Trang chủ » Tác giả » NHẬT TUẤN: VỀ TẬP THƠ CHÂN DUNG của XUÂN SÁCH

NHẬT TUẤN: VỀ TẬP THƠ CHÂN DUNG của XUÂN SÁCH

Start here

Năm 1992 một sự kiện ầm ĩ nổ ra trong giới xuất bản. Chuyện bắt đầu từ tập thơ “Lên chùa” của nhà thơ Xuân Sách vốn được sáng tác lai rai từ 60 năm trước. Vào một dịp thăm Xuân Sách ở Vũng Tàu, tướng Trần Độ ghi âm Xuân Sách đọc gần 100 bài thơ này. Cuối năm 1992, nhà văn Hoàng Lại Giang lúc đó là Trưởng Chi nhánh NXB Văn Học tại TP HCM được nghe cuốn băng này và đặt vấn đề với Xuân Sách là sẽ cho in thành tác phẩm với tên là “ CHÂN DUNG NHÀ VĂN”.

Mặc dầu NXB Văn học đã phải rào trước đón sau trong lời nói đầu :

Chúng tôi chỉ coi đây là những nét tự trào của giới cầm bút Việt Nam. Cười đấy nhưng cũng tự nhận ra những xót xa, hạn hẹp của chính mình, những gì chưa vượt qua được trên chặng đường quanh co của lịch sử và thời đại. Tự soi mình hoặc hiểu mình thêm qua cái nhìn của người cùng hội, cùng thuyền lắm khi cũng hữu ích. Cái cười trong truyền thống dân gian vốn là vũ khí. Ngày nay còn có thể là sức mạnh thúc đẩy đi tới phía trước.Với ý nghĩ ấy, chúng tôi mong bạn đọc và các nhà văn thông cảm cho những gì bất cập hoặc chưa lột tả được thần thái của từng chân dung.Dù sao đây cũng là 100 bức tranh nhỏ về những người có công trong văn học, những người nổi tiếng trong làng văn, trong bạn đọc, bằng chính những tác phẩm có giá trị của mình. Bạn đọc và thời gian đã là người đánh giá chính thức và công bằng nhất đối với họ. Rất mong độc giả và các nhà văn nhận ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn, và lượng thứ cho những khiếm khuyết. “

Tuy nhiên khi sách in xong, chưa kịp phát hành, nhà văn Hoàng Lại Giang cho biết :

” Phản ứng của nhà văn rất lớn, và đấy là điều tôi không ngờ đến.Những nhà văn lớn có bản lĩnh, họ chịu đựng nổi, im lặng. Nhưng những nhà văn tầm tầm, lồng lộn, rất gay gắt yêu cầu Bộ Văn hóa kiểm điểm và thu hồi.”

Một cuộc họp của Bộ Văn hóa diễn ra, với năm đại diện: Ba thứ trưởng (Phan Hiền, Huy Cận, và Nông Quốc Chấn), đại diện Hội Nhà văn Vũ Tú Nam, cùng Giám đốc NXB Văn học Lữ Huy Nguyên quyết định không thu hồi nhưng niêm phong số bản in 3000 cuốn. 20 năm sau, cho tới tận bây giờ, số sách này vẫn bị chôn dưới hầm cầu thang chi nhánh NXB Văn Học tại 290/20 Nam kỳ Khới  nghĩa Q3 TP HCM, chắc đã làm mồi cho mối.

Ta hãy nghe nhà thơ Xuân Sách tâm sự về cái “cảm hứng chủ đạo” khi viết tập thơ “Lên chùa” sau đổi thành “Chân dung nhà văn “ :

“Trước đây khi còn là lính ở địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đây là những con người dị biệt rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến, dường như họ là một siêu tầng lớp trong xã hội. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động, lời nói của họ có thể trở thành giai thoại, và cả tật xấu nữa dường như cũng đứng ngoài vòng nhận xét thông thường… Tóm lại đó là thế gìới đầy sức hấp dẫn đối với người say mê văn học và tấp tểnh nuôi mộng viết văn như tôi. “

Nhưng rồi khi tiếp cận với họ, ông cảm thấy “vỡ mộng “:

Khi tôi được về Hà Nội vào cơ quan văn nghệ dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta quân đội có vị trí đặc biệt trong xã hội kể cả lĩnh vực văn chương), tôi bắt đầu đi vào cái thế giới mà trước kia tôi mơ ước.

 Điều tôi nhận ra là, ngoài cái phần tôi hiểu trước đây, thì thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đó là cái mặt đời thường, cái mặt rất chúng sinh, và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên các tác phẩm và tính cách nhà văn…Khi tôi đã tìm hiểu được những ứng xử, những tính cách của những nhà văn, ngoài những tác phẩm mà tôi thường ngưỡng mộ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi”Sao thế nhỉ, với bề dầy tác phẩm như thế, với vị trí trong xã hội như thế, trong lòng người đọc như thế, sao họ còn ham muốn những thứ phù phiếm đến thế… Một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi nước ngoài… Mà đã ham muốn thì phải mưu mẹo, phải dối trá và nhất là phải sợ hãi” . Vì vậy chân dung của họ không thể bỏ qua. Hơn nữa, nếu ”Vẽ” được chính xác những chân dung đó, thì bộ mặt xã hôi thời đại mà họ đang sống cũng qua đó mà hiện lên.”

Và thế là Xuân Sách đặt bút viết tập thơ “Lên chùa” hàm ý gặp 100 pho tượng tức 100 chân dung ở đó. Nhà thơ Xuân Sách kể lại :

Hồi đó Hồ Phương đã là tác giả in nhiều tác phẩm đã được giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn học. Tôi dùng tên các tập truyện ngắn của anh ”Trên biển lớn”; ”Xóm mới”; ”Cỏ non”  và tên cái truyện đầu tay được nhắc đến: ”Thư Nhà”. Tôi viết bài thơ ra mẩu giấy :

 

“Trên Biển lớn lênh đênh sóng vỗ

 Ngó trông về xóm mới khuất xa

 Cỏ non nay chắc đã già

 Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.

Tôi đưa bài thơ cho Nguyễn Khải. Anh đọc xong trên mặt có thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không cười như tôi chờ đợi. Anh bỏ bài thơ vào túi chứ không chuyển cho người khác. Đến giờ giải lao chúng tôi ra ngồi cạnh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa bài thơ cho Hồ Phương. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi run, Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh :

— Thằng này (chỉ tôi) ghê quá, không phải trò đùa nữa rồi !

Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu ngoài cái nghĩa thông thường, bài thơ còn chạm vào tính cách và đánh giá nhà văn. Mà đánh giá nhà văn có gì quan trọng hơn tính cách, và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý, Hồ Phương có viết nhiều chăng nữa cũng không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ ”Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem”!

Bài thơ về Hồ Phương đã trở thành bài đầu tiên mở đường cho vệt thơ “Lên Chùa” trong suốt 30 năm của Xuân Sách.

Mùa xuân năm Nhâm Thân (1992) ,vào dịp lần đầu tiên xuất bản tập thơ ông phát biểu :

“ Nói về đồng nghiệp cũng là nói về mình. Cái hay cái dở của một người cũng là của một thời. Câu thơ “Từ thủa tóc xanh đi vỡ đất. Đến bạc đầu sỏi đá chưa thành cơm” đâu chỉ là số phận của một nhà thơ. Hơn ai hết, tôi nghĩ, nhà văn là đại diện của một thời, là lương tri của thời đại. Đã đành là khó ai vượt được thời đại mình đang sống, không dễ nói hết, nói công khai những điều suy nghĩ. Nhưng cũng thật đau lòng và xấu hổ khi những nhà văn bán rẻ lương tâm, còng lưng quỳ gối trước quyền uy, mê muội vì danh lợi. Có lẽ đó là động cơ thúc đẩy tôi viết, nếu có nói quá cũng dễ hiểu. Cái con quỷ ám nếu có thì cũng là ảnh hưởng những cảm xúc ấy, nỗi đau chung ấy. Nhiều nghịch lý vốn tồn tại trong cuộc đời cũng như nghệ thuật. Tiếng cười nhiều khi xuất phát từ nỗi đau ! Những bài thơ chân dung đã có cuộc sống riêng của nó. Không phải kỳ lạ nhưng cũng độc đáo. Nó được lan truyền đến nay đã 30 năm. Đã có nhiều bài ”khảo dị”, nhiều bài ‘’ngoài luồng’’ cũng được gán cho tác giả, bây giờ in ra cũng coi như một sự đính chính. Nó cũng là ”một cái gì đó”, như có người đã nói nên mới tồn tại được, nếu có ích thì tác giả lấy làm mãn nguyện.”

Và chính với “cảm hứng chủ đạo” có phần thất vọng về phẩm chất nhà văn, tuy Xuân Sách gọi là viết “chân dung” mà thực ra ông đã vạch trần “chân tướng “ nhà văn vậy

Ông tên thật là Ngô Xuân Sách, sinh ngày 4-7-1932 tại Trường Giang, Nông Cống, Thanh Hoá. Năm 1960, ông bắt đầu công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Từ năm 1981 đến năm 1986, ông làm Phó Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội. Năm 1987, ông chuyển vào làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 1997. Đầu năm 2008, nhà thơ Xuân Sách chuyển ra Hà Nội sống với con gái để có điều kiện chữa bệnh suy gan và suy thận. Thế nhưng, do tuổi cao sức yếu, sau mấy ngày nằm ở bệnh viện, khuya ngày 2-6 nhà thơ Xuân Sách đã lặng lẽ từ biệt cõi đời .

Đọc Xuân Sách trước tiên ta cảm phục lòng dũng cảm của ông. Văn học Việt Nam vào những năm “trời đất nổi cơn gió bụi”, những năm của thập kỷ 1970s, xã hội còn chìm đắm trong nền kinh tế bao cấp, văn hoá văn nghệ bị “quản lý” đến nghẹt thở, vậy mà Xuân Sách cả gan vạch trần chân tướng của tất cả những văn thi sĩ đang cúc cung tận tuỵ  hiến dâng tài năng và tâm huyết cho …Đảng, cho chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”.

Đầu sổ là nhà thơ Tố Hữu, chủ soái của văn hoá nghệ thuật của Đảng, Xuân Sách vẫn không sợ , vẫn xỏ xiên :

“Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng

Mắt trông về tám hướng phía trời xa

Chân dép lốp bay vào vũ trụ

Khi trở về ta lại là ta

 

Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát

Trông về Việt Bắc tít mù mây

Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt

Máu ở chiến trường, hoa ở đây…”

 

Với nhà thơ Chế Lan Viên, thi sĩ chỉ dám “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ”, Xuân Sách thẳng  tay ra đòn :

“ Điêu tàn ư ? Chả phải điêu tàn đâu

Anh đã tính “Vàng Sao” từ độ ấy

Chim báo bão gió chiều nào che chiều nấy

Lựa ánh sáng trên đầu mà đổi sắc phù sa

 

Trưước 1945, nhà phê bình Hoài Thanh nổi tiếng với cuộc tranh luận “ nghệ thuật vị nghệ thuật , nghệ thuật vị nhân sinh ?”, từ sau cách mạng chỉ còn là một anh hề đồng “ca ngợi cấp trên”, bởi thế Xuân Sách hạ bút :

“ Vị nghệ thuật nửa đời người

Nửa đời sau lại vị người cấp trên

Thi nhân còn một chút duyên

Lại vò cho nát lại lèn cho đau

Bình thơ tới thủa bạc đầu

Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình

Tàn canh tỉnh rượu bóng mình cũng tan”

 

Nhà văn Nguyễn Tuân trước cách mạng nổi đình đám với “ Vang bóng một thời”, nhưng từ sau cách mạng ông tự tước bỏ gai góc, xù xì để trở thành một nhà văn chỉ biết “ngợi ca chế độ” :

“ Vang bóng một thời đâu dễ quên

Sông  Đà cũng muốn đẩy thuyền lên

Chén rượu tình rừng cay đắng lắm

Tờ hoa lại chuốc lệ ưu phiền”

 

Nhà thơ Lưu Trọng Lư, “con nai vàng “ đã thành “vờ ngơ ngác” để  leo  lên tới chức Vụ trưởng Vụ văn nghệ :

“ Em không nghe mùa thu

Mùa thu chỉ có lá

Em không nghe rừng thu

Rừng mưa to gió cả

Em thích nghe mùa Xuân

Con nai vờ ngơ ngác

Nó ca bài cải lương…”

 

Nhà thơ Huy Cận ngày xưa với “Lửa thiêng”, từ sau khi đi theo cách mạng, thơ ông cũng “nói dối” :

“ Các vị La hán chùa Tây Phương

Các vị gầy quá còn tôi thì béo

Năm xưa tôi hát vũ trụ ca

Bây giờ tôi hát đất nở hoa

Tôi hát chiến trường như trảy hội

Đừng nên xấu hổ khi nói dối

Việc gì mặt ủ với mày chau

Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu ?”

 

Nhà văn Nguyễn Đình Thi tuy làm quan cách mạng nhưng vẫn viết “con nai đen” ngụ ý xỏ xiên :

“Xung kích tràn lên nước vỡ bờ

Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ

Bay chi mặt trận trên cao ấy

Quên chú nai đen vẫn đứng chờ…”

 

Nhà văn Tô Hoài chỉ được “con dế mèn” từ thời trước cách mạng, sau đó “tàn phai” trong những tác phẩm viết phục vụ cách mạng :

“ Dế mèn lưu lạc mười năm

Để o chuột phải ôm cầm thuyền ai

Miền Tây sen đã tàn phai

Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang”

 

Nhà văn Nguyên Hồng nổi tiếng với Bỉ vỏ , đi với cách mạng viết khá nhiều tiểu thuyết “đồ sộ’ về số trang nhưng chẳng mấy giá trị :

“ Bỉ vỏ một thời oanh liệt  nhỉ

Sóng Gầm sông Lấp mấy ai hay

Cơn bão đã đến dộng rừng Yên Thế

Con hổ già uống rươụ giả vờ say…”

 

Nhà văn Nguyễn Công Hoan  ngày xưa với Kép Tư Bền từ sau cách mạng thì …hết lộc trời, còn lại chỉ viết truyện lăng nhăng :

“ Bác Kép Tư Bền rõ đến vui

Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi

Bới trong đống rác nên trời phạt

Trời  phạt chưa xong bác đã cười..”

 

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh ngày xưa nổi tiếng làm thơ bí hiểm với câu thơ “nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm”. Than ôi từ ngày đi theo cách mạng, ông “làm công tác Hội” nhiều hơn  làm thơ :

“ Xưa thơ anh viết không người hiểu

“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”

Nay anh chưa viết người đã hiểu

Sắp sáng thì nghe có tiếng gà…”

 

Nhà văn Ngô Tất Tố sau cách mạng thời gian cầm bút ngắn ngủi cũng chưa làm nên dấu mốc nào sau “Tắt đèn” :

“ tại ba thằng mõ cỡ chuyên viên

Chia xôi chia thịt lại chia quyền

Việc làng việc nước là như vậy

Lộn xộn cho nên phải tắt đèn..”

 

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết mấy cuốn tiểu thuyết dày cộp nhưng cũng chỉ rặt một màu đỏ cách mạng :

Anh chằng còn sống mãi

Với thủ đô luỹ hoa

Để những người ở lại

Bốn năm sau khóc oà…”

 

Cứ như vậy, không chừa một ai, từ những cây đại thụ trong rừng văn chương cách mạng cho tới những thế hệ sau, chỉ bằng một khổ thơ ngắn, bằng những cái tựa sách, Xuân Sách đã tạc nên bức chân dung chân thực hơn bất cứ một luận đề tâng bốc nào của mấy anh phê bình văn học “ăn theo nói leo”.

 

Nhà thơ Nguyễn Bính, tham gia cách mạng từ 1947, về Hà nội năm 1954, làm báo tư nhân Trăm hoa từ năm 1956. Thời đó, báo của Nguyễn Bính là cái gai đối với các nhà lãnh đạo văn nghệ. Ông “cả gan” chê thơ Tố Hữu và Xuân Diệu :”Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955; đề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng.”. Táo tợn  hơn nữa, Trăm Hoa còn “đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu”. Tất nhiên chỉ ra được vài số Trăm Hoa “chết yểu” tuy không xơi đòn nặng như Nhân Văn Giai phẩm nhưng Nguyễn Bính cũng phải rời Hà Nội về Nam định làm anh nhân viên ngoài biên chế dưới sự “quản lý chặt chẽ ” của Trưởng ty văn hóa, nhà văn Chu Văn. Trong thơ chân dung về nhà thơ tình số 1 Việt Nam này , Xuân Sách điểm có hai tác phẩm tiêu biểu Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Nước Giếng Thơi (1957) nhưng vẫn không quên “sự kiện báo Trăm Hoa” với tình cảm xót xa  :

“Hai lần “lỡ bước sang ngang “

 Thương con bướm đậu trên dàn mồng tơi

 Trăm hoa thân rã cánh rời

 Thôi đành lấy đáy “giếng thơi” làm mồ.

 

Nhà thơ Tú Mỡ trước cách mạng đã từng “ngang ngạnh” trong “dòng nước ngược” :

“ Dứt cái mề đay quẳng xuống sông

Thôi thôi tôi cũng “méc-xì” ông…”

Vậy nhưng từ ngày theo kháng chiến thì “Tú mỡ” đã thành “Tú tóp” :

“ Một nắm xương khô cũng gọi mỡ

 Quanh năm múa bút để mua vui

 Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược

 Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.”

 

Nhà thơ Quang Dũng tác giả “Tây tiến”- một trong số ít bài thơ hay nhất thế kỷ, năm 1957 phải đi chỉnh huấn trong vụ Nhân Văn Giai phẩm , từ đó ông sống rất nghèo, lặng lẽ trong cương vị biên tập viên báo Văn Nghệ và sau là NXB Văn Học. Năm 1978, tôi cùng ăn với ông tại nhà ăn tập thể  NXB Văn học, Quang Dũng cao to nên ăn rất khỏe, lâu lâu lại thấy ông đứng lên đi xin thêm cơm. Bà Gái cấp dưỡng lúc đầu còn cho thêm cơm, sau chỉ cho … miếng cháy. Xuân Sách viết chân dung ông với lời lẽ xót thương và mến phục :

““Sông Mã xa rồi tây tiến ơi…”

 Về làm xiếc khỉ với đời thôi

 Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm

 Sống tạm cho qua một kiếp người.

 “Áo sờn thay chiếu anh về đất”

 Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh

 Gửi hồn theo mộng về tây tiến

 Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

 

Nữ thi sĩ Anh Thơ (1921), được giải thưởng của Tự Lực Văn đoàn năm 1939 khi mới 18 tuổi, tác giả tập “ Bức tranh quê” (1941) . Đi cách mạng năm 1945 trở thành cán bộ phụ nữa và làm thơ cách mạng, đại loại như :

CON ĐÃ VỀ NƠI BÁC Ở NGÀY XƯA

 Bác về, mời cụ “Các Mác’’ về, trên núi đá

 Trong cả lòng hang, Bác tạc tượng người.

 Như tạc niềm tin cho con cháu đời đời

 Từ thẳm rừng sâu ngời lên chủ nghĩa.

 

Bởi thế, Xuân Sách có vẻ tiếc cho bà :

Ấy bức tranh quê đẹp một thời

 Má hồng đến quá nửa pha phôi

 Bên sông vải chín mùa tu hú

 Khắc khoải kêu chi suốt một đời.

 

 Nhà văn Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết gia vào loại hàng đầu ở Việt Nam nhưng số phận tác phẩm của ông thật bi thảm. Năm 1957, ông Trương Tửu và Trần Thiếu Bảo (nhà in Minh Đức) tổ chức giỗ Vũ Trọng Phụng và tái bản “Số đỏ”. Có kẻ ỏn thót với Ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan là Vũ Trọng Phụng viết bài nói xấu ông ký ga , không may bố ông  “lãnh đạo cao cấp” này lại cũng làm nghề đó. Thế là một chiến dịch  triệt hạ Vũ Trọng Phụng được phát động. Ông bị quy là đệ tử của Freud, rồi ai đó moi trong thư viện ra bài báo của ông “Nhân sự chia rẽ giữa đệ tứ và đệ tam quốc tế, ta thử ngó lại cuộc cách mệnh cộng sản ở Nga từ lúc khỏi thủy cho đến ngày nay” in trên Đông Dương tạp chí số ra ngày 25/9/ 1937, ông bị quy là phần tử Trotskít. Từ đó Vũ Trọng Phụng coi như bị “khai trừ” khỏi văn đàn. Sau này khi tôi về NXB Văn Học, ông nhà phê bình văn học , Giám đốc Như Phong rỉ tai tôi :” Trong cuộc họp phê phán Vũ Trọng Phụng ở Thái Hà ấp toàn những nhà văn hàng đầu mà không một thằng nào dám mở mồm bênh Vũ Trọng Phụng lấy một câu…”. Mãi tới thời kỳ đổi mới, ông Lý Hải Châu, Giám đốc NXB Văn Học mới lần lượt tái bản tác phẩm của Vú Trọng Phụng. Khắc họa chân dung ông, Xuân Sách đầy lòng cảm phục :

“Đã đi qua một thời Giông tố,

Qua một thời “cơm thầy cơm cô”

Còn để lại những thằng “Xuân tóc đỏ”

Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ”

Nhà văn Nam Cao , cha đẻ của Thị Nở, Chí Phèo, cán bộ cách mạng, từng phụ trách báo Cứu Quốc, hy sinh năm 1951 trên đường công tác thuế nông nghiệp ở khu III. Giả dụ ông còn sống như các nhà văn cùng thời khác , không hiểu có còn đứng vững trên lập trường cách mạng trong cơn “tai biến” “ Nhân Văn Giai Phẩm” như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài…không ? Xuân Sách viết về ông đầy ưu ái :

“Em còn đôi mắt ngây thơ

 Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai

 Thương cho thị Nở ngày nay

 Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo!

 

Nhà thơ, kịch tác gia Thế Lữ , tác giả của “Mấy vần thơ” (1935) trong có những bài nổi tiếng : Nhớ rừng, Tiếng trúc tuyệt vời, Tiếng sáo Thiên Thai, Vẻ đẹp thoáng qua, Bên sông đưa khách, Cây đàn muôn điệu và Giây phút chạnh lòng. Năm 1936, hoạt động kịch với Ban kịch Tinh Hoa, ban kịch Thế Lữ . Sau năm 1947, ông tham gia kháng chiến, năm 1957 được bầu làm Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, hầu như không viết gì .

Xuân Sách tiếc cho ông đã quá sớm “về vườn bách thú”:

“ Với tiếng sáo Thiên Thai dìu dặt

Mở ra dòng thơ mới cho đời

Bỏ rừng già về vườn bách thú

Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi “

 

Nhà văn Bùi Hiển, nổi tiếng với truyện ngắn “Nằm vạ “ (1940), nhưng sau đó tham gia cách mạng quá sớm, không viết được gì nhiều, nổi bật là tập “Trong gió cát”. Năm 1958, ông viết truyện ngắn “Ngày công đầu tiên của cu Tí” để cổ vũ cho phong trào hợp tác xã. Truyện ngắn này được sử dụng trong giáo trình văn học phổ thông tại miền Bắc và cả nước Việt Nam trong nhiều năm. Những năm 1945-1960 ông là Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An, sau đó suốt trong nhiều năm , ông công tác trong Hội nhà văn VN. Xuân Sách giễu cợt :

“ Sinh ra “ trong gió cát”

Đất Nghệ An khô cằn

Bao nhiêu năm “nằm vạ”

Trước cửa hội Nhà văn”

 

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tham gia cách mạng từ năm 1930, đại biểu quốc hội khóa 1, người sống mãi với…Hội nhà văn, sau cách mạng viết tiểu thuyết “Truyện anh Lục”,“Bốn năm sau”, “Sống mãi với Thủ đô” , vở kịch “ Lũy Hoa”…Xuân Sách khắc họa chân dung ông :

“ Anh chẳng còn “sống mãi

 Với Thủ đô” Lũy hoa

Để Những người ở lại

Bốn năm sau khóc òa…”

 

Trong các nhà văn “tiền chiến” đi theo cách mạng, người bị Xuân Sách “giễu cợt nhất” có lẽ là nhà văn Kim Lân. Trước cách mạng, từ năm 1941, Kim Lân đã nổi tiếng về truyện ngắn. Ông viết không nhiều, sau cách mạng ông viết “Làng” về nông thôn Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, truy nhiên, hai truyện “Ông lão hàng xóm” (1955) và “Con chó xấu xí” (1962) bị phê phán phi hiện thực xã hội chủ nghĩa .

“Nên danh nên giá ở làng

 Chết vì ông lão bên hàng xóm kia

 Làm thân con chó xá gì

 Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.”

 

   Trong 100 chân dung của Xuân Sách, có một trường hợp đặc biệt, đó là nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu,  đã mất từ 1939, quá xa trước cách mạng. Trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh và Hoài Chân đã cung kính đặt Tản Đà lên ngồi ghế “chủ suý” của hội tao đàn, một người mở lối cho thi ca Việt Nam bước vào giai đoạn mới.Nhà văn Nguyễn Tuân cũng ca ngợi :” Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà? ”

Và Xuân Sách cung kính viết về cụ :

“Văn chương thuở ấy như bèo

Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời

Giấc mộng lớn đã bốc hơi

Giấc mộng con suốt một đời bơ vơ

Ước chi cụ sống tới giờ

Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn…” 

 

Nhà văn Bùi Huy Phồn tức Đồ Phồn thuộc lớp tiền chiến, năm 1941 đã viết tiểu thuyết trào phúng “Một chuỗi cười”, năm 1946 cũng tiểu thuyết trào phúng “Khao”, năm 1961 ông viết tiểu thuyết “Phất” hưởng ứng phong trào cải tạo tư doanh ở Hà nội . Ông thuộc  hàng quan chức văn hóa văn nghệ , từng làm Giám đốc nhà xuất bản Văn học (1958-1962), ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa II (1962-1972), đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội các khóa 4, 5 và 6, ủy viên thường trực Hội văn học nghệ thuật Hà Nội. Trong vụ Nhân Văn Giai phẩm ông viết bài “đánh” Trương Tửu rất nặng . Xuân Sách viết chân dung ông không lấy gì làm ưu ái khi gọi trệch “đồ phồn” thành “đồ phấn”, “đồ vôi” :

“ Phất rồi ông mới ăn khao

Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời

Ông đồ phấn, ông đồ vôi

Bao giờ xé xác cho tôi ăn mừng …:

 

Trong thế hệ kháng chiến chống Pháp , nhà văn Nguyễn Khải là người có khối lượng tác phẩm đồ sộ nhất. Suốt thời trai tráng, hầu như  không năm nào Nguyễn Khải không ra tiểu thuyết , tập truyện ngắn mới. Ở Sàigòn, có lần nhà thơ Hoài Vũ bảo tôi : “văn viết có duyên tớ thấy có Nguyễn Khải và cậu…”. Tôi thì không nói, nhưng quả thực Nguyễn Khải viết gì thì viết , người đọc vẫn luôn luôn  bị cuốn hút, hấp dẫn. Chính vì vậy tác động tuyên truyền, động viên của tác phẩm Nguyễn Khải rất mạnh; chỉ tiếc, vì chú trọng  bám sát chủ trương đường lối của Đảng nên khi chủ trương thay đổi, tác phẩm của ông trở nên xa với hiện thực. Năm 1978-79, NXB Văn Học thực hiện biên soạn Bộ tuyển văn học cách mạng 3 thời kỳ : chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ. Tôi được giao gặp từng nhà văn để hỏi tác giả muốn chọn những tác phẩm nào. Một buổi sáng tôi tới nhà Nguyễn Khải ở bãi Phúc Xá. Lúc đó ông đang ngồi ở bàn viết, trước mặt là tranh vẽ bìa cuốn “Cha và con và…” sắp ra lò. Nguyễn Khải chọn đi chọn lại trong kho chữ của mình rồi bất chợt ông kêu lên: “Tung tóe mẹ nó hết rồi Tuấn ơi…”. Ông nhìn tôi thất thần rồi cười khảy: “Nhưng không sao, tao sẽ vót nhọn gươm đâm một cú cuối cùng”. Cái cú đó chắc là tập “ Đi tìm cái tôi đã mất” trước khi ông mất . Xuân Sách chắc cũng hiểu được tâm sự Nguyễn Khải nên ông hạ bút :

“ Cha và con và…họ hàng và…

Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc

Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn

Họ sống chiến đấu càng khó khăn

Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa

Tháng Tư lại đi xa hơn nữa

Đường đi ra đảo đường trong mây

Những người trở về mấy ai hay

Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt

Muốn làm cách mạng nhưng lại dát”

Về cái “dát” của Nguyễn Khải thì Xuân Sách nói đúng. Chính Nguyễn Khải từng tâm sự :” Tớ theo “triết lý con lươn” cứ ngửi thấy mùi hiểm nguy là tớ tiết chất nhờn lủi mất…”

Nhà văn Nguyễn Thành Long chuyên viết truyện ngắn và ký. Ông rất kỹ lưỡng và thận trọng trong viết lách như ông từng tâm sự :” “Nhưng có lẽ là giời đầy tôi, tôi cứ phải lo nhận xét, ghi chép, và đắn đo ở từng chữ như vậy”. Kỹ lưỡng , đắn đó vậy nhưng rồi cũng không tránh được  “vạ bút” hồi năm 1957 với “ Trò chơi nguy hiểm” vào sau này với “Cái gốc” in trên báo Văn Nghệ. Tác phẩm của ông còn lại có “Lặng lẽ Sapa” và “Giữa trong xanh” . Xuân Sách đã khắc họa chân dung ông :

Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra

Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà

Lửng lơ giữa khoảng trong xanh ấy

Để mối đùn lên cái gốc già…”

 

Nhà văn Đào Vũ cũng thuộc thế hệ chống Pháp. Vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc, ông hưởng ứng phong trào bằng cả loạt tác phẩm “ Vụ lúa chiêm”, “Cái sân gạch” rất được báo chí hồi đó tung hô.Xuân Sách đã chỉ ra cái cốt cách văn chương của Đào Vũ :

“ Trời thí cho ông vụ lúa chiêm

Ông xây sân gạch với xây thềm

Con đường mòn ấy ông đi mãi

Lưu lạc lâu rồi mất cả tên…”

 

Khi viết chân dung nhà văn Nguyên Ngọc, Xuân Sách chưa được thấy vai trò của ông trong đòi hỏi dân chủ khi ông tham gia biểu tình ở Hà Nội, viết bài trên trang mạng bauxite…Bởi vậy Xuân Sách chỉ nhắc tới “Đất nước đứng lên” tác phẩm nổi tiếng của Nguyên Ngọc và “Mạch nước ngầm” , truyện dài bị nhắc nhở khi Nguyên Ngọc viết ở Quảng Ninh mất cả điểm hai cuốn rất cách mạng “Đất Quảng” và “Rừng Xà nu” :

“ Mấy lần đất nước đứng lên

Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm

Hại thay một mạch nước ngầm

Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu…”

 

Nhà văn thuộc thế hệ chống Pháp bị “tai nạn nghề nghiệp” nặng nhất có lẽ là Hà Minh Tuân. Ông tham gia hoạt động bí mật ở Hànội từ năm 1943 , chính ủy trung đoàn năm 1950, Giám đốc NXB Văn Học năm 1958. Không may ông viết tiểu thuyết “vào đời” nêu nỗi khổ của những thanh niên “vào đời” phải đi lao động trên công trường, “cái đòn gánh như con rắn quẫy nặng trên vai “ và thế là ông ăn đòn hội chợ của đồng nghiệp , ngay cả báo chí cũng phát động quần chúng nhảy vào đánh đấm . Rốt cuộc ông mất chức Giám đốc NXB Văn học về công tác ở “Vụ cá nước lợ” thuộc Tổng cục Thủy sản, vài năm sau về làm trợ lý cho ông Như Phong GĐ NXB Văn học .

Xuân Sách khắc họa chân dung ông :

“Bốn mươi tuổi mới vào đời

Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ

Giữa hai trận tuyến ngu ngơ

Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?”

 

Trong những nhà thơ kháng chiến chống Pháp, có những người chỉ có một bài mà được lưu truyền mãi. Đó là nhà thơ Minh Huệ , sinh năm  1927, từng là chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ – Tĩnh. Ông làm thơ từ hồi kháng chiến chống Pháp. Đề tài sáng tác chủ yếu của ông là Bác Hồ và cách mạng. Ông làm bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” sau khi được nghe kể lại câu chuyện gặp gỡ giữa Bác và một anh đội viên trong rừng giữa đêm mùa đông năm 1950.

Xuân Sách viết về  ông :

“Vỡ lòng câu thơ viết

Mời bác ngủ bác ơi

Đêm nay bác không ngủ

Nhà thơ ngủ lâu rồi”

 

Nhà thơ Hữu Loan là trường hợp khá đặc biệt trong những nhà thơ chống Pháp. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, năm 1936 trong phong trào Mặt trận Bình dân , năm 1943 giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, sau đó phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1957 có in một sốtác phẩm trên mấy ấn phẩm của nhóm Nhân Văn Giai phẩm, viết lên những tiêu cực của các cán bộ  tham nhũng, triệt hạ nhau để leo ghế. Sau khi hết thời gian cải tạo, Hữu Loan nhất quyết bỏ Đảng, bỏ cơ quan về quê kiếm sống không muốn dính dáng gì tới Hội nhà văn. Xuân Sách rất mến phục nhân cách của Hữu Loan :

“ Ôi màu tím hoa sim

Nhuộm tím cuộc đời dài đến thế

Cho đến khi tóc bạc da mồi

Chưa làm được nhà

        Còn bận làm người

    Ngoảnh lại ba mươi năm

      Tím mấy nghìn

            Chiều hoang

                    Biền biệt”

 

Càng đi sâu vào “chân dung” những nhà văn đã quá cố trong “Chân dung nhà văn” của Xuân Sách  tôi càng có cảm giác xót thương của anh chàng Paven Ivannôvits Tsitsikôp rong ruổi khắp nước Nga Sa hoàng trên chiếc xe Britska “mua tên” những tá điền, những nô lệ đã chết nhưng chủ đất chưa khai báo, chưa xoá tên trong sổ để cầm cố, vay tiền nhà nước trong tiểu thuyết “ Những linh hồn chết” của đại văn hào Nga Nikolai Vasilievich Gogol.

Phải nói ngay, tuyệt nhiên tôi không coi các nhà văn quá cố của ta như “những linh hồn chết” các tá điền thời nước Nga Sa hoàng. Ngược lại tôi cảm phục và cảm thương họ, cho dù đã chết nhưng linh hồn họ vẫn còn sống  trong các tác phẩm họ để lại, cả một đời vót nhọn đời sống vào ngòi bút , vào những ảo tưởng mà họ xác tín, hy sinh cả những lạc thú, cả nghĩa vụ với vợ con để làm cái công việc khổ ải là sáng tác văn học để rồi nhiều người “chẳng còn gì”… Còn nhớ nữ văn sĩ Lê Minh Khuê đã có lần nói với tôi :’ cái bọn nhà văn  dù có thế nào xem ra vẫn rất đáng yêu, cứ hí ha hí hửng, tí ta tí tởn thật tội nghiệp…”.

 

Tôi muốn dành lòng cảm thương đó cho nhà văn Nguyễn Thế Phương. Ông chính gốc quê Thanh Hóa, xuất hiện và nổi tiếng ngay với “ Đào chèo” viết về một cô đào nương bị tên Chánh tổng hãm hại, sau con gái của cô vẫn nối nghiệp mẹ nhưng là nữ văn công quân đội. Truyện viết với cảm hứng “phản phong” của thời đó.  Tiểu thuyết đầu tay “ Đi bước nữa” của ông cũng nổi tiếng với cái kết đại ý “ không phải chị gái góa này mà cả làng này phải …đi bước nữa…”, tất nhiên là đi lên hợp tác hóa nông nghiệp. Cho dù sống ở giữa Hànội, làm tới Trưởng phòng văn học Việt Nam  NXB Văn học nhưng ông sống rất nghèo trong một căn hộ chật chội. Hàng ngày ông uống thứ rượu trắng rẻ tiền người ta vẫn pha phân đạm để tăng độ nặng của rượu và sự nghèo túng cùng với bệnh tật đã làm ông ra đi ở tuổi 59. Nguyễn Thế Phương viết về công giáo trong tiểu thuyết “Nắng” với cái nhìn chân thực , thân thiện với đông bào Thiên chúa giáo hơn nhiều nhà văn cùng thời. Càng về cuối đời ông càng  rút ẩn vào chính ông, càng ít bè bạn . Xuân Sách buồn rầu dựng chân dung ông :

Đi bước nữa rồi đi bước nữa

Phấn son mưa nắng đã tàn phai

Cái kiếp đào chèo là vậy đó

Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.

 

Có thể nói trong “chân dung nhà văn”, Xuân Sách đã dành lòng ưu ái và cảm phục hơn cả cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn tức Nguyễn Thi. Ông là hình ảnh “ chiến sĩ – nhà văn “ xuyên suốt, bền vững, không  dao động, suốt hơn 6 năm ở miền Nam , ông đã có mặt hầu hết các chiến trường đồng bằng Nam Bộ vừa làm thơ vừa viết truyện. Ông nổi tiếng với Trăng sáng (truyện ngắn, 1960), Đôi bạn (truyện ngắn, 1962) và đặc biệt với truyện ngắn “Mẹ vắng nhà“, truyện ký “ Người mẹ cầm súng” sau  chuyển thể thành kịch bản phim “Chị Út Tịch.”

“Trăng sáng soi riêng một mặt người

Chia ly đôi bến cách phương trời

Ước mơ của đất anh về đất

Im lặng mà không cứu nổi đời.”

 

Ngược với Nguyễn Thi, Xuân Sách dành cho nhà văn Mai Ngữ mấy câu “chân dung” không lấy gì làm ưu ái lắm. Năm 1947 Mai Ngữ đi bộ đội, năm 1954, phóng viên Báo Quân đội nhân dân, sau cùng thành cán bộ Tạp chí Văn nghệ quân đội. Những tác phẩm tiêu biểu của Mai Ngữ: Dòng sông phía trước (1972), Bầu trời và dòng sông (1966), Người lính mặc thường phục (1986), Gió nóng (1984), Thời gian (1992), Người đàn bà trên hạm tàu (1996), Trong tay bọn Angca (1980), Cành đào tàn trên xe rác (1997)… và đặc biệt là Chuyện như đùa (1988) và Lại chuyện như đùa (1990).

Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật

Biết ông sòng phẳng tự bao giờ

Cái con thò lò quay sáu mặt

Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ

 

Một trong các nhà văn kháng chiến chống Pháp bị “tai nạn nghề nghiệp” nặng nhất phải kể đến nhà văn Phù Thăng, tên thật là Nguyễn Trọng Phu, từng là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 42, rồi làm phóng viên báo Quân Giải Phóng. Năm 1961, Phù Thăng viết tiểu thuyết Phá vây dầy 500 trang, kể chuyện một tiểu đoàn trinh sát mở trận đánh nghi binh, thu hút lực lượng địch về phía mình, giải vây cho đồng đội. Không may trong sách có đôi câu phát biểu bị coi là “hòa bình chủ nghĩa” khi ông cho rằng dù nhìn ở góc độ nào  chiến tranh cũng không phải là điều tốt đẹp, còn có chi tiết một chị cán bộ mỗi lần công tác qua bốt tề đều phải hiến thân cho thằng trưởng bốt khiến chị phải luôn uống thuốc ngừa thai… Thế là cuốn sách bị đập tơi bời, tác giả của nó phải chuyển về xưởng phim, sau đó thì về quê đi cày. Mấy năm sau, nghe nói Phù Thăng viết truyện cực ngắn có tên “ Hạt thóc” kể về một gã tâm thần, từng là nhà văn, rồi chẳng biết do ngộ chữ sao đó, gã đâm ra lẩn thẩn, cứ nghĩ mình là hạt thóc hễ trông thấy gà qué ở đâu là co cẳng chạy.

Theo phongdiep.net, khi nghe tin “Chân dung nhà văn “ ra đời, Phù Thăng lo cho Xuân Sách,đã gửi thư cho ông :

”Mình chưa được đọc nó, nên không biết phải nghĩ thế nào trước dư luận khen chê hiện nay (có khi bản thân ông thì cũng cóc cần các thứ dư luận ấy),nhưng vì tôi là bạn từ thuở hàn vi, đã cùng ông trải bao điều cay đắng nên không thể “mũ ni che tai” được. Tôi thực sự lo ngại cho những ngày còn lại trên cuộc đời bão giông trong lúc lưng ông đã còng,chân ông đã mỏi, mà tôi không biết phải làm gì cho bạn trong hòan cảnh “ốc còn chưa mang nổi mình ốc”.

Và Xuân Sách trả lời :

“Từ khi cái “của quí” của tôi ra đời, tôi đã nhận được nhiều thư từ, nhiều bạn cũ bạn mới đến thăm , nhiều cuộc gặp gỡ nhưng khi nhận thư ông tôi thực sự xúc động. Nói cho cùng đời vẫn đáng sống ông ạ. Dĩ nhiên so với ông tôi có khấm khá hơn, điều đó làm tôi càng thương ông”

Và Xuân Sách thương Phù Thăng qua “chân dung” :

“Chuyện kể cho người mẹ nghe

Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang

Đứa con nuôi của trung đoàn

Phá vây xong lại chết mòn trong vây.”

 

Một nhà văn quân đội khác, nhà văn Vũ Bão cũng ăn đòn phải bỏ Hà Nội chạy về Hà Nam. Đó là nhà văn Vũ Bão , năm 1947 làm quân báo, năm 1950 làm cán bộ Khu đoàn thanh niên Liên khu III. Ông chủ trương : “Thở bằng lá phổi của mình, nhìn đời bằng đôi mắt của mình, suy nghĩ về lẽ đời bằng cái đầu của mình, đi bằng đôi chân của mình và không bao giờ viết bằng ngòi bút đã bị bẻ cong.”

Do vậy, ông viết khá nhiều, năm 1957 tiểu thuyết “Sắp cưới” của ông dính dáng tới cải cách  ruộng đất nên bị đánh tơi bời, sau ông chuyển sang viết phim,.

Sắp cưới bỗng có thằng phá đám

Nên ông chửi bố chúng mày lên

Đàu chày đít thớt đâu còn ngán

Không viết văn thì ông viết phim.

 

Nhà văn nữ Nguyễn Thị Ngọc Tú xuất hiện  sau hòa bình với tiểu thuyết đầu tay “Huệ” (1964) gây tiếng vang lớn, sau đó là các tiểu thuyết: Đất làng (1974); Buổi sáng (1976); Hạt mùa sau (1989); tập truyện  Người hậu phương (1966); Những dấu chấm phía chân trời (1983)…Tiểu thuyết “Đất làng” tuy được khen nhưng cũng bị chê là “nền đỏ lấm tấm đen” vì đưa cả cảnh xã viên “làm reo” với Ban chủ nhiệm HTX… Nhiều năm chị là biên tập viên báo Văn Nghệ, quan chức Hội nhà văn như Ủy viên chấp hành, Tổng biên tập tạp chí  Tác phẩm mới…

Đất làng vừa một tấc

Bao nhiêu người đến cày

Thóc giống còn mấy hạt

Đợi mùa sau sẽ hay

 

Nhà văn quân đội nữ Nguyễn Thị Như Trang, hàm đại tá, biên tập viên báo Văn Nghệ quân đội , viết nhiều nhưng chẳng đọng lại được bao nhiêu :  Màu tím hoa mua ,  Ở thành phố bờ biển,  Câu chuyện ở cửa rừng ,  Hoa cỏ đắng …đều là truyện ngắn. Nổi bật là tiểu thuyết “ Khoảng sáng trong rừng (1979):

 

Nhá nhem khoảng sáng trong rừng

Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua

Xác xơ mầu tím hoa mua

Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.

 

Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, ngày xưa, chẳng hiểu vì sao , giới cầm bút lại gỉ tai nhau :“….Ngọc Tú,….Xuân Quỳnh. “. Bà nguyên là diễn viên múa, sau chuyển sang làm thơ, hay nhất là thơ tình với những bài nổi tiếng : Thuyền và biển, Sóng, Hoa cỏ may, Tự hát, Nói cùng anh…ngoài ra  còn có :”Tơ tằm – chồi biếc”,”Hoa dọc chiến hào”, “Gió Lào, cát trắng “,”Lời ru trên mặt đất”,”Sân ga chiều em đi “…Bà là vợ nhà văn Lưu Quang Vũ, cả hai tử nạn trong một tai nạn xe hơi gây nghi vấn trong dư luận. Không hiểu sao Xuân Sách nói bà “trồng cây táo” ra “ cây bạch đàn”, chắc là chuyện riêng tư không dính đến tên tác phẩm.

“Mải hái hoa dọc chiến hào

Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay

Thói quen cũng lạ lùng thay

Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn”

 

Trong các nhà văn nữ, có hai người đặc biệt nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước và không phải chỉ do văn chương. Đó là Dương Thu Hương và Phạm Thị Hoài. Sang thời đổi mới, nước ta “âm thịnh dương suy” sao đó thấy nổi lên toàn các bậc quần thoa ?

Sau khi viết được một số truyện ngắn  và một vài tiểu thuyết , Dương Thu Hương có xu hướng thiên về chính trị . Bà thường tuyên bố : “tôi dùng văn chương để làm chính trị “. Tôi và Dương Thu Hương là chỗ quen biết  “mày tao”. Khoảng năm 1990, Hương bay vào Sàigon ở tại Chi nhánh nhà NXB Phụ Nữ gần dinh Thống Nhất và gọi tôi tới gấp.

Tôi kéo Hương ra ngồi vườn hoa trước cửa dinh nghe cô nói về đổi mới, về dân chủ – tập trung, về vai trò nhà văn… Tôi cười hề hề :

” Chịu thôi, tao ghét “chính chị”, tao chỉ thích “chính em” thôi . “

Hương đấm tôi, chửi toáng :

” Tổ sư thằng béo, nhát như thỏ đế…”.

Nói vậy nhưng những ngày sau tôi vẫn chở Hương đi khắp Sàigon gặp gỡ  “chiến hữu”, diễn thuyết tại CLB trí thức ở 43 Nguyễn Thông…

Có lần, vào buổi tối, tôi chở Hương chạy qua phố Lê Quý Đôn, hồi đó “chị em ta” đứng đầy vỉa hè dưới ánh đèn đường . Lúc chạy ngang, có em gái nhận ra tôi , gọi ơi ới :

” Anh Tuấn ơi… chở vợ đi đâu đấy ?”.

Đám chị em cười  ầm ĩ làm Hương chửi tôi té tát, đấm vào lưng  thùm thụp. Ra Hà Nội, có lần tôi chở Hương tới tạp chí Văn Nghệ Quân Đội ở phố Lý Nam Đế gặp nhà văn Nguyễn Khải mới ở Sàigòn ra. Ba anh em chuyện trò rôm rả lắm. Tôi khoe với Nguyễn Khải :

” Con Hương nó mới ra tiểu thuyết hay lắm”.

Ông Khải trố mắt :

” Thế à ? Cuốn gì thế ?”

Tôi liếc Hương :

” Chuyện tình kể trước lúc…dạng chân”.

Nói xong tôi ré chân chạy. Ông Khải phá ra cười hô hố làm Hương vừa chửi  vừa vác guốc đuổi đánh tôi.  Mấy hôm sau, vào gần trưa  Hương hẹn tôi, nhà thơ Lê Đạt, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến tới sân Hội liên hiệp VHNT, 51 Trần Hưng Đạo. Hương bảo mỗi người hãy nói ngắn gọn “ văn xuôi là gì” . Tôi nhớ Lê Đạt và Hoàng Ngọc Hiến nói rất hay , Dương Thu Hương ghi lia lịa. Đến lượt tôi chẳng biết nói gì, bài bây :

” Văn xuôi gì cũng chẳng bằng thịt chó. Giờ lên hàng Lược đánh một trận mới thật là văn xuôi.”.

Dường Thu Hương chửi :

” Tổ sư thằng béo, chưa chi đã vòi ăn. Mà thằng này nói có lý …lúc này văn xuôi gì cũng chẳng bằng thịt chó …”.

Thế là cả bốn anh em thả bộ lên chợ Châu Long đánh một bữa  tuý luý. Dương Thu Hương là như thế. Hết lòng với bạn bè. Miệng lưỡi chua ngoa nhưng lòng dạ tử tế, thương người, trọng nghĩa khinh tài. Hồi năm 1979 đánh Tàu, Dương Thu Hương viết truyện ngắn “ Chân dung người hàng xóm” vạch mặt Trung Quốc, được giải nhất báo Văn Nghệ. Hương viết khoẻ và nhiều. Trong các tác phẩm của Hương, tiểu thuyết  “Thiên đường mù” theo tôi là hay nhất. Về sau bà thiên về hoạt động chính trị nên các tác phẩm gây tiếng vang phần nhiều là do chính trị.

Xuân Sách viết về Dương Thu Hương với cảm tình rõ rệt :

“Tay em cầm bông bần ly

Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng

Chuyện tình kể trước rạng đông

Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ

Thiên đường thì quá mù mờ

Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma

Hành trình thơ ấu đã qua

Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.”

 

“ Nữ tướng” văn xuôi thứ hai phải kể đến nhà văn Phạm Thị Hoài . Hoài  xuất hiện cùng với  Nguyễn Huy Thiệp ở báo Văn Nghệ vào thời Tổng biên tập Nguyên Ngọc đổi mới báo . Hồi đó tôi ở Sàigon ra, nhà thơ Dương Tường đưa tôi mấy truyện ngắn của Phạm Hoài Nam (tên mới ra lò của Hoài) dặn :” cậu đọc kỹ và nhận xét coi !”.

Đọc xong tôi mang trả Dương Tường và chẳng hiểu sao tôi lại phán như ông thày đời :

”Con bé này cứ đi theo đường này nhất định là tắc tị…”.

Mấy năm sau Phạm Thị Hoài nổi như cồn với Thiên Sứ, Mê Lộ, Marie Sến…tôi thấy ân hận vì đã nhận xét bộp chộp . Hai chục năm sau nhớ lại thấy bớt áy náy, vì suy cho cùng văn tài nào chẳng tới lúc…tắc tị ?

Sau này Phạm Thị Hoài sang Đức làm Talawas, diễn đàn văn học nghệ thuật bậc nhất,  rất có ích cho văn nghệ sĩ cả trong lẫn ngoài nước. Tuy bận rộn Hoài vẫn viết tiểu luận, và vẫn viết hai truyện ngắn xuất sắc :“ Cam Tâm”  và “Ám thị”. Có lần về VN, Hoài  tìm tới cơ quan tặng tôi cuốn Marie Sến. Tôi treo cuốn này ở ghi đông xe đạp vừa đạp thể dục vừa ngẫm nghĩ về nó, tới lúc quẹo trái, mải nghĩ bị xe máy phía sau tông hắt bắn lên trời cả người lẫn sách, nằm liệt cả tháng , sau cứ nhìn thấy Marie Sến của Hoài lại giật mình thon thót nghĩ tới lúc hút chết.

Xuân Sách hiểu khá rõ Phạm Thị  Hoài :

“ Dẫu chín bỏ làm mười

 hay mười hai cũng mặc

Chẳng ai dung thiên sứ đất này

Dụ đồng đội vào trong mê lộ

Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.

 

Cùng lứa với Dương Thu Hương là nhà thơ Ý Nhi. Bà là ái nữ của  nhà văn-nhà nghiên cứu  GS Hoàng Châu Ký, quê Quảng Nam, là phu nhân của Giáo sư Nguyễn Lộc, nghiên cứu văn học. Ý Nhi nhiều năm làm biên tập NXB Hội nhà văn, sau đó chuyển vào TP Hồ Chi nhánh là Trưởng Chi nhánh của NXB này .

Ý Nhi làm nhiều thơ : Nỗi nhớ con đường, Cây trong phố chờ trăng,Người đàn bà ngồi đan,Ngày thường, Mưa tuyết…phần nhiều mang tâm trạng ngổn ngang như chị đã từng viết trong “tiểu dẫn” : “tôi ngại các tiệc vui – nhiều khi tôi khóc vì chính cái khiến mọi người quanh tôi vui sướng – và lại muốn thét lên khi mọi người yên lặng”.

Trong thơ chân dung về Ý Nhi, Xuân Sách cũng thắc mắc :”Trái tim với nỗi nhớ ai…” khiến  “người đàn bà ngồi đan “ phải “sợi dọc thì rối, sợ ngang thì chùng”.

Ở Hội nhà văn có một bậc cao nhân, thi văn nhạc toàn tài, là người trong mộng của nhiều nữ hội viên. Không biết Xuân Sách có ám chỉ ông này không ?

Trái tim với nỗi nhớ ai

Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng

Như người đàn bà ngồi đan

Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.

 

Bậc “đàn chị” xét về tuổi tác của các nữ sĩ nói trên phải kể tới nhà văn Vũ Thị Thường  năm nay cũng ngoài 80 , là Chế Lan Viên phu nhân và  thân mẫu của nhà văn Phan Thị Vàng Anh. Số là vài năm sau  khi chia tay với bà vợ  đầu Nguyễn Thị Giáo,  năm 1958, Chế Lan Viên đi thực tế Thái Bình và gặp cô gái “mầm non văn nghệ “Vũ Thị Thường. Được nhà thơ lớn “kèm cặp”, Vũ Thị Thường viết truyện ngắn “Cái hom giỏ” được giải nhất báo Văn Nghệ, được đưa về công tác ở Hội nhà văn , làm đám cưới với Chế Lan Viên và sau này làm tới Uỷ viên chấp hành Hội. Vũ Thị Thường viết thêm được truyện “Gánh vác” , “Cái lạt” và “Vợ chồng ông lão chăn vịt “ rồi thôi.

Xuân Sách viết về Vũ thị Thường với giọng bông lơn :

 

Từ trong hom giỏ chui ra

Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi

Định đem cái lạt buộc người

Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn

 

Nghe đồn trong “dị bản” về Chế Lan Viên, còn hai câu nữa cũng nói về Vũ Thị Thường :

“ Nghĩ Thường gánh vác mà thương

Lẽ đâu sự nghiệp chỉ bằng cái hom ?”

 

Chi tiết này xin dành các nhà nghiên cứu văn học.

 

 

 

Nếu nhà thơ Xuân Sách còn sống, tôi sẽ hỏi sao trong nhóm các nhà văn Nhân Văn-Giai Phẩm ông “vẽ chân dung” Trần Dần , Hoàng Cầm, Phúng Quán mà không vẽ Lê Đạt, vốn ăn đòn với “Bài thơ ghế đá”đem bục công an đặt giữa tim người “, Phùng Gia Lộc , người viết phản kháng mạnh nhất trong cả nhóm.

Xuân Sách đã “quên”, giới phê bình cả trong và ngoài nước cũng chỉ nhất mực tôn vinh, đề cao hết cỡ “thủ lĩnh trong bóng tối “ – nói theo Phạm Thị Hoài – nhà văn , nhà thơ Trần Dần.

Trang Tiền vệ đã mở hẳn một chuyên mục Trần Dần. Một nhà phê bình trẻ,  Như Huy ca ngợi “mùa sạch “:

“tập thơ Mùa sạch của Trần Dần đã làm một cuộc vượt vũ môn ngoạn mục thoát khỏi chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện đại và cả những cách tân lặt vặt của nghệ thuật Việt Nam để trở nên một tác phẩm nghệ thuật tiên phong nhất, hoàn hảo nhất và trí tuệ bậc nhất của nghệ thuật Việt Nam, thậm chí, tính cả tới thời điểm của những năm tháng này – những năm tháng bắt đầu của thế kỷ 21.”

Trịnh Bích Thủy phân tích sự hấp dẫn khác thường của “Mùa sạch”:

Thơ ông lạ, quá lạ so với sức cảm thụ của lớp trẻ chúng tôi. Dẫu thế ta vẫn cảm giác những con chữ của ông nhẩy nhót, va đập nhau dữ dội tạo nên một thế giới đầy âm thanh và hình khối . Cùng với sức hút của sáng tạo, «Mùa sạch» càng đọc càng trở nên da diết: «Nội thành xuân lập xuân/ Tấp nập nam nữ xuân/ Mưa xuân lợp xợp đường xuân/ Gái xuân bum búp nốt giầy xuân/Hồ bơi xuân thờm thợp thuyền xuân/Ga xuân cập rập tàu xuân/ Vỉa hè xuân ngờm ngợp gió xuân/ Phố phường xuân rờm rợp vai xuân»…Cứ như thế, câu kéo câu, dòng kéo dòng…».

Để “xác minh” những lời ca ngợi trên , ta thử đọc trích đoạn” Mùa sạch “:

“Anh vẫn tìm em qua phòng triển lãm sạch

Qua khu sứ quán sạch

Qua sớm mai trường Đảng sạch

Qua Bộ Công nghiệp nặng sạch

Qua nha khí tượng sạch

Qua ca ba phân xưởng sạch”

Cứ như vậy khắp nơi nơi, chỗ nào cũng…sạch , nhất là cả “trường Đảng” với “sứ quán” (chắc sứ quán Trung Quốc), vậy tập thơ này phải được giải của  Bộ tài nguyên và môi trường .

Thơ Trần Dần được Phạm Thị Hoài giải mã :

” Ông sẽ giới thiệu một thứ ngôn ngữ khác, một thứ tiếng Việt không chỉ cho lỗ tai mà còn cho con mắt, không trói nghĩa vào chữ, không bôi chữ vào chỗ trống của vô nghĩa.”

Thơ Trần Dần :

“em dài man dại

em dài quên che đậy

em dài tê tái

em dài quên cân đối

em dài bối rối

em dài vô tội”

 

mưa quanh dàn dạt hạt – phố. mây trắng. số nhà đen. hạt đèn thuở nọ.

 

Phải chăng, một thời gian dài, Trần Dần dường như bị “cách ly“ khỏi đời sống,  chui vào “gara Hội nhà văn “ dịch sách ( “Những người chân đất”) cộng với nỗi ám ảnh “đòn vọt” những năm 1957-1960 đã làm ông né xa mọi chuyện “nhạy cảm”, chuyện “thời thế” và chui vào lối thơ “ngôn ngữ khác “ – một thứ “công nghệ Trần Dần” “chọn chữ, tìm chữ, phu chữ” . Chính “công nghệ” này đã mở lối thoát cho nhiều nhà thơ trẻ đội lên đầu “chủ nghĩa duy mỹ” , quẩn quanh chuyện thân xác, phòng the, tình trai gái…tránh cho xa những giắng xé, bức xúc của thời đại.

Văn xuôi Trần Dần còn được tâng bốc dữ dội hơn. Trong dịp xuất bản cuốn “ Những ngã tư và những cột đèn” do Công ty Nhã Nam , một cơn bão ngôn từ ca ngợi cuốn sách đã nổi lên tại Trung tâm văn hóa Pháp.

Nhà văn Lê Minh Khuê hăng hái :

Với tư cách người viết, tôi kính trọng Trần Dần-một người trọng nghề nghiệp, một người lao động nghiêm khắc. Tôi đọc rất nhiều của ông, nhưng rất ngạc nhiên khi đọc Những ngã tư và những cột đèn. Và tôi nghĩ, nếu cuốn này được dịch tốt sẽ không thua kém tác phẩm tốt nào ở nhiều nơi, vùng đất khác” .

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên hân hoan :

Cuốn tiểu thuyết ra đời, giới văn học hân hoan, khoái trá. Bởi sau Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, rất lâu mới có một cuốn tiểu thuyết đọc sướng như thế. Những ngã tư và những cột đèn là cuốn viết nội dung, không phải kể nội dung. Đọc rồi, đọc lại tôi vẫn thấy háo hức, hồi hộp xem những gì xảy ra tiếp.’.

Nhà thơ Dương Tường đại ngôn :

“Tôi có lẽ là độc giả đầu tiên của Những ngã tư và những cột đèn. Mỗi khi ông viết xong một chương, tôi được đọc. Ở Việt Nam có ai đáng Nobel, người đó là Trần Dần. Nếu không in được tất cả di cảo của ông, không phải thiệt cho Trần Dần mà thiệt cho văn học nước ta. Đọc Trần Dần, người ta thấy khoái cảm chữ, tiếng. Cuốn tiểu thuyết như bữa tiệc ngôn ngữ. Có nhiều trang, chương như thơ”.

Nhà  văn trẻ Nguyễn Vĩnh Nguyên cũng cao giọng trên báo SGTT :

“ Xét về nghệ thuật văn bản, đây là một cuốn tiểu thuyết gây sững sờ cho những độc giả có mối quan tâm và hỏi đòi về sự kiếm tìm kỹ thuật. Những thủ pháp như liên văn bản, phân mảnh tự sự, giễu nhại… của phương pháp hậu hiện đại đã được Trần Dần sử dụng nhuần nhuyễn từ rất sớm với một ý thức cao.” .

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân sửng sốt :

“Tôi hoàn toàn bất ngờ vì cuốn tiểu thuyết này. Vẫn biết sự nghiệp Trần Dần lớn và rất đa dạng, nhưng không thể ngờ ông lại hiện đại đến thế”

Tôi đọc những lời “có cánh” này khi chưa đọc tiểu thuyết  của Trần Dần nên cũng bán tin , bán nghi. Thế rồi nhà văn Trần Hoài Dương lúc đó đang còn khỏe mạnh , gọi điện cho tôi :

Ông đọc “Những ngã tư và những cột đèn chưa ? Trời ơi, viết lách như như thế mà “tụi nó” đưa lên mây xanh…”

Nghe lời Trần Hoài Dương tôi đành bỏ tiền túi ra mua và trân trọng đọc với nỗi lo canh cánh Phạm Thị Hoài đã cảnh báo :

Phần lớn tác phẩm của ông, mỗi dòng là mỗi riêng một cõi, càng lúc càng riêng, riêng tới mức cực đoan, riêng tới mức bí hiểm phải giải mã, phải cần đến một từ điển Trần Dần, không có cách nào khác là làm phận bản-thảo-nằm.”.

Đọc được mới mới non nửa tôi đã muốn ngã bổ chửng . Ôi thôi thôi, nào đâu là “bí hiểm phải giải mã” ,nào đâu “phải cần đến một từ điển Trần Dần”, nào đâu “Những thủ pháp như liên văn bản, phân mảnh tự sự, giễu nhại…” nào đâu “những thủ pháp hậu hiện đại” ?

Nói cho công bằng, đây là một cuốn truyện dễ đọc vì văn chương câu chữ vẫn nằm trong dòng tiểu thuyết miền Bắc những năm 1960, câu chuyện được kể vẫn “tuần tự nhi tiến”, nói cho sang là vẫn “tuyến tính” , chỗ nào nhảy cóc thời gian thì có giới thiệu ngay đầu giòng, cả nhân vật cũng vậy, từ người này chuyển sang người kia đều có nói rõ. Tuy nhiên cái cao hơn cả là cảm hứng dẫn dắt của cuốn truyện là “bôi xấu “ những người lính chế độ cũ còn kẹt lại và ca ngợi cán bộ khu phố và công an hết lời. Đây là “cảm hứng thời đại” của những năm thời bao cấp “ địch thì xấu thiệt xấu” còn “ta thì tốt thiệt tốt”. Như cô Cốm vợ anh ngụy binh Dưỡng chỉ sau mấy ngày giải phóng — mà tác giả cứ nhắc đi nhắc lại là “ngày tết của dân Hànội “ (he he) đã học theo cái lối cải cách ruộng đất chạy đi tim chị cán bộ khu phố để …tố cáo chồng.

Mới đây trên trang web của nhà văn Trần Đức Tiến có đang bài viết của Trần Nhã Thụy về cuốn “ Những ngã tư và những cột đèn” này:

“Nhiều người khen Trần Dần ở cái cuốn này rồi, em không nhắc lại (chỉ muốn nhấn mạnh thêm, hiện giờ những người viết kỹ lưỡng như Trần Dần hầu như đã bị… tuyệt chủng). Nhưng em cũng hơi ngờ anh à. Em ngờ là những bác ấy chưa đọc hết cuốn, mà chỉ đọc 1/2  hay chỉ đọc tới 2/3 là xoa tay, vỗ đùi “tuyệt vời, tuyệt vời”. Nhưng đọc hết thì hóa ra nó không phải vậy.”

“Hóa ra cái tay Nhọn cằm ấy không phải là “CÁ”, mà là phần tử nguy hiểm từ phía địch nó cài lại, để nó trấn áp tinh thần Dưỡng, để anh chàng dằn di này không còn tâm trí đâu mà nghĩ tới bản danh sách mật (hehe). Hóa ra em Cốm, tưởng khù khờ mà sáng suốt, đùng phát nói ra ngay, tên Nhọn cằm ấy đích thị là địch (mà là địch thật). Hóa ra Tình Bốp cũng là thằng gián điệp cài lại (vậy mà em cứ tưởng, bọn họ ban đầu vốn là những chiến hữu đớp hít rất vô tư, họ chỉ thay hình đổi dạng, đổi tâm đổi tính khi thế cuộc xoay vần, vì sự tồn tại của mình mà trở nên tha hóa…”

“  Rốt lại, hóa ra đây là cuốn tiểu thuyết ca ngợi mưu trí tuyệt vời của các đồng chí “CÁ” (điều tra dựa trên các giả thuyết và giả thiết – chỗ này vui – chứ không áp đặt kết luận vội vàng). Hóa ra đây là một cuốn trinh thám xịn, vậy mà em cứ tưởng Trần Dần chỉ mượn hình thức truyện trinh thám để nói về “những ngã tư và những cột đèn” trong đời người. Tất nhiên là nó cũng có cái đó, nhưng em thấy nó ngoại đề, và nhiều chỗ “lem nhem mực tím” làm sao ấy.”

Thực sự tôi không hiểu những người đầy uy tín như Dương Tường, Lê Minh Khuê, Lại Nguyên Ân…ca ngợi “lên mây xanh”một cuốn truyện “ thường thường bậc trung” như vậy để làm gì ? Hy vọng họ không PR cho nhà Nhã Nam để bán sách . Và cũng không hiểu căn cứ vào đâu , ông Phạm Xuân Nguyên dám khẳng định :

” Cuốn tiểu thuyết ra đời, giới văn học hân hoan, khoái trá. Bởi sau Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, rất lâu mới có một cuốn tiểu thuyết đọc sướng như thế.”

Thưa ông Phạm Xuân Nguyên, “giới văn học” cuả ông gồm những ai vậy ?

Tất nhiên những điều kể trên xảy ra sau khi nhà thơ Xuân Sách đã quá cố nên thơ chân dung viết về Trần Dần chỉ nhắc tới tên những tác phẩm vốn đã quảng bá trong công chúng :

“Người người lớp lớp

xông ra trận

Cờ đỏ

mưa sa

suốt dặm dài

Mở đợt phá khẩu

tiến lên

nhất định thắng

Lô cốt mấy tầng

đè nát vai

Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng

Hồn vẫn treo trên

Vọng hải đài.”

 

Trong văn học Việt Nam có hiện tượng rất lạ, ngay các nhà phê bình cũng ít để ý : có đoạn văn xuôi tồn tại trong ký ức người đọc dai dẳng và bền vững chẳng kém gì bài thơ “lưu danh thiên cổ”.

 

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

…..

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”

 

Thử hỏi những người độ tuổi “quốc văn giáo khoa thư”, có ai là không bồi hồi nhớ lại đoạn văn thấm đẫm chất nhân văn như đá tạc vào thời gian vào những sáng cuối thu  dịp khai trường.

Không hiểu sao, cứ mỗi lần nhớ lại “Tôi đi học” của nhà thơ Thanh Tịnh,tôi cũng nhớ lại một đoạn văn thuộc lòng từ thủa học trò của nhà văn Pháp Anatole France trong cuốn “ Le livre de mon ami”, :

La rentrée des classes

“Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bonhomme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau. Ma pensée seule le voit ; car ce petit bonhomme est une ombre ; c’est l’ombre du moi que j’étais il y a vingt-cinq ans.”

Ngày khai trường

Tôi sắp nói với bạn những gì gợi tôi nhớ lại, hàng năm, trời thu xao động, những bữa ăn chiều đầu tiên dưới ánh đèn,và những chiếc lá vàng đi trong những hàng cây run rẩy ; tôi sắp nói với bạn những gì tôi trông thấy khi đi qua vườn hoa Luxembourg vào những ngày đầu tháng Mười, hơi buồn một chút nhưng đẹp hơn bao giờ hết vì đó là thời gian từng chiếc lá  rơi trên vai trắng của những pho tượng . Tôi cũng nhìn thấy trong vườn một chú bé hai tay đút túi ,cặp sách quàng vai tung tẩy tới trường như một con chim nhỏ.Tôi chỉ thấy trong tâm tưởng, bởi chú bé ấy chỉ là một cái bóng, cái bóng của chính tôi hai mươi lăm năm trước…”  

Và câu này mới thật xúc động :

“C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autre fois, leur âme qui m’egaye et m’attriste, et me trouble, lui seul ‘n’est plus…”

“ Vẫn trời ấy, vẫn  đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh  hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa…”

 

Hai nhà văn ở hai phương trời, cùng đục đẽo vào lòng người những dòng văn bất hủ về kỷ niệm một thời trong sáng nhất của đời người :” thời  cắp sách đến trường “

Đầu xuân năm 1947, ông về công tác ở một vùng gần chùa Trầm, Hà Đông. Tại đây ông được nghe bà con kể câu chuyện một anh du kích xã Tây Mỗ lập mẹo đến gần tên lính Pháp gác kho súng đạn, rồi bất thần xông vào vật hắn xuống đất. Hai người cứ thế ôm ghì nhau lăn lộn trên mặt đất. Anh du kích thứ hai vội vàng chạy đến, súng lăm lăm trên tay nhưng  không dám nổ súng sợ bắn phải bạn. Anh du kích đang vật nhau với địch liền thét to : “Bắn! Bắn cả hai!” Thế là đoàng! đoàng! – tên giặc bị ăn đạn, nhưng anh du kích cũng bị thương nặng. Câu chuyện giản dị ấy đã làm nhà thơ vô cùng xúc động, muốn kể lại cho nhiều người nghe. Ông mày mò sáng tác thành một chuyện kể bằng văn vần và gọi là độc tấu. Năm  1954, ông phụ trách đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về Bùi Chu Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát phục công tác chống cưỡng ép di cư. Còn nhớ năm 1958, nhà thơ Thanh Tịnh ghé trường Phổ thông công nghiệp ở Hà nội, nơi tôi đang học lớp 9 diễn bài tấu của ông làm cả trường cười ngả nghiêng, tôi còn nhớ một câu hài hước: “nghe tiếng cười…sụt sịt”. Nhưng “đứa con tinh thần” này đã bị một số người để mắt tới với không mấy thiện cảm. Đoàn Phú Tứ, một trong những người phụ trách  ngành sân khấu đã phê phán: “Không thể ngờ một nhà thơ trữ tình như Thanh Tịnh lại đi làm trò hề, trò xẩm!”. Vài năm sau Thanh Tịnh chuyển sang viết ca dao. Nhiều người  cho rằng hai câu :”Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.”, không phải của bác Hồ như xưa nay sách báo vẫn nói mà chính là của nhà thơ Thanh Tịnh.

Mới đây, không hiểu sao vào lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Thanh Tịnh (12-12-1911/12-12- 2011) nhiều người viết về ông, kể cả những bậc tiến sĩ văn học, kể cả ông Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh đọc diễn văn khai mạc cũng không ai nhắc tới đoạn văn bất hủ “ Tôi đi học” của ông.  Họ chỉ nhắc tới hơn chục năm kháng chiến, làm người lính từ địa phương đến chủ lực, khi ở Việt Bắc, khi vào Khu Bốn. Ông là một sáng lập viên  Hội Nhà văn Việt Nam, đã là Ủy viên Ban chấp hành (khóa I, II), Ủy viên Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi nghỉ hưu.

Ngay trong thơ “chân dung”, Xuấn Sách cũng không điểm “Tôi đi học” vốn là tác phẩm nhớ đời của Thanh Tịnh :

Bao năm ngậm ngải tìm trầm

Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang

Bạc đầu mới biết lạc đường

Tay không nay lại vẫn hoàn tay không

Mộng làm giọt nước ôm sông

Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.

 

 

NHẬT TUẤN

 

NGUỒN:

Rút từ tài liệu do Nhật Tuấn gửi qua thư điện tử cho Lại Nguyên Ân


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: