đêm mưa lạc vào quán của một người đàn bà biết rất rành chuyện trong giới quan trường thời vua Lê chúa Trịnh. “Học trò cứ nộp ba quan tiền là được đi thi, dân phố gọi những ông đỗ khoa này là sinh đồ 3 quan…” rồi tới chuyện “ quan chánh chủ khảo thì đem gái mặc giả trai vào trường thi để hầu hạ gối  chăn” . Bà còn rõ cả chuyện “cô đào Xuân Hoa vào hầu trong dinh quan Thượng vào đêm quan bà đi vắng, không ngờ bà nhạc mẫu của quan xổ ra đánh ghen mới lộ ra chuyên loạn luân của quan Thượng…” . Rồi cũng đêm đó vợ quan Thượng vào hầu trong phủ Chúa, còn Chúa lại ngủ với cả vợ lẽ của bố vân vân. Bà quán biết nhiều chuyện chi li, chính xác quá khiên thầy đồ phải ngờ rằng bà chính là cô đào Xuân Hoa ngày xưa. Một truyện viết về ngày xưa nhưng hoàn toàn chẳng ngụ ý nói chuyện thời nay tý nào. Có lẽ Nguyễn Đình Thi hiểu rất rõ cấm kỵ “mượn xưa nói nay” nên tránh cho thật xa.

Truyện “Ông lão vẽ tranh”, truyện cuối cùng trong tập truyện Nguyễn Đình Thi cho xuất bản vào cuối đời mà không kịp nhìn thấy sách mới, viết khá rõ về quan niệm sáng tác của ông. Ở một phố nhỏ bên sông có ông lão Dần sau mấy chục năm lưu lạc lại trở về làng cũ với nghề mới trong tay: vẽ tranh. Lão Dần xin tá túc ở nhà ông Chiểu, goá vợ, có con gái nhỏ tên Hồng, bị câm từ nhỏ. Từ lúc đó, cô bé câm quấn quýt bên ông gìa vẽ tranh để đun nước, thay trà, phục dịch cho ông vẽ tranh. Ông vẽ thuê cho dân phố những bức tranh để thờ, đổi lại họ cho ông đấu gạo, con gà, nải chuối… Một lần có khách tìm tới nhờ vẽ tranh là hai cha con ông già Tàu, vốn làm quan bên Phúc Kiến bị án oan trốn sang ta. Ông lão Dần vẽ một bức tranh phong cảnh y như quê cha đất tổ của ông già Tàu khiến ông này rất cảm kích, cho rất nhiều vàng lá. Từ đó ông lão vẽ tranh không vẽ chân dung cho khách nữa. Suốt ngày ông vẽ “nhiều cảnh, nhiều người, nhiều nơi chốn rất khác nhau. Có núi có biển…có đồng ruộng, làng xóm đình chùa…”. Ông vẽ đủ thứ ở trên đời, hoa cúc, chim rỉa cánh , đoàn ngựa thồ, trẻ con nhảy dây, cô gái ở trần tắm dưới đầm sen, hai anh đô vật…nghĩa là ông vẽ gần như tất cả những thứ ông bắt gặp trên đường đời. Ông cứ vẽ miệt mài ngày này qua ngày khác đến gần kiệt sức mà vẫn chưa thoả mãn. Thế rồi một hôm ông lão gượng dậy kiếm  một khung lụa to đặt kín một chiếc bàn rồi bắt đầu vẽ. Ông vẽ gì vậy? Hoá ra ông vẽ  “một cô gái bên gốc cây mai. Cô mặc áo cánh bông, trên đầu đội cái thúng, cô bước đi trên vệt đường từ mỏm đồi xuống…”. Ông vẽ cô gái nào vậy ? Hoá ra là ông vẽ ngay con bé câm. “Ông lấy bút chỉ vào cô bé câm rồi lại chỉ vào cô gái trong tranh…”  Ông nói với nó: “Cháu có thích bức tranh này không? Ông cho cháu đó. Cháu rồi như cô gái trong tranh này đừng sợ gì cả…”. Ít ngày sau ông lão chết. Truyện ngắn này của Nguyễn Đình Thi  rõ ràng gửi gắm một thông điệp: “Hãy vẽ hoặc viết về những gì gần gũi với ta nhiều nhất…”. Quan niệm này thực ra chẳng có gì mới, nó nằm đầy rẫy trong những lời răn dạy của các ông nhà văn già gửi tới đám cây bút trẻ đang tập toạng cầm bút theo “dấu cha anh”.

 

4

Trong nền văn học của Đảng, người ta thấy một hiện tượng là khi rời bỏ “những vấn đề của cách mạng”  trở về “những vấn đề của dân tộc”, những thắt buộc bớt khắt khe, tài năng của nhà văn rất có thể toả sáng. Đó là trường hợp của Nguyễn Đình Thi trong kịch lịch sử: “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” và “ Rừng trúc”.

Năm 1979, Nguyễn Đình Thi bắt tay viết vở kịch về Nguyễn Trãi, cốt nêu vấn đề người trí thức Việt Nam trong quá khứ. Ông đồng tình với  thái độ khác với đạo lý cổ truyền của Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi; hai ông này đều phê phán Khuất Nguyên, như thơ Nguyễn Trãi có câu: “Chớ người đục đục, chớ ta trong”, ngụ ý không thể lánh đời giữ cho riêng mình trong, người trí thức phải biết dấn thân làm việc cho đời. Nguyễn Đình Thi cho rằng khi viết về trí thức, người ta thường đặt vấn đề thân phận trí thức, khi đưa ra những quan niệm chưa được xã hội chấp nhận, người trí thức thường bị đe doạ khủng bố. Chẳng hạn như Khuất Nguyên của Quách Mạt Nhược, hay Galliée của Bertolt Brecht. Bị tra tấn buộc tội là kẻ tà đạo, Galilée phải tạm thời rút lui ý kiến của mình để khỏi bị thiêu sống, tuy nhiên sau đó vẫn  tiếp tục nghiên cứu khoa học theo quan điểm của mình. Nguyễn Đình Thi đặt vấn đề trí thức theo hướng  khác. Ông cho rằng số phận trí thức Việt Nam gắn bó chặt chẽ với dân tộc, do đất nước luôn bị ngoại xâm, sơ hở một tí là mất nước hay bị đồng hoá liền. Vì vậy với ông, ngay cả  Nho giáo và tôn giáo cũng chỉ là những giáo điều khô cứng; người trí thức phải tự tìm lấy con đường giúp dân giúp nước của riêng mình. Vở kịch “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” viết xong năm 1980, đúng vào dịp kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi với ý nghĩa đề cao tinh thần dân tộc cao đẹp của trí thức. Khi vở kịch được Đoàn kịch nói trung ương công diễn, khán giả kéo tới xem chật rạp. Vài ngay sau, bất ngờ có thông tri của Ban bí thư gửi nội bộ, lên án vở kịch  có dụng ý xấu, có ý làm loạn, dựng cuộc trao đổi giữa Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn giống như … cuộc họp Bộ chính trị. Và thế là vở kịch bị khai tử cho tới tận bây giờ.

Vở “Rừng trúc” may mắn hơn, khi những người hạ bút ký lệnh cấm diễn kịch Nguyễn Đình Thi như các ông Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Tố Hữu đều đã đi gặp bác Hồ kính mến cả rồi, vào dịp kỷ niệm hai năm ngày giỗ tác giả, nó được công diễn ở nhà Hát lớn thành phố Hà Nội và được trực tiếp truyền hình đi cả nước.

“Rừng trúc” viết về thời kỳ cả quân Tống lẫn quân Nguyên “mồm rộng răng dài, như đám cháy rừng gặp gió” tuy đang chém giết nhau nhưng đều lăm le xâm lược nước ta. Lúc này Thái sư Trần Thủ Độ đã cướp vợ vua Lý Huệ Tông − công chúa Thiên Cực và ép vua phải nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới lên tám, rồi phải đi tu và tự tử chết trong chùa với câu nói nổi tiếng trong lịch sử: “nhổ cỏ phải nhổ cả rễ”. Sau khi Lý Huệ Tông chết, Trần Thủ Độ gả Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh rồi dàn dựng cho Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh làm vua (1225), tức là vua Trần Thái Tông (1225-1258).

“Rừng trúc” diễn ra vào hơn chục năm sau, tức cả Chiêu Hoàng và Thái Tông đều đã ở tuổi hai mươi. Do Chiêu Hoàng hiếm muộn, vợ chồng Trần Thủ Độ sợ rằng sau này Thái Tông lập hoàng hậu khác thì cả nhà đều nguy nên âm mưu đưa chị của Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, vợ của Hoài Vương Trần Liễu, anh ruột vua Thái Tông, hiện có mang 3 tháng, thay thế em gái lên làm hoàng hậu. Hoàng hậu Chiêu Hoàng nghe mẹ nói về sự dàn xếp đó đã phải thốt lên: “Tôi biết, tôi biết hết …Bà là mẹ ta nhưng lại là vợ của kẻ đã bắt cha ta phải chết… trên gương mặt xinh đẹp của bà ta thấy hai con mắt như hai lưỡi dao, trong cái trán bà toàn rắn ngoe nguẩy toan tính… tôi đã nhìn thấy hết …tôi đã nhìn thấy cha tôi thắt cổ năm tôi lên 8 tuổi đau đớn như thế nào?”.

Tuy mọi người đều nhận ra sự vô luân trong âm mưu của vợ chồng Trần Thủ Độ, nhưng ai nấy đều phải nhắm mắt tuân theo. Chiêu Hoàng ném vương miện hoàng hậu tuyên bố với mẹ, tức vợ Trần Thủ Độ:

“Hai đời vua ông cha ta lầm lỗi để đến nỗi trăm họ phiêu dạt, núi sông nghiêng ngửa, hoạ Thát Đát ngày một đến gần, từ đời đức Lý Anh Tông đã đến tận kinh thành Thăng Long này nhòm ngó và lăm le làm cỏ cả nước. Từ nay mấy người đã chính danh nhà Trần phải ra khỏi cõi quỷ quyệt, u mê mà sáng suốt chăm sóc thần dân”.

Chiêu Hoàng lên chùa đi tu rồi, vua Trần Thái Tông phải lập Thuận Thiên − tuy đã mang thai với người anh ruột của vua tức Hoài vương Trần Liễu − lên làm hoàng hậu. Chỉ có Hoài vương không chấp nhận chịu mất vợ nổi quân làm phản chống lại triều đình. Cảm thấy có phần áy náy về sự xếp đặt tàn bạo của mình, Thái sư Trần Thủ Độ biện bạch: “Tôi không biết chữ, cũng không am hiểu  nhiều đạo thánh hiền; nhưng tôi nghĩ có khác mấy ông nhà nho; nếu chỉ thuộc lòng mấy bộ kinh sử từ đời ông Chu Công, Khổng Tử ở tận đẩu tận đâu mà xoay chuyển được thiên hạ thì hoá ra việc đời ra quá dễ dàng khác gì trò con trẻ …Tôi biết các ông nhà nho cũng chửi tôi đấy, nhưng không dám dám chửi to vì sợ, nhưng tôi nghĩ phải làm thế nào cho được việc là cái lẽ của người cầm nắm việc lớn. Mọi chuyện đều là nhỏ chỉ việc nước là lớn, là đáng kể thôi…”

Bởi vậy mọi hành động xấu xa mọi thủ đoạn bỉ ổi của ông cũng đều là vì… quốc gia cả. Mục tiêu biện minh cho hành động, xem ra Trần Thủ Độ có vóc dáng của lãnh tụ cộng sản sau này.

Thế rồi vua Trần Thái Tông cũng chán việc triều chính, “bỏ ngôi vua như bỏ một chiếc giày rách” lên “rừng trúc Yên Tử … tự cởi trói, tìm tới cõi trong lặng, tìm biết cái lẽ còn mất, có không, vượt  khỏi mọi nổi chìm ở xã hội này…”

Dọc đường lên “Rừng trúc”, vua Trần Thái Tông gặp một ông lão hoà thượng, ông này dùng rượu để thức tỉnh vua:

“Làm gì thì làm đừng quên cái bóng lạ thập thò ngoài hàng rào …nó rất giỏi cưỡi ngựa…ta nghe đã rất gần rồi ông ạ…”

Nó đây là giặc Tàu − nỗi ám ảnh giặc ngoại xâm của dân tộc ta suốt mấy ngàn năm lịch sử. Chính vì nỗi lo đó, tất cả mọi người đã bỏ hết hiềm thù riêng tư và đoàn kết lại. Hai anh em vua Trần Thái Tông giải hoà với nhau khiến Trần Thủ Độ phải kêu lên:

“Tao là con chó trong nhà không biết hai anh em mày lúc nào hoà nhau lúc nào giận nhau. Có điều không bao giờ được mang cái cơ đồ nhà Trần này đổ xuống sông xuống biển, mấy thằng tướng  nhà Nguyên nó chỉ cho một miếng là xong hết…”

Và rồi tất cả mọi người đều bỏ rừng trúc kéo về kinh thành Thăng Long để cùng chung lưng chuẩn bị chống giặc ngoại xâm. Vở kịch thấm đẫm tinh thần cao cả vì đại nghĩa của những con người trí thức như Lý Chiêu Hoàng, Trần Thái Tông và còn nóng hổi tính thời sự cho tới tận bây giờ khi nỗi ám ảnh giặc phương Bắc lại rõ rệt hơn bao giờ hết sau vụ cảnh sát Trung Quốc bắn chết ngư dân Việt ngay trên vùng biển Việt Nam.

Hoá ra chỉ khi bứt khỏi những quy phạm nghiệt ngã của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tài năng của Nguyễn Đình Thi mới thực sự lên tiếng trên những trang giấy. Bởi thế sự nghiệp của ông còn lại với thời gian may ra có mấy vở kịch mà ông đã gặp biết bao phiền toái khi khai sinh ra nó.

Tuy nhiên cái hình ảnh chị hàng thịt coi Nguyễn Đình Thi phát biểu trên truyền hình và thốt lên: “Gớm, cậu đéo “lào” mà “lịnh” thế” – cái hình ảnh đó thật khó phai mờ trong phần lớn những trang viết của Nguyễn Đình Thi.

 

Về sự nghiệp văn học nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, mới đây nhất, đầu tháng 7/2008, con trai ông  – nhà văn Nguyễn Đình Chính trả lời trên báo Công an nhân dân : “về thơ, triết học và nhất là nhạc của cha tôi rất bài bản, nhất là khi sáng tác 2 bài Diệt phát xít Người Hà Nội thì những nhạc sĩ lớn cũng phải ngã mũ kính chào, nhưng văn ông thì không hay”.

Ông Nguyễn Đình Chính đã không nhắc tới một mảng khá quan trọng của Nguyễn Đình Thi – đó là kịch trong đó nổi tiếng hơn cả là “Con nai đen”, vở kịch gây không ít phiền toái cho tác giả đến mức nhà thơ Xuân Sách phải nhắc tới trong thơ chân dung :

“ Bay chi Mặt Trận Trên Cao ấy
                  Quên Chú Nai Đen vẫn đứng chờ.

Về vở kịch này, Nguyễn Đình Thi đã từng kể lại với phóng viên báo Bông Trang của Hội văn học nghệ thuật Sông Bé (số 2, tháng 10/1992):

“Có lần tôi đi Liên Xô dự Hội nghị các nhà văn Liên Xô, được xem vở kịch rối Vua Nai. Vì không có phiên dịch nên không hiểu đối thoại, chỉ qua hình dung, động tác của nhân vật mà đoán ra cốt truyện, trong đó có tình tiết hồn ông vua nhập vào xác con nai.

Khi về nước, vào năm 1950, tôi nghĩ cốt truyện cho vở kịch nói được gợi ý từ Vua Nai. Vở kịch rối có nhiều nhân vật phụ, trong đó có tay phù thuỷ rất giỏi, nhưng tôi chỉ tập trung vào một vài nhân vật chính, xoay quanh hai cái ý chủ yếu là: hồn người nhập vào xác nai và pho tượng đá hễ nghe ai nói dối thì nó cười, để thể hiện chủ đề tư tưởng: nếu thích nghe kẻ nói dối thì sẽ mất người nói thật.”

Vậy là trong “Con nai đen”, − phóng tác theo “Vua hươu”  của Gozzi, − Tô Chiêm ông vua của thần dân, cũng được một ông lão tặng “một pho tượng có phép, không biết ai đã tạc nên. Nó biết ai nói thật nói dối. Nghe ai nói một câu không đúng với ý nghĩ thật trong lòng, thì trên mặt tượng sẽ tức thì biến đổi và pho tượng đá sẽ cười.”. Mô-típ này nếu sử dụng để minh quân phát hiện gian thần, để “sự thật” lột trần cái “giả dối”, để dân gian hô to “vua cởi truồng” thì rất hay. Tiếc thay Nguyễn Đình Thi không dám “chơi bạo” thế, chơi “bạo” vậy  vào thập kỷ 1960 nhất định sẽ mắc vào tội “thất trảm” mượn xưa nói nay, mượn con vật nói con người. Bởi thế ông chỉ dám sử dụng nó trong việc vua…kén vợ. Các “ứng viên” sẽ phải tới trước “pho tượng” để được “sát hạch”. Lần lượt tiểu thư Lan, Đức Hạnh phu nhân, vai người đàn bà nữa đều bị pho tượng “lật tẩy” là “giả dối”, không có tình yêu chân thật với vua. Rồi đến Ngọc Nương, con gái Quận Khung, một tên gian thần, nhân tình của công tử Đãng, một gã phóng đãng, con ông cháu cha, vừa ra mắt vua đã giở trò ve vãn: “Chàng ơi, cánh tay em và thân thể em chẳng có nghĩa hơn tất cả mọi sự thật hay sao! Chàng hãy tới đây và ngả đầu lên ngực em, đắm chìm trong sự vuốt ve của em, đó chẳng là thiên đường ư ?”. Tất nhiên “pho tượng đá” lật tẩy thói “giả dối” của Ngọc Nương để rồi sau cùng vua gặp lại nàng Quế Nga – người yêu thủa hàn vi. Lẽ ra sau những năm tháng nằm gai nếm mật, cùng chàng Tô Chiêm chia sẻ ngọt bùi, nàng Quế Nga đàng hoàng về cung lên ngôi hoàng hậu, vậy mà vì lý do không thể tin được, vì “bảo vệ uy tín cho Tô Chiêm” nàng dứt khoát dứt bỏ tình yêu:  “Anh Tô Chiêm, anh làm vua cả nước, trăm nghìn mắt nhìn vào, em chỉ là một người con gái quê mùa lam lũ, những người sang kẻ quí  người ta sẽ gièm pha, nói ra nói vào, cười thầm anh. Em không muốn có một cái miệng xấu nào có thể nói một câu phạm đến anh. Em không muốn vì em mà anh phải phiền lòng. Vả lại em cũng không muốn làm một cái dây leo, suốt đời nấp bóng anh, làm vướng cho anh. Em không muốn làm vợ vua, em đã nghĩ mãi, anh ạ, em yêu anh, cho nên em đã quyết lánh ra khỏi đời anh. Em đã định không bao giờ gặp lại anh nữa.”

Nếu đúng như vậy thì người ta phải nghi ngờ cái tình yêu Quế Nga dành cho Tô Chiêm liệu có thực là tình yêu không? Tuy nhiên đó chỉ là cái cớ tác giả gán cho nhân vật để tình yêu thêm phần … thử thách và sau cùng tất nhiên là nàng Quế Nga phải tìm về chàng Tô Chiêm để lên ngôi Hoàng hậu.

Đọc đối thoại giữa “chàng” và “nàng”, giữa “quân vương và ái thiếp”  mà lại cứ “anh anh em em” khiến người ta cứ ngỡ như họ là cặp tình nhân vào thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay:

 

TÔ CHIÊM : Quế Nga, anh lại có em đây rồi, anh lại được nhìn thấy em thật đây rồi, không phải chỉ trong giấc mơ nữa.

QUẾ NGA – Anh ! Anh của em

 

Nếu trong “Vua hươu” của Mozzi, vở kịch xoay quanh chủ đề “cái thật và cái giả”, “cái cao thượng và cái ti tiện”, “cái đẹp và cái xấu” thì trong “Con nai đen” cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Đình Thi lại trượt theo cái “quán tính” điệu tâm hồn của thời đại: “lòng yêu nước chống giặc ngoại xâm” – đề tài thời thượng vào lúc đó. Vậy là trong triều chia hai phe. Phe chống “ngoại xâm”, yêu nước thương dân, dựa vào nước “láng giềng Đông Chiếu (chắc là nước Trung Quốc) để giữ gìn bờ cõi gồm có vua Tô Chiêm, hoàng hậu Quế Nga, tướng Trung Dũng, “lão già”. Phe bán nước hại dân dựa vào nước Tây Qua (chắc là nước Pháp) gồm có: Quận Khung, công tử Đãng… Tất nhiên nhân dân đứng về phe chống ngoại xâm. Vậy chỉ còn thiếu vai trò lãnh đạo của Đảng nữa thôi là trong kịch “Con nai đen” có cả một cuộc chiến tranh thần thánh chống ngoại xâm y hệt chiến tranh chống Pháp. Thế rồi phe “bán nước” “cướp được ngôi chẳng mất một mũi tên hòn đạn, chẳng mất một ngày nằm gai nếm mật để tổ chức tạo phản, mà chỉ bằng một  “mẹo vặt” khiến vua biến thành một anh ngờ nghệch, cả ngố đến mức…khó tin. Nguyên là “ông lão” – người đã tặng vua pho tượng đá phát hiện nói dối – có một con vật thân thiết là “con nai đen”. Trong buổi đi săn công tử Đãng âm mưu bắn nó trọng thương đến chết trong niềm thương tiếc của vua Tô Chiêm:

“Tội nghiệp cho con nai đen! Tội nghiệp cho ông cụ hát rong, tất cả thân thích họ hàng không còn ai, chỉ còn con nai đen quẩn quít làm con, mà bây giờ nó lại chết mất !”

Thế là Quận Khung nhảy ra làm trò lừa đảo. Hắn nói có thể cứu được con nai với điều kiện vua phải …chết thay cho nó.

QUẬN KHUNG (tới quỳ xuống) − Muôn tâu Đức vua, thần có phép làm cho con nai này sống lại được …. phép này chỉ linh ứng khi nào một người hay một con vật có máu nóng mới chết chưa quá hai khắc. Người làm phép giơ tay gọi trời, đọc một câu chú, rồi gọi tên người chết hoặc con vật chết và xưng tên mình rồi nói: Hồn ta sẽ đi vào xác người và người sẽ sống lại, thế là linh ứng..”

Thế là vua Tô Chiêm tình nguyện… chết để lấy “máu nóng mới chết chưa quá hai khắc” cứu mạng con nai. Thật là một sự hy sinh ngớ ngẩn, ngu xuẩn, vô  lý hết chỗ nói chứ chẳng phải là nhẹ dạ như các nhà phê bình nhận xét.  Vô lý vậy mà “cái sự tình nguyện chết” của vua Tô Chiêm đó  lại là cái “chốt” của vở kịch.

Sau khi vua Tô Chiêm chết rồi, Quận Khung bắt hồn vua nhập vào xác con nai đen, còn chính hắn lại nhập vào xác Tô Chiêm để lên làm vua. Vậy là từ nay hoàng hậu Quế Nga phải chung sống gối chăn với “hồn anh hàng thịt, da anh Trương Ba” tức xác của vua Tô Chiêm mà hồn lại là tên Quận Khung, đại gian thần. Nắm được ngôi vua rồi, tất nhiên Quận Khung bán nước cho Tây Qua, trừ khử trung thần  trong khi đó hồn vua thật trong xác con nai đen cứ… chạy nhong nhong ngoài rừng, đất nước sắp rơi vào thảm hoạ nô lệ cho giặc ngoại xâm.

Cái “nút” của vở kịch bị thắt chặt đến thế thì không hiểu ông tác giả sẽ mở sao đây? May quá ông lão hát rong già quá, đã đến tuổi… chết:

“Ừ lưng lão hôm nay đau quá, và chân tay lão bủn rủn, lão muốn cất tiếng hát mà không còn đủ hơi sức nữa. Biết làm sao, đó là tuổi già đó con ạ. Rồi mày cũng đến lúc già, nghe không? Tuổi già sẽ đến, con ạ, rồi mày cũng đến lúc sẽ thấy đêm ngày có hơi lạnh của cái chết, nó lởn vởn chung quanh mày, có lúc nó thở mạnh buốt vào đến tận xương tuỷ mày, chẳng khác gì ta bây giờ. Ai cũng sẽ đến lúc già rồi chết con ạ. Nhưng ta không sợ già, không sợ chết đâu.”

Thế là “ông lão hát rong” lăn ra chết … già. Lập tức  vua Tô Chiêm đang nhập hồn trong con nai đen “dọn” ngay sang xác “lão già” để được nói năng, đi lại trở lại là con người. Đọc tới đây bạn đọc có thể thắc mắc: vậy nếu ông lão hát rong chưa chịu… chết già thì sao? Thì Quận Khung vĩnh viễn lên làm vua, nàng Quế Nga xinh đẹp vĩnh viễn làm vợ lão và đất nước vĩnh viễn rơi vào ách ngoại xâm. Vậy là ông nhà văn đã “cởi nút” chỉ bằng một cái cớ hoàn toàn ngẫu  nhiên nếu không nói là …”có nhẽ đâu thế?”.

Vua Tô Chiêm sống lại thành người nhưng trong cái xác của ông lão hát rong thì sao mà cướp lại được ngai vàng, trở lại là Tô Chiêm ngày xưa? Việc tầy đình vậy mà ông nhà văn cho nó diễn ra quá dễ dàng chỉ trong một cuộc đấu khẩu giữa “xác vua” (vua giả Quận Khung) với “xác ông lão hát rong – vua thật Tô Chiêm):

XÁC ÔNG LÃO – Con chó sói đang nhe nanh đòi xé thịt người, bây giờ bỗng khóc lóc, hiền lành như con cừu non. Hỡi các tướng sĩ cùng nhân dân, các ngươi hãy nhìn xem trong kinh đô chúng ta đây, cung điện cổ kính còn chưa hết mùi hôi tanh của giặc để lại. Về nhà quê, làng mạc đồng áng còn ngập cỏ hoang. Nơi đâu cũng thấy người già đông hơn trai trẻ, đàn bà nhiều hơn đàn ông. Nơi đâu cũng thấy bà goá vất vả nuôi con côi. Vậy mà thằng phản nghịch kia lại toan rước quân giặc vào. Nó lại muốn cho xe ngựa dát vàng dát bạc của bọn cướp nước và lũ chó bán nước chạy nghênh ngang đầy đường còn chúng ta thì phải cụp đầu, đi len lén trong bóng tối. Nó lại muốn mắt chúng ta luôn luôn nhìn xuống đất, miệng chúng ta phải khâu lại. Ta hỏi các tướng sĩ cùng nhân dân, chúng ta có thể đầu hàng quân Tây Qua không?

Chỉ mới nghe doạ dẫm vậy mà “vua giả” Quận Khung đã chào thua, rút kiếm đâm vào cổ tự vẫn thì không hiểu  bản lãnh cướp ngôi đã biến đâu mất?

XÁC VUA: Ha ha ha! Ừ ta là Quận Khung đấy. Nhưng chúng mày không làm gì nổi ta đâu.  Chỉ bảy tám hôm nữa, bộ binh Tây Qua sẽ tràn như nước lũ vào đây. Tất cả chúng mày, vua tôi tớ thày sẽ chết, chết hết ! ha ha ha ! Quân Tây Qua sẽ trả thù cho tao. Chúng mày không làm gì nổi tao đâu. Tao không lọt vào tay chúng mày. (Giơ kiếm tự đâm cổ ngã xuống).

Ngày nay đọc lại “Con nai đen” người ta ngỡ ngàng không hiểu vì sao nó lại bị “đánh”. Phải chẳng vì những lời thoại kịch “bóng gió” kiểu như :

XÁC ÔNG LÃO:  Khi bọn ăn cướp làm chúa tể, thì sự độc ác được ca tụng là lẽ phải, sự gian dối được coi là thông minh và mọi tội ác thường trắng trợn phơi bày, chẳng cần giấu giếm. Nhưng nếu những người lương thiện đứng lên và nắm được sức mạnh trong tay, thì những thèm muốn xấu xa ích kỷ lại phải nói lời đạo đức cao thượng, và những điều gian tà phải lén lút tìm cách đội lốt chính nghĩa.

Chắc không phải vậy. Cứ theo như lời kể của chính nhà văn Nguyễn Đình Thi thì :

“Vở kịch được Đoàn kịch nói Nam Bộ dựng. Làm việc với Thế Lữ rất thích. Lại có Nguyễn Đình Nghi trợ lý cho Thế Lữ. Thế Lữ chỉ sửa cho lời thoại bổng trầm hơn, còn nói chung không sửa gì. Hoàng Nam đóng Tô Chiêm, Huỳnh Nga đóng ông lão hát rong, Hoàng Ngọc đóng Quế Nga, Ngọc Bé vai Quận Khung, và Minh Phụng, Hữu Hạnh, Võ Thị Năm, Thu Lê, Kim Cúc… đảm nhiệm các vai khác. Tập xong, diễn tại Nhà Hát Nhân Dân, đông người xem, không còn vé mà bán. Khi diễn vui lắm, diễn đến lớp nhà vua thử người yêu, hễ ai nói dối thì pho tượng cười, khán giả đều ồ lên thích thú. Mọi người thấy đây đích thực là kịch.

Sau khi diễn, có hai luồng ý kiến: một là cho vở kịch đặt ra vấn đề triết học sâu, một bảo là vở kịch phản động, ám chỉ Cải cách ruộng đất đưa ra hình ảnh kẻ thù bên ngoài len vào bên trong đánh người thân tín (qua chuyện Quận Khung đánh Trung Dũng). Trong giới cũng có người như Học Phi đập mạnh vở kịch này.

Một hôm, ông Trường Chinh và Hoàng Văn Hoan đến Nhà Hát Nhân Dân xem. Tôi đứng xa xa, thấy Hoàng Văn Hoan ghé tai ông Trường Chinh nói cái gì đó, tôi thầm nhủ: “Bỏ mẹ rồi!”. Sau đó có lệnh cấm diễn. Trong cuộc họp nội bộ, ông Trường Chinh lên án “Con nai đen” gay gắt lắm, bảo xấu hơn cả “Nhân Văn”, ác hơn. Tôi đứng lên nói không đồng ý với nhận xét đó và đưa ra ý kiến của mình. Nhưng sau đó vở kịch vẫn không được diễn.

Hồi đó sắp họp Đại hội văn nghệ toàn quốc, ông Trường Chinh đọc báo cáo, khen “Vỡ bờ” nhưng phê phán “Con nai đen”. Anh em nói lại, ông Trường Chinh rút ý kiến bảo là vở kịch phản động, chỉ nói là vấn đề nêu ra không rõ ràng. Lúc ấy người ta vẫn sợ những tác phẩm bị coi là “symbole équivoque” (biểu tượng hai mặt). Và vở kịch vẫn cứ không được diễn.”

Tôi hiểu nguyên nhân vì hồi ấy ông Trường Chinh chịu trách nhiệm về Cải cách ruộng đất, nên khi nghe có kẻ nói vở kịch của tôi ám chỉ Cải cách ruộng đất, xử trí oan nhiều cán bộ trung thành với Đảng, mới nghi ngờ, thành kiến với vở kịch…”

 

Quả thực đọc nát cả sách cũng chẳng thấy “Con nai đen” ám chỉ cải cách ruộng đất hoặc ám chỉ “Đảng, Chính phủ” ở chỗ nào ? Ngày nay giải mã ở đủ các tầng ngữ nghĩa cũng chỉ thấy câu chuyện có …”nhiêu đó” mà lại mượn của Gozzi, chẳng nâng được “Vua hươu” vượt lên trên cái tầm của chính nó theo kiểu Nguyễn Du viết Truyện Kiều khai sinh “Đoạn trường Tân thanh” từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân dưới một gương mặt mới; ngược lại, ngôn ngữ kịch của “Con nai đen” khá sơ lược. Nó vẫn chỉ xây dựng được những tính cách “một chiều”, đơn điệu theo kiểu Molière chứ hoàn toàn chưa vượt lên xây dựng được những tính cách nhiều chiều, đa dạng theo kiểu Shakespeares, bởi thế sau này nó cũng chỉ được dựng lại trong một vở kịch mang tên “Truyền thuyết một tình yêu” vui và câu khách.

Sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhớ tới Nguyễn Đình Thi trước tiên người ta  nhớ trường ca “Người Hà Nội” bất hủ, dường như nó đã trở thành “bài hát chính thức” của bao nhiêu thế hệ người Hà Nội dù còn ở lại thủ đô hay đã đi khắp bốn phương trời. Nhớ tới Nguyễn Đình Thi, người ta nhớ tới “Đất nước“,“Lá đỏ”, “Nhớ”…. Và chắc còn ít người biết tới lời nhắn gửi của ông qua bài thơ để lại trước lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng :

Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn
Mong anh em hiểu đừng cười
Tôi gửi lại đây chìa khoá
Tất cả cửa nhà tôi đó
ngổn ngang qua tạm cuộc đời

 

NHẬT TUẤN

Nguồn :

Trí khôn các bác để đâu? tiểu luận văn học của Nhật Tuấn

(bản do Lại Nguyên Ân biên tập, được tác giả cho toàn quyền công bố)

NỮ TÁC GIẢ THỤY AN TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BÁO “VĂN NGHỆ” NHÂN DỊP CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI VĂN NGHỆ TOÀN QUỐC LẦN 2

CẦN ĐẨY MẠNH PHÊ BÌNH, TẤN CÔNG

VĂN HÓA PHẢN ĐỘNG VÀ TĂNG CƯỜNG

VIỆC XÂY DỰNG TƯ TƯỞNG CHO VĂN NGHỆ SĨ

 

Mặc dầu chúng ta thường phàn nàn văn nghệ chưa có tác phẩm lớn, biểu hiện được tới một mực độ khả quan, cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến vĩ đại của đất nước, nhưng nhìn khái quát tình hình văn nghệ từ cách mạng đến giờ, ta phải công nhận nó đã nhận thức rõ ràng con đường đi của nó, nó đã có hướng đi lên rất vững chắc: hướng văn nghệ nhân dân. Trên con đường tiến lên hướng đó, văn nghệ như một đứa trẻ đã qua thời kỳ sài đẹn, nếu nay còn những cơn trái gió dở trời, chắc chắn ta sẽ kịp thời cứu chữa, không thể thành những biến chứng trầm trọng làm tổn thương đến sinh mạng nó được.

Tôi rất lạc quan mà nhận định như vậy. Mối lạc quan càng thêm có căn cứ, với sự ra đời của cuốn Đất nước đứng lên, với sự xuất hiện của một tài năng trẻ tuổi, Nguyên Ngọc. Tôi coi như những gì chúng ta còn chờ đợi ở văn nghệ, những gì còn ấp ủ nung nấu trong thẳm cùng của văn nghệ, đang bắt đầu nở. Nói thế không có nghĩa là tôi phủ nhận giá trị những sáng tác đã có trước tác phẩm Đất nước đứng lên. Ở đây tôi chỉ muốn ghi một biến chuyển quan trọng trong văn nghệ: từ giai đoạn mượn nhân vật, mượn con người để đóng khung chính sách và nhân văn của chúng ta, đang chuyển sang giai đoạn: chính sách, nhân văn xuất phát từ con người đã trở vào con người như thế nào. Đó là một tiến bộ sâu sắc của văn nghệ mà tôi muốn dành cho tác phẩm Đất nước đứng lên cái vinh dự là một dấu hiệu, nó sẽ dắt thêm một cuộc liên khai huy hoàng, vì thời đại chúng ta không phải là thời đại một anh hùng, một tác phẩm.

Tuy nhiên, văn nghệ hiện thời của ta vẫn bị thiếu thốn lớn: thiếu các nhà phê bình chuyên môn. Hiện tượng này thật là kỳ quái khi cả cuộc sống chúng ta đều lấy sự phê bình và tự phê bình làm đòn bẩy tiến bộ. Hoặc giả sự thiếu thốn này chứng tỏ chúng ta còn non yếu về lý luận chăng? Thiếu các nhà phê bình, một cuộc phê bình tác phẩm có biết lúc mở ra, mà không biết sẽ đóng thế nào; không đưa nổi một ý kiến ít nhiều có giá trị quyết định để cho tác giả và độc giả một ý niệm tương đối rạch ròi về tác phẩm được phê bình. Những nhà phê bình là những người làm vườn tốt nhất của vườn hoa văn nghệ, là người trực tiếp cống hiến vào việc viết các cuốn vào lịch sử văn học. Mong rằng tại Đại hội vấn đề này sẽ được đề ra, bổ cứu.

Vấn đề xử dụng vốn cũ dân tộc cũng cần đem ra đại hội duyệt lại, để nó khỏi sa vào tư tưởng sùng cổ trưởng giả, ỷ lại. Trên địa hạt này, theo thiển ý tôi, những người tìm tòi cũng như xử dụng cần phải nghiêm nhặt với tình cảm của mình, một thứ tình cảm nó không xa với óc kỳ thị dân tộc là bao! Dĩ vãng không thể bao giờ trùm lên hiện tại. Vốn cũ dân tộc có tác dụng nhất định của nó: làm bàn tựa cho văn nghệ đương thời lấy thế mà thẳng vút tới tương lai, chớ không phải là những hòn chì làm quẩn chân ta, là cái ngai thờ để ta cứ quỳ mà chiêm ngưỡng.

Tại đại hội tôi thấy cũng cần đề cập một vấn đề nữa: vấn đề tấn công vào văn hóa phản động. Cho đến bây giờ, về phương diện này, chúng ta chỉ mới trong chiến lược “đứng thế thủ”, “ta cứ làm tốt phía ta”; tôi thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nhận định, nghiên cứu có hệ thống đặc tính của văn hóa đế quốc phong kiến, cần tách bạch từng bộ môn văn hóa phản động mà tấn công thẳng vào.

Về phần lãnh đạo của Hội, các bạn văn nghệ đã đưa nhiều ý kiến phê bình, nhiều thắc mắc, nó cũng là thắc mắc của tôi. Nhưng tôi cần nhắc lại: điểm giáo dục lập trường, tư tưởng các văn nghệ sĩ Hà Nội bao năm sống xa rời Đảng và Chính phủ phải là công tác hàng đầu của Hội. Chúng tôi rất lấy làm lạ trong văn nghệ, vấn đề phục vụ kịp thời được đề ra mà lại không đề ra vấn đề học tập kịp thời. Là những người văn nghệ có nhiệm vụ truyền đạt phát huy, cuộc sống đang đà dũng tiến của đất nước, của nhân loại, chúng tôi phải được học tập sớm hơn ai hết, những tư tưởng, những chính sách đã tác động của cuộc sống ấy.

Khuyết điểm này của Hội – liệt vào khuyết điểm xao nhãng xây dựng những con người – chúng tôi có ý nghĩ Hội chỉ chú ý đến những vấn đề, những tổ chức hình thức, mà không chú ý đến bản thân những con người văn nghệ. Chúng tôi thắc mắc ra sao, nghĩ ngợi những gì, sinh sống thế nào, Hội không hề chú trọng một cách liên tục. Do đó vai trò lãnh đạo của Hội trong thời gian vừa qua, nhất là trong hai năm nay, rất khó mà thấy rõ, nếu không là chỉ rõ trên những bản thống kê: Hội đã in bao nhiêu sách, của bao nhiêu nhà văn, thuộc bao nhiêu loại, đã tổ chức bao nhiêu cuộc triển lãm, nói chuyện, v.v.

Tôi mong vấn đề lãnh đạo của Hội sẽ được đặt lại tại đại hội thành khẩn hơn, hữu hiệu hơn. (1)

THỤY AN

Nguồn:

Văn nghệ, Hà Nội, s. 128 (5.7.1956), tr. 5.

Chú thích:

(1) Nhằm chuẩn bị cho Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, báo Văn Nghệ phỏng vấn các văn nghệ sĩ với 3 câu hỏi: 1 và 2/ Theo ý bạn thì từ Cách mạng tháng Tám đến giờ, phong trào văn nghệ Việt Nam cóa những ưu, khuyết điểm gì? 3/ Bạn thấy trong Đại hội văn nghệ toàn quốc sắp đến nên bàn đến những vấn đề gì? Trên đây là trả lời của Thụy An, một nhà văn thuộc khối những văn nghệ sĩ ở ngoài biên chế ở thành phố Hà Nội.  (L.N.A.)

Một bài báo của PHAN KHÔI năm 1956: PHÊ BÌNH LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ

 

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết cái bài nầy.

Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ, nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa thu không thể giống được với mùa xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa thu, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.

Huống chi anh bạn trẻ có cho tôi biết rằng Giai phẩm mùa Thu sắp in ra là để góp một phần nhiệm vụ chuẩn bị và xây dựng cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 11 sẽ tới, tôi cũng muốn đóng góp chút ít cái nghĩa vụ ấy, thì đó là dịp tốt cho tôi viết.

Lại huống chi cái tôi viết đây là bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con chó đói” của Trần Dần, “cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng tôi nên viết lắm.

Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?

Còn như sợ “bên địch xuyên tạc” thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc? Chó sủa hà tất phải có bóng người đi qua. Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên, tôi thử kể ra đây một mẩu. Tháng tư năm ngoái, tôi đi vào khu V, nghe đồng bào thuật lại rằng trước đó độ một năm, lúc thủ tướng Phạm Văn Đồng đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ, đài phát thanh Sài Gòn nói rằng “đó là tại Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao, đã bị thủ tiêu rồi nên Phạm Văn Đồng lên thay”. Thật, ông nào nói “bên địch xuyên tạc” cũng nên khen ông ấy là quân tử hơn bên địch lắm lắm vậy.

Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng còn không sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.

Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc là tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc.

Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.

Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giờ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.

Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.

Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng nó thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở Nam Bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.

Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.

Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.

I. VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO VĂN NGHỆ SĨ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam Bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những nếp nhà đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. (1) Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có để bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa đến bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.

Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên Xô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, họa, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại, trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thủy. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác. Tôi vào phòng riêng, nằm nghĩ mà tức lắm, không tức gì với ông Hoài Thanh mà tức với lãnh đạo. Từ đó có mặt trong cuộc họp nào tôi cũng không phát biểu ý kiến. Có anh em hỏi tôi sao không phát biểu. Tôi trả lời rằng vì không có ý kiến gì khác. Nhưng, thực ra, có ý kiến gì khác tôi cũng không thèm phát biểu. Nên nói thêm rằng tôi mong ông Hoài Thanh đưa tôi ra phê bình lắm, nhưng may làm sao không thấy đưa tôi ra phê bình, vì cái sự phê bình, tự phê bình được coi là võ khí ấy rất hiếm có trong cơ quan chúng tôi: hai năm nay chỉ có hai lần, một lần phê bình thơ Việt Bắc, một lần phê bình bài thơ của Trần Dần mà sau đây tôi sẽ nói đến.

Đó là lãnh đạo nghiệt ngã về nói; đây là về viết.

Tháng 10 năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn. Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh ủy bí mật, không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu tôi nói đó chỉ thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh. Tôi tuy nhũn như con giun đối với lãnh đạo thể ấy, nhưng khi nói trước công chúng, tôi cứ nói theo nguyên văn của tôi, không chữa một chữ nào, vẫn không gặp sự phản ứng nào trong đám thính giả.

Đó là cái thói kỵ húy trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường tư, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn, (2) quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường tư, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ húy như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ húy của quan trường thì không khác.

Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.

Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.

Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi được tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.

Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.

Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.

Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải trình bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.

Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà gia đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.

Ông Nguyễn Tuân và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó cái nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả cũng một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết. Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!

Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một tòa soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:

Ở đây nào phải trường thi

Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?

thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!

II. VỀ VỤ GIAI PHẨM MÙA XUÂN

          Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, – tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo.

Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi; còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng”, là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời đã nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.

Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.

Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà kỳ thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau về kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đành làm thinh.

Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài những chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.

Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta. (3)

Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?

Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên lụy đến anh em, bè bạn, liên lụy đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hòa dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.

Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đưa cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.

Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát biểu của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi đã nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.

Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải Phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô-viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “vú” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.

Một tối họp buộc tội, không có một lời nào cãi lẽ; bốn bài báo buộc tội, không có một chữ nào trả lời: quả nhiên “miệng” đã bị “vú lấp” rồi. Đó là cái cơ hội cho một việc gì xảy ra.

III. VỀ VỤ GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.

Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu đồng tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.

Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ đi dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng được dự vào đó thì hay.

Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.

Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn lại, nói đó không phải là cái luận cứ cứng vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng Tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.

Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.

Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.

Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ. (4) Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?

Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn Kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.

Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Đại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?

Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.

Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.

Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.

Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.

Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.

Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc.

PHAN KHÔI

(Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội)

Nguồn:

Giai phẩm mùa thu 1956, tập I,  Hà Nội, Nxb. Minh Đức, tháng 9/1956; bản in lần thứ hai, tr. 3-16.

Chú thích:

(1) cụp: mê ly, thích thú, khoái chí. (theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái chủ biên, Nxb. Tp. HCM., 1994, tr. 190.

 (2) Các vua triều Nguyễn gốc ở làng Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (nguyên chú của Phan Khôi)
(3) Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 1-3-56 (nguyên chú của Phan Khôi)
(4) Nhớ như có người đã thắc mắc về tập thơ Ngôi sao, nhưng tôi không chắc lắm, việc này có thể xét lại biên bản của Hội Văn nghệ về buổi họp ấy. – Ngày 20-8-56, thình lình có cuộc họp Ban Chấm giải, tôi phát hiện thêm ra một sự gian lận: Bao nhiêu lời phản đối của tôi về tập Ngôi sao đều bị bỏ hết, không ghi vào biên bản. Việc nầy, liền ngày đó, tôi có viết thư cho ông Tổng thư ký Đảng Lao Động biết. (Phan Khôi chua thêm ngày 21-8 trước khi tập sách lên khuôn.)