Trang chủ » Tác giả » ĐÔI BẠN GIANG HỒ

ĐÔI BẠN GIANG HỒ

Start here

PHAN BỘI CHÂU

          Tôi vẫn là một tay giang hồ trót ba mươi năm hơn, chân trời góc bể, đuôi Sở đầu Ngô, kể trong lịch sử giang hồ, chẳng ai hơn ký giả nữa, mà những người bạn quen với tôi, hoặc ở nước nhà, hoặc ở nước ngoài, cũng chỉ là khách giang hồ với khách giang hồ đụng chạm nhau. Quái lạ thật, tiếp xúc chẳng phải là chẳng đông, dấu chân đi chẳng phải là chẳng rộng, mà rút lại chỉ vừa cung một trận cười cho thế gian.

Nay được về nước vừa mười một năm, nấp nép ở chốn thần kinh, lửng lơ cùng con tạo hóa, mà cái kiếp cười vẫn chưa xong, chẳng những thiên hạ cười tôi mà tôi cũng còn tự cười tôi nữa.

Tháng Mười năm Tây lịch 1937, báo Cười vừa ra đời. Tốt quá, tốt quá! Trời đã đúc cho ta cái miệng cười, thần tạo vật đã phú cho ta cái quyền cười, gặp nhịp vừa hay, e duyên cũng tốt, thời ta ôn lịch sử pho cười ta lại. Khổ vì, thân già não yếu, sức cười không gì được mạnh, giọng cười không gì được cao, mà lại gặp báo Cười đang cười may xưa, nếu muốn tiếng cười cho nở nang, nhịp cười cho rộn rực, tất phải tháng ngày chất chứa, chuyền sức chắp hơi, mới có thể cười nên cười, chứ lúc bây giờ như ký giả thiệt chưa thể cười có giá trị.

Khi tôi còn ở trong nước, vào năm Đinh Dậu, Thành Thái, /1897/ tôi bị tội hoài hiệp (đem sách ngoài vào trường thi), bộ đã kết án cho tôi chung thân bất đắc ứng thí. Luật nước ta hễ thí sinh đã phạm vào tội ấy chỉ hữu nhờ hoàng đế ân xá mới được thi lại. Ôi thôi! Một tên học trò xác hỏng thi đã năm khoa mà khoa nầy lại can án hoài hiệp. Tôi bức vì cha tôi là một người bất đắc chí ở khoa trường, nếu tôi chung thân không thi, thì có lẽ cha tôi phải chết tức; cùng kế, tôi phải đánh liều vào Kinh, cố làm sao cho tiếng lọt tai vua, may được hai chữ ân xá. Mà khổ quá, một tên học trò xác, lại là người can án, cửa vua muôn dặm, bệ ngọc chín lần, làm gì ba chữ Phan Bội Châu lọt tai vua được.

 

Hồi đó, Lễ bộ Thượng thư là cụ Nguyễn Phiên. Những công việc trường thi do bộ Lễ có quyền trần tấu; tôi muốn khất lai với cụ nhưng vì cụ địa vị quá cao, cụ lại là người xứ Bắc, tôi địa vị quá thấp mà lại là người xứ Nghệ. Tình với thế cách nhau xa quá. Sau tôi nghe được con cụ là Mai Sơn tiên sinh, chính là cụ Nguyễn Thượng Hiền, ái tài hiếu văn, và có hào khí, tiên sinh đã con quan Thượng, lại đã đỗ hoàng giáp, làm tu soạn ở Quốc sử quán. Nhân tiên sinh ra bài phú “Bái thạch vi huynh”, nghĩa là lạy hòn đá nhận làm anh, để trưng văn ở các văn giới; thấy đề mục, tôi đoán ông nầy không phải tầm thường. Đánh liều tôi cũng viết một bài đem nộp tiên sinh.

 

Mai Sơn tiên sinh đọc đến câu:

          Tam sinh điền hải chi tư

          Vị vong tương bá

          Nhất phiến bổ thiên chi lực,

          Hữu thị phùng quân

(Gan lấp bể chứa cầm từ kiếp trước / Nhờ bác giúp tay / Sức vá trời quá mỏng, giận thân tôi / Gặp anh hả dạ)

 

bỗng nhiên vỗ án cười to:

‒ Á, à! Hoài hiệp mà thế nầy à?

Thế rồi tiên sinh đưa tôi vào yết cụ Thượng.

Cụ Thượng hỏi Mai Sơn rằng:

‒ Con làm thế nào mà quen biết với anh nầy?

Tiên sinh mới đem bài phú tôi trình cụ Thượng xem.

Sự lạ là quan Thượng thư cũng thán thưởng lạ thường. Rồi ngài cười với tôi rằng:

‒ Ai ngờ anh hoài hiệp mà lại làm được bài phú ấy.

Sau ba ngày, cụ Thượng đòi tôi vào:

‒ Anh Châu ạ, án hoài hiệp của anh, ta đã tâu ngài ngự, ngài ngự đã phê án thứ. Thôi, anh cứ về lo học riết, khoa sau thi.

 

Tôi nguyên làm nghề gõ đầu trẻ, năm ấy bỏ nghề đã sáu tháng, sẵn nhịp ở Kinh, muốn tiếp giao các văn sĩ, mới lên trường Quốc tử giám xin với cụ Tế Khiếu. Cụ Khiếu thấy ba chữ Phan Bội Châu, thời biết ngay, vì tiếng hoài hiệp của tôi lúc đó vang động cả Kinh kỳ. Thấy tôi, cụ mỉm cười mà nói rằng:

‒ Sĩ nhi hoài, bất túc dĩ vi sĩ hĩ? (Anh không biết hay sao, còn toan học giám?)

Nguyên lai câu cụ Tế nói là một câu giảng nghĩa ở sách Luận Ngữ. Chữ “hoài” là “hoài cư”, vẫn không phải là “hoài hiệp”. Cụ chẳng qua mượn câu sách bỡn tôi. Kỳ thực thì trong ý cụ nói, hoài hiệp mà như tôi không phải tệ như hoài cư đâu. Tôi vào giám được cụ thương yêu rất mực. Khoa sau vừa năm Canh Tý /1900/, cụ ra chấm trường Nghệ, cụ lấy tôi đậu thủ khoa, thật là chấm tôi đậu từ trong miệng cười ấy.

 

Tôi nhân vì án hoài hiệp mà gặp được Mai Sơn. Cái duyên giang hồ của hai chúng tôi, cũng đốt lửa châm hương từ đó.

Cách bốn năm sau, Thành Thái Ất Tỵ /1905/, tôi xuất dương qua Nhật Bản, thời đến năm Bính Ngọ /1906/, cụ Mai Sơn cũng ra, xum nhau ở Nhật Bản. Đoạn rồi bị Nhật Bản phóng trục, tôi với cụ về Tàu, ở Thượng Hải.

 

Một ngày kia, vào khách sạn ăn cơm, vì bỏ nước lâu ngày nhớ đồ ăn ta lắm, cụ mới nói với tôi rằng:

Lấy nước mau mà ăn bánh cốm!

Cụ thường xuất khẩu hay thành câu thơ, tôi bảo cụ nói lại cho tôi hiểu ý. Cụ rằng:

‒ Đồ ăn xứ Bắc chỉ ngon nhất là bánh cốm. Vì chúng ta bỏ mất nước nên phải chịu bỏ mất bánh cốm luôn.

Tôi hiểu ý cụ, lại muốn dịch câu thơ của cụ, nhưng vì đồ ăn xứ Nghệ tôi chỉ thích xôi vò, tôi mới đáp rằng:

Bỏ nhà lâu lắm nhớ xôi vò!

Cụ vỗ tay cười ha hả:

‒ Câu đối thật hay mà tình cảnh lại rất đúng. Nhưng cái mộng tưởng ăn bánh cốm của tôi biết có thành ra sự thực được không?

Cụ Mai Sơn nguyên thiên tài lỗi lạc, khí tượng thanh cao, đến thi văn cụ cũng hoàn toàn thoát tục.

Khi tôi bắt đầu gặp cụ, cụ có đọc bài thơ nôm cụ làm cho tôi nghe. Thơ rằng:

          Ngất ngất ngơ ngơ cũng nực cười

          Cằm cằm cụi cụi mấy hơn ai

          Nay còn chị chị anh anh đó

          Mai đã ông ông mụ mụ rồi

          Có có không không lo chết kiếp

          Khôn khôn dại dại ngoẵng xong đời

          Chi bằng láo láo lơ lơ vậy

          Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi

 

Chúng ta thử nghiền cho đến mùi thơ ấy, thì nhân sinh quan với vũ trụ quan thảy là siêu nhiên giác ngộ, mà lại trong tuyền bài thơ không có một chữ điêu khắc. Có thể nhận ra một người tiên phong đạo cốt.

 

Tôi quá say bài thơ cụ, lại muốn học nhái cụ làm, tôi cũng có bài rằng:

 

Hỏi ông ông có chuyện gì chăng

          Thưa chuyện gì đâu nhắn nhẳn nhăn

          Láo láo lơ lơ trời với biển

          Thơ thơ thẩn thẩn gió rồi trăng

          Nghe nghe thấy thấy ba tuồng bộ

          Ngược ngược xuôi xuôi một … thằng

          Đành chữa vùng vùng vùng vẫy nốt

          Thời ta chén chén chén xung xăng

 

Tôi với cụ Mai Sơn vẫn một đôi bạn kết giao bằng đạo nghĩa, mà hơn nữa, kết giao bằng thi văn. Cụ xuất ngoại hơn hai mươi năm, đoạn sáu năm sau, cụ bỏ hẳn việc đời, nhất thiết tạ tuyệt người tục, nhưng chẳng mấy khi rời tôi. Cụ thường giao cho tôi ba trăm bạc, bảo tôi: “Anh giữ lấy, đến ngày tôi chết thì anh làm lễ hỏa táng cho tôi. Vì tôi thế nào cũng chết trước anh!”

 

Tới ngày tháng năm 1926, tôi có việc về Quảng Đông, khi ở Hàng Châu đi ra, tôi gửi ba trăm bạc lại cho cụ, bởi vì tôi tính còn đi lâu ngày mà bạc cụ tôi không dám gửi cho ai. Cụ mời tôi đi ăn cơm chay ở trên Tây Hồ, ăn xong cụ bảo tôi rằng:

‒ Bận ăn này là bận ăn kỷ niệm!

Quả nhiên tôi vừa bỏ Hàng Châu lên Thượng Hải, thời liền được xe ô-tô của nhà nước giao trả cái thân già vô dụng lại cho đất nước Việt Nam, mà cách ba năm sau cụ cũng tịch diệt ở Hàng Châu.

Năm kia có ông Nguyễn Tường ở Tàu về, nói với tôi rằng:

‒ Cụ Mai Sơn mất rồi, mà cũng hỏa táng ở chùa Cát Lĩnh.

Tôi có bài văn tế cụ, trong có câu rằng:

 

Lửa can tình thiêu xương người khí tiết, sống thanh cao mà chết cũng thanh cao;

Đài văn minh mỏi mắt chốn gia hương, danh viên mãn nhưng chí chưa viên mãn!

 

Đó cũng là một nụ cười rất đau đớn trong đời tôi vậy.

 

 

Nguồn: Cười, Huế, s. 2 (thứ sáu, 8 Octobre 1937), tr. 6.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: